Tác giả Chủ đề: Đinh Hùng  (Đã xem 15690 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi Harrypham1986

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #15 vào: 07/01/2014, 16:38:18 »
                                                                                                    Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu ( bộ 2 tập ) - Hoài Điệp Thứ Lang ( tức thi sĩ Đinh Hùng ) - NXB Thuận Hóa 1990 ...

                                                                                                   
Tôi là Tôi chứ không thể là 1 ai khác.
 

Ngủ rồi Đa Ang

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #16 vào: 05/12/2014, 15:27:36 »
Mê hồn ca
Nhã Nam, NXB HNV, 2014, 66 trang. Trong tủ sách "Việt Nam danh tác", giai phẩm thơ.
Kích thước: 18x22.5.
 

Ngủ rồi binh_minh2012

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #17 vào: 05/12/2014, 17:38:36 »
Đinh Hùng (3 tháng 7 năm 1920 - 24 tháng 8 năm 1967) là một nhà thơ tiền chiến Việt Nam. Ngoài việc ký tên thật Đinh Hùng, ông còn dùng bút hiệu Thần Đăng khi làm thơ châm biếm và Hoài Điệp Thứ Lang khi viết tiểu thuyết.

(Image removed from quote.)

Thân thế và sự nghiệp

Đinh Hùng, người làng Phượng Dực tỉnh Hà Đông (nay là xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây) là con út cụ Hàn Phụng (tên Phụng, chức quan Hàn lâm thị độc). Thuở nhỏ Đinh Hùng theo bậc tiểu học tại trường Sinh Từ, rồi bậc trung học tạị trường Bảo Hộ, tức trường Bưởi tại Hà Nội.

Sau khi đậu Cao đẳng Tiểu học hạng bình thứ và được học bổng theo ban chuyên khoa để thi Tú tài bản xứ thì "thần Ái tình đã hiện đến cùng một lúc với sự thành công đầy hứa hẹn trên" (theo lời kể của Vũ Hoàng Chương), khiến ông bỏ ngang đi viết văn, làm thơ.

Năm 1931, người chị thứ ba của ông tên Tuyết Hồng đã tự vẫn tại hồ Trúc Bạch vì hờn giận tình duyên. Mấy tháng sau cha ông cũng qua đời khi chưa đến tuổi 50. Ba năm sau, người chị lớn nhất của ông cũng chết trẻ.

Năm 1943, Đinh Hùng theo sống với chị là bà Thục Oanh. Cũng năm này, ông cho xuất bản tập văn xuôi Đám ma tôi (NXB Tân Việt) và đăng thơ trên Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan, Giai phẩm Đời Nay của nhóm Tự Lực văn đoàn... Nhưng ông thật sự bắt đầu nổi tiếng với bài thơ "Kỳ Nữ" mà Thế Lữ in trong truyện Trại Bồ Tùng Linh.

Năm 1944, Vũ Hoàng Chương cưới bà Thục Oanh về Nam Định, Đinh Hùng ở lại Hà Nội và cho ra đời giai phẩm Dạ Đài, với sự cộng tác của một số bạn như Trần Dần, Trần Mai Châu, Vũ Hoàng Địch, Mai Châu...

Năm 1944, Đinh Hùng tản cư theo báo Cứu Quốc. Năm 1944, ông cùng vợ mới cưới là Nguyễn Thị Thanh về Thái Bình dạy học. Khi ấy, Vũ Hoàng Chương và vợ cũng đang tản cư về nơi đó. Năm 1949, Đinh Hùng cùng vợ con về lại Hà Nội. Tại đây ông cho ấn hành giai phẩm Kinh Đô văn nghệ (1952) và Mê Hồn ca (1954).

Tháng 8 năm 1954, ông cùng vợ con vào Nam, lập ra tờ nhật báo Tự Do, có sự cộng tác của Tam Lang, Mặc Đỗ, Mặc Thu, Như Phong...

Năm 1955, nhật báo trên đình bản, ông cộng tác với Đài phát thanh Sài Gòn, giữ mục Tao Đàn, chuyên về thơ ca, cho đến hết đời.

Trong những năm tháng ở Sài Gòn, Đinh Hùng viết tiểu thuyết dã sử Cô gái gò Ôn khâu, Người đao phủ thành Đại La và làm thơ trào phúng trên báo Tự Do, báo Ngôn Luận.

Năm 1961, ông cho in tập Đường vào tình sử (tác phẩm này được trao giải thưởng Văn chương về thi ca năm 1962). Năm 1962, ông cho ra tuần báo Tao Đàn thi nhân, nhưng mới phát hành được 2 số thì ông mất lúc 5 giờ sáng ngày 24 tháng 8 năm 1967 tại bệnh viện Bình Dân, Sài Gòn, vì bệnh ung thư ruột.

Sau khi ông mất, nhà xuất bản Giao điểm cho phát hành tác phẩm Ngày đó có em vào ngày 16 tháng 10 năm 1967.

Ngoài những tác phẩm vừa kể trên, Đinh Hùng còn có 8 tác phẩm chưa xuất bản: Tiếng ca bộ lạc (thơ), Tiếng ca đầu súng (hồi ký), Dạ lan hương (văn xuôi), Sử giả (tùy bút), Vần điệu giao tình (cảo luận) và 3 kịch thơ: Lạc lối trần gian, Phan Thanh Giản, Cánh tay hào kiệt.

Nguồn: Wikipedia
Cái làng phượng dực này phát mả văn chương: các cụ nguyễn văn vĩnh, phạm duy tốn, ... đều xuất thân ở đây.
« Sửa lần cuối: 05/12/2014, 17:39:29 gửi bởi binh_minh2012 »
 

Ngủ rồi mộ như

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #18 vào: 31/05/2015, 21:05:43 »
Mê hồn ca
Nhã Nam, NXB HNV, 2014, 66 trang. Trong tủ sách "Việt Nam danh tác", giai phẩm thơ.
Kích thước: 18x22.5.

Bản này bài "Thần tụng" bị thiếu đoạn cuối rất nhiều. Còn thêm cái tranh minh họa vớ vẩn dán trong tập thơ nữa. Lột cái tranh minh họa rồi mà vẫn chưa hết khó chịu, đem cho luôn
« Sửa lần cuối: 01/12/2015, 14:17:20 gửi bởi mộ như »
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau
 

Ngủ rồi Đa Ang

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #19 vào: 31/05/2015, 22:05:42 »
Bác bổ sung những chỗ còn thiếu lên đây cho em đọc đi ???
 

Ngủ rồi mộ như

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #20 vào: 31/05/2015, 22:09:58 »


hồi trước không biết, mắng Nhã Nam làm ăn ẩu tả. gần đây đọc Mê Hồn Ca bản Văn Uyển ân hành mới biết lần tái bản này không phải do do Nhã Nam cắt phần cuối bài Thần tụng khoảng 50 câu, mà nguyên là in theo bản in đầu tiên của Mê Hồn Ca.
« Sửa lần cuối: 01/12/2015, 14:18:12 gửi bởi mộ như »
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau
 
The following users thanked this post: Nguyên Thánh

Ngủ rồi mộ như

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #21 vào: 03/07/2015, 13:37:07 »
VanVN.Net - Bạn thơ và những người đọc yêu mến nhà thơ Đinh Hùng đều có chung nhận xét: Đinh Hùng tạo được cho riêng ông một thi giới rất lạ, tựa như một con suối chảy từ trữ tình đến tượng trưng sang siêu thực, mang theo dòng những hình ảnh giàu có, một ngôn ngữ cá biệt và một tâm hồn lạ lùng của miền núi rừng hoang vu, bí ẩn, nguyên sơ… Kỷ niệm 45 năm ngày mất của ông (24/8/1967 – 24/8/2012), VanVN.Net xin đăng lại bài viết do tác giả Đinh Hoài Ngọc, con trai nhà thơ chấp bút nhân dịp ngày giỗ cha mình.


Đinh Hùng, cha tôi
Đinh Hoài Ngọc - 24-08-2012


Đã 45 năm nhưng có những kỷ niệm vẫn như in trong đầu, tưởng chừng như vừa mới xảy ra…
Ngày ấy, bố tôi – thi sĩ Đinh Hùng – luôn bận rộn với công việc, ban ngày thì đi thu thanh ở đài, rồi tiếp xúc với các bạn thơ, văn. Bạn của bố tôi ngoài các nhà thơ, văn đã có tiếng, còn có những cây bút trẻ, những “fan”, với tất cả ông đều ân cần, cởi mở, đối xử như nhau và quán bar Thăng Long bên kia đường trước nhà vẫn thường là điểm gặp gỡ, để bàn luận thi ca. Có hôm đến tối khuya mới về đến nhà, ông lại tiếp tục làm việc: soạn bài phát thanh cho chương trình Tao Đàn, làm thơ rồi viết tiểu thuyết dã sử và làm thơ trào phúng.
Ông thức gần như cả đêm cho đến tảng sáng mới chợp mắt một chút. Rồi lại chuẩn bị cho công việc ban ngày. Mẹ tôi cũng thức theo ông và là một người phục vụ tuyệt vời, pha café sữa, trà thiết quan âm, nướng lại vài mẩu biscot... Bố tôi bị đau bao tử nên không ăn được nhiều vì vậy mẹ tôi cứ phải lỉnh kỉnh cả đêm.
Ngoài ra bà còn là người góp ý cho những tác phẩm của bố tôi. Có đêm chợt thức giấc tôi nghe tiếng đọc thơ của bố xong, ông hỏi mẹ thấy có cần sửa gì không? Mẹ góp ý, rồi bố lại cắm cúi viết...
Việc viết tiểu thuyết dã sử của bố tôi làm cả nhà đều thích thú. Bố thường kể trước cho cả nhà nghe cốt truyện sắp viết; ông kể say sưa từng chi tiết cho đến kết thúc. Hàng ngày bao nhiêu người say mê theo dõi trên báo, nhưng ít ai biết được có nhiều khi, ban đêm không viết kịp nên mãi đến trưa đi làm về, ông mới vội vã viết, lúc đó ông viết say sưa, ngòi bút như lướt trên từng trang giấy không ngừng, hình như lúc đó ông không cân suy nghĩ mà những ý tưởng diễn biến cốt chuyện truyền thẳng từ đầu xuống tay và đưa nhanh nét bút trải đầy trang giấy. Nhiều hôm trong khi ông viết, hai nhân viên tòa báo ngồi trực bên ngoài, cứ xong được trang nào là họ vội vàng mang ngay về tòa soạn để sắp chữ cho kịp in vào số báo phát hành ngay vào buổi chiều hôm đó.
Dù rất bận rộn với công việc, bố tôi vẫn là một người cha luôn quan tâm và chăm sóc con cái rất chu đáo. Mỗi tuần, bố dành buổi tối thứ bảy và trọn ngày chủ nhật cho gia đình và nhất là cho các con. Chiều thứ bảy, ở đài phát thanh về thể nào ông cũng ghé qua Đa Kao, vào nhà sách mua sách báo của Pháp (đủ loại truyện tranh như Spirou, Tintin, L’Intrépide, Mikey....), rồi bánh kẹo và các món ăn được chúng tôi “đặt trước” từ trưa. Đến chập tối, tôi dứng trên balcon chờ chiếc ta-xi dừng trước cửa và ông xuất hiện, tay xách nách mang, thế là tôi chạy nhanh xuống đón.
Cũng có lần bố tôi có khách mời đi vào tối thứ bảy, nhưng ông vẫn không quên những món quà cuối tuần cho các con, tạt ngang về nhà đưa quà xong mới đi. Đến nay tôi cũng cố theo cái nếp đó để thực hiện, tạo cho con tôi niềm vui vào cuối tuần như ngày xưa mình từng được hưởng.
Ngày chủ nhật thì hoàn toàn thuộc về gia đình, mẹ tôi thực hiện những món ăn đặc biệt, do bố tôi chỉ cho mẹ làm. Ngoài tài làm thơ, ông còn có “tài hướng dẫn nấu ăn”. Gọi là đặc biệt vì đây là những món ăn lạ, sau khi thưởng thức bữa tiệc nào đó, bố tôi mô tả lại với đầy đủ chi tiết (các gia vị, các nguyên liệu thực phẩm cần có) để mẹ đi chợ mua về và khi làm món ăn thì bố tôi đứng cạnh để nhận xét và góp ý xem món ăn đã đạt chưa. Tôi cho rằng “hướng dẫn người khác nấu ăn” bằng cách mô tả lại món ăn mà mình đã thưởng thức thì không phải là chuyện dễ!
Sau khi ăn uống xong, cả nhà quây quần lại để nghe bố tôi kể chuyện theo truyện tranh (mua tối thứ bảy). Tôi học chương trình Pháp, nên đọc truyện cũng hiểu nhưng vẫn thích nghe ông kể lại hơn vì bố tôi dựa theo lời truyện kết hợp với tranh vẽ để kể thành một câu chuyện liền mạch với đầy đủ tình tiết, nếu không xem tranh cũng vẫn thích thú không kém.
Đầu thập niên 60, phong trào nhạc bắt đầu rộ lên, đi đâu cũng nghe người ta mở nhạc Silvie Vartan, Adamo, Christophe, The Beatles..., tôi cũng rất mê nhạc và cũng tập tành làm thơ, nhưng ngọn lửa văn nghệ trong tôi vừa mới nhen nhúm đã bị bố tôi dập tắt “không thương tiếc”! Thơ thì sau khi làm được vài đoạn, chưa tự nhận biết hay dở, tôi đưa ông xem có ý nhờ bố sửa, liền bị ông sẵn bút trên tay gạch chéo ngay và vò lại. Còn nhạc thì cũng bi đát không kém. Tôi được ông bác cho một cây đàn mandiline, nhưng bố tôi không những không dạy đàn mà còn cấm không cho đụng đến.
Ông nói: “... Không muốn các con dính dấp vào văn nghệ, thơ nhạc gì hết, sẽ khổ đời(!) Phải cố gắng có nghề nghiệp vững chắc...” Bố tôi không muốn con mình đi theo con đường của ông. Đi theo con đường trải thảm hoa nhưng bên cạnh là cái nghèo luôn theo đuổi.
Là nhà thơ trọn vẹn sống và chết với thơ, ngay cả vào những lúc vinh quang nhất bố tôi vẫn thật nghèo, nghèo nhưng không bao giờ khổ, vì nguồn vui và niềm hạnh phúc của ông là những nguồn thi ca không bao giờ cạn.
Đã có lần bố tôi bị bệnh nặng, bác sĩ Tụng - là bác sĩ của gia đình - điều trị đến khi hết bệnh, đã khuyên ông nên đổi nghề: làm công chức hay đi dạy học, vì nếu cứ tiếp tục “vắt tim gan ra” thì sẽ nguy hiểm đến tính mạng, nhưng bố tôi nói nếu để được sống lâu mà phải ngừng không được sáng tác nữa thì có khác gì đã chết! Nếu như vậy thì sống lâu làm gì, sáng tác tức là đã rồi và sự sống đó mới lá bất tử.
Ngay cả vào những quãng thời gian cuối đời vẫn say mê với đứa con tinh thần: Tờ tuần báo Tao Đàn Thi nhân số đầu được ra mắt bằng tất cả sự chau chuốt của ông. Rồi ông phải vào bệnh viện, nhưng vẫn không quên lo cho tờ báo, những chương trình thơ nhạc trên đài phát thanh...
Trên giường bệnh, ông vẫn tiếp tục lo bài vở cho số 2 tờ Tao Đàn Thi Nhân. Một số thân hữu hàng ngày ra vào “tòa soạn” đặt tại...bệnh viện Bình Dân, để phụ ông sắp đặt bài vở. Và trước khi bố tôi ra đi vĩnh viễn, tờ Tao Đàn Thi Nhân đã ra được số 2, ông đã có được tờ báo số 2 bằng tất cả nghị lực trong khi cơn bệnh hoành hành ngày càng dữ dội.
Vài ngày sau, bố tôi ra đi thật thanh thản. Trước lúc mất, ông nằm vắt chân chữ ngũ và ngủ, mẹ và tôi mỗi người một bên, phẩy quạt nhè nhẹ, tôi khẽ nhắc chân ông đặt thẳng xuống cho đỡ mỏi. Bố tôi vẫn nằm ngủ yên thật lâu, hơi thở nhẹ dần. Bỗng dưng cả mẹ và tôi đều hoảng hốt ghé sát vào mặt ông, và ông đã nhắm mắt đi vào cơn trường mộng, lúc đó đúng 5 giờ sáng ngày 24.8.1967, để lại niềm đau xót cho gia đình và nỗi tiếc thương cho nền thi ca...

http://vanvn.net/news/34/2387-dinh-hung--cha-toi.html
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau
 

Ngủ rồi mộ như

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #22 vào: 30/05/2016, 13:45:24 »
lạng quạng tìm được sách pdf files scan của đốt lò hương cũ:

http://sachviet.edu.vn/threads/dot-lo-huong-cu-nxb-lua-thieng-1971-dinh-hung-183-trang.47333/
những nỗi buồn kêu gọi nhớ tên nhau
 

Ngủ rồi Francisco Lam

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #23 vào: 12/12/2016, 22:37:47 »
Đẹp quá...
Ước gì xử lý được hết nhỉ...
 

Ngủ rồi Francisco Lam

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #24 vào: 13/12/2016, 08:35:03 »
Ý của mình là xử lý được hết các bản chụp, làm đẹp lại, và tạo mới cuốn sách như ĐVTS...
 

Ngủ rồi hoaico

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #25 vào: 29/04/2017, 08:28:11 »


MÊ HỒN CA -- ĐINH HÙNG
KHAI TRÍ 1970

http://tusachtiengviet.com/p104a561/me-hon-ca
 
The following users thanked this post: như mộ

Ngủ rồi nduytai

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #26 vào: 17/02/2019, 20:50:06 »


Thi sĩ Đinh Hùng và ngôi nhà ông đã ở


Lời nói đầu: Ký sự văn nghệ dưới đây của nhà thơ Du Tử Lê, viết về thi sĩ Đinh Hùng, được trích từ tác phẩm “Năm Sắc Diện, Năm Định Mệnh” do nhà Tao Đàn Saigon, ấn hành tháng 6 năm 1965.
      Họ Lê viết bài này năm 1964, cách nay đúng 47 năm. Nhận thấy bài viết còn nhiều lỗi chính tả, cũng như cách sắp xếp các tiết mục, chú thích không thống nhất, nên chúng tôi đã xin phép tác giả để biên tập lại. Công việc hoàn tất vào cuối tháng 6 năm 2011.
      Khi đánh máy lại từ sách, bài viết dài tới trên 30 trang. Do đó, chúng tôi quyết định chia làm nhiều kỳ, để bạn đọc và thân hữu dễ theo dõi.
      Cũng với sự cho phép của tác giả, chúng tôi cho bài viết những nhan đề mới.
      Nhân đây, chúng tôi cũng xin được cám ơn nhà thơ Thành Tôn, người đã cho lại chúng tôi, tập sách này.
      Trân trọng,
                                          __  Ban Biên Tập dutule.com


Tập thơ “Đường Vào Tình Sử” của Đinh Hùng, bản đặc biệt
in năm 1961 có chữ ký và thủ bút Đinh Hùng tặng Nguyễn Đình Toàn

CẢM NGHĨ của tôi về Đinh Hùng trước khi được tiếp xúc với ông, ở hai trạng thái thật dị biệt. Ngày còn cắp sách đến trường, cũng như mọi cậu học trò mê thơ văn, tôi tìm gặp Đinh Hùng trong những bài thơ đăng rải rác trong các báo, qua những bài báo, những tập sách loại phê bình văn học nghệ thuật… Tôi đã vẽ trong trí tưởng tượng thơ ngây, non nớt của mình, hình ảnh một chàng lãng tử ngơ ngác giữa dòng đời, mà hành trang chỉ là những mộng ảo, những ước mơ dang dở, những trăng gió bướm hoa, những thiên thai, bồng đảo. Và võ khí tự vệ của ông, chỉ là tấm lòng đắm đuối, thiết tha không tưởng về một thiên đường đã mất.
            Tôi nghĩ về ông bằng khuôn dáng lý tưởng đó. Tôi nghĩ đời sống ông giống như đời sống của trích tiên, ngày đêm mơ mộng tiêu dao. Tôi cũng nghĩ, người thi sĩ đó phải là người có nhân dáng thư sinh, khoan thai, dịu đàng, tâm hồn không bao giờ phải rộn phiền thế cuộc…
            Rồi khi lớn lên, tập tễnh làm văn nghệ, mỗi khi viết được một bài thơ, một đoạn văn đắc ý, tôi sung sướng, rộn ràng gò lưng chép lại, nắn nót từng chữ từng nét (mặc dù càng nắn nót, chữ của tôi càng thêm xấu), xong gửi tờ báo tôi thích.
            Lúc này, tôi bắt đầu giao thiệp với vài bạn đồng sở thích. Họ kể cho tôi nghe rất nhiều điều xấu xa về Đinh Hùng. Như một người bị tình phụ, tôi bắt đầu có ý nghĩ không tốt về ông. Hình ảnh đẹp về một Đinh Hùng, thi sĩ, như một con nai vàng ngơ ngác của Lưu Trọng Lư, trong mùa Thu thiếu phụ đã không còn. Nó nhường chỗ cho vóc dáng một ông cai thầu văn nghệ…
            Cũng từ đó, tôi rất bực dọc mỗi khi đọc thơ ông. Tôi nghĩ ông không chỉ tự lừa dối ông mà còn lừa dối mọi người, khi hạ bút viết những bài thơ bàng bạc ý nghĩa khinh mạn cuộc đời. Những bài thơ chan chứa tình người phảng phất nét siêu hình Đông phương, hay u hoài chua xót, như những hạt lệ còn vướng đọng trên mi người trinh nữ vừa vuột mất thiên đường trong giấc mộng.
            Tuy vậy, tôi chưa hề biết mặt ông. Cũng như tôi chưa hề biết cuộc sống thực của ông ra sao. Những cảm nghĩ phức tạp, những hình ảnh trừu tượng cứ dềnh lên trong trí tôi mỗi khi nghĩ tới ông… Mỗi khi tiếng nói đầy giai điệu từ đài phát thanh vang vọng đến tận đáy tâm hồn tôi. Những giây phút đó, tôi nghĩ không lẽ một con người có giọng nói đầy tình cảm, quyến rũ như thế lại có thể, xấu xa thủ đoạn vậy sao? Không lẽ với cả một “Mê Hồn Ca”, lại không mang một chút sắc diện tâm hồn tác giả?
            Tôi băn khoăn tự hỏi, phải chăng những người bạn văn nghệ của tôi đã quá chủ quan, thiên vị, bất công, hay ghen tức với tài hoa của một thi sĩ khởi nghiệp thi ca từ tiền chiến, mà hôm nay lại càng chói lọi hơn. Những mâu thuẫn đó càng ngày càng xui khiến, thôi thúc tôi tìm đến ông để nhận diện gương mặt tâm hồn đích thực của ông. Một khuôn mặt không sơn vẽ, không son phấn, giai thoại!
            Tôi có quen biết vài người thường giao thiệp với ông. Nhưng vì tự ái, vì mặc cảm mình chưa có “một cái gì” cho nên không bao giờ tôi thổ lộ điều ao ước đó với họ. Hơn nữa, giữa tôi và ông, cũng như giữa tôi và những người nổi tiếng khác, tôi vẫn thấy dường có một sự cách biệt (mơ hồ thôi) nhưng rất lớn. Dù khâm phục hay không, với tôi, họ vẫn là một thế giới mà tôi khó với tới.
            Tâm lý này, thực ra, cũng không là điều gì khó hiểu. Bởi chính cá nhân tôi, dù không là gì, mà đã có người bạn mới, sau buổi gặp lần đầu, đã thành thật, nói rằng, “hồi chưa biết mặt ông, tôi cứ tưởng ông ghê gớm, thần thánh lắm, hóa ra… cũng như mọi người”. Hay, “tôi tưởng anh to lớn già dặn lắm, ai ngờ lại rất nhỏ bé…”
            Vì thế, ngày này qua ngày khác, hình ảnh thi sĩ Đinh Hùng luôn biến đổi trong trí tưởng tôi. Khi thì đó là hình ảnh một Đinh Hùng lộng lẫy. Lúc khác, lại là một Đinh Hùng xấu xa, tùy những giai thoại tôi được nghe về ông. Mãi cho đến khi tôi in xong tác phẩm đầu tay, tôi nhờ T.P đưa lại nhà để tặng sách; với hàm ý muốn nhờ ông giới thiệu trên ban Thi Văn Tao Đàn của ông. Lần đó chúng tôi không gặp. Cách một tuần sau, tôi không còn nhớ rõ ngày nào, nhưng khoảng đầu Tháng Ba, 1964, chúng tôi trở lại.


Nhà thơ Đinh Hùng, sinh năm 1920,
mất năm 1967 tại Sài Gòn

            Căn nhà ông ở là một trong ba căn lầu liền nhau, có lối thang đi riêng, nằm ngay ngả ba Trần Quang Khải và Nguyễn Văn Thạch, cũ. Sau khi gõ nhẹ cánh cửa khép kín. Lắng tai, bên trong không một tiếng động. Tôi đã thất vọng. Nhưng đúng lúc ấy, cậu con trai đầu của ông ra mở cửa.
            Cảm giác đầu tiên của tôi là cái cảm giác ngơ ngẩn, lạc lõng trước khung cảnh lạnh lẽo, tối tăm của căn phòng ẩm mốc. Bốn bức tường nâu đã ngả màu đen xám. Tôi nghĩ ít nhất căn nhà này cũng có tới trên mười năm chưa một lần được tu bổ.
            Đối diện với cửa chính, trên tường cao là một trang thờ khá to, màu đỏ sẫm. Hình như đây là bàn thờ Phật. Hai bên bàn thờ là những câu đối viết trên giấy điều. Dưới chân tường một đống sách được gói ghém cẩn thận, phủ lên bởi tấm giấy dầu (sau này tôi được biết đó là mấy trăm cuốn thơ “Đường Vào Tình Sử!”)
            Bên tay phải là một tủ kính nhỏ. Loại tủ kính tôi nghĩ dùng để bày tách chén thì hợp lý hơn là để những cuốn sách đủ loại tây, tàu, ta, truyện, thơ, biên khảo ngổn ngang… Trên mặt tủ kính, gia chủ bày một bát hương, hai tấm ảnh, cụ bà, cụ ông. Có lẽ là song thân của thi sĩ. Bát hương còn trơ vài chân nhang lạnh.
            Đối diện với tủ kính này là căn buồng nhỏ. Giống như một nhà bếp. Với chiếc bàn gỗ, trên bày bừa bãi ít bát chén ly tách. Phía trái cửa chính để chiếc bàn tròn, kê sát góc nhà. Một bên kê một chiếc ghế. Bên kia ba chiếc khác. Đó là bộ salon, loại gỗ trơn. Một chiếc màn gió ngăn với phòng bên cạnh. Nếu không nhìn kỹ, ta có cảm tưởng tấm màn màu vàng, kỳ thực nó thuộc loại vải sọc.
            Sở dĩ tôi dài dòng như vậy, là để bạn có thể hình dung một cách rõ ràng “phòng văn” của một thi sĩ tiếng tăm lừng lẫy trong văn giới. Thú thực, tôi không thể ngờ căn nhà ông lại hoang vắng, tẻ nhạt, tiêu sơn đến thế. Cái nghèo quá rõ! Làm sao che đậy được khi các đồ vật đều mang dấu vết tàn phai của thời gian, của bụi bám thảm đạm.
            Cảnh trí này, theo tôi, đã nói lên một phần nào bản sắc tâm hồn ông: Coi thường đời sống vật chất. Không điểm trang chưng diện. Không giấu giếm. Cái vô trật tự không làm dáng, không giả tạo ngụy trang, thật thơ, thật đáng mến.
            Một tình cảm dịu nhẹ, hơi buồn (nhưng không hẳn là buồn), hơi bùi ngùi (nhưng không hẳn là xót xa) trải đầy tâm hồn tôi. Tôi không muốn nhìn lâu hơn những đồ vật trong căn phòng ấy.
            Một lát, Đinh Hùng từ phòng bên đi ra. Dáng dấp ông vội vàng, hấp tấp. Chiếc quần ngủ màu nâu nhàu nát. Chiếc áo sơ mi dài tay trắng tinh, nút vàng chưa kịp cài. Tóc dài để xõa hai bên tai, như đôi cánh của một con gà sau cơn xáp chiến, rũ xuống xác xơ mệt mỏi. Ông dùng cả hai tay vuốt tóc, rồi bắt tay chúng tôi với nụ cười cởi mở, duyên dáng nở trọn. Sau khi nghe T.P giới thiệu, ông nhìn tôi và nói: “À, à, hay quá, hôm nay mới được gặp anh đây.”
            Ông đưa tay ra dấu mời chúng tôi ngồi rồi vồn vã hỏi thăm về đời sống của T.P và tôi. Ông nói giọng nhanh, âm thanh reo vui, rộn rã. Ông kể lại, trong quá khứ, ông có chọn một số thơ đăng trên báo của tôi, cho ngâm trong ban Tao Đàn.
            Khi người con đem bình nước ra, ông trở vào phòng bên tìm cuốn “Đường Vào Tình Sử” tặng cho T.P. Cuốn sách được đề tặng cho T.P từ năm 1961 nhưng chưa có dịp gửi. Ông nói sẽ soạn một số sách tặng tôi sau.
            Cử chỉ, lời nói, nét mặt ông bộc lộ rõ cái chí tình, không kiểu cách, không đỏm dáng, làm tôi quên bẵng bao nhiêu thành kiến không đẹp về ông.
            Tôi có cảm tưởng như gần gũi và quen biết ông thuở nào rồi. Cái ý tưởng cần phải đề phòng, thận trọng không còn nữa. Điều ức đoán của tôi về ông hoàn toàn sai lạc. Tôi cảm động và lúng túng không biết nên nói gì! Từ đó tất cả những câu chuyện dĩ vãng được nhắc nhở lại.
            Nào là chuyện cách đây mười năm T.P đến nhậu nhẹt tại nhà ông, say quá phải ngủ lại, tới chuyện in tập thơ “Đường Vào Tình Sử”. Thời gian ông làm cho các báo. Xen lẫn là những câu thăm hỏi về đời sống riêng của tôi, cũng như những câu tôi hỏi có tính cách tra vấn về một số điều tiếng mà ông đang phải gánh chịu. Chính trong cuộc nói chuyện này, tôi được biết thêm nhiều sự thực đau lòng. Nhiều sự thực khó ai có thể tưởng tượng. Vậy mà nó có!
            Ông cũng cho biết hồi ông làm tờ tuần báo Người Việt Tự Do, phụ trách trang thơ, phải đọc nhiều, ông đã thực hiện một chương trình phát thanh đặc biệt dành riêng để giới thiệu thơ của ba người là Bùi Giáng, tôi và một người nữa.
            Đại ý ông nói, đó là ba người mà thơ của họ ít nhiều có sắc thái cá biệt, khó chìm lẫn. Chương trình này thâu xong thì xảy ra cuộc chỉnh lý: Tướng K, lật Tướng M. Nên đài không cho phát…
            Buổi chiều tàn lúc nào chúng tôi không hay, đèn đường khu Tân Định đã bật sáng. Hai tiếng rưỡi trò chuyện cởi mở qua quá mau. Chúng tôi từ biệt ông, sau cái xiết tay thân mật lời dặn dò ân cần nhớ lại chơi…
            Hình ảnh cuối cùng tôi ghi nhận được về ông trong buổi gặp đầu tiên này là hình ảnh của một thi sĩ tên tuổi, với hai thứ tóc trên đầu, và một thân xác héo khô, nhỏ bé, mất hút trong chiếc cầu thang hẹp xoáy trôn ốc.
            Trên đường về, T.P nói thêm với tôi về nhiệt tình của Đinh Hùng. Nhưng tôi biết trong chúng tôi, mỗi người đều ẩn chứa một cảm nghĩ riêng tư. Ở tôi là cảm nghĩ định mệnh mới khắt khe, cay nghiệt làm sao cho một thân tằm nhả tơ trong một đất nước có gần năm ngàn năm văn hiến, nhưng nghèo nàn, chậm tiến.
            Một đất nước chỉ dư thừa chiến tranh điêu tàn, khốn khổ. Một đất nước chỉ thừa máu xương, nước mắt. Biết đến bao giờ? Chừng nào? Bóng tối xã hội mới thôi bủa vây những con người tự nguyện hiến dâng đời mình cho văn chương nghệ thuật, như Đinh Hùng. Để ít nhất trong những tháng, năm chót của cuộc đời, họ còn được thấy ánh sáng vinh quang, và cũng ơn nghĩa hiến tặng của quần chúng đương thời!


DU  TỬ  LÊ               


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thi-si-dinh-hung-va-ngoi-nha-ong-da-o/

 
The following users thanked this post: dalanmai

Ngủ rồi nduytai

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #27 vào: 24/02/2019, 18:35:57 »


Đinh Hùng tiểu sử và giao tình với nhà văn Thạch Lam


Thi sĩ Đinh Hùng sinh ngày 3 Tháng Bảy, 1920, tại làng Trung Phụng, ngoại ô thành Hà Nội. Ngôi làng này nằm ngay sau lưng khu phố Khâm Thiên. Những ai đã từng ở Hà Nội, đều công nhận Khâm Thiên là khu ăn chơi nổi tiếng nhất. Đây là nơi tập trung các nàng ca kỹ tài sắc bốn phương.

Nhà thơ Đinh Hùng (phải) và Tô Kiều Ngân

GIA ĐÌNH ÔNG thuộc giai cấp trưởng giả. Thân phụ ông sinh được sáu người con, hai trai bốn gái. Ông là con út. Theo tập tục, cũng như theo tâm lý, người ta thấy hầu hết những đứa con út trong gia đình thường được nuông chìu (quan niệm giàu con út, khó con út) và sớm phát triển các tình cảm, kinh nghiệm trên nhiều bình diện hơn các anh chị. Vì ngoài sự được chăm chút, nâng niu của cha mẹ, con út còn được tiếp nhận những tình cảm, những kinh nghiệm trên nhiều bình diện phức tạp từ nơi anh chị.
            Đinh Hùng cũng rơi vào định lệ đó. Hơn nữa, ông còn được thừa hưởng dòng máu hào hoa, nghệ sĩ của thân phụ. Thuở đó, thân phụ ông là một trong những khuôn mặt thân quen, một khách chơi thường trực của khu phố Khâm Thiên. Không chỉ thế, thân phụ ông còn đem cả cô đầu về nhà, tổ chức thù tạc với bạn hữu thâm đêm, suốt sáng.
            Do đó tuổi thơ của ông được nuôi dưỡng trong bầu không khí thấm đậm tiếng ca, câu hò, tiếng sênh, tiếng phách. Trí óc non nớt của ông đã sớm in hằn thanh sắc của những nàng Kiều xóm Khâm Thiên, cùng cốt cách phong lưu tài tử của những tay ăn chơi lịch lãm. Cái cảnh trí mộng ảo quyến rũ mà thi sĩ Vũ Hoàng Chương (cũng là anh rể của ông sau này), đã ghi lại trong bài “Nghe Hát”:

                          “Phách ngọt, đàn say nệm khói êm
                            tiếng ca buồn nổi giữa chừng đêm
                            canh khuya đưa khách lời reo ngọc
                            mơ gác tầm dương thoảng áo xiêm
                            dù lạ nghìn thu xa tám cõi
                            sen vàng như động phía chân tiên
                            nao nao khói biếc hài thương nữ
                            trở gối hoa lê rụng trắng thềm.”


            Sống trong khung cảnh đó, bản chất nghệ sĩ, nòi tình nơi Đinh Hùng như cá gặp nước, đã phát triển rất sớm.
            Năm lên 6, 7 ông đã chứng tỏ có năng khiếu về hội họa. Một người anh rể của ông là nhiếp ảnh gia Vũ An Đạm cho biết, ngay từ tấm bé, Đinh Hùng đã vẽ rất đẹp.
            Năm 13, 14 tuổi ông đã nghiện thuốc lào (một thứ kích thích cảm giác gấp trăm ngàn lần thuốc lá. Cái say của thuốc lào cũng ngất ngây, mê mẩn gần như thuốc phiện). Cũng tuổi này, ông mê một cô đào hát trẻ mới vào nghề, thường được thân phụ ông mời về nhà. Ta có thể coi đó là một hành vi hết sức táo bạo, liều lĩnh giữa một khung cảnh xã hội còn chịu ảnh hưởng sâu đậm đạo lý Khổng Mạnh. Giữa xã hội mà người ta thường trực sống trong sự đề phòng miệng tiếng búa rìu. Mọi người hầu như sống không sống cho mình, mà sống cho cái khuôn mẫu ước lệ của xã hội ấy.
            Sống trong khung cảnh đó, bản chất nghệ sĩ, nòi tình nơi Đinh Hùng như cá gặp nước, đã phát triển rất sớm.
            Ngay khi bước chân vào trường Bưởi, ông đã cùng một vài người nữa, làm những tờ bích báo. Hoạt động văn nghệ đó, gây tiếng vang lớn trong trường, khiến Đinh Hùng phải bỏ học sau này.
            Năm đệ tứ, Đinh Hùng bắt đầu làm thơ. Nhưng ông giấu giếm không dám cho ai biết. Khi ấy, ông cảm thấy, thơ là một địa hạt của chữ nghĩa, kiến thức và kinh nghiệm. Bây giờ ông vẫn còn giữ nguyên quan niệm đó, và phủ nhận tất cả những trường hợp người ta gọi là thần đồng thi ca. Như cách đây khá lâu, ở Pháp, một thời dư luận xôn xao, bàn tán khi báo chí loan tin thần đồng thơ, cô bé Drouet 11 tuổi với những bài thơ nhỏ thật sâu sắc, trong sáng.
            Tới năm dọn thi tú tài phần nhất, ông mới bắt đầu để mọi người biết tư cách thi sĩ của mình. Sau khi đỗ tú tài phần nhất, một lần nữa, ông bị ban giám đốc nhà trường cảnh cáo rằng, nếu muốn tiếp tục việc học thì hãy thôi làm văn nghệ. Ngoài ra, ông còn bị nhiếc móc về mái tóc bù rối nghệ sĩ nữa. Chạm tự ái, ông làm đơn xin thôi học.
            Nhờ gia đình khá giả, ông tiếp tục sự học bằng cách tới thư viện. Nhưng cũng từ đó trở về sau, không bao giờ ông thi thêm một khóa nào khác.
            Sau khi rời bỏ học đường, Đinh Hùng chính thức hoạt động văn nghệ, và bắt liên lạc với những văn nghệ sĩ đương thời. Tác phẩm đầu tiên của ông được đăng trong giai phẩm “Mùa Gặt Mới” của ông Lê Văn Văn, giám đốc nhà xuất bản Tân Việt, ấn hành năm 1940. Tùy bút ấy sau được chọn đăng trong cuốn “Việt Nam Văn Học Bình Giảng” của Phạm Văn Diêu…
            Song song với “Mùa Gặt Mới”, phê bình gia Vũ Ngọc Phan xuất bản tuần báo Hà Nội Tân Văn. Qua trung gian Nguyễn Đức Chính, bạn học của Đinh Hùng, ông đưa nguyên một tập thơ cho Vũ Ngọc Phan coi trước. Ông Phan đồng ý nhận đăng dần dần những bài thơ có trong tập này.
            Vài số sau, Vũ Ngọc Phan giao hẳn trang thơ cho Đinh Hùng phụ trách. Ông kể, thủa đó người làm thơ không bao nhiêu! Nên chẳng có ai gửi thơ tới. Chỉ có thi sĩ Vũ Hoàng Chương, lúc đó đang in cuốn thơ “Say”, đưa bản vỗ cho ông đăng dần, với lời giới thiệu của Mạnh Phú Tư. Sau hai tháng cộng tác, được tám số, ông chấm dứt cộng tác với Hà Nội Tân Văn.
            Cũng từ đấy, ông không còn chỗ để đăng thơ. Nhưng bù lại Đinh Hùng được quen biết nhà văn Thạch Lam.
            Ông nhớ lại rằng, hồi đó Thạch Lam cho xuất bản cuốn “Hà Nội 36 Phố Phường”, ông viết thư cho Thạch Lam, đại ý nói là một trong những người hâm mộ Thạch Lam từ lâu, nay viết thư xin góp ý về bài “Thịt Chó”.
            Nhà Thạch Lam ở sâu trong xóm làng Trung Phụng. Mỗi khi xuống phố ông đều phải đi qua nhà Đinh Hùng. Một hôm Thạch Lam ghé vào nhà Đinh Hùng. Ông sửng sốt, kinh ngạc… Những tưởng thư viết gửi Thạch Lam, cũng chỉ như trăm ngàn trường hợp khác. Ông nói: “Đây là một khích lệ lớn lao đối với tôi”.
            Nhờ Thạch Lam giới thiệu, Đinh Hùng quen biết hầu hết các nhà văn trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thế Lữ… Và một số văn nghệ sĩ khác nữa, như Huyền Kiêu, Nguyễn Tuân… Riêng Thạch Lam, Huyền Kiêu và ông sau này kết nghĩa anh em… Ngoài ra, ông còn kết bạn với thi sĩ Trần Dần. Cùng Trần Dần, ông lập một nhóm thơ, lấy tên là “Nhóm Thơ Tượng Trưng”.
            Năm 1945, khi chiến tranh Việt Pháp lan tràn tới Hà Nội, theo lớp sóng tản cư, ông chạy vào Hà Đông rồi Vân Đình. Thời gian này ông làm việc cho Sở Thông Tin khu 2 (Liên khu 2).
            Làm việc cho thông tin khu 2 được chừng ba năm, ông cảm thấy không kham nổi công việc, bèn cùng thi sĩ Vũ Hoàng Chương bỏ trốn về Thái Bình. Ở Thái Bình, ông cùng thi sĩ Vũ Hoàng Chương mở một ngôi trường nhỏ trong một làng tương đối còn yên ổn. Nhờ dân làng đa số trọng chữ nghĩa, ông sống êm thấm được chừng một năm.
            Tới đầu năm 1950, quân viễn chinh Pháp cùng quân đội Bảo Hoàng mở cuộc hành quân tảo thanh Thái Bình. Một số dân chúng không chạy kịp, bị lùa về vùng do quân Pháp kiểm soát. Trong số những người bị lùa về, có cả thi sĩ Vũ Hoàng Chương lẫn Đinh Hùng. Từ vùng Pháp kiểm soát, còn được gọi là vùng “tề”, ông cùng họ Vũ tìm đường trở về Hà Nội.
            Với năm năm lưu lạc gian truân, Đinh Hùng đã sáng tác được hai tác phẩm. Thơ là tập “Tiếng Ca Bộ Lạc”, và văn là tập “Tiếng Ca Đầu Súng”, loại bút ký.
            Ở Hà Nội, Đinh Hùng cộng tác với một số anh em có mặt trong thành như Ngọc Giao, qua giai phẩm “Lửa Cựu”, “Hoa Sen”. Riêng giai phẩm “Kinh Đô Văn Nghệ” thì do chính ông chủ trương. Kế tiếp, ông lại cùng hai nhà văn Kỳ Văn Nguyên và Thanh Nam trông nom tờ tuần báo “Hồ Gươm”.
            Năm 1951, ông lập gia đình. Các bút hiệu Thần Đăng, Hoài Điệp Thứ Lang của ông ra đời trong khoảng thời gian này.


DU  TỬ  LÊ               


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/dinh-hung-tieu-su-va-giao-tinh-voi-nha-van-thach-lam/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #28 vào: 03/03/2019, 18:55:45 »


Đinh Hùng và thi phẩm đầu tay “Mê Hồn Ca”


Năm 1954, thi sĩ Hồ Dzếnh, giám đốc nhà xuất bản Tiếng Phương Đông, sau đổi lại là Bình Minh, cho in thi phẩm “Mê Hồn Ca” của Đinh Hùng.

Quyển “Mê Hồn Ca” của Đinh Hùng,
do nhà xuất bản Tiếng Phương Đông, Hà Nội ấn hành

NHƯNG BẤT HẠNH cho ông cũng như cho thi sĩ Hồ Dzếnh là Hiệp Định Genève thình lình được ký kết giữa Việt Minh và thực dân Pháp. Đinh Hùng đành phải lên máy bay với 200 cuốn thơ đầu tay cùng vài bộ quần áo cũ!
            Rất may cho tác giả “Mê Hồn Ca” là ở Sài Gòn, vùng đất mới, ông đã được một số anh em quen biết cũ, mời cộng tác với tờ Tự Do cùng Như Phong, Mặc Đỗ, Vũ Khắc Khoan… Sau đấy, ông cũng nhận lời cộng tác với các báo khác như Ngôn Luận, Văn Nghệ Tiền Phong, Người Việt Tự Do, Tiểu Thuyết Tuần San… Ngoài ra ông còn dạy học, viết truyện, làm đài phát thanh, đóng kịch…
            Tóm lại là ông làm rất nhiều nghề. Năm 1961, ông được trao Giải Thưởng Văn Chương Toàn Quốc với thi phẩm “Đường Vào Tình Sử”.


⋆ ⋆ ⋆

            Thi sĩ Đinh Hùng không bao giờ đặt vấn đề “cũ, mới” trong thi ca. Ông quan niệm tất cả chỉ là hình thức diễn tả ý tình. Điều quan trọng là có nói được điều mình muốn nói, và người đọc có hiểu, hay cảm được không? Kỹ thuật cũng không mấy quan trọng (?).
            “Cần nhất người làm thơ thể hiện được bản sắc thi sĩ…” Hay bốn chữ mà ông thường dùng “gương mặt linh hồn.” Ông nhấn mạnh, bản sắc đó là sự không trộn lẫn; không vay mượn. Và, một điều nữa là phải luôn tìm đường hướng mới cho thi ca. Vẫn theo ông, thế giới thi ca là thế giới mênh mông vô cùng tận…
            Nói về tình trạng thi ca bây giờ, ông cho rằng nhờ phương tiện ấn loát cũng như phổ biến dễ dàng hơn trước rất nhiều, nên thi ca đã bành trướng mạnh, nhanh nhưng chỉ lan tràn về chiều rộng, về lượng mà thôi. Về phẩm, trái lại rất ít.
            Nói riêng về thơ xuất bản trong năm 1964, thi sĩ Đinh Hùng cho biết, ông thấy đa số những thi phẩm gửi tới cho ông, tức cho ban Tao Đàn, là loại thi ca phục vụ giai đoạn! Ông kết luận: “Cái mình khác và hơn… là ở chỗ mình còn tình, còn mộng. Mình không thể sống như mất tự do theo lối… được. Mình còn cái giá trị làm người, còn giữ được thiên chức cao quý đó. Dù có cưỡng bức nghệ sĩ phải sáng tác theo một đường lối nào đó như đã áp dụng ở ngoài Bắc, thì rồi cũng có lúc bản năng tự do vùng dậy…”


⋆ ⋆ ⋆

            Thi sĩ Đinh Hùng “kết nghĩa” với nàng tiên nâu khá sớm. Nhưng ông vẫn giữ được vẻ hào hoa, tao nhã của một văn nhân. Nhiều người tỏ ý khắt khe với thi sĩ Đinh Hùng ở khía cạnh này.
            Tôi nghĩ với một người như Đinh Hùng, nếu không có chất kích thích trên, chắc đâu chúng ta đã có một “Mê Hồn Ca”. Nói thế không có nghĩa là tôi ca ngợi hay đề cao sự kiện trên. Tôi chỉ muốn nói, nếu chúng ta đã chấp nhận một Đinh Hùng thi sĩ tài hoa, thì chúng ta không nên hẹp hòi mà từ chối, hay lên án một Đinh Hùng “đi mây về gió”.
            Cũng như phần đông những nghệ sĩ khác, thi sĩ Đinh Hùng quen làm việc khuya, kể cả đọc sách. Ông làm việc khi không còn trông thấy mặt người trong nhà.
            Ngoài “Mê Hồn Ca” (1954), “Đường Vào Tình Sử” (1961), thi sĩ Đinh Hùng còn một tác phẩm loại dã sử võ hiệp, là truyện “Kỳ Nữ Gò Ôn Khâu”, do nhà Nguyễn Đình Vượng ấn hành, dưới bút hiệu Hoài Điệp Thứ Lang. Tác phẩm chưa xuất bản của ông có gồm có “Tiếng Ca Bộ lạc” (thơ), “Tiếng Ca Đầu Súng” (ký sự), và tám truyện dài loại dã sử tiểu thuyết.


⋆ ⋆ ⋆

            Dưới đây chúng tôi xin lục dẫn tùy bút “Cảm Thu” đăng trong giai phẩm “Mùa Gặt Mới” xuất bản tại Hà Nội năm 1940. Đây cũng là sáng tác đầu tiên của thi sĩ được đăng trên báo, đồng thời cũng đã được in trong cuốn “Việt Nam Văn Học Bình Giảng” của Phạm Văn Diêu, như chúng tôi đã viết ở trên.

            Cảm Thu,
            Thu năm nay, tôi lại đi trên con đường vắng này nghe từng chiếc lá rơi trên bờ cỏ…
            Nước trong như một cặp mắt tuyệt vời. Những cây liễu xanh đứng buồn như những nàng Cung Nữ thời xưa, và trong vườn nhà ai thấp thoáng, hoa phù dung nở trắng như một linh hồn còn trẻ?
            Nắng ở đây vẫn là nắng vàng ngày xưa và linh hồn tôi vẫn là linh hồn tôi năm trước. Tôi vẫn ngờ như không sự thay đổi, vì lại thấy mình đi trên con đường này, thu năm nay, giữa lúc cây vàng rơi lá.
            Đường này hiu hắt, tôi đem lòng về để gặp mùa Thu thương nhớ cũ, và nay cũng thấy thu về để nước hồ xanh. Chân ai đi xa vắng đằng kia, hay đó chỉ là gió thoảng mong manh? Và gió nào vương vấn hồn tôi, hay cũng chỉ là dư thanh của một ngày xưa cũ? Chao ôi! Buồn lại nhiều rồi, nhưng chỉ buồn như năm trước. Lòng tôi chẳng biết tìm ai mà nhớ, hôm nay nhớ lại buồn qua mới thấy nắng kia nhiều dĩ vãng.
            Tôi nhớ một người lữ khách nào xưa, ra đi từ một mùa Thu… Thế rồi cũng một mùa Thu trở lại những bước đầu tiên trên con đường bạn, mắt buồn như nước, mảng tìm hồn mình hiu hắt trong hồn Thu mới…
            Thu đã về đây, tôi làm lữ khách đi hết sông này, sông khác, cả núi, cả đèo và lại cả rừng cả suối, bây giờ tôi cũng về đây để buồn thêm một ít, nhớ thêm một ít, và yêu thêm rất nhiều.
            … Từ hôm rời chân ở bến sông vàng.
            Từ biệt con thuyền phiêu bạt, tôi đã hết nhớ dãy núi xanh phơn phớt đằng xa và bâng khuâng trở lại con đường quê thân mật.
            Đi trên đất đó, giữa hai ruộng ngô thơm nghe ngào ngạt… Hương này có phải hương xưa? Ôi! Những dây đậu vẫn còn non mà luống khoai lang đã xanh tươi rồi nhỉ? Đi trên đất đỏ, bên những luống rau cải cúc và dẫm lên cỏ may vàng. Đây là những con bướm cũ, những cánh hoa xưa. Và này đây tất cả ngày xưa: từng cơn gió nhỏ, từng sợi dây buồn…
            Thôi! Thôi! Tôi không còn trẻ thơ nữa để say sưa đuổi bắt bướm đồng, và chẳng ngắm gió sầu mây, chỉ hoa lòng nở cũng nhiều bông trắng!
            Thương nhớ vì sao! Tôi sớm giã từ hồn niên thiếu, hôm nay đi giữa cánh đồng lại thấy tuổi nhỏ của mình tản mạn trên từng cánh bướm, sắc hoa, và chân bước đi những bước ngậm ngùi, bởi chưng lòng tưởng con đường tan tác cánh hương của đóa xuân hồng thuở cũ.
(Đinh Hùng, trích trong “Việt Nam Văn Học Bình Giảng” của Phạm Văn Diêu).

            Như “từng cơn gió nhỏ, từng sợi dây buồn”, qua đoạn văn này, Đinh Hùng cho ta cái cảm tưởng bắt gặp hồn mình, một tâm hồn thơ trẻ, đang bay bổng cùng hồn Thu hiu hắt. Cùng cánh bướm đồng nội, cùng hoa nắng dĩ vãng… Để thấy: “…buồn thêm một ít, nhớ thêm một ít, và yêu thêm rất nhiều.”
            Nhưng sự thực linh hồn chúng ta, nhất là một thứ “linh hồn còn trẻ” làm gì có hình thù, có màu sắc cho ta cầm bắt hay nhìn ngắm được chân dung. Chính ở điểm đó Đinh Hùng đã thành công khi ông cho ta cảm tưởng giáp mặt với linh hồn thơ trẻ mà thời gian đã tàn nhẫn cướp mất. Chỉ để lại cho chúng ta những ngậm ngùi, những dư âm thảng thốt, những mùi hương đã tàn, bay theo từng cánh bướm, từng sắc hoa bông phù dung một sáng nào nở trắng…


⋆ ⋆ ⋆

            “Mê Hồn Ca” (1940-1954)
            Sự nghiệp thi ca của Đinh Hùng, cũng như mọi người, nghĩa là cũng bắt đầu với vài bài thơ nho nhỏ, ý vay mượn, ảnh hình khuôn sáo. Mãi cho đến khi ông gặp thi sĩ đàn anh Thế Lữ, dần dà ông tự tìm được cho mình một bản sắc, một lối thoát cho tiếng thơ.
            Ta có thể coi Thế Lữ là người khuyến khích và nâng Đinh Hùng rất nhiều trong bước khởi đầu. Chính ông cũng nói: “Hồi đó mỗi khi làm xong một bài thơ tôi thường tìm Thế Lữ, đọc cho ông ta nghe. Nhưng lần nào cũng vậy, nghe xong Thế Lữ lắc đầu bảo: Chưa được, chưa được, cậu cần phải chịu khó, tìm kiếm hơn nữa. Tôi buồn quá, tự ái nổi dậy, tôi nghĩ thế nào cũng phải làm cho được một bài thật hay, không lẽ cứ để hắn (Thế Lữ) chê hoài?…”
            Sau một thời gian, khi yêu thầm một nàng cô đầu ở Khâm Thiên, ông làm một bài thơ lấy tên là “Kỳ Nữ”, đem cho Thế Lữ coi. Lần này Thế Lữ im lặng một lát, gật đầu bảo: “Được lắm! Cậu nên làm theo loại này.”
            “Mê Hồn Ca” từ đó hình thành.


DU  TỬ  LÊ               


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/dinh-hung-va-thi-pham-dau-tay-me-hon-ca/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Đinh Hùng
« Trả lời #29 vào: 10/03/2019, 18:27:24 »


Đinh Hùng, từ giải thưởng văn chương 1961, đến Ban Tao
Đàn

Nếu tính từ năm Đinh Hùng in “Mê Hồn Ca” 1954, cho tới “Đường Vào Tình Sử” 1961 thì hai thi phẩm cách nhau gần bảy năm trời.

Ban nhạc Tao Đàn, từ trái: Tô Kiều Ngân, Lữ Liên, Vĩnh Phan,
Ngô Nhật Thanh, Đoàn Minh, Lê Thương

“ĐƯỜNG VÀO TÌNH SỬ” gồm 60 bài thơ “Truyện Lòng” và “Tiếc Bướm”, in tại nhà in Kim Lai, mang tên nhà xuất bản Nam Chi Tùng Thư, gồm 2.000 quyển trên giấy tốt. Với tác phẩm này, ông được lãnh giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc.
            Nhưng nói tới Đinh Hùng, người ta thường nhắc tới “Mê Hồn Ca” nhiều hơn. Vì “Mê Hồn Ca” mới xứng đáng và tiêu biểu cho những gì là Đinh Hùng, tức gương mặt đích thực tâm hồn ông.
            Tác phẩm “Đường Vào Tình Sử” được in sau “Mê Hồn Ca” tới bảy năm trời nhưng sự thực lại gồm cả những bài đã được làm trước.
            Nhận xét đầu tiên của tôi khi đọc xong tập “Đường vào Tình Sử” là ở tập này, Đinh Hùng không đều tay. Ông không tạo được cho mình một cõi riêng. Một vùng bao la thần kỳ mang tên Đinh Hùng. Ở tập thơ này, theo thiển ý của tôi, nó mang nhiều tánh cách đánh dấu giai đoạn, ghi khắc kỷ niệm chứ không hoàn toàn mặc khoác một dòng tư tưởng. Tuy thế với “Đường Vào Tình Sử”, người đọc cũng bắt gặp cái nguồn mang mang, bàng bạc tinh thần Đông phương. Tinh thần tìm về cõi mộng, lấp lánh vũ trụ miên trường.
            Theo thi sĩ thì kiếp sống vốn phù du. Cuộc đời vốn vẩn đục. Chỉ duy linh hồn, duy tình người, là có những giá trị đáng cho chúng ta xưng tụng. Giữa một xã hội như xã hội Việt Nam ta hiện nay, khi những giá trị tinh thần, ngày càng mất giá, vật chất ngày càng là cái đích cho con người lao ném cả cuộc đời, thân kiếp mình vào cuộc giành giựt, chém giết lạnh lùng kia, thì Đinh Hùng vẫn cố giữ phong thái “thi sĩ” của mình. Ông vẫn tin tưởng, tìm về nguồn suối ngọt ngào của tâm hồn, của tình người. Thơ ông vẫn mênh mang những nỗi sầu xưa cũ của đất nước. Những quá khứ buồn vui của quê hương. Ông vẫn nuối tiếc cái mà ta có thể gọi là “thiên đường đã mất”.
            Giữa những tiếng thơ mặc khoác chiếc áo hiện sinh với nhiều hình ảnh, tư tưởng phá phách, nhiều nôn mửa, vay mượn, hoặc cái tối tăm, tuyệt vọng giả tạo của một số nhà thơ hôm nay, nhiều độc giả đã trở về để tìm gặp Đinh Hùng. Như tìm lại, thở lại cái không khí ảo huyền mê mộng bao la, dịu nhẹ trong một số thi bản, rải rác suốt 110 trang thơ khổ lớn.

Ban Tao Đàn và những sự kiện chung quanh
            Nói đến những hoạt động của thi sĩ Đinh Hùng mà không nói tới Ban Tao Đàn, theo tôi là một thiếu sót lớn. Những hoạt động văn nghệ của ông tại miền Nam, nhất là mấy năm gần đây, ngoài việc viết báo, dạy học, đóng kịch… Mọi phạm vi hoạt động hầu như thu hẹp lại, và chỉ còn việc chủ trương Ban Tao Đàn là đáng kể mà thôi. Vì, Tao Đàn là một hoạt động thuần túy văn nghệ; lại hiện diện liên tục gần mười năm…
            Vì thế, trong nhiều buổi tiếp tiếp xúc với ông, thi sĩ Đinh Hùng đã cho biết khá nhiều về những dữ kiện chung quanh Ban Tao Đàn. Và, dưới đây là phần ghi chép chi tiết mà, theo chính người đứng đầu Ban Tao Đàn, thi sĩ Đinh Hùng, cho là đáng ghi nhận.
            Tác giả “Mộng Dưới Hoa”(1) cho biết: Ban Tao Đàn được thành lập từ năm 1955, do Đinh Hùng đứng tên, cùng sự góp sức của Thanh Nam, Thái Thủy, Tô Kiều Ngân. Buổi phát thanh ra mắt nhằm ngày Giỗ Tổ Hùng Vương, với các giọng ngâm nam là Tô Kiều Ngân, Hoàng Thư… Giọng nữ có Giáng Hương, Mộng Hoàn, Bích Hiền. Phần nhạc phụ họa có các nhạc sĩ Ngọc Bích, Phạm Đình Chương, Vĩnh Phan. Riêng Vĩnh Phan sử dụng đàn thập lục, đệm cho phần cổ thi và tiếng sáo Tô Lang (tức nhà văn Tô Kiều Ngân).
            Một hai năm sau, Tao Đàn đã giới thiệu với thính giả hâm mộ một số giọng ngâm mới như Hồ Điệp, Bích Liễu, Lệ Liễu; sau nữa có Quách Đàm, Thái Hằng. Qua một thời gian thử thách, những giọng ngâm không bản sắc, đã bị đào thải. Nhưng ngược lại, cũng có hai giọng ngâm nổi bật đó là Hồ Điệp và Quách Đàm.
            Sau đấy, Ban Tao Đàn lại giới thiệu với thính giả một số giọng ngâm trẻ… Vẫn theo đánh giá của thi sĩ Đinh Hùng thì hai giọng ngâm trẻ có khả năng thay thế lớp đàn anh, đàn chị là Hoàng Oanh và, Quang Minh.
            Vẫn theo thi sĩ Đinh Hùng thì giữa khi tầm ảnh hưởng của Ban Tao Đàn mở rộng tới nhiều tầng lớp thính giả khác nhau thì, bất ngờ, nhà văn Tô Kiều Ngân, cộng tác viên đầu tiên của Ban Tao Đàn, rút lui cùng với nhà văn Thanh Nam.
            Đó là thời gian ông Lê Văn Duyên được cử giữ chức giám đốc Nha Vô Tuyến. Nhà văn Tô Kiều Ngân được mời vào chức vụ chánh sự vụ sở chương trình. Thời lượng phát thanh của Ban Tao Đàn đang từ ba buổi mỗi tuần, bị rút dần xuống còn hai. Rồi một. Song song với sự kiện vừa kể, đài Sài Gòn lại có thêm một ban thi văn khác. Ban này do hai nhà văn Thanh Nam, Mai Thảo, đứng tên. Đó là Ban Tin Thơ. Tuy thế, thi sĩ Đinh Hùng cho biết, mỗi khi giới thiệu tên những người phụ trách, ông vẫn kể Tô Kiều Ngân, Thanh Nam… cho tới khi ai đó, chính thức yêu cầu bỏ tên…
            Sau hai tháng ngồi ghế chánh sự vụ, nhà văn Tô Kiều Ngân lại trở về với nhiệm vụ cũ, khi giám đốc Lê Văn Duyên bị thay thế bởi ông Thái Văn Kiểm! Ban Tin Thơ sau đó cũng ngưng hoạt động.
            Nhân cơ hội này, thi sĩ Đinh Hùng trình bày với ông Thái Văn Kiểm về trường hợp của Ban Tao Đàn. Tân Giám Đốc Thái Văn Kiểm nói, làm đơn theo thủ tục, ông sẽ căn cứ vào đó, hầu có thể cho xếp lại chương trình.
            Tiếc thay, mọi việc chưa ngã ngũ thì, ông Thái Văn Kiểm đã bị ông Nguyễn Ngọc Linh thay. Một lần nữa đường hướng hoạt động lại đổi khác. Vấn đề Ban Tao Đàn coi như được… “cất kỹ!”
            Ở thời điểm này, hoạt động của đài Sài Gòn dành ưu tiên cho vấn đề quốc sự. Nên ý định ban đầu của thi sĩ Đinh Hùng là: “Đặt các vấn đề về đường hướng thi ca”, không thực hiện được! Tác giả “Mê Hồn Ca” còn cho biết thêm: “Ngay cả việc cho trình bày các thi phẩm cũng gặp rất nhiều trở ngại. Lý do, tôi chủ trương chú tâm tới khía cạnh nghệ thuật và văn chương… Trong khi những người nắm vận mệnh đài, lại chú trọng tới khía cạnh cách thời cuộc!…”
            Cuối cùng, phạm vi sinh hoạt của Ban Tao Đàn, phải thu hẹp trong khuôn khổ ngâm nga, nhận định lẻ tẻ về một vài thi phẩm, một vài nhà thơ! Thỉnh thoảng thi sĩ Đinh Hùng cũng chọn ngâm dăm ba bài thơ cổ hoặc, tiền chiến, theo yêu cầu của thính giả. Khi Ban Tao Đàn có sáng kiến giới thiệu những nhà thơ mới cùng tác phẩm của họ, ông nhấn mạnh, ông đã bị dư luận xì xầm ít nhiều!
            “Nhưng, chỉ cần một vài người hiểu chủ tâm giới thiệu những tài năng thi ca mới của tôi, với riêng tôi cũng đủ bù đắp, lấp đầy những điều tiếng ghen ghét, tỵ hiềm của kẻ khác!” thi sĩ Đinh Hùng tâm sự.
            Nhìn từ một khía cạnh nào đó thì, giữa kỷ nguyên cơ khí, chiến tranh khốc liệt, giữa khi những giá trị thiêng liêng ngày càng bị mất giá! Giữa khi mãnh lực của đồng tiền, nhu cầu vật chất tiến gần địa vị độc tôn, thì sự có mặt của Ban Tao Đàn (cũng như những ban thi văn khác) trên đài phát thanh quả là cần thiết. Mà đóng góp của thi sĩ Đinh Hùng, chính là bước khởi đầu. Bước tiên phong. Ông là người thứ nhất mở một sinh lộ mới, cho thi ca đến với đại đa số quần chúng.


DU  TỬ  LÊ               

__________________________________________________________________
(1) “Tự Tình Dưới Hoa” được cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương soạn thành ca khúc với nhan đề “Mộng Dưới Hoa.” Năm 1990, cơ sở Vincent and Company đã thực hiện tuyển tập nhạc “Mộng Dưới Hoa – 20 bài thơ phổ nhạc của Phạm Đình Chương”, họ Phạm đã ghi nơi trang 3, nguyên văn như sau: “Sau nhiều năm xa cách, gặp lại Đinh Hùng trong làn sóng di cư vĩ đại từ miền Bắc vào Nam. Cộng tác với ông trong chương trình Thi Nhạc Giao Duyên của đài phát thanh Sài Gòn, những lúc rảnh rỗi thường cùng nhau đàm đạo về Thi Ca. Viết ‘Mộng Dưới Hoa’ năm 1957, nguyên bài thơ mang tựa đề ‘Dưới Hoa Thiên Lý’.”
      Tưởng cũng nên nói thêm, nhan đầu tiên của bài thơ là “Dưới Hoa Thiên Lý”, khi in thành sách, thi sĩ Đinh Hùng đã cho nó một tựa mới là “Tự Tình Dưới Hoa.”


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/dinh-hung-tu-giai-thuong-van-chuong-1961-den-ban-tao-dan/