Tác giả Chủ đề: Nguyễn Thị Thụy Vũ  (Đã xem 5134 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi tunglavie

Nguyễn Thị Thụy Vũ
« vào: 13/02/2011, 04:20:18 »



(Nguồn hình: Bác Quan mac co)

Tiểu Sử:

Nguyễn Thị Thụy Vũ tên thật là Nguyễn Thị Băng Lĩnh. Sinh năm 1937 tại Vĩnh Long. Trước dạy học, từ 1963 chuyên viết văn. Chủ trương các nhà xuất bản Kim Anh, Hồng Đức, Kẻ Sĩ.

Tác phẩm:

- Mèo Đêm (1966)
- Lao Vào Lửa (1967)
- Chiều Mênh Mông (1968)
- Thú Hoang (1968)
- Ngọn Pháo Bông (1968)
- Khung Rêu (1969)
- Như Thiên Đường Lạnh
- Nhang Tàn Thắp Khuya
- Chiều Xuống Êm Đềm
- Cho Trận Gió Kinh Thiên

http://tvvn.org/forum/content.php
« Sửa lần cuối: 14/02/2011, 00:24:56 gửi bởi joankim »
 

Ngủ rồi tunglavie

Re: nguyễn thị thụy vũ
« Trả lời #1 vào: 13/02/2011, 04:21:45 »
   Thú hoang 
 Hồng Đức  1968
« Sửa lần cuối: 20/11/2012, 05:28:56 gửi bởi tunglavie »
 

Ngủ rồi XuTramHuong

Re: Nguyễn Thị Thụy Vũ
« Trả lời #2 vào: 22/04/2011, 19:04:51 »
Khung rêu - Tp đoạt giải thưởng năm 1970, nhà xuất bản Cửu Long in lại 1990
 

Ngủ rồi XuTramHuong

Re: Nguyễn Thị Thụy Vũ
« Trả lời #3 vào: 22/04/2011, 19:06:28 »
Nhang tàn thắp khuya - NXB Cửu Long 1990
 

Ngủ rồi Harrypham1986

Re: Nguyễn Thị Thụy Vũ
« Trả lời #4 vào: 19/11/2012, 15:06:18 »
              Khung Rêu - Kẻ Sĩ xb

             

             

                                                     ( hình của meomeo )
Tôi là Tôi chứ không thể là 1 ai khác.
 

Ngủ rồi Harrypham1986

Re: Nguyễn Thị Thụy Vũ
« Trả lời #5 vào: 14/11/2013, 06:49:03 »
                                                                                                         Ngọn pháo bông - Hiện Đại xb 1968 ...

                                                                                                         

                                                                                                         ( hình của bác joankim )
Tôi là Tôi chứ không thể là 1 ai khác.
 

Ngủ rồi XuTramHuong

Re: Nguyễn Thị Thụy Vũ
« Trả lời #6 vào: 12/06/2016, 22:56:35 »

Như thiên đường lạnh - Kẻ Sĩ in lần đầu 1972

 

Ngủ rồi hoaico

Re: Nguyễn Thị Thụy Vũ
« Trả lời #7 vào: 02/04/2017, 00:50:08 »
Nguồn BBC




 

Đang duyệt nduytai

Re: Nguyễn Thị Thụy Vũ
« Trả lời #8 vào: 28/07/2019, 08:51:23 »


Trường Hợp Nguyễn Thị Thụy Vũ


Năm 1963, trên tạp chí Bách Khoa, xuất bản tại Saigòn, bắt đầu xuất hiện một số truyện ngắn của một cây bút nữ lạ huơ lạ hoắc. Sự huơ, hoắc này không chỉ mang ý nghĩa một tên tuổi mới, mà, nó còn huơ hoắc ở cả phương diện nội dung nữa. Đó là những truyện ngắn ký tên Nguyễn Thị Thụy Vũ.


Nguyễn Thị Thụy Vũ, thủ bút và chữ ký
Tạ Tỵ ký họa


NGUYỄN THỊ THỤY VŨ xuất hiện trên văn đàn miền Nam khi Nhã Ca đã có một chỗ đứng riêng biệt vững vàng cả về thơ lẫn truyện; khi Túy Hồng đã định hình lấy cho mình bằng một lối văn chanh ớt, rất địa phương, rất Huế; khi Trùng Dương được nhìn ngắm như kẻ đang cầm ngọn cờ đầu trong nỗ lực đuổi theo phong trào văn chương hiện sinh; và, khi Nguyễn Thị Hoàng vừa chính ngọ với tác phẩm “Vòng Tay Học Trò”, như một táo tợn bất ngờ hiếm thấy của với văn chương Việt Nam ở thời kỳ còn quá nhiều rào cản.
            Tuy xuất hiện có phần muộn màng so với những cây bút nữ vừa kể, nhưng Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng đã có lấy cho mình một tư thế, một móng vuốt riêng.
            Tư thế xuất hiện mang tên Nguyễn Thị Thụy Vũ kia, là sự trần trụi của những chuyện kể mang nhiều tính tự sự về phần đời khuất lấp của cô. Đó là mặt thật của một người phụ nữ làm nghề dậy Anh văn cho những cô gái bán “bar”, cho những vũ nữ, những cô me mới tỉnh lẻ. Đó là thời điểm những người lính Mỹ ngơ ngáo, hùng hục xuất hiện trên phần đất miền Nam Việt Nam. Những truyện ngắn có cốt truyện, lớp lang đâu ra đấy, đã hấp dẫn số đông, lớp độc giả chỉ thích đọc những truyện có có cốt chuyện và câu truyện đáp ứng được tính tò mò.
            Móng vuốt mang tên Nguyễn Thị Thụy Vũ kia, là những mô tả thật thà, mộc mạc với những suy nghĩ và đối thoại rất đường phố, rất gần gụi với bản năng cùng dục tính.
            Không kể Nhã Ca và Túy Hồng, có một hướng đi khác; trước Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương và Nguyễn Thị Hoàng cũng khai thác thể tài tình dục, hoặc ẩn ức tâm sinh lý như cốt lõi hình thành tác phẩm. Nhưng trước một Trùng Dương còn cố tình mặc khoác cho tình dục chiếc áo ngủ triết lý và trí thức, trước một Nguyễn Thị Hoàng còn nỗ lực son phấn, chồng chéo nhiều mẫu mã thời trang diêm dúa cho tình dục thì, Nguyễn Thị Thụy Vũ lại giữ nguyên trạng, giữ nguyên cái trần trụi, cái thô tháp rất bản năng, rất con người của tình dục. Sự trần trụi, thô tháp này, khiến không ít những người nhân danh đạo đức, nhân danh truyền thống, một thời, đã phải nhăn mặt, lên án… Và, đấy cũng là mặt thành công của hành trình vào văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ vậy.
            Tên thật là Nguyễn Băng Lĩnh, Nguyễn Thị Thụy Vũ sinh năm 1939 tại Vĩnh Long. Cô làm nghề gõ đầu trẻ tại tỉnh lỵ này cho tới năm 1961 thì dời lên Saigòn.
            Về truyện ngắn Lòng Trần mà, chúng tôi sẽ trích đoạn để mời quý thính giả thưởng thức sau đây, theo lời kể của chính tác giả thì, nó có tới 80 phần trăm sự thật. Thụy Vũ nói:
            “Đó là cuộc đời của cô Năm Thàng, một nghệ sĩ hát bội, bà con xa với bà nội tôi. Cô được một ông phú hộ bỏ ra phân nửa số ruộng đất của ông để chuộc cô ra khỏi gánh hát, đem về làm vợ. Sau khi chồng chết, cô Năm Thàng ở vậy, thủ tiết nuôi lũ con. Mỗi khi đến ngày giỗ chồng, cô Năm Thàng mặc trang phục hát bội, giắt lông trĩ trên đầu, và cầm gươm múa trước bàn thờ của chồng, biểu diễn những vai đào võ mà, trước kia ông phú hộ đã say mê qua tài diễn xuất của cô. Còn ni cô Diệu Tâm cũng là người bà con xa của bà nội tôi. Ni cô chay lạt nâu sòng từ hồi còn nhỏ, nhưng đến khi chết, lại đòi uống một muỗng nước mắn… Nhưng trong chuyện này, tôi cho cô Năm Thàng và Ni cô Diệu Tâm là một nhân vật. Cô Năm Thàng là mẫu người quá khứ của ni cô Diệu Tâm, để cho người đọc thấy rõ là ni cô Diệu Tâm luôn mến tiếc thời vàng son của mình.”
            Lòng Trần là một truyện ngắn lạc dòng, nó như một kẻ lạ mặt trong ngôi nhà truyện ngắn nhung nhúc những nhân vật lúc nào cũng rằn rật đòi hỏi gay gắt tình dục một cách tự nhiên, đơn giản như nhu cầu cần có một con khô, một miếng cóc đưa cay trong những tiệc rượu xắn quần và phanh bụng ì xèo vậy.


DU  TỬ  LÊ               
Tháng 02/2011               


https://www.dutule.com/p124a3166/37/truong-hop-nguyen-thi-thuy-vu

 

Đang duyệt nduytai

Re: Nguyễn Thị Thụy Vũ
« Trả lời #9 vào: 04/08/2019, 08:09:20 »


Lòng Trần
(Muỗng Nước Mắm)

Lòng Trần trích từ tập “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta”,
Nhà xuất bản Sóng, Sàigòn, 1974

”Đột nhiên ni cô Diệu Tâm cảm thấy miệng mình lạt quá, lạt kinh khủng… — Mô Phật! Cho tôi muỗng nước mắm, tôi uống vào sẽ hết bịnh liền”. Khác với phong cách sôi nổi thú hoang trong Lao vào lửa, Mèo đêm của cùng một tác giả, Lòng Trần được viết thật gọn và tươm khí hậu cô quạnh đẫm nhân sinh: Một kiếp người quy vào một muỗng đời. Kiếp người đi tu mấy mươi năm dẹp bỏ lòng trần và những bất hạnh, đến cuối cuộc đời vẫn không thể thoát được ám ảnh vị mặn của bụi trần. Bốn muơi năm sau, mạch văn không thừa chữ của Nguyễn Thị Thụy Vũ hãy còn toát lên vẻ đẹp phong vị Nam và của một bố cục truyện thật chắc chắn.


Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ
trong “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta”


CON ĐÊ DÀI RỘNG, hai bên trồng dừa Tân Quan cao hơn đầu người thẳng hàng, đều khoảng. Những quày dừa màu hỏa hoàng oằn trái. Bóng dừa chìm dưới đáy nước của hai đầm sen – bên trái đầm sen trắng, còn bên phải đầm sen hồng. Từ con đê đi vào khoảng ba trăm thước, một ngôi chùa nằm im lìm giữa hai hàng dương.
            Chùa này vì ít thiện nam tín nữ lui tới nên càng thêm vẻ đìu hiu, lạnh ngắt. Từ đường cái nhìn vào, ít khi người ta nhìn thắy bóng dáng những nhà tu. Chỉ nhìn thấy chiếc tháp cao trơ vơ với rêu bám nham nhở và vài viên gạch mục rớt ra lở lói. Mái chùa thấp ẩm ướt và bóng tối đặc quánh. Tiếng kêu vo ve của đám muỗi đói lẫn tiếng chí chóe của đàn chuột dưới những bàn thờ và tiếng vỗ cánh của đàn dơi hoang. Cao hứng chúng bài tiết bừa bãi không vị nể các ông Phật đang ngồi trang nghiêm nhìn ánh đèn chong leo lét. Bình hoa huệ sắp tàn, chỉ còn vài búp gắng gượng trên chót nhánh. Những cánh trắng héo hắt rớt tả tơi trên bàn thờ không mấy ai buồn dọn quét chăm sóc.
            Lâu lắm, người ta mới thấy bóng một sư nữ gầy gò xanh xao ngoài năm mươi tuổi ngồi bên hông chùa, uể oải cầm chiếc dao cùn chặt những cành dương khô rớt trên nền đất và bó thành từng bó nhỏ. Ni cô ngồi dưới bóng nắng loang lổ đỏ, khoác chiếc áo cà sa màu cà. Hình như bà cố tìm vài mảnh nắng rớt nhiều nhất trên nền đất để hóng nắng. Giữa màu lá xanh bao quanh da mặt, bà càng thêm nhợt nhạt. Đôi mắt trũng sâu nhiều, tròng trắng nhìn bâng quơ khi cánh tay gầy guộc khô khan của bà đưa chiếc dao chành lên xuống vài lượt, và giọng ho húng hắng được đè nén làm bà run rẩy.
            Bà đã đến tu ngôi chùa này hồi hai gò má còn hồng và nụ cười tươi sáng ẩn một chút ngổ ngáo. Nay hàm răng trắng xa xưa đã rụng mất vài ba cái và đóng bợn vàng ối.
            Ông yết ma vốn người bán nam bán nữ, cao to mập trắng hếu và có đôi mắt lém lỉnh. Hình như ông yết ma này gọi ni cô bằng dì họ. Ông này cùng theo bà đến chùa hồi mười tuổi và bây giờ ông đã quá ba mươi. Ông có tật lãng tai, mỗi khi ni cô nói với ông điều gì, bà phải lấy tàn hơi gào thét. Ông cứ vểnh tai ra, nét mặt ngơ ngác như người đi lạc vào một thế giới xa lạ thiếu âm thanh. Ni cô mỗi lần muốn đàm đạo với ông cháu quí phải nặng hơi mỏi cổ nên bà lười biếng ít muốn nói chuyện với ông ta lâu. Ngoài hai người, còn có một chú tiểu đầu để chởm với thẻo tóc dài vắt qua vành tai. Chú tiểu này vừa giúp đỡ ni cô như một tiểu đồng, vừa làm thông ngôn khi ni cô muốn nói chuyện dài với ông yết ma. Chú tiểu có vẻ nhẫn nhục và cam chịu. Chú sống thui thủi giữa hai người lớn, mỗi người có một thế giới bưng bít. Họ chỉ hợp nhau vào những buổi tụng niệm, còn ngoài những giờ lo cho Đầng Từ Bi, họ mỗi người mỗi việc tưởng chừng như sự hiện diện của nhau thật là mờ nhạt thừa thải. Chú tiểu lo phần cơm nước. Những bữa cơm dọn với rau muối mè, tương hột đơn sơ, chú tiểu có thể quán xuyến chu tất. Mỗi buổi sáng, chú ra sau chùa bứt những đọt mùng tơi, hái những bông mướp vàng ối còn thơm mật, nhổ vài nắm rau đắng mọc dọc mé đê đem vào luộc. Ông yết ma ngoài mấy buổi tụng kinh, gõ mõ, còn có bổn phận vun quét vườn rau, cưng dưỡng mấy dây bầu và giàn mướp sai trái. Cái quá khứ không tì vết của ông yết ma – ông sống xa người trần tục không tiếp nhận cuộc sống đầy rẫy bon chen – khiến ông chỉ hiểu cuộc đời lờ mờ ngoài mái chùa. Cơm rau mỗi ngày hai bữa, ông làm việc hùng hục ngoài vườn rau và ngủ li bì vào những giờ rảnh rỗi. Những giấc ngủ êm đềm khoan khoái nuôi dưỡng thân xác ông mỗi ngày một to béo đẫy đà. Vẻ mặt ông cười cợt dễ dãi và phẳng phiu như tâm hồn ông. Đi tu từ lúc còn bé, ông sống kham khổ cũng đã quen. Ông cảm thấy yên phận để dọn mình mai sau về với Phật Tổ, dẫu làm con chuột uống dầu tại chùa Tây Phương cũng cam. Đầu óc ông tiêm nhiễm giáo lý một cách lờ mờ, cuộc sống trong kinh kệ chưa in rõ vào đầu óc ông. Ông còn mơ ước gì hơn; vả lại, ông không có thì giờ để nghỉ ngơi suy ngẫm gì ngoài những thủ tục đọc kinh trồng rau. Công việc nhà chùa chiếm hết ngày tháng. Ông dạy chú tiểu học kinh và cách tụng kinh. Chú ấy cũng là người để cho ông ta tâm sự về sự tiến triển của mấy dây bầu, của nụ hoa mướp có mòi thành quả. Chỉ có vậy thôi, thế mà ông ta sống lây lất hơn hai mươi năm qua đến không ngờ. Ngày đó, ông theo ni cô Diệu Tâm đến ngôi chùa này giữ vai trò một tiểu đồng, Lúc đó còn sư cụ và ni cô thì mới ngoài ba mươi tuổi, dung nhan còn mặn mòi sắc lẽm. Đến khi sư cụ qua đời và được mai táng trong cái tháp trước sân chùa, ni cô Diệu Tâm mới lo quán xuyến ngôi chùa này.
            Những ngày rằm hoặc những ngày lễ Phật, chỉ vài ba thiện nam tín nữ đến dâng hương vội vã. Hình như họ nghĩ rằng chùa nào đông đúc tấp nập, Phật Trời mới có mặt thường xuyên. Chớ chỗ buồn bã như vầy, chắc Phật Trời cũng lười lui tới. Ông yết ma cảm thấy phơi phới trong cuộc sống trống vắng quạnh hiu. Những lúc đám khách thập phương này chiếu cố chùa, ông có cảm tưởng như họ đến quấy rầy sự yên tĩnh của ông. Nhưng ông phải giữ đúng quy luật nhà chùa là cửa thiền lúc nào cũng mở rộng. Ông biết lán mán về quá khứ của ni cô ngày xưa lúc bà mới hai mươi tuổi, bà là vợ kế của nhà phú hộ trong làng Đạo Ngạn thuộc tỉnh Mỹ Tho. Ruộng vườn của bà cò bay thẳng cánh. Thủa đó, tất cả phụ nữ miền Nam chưa hề trang điểm, thế mà bà đã biết dùng phấn nụ do các công chúa của triều đình Huế sai tì nữ đem bán. Trước khi đánh phấn, bà dùng chỉ đánh cho săn lại rồi lăn lên da, nhổ sạch những sợi lông măng để cho da mặt tiếp nhận phấn dễ dàng. Đoạn bà dùng phấn nụ bôi lên mặt, lấy giấy hồng đơn thấm nước đắp lên mặt má. Bà nhai trầu cho đôi môi nhuộm đỏ.
            Thật ra bà vốn là đào hát bộ, tên Năm Thàng. Ông phú hộ có tính phong lưu tao nhã. Đời ông chỉ có việc lấy hát xướng làm tiêu khiển. Bất kỳ gánh hát nào có bà, ông cũng ngồi ghe bầu theo coi cho bằng được. Ngồi ghế thượng hạng để cầm chầu, ông say sưa chiêm ngưỡng tấm nhan sắc chim sa cá lặn của bà trong vai Phàn Lê Huê, Hồ Nguyệt Cô, hoặc Lưu Kim Đính. Người bạn theo hầu kiêm luôn anh đầu bếp giỏi, và tối đến, được theo chủ xem hát. Người phu trạo đã bắt đầu ghiền cuộc sống rày đây mai đó. Cũng bao nhiêu tuồng hát đó mà nhà phú hộ nọ vẫn coi hoài không chán mắt. Đối với ông, cô Năm Thàng từ cánh gà tuông ra làm đổi mới cả sân khấu.
            Hai năm xuôi ngược mỏi mê, ông cố gắng điều đình với ông bầu gánh chuộc cô Năm Thàng bằng mười mẫu đất, đem về làm vợ kế. Muốn thoát khỏi cảnh đời rày đây mai đó, cô Năm Thàng bằng lòng với ngôi vợ thứ hai do sự đồng ý cưới hỏi rỡ ràng của bà phú hộ. Cuộc sống huyên náo bỗng dừng lại làm cô Năm ngỡ ngàng xa lạ. Sự giàu sang và chiều đãi, nâng như nâng trứng hứng như hứng hoa của chồng không bao lâu làm cô thêm nhớ lại cuộc đời sống cũ. Cô nhớ sân khấu, nhớ đời sống lang thang trên những chiếc nghe chài xê dịch từ làng này sang tỉnh khác. Cuộc sống tập thể tuy quấy nhiễu cô thường xuyên, nhưng đem lại cho tâm hồn cô những đổi mới. Cô say những vai trò nữ tướng, công chúa, bà hoàng… để bôi xóa tạm bợ trong vài tiếng đồng hồ đời sống nghèo đói cơ cực của mình. Một cô đào hát tên tuổi chưa được mấy mà đã làm bà phú hộ, có kẻ hầu người hạ. Thế mà cảnh giàu có vẫn không quyến rũ được cô lâu, không đủ quyền lực làm cô quên hẳn quá khứ.
            Ni cô Diệu Tâm trở mình thức giấc. Bà lần mò ra chánh điện để kịp giờ công phu. Trong im vắng hoàn toàn, ni cô nghe rõ tiếng chuột bọ chạy rột rẹt và tiếng thằn lằn trên kèo nhà chắc lưỡi. Bên ngoài, ếch nhái dưới ao con trổi giọng uênh oang át cả tiếng dế trong bụi ô rô nhọn oắt. Ni cô bước ngang phòng ông yết ma. Tếng ngáy từ trong buồng vọng ra ào ạt, đều đặn. Bỗng giọng mớ ú ớ vang lên:
            ― Ê! mấy thằng chăn trâu, bây bẻ trộm bầu của người ta hả? Bớ Phật Kim Cang, Phật La Hán vặn họng nó cho rồi. Bớ Hộ Pháp.
            Ni cô mỉm cười, bỏ xuống nhà sau rửa mặt. Nước mưa chứa trong hàng mái đầm sau hậu liêu mát lạnh lôi bà ra khỏi cơn ngầy ngật buồn ngủ. Bà trở lên chánh điện vặn to ngọn đèn và thành kính cầm dùi dộng vào cái đỉnh đồng chung. Tiếng chuông ngân dài như réo gọi ông yết ma ngủ muộn và nhắc cho chú tiểu đến lúc tụng kinh công phu. Sau đó, từ lò cạo heo, tiếng heo bị thọc huyết eng éc bên kia sông, cách chùa hơn năm trăm thước. Tiếng kêu cứu thê thảm của mấy con heo vắn số nối đuôi tiếng công phu. Phía sau chùa là lò rèn. Tiếng nổ lách tách của đám than vừa rực cháy nghe rất vui tai. Hai ống bể khò khè như tiếng ngáy ngủ của loài trâu nước.
            Chú tiểu dụi mắt đi ra đỡ lấy dùi chuông thay cho ni cô. Bà ngồi âm thầm giữa chánh điện hai bàn tay gầy lần tràng chuỗi hạt hổ phách, ni cô tụng hết tuần kinh lui vào trai phòng bên tách trà nhạt còn bốc khói. Bà ôn lại ngày bà còn là một cô đào chánh đã làm say mê giết bao nhiêu vương tôn công tử. Ông phú hộ Thọ đã chia gần nửa số gia sản của ông để đổi cô. Rồi cô bỏ sân khấu về sống trong một ngôi nhà nền đúc cao tới ngực có hàng chục người hầu hạ. Mỗi lần cô giam mình sốt mẩy, thầy lang được rước về tận nhà và ở lại đó cho đến khi cô khỏi hẳn. Cô mê món ếch bắc thảo chưng đường phèn. Người tớ gái đem cục mỡ gần thận ếch để vào một cái thố vẽ bát tiên và cho đường phèn vào, chưng cách thủy. Cục mỡ ếch nở to bằng cái chén trong như pha lê, thơm ngọt ngào rồi đặt chiếc thố sứ vào cái mâm bằng gỗ quí. Trong lúc cô dùng ếch bắc thảo, hai đứa con gái đứng hầu quạt hai bên. Cuộc sống lắm kẻ nuông người chiều đó níu kéo cô được vài ba tháng. Một hôm đoàn hát Cẩm Đuờng Ban có dịp trở lại làng Đạo Ngạn, cô Năm Thàng cảm thấy có cái gì xót xa ray rức không yên thúc dục cô, nhứt là khi tiếng chiêng trống và tiếng phèn la nổi lên ing ỏi ở đầu đình. Cô Năm bồn chồn không thể tả, thế rồi đêm hôm sau đó, lúc ông phú hộ yên giấc cô lần mò bỏ trốn theo đoàn hát và tiếp tục nghiệp dĩ. Phải chăng cô muốn thay đổi cái không khí nhờn nhợt âm thầm trôi nổi bên cạnh ông chồng chỉ có lòng sủng ái, nhưng tình yêu cô cho ông còn lờ mờ chưa thắng nổi tiếng trống chầu.
            Khi ông phú hộ biết cô đã trốn về đoàn hát, lập tức ông xuống ghe bầu cùng với người phu trạo đi theo. Cuộc săn đuổi gian nan không làm ông thất vọng. Ông tin tưởng sự đi theo vừa giúp ông tiêu dao ngày tháng, vừa có dịp săn sóc cô và mong rằng ngày nào đó, cô Năm sẽ hồi tâm quay trở về. Mãi cho tới ba năm sau, ông vẫn vừa đi theo cô Năm Thàng vừa tập soạn tuồng hát. Ông đã gởi gấm tâm sự, tình ý vào bản Hát Nam, Hát Khách và Hát Văn. Ông để hết tâm trí vào các tác phẩm thai nghén suốt mấy năm liền và sau đó được đưa lên sân khấu để cho cô Năm thủ diễn. Kỳ lạ, sau khi diễn xong tuồng hát của chồng, cô Năm Thàng ôm ông phú hộ Thọ khóc hu hu rồi cởi áo mũ giáp trả lại sân khấu và hai vợ chồng đưa nhau về chốn cũ sống lại cuộc đời cố định. Cô Năm mới tìm thấy tình yêu muộn màng nhưng có một sức mạnh lôi cô ra khỏi ánh đèn sân khấu vĩnh viễn, bỏ hẳn cuộc sống nay miếu này mốt đình nọ. Chỉ một năm sau, cô sanh được một đứa con trai kháu khỉnh. Đứa con trai đó nối dõi tông đường của ông phú hộ trong khi bấy lâu nay ông cứ ngỡ là mình tuyệt tự. Ông mừng đến sa nước mắt khi đứa con trai độc nhất của ông càng lớn càng giống những nét thanh tú trên gương mặt của ông và cô Năm.
            Ông phú hộ toan tính biết bao nhiêu về dự định tương lai cho đứa bé. Nhưng ông đột nhiên chết bất thần vì một tiếng sét long trời sẹt vào nhà làm đổ cả tủ kiếng và giết ông nhanh chóng. Cái chết tức tửi đó làm cho dân làng xầm xì bàn tán là ông ăn ở thiếu phúc đức nên trời sai Thiên Lôi xuống giết gấp rút như vậy.
            Từ đó, cô Năm đoạn tuyệt cuộc đời cũ ngay trong ý nghĩ và tận tụy chăm sóc đứa con để đền ơn đáp nghĩa với người vừa là tri kỷ vừa là bạn chung tình đã cho cô một niềm tin yêu bao la. Nhất định cô chẳng đời nào cho con cô nối nghiệp cô. Cuộc đời hát xướng bị người đời cho là vô loại. Cô cũng chẳng mơ con cô giàu có như cha nó chỉ ước ao sau này nó sẽ có nhiều bằng cấp học hành đỗ đạt. Cô ẩn nhẫn sống nuôi con, mặc dầu lúc ông phú hộ vừa mới chết, còn biết bao nhiêu người gấm ghé được lấy cô, nhưng cô quyết không buồn ngó đến họ.
            Đến ngày giỗ chồng, đợi vào lúc nửa đêm, cô Năm Thàng hóa trang, mặc áo giáp đóng vai Đoàn Hồng Ngọc oai phong lẫm liệt cầm dao múa trước bàn thờ làm như ông phú hộ đang ngồi trên ấy thưởng thức tài nghệ siêu phàm của cô. Đường đao bay vun vút quấn lấy người cô. Trong im vắng, cô cất tiếng hát nho nhỏ những bài hát trong những vai tuồng mà ngày xưa ông phú hộ đã dày công biên soạn. Sau những đường đao bay như rồng lộn, cô Năm đứng thẳng người nhìn đăm đăm lên bức ảnh ông phú hộ và hai hàng nước mắt chảy dài trên đôi má.
            Đứa con của cô được một năm thì bị một cơn sốt dữ mà tất cả danh y đều bó tay đầu hàng. Cô Năm tê điếng trong niềm tuyệt vọng. Đã bao lần ý nghĩ tự sát chập chờn qua tâm não cô. Ba lần tự tử bằng ba cách: cắt gân máu, uống dầu nóng, treo cổ được phát giác ngay.
            Cô lần tính lại đã quá hai mươi năm, nỗi đau khổ và bất hạnh xa cũ đã bắt đầu mờ nhạt. Những việc nhà chùa làm cô bận rộn suốt năm bôi xóa dần những nỗi buồn thảm, tưởng chừng vẫn rỉ rả hành tội cô trong khoảng đời còn lại.


⦁ ⋆ ⦁

            Nắng đã lên từ chân vườn, sau chùa, vài ba đứa mục đồng đang nghêu ngao mấy bản Kim Tiền. Nắng tuôn ánh sáng hình rẻ quạt trên mặt đất. Ni cô Diệu Tâm lục đục ở trú phòng. Những cây tre non được vót từng cọng nhỏ bằng cây tăm nhang bày đầy trong cái nia. Ni cô khệ nệ bưng nồi nước cơm từ bên bếp đem lên để kế bên nia tăm tre cắt dài khoảng ba tấc. Ni cô dùng những loài lá có mùi thơm như lá quao, lá ngũ trảo, lá bưởi phơi khô rồi giã nhỏ xây lấy bột đựng trong mấy chiếc thau đầy ắp. Chú tiểu ngồi bên cạnh rây lại lần nữa phần bột mịn, thơm ngát, cho vào cái chậu tráng men sứ trắng vẽ hoa hồng đỏ. Ni cô bỏ những cây tre chẻ nhỏ vào một ống tre cao độ hai tấc đựng nước cơm gạo mới đặc quánh như hồ nhúng ướt rồi mang ra lăn những cây tre đó vào chậu bột lá mịn. Hồ trên thân cây tre chẻ nhuyễn quyến lấy bụi lá thơm và những cây nhang này được đem đi phơi nắng.
            Tất cả những thức ăn lẫn hương hoa cúng kiếng đều do một tay ni cô làm ra. Xài không hết, bà mang ra chợ bán lấy tiền bỏ vào quỹ nhà chùa. Đặc biệt bà có tài làm tương ta. Bà lựa nếp đem xôi rồi bỏ vào nia ủ bằng lá tranh hay lá ngấy độ ba ngày cho nếp lên men rồi thắng đường cho chút muối, đổ vào nếp làm tương ta. Những món hàng do nhà chùa sản xuất sẽ nhờ chú tiểu đem ra ngồi chợ bán lẻ. Công việc bề bộn đó chiếm cả ngày, ni cô Diệu Tâm say sưa, có khi quên cả việc ăn uống. Mãi đến chập choạng tối, lúc bao tử đòi hỏi gấp rút, bà vào nhà bếp xới tô cơm nguội ăn với chút tương ta. Ăn uống thiếu thốn lâu ngày làm thân thể bà gầy gò và những cơn ho húng hắng xảy ra thường xuyên. Nhưng bà không để tâm đến và cơn bịnh cũng lây lất trôi qua khi ông yết ma chưng cho bà chín lá chanh với chút đường phèn bưng lên cho bà uống. Món thuốc ho không tốn kém này cũng làm bớt cơn đau ngực và bà tiếp tục lây lất với cơn bịnh.
            Diệu Tâm cảm thấy bứt rứt nơi ngực. Hình như có một bàn tay nắm lấy trái tim, bà ngột ngạt tưởng chừng trai phòng này thiếu không khí. Bà gượng ngồi dậy tựa lưng vào thành giường một lúc rồi cố gắng đứng dậy đẩy nhẹ cánh cửa sổ. Ánh nắng túa vào khe cửa ảm đạm rớt trên một lõm giường và lác đác vài mảnh vuông trên nền gạch tàu. Diệu Tâm lần dò ra ngoài để tìm chút thoáng khí. Ni cô lầm lũi bước ra ngồi tựa lưng bên tháp sư cụ và ngước mặt nhìn trời. Cơn lạnh tiết ra từ trong lá, từ ao sen làm bà rờn rợn. Cơn ho tiếp tục và ni cô cảm thấy hình như chiếc tháp muốn xiêu đổ và mặt trời túa ra nhiều vành sáng nhảy múa trước mắt. Diệu Tâm bám chặt lấy thềm cửa tháp và cơn buồn nôn hối hả dâng lên, ni cô chỉ còn thấy cảnh vật đảo lộn, ánh sáng và bóng tối xoay tít, và nơi ngực như có cả khối tháp đè lên đó. Tiếng chim vụt tắt ngỏm đâu đây và cơn gió rào trên ngọn dương ngừng lại.
            Ni cô bừng mắt nghe tiếng nói lào xào văng vẳng đâu đây. Ni cô nhướng đôi mắt còn chút ít thần sắc nhìn quanh trai phòng. Chú tiểu túc trực bên giường mừng rỡ hỏi dồn:
            ― Dạ thưa ni cô cảm thấy đỡ chưa?
            Bà lặng lẽ gật đầu và muốn ngồi dậy. Chú tiểu hiểu ý đến đỡ bà lên tựa lưng vào thành giường. Bỗng cửa trai phòng vụt mở. Diệu Tâm nhếch mép cười tiếp nhận sự có mặt của đứa cháu dâu và cô em họ đến đúng lúc bà thấy cơn bịnh này không hy vọng lành. Đứa cháu dâu gọi bà bằng cô chuyên nghề sống với nghề cờ gian bạc lận và nghề cho vay đoạt nợ. Nghề nghiệp nàng đến mức tuyệt xảo. Riêng cô em họ cùng đi theo cô cháu dâu đến thăm bà là một tay từng nhổ râu ông huyện này, cạo đầu ông phủ kia. Cô em họ có tấm nhan sắc cũng ưa nhìn thôi, nhưng cô có biệt tài hễ cập sách với ông nào thì nạn nhân tình ái của cô phải tán gia bại sản một cách nhanh chóng và êm thấm. Hai người đàn bà thân thích này thường lui tới cửa thiền hầu sám hối để chuộc tội. Họ thích thân thiện với bà có lẽ nghĩ rằng khi Diệu Tâm đắc đạo để về chầu Đấng Từ Bi sẽ với tay níu họ theo lên cõi Niết Bàn. Vì mặc cảm tội lỗi nên họ càng thích đi chùa dâng hương đem lễ hộc hòng hối lộ Trời Phật cho giải bớt những oan kiên mà ở trần gian họ đã làm, đang làm và tiếp tục làm nữa… Càng thấy họ đi chùa là phải hiểu rằng họ vừa làm được một cái áp phe. Khi có nhiều tiền, họ lại vào chùa thành khẩn hối lỗi, nhưng khi bước ra khỏi chánh điện thì họ lại quên tuốt.
            Ni cô mệt nhọc gắng gượng trả lời họ vài ba câu hỏi thăm sức khỏe. Rồi không còn ngồi được nữa, bà nằm rũ xuống. Cô em họ đề nghị ông yết ma nên tụng kinh cho Diệu Tâm để nếu như bà có phải về nơi cực lạc cũng sớm được nhẹ nhàng hồn phách.
            Ni cô nghe trong người rã rời từng khớp xương. Bà cố mở mắt nhìn ánh đèn vàng vọt đặt trên chiếc bàn cạnh bàn nước. Cổ họng bà khô đắng và lạt lẽo. Ni cô hé mắt nhìn cô em họ đang ngồi bên cạnh và cô cháu dâu đang lây quây rót nước từ trong vỏ bình vào tách định bưng lại. Ni cô khoác tay tỏ ý không cần uống nước. Bà đã ăn chay ròng rã hơn hai mươi năm quá đạm bạc nên thân thể bà thiếu cả chất đạm.
            Bà làm việc quần quật, suốt ngày. Không biết bà tìm cách quên ẩn tình hay để tăng ngân quỹ nhà chùa. Người ta thấy ni cô Diệu Tâm không sống cho mình nữa, kể từ khi bà bước vào chùa này. Bà sống kham khổ, nhẫn nhục và chịu đựng. Tiền công quỹ nhà chùa được đem ra bố thí cho những người tàn tật nghèo khổ. Bà ăn uống bất thường và coi việc ẩm thực là điều phụ thuộc. Chỉ cần một chén tương và một nhúm rau chấm tương cũng rồi một bữa. Từ một tháng nay, bà không ăn uống được như thường nhật, mỗi khi ăn xong, bà đều mửa thốc mửa tháo ra, đến cả thuốc men cũng không giữ được trong bao tử. Họ hàng hay được tin bà thọ trọng bịnh cho mời biết bao danh y đến cứu chữa. Phần linh hồn thì do ông yết ma và một số sư sãi các chùa lân cận đến tụng niệm siêu độ.
            Thân xác bà mỏi mòn trong giấc hôn mê chập chờn, bà nghe tiếng tụng niệm ngoài chánh điện. Trong bóng tối mù mờ, loáng thoáng có tiếng muỗi vo ve, đột nhiên ni cô Diệu Tâm cảm thấy miệng mình lạt quá, lạt kinh khủng. Phải chi có một chút nước tương để bà nếm thử. Trí óc của bà dán chặt vào ý nghĩ lưỡi bà khô đi, đồng thời nước dãi tuôn ra đầy miệng. Thế rồi ý nghĩ của bà trôi xa hơn, nước tàu vị yểu, rồi nước mắm. Cơ thể bà vụt bùng lên. Nước mắm! Nước mắm! Ni cô Diệu Tâm nuốt ực nước miếng. Một nỗi xót xa làm nước mắt bà ướt đẫm. Có cái gì chống đối trong từng thớ thịt, khớp xương của bà.
            Bà vụt nghĩ, nếu có một muỗng nước mắm chui vào bao tử bà thì có lẽ những chấn động, phản đối trong cái cơ thể mỏi mòn sinh lực của bà sẽ dịu xuống, và muỗng nước mắm sẽ đem lại cho bà sự khỏe khoắn để bà ngủ một giấc thật ngon và ngày mai bà sẽ tiếp tục sinh hoạt lại như cũ dưới mái chủa này.
            ― Nước mắm! Muỗng nước mắm!
            Ni cô hoàn toàn quên mất cái đời sống hiện tại ở trong chùa, quên cả mấy mươi năm tu hành khổ hạnh. Bà rơi trong một ý thức mù mờ chỉ có hình bóng muỗng nước mắm bằng sứ trắng chứa một thứ nước vàng và trong suốt như nước trà. Kê miệng mà nếm thử thì biết. Ni cô Diệu Tâm co rúm lại, thở hổn hển. Ba tiếng muỗng nước mắm như ba nhát búa đập vào đầu óc bà làm bà lảo đảo.
            Ngoài hậu liêu, hình như trời đã chiều. Mùi thuốc bắc sắc trong siêu ngai ngái bay lên làm bà có cảm tưởng mình sắp nghẹt thở.
            Bà phải uống một muỗng nước mắm. Ngày mai dầu có phải đọc kinh sám hối, bà cũng không màng. Bà tin chắc rằng dầu đọc kinh cứu khổ cứu nạn với Bạch Y Quan Thế Âm Bồ Tát cũng chưa chắc mầu nhiệm bằng một muỗng nước mắm. Nước mắm sẽ là một món thuốc tiên làm cho cây khô trổ bông. Cố gắng lấy hết tàn hơi, bà thều thào gọi chú tiểu kiếm cho bà một muỗng nước mắm. Tất cả những người có mặt bên giường đều ngạc nhiên lẫn hốt hoảng.
            Diệu Tâm lập đi lập lại mấy lần:
            ― Mô Phật! Cho tôi muỗng nước mắm, tôi uống vào sẽ hết bịnh liền.
            Tiếng kêu gọi như một lời van vỉ, thê thảm. Hai tay Diệu Tâm chìa ra tuyệt vọng. Chú tiểu bưng đến gần tách trà ướp sen kề gần miệng. Ni cô khép chặt môi, lắc đầu phản đối:
            ― Tôi chỉ cần uống một chút nước mắm cho mặn môi.
            Nói xong ni cô dìm hồn vào trong cơn đồng thiếp hai cánh tay còn xòe ra quờ quạng van xin.
            Cô em họ bước ra trai phòng thì thầm:
            ― Rõ là ma đưa lối, quỉ dẫn đường. Hồi nào tới giờ chỉ ăn chay lạt, đến lúc sắp chết lại đòi uống nước mắm. Tôi nhất định chống lại lời ma quỉ xúi biểu, xui khiến chỉ phạm trai giới. Thà để cho chỉ chết mà không mang tội với Trời Phật và không uổng công tu khổ hạnh hai mươi mấy năm nay.
            Nói đoạn bà xuống trú phòng ngồi nói chuyện áp phe với cô cháu dâu, hoặc những thành quả bà đã thu đoạt được kể từ ngày bà bước chân vào đời. Giọng bà oang oang uốn éo và những tràng cười nói xôn xao vọng lên trên chánh điện. Ông yết ma với đôi mắt nhắm lại và nét mặt phẳng phiu dễ dãi thường nhật nhuốm một chút lo âu. Không khí nặng nề trùm xuống, nghẹt thở. Tiếng hét từ trai phòng vang lên. Ông lẹ chân tông cửa vào vừa lúc chú tiểu định bước ra, vẻ mặt còn hốt hoảng. Tất cả đứng im lặng quanh giường chờ đợi phút nghiêm trọng của ni cô trong khi cô đang vật vã từng đợt với tử thần. Tiếng nói bà vụt sang sảng như lúc còn ở trên sân khấu. Giọng nói trong trẻo tỉnh táo, nhưng đôi mắt bà vẫn nhắm nghiền:
            ― Tôi mới biết thương mình mấy năm mình khổ công theo đuổi tôi, mình đặt tuồng hát cho tôi hát.
            ― Con ráng học cho đỗ đạt làm quan nghe con cưng của má.
            ― Tôi chỉ thích sắm vai Đoàn Hồng Ngọc hơn làm Phàn Lê Huê. Mình thích tôi diễn vai nào nhất?
            ― Bớ này Tiết Giao! Ô này bạc tình lang! Mặt chàng đẹp trai mà làm chi? Lời chàng ngọt ngào mà làm chi? Cổ thiếp ngày nay mất ngọc, thân thiếp bơ vơ.
            Cả một quá khứ trôi nhanh lên ký ức bà rõ rệt và nhanh như một đoạn phim quay hết tốc lực của nó. Bà độc thoại từ quãng đời sân khấu đến quãng đời làm vợ ông phú hộ Thọ. Giọng bà sang sảng vụt dừng lại và dưới ánh đèn hiu hắt, ni cô mở trừng trừng đôi mắt trắng nhợt như cố thu nhận hình ảnh sau cùng của đời sống và ni cô quờ quạng hai bàn tay trơ xương với lời van vỉ đứt nối:
            ― Hãy cứu tôi, cho tôi uống một muỗng nước mắm thôi.
            Cô cháu dâu nhìn bà em họ:
            ― Mợ ơi! Mợ nhờ sư sãi đọc kinh trừ tà nghen. Cần nhứt là canh giữ đừng cho ai đem nước mắm lại.
            Bà em họ tức mình:
            ― Để tôi đi đọc kinh cứu khổ. Hồi xưa Phật Thích Ca gần đắc đạo thì ma vương tới phá. Còn cái chị này sắp về Tây Phương tới nơi mà cũng chưa yên thân.


NGUYỄN THỊ THỤY VŨ               


https://www.dutule.com/p124a3166/37/truong-hop-nguyen-thi-thuy-vu

 

Đang duyệt nduytai

Re: Nguyễn Thị Thụy Vũ
« Trả lời #10 vào: 11/08/2019, 10:50:18 »


Sự khác biệt về tính dục trong truyện
Nguyễn Thị Thụy Vũ và các nhà văn nữ khác


Đề cập tới trường hợp Nguyễn Thị Thụy Vũ, một cây bút nữ từng đưa tới nhiều nhận định khác nhau, thậm chí mâu thuẫn trong cách nhìn của một số người cầm bút ở miền Nam Việt Nam, trước cũng như sau biến cố 30 tháng 4-1975.


Giai phẩm Văn giới thiệu các nhà văn nữ


TÔI NGHĨ, để dễ theo dõi hành trình văn chương của cây bút nữ họ Nguyễn này, chúng ta có thể tạm chia hành trình đó làm ba giai đoạn.
            Giai đoạn thứ nhất: Xuất hiện.
            Những người từng dõi theo sinh hoạt văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ kể rằng, năm 1963, trên tạp chí Bách Khoa, Saigon, người đọc thấy xuất hiện một số truyện ngắn của một cây bút nữ lạ huơ lạ hoắc. Sự huơ, hoắc này không chỉ mang ý nghĩa một tên tuổi mới, mà, nó còn huơ hoắc ở cả phương diện nội dung nữa. Đó là những truyện ngắn ký tên Nguyễn Thị Thụy Vũ.
            Nếu không kể những nhà văn nữ có tác phẩm và tên tuổi ít nhiều bập bùng bước trên lộ trình văn chương tiền chiến, (điển hình, ảnh hưởng dòng văn chương Tự Lực Văn Đoàn, như Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo…) thì đó là:
            – Thời điểm của một Nhã Ca đã sớm có chỗ đứng riêng, vững vàng cả về thơ lẫn truyện.
            – Thời điểm của một Túy Hồng đã định hình lấy cho mình bằng một văn phong chanh ớt, rất địa phương. Rất Huế.
            – Thời điểm của một Trùng Dương muốn trở thành phát ngôn viên của triết lý Hiện sinh ở miền Nam, thể hiện qua văn chương, nối tiếp bước đi của Francoise Sagan ở Pháp.(1)
            – Và, đó cũng là thời điểm của một Nguyễn Thị Hoàng vừa chính ngọ, với tác phẩm “Vòng Tay Học Trò”…
            Tuy xuất hiện có phần trễ hơn một chút so với những cây bút nữ vừa kể, nhưng tác giả “Mèo đêm” Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng đã cho thấy móng vuốt của mình. Những móng vuốt sắc, nhọn và, một võ công có thể gây hiểm nghèo cho địch thủ khi lâm trận…
            Giai đoạn thứ hai của hành trình văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ, đánh dấu bằng tập truyện đầu tay, “Mèo đêm” của bà.
            Tập truyện “Mèo Đêm” của Nguyễn Thị Thụy Vũ, gồm 4 truyện ngắn được coi là tiêu biểu cho thời kỳ thăm dò, khai khẩn cánh rừng văn chương, chữ nghĩa của bà. Cả bốn truyện đều có nội dung như những lưỡi dáo lao thẳng vào các mục tiêu tình dục.
            Tình dục qua tác phẩm này, có hai nguồn mạch chính:
            – Ẩn ức sinh lý của các nhân vật là những người nữ quá thì (Các truyện “Một buổi chiều” và “Đợi chuyến đi xa”).
            – Hai truyện còn lại “Mèo đêm”, “Nắng chiều vàng” đề cập tới những hoạt động mưu sinh trên thân xác mình, của những cô gái bán bar và, bán thân cho quân đội Mỹ.
            Không phải đợi tới lúc Nguyễn Thị Thụy Vũ xuất hiện, tình dục mới chiếm với trò chính diện, hay trở thành con bài chủ của thế giới văn chương nữ giới miền Nam Việt Nam.
            Trước bà, người ta đã được đọc một Nguyễn Thị Hoàng với những trang văn xuôi cháy khét những hòn than tình dục táo tợn.
            Trước bà, người ta cũng đã được đọc một Túy Hồng với những dòng chữ như những khối thuốc nổ cận giờ bộc phá.
            Và, sẽ là một thiếu sót lớn nếu chúng ta không nhắc tới một Trùng Dương qua văn chương, đã cho thấy tham vọng chiếm lĩnh ngọn cờ đầu mang tên hiện sinh, với những trang văn xuôi mở vào những cuộc phiêu lưu tình dục không duyên cớ. Ý niệm quá khứ, tương lai gần như vắng mặt, nhường sân khấu cho tình dục, khi xác thịt lên tiếng.
            Tới đây, theo tôi, đã đến lúc chúng ta nên nêu câu hỏi:
            – Lý do gì hay tại sao những truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ ngay tự những xuất hiện thứ nhất, vẫn có khả năng khuất động biển nước tình dục, trong lúc nó vốn không thiếu những con sóng cấp bảy, cấp tám, hung hãn đánh vào những thành trì bảo thủ cố cựu theo truyền thống khép kín, ngậm thinh của đa số phụ nữ Việt Nam thời đó?
            Một câu hỏi khác, theo tôi đáng kể không kém, cũng nên nêu lên là:
            – Cùng khai thác đề tài tình dục từ chỗ đứng, từ cảm nghĩ của người nữ như những ngọn hải đăng soi đường, vậy liệu có khác biệt nào chăng giữa những cây bút nữ vừa kể với cõi giới văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ?
            – Đồng thời: Sự khuấy động trong lãnh vực tính dục của những cây bút nữ kia, có mang một ý nghĩa nào khác hơn chính sự… khuấy động?
            Về câu hỏi thứ nhất, theo tôi, tuy cũng là chủ tâm mở toang cánh cửa cấm cản, phá xập hàng rào giam hãm mọi phát biểu về sinh hoạt tâm-sinh lý người nữ bởi phong tục, tập quán lâu đời của phương đông, nhất là của người phụ nữ Việt Nam… Nhưng, nếu những nhà văn nữ đi trước Nguyễn Thị Thụy Vũ như Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương hay Túy Hồng xây dựng bối cảnh tác phẩm của họ ở những thành phố lớn; với những nhân vật nữ hầu hết thuộc giai cấp trí thức, thành thị thì, bối cảnh của Nguyễn Thị Thụy Vũ lại là những nhân vật nữ tỉnh lẻ. Hầu hết không thuộc thành phần trí thức. Họ là những phụ nữ thuộc giới “chân quê”.
            Vì thuộc giới nông dân, lam lũ, ít học, cho nên những nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ không mấy bận tâm tới những vấn đề trừu tượng, như con người được sinh ra để làm gì? Định mệnh nào đã trói thúc tay chân con người và, sẽ đẩy đưa thân phận họ tới những vùi dập, lãng quên nào?
            Nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ đơn giản hơn. Chân thật, mộc mạc hơn. Mặc dù cũng buông thả theo nhu cầu của bản năng, nhưng nhân vật của tác giả “Mèo đêm” không được tác giả đắp, choàng lớp áo suy tư; sơn phết những lớp sơn triết lý lên thịt da trần trụi của nhân vật mình…
            Tuy cùng khai thác đề tài tình dục từ chỗ đứng, từ cảm nghĩ của người nữ như những ngọn hải đăng soi đường, nhưng nhân vật của Nguyễn Thị Thụy Vũ vốn gốc tỉnh lẻ, chân quê, nên bà đã không cho họ bước ra tiền trường văn xuôi với nhung lụa văn chương rực rỡ, hoặc bóng bẩy, láng lẫy chữ nghĩa như Nguyễn Thị Hoàng.
            Nhân vật của cõi-giới văn xuôi Nguyễn Thị Thụy Vũ cũng không đặt vấn đề thượng đế đã chết hay vẫn còn sống? Họ không hề thao thức, trằn trọc trước lằn ranh ăn thua đủ với Thượng đế, như trong truyện của Trùng Dương. Họ chỉ sống. Thản nhiên, sống. Như không hề cật vấn, tại sao được sinh ra?!!
            Cũng vì tính tỉnh lẻ, lam lũ kia mà, ngôn ngữ đối thoại của các nhân vật trong truyện Nguyễn Thị Thụy Vũ, cũng là những đối thoại “trực chỉ”. Không lập lòa trí thức. Không ẩn dụ kỳ khu cao siêu.
            Đáng kể hơn nữa, theo tôi là thứ ngôn ngữ mang đầy tính miền Nam. Thứ ngôn ngữ nói thẳng đuột. Khỏe mạnh. Gân guốc. Sáng rỡ.
            Thí dụ đoạn đối thoại trong truyện dài “Khung rêu”,(2) một truyện lạc khỏi dòng chảy quen thuộc của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Một truyện được tác giả đặt trên vòng quay ngược thời gian, trở lại với những chủ đề ông chủ và đầy tớ, quan lớn và lê dân, tôi đòi thời phong kiến – Khiến người đọc nhớ tới những tác phẩm từng nổi tiếng một thời của chương xã hội, tả chân, thời tiền chiến. Điển hình như tiểu thuyết “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố;(3) “Giông Tố” của Vũ Trọng Phụng(4)…
            Đó là mẩu đối thoại đầy tính chất Nam bộ, trong buổi sáng mồng một Tết, giữa bà Phủ và cô đầy tớ (đã mang theo với ông Phủ) như sau:
            “Giọng bà Phủ làm ả chợt tỉnh:
             ― Sao? Chúc ông bà năm mới cái gì đây? Nói hết câu cho bà nghe coi.
             Ngà nắm hai bàn tay vào nhau, ngập ngừng:
             ― Năm mới con chúc ông bà… trường thọ.
             Bà Phủ cười cởi mở:
             ― Dữ ác hôn?”
            Ở lãnh vực tả cảnh, cũng vậy. Nguyễn Thị Thụy Vũ không chủ tâm làm văn chương. Bà cũng không cho những cảnh tượng ghi nhận một so sánh hay liên tưởng tân kỳ nào, ngoài thứ ngôn ngữ mạnh mẽ, như những cú đấm thẳng tay. Chắc nịch.
            Thí dụ, khi tả bóng đêm đã về trên đường phố, nếu là Nguyễn Thị Hoàng người đọc sẽ được thưởng thức chí ít cũng một đoạn dài, nếu không muốn nói là có thể dài tới nửa trang viết.
            Nhưng ở thế giới văn chương Nguyễn Thị Thụy Vũ, nó đã được thu gọn trong một câu rất ngắn mà, rất gợi hình (kể cả gợi dục):
            “Bóng tối đã ôm choàng thành phố ngoài khung cửa…”
             (“Đợi chuyến đi xa”, trong “Mèo đêm”)
            Trong truyện “Lao Vào Lửa” (xuất bản năm 1967), khi tả sự ganh ghét, tỵ hiềm của những “đồng nghiệp” thâm niên trong nghề bán thân, trước sự may mắn hãn hữu của một “lính mới”, được một chàng GI bất ngờ thương yêu thành thật, mua tặng cô những món quà quý giá… qua bút pháp của mình, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã ghi lại “phát biểu” của một “đàn chị” cùng nghề:
            “Gái trinh mới có giá như vậy chớ. Còn tụi tui tan hoang như ống cống thì chỉ có cách kiếm tiền mua hột xoàn giả!”
            Với những nét đặc thù kể trên, tôi không tìm thấy một đồng dạng thấp thoáng nào giữa cõi-giới văn xuôi của những nhà văn nữ ở miền Nam và chữ nghĩa của Nguyễn Thị Thụy Vũ. Nếu không muốn nói chúng là những mặt khác thô nhám, nhầy nhụa nhất của tình dục, nhìn từ đáy bùn. Cặn bã.


DU  TỬ  LÊ               
Tháng 10/2010               

_______________________________________________________________________
(1) Francoise Sagan nữ văn sĩ Pháp, tên thật là Francoise Quoirez. Bà sinh năm 1935, mất năm 2004. Bà nổi tiếng ngay với tác phẩm đầu tay “Bonjour Tristesse” viết năm 1954, khi mới 18 tuổi. Độc giả Việt Nam khá quen thuộc với tác phẩm này, qua bản dịch “Buồn ơi chào mi”. (theo Wikipedia)
(2) Tác phẩm được trao giải thưởng văn chương bộ môn Văn, năm 1970.
(3) Ngô Tất Tố sinh năm 1893 tại phủ Từ Sơn, Bắc Ninh, nay là huyện Đông Anh, Hà Nội. Ông mất năm 1954 ở Yên Thế, Bắc Giang. Tiểu thuyết “Tắt đèn” của ông bị chính quyền Pháp cấm lưu hành năm 1939. (Theo Wikipedia)
(4) Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912 tại Hưng Yên. Lớn lên và mất tại Hà Nội năm 1939. Phóng sự xã hội “Giông Tố” được đăng tải từng kỳ trên tờ Hà Nội Báo, với tựa đề “Thị Mịch”. Trước khi xuất bản thành sách, tác giả đổi tựa thành “Giông tố”. “Giông tố” do nhà Văn Thanh xuất bản bản lần đầu tiên tại Hà Nội, năm 1937. (Theo Wikipedia)


https://dutule.com/a2865/su-khac-biet-ve-tinh-duc-trong-truyen-nguyen-thi-thuy-vu-va-cac-nha-van-nu-khac-

 
The following users thanked this post: Mua về để đấy

Đang duyệt nduytai

Re: Nguyễn Thị Thụy Vũ
« Trả lời #11 vào: 18/08/2019, 10:54:28 »


Nói Chuyện Với Nhà Văn Nguyễn Thị Thụy Vũ


Lời nói đầu: Nhờ nhà thơ Thành Tôn, chúng tôi có lại bài nói chuyện dưới đây với nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ. Cuộc phỏng vấn được thực hiện theo yêu cầu của Tạp chí Văn, hồi đầu Tháng Bảy năm 1973. Kính mời quý độc giả theo dõi, để thấy một phần nào, sinh hoạt của một trong những nhà văn nữ của văn học miền Nam, trước thời điểm Tháng Tư, 1975. Trân trọng.


Nhà văn Nguyễn Thị Thụy Vũ (Tranh Chóe)


Du Tử Lê (DTL): Xin chị cho biết sơ qua tiểu sử.
Nguyễn Thị Thụy Vũ (TV): Tên thật: Nguyễn Băng Lĩnh sinh 1939, quê ở Vĩnh Long. Vào nghề gõ đầu trẻ từ năm 1957. Chê nghề giảng tập viên lương ít nên bỏ lên Sài Gòn năm 1961, học Anh văn và đi dạy các cô bán snack bar. Vào nghề viết văn năm 1963, do sự dìu dắt của ông Võ Phiến. Cho xuất bản tác phẩm đầu tay “Mèo Đêm” năm 1966. Cùng sáng lập nhà xuất bản Kim Anh với bà Nguyễn Thị Nhiên năm 1967. Viết feuillton cho nhật báo Tiếng Nói Dân Tộc, lập nhà xuất bản Hồng Đức và Kẻ Sĩ với Tô Thùy Yên. Chính thức sống bằng nghề viết feuillton cho các nhật báo bắt đầu năm 1969 mãi đến bây giờ.

DTL: Viết văn, rồi trở thành nhà văn nổi tiếng, có phải là mơ ước từ thuở thiếu thời của chị không?
TV: Hồi thiếu thời chẳng bao giờ dám mơ ước trở thành một nhà văn nổi tiếng vì sợ được nổi tiếng trong văn đàn thì lận đận về đường chồng con như bà Đoàn Thị Điểm và Hồ Xuân Hương hoặc ở góa sớm như bà Ngọc Hân Công Chúa.

DTL: Chị đến với thế giới viết lách như thế nào, bao giờ? Chẳng hạn như chị gửi bài lai cảo, hay nhờ người giới thiệu? Tác phẩm có được đăng ngay hay bị vứt bỏ nhiều lần?
TV: Viết truyện đầu tay đưa cho ông Võ Phiến xem. Ông chê viết được nhưng mà ngắn quá. Về thêm thắt nhưn nhụy thêm vài trang. Ông Võ Phiến gật đầu: “được, được” rồi đưa cho ông Lê Ngộ Châu. Chỉ chờ đợi nửa tháng là bài được đăng. Lại tòa soạn lãnh tiền nhuận bút, được hai ông Võ Phiến và Lê Ngộ Châu đôn đốc viết tiếp nữa. Truyện ngắn thứ nhì bị chê nên đem qua Tiểu Thuyết Tuần San đăng. Truyện này được nhà thơ Nguyễn Đức Sơn viết thư khuyến khích. Viết truyện thứ ba được Bách Khoa cho đăng với vài lời khích lệ.

DTL: Chị còn nhớ tên tác phẩm đầu tiên của chị được đăng trên mặt báo?
TV: Tác phẩm đầu tiên tựa là “Một Buổi Chiều” được đăng trên tập san Bách Khoa, số thứ mấy quên mất rồi.

DTL: Chị bắt đầu được lãnh tiền nhuận bút từ bao giờ với bài gì? Và chị đã dùng số tiền đầu tiên bằng ngòi bút vào công việc gì?
TV: Bài “Một Buổi Chiều” được trả nhuận bút là 500 đồng. Muốn đến lãnh nhuận bút ngay nhưng phải đợi một tuần sau mới dám đến tòa soạn. Được tiền rồi rủ em út bè bạn đi ăn phở và đi coi đại nhạc hội. Lại ước phải chi được lãnh 1.000 đồng thì mua được cái áo nylon.

DTL: Sự viết văn ở nơi chị có được thúc đẩy bởi một đam mê hay một ẩn ức nào không?
TV: Vì cô đơn nên buồn, muốn dùng ngòi bút làm phương tiện than vãn với cuộc đời. Viết văn nói lên nỗi cô đơn được tức là bớt buồn đi một phần nào. Đó có phải là muốn giải tỏa ẩn ức hay không?

DTL: Chị có nghĩ đa số, nhà văn đều khởi đầu nghiệp viết lách của mình do nơi những ẩn ức thầm kín ở trong mình? Nhân danh độc giả Văn cũng như những người đọc chị, nếu có, xin chị nói về ẩn ức đó ở nơi chị.
TV: Riêng tôi, nếu không có ẩn ức thì làm sao có động cơ thúc đẩy để cầm bút được. Ẩn ức thúc đẩy tôi viết là muốn tìm một đối tượng tình yêu. Vẽ được một nhân vật tình yêu trong tác phẩm, tức là phải dựa vào chân dung hoặc cá tính của một người nào đó ở ngoài cuộc đời mà mình thầm yêu.

DTL: Luôn luôn gần như là đa số, trong những tác phẩm được viết ra, người đọc nhận thấy một điều, nhân vật của chị hầu như sống để chờ đợi những cuộc truy hoan. Đâu là sự thực tính cách đặc biệt này trong văn chương của chị? Có thể coi là tình cờ được chăng? Nếu ngược lại thì tại sao? Chị có dụng ý gì? Chị muốn nói những gì qua khía cạnh rất “người” này?
TV: Đa số nhân vật của tôi đều là những nhân vật cô đơn. Rất có thể họ chờ đợi một cuộc truy hoan mà tôi không thấy đó là điều chướng tai gai mắt. Một người cô đơn có thể sa ngã trước bất cứ một cuộc hấp lực nào của cuộc truy hoan lắm chứ. Nếu cho họ dùng lý trí chống lại cái hấp lực đó là một việc làm gượng ép vậy. Cái dụng ý của tôi hả? Đó là không tạo một nhân vật nào là tiên thánh hay bồ tát cả. Vì cô đơn mà sa ngã, vẫn là một chuyện đáng thương, tuy không đáng khuyến khích chút nào.

DTL: Sau một thời gian đào sâu vấn đề dục tính, chị tìm thấy gì ở đề tài này?
TV: Dùng dục tính làm phương tiện diễn tả tâm trạng khao khát nhục thể là một việc làm có tính cách nghệ thuật. Viết về vấn đề dục tính để kích thích sự ham muốn nhục dục cho độc giả thì thà làm kẹo hoặc chocolate để cho khách làng chơi hâm sôi cảm hứng lúc ăn nằm còn đỡ mang tội với Trời Phật hơn.

DTL: Chị có nghĩ rằng một ngày nào đó, chị sẽ chuyển hướng đề tài của chị sang hẳn một khía cạnh khác, và chị có tin chị sẽ tiếp tục thành công ở lãnh vực mới đó?
TV: Hiện nay, tôi đang viết loại truyện tình thơ mộng cho lứa tuổi thích ô mai. Tôi vẫn biết đó là những tác phẩm không có chiều sâu lắm, nhưng có thể làm cho tuổi trẻ quên mất đi một phần nào hậu quả bi đát do chiến tranh gây ra. Chẳng hiểu tôi có được thành công hay không? Văn của tôi vốn trắng trợn, chứ không tươi mướt để diễn tả một cuộc tình thơ mộng, nhưng tôi phải nghiên cứu lại về vấn đề này.

DTL: Chị viết văn như thế nào? Đánh máy hay viết tay. Viết đêm hay ngày… Nghĩa là những thói quen của chị trong lúc viết? Chị có cần tới những thứ trợ giúp tinh thần như cà phê, thuốc lá, rượu.
TV: Thường thì tôi viết tay rồi cho đánh máy lại vì có mặc cảm rằng chữ mình viết xấu. Nhưng viết feuilleton thì tôi viết bằng tay phần nhiều. Lúc viết, dạo trước tôi uống trà mỗi khi đọc lại từng trang một. Sau này, tôi thường uống sữa trộn đá. Tuyệt đối là không dùng cà phê vì sợ mất ngủ.

DTL: Người ta thường cho rằng không ít thì nhiều, tình cảm của nhà văn thế nào cũng nghiêng, nặng với một nhân vật nào đó, trong số những nhân vật họ xây dựng. Chị có bị vậy không?
TV: Hình như tôi thường nghiêng nặng về những nhân vật cynique hơn là những nhân vật sống hợp lý với cuộc đời… Có lẽ tôi sống giữa lũ bạn bè cynique nhiều quá chăng?

DTL: Chị có dựng cốt truyện với cái sườn trước khi viết không? Tên truyện được chị đặt vào lúc nào?
TV: Viết truyện dài theo thể thức feuilleton, tôi chỉ phác họa cái dàn bài ở trong đầu óc mà thôi. Viết những truyện ngắn cho các tập san đứng đắn, tôi thường viết dàn bài đàng hoàng trên giấy.

DTL: Đời sống thực tế, với những kinh nghiệm nếm trải đã đóng góp như thế nào trong tác phẩm của chị?
TV: Đời sống thực tế với những kinh nghiệm nếm trải đã làm cho độc giả quên đi một phần nào bút pháp rặt một giọng miền Nam đầy gai góc của tôi.

DTL: Tính trung bình, có chừng bao nhiêu phần trăm sự thực trong văn chương của chị?
TV: Tính trung bình, hầu như tôi viết văn dựa trên 70% sự thực. Vì tôi bịa không khó, nên tìm những nhân vật mà tôi đã quen thêm ở ngoài đời để đem vào văn chương. Có khi tôi dùng hai người ở ngoài đời cộng lại rồi chia cho hai để vẽ một nhân vật trong tác phẩm.

DTL: Làm cách nào người ta có thể viết cùng lúc nhiều feuilleton khác nhau cho nhiều nhật báo mà không bị lẫn lộn, nhầm lẫn nhân vật cốt truyện. Chị có bị lầm lộn lần nào chưa? Chị kể được chăng? Nếu có.
TV: Vì viết nhiều feuilleton mà không có đặt dàn bài trên mặt giấy nên tôi dễ bị lẫn lộn, nhầm lẫn nhân vật và cốt truyện. Bởi lẫn lộn nhầm lẫn như vậy nhiều quá nên tôi cũng quên mất rồi.

DTL: Nếu không kể feuilleton, thì thời gian trung bình là bao lâu, cần thiết để chị hoàn tất một truyện ngắn hay một truyện dài?
TV: Nếu không viết feuilleton, có thể là mỗi năm tôi hoàn tất một tác phẩm là cùng. Viết sách càng tốn nhiều thì giờ thì mới có những tác phẩm đào sâu đến những vấn đề chi ly hơn trong cuộc sống.

DTL: Hiện tại chị kiếm được bao nhiêu tiền một tháng bằng vào ngòi bút của mình.
TV: Xin miễn trả lời.

DTL: Sự có gia đình, có con cái ảnh hưởng gì tới công việc viết văn của chị?
TV: Không có ảnh hưởng.

DTL: Chị có còn đủ thì giờ để dành cho con cái và gia đình như một người đàn bà Việt Nam bình thường? Nếu không, chị thấy gì về sự việc đó?
TV: Tôi vẫn chia con người tôi ra làm hai mẫu: Một bà mẹ và một nhà văn. Khi quăng cây bút xuống, là tôi làm bếp hoặc đốc thúc người nhà chăm sóc nhà cửa hoặc chơi giỡn với các con. Hình như trong vòng sáu năm nay tôi chỉ coi có ba phim hát bóng, dự chỉ vỏn vẹn hai cuộc tiếp tân là cùng.

DTL: Chị lập gia đình với một người cùng theo đuổi một công việc, viết lách. Chị có những kinh nghiệm gì về sự kết hợp này?
TV: Xin miễn trả lời câu nầy, vì tôi là người mẹ độc thân.

DTL: Chị có đọc những nhà văn nữ đồng thời? Nếu có, tác giả nào được chị ưa thích hơn cả? Tại sao?
TV: Đã đọc những tác phẩm đầu của 5 nhà văn nữ cùng thời. Thích nhất là truyện “Thở Dài” của Túy Hồng diễn tả tâm trạng những nhân vật giống như tâm trạng của mình. Do đó, lúc đầu viết văn bị sa vào cái ảnh hưởng của văn Túy Hồng. Sau đó dùng nhiều cố gắng để xa lánh tầm ảnh hưởng đó.

DTL: Nhà văn nam nào được chị đọc nhiều nhất và ưa thích hơn hết. Tại sao?
TV: Võ Phiến làm cho tôi thán phục ở quyển “Phù Thế” và tôi thích truyện “Một Ngày Để Tùy Nghi” trong tác phẩm nầy. Ở Võ Phiến tôi tìm được những khám phá bất ngờ của đời sống.

DTL: Nếu cho chị đi lại từ đầu, chị có chọn nghề viết văn? Tại sao?
TV: Xin miễn trả lời.

DTL: Chị có để ý tới hiện tượng tràn ngập sách dịch trên thị trường chữ nghĩa? Mãi lực sách của chị có bị ảnh hưởng không?
TV: Nếu dịch những tác giả lớn của Âu Mỹ để in ra sách là một hiện tượng đáng mừng. Đừng dịch loại tiểu thuyết tình của Y Đạt, Quỳnh Dao, Quách Lương Huệ mà in thành sách quá nhiều vì các tác giả nầy không đáng để một nhà văn đứng đắn nào ở Việt Nam học hỏi cả. Quỳnh Dao là một khí cụ để cho nhiều dịch giả bất lương giết hại sinh hoạt văn nghệ Việt Nam rất nhiều.

DTL: Cả Lệ Hằng nữa? Chị có những ý nghĩ gì về cô này?
TV: Tôi chưa được đọc tác phẩm nào của Lệ Hằng vì nàng chưa bao giờ viết trên các tạp chí như Bách Khoa, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn Nghệ, Vấn Đề và Văn. Tôi chỉ quen đọc những tập san nầy mà thôi, nếu nhà văn nào viết báo khác thì tôi không hân hạnh đọc văn phẩm của họ.

DTL: Chị có đồng ý (gạt trường hợp cá biệt ra) với một nhà văn uy tín, từng nói rằng: “Đàn bà không nên viết văn. Làm bất cứ một việc gì khác cũng đều tốt, trừ viết văn”?
TV: Không đồng ý với bất cứ nhà văn nào cho là đàn bà không nên viết văn. Nếu người ta dùng chữ đẹp trai gán cho đàn ông thì cũng có thể đem nhãn hiệu nhà văn dán lên cho phụ nữ vậy.

DTL: Chị có lời khuyên nào dành cho những cô muốn bước chân vào con đường chị đang đi?
TV: Các cô viết văn nữ sau tôi phải viết những vấn đề sâu rộng hơn tôi. Một nhà văn nữ mà tôi đặt nhiều kỳ vọng đó là chị Trần Thị NgH.

DTL: Chị có để ý tới thời trang? Thú giải trí của chị là gì?
TV: Mê mặc những áo dài tay raglan cũng như mê làm những món ăn ngon cho mình và cho sắp nhỏ.

DTL: Một câu hỏi chót, chị có muốn nói gì thêm ngoài những điều ghi trên, với độc giả của chị?
TV: Không

DTL: Thay mặt độc giả Văn trân trọng cám ơn chị.


DU  TỬ  LÊ               

_______________________________________________
Giai phẩm Văn, số đề ngày 16 Tháng Bảy năm 1973.


https://www.dutule.com/p124a4867/29/noi-chuyen-voi-nha-van-nguyen-thi-thuy-vu-ky-1-
https://www.dutule.com/p124a4879/29/noi-chuyen-voi-nha-van-nguyen-thi-thuy-vu-ky-2-