Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 51956 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #435 vào: 17/11/2018, 20:35:10 »


Vũ Hân trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

         Cửa Hàn, mùa thu kỉ hợi,
         (…) Nếu anh cho phép tôi trả lời ngay và gọn gàng rằng truyện ngắn Việt nào mà tôi thích nhất thì tôi xin thưa: Theo chủ quan của tôi, tập truyện ngắn “Kép tư Bền” của Nguyễn Công Hoan(1) thời tiền chiến và những truyện ngắn của Phan Du ở thời hậu chiến này thỉnh thoảng cho đăng trên “Mùa Lúa Mới” hồi năm ngoái, năm kia và trên “Bách-Khoa” hiện nay là những truyện mà tôi thích nhất, bởi lẽ trong những truyện đó tác giả của nó đã nêu lên được những tâm trạng cùng những kiếp sống của con người thời đại.
         Nghệ sĩ “Kép tư Bền” của Nguyễn Công Hoan sống một cuộc sống đen tối, có khi bi thảm đến chảy nước mắt nơi hậu trường, một cuộc sống không được xã hội bảo đảm, thế mà đêm đêm phải ra sân khấu dâng cười cho thiên hạ.
         Lão “Thập Bản” của Phan Du, cuộc sống kéo sát xuống gần bằng con vật, và cũng vì muốn được thưởng một chút vinh hám đến nỗi phải làm con “Ngựa hai chân”, để mua vui cho cậu ấm, cô chiêu…, phải chăng “Kép tư Bền” và “Thập Bản” là những nạn nhân của một chế độ đã qua? Thế mà chưa bưa, Phan Du còn đưa ra một nạn nhân của thời đại gần đây nữa: lão “Lắc Đầu” trong truyện “Ngôi sao xa”. Những tội ác nào của thời đại đã làm cho “Lão Lắc Đầu” cứ lắc đầu mãi cho đến chết, cứ mang mãi đến trọn kiếp một tấm thân tàn ma dại! Dục vọng và bạo quyền của con người ư? Thật là sâu sắc thay Nguyễn Công Hoan trước kia, và Phan Du hiện nay!
         Còn về truyện ngắn quốc tế, xin thú thật với anh là tôi ít được đọc. Tuy nhiên, nếu ôn lại những truyện mà tôi thỉnh thoảng được đọc qua trong mấy năm nay thì tôi không quên hai mẩu truyện nó làm cho tôi ưa thích và suy nghĩ nhiều. Đó là truyện “Người có bộ óc vàng” trong tập “Những bức thư viết tại cối xay gió” của Alphose Daudet trước kia và truyện “Lão du khách háo danh” khi đi thăm đàn tế trời tức đàn Nam Giao ở Trung Hoa của nhà văn Anh Somerset Maugham. Tiếc rằng tôi không còn nhớ rõ đầu đề cái truyện ngắn kể trên của Somerset Maugham. Xin anh lục tìm lại hộ cho tôi với, chỉ nhớ rằng cốt truyện ấy thật rất giản dị. Somerset Maugham kể lại cuộc viễn du của một du khách hình như tên là Hasting Nébraska qua Trung Hoa tìm đến thăm đàn Nam Giao (đàn tế trời). Thấy cái cảnh tượng hùng vĩ và có vẻ bất tử của đàn, chàng du khách kia cũng muốn danh hiệu mình được bất tử và hùng vĩ như cái đàn tế trời vậy. Du khách bèn tìm mẩu than nhỏ viết ngay hai chữ Hasting Nébraska trên sàng đàn trước khi từ giã ra về. Nhưng du khách vừa bước khỏi xuống mấy bực tam cấp thì người thủ từ Trung Hoa vội lặng lẽ tiến đến nhổ gọn một bãi nước bọt trên sàng, đúng chỗ du khách vừa ghi tên và lấy chân chà mất hẳn cái danh hiệu quí hóa ấy đi.
         Thật quả Somerset Maugham đã đánh một đòn rất mạnh vào những thằng người dốt nát và khờ khạo mà muốn mình được bất tử và hùng vĩ với non sông.
         Còn câu truyện “Người có bộ óc vàng” (L’homme à la cervelle d’or) của Alphonse Daudet kể rất cảm động. Theo ý tôi, cái của anh chàng có bộ óc vàng kia là hình ảnh của những chân nghệ sĩ xưa nay trên thế gian. Những bậc chân nghệ sĩ thường đem tim óc, đem tất cả năng lực của mình ra cống hiến cho đời, dù còn một chút tàn lực cũng không hề tiếc. Cái anh chàng có bộ óc vàng của Alphonse Daudet cũng vậy. Chàng đã móc tất cả khối vàng trong có mình đem ra dần dần hiến cho mọi người. Đến lúc bộ óc chàng trống rỗng, chàng cũng cố móc ra một chút ít vàng còn sót lẫn lộn với máu để đổi lấy đôi giày đem tặng người yêu mình. Chung tình đến thế là cùng! Cái độ chung tình của con người nghệ sĩ nào có thua gì cái anh chàng có bộ óc vàng kia, phải thế không, anh Ngu Í?


VŨ HÂN

____________________________________
(1) Nhà Tân Dân xuất bản, Hànội, 1935.


BÁCH KHOA |  SỐ 72

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #436 vào: 18/11/2018, 12:15:00 »


Một độc giả ở Côn Đảo trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

(…) TRUYỆN NGẮN VIỆT mà tôi được biết và tôi thích nhứt, hẳn là chuyện “Con Tấm con Cám”, tôi không cần thuật lại câu chuyện ấy lại, tin rằng trên mảnh đất Việt này, bất cứ trẻ con nào thảy đều thuật lai được.
         Con Tấm con Cám là một câu chuyện cổ tích Việt. Tôi có đọc, trong sách nào quên rồi, (nhưng hình như trong “Thái bình quảng kí” của Lâm Ngữ Đường) thì chuyện ấy truyền sang qua Tàu, rồi mấy trăm năm sau, sang qua Âu châu. Ở Âu châu, chuyện ấy được phỏng theo mà thành ra Cendrillon, nó đã tràn lan khắp thế giới và ai đọc cũng cho là hay cả. Được thế giới công nhận là chuyện hay, thì ít nữa, chuyện không phải là dở. Khiếu thẩm mỹ tôi rất kém, tôi vịn vào cái lý thô sơ ấy mà cho rằng “Con Tấm con Cám” là truyện Việt hay hơn hết.


MỘT ĐỘC GIẢ của Bách-Khoa ở Côn Đảo


BÁCH KHOA |  SỐ 72

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #437 vào: 18/11/2018, 22:04:43 »


                    Quà tặng Noel

                  TẶNG Em bông hoa trắng
                  Biểu hiện tâm hồn Em
                  Đêm Noel im lặng
                  Sương sa ở bên thềm
                  Bông mai rung trước gió
                  Tỏa ngát hương trong đêm
                  Lòng mai trong trắng quá
                  Đẹp như chuông đổ rền.


                                            DIỆU LINH



BÁCH KHOA |  SỐ 72

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #438 vào: 19/11/2018, 19:40:53 »


          Âm hưởng
                                  |  Người đi thuở trước, mình đi tiễn.
                                  |  Đến lượt mình đi, vắng mặt người.
                                  |  Nắm đất từ đây ai ấp ủ?
                                  |  Gương thề, mặt đá, bóng trăng soi.

                                   (Giã từ)
                                   Phạm Tăng


            Gương thề, mặt đá bóng trăng soi
            Đêm chửa tàn canh, mộng tỉnh rồi
            Sương thấm lòng hoa, hoa đã rụng
            Úa vàng, cỏ ngậm giọt chia phôi

            Tha thiết yêu đương, tủi phận mình
            Máu đào dâng hận ngập cao xanh
            Bão lòng một trận lan vàng đá
            Ba thước chôn sâu một mảnh tình
           
            Hồn em u uất lạc chân mây
            Mộ vắng, hương thừa, thoáng khói bay
            Anh khóc thương em, em hối tiếc
            Nửa đường, phút chốc nỡ rời tay

            Vẫn tưởng ngàn thu ngậm oán hờn
            Nhìn anh gối chiếc với chăn đơn
            Dăm đêm trăng khuyết vừa ly biệt
            Đã ngỡ mười năm nhạn lạc đàn

            Xa nhau mới biết rõ lòng nhau
            Trút nợ trần duyên, nặng gánh sầu
            Kẻ ở, người đi, ai đứt ruột?
            Suối vàng thánh thót hạt mưa ngâu…

            Thăm viếng canh trường mượn giấc mơ
            Trông nhau càng xót cảnh bơ vơ
            Trao thương gởi nhớ đôi hàng lệ
            Khuất nẻo u minh ánh nguyệt mờ…

            Đòi phen rung lá động cành sương
            Nấp bóng chiều hôm đứng cạnh giường
            Em sát bên anh, anh chỉ thấy
            Ngàn trùng mây khói biệt âm dương

            Vì em anh bỏ phí ngày xuân
            Giữa hội yên hoa tóc bạc dần
            Bao đóa hồng tươi mong kẻ hái
            Tiếc chi ai-cúc chốn khâu phần

            Hương lửa cùng anh, ước tái lai,
            Cõi trần, em lại muốn đầu thai…
            Nụ xanh chưa nở, anh già cỗi,
            Chẳng lẽ yêu-đào sánh lão-mai?

            Mong anh sớm gặp khách thuyền quyên,
            Hình dáng như em, nết dịu hiền,
            Nghĩa trước tình sau anh trọn vẹn,
            Mất còn, em đỡ tủi tơ duyên.

            Bạn gái thương em kiếp lỡ làng,
            Đạp thanh viếng mộ buổi xuân quang:
            Đuốc hoa sớm tắt, thân vùi dập
            Nghi ngút làm chi mấy nén nhang!

            Chung tình, em luống ngại tiêu vong,
            Giữa mộ xin ương một khóm hồng:
            Thể xác em tan thành nhựa sống
            Nhuộm mầu huyết lệ thắm đôi bông.

            Anh chiết vài chi, cắm trước nhà,
            Nhớ nhung, khỏi ngại quãng đường xa,
            Nước trong anh tưới hồn em mát,
            Muôn thuở, thôi đành một kiếp hoa…


                                            ĐOÀN THÊM


                          GƯƠNG cứ thề mà trăng cứ soi
                          Dẫu có thương, hoa cũng rụng rồi
                          Ví biết chăm hoa từ ở ngọn
                          Thì chỉ đau xót lúc pha phôi

                          Đừng nói yêu đương, chớ dối mình
                          Máu đào từng cạn buổi còn xanh
                          Ai đi thì cứ ai đưa tiễn
                          Nẻo giác ta không bợn bụi tình

                          Siêu thoát hồn ta gội nước, mây
                          Ngàn trùng nương gió cánh hồn bay
                          Thương chung những kẻ vương trần lụy
                          Ngủ một đêm rồi mộng trắng tay

                          Cứ mãi yêu, ghen với giận, hờn
                          Cười trong đại yến, tiếc cô đơn
                          Nơi chăn xum họp, lo chia biệt
                          Nghe quỷ hò reo, tưởng tiếng đàn

                          Đến thuở nằm xuôi họa biết nhau
                          Hãy rót hồn đi trong rượu sầu
                          Cứ tẩm mãi thân vào lớp bụi
                          Ngàn mây ta tắm nước sông ngâu…

                          Dương thế ta vừa trải giấc mơ
                          Hờn, yêu lạc lõng, hận vu vơ
                          Khóc hão, ghen tuông, thương giọt lệ
                          Xót hoa sớm héo, trách gương mờ…

                          Nghiêng nằm nghe rụng mấy đài sương
                          Từ thuở chăn hoa tủi chiếu giường
                          Một mảnh hồn hoang, ngàn cỏ úa
                          Khát khao từng giọt nước cành dương

                          Ta, đến bây giờ mới thấy xuân
                          Phù hoa trần thế mãi xa dần
                          Xương tàn một nắm ba tầng đất
                          Còn có chi đâu dưới mộ phần

                          Đừng hận lòng ai chuyện khứ, lai
                          Thất tình từ nhiễm lúc hoài thai
                          Thâu canh nửa giấc, nồi kê chín
                          Gác vắng, hiên ngoài đã gió mai

                          Đầu cành eo óc cái chim quyên
                          Giục sớm sang trưa, gió trở hiền
                          Giây tơ ví chẳng vào chung khúc
                          Thì hãy coi là chuyện trái duyên

                          Nghiệp trái, tiền oan, dứt lẹ làng
                          Sông trăng vời vợi nhuốm trời quang
                          Mảnh gương kim cổ còn soi đó
                          Riêng tắt từ lâu chuyện lửa nhang

                          Đã có tồn thì phải có vong
                          Lận đận ham chi lớp bụi hồng
                          Mỗi sợi tóc tơ là sợi lụy
                          Gai hồng khêu máu, nhỏ vài bông

                          Thôi hết rồi quê, thôi hết nhà!
                          Thôi rồi bến cũ, thôi trời xa!
                          Thôi cung bậc hững, thôi thơ lạnh!
                          Ngọn gió đưa… và, một cánh hoa.


                                                                 MẶC THU

__________________________________________________
Mặc Thu họa bài thơ Tiếng vọng bên kia của Đoàn Thêm.



BÁCH KHOA |  SỐ 72

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #439 vào: 20/11/2018, 12:26:38 »


                             Khép nép

            RỒI những chiều mưa lên nhòa phố hẹp
            Tôi lại trở về nhung nhớ mênh mông
            Dáng cũ hình xưa đìu hiu lắng đọng
            Người đã đi rồi, chẳng hẹn bến sông…

                        Tôi ở nơi này hoài công mong đợi
                        Bởi quá chung tình nên khổ vu vơ
                        Ánh mắt sầu đêm, mùi thơm hơi thở
                        Một buổi lâm hành không rượu tiễn đưa

            Mộng úa hồn đơn nghe chừng bỡ ngỡ
            Khép nép hoa lòng bắt thoáng tương tư
            Chỉ một lần nào mà ra gặp gỡ
            Quen nhớ quen buồn từ dạo ban sơ

                        Tôi sẽ không còn làm thơ được nữa?
                        Mai mốt ai chờ mà nhớ mà thương?
                        Tôi sẽ không về đường xưa lối cũ
                        Hoa bướm đi rồi nhạt sắc phai hương

            Vì trót chân tình nên ra hờ hững
            Một thuở nào về ôm ấp vàng son
            Không đẹp gót hài người sang xứ mộng
            Cho lỡ cung sầu vò võ cô đơn

                        Rồi đếm thời gian tôi về phố hẹp
                        Mơ thuở tự tình, dan díu mi môi
                        Dáng dấp qua rèm mang theo giấc điệp
                        Khép nép tôi chờ người đến trong tôi…


                                                       Sông Phố, 59
                                                       LÊ HÙNG
                                                       (Văn Đoàn Viễn Xứ)
                                                       Kbc 3025




BÁCH KHOA |  SỐ 72

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #440 vào: 20/11/2018, 22:25:34 »


Lối cũ về chiều
ooo
ĐÂY chiều chết lặng trong tim
Chiều ngưng trong máu, chiều im trong hồn
Chiều rơi thoi thóp mỏi mòn
Ta nhìn nắng đọng bên cồn ngẩn ngơ
Chiều đi hiu hắt hoang sơ
Gió lay lắt động vật vờ cỏ cây
Chiều nghiêng phủ mái tranh gầy
Vườn nương hoang phế, đó đây chạnh sầu
Sông dài cuốn chảy về đâu
Mênh mông trời nước một màu quạnh hiu
Núi mờ son nhạt cô liêu
Xa xôi, trầm mặc giáng chiều nhuộm pha
Điêu tàn, mấy cuộc can qua
Thời gian hờ hững, lòng ta bồi hồi
Tang thương vật đổi sao dời
Ta về lối cũ ngậm ngùi, ngẩn ngơ

Trăm năm dâu bể xóa mờ
Riêng ta còn tiếc thời xưa huy hoàng…

                            Sông Chợ Cũ Tam Kỳ
                                      Một buổi chiều

                              KIM THU



BÁCH KHOA |  SỐ 72

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #441 vào: 21/11/2018, 12:23:28 »


BÁN NGUYỆT SAN BÁCH KHOA
____ ₪₪₪ ____
báchkhoa
Lá thư tòa soạn

Các bạn thân mến,
HÔM NAY số kỷ niệm ba năm của Bách-Khoa đã đến tay các bạn.
         Ba năm cố gắng của toàn thể anh em xây dựng tạp chí đã được thể hiện một phần trong số đặc biệt này dưới sự phê bình, khích lệ thường xuyên của bạn đọc. Gần đây hưởng ứng lời kêu gọi của Bách-Khoa, số thư gửi về tòa soạn mỗi ngày một nhiều không những đã bộc lộ lòng tin yêu nồng nhiệt của bạn đọc đối với Bách-Khoa mà còn soi sáng cho tờ tạp chí thân mến của các bạn nhận thấy đâu là phần khiếm khuyết cần sửa chữa, đâu là phần tiến bộ phải cố gắng thêm.
         Có bạn đòi Bách-Khoa phải đổi lại thể tài, sửa cho khổ rộng lớn, mầu sắc huy hoàng, cắt bỏ các trang quảng cáo… Có bạn dễ tính hơn đã tạm hài lòng về hình thức hiện tại, cho rằng trong mấy chục số vừa qua Bách-Khoa đã làm vui mắt bạn đọc hơn các năm trước; số trang tăng, số bài nhiều, mà trình bày vẫn được mỹ thuật, chữ xếp đỡ sai lầm.
         Có bạn xác nhận rằng Bách-Khoa đã sưu tập được nhiều tài liệu tương đối giá trị, nhiều bài đã đáp ứng kịp thời, những thắc mắc, băn khoăn của bạn đọc; những mục điểm sách, phỏng vấn văn nghệ mở ra liên tục làm cho phần khảo luận tăng thêm sức sống. Trong phạm vi sáng tác, Bách-Khoa cũng đã giới thiệu được những công trình nghệ thuật có nội dung tiến bộ và kỹ thuật tương đối vững vàng đồng thời đã phát hiện được những cây bút mới để bổ sung cho hàng ngũ văn nghệ nhiều mầm tươi mới.
         Tuy nhiên nhìn chung về toàn thể các bài thì Bách-Khoa vẫn chưa mất được vẻ khô khan, vẫn còn kém khả năng hấp dẫn.
         Có bạn nghĩ rằng muốn được thực sự lợi ích cho người đọc, Bách-Khoa phải chú trọng nhiều đến thời sự, phải đi sâu vào đời sống hiện tại, đề cập đến những vấn đề mà mọi người đương mong muốn tìm hiểu, băn khoăn theo dõi. Tóm lại, phần khảo luận cũng như phần sáng tác văn nghệ, phải phản ảnh được cuộc sống thực của xã hội, nói lên được những đòi hỏi và yêu cầu chính đáng của thời đại.
         Những nhận định trên đây đã ít nhiều phác họa cho Bách-Khoa một đường lối biên khảo và sáng tác đứng đắn, có chiều hướng tiến bộ. Bách-Khoa xin thành tâm ghi nhận, và xin cố gắng thực hiện.
         Hàng trăm lá thư gửi về mang hàng trăm ý kiến có khi giống nhau, có khi trái ngược nhau. Nhưng nhận xét nào cũng giúp cho Bách-Khoa thấy một khía cạnh sai hay đúng của mình, thấy một tấm lòng thiết tha với bước đi của mình, thấy một nguồn an ủi và hứng khởi vô cùng quí giá. Bách-Khoa xin các bạn nhận nơi đây lời chân thành cảm tạ.
         Bước sang năm thứ Tư với sự ủng hộ nồng nhiệt của bạn đọc, Bách-Khoa càng vững tin ở nỗ lực của mình, vững tin ở đường lối đương noi theo mà quyết tâm tiến tới.


BÁCH-KHOA


SỐ ĐẶC BIỆT:  KỶ NIỆM ĐỆ TAM CHU NIÊN |  SAIGON  1960

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #442 vào: 21/11/2018, 22:09:09 »
BÁCH KHOA |  SỐ 73  [15-1-1960 |  254 trang]  giá: 25$

⎎  Số đặc biệt    Kỷ niệm đệ tam chu niên 
MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Bách-Khoa |  Chúc mừng năm mới |  3
Bách-Khoa |  Lá thư tòa soạn |  4-6
Huỳnh Văn Lang |  Vài nhận xét căn bản để thiết lập một chánh sách thuế vụ |  7-16
Phạm Hoàng (sưu tầm) |  Danh ngôn, danh lý: Đào luyện và giáo hóa |  10, 23, 40, 55, 63, 69, 82, 97, 99, 109, 116
Phạm Hoàng |  Dòng tư tưởng… Một người |  17
Hoàng Minh Tuynh |  Định nghĩa dân chủ |  18-23
Thuần Phong |  Nhân năm Canh Tý nói chuyện về: Con chuột, theo quan niệm ta trong văn thơ |  24-28
Nguyễn Thượng Huyền |  Cụ Phan Bội Châu ở Hàng Châu |  29-40
Bách-Khoa |  Thần Esculape |  40
Trần Thúc Linh |  Hoa xuân |  41-44
Vương Hồng Sển |  Bộ chén trà năm Giáp Tý (1804) |  45-52
Nguyễn Hiến Lê |  Bách-Khoa phỏng vấn: Tình hình xuất bản trong năm 1959 |  53-63
Bách-Khoa |  “Tự chung thiện chiếu” |  63
Bùi Khánh Đản |  Xuân mới người xưa (thơ) |  64
Vũ Hân |  Chung thủy (thơ) |  65
Phạm Ngọc Thảo |  Trong hành quân bình định: Nổ súng để làm gì? |  66-69
Quảng cáo |  70
Nguyễn Văn Ba |  Dịch lý và Kiết, Hung, Hối, Lẫn |  71-75
Quảng cáo |  76
Mặc Thu |  Tác phẩm 99,5 (truyện) |  77-83
Quảng cáo |  84
Đoàn Thêm |  Các ông Hoàng mộng tưởng |  85-90
Bách-Khoa |  “Tung” và “hoành” |  90
Trương Đình Cử |  Bàn về sự phát triển của nền Tân nhạc Việt Nam |  91-99
Nguiễn Ngu Í |  Tổng kết cuộc phỏng vấn văn nghệ về truyện ngắn Việt và ngoại quốc |  100-109
Trần Thi Khanh (dịch) |  Xuân giang hoa nguyệt dạ (thơ) \ Trương Nhược Hư |  110-111
Phan Văn Tạo |  Cái bong bóng lợn (truyện) |  112-116
Quảng cáo |  117-118
Cô Liêu (dịch) |  Thanh niên Việt Nam ngày nay \ F. Parrel |  119-127
Bách-Khoa |  Cũng là “lưu danh thiên cổ” |  121
Bách-Khoa |  Đức kiên nhẫn của một nhà khắc kỷ |  127
Quảng cáo |  128-129
Nguyễn Hiến Lê |  Vấn đề dạy sinh ngữ ở bậc Trung học và dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ ở bậc Đại học |  130-138
Đoàn Thêm |  Tết mới Tết cũ (thơ) |  139
Khổng Nghi |  Dưới tấm bao lơn |  140-143
Bách-Khoa |  “Kế hoạch nhị thập niên” |  143
Quảng cáo |  144
H. Đ. |  Tin văn quốc tế |  145-147
Bách-Khoa |  “Thảo một giai binh” |  147
Á-Nam Trần Tuấn Khải (dịch) |  Vọng kế môn (thơ) \ Tổ Vịnh |  148
Tiểu Dân |  Năm 1960 với những khả năng kiến tạo Hòa bình |  149-155
Phan Lạc Tuyên |  Tiếng chim mùa xuân (thơ) |  156
Cô Phương Thảo |  Một vài nhận xét về: Tình hình Văn chương và Báo chí năm 1959 |  157-164
Nguyễn Phan An |  Lá thư gửi mẹ lúc xuân về (thơ) |  165-166
Quốc Dũng (phỏng dịch) |  Hoa lạ \ Inaco de Saudematos |  167-172
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 73 |  172
Xuân Hiến |  Bách-Khoa đại tiệc (thơ) |  173-177
Trần Văn Khê & Mộng Trung |  Xuân xa quê (nhạc) |  178-179
Vũ Thanh Ly |  Một vài hình ảnh Tết (phóng sự) |  180-186
Huy Trâm |  Dòng tháng năm (thơ) |  187
Trang Thế Hy |  Bơ vơ (truyện) |  188-195
Đông Xuyên (dịch) |  Ngày xuân sắp về miền Đông gửi Miêu Thân (thơ) \ Ôn Đình Quân |  196
Võ Phiến |  Tuổi thơ đã mất (truyện) |  197-202
Nguyễn Văn Xung |  Duyên xuân (thơ) |  203
Kiều Yiêu (dịch) |  Dịch Liêu Trai: Nữ lang nhà họ Đậu \ Bồ Tùng Linh |  204-207
Tường Linh |  Vui \ Vườn (thơ) |  208
Nguyễn (dịch) |  Phát đạn \ Alexander Poushkin |  209-218
Nguiễn Ngu Í (dịch) |  Chí Hạng Võ – Tình Ngu Cơ (thơ) |  219
Yã-Hạc Nguyễn Văn Trung |  Thuyền đi (thơ) |  220
Vũ Hạnh |  Cuôi ba-dùm |  221-231
Huy Lực |  Những mùa xuân (thơ) |  232-233
Ngu-Í Nguiễn Hữu Ngư |  Bài thơ hai ngả (thơ) |  234
Phan Du |  Lão quán ở chân dốc Từ Bi |  235-246
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 73 |  246
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn \ Giới thiệu sách mới |  247
Quảng cáo |  248-254
Phạm Tăng |  Trình bày bìa và minh họa


SAIGON |  1960




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #443 vào: 22/11/2018, 22:28:56 »


Nhân năm Canh Tý nói chuyện về: Con chuột, theo quan niệm ta trong văn thơ
000
         Vè thăng thiên lục vấn(1) mở đầu:

                  Kể từ lúc khai thiên hội tý.
                  Vẫn cùng là nguyên khí hồng hoang
                  Vừa đến đời Bàn Cổ mở mang
                  Rồi mới phân âm dương ra trời đất.


         Trong truyện Trinh Thử,(2) chuột Bạch ứng đối với chuột Đực, cũng nhắc ngôi vị của loài mình do “ông Thánh” đã đề cao khi nói: Tiên sanh ư tý, rằng:

                  Mở mang trời cũng có mình,
                  Lẽ nào dám để thường tình cười chê?


         Không biết vì lẽ chi và ông thánh nào mà vinh tôn thứ loài gặm cạp(3) thái quá. Âu là theo cái đà vinh tôn ấy mà nó được mợi trèo đèo, nghinh ngang hống hách trên xà nhà, vinh râu, xem con mèo bằng nửa mắt:

                  Con mèo con mẻo con meo!
                  Muốn ăn thịt chuột thì leo xà nhà!
(4)
                   (Ca dao)

         Con mèo, kẻ thù truyền kiếp, há dễ dung tha, nên đập đuôi thót lên truy nã. Thật là “kỳ phùng địch thủ” vì:

                  Mèo khen mèo dài đuôi,
                  Chuột khen chuột nhỏ mình dễ chạy.

                   (Tục ngữ)

         Nhỏ mình dễ chạy, nên nó rút vào một hầm núp kín đáo, một lô cốt thiêng liêng, mà kẻ tục tử phàm nhơn không hề được phép xâm phạm: nó ngự vào cái trang thờ Bà!
         Thương thay, tuy đứng đầu mười hai con giáp và tuy đã chứng kiến cuộc lập địa khai thiên, nó vẫn còn dại khờ, chẳng biết rằng, trong cuộc sát phạt, kẻ cừu địch không hề dừng bước lại bất cứ lãnh vực nào: Bà Cậu, Thánh Thần không hề và không thể chở che bọn kiêu căng mất dạy, dám xông pha vào chốn thiêng liêng; cho nên cái trang Bà là chốn tử địa của con chuột lí lắc:

                  Con mèo bắt chuột trên trang,
                  Con luốt bắt nhái dưới sàng chun lên!

                   (Ca dao)

         Bổn tánh cà xốc,(5) tưởng mình có xạ là “hữu xạ tự nhiên hương”, nên nó lên mặt với bọn người tuổi thân, cũng lí lắc như nó:

                  Chuột chù chê khỉ rằng hôi,
                  Khỉ lại trả lời: cả họ mày thơm!

                   (Ca dao)

         Còn ai không biết cái căn của nó là ở lỗ ở hang, ở mương ở cống:

                  Tuổi tý: con chuột cống xù,
                  Tha lúa, tha gạo, tha mò xuống hang.

                   (Vè mười hai con giáp)

         Thế mà nó không bỏ nết kiêu căng:

                  Chuột chê xó bếp chẳng ăn,
                  Chó chê nhà dột ra lần bụi tre.

                   (Ca dao)

         Với nết kiêu căng, vì quen nằm ngửa tha trứng vịt, nó tưởng đội đá nhẹ nhàng như đội vỏ trứng, nên nó không ngần ngại mà toan lung lay một hòn đá khổng lồ của các cô con gái không kém kiêu căng:

                  Chúng chị là con gái chung vàng,
                  Đứng trên đỉnh núi thì ngang với trời!
                  Chúng chị là hòn đá tảng trên trời,
                  Chúng em chuột nhắt cứ đòi lung lay!
                  ― Cha đời chuột nhắt chúng bay,
                  Hòn đá tảng rơi xuống thì mày gãy xương!

                   (Ca dao)

         Cũng như ông tý nhà ta, các cô con gái đứng ngang với trời, quả thật lên mặt kiêu kỳ tột bực, nhưng kỳ thật đã có chị nào không nói rỉ vào tai của “con chột nhắt” cưng, những đêm hôm tăm tối “vạch vách trèo vào”:

                  Chuột kêu chút chít trong rương,
                  Anh đi cho khéo, đụng giường má hay!

                   (Ca dao)

         Cô nào đó âu cũng khéo tỉ hứng theo lối Kinh Thi, dám đem cái rù rì của mình mà so sánh với cái chút chít cặp bồ nhà Tý mà Tú Xương mô tả:

                  Năm canh to nhỏ tình ma chuột,
                  Sáu khắc mơ màng chuyện nước mây.

                   (Đi chơi ả đào)

         Mà biết đâu môn đồ của Đức Thánh chẳng đem so sánh với câu hát Quan thơ danh tiếng:

                  Quan quan thơ cưu,
                  Tại hà chi châu,
                  Yểu điệu thục nữ,
                  Quân tử hảo cầu.

                   (Kinh Thi)

         Nhưng không lo, mối tình giữa quân tử và thục nữ vốn thanh cao, nên đã từ xưa được ông Thánh ca tụng mà bây giờ đệ tử vẫn chưa hết hoan nghinh; còn mối tình giữa các chị “đứng ngang trời” và các “em chuột nhắt” thì trộm vụn thấp hèn, mà người ta gọi khinh khi là mèo chuột, chim chuột, e rằng, hôm nao Vu Sơn thần nữ quá độ mây mưa, sẽ bị dậm cù lọt vào xà di,(6) mắc nạn cháy nhà ra mặt chuột.
         Vâng, nạn chuột! Loài cạp gặm hay dành những tai nạn bất ngờ cho những người xấu số, những kẻ mạt lộ cùng đồ:

                  Đi cùng bốn bể chín chu
                  Trở về xó bếp chuột chù gặm chân.

                   (Ca dao)

         Nó gặm chân hay cạp tay, là nạn tai đến! Trong trường hợp nầy dầu cho kẻ bị gặm có tốt số như chuột sa hũ nếp, thì cũng phải chịu lù dù như chuột chù phải khói, len lét như chuột ngày mà đương đầu với tai nạn đã báo điềm.
         Với bao nhiêu tánh xấu tật hèn, nó đã bị nhà thơ chỉ trích:

                  Ông cống khoa nào chẳng thấy thi?
                  Chuột thì kêu chuột, tý làm chi?
                  Bắt hơi, chó xịt cong lưng chạy,
                  Nghe tiếng mèo ngao, rút cổ đi.
                  Tín nếp rá cơm tha thển bậy,
                  Đống rơm bồ lúa ngách hang kỳ.
                  Phô loài chuột lũ bay nên chạ,
                  Họa có bầu nan hắn sợ mi.

                   (Khuyết danh)

         Nếu, ở trên đây, cô gái nào dám ví mình với chuột trong việc tư tình, thì Đồ Chiểu lại ví chuột với hạng người xoi hang mạch nước, phản chúa hại dân; nên ông Già Ba Tri đã thẳng tay lên án:

                           Hịch chuột
                  Tượng mắng lẽ trời sanh,
                  Vật ấy nhiều loài;
                  Nhớ câu thuận tánh làm lành;
                  Thấy chữ nghịch thường mà sợ.

                  Nhỏ là ong kiến, còn có nghĩa quân thần,
                  Lớn như hổ lang, cũng biết ơn phụ tử.
                  Xưa rằng: nha báo tai, thước báo hỉ, đời cũng nhờ lành dữ đem tin;
                  Kìa như: khuyển tư gia, kê tư thần, người còn cậy sớm khuya an giấc.
                  Lò tạo hóa nhúm nhen khắp vật, vật nào hay khuấy rối sự nhà;
                  Thợ Hóa công đúc nắn nhiều loài, loài nào dám xoi hang mạch nước.

                  Nay có con chuột rằng:
                  Lông mọc xòm xàm, tục kêu xù lắt,
                  Tánh hay ăn vặt, lòng chẳng kiên nhường.
                  Chỗ ở ăn hang lỗ nhiều đường,
                  Bề lui tới vào ra hai ngách.
                  Nghe tiếng rộng vội vàng chạy mất, nhảy lên nhảy xuống, nhát quá mẹ cheo.
                  Chờ đêm khuya sẽ lén túc nhau, trèo ngược trèo xuôi, liến hơn cha khỉ.
                  Hỏi danh hiệu: con cống, con xạ, con xù, con lắt, anh em dòng họ nhiều tên.
                  Tra quán chi, thì: ở rạch, ở nhà, ở lùm, ở ruộng, bậu bạn non sông lắm chỗ.
                  Đại tiểu răng đều bốn cái, ăn của đời, thầm tối biết bao nhiêu.
                  Vắn dài râu mọc hai chìa, không mặt chủ, lung lăng đà lắm lối.
                  Vã mười giáp, giáp hoa đứng trước, lẽ thì thiện tánh linh tâm.
                  Mười hai chi, tuế nguyệt ở đầu, cũng đáng cư nhơn do ngãi.
                  Cớ sao hãy đem lòng xảo trá,
                  Cớ sao còn chuộng thói gian tham.
                  Túi Đông Pha liền bữa tha gừng,
                  Ruộng Nam Quách ghe phen cắn lúa.
                  Nếp gạo của người nuôi bữa, ăn no rồi lại ỉa vào lu.
                  Nệm mùng của chúng che thân, cắn nát hết còn tha lót ổ.
                  Hoặc nằm ngửa, cắn đuôi tha trứng vịt, làm cho thằng tớ bị đòn.
                  Hoặc leo cây ngóng cổ gậm dò heo, khiến nỗi con đòi mang khổ.
                  Vậy cũng gọi mình hay ngũ kị,
                  Vậy cũng xưng ngồi trước tam tài.
                  Chẳng hổ mình vò nuốt dưới cầu,
                  Còn sanh thói lần mò bên vách.
                  Thức xem sách Lỗ sử, biên câu thực giác, tao hỏi bây?
                  Vì miệng ai, cho nên vua lỗi đạo tế trời?
                  Thơ quốc phong đề chữ thực miêu, vì miệng ai, cho nên dân xa làng bỏ đất.
                  Che phen cắn quần hư áo rách, vì miệng ai, cho nên chồng vợ giận nhau.
                  Nhiều chỗ than vách ngã thềm sầu, vì miệng ai, cho nên cha con đứt mắng.
                  Nền xã-tắc là nơi báo bổ, can cớ gì, mầy đào lỗ đào hang.
                  Chốn miểu đường là chỗ thanh tân, can cớ chi, bây cắn màn cắn sáo.
                  Kẻ trinh nữ lánh thằng cường đạo, còn mang tiếng kiện thử nha,
                  Án Long Đồ tra đứa gian tà, cũng mắc cái câu thử thủ.
                  Gối Ngỏa chú đánh hư đà rồi buổi, khen cho quỉ quái bây khôn chừa,
                  Gậy Phi liêm thương ghét đã từng răn, sao hãy yêu ma bây chẳng sợ.
                  Nham độn mười hai ngôi tướng, cho hay thần hậu là tướng gian;
                  Diễn cầm bốn bảy tinh sao, mới biết hư nhật là sao dữ.
                  Câm giận bấy cái lòng thử nghiệt, cục cứt ra cũng nhọn hai đầu.
                  Báu xót chi manh áo thử cầu, tấm da lột không đầy ba tấc.
                  Tuy là tiếng hữu bì hữu xỉ,
                  Thật là đồ vô lễ vô nghi.
                  Kể tội ra cũng đáng phân thây, bấy lâu cũng tin vì kiên giống.
                  Giận là giận nó trộm thếp đèn trên bàn Phật, mạo án mà xưng danh.
                  Căm là căm bây cắn sách vở kẻ nho phong, đành lòng mà phụ đạo.
                  Ngao ngán bây thân con chuột thúi, biết ngày nào, bầy chim thước đặng phanh-phui;
                  Bao nhiêu cái bụng con chuột to, còn hãy uống, sông Huỳnh Hà cho cạn ráo;
                  Dầu mà có ngàn giòng nước khẩm, khó đem rửa sạch tội đa gian;
                  Vì cho muôn nén vàng dài, khôn ắt riêng mua hình bất xá.
                  Vật ấy đã nên cực ác;
                  Ta đến đây há dễ nhiêu dung.
                  Ấn tiên phuông nầy gã rắn rồng;
                  Phó hậu tập sai chim bù cắt.
                  Sắm sửa binh sương giáp tuyết;
                  Trau dồi ngựa gió xe trăng.
                  Gióng trống lịnh xuất binh;
                  Phất cờ lau nhập trận.
                  Đuốc Đơn Điền sắm sẵn, để phòng khi ung đốt ngách u-vi;
                  Đèn thái bạch đem theo, để chờ thuở khắp soi hang uất khúc.
                  Các các chỉnh tê đội ngũ; Hàng hàng bô liệt can qua.
                  Nghe lịnh phân sai tướng quân mèo; Cấp sào huyệt phá hồ lỗ chuột.
                  Truyền rao khắp xứ,
                  Sắm sẵn đủ đồ.
                  Cuốc xuổng phảng mai, ra tay chận ngách.
                  Tiêu hành sả ớt, mặc sức chiên xào;
                  Thượng kỳ phù địch khái chi tâm.
                  Thử dĩ tạ chúng nhơn chi khẩu.
                  Chớ dung nó trở về hang đại ác;
                  Còn lo chi đam giúp lỗ tam bành.
                  Tứ phong đều ngợi chữ Thái bình,
                  Thiên hạ cũng vui câu án đổ.

                   (Nguyễn Đình Chiểu)

         Đứng ở lập trường quốc gia, nóng lòng vì quân thọc chuột cộng tác với tân trào mà gây hại cho xứ sở, đạo đức, kinh tế và văn hóa, cụ Đồ Chiểu đã mạt sát con chuột nặng lời. Quan niệm của bình dân không hạn chế trong thời gian, chỉ chú trọng đến vĩnh cửu, nên đã không lên án nó, mà vẫn để cho nó an nhiên ngồi trên đứng trước trong hàng ngũ mười hai con giáp, cho nó là tiên chi trong “ban hội tề” thập nhị chi, cho nó làm hương cả của làng trâu cọp rắn rồng… trong ấy có mặt con mèo, kẻ thù bất cộng đái thiên của nó.
         Ông Thánh đặt nó trong ban thập nhị chi ấy và tôn nó lên ngôi tiên chi ấy vì lẽ chi và có dụng ý gì, không mấy ai được nghe Thánh truyền dạy lại. Phải chăng con mắt thánh đã ngủ thấy muôn loài vạn vật như nhau, không phân biệt bò bay với máy cựa mà muốn cho có sự đồng hóa bình đẳng phổ biến trong khắp trần gian? Bọn đầu trâu (sửu) mặt ngựa (ngọ) đã đứng chung với Tôn Ngộ Không (thân) và Trư Bát Giái (hợi) thì chuột với mèo không có lý chẳng hòa nhau?
          “Dĩ hòa vi quí” là câu châm ngôn thông thường, nên bình dân có quan niệm cao thượng đối với kẻ thù, không cưu hờn chác oán và dám lấy ơn báo oán, tán thưởng thái độ cao thượng của chuột đối với mèo:

                  Chuột cắn dây buộc mèo.
                   (Tục ngữ)

         Rồi biết đâu thái độ lạ thường của chuột chẳng sẽ mang lại cho con người, trong hội lý mới, một lễ giỗ hi hữu, một cuộc hòa thuận bất ngờ giữa hai địch thủ truyền kiếp:

                  Con mèo nó trèo cây cau,
                  Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà?
                  ― Chú chuột đi chợ đàng xa,
                  Mua mắm, mua muối giỗ cha chú mèo!


THUẦN PHONG

_________________________________
(1) Nguyễn Văn Chiểu, Imprimerie de l’Ouest, Hà Đông, 1939.
(2) Theo Huỳnh Tịnh Của, truyện nầy gọi là Thơ Bạch Thử.
(3) (4) Thành ngữ, tục ngữ, ca dao, văn thơ thuộc về chuột đều in chữ xiên.
(5) Tên một giống chuột, mà cũng nghĩa là kiêu căng.
(6) Dậm cù là một cách săn chuột thường khởi hành sau một trận mưa, những người săn có dắt chó theo, phân nhau đi quầng một vùng cỏ rậm, thành một vòng vây, càng đi càng siết chặt vòng vây lại; chuột động, lớp thì chạy theo đường mòn của chúng, gọi là đường chuột chạy, lọt vào xà di, là một thứ lồng tre hình đụn, có hom, lớp thì bị vây chặt lại trong đám cỏ bị dậm nằm sát đất, rồi bị người đập hay bị chó vật.


BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #444 vào: 23/11/2018, 19:37:22 »


Bách-Khoa phỏng vấn: Tình hình xuất bản trong năm 1959

Để cống hiến bạn đọc một số tài liệu về tình hình xuất bản của ta trong một năm qua, chúng tôi đã tìm đến nhà xuất bản mà cũng là nhà văn quen thuộc của bạn đọc Bách-Khoa: Ông Nguyễn Hiến Lê. Và dưới đây là những câu trả lời của tác giả “Nho giáo: một triết lý chính trị”.

○ ○ ○

SAO ANH LẠI đi phỏng vấn tôi, một nhà xuất bản rất nhỏ ở trong nước, mỗi năm chỉ ra chừng bốn, năm cuốn? Vì công việc chính của tôi là viết, xuất bản chỉ là việc phụ, nên tôi không biết rõ tình hình xuất bản bằng các nhà khác, nhưng biết cái gì xin thưa cái đó; và muốn cho độc giả Bách-Khoa có một quan niệm đích xác tôi tưởng anh nên phỏng vấn thêm vài nhà xuất bản ở Sàigòn nữa.
         Hồi cuối tháng chín, một anh bạn giáo sư lại thăm tôi, chìa cho tôi coi bốn cuốn sách anh mới mua và hỏi tôi:
         ― Đố anh đoán được giá tiền bao nhiêu?… Không thể tưởng tượng được anh. Có năm đồng một cuốn thôi, anh ơi!
         Tôi cầm coi thì là những tiểu thuyết và sách khảo cứu có ít nhiều giá trị, dày trên dưới 200 trang giá đề ở bìa từ 35 đến 45 đồng. Hình như những sách ấy của một cơ quan văn hóa nào đó, nhưng dù vậy đi nữa thì cái giá “xon” đó cũng làm cho tôi phải suy nghĩ nhiều.
         Anh bạn nói tiếp:
         ― Tôi đi trên lề đường, người ta mời tôi: “Thầy mua giùm tôi, thầy. Rẻ lắm chỉ có 5$ một cuốn thôi. Thầy muốn lựa thứ nào thì lựa”. Và tôi mua cho họ bốn cuốn. Thế này thì chết thật! Họ bán cho tôi 5$, thì Huê kiều Chợ lớn bán cho họ bao nhiêu? Và nhà xuất bản bán cho Huê kiều Chợ lớn bao nhiêu? Có lẽ nhà xuất bản chỉ thu đủ phí tổn vô bìa, đóng rồi cắt.
         Mấy hôm sau, có dịp ra phố, tôi để ý nhận xét thì thấy ở lề nhiều con đường, người ta bày hàng chục cuốn bán xon giá xon hạ tới cái mức chỉ còn có 10% tới 15% giá chính thức như vậy. Mà đó có lẽ chỉ mới là bước đầu. Sang năm hay sang năm nữa, sách bán xon theo cái giá đó có thể đầy đường. Tôi mong rằng tôi đoán sai. Nhưng nếu tình hình không thay đổi, thì tôi không hiểu các nhà xuất bản sẽ làm cách nào để thoát khỏi cảnh đó. Vài nhà tôi quen đã phàn nàn: “Sách thì đầy trong kho, mà tiền thì không có”.
         Có nhà mướn ba bốn căn phố lớn bằng căn tôi ở đây để chứa sách, mà căn nào cũng đầy gần tới nóc. Đã ba năm nay sách bán chậm, mỗi năm mỗi nhà đọng lại mấy vạn cuốn – tôi nói những nhà xuất bản lớn – như vậy trong hai năm nữa, thì anh thử tượng số sách đọng lại ở Sàigòn này là bao nhiêu.
         ― Mỗi năm mỗi nhà đọng lại mấy vạn cuốn? Dữ vậy?
         ― Vâng. Để tôi tính cho anh nghe. Mỗi nhà xuất bản lớn mỗi năm in ra từ 15 đến 20 thứ; chỉ vài thứ bán hết nội trong một năm, còn thì ứ lại mỗi thứ ít nhất là ngàn cuốn, nhiều thì có thể hai, ba ngàn. Như vậy, anh thấy rồi chứ?
         ― Vâng.
         ― Nhiều quá, chỗ đâu mà chứa? Thuê xe cam-nhông tới chỗ đi đổ ư?
         ― Đã tốn tiền xe lại tốn công xé bìa. Sao bằng gọi tên Huê kiều lại bán rẻ, dù rẻ mạt, thì cũng được mỗi cuốn vài đồng, vạn cuốn có vài vạn đồng, một số tiền đáng kể đấy chứ?
         ― Nhưng tại sao người ta không in bớt đi?
         ― Tất nhiên là nhà nào cũng đã nghĩ tới giải pháp đó. Nhưng, có bạc tóc ở trong nghề cũng khó “bắt mạch” được độc giả. Mười lần “bắt mạch” đúng được ba là giỏi lắm rồi. Cả năm ngoái tôi chỉ được biết có một tiểu thuyết không ai ngờ là bán chạy mà in ba ngàn trong sáu tháng đã bán hết. Chính nhà xuất bản cũng phải ngạc nhiên, và vội vàng cho tái bản, lần này in tới mười ngàn, nhưng chưa chắc sẽ bán hết, vì sức tiêu thụ đã bắt đầu chậm rồi. Trường hợp đó rất hiếm, trong nước hai ba năm mới thấy xuất hiện một lần. Còn thì phần đông là: yên trí rằng bán chạy mà rồi hóa ra bán chậm. Thành thử sách cũng cứ vẫn đọng lại.
         Vả chăng, chỉ có thể rút số in tới một mức nào thôi, chẳng hạn thơ ít nhất cũng phải in 500; tiểu thuyết ít nhất cũng phải hai, ba ngàn; khảo cứu 1.500 hay 2.000; sách giáo khoa tiểu học 5.000, trung học 3.000; chứ nếu rút quá thì giá vốn của mỗi cuốn sẽ rất cao, rồi biết định giá bán ra làm sao bây giờ? Không những vậy, tác giả cũng không vui vì bản quyền tác giả tính ra sẽ không được là mấy.
         Vài nhà xuất bản thấy giải pháp đó vẫn chưa được, phải thu hẹp hoạt động lại. Có hai cách: một là chỉ tái bản những tác phẩm đã mua đứt từ mấy năm trước, nay khỏi phải trả thêm; như vậy nghĩa là không mua một tác phẩm nào mới nữa; hay là vẫn mua tác phẩm mới, nhưng mua rất ít, chẳng hạn trước mười thì nay ba. Không thể dẹp luôn nghỉ được, vì không in thêm sách mới thì cũng khó bán được sách cũ, thôi thì đành hoạt động “lai rai” để chờ thời. Tôi ngờ rằng có hai nhà đã phải gần như ngưng hẳn.
         ― Thế sao tôi vẫn thấy có nhà mới ra?
         ― Tất nhiên. Thiếu gì! Một là người ta không hiểu tình hình, cứ tưởng rằng lời lắm. Mà lời thật: Vốn in là 20% giá bán, tác quyền là 10%, để huê hồng cho nhà phát hành là 45%, còn lời tới 25% kia mà. Nhưng ít khi người ta nhớ rằng muốn được lời số 25% đó thì phải bán hết, mà mười loại mới bán hết được hai ba loại, có khi trong năm, sáu năm mới hết; còn nếu chỉ bán được hai phần ba hay một nửa thì nhất định là lỗ và phải sang thêm phố để có chỗ chứa sách.
         Hai là người ta hiểu tình hình nhưng vẫn cho ra: làm việc văn hóa thì chịu lỗ cả công lẫn của; vẫn là chuyện thường, miễn được cái danh.
         Ba là người ta chắc có chỗ mua giùm cho được một số đủ trả tiền in, còn thì để đó, bán “câu dầm”, mỗi năm thêm được đồng nào hay đồng đó.
         Xuất bản như hai hạng sau đó là xuất bản “tài tử”; mỗi năm ra một hai tác phẩm, có khi chỉ ra được một tác phẩm rồi ngừng luôn. Cho nên tuy nhiều nhà xuất bản mới ra thật, nhưng đó không phải là dấu hiệu của sự thịnh vượng. Trái lại là khác: chính vì những nhà xuất bản chuyên nghiệp không dám mua nhiều tác phẩm mới, mà những tác phẩm này mới phải ra mắt độc giả theo lối “tài tử” như vậy.
         ― Vậy theo anh, tình hình xuất bản lúc này “bi quan” lắm!
         ― Xin anh hãy khoan. Đó là tôi mới xét chung. Mà vấn đề gì cũng vậy, mới xét chung, chưa thể kết luận được. Tôi xin vào chi tiết. Tôi chia các loại sách ra làm năm: kịch, thơ, tiểu thuyết, biên khảo, giáo khoa; và tuần tự xét tình hình từng loại một.
         Tôi thú thực không biết rõ từ đầu năm đã xuất bản bao nhiêu cuốn kịch nào; vì không thấy bán tại các nhà sách lớn ở Sàigòn và cũng không thấy giới thiệu trên những báo tôi thường đọc.
         Thơ thì vẫn thường thấy xuất bản. Nếu tác giả đã nổi danh từ hồi 1930-1939 thì có thể bán hết được một hai ngàn. Nếu tác giả không có danh tiếng hoặc mới được nổi danh gần đây thì trừ một vài trường hợp đặc biệt, bán chỉ được hai trăm cuốn là nhiều có khi vài ba chục cuốn. Tôi nhớ thi sĩ Đông Hồ năm ngoái có nói đại ý rằng: Ai có làm thơ thì in Ronéo lấy ít chục bản rồi gởi cho bạn bè coi, chứ bán cho ai mua ở cái thời này? Lời đó là lời của một nhà ở trong nghề. Thơ bây giờ thì ế, ế lắm! Khắp Sàigòn chỉ có một hai nhà sách dám mua mặt giúp thi nhân ít chục cuốn để bán cho có đủ mặt sách; và khắp nước chỉ có mỗi một nhà phát hành là chịu nhận thơ theo cái lối gởi bán, người Pháp gọi là consiguation; còn các nhà khác, hễ thấy thơ là lắc đầu liền: “Vâng, ạ, chúng tôi đã được nghe danh ông, đã được đọc ít bài của ông, thơ ông hay lắm ạ; nhưng xin ông thứ lỗi cho, chúng tôi không dám nhận, dù là ông chỉ gởi bán, vì thơ bán không được ạ”. Còn nhà phát hành chịu nhận kia thì nhận là vì nể, nhận rồi để đó, có phát hành cũng chỉ là phát hành tại những tiệm lớn ở Sàigòn và một vài tỉnh trong nước, chứ không dám “tung” ra thị trường đâu. Không thể nào trách họ được. Dù ta có để cho họ 50% huê hồng thì họ cũng chỉ được 15% hay nhiều lắm là 20%. Ví dụ giá bán một cuốn là 30$, thì nhiều lắm lời được 5-6$ một cuốn, nếu họ bán được 200 cuốn – trường hợp hiếm có họ mới được lời khoảng 1.000$ mà chịu biết bao phí tổn: gói, chở xe đi, chở xe về, làm sổ sách, nhất là phải dành ít nhất là một thước vuông để chứa sách, mà nhà cửa ở thủ đô này thì đắt đỏ lắm. Thường thường họ chỉ bán được độ 50 cuốn, mà như vậy thì họ bị thiệt. Chính họ cũng tự nhận rằng như vậy là không làm trọn nhiệm vụ “phổ biến văn hóa”, nhưng làm sao được, thưa anh? Sáu bảy năm trước làm ăn phát đạt có lỗ một món thì mười món bù lại, bây giờ thì khác hẳn.
         Tiểu thuyết bán chạy hơn nhưng cũng không khá gì. Ngoài những tiểu thuyết của nhà Phượng Giang mà hầu hết là những tác phẩm được tái bản lại đều đều, còn thì in ba ngàn bán được một ngàn là may lắm rồi đấy; tác giả phải có tên tuổi, tác phẩm lại phải hấp dẫn mới được như vậy; nghĩa là được đủ vốn in với một chút làm tiền nhuận bút. Nếu không đủ hai điều kiện trên thì chỉ bán được độ năm trăm cuốn thôi, hay kém nữa. Tôi chưa hề xuất bản tiểu thuyết, nghe bạn đồng nghiệp nói vậy, và tôi tin rằng lời đó không ngoa. Mấy năm trước, người ta còn xuất bản tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, của Tùng Long v.v…; hồi này loại đó không thấy ra nữa. Báo nào cũng đăng tiểu thuyết nhiều quá, nhiều quá rồi, tha hồ mà đọc, đọc suốt ngày cũng không hết, cần gì phải mua tiểu thuyết nữa, phải không, anh?
         Loại biên khảo bán khá hơn một chút, nhưng cũng còn tùy. Nếu sách có tính cách thực tế, chỉ độc giả cách xử thế, trau dồi tài đức, dạy con, nuôi con, thì có thể bán được một hai ngàn cuốn trong vài ba năm; như vậy nhà xuất bản thu lại đủ vốn hoặc lời mỗi thứ được độ mười ngàn đồng – tôi nhắc lại: trong vài ba năm – Còn nếu là sách biên khảo về triết lý, tôn giáo chẳng hạn thì năm năm may mới ra bán được ngàn cuốn; tuy vậy nhà xuất bản cũng ít khi lỗ vì, loại đó vốn “kén” độc giả, nên nhà xuất bản bao giờ in cũng ít; một ngàn, ngàn rưỡi cuốn, hai ngàn là nhiều lắm và có thể để giá cao được.
         Bán chạy nhất là sách Giáo khoa, và ta có thể nói rằng thị trường sách ở Việt Nam lúc này tràn ngập sách Giáo khoa, chuyên bán sách Giáo khoa, còn các loại khác đều là phụ hết. Tiệm sách nào cũng đầy sách giáo khoa, có tiệm không bán gì khác ngoài sách giáo khoa. Tôi tự hỏi nếu lúc này không có sách giáo khoa thì tình hình các tiệm sách mới tiêu điều làm sao! Hầu hết các nhà xuất bản, không thuộc vào một cơ quan văn hóa nào, nghĩa là không được trợ cấp, mà muốn đứng được thì phải xuất bản sách giáo khoa, không nhiều cũng ít.
         Xuất bản sách giáo khoa mà phát thì phát mau và phát lớn lắm. Có thể lời cả triệu đồng trong một năm. Có nhiều sách ban tiểu học in mười ngàn cuốn, trong một tháng đã hết, phải in thêm gấp, vì các nhà sách ở khắp nơi đánh điện về hỏi hoài, bao nhiêu cũng không đủ cung cấp. Chợ sách thực là tấp nập. Cứ mỗi cuốn nhà xuất bản lời 5 đồng thôi thì mười ngàn cuốn, hai chục ngàn cuốn lời bao nhiêu? Mà sách tiểu học có tới ba chục thứ.
         Sách giáo khoa Trung học in ít hơn (thường 5.000 hay 3.000 cuốn), vì số học sinh Trung học ít hơn; nhưng cũng có cuốn bán chạy như sách giáo khoa tiểu học, chẳng hạn vài thứ sách dạy toán, dạy Anh ngữ. Những thứ đó bán có thể được mười ngàn cuốn một năm, và mỗi cuốn nhà xuất bản có thể lời 10, 15 đồng. Sách nào mà có đề thi trúng tủ thì thôi, máy in chạy suốt ngày đêm cũng không kịp.
         ― Thích quá nhỉ?
         ― Vâng, thích lắm.
         Nhưng không phải ai cũng làm giàu được như vậy đâu. Phải có nhiều vốn, hàng triệu. Phải gan dạ. Phải kinh nghiệm. Lại phải có nhiều tài khác nữa. Những người thành công lớn nào mà chẳng có tài?
         Vả lại, nghề gì cũng vậy, phát mau thì nguy hiểm cũng lớn. In sách giáo khoa tốn công và tốn tiền phải nhiều hình, trình bày cho đẹp, nên phải sửa soạn một năm trước. Nếu đầu nghỉ hè mà đùng một cái có tin niên khóa tới sẽ thay đổi chương trình thì nhà xuất bản tất là mất ăn mất ngủ. Hàng vạn cuốn mới in xong hoặc đương in đó, bây giờ mới tính làm sao? Phải triệu tập cấp tốc một ban “tu thư” – danh từ “tu thư” không ở đâu dùng đúng bằng ở đây – để tìm cách vãn cứu tình hình: sửa lại ngay cho hợp với chương trình, bài nào dùng được thì để, bài nào phải bỏ thì gỡ ra, viết lại, in thay vào. Và còn nhiều công việc gấp nữa, nhiều lắm, nhiều lắm, kể không hết, mà tôi cũng không biết hết, vì thiếu kinh nghiệm.
         Đã vậy lại thêm sự cạnh tranh, một sự cạnh tranh rất chính đáng. Sách giáo khoa viết không phải là dễ, nhưng rất nhiều người viết. Hễ dạy học mà chịu khó soạn bài cho học sinh thì tới cuối năm theo nguyên tắc – nhà giáo nào cũng có được vài bản thảo sách giáo khoa rồi, cho nên nhà xuất bản nào cũng nhận được nhiều tác phẩm giáo khoa, chỉ sợ không đủ sức in. Do đó sách Giảng văn cùng một lớp có năm, sáu thứ; sách Toán có hàng chục thứ, nhưng bán chạy thì vẫn chỉ có một hai thứ. Dù có bán chạy, nhà xuất bản cũng chỉ được hưởng vài ba mùa, nếu không chịu luôn luôn sửa đổi cho mỗi ngày mỗi mới, thành thử phí tổn cũng nặng. Sách giáo khoa hồi này, nhờ sự cạnh tranh đó, mà tiến hơn trước nhiều: giấy tốt hơn, in đẹp hơn, nội dung cũng khá hơn mà giá lại rẻ hơn.
         Nhưng cạnh tranh gắt quá thì nhà nào cũng bị thiệt. Một thứ sách mới ra, có giá trị hay không, không biết, cứ trình bày cho đẹp là thế nào cũng bán được ngàn cuốn, hay năm sáu trăm cuốn, giành được một số bán của các nhà khác. Cho nên một nhà xuất bản đã phàn nàn với tôi: “Học sinh thì tăng lên mà sách bán thì ít đi”.
         Thực vậy, số học sinh tăng lên rất mạnh: Theo ông Đặng Vũ Biền trong bài Vấn đề đào tạo trí thức tại Việt Nam (Đại Học số 11 năm 1959), thì “từ niên học 57-58 sang niên học 58-59, số học sinh Trung học từ 103.039 lên tới 132.936, nghĩa là gần 30%”. Số học sinh tiểu học tăng ít nhất cũng như vậy. Nhưng đồng thời số nhà xuất bản sách Giáo khoa tăng lên bao nhiêu? Số sách Giáo khoa cùng một thứ tăng lên bao nhiêu? Chắc là số cung quá số cầu rồi. Như vậy làm sao mà không ứ đọng? Đó mới chỉ là một nguyên nhân, còn những nguyên nhân khác nữa, tôi sẽ nói sau.
         Tôi xin lỗi anh đã nói quá nhiều về sách Giáo khoa; vì tính cách quan trọng của nó trong ngành xuất bản tại Việt Nam hiện nay. Bây giờ tôi xin tóm tắt lại tình hình của mỗi ngành:
         – Kịch gần như không thấy xuất bản.
         – Thơ vẫn ra nhưng mỗi tập ra là một sự hy sinh lớn lao của thi sĩ.
         – Tiểu thuyết: những sáng tác mới thì thu lại đủ vốn in và một chút tiền tác quyền là may.
         – Khảo cứu: nếu khéo lựa tác phẩm, đừng khó tính quá thì không lỗ, có thể lợi chút ít được, nhưng phải đợi vài ba năm mới bắt đầu thu được lời.
         – Giáo khoa: vài nhà làm giàu rất mau nhưng họ luôn luôn ở trong tình trạng báo động và phần đông những nhà khác đã bắt đầu rên rồi.
         Đó, bây giờ anh có đủ tài liệu để kết luận rồi đấy. Sao, anh thấy nên bi quan hay lạc quan?
         ― Vâng tôi hiểu rồi. Nhưng theo anh, nguyên do ở đây vậy?
         ― À, cái đó thì xin kêu điện thoại hỏi anh Huỳnh Văn Lang… Không, tôi không nói đùa đâu. Anh ấy chuyên về vấn đề kinh tế, mà theo tôi thì tình hình xuất bản là do tình hình kinh tế nhiều hơn hết…
         ― Tôi thì không biết gì về kinh tế cả, nhưng tưởng nó như vầy.
         Mươi năm trước, hồi dân tộc ta còn chiến đấu với Pháp, nhờ tiền của quân đội Pháp mang sang đây tiêu xài, nền thương mãi, tuy chỉ thu hẹp trong những miền chiếm đóng, nhưng rất phát đạt một cách giả tạo tất nhiên, nhưng vẫn là phát đạt. Hồi đó tác phẩm ra còn ít, nhà xuất bản cũng ít, phần đông giới trí thức dư tiêu, nên sách nào ra bán cũng hết, hết rất mau; có tiền thì mua, không nhất định là để đọc, mà có khi chỉ là để bày. Cho nên nhà xuất bản, nhà phát hành, nhà bán sách lẻ, nhà nào cũng khá.
         Tình hình đó kéo dài được khoảng hai năm sau hiệp định Genève; rồi thì bắt đầu xuống, ba năm nay cứ xuống đều đều.
         Chín phần mười – tôi đoán vậy, chứ có ai làm thống kê đâu mà biết – chín phần mười độc giả ở nước mình là công chức, tư chức, nhà doanh nghiệp và học sinh, con em của ba giới trên. Mấy năm nay đồng tiền khó kiếm, những chạy lo cho con ăn học cũng đủ mệt, còn dư tiền đâu mà mua sách? Chưa bao giờ phụ huynh hy sinh cho sự học của con em mà lớn lao như bây giờ. Chúng học sao mà tốn quá! Chúng đua nhau học tư. Không nhà nào không có vài em học tư. Cả những em học trường công cũng xin cha mẹ đi học tư thêm nữa. Thành thử rất nhiều gia đình bỏ ra hai phần ba huê lợi nuôi con ăn học. Đóng học phí đã là chật vật, phải mua sách giáo khoa nữa thì ngán lắm! Cho nên chỉ những lớp đi thi, nghĩa là lớp nhất, lớp đệ tứ và đệ nhị sách giáo khoa bán mới chạy, còn các lớp khác thì học sinh không muốn mua, mà nhà giáo cũng không ép chúng mua. Bảo chúng mua mà chúng không có tiền mua, không lẽ phạt ư, phạt ba phần tư lớp ư? Bất nhược là đọc bài cho chúng chép – có trường trung học lớn nọ cho học sinh chép cả những bài văn để giảng – như vậy đỡ mang tiếng nghiêm khắc với học sinh, đỡ hết hơi giảng bài, mà lớp lại đỡ ồn – chúng mải chép bài, còn làm sao “phá” được – Có khi lại được tiếng là siêng năng, tốn công soạn bài lấy. Có phải là nhất cử, tam, tứ tiện không?
         Học sinh không có tiền mua sách giáo khoa, cha mẹ không có tiền mua thơ, tiểu thuyết, khảo cứu, thì sách tất phải ế. Nếu có lúc người ta buồn buồn, muốn đọc cái gì, thì có báo đó. Báo ra rất nhiều, in rất đẹp và giá rất rẻ, rẻ bằng nửa hồi 1939. Chỉ tốn năm sáu đồng là có một số, bìa in những nàng tiên năm sáu màu, ruột thì chứa bốn năm truyện dài, ba bốn truyện ngắn, rồi phóng sự tâm tình, phóng sự xã hội, kịch, màn ảnh, vui cười, khoa học, thơ cũ thơ mới, đủ, bài nào cũng có hình, hình chụp, hình vẽ, hình đen, hình màu. Nếu đem in thành sách, thì 32 trang ruột thành được một cuốn trăm trang khổ 14x20.
         Nguyên nhân cứ chằng chịt với nhau, kinh tế kéo giáo dục, giáo dục kéo xuất bản, rồi xuất bản giằng co với báo chí, báo chí ảnh hưởng lại giáo dục, v.v…
         Chưa hết, anh ạ. Hồi trước sách bán chạy mà tiệm sách ít; bây giờ sách bán ít chạy mà tiệm sách lại nhiều. Cái nghề đó tương đối dễ tập. Cho nên những người có chút vốn mà không biết làm gì nghĩ ngay đến việc mở tiệm sách. Năm 1953 trên đường Hai Bà Trưng, từ góc đường Yên Đổ, đến góc đường Hiền Vương dài khoảng ba trăm thước chỉ có một tiệm sách, bây giờ có ba tiệm. Cũng năm đó ở châu thành Long Xuyên có hai tiệm sách; bây giờ thì năm sáu tiệm, hay hơn nữa. Ở Mỹ Uông (một trung tâm lớn gần bằng một quận) thuộc tỉnh An Giang, cũng năm đó có một tiệm thì năm 1957 đã có hai, bây giờ chưa biết chừng, đã có ba. Số lời san xẻ ra nhiều thì không ai khá nữa, và người ta nghĩ tới sự cạnh tranh. Hồi xưa sách bán đúng giá in ở bìa; không biết bắt đầu từ hồi nào, và khởi sự ở đâu, có một tiệm nào đó trừ huê hồng 5% cho học sinh; tiện khác thấy vậy cũng trừ; biết làm sao bây giờ? Rồi cứ như vậy, huê hồng tăng lên 10%, có chỗ 15%, tôi còn nghe nói 20% nữa. Thế là thành cái lệ. Nhà bán lẻ tưởng là tăng số bán lên được mà lời hơn, không ngờ bán vẫn như cũ mà lời lại kém; tất nhiên họ phải đòi nhà phát hành tăng huê hồng lên cho họ. Nhà phát hành phải theo, nếu không họ lấy sách của nhà khác. Nhà phát hành tăng huê hồng cho đại lý, tất phải đập vào nhà xuất bản; nếu không thì làm sao đủ sống? Rút cục tình hình như vầy:
         Bốn, Năm năm trở về trước:
         Nhà xuất bản để cho nhà phát hành 35% huê hồng mà khi giao sách, nhà phát hành đưa trước một số tiền cho nhà xuất bản.
         Nhà phát hành để lại cho đại lý (tức nhà bán lẻ) 25% huê hồng; hưởng 10%.
         Nhà đại lý bán đúng giá cho người mua, được hưởng trọn 25%.
         Bây giờ:
         Nhà xuất bản để cho nhà phát hành 45% (tôi lấy số đông, chứ có nhà để 50%, 60%) mà không nhận trước được một số tiền nào cả.
         Nhà phát hành để lại cho nhà đại lý 35%, vẫn chỉ được hưởng 10%.
         Nhà đại lý để lại cho độc giả 10% (có khi 15%, 20%) vẫn chỉ hưởng nhiều lắm là 25% như trước.
         Sự cạnh tranh tới đó chưa hết. Nhà phát hành hồi trước gởi sách đi các tỉnh bằng xe đò hoặc xe lửa. Bây giờ nhà nào cũng dùng xe riêng chở đi bán. Trừ những tháng gần tết là tháng ế, còn thì mỗi tháng mỗi nhà phải chở hai chuyến sách ra Trung phần và Cao nguyên và hai chuyến đi lục tỉnh. Mỗi chuyến đi Trung phần và Cao nguyên tốn khoảng 10.000$, mỗi chuyến đi lục tỉnh tốn khoảng 5.000$. Và cũng vậy trước ở Sàigòn chỉ có ba nhà phát hành, bây giờ có tới 6, 7 hay 8 nhà gì đó. Huê hồng vẫn được 10% như trước, số lời san xẻ ra nhiều mà phí tổn lại tăng lên gấp đôi.
         Còn nhà xuất bản, trước ở Sàigòn chỉ có 10, 15 nhà, bây giờ không rõ là mấy chục nhà nữa – ít gì cũng 5, 6 chục – số bán tất san xẻ ra mà số lời lại kém (vì phải để huê hồng tới 45% cho nhà đại lý). Mà không thể tăng giá sách được: không có ai điên khùng gì tăng giá hàng lên khi hàng bán ế.
         Tôi phải dài dòng như vậy để anh thấy làm ăn rất khó khăn, trừ một số ít – có lẽ độ bốn năm nhà sách và vài ba nhà xuất bản – còn hết thảy các nhà khác xuất bản hay phát hành hay bán sách ở khắp trong nước, đều cầu lấy đủ sống là may. Nhưng ngành nào lúc này mà chẳng vậy, riêng gì ngành sách? Còn một nguyên nhân nữa là tinh thần chúng ta lúc này có phần xuống. Vẫn có những sách giá trị chứ, mà chúng ta không ham đọc như trước nữa. Anh cho tôi hỏi thực anh nhé?
         ― Vâng, xin anh cứ hỏi.
         ― Trong năm nay, anh mua được bao nhiêu sách Việt?
         ― Để tôi nhớ lại xem.
         ― Thôi, anh khỏi phải nhớ lại nữa. Tôi đã hỏi năm sáu ông bạn tôi rồi, đều ở trong giới văn hóa hết, ông nào cũng viết sách viết báo, ba ông lại kiêm dạy học. Ông thì mua được hai cuốn, ông thì một, ông mua nhiều nhất được năm cuốn trong số đó có bốn cuốn bán xon 5$. Biết đâu chừng, anh cũng vậy, mà tôi cũng vậy nữa. Chúng ta vẫn có lý do. Nhưng nhiều khi chỉ là do ta lười đọc. Ta lười đọc vì ta chán nản; chứ hồi 1930, 1939, sách có chắc gì hay hơn bây giờ đâu mà sao chúng ta mê thế! Đó, chỉ có hai nguyên nhân chính: nền kinh tế xuống thấp và tinh thần xuống thấp.
         ― Có cách nào cải thiện được tình hình không anh?
         ― Chính phủ đã nghĩ tới sự ủng hộ các nhà văn và nhà xuất bản. Một mặt lập những cơ quan văn hóa, để nghiên cứu, dịch sách, đặt giải thưởng, và xuất bản những tác phẩm mà chính phủ xét là đáng giúp; một mặt tổ chức cuộc triển lãm về ngành xuất bản và ngành in, như cuộc triển lãm tháng mười một vừa rồi. Chính phủ giúp được bao nhiêu cũng là quí hết, nhưng giải pháp đó không thể có kết quả sâu rộng được: mỗi năm nhiều lắm là xuất bản được ba bốn tác phẩm có giá trị; thấm vào đâu?
         Có người lại nghĩ đến cách để cho một cơ quan nào đó phát hành. Cơ quan đó có hàng vạn hàng ức hội viên ở khắp nơi. Nếu mỗi đội viên bán cho mỗi thứ sách được một cuốn thôi, thì mỗi thứ sách có thể tiêu thụ được 200.000 cuốn. Thôi, cứ lấy con số tối thiểu “lúc ban đầu là 10.000 cuốn” thì cũng đủ sướng quá rồi! nhà văn chúng ta chẳng bao lâu có xe hơi và nhà lầu hết.
         Nhưng vấn đề đâu phải giản dị như vậy. Đâu phải cứ tung sách đi khắp nơi mà bán được nhiều. Người ta có muốn đọc rồi mới muốn mua chứ. Mà muốn mua thì cũng phải có tiền mới mua được chứ. Không. Nguyên nhân ở đâu thì phải tìm giải pháp ở đó. Chỉ khi nào nền kinh tế khả quan và tinh thần quốc dân lên cao thì ngành xuất bản, và nền văn hóa mới tiến được. Chính phủ và các nhà trí thức, các nhà chuyên môn đương chú ý vào hai vấn đề đó: Cải thiện nền kinh tế và gây tinh thần trong dân chúng. Cùng thì phải thông. Thế nào rồi cũng có lúc khá. Nhưng bao giờ khá thì tôi không biết. Từ nay tới lúc đó, từ nhà cầm bút đến nhà xuất bản, nhà phát hành sách, nhà bán sách phải rán mà chịu. Sự cạnh tranh sẽ mỗi ngày một gay go hơn nữa. Người ta còn phải hy sinh nhiều.
         Đầu năm, tôi đã nói với một nhân viên ở Hội đồng kiểm duyệt sách như vầy:
         ― Ông không ở trong nghề nên không biết, chứ lúc này đây, bất kỳ một tác phẩm nào không thuộc loại giáo khoa, mà đúng đắn, có ít nhiều giá trị đều đòi hỏi một sự hy sinh của người cầm bút, và đôi khi cần một sự hy sinh nữa của nhà xuất bản, mới có thể ra mắt độc giả được.
         Anh ạ, tôi đã làm công chức trong mười hai năm, và là một công chức siêng năng. Mỗi năm có độ vài ba lần gặp công việc gấp, tôi phải đi làm ngày chủ nhật. Và mỗi năm cũng có độ một hai lần tôi phải bỏ một ngày lương để giúp các đồng bào bị thiên tai. Nói ra thì mắc cỡ, chứ thực ra hồi đó, trước năm 1945, mỗi lần phải làm thêm giờ, hoặc một ngày lương như vậy, tôi tự thấy là bị thiệt thòi, bắt buộc phải hy sinh. Bây giờ tôi mới thấy rằng những cái mà hồi xưa tôi gọi là “hy sinh” đó chẳng đáng kể vào đâu cả. Trong nước nhà có hàng chục, hàng trăm nhà cầm bút bỏ ra bốn tháng có khi vài ba năm cặm cụi viết, viết đến ho lao, đến đau bao tử, đau gan, đến loạn óc mất ngủ, để rồi không bán được tác phẩm, hoặc có may mắn lắm mà bán được thì chỉ nhận được một số tiền không đủ để mua thuốc uống. Và trong cái công việc xây dựng văn hóa đó, họ là những người có công nhất đã đành rồi, nhưng – thời nào không biết, chứ riêng thời này – một số nhà xuất bản và nhà phát hành cũng được hưởng một chút công nữa: họ chỉ đủ ăn thôi như tôi đã nói, và đôi khi thấy tủi rằng có những tác phẩm rất giá trị mà không giúp được vì sách cứ ngập kho mà túi thì cứ rỗng.
         Nhưng họ có điều này để tự an ủi: Ngay ở những nước văn hóa phát triển rất mạnh, như nước Pháp, Thụy Sĩ mà những nhà xuất bản lớn cũng không dám cho ra những tác phẩm có giá trị mà khó bán, phải nhờ những cơ quan văn hóa giúp sức; chẳng hạn cuốn “Essai sur la structure logique de la phrase” của Albert Sechehaye được Société Auxiliaire des Sciences et des Arts (Genève) viện trợ; cuốn “Linguistique générale et linguistique française” của Charles Bally được Communauté de travail Pro Helvetia (Genève) trợ cấp; và nhà “Presses universitaires” của Pháp, một nhà có danh tiếng vào bực nhất thế giới, biết cuốn “La musique Viêtnamienne traditionnelle” của Trần Văn Khê là đáng in, nhưng tính ra phí tổn tới hai triệu quan, mà bán khắp thế giới may lắm được bảy trăm cuốn nên không dám mạo hiểm, phải đợi sự giúp đỡ của bảo tàng viện Guimet và của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học. Nước người còn như vậy, huống hồ là nước ta chỉ có 12 triệu dân mà biết bao người thất học.
         ― Vậy thì theo anh, ngành xuất bản của ta năm nay không có tác phẩm nào đáng gọi là lớn lao?
         ― Một cách tương đối, thì có một nhà mới in xong bộ Việt ngữ Chánh tả tự vựng của ông Lê Ngọc Trụ.(1) Dày khoảng 700 trang soạn trong ba năm, in hai năm mới xong vì cần nhiều dấu nhất là nhiều chữ Hán, những chữ Hán không thông dụng không đúc sẵn, phải khắc lên gỗ. Một tác phẩm nữa cũng mất nhiều công phu là bộ Đường thi trích dịch của hai ông Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản. Dày khoảng 900 trang khổ 20x25, soạn mất ba năm, đánh máy trong một năm. Đối với những người có chí thì hoàn cảnh càng khó khăn lại càng kích thích mạnh. Không. Tôi vẫn nghĩ rằng ta không có quyền được bi quan. Hoàn cảnh có khó thì sự gắng sức của ta mới có giá trị.


NGUYỄN HIẾN LÊ

_____________________________
(1) Bộ này mới in xong, ra giêng mới phát hành.


BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #445 vào: 24/11/2018, 12:52:43 »


                Xuân mới người xưa

            BUỔI trước thu về say một mộng
            Năm nay Xuân đến lạnh hai trời
            Gió sương sao lụy người trai nhỉ
            Son phấn chưa tàn em gái ơi
            Nương đất Trích cười hoa bạc phận
            Ngắm hoa đơn thương kẻ u hoài
            Chót buông lá thắm dòng duyên nợ
            Đành nhạt màu xanh áo nổi trôi.


                                            BÙI KHÁNH ĐẢN



BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #446 vào: 24/11/2018, 22:55:20 »


                      Chung thủy

            GIÓ tạm hết lành, mưa hết ngon
            Chiều hanh nhạt nắng, nguyệt thôi tròn.
            Nhà ai vội đã bày chăn áo,
            Ủ hộ tình nhau trọn tấm son.
                                    ¤
            Đợi một ngày mai gió trở hiền,
            Nắng hồng phơn phớt hạt mưa duyên.
            Đời may áo lụa đi trên cỏ,
            Ấy lúc niềm son được vẹn nguyền.
                                    ¤
            Ngẩng mặt: tứ bề rõ núi sông,
            Xuân nay, Thu trước mắt như lòng.
            Trông cô em nhỏ không hề thẹn,
            Sáng ánh trăng già, ngọc vẫn trong.


                                                    (Mai sau)
                                                    VŨ HÂN




BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #447 vào: 26/11/2018, 20:15:45 »


Dịch lý và Kiết, Hung, Hối, Lẫn

ĐỨC KHỔNG TỬ, một thánh nhân Á Đông, lúc vãn niên trở về nhà san định Ngũ Kinh, trong đó có Kinh Dịch. Ngài đặc biệt nghiên cứu Kinh Dịch, cho đến sách ba lần đứt lề da, như trong Sử Ký Khổng Tử Thế Gia nói: “Vi biên tam tuyệt”. Ngài cũng ước vọng rằng: “Nếu Trời cho ta sống thêm ít năm để học Dịch, thì ta sẽ không còn lầm lỗi nữa”.
         Bực chí thánh như Đức Khổng Tử mà còn học Dịch một cách nhiệt tâm như thế, là vì Dịch, ngoài những câu phương ngôn bất hủ, còn hàm những lý cao siêu làm căn bản cho sự định lập phương châm hành vi của con người. Học Dịch thật thấu đáo, sẽ trực giác được luật biến chuyển của vũ trụ Càn Khôn, nhận chân sự u, minh và sinh tử cho đến trạng huống của cõi vô hình.(1) Đạo người căn cứ trên Đạo trời mà tồn tại. Dù con người to lớn và quyền năng đến đâu cũng không ngoài luật của vũ trụ, nên Dịch, sau khi chỉ rõ những luật biến chuyển của vũ trụ và của con người, dạy hòa đồng với luật vũ trụ thiên nhiên nếu ta muốn sống và tạo tác những công việc trường tồn. Mà hòa đồng là phải được, là vì luật biến chuyển ngoài vũ trụ và trong con người chỉ MỘT và như nhau: ấy là những luật ghi vào trong 64 quái và 384 hào.
         Dịch Lý là lý tự nhiên muôn thuở bao gồm hết sự biến hóa của thiên địa mà không thừa (phạm vi thiên địa chi hóa nhi bất quá), uốn chuyển theo vạn vật mà không sót (khúc thành vạn vật nhi bất di), nói lên luật trời và luật người biến chuyển trong 384 trạng thái và vân vân. Những luật của Kinh Dịch là luật của thiên nhiên, như luật biến chuyển của ngày đêm, của mùa tiết, của những hành tinh vận chuyển giữa không trung từ vạn cổ. Con người là hạt bụi trong vũ trụ, thì không sao không tuân theo luật vũ trụ cho được. Thật là mộng ảo khi nói loài người phải chinh phục vũ trụ, thà tốt hơn học luật vũ trụ và tuân theo vũ trụ để loài người nẩy nở cho thành được loài người. Dịch Lý dạy ta những luật biến chuyển ngoài vũ trụ và trong con người chỉ có một mà thôi và dạy ta tuân theo luật ấy mà thành nhân chi mỹ. Trung Dung có nói: “Thiên đạo tự nhiên là đúng, vạn cổ không sai, không cố gắng mà tự nhiên đúng, không suy nghĩ mà nên, thung dung mà trúng đạo; còn nhân đạo phải bác học, thẩm vấn, minh biện và đốc hành theo thiên đạo mới thành nhân đạo được”. Thi hành đúng với luật thiên nhiên tức là Trung Dung. Trung là bản thân mình đúng với thăng bằng của vũ trụ, Dung là bản thân mình hòa đồng với thăng bằng của nhân loại và sự vật chung quanh.
         Luật vũ trụ nằm trên Trung là thăng bằng, và Dung là điều hòa, thì luật con người nhằm trạng thái Trí Trung Hòa (Trí là làm cho rất, Trung là thăng bằng, Hòa là điều hòa) làm mục đích. Mình hành động đúng với thăng bằng thiên nhiên là Trung, không đúng là không Trung; khi mình động tác mà điều hòa với thăng bằng nhân loại và sự vật chung quanh là Hòa, không điều hòa là không Hòa. Bốn Thánh Nhân: Phục Hi, Văn Vương, Chu Công và Khổng Tử trải qua mấy ngàn năm công phu, để lại cho ta bộ Dịch cốt chỉ có ba chữ Trí Trung Hòa mà thôi.
         Con người hành động đúng với đường Trung Hòa, thì KIẾT (là tốt); sai nhiều với đường lối ấy thì HUNG (là xấu); sai mà có thể ăn năn hối cải trở lại đường Trung Hòa rất dễ thì HỐI (là biết lỗi mà nghĩ cách đổi); đáng lẽ mình đã đi được con đường Trung Hòa mà mình lại không đi thì LẪN (là tiếc). Kiết, Hung, Hối, Lẫn, là bốn danh từ thường dùng trong các quái và các hào, để chỉ trạng thái sẽ được Kiết, hay sẽ bị Hung, Hối, Lẫn nếu ta cứ tiếp tục con đường đang đi, chớ không để chỉ trạng thái tốt xấu, họa phúc của một sự thể nào. Vì lầm như thế và vì thấy Kinh Dịch có nhiều chữ Kiết Hung nên nhiều người cho Kinh Dịch là sách bói toán, tuy Kinh Dịch không phải để bói, cũng như họ đã dùng truyện Kiều để bói, mặc dầu truyện Kiều chỉ là một thi phẩm!
         Ta thử nghĩ đường Thiên Lý là đường đời. Trên đường ấy, ta đi qua nhiều thành phố, to có nhỏ có, hoặc nguy nga lộng lẫy hoặc đen tối nghèo nàn, đó là Đại Cuộc; từ thành phố nầy sang thành phố khác, ta đi bao cây số, bao khúc đường, bao quanh co, dò lấy từng bước mà đi, bước bên trái rồi bước bên phải, chỗ lồi chỗ lõm, lúc đau chân lúc dễ chịu, đó là Tiểu Cuộc. Dù Tiểu Cuộc hay Đại Cuộc, cũng do biến chuyển của thời gian và của chân ta đi mà có; thời gian có sáng có tối, chân ta đi có trái có mặt, cả thảy đều theo luật âm dương mà biến chuyển. Đã biến chuyển thì cốt phải có lợi thông, không nên có bế tắc. Đã biến chuyển lợi thông thì “tình” sinh ra; tình đây là sự sống đã nẩy sinh do sự biến chuyển theo nhịp nhàng đứng đắn của vũ trụ; đúng với nhịp nhàng ấy thì dễ chịu, vui mừng, hạnh phúc; sai với nhịp nhàng ấy thì khổ sở, đớn đau, bất hạnh. Vì đó, trên đường Thiên Lý có cắm rất nhiều bảng, trở đi trở lại tại khúc quanh co, chỉ cho ta phải quẹo, phải thắng, phải nhượng, phải chờ; nếu ta không chịu nghe theo những bảng ấy thì hoặc ta sẽ rơi xuống hố, hoặc ta sẽ đụng chạm người khác mà phải đền tội lỗi. Những bảng ấy trên đường Thiên Lý, tức là những bảng Kiết, Hung, Hối, Lẫn trên Đường Đời mà Dịch đã cắm sẵn dạy ta phải bước nhịp nhàng với vũ trụ.
         Cho nên, những tấm bảng Kiết, Hung, Hối, Lẫn phải theo nhịp nhàng biến chuyển tức là theo “tình” của vũ trụ mà đổi thay. Tình của người khi ưa thì cho là phải, khi ghét thì cho là trái, tự mình ngang tàng đi lối cong theo tình cảm nhất thời của mình, thì e phải xuống hố, nên Dịch cắm ở đấy tấm bảng: Hung. Khi tình thân hoặc sơ ảnh hưởng đến hành vi của ta, hành vi của ta có thể sai lạc được, thì Dịch cắm ở đấy tấm bảng; Hối hoặc Lẫn. Khi tình của vũ trụ là tình của người cọ sát mâu thuẫn với nhau, thì Dịch có thể cắm thêm ở đấy tấm bảng: Lợi hoặc Hại. Nếu ta giữ được Trung hòa với vũ trụ, thì Dịch cắm ở đấy tấm bảng Kiết. Cho nên con người khi sống và động tác mà không hòa nhịp với vũ trụ thì chẳng khác gì chạy xe trên đường lộ mà bất kể những tấm bảng của sở Công chánh.
         Ta thử đọc lại một đoạn trong Hệ Từ Hạ Truyện của Kinh Dịch, thì ta sẽ nhận rõ ý nghĩa của bốn chữ Kiết, Hung, Hối, Lẫn: “Bát Quái dĩ tượng cáo (tám quái bảo rõ về hiện tượng của vũ trụ). Hào Thoán dĩ tình ngôn (lời Hào và lời Thoán bày rõ về tình của vũ trụ), Cương Nhu tạp cư (dương cương, âm nhu phối lẫn với nhau), nhi Kiết hung khả kiến hỉ (rồi, đúng hay không đúng với luật biến chuyển ấy mà Kiết hay Hung xảy ra). Biến động dĩ Lợi ngôn, Kiết Hung dĩ Tình thiên (nói về biến động thì căn cứ ở chỗ lợi thông không bế tắc mà nói, nói về Kiết Hung thì căn cứ ở chỗ sai với “tình” vũ trụ mà nói). Thị cố, ái ố tương công, nhi Kiết Hung sinh (bởi vậy, thương ghét công phá với nhau nên có Kiết Hung), viễn cận tương thủ, nhi Hối Lẫn sinh (tình thâm sơ giao thủ với nhau nên có Hối Lẫn), tình ngụy tương cảm, nhi lợi hại sinh (tình của vũ trụ với tình của con người cọ sát lẫn nhau nên có lợi với hại sinh ra). Phàm Dịch chi tình, cận nhi bất tương đắc, tắc Hung, hoặc Hại chi Hối thả Lẫn (phàm tình của Dịch nếu có tiếp xúc với nó mà không đúng cùng với nó, thì sinh ra Hung hoặc Hại cho đến Hối cả Lẫn nữa)”.
         Sợ chúng ta chưa nhận rõ, Dịch nhấn rằng: “Kiết Hung giả ngôn hồ kỳ thất đắc dã (Kiết Hung là nói về sự sai hay đúng với lẽ vũ trụ), Hối Lẫn giả ngôn hồ kỳ tiểu tì dã (Hối Lẫn là nói về vết nhỏ của sự sai ấy)”. Khoa học Âu Mỹ là khoa học máy móc, khoa học Dịch lý là khoa học Con Người, nên thánh nhân ghi trên khoa học ấy những nét Kiết, Hung, Hối, Lẫn, để định lập phương châm hành vi của con người.
         Từ nghìn xưa, phương châm hành vi của con người là vì sợ sệt, hoặc vì tiền tài, hoặc vì danh, hoặc vì tình, hoặc vì tín ngưỡng, hoặc vì yêu ghét, hoặc muốn tránh thất bại tìm thành công hoặc cầu phúc lánh họa, cả thảy phương châm ấy đều là do phản ứng của con người đối với sự biến chuyển của vũ trụ và xã hội chung quanh, phản ứng một cách mộc mạc thô sơ chưa có lề lối đúng lẽ nào cả.
         Con người lúc còn ăn lông ở lỗ như thú, thì thú tính dìu dắt sự phát triển của xác thân theo thiên nhiên như muôn nghìn cầm thú hay thảo mộc khác. Nhưng từ khi con người tự mình hành động và tạo tác cho mình hoặc cho xã hội, thì con người không phải tự ý mình bịa đặt ra đường lối của mình đi, mà Thánh Nhân cũng không tự bày ra một đường lối riêng nào bảo con người phải đi theo. Mặc dù con người có thể đi theo con đường mình muốn một ít lâu, nhưng nếu nó không phải là đường đúng với lẽ thiên nhiên, thì sự làm của mình sẽ bị hủy hoại, mà có khi còn làm hại mình và kẻ khác nữa. Một nhân vật nào có thể bày đặt ra một con đường và bắt mọi người đi trên đó một ít lâu, nhưng nếu nó không phải là đường lối của thiên nhiên, thì đường lối ấy sẽ lật úp lại mình và di hại vô kể.
         Kinh nghiệm nghìn năm cho ta biết rằng làm sai lẽ tự nhiên thì mất, đúng lẽ tự nhiên thì còn, và con người không sớm thì chầy, bị cây roi kinh nghiệm, sẽ trở lại luật lệ của thiên nhiên. Còn những người bịa lối bắt người theo sẽ bị tai hại và đường lối của họ sẽ tiêu ma. Kìa như Đức Khổng Tử làm theo lẽ thiên nhiên, dạy theo lẽ thiên nhiên, ngoài những điều áp dụng cho thời buổi ấy còn lại toàn là giá trị nghìn thu. Bởi vậy, Kinh Dịch có câu: “Dữ Thiên Địa tương tự cố bất vi, trí chu hồ vạn vật nhi đạo tế thiên hạ cố bất quá”. Nghĩa là: hành đúng đường lối thiên địa nên không sai, trí bao gồm vạn vật mà dẫn giúp thiên hạ nên không lỗi.
         Chính Kinh Dịch tinh vi nghiên cứu luật của thiên nhiên và chỉ bảo luật của con người vạn vật, dạy rõ con người phải làm sao cho hợp với lẽ thiên nhiên bằng những luật lệ, cũng như ngày nay khoa học cơ giới dạy ta làm sao chế tạo hỏa tiễn lên cung trăng cũng bằng luật lệ vậy. Dịch lý là khoa học Con Người, còn khoa học ngày nay là khoa học Cơ Giới: Cơ Giới không có Con Người là cơ giới phá hoại; Cơ Giới có Con người làm chủ, là Thế Giới Hạnh Phúc Văn Minh. Nhưng làm sao đào tao được Con Người mạnh mẽ hùng dũng, hiểu biết, để cùng với trời đất gây hạnh phúc hòa bình cho nhau, nếu không học Dịch thì thật không biết tìm đâu cho được, và trong khi học Dịch mà không nương theo những tấm bảng Kiết, Hung, Hối, Lẫn, thì không biết làm sao thi hành cho đứng đắn được.


NGUYỄN VĂN BA

_____________________________________
(1) Hệ Từ Thượng Truyện: “Dịch dữ Thiên Địa chuẩn, cố di luân Thiên Địa chi đạo. Ngưỡng dĩ quan ư thiên văn, phủ dĩ sát ư địa lý, thị cố tri u, minh chi cố; nguyên thủy phản chung, cố tri tử sinh chi thuyết: tính khí vi vật, du hồn vi biến, thị cố tri quỉ thần chi tình trạng”.


BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #448 vào: 27/11/2018, 21:10:27 »


Tổng kết cuộc phỏng vấn văn nghệ về truyện ngắn Việt và ngoại quốc

SÁU NĂM nghĩ đến, sáu tháng ngược xuôi, và nhắc nhở, đợi chờ cũng trong sáu tháng, giờ người phụ trách cuộc phỏng vấn văn nghệ đầu tiên của Bách-Khoa mới thở dài, nhẹ nhõm.
         Nợ – vì chẳng lẽ gọi là Duyên? – nợ “Phỏng vấn” mà sao như nợ “Tình”. Chưa trả xong thì bứt rứt, không yên; đang trả thì vui vui, bực bực; mà trả rồi, thì…

Vài con số và kết quả thực tế
         – Bắt đầu phỏng vấn: 15-11-1958.
         – Số người đã phỏng vấn từ ngày đầu là: 60, và tới ngày ngưng cuộc phỏng vấn (15-11-59) là: 72.
         – Số người trả lời: 42, tức là: 58,32%
         – Số người tự động trả lời: 4.
         Tới đây, chúng tôi thấy cần đi vào chi tiết ở ba điểm sau này, nên xin bạn đọc cho phép chúng tôi dài dòng, và đi ngược từ dưới lên trên:
         – Số người tự động trả lời đều là độc giả lâu năm của Bách-Khoa cả, gần như ở ngay Sàigòn, xa như ở bến Hàn Giang, cách biệt như ở ngoài Côn Đảo, và đều đã từng dạy học, viết văn, làm báo.
         – Trong số 30 người không trả lời:
         – từ chối: 3.
         – làm thinh: 1.
         – hứa trả lời, nhưng không giữ được: 14.
         – Trong số 42 người đã trả lời, lại có:
         5 người không trả lời đúng vào các câu hỏi;
         9 người trả lời có… phân nửa, chỉ cho biết ý kiến hoặc về truyện nước người, hoặc về truyện nước nhà, hoặc về truyện chẳng… biết của người nào, tên gì, và được đọc hồi nào, ở đâu.
         Trên đây là để cho bạn đọc thấy rõ kết quả thực tế của cuộc phỏng vấn, chớ riêng Bách-Khoa, cũng như người phụ trách cuộc phỏng vấn này, nhận được cái gì của quí vị, quí bạn mình đã quấy rầy – dù đó chỉ là lời chỉ trích – là đã sung sướng lắm rồi…
         Nhưng đây lại là chuyện khác. Vậy xin trở lại những truyện nào, của ai, được cho là hay nhất hoặc được thích nhất.

Kết quả thật sự
         I.– Truyện ngắn Việt được phần đông học giả, nhà văn, nghệ sĩ, nhà báo, nhà giáo ưa thích nhất:
         Ba con cáo, Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc.
         Anh phải sống, Đợi chờ của Khái Hưng.
         Sống chết mặc bây! của Phạm Duy Tốn.
         Con thằn lằn chọn nghiệp của Hồ Hữu Tường.
         II.– Lí do:
         Ba con cáo:
         – văn bình dị, nhẹ nhàng;
         – nêu một kiếp sống của đôi hạng người đặc biệt của xã hội ngày nay;
         – có sức truyền cảm khá mạnh;
         – chất sống và chất chết xen lẫn vào nhau;
         – xót xa, chua chát như cuộc đời;
         – một bức tranh xã hội giờ đây, ánh sáng, âm thanh, màu sắc không nhiều, mà bóng tối thì dày đặc.
         Rừng mắm:
         – văn nhẹ nhàng, tự nhiên, lại dùng toàn những tiếng đặc biệt miền Nam;
         – nhiều chi tiết về tâm lí khéo và đúng;
         – ý nghĩa tượng trưng rất đúng và rất đẹp: lòng hi sinh, can đảm, nhẫn nại của các thế hệ tiên phuông trong cuộc Nam tiến của dân tộc, khiến những ai đang ở rong cảnh làm kẻ vô danh trong các công cuộc khai đường mở lối hay đang ở phương xa vọng về miền Nam nước Việt mến yêu, càng thêm thấm thía…
         Anh phải sống:
         – văn giản dị, trong sáng;
         – cốt truyện cảm động, khéo dắt dẫn;
         – thu được một góc trời xã hội;
         – sự hi sinh không bờ bến của người mẹ;
         – cái chết đau thương của vai chánh trong truyện… cái chết bi thảm của người sáng tác nó trong trường hợp nghẹn ngào…
         Đợi chờ:
         – văn lưu loát;
         – đưa vào cõi mộng mơ, nhất là sau những khi cuộc đời hắt khói vào mình.
         Sống chết mặc bây!
         – mở kỉ nguyên mới về lối văn gọn, sáng, động;
         – tả một cách trung thực cái xã hội quan, dân khoảng ba mươi năm về trước;
         – ghi một chế độ cai trị thời phong kiến và thực dân;
         – biểu hiện số phận chua xót của đám dân đen;
         – đã rung động sâu xa người đọc, thời bấy giờ.
         Con thằn lằn chọn nghiệp
         – thấy con người “chánh trị gia và lí thuyết gia” của tác giả có một tâm hồn phong phú;
         – đặt một vấn đề trọng đại của thời buổi chúng ta: vấn đề Tự do Chọn lựa, bao hàm một triết lí: triết lí về: Cứu cánhPhương tiện;
         III.– Truyện ngắn ngoại quốc được phần đông học giả, nhà văn, nghệ sĩ, nhà giáo, nhà báo ưa thích nhất:
         Người lái sách, Amok, Ngõ hẻm dưới trăng, Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà của Stefan Zweig (Đức).
         Mưa lúc rạng đông của Constatin Paoustowski (Nga).
         Buổi học cuối cùng, Những vì sao của Alphonse Daudet (Pháp).
         Lễ chúc phúc của Lỗ Tấn (Trung Hoa).
         Mưa của Somerset Maugham (Anh).
         IV.– Lí do:
         Người lái sách, Amok, Ngõ hẻm dưới trăng, Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà
         – dựng truyện tài tình, tâm lí nhân vật rất là dị kì, u ẩn, nhân vật thì phần ngoại cảnh được nhận xét rất là tinh tế, phần nội tâm được phân tích cực kì tỉ mỉ.
         Mưa lúc rạng đông
         – có một cách riêng;
         – khung cảnh và tâm tình nhân vật đều mờ mờ như màn mưa bụi lúc rạng đông;
         – chán nản và uể oải tiết ra chẳng rõ từ đâu, phủ vây lấy hai con người tình cờ gặp nhau trong khoảng khắc để cùng mơ hồ đoán cuộc đời ai cũng dang dở như đời mình mà buồn, thương gờn gợn, và cái không khí ấy phủ vây luôn người đọc.
         Buổi học cuối cùng, Những vì sao
         – văn giản dị, nhẹ nhàng;
         – ý nghĩa tế nhị và cao quí;
         – để lại một dư ba bi hùng;
         – tình yêu đất nước bất diệt qua tình yêu tiếng mẹ thiêng liêng.
         Lễ chúc phúc
         – văn rất hàm súc;
         – nhân vật linh động và “thật” vô cùng;
         – phản ảnh cuộc đời rất trung thật.
         Mưa
         – cảnh rất là lê thê; còn tâm hồn quá ư phức tạp;
         – hồn đành thua xác;
         – giữa một con đĩ bán thân cùng thể với một thầy tu mà tâm hồn trụy lạc, đáng ghê tởm ai hơn?



         Và trước khi trình kết quả thật sự, chúng tôi xin đăng lại 4 câu hỏi của cuộc phỏng vấn:
         1.– Từ xưa đến nay, trong những truyện ngắn Việt bạn đã đọc, truyện ngắn nào bạn cho là hay nhất, hoặc ưa thích nhất?
         2.– Lí do chọn lựa.
         3.– Từ xưa đến nay, trong những truyện ngắn ngoại quốc bạn đã đọc, truyện ngắn nào bạn cho là hay nhất, hoặc ưa thích nhất?
         4.– Lí do chọn lựa.
         Bốn câu hỏi, nhưng có thể rút lại còn hai.
         Và luôn tiện, cũng xin ghi vào kết quả thật sự này tới kết quả, tạm cho cái tên là

Kết quả linh tinh
         A.– Nhà văn Việt được thích nhiều:
         Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Tuân, Khái Hưng, Nhất Linh, Võ Phiến, Thạch Lam, Tô Hoài, Vũ Khắc Khoan.
         B.– Nhà văn ngoại quốc được thích nhiều:
         Guy de Maupassant (Pháp), Daudet (Pháp), Dostoievsky (Nga), Stefan Zweig (Đức),(1) John Steinbeck (Hoa Kỳ), Somerset Maugham (Anh).

Đôi lời phân trần trước khi thử tìm vài nhận xét
         Trước hơn ai hết, chúng tôi không bao giờ nuôi cái cao