Tác giả Chủ đề: Tô Thùy Yên  (Đã xem 2640 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi vuhatue

Tô Thùy Yên
« vào: 03/07/2010, 17:54:40 »
TÔ THÙY YÊN (1938 -    ) - nhà thơ



Tiểu sử:
Nhà thơ Tô Thùy Yên tên thật là Đinh Thành Tiên, sinh ngày 20-10-1938 tại Gò Vấp, Gia Định. Ông học qua Petrus Ký và Đại Học Văn Khoa Sài Gòn. Bước đường văn nghệ của ông được khởi nghiệp từ Tạp chí Sáng Tạo do Mai Thảo chủ trương tại Sài Gòn những năm đầu thập niên 1960. Ông là một trong những cây bút nòng cốt của nhóm Sáng Tạo. Thơ Tô Thùy Yên xuất hiện đều đặn trên các tạp chí văn hoc và được đón nhận như luồng sáng tạo mới về kỹ thuật cũng như cấu trúc thi ngữ.

Hiện ông đang định cư tại Hoa Kỳ.

Tác phẩm:
   - Hồn Thụy (tiểu thuyết)
   - Tuyển tập truyện ngắn
   - Phận Người (dịch tác phẩm của André Malraux)
   - Thơ Thùy Yên (1995)
« Sửa lần cuối: 03/07/2010, 19:43:21 gửi bởi vuhatue »
 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Tô Thùy Yên
« Trả lời #1 vào: 03/07/2010, 19:43:50 »

Chữ ký nhà thơ Tô Thùy Yên
 

Ngủ rồi unreader

Re: Tô Thùy Yên
« Trả lời #2 vào: 30/12/2014, 17:39:33 »
Thắp Tạ
Nxb An Tiêm, in tại Houston, Hoa Kỳ, 2004



« Sửa lần cuối: 16/11/2017, 15:45:11 gửi bởi unreader »
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tô Thùy Yên
« Trả lời #3 vào: 26/05/2019, 13:39:56 »


Giấc Mơ Không Dứt Đó Của Thần Linh


Thơ Tô Thùy Yên nói tuyền về một nỗi khắc khoải của cuộc nhân sinh, niềm vô vọng trước sự bí nhiệm không cùng của vũ trụ. Ông được nhiều người đọc. Người đọc ông ở đủ lớp tuổi, thuộc nhiều thành phần khác nhau. Được thế vì ngôn ngữ thơ ông tuy tân kỳ nhưng lại vô cùng cũ, vô cùng dân gian: Đôi bàn tay vỗ nháng âm thanh… (Mòn Gót Chân Sương Nắng Tháng Năm), Nỗi đời bi thiết xé lưa tưa. Hòn ngói lia bay bay mặt nước (Tưởng Tượng Ta Về Nơi Bản Trạch), Đời im lìm đóng váng xanh xao (Ta Về)Nhưng người thơ trước sự bí nhiệm ấy không chỉ cúi rạp xuống, và dù có khòm lưng vì gánh nặng nhân sinh vẫn không ngừng hỏi han bản thể mình. Cái linh của người gặp cái thần của chữ để bày tỏ giấc mơ không dứt mong rời bỏ thân phận con người vô ích sáng choang (như món trang hoàng đeo lên Hư Vô đen ngời bóng lộn) mà tới nơi vĩnh cữu, vô biên… Nhà thơ Tô Thùy Yên hiện sống tại Saint Paul, Minnesota. Bài này được thực hiện qua nhiều cuộc nói chuyện, hoặc bằng điện thoại, hoặc bằng thư từ, trong thời gian khoảng hơn một tháng, xong trước tháng 11-1998.


Tô Thùy Yên
sơn dầu trên vải bố 40 x 40 in
đinhcường


Nói chuyện với Nhà thơ Tô Thùy Yên
            ― Sang bên này anh mới cho xuất bản tập thơ đầu. Qua thơ anh, người đọc có thể đoán rằng anh ngả theo chủ thuyết hư vô, phải thế không? Nên việc có để lại thơ hay không, không quan trọng. Nếu thế sao bây giờ đủ quan trọng để in thơ?
            ― Tập thơ xuất bản năm 1996 của tôi ở Mỹ không hẳn là tập thơ đầu mà chỉ là một gom chọn phần lớn những bài thơ đã xuất hiện từ lâu của tôi, như cái tên đặt cho nó, THƠ TUYỂN.(1) Hiểu đó là những bài thơ rải rác của tôi lần đầu in thành tập có lẽ đúng hơn. Tại sao không in thành tập trước năm 1975, bây giờ mới in? Câu hỏi này, nhiều người đã đặt ra cho tôi. Thật tình, tôi không muốn giải thích làm ra quan trọng sự việc đó. Nhưng đã được hỏi thì tôi cũng xin nói qua.
            Trước năm 1975, sở dĩ tôi đã không gom thơ in thành tập, chủ yếu là vì tôi không bận tâm lắm về duyên phận những bài thơ đã đăng báo của mình. Tôi thiết nghĩ nếu những bài thơ đó hay thì người đọc nhớ, không hay thì bị quên, hà tất phải in thành tập. Mặt khác, tôi vẫn cảm thấy còn có nhiều bất ổn đáng tiếc trong những bài thơ đó nên có ý lần lữa tự hẹn lúc nào rảnh rang sẽ làm siêng gom góp sửa sang. Và điều đó cứ gay gắt với tôi như là mình đã không làm trọn vẹn trách vụ.
            Sau này, ngay khi còn đang ở trong tù và nhất là khi đã sang Mỹ, tôi được một số anh em nhắc hỏi về những bài thơ đó, những bài thơ mà tôi hầu như chẳng còn nhớ mảy may nào. Và tôi chợt nhận ra cái lỗi trước kia của mình là đã công bố những bài thơ đó. Cuối cùng, được sự khuyến khích thúc giục của một số anh em xa gần, đã quen hoặc chưa, nhất là những anh em đã lưu giữ thơ tôi và gửi lại cho tôi, kể cả những bài thơ được làm trong những hoàn cảnh đặc biệt sau năm 1975, tôi đã tuyển chọn in ra thành tập. Thâm tâm, tôi cũng muốn những bài thơ đó đã lỡ được biết đến, thôi thì cũng một lần được mồ yên mả đẹp, siêu tán phiêu diêu, để tôi còn được nhẹ nhàng tiến tới những bài thơ khác, tôi hy vọng như vậy.
            Thêm nữa, tôi cũng còn muốn, qua việc xuất bản đó, gián tiếp nói lên […] rằng tôi, giữa đông đảo những người cầm bút khác của miền Nam trước đây, đã chẳng hề chối bỏ những tác phẩm đã được hình thành trong quá khứ của mình, rằng qua bao nhiêu dập vùi đày đọa, những thi sĩ vẫn còn sống, thơ vẫn còn sống.

            ― Còn về chủ nghĩa hư vô?
            ― Xin lỗi vậy. Câu hỏi đó thuộc vào loại câu hỏi khó chịu đấy. Yêu cầu một tác giả tự nhận định, ước lượng về mình quả là một sự ép cung hay mớm cung. Soi sáng một tác giả là một việc làm rất cần thiết. Tuy nhiên, rất tiếc đó không phải là công việc của chính tác giả đó. Một tác giả muốn nói gì, nói tới đâu, nói được bao nhiêu là chỉ nói qua sáng tác văn chương của mình, chớ không thể nói gì thêm bên ngoài sáng tác đó. Điều này mặc nhiên thuộc về phần tu sỉ của tác giả, phần đức lý của nghệ thuật. Như Alfred de Vigny, đọc sách, ít khi tôi chịu đọc những bài tựa bạt của chính tác giả.

            ― Chỉ có những người yếu bóng vía mới bị ép cung hay mớm cung thôi chứ! Nếu “soi sáng tác giả là một việc làm rất cần thiết” thì độc giả rất cần biết ý kiến của tác giả vì tác giả cũng chính là độc giả đầu tiên của mình. Trong tinh thần đó, mọi câu hỏi chỉ có nghĩa rất giản dị là chờ đợi một sự chia sẻ giữa tác giả và độc giả, không có nghĩa là một sự hỏi cung. Nếu hỏi cung đã có những câu hỏi khác không dính gì đến cuộc đời làm thơ của anh đâu!
            Đây sẽ lại là một câu hỏi còn “khó chịu” hơn nữa nhưng vẫn hỏi! Cho đến nay, ở ngoại quốc nghĩa là ở ngoài Việt Nam – đã không có một thế hệ mới nào khả dĩ có thể kế tục những thế hệ trước về mặt sáng tạo và tài năng. Về tuổi tác, kế thế hệ Nhượng Tống, Phan Khôi, Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Bính, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử… người đọc nghĩ đến thế hệ Vũ Khắc Khoan, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Mặc Đỗ, Trần Trọng San, Võ Phiến, Bình Nguyên Lộc, Mai Thảo, Sơn Nam, Bùi Giáng, Nguyên Sa… Rồi tới thế hệ Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn, Dương Nghiễm Mậu, Lê Tất Điều, Nguyễn Đình Toàn…
            Xét về thơ, thế hệ anh còn vượt trội hơn cả. Bài “Nỗi Buồn Trong Thơ Hôm Nay” của Thanh Tâm Tuyền, “Cuộc Phó Hội U Minh” của Viên Linh và mới đây, bài của anh là ba bài viết về thơ tiêu biểu ở ba thời điểm, ba hoàn cảnh khác nhau của thế hệ này. Cứ theo tình hình này mà ngẫm thì sau thế hệ các anh, độc giả sẽ phải đối diện với một khoảng cách đặc (chữ của anh). Không khéo, “Nỗi Buồn Trong Thơ Hôm Nay” sẽ còn đúng cho ít nhất là mươi mười năm nữa sao?

            ― Câu hỏi này chẳng những khó trả lời mà là không nên trả lời. Văn nghệ không phải là thời tiết, nên tiên đoán thế này, thế kia về tương lai văn nghệ là một việc làm hoàn toàn vô ích, bởi mọi tiên đoán thường chẳng lấy gì làm đúng, và nếu như có may mắn đúng đi nữa thì cũng chẳng để làm gì cả.
            Hiện tình văn nghệ có tới đâu rồi thì nhìn thấy tới đó thôi. Nhiều khi có những tài năng lớn đã sừng sững xuất hiện rồi mà còn chưa được nhìn thấy ngay nữa, huống hồ… Tuy nhiên, ai lại chẳng mong mỏi là văn nghệ mỗi ngày một mới mẻ, một khởi sắc cho phù hợp với nhu cầu tinh thần của cuộc sống đã không ngừng biến đổi. Là nỗi buồn trong thơ hôm nay phải cho ra nỗi buồn trong cuộc sống hôm nay. Khỏi hỏi qua, tôi cũng chắc Thanh Tâm Tuyền hoàn toàn đồng ý như vậy. Tôi sung sướng được đọc những tác phẩm hay, và còn sung sướng hơn gấp bội nếu những tác phẩm hay đó lại là của những tác giả mới trẻ. Có người cùng chạy với mình vẫn vui thích hơn là chạy thui thủi một mình. Tiền đã bất kiến cổ nhân, hậu lại bất kiến lai giả, cái cảnh quạnh hiu đó quả là đáng sợ.

            ― Đây chúng ta không nói đến chỉ một tác giả. Và nhận xét trên dựa trên những thế hệ tác giả đã xuất hiện sừng sững rồi. Quả như anh nói, người ta không nên bắt mạch văn nghệ để xem tương lai phấn chấn hay èo uột ra sao. Mượn lời – chứ không phải mượn ý – Văn Cao thì văn nghệ không phải là một con bệnh, lâu lâu lại phải đi khám, hay chủng ngừa những bệnh hay lây. Nhưng vẫn có những vấn đề văn nghệ đáng chú ý tới.
            Thí dụ như đã có rất nhiều nỗ lực để giải nghĩa một hiện tượng được loay hoay bàn thảo từ nhiều năm nay, là tại sao chúng ta không có tác phẩm lớn ghi lại sự khốc liệt của thời kỳ qua. Chưa nói đến tác phẩm lớn vội, nhiều người còn mày mò đi tìm lý do của sự hao kiệt, cùn mằn của một số tác giả có tên tuổi trước 1975. Một bài “Ta Về” của Tô Thùy Yên không đủ lớn sao? Biến cố 1975 có lẽ giúp chúng ta được một điều là chúng ta sớm có hoàn cảnh để thẩm định lại giá trị văn chương của nhiều tác giả. Có lẽ khỏi cần đi tìm nguyên nhân đâu cho xa xôi, một số tác giả chỉ có thể viết tới đó mà thôi. Bởi thế, kỳ vọng vào những tác giả này vô ích. Anh định nghĩa một tác phẩm quan trọng như thế nào?

            ― Tôi đồng ý phần lớn với cô. Quả biến cố 1975 đã đẩy ra nhanh chóng hơn cái khoảng cách thời gian thông thường cần thiết để nhận định giá trị thật sự của những tác phẩm văn chương. Mặt khác, sự đàn áp có hệ thống bằng cách cấm đoán và cố tình im lặng của một chế độ chính trị cũng góp phần rất lớn vào tiến trình khắc nghiệt đó. Lý do chính yếu rất dễ nhìn thấy là lịch sử và ngay kế sau là đời sống đã biến đổi toàn diện, triệt để, cho nên nghệ thuật cũng đã phải nhanh chóng biến đổi theo.
            Sinh hoạt văn học nghệ thuật thời nào cũng có cái phần giả hình tạm bợ của nó. Và đương nhiên cái phần này dễ dàng tan tác thảm hại theo ngay cái thời đại đã cho nó mượn hồn. Người ta gọi một cách đơn giản đó là sự đãi lọc của thời gian. Lịch sử loài người mang một đặc tính, đặc tính gia tốc liên tục. Do đó, so qua với những thời đại trước đây, nghệ thuật càng ngày càng thay đổi nhanh chóng hơn.
            Đành rằng không thể gạt bỏ yếu tố thời đại trong sinh hoạt văn học nghệ thuật, nhưng cuối cùng rồi, văn học nghệ thuật chỉ trọn vẹn là vấn đề tài năng mà thôi. Một trường võ bị không đào tạo anh hùng. Cũng y như vậy, một thời đại không đào tạo thiên tài văn học nghệ thuật. Đó là những sự kiện hoàn toàn có tính cách cá nhân. Và có thể một cá nhân thích hợp với một thời đại, nhưng rồi lại chẳng còn thích hợp với thời đại kế tiếp. Cứ bóc đại một thí dụ nào cũng chắc đúng. Chẳng hạn thi tài lỗi lạc Xuân Diệu trước 1945, và cái ông làm thơ tồi Xuân Diệu sau 1945. Rất đáng tiếc cho Xuân Diệu đã chẳng có nổi cái bản lãnh cần thiết của Boris Pasternak, tác giả đã thành danh trước Cách Mạng Nga 1917.

            ― Còn thế nào là một tác phẩm quan trọng?
            ― Theo thiển ý của tôi, một tác phẩm quan trọng là một tác phẩm gây được chấn động lớn nơi tâm não người đọc khiến cho sau đó, người đọc, dù là đồng ý hoặc không, vẫn phải tự mình điều chỉnh, thay đổi bằng một cách nào đó chính nhận thức của mình về đời sống. Một tác phẩm quan trọng có ma lực ám ảnh lâu dài người đọc, khiến người đọc còn muốn trở lại như bị bứt rứt là mình chưa hiểu được nó thấu đáo. Một tác phẩm quan trọng bao giờ cũng còn khư khư chứa giấu một cách hấp dẫn những điều gì đó, không chịu thổ lộ hết một lần một. Tính u hiển là tính phải có của nghệ thuật vốn cả thẹn nên sẵn sàng dị ứng sinh tử với mọi phô bày phàm tục. Chắc chắn không phải là tác giả cố tình mập mờ huyền hoặc một cách giả tạo, mà chỉ vì nghệ thuật hoàn toàn không có khả năng nói rõ, nói trắng những điều gì đó thật khó nói. Do đó, thông thường một tác phẩm quan trọng có cái phản lực nội tại chối đẩy đối với lần xâm nhập đầu tiên của người đọc. André Gide kể lại là sau khi đọc chừng vài chục trang, ông đã tức ném cuốn LA CONDITION HUMAINE xuống Địa Trung Hải.(2)

            ― Bài “Ta Về” được chuyển ra ngoại quốc khi anh còn ở Việt Nam. Thay vì tên tác giả là hai chữ Ẩn Danh. Bài thơ này gây xúc động sâu xa. Có bao giờ làm thơ, anh nghĩ đến phản ứng của độc giả, nhất là trong tình cảnh mà anh làm bài “Ta Về”?
            ― Có đôi khi, tôi cũng thử viễn kiến phản ứng của một vài độc giả mà tôi quen biết, đối với một bài thơ nào đó của tôi. Nhưng thường thì không, nhất là khi đang còn làm bài thơ đó. Bởi lẽ tôi làm thơ trước hết là vì tôi, cho tôi, đơn giản là như vậy. Sau khi làm xong, nếu không vứt vào sọt rác, để một thời gian có khi lâu vài năm, cảm thấy thích cho đăng thì liệu báo nào chịu đăng thì gửi đăng, vậy thôi. Chớ tôi chẳng bao giờ tự đặt trước cho mình một trách nhiệm, một sứ mạng văn học nghệ thuật nào cả.
            Tôi rất sợ những nhận định, cương lĩnh, tuyên ngôn văn học nghệ thuật này nọ. Những thứ đó quả là quá to tát với tạng người của tôi. Tất nhiên, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những bài thơ đã cho đăng của tôi, một trách nhiệm, xét cho cùng, cũng chỉ là một trách nhiệm hữu hạn. Hơn nữa, như đã nói, tôi cũng không quan tâm mấy đến duyên phận của những bài thơ tôi. Dù rằng mỗi bài thơ, như mỗi cuộc đời, đều có số phận riêng biệt của nó, hoàn toàn ở ngoài tầm kiểm soát và sự lường đoán của chính tác giả.
            Riêng bài “Ta Về”, khi làm xong, tôi chỉ có chép ra một hai bản cho một hai người bạn của tôi, và trong hoàn cảnh của chúng tôi lúc bấy giờ, dưới những bài viết chuyền cho nhau xem chơi, không ai đề tên tác giả cả. Và tự tôi đã chẳng hề gửi nó ra ngoài. Cho đến bây giờ, tôi cũng chưa biết nó đã lọt ra ngoài qua ai và bằng cách nào nữa.

            ― Khi nào thì anh cảm thấy “thích cho đăng”?
            ― Lúc tôi quyết định cho đăng những bài thơ đã làm chính là lúc tôi tưởng nghĩ đến những tâm hồn bạn đã quen hoặc không trong trời đất hẳn nhiên cũng có những trôi nổi ở trong lòng cần tìm thấy một chút ấm áp vỗ về của tình liên đới nhân sinh, với niềm hy vọng rằng thơ trở thành miền đất hứa của những tâm hồn thất lạc xót thương nhau.

            ― Bài thơ “Chiều Trên Phá Tam Giang”, một trong những bài thơ điển hình nhất của anh, đã không thể đăng trên báo Văn năm 1972 vì qua lời nhà văn Mai Thảo nói lại với nhà thơ Viên Linh thì chủ nhiệm Nguyễn Đình Vượng sợ báo Văn bị lôi thôi với cơ quan kiểm duyệt và có thể bị đóng cửa. Lúc đó, Viên Linh, chủ nhiệm và chủ bút tạp chí Thời Tập, mới liên lạc với anh và do đó bài này đăng trên tờ Thời Tập. Hẳn nhiên, sự lo ngại của chủ nhiệm Nguyễn Đình Vượng là có căn cớ. Tình trạng chính trị lúc bấy giờ chắc chắn không dung thứ những câu:
                        Ngươi cùng ta ai thật sự hy sinh
                        Cho tổ quốc Việt Nam – một tổ quốc…
            Hay ghê gớm hơn nữa:
                        Ta thương ta yếu hèn,
                        Ta thương ngươi khờ khạo,
                        Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng,
                        Nên cả hai cùng mắc đường Lịch Sử,
                        Cùng mê sa một con đĩ thập thành…
            Thơ anh, trước năm 1975, có những điều có thể làm mích lòng bà nạ dòng kiểm duyệt. Sau năm 1975, con đĩ thập thành nhốt anh vào tù cũng vì thơ. Thế kiếp sau anh còn muốn làm thi sĩ nữa không? Đừng nói kiếp sau, tại sao anh vẫn làm thơ ở kiếp này?

            ― Có lẽ tôi là người làm thơ đã vô phước mắc phải nhiều lận đận điêu đứng với văn chương vô mệnh. Nói như trẻ con miền Nam: Thần khẩu hại xác phàm. Những lúc đó, tôi nghĩ đến Khuất Nguyên, Tư Mã Thiên, Cao Bá Quát… để thấy mình còn được may mắn chán. Còn việc có tiếp tục làm thơ nữa hay không quả không thể là quyết định của mình, nhiều khi tôi cũng muốn bỏ quách việc văn chương đi và thực tế đã bỏ nhiều lần lắm rồi, có lần đến mấy năm trời, chớ chẳng phải là không, cũng như bỏ thuốc lá. Và như đã nói, tôi làm thơ là vì tôi, cho tôi, nên nếu thơ còn là nguồn hạnh phúc tối hậu của tôi, nếu tôi còn thấy cần làm thơ thì làm, kiếp này đã vậy, chắc hẳn qua những kiếp sau cũng như vậy nữa mà thôi. Bởi tôi đã quan niệm ngay từ đầu rằng thi sĩ là một trạng thái sống, chớ chẳng phải là một danh phận xã hội gì cho cam, nên việc còn làm thơ nữa hay không chẳng phải là chuyện phải nói ra cho mọi người cùng biết với.
            Tôi nhớ một bài thơ của Basho:
                        Con ve sầu
                        Liệu có còn ca hát chăng
                        Nếu như nó biết được thêm một thứ gì khác nữa?(3)

            ― Là người của nhóm Sáng Tạo, anh thấy cái không khí trong nhóm thế nào? Khi tờ Sáng Tạo đình bản lần đầu, anh có cộng tác với tờ Văn Nghệ. Không khí của tờ Văn Nghệ ra sao? Nói chung, sinh hoạt văn nghệ của anh như thế nào?
            ― Mặc dù gồm nhiều lứa tuổi chênh lệch nhau, nhiều nghề nghiệp khác biệt nhau, những người trong nhóm Sáng Tạo, người thân ít, người thân nhiều, nhưng đều là thân với nhau cả, không có ai là đầu đàn, ai là cuối đàn. Gọi là nhóm chớ thực tế, tất cả chúng tôi đều hoàn toàn biệt lập nhau, chúng tôi chỉ cùng chia sẻ với nhau một số quan điểm đơn giản về văn nghệ, thế thôi. Bài vở chọn đăng, gần như một mình Mai Thảo làm lấy, không hỏi ý kiến ai. Về thưởng ngoạn nghệ thuật, Mai Thảo tinh tế thính nhậy, hình như ảnh chưa từng nhìn sai, bỏ sót một tài năng mới nào. Hơn nữa, Mai Thảo rất xứng đáng trong vai trò chủ báo, ảnh hân hoan một cách thần khải mỗi khi có dịp phát hiện một bài viết hay, hoặc một tác giả hứa hẹn sẽ viết hay ở những bài viết sắp tới. Sau này, ở đâu, ảnh có làm xã trưởng văn nghệ thì cũng phải thôi. Nói chung, thời gian Sáng Tạo ngắn ngủi là thời gian văn nghệ hào hứng nhất trong đời tôi. Sau này, có thêm tuổi trải qua nhiều cảnh đời, tôi không còn tìm thấy một hào hứng nào tương tự. Một thời thế đã đi qua, một lứa tuổi của mình đã không còn nữa. Còn lại chăng chỉ là tình bạn một đời giữa những người trong nhóm.
            Tôi đến với tờ Văn Nghệ vì chơi thân với chủ nhiệm Lý Hoàng Phong, anh ruột của Quách Thoại. Lý Hoàng Phong là một người bạn rất tốt, tận tâm, dung dị và rất dễ gần gũi. Thể theo lới yêu cầu của Lý Hoàng Phong, tôi đảm nhận chức vụ Tổng Thư Ký Tòa Soạn cho đến cuốn năm 1963 khi nhận được lệnh nhập ngũ Khóa 17 Thủ Đức. Tờ Văn Nghệ tiếp tục cũng cố tên tuổi cho nhiều cây bút trẻ mới. Ở đó, tôi thân với vài người bạn, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Trung, Nguyễn Nghiệp Nhượng… Nhìn chung, tất cả những cây bút cộng tác đều đã thể hiện những nỗ lực tuyệt vời, chỉ tạm kể vài cái tên: Viên Linh, Nguyễn Đức Sơn… Tuy nhiên, cái không khí văn nghệ chung của miền Nam lúc bấy giờ không còn được như trước nữa. Chiến tranh lan lớn. Các tác giả không còn mấy ai rảnh rang.
            Nhìn lại, tôi tự thấy mình là một tác giả gần như không có cái gọi là sinh hoạt văn nghệ, hoặc giả nếu có thì cũng chỉ là năm thì mười họa, mon men loáng thoáng bên lề thế giới văn nghệ mà thôi, dù rằng tôi rất yêu thích, trân trọng những buổi họp mặt thân hữu trò chuyện thực sự thú vị và bổ ích.
            Phải, tôi có rất ít bạn đáng gọi là bạn. Thì giờ rảnh, chắc chắn tôi thích, hoặc một mình hoặc với đôi ba người bạn, thả rong ra đồng, lên rừng xuống biển hơn là ngồi làm mẫu ở những quán cà phê, phòng trà. Hơn nữa, tôi cũng ngầm hãnh diện là chưa từng gia nhập bất kỳ một hội đoàn văn hóa văn nghệ, hay một đảng phái chính trị nào. Mặc dù, sau này, khi bị nhà cầm quyền bắt tới bắt lui vì thơ phú chữ nghĩa, nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tinh thần và vật chất của nhiều hội đoàn ngoài nước, bất ngờ làm hội viên danh dự của một số Trung Tâm Văn Bút ngoại quốc, tôi vẫn chưa là hội viên thông thường của Văn Bút, chẳng hạn. Cũng như có rất nhiều tác giả nổi tiếng cùng thời, lớn tuổi hoặc trẻ tuổi hơn, mãi đến bây giờ, tôi vẫn chưa được hân hạnh làm quen hay biết mặt. Mấy năm nay, sang Mỹ, tôi ở Minnesota, đất này xa xôi lạnh lẽo, thưa người và tôi cũng ít giao du.

            ― Anh nói rất đúng: đã không phải cái tạng hay cái ý chí của mình thì không nên. Không phải ai cũng là một nhà thơ được như anh, nên không phải nhà văn nào cũng vừa cầm bút vừa là đảng viên mà tuy phân cách rõ ràng hai phần, phần nào cũng xuất sắc, cũng cống hiến được toàn vẹn như Nhượng Tống, như Nhất Linh… Hay có cái hiếm hoi bội phần là cùng lý tưởng, tài văn cùng nghiêng ngửa để thành Tự Lực Văn Đoàn, hay Hàn Thuyên… Cộng thêm sự may mắn nữa. Ở trường hợp Sáng Tạo mà anh đã nhắc, cái may mắn ấy không tới hai lần dù xã trưởng văn nghệ Mai Thảo vẫn có dịp làm chủ nhiệm, chủ bút, vẫn tiền hô hậu ủng như thường lệ. Còn Văn Bút thì như anh đã biết, sau 1975, nếu Văn Bút Quốc Tế không có Ủy Ban Văn Nghệ Sĩ Bị Cầm Tù thì hẳn có nhiều anh em cũng chẳng muốn gia nhập làm gì để tốn tiền niên liễm mỗi năm!
            Anh vốn không có tạng viết cương lĩnh, tuyên ngôn văn học, tham gia đảng phái. Thế bài thơ đầu tiên của anh, anh còn nhớ không? Viết… cương lĩnh về tình yêu, thuần là một bài thơ tình hay mượn cớ thơ tình để nói về Như bào thai, Chân Lý lớn cư an… (“Chim Bay Biển Bắc”)?

            ― Tôi hoàn toàn không nhớ bài thơ đầu tiên tôi làm trong đời là bài thơ nào, và nó như thế nào, nhưng tôi chắc chắn đó không phải là một bài thơ tình. Nếu tôi thích làm một bài thơ tình thuần túy như cô nói, thì tôi sẽ làm thôi, chớ việc gì phải quanh co mượn cớ tình yêu để treo móc nhập nhằng những thứ chẳng phải là tình yêu. Nếu như chuyện đó có xảy ra, chẳng qua là vì trong tâm tưởng tôi, nhận thức về tình yêu không thể biệt lập với những nhận thức căn bản khác về đời sống. Thơ, nói chung, tự nó, là những trôi nổi ở trong lòng. Tôi làm thơ chỉ vì vậy, và về việc này, tôi chỉ có thể nói được đến như vậy thôi, chớ chẳng biết nói gì hơn.
            Vả lại, tôi cũng có cảm tưởng là người làm thơ được là người không có trước cái tham vọng làm được thơ. Dường như hoạt động thơ không hề giống với những hoạt động khác của con người. Nói như thế, tôi cũng không hàm ý huyền hoặc hóa làm gì chuyện làm thơ, một chuyện tự nhiên thôi. Thơ, nói chung, tự nó, là một cái gì hốn nhiên trôi chảy, như gió như nước, không chấp nhận bị gò ép, đặt để. Tôi làm thơ chỉ vì những bứt rứt, thôi thúc ở trong lòng.

            ― Thơ anh khiến người ta phải đọc đi đọc lại. Không phải vì khó đọc hay khó hiểu mà vì ngấm từ từ như rượu. Độc giả Võ Phiến có nói: Tại hạ hữu bệnh, bệnh mết thơ Tô Thùy Yên. Ông cụ còn nói thêm: Đọc thơ Tô Thùy Yên, tâm gan bấn loạn. Phần anh, anh có đọc lại thơ anh không? Cảm tưởng của anh thế nào? Có còn muốn sửa chữa thay đổi gì nữa không?
            ― Được đọc đi đọc lại, quả là một cái may lớn cho thơ tôi. Bản thân tôi, tôi khinh miệt sự lộ liễu tỏ tường trong nghệ thuật. Trong thực chất, nghệ thuật vốn là một nỗ lực gần như vô vọng nói lên cái không thể nói được, cái có nói cũng không cùng. Hiểu nghệ thuật là một quyến rũ tìm kiếm phát hiện cũng đúng. Phần tôi, đối với thơ mình, sau này nhờ có in sẵn thành tập, tiện tay nên tôi có nhiều dịp đọc lại. Cảm tưởng lắm lúc cũng hay hay, có bài lâu lắm mới trở lại, thấy như là của ai đó khác chớ chẳng phải là của chính mình. Những lúc đó, không tránh khỏi ngậm ngùi.
            Nghệ thuật bao giờ cũng có cái mùi của quá khứ. Không cần phải tinh mũi lắm cũng có thể dễ dàng ngửi thấy. Cũng do đó, khi đọc lại, sau một thời gian xa lìa như khoảng cách nhìn ngắm cần thiết giữa bức tranh và họa sĩ, thì thường đọc lại như một độc giả phê bình, không còn bị những quấn cuốn vướng víu của cái cảm hứng sáng tác nữa, nên thấy rõ hơn, do đó cứ muốn điều chỉnh, hiệu đính. Đỗ Phủ, Giả Đảo, Paul Valéry, Octavio Paz… cái danh sách những thi sĩ thôi xao,(4) bôi bôi xóa xóa những bài thơ của mình chắc chắn phải là dài vô tận tuyệt.
            Tục truyền, Vương Bột đắm thuyền chết đã lâu mà hồn vẫn chưa tan, đêm đêm còn tức tưởi đi lại ngoài bãi quạnh, cũng chỉ vì hai câu thơ đã lỡ khắc vào thiên cổ của mình:
                        Lạc hà dữ cô lộ tề phi.
                        Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc.
vẫn chưa được hoàn chỉnh. Dường như ông tiếc hối sao đã chẳng kịp bỏ đi hai chữ dữ và cộng khá thừa, hai câu thơ sẽ mãnh liệt hơn, ảo diệu hơn…

            ― Anh còn có điều gì thôi thúc trong lòng muốn nói thêm?
            ― Thưa có. Thú thật, cho đến bây giờ, tôi vẫn còn thấy sợ mỗi khi bị gọi ra “làm việc”. Nói lên, cứ lo là nói lôi thôi, trời biển, mang tiếng lập ngôn. Xin hết ạ.

            ― Cám ơn anh.

NGUYỄN TÀ CÚC               

_____________________________________________________
(1) THƠ TUYỂN, Tô Thùy Yên, tác giả xuất bản, 1995. Không phải 1996. Sách dầy 220 trang. Thật ra, tháng 11-1994, thơ Tô Thùy Yên đã được in thành tập tại Đức, nhan đề Tô Thùy Yên, TUYỂN TẬP THƠ, dầy 136 trang, nhà xuất bản lmn. Năm sau Tô Thùy Yên đã sửa chữa, và thêm một ít bài mới, in thành tập Thơ Tuyển.
(2) LA CONDITIONE HUMAINE, THÂN PHẬN CON NGƯỜI, tác phẩm của André Malraux. được trao giải Goncourt năm 1933. Một nhóm cộng sản ở Thượng Hải, dưới quyền điều khiển của Kyo Gisors, và của Katow, sửa soạn cuộc nổi dậy chống lại Tưởng Giới Thạch.
(3) Matsuo Basho (1644-1694), thi sĩ Nhật, sinh tại Ueno, Iga, nổi tiếng với những bài haiku 17 chữ. Ảnh hưởng Thiền tông, ông du hành không ngừng và hoàn thành kiệt tác THE NARROW ROAD TO THE DEEP NORTH năm 1689.
(4) Thôi, Xao nghĩa đen là đẩy, gõ. Nhà thơ GIẢ ĐẢO đời Đường, vừa cuốc bộ, vừa làm thơ. Có một câu phân vân mãi không biết là nên dùng chữ thôi (đẩy) hay chữ xao (gõ), nên có quan lớn ngồi xe đi qua mà không biết để kính chào. Ông quan này cũng là thi sĩ, tên Hàn Dũ, bèn mời lên cho quá giang, và hỏi đang lẩm nhẩm cái gì. Giả Đảo bèn đọc hai câu thơ:
                        Điểu túc trì biên thụ,
                        Tăng xao nguyệt hạ môn,
nghĩa là: Chim ngủ trên cây cao, Sư gõ cửa dưới trăng, nhưng không biết nên dùng chữ gõ (xao) hay đổi là chữ đẩy (thôi). Hàn Dũ khuyên nên dùng chữ xao. Từ đó Thôi Xao trở thành điển cố, nói về sự chọn chữ khi làm thơ của mấy chàng thi sĩ.


Khởi Hành: số 26 tháng 12/1998

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tô Thùy Yên
« Trả lời #4 vào: 01/06/2019, 22:22:14 »


Tô Thùy Yên, một trong những tiếng thơ lớn, của hai mươi năm văn chương miền Nam


Tô Thùy Yên, theo tôi, là một trong những nhà thơ của hai mươi năm văn học miền Nam, có ảnh hưởng rộng, lớn. Cái ảnh hưởng rộng, lớn ông có được, không phải vì ông cùng với Thanh Tâm Tuyền là hai “mũi nhọn xung kích” thổi bùng ngọn lửa thơ tự do ở miền Nam, như một số người ngộ nhận.


Nhà thơ Tô Thùy Yên
(Ảnh: Thận Thiên)


SỰ THỰC, cùng với Thanh Tâm Tuyền, những người tận hiến tâm huyết mình, cho mục đích xiển dương thơ tự do ở miền Nam (giới hạn trong phạm vi tạp chí Sáng Tạo,) là Quách Thoại, Trần Dạ Từ, Trần Lê Nguyễn, Đỗ Quý Toàn, Ngọc Dũng, Người Sông Thương (bút hiệu của Nguyễn Sĩ Tế)… chứ không phải là Tô Thùy Yên. Những bài thơ của ông, được yêu thích nhất, cũng không phải là những bài thơ Tự Do mà, lại là thơ vần, điệu. Hoặc những bài ông dung hoà được đặc tính của thơ tự do và thơ cũ (như một số tác giả cùng thời khác đã thành công. Điển hình, như cố thi sĩ Nguyên Sa).
            Duyệt lại hành trình thi ca Tô Thùy Yên, hai mươi năm văn chương miền Nam, căn cứ trên mấy chục số tạp chí Sáng Tạo, từ bộ cũ đến bộ mới; bên cạnh những bài thơ tự do, Tô Thùy Yên còn có nhiều, khá nhiều, những bài thơ có vần, điệu. Đôi khi vần, điệu của ông, nơi những bài thơ ấy, còn chặt chẽ hơn cả những thi sĩ thời tiền chiến nữa. Trong thể loại này, Tô Thùy Yên trội, bật nhất là thể thơ bảy chữ.
            Bài thơ đầu tiên (?) của Tô Thùy Yên được giới thiệu trên Sáng Tạo, gây tiếng vang lớn và, dư âm của nó, kéo dài nhiều năm sau, là “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu” viết tháng 4 năm 1956. Một bài thơ bảy chữ.
            Bài thơ này có tất cả 15 câu, toàn vần “au”. Rất chặt chẽ. Bài thơ đó, nguyên văn như sau:

                       “Trên cánh đồng hoang thuần một mầu
                        Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
                        Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
                        Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau.
                        Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
                        Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt.
                        Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
                        Ngựa thở hào hển, thở hào hển.
                        Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
                        Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
                        Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
                        Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết.
                        Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
                        Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
                        Chấm giữa nền nhung một vết nâu.”(1)

            Tôi nghĩ, có thể vì tính liên tục của cuộc rượt, đuổi giữa con ngựa và, chuyến tàu, nên tác giả đã cố tình không phân đoạn bài thơ của mình (?)
            Nếu phân đoạn bài thơ trên với 4 câu cho mỗi khổ thơ, chúng ta sẽ có tất cả 4 khổ, mà khổ thơ chót, chỉ có 3 câu. (Như thể đánh dấu sự bỏ cuộc, gục ngã bất ngờ, phút chót của con ngựa?!)
            Dựa trên việc phân đoạn, để sự tìm hiểu bài thơ dễ dàng hơn; ghi nhận đầu tiên của tôi là, Tô Thùy Yên đã dùng âm “trắc” cho chữ cuối cùng của câu thứ hai – Nhưng không phải để hiệp vần “trắc” với chữ cuối cùng của câu thứ tư – Mà, nó chỉ là sự chuyển đổi vị trí. Bởi vì, ông vẫn cho hiệp vần “bằng” của các chữ cuối, ở những câu thứ nhất với các câu thứ ba và, thứ tư.
            Nói về thơ bảy chữ, cũng như nói về thơ lục bát, những người có kinh nghiệm với cuộc chơi “chọn vần, lựa chữ”, đều hiểu rằng, ngoài luật định hiệp vần, còn có luật định về nhịp điệu riêng của thể thơ này nữa.
            Nhìn lại những nhà thơ tiền chiến, từng được mô tả là thành công với thể thơ bảy chữ, tôi nghĩ, chúng ta có thể nhắc tới Huy Cận, với bài “Tràng giang”.
            Khổ thơ thứ nhất của bài “Tràng giang”, nguyên văn như sau:

                       “Sóng gợn tràng giang / buồn điệp điệp,
                        Con thuyền xuôi mái / nước song song.
                        Thuyền về nước lại, / sầu trăm ngả;
                        Củi một cành khô / lạc mấy dòng.”(2)

            Tôi dùng dấu gạch chéo / slash để phân nhịp cho mỗi câu thơ. Kết quả, tất cả 4 câu thơ này, đều có nhịp 4/3.
            Bước qua một bài thơ bảy chữ khác, cũng của Huy Cận, ta thấy, chúng cũng có chung một nhịp 4/3 như thế. Như bài “Vạn lý tình”. Cũng đoạn thứ nhất:

                       “Người ở bên trời, / ta ở đây;
                        Chờ mong phương nọ, / ngóng phương nầy.
                        Tương tư đôi chốn / tình ngàn dặm,
                        Vạn lý sầu lên / núi tiếp mây.”(3)

            Nhịp 4/3 cũng là nhịp của hầu hết những bài thơ bảy chữ của Lưu Trọng Lư. Tôi xin chọn bài bảy chữ của ông, quen thuộc nhất với chúng ta. Bài “Nắng mới”:

                       “Mỗi lần nắng mới / hắt bên song,
                        Xao xác gà trưa / gáy não nùng;
                        Lòng rượi buồn theo / thời dĩ vãng,
                        Chập chờn sống lại / những ngày không.”(4)

            Ngay Xuân Diệu (người được coi là luôn có những đổi mới đáng kể về hình thức, cũng như tu từ), cũng dùng nhịp 4/3 cho thơ bảy chữ của ông:

                       “Tôi nhớ Rimbaud / với Verlaine
                        Hai chàng thi sĩ / choáng hơi men
                        Say thơ xa lạ, / mê tình bạn,
                        Khinh rẻ khuôn mòn, / bỏ lối quen.”
                        (Trích Tình trai)(5)

            Nhưng Tô Thùy Yên đã cho thơ bảy chữ của ông một nhịp, điệu khác.
            Trừ hai câu đầu, và câu số 10, với nhịp 4/3 – Tất cả những câu còn lại của bài “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu”, đều ở nhịp 3/4 ở những câu số 3, 4. Nhịp 3/2/2, ở những câu số 5, 9, 11, 13. Hoặc nhịp 2/5, ở những câu số 6, 14. Thậm chí ông còn cho câu số 12 của ông, một nhịp lạ hơn nữa. Đó là nhịp 2/1/4: “Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết”.
            Tuy nhiên, bài thơ không chỉ tạo được sự chú ý chỉ bởi nhịp đi mới mẻ của nó!
            Sâu xa hơn, theo tôi, lại là những gì nằm sâu, sau phần hình thức này.
            Tôi nghĩ, hình ảnh con ngựa rượt, đuổi chuyến tàu, với phông nền là những cánh đồng nối nhau, hút mắt; là một bức tranh sống động vẽ bằng… ngôn ngữ. Sức sống động mạnh mẽ tới độ, chúng cho ta cảm tưởng tác giả đã chụp được một bức ảnh thời gian… Bằng tài năng đặc biệt của mình.
            Lại nữa, sự đuối sức, đầu hàng, từ giã cuộc đua của con ngựa, vẫn theo tôi, là một ẩn dụ, nhắc nhở rằng: Ý chí, sức mạnh của con người, dù kiên quyết, lớn lao tới đâu, cũng vẫn bị lưỡi dao hữu hạn, đời người, chém đứt!!
            Nói cách khác, bất lực trước, sau, vẫn là thuộc tính của con người, khi con người phải đối diện với chiều dài thời gian. Vô tận.
            Đọc lại bài thơ, một lần nữa, về phương diện nhịp, điệu, tôi chợt có cảm nhận rằng, khi Tô Thùy Yên chọn cho bài bảy chữ này của ông, những nhịp đi gập ghềnh, có dễ ông cũng muốn cho người đọc liên tưởng tới những hơi thở không đều của chuyến tàu, con ngựa trong cuộc rượt. Một cuộc rượt, đuổi với tốc độ “tàu chạy mau mà qua rất lâu”, hay “tàu chạy mau, tàu chạy rất mau”… dẫn tới kết quả là những hơi thở “hào hển” hoặc, “cúi đầu”…
            Mọi ẩn dụ, liên tưởng mà, bài thơ đem được, đến cho người đọc, theo tôi là những chiếc chìa khoá quý giá, để độc giả được quyền thênh thang bay bổng, phiêu hốt trong đất, trời rất tư, riêng, của bài thơ ấy – Dù cho (cũng dễ hiểu thôi), nếu những cảm nhận của độc giả, thường… xa lạ, không ăn nhằm, chẳng liên hệ gì, tới tình, ý (mơ hồ?) của tác giả, khi sáng tác!
            Nhưng, điều đó, cũng chỉ có thể xẩy đến cho những bài thơ hay, đi ra từ những tài thơ lớn. Mà, “Cánh đồng con ngựa chuyến tàu”, là một thí dụ cụ thể vậy.


Hình Nhà thơ Tô Thùy Yên
(trong “Những truyện ngắn hay nhất của quê hương chúng ta”)

            Một nét đặc thù khác trong thơ Tô Thùy Yên là chủ tâm sử dụng khá nhiều ngôn ngữ Nam… rặc. Chủ tâm này rất đáng kể; nếu người đọc nhớ lại rằng, đó là những câu thơ được viết trong khoảng thời gian 1956 tới 1975, trên một diễn đàn cổ suý văn chương… mới. Chúng ta có thể tìm thấy nhiều ngôn ngữ đặc biệt kia, trong Tô Thùy Yên Thơ Tuyển in năm 1995, tại Hoa Kỳ. Như trong bài “Anh hùng tận”, ông viết:

                       “Dựng súng trường, cởi nón sắt
                        Đơn vị dừng quân trọn buổi chiều.
                        Trọn buổi chiều, ta nhậu nhẹt,
                        Mồi chẳng bao nhiêu, rượu rất nhiều.
                        (……)
                        Thiệt tình, tên bạn ta không nhớ
                        Nhưng mà trông mặt thấy quen quen.
                        (……)
                        Tiếng hò mời dzô, dzô tở mở,
                        Muỗi thuỷ triều chừng cũng giạt ra…”
                        (Trích Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Hay một số chữ trong bài “Mòn gót chân sương nắng tháng năm”:

                       “Vụt đuốc đi thầm đến mãn kiếp,
                        Lèm bèm ú ớ chuyện nhân gian,
                        (……)
                        Sáng ngày, đời giật mình ngơ ngác,
                        Mường tượng đôi ba chuyện bắt quàng.
                        (……)
                        Ta lại trồi lên dương thế rộn,
                        Ngày ngày ra bãi vắng vời trông…”

            Hoặc:

                       “Ra đi như nước ao lền đặc
                        (Trong bài “Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai”,
                        Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

                       “Thế giới làm sàm điếc lác nặng”
                        (Trong bài “Bất tận nỗi đời hung hãn đó”,
                        Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Như đã nói, bảy chữ là đường kiếm lấp lánh nhất, trong cõi thơ Tô Thùy Yên, hai mươi năm, miền Nam. (Ngay bài thơ nổi tiếng “Ta về” Tô Thùy Yên viết tháng 7 năm 1985, hơn mười năm sau thời điểm vừa kể, cũng là thơ bảy chữ.)
            Căn cứ vào tập Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển, do chính tác giả xuất bản, tính riêng số thơ sáng tác trước tháng 4 năm 1975 của ông, có tất cả 21 bài; thì hết 14 bài viết theo thể bảy chữ. Bảy bài còn lại, dành cho tất cả những thể thơ khác.
            Hầu hết thơ bảy chữ của Tô Thùy Yên đều đậm tính “khẩu khí!” Rõ hơn, ông mượn loại thơ này, để bày tỏ tâm sự mình trước thế sự. Cái tâm sự kẻ sĩ ngao ngán, bất mãn trước thời cuộc và, kiếp người. Khi viết loại này, các thi sĩ thường chọn thể loại “Hành”.
            Chỉ có thể loại này, mới giúp tác giả hiển lộ tính cảm-thán của mình. Đồng thời, nó cũng dễ gợi, khêu trong tâm hồn người đọc, cái phong vị hoài cổ. Chính vì thế mà, khi chọn thể loại “Hành”, ngoài yếu tố thơ bảy chữ, các tác giả thường xưng “ta với ngươi”, hoặc “ta với người”. Dường như các thi sĩ không bao giờ dùng nhân xưng đại danh tự “tôi!” Có dễ vì nó không thích hợp với phong cách ngang tàng, chán chường, bất cần đời mà, dạng thơ này, cung ứng.
            Nói về những bài “Hành” nổi tiếng từ thời tiền chiến, người ta thường nghĩ Thâm Tâm(6) với “Tống biệt hành”; và Nguyễn Bính(7) với “Hành phương Nam”.
            “Tống biệt hành” của Thâm Tâm ngắn hơn “Hành phương Nam” của Nguyễn Bính. Nhưng bù lại, bài “hành” của Thâm Tâm không dùng một điển tích nào, trong khi Nguyễn Bính thì có.
            Bài “Tống biệt hành” của Thâm Tâm có những câu như:

                       “Đưa người ta chỉ đưa người ấy
                        Một giã gia đình, một dửng dưng…
                        – Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
                        Chí nhớn chưa về, bàn tay không,
                        Thì không bao giờ nói trở lại!
                        Ba năm, mẹ già cũng đừng mong.
                        (……)
                        Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
                        Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
                        Chị thà coi như là hạt bụi,
                        Em thà coi như hơi rượu say.”
                        (Trích “Thi Nhân Việt Nam” của Hoài Thanh, Hoài Chân; nhà Văn Học Hà Nội, 1988)

            Và bài “Hành phương Nam” của Nguyễn Bính, có những câu như:

                       “Ngươi ơi buồn lắm mà không khóc
                        Mà vẫn cười qua chén rượu này
                        Vẫn dám ăn tiêu cho đến hết
                        Ngày mai ra sao rồi sẽ hay.
                        Ngày mai, có nghĩa gì đâu nhỉ?
                        Cốt nhất cười vui trọn tối nay.
                        Rẫy ruồng châu ngọc, thù son phấn
                        Mắt đỏ lên rồi, cứ chết ngay.
                        (……)
                        Ta đi nhưng biết về đâu chứ?
                        Đã dấy phong yên khắp bốn trời
                        Thà cứ ở đây ngồi giữa chợ
                        Uống say mà gọi thế nhân ơi!
                        Thế nhân mắt trắng như ngân nhũ
                        Ta với nhà ngươi cả tiếng cười
                        Dằn chén hất cao đầu cỏ dại
                        Hát rằng phương Nam ta với ngươi
                        Ngươi ơi! Ngươi ơi! Hề! Ngươi ơi!…”
                        (Nguyễn Bính, Đa kao 1943 – Theo dactrung.com)

            Qua tới Tô Thùy Yên, tất cả những chữ “ngươi”, được thay thế bằng “bạn”:

                       “Tới đây toàn những tay hào sĩ
                        Sống chết không làm thắt ruột gan.
                        Cũng không ai nhắc gì thân thế
                        Có vợ con mà như độc thân.
                        Bạn hỏi thăm ta cho có lệ
                        (……)
                        Người thuở trước tìm vàng khẩn đất
                        Tiêu xác thân, để lại oan hồn
                        Ngày nay, ta bạn đến đây nữa
                        Đất thì không khẩn, vàng không tìm…
                        Bạn nhủ ta: đừng hỏi khó
                        Uống mất ngon vì chuyện loạn tâm…”
                        (Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Đôi khi, nhân vật thứ hai trong những bài “Hành” của Tô Thùy Yên, là kẻ vắng mặt. Kẻ “vắng mặt” ở đây, khi là thiên, địa; lúc là lẽ tử, sinh:

                       “Nên ta phó mặc cho trời đất
                        Trời đất vô ngôn lại bất nhân.
                        Nên ta lẳng lặng đi đi khuất
                        Trong lãng quên xanh hút thời gian.
                        (……)
                        Trăng, bạn hiền xưa giờ tái ngộ
                        Ta thức đêm nay chơi với trăng,
                        Nghĩ tội thương sau này, mãi mãi
                        Quanh mồ ta, trăng phải lang thang.”

            Hay:

                       “Những người thuở trước bây giờ lạc
                        Trong dã sử nào như bóng mây,
                        Trong trí nhớ nào như giọng hát.
                        Hỡi ôi, trời đất lạnh tình thay!”
                        (Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Có lần, “nhân vật vắng mặt” kia, được ông mệnh danh là “Hiu Quạnh lớn”:

                       “Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi
                        Khiến cả lòng ta cũng rách tưa.
                        Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh lớn
                        Mà Hiu Quạnh lớn vẫn làm ngơ…”
                        (Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Ai làm ngơ? Thiên, địa; lẽ tử, sinh hay, tự thân cuộc đời đã vốn là một lãng quên, lớn?
            Về phương diện ngữ pháp, tôi nghĩ, trước Tô Thùy Yên (vẫn với thể thơ bảy chữ), ít tác giả có những câu thơ như:

                       “Mưa lâu, trời mốc buồn hôi xưa.
                        Con đường đáo nhậm xa như nhớ…”
                        (Trong “Qua sông”, Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Hay:

                       “Đôi bàn tay vỗ nháng âm thanh.
                        (……)
                        Cỏ cây lưu gió khóc mơ màng…
                        (……)
                        Gió thổi chai người đứng lặng thinh.”
                        (Trong “Mòn gót chân sương nắng tháng năm”, Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Hoặc:

                       “Ta dậy khi gà truyền nhiễm gáy,
                        Chân trời rách đỏ vết thương dài.
                        (……)
                        Còn lại chăng chút u hoài mốc.
                        (……)
                        Ngọn cây, ô! đã giát hoàng hôn.”
                        (Trong “Hề, ta trở lại căn nhà cỏ”, Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Tô Thùy Yên cũng như nhiều tác giả khác, từ đông qua tây, thường đối diện với những câu hỏi lớn mang tính siêu hình. Khi đề cập tới những vấn đề này, ông cho thấy sự dứt khoát đi tới một cách quyết liệt, không khoan nhượng. Ông không chỉ đặt vấn đề về ý nghĩa rốt ráo của thân phận con người; như con người được sinh ra từ đâu? Để làm gì? Rồi, sau khi chết, con người sẽ đi về đâu? Hay sự thực cuối cùng, thảm hại thay, tất cả cũng chỉ là hư không:

                       “Con chim nhào chết khô trên cửa,
                        Cửa đóng tự ngàn năm bặt âm,
                        Như đạo bùa thiêng yểm cổ mộ.
                        Sao người khai giải chưa về thăm?”
                        (Trong “Góa phụ”, Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Hay:

                       “Ta thấy mặt tinh cầu xếp nếp
                        Như lằn nhăn tuổi tác hư không…”
                        (Trong “Và rồi tất cả sẽ nguôi ngoai”, Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Với thơ Tô Thùy Yên, tôi không biết có một tương quan hữu cơ nào chăng, giữa con người, sự chết và, Thượng đế:

                       “Vì bom đạn bất dung,
                        Thi thể chẳng ai thâu,
                        Nào có chi đáng kể…”
                        (Trong “Chiều trên phá tam Giang”, Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Hay:

                       “Ngọn đèn hư ảo chong linh vị
                        Thắp trắng thời gian mái tóc em.”
                        (Trong “Góa phụ”, Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Hoặc:

                       “Ta bằng lòng phận que diêm tắt,
                        Chỉ giận sao mồi lửa cháy suông.”
                        (Trong “Tưởng tượng ta về nơi bản trạch”, Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Chưa kể, ông luôn cho người đọc như tôi, cảm nhận, với ông, chiến tranh cũng là một thứ thuộc tính của nhân loại, kiếp người:

                       “Tiếp tế khó – đôi lần phải lục
                        Trên người bạn gục đạn mươi viên.
                        Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc
                        Trong vết thương người bạn nín rên.
                        Người chết mấy ngày chưa lấy xác,
                        Thây sình, mặt nát, lạch mương tanh…”
                        (Trong “Qua sông”, Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Hoặc:

                       “Cỏ cây sống chết không ta than.
                        Em khóc hoài chi lẽ diệt sinh?”
                        (Trong “Góa phụ”, Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Phải chăng, Tô Thùy Yên chọn lựa sự có mặt của mình, như một đối đầu sống, mái trước Thượng đế; dù có thể ông những hiểu rằng, cách gì, con người, cuối cùng cũng chỉ là một thứ con tin, trong vòng tay gai độc của định mệnh. Ông viết:

                       “Có đọc thuộc thánh thư,
                        Linh hồn tôi vẫn vậy.
                        Tôi vẫn không thể lạy
                        Dù đứng trước hư vô.
                        (……)
                        Đầu tôi cứng và trơn,
                        Thượng đế làm sao ngự?”
                        (Trong “Thân phận của thi sĩ”, Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)

            Dù đứng ở góc độ nhân sinh, chủ quan nào, chấp nhận hay, ruồng rẫy tiếng thơ Tô Thùy Yên,(8) tôi vẫn trân trọng kính mời quý độc giả, cùng tôi đọc lại bài “Trường Sa hành”, của ông – Mà, theo tôi, là một trong dăm bài Hành hay nhất, của văn học, nghệ thuật miền Nam, hai mươi năm:

                                      Trường Sa Hành
                        Trường Sa! Trường Sa! Đảo chuếnh choáng!
                        Thăm thẳm sầu vây trắng bốn bề.
                        Lính thú mươi người lạ sóng nước,
                        Đêm nằm còn tưởng đảo trôi đi.

                        Mùa Đông Bắc, gió miên man thổi
                        Khiến cả lòng ta cũng rách tưa.
                        Ta hỏi han, hề, Hiu Quạnh lớn
                        Mà Hiu Quạnh Lớn vẫn làm ngơ.

                        Đảo hoang vắng cả hồn ma quỷ.
                        Thảo mộc thời nguyên thuỷ lạ tên
                        Mỗi ngày mỗi đắp xanh rờn lạnh
                        Lên xác thân người mãi đứng yên.

                        Bốn trăm hải lý nhớ không tới.
                        Ta khóc cười như tự bạo hành,
                        Dập giận vác khòm lưng nhẫn nhục,
                        Đường thân thế lỡ, cố đi nhanh.

                        Sóng thiên cổ khóc, biển tang chế.
                        Hữu hạn nào không tủi nhỏ nhoi?
                        Tiếc ta chẳng được bao nhiêu lệ
                        Nên tưởng trùng dương khóc trắng trời.

                        Mùa gió xoay chiều, gió khốc liệt,
                        Bãi Đông lở mất, bãi Tây bồi.
                        Dăm cây bật gốc chờ tan xác,
                        Có hối ra đời chẳng chọn nơi?

                        Trong làn nước vịnh xanh lơ mộng,
                        Những cụm rong óng ả bập bềnh
                        Như những tầng buồn lay động mãi
                        Dưới hồn ta tịch mịch long lanh.

                        Mặt trời chiều rã rưng rưng biển.
                        Vầng khói chim đen thảng thốt quần.
                        Kinh động đất trời như cháy đảo.
                        Ta nghe chừng phỏng khắp châu thân.

                        Ta ngồi bên đống lửa man rợ,
                        Hong tóc râu, chờ chín miếng mồi,
                        Nghe cây dừa ngất gió trùng điệp
                        Suốt kiếp đau dài nỗi tả tơi.

                        Chú em hãy hát, hát thật lớn
                        Những điệu vui, bất kể điệu nào
                        Cho ấm bữa cơm chiều viễn xứ,
                        Cho mái đầu ta chớ cúi sâu.

                        Ai hét trong lòng ta mỗi lúc
                        Như người bị bức tử canh khuya,
                        Xé toang từng mảng đời tê điếng
                        Mà gửi cùng mây, đỏ thảm thê.

                        Ta nói với từng tinh tú một,
                        Hằng đêm, tất cả chuyện trong lòng.
                        Bãi lân tinh thức, âm u sáng.
                        Ta thấy đầu ta cũng sáng trưng.

                        Đất liền, ta gọi, nghe ta không?
                        Đập hoảng Vô Biên, tín hiệu trùng.
                        Mở, mở giùm ta khoảng cách đặc.
                        Con chim động giấc gào cô đơn.

                        Ngày. Ngày trắng chói chang như giũa.
                        Ánh sáng vang lừng điệu múa điên.
                        Mái tóc sầu nung từng sợi đỏ
                        Kêu dòn như tiếng nứt hoa niên.

                        Ôi lũ cây gầy ven bãi sụp,
                        Rễ bung còn gượng cuộc tồn sinh,
                        Gắng tươi cho đến ngày trôi ngã
                        Hay đến ngày bờ tái tạo xanh.

                        San hô mọc tủa thêm cành nhánh.
                        Những nỗi niềm kia cũng mãn khai.
                        Thời gian kết đá mốc u tịch,
                        Ta lấy làm bia tưởng niệm Người.
                        (3-1974)
                        (Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển)


DU  TỬ  LÊ               
Tháng 09/2012               

______________________________________________________________________
(1) Trích “Tô Thùy Yên/Thơ Tuyển”. Tác giả xuất bản, 1995 Hoa Kỳ, trang 13.
(2), (3), (4), (5): Nhà xuất bản Đồng Nai, tủ sách thơ Việt Nam.
(6) Nhà thơ Thâm Tâm tên thật Nguyễn Tuấn Trình. Ông sinh ngày 12 tháng 5 năm 1917, tỉnh Hải Dương; mất ngày 18 tháng 8 năm 1950 ở gần Việt Bắc.
(7) Nhà thơ Nguyễn Bính, tên thật Nguyễn Trọng Bính. Ông sinh năm 1918 tại Vụ Bản, tỉnh Nam Định; mất ngày 20 tháng 1 năm 1966 ở nhà một người bạn, thuộc tỉnh Hà Nam.
(8) Tên thật Đinh Thành Tiên, Tô Thùy Yên sinh ngày 20 tháng 10 năm 1938 tại Gia Định. Ông có thơ đăng trên báo Đời Mới (thập niên 1950), trước khi xuất hiện trên tạp chí Sáng Tạo. Sau 30-4-1975, ông bị nhà chính quyền cầm tù ba lần; tổng cộng gần 13 năm. Cùng gia đình, Tô Thùy Yên hiện cư ngụ tại thành phố Houston, Texas.


https://www.dutule.com/p124a208/32/to-thuy-yen-mot-trong-nhung-tieng-tho-lon-cua-20-nam-van-chuong-mien-nam

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tô Thùy Yên
« Trả lời #5 vào: 09/06/2019, 08:48:49 »


Thi sĩ, kẻ nhuốm bệnh thời khí trước tiên và khỏi bệnh sau cùng


Với xã hội, thi sĩ có khác người chăng chỉ ở chỗ làm được thơ cho ra thơ, thế thôi. Tôi thiết nghĩ không nên nhầm lẫn lấy sứ mệnh của thơ làm sứ mệnh của thi sĩ. Trước đây, tôi đã có lần bày tỏ đại khái là thơ có sứ mạng, thi sĩ thì không. Với lịch sử, trước những chuyển đổi thời thế, thi sĩ của bài thơ đang làm là cơ phận nhạy cảm nhất trên thân thể cộng đồng. Hắn nhuốm bệnh dịch thời khí trước tiên và sau khi dịch thời khí đã đi qua, dường như hắn vẫn còn phải chịu đựng lâu dài thêm hậu quả của bệnh. Âu đó cũng là cái giá phải chăng mà hắn phải trả sòng phẳng cho chính bài thơ hắn đã làm ra. Nghề nào, nghiệp nấy.


thi sĩ Tô Thùy Yên


Phan Nhiên Hạo (PNH)Trước 1975, anh là nhà thơ nổi tiếng, sống giữa lòng sinh hoạt văn chương miền Nam. Theo anh, những đặc điểm nổi bật của thơ miền Nam trước 1975 là gì?
Tô Thùy Yên (TTY):  Thú thật, tôi đã phải ngần ngừ trước câu hỏi này. Trình bày những đặc điểm dù là những đặc điểm nổi bật của thơ trong cả một thời kỳ quả là việc làm không quen của một người không phải là một nhà chuyên môn nghiên cứu văn học với đầy đủ tài liệu, thống kê. Bởi miền Nam trước 1975 có nhiều bài thơ đặc sắc, nhiều thi sĩ có tài, mỗi bài thơ, một không khí, mỗi thi sĩ, một phong cách. Nên trình bày tóm lược như vậy, do chủ quan và qua hồi tưởng, chắc sẽ khó tránh khỏi những thiếu sót có thể là trầm trọng. Nhưng đã được hỏi đến, thôi thì thấy sao, nhớ gì, nói nấy vậy.
            Theo tôi, thơ miền Nam trước 1975, so với thơ của những thời kỳ trước đó, nhìn chung, đã đi sát hơn với thời đại mà nó phát sinh, đã biểu hiện đầy đủ hơn, trung tín hơn thực tế của thời đại đó. Ở đây, để tránh mọi hiểu lầm, tôi xin nói ra bên lề một chút về ý niệm thực tế trong thơ. Thực tế biểu hiện trong thơ, theo chỗ hiểu của tôi, không nhất thiết phải là một thực tế biểu hiện theo lề lối của chủ nghĩa tả chân xã hội mà là một thực tế gần như không cụ thể hẳn, một thực tế thường nặng phần tinh thần hơn mà tôi mạo muội gọi là thực tế tinh ròng, một thực tế không bắt buộc phải pha tạp bận bịu với những chi tiết râu ria của đời thường. Một bài thơ có tính thời đại nhiều khi đã chẳng hề nói đến những gì đang xảy ra trước ngõ nhà thi sĩ, mà lại nói về những chuyện tận đâu đâu. Tính thời đại của một bài thơ quan yếu ở tình ý, thần hồn của bài thơ đó.
            Nói như vậy cũng hàm ý rằng văn chương, đặc biệt là thơ của một thời đại chính là cái hình tướng sẽ còn lại của thời đại đó. Lịch sử là lăng tẩm của thời gian. Thi ca là một phần hồn thiêng của lăng tẩm đó. Trong thơ miền Nam vào thời kỳ sau 1954 đã xuất hiện một nhân tố hoàn toàn mới, nhân tố đó là lịch sử. Nhân tố đó tuy đã bắt đầu có ló dạng trong thơ thời kháng chiến chống Pháp nhưng sự ló dạng đó dù sao cũng chỉ thập thò, loáng thoáng, bóng dáng lịch sử trong thơ thời kháng chiến vẫn có vẻ gì đó phiến diện, cùng lắm chỉ là những biểu hiện hoàn toàn có tính tả chân đơn điệu mà thôi. Trong khi lịch sử hiện diện trong thơ miền Nam thời chia cắt đất nước rõ nét hơn, trung thực hơn, và cũng đa dạng hơn. Nó đã lộ hiện tùy ở mỗi bài thơ, ở mỗi thi sĩ, với nhiều vẻ mặt sống động khác nhau, hăm hở có, hy vọng có, dò hỏi có, nghi hoặc có, nhưng nhan nhản vẫn là những vẻ mặt thảm thiết, thất thần, ê chề và tuyệt vọng. Dù phơi bày hay dù che khuất, lịch sử vẫn là cái phông nền ám ảnh bất biến của hầu hết những bài thơ miền Nam trong thời kỳ đó.

PNHNgoài đặc điểm “đi sát thời đại”, thơ miền Nam trước 1975 hình như cũng đã phần nào trở nên “lý trí” hơn thơ tiền chiến?
TTY:  Một đặc điểm nổi bật nữa của thơ miền Nam trước 1975 là sự ngồi xê qua của cảm xúc để nhường bớt chỗ cho tư duy cùng ngồi. Nhìn chung, thơ Việt trước 1954, đặc biệt là thơ tiền chiến, chủ yếu thành hình trên cảm xúc thuần túy. Một nhận thức gần như một định nghĩa rất đỗi sai lạc về thơ thường được nhắc đi nhắc lại như một khuôn vàng thước ngọc là thơ chỉ cần cảm, không cần hiểu. Chính cái nhận thức cực kỳ tai hại này đã giam hãm thơ Việt, đã làm cho thơ Việt bị phế bỏ đi oan uổng một khả năng nữa đáng lý phải có đầy đủ của thơ là biểu hiện tư duy. Ðến độ người ta đã dễ dàng ngộ nhận là thơ như không hề thuộc về trí tuệ con người. Nên vô hình trung, thơ Việt cùng với thơ Trung Quốc, đã không thoát ra khỏi cái vỏ tù túng, bí hơi ngàn đời của nó. Sau đời Ðường, thơ đời Tống cũng chẳng đi xa hơn là mấy. Nó vẫn lẩn quẩn giữa những tình tự chủ yếu từng được biểu lộ loáng thoáng đâu đó thôi. Người đọc gần như không tìm thấy những sáng tạo mới khác, những rung động mới khác trong thơ nữa. Thơ miền Nam sau 1954 là bước đầu tiên và cũng là một bước quả quyết mở rộng bờ cõi sinh tồn cho thơ. Ở đây, có lẽ cũng nên nói thêm một chút về tính chất tư duy trong thơ để tránh những hiểu lầm nào đó cũng không kém phần nguy hại cho thơ. Gần đây, thỉnh thoảng người ta muốn phân loại thơ, chắc là cho dễ nói, nên đưa ra những danh loại cho thơ như là thơ chính luận, thơ siêu hình, thơ triết lý, thơ vân vân. Cách thức phân loại căn cứ thuần túy vào nội dung của bài thơ này vô tình đã coi nhẹ, nếu không nói là lược bỏ cái chính yếu của bài thơ, là cái phương cách cấu trúc thơ của bài thơ. Ðiều sơ đẳng là thơ có riêng những khả năng cùng những phương cách cấu trúc biểu hiện hoàn toàn đặc biệt của thơ. Hẳn nhiên, một bài thơ không phải, không thể, và nhất là cũng không nên là một bài luận thuyết chắc nịch quy củ về một chủ đề nào đó. Một bài thơ chỉ là một cố gắng hầu như tuyệt vọng làm lộ hiện một thi ảnh mờ ảo biểu tả một chấn động xúc cảm tư duy nào đó bằng một ngôn ngữ đã thoát vượt ra ngoài biên hạn thông phàm của chính ngôn ngữ, trên một phương cách cấu trúc hoàn toàn độc đáo của bài thơ. Sự không minh bạch của thơ chính là sinh mạng của thơ. Chỗ sáng trơ bao giờ cũng là tử địa của thơ. Nói như vậy không có nghĩa là thơ phải bí hiểm mờ mịt mới là thơ. Người nào cố tình nghĩ sai, người đó có tội. Nhìn xa hơn, thơ với những khiếm khuyết mơ hồ khả nghi thuộc về bản thể của nó, lại cũng là một phương thức thật sự tuyệt vời trong công cuộc thăm dò đời sống của trí tuệ nhân loại phiêu lưu. Chỗ cùng đường của luận lý, của khoa học, kể cả của tôn giáo nữa, chính là điểm khởi hành lang bạt của thơ không bao giờ khứng chịu ngừng nghỉ. Thơ miền Nam trước 1975 đã có công lớn mang về đầy đủ cho thơ Việt cái khả năng biểu hiện tư duy phải có nhưng đã bị phế bỏ lâu đời mà không biết của thơ.

PNHCó thời, cùng với Thanh Tâm Tuyền, anh là nhà thơ trụ cột của tờ Sáng Tạo. Tờ này tuy tồn tại chỉ vài năm, nhưng đã để lại dấu ấn quan trọng trong tiến trình phát triển văn chương, nhất là thơ ca, miền Nam. Theo anh, vì sao nhóm Sáng Tạo thành công như vậy vào lúc đó?
TTY:  Dù muốn dù không, con người vẫn là sản phẩm của lịch sử. Trong một bài tựa, sử gia Pháp thế kỷ 19 Michelet đã cho lưu hành từ gia tốc như là một đặc tính của lịch sử. Nhưng ông mới chỉ phát hiện đặc tính gia tốc của lịch sử trong phạm vi thời gian với những biến cố càng lúc càng dồn dập của lịch sử, chớ chưa nêu lên đặc tính gia tốc của lịch sử trong phạm vi nhân bản, tức sự bành trướng khắp cùng của lịch sử càng lúc càng bao trùm khống chế nặng nề lên từng định mệnh cá nhân. Trong lịch sử, càng ngày con người càng bị quy định khắc nghiệt hơn bởi cái sử tịch chẳng thể từ bỏ được của mình. Và hẳn nhiên, người ta chẳng thể nào làm văn chương nghệ thuật bên ngoài lịch sử được. Sự xuất hiện cũng như sự thành công nếu có của tạp chí Sáng Tạo vào cuối thập niên 1950 cũng nằm trong tiến trình đương nhiên của lịch sử ở thời điểm đó. Năm 1954, chiến tranh với danh xưng chiến tranh Việt Pháp kết thúc, chiến tranh với một danh xưng khác còn đang mai phục chưa lộ diện, miền Nam trong một thời đoạn ân hạn ngắn ngủi, mặc nhiên trở thành vùng đất trống của hy vọng và lo âu. Chủ nghĩa thực dân và kẻ a tòng bất đắc dĩ của nó là chủ nghĩa phong kiến đã bị thanh toán. Miền Nam từ trong hang cùng ngõ cụt của xã hội, cần những thay đổi khẩn cấp, những triển khai vượt bực để sinh tồn trong một cơn bão lửa khủng khiếp đã bắt đầu cho thấy lờn rờn những điềm báo bất thường. Thành thử, miền Nam cùng với sự tượng hình của ý niệm tự do dân chủ, trong một thời gian nhanh chóng, đã đón nhận ồ ạt bất kể mọi trào lưu tư tưởng hiện hành của thế giới, nhờ đó, nhận thức của thành phần tiên tiến trong quần chúng văn chương nghệ thuật một sớm một chiều cũng được nâng cao lên ngang tầm với nhận thức đương thời của quần chúng văn chương nghệ thuật thế giới. Tất nhiên, lớp quần chúng tiến bộ khởi đầu của một trào lưu canh tân văn chương nghệ thuật bao giờ cũng ít ỏi. Tạp chí Sáng Tạo lúc khởi đầu cũng không ra ngoài thông lệ đó. Tuy nhiên chỉ sau một thời gian ngắn, rất ngắn chừng vài ba năm thôi, cùng với những chuyển biến liên tục cấp kỳ của xã hội miền Nam, lớp quần chúng khởi đầu thưa thớt đó đã phát triển thật ngoạn mục và mặc nhiên chiếm lĩnh vai trò ngự trị trong sinh hoạt văn chương nghệ thuật. Trong ký ức của những độc giả thuộc thế hệ 1954 vẫn còn tồn đọng lâu dài những kỷ niệm tình đầu văn chương nào đó với tạp chí Sáng Tạo. Thế hệ 1954 đó là một thế hệ đặc biệt, sáng rực bao nhiêu là tài năng, xum xuê bao nhiêu là hứa hẹn, người viết trẻ viết cho những người đọc trẻ. Nhưng thương thay, đó lại là một thế hệ yểu mệnh, một thế hệ không có được nhiều thời gian, y như số phận chung của cả dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử, một dân tộc bất hạnh ít khi được rảnh rang thư thả, nên thế hệ đó đã chẳng thực hiện được những công trình quan trọng, quy mô mà lẽ ra thế hệ đó có cơ may làm được. Chiến tranh gia tăng cường độ, nới rộng địa bàn, thế hệ tội nghiệp đó một sớm một chiều đã bị cướp đoạt thì giờ và tâm trí, bị thí bỏ. Trong khung cảnh đó, tạp chí Sáng Tạo hiện diện chỉ được vài năm thôi, đã đình chỉ nhưng dù vậy, ảnh hưởng của nó trong quần chúng văn chương nghệ thuật Việt Nam quả đã chẳng đình chỉ. Trong lãnh vực tư tưởng, không riêng gì tại Việt Nam, mà hình như ở bất cứ nước nào, kể cả những nước sinh động nhất, bao giờ bức tường bảo thủ cũng cực kỳ kiên cố. Tạp chí Sáng Tạo ở thời điểm của nó, đã góp phần quan trọng trong việc xuyên thủng, phá sập được bức tường thâm niên đó, giải thoát quần chúng từ bao lâu bị kềm hãm bưng bít ra với thế kỷ, ra với thế giới.

PNHCho đến tận hôm nay, vài nhóm văn chương cũng có tham vọng tạo được ảnh hưởng như Sáng Tạo xưa kia, nhưng xem ra “mộng vẫn không thành”. Anh giải thích sao về điều này?
TTY:  Lý do đơn giản là vì những nhóm đó không gặp được điều kiện thuận lợi phải có từ một lớp quần chúng khởi đầu hăm hở sôi động với những nhu cầu cực kỳ bức thiết. Người ta chẳng thể nào làm cách mạng trong một xã hội lắng đọng, quần chúng không có ý chí đổi thay. Nhìn ở một góc độ khác nào đó, chính những cách tân lẻ tẻ, một cách khá là nghịch lý, lại chỉ củng cố thêm cho bức tường bảo thủ. Ðiều này, những tên cai trị độc tài biết rõ hơn ai hết.
            Trở lại chuyện văn chương. Trong lãnh vực này, khác với sự lầm tưởng của đa số người đời, việc xuyên thủng, phá sập bức tường bảo thủ thật ra không hề do một chủ trương canh tân văn chương hô hào, mà lại do chính những tác phẩm có tính canh tân gợi ý. Ðể mở đường văn chương nghệ thuật, bao giờ lý thuyết gia cũng đi sau người sáng tạo ít nhất là một bước. Chỉ độc lý thuyết canh tân thôi mà không có một đội ngũ những tài năng sáng tác canh tân tiên phong, lý thuyết đó cuối cùng chẳng hấp dẫn thuyết phục được ai mà chỉ trơ là một ngông cuồng lố bịch.

PNHThời đó, nhóm Sáng Tạo đại diện cho cái mới. Nhưng ngay cả khi cùng ý hướng cách tân, anh và Thanh Tâm Tuyền vẫn là hai phong cách thơ rất độc lập nhau…
TTY:  Tự bản chất, nhóm Sáng Tạo không phải là một văn đoàn với những định chế quy củ nghiêm nhặt, với những cương lĩnh chi tiết rạch ròi, những chương trình họp bàn kiểm điểm, mà chỉ là một quy tụ gần như tình cờ của một số người, tuổi tác chênh lệch nhau, gia thế khác nhau, nghề nghiệp khác nhau, sở học khác nhau, nhưng cùng chung một sở thích là làm mới văn chương nghệ thuật, có vậy thôi. Ngay cả cái chuyện chính là làm mới đó cũng chẳng ai bảo ban ai phải làm mới như thế nào. Tự do sáng tác được tuyệt đối tôn trọng, các tác giả, ai muốn viết gì, viết như thế nào, cứ việc viết, ngay cả việc khen chê sáng tác của nhau cũng chỉ là nhân tiện câu chuyện qua qua, lắm khi đùa cợt, chớ chẳng ai nghiêm trọng hiệu đính ai, chẳng ai ra sức vận động ai. Nếu như có một vận động nào đó thì vận động đó chỉ phát khởi từ Mai Thảo, một Mai Thảo tinh nhạy, cực kỳ yêu quý chữ nghĩa và tài năng, trầm lặng đến độ người không thân tưởng là lạnh lùng phớt tỉnh, với tư cách chủ báo cần bài đủ kịp cho số báo tới, đã có kêu gọi, thúc hối mọi người viết, viết. Những người trong nhóm chẳng mấy khi họp bàn nghiêm trọng, nhưng sinh hoạt với nhau thật chặt chẽ thân tình, hầu như đã dành tất cả thì giờ rảnh rỗi tìm gặp nhau, tay đôi, tay ba, nhiều khi cả đám, nói với nhau đủ thứ chuyện trên đời để rồi cuối cùng cũng chủ yếu quay về chuyện chữ nghĩa tư tưởng như là một ám ảnh đam mê chung. Ở bất cứ nơi nào, nhà riêng, tòa soạn, nhà in, công viên, vỉa hè, bờ sông, quán cốc, hàng ăn, phòng trà… Vào bất cứ lúc nào, sáng trưa chiều tối, và rất, rất nhiều lần mãi tận đêm khuya lang thang trên đường phố. Ðó là thời kỳ bohémien của chúng tôi.

PNHAnh có thể nói đôi điều về quan hệ văn nghệ giữa anh và nhà thơ Thanh Tâm Tuyền?
TTY:  Thanh Tâm Tuyền và tôi bắt đầu chơi thân nhau cũng từ thời kỳ đó. Nửa thế kỷ đã đi qua, thay đổi bao nhiêu cảnh đời, nhưng vẫn không thay đổi tình bạn giữa chúng tôi. Chúng tôi trao đổi chia sẻ với nhau nhiều điều và tất nhiên cũng có nhiều điều chúng tôi không đồng ý với nhau. Thường chúng tôi cũng có những nhận xét bất chợt về những bài thơ nào đó của nhau nhưng chúng tôi tuyệt nhiên chẳng bao giờ thuyết phục nhau dù bằng cách này hay cách khác về phương cách làm thơ của nhau. Lý do quan trọng hơn cả là vì chúng tôi tôn trọng nhau, cũng như hiểu rõ rằng trong việc làm thơ không có chuyện hợp tác, và riêng phần tôi, tôi rất yêu quý tài năng đa dạng và chói rực của Thanh Tâm Tuyền. Theo chỗ tôi nhận thấy, Thanh Tâm Tuyền là một người sáng tạo bẩm sinh, đích thực, ngay cả trong những câu chuyện mưa nắng bình thường, anh cũng hay đưa ra những ý tưởng mới mẻ bất ngờ mà người không quen có thể cho là chối ngẳng, nhưng riêng tôi, tôi nhìn thấy chúng như những tia nháng lạ lùng của một trí tuệ cực kỳ sinh động, khiến người nghe có dịp đi xa thêm nữa trong suy nghĩ của mình. Thường giữa chúng tôi với nhau, Thanh Tâm Tuyền có một cách thức nói chuyện khá độc đáo là từ ý tưởng này nhảy sang ngay ý tưởng khác, thường rất xa cách nhau mà không cần lần lượt đi qua những ý tưởng chuyển tiếp trung gian, khiến người nghe có khi cũng ngớ ra và phải cất công chớp nhoáng dò ngược lại trong đầu mình đường dây tư tưởng của anh. Có lẽ cấu trúc thơ văn của Thanh Tâm Tuyền cũng theo một tiến trình tương tự. Ngay từ những năm mới 20, 21 tuổi, anh đã là một khuôn mặt quan trọng hàng đầu trong sinh họat văn chương miền Nam dù rằng anh là một tác giả gây ra nhiều dị nghị và dị ứng nhất. Mãi cho đến bây giờ, sau những gần năm thập niên rồi, hình như người ta vẫn chưa thật sự công bằng với anh. Cảm thức thưởng ngoạn của quần chúng văn chương Việt Nam quả neo buộc quá chặt, quá lâu vào cội đa già bảo thủ. Thời gian sau này, ra khỏi nước, anh ẩn mình ở một bang miền Bắc hẻo lánh, không công bố thêm sáng tác nào nữa, và như vậy, vô tình anh đã tạo ra một khoảng trống không nhỏ trong sinh hoạt văn chương hải ngoại hiện thời. Những khi gặp nhau, thường tôi có hỏi thăm chuyện viết lách của anh, nhưng hoặc anh lảng tránh trả lời, hoặc trả lời không rõ ràng, lúc vầy lúc khác, dù rằng anh vẫn như hồi nào, hào hứng đam mê nói bàn về tư tưởng chữ nghĩa kim cổ Ðông Tây. Thôi thì văn chương cũng là thứ hữu mệnh, tôi chỉ biết ngậm ngùi và cũng như hồi nào, tôi chẳng nói thêm với anh một lời thúc đẩy, vặn vẹo nào cả.

PNHQuan niệm chung của anh về vấn đề làm mới thơ ca thế nào?
TTY:  Bạn hỏi về quan niệm chung của tôi trong việc làm mới thơ như thế nào, quả tình tôi cũng ngẩn ra. Bởi tôi không hề có, ngay cho bản thân tôi, một chủ trương nhất định nào trong việc làm mới thơ. Một phần vì tự bản chất trời sinh, tôi vốn dị ứng với tất cả những thứ gọi là hệ thống hay định chế. Tôi định nghĩa tôi là một thân phận vô định. Và thơ cũng theo đó mà vô định. Vì vậy, tôi nhận thấy là mọi toan dự định nghĩa thơ nếu như có được đi chăng nữa, cùng lắm chỉ là một định nghĩa què quặt tạm bợ cho thơ, định nghĩa qua những bài thơ đã có mà thôi. Lúc nãy, tôi có nhắc qua về bản chất phiêu bạt của hồn thơ, thành thử một định nghĩa nào đó về thơ mặc nhiên chặn đứng hồn thơ lại. Và vì hồn thơ không thể bị chặn đứng lại mà không bị hủy diệt nên thơ cũng như mọi hình thức diễn đạt khác phải được làm mới, thường trực làm mới. Nội ý niệm làm mới thôi cho thơ, nghĩ cho kỹ, tự nó đã bao hàm đầy đủ lắm rồi những gì cần làm, những gì cần tránh trong bài thơ sắp tới, chớ còn chủ trương thêm phải thế này, phải thế nọ chỉ là một việc làm dư thừa nếu không nói là có khi lại bội phản thơ vì ngăn chặn thơ. Ngay cả với mỗi thi sĩ thôi, trong mỗi bài thơ đang làm của mình, theo dẫn dắt vô định của hồn thơ phiêu bạt, hắn sẽ tự chọn lựa lấy một phương cách đặc thù và cũng là nhất thời nào đó mà thôi. Có như vậy mới thật sự là làm mới, thường trực làm mới. Bằng không, sẽ chỉ là mô phỏng, ngay cả mô phỏng chính mình. Một chủ trương về thơ thật ra chỉ làm hạn hẹp không gian sinh tồn của thơ. Hãy làm thơ theo như mình cảm nghĩ. Người sáng tạo tâm niệm: cõi sống mênh mông biến ảo, liệu ta đã theo hồn thơ đi cùng khắp hay chưa? Ngay tảng đá nơi sân nhà, có những buổi sáng tôi nhìn nó thấy lạ như chưa từng nhìn thấy nó.

PNHSau 1975, anh đi “cải tạo” mười ba năm. Có lúc anh viết: “Hãy kể lại mười năm mộng dữ/ Một lần kể lại để rồi thôi”. Anh đã có dịp kể lại cơn mộng dữ này chưa?
TTY:  Chưa, nếu nói là viết hẳn một cuốn sách dày về cơn mộng dữ đó. Nhưng nếu chỉ nói chung chung thì tôi có kể loáng thoáng đây đó qua một số bài thơ của tôi. Có nhiều biến động lớn lao trong đời như chiến tranh, tù rạc… mà tôi đã chứng nghiệm nhưng rồi tôi đã chỉ nói được một phần rất nhỏ nhoi qua thơ tôi mà thôi. Ðồng ý là văn chương trong tự thể của nó tựu trung là một nỗ lực vô vọng nhưng tuyệt vời nhằm kéo dài sinh mệnh mong manh của ký ức loài người, nhưng việc viết hay không viết về những từng trải của mình hoàn toàn tùy thuộc nơi tâm cơ của từng tác giả. Vạn vật bất bình tất lên tiếng là chuyện đã đành, nhưng lên tiếng như thế nào lại là chuyện khác nữa.
            Hẳn nhiên độc giả Việt Nam, nhất là tác giả Việt Nam nào mà chẳng mong mỏi một kiệt tác bề thế chiếu yêu một thời đại lầm than vừa đi qua của đất nước? Một thời đại thảm khốc thường dẫn dắt ngay theo sau nó một thời đại được mùa của văn học. Nhân loại chẳng học hỏi được ở đâu nhiều bằng từ những thảm kịch của chính mình. Quả đáng tiếc và cũng đáng xấu hổ nếu như chính chúng ta chưa hình thành nổi một giáo án tầm cỡ tương xứng. Hay là dân tộc Việt Nam vẫn chưa vùng thoát ra được cái thảm kịch mấy ngàn năm đeo đẳng của mình là chẳng thu vén đủ nổi thời lượng rảnh rang và tâm trí tỉnh táo cho những công trình quy mô đồ sộ?
            […]

PNHNhững bài thơ sau 1975 của anh, trong khi phản ánh một đời sống khốn cùng cả vật chất lẫn tinh thần, vẫn toát lên nỗi buồn bao dung về cuộc nhân sinh: “Ta tưởng chừng nghe thời đại động/ Xô đi ầm ĩ một cơn đau”, những niềm vui rất thi sĩ: “Cám ơn hoa đã vì ta nở/ Thế giới vui từ mỗi lẻ loi”. Trong quan niệm của anh, thi sĩ là ai trong cõi đời này vậy, giữa những biến động tàn khốc của lịch sử?
TTY:  Thi sĩ, ngươi là ai? Bất thần bị hỏi căn cước, thi sĩ chắc phải lúng túng thôi. Bởi chẳng như người đời thường tưởng lầm, thi sĩ vốn không có căn cước nhất định. Căn cước đích thực của thi sĩ là bài thơ hắn đã làm ra, vì vậy có thể hắn có rất nhiều căn cước khác nhau, mỗi bài thơ là một căn cước nào đó của hắn. Thi sĩ thật ra chỉ là người từng là thi sĩ của những bài thơ hắn đã làm ra, chớ không phải là người lúc nào cũng đang là thi sĩ, hay sẽ là thi sĩ. Thi sĩ không phải là một danh phận thường trực hiện hành mà là một danh phận nào đó thuộc quá khứ. Căn cước hay những căn cước của hắn, nếu phải gọi đó là căn cước thì cũng chỉ là những căn cước đã quá hạn. Nhận thức này cũng ngầm nói rằng thi sĩ là một hồn tính lang thang vô sở cư một khi đã xa lìa bài thơ quá khứ của chính mình. Hơn nữa, nói đến văn chương là nói đến quá khứ. Nếu như phải chọn một định nghĩa nào đó cho văn chương, tôi sẽ sẵn sàng chọn cái tên tựa tác phẩm À la recherche du temps perdu của M. Proust làm định nghĩa vậy. Người sống chẳng ở lại trọn đời nơi quá khứ. Thi sĩ đã mãn phần khi làm xong bài thơ. Và nếu muốn, tự hắn sẽ thoát đi, hóa thân thành một thi sĩ khác ở bài thơ sau.
            Với xã hội, thi sĩ có khác người chăng chỉ ở chỗ làm được thơ cho ra thơ, thế thôi. Tôi thiết nghĩ không nên nhầm lẫn lấy sứ mệnh của thơ làm sứ mệnh của thi sĩ. Trước đây, tôi đã có lần bày tỏ đại khái là thơ có sứ mạng, thi sĩ thì không.
            Với lịch sử, trước những chuyển đổi thời thế, thi sĩ của bài thơ đang làm là cơ phận nhạy cảm nhất trên thân thể cộng đồng. Hắn nhuốm bệnh dịch thời khí trước tiên và sau khi dịch thời khí đã đi qua, dường như hắn vẫn còn phải chịu đựng lâu dài thêm hậu quả của bệnh. Âu đó cũng là cái giá phải chăng mà hắn phải trả sòng phẳng cho chính bài thơ hắn đã làm ra. Nghề nào, nghiệp nấy.

PNHAnh đang sống ra sao, đang viết gì hay có ý định viết gì?
TTY:  Tôi hiện sống một mình trong một khu chung cư do chính phủ Mỹ tài trợ, láng giềng chủ yếu là người da đen và tôi gần như chẳng giao tiếp với bên ngoài vượt quá mức tối thiểu đòi hỏi của xã hội. Về vật chất, tôi tự bằng lòng với những căn bản mà một con người có thể nhờ vào đó mà tạm sống còn trong xã hội Mỹ. Về tinh thần, tôi đang suy nghiệm, qua bản thân khi đối diện với tuổi già trong cô quạnh, về một câu nói của E. M. Cioran mà tôi đã tình cờ đọc thấy: “Ðêm tối chảy trong huyết quản tôi”.
            Tôi vẫn chưa bỏ được viết. Tôi viết, lúc được lúc không, nhiều ít tùy cơ, và bởi tôi vốn không hề nhằm chủ đích chiêu khách tiếp thị gì nên thấy không cần phải rao hàng trước. Bao giờ tác phẩm đã xong thì hay là đã xong, xong như vậy đó. Hơn nữa, qua kinh nghiệm, khi chưa khởi công, thường tôi cũng có ý định này nọ, nhưng đến khi viết được thì lại viết những thứ khác hẳn với ý định ban đầu của mình. Thành thử cuối cùng tôi đành để trống tâm trí mình và tự thả nổi theo duyên nghiệp. Vả lại, đương đầu với tuổi già trái trở, tôi cũng tự lượng sức mình may ra chỉ còn làm kịp được dăm ba câu thơ chơi chơi nữa mà thôi. Từ bao giờ, tôi vẫn tâm nguyện ca múa không dụng tâm, sống đời không hậu ý. Bây giờ, thời gian còn lại ước lượng chẳng bao nhiêu, lẽ nào lại đổi thay điều tâm nguyện đó? Tôi mong mỏi bạn đã chẳng cảm thấy bị phụ lòng khi tôi phải trả lời không rõ ràng như vậy.
            Cám ơn bạn Phan Nhiên Hạo cùng các bạn đã quan tâm thăm hỏi.

PNHCảm ơn nhà thơ Tô Thùy Yên.


PHAN NHIÊN HẠO thực hiện               
4/2005               


http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=4367&rb=0102

 
The following users thanked this post: KYFU

Ngủ rồi nduytai

Re: Tô Thùy Yên
« Trả lời #6 vào: 16/06/2019, 10:12:57 »


Ngựa phi đường xa


Đơn vị thơ Tô Thùy Yên không phải ở câu thơ, như thường lệ, mà là bài thơ có khi khá dài, thường trên một trăm câu, và từng bài thơ một, phải đặt lại vào toàn thể tập thơ mới đúng vị trí và ý nghĩa của nó. Trích dẫn từng câu, từng đoạn, dù tiêu biểu, là việc cực chẳng đã.


Bao giờ, cho đến bao giờ nữa,
Em gánh vui về họp chợ đông?

Tô  Thùy  Yên
Sài Gòn  15.4.2014


TÔ THÙY YÊN đến với văn học trên “Cánh đồng Con ngựa Chuyến tàu”, bài thơ làm năm 1956, đăng trên báo Sáng Tạo thời đó và được độc giả hoan nghênh ngay, nhất là trong giới thanh niên, học sinh. Thời ấy sinh viên chưa nhiều, quần chúng văn chương còn thưa thớt, một thế hệ độc giả mới đang chớm thành hình. Với thời gian nhìn lại, bài thơ có thể xem là một sự kiện văn học vì lời thơ tân kỳ, ý thơ mới lạ, không giống một bài thơ nào khác trước kia mà đã được người đọc không chuyên môn văn học yêu thích ngay. Chuyện hiếm, vì công chúng Việt Nam nói chung là thủ cựu.
            Chuyện đẹp, vì bài thơ của tác giả 18 tuổi đi thẳng đến độc giả 18 tuổi.
            Ngày nay Tô Thùy Yên là tác giả danh tiếng. Bài thơ thanh xuân được những lớp phù sa bồi thêm nhiều ý nghĩa mới.

                                    Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
                                    Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
                                    Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
                                    Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau.
                                    Ngựa rượt tàu rượt tàu rượt tàu.

                                    (…) Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
                                    Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.

                                    (…) Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
                                    Chấm giữa nền nhung một vết nâu.

                                    (Tô Thùy Yên, Thơ Tuyển, trang 13)

            Cánh đồng, con ngựa ở đây khác với những hình ảnh trong thơ cổ, tranh Đường, tranh Tống, ngược lại phần nào đó, gợi lên nền “văn hóa đồng hoang” của Nga La Tư thời cổ đại. Chuyến tàu – nôm na là xe lửa – là biểu tượng văn minh cơ khí và hiện đại. Cuộc va chạm lớn lao giữa hai nền văn minh đông phương thảo mộc và tây phương cơ giới đã được nhà văn Phạm Văn Ký, 1910-1992, vẽ lại trong tiểu thuyết Mất nơi trú ẩn (Perdre la Demeure, Gallimard, 1961, giải thuởng Hàn Lâm Viện Pháp), mô tả cảnh xây dựng con đường sắt tại Nhật Bản vào thế kỷ XIX. Ngày nay, với tập Thơ Tuyển(1) của Tô Thùy Yên, con tàu còn mang nhiều ý nghĩa khác, như hình ảnh của lịch sử, dân tộc và loài người, tàn khốc và vô tâm:

                                    Tàu đi, khoan xoáy sâu đêm thép,
                                    Tiếng nghiến ghê người, thác lửa sa.
                                    Lịch sử dường như rất vội vã,
                                    Tàu không đỗ lại các ga qua.

                                    (Tàu Đêm, 1980, Thơ Tuyển, trang 122)

            Bài thơ làm trong thời gian học tập cải tạo miệt Nghệ Tĩnh; con tàu chở những người tù lưu xứ (trang 121), từ một sự vật cụ thể, mang thêm nội hàm tượng trưng rộng lớn trong thế giới Tô Thùy Yên:

                                    Thời đại đang đi từng mảng lớn
                                    Rào rào những cụm khói miên man

                                    (Thơ Tuyển, trang 125)

            “Trên đường lịch sử sắt tuôn mau” (trang 120) con tàu đối lập với ngựa; ngựa là hình ảnh loài người trong thân phận cá nhân, trong một thế hệ, một dân tộc hay thời đại trước tiến hóa. Sức người có hạn rượt theo bánh xe lịch sử, vô hạn và vô định, vì lý tưởng chính đáng, vì những say mê cuồng nhiệt và mù quáng, vì “duy ý chí”, vì hoang tưởng hay chỉ là nạn nhân trong một hoàn cảnh. Cho đến khi “gục đầu, gục đầu”

                                    Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
                                    Chấm giữa nền nhung một vết nâu.


            Ngựa nâu là màu ngựa thường, có khi là ngựa thồ, không phải là bạch câu, ô truy hay xích thố. Ngựa của Kim Trọng trắng tựa “tuyết in”, chấm trên nền cỏ thanh minh như một đóa hoa lê; ngựa của chinh phu cũng “tuyết in” nổi bật dưới chiến bào “đỏ tựa ráng pha”. Ngựa của Vân Tiên đen tuyền, lấp lánh dưới kim khôi và siêu bạc rạng ngời giữa trận tiền. Ngựa của Tô Lang chỉ có “lớp áo” nâu sòng, màu của số phận dân quê, nói được là màu “dân tộc” cày sâu cuốc bẫm, hay cửa chùa vắng lặng. Khi thua cuộc, con ngựa – con người – chỉ để lại một “vết nâu”.
            Nâu như một giọt máu khô.
            Thơ, và nghệ thuật nói rộng ra, là những giọt máu đang khô, hay đã khô, trên nền mãi mãi non xanh của ngôn ngữ loài người.
            Cuộc đời như thế đấy.

THƠ TUYỂN của Tô Thùy Yên bắt đầu bằng một câu trần trụi, trong bài nhan đề Thi Sĩ làm năm 1960, có thể xem như là tuyên ngôn. Thơ, thơ ai cũng vậy, bao giờ cũng vậy, là Lời, lẫn với Đời. Khác nhau ở tỷ lệ: đời ít lời nhiều, hay ngược lại. Ở Tô Thùy Yên đời và lời cân phân.
            Câu thơ dù bay bổng, nợ đời, tình đời vẫn nặng chĩu.
            Thơ nhẹ cánh, mà đời nặng gánh. Nói “đời” là mơ hồ, thậm chí hàm hồ. Đời nào, đời ai, đời những ai? Đời tênh hênh thì thơ cũng tô hô. Ngày xưa Xuân Diệu tự xem như con chim “ngứa cổ hát chơi”, lại thêm “hát vô ích thế mà chim vỡ cổ”. Tô Thùy Yên không làm thơ để mà chơi.

                                    Tôi giành giựt đổ máu với tôi
                                    Từng chữ một

                                    (Thi sĩ, Thơ Tuyển, trang 9)

            Người xưa kể lại giai thoại “thôi xao”, nhẹ nhàng như việc “đẩy cửa dưới trăng, tăng xao nguyệt hạ môn”, ( chuyện nhà thơ Giả Đảo đời Đường ) không “đổ máu” như Tô Thùy Yên. Lê Đạt nói về nỗi vất vả trong lao động chữ nghĩa có dùng hình ảnh “phu chữ”; Tô Hoài, trong bài viết đùa thân mật, diễn nôm là “cu ly chữ”. Tôi có dịp hỏi ý kiến Lê Đạt, anh trả lời: hiểu như thế không sai, nhưng cục bộ, “phu” còn có nghĩa là “đại phu”, hay “đại trượng phu” theo Mạnh Tử. Đây là lời nói riêng, không phải là ý kiến.
            Tô Lang không chơi chữ nước đôi kiểu ấy: “đổ máu” là đổ máu, chỉ có một nghĩa, dĩ nhiên là nghĩa bóng. Đọc thơ Tô Thùy Yên, cũng không nên đọc để mà chơi. Tác giả kén chọn người đọc và cách đọc, có lẽ vì thế mà 40 năm sau khi có thơ thường xuyên đăng báo, anh mới cho xuất bản một tập Thơ Tuyển. Viết về anh có phần khó; không phải ở khâu bình giải khen chê, mà ở mức độ đồng cảm. Tôi viết bài này là do yêu cầu của độc giả, chủ yếu vì lí do tâm cảm và đồng cảm, xem từng chữ của Tô Thùy Yên như những giọt máu. Ví dụ con ngựa nâu là giọt máu mới đông. Cũng trong bài tuyên ngôn Thi sĩ:

                                    Bài thơ lọt vào người như kẻ trộm
                                    Âm thầm
                                    Vơ vét sạch vô tư

                                    (Thơ Tuyển, trang 10)
 
            Như vậy đơn vị thơ Tô Thùy Yên không phải ở câu thơ, như thường lệ, mà là bài thơ có khi khá dài, thường trên một trăm câu, và từng bài thơ một, phải đặt lại vào toàn thể tập thơ mới đúng vị trí và ý nghĩa của nó. Trích dẫn từng câu, từng đoạn, dù tiêu biểu, là việc cực chẳng đã. Đọc toàn tập, chúng ta nhận thấy thơ của Tô Thùy Yên không có tuổi, cho dù mang nhiều âm vang của lịch sử, trong một giai đoạn chiến tranh, đổi đời và tù đày khốc liệt.

                                    Bây giờ ta đã già như tuyết
                                    Già vô âm vọng
                                    Già thâm u
                                    Bây giờ ta trẻ như hừng đông
                                    Trẻ như tiếng reo
                                    Trẻ bất tử.
                                    Ta ca ngợi những điều vô ích nhất,
                                    Như tình yêu, cuộc đời, sợi tóc cỏ.

                                    (Chim Bay Biển Bắc, 1972, Thơ Tuyển, trang 69)

            Chàng thanh niên 18 tuổi, khi kể chuyện Con ngựa Chuyến tàu đã là một tâm hồn già; con người ngũ tuần vừa ra khỏi trại cải tạo sau nhiều năm lưu xứ với “mái đầu sương điểm”.

                                    Ta về một bóng trên đường lớn,
                                    Thơ chẳng ai đề vạt áo phai

                                    (Câu mở đầu bài Ta về, 1985, Thơ Tuyển, trang 126)

            Bài tuyên ngôn “Thi sĩ” làm 1960 đã có những câu:

                                    Những tên cai ngục
                                    Ngôn ngữ bất đồng.
                                    Với thứ linh hồn quốc cấm,
                                    Tôi tù tội chung thân

                                    (Thơ Tuyển, trang 9)

            Trong một bài thơ đề tặng Thụy Vũ, ghi 7-1972 đăng báo Văn (Sài Gòn) số 208 ngày 15.8.1972:

                                    Ôi những rặng cao su thẳng lối ngay hàng
                                    Ôi những rặng cây mang án tử hình treo

                                    (Bất tận nỗi đời hung hãn đó, trang 58)

            Lại còn bài này nữa cùng thời 1972:

                                    Sống trên đời chuyện ghê gớm quá,
                                    Vậy mà ta sống, có kỳ không ?
                                    Nước mắt ta tuôn khi nghĩ tới
                                    Những người đã chết, chết như rơm

                                    …
                                    Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
                                    Sống tàn đời kẻ sĩ tàn mùa
                                    Trên dốc thời gian hòn đá tuột
                                    Lăn dài kinh động cả hư vô

                                    …
                                    Hề, ta trở lại gian nhà cỏ
                                    Tử tội mừng ơn lịch sử tha
                                    Ba vách, ngọn đèn xanh, bóng lẻ
                                    Ngày qua ngày, cho hết đời ta

                                    (Hề, ta trở lại gian nhà cỏ, Văn số 207,
                                    trang 58-59, Thơ Tuyển, trang 43-45-46)
 
            “Tử tội mừng ơn lịch sử tha”! Bài thơ ghi thời điểm sáng tác: tháng 7-1972. Tôi ngờ ngợ tác giả nhớ nhầm, thơ in nhầm ngày tháng chăng? Tôi (vớ vẩn) đi kiểm soát lại thì thấy đúng, bài thơ đăng trên báo Văn, Sài Gòn số 207 đã dẫn, thời đó, có ghi rõ: làm ngày 11.7.1972.
            Cùng với bài Tưởng tượng ta về nơi bản trạch, lời thơ bi tráng tuyệt diễm:

                                    Ta bằng lòng phận que diêm tắt,
                                    Chỉ giận sao mồi lửa cháy suông.
                                    Thôi nói, bởi còn chi để nói,
                                    Núi xa, chim giục giã hoàng hôn.

                                    Tưởng tượng ta về nơi bản trạch,
                                    Áo phơi xanh phới nhánh đào hồng.
                                    Mùa xuân bay múa trên trời biếc,
                                    Ta búng văng tàn thuốc xuống sông

                                    (Văn số 207, trang 61, Thơ Tuyển trang 51)

            Que diêm tắt mà vẫn phơi phới đào hồng, trên cõi đời này, chỉ có Tô Thùy Yên! Niềm hạo nhiên đó, Tô Quân còn gọi là: “cái có nơi ta” trong bài Chim Bay Biển Bắc đã dẫn, làm ngày 4.8.1972.

                                    Đừng loạn tâm, đừng loạn tâm
                                    Cuối chặng hành trình quay đảo nhất
                                    Cả thảy sẽ an nhiên
                                    Trong trật tự hằng hằng của vũ trụ
                                    A! Loài người thăng tiến được bao xa?
                                    Trời đất phồng lên cơn giận dữ
                                    Thổi trận mưa rơm, Cõi Tạm mù

                                    (Văn số 208, trang 91, Thơ Tuyển, trang 70)

            Trước đó, bài Đãng Tử, 1971 có ghi tiền đề: (epigraphe)

                                    Ngày kia trở lại Ngôi Nhà Lớn
                                    Lòng những bằng lòng một kiếp chơi.

                                    (Văn số 190, trang 59, Thơ Tuyển, trang 23)
 
            Mười năm lưu đày, thêm những lần bị bắt đi bắt lại, âu cũng chỉ là một kiếp chơi! Nắm bắt được điều đó, mới hiểu thấu bài Ta về (1985) nổi tiếng về sau, được nhiều người trích dẫn, không phải lúc nào cũng với hảo ý văn nghệ.


Tô Thùy Yên và Đặng Tiến (tháng 5/2016)

GẦN ĐÂY và hiện nay, về mặt văn hóa, trong nước đang thảo luận dài dòng về đề tài: truyền thống và hiện đại; dân tộc và thế giới; cái riêng trong cõi chung… Ý hướng tốt: muốn liên minh cái nọ với cái kia, điều hòa cuộc sống dân tộc trong một thế giới đang bước đi những bước khổng lồ.
            Thực tế văn hóa, nghệ thuật không rắc rối như vậy. Người nghệ sĩ làm thơ, vẽ tranh một cách hồn nhiên muốn sao làm vậy, rồi tác phẩm của họ nó ra sao còn tùy; dân tộc hay hiện đại là do người xem người đọc. Nếu rung cảm chân thành và sâu sắc thì phải mang đủ hai yếu tố, với phần liều lượng khác nhau.
            Nói rằng điều hòa truyền thống với hịện đại, ngày nay trở thành một khẩu hiệu, một cách chào hàng trong thị trường văn hóa. Trong thâm tâm người sản xuất đã có hậu ý đối lập: làm sao cho có bản sắc dân tộc mà vẫn hiện đại; làm sao theo kịp các trào lưu của thế giới mà vẫn giữ truyền thống. Hai chữ “mà vẫn” có tính cách lãnh đạo và tham lam. Mà lãnh đạo và tham lam là phi văn hóa. Người nghệ sĩ chân chính, dù cho bề ngoài phải chịu ức thúc, nhưng trong đáy tâm hồn, trong cõi thâm sâu của sáng tạo, họ là những cá nhân tự do sống và sáng tác với “cái có trong ta” như chữ nghĩa Tô Thùy Yên.
            Con người nô lệ, vụ lợi và xu thời, giỏi lắm là nghệ nhân hay văn công. Trong thực tế sáng tạo, dân tộc và hiện đại là một đơn vị bất khả phân. Nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân, trong một tác phẩm mới in, đã nói chí lí và dũng cảm: “cái khẩu hiệu Dân tộc Hiện đại của văn nghệ chúng ta trong nhiều năm nay là một mệnh đề thiếu chính xác và hoàn chỉnh ngay ở mặt tu từ (…) khẩu hiệu này thiếu cái hàm ý nhân loại trong truyền thống” (trang 58). Trong một bài khác, anh nói thêm “Cũng vậy đối với nghệ thuật bản sắc dân tộc và tính toàn cầu phải được hiểu là một” (trang 73).
            Cần nêu lên tiền đề này trước khi đề cập đến đề tài cục bộ: Tô Thùy Yên, dân tộc và hiện đại, đặt một trường hợp riêng lẻ trong cuộc thảo luận chung của đất nước – dù rằng cuộc thảo luận khập khiểng. Nói khác đi, vấn đề không đặt ra với tôi; với tôi chỉ có thân xác những bài thơ ngoài thời gian và vô quốc tịch; nó là thơ Tô Thùy Yên thế thôi, không dân tộc hiện đại gì ráo. Nhưng với người đọc – người đọc báo chẳng hạn, người viết có nhiệm vụ (và hạnh phúc) phải cập nhật hóa bài viết, trong bối cảnh lý luận rộng lớn hơn, hiện hành trên đất nước.
            Tô Thùy Yên đến với văn học Việt Nam ở một giai đoạn mới, mở ra tại miền Nam khoảng 1955-1956. Anh là thanh niên trí thức, đọc nhiều sách báo nước ngoài, trên một mảnh đất mở vào “Thế giới tự do” thì dĩ nhiên tâm hồn và trước tác cũng phải hiện đại: câu thơ, nhịp thơ, hình ảnh, ý tứ trong thơ Tô Thùy Yên minh chứng điều đó, chúng ta không cần đồ họa lôi thôi. Cái chính là làm nổi bật tính dân tộc trong thơ Tô Thùy Yên, đã đưa thơ anh đến với một nhân loại muôn đời, vượt qua hàng rào “hiện đại”.
            Trong số những nhà thơ đương thời, có lẽ Tô Thùy Yên là người sử dụng nhiều ca dao nhất. Lưu Trọng Lư, một trong những người phát động thơ mới, thuộc nhiều ca dao, hay nhắc đến những màu sắc dân tộc, nhưng ít khi đưa ca dao vào thơ. Thanh Tâm Tuyền sành ca dao, nhưng không sử dụng, thậm chí có thể nói thơ Thanh Tâm Tuyền là một thi loại phản-ca-dao. Tô Thùy Yên, ngược lại ưa dùng lời ăn tiếng nói dân gian; nếu không thuộc tục ngữ, ca dao, người đọc có khi không hiểu anh nói gì. Ví dụ bài thơ mới làm cuối 1993, để Giã Biệt, “từ bỏ căn nhà, từ bỏ quê hương” lên phi cơ biệt xứ:

                                    Anh ra đi
                                    Bứt ruột mà đi
(a)
                                    Như đã một lần cũng bứt ruột
                                    Đi những mười năm tưởng chẳng còn về
                                    Máu chảy không cầm như nước theo sông
                                    Thành phố của anh
                                    Nhục nhằn duyên cưỡng ép
(b)
                                    Cay đắng phận rau răm (c)
                                    Tim lay lắt chập chờn nỗi đợi
                                    Mòn mỏi nén nhang khuya
(d)
                                    Buổi trở lại, trèo lên cây bưởi cũ (e)
                                    Trông thấy nhau, thương chỉ để mà thương (f)
                                    Đôi bông đó thôi thì em hãy giữ (g)
                                    Tưởng tình xưa
                                    Xin bỏ lỗi cho anh
                                    Anh ra đi
                                    Một lần nữa ra đi
                                    Một lần nữa bứt ruột
                                    Thương người ở lại
                                    Thương như mưa
(h)
                                    (Thơ Tuyển, trang 203)


_____________________________________________
a. Đưa tay mà bứt ngọn ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ
b. Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên
c. Cay đắng phận nghèo (mùi đời)
    (thành ngữ).
Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.
d. Anh buồn còn chỗ thở than
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp khuya
e. Trèo lên cây bưởi hái hoa
f. Cây cao bóng ngã qua rào
Trông cho thấy mặt không chào cũng thương.
g. Một mai thiếp có xa chàng
Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp xin.
h. Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.


            Dĩ nhiên là còn nhiều câu khác mà tôi không biết, như “máu chảy không cầm” tôi nhớ mang máng đâu đó, không tường tận. Muốn tìm ra nhiều điển cố dân gian trong một bài thơ như vậy, phải lần lên đến Quốc âm Thi Tập của Nguyễn Trãi, thế kỷ thứ XV.
            Có những giao hưởng tài hoa và thi vị, trong lời hẹn một ngày về Vườn hạ:

                                    Ăn trái chín cây mùa hạ trước
                                    Thấy nhành ớt động bóng chim quen

                                    (Thơ Tuyển, trang 91)

            Muốn đi vào tâm tư tác giả, ta cần biết:

                                    – Chim chuyền bụi ớt líu lo
                                    Tình thương quân tử ốm o gầy mòn
                                    – Chim quyên ăn trái nhãn lồng
                                    Thia thia quen chậu, vợ chồng quen hơi


            Trong bài Ta về, 1985:

                                    Đêm buồn, ai nữa đứng bờ ao
                                    Khóc người, ta khóc ta rơi rụng

                                    (Thơ Tuyển, trang 135)

            Câu trên gợi lên cảnh “đêm khuya ra đứng bờ ao” mà ai cũng nhận ra, nhưng không gian bờ ao kết hợp với “rụng” nhắc lại một câu ca dao khác và gợi ra tâm trạng hờn tủi của người về:

                                    Thiếu chi cam rim hường rim anh không chuộng
                                    Anh đi tìm trái khế rụng bờ ao.


            Một bài khác còn nhắc tới cây khế dung dị nhưng tuyệt đẹp:

                                    Ta nhớ lắm
                                    Khu vườn xưa, cây khế tím mùa hoa

 
            Có khi Tô Thùy Yên sử dụng nguyên si một câu ca dao:

                                    Thôi, em tiếc thêm chi cái sợi dây dài
                                    Để đến nỗi ngồi hoài bên giếng cạn?

                                    (Thơ Tuyển, trang 150)
 
            Nguyên câu văn ca dao, hóm mà sâu:

                                    Tưởng giếng sâu em(anh) nối sợi dây dài,
                                    Ai ngờ giếng cạn em(anh) tiếc hoài sợi dây.


            Bài Mùa Hạ làm trong trại học tập Nghệ Tĩnh, trực tiếp nhắc nhở nội dung dân gian của một hình ảnh.

                                    Ngày nghỉ về vườn thăm họ ngoại
                                    Lòng như con sáo trong ca dao

                                    (Thơ Tuyển, trang 108)

            Con sáo là hình tượng tự do: “con sáo sổ lồng sáo bay”. Vương vấn đâu đó ít nhiều cay đắng, khi nhớ đến câu trước: “Ai đem con sáo sang sông”, so với tình huống của người dân miền Nam đi học tập cải tạo “bên kia sông”. Cùng trong trang đó:

                                    Em mặc bà ba ra bến nước,
                                    Đưa tay khỏa nhẹ nhớ thương nào,
                                    Đến nay lòng ấy còn xao gợn…
                                    Mùa trái cây nào hái tặng nhau.

                                    (Thơ Tuyển, trang 108)

            Ngoài “mùa trái cây” gợi nhớ đời sống Miệt Vườn, chữ “bà ba” là đặc tính của Nam Bộ, nhưng không xuất hiện nhiều trong thơ. Thường thường ta chỉ thấy “áo lụa Hà Đông” hay là:

                                    Yêu nhau gói trọn hồn trong áo
                                    Nhớ nhau từ trong tà lụa bay

                                    (Đinh Hùng)

            Võ Phiến thời đó (1972) đã nhiều lần luận về cái áo dài tha thướt; sau này, ra nước ngoài, anh mới nhớ đến cái áo bà ba. Tô Thùy Yên trong những câu thơ uyên bác, không ngại dùng những từ dân dã, Nam Bộ như cười bung (trang 59), lá bung phơi (trang 111), bung nở (trang 212), tiếng hò mời dzô dzô (trang 47), quên ngang (trang 119). Những lời lẽ dân gian được sử dụng uyên bác:

                                    Tôi gầy yên lặng với âm thanh (Thơ Tuyển, trang 10)
                                    Ngọn cây, ô, đã giát hoàng hôn (Thơ Tuyển, trang 43)

            Ngoài ra còn có một số hình ảnh lấy từ ở đời sống hàng ngày, ở tuổi thơ nông thôn, từ tàu chuối lưa thưa đến hoa khế tím, con còng, con dế, đến chim bói cá, cá thia lia, những trò chơi trẻ con như cút bắt, “xu thảy hết… đồng cái thua buồn cũng liệng sông” (trang 95); với những kỷ niệm sắc bén:

                                    Ai ngắt dùm anh cây cỏ sướt
                                    Làm đôi gà đá, đá ăn cười

                                    (Thơ Tuyển, trang 92)

            Gà đá, ở đây là những chùm cỏ cú, làm trò chơi của trẻ nghèo ở nông thôn.
            Kỷ niệm thơ ngây, lần xen vào những câu thơ hào hoa:

                                    Con chim lạc bạn kêu trời rộng,
                                    Hồn chết trôi miền dạ lý hương.

                                    (Thơ Tuyển, trang 94)

            Trong từ vựng, đặc sắc trong ngôn ngữ thơ Việt là giá trị những hư từ, như liên từ, giới từ, những công cụ cú pháp không có nội dung riêng, trái với thơ chữ Hán nặng về thực tế và né tránh hư từ. Thơ Tô Thùy Yên cô đúc và có phong thái cổ thi nên cũng ưu đãi thực từ, nhưng hư từ trong thơ anh lại rất đắc vị:

                                    Ta về cúi mái đầu sương điểm
                                    Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
                                    Cảm ơn hoa đã vì ta nở
                                    Thế giới vui từ mỗi lẻ loi

                                    (Ta Về, Thơ Tuyển, trang 128)

            Đoạn thơ này thường được trích dẫn vì nội dung lịch sử và nhân đạo, triết học. “Hoa đã vì ta nở” nhắc đến câu thơ vua Trần Thánh Tông (1240-1290), trong bài Vườn xuân nhớ người cũ:

                                    Vạn tử thiên hồng không lạn mạn,
                                    Xuân hoa như hứa, vị thùy khai?

 
            Đặng Tiến tạm dịch:

                                    Muôn hồng ngàn tía suông đua sắc,
                                    Hoa nở, vì ai vẫn nở nhiều?


            Nhưng đừng quên giá trị của nó về mặt thi pháp, cách sử dụng các hư từ “vì”, “từ”, và cách ngắt nhịp huê dạng “từ mỗi” trong câu thơ.
            Nói chuyện thơ, chúng tôi nghĩ nên ưu tiên cho các vấn đề về thi pháp, từ pháp, âm pháp, nói chung là ngôn ngữ. Dĩ nhiên nội dung của tác phẩm là quan trọng. Trong thời Tô Thùy Yên, lịch sử dân tộc để lại nhiều hình ảnh sâu đậm, quá khuôn khổ của một bài báo.
            Vậy xin khất độc giả đến một dịp khác.


ĐẶNG TIẾN               
Paris, 22.10.1998               
Điều chỉnh, 6.12.2009               

______________________________________
(1) Tô Thùy Yên, Thơ Tuyển. Tác giả xuất bản, Minnesota, Hoa Kỳ 1995. Thơ trích từ đấy.
(2) Thái Bá Vân, Tiếp xúc với hội họa, nxb Viện Mỹ Thuật, Hà nội, 1998, chỉ in 400 cuốn, ai đọc ai không? Đến hôm nay, 2009, chưa thấy tái bản.


http://www.gio-o.com/ToThuyYen.html