Tác giả Chủ đề: Đinh Hùng  (Đã xem 13003 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi Harrypham1986

  • Trảm Phong Đại Sư
  • *******
  • Bài viết: 12,972
  • Thanked: 99 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Hiểu Nguyệt Tình Thiên
Re: Đinh Hùng
« Trả lời #15 vào: 07/01/2014, 16:38:18 »
                                                                                                    Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu ( bộ 2 tập ) - Hoài Điệp Thứ Lang ( tức thi sĩ Đinh Hùng ) - NXB Thuận Hóa 1990 ...

                                                                                                   
 
Tôi là Tôi chứ không thể là 1 ai khác.

Ngủ rồi Đa Ang

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #16 vào: 05/12/2014, 15:27:36 »
Mê hồn ca
Nhã Nam, NXB HNV, 2014, 66 trang. Trong tủ sách "Việt Nam danh tác", giai phẩm thơ.
Kích thước: 18x22.5.
 

Ngủ rồi binh_minh2012

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #17 vào: 05/12/2014, 17:38:36 »
Đinh Hùng (3 tháng 7 năm 1920 - 24 tháng 8 năm 1967) là một nhà thơ tiền chiến Việt Nam. Ngoài việc ký tên thật Đinh Hùng, ông còn dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết.

(Image removed from quote.)

Thân thế và sự nghiệp

Đinh Hùng, người làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông (nay là xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây) là con út cụ Hàn Phụng (tên Phụng, chức quan Hàn lâm thị độc). Thuở nhỏ Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tạị trường Bảo Hộ, tức trường Bưởi tại Hà Nội.

Sau khi đậu Cao đẳng Tiểu học hạng bình thứ và được học bổng theo ban chuyên khoa để thi Tú tài bản xứ thì "thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn trên" (theo lời kể của Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang đi viết văn, làm thơ.

Năm 1931, người chị thứ ba của ông tên Tuyết Hồng đã tự vẫn tại hồ Trúc Bạch vì hờn giận tình duyên. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng chết trẻ.

Năm 1943, Đinh Hùng theo sống với chị là bà Thục Oanh. Cũng năm này, ông cho xuất bản tập văn xuôi Đám ma tôi (NXB Tân Việt) và đăng thơ trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực văn đoàn... Nhưng ông thật sự bắt đầu nổi tiếng với bài thơ "Kỳ Nữ" mà Thế Lữ in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh.

Năm 1944, Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh về Nam Định, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài, với sự cộng tác của một số bạn như Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Mai Châu...

Năm 1944, Đinh Hùng tản cư theo báo Cứu Quốc. Năm 1944, ông cùng vợ mới cưới là Nguyễn Thị Thanh về Thái Bình dạy học. Khi ấy, Vũ Hoàng Chương và vợ cũng đang tản cư về nơi đó. Năm 1949, Đinh Hùng cùng vợ con về lại Hà Nội. Tại đây ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô văn nghệ (1952) và Mê Hồn ca (1954).

Tháng 8 năm 1954, ông cùng vợ con vào Nam, lập ra tờ nhật báo Tự Do, có sự cộng tác của Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong...

Năm 1955, nhật báo trên đình bản, ông cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, giữ mục Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời.

Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận.

Năm 1961, ông cho in tập Đường vào tình sử (tác phẩm này được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962). Năm 1962, ông cho ra tuần báo Tao Đàn thi nhân, nhưng mới phát hành được 2 số thì ông mất lúc 5 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm 1967 tại bệnh viện Bình Dân, Sài Gòn, vì bệnh ung thư ruột.

Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10 năm 1967.

Ngoài những tác phẩm vừa kể trên, Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.

Nguồn: Wikipedia
Cái làng phượng dực này phát mả văn chương: các cụ nguyễn văn vĩnh, phạm duy tốn, ... đều xuất thân ở đây.
« Sửa lần cuối: 05/12/2014, 17:39:29 gửi bởi binh_minh2012 »
 

Ngủ rồi mộ như

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #18 vào: 31/05/2015, 21:05:43 »
Mê hồn ca
Nhã Nam, NXB HNV, 2014, 66 trang. Trong tủ sách "Việt Nam danh tác", giai phẩm thơ.
Kích thước: 18x22.5.

Bản này bài "Thần tụng" bị thiếu đoạn cuối rất nhiều. Còn thêm cái tranh minh họa vớ vẩn dán trong tập thơ nữa. Lột cái tranh minh họa rồi mà vẫn chưa hết khó chịu, đem cho luôn
« Sửa lần cuối: 01/12/2015, 14:17:20 gửi bởi mộ như »
 
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau

Ngủ rồi Đa Ang

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #19 vào: 31/05/2015, 22:05:42 »
Bác bổ sung những chỗ còn thiếu lên đây cho em đọc đi ???
 

Ngủ rồi mộ như

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #20 vào: 31/05/2015, 22:09:58 »


hồi trước không biết, mắng Nhã Nam làm ăn ẩu tả. gần đây đọc Mê Hồn Ca bản Văn Uyển ân hành mới biết lần tái bản này không phải do do Nhã Nam cắt phần cuối bài Thần tụng khoảng 50 câu, mà nguyên là in theo bản in đầu tiên của Mê Hồn Ca.
« Sửa lần cuối: 01/12/2015, 14:18:12 gửi bởi mộ như »
 
The following users thanked this post: Nguyên Thánh
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau

Ngủ rồi mộ như

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #21 vào: 03/07/2015, 13:37:07 »
VanVN.Net - Bạn thơ và những người đọc yêu mến nhà thơ Đinh Hùng đều có chung nhận xét: Đinh Hùng tạo được cho riêng ông một thi giới rất lạ, tựa như một con suối chảy từ trữ tình đến tượng trưng sang siêu thực, mang theo dòng những hình ảnh giàu có, một ngôn ngữ cá biệt và một tâm hồn lạ lùng của miền núi rừng hoang vu, bí ẩn, nguyên sơ… Kỷ niệm 45 năm ngày mất của ông (24/8/1967 – 24/8/2012), VanVN.Net xin đăng lại bài viết do tác giả Đinh Hoài Ngọc, con trai nhà thơ chấp bút nhân dịp ngày giỗ cha mình.


Đinh Hùng, cha tôi
Đinh Hoài Ngọc - 24-08-2012


Đã 45 năm nhưng có những kỷ niệm vẫn như in trong đầu, tưởng chừng như vừa mới xảy ra…
Ngày ấy, bố tôi – thi sĩ Đinh Hùng – luôn bận rộn với công việc, ban ngày thì đi thu thanh ở đài, rồi tiếp xúc với các bạn thơ, văn. Bạn của bố tôi ngoài các nhà thơ, văn đã có tiếng, còn có những cây bút trẻ, những “fan”, với tất cả ông đều ân cần, cởi mở, đối xử như nhau và quán bar Thăng Long bên kia đường trước nhà vẫn thường là điểm gặp gỡ, để bàn luận thi ca. Có hôm đến tối khuya mới về đến nhà, ông lại tiếp tục làm việc: soạn bài phát thanh cho chương trình Tao Đàn, làm thơ rồi viết tiểu thuyết dã sử và làm thơ trào phúng.
Ông thức gần như cả đêm cho đến tảng sáng mới chợp mắt một chút. Rồi lại chuẩn bị cho công việc ban ngày. Mẹ tôi cũng thức theo ông và là một người phục vụ tuyệt vời, pha café sữa, trà thiết quan âm, nướng lại vài mẩu biscot... Bố tôi bị đau bao tử nên không ăn được nhiều vì vậy mẹ tôi cứ phải lỉnh kỉnh cả đêm.
Ngoài ra bà còn là người góp ý cho những tác phẩm của bố tôi. Có đêm chợt thức giấc tôi nghe tiếng đọc thơ của bố xong, ông hỏi mẹ thấy có cần sửa gì không? Mẹ góp ý, rồi bố lại cắm cúi viết...
Việc viết tiểu thuyết dã sử của bố tôi làm cả nhà đều thích thú. Bố thường kể trước cho cả nhà nghe cốt truyện sắp viết; ông kể say sưa từng chi tiết cho đến kết thúc. Hàng ngày bao nhiêu người say mê theo dõi trên báo, nhưng ít ai biết được có nhiều khi, ban đêm không viết kịp nên mãi đến trưa đi làm về, ông mới vội vã viết, lúc đó ông viết say sưa, ngòi bút như lướt trên từng trang giấy không ngừng, hình như lúc đó ông không cân suy nghĩ mà những ý tưởng diễn biến cốt chuyện truyền thẳng từ đầu xuống tay và đưa nhanh nét bút trải đầy trang giấy. Nhiều hôm trong khi ông viết, hai nhân viên tòa báo ngồi trực bên ngoài, cứ xong được trang nào là họ vội vàng mang ngay về tòa soạn để sắp chữ cho kịp in vào số báo phát hành ngay vào buổi chiều hôm đó.
Dù rất bận rộn với công việc, bố tôi vẫn là một người cha luôn quan tâm và chăm sóc con cái rất chu đáo. Mỗi tuần, bố dành buổi tối thứ bảy và trọn ngày chủ nhật cho gia đình và nhất là cho các con. Chiều thứ bảy, ở đài phát thanh về thể nào ông cũng ghé qua Đa Kao, vào nhà sách mua sách báo của Pháp (đủ loại truyện tranh như Spirou, Tintin, L’Intrépide, Mikey....), rồi bánh kẹo và các món ăn được chúng tôi “đặt trước” từ trưa. Đến chập tối, tôi dứng trên balcon chờ chiếc ta-xi dừng trước cửa và ông xuất hiện, tay xách nách mang, thế là tôi chạy nhanh xuống đón.
Cũng có lần bố tôi có khách mời đi vào tối thứ bảy, nhưng ông vẫn không quên những món quà cuối tuần cho các con, tạt ngang về nhà đưa quà xong mới đi. Đến nay tôi cũng cố theo cái nếp đó để thực hiện, tạo cho con tôi niềm vui vào cuối tuần như ngày xưa mình từng được hưởng.
Ngày chủ nhật thì hoàn toàn thuộc về gia đình, mẹ tôi thực hiện những món ăn đặc biệt, do bố tôi chỉ cho mẹ làm. Ngoài tài làm thơ, ông còn có “tài hướng dẫn nấu ăn”. Gọi là đặc biệt vì đây là những món ăn lạ, sau khi thưởng thức bữa tiệc nào đó, bố tôi mô tả lại với đầy đủ chi tiết (các gia vị, các nguyên liệu thực phẩm cần có) để mẹ đi chợ mua về và khi làm món ăn thì bố tôi đứng cạnh để nhận xét và góp ý xem món ăn đã đạt chưa. Tôi cho rằng “hướng dẫn người khác nấu ăn” bằng cách mô tả lại món ăn mà mình đã thưởng thức thì không phải là chuyện dễ!
Sau khi ăn uống xong, cả nhà quây quần lại để nghe bố tôi kể chuyện theo truyện tranh (mua tối thứ bảy). Tôi học chương trình Pháp, nên đọc truyện cũng hiểu nhưng vẫn thích nghe ông kể lại hơn vì bố tôi dựa theo lời truyện kết hợp với tranh vẽ để kể thành một câu chuyện liền mạch với đầy đủ tình tiết, nếu không xem tranh cũng vẫn thích thú không kém.
Đầu thập niên 60, phong trào nhạc bắt đầu rộ lên, đi đâu cũng nghe người ta mở nhạc Silvie Vartan, Adamo, Christophe, The Beatles..., tôi cũng rất mê nhạc và cũng tập tành làm thơ, nhưng ngọn lửa văn nghệ trong tôi vừa mới nhen nhúm đã bị bố tôi dập tắt “không thương tiếc”! Thơ thì sau khi làm được vài đoạn, chưa tự nhận biết hay dở, tôi đưa ông xem có ý nhờ bố sửa, liền bị ông sẵn bút trên tay gạch chéo ngay và vò lại. Còn nhạc thì cũng bi đát không kém. Tôi được ông bác cho một cây đàn mandiline, nhưng bố tôi không những không dạy đàn mà còn cấm không cho đụng đến.
Ông nói: “... Không muốn các con dính dấp vào văn nghệ, thơ nhạc gì hết, sẽ khổ đời(!) Phải cố gắng có nghề nghiệp vững chắc...” Bố tôi không muốn con mình đi theo con đường của ông. Đi theo con đường trải thảm hoa nhưng bên cạnh là cái nghèo luôn theo đuổi.
Là nhà thơ trọn vẹn sống và chết với thơ, ngay cả vào những lúc vinh quang nhất bố tôi vẫn thật nghèo, nghèo nhưng không bao giờ khổ, vì nguồn vui và niềm hạnh phúc của ông là những nguồn thi ca không bao giờ cạn.
Đã có lần bố tôi bị bệnh nặng, bác sĩ Tụng - là bác sĩ của gia đình - điều trị đến khi hết bệnh, đã khuyên ông nên đổi nghề: làm công chức hay đi dạy học, vì nếu cứ tiếp tục “vắt tim gan ra” thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng, nhưng bố tôi nói nếu để được sống lâu mà phải ngừng không được sáng tác nữa thì có khác gì đã chết! Nếu như vậy thì sống lâu làm gì, sáng tác tức là đã rồi và sự sống đó mới lá bất tử.
Ngay cả vào những quãng thời gian cuối đời vẫn say mê với đứa con tinh thần: Tờ tuần báo Tao Đàn Thi nhân số đầu được ra mắt bằng tất cả sự chau chuốt của ông. Rồi ông phải vào bệnh viện, nhưng vẫn không quên lo cho tờ báo, những chương trình thơ nhạc trên đài phát thanh...
Trên giường bệnh, ông vẫn tiếp tục lo bài vở cho số 2 tờ Tao Đàn Thi Nhân. Một số thân hữu hàng ngày ra vào “tòa soạn” đặt tại...bệnh viện Bình Dân, để phụ ông sắp đặt bài vở. Và trước khi bố tôi ra đi vĩnh viễn, tờ Tao Đàn Thi Nhân đã ra được số 2, ông đã có được tờ báo số 2 bằng tất cả nghị lực trong khi cơn bệnh hoành hành ngày càng dữ dội.
Vài ngày sau, bố tôi ra đi thật thanh thản. Trước lúc mất, ông nằm vắt chân chữ ngũ và ngủ, mẹ và tôi mỗi người một bên, phẩy quạt nhè nhẹ, tôi khẽ nhắc chân ông đặt thẳng xuống cho đỡ mỏi. Bố tôi vẫn nằm ngủ yên thật lâu, hơi thở nhẹ dần. Bỗng dưng cả mẹ và tôi đều hoảng hốt ghé sát vào mặt ông, và ông đã nhắm mắt đi vào cơn trường mộng, lúc đó đúng 5 giờ sáng ngày 24.8.1967, để lại niềm đau xót cho gia đình và nỗi tiếc thương cho nền thi ca...

http://vanvn.net/news/34/2387-dinh-hung--cha-toi.html
 
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau

Ngủ rồi mộ như

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #22 vào: 30/05/2016, 13:45:24 »
lạng quạng tìm được sách pdf files scan của đốt lò hương cũ:

http://sachviet.edu.vn/threads/dot-lo-huong-cu-nxb-lua-thieng-1971-dinh-hung-183-trang.47333/
 
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau

Ngủ rồi Francisco Lam

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #23 vào: 12/12/2016, 22:37:47 »
Đẹp quá...
Ước gì xử lý được hết nhỉ...
 

Ngủ rồi Francisco Lam

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #24 vào: 13/12/2016, 08:35:03 »
Ý của mình là xử lý được hết các bản chụp, làm đẹp lại, và tạo mới cuốn sách như ĐVTS...
 

Ngủ rồi hoaico

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #25 vào: 29/04/2017, 08:28:11 »


MÊ HỒN CA -- ĐINH HÙNG
KHAI TRÍ 1970

http://tusachtiengviet.com/p104a561/me-hon-ca
 
The following users thanked this post: như mộ

Ngủ rồi như mộ

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #26 vào: 29/12/2017, 20:33:58 »
« Sửa lần cuối: 04/10/2018, 19:24:35 gửi bởi như mộ »
 
The following users thanked this post: Nguyên Thánh

Ngủ rồi nduytai

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #27 vào: 17/02/2019, 20:50:06 »


Thi sĩ Đinh Hùng và ngôi nhà ông đã ở


Lời nói đầu: Ký sự văn nghệ dưới đây của nhà thơ Du Tử Lê, viết về thi sĩ Đinh Hùng, được trích từ tác phẩm “Năm Sắc Diện, Năm Định Mệnh” do nhà Tao Đàn Saigon, ấn hành tháng 6 năm 1965.
      Họ Lê viết bài này năm 1964, cách nay đúng 47 năm. Nhận thấy bài viết còn nhiều lỗi chính tả, cũng như cách sắp xếp các tiết mục, chú thích không thống nhất, nên chúng tôi đã xin phép tác giả để biên tập lại. Công việc hoàn tất vào cuối tháng 6 năm 2011.
      Khi đánh máy lại từ sách, bài viết dài tới trên 30 trang. Do đó, chúng tôi quyết định chia làm nhiều kỳ, để bạn đọc và thân hữu dễ theo dõi.
      Cũng với sự cho phép của tác giả, chúng tôi cho bài viết những nhan đề mới.
      Nhân đây, chúng tôi cũng xin được cám ơn nhà thơ Thành Tôn, người đã cho lại chúng tôi, tập sách này.
      Trân trọng,
                                          __  Ban Biên Tập dutule.com


Tập thơ “Đường Vào Tình Sử” của Đinh Hùng, bản đặc biệt
in năm 1961 có chữ ký và thủ bút Đinh Hùng tặng Nguyễn Đình Toàn

CẢM NGHĨ của tôi về Đinh Hùng trước khi được tiếp xúc với ông, ở hai trạng thái thật dị biệt. Ngày còn cắp sách đến trường, cũng như mọi cậu học trò mê thơ văn, tôi tìm gặp Đinh Hùng trong những bài thơ đăng rải rác trong các báo, qua những bài báo, những tập sách loại phê bình văn học nghệ thuật… Tôi đã vẽ trong trí tưởng tượng thơ ngây, non nớt của mình, hình ảnh một chàng lãng tử ngơ ngác giữa dòng đời, mà hành trang chỉ là những mộng ảo, những ước mơ dang dở, những trăng gió bướm hoa, những thiên thai, bồng đảo. Và võ khí tự vệ của ông, chỉ là tấm lòng đắm đuối, thiết tha không tưởng về một thiên đường đã mất.
            Tôi nghĩ về ông bằng khuôn dáng lý tưởng đó. Tôi nghĩ đời sống ông giống như đời sống của trích tiên, ngày đêm mơ mộng tiêu dao. Tôi cũng nghĩ, người thi sĩ đó phải là người có nhân dáng thư sinh, khoan thai, dịu đàng, tâm hồn không bao giờ phải rộn phiền thế cuộc…
            Rồi khi lớn lên, tập tễnh làm văn nghệ, mỗi khi viết được một bài thơ, một đoạn văn đắc ý, tôi sung sướng, rộn ràng gò lưng chép lại, nắn nót từng chữ từng nét (mặc dù càng nắn nót, chữ của tôi càng thêm xấu), xong gửi tờ báo tôi thích.
            Lúc này, tôi bắt đầu giao thiệp với vài bạn đồng sở thích. Họ kể cho tôi nghe rất nhiều điều xấu xa về Đinh Hùng. Như một người bị tình phụ, tôi bắt đầu có ý nghĩ không tốt về ông. Hình ảnh đẹp về một Đinh Hùng, thi sĩ, như một con nai vàng ngơ ngác của Lưu Trọng Lư, trong mùa Thu thiếu phụ đã không còn. Nó nhường chỗ cho vóc dáng một ông cai thầu văn nghệ…
            Cũng từ đó, tôi rất bực dọc mỗi khi đọc thơ ông. Tôi nghĩ ông không chỉ tự lừa dối ông mà còn lừa dối mọi người, khi hạ bút viết những bài thơ bàng bạc ý nghĩa khinh mạn cuộc đời. Những bài thơ chan chứa tình người phảng phất nét siêu hình Đông phương, hay u hoài chua xót, như những hạt lệ còn vướng đọng trên mi người trinh nữ vừa vuột mất thiên đường trong giấc mộng.
            Tuy vậy, tôi chưa hề biết mặt ông. Cũng như tôi chưa hề biết cuộc sống thực của ông ra sao. Những cảm nghĩ phức tạp, những hình ảnh trừu tượng cứ dềnh lên trong trí tôi mỗi khi nghĩ tới ông… Mỗi khi tiếng nói đầy giai điệu từ đài phát thanh vang vọng đến tận đáy tâm hồn tôi. Những giây phút đó, tôi nghĩ không lẽ một con người có giọng nói đầy tình cảm, quyến rũ như thế lại có thể, xấu xa thủ đoạn vậy sao? Không lẽ với cả một “Mê Hồn Ca”, lại không mang một chút sắc diện tâm hồn tác giả?
            Tôi băn khoăn tự hỏi, phải chăng những người bạn văn nghệ của tôi đã quá chủ quan, thiên vị, bất công, hay ghen tức với tài hoa của một thi sĩ khởi nghiệp thi ca từ tiền chiến, mà hôm nay lại càng chói lọi hơn. Những mâu thuẫn đó càng ngày càng xui khiến, thôi thúc tôi tìm đến ông để nhận diện gương mặt tâm hồn đích thực của ông. Một khuôn mặt không sơn vẽ, không son phấn, giai thoại!
            Tôi có quen biết vài người thường giao thiệp với ông. Nhưng vì tự ái, vì mặc cảm mình chưa có “một cái gì” cho nên không bao giờ tôi thổ lộ điều ao ước đó với họ. Hơn nữa, giữa tôi và ông, cũng như giữa tôi và những người nổi tiếng khác, tôi vẫn thấy dường có một sự cách biệt (mơ hồ thôi) nhưng rất lớn. Dù khâm phục hay không, với tôi, họ vẫn là một thế giới mà tôi khó với tới.
            Tâm lý này, thực ra, cũng không là điều gì khó hiểu. Bởi chính cá nhân tôi, dù không là gì, mà đã có người bạn mới, sau buổi gặp lần đầu, đã thành thật, nói rằng, “hồi chưa biết mặt ông, tôi cứ tưởng ông ghê gớm, thần thánh lắm, hóa ra… cũng như mọi người”. Hay, “tôi tưởng anh to lớn già dặn lắm, ai ngờ lại rất nhỏ bé…”
            Vì thế, ngày này qua ngày khác, hình ảnh thi sĩ Đinh Hùng luôn biến đổi trong trí tưởng tôi. Khi thì đó là hình ảnh một Đinh Hùng lộng lẫy. Lúc khác, lại là một Đinh Hùng xấu xa, tùy những giai thoại tôi được nghe về ông. Mãi cho đến khi tôi in xong tác phẩm đầu tay, tôi nhờ T.P đưa lại nhà để tặng sách; với hàm ý muốn nhờ ông giới thiệu trên ban Thi Văn Tao Đàn của ông. Lần đó chúng tôi không gặp. Cách một tuần sau, tôi không còn nhớ rõ ngày nào, nhưng khoảng đầu Tháng Ba, 1964, chúng tôi trở lại.


Nhà thơ Đinh Hùng, sinh năm 1920,
mất năm 1967 tại Sài Gòn

            Căn nhà ông ở là một trong ba căn lầu liền nhau, có lối thang đi riêng, nằm ngay ngả ba Trần Quang Khải và Nguyễn Văn Thạch, cũ. Sau khi gõ nhẹ cánh cửa khép kín. Lắng tai, bên trong không một tiếng động. Tôi đã thất vọng. Nhưng đúng lúc ấy, cậu con trai đầu của ông ra mở cửa.
            Cảm giác đầu tiên của tôi là cái cảm giác ngơ ngẩn, lạc lõng trước khung cảnh lạnh lẽo, tối tăm của căn phòng ẩm mốc. Bốn bức tường nâu đã ngả màu đen xám. Tôi nghĩ ít nhất căn nhà này cũng có tới trên mười năm chưa một lần được tu bổ.
            Đối diện với cửa chính, trên tường cao là một trang thờ khá to, màu đỏ sẫm. Hình như đây là bàn thờ Phật. Hai bên bàn thờ là những câu đối viết trên giấy điều. Dưới chân tường một đống sách được gói ghém cẩn thận, phủ lên bởi tấm giấy dầu (sau này tôi được biết đó là mấy trăm cuốn thơ “Đường Vào Tình Sử!”)
            Bên tay phải là một tủ kính nhỏ. Loại tủ kính tôi nghĩ dùng để bày tách chén thì hợp lý hơn là để những cuốn sách đủ loại tây, tàu, ta, truyện, thơ, biên khảo ngổn ngang… Trên mặt tủ kính, gia chủ bày một bát hương, hai tấm ảnh, cụ bà, cụ ông. Có lẽ là song thân của thi sĩ. Bát hương còn trơ vài chân nhang lạnh.
            Đối diện với tủ kính này là căn buồng nhỏ. Giống như một nhà bếp. Với chiếc bàn gỗ, trên bày bừa bãi ít bát chén ly tách. Phía trái cửa chính để chiếc bàn tròn, kê sát góc nhà. Một bên kê một chiếc ghế. Bên kia ba chiếc khác. Đó là bộ salon, loại gỗ trơn. Một chiếc màn gió ngăn với phòng bên cạnh. Nếu không nhìn kỹ, ta có cảm tưởng tấm màn màu vàng, kỳ thực nó thuộc loại vải sọc.
            Sở dĩ tôi dài dòng như vậy, là để bạn có thể hình dung một cách rõ ràng “phòng văn” của một thi sĩ tiếng tăm lừng lẫy trong văn giới. Thú thực, tôi không thể ngờ căn nhà ông lại hoang vắng, tẻ nhạt, tiêu sơn đến thế. Cái nghèo quá rõ! Làm sao che đậy được khi các đồ vật đều mang dấu vết tàn phai của thời gian, của bụi bám thảm đạm.
            Cảnh trí này, theo tôi, đã nói lên một phần nào bản sắc tâm hồn ông: Coi thường đời sống vật chất. Không điểm trang chưng diện. Không giấu giếm. Cái vô trật tự không làm dáng, không giả tạo ngụy trang, thật thơ, thật đáng mến.
            Một tình cảm dịu nhẹ, hơi buồn (nhưng không hẳn là buồn), hơi bùi ngùi (nhưng không hẳn là xót xa) trải đầy tâm hồn tôi. Tôi không muốn nhìn lâu hơn những đồ vật trong căn phòng ấy.
            Một lát, Đinh Hùng từ phòng bên đi ra. Dáng dấp ông vội vàng, hấp tấp. Chiếc quần ngủ màu nâu nhàu nát. Chiếc áo sơ mi dài tay trắng tinh, nút vàng chưa kịp cài. Tóc dài để xõa hai bên tai, như đôi cánh của một con gà sau cơn xáp chiến, rũ xuống xác xơ mệt mỏi. Ông dùng cả hai tay vuốt tóc, rồi bắt tay chúng tôi với nụ cười cởi mở, duyên dáng nở trọn. Sau khi nghe T.P giới thiệu, ông nhìn tôi và nói: “À, à, hay quá, hôm nay mới được gặp anh đây.”
            Ông đưa tay ra dấu mời chúng tôi ngồi rồi vồn vã hỏi thăm về đời sống của T.P và tôi. Ông nói giọng nhanh, âm thanh reo vui, rộn rã. Ông kể lại, trong quá khứ, ông có chọn một số thơ đăng trên báo của tôi, cho ngâm trong ban Tao Đàn.
            Khi người con đem bình nước ra, ông trở vào phòng bên tìm cuốn “Đường Vào Tình Sử” tặng cho T.P. Cuốn sách được đề tặng cho T.P từ năm 1961 nhưng chưa có dịp gửi. Ông nói sẽ soạn một số sách tặng tôi sau.
            Cử chỉ, lời nói, nét mặt ông bộc lộ rõ cái chí tình, không kiểu cách, không đỏm dáng, làm tôi quên bẵng bao nhiêu thành kiến không đẹp về ông.
            Tôi có cảm tưởng như gần gũi và quen biết ông thuở nào rồi. Cái ý tưởng cần phải đề phòng, thận trọng không còn nữa. Điều ức đoán của tôi về ông hoàn toàn sai lạc. Tôi cảm động và lúng túng không biết nên nói gì! Từ đó tất cả những câu chuyện dĩ vãng được nhắc nhở lại.
            Nào là chuyện cách đây mười năm T.P đến nhậu nhẹt tại nhà ông, say quá phải ngủ lại, tới chuyện in tập thơ “Đường Vào Tình Sử”. Thời gian ông làm cho các báo. Xen lẫn là những câu thăm hỏi về đời sống riêng của tôi, cũng như những câu tôi hỏi có tính cách tra vấn về một số điều tiếng mà ông đang phải gánh chịu. Chính trong cuộc nói chuyện này, tôi được biết thêm nhiều sự thực đau lòng. Nhiều sự thực khó ai có thể tưởng tượng. Vậy mà nó có!
            Ông cũng cho biết hồi ông làm tờ tuần báo Người Việt Tự Do, phụ trách trang thơ, phải đọc nhiều, ông đã thực hiện một chương trình phát thanh đặc biệt dành riêng để giới thiệu thơ của ba người là Bùi Giáng, tôi và một người nữa.
            Đại ý ông nói, đó là ba người mà thơ của họ ít nhiều có sắc thái cá biệt, khó chìm lẫn. Chương trình này thâu xong thì xảy ra cuộc chỉnh lý: Tướng K, lật Tướng M. Nên đài không cho phát…
            Buổi chiều tàn lúc nào chúng tôi không hay, đèn đường khu Tân Định đã bật sáng. Hai tiếng rưỡi trò chuyện cởi mở qua quá mau. Chúng tôi từ biệt ông, sau cái xiết tay thân mật lời dặn dò ân cần nhớ lại chơi…
            Hình ảnh cuối cùng tôi ghi nhận được về ông trong buổi gặp đầu tiên này là hình ảnh của một thi sĩ tên tuổi, với hai thứ tóc trên đầu, và một thân xác héo khô, nhỏ bé, mất hút trong chiếc cầu thang hẹp xoáy trôn ốc.
            Trên đường về, T.P nói thêm với tôi về nhiệt tình của Đinh Hùng. Nhưng tôi biết trong chúng tôi, mỗi người đều ẩn chứa một cảm nghĩ riêng tư. Ở tôi là cảm nghĩ định mệnh mới khắt khe, cay nghiệt làm sao cho một thân tằm nhả tơ trong một đất nước có gần năm ngàn năm văn hiến, nhưng nghèo nàn, chậm tiến.
            Một đất nước chỉ dư thừa chiến tranh điêu tàn, khốn khổ. Một đất nước chỉ thừa máu xương, nước mắt. Biết đến bao giờ? Chừng nào? Bóng tối xã hội mới thôi bủa vây những con người tự nguyện hiến dâng đời mình cho văn chương nghệ thuật, như Đinh Hùng. Để ít nhất trong những tháng, năm chót của cuộc đời, họ còn được thấy ánh sáng vinh quang, và cũng ơn nghĩa hiến tặng của quần chúng đương thời!


DU  TỬ  LÊ               


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thi-si-dinh-hung-va-ngoi-nha-ong-da-o/

 
The following users thanked this post: dalanmai