Tác giả Chủ đề: Lê Tất Điều  (Đã xem 5103 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Lê Tất Điều
« vào: 01/11/2010, 10:41:23 »
Lê Tất Điều Sinh ngày 02 tháng 8 năm 1942 tại Hà Đông, bút hiệu Cao Tần, Kiều Phong, là một nhà thơ Việt Nam.

Lê Tất Điều vào Nam năm 1954. Ông là cựu sĩ quan quân lực Việt Nam cộng hòa. Năm 1975, ông đến Hoa Kỳ và hiện cư ngụ tại San Diego.

Tác phẩm đã xuất bản: Khởi Hành (1961), Kẻ Tình Nguyện, Quay Trong Gió Lốc (1965), Đêm Dài Một Đời (1966), Phá Núi (1968), Những Giọt Mực, Người Đá (1968), Anh Em (1970), Thơ Cao Tần (1978).

Nguồn: wikipedia
 

Ngủ rồi XuTramHuong

Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #1 vào: 22/08/2012, 19:42:40 »
Những giọt mực
Giai phẩm Thứ Tư - Tái bản lần thứ nhất 1974

 

Ngủ rồi joankim

  • Rinh Nobel, Rinh Nobel, Rinh all the way
  • Global Moderator
  • *****
  • Bài viết: 4,440
  • Thanked: 29 times
  • Đánh giá: +1/-0
Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #2 vào: 04/10/2012, 14:26:28 »


Phá núi, Hoàng Đông Phương, 1968

 
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire

Ngủ rồi Nguyên Thánh

Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #3 vào: 06/10/2012, 09:37:03 »
Đêm dài một đời
Sài Gòn: Tin Sách, 1966

Tác phẩm độc đáo mà các nhân vật trong truyện đều bị mù. Giải truyện dài năm 1966 của Trung tâm Văn bút Việt Nam.

 
Văn phi sơn thủy vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.

Ngủ rồi Nguyên Thánh

Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #4 vào: 21/10/2012, 17:54:39 »
Đêm dài một đời
In lần thứ hai
Sài Gòn: Huyền Trân, 1970, 219 trang


hình của bác AlphaPi
« Sửa lần cuối: 04/01/2013, 20:12:37 gửi bởi Nguyên Thánh »
 
Văn phi sơn thủy vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.

Ngủ rồi Nguyên Thánh

Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #5 vào: 21/10/2012, 17:56:03 »
Kẻ tình nguyện, truyện
Sài Gòn: Thời Mới, 1965, 93 trang


hình của bác chuoi
 
Văn phi sơn thủy vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.

Ngủ rồi Nguyên Thánh

Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #6 vào: 21/10/2012, 17:57:23 »
Người đá, tiểu-thuyết
Sài Gòn: Đông-Phương, 1968, 122 trang; giá bìa 60 đ


hình của Tầm Thư
« Sửa lần cuối: 27/12/2012, 21:50:16 gửi bởi Nguyên Thánh »
 
Văn phi sơn thủy vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.

Ngủ rồi Harrypham1986

  • Trảm Phong Đại Sư
  • *******
  • Bài viết: 12,972
  • Thanked: 95 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Hiểu Nguyệt Tình Thiên
Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #7 vào: 07/01/2013, 22:01:05 »
                                      Đêm Dài Một Đời - NXB Hội Nhà Văn phối hợp với Phương Nam phát hành 2012

                                     
 
Tôi là Tôi chứ không thể là 1 ai khác.

Ngủ rồi Harrypham1986

  • Trảm Phong Đại Sư
  • *******
  • Bài viết: 12,972
  • Thanked: 95 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Hiểu Nguyệt Tình Thiên
Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #8 vào: 02/03/2013, 08:27:06 »
                                                                                               Thơ Văn Người Việt Ở Nước Ngoài có Lê Tất Điều ...

                                                                                               

                                                                                               
 
Tôi là Tôi chứ không thể là 1 ai khác.

Ngủ rồi Harrypham1986

  • Trảm Phong Đại Sư
  • *******
  • Bài viết: 12,972
  • Thanked: 95 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Hiểu Nguyệt Tình Thiên
Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #9 vào: 03/10/2013, 06:42:34 »
                                                                                                            Những Giọt Mực - NXB Văn Hóa Văn Nghệ TPHCM phối hợp với Phương Nam phát hành 2013 ...

                                                                                                           
« Sửa lần cuối: 03/10/2013, 07:07:39 gửi bởi Harrypham1986 »
 
Tôi là Tôi chứ không thể là 1 ai khác.

Ngủ rồi Nguyên Thánh

Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #10 vào: 21/10/2013, 19:44:40 »
Những giọt mực
Sài Gòn: Huyền Trân, 1971


hình của bác Dongnat
 
Văn phi sơn thủy vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.

Ngủ rồi nduytai

Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #11 vào: 31/03/2019, 17:25:33 »


“Ðêm dài một đời”, tác phẩm đẹp tới nao lòng của Lê Tất Ðiều


Lê Tất Ðiều, một trong vài nhà văn của hai mươi năm văn hóa nghệ thuật miền Nam (1954-1975) được ghi nhận là thành công rất sớm. Khởi đầu bằng những truyện ngắn với bút hiệu Ái Nhân vào những năm giữa thập niên 1950, trước khi từ bỏ bút danh này, lấy tên thật Lê Tất Ðiều làm bút hiệu.

Nhà văn Lê Tất Ðiều


THOẠT ĐẦU, truyện ngắn của họ Lê xuất hiện trên nhiều nhật báo, được người đọc đón nhận như một cây bút già dặn và, ít ai nghĩ rằng tác giả chỉ mới ở độ mười lăm, mười sáu…
            Nhưng phải đợi vài năm sau, chính xác, năm 1966, khi Trung Tâm Văn Bút, xuất bản truyện dài “Ðêm Dài Một Ðời” thì, tài năng và tính nhân bản rực rỡ trong sự nghiệp văn chương của Lê Tất Ðiều mới thực sự được khẳng định.(1)
            Tuy nhiên, năm 2012, nếu nhà sách Phương Nam, Saigon, không cho tái bản lần thứ nhất “Ðêm Dài Một Ðời” của họ Lê thì, có lẽ những độc giả trưởng thành sau biến cố tháng 4, 1975, sẽ không hề biết rằng trong kho tàng văn hóa nghệ thuật miền Nam, từng có một tác phẩm viết về tuổi thơ, ngây ngất tình người, “đẹp” đến nao lòng như “Ðêm Dài Một Ðời” của Lê Tất Ðiều.
            Ngay khi “Ðêm Dài Một Ðời” được tái hiện sau hơn 40 năm bị chôn vùi, tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên đã có một bài điểm sách, như một cuộc gặp gỡ ở độ sâu tâm cảm với tác giả; đồng thời, theo tôi, cũng là một bài viết giá trị, vì khả năng mở rộng những ngõ ngách vi tế, rung động nơi tâm hồn người đọc. Họ Nguyễn viết:

            “Những ngày đầu năm, đọc lại “Ðêm Dài Một Ðời” như được trải nghiệm một cảm giác xa xót mà lung linh của tình người trong thời loạn. Không hiện lên với khói lửa và tàn khốc xương máu, chiến tranh đi sâu vào những phận người nhỏ bé và lầm lũi với sự âu lo chết chóc thường trực, với những chuyến tàu chở học trò về thăm quê nhà có thể bị trúng mìn bất cứ lúc nào, với những cuộc chia tay của đám học sinh nội trú được biến thành trò chơi đám ma… Bối cảnh cuộc chiến ở rất xa, thậm chí không được nhắc đến, nhưng lại rất gần, day dứt trong mỗi tâm hồn, biến cố cuộc đời.
            “Lê Tất Ðiều được biết đến như một cây bút viết về ký ức tuổi thơ tuyệt vời. Nhưng trong “Ðêm Dài Một Ðời”, thế giới tuổi thơ lại có sức lay động mãnh liệt hơn cả. Ðó là thế giới của những tuổi thơ không nhìn thấy mặt trời, những đứa trẻ mù hoang mang và chưa thể tìm thấy sự chủ động trước đời sống.
            “Tất cả hiện lên trong lời dẫn chuyện của cậu bé Thương, một cậu bé rơi vào cảnh mồ côi cha mẹ và mù lòa sau một chuyến tàu cán mìn trở thành học sinh nội trú ở trường khiếm thị. Sự chật chội thiếu thốn của không gian sống nội trú, những cuộc chia tay bạn bè không hứa hẹn gặp lại, mối quan hệ với những “người sáng” đầy phức tạp và những tình cảm ân cần, trìu mến mà những nhóm thanh niên sinh viên tình nguyện dành cho bọn trẻ… đã tạo nên bức tranh đời sống kỳ lạ, đầy cảm động. Cả cái cách mà bọn trẻ trước khi rời xa môi trường nội trú tìm cho mình những nghề nghiệp, những nơi nương tựa để tiếp tục sống (người làm bàn chải, người bán vé số, người cố gắng khẳng định mình trong ban nhạc) cũng chồng chất ưu tư thân phận, song lại luôn ánh lên những niềm lạc quan trong trẻo vào cuộc đời, vào tình người.
            “Lê Tất Ðiều viết về đời sống tâm hồn của lũ trẻ bằng sự đồng cảm đầy tinh tế. Ðó có thể là khoảnh khắc nhân vật tôi ngồi mân mê cái mấu xương nhô ra ở cổ tay bạn, đó là khi lũ trẻ mù chơi đàn, chính âm thanh làm cho chúng cảm nhận đầy đủ đời sống xung quanh xôn xao, thấy được mùi hoa ngâu phảng phất, thấy bóng tối bớt nặng nề…
            “Nỗi buồn miên man thấm sâu vào nhạc văn của “Ðêm Dài Một Ðời”, có sức gợi mở và ám ảnh người đọc triền miên: “Tôi tìm được sự rung động, xúc cảm trong khi hát. Tôi phải nói về một thế giới nào đó, một thế giới mềm nhỏ kết bằng những nỗi buồn man mác, đôi khi chan chứa tình thương yêu. Tôi muốn hát thế nào để mọi người cùng hiểu về thế giới đó. Mọi người phải cùng sống, cùng bàng hoàng vì bài hát như tôi” (trang 128).
            “Có thể nói, đây là thứ văn chương hồn hậu, giúp người ta nghĩ đẹp, cảm xúc đẹp, sống đẹp và biết hướng tha với một tinh thần đầy rộng mở, chia sẻ, yêu thương. Ðâu đó, ta đã bắt gặp những nghịch cảnh, những đời sống chan chứa nghĩa tình, khốc liệt mà đằm sâu, sát thực mà rất thi ca trong một vài truyện ngắn của Duyên Anh, người văn chương cùng thời.
            “Tràng Thiên (Võ Phiến) nhận xét rằng: “Ðọc Ðiều, ta tiếp cận một tâm hồn nhân ái, bao la và dịu dàng”…”
(2)

            Ðược biết, để viết “Ðêm Dài Một Ðời” (như đòi hỏi hay thói quen sống cùng, sống với nhân vật, nội dung tác phẩm của các tác giả Tây phương, nhất là những nhà văn Hoa Kỳ); Lê Tất Ðiều đã bỏ rất nhiều thời gian để sống, tìm hiểu, ghi nhận tâm tình, sinh hoạt của các em khiếm thị nội trú ở trường khiếm thị, Saigon, qua tất cả mọi kênh mạch tâm cảm và đời thường…(3)
            Phong cách này của nhà văn Lê Tất Ðiều, ở thời điểm xuất hiện “Ðêm Dài Một Ðời” là phong cách chưa hề phổ cập trong sinh hoạt sáng tác ở miền Nam…
            Nói thế không có nghĩa bất cứ nhà văn nào cũng có thể có được cho tác phẩm của mình những vòng nguyệt quế, một khi chịu đi thực tế hay, thâm nhập thực địa, để xây dựng tác phẩm.
            Tôi nghĩ, thành tựu của một sáng tác còn đòi hỏi nơi nhà văn nhiều yếu tố căn bản, quan trọng khác. Thí dụ, tài năng, tâm thái, mức độ nhậy cảm, khả năng quan sát, ghi nhận tinh tế, không vì một lý do nào khác hơn tình yêu, sự đồng cảm sâu lắng nhất, dành cho đề tài hay, nội dung tác phẩm.


DU  TỬ  LÊ               

________________________________________________
(1) ”Ðêm Dài Một Ðời” từng được trao giải truyện dài do Trung Tâm Văn Bút Việt Nam/Saigon tổ chức.
(2) Nguồn Wikipedia-Mở.
(3) “Lê Tất Ðiều sinh ngày 2 tháng 8 năm 1942 tại Hà Ðông, vào Sài Gòn từ năm 1954; được biết đến qua tạp chí Bách Khoa, một tạp chí uy tín, thành công tại Sài Gòn trong giai đoạn dài, từ năm 1957-1975. Ngay từ tập truyện ngắn đầu tay có tựa “Khởi Hành”, do Bách Khoa xuất bản năm 1961, khi họ Lê chưa tới 20 tuổi, tác giả đã được giới phê bình và độc giả lúc bấy giờ đánh giá cao. Tính đến năm 1975, ông là tác giả của tám cuốn tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện dài gây được nhiều chú ý. Trong số đó có “Ðêm Dài Một Ðời” và “Những Giọt Mực” xuất bản năm 1974. Sau năm 1975 ông sang Mỹ và mở một bước ngoặt mới trong văn nghiệp: Không viết văn xuôi nữa mà chuyển hẳn sang làm thơ với bút danh Cao Tần. Các tập thơ nổi tiếng của ông trong thời kỳ này là: Thơ Cao Tần (1977), Thư về Bloomington, Illinois (1997). Cũng trong thời kỳ này, ông cộng tác với các tạp chí: Hồn Việt, Bút Lửa, Văn Học Nghệ Thuật trong chức vụ tổng thư ký hoặc chủ bút; từ năm 1990, làm cố vấn trưởng Thư Viện Toàn Cầu…” (Nđd)


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/dem-dai-mot-doi-tac-pham-dep-toi-nao-long-cua-le-tat-dieu/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #12 vào: 07/04/2019, 10:18:19 »


“Những Giọt Mực”, một tác phẩm độc đáo


Theo nhận định của một số nhà phê bình thì, bản chất thông minh, óc khôi hài và, nhất là khả năng quan sát tinh nhậy, ngay tự bước khởi đầu, đã là ngọn hải đăng dẫn đường cho sự nghiệp văn chương của Lê Tất Ðiều tới nhiều chân trời thành tựu.

Nhà văn Lê Tất Ðiều


VỀ NHỮNG BƯỚC khởi đầu sự nghiệp văn chương Lê Tất Ðiều, ký giả Mặc Lâm thuật lại phần trả lời của họ Lê, trong một cuộc phỏng vấn dành cho đài phát thanh RFA, như sau:

            “Từ khoảng 15, 16 tuổi tôi đã bắt đầu viết một số chuyện cho các báo hàng ngày như là viết “Mỗi ngày một chuyện” cho báo Ngôn Luận của ông Hồ Anh. Viết một số truyện cho bà Bút Trà trong phụ trương đặc biệt của báo Sài Gòn Mới.
            “Viết một cách nghiêm chỉnh là sau khi có một truyện ngắn đăng trên tạp chí Bách Khoa, sau đó có dịp gặp các nhà văn như là ông Võ Phiến; ông chủ nhiệm kiêm chủ bút tờ Bách Khoa là ông Lê Châu. Ðược sự khuyến khích của họ và bắt đầu quen thuộc với không khí văn chương, và lúc này là lúc tôi khoảng 17, 18 tuổi gì đó…”

             “Quý vị vừa nghe một vài tự thuật của nhà văn Lê Tất Ðiều trong buổi đầu gia nhập làng báo. Ông nổi tiếng sau đó với nhiều tác phẩm văn chương qua nhiều thể loại, từ truyện ngắn đến tiểu thuyết. Truyện ngắn đầu tiên mang tên “Cỏ Hoang” được độc giả của báo Bách Khoa nồng nhiệt đón nhận đã tạo cơ hội cho ông chính thức bước vào giới văn chương Việt Nam mà lúc đó rất nhiều người mong ước. Tạp chí Bách Khoa có công phát hiện ra nhà văn Lê Tất Ðiều khi cho in tập truyện ngắn đầu tiên của ông:
            “Tạp chí Bách Khoa có in cho tôi một tập truyện ngắn nhan đề là “Khởi Hành”. Lúc đó vào khoảng năm 1962-1963…”(1)

            Dù tập truyện “Khởi Hành” được độc giả đón nhận và đánh giá cao về phương diện văn chương; nhưng theo tôi, tính nhân bản, tấm lòng đau đáu của họ Lê dành cho tuổi thơ, những mảnh đời kém may mắn, chỉ hiển lộ mãnh liệt, rực rỡ, cảm động khi truyện dài đầu tay, tựa đề “Ðêm Dài Một Ðời” của ông được xuất bản. Nhiều năm sau, năm 1974, họ Lê lại cho ra đời tập truyện tựa đề “Những Giọt Mực” – Tác phẩm đầu tiên, duy nhất trong hai mươi năm văn học miền Nam, của họ Lê, được tác giả nhân cách hóa đồ vật một cách thông minh, tài hoa và, cũng không kém phần ý nghĩa cảm động qua cái cái nhìn sâu, lắng của riêng ông.(2)
            Tác giả Hoàng Nhất Phương trong một bài viết gửi cho trang mạng Dân Luận, ghi lại dư luận ở thời điểm “Những Giọt Mực” xuất bản lần thứ nhất, như sau:

            “Năm 1968 (?) khi tác phẩm “Những Giọt Mực” viết cho thiếu nhi của nhà văn Lê Tất Ðiều phát hành, các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh, toàn thể học sinh-sinh viên miền Nam thuở đó nồng nhiệt đón tiếp, và đã không tiếc lời khen ngợi bút pháp độc đáo của tác giả. Tuyển tập gồm 11 truyện ngắn, lời văn dễ thương, dí dỏm, tinh nghịch, sâu sắc, kể về cuộc đời của từng đồ vật được nhân cách hóa trong “Tình Bạn Của Ðôi Guốc, Trung Thu Của Bác Ðèn Xếp, Diều Giấy Mắc Nạn, Tờ Lịch Ðầu Tháng, Những Giọt Mực, Tâm Sự Bác Ðinh Già, Những Mũi Tên Trưởng Thành, Một Chút Anh Hùng, Ô Ðen Ði Du Lịch, Cơn Giận Của Bác Ðồng Hồ, Lão Dao Sắc”. Dưới cái nhìn sâu thẳm đầy tình mến của Lê Tất Ðiều, mỗi đồ vật đều có đời sống và tâm sự khác nhau. Ông Bàn kêu rên vì “cái bệnh mọt ăn trong xương, trong mình ông ngày càng nặng thêm”. Bác Ðèn Xếp vì muốn cứu cụ Sách đã đốt cháy bản thân, trước khi “ngã xuống cùng với ngọn lửa còn cố thều thào… trung thu sang năm các bồ hãy nhớ đến tôi nhé!” Bác Búa Ðinh bị mọi người coi là lỗ mãng, nhưng bác ấy bảo mình còn lịch sự chán, phải tay thằng Dùi Ðục coi, nó chửi liền. Cõi người ta có bao nhiêu loại nhân cách sang trọng, đớn hèn, đàng hoàng, tệ bạc, tử tế, vô ơn… hay có bao nhiêu cảm nhận ngon dở, tốt xấu, lành dữ, trọng khinh… đều hiện hữu đầy đủ trong căn phòng của chú bé học trò.
            “Ðộc giả dù ở lứa tuổi nào cũng đều tư lự và xúc động khi đọc “Những Giọt Mực”. Người cảm thương tình bạn của chàng Guốc Gỗ. Người tưởng nhớ bác Ðèn Xếp tốt bụng, hy sinh thân mình. Người nể trọng cụ Sách đầy kiến thức, luôn nói ra những lời khôn ngoan đầy chân lý. Người trân quý tính nết ngay thẳng của ông Bàn. Người kính phục bác Cung Tên can đảm, nhiều kinh nghiệm. Người than vãn giùm anh Diều Giấy không may gặp nạn. Người thích thú trước những lời dõng dạc oai nghiêm như một ông tướng của cây Roi, khi hắn bảo “… Thưa quý vị đồ vật trong phòng. Tôi trả thù cho quí vị rồi đó…” “Người ngẩn ngơ trước lời của tờ lịch ngày ba mươi mốt nói với tờ lịch ngày mùng một… Chú có riêng một buổi bình minh, một buổi trưa, một hoàng hôn và có cả đêm tối. Nhưng chú phải nhớ, phải nhớ kỹ một điều: chú em chỉ được sống đúng có một ngày thôi đấy nhé. Dòng họ chúng ta mang truyền thống ấy. Ðời sống chúng ta rất ngắn ngủi và chính xác. Vậy hãy sống cho ra sống và đừng bỏ phí một giây nào…” Người khóc vì sự nghiệp vinh quang của ba giọt mực còn đọng lại trong bình, khi ông Bàn sang sảng nói “Ba giọt mực cuối cùng đã làm một việc có ý nghĩa nhất: họ đội những đứa khác trên đầu, suốt ngày này sang ngày khác. Nhờ vậy, những giọt đứng trên đầu họ mới bám vào ngòi bút, ra ngoài, biến thành chữ… Vậy ba giọt mực bé tí teo, các cháu có quyền kiêu hãnh. Các cháu đóng góp vào rất nhiều sách vở. Và hàng tỉ chữ, hằng hà sa số hình vẽ trên cõi thế gian này đều mang ơn những giọt mực nằm dưới đáy bình…” Có thể nói dưới ngòi bút miêu tả sống động của nhà văn Lê Tất Ðiều, mỗi đồ vật đều thể hiện một “nhân cách khác thường”.
(Dân Luận, nđd)

            Không riêng Hoàng Nhất Phương ghi nhận các bậc phụ huynh cũng nồng nhiệt đón nhận “Những Giọt Mực” như ký giả Lô-Răng/Phan Lạc Phúc. Sinh thời, họ Phan cũng từng ghi nhận:

            “… “Những Giọt Mực” không phải dành riêng cho trẻ con, mà nó còn là đầu đề suy nghĩ cho người lớn nữa.” (Nđd)


DU  TỬ  LÊ               

__________________________________________________
(1) Ở đây có sự sai biệt về thời điểm ra đời của tập truyện “Khởi Hành”. Theo chính tác giả thì tập truyện “Khởi Hành” ra đời trong khoảng thời gian 1962-1963. Trong khi trang mạng Wikipedia-Mở ghi là 1961. Cũng Wikipedia-Mở ghi 1968 là thời điểm xuất bản tập truyện “Những Giọt Mực” (cùng năm với tác phẩm “Người Ðá” của họ Lê). Sự thật “Những Giọt Mực” được xuất bản lần đầu, tại Saigon, năm 1974. Tôi trộm nghĩ, tác giả nói về năm tháng ra đời tác phẩm của mình, đáng tin cậy hơn bất cứ một cơ quan truyền thông nào, kể cả trang mạng Wikipedia-Mở.
(2) Thời tiền chiến, chúng ta có “Dế Mèn Phiêu Lưu Ký” của nhà văn Tô Hoài. Ông nhân cách hóa một sinh vật chứ không phải một đồ vật.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nhung-giot-muc-mot-tac-pham-doc-dao/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #13 vào: 14/04/2019, 21:06:26 »


Ngọn lửa hy sinh rực rỡ trong “Những Giọt Mực”


Nếu mỗi truyện trong “Những Giọt Mực” của Lê Tất Ðiều đều có một “thông điệp” (hay tấm gương” khuyến khích nhi đồng (luôn cả người lớn) hướng đến, thể hiện những đức tính vốn ẩn tàng thuộc bản năng (vô thức) của con người – Ðể mỗi đời sống là một đóng góp ý nghĩa cho xã hội; đồng thời, làm thành nhân cách tốt đẹp mỗi cá nhân thì, tấm gương trong truyện “Trung Thu của bác Ðèn Xếp” là phản ảnh tính quên mình, hy sinh cho kẻ khác…

Hình bìa tác phẩm “Ðêm Dài Một Ðời” của nhà văn Lê Tất Ðiều


VỚI TÔI, “Trung Thu của bác Ðèn Xếp” của nhà văn Lê Tất Ðiều là một trong những truyện cảm động của loạt truyện nhân cách hóa đồ vật của nhà văn này.
            Bản chất thi sĩ khiến họ Lê, dù trong ngữ cảnh với dụng tâm nào, cũng vẫn đem đến cho người đọc, những đoạn văn tượng hình, tượng thanh sống động. Ở “Trung Thu của bác Ðèn Xếp” có đoạn mô tả “anh Diều Giấy”:
            “… Anh Diều Giấy suốt cả buổi chiều bay lượn mệt nhọc giờ này nằm ở gầm tủ ngủ bù. Nếu không, chắc anh đang ba hoa thuyết trình về tổ tiên của anh. Ôi! Thời đại của những ông diều khổng lồ có sáo để ca hát vi vu giữa lưng trời. Anh thương nhớ thời đại đó biết bao! Tổ tiên của anh cũng chả bao giờ phải đeo một cái đuôi dài lằng nhằng như cái đuôi của anh bây giờ. Thân thể của các ngài rất cường tráng cân đối. Ít khi gió làm các ngài phải đảo nhiều vòng. Cần gì có đuôi để giữ thăng bằng…” (Nđd)
            Hoặc ông già Cung Tên, “mang dòng máu hiệp sĩ quý phái, lúc nào cũng kín đáo với lớp áo màu đen phơn phớt bụi phong trần” kể về cuộc đời mình:
            “… Thỉnh thoảng, ông kể lại một cuộc phiêu lưu kỳ thú. Các đồ vật trong phòng tưởng chừng nghe tiếng quân reo, ngựa hí và thấy ông Cung Tên, nằm gọn trong tay một dũng tướng, đang tả xung hữu đột giữa trận tiền. Ðêm nay, ông không nói, chắc ông đang thương nhớ một điều gì…” (Nđd)
            Ngay sau khi giới thiệu một vài “nhân vật” tiêu biểu, mạch văn của họ Lê chuyển động từng hồi, mỗi lúc một dồn dập, nhanh hơn, phù hợp với “biến cố” hay tai họa bất ngờ xẩy tới cho “ tiểu gia đình đồ vật” trong “Trung Thu của bác Ðèn Xếp”. Họ Lê viết:
            “… Như thế, đêm sẽ trôi qua một cách bình thường cho tới lúc bình minh đến, nếu đột nhiên dưới gầm tủ không vang lên tiếng kêu thảm thiết:
            – Trời ơi! Cứu tôi! Cứu tôi!
            Ðó là tiếng kêu của cụ Sách.
            Mọi vật nhốn nháo hỏi:
            – Chuyện gì đó cụ?
            – Cụ mơ ngủ hả?
            Cụ Sách hổn hển:
            – Tôi đang mơ màng thì bị cắn vào gáy một cái đau điếng!
            – Cái gì cắn?
            – Không biết. Chắc là một con quái vật.
            Ông Tủ có vẻ ngạc nhiên:
            – Này cụ Sách, sao cụ lại nằm dưới đó? Tôi tưởng cụ phải nằm trong lòng tôi chứ. Lúc nào tôi cũng chả dành cho cụ một chỗ nằm mát mẻ rộng rãi.
            Cụ Sách vừa xuýt xoa kêu đau, vừa than thở:
            – Ấy, tại cậu chủ vứt tôi ra đây đấy. Hồi này cậu ấy bừa bãi quá, chả coi công dạy dỗ của tôi ra gì hết…” (Nđd)
            Liền sau than thở của cụ Sách, ngụ ý trách cứ lớp người chẳng những không biết ơn chữ, nghĩa mà còn coi thường những gì mà chữ, nghĩa (như thực phẩm tinh thần), đem lại cho đời sống nhân loại, tác giả viết:
             “Chưa nói xong câu, cụ lại kêu rú lên. Ông già Cung Tên, vốn có máu hiệp sĩ trong người ra lệnh lập tức:
            – Phải có ánh sáng.
            Mọi vật đều hướng về phía Ðèn Ống chờ đợi. Nhưng cái tên này đang ngủ say sưa. Bây giờ chỉ có ông chủ nhà đánh thức hắn mới dậy, và khi dậy hắn kêu lách tách mấy tiếng càu nhàu, nhập nhoạng ngái ngủ mấy cái. Hắn làm việc có giờ và cư xử một cách hết sức máy móc. Khi hắn mới được đưa về đây, ông Ðèn Cầy vừa trông thấy đã than:
            – Thôi thế là máy móc đã bắt đầu ngự trị, đè bẹp loài đèn cầy rồi.
            Và ông lui về một góc bàn thờ, chỉ chờ dịp Ðèn Ống ốm đau mới ra tay được một lát. Nhưng trong dịp có lễ lạt ông trở nên quan trọng lạ thường, đó là nguồn an ủi duy nhất, quả thực, những giây phút linh thiêng đó, ông Ðèn Cầy cảm động và hài lòng, mặt mũi ông thật rực rỡ. Tư cách ông đàng hoàng hơn anh Ðèn Ống nhiều. Trong lúc nguy nan thế này, ai dám trông mong vào Ðèn Ống máy móc và ích kỷ.
            Nhưng, lúc này ông Ðèn Cầy ngủ mê mệt.
            Anh Ghế gọi anh Diều:
            – Ê! Bồ bay lẹ tới gầm tủ coi con quái vật nào, đang tấn công cụ Sách?
            Diều cằn nhằn:
            – Việc ai người ấy lo. Tôi làm việc nặng nhọc cả buổi chiều rồi, không làm giờ phụ trội đâu…” (Nđd)
            Theo tôi, cái tinh tế, sâu sắc của họ Lê, nơi “cao trào” ở truyện này của nhà văn Lê Tất Ðiều nằm ở chỗ ông cho thấy, giống như trong đời thường, khi một tai họa xảy đến, có những cá nhân ích kỷ, nhắm mắt trước thảm kịch thì, vẫn có nhiều người khác, tự nguyện ra tay cứu giúp. Ông viết:
            “…Tình hình có vẻ hoàn toàn tuyệt vọng. Bình hoa bắt đầu nhỏ lệ thương xót cho ông Sách.
            Bỗng dưới gầm giường có tiếng quay vù vù. Chú Con Quay đã đứng dậy. Chú xoay tít, xoay tít và lần tới gầm tủ quan sát. Chú nói:
            – Xin báo cáo với đại tướng Cung Tên. Kẻ tấn công cụ Sách là một con chuột khổng lồ. Nó đang cắn gáy cụ ấy.
            Cụ Sách rên rỉ không ngừng.
            Ông Cung Tên hét:
            – Tôi có thể bắn hạ nó, nhưng làm sao xoay cho ra chút ánh sáng bây giờ. Tôi không thể bắn ẩu được.
            Mọi vật lại ngẩn ngơ. Làm sao có anh sáng bây giờ? Bình hoa khóc thảm thiết.
            Ông Bàn sốt ruột:
            – Tôi có thể khuân vác tất cả. Ai muốn nhảy lên mặt tôi mà ngồi cũng được. Nhưng tôi làm gì có ánh sáng. Tội nghiệp cụ Sách quá. Nếu cụ có bề gì chắc tôi không sống nổi. Ngày nào chúng tôi cũng gặp gỡ nhau.
            Ông Bàn càng nói càng nghẹn ngào!
            – Ông Cung Tên sửa soạn tấn công đi. Tôi sẽ lo vụ ánh sáng.
            Câu nói đó của một giọng khàn khàn như xuất phát ra từ một nơi đầy bụi. Ðó là giọng bác Ðèn Xếp. Bác chui từ gầm giường ra. Bác đã nằm đó để chờ Tết Trung Thu. Mỗi năm bác chỉ làm việc có một ngày. Thời gian còn lại, bác nghỉ Hè.
            Bác Ðèn Xếp đã lăn tới giữa nhà (đó là vật cô đơn nhất phòng, bình thường chả có vật nào nói chuyện hay nhắc tới Ðèn Xếp).
            Ðèn Xếp đứng thẳng và sáng dần. Thân thể bác đầy bụi. Ánh sáng còn mờ. Những lằn xếp chưa giãn ra hẳn, chúng cũng lười biếng như những khớp xương lâu không được dùng tới. Ông Cung Tên hét:
            – Ráng lên chút nữa!
            Bác Ðèn Xếp cố sáng hơn.
            – Tôi thấy bóng tên chuột rồi. Sáng thêm chút nữa bác Ðèn Xếp.
            Ðèn xếp không ngừng cố gắng.
            – Rồi! Tôi thấy nó rồi!
            Mũi tên vụt đi trúng ngay con chuột. Nhà hiệp sĩ Cung Tên mà bắn thì có bao giờ trượt. Mọi vật reo hò…” (Nđd)
            Và, kết cuộc không thể cảm động, bi tráng hơn, vì:
            “Nhưng ở giữa nhà, bác Ðèn Xếp không thể chia vui được. Bác đã ráng sức đến nỗi cả thân mình bác bốc lửa. Bình hoa rú lên và ngất xỉu.
            Trong ngọn lửa nóng hừng hực, bác Ðèn Xếp thều thào:
            – Xin vĩnh biệt các bồ!
            Thoáng một cái, bác đã đen hết mình.
            – Trung Thu sang năm các bồ hãy nhớ đến tôi nhé! Và bác ngã xuống cùng với ngọn lửa”. (Nđd)
            Sự “ngã xuống” của bác Ðèn Xếp, tuy “cùng với ngọn lửa”, nhưng với tôi, cũng chính là sự “ngã xuống” để “ngọn lửa” đứng lên, cháy với muôn đời, vậy.


DU  TỬ  LÊ               


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/ngon-lua-hy-sinh-ruc-ro-trong-nhung-giot-muc/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Lê Tất Điều
« Trả lời #14 vào: 21/04/2019, 17:05:37 »


Từ Lê Tất Ðiều tới Cao Tần


Bây giờ, chẳng một người yêu thơ nào, không biết Cao Tần là một bút hiệu khác của nhà văn Lê Tất Ðiều. Nhưng khi tiếng thơ Cao Tần xuất hiện lần đầu trên báo Bút Lửa (1977), thì câu hỏi “Cao Tần là ai?” đã được nhiều người hỏi nhau.

Bìa tập thơ của Cao Tần – Lê Tất Ðiều


GHI NHẬN về hiện tượng thơ Cao Tần, những ngày đầu, ký giả Mặc Lâm đài phát thanh RFA viết:

           “… Tập thơ Cao Tần nhanh chóng được độc giả hải ngoại nồng nhiệt đón nhận vào những ngày đầu tiên của người Việt tha hương, đặc biệt là những người từng phục vụ trong quân đội. Trong Cao Tần, người đọc thấm thía nỗi buồn của những kẻ chiến bại. Tâm lý thua cuộc là một tâm lý bi thảm nhất sau chiến tranh. Nỗi buồn đeo đuổi như bị ma ám cộng với đời sống mới lạ lẫm đã kéo người ta lại với nhau như một yếu tố khởi đầu của tính bầy đàn. Ngồi lại để chia sẻ mọi thứ, từ kỷ niệm cho đến buồn phiền. Từ đời sống thường nhật bấp bênh cho đến những ước ao hoang tưởng…” (Nđd)

                       “Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn
                         Gánh sơn hà toan chất thử lên vai
                         Chuyện binh lửa anh em chừng cũng ớn
                         Dọn tinh thần: cưa nhẹ đỡ ba chai
                         . . .
                        “Một tráng sĩ vung ly cười ngạo mạn
                         Nửa đời xưa ta trấn thủ lưu đồn
                         Nay đất khách kéo lê đời rất nản
                         Ta tính sẽ về vượt suối trèo non…
                         . . .
                        “Một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối
                         Thần tự do giờ đứng ở nơi nào?
                         Ta muốn đến leo lên làm đuốc mới
                         Tự đốt mình cho lửa sáng xem sao…

                        “Thần tự do giơ hoài cây đuốc lạnh
                         Ta tiếc gì năm chục ký xương da
                         Sẽ làm đuốc soi tìm trong đáy biển
                         Những oan hồn ai bỏ giữa bao la…

                        “Bình minh tới một chàng bừng tỉnh giấc
                         Thấy chiến trường la liệt xác anh em
                         Năm tráng sĩ bị mười chai quất gục
                         Ðời tha hương coi bộ vẫn êm đềm

                        “Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
                         Những hào hùng uất hận gối lên nhau
                         Kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới:
                         Ta làm gì cho hết nửa đời sau?”

                         (Trích “Ta làm gì cho hết nửa đời sau” thơ Cao Tần)

            Cõi-giới thơ Cao Tần không chỉ đặc biệt dành cho những người lính miền Nam trong tâm bão của cuộc đổi đời tháng 4, 1975 mà, thơ ông còn như những đợt sóng lớn, tỏa rộng, bao trùm thân phận của đa số người Việt tỵ nạn, đầu tiên. Ðặc biệt, ông giễu cợt, hài hước chính ông, một trong những người tỵ nạn đầu tiên, phải lìa xa đất nước; làm lại cuộc đời từ số không:

                        “Mai mốt anh về có thằng túm hỏi
                         Mầy qua bên Mỹ học được củ gì
                         Muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi
                         Nói mầy hay ông thượng đẳng cu li.
                         Ông rửa bát chì hơn bà nội trợ
                         Ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan
                         Ngày ngày phóng xe như thằng phải gió,
                         Ðêm về nằm vùi nước mắt chứa chan.
                         Nghệ thuật nói bỗng hóa trò lao động
                         Thằng nào nói nhiều thằng ấy tay to
                         Tiếng mẹ thường chỉ dùng chửi đổng
                         Hay những đêm sầu tí toáy làm thơ…”

                         (Trích “Mai Mốt Anh Về”, thơ Cao Tần)

            Hoặc:
                         Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ
                         Mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu
                         Chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ
                         Tái tê cười: giờ gia hạn nơi đâu?

                         Trong ví ta này một thẻ căn cước
                         Hình chụp ngây ngô rất mực cù lần
                         Da xám ngoét như bị đời nhúng nước
                         Má hóp vào như cả tháng không ăn
                         . . .
                         Hình căn cước anh nào mà chẳng xấu
                         Tên chụp hình như một lão tiên tri
                         Triệu mặt ngây ngô bàng hoàng sớn sác
                         Cùng đến một ngày gẫy đổ phân ly
                         . . .
                         Quanh mình xôn xao chuyện thay Quốc tịch
                         Ngậm ngùi bày dăm giấy cũ coi chơi
                         Thời cũ ố vàng, rách rời mấy mảnh
                         Xót xa đau như mình bỗng qua đời.

                         Hỡi kẻ trong hình mặt xanh, mày xám
                         Ngươi sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư
                         Hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm
                         Mày lang thang đất lạ đến bao giờ

                         Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
                         Còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
                         Ôi trong trí những anh hùng thuở trước
                         Còn dậy trời lên những buổi tung cờ.

                         (Trích “Cảm Khái” thơ Cao Tần)

            Ðó là dăm bài thơ phản ảnh phong cách (chữ, nghĩa) hay “võ công thượng thừa”, đã được ấn chứng của Kiều Phong/Lê Tất Ðiều qua những bài phiếm của họ Lê thời trước 1975 ở quê nhà, cũng như sau đó, ở hải ngoại.(1)
            Vì Cao Tần hay Kiều Phong là hai khía cạnh tài hoa khác của khác của một Lê Tất Ðiều, nhà văn. Lê Tất Ðiều, nhà văn những của thương yêu, tình cảm thao thiết chân thật, nên, trong cõi-giới thơ Cao Tần, cũng có những bài thơ in đậm chân dung Lê Tất Ðiều. Thí dụ bài “Thư quê nhà”:

                        “Gửi cho anh vài sợi tóc mẹ già
                         Rụng âm thầm trên hiên chiều hiu quạnh
                         (Nuôi một bầy con cuối đời vẫn lạnh)
                         Cho anh hôn ơn nặng một thời xa…
                         . . .
                         Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường
                         Anh sẽ đọc ra trăm nghìn lối cũ
                         Gửi cho anh vài nhánh cỏ quê hương
                         Anh sẽ đọc đất trời ta đã thở…

                         Và gửi cho anh một tờ giấy trắng
                         Thấm nước trời quê qua mái dột đêm mưa
                         Ðể anh đọc: Mênh mông đời lạnh vắng
                         Em tiếc thương hoài ấm áp gối chăn xưa…”


            Hoặc:
                         Chú nào ngồi hiên nhà ta chiều nay
                         Nghe mưa Sài gòn rạt rào thơm mát
                         Sau một ngày nắng lóa chín tầng mây
                         Những mái tôn mưa cười ran hạnh phúc

                         Chú có biết yêu thương vài nụ hồng
                         Ðã thắm tươi trên giàn che cổng gỗ
                         Những giọt trong veo từ cõi vô cùng
                         Vỗ rộn ràng vui trên từng lá nhỏ

                         Chú nào đêm nay kê đầu gối đó
                         Thở hương nồng hạnh phúc đẫm không gian
                         Có biết nói nghìn năm sau vẫn nhớ
                         Vẫn hai vai êm ấm mãi ơn nàng?

                         (Trích “Chú Nào Nghe Mái Tôn Mưa”, thơ Cao Tần)

            Ðời sống vốn là dòng sông chảy xiết, nên sau hơn 40 năm ở xứ người, tình cảnh người tỵ nạn Việt Nam, đã khác xưa. Nhưng, mỗi khi nhìn lại lịch sử tỵ nạn, thời kỳ đầu thì, thơ Cao Tần chính là ký ức, là tấm gương phản chiếu đời sống, tâm tư… của giai đoạn khó khăn, nhọc nhằn đó, vậy.


DU  TỬ  LÊ               

____________________________________________________________
(1) Nhà văn Lê Tất Ðiều từng cho biết, Kiều Phong là bút hiệu chung của nhiều người, thời ông cộng tác với một tờ báo của thi sĩ Trần Dạ Từ. Nhưng những ai theo dõi hành trình văn chương, báo chí của họ Lê đều nhận ra rằng, bút hiệu Kiều Phong cũng được ông dùng cho những bài phiếm ở những tờ báo khác mà, ông từng cộng tác ở trong nước, cũng như hải ngoại. Ðiều này cho thấy, tuy tuyên bố như trên, nhưng họ Lê là người duy nhất sử dụng bút hiệu lấy tên một nhân vật trong truyện chưởng của Kim Dung.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/tu-le-tat-dieu-toi-cao-tan/