Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 54517 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #660 vào: 03/04/2019, 22:19:22 »


                      Bồng đảo

               KHOÁC áo màu thu biếc
               Đi về lối đẫm sương
               Trao xuân tùy gió lộng
               Cho cỏ bén mùi hương.

               Lang thang vài thế kỷ
               Ngơ ngác hỏi thăm đường
               Khách chỉ vùng mây khói:
               Đầu non, cõi nhớ thương.

               Nắng đốt bầu thơ cạn
               Trăng tàn mộng viễn phương
               Gầm trời không quán trọ
               Gió bạc cuộn trùng dương

               Uống sầu, say đập chén
               Chưa thấy điện Tây Vương
               Tỉnh giấc bên người cũ:
               Trần gian, cũng Giáng Hương!


                                        ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #661 vào: 04/04/2019, 12:12:47 »


Lăng Hoàng đế Quang Trung?
000
         Ở cách Hà Nội bốn cây số, về phía Nam, đường đi Hà Đông, có một cái gò gọi là gò Đống Đa.
         Gò này khiến ta nhớ tới một chiến công oanh liệt của một người trai đất Việt, ấy là Hoàng đế Quang Trung đã thắng quân Tàu xâm lăng, chỉ trong một trận, vào năm Kỷ Dậu (1789) đúng ngày mồng năm tháng giêng.
         Tháng sáu, năm Giáp thìn 1784, Ngài đã thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm, ở phía nam Mỹ Tho.
         …
         Công đánh Tàu.
         Công đánh Xiêm.
         Giữ vững giang sơn.
         Bảo vệ dân tộc.
         Vị quân nhân và hoàng đế này cũng đã lại là một nhà đại cách mạng quốc gia…
         Lăng ngài ở đâu?
         Chúng tôi đăng bài sau đây của ông Nguyễn Thiệu Lâu.
         Vị nào có chí đi tìm hiểu thời sẽ có thể theo nhời chỉ dẫn trong bài này mà đi tìm lăng Ngài Quang Trung.
         Lăng ngài, hỏi dân ở mấy xóm gần đấy, hỏi trẻ mục đồng thời, nôm na, gọi là mộ Ba Vòng.


⎎ ⎎ ⎎

VÀO NĂM 1941 tôi ở Huế, sinh nhai bằng nghề gõ đầu trẻ. Nhưng cũng vì tôi giảng về môn sử ký và địa lý nên tôi phải khảo cứu và dẫn anh em học sinh đi học tại chỗ.
         Có một vấn đề sử học đặt ra, ấy là lăng Hoàng đế Quang Trung ở đâu?
         Sử ghi rằng ngài an táng ở phía tây kinh thành (Huế) ở trong miền núi.



         Tôi đã đi tìm lăng Ngài, bản đồ tỷ lệ 1/100.000 ở tay, viễn kính địa bàn.
         Sở dĩ tôi đi tìm lăng Ngài Quang Trung là do cha Cadière, một nhà khảo cứu, đã bảo tôi, đại khái như sau này. Cha nói bằng tiếng Pháp:
         “Le tombeau de Nguyễn Huệ est dans la région montagneuse, à l’Ouest de Huế. Cherchez le et vous en ferez une étude”.
         Dịch ra tiếng Việt như sau:
         “Lăng Nguyễn Huệ ở trong miền núi, phía Tây thành phố Huế. Ông đi tìm lăng ấy đi và ông sẽ khảo cứu”.
         Sở dĩ cha bảo tôi như thế là vì tôi là nhân viên Đô thành Hiếu cổ xã (Association des Amis du Vieux Huế) mà cha thời là chủ bút tập kỷ yếu của hội học này.
         Vốn là người trèo núi, tôi ra đi, bị gậy và con chó lên đường.
         Cả một cuộc hành trình.



         Tôi từ dốc bến Ngự đi lên đường Nam Giao, theo đường lăng Khải Định.
         Mặt đất dần dần cao. Miền núi trước mặt. Làng mạc lơ thơ.
         Tới lăng Khải Định tôi ngồi nghỉ. Tôi nhìn trên bản đồ và đánh dấu địa điểm.
         Trước mặt, qua một cái khe là một dãy đồi.
         Tôi xuống khe và trèo lên đồi.
         Đồi chất đá là thứ đất sét rắn (schis-to-gréseux) mà các đồi song song chạy với nhau (relief appalachien).
         Có một thứ cây mọc ấy là cây chổi sể (bruyère).
         Đứng trên đồi cao, nhìn về phía Tây bắc thấy một thung lũng. Rồi núi non, trùng trùng điệp điệp.
         Không có một làng một xóm nào cả.
         Viễn kính chiếu xa.
         Tôi đã nản.
         Vì đi từ sáng sớm, mười một mười hai giờ mới tới đỉnh đồi này.
         Trèo đã mệt.
         Con khuyển chạy cũng đã mệt.
         Thầy trò ngồi ăn.
         …
         Rồi chúng tôi cứ theo đỉnh đồi mà đi, từ đồi này sang đồi khác. Cây chổi sể hồi đó ra hoa, không khí thơm phưng phức.
         Cây chổi sể mọc cao đến bụng.
         Viễn kính ở tay, tôi nhìn tứ phía.
         Dãy đồi này không khác gì dãy núi Tiên Du ở Bắc Ninh.
         Ở trên dãy đồi này mà nhìn, vừa đi vừa nhìn qua viễn kính.
         Rồi tôi nhìn thấy, ở trong một thung lũng, một cái thành.
         Tôi tự bảo: xuống xem.
         Hồi đó còn trẻ và có sức.
         Tính phỏng thời từ ngọn đồi mà xuống nơi, độ ba cây số, nhưng mà phải lên lên xuống xuống, mà không có đường mòn!
         Trời đã quá ngọ rồi.
         Tôi và con khuyển lần mò tới cái thành đó. Nếu tôi không đem theo địa bàn thời nhất định là bị lạc.
         Chúng tôi tới sát thành, sau khi đi qua một vùng toàn lau sậy.



         Thực là một sự lạ.
         Trong đời tôi, đi cũng đã nhiều nơi, bây giờ nhớ lại tôi mới biết rằng hôm đó tôi đã làm một công việc theo bổn phận nhà nghề của mình và có kết quả.
         Tôi tin chắc đây là lăng Hoàng đế Quang Trung.
         Tôi loanh quanh luẩn quẩn, quan sát, suy nghĩ, trèo lên mấy ngọn đồi trên, lấy dây đo, xụt xuống dưới, tới chỗ một cái khe cạn vi mùa mưa đã hết.
         Trời tà, khí núi bốc, mây xám, mưa phùn, một làn gió nhẹ…
         Tôi vỗ con khuyển ra về. Con khuyển nhớ đường đi nên nó dẫn tôi về tới nhà, quá tối mịt.
         Miền này có hổ.



         Sau hôm đó đến quá nửa tháng vì phải để thời giờ suy nghĩ và tìm tài liệu, tôi rủ anh em học sinh lớp đệ nhị, đệ nhất ở trường Khải Định cùng đi học với tôi.
         Tôi bảo là đi học địa lý thiên nhiên.
         Độ vài ba chục anh thích đi.



         Chúng tôi vừa đi vừa quan sát các đá, ở hai bên dọc đường. Đá mài (grès), đất sét rắn (schiste), đá vôi già (Calcaire primaire plissé). Quá lăng Khải Định, tôi chỉ mấy ngọn đồi và tôi bảo anh em trèo lên đấy, nghỉ, rồi về.
         …
         Trèo lên đồi, sau khi đi qua khe, chúng tôi ngồi nghỉ, chia nhau thức ăn.
         Tôi đã đánh dấu chỗ nhìn rồi.
         Tôi đưa viễn kính cho các anh em nhìn và tôi bảo: “Lạ thật, có cái gì đằng kia, ở giữa miền núi”.
         Anh nói thế này, anh nói thế nọ.
         – Một cái thành?
         – Một cái mộ cổ?
         – Sao lại có thành ở đây được?
         – Sao lại có mộ ở dây được?
         – Chúng ta xuống xem!
         …
         Tôi vội can thiệp.
         – Các anh muốn xuống thời xuống, tôi chờ ở đỉnh đồi này, nhưng nhìn kỹ phương hướng, kẻo mà lạc.
         Các anh em thanh niên chia nhau từng lớp mà đi.
         Tôi lấy viễn kính theo dõi họ.
         Mục đích của tôi để cho họ đi trước, để cho họ bàn với nhau, cùng họ được hưởng thú trèo núi.
         Rồi tôi và vài anh em đi theo sau.
         …
         Tới nơi, tôi thấy các anh em, kẻ ở chỗ này người ở chỗ khác, kẻ ở dưới đất, người ngồi trên trường thành.
         Lần trước tôi đi, có một mình, không leo được lên mặt thành. Lần này, nhờ hai anh em công kênh, tôi lên được mặt thành và ngồi, lấy viễn kính nhìn kỹ.
         Để cho các anh em bàn tán lao xao, rồi tôi lại nhờ hai anh em cho tôi xuống đất.
         Rồi chúng tôi nói chuyện.
         Đại để câu chuyện như sau này:



         Tôi: Lạ nhỉ, tại sao ở miền núi hoang vu như thế này lại có một cái thành.
         Một anh: Thành này kiểu lạ, có ba thành hình tròn, ôm lấy nhau. Ba cửa mở theo một hướng.
         Tôi: Sau cửa mở vào, có một cái bia to, bia này bằng đá dày, rắn lắm, anh nào khá chữ Hán thử cố đọc mà xem.
         Mấy anh em xúm xít lại đọc. Họ lấy khăn tay chùi bia, họ chẳng đọc được chữ gì cả.
         Một anh: Bia này mòn.
         Tôi: Anh nhìn kỹ đi. Bia này không có thể mòn được một cách nhanh chóng vì chất đá rắn lắm. Anh nhìn kỹ xem. Các chữ khắc sâu ở trong bia đá bị các nhát búa rấp đi.
         Vết các nhát búa đó hãy còn, tuy bia ở ngoài trời, chịu mưa, chịu nắng không biết đã từ bao nhiêu năm rồi.
         Dựa vào bia, nhìn vào thành thứ ba, anh thấy một cái mộ to.
         Mộ này xây bằng vôi mật còn ba thành đều xây bằng đá ong.
         Mộ này phải là mộ của một ông quan to, thuộc triều đại nào không biết.
         Các anh xem kỹ mộ đi.
         …
         Tôi cầm búa đập chan chát vào mộ. Búa chỉ nảy ra mà thôi. (Nguyên là đi học địa lý, bao giờ chúng tôi cũng phải giắt một cái búa dài để đập đá).
         Tôi chỉ một lỗ hổng trong mộ, lỗ hổng này nhỏ. Vì bị đất chung quanh dần dần lấp đi. Lỗ hổng này đã phải to, đủ cho người chui vào, và vào sâu, để đào, đào sâu.
         Đào để làm gì?
         Phải chăng để lấy của trong áo quan?
         Phải chăng để lấy xương?
         – Một anh: Chắc để lấy của.
         – Tôi: Các anh suy nghĩ đi.
         Đã phải có một sự liên lạc giữa cái bia bị búa rập chữ và cái hố đào này. Rập bia để cho hậu thế không đọc được.
         Đào mộ lấy xương để báo thù. Báo thù người chết nhưng cũng để cho con cháu người này không mở mày mở mặt được.
         – Một anh: Đây chắc là mộ một ông quan khi sống độc ác, có kẻ thù: kẻ này chờ sau khi ông ấy chết bèn rập bia, đào mộ.
         – Tôi: Gần Huế, ở các xã An Ninh, Nguyệt Biểu, Kim Long, có biết bao nhiêu mộ to. Có mộ mà bia bị chìm xuống đất.
         Nhưng chỉ thuộc về hai kiểu, một kiểu thuộc về đời Nhà Tây Sơn, một kiểu thuộc về đời Nhà Nguyễn.
         Các anh đã biết hai kiểu mộ ấy rồi.
         Đây là một mộ to, có ba thành bằng đá ong bao bọc. Chung quanh thành ngoài, như các anh đã đứng trên mặt thành mà nhìn, thời là các ngọn núi, chạy vòng quanh với nhau, ôm lấy ba cái thành, nghĩa là cái mộ ở giữa một vùng hình lòng chảo vì chất đá mềm đã bị suối đào (cuvette d’érosion).
         Nói tóm lại, lối kiến trúc hùng vĩ trong một khung cảnh đặc biệt của thiên nhiên, cái bia chữ thật to, bị rập và cái mộ bị đào, ba chi tiết này khiến tôi nghĩ rằng đây là mộ một vị cấp cao chứ không phải là một ông quan thường, dù là nhất phẩm, Văn hay Võ.
         …
         Các anh em suy nghĩ đi.
         …
         Một lúc lâu tôi mới trả nhời: Đây là lăng Hoàng đế Quang Trung.
         Chúng ta hôm nay đến cung chiêm lăng Ngài.
         Bây giờ tôi nói các anh rõ. Tôi đã tới đây một lần. Hôm nay tôi bị dẫn các anh lại đây…
               1) Bia của Ngài đã bị Hoàng đế Gia Long cho rập.
               2) Tẩm của Ngài đã bị đào. Hài cốt đem về cho vào một cái chum, có xích xiềng, để ở dưới khám đường Huế.
               3) Nhưng Ngọc Hân công chúa, con gái vua Lê và Hoàng hậu hay Quí phi của Hoàng đế Quang Trung được tha tội chết và được tuyển vào hầu hạ Hoàng đế Gia Long ở trong cung…
         Các anh muốn biết công của Hoàng đế Quang Trung với dân tộc nhà thế nào, sau này, các anh học sẽ biết…



         Trời đã tà.
         Anh em chúng tôi đi hàng một vạch lau mà về… Thỉnh thoảng có anh quay lại, đứng nhìn lăng Ngài…
         Chúng tôi im lặng mà về.
         Sau cuộc cung chiêm lần thứ hai này, cùng với anh em, tôi không có dịp quay lại lăng Ngài nữa.
         Các ảnh mà tôi đã chụp đã bị mất!
         Vào năm 1952, tôi đã có dịp trở lại Huế nhưng đã không có phương tiện để lại cung chiêm lăng Ngài.
         Bây giờ, tôi chắc rằng lau mọc trên mặt thành vẫn nhiều, bông phất phơ trước gió. Đứng trên ngọn đồi mà lấy viễn kính nhìn thời thấy thực là đẹp.
         Chung quanh lăng, chắc toàn là lau sậy, cỏ ranh hay nếu có cây dại mọc thời cũng chỉ là mới đây.
         Oái oăm thay. Ở gần chỗ mà tẩm Ngài bị đào, tôi có thấy một cái mộ con, không có bia, mộ này, tôi đã hỏi ra, là mộ một thường dân ở gần đấy, đem an táng để mong được phước.
         Trong mùa mưa, nước ở trên núi đổ về phía sau lăng và chảy vòng quanh. Đến phía cửa lăng thời tụ lại và chảy theo một cái khe:
         Nhà Nguyễn đã thu thập để hủy tất cả sử liệu về Nhà Tây Sơn, cũng như đã rập bia, đào mả…
         Bây giờ chúng ta nhớ tới lăng Hoàng đế Quang Trung
.


NGUYỄN THIỆU LÂU


BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #662 vào: 05/04/2019, 10:11:11 »


Biển cát
000
LÒNG tôi biển cát bao la
Dấu chân từng dáng người qua vẫn còn
Phũ phàng sóng táp bãi mòn
Mà riêng hình cũ trong hồn chưa phai
Vết chân người đó người ơi
Ấn sâu cho dấu chân người đậm thêm
Cuộc đời rồi sẽ nguôi quên
Hồn tôi rồi sẽ lên miền mây bay
Chỉ mong đôi dấu chân bày
Đã in trên biển cát này con nguyên

Sớm mai sóng sẽ đưa thuyền
Gió đưa buồm trắng qua miền phiêu du
Hồn tôi vạn bến, muôn bờ
Mở yêu thương thiết tha chờ thuyền ơi
Vòng tay tôi rộng tuyệt vời
Cánh tay tôi với theo người bao dung

Người qua đời cũng qua dần
Trắng phau lòng cát còn nâng gót người

                             PHAN DUY NHÂN
                             1959



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #663 vào: 05/04/2019, 22:57:53 »


                   Chiều hết niềm đau

               DÁNG xuân vừa hiện lên màu áo
               Gờn gợn niềm vui mộng buổi chiều
               Thôi thả mây buồn cho quá khứ
               Đem về ánh sáng giữa hoang liêu

               Em đã no rồi chuyện đã qua
               Hờn ghen hoen ố giấc mơ ngà
               Chiều nay sau giấc trưa đầy đủ
               Êm ái tàn phai ý cỗi già

               Tóc buông dòng suối dài đen tối
               Ánh mắt gửi về xứ khói sương
               Dáng dấp u phiền xin gột rửa
               Mượn màu trang điểm để yêu đương

               Lầu vắng trăng treo trả lại người
               Trầm tư mòn giữa tuổi đôi mươi
               Nay xin làm vết dầu phai lạt
               Để giấy trinh ngà nguyên vẻ tươi

               Bồng bềnh sóng áo trôi tha thướt
               Chân vướng niềm vui lót vỉa hè
               Đô thị bừng men chiều gió lộng
               Đưa người dạo phố đến say mê

               Em kiếm chiều nay một dáng người
               Đã từng ngược đãi thuở xuân tươi
               Mong tìm trên mặt xanh như tượng
               Trong nét buồn le lói nụ cười

               Hồn xưa ớn lạnh chiều sâu thẳm
               Về sưởi bên em ánh mắt nồng
               Hãy đến tìm dài theo đại lộ
               Hương màu trang sức tỏa mênh mông


                                             HÀ HỢP NGUYÊN



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #664 vào: 06/04/2019, 10:52:32 »


Thượng du
000
LÁ theo nước lũ trôi về
Thượng du với nỗi buồn tê lòng người
Chiều mưa rừng núi chơi vơi
Đêm sương lạnh ngắt trăng cười héo hon
Buồn hoang vu chảy từ nguồn
Xuôi về tận biển vẫn còn hoang vu

                            HOÀNG KHANH



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #665 vào: 06/04/2019, 23:58:19 »


Lời xuân
000
EM còn nuôi giấc chiêm bao
Mùa xuân tha thướt theo vào mái tranh
Ta ru với ý thơm lành
Cánh tay trai biến nguyên hình gối tơ
Ngàn hoa tô điểm Sông Hồ
Chim cao giọng dệt lời thơ gấm vàng
Xóm nghèo tiếng trẻ ca vang
Guốc reo từng chuỗi nhạc ran nụ cười
Tiếng chuông cầu nguyện cho đời
Nâng hồng lên, nắng hồng tươi xóm nghèo
Nhìn Em, ta muốn mơ theo
Hẳn trong giấc mộng có nhiều say mê

                                1-61
                                HOÀNG KHANH



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #666 vào: 07/04/2019, 21:40:07 »


                  Em bé chăn trâu

               MƯA như nước xối
               Gió gội tơi dày
               Lúa trì sợ ngọn “tay may”
(1)
               Đòng đòng núp mình trong lá
               Gió lạnh về chi vội vã
               Giữa mùa đang ướm đơm bông
               Chiều nay hun hút gió đồng
               Có em sợ rét gói lòng trong tơi
               Em chẳng yêu mây vần vũ lưng trời
               Em chẳng thích lội dầm trong ruộng nước
               Em cũng e mưa
               Em từng ngại bấc
               Mà sao em vẫn ra đồng
               Cô đơn, hứng cả mùa đông
               Tay bé bỏng lùa sâu trong lớp cỏ
               Em cắt, em ôm, mong sao đầy giỏ
               Mang về hong ráo, nuôi nấng bầy trâu
               Đời ở thuê, mưa nắng khác gì đâu!
                                         ○
               Em như cây lúa ngậm màu,
(2)
               Mong mỏi bàn tay che chở
               Thèm khát lắm cảnh trường vui, sách vở
               Cơm cá no nê
               Mảnh áo ngự hàn
               Khỏi ra đồng cắt cỏ dưới mưa chan
               Bớt gội sương khuya. Thôi dang nắng hạ
               Chẳng phải lo chuồng trâu thiếu lá
               Ngày mưa dầm ướt cỏ, hôi rơm…
               Những hồi trâu trở chứng hung hăng
               Chạy xéo vườn khoai
               Băng càn bãi lúa
               Em đuổi theo hoài
               Mồi hôi tua tủa
               Mà lo, mà khóc dầm dề.
               Những ngày hè, cỏ trên bãi ủ ê
               Trâu chẳng ăn no, em về lo lắng
               Miếng cơm nhạt nuốt theo lời chủ mắng
               Biết nói cùng ai?
                                         ○
               Em đã từng nghe tiếng hát khoan thai
               Giọng du dương, ngân mặt kính lâu đài
               Vang giữa trường thôn, hay bên cửa sổ:
              “Ai bảo chăn trâu là khổ
               Không. Chăn trâu sướng lắm chứ”
(3)
               Người ta đã cướp bao nhiêu văn tự
               Lừa dối mục đồng!
               Vì đời em, đầy nắng hạ, mưa đông.


                                                HOÀI HƯƠNG

_______________________________
(1) “Tay may”: một loại gió làm cho lúa lép hạt.
(2) Lúa ngậm hạt: nhị đực, nhị cái của lòng lúa kết với nhau để thành hạt.
(3) Trích trong bài học, sách “Quốc văn giáo khoa thư”.


BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #667 vào: 08/04/2019, 11:47:40 »


                     Sao em còn buồn?

               VÌ sao em còn buồn
               Xuân sang rồi, đâu phải màu thương nhớ?

               Luyến tiếc làm chi
               Ngày Xưa
               Kỷ Niệm
               Em hãy ngừng tay kéo sợi tơ sầu
               Để ta đừng viết mãi áng thơ đau
               Bản tình ca chưa vào nhịp cuối
               Tình ơi Tình, về đâu, về đâu!

               Vì sao em buồn?
               Sớm mai này chim ca đầu ngõ
               Lời chim rất nhanh
               Tay gió vân vê tà áo xuất hành
               Đi về hướng nắng
               Trời đất giao duyên – niềm yêu thầm lặng

               Tơ không gian như có hẹn cây rừng
               Nắng gội thủy ngân
               Lửa ân tình reo vui bếp ấm
               Sao em nhốt tuổi xuân vào lòng cung cấm
               Bốn mùa hoang lạnh đơn côi!
               Những bức tường nghiêm của ngàn lối mộng
               Những chiều xanh lần lượt qua rồi!
               Bàn tay mùa xuân chờ dìu em đấy
               Này đây phố hẹp
               Này lối viền hoa
               Đừng nghiêng tai về tiếng gió đêm thu xa
               Em hãy cùng ta tiến lên phía trước
               Và em hãy nói lên lời nguyện ước
               Dẫu muộn màng nhưng chưa trễ đâu em!
               Vì có ai ngăn máu trở về tim
               Chưa thề thốt vẫn còn quyền hò hẹn
               Đàn én tha phương
               Đã trở lại với hương rừng, ý biển
               Dâng màu xanh tiếng hót thanh tao
               Em hãy cười lên vì xuân đã đến
               Hãy bước nhanh nhanh kẻo thời gian qua cầu
               Hãy giữ lại những gì còn lại
               Kẻo nữa rồi than nắng quái, mưa mau…

               Đời chưa hờ hững
               Sao em còn buồn?
               Xuân sang rồi, đâu phải mùa nhớ thương?


                                                        TƯỜNG LINH



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #668 vào: 08/04/2019, 21:25:38 »


                      Hiu hiu

                    VỪA gặp nhau
                    Lòng xao xuyến
                    Tràn lưu luyến
                    Câu chuyện đầu

                    Tiễn đưa lời nho nhỏ
                    Mắt trời xanh bao la
                    Môi ngạt ngào hương gió
                    Chim bướm nhộn hài hoa

                    Rồi thân nhau
                    Ngàn câu chuyện
                    Trọn đời nguyện
                    Cùng yêu nhau

                    Nắng chiều quen đường sỏi
                    Sương lá mộng dịu hiền
                    Nửa khuya trăng ấm gối
                    Vàng cúc ngát đầu hiên

                    Bỗng ly biệt
                    Sầu mắt biếc
                    Tháng ngày qua
                    Một cách xa

                    Vườn hoa thành ghế lạnh
                    Đường sỏi nắng cô liêu
                    Khóm cúc thu nở thạnh
                    Hiu hiu ngọn gió chiều


                                   QUÁCH GIAO



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #669 vào: 09/04/2019, 21:38:01 »


                      Xuân

                        [chờ bổ túc]


                                   HUY LỰC


BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #670 vào: 09/04/2019, 21:40:16 »


Trả lời ông Thu-Giang

TRÊN MỤC “Qua các hàng sách” ở tạp chí Bách-Khoa số 96, dưới nhan đề “Triết lý và cuộc đời”, tôi có nhận xét sơ lược về quyển sách “Một nghệ thuật sống” của ông Thu Giang Nguyễn Duy Cần. Cũng trên tạp chí này, số xuân Tân Sửu, ông Thu Giang có bài trả lời tôi.
         Bài “Trả lời…” có ba phần. Bắt đầu ông Thu Giang bảo rằng lẽ ra ông không cần biện bạch dài dòng với tôi, vì tôi theo nhị nguyên (?) mà ông thì theo tam nguyên, có biện bạch cũng vô ích.
         Tôi vốn thực là một kẻ độc giả tầm thường, nhân dạo qua các hành sách, phát biểu một ít cảm tưởng về quyển này quyển kia mà thôi, nên bỗng dưng được một nhà triết học như ông Thu Giang xem mình cũng có một khuynh hướng triết lý hẳn hoi, thì dù có thua ông một “nguyên” (tôi 2 mà ông 3) đáng lẽ cũng coi là một vinh dự cho mình. Vậy thì “lẽ ra” tôi không nên biện bạch, nhưng khi đọc tiếp quan niệm của ông về những người nhị nguyên, tôi bèn rụng rời, đành phải biện bạch.
         Ông Thu Giang bảo tôi: “Ông là người không thể quan niệm rằng trong đời này còn có cái Phải nào ngoài cái Phải theo ông quan niệm, và người ta không thể nào vượt lên trên sự Phải Quấy của ông để suy nghĩ khác được”. Ông Thu Giang lại bảo “Kẻ nào nghĩ như ta là bạn của ta, kẻ nào nghĩ khác ta là thù của ta. Âu cũng là cái lối suy nghĩ chung của những người suy nghĩ theo nhị nguyên vậy”. Khổ cho tôi! Phải chi ông Thu Giang chịu dẫn lấy một đôi lời trong bài phê bình của tôi thì hoặc may ra tôi hiểu được sự chỉ trích nghiêm khắc của ông, hoặc tôi có thể khiếu nại về sự cắt xén đoạn mạch làm sai ý mình. Đàng này, ông chỉ hạ một lời phán quyết mà không thèm viện dẫn chứng cứ khiến tôi hết sức phân vân. Tôi đã soát lại lời lẽ của mình, vẫn chẳng tìm đâu cho thấy cái chỗ chê ông Thu Giang là quấy, coi ông Thu Giang là thù. Chẳng lẽ bây giờ tôi lại đi đố ông tìm ra?
         Sự thực bản ý của tôi trong bài nhận xét trên tạp chí Bách-Khoa số 96 là cho rằng cái triết lý của ông Thu Giang đem ra truyền bá, hay dở không nói đến, chỉ biết trong hoàn cảnh chúng ta đang sống, khó mà đem ứng dụng được. Triết lý của ông Thu Giang chủ trương không chọn lựa, không thiên hẳn về một bên nào cả giữa Thiện Ác, Phải Quấy…, chủ trương không phản động lại cái lầm, không lấy cái Phải trừ cái Quấy…, chủ trương không hăm hở ham muốn, kể cả ham muốn văn minh tiến bộ. Trong lúc ấy cuộc sống thực tế ngày nay đòi chúng ta phải có sự chọn lựa dứt khoát, phải thiên hẳn về bên Thiện, bên Phải, xa hẳn bên Ác, bên Quấy, không nên có sự ấm ớ lưng chừng, đòi chúng ta phải phản động lại cái lầm một cách mạnh mẽ, phải lấy cái phải mà trừ tuyệt cái quấy, nếu không thì cái quấy nó chẳng dung tha cho cái phải đâu, đòi chúng ta hăm hở cố gắng học lấy kỹ thuật văn minh cơ giới để thoát khỏi tình trạng chậm tiến. Tôi chỉ có ý nói như thế!
         Cho rằng ông Thu Giang quấy, và thù ông Thu Giang là một việc. Còn cho rằng tư tưởng ông Thu Giang khó đem ra ứng dụng, đó là việc khác chứ. Không phản động lại cái lầm, không trừ cái quấy, ấy có thể là chủ trương rất hay rất phải, tôi chỉ tiếc là theo sự nhận định thô thiển của mình thì lúc này dù sai dù đúng chủ trương ấy không dễ gì theo được mà thôi. Tôi tin giá ông Thu Giang đọc lời tôi vào một lúc thực bình tâm thế nào ông cũng thấy rõ ý tôi như thế. Ngay ở cái nhan đề bài văn tôi đã nêu rõ dụng ý chỉ là đối chiếu một triết lý với hoàn cảnh cuộc đời hiện nay mà thôi. Suốt trong bài văn, tôi lại nhiều lần nhắc cái ý ấy, như ở các đoạn: “Nhà văn Việt Nam trình bày… trên mây trên gió” (trang 51), “Quan niệm của ông Thu Giang… làm triết lý” (trang 53), “Thế nhưng người thường chúng ta… hòa nhịp với trào lưu thế giới” (trang 54).
         Rõ ràng tôi chỉ trách học thuyết của ông nó quá cao siêu, chứ không hề chê nó quấy, liệu như thế có còn là người nhị nguyên nữa chăng? Bởi vì thú thực tôi thấy không có gì thảm hại cho bằng hình ảnh một người nhị nguyên bên cạnh một người tam nguyên như ông Thu Giang. Cứ theo mấy lời đầu bài trả lời của ông, độc giả hẳn đã nhận rằng người nhị nguyên không những hẹp hòi cố chấp như thế nào, mà lại có vẻ gàn gàn kỳ cục quá quắc nữa: người ta vừa mới nghĩ khác mình đã vội cho người ta là thù ngay! Ở một đoạn sau, ông Thu Giang lại nói: “Tôi cảm thấy tự mình bất lực nói lên được những gì mình có thể cảm được vì những danh từ hạn định của con người, trong giới nhị nguyên”. Như thế “tôi” tam nguyên đây hẳn cần sử dụng đến một thứ danh từ không hạn không định của không phải con người, và chắc chắn là cao hơn của con người lắm lắm. Người ta đoán giới tam nguyên có lẽ tựa như là tiên giới vậy. Bởi vậy cho nên chỉ phác qua một sự minh định vị trí đôi bên, ông Thu Giang đã đặt ra sự cách biệt một trời một vực giữa tôi và ông, làm tôi những cảm thấy rợn người mà ngại ngùng trong sự đối đáp.
         Thế nhưng tôi vẫn tin ở một sự thông cảm con con giữa giới nhị nguyên và giới tam nguyên. Số là khi nói triết lý của ông Thu Giang khó theo, tôi có đưa ra trường hợp phải chống sự hành hung của kẻ quấy ở nước ta, trường hợp phải chống quấy ở Algérie, ở Congo, trường hợp Mỹ Nga v.v… Có thể ông Thu Giang cho rằng ở những nơi ấy chống quấy tích cực ác liệt tại vì người ta chưa tìm ra biện pháp hợp với đạo lý. Như vậy tôi xin phép dẫn một thí dụ gần hơn: Tôi vừa mới có một ít nhận xét về tác phẩm của ông mà ông cho là những nhận xét sai quấy, ấy thế là trong bài “Trả lời…” của ông đã có những câu trách mắng thậm tệ và những lời mỉa mai chua chát. Đó, ông xem! Cách phản ứng chống quấy của chính ngay một người tam nguyên như ông xem ra cũng mạnh mẽ đấy chứ. Ông thiên mạnh về lẽ phải (của ông, cố nhiên) như thế hẳn là vượt quá một hào ly, ông không sợ “làm cho Trời Đất chia phân” sao? Bởi thế cho nên điều phải quấy đến hôm nay tôi vẫn chưa dám bàn đến, song tôi cứ tiếp tục tin rằng ứng dụng triết lý của ông rất khó, và tôi lại tin rằng ông chính là người đầu tiên thông cảm nỗi khó khăn ấy, mặc dù có sự cách biệt giữa kẻ tiên người tục.



         Qua phần thứ hai, sau khi đã toan không cần biện bạch, ông Thu Giang lại quyết định biện bạch, là vì ông cho tôi cắt xén đoạn mạch bài văn của ông, bắt ông nói những gì ông không có nói.
         Những gì đó gồm hai điểm. Điểm thứ nhất là về quan niệm của ông Thu Giang đối với văn minh cơ giới. Tôi nghĩ rằng ông không có thiện cảm đối với cái văn minh ấy, điều đó tôi thấy được ở trong phần phụ lục của tác phẩm. Ông Thu Giang bảo rằng phần phụ lục không phải chỉ có chuyên vạch cái hại của văn minh cơ giới mà cũng trình bày cái lợi của nó nữa, mục đích “là để chứng minh cái luật quân bình của vũ trụ”.
         Tôi nghĩ một đường, ông Thu Giang bảo một lối, nguyên do là thế này. Bài nhận xét của tôi chia làm hai phần rõ rệt. Từ đầu đến chỗ có đánh dấu ngôi sao lớn (trang 53), tôi tóm tắt triết lý của ông Thu Giang, theo sự lãnh hội của tôi. Phần thứ hai có hai đoạn: một đoạn ghi vài nhận xét về nội dung tác phẩm (đến chỗ có ba dấu ngôi sao nhỏ), một đoạn nữa nhận xét về hình thức, về cách viết của tác giả. Trong phần tóm lược tôi cố gắng tổng kết tư tưởng mà tác giả đã phô diễn trong toàn thể tác phẩm mà không chia ra tư tưởng nào ở chương nào. Lẽ dĩ nhiên tư tưởng về luật quân bình của vũ trụ ở phần phụ lục cũng có tóm lược trong đó rồi. Đến phần nhận xét, nói về quan niệm đối với văn minh của ông, tôi nhắc đến phần phụ lục là chỉ có ý nêu chỗ xuất xứ của nó, chứ cố nhiên không phải là là tóm tắt cả tư tưởng của phần phụ lục nữa. Như vậy theo sự phân chia trong bài văn tôi đâu có phần nói riêng về phụ lục và phần chung cho các chương khác. Tôi đâu có “cố ý” làm cho độc giả Bách-Khoa tưởng rằng suốt phần phụ lục của ông chỉ có một mục đích là chống đối văn minh cơ giới để mà chống đối. Bảo rằng ở “trong phần phụ lục ông còn vạch ra…” và bảo “suốt cả phần phụ lục ông chỉ có một mục đích…” hai cách nói đó khác nhau. Nếu có lẫn lộn, e lại có vị độc giả nào hiểu lầm thì tôi cũng xin quý vị chú ý đến sự đính chính cẩn thận của ông Thu Giang.
         Đó là về chuyện cố ý cùng không cố ý. Còn như về chuyện ông Thu Giang đối với nền văn minh cơ giới, thì thực tình tôi vẫn thấy ông không được niềm nở với nó. Quả thực ông Thu Giang có nêu cả cái lợi và cái hại của nó để rốt cuộc chứng minh cái lẽ quân bình vũ trụ. Nhưng ông nêu cái hay trong 13 giòng rồi ông kể cái hại trong ngót 80 giòng, ông nêu cái hay trước rồi ông kể dở để bẻ lại sau, ông dư rõ rằng sự lập luận như thế có tác dụng như thế nào. Ông biết người đời vốn ham văn minh, ông bảo nó hay đấy mà nó cũng dở lắm đấy; như thế người đời đoán ông không mấy gì ưa nó, không đúng sao? Nếu đoán ông qua các lập luận chỗ ngắn chỗ dài ý sau ý trước như thế chưa đủ rõ thì tôi xin dẫn thêm vài câu nói của ông trong cùng tác phẩm ấy để suy nghĩ thêm. “Trong cái xã hội tôn thờ “văn minh tiến bộ” thì những chữ nhân nghĩa toàn là giả dối cả” (trang 25). “Khoa học ngày nay đã cung phụng và thỏa mãn người người đủ mọi nhu cầu, thế đã đưa lại hạnh phúc cho họ được chưa, hay chỉ tạo thêm sự thèm muốn liên miên, dục vọng con người càng ngày càng thêm ác liệt?” (trang 34). Lại nếu cả những câu ấy cũng không chứng tỏ rằng ông ít chuộng cái văn minh này theo như tôi đoán thì đó chẳng qua là vì lời kẻ tam nguyên nói mà trí kẻ nhị nguyên hiểu không hợp nhau đấy thôi, xin ông đừng kết tội lần nữa rằng tôi cố tình xuyên tạc.
         Duy có điều phần phụ lục của ông cốt nói về cái lẽ quân bình vũ trụ, lẽ ra có nói thì tôi chỉ nên nói đến chỗ chính yếu đó thôi, chứ không nên nói tới cái sự yêu hay ghét văn minh cơ giới là điều thứ yếu, là điều chỉ đoán qua hơi hám hành văn của ông. Ông trách thế tôi chịu. Nhưng thực ra chỗ chính yếu tức là việc quân bình giữa Phải Quấy, Lợi Hại, Thiện Ác… tôi đã có đề cập tới trong đoạn nhận xét trên rồi, chứ không có khinh chính mà trọng thứ.



         Điểm thứ hai về việc cắt xén đoạn mạch mà ông cho là điểm quan trọng nhất, ấy là thuộc về chuyện “con chiên ăn cỏ”.
         Trong bài nhận xét, tôi có nhắc đến sự ví von của ông Thu Giang hai lần: một lần để nói về nội dung tác phẩm, một lần nữa để nói về cách hành văn của tác giả. Về nội dung, nếu tôi theo lời ông Thu Giang nói: “… ta hãy dùng lông nó, không cần phải để ý nó ăn cỏ nơi đâu?” nghĩa là đọc sách của ông Thu Giang hãy cứ xem như tiếp nhận tư tưởng của ông Thu Giang, không cần biết tư tưởng ấy do nguồn gốc nào, nếu tôi nghe theo lời ấy, tất nhiên phải có lời phê bình cái triết lý trong sách. Điều đó tôi không muốn. Vì tôi nhận thấy ông Thu Giang phô diễn học thuyết Lão Trang, mà phê bình học thuyết Lão Trang là điều đã có quá nhiều các vị lỗi lạc làm rồi, tôi xét mình không sẵn sàng để ông thêm vào cuộc đấu lý thuyết ấy. Do đó tôi bèn xin nêu ra cái chỗ chiên ăn cỏ là có ý nói: nếu thực cái mới riêng của Thu Giang thì đáng bàn luận, nhưng đây là chuyện cũ nghìn đời của Lão Trang, vậy xin miễn kéo dài cuộc luận bàn. Ý tôi chỉ có thế, tôi đã nói rõ là “không có ý cho rằng chiên không tiêu hóa được cỏ, rằng cỏ đã mọc thay lông”. Rõ ràng tôi chẳng chê trách gì ông cả.
         Còn về phần hình thức, về cách thức biên soạn của tác giả, nếu cũng nghĩ tới câu “chiên ăn cỏ” thì chắc không cứ gì tôi, ai cũng phải trách ông Thu Giang. Ông bảo độc giả đừng nghĩ tới cỏ, nhưng ông có đưa toàn lông ra đâu: nhiều chỗ trong tác phẩm ông dẫn hẳn những sách mà ông đã đọc ra, ông đưa nguyên chất liệu không chế hóa ra, thế bảo rằng ông cẩn thận thì ai cũng chịu, nhưng cứ cãi rằng ông đã chế hóa rồi thì ai mà chịu được. Những câu cách ngôn, những truyện ngụ ngôn của người này người kia mà ông Thu Giang dịch ra in vào sách mình ấy cũng “biến hóa khí chất” cả rồi sao? Đâu có chuyện lạ vậy?
         Trong bài “Trả lời…” ông Thu Giang viện lẽ “người ta không phải là bộ máy thu thanh, thu vào cái chi thì phát ra y cái đó không chút thay đổi” để thanh minh về chuyện ví von của mình. Như vậy thì ai ai cũng thế chứ có riêng gì ông Thu Giang mà phải đem ví von ấy gán cho riêng mình. Tôi nghĩ việc cỏ hóa lông phải chỉ định một tính cách sáng tạo, chế hóa nào quan trọng hơn một chút. Về phần tôi chẳng hạn, trong bài nhận xét về quyển Một nghệ thuật sống của ông Thu Giang, tôi cũng có một phần trình bày lại học thuyết ông theo sự hiểu biết của mình, lẽ dĩ nhiên trong đó sao khỏi có ít nhiều thay đổi; nhưng giá có ai cho đó là cỏ Thu Giang đã hóa lông Nhân Thế thì tôi sẽ lấy làm thẹn thuồng vô cùng, đến nỗi có thể nghĩ rằng kẻ đó “xỏ” mình. Vì thế tôi tưởng sau khi đã có bao nhiêu là sách tự xưng hẳn ra là khảo về học thuyết Trang Tử, triết lý Lão Tử v.v… (dĩ nhiên vẫn “phát ra” học thuyết triết lý ấy với chút ít thay đổi theo nhận định của mỗi tác giả), nay có một tác phẩm mà nhan đề không chút dính líu đến Lão Trang, lại nêu ngay ở đầu cái nguyên tắc “biến hóa khí chất” thì ta có quyền chờ trong tác phẩm đó phần sáng tạo nhiều hơn chứ, huống chi về phần nội dung tôi chưa kịp nói lên sự thất vọng về điểm ấy mà đã bị ông Thu Giang phàn nàn.
         Ông Thu Giang mắng tôi trích không trọn văn. Văn trọn của ông thế này: “Con chiên ăn cỏ mà được bộ lông mướt đẹp… ta hãy dùng lông nó, không cần phải để ý nó đã ăn cỏ ở đâu? Cây cối sởn sơ bông trái, ta hãy ăn trái ngắm hoa đừng để ý hỏi ngọn suối đã thấm nhuần nuôi nấng nó. Đọc quyển sách nầy, các bạn cũng không cần phải để ý đến những lý thuyết tư tưởng nào đã giúp nó đơm hoa kết quả. Những học thuyết đã giúp nó sanh thành đối với tác giả nó, cũng như cỏ đối với chiên, nước đối với hoa… đã bị biến hóa khí chất. Tìm nó vô ích, vì nó không còn nguyên vẹn bản chất của nó nữa”. Ông nói tiếp “Câu ví của tôi trên đây, cỏ đối với chiên, nước đối với hoa, tư tưởng cổ nhân đối với tác giả, liên tục nhau thành một khối nhất quán, không thể rời nhau được vậy mà ông Nhân Thế lại dụng tâm cắt xén văn mạch đi…
         Tôi lại nghĩ rằng đã nêu lên việc ví cỏ với lông chiên thì ai cũng thấy rõ ràng việc ví tư tưởng cổ nhân với tác giả, và đã nói đến việc ăn cỏ mọc ra lông chiên thì trong đó rõ cái ý nói về biến hóa khí chất rồi. Đã nói cỏ với lông chiên, lạ, nói thêm nước với hoa, đã nói cỏ hóa lông, lại nói thêm về sự biến hóa, cái đó tùy sở thích hành văn của tác giả muốn dài bao nhiêu cũng được, nhưng người trích văn cốt vắn tắt. Tôi cho những ví von liên tiếp của ông Thu Giang chỉ lập nhau chứ không bổ túc gì cho nhau, không thành ra một “khối nhất quán” đến nỗi không thể rời nhau nên tôi chỉ chọn trích lấy một chuyện chiên ăn cỏ và cho là đủ ý. Ngờ đâu làm như vậy tôi đã phạm đến “điểm quan trọng nhất” trong tội “cắt xén văn mạch”!
         Đến phần chót của bài “Trả lời…” ông Thu Giang giải đáp cái thắc mắc về cách ngôn của ông T. G.



         Nguyên là trong sách Một nghệ thuật sống, lẫn trong những ngụ ngôn cách ngôn của cổ nhân, có lời của một kẻ ký tắt T. G. mà tôi phân vân không rõ là ai, nên có hỏi thăm xem có phải là cổ nhân đó chăng. Ông Thu Giang bèn cho biết nhiều điều: nào là cái “thâm ý” dùng cách ngôn để tóm tắt tất cả những gì đã nằm trong sách (cái ý sâu đó theo chỗ thấy biết hẹp hòi của tôi thì ít người có, vả cách tóm tắt một tác phẩm như thế không lấy gì làm phân minh giản dị), nào là cái óc rộng rãi không phân biệt kim cổ của ông, nào là quan niệm “bất thượng hiền bất khinh ngu” của ông. Nhưng rốt cuộc sau bấy nhiêu ý kiến biện giải hùng hồn của ông Thu Giang, tôi vẫn phải thú nhận là chưa được biết người “kim” kẻ “ngu” nọ là ai, tên gì.
         Cuối cùng tôi đành tự an ủi bằng một ức đoán mơ hồ: chắc hẳn người nọ không có liên hệ gì với tác giả. Sở dĩ dám đoán thế là vì: Cách ngôn theo Từ điển Việt Nam của Thanh Nghị là “lời nói là, khuôn phép”, theo Hán-Việt từ điển của Đào Duy Anh thì là “lời nói có thể dùng làm phép tắc được”. Dẫu hai ông Thanh Nghị và Đào Duy Anh không phải là danh nhân thế giới, nhưng lời nói hiệp nhau thì cũng tạm tin được, vậy lẽ nào ông Thu Giang hoặc dẫn lời kẻ “ngu” ra làm cách ngôn, hoặc dẫn lời kẻ có ít nhiều liên hệ thân thuộc với mình chẳng hạn ra làm cách ngôn mà chẳng ngại ngùng e thẹn. Vả lại nếu cái ý xáo trộn hiền ngu ngang nhau mà xuất tự kẻ hiền thì thật là đáng phục, còn như kẻ ngu tự mình không muốn phân biệt với người hiền thì quan niệm đó có gì đáng khoe đâu! Ông Thu Giang đã mang ra khoe tất nhiên ông không phải là kẻ đó.
         Cũng trong phần chót này, ông Thu Giang đã “nói nhỏ” cùng tôi một điều quan hệ cho tôi biết những kẻ còn sống không được gọi là cổ nhân. Chỗ này tôi lấy làm cảm tạ ông Thu Giang và xin thành thực nhận sự sai lầm của mình. Ông còn ngờ có lẽ tôi không biết đến những danh nhân như Krishnamurti. Quả tình tôi biết ít danh nhân hơn ông Thu Giang nhiều lắm, điều ấy không còn nghi ngờ gì nữa. Và đó thật là điều thiệt hại cho tôi rõ rệt. Cứ xem như ông Thu Giang dùng lời của Gustve Rudler nhiếc tôi có thủ đoạn thô thiển và bất lương thì rõ, làm như thế ông Thu Giang vẫn cứ có thể giữ được thái độ hòa nhã thanh tao như thường, có hề gì đâu, trong khi vị danh nhân được ông biết đến kia bỗng hóa ra tay chửi mướn không công. Sự vận dụng tài tình như thế, vì hiểu biết danh nhân ít oi, tôi đâu có làm được.



         Trở lên chỉ là những điều tôi đáp lại các điểm bị ông Thu Giang trách về lý. Ngoài ra trong bài văn của ông có chỗ nhận xét nghiêm khắc về người, chẳng hạn như “thủ đoạn bất lương” nói trên, nhưng về chỗ ấy thì tôi cho rằng không có gì để trả lời. Tôi vốn thường nghĩ nhận xét được một người thật khó. Lại lấy vài cái thí dụ gần gũi: Nghe một câu nói: “Đó lá cái khôn của thiên hạ, ngày nay. Nhưng đó chỉ là cái khôn vặt, chưa phải là cái thật khôn”,(1) kẻ nông nổi làm sao chẳng vội cho rằng dám nói thiên hạ đều là khôn vặt, thật rõ là tay phách lối? Nhưng không! Nói thế là lầm to! Câu nói đó chính là của ông Thu Giang. Mà ông Thu Giang thì rất là “rụt rè, khiêm tốn” theo như ông đã tự nhận trong bài “Trả lời”. Lại như nghe có người giới thiệu ông này là danh nhân thế giới, ông kia cũng là danh nhân thế giới, rồi tiếp đó bảo rằng ấy là bạn của mình tất cả; kẻ vội vàng làm sao chẳng kêu lên là tay dóc tổ? Nhưng không! Kêu thế lại cũng là lầm to! Vì làm như thế chính là cách ông Thu Giang đã làm đối với Carlo Suarès và Ram Linsen. Mà ông Thu Giang thì dĩ nhiên vẫn rất là “rụt rè, khiêm tốn” như ông tự nhận.
         Đó, sự khó khăn trong việc xét người là như thế, cho nên tôi chỉ biện bạch về những ý kiến bị ngộ nhận của mình mà thôi, còn phần nhận xét về người (về đức tính của tôi cũng như của chính ông) thôi thì cứ để một mình ông Thu Giang tự do xét đoán theo ý ông ra thế nào cũng chịu vậy.


NHÂN THẾ

________________________________________
(1) Một nghệ thuật sống của Thu Giang, trang…


BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #671 vào: 10/04/2019, 10:15:37 »
BÁCH KHOA |  SỐ 100  [1-3-1961 |  118 trang]

⎎  Số đặc biệt
MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Nguyễn Hiến Lê |  Tìm một giải pháp cho ngành xuất bản tại Việt Nam: So sánh ngành xuất bản ở Pháp và ở Việt Nam hiện nay |  3-7
Hoàng Minh Tuynh |  Hòa hoãn giữa Hiệp Chúng Quốc và Liên Xô? |  8-11
Phạm Hoàng (sưu tầm) |  Danh ngôn, danh lý: Jean-Paul Sartre |  11, 18, 37
Phạm Hoàng |  Nhận định: Quan hệ giữa kẻ trị và kẻ bị trị |  12
Bửu Kế |  Cửa bể Thuận An |  13-18
Bách-Khoa |  Sợ sống |  18
Quảng cáo |  19-20
Đoàn Thêm |  Những giải thưởng của các Viện Hàn lâm Pháp |  21-30
Quảng cáo |  31-32
Nguyễn Hữu Phiếm |  Tìm hiểu người thanh niên |  33-37
Quảng cáo |  38-40
Doãn Văn |  Viễn tượng chiến tranh nguyên tử: Có thể có chiến tranh vì ngộ nhận không? |  41-47
Quảng cáo |  48-50
Mai Trúc Diên |  Tiếng buồn (thơ) |  51
Ái Lan (trích lục) |  Làng báo miền Nam, bốn mươi lăm năm về trước |  52-58
Bách-Khoa |  Cừu đội lốt chiên |  58
Trúc Liên |  Làng tôi (thơ) |  59-61
Cô Liêu |  Mười hai tỷ năm trước đây vũ trụ thế nào? |  62-65
Bùi Khánh Đản |  Gió nhẹ trăng non \ Vàng reo ngọc đọng (thơ) |  66-67
Minh Đức |  Nếp sống nước người: Đường về sa mạc (phóng sự) |  68-75
Bách-Khoa |  Tình bằng hữu |  74
Du Du Tử |  Khúc hát mùa xuân (thơ) |  75
Doãn Dân |  Linh hồn tôi (truyện) |  76-84
Quảng cáo |  85
Đỗ Tấn |  Tiếng ca miền bắc (thơ) |  86
Nguyễn Châu (dịch) |  Taman \ Mikhail Lermontov |  87-97
Nguyễn Hữu Hiếu |  Rơi vỡ bình hương (thơ) |  98
Vũ Hạnh |  Vượt thác (truyện) |  99-106
Nguiễn Ngu Í |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  107
SINH HOẠT:
   |  Thu Thủy |  Một kẻ hiến kế cho Tây phương |  108-112
   |  Nguiễn Ngu Í (thuật) |  Triển lãm và diễn thuyết nhân dịp kỷ niệm 300 năm húy nhật giáo sĩ Alexandre de Rhodes (22-2 đến 28-2-1961) |  113-114
QUA CÁC HÀNG SÁCH:
   |  Bùi Thu Trinh |  “Những lỗi thông thường trong thuật viết văn” của Nguyễn Văn Hầu |  115
   |  Tràng Thiên |  “Nàng Ái Cơ trong cái chậu úp” của Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội |  116-117
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  117
Quảng cáo |  118


SAIGON |  1961




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #672 vào: 10/04/2019, 17:58:05 »


                          Tiếng buồn

               CÒN ai nghe chăng tiếng địch buồn
               của chiếc thuyền câu neo trên sông
               đêm hôm dòng vắng êm êm ngủ
               đèn đóm bên kia nhòe trong sương

               ba bốn năm rồi thuyền đến đây
               mỗi trăng cập bến đôi ba ngày
               hôm nào cũng thế khi chiều tắt
               tiếng địch ngút ngàn theo gió bay

               vào những đêm rằm mây nước xanh
               chèo khuya nhè nhẹ thuyền lênh đênh
               rồi khúc nhạc sầu ngân tê tái
               khiến cả trời sao trăng lắng im

               tháng ngày thầm lặng rủ nhau rơi
               ba xuân ba thu ba đông dài
               và ba hè nước ngân hà cạn
               châu rụng xuống trần cho sông vơi

               còn ai nghe chăng tiếng địch buồn
               của chiếc thuyền câu neo trên sông
               hơi trúc quen hương từ vắng bóng
               có người trên bến thở dài luôn.


                                           MAI TRÚC DIÊN



BÁCH KHOA |  SỐ 100

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #673 vào: 11/04/2019, 10:57:07 »


Làng báo miền Nam, bốn mươi lăm năm về trước

CÁCH ĐÂY 45 năm (1915), làng báo miền Nam chỉ vỏn vẹn có hai tờ: “Nông-Cổ Mín-Đàm”(1) và “Lục-Tỉnh Tân-văn”.
         Tuy thế, hai tờ báo Việt Ngữ nầy cũng còn là đàn em. Tờ “Gia-Định báo” mới là anh cả trong làng. Nhưng tờ anh cả ấy hình như đã vắng mặt trong thời gian mà hai tờ em của nó đang có mặt trong lúc nầy: 1915.
         Kể về hình thức thì báo ngày nay với báo 45 năm trước không khác chi mấy. Báo ngày xưa cũng có những mục như báo bây giờ. Tuy thế, về văn chương, văn phạm, cú pháp, và chính tả thì khác xa. Báo xưa hay dùng lối văn biền ngẫu như thể nói lối của cải lương. Đôi khi, tác giả dùng nhiều ý ngây ngô không kém trào lộng. Thật rõ ràng là một tiêu biểu cho thời đại phôi thai của Việt ngữ.
         Vâng, nó phải phôi thai là phải. Bởi vì thời ấy đã thuộc về lịch sử. Bằng chứng là trên tờ Nông-Cổ Mín-Đàm số 60 ra ngày 17 Août 1915 có đăng tin Tư Quản tự tử trong nhà lao; mà Tư Quản là người có chưn trong hội “Tập lập làm ngụy” của Tư Mắt.
         Cuộc “khởi loạn” của Tư Mắt để chống Pháp lúc bấy giờ, nay đã thuộc về lịch sử. Vì từ ấy đến nay đã gần nửa thế kỷ rồi (kể từ ngày báo Nông-Cổ đăng tin).
         Chúng tôi trích lục các đoạn văn dưới dây, không phải có ý nêu lên một lối văn cổ lỗ của các cụ ký giả xưa để chế nhạo, chỉ trích. Chúng tôi chỉ có một ý định là sưu tầm lại một tài liệu văn học, nhứt là tài liệu lịch sử cho báo giới miền Nam nói riêng, để hiến độc giả dễ phân biệt giữa làng báo xưa và nay. Chỉ có thế thôi.
         Những dòng, những đoạn nào chúng tôi trích đăng ra đây, đều chép y nguyên văn của tuần báo “Nông-Cổ Mín-Đàm”, không dám sai một chữ, một dấu nào cả. Những chữ chú thích thỉnh thoảng chen vào những đoạn đó có đóng dấu ngoặc đơn là của kẻ viết bài nầy chua thêm.



         Sau đây là một trong những tin tức trong nước mà Nông-Cổ Mín-Đàm đã đăng tải với cái tựa:

         “Sở tuần-thành ngày nào không đáo sát mà sao cứ đánh mãi chẳng chừa. Biết rằng cờ bạc không đánh đánh thì thua chớ không thấy ăn đổ đục về xâu ăn hết mà cứ hễ có đồng nào cũng đem tới sòng ngồi “coi phải”. Lúc đang tranh cao thấp, kẻ kêu ách người kêu già, biện Tây với biện Chà nhảy vào xâu hết. Lời nói đây chẳng luyển có chứng sòng bài cào tại đường Lefèvre và đờn ông và đờn bà và thổ và tay con 14 vị. Bởi sớm bắt mối gầy sòng nên bạc không bao nhiêu, lượm được chừng năm trự. Bù chẳng bẳng!


         Và dưới đây là một lối văn nói lối để viết tin tức:

Rồi trái oan
         “Một phu nhơn ở đường d’Espagne ngó qua chùa chà chưa biết đạo xướng tùy có chi cay đắng hay là nghĩ trần ai ngán sự đời, tạm nha phiến một chung trộn với dấm mà liều má phấn. Vào nhà thương thôi rồi nợ phong trần trả sạch còn cái giây oan trái buộc ràng. Bởi vì không rõ cơ quang nên quan mới lập đàng tra vấn. Vấn cho rõ vì sao mà tự tận, có phải vì tình trường mà giận hờn ghen. Vấn cho ra coi ai ép uổng phận nhỏ nhen, làm đến đổi cánh sen chôn lấp?


Ruỗi chơn
         “Lê-văn-Búp ở Thủ-dầu-Một đi xách nước giếng hồi nào không biết, đến chừng người ta hay tri hô lên thì thấy anh Lê-văn-Búp trồng chuối ngược. Bộ đó chổng khu xách nước té dọng đầu xuống giếng nên mới.


         Dưới đây là một đoạn trong mục “Vài trang thời sự”. Lối viết giống như các mục: “Lóng nghe”, “Thiên hạ đồn”… của các báo hiện nay:

         “Anh kia quê ở Biên-hòa và gia-đạo bất bình, buồn mà cười, nựng vợ một thoi vô con mắt bên tả. Vẫn biết anh ta xưa nay là tay lương thiện, chưa hề chường mặt tới quan nhưng mà chẳng đợi vợ cáo chồng, tự nhiên phép quan bắt thứ. Phép ở Saigon chẳng phải y như vậy.



         “Biết cô Hằng ở Khánh-hội không anh? Cổ mất có một con chuột – không phải con chuột – tôi nói vơ quàng, mất đầu tóc mượn và vỡ lỡ thành phố. Hết thảy Phú-lích (police) đều ra sức tầm kiếm. Không biết con quỉ nào mà khuấy chơi của ấy cũng dị phải chơi!


         “À, may dữ không, cô Hằng mất tóc mượn bữa hôm qua nói trên đó kiếm lại đặng rồi. Vì chẳng vậy thì tội nghiệp cho sở tuần thành nhọc lòng lo về đầu tóc mượn!


         “Cô nấy hết sức tới cô kia, chuyện kia vừa dứt đến chuyện nọ. Một ả ở tàu kê số 6 đường Marchaise lén bước thừa cơ cấp hết của tú bà vòng vàng quần áo đưa cho trang điểm.


         “Đó là mấy ả, bây giờ mới sang qua gái có chồng. Một hôm tên lính thủy bổ làm đầu bếp thủy trại binh cáo rằng vợ quá biệt thuyền đoạt của anh ta tám chục đồng làm lộ phí.


         “Chẳng phải hết, tuy vậy chớ cũng nên cho là một thứ bịnh – vì có người khác cùng bị vậy – người khác ấy là một thầy làm việc phòng nhứt dinh quan Hiệp lý cớ rằng… đây tôi muốn nói là con đầy tớ của thầy bỏ nhà chủ đi mất biệt từ bữa thứ năm không thấy trở lại.

⎎ ⎎ ⎎

         Đại khái những cái tin vắn thời sự như thế cho ta thấy làng báo trước đây cũng biết lợi dụng tin tức viết thành lối vui vui. Và cũng nhờ tin vắn đó, ta thấy rằng 45 năm so với hiện nay vẫn không khác mấy về những việc xảy ra hằng ngày trong nước. Thuở ấy cũng có cờ bạc bị bắt bớ, trộm cắp, và gái điếm trốn tàu kê, gái lộn chồng, trốn chủ… Một việc khác hẳn ngày nay là cô Hằng chỉ mất cái đầu tóc mượn mà làm cho vỡ lở cả thành phố, lính tuần thành phải ra sức tìm kiếm gắt gao.


         Giữa báo “Nông-Cổ Mín-Đàm” và “Lục-Tỉnh Tân-văn” đã nổi lên một cuộc bút chiến kịch liệt chỉ vì một bài luận tựa là: “Văn minh vật chất và văn minh tinh thần” của báo Nông-Cổ.
         Bài ấy đại khái bảo rằng văn minh là do nơi tinh thần tiến bộ của con người chớ không phải văn minh ở bề ngoài là nói được vào câu tiếng Tây, viết được vài hàng chữ Pháp và mặc Tây là văn minh. Rồi báo ấy công kích những người mặc đồ tây ba rọi như mặc áo “bành tô” vận quần lãnh đen, chân mang giày tây mà đầu thì độ khăn đóng.
         Báo Lục-Tỉnh phản đối lại. Đại để cho rằng văn minh tinh thần phải đi đôi với văn minh vật chất, và bảo các ông bên Nông-Cổ là văn minh giả.
         Cứ thế mà hai bên cứ cù cưa qua lại, bút chiến với nhau cả tháng nầy qua tháng khác, và lôi cuốn theo cuộc bút chiến đó cả độc giả hai bên. Độc giả bên nào gởi bài binh vực bên ấy và chửi tưới đối phương. Một cuộc bút chiến giữa hai tờ báo lại biến thành cuộc bút chiến cả hai phe độc giả mà hai tờ báo kia là hai bãi chiến trường.
         Những bài do nhà báo viết hay do độc giả gởi lại đều đăng vào mục “Tự-do diễn đàng” (đàng có g) đã mở thường xuyên từ khi có cuộc bút chiến.
         Bên Lục-Tỉnh chẳng tiếc lời tặng bên Nông-Cổ những danh từ hết sức quạu như:
             – Văn-minh giả hiệu.
             – Văn như vị gân gà.
             – Ngu nhân thuyết mộng.
             – Nói lai nhai như đĩa đói.
             – Điện khí thụt óc cũng không thông.
             – Nội cõi Đông-dương hể ai óc trống thì nó nhiễm vào…



         Để phản kích ông Thạch-Lân bên Lục-Tỉnh, ông Võ-Kim-Trọng viết một bài gởi đăng vào mục Tự-do diễn đàn của báo Nông-Cổ:

Ký gửi Monsieur Lê-Thạch-Lân Lục-Tỉnh Tân-văn số 405
         “Đời hằng ví dữ là sư-tử, gẩm không bằng cái tiếng của Thạch-Lân. Bực thượng-lưu sao ông luận rất gần, ông thị những quân mạnh lũ tối?!! Ông cao kiên cho rằng không lỗi, chớ kẻ hạ lưu tưởng quấy lắm đa? Ông là người rộng thấu nghe xa, lời ông nói xin ông nghĩ lấy!? Chẳng cần chi cải lẩy cho mỏi mắt khán quan, ông chê rằng bọn đốn củi hầm thang không xứng đáng cùng ông luận biện! Dám hỏi: xứng đáng cho ông nói chuyện. Bực công hầu hay là bực đế-vương??? Tôi là tay thô kịch tầm thường tưởng đâu cũng là người đồng loại đa ông?!! Lời ông phân thậm phải! Ngặc một điều ông tự đắc tự kiêu! Ông khoe ông là bực học nhiều? Nên ông thị kẻ nhom nhem đôi chữ!! Miệng ông nói xin tai ông nghe thử, mình khen mình không tốt đa ông?? Ông nằm đêm nghĩ nghị coi phải không? Câu hữu xạ tự nhiên hương giả!! Ông bất cập nặng lời thái quá? Thưởng cho ông Tân-Dân một cái óc không đầy!!!
         Ông Thạch-Lân ôi! Thiếu chi câu ông lại xưng tụng câu nầy! Ông cho ông Tân-Dân nói lai nhai như đĩa đói!!
         Ái! Ôi!! Nói thì nói xin khá dè lời nói: cũng là người nhứt là ngòi văn chớ tưởng rằng: quân tử tiểu nhơn; vô tiểu nhơn bất thành quân tử đa ông??! Hèn chi phải miệng thế không lầm.


⎎ ⎎ ⎎

         Để kết luận bài trên, ông Võ-Kim-Trọng làm một bài thơ sau đây:

                                       Văn-minh giả
                          “Tục rằng dạn nói nhác đừng.
                           Nói ra mà chối, anh hùng với ai?
                           Ấy là con nít chẳng sai.
                           Còn khoe lưỡi nhọn dọng dài làm chi.
                           Văn-minh giả mực ghi rành rạnh.
                           Tiếng xô bồ còn tránh đi đâu.
                           Mực đen giấy trắng làm đầu.
                           Chẳng phải lời nói mà hầu bay xa.
                           Miệng thốt ra nhìn lấy vậy mới là người.
                           Mắt ta là ngọc, tức cười, tức cười!



         Và sau đây là bài vè của ông Võ-Hương đăng ở Nông-Cổ Mín-Đàm để trả lời cho những độc giả bên Lục-Tỉnh tình nguyện bút chiến với Nông-Cổ. Đặc biệt chỉ trích cô Tuyết-con, người Bắc mà cô ấy có bài công kích Nông-Cổ kịch liệt:

                                                Văn minh
                          “Đua tranh trận bút, Tiếng nói hung hăng.
                           Vùng vẫy trường văn, Lời phân chói-lói.
                           Chê người đĩa đói, Là ông Thạch-Lân.
                           Nói chẳng cân phân, Là ông Trương-Mạnh.
                           Khoe mình bảnh lảnh,
                           Là Lục-Tỉnh nói lái: cởn-ê, an-nhàn chánh thị.
                           Ngỡ mình tác trí; Hà-nội Tuyết-con.
                           Giống muỗi cắn lòn; Vĩnh-long Trần-thị.
                           Già mà hát khỉ: Hữu-Nghĩa thùng xèng.
                           Xướng ít ai khen: Lê-ái-Kiều quính-quíu!!!
                           Hiểu không? Không hiểu?
                           Quand on n’est pas très fort…
                           il faut être très souple…
                           Nầy cô Tuyết-con ơi!
                           Cô muốn biết cho chắc,
                           Thường là người ở Bắc,
                           Hồ đừng giả hổ hoai (?)
                           Kẻ chớ khoe phụng sắc.
                           Người cô tiếng dịu dàng,
                           Tân văn lời chát ngắt.
                           Thấy sao nói vậy,
                           Chẳng phải là tự-đắc.



         Ông Võ-Lâm làm hai câu lục bát để can những “chiến sĩ” bút chiến cả hai bên:

                          “Khoan khoan hè huội hố khoan,
                           Võ-Lâm cóm róm xin can mấy ngài.



         Để xỏ báo Lục-Tỉnh, Nông-Cổ viết một chuyện vui ngắn như sau:

Không kể tốn nhựt trình ước (ướt)
         “Buổi chiều chúa nhựt thừa cơ rảnh rảo bước theo đàng hóng mát, đi qua tiệm khách trú ở đường Tổng-Đốc-Phương xảy nghe tiếng một người đàn bà kêu trẻ nhà bảo:
         – Lấy xu đi mua cho tao một số nhựt trình ước.
         Thằng nhỏ nói:
         – Muốn xài nhựt trình ước thì lấy nhựt trình ở nhà đó mà nhúng nước cho ước đi chớ mua làm gì cho tốn tiền.
         Chủ nhà trả lời:
         – Tốn thứ 3, 4 chiêm (xu) quí báu gì mà tiếc! Bởi tao muốn gói thuốc cho yêm; nếu dùng nhựt trình củ ở nhà mà nhúng nước thì nắng gió một lát nó cũng khô, chi bằng mua nhựt trình ước mà dùng nó ước hoài, khỏi lo thuốc hốc.
         – Mà nhựt trình ước đó là nhựt trình gì ở đâu?
         – Mầy cứ việc hỏi thứ nhựt trình nào bị nước Lục thì nó là nhựt trình ước đó!



         Những mục những loại trên tờ báo đại khái như báo hiện nay, nhưng những cái đề mục của nó thì lại dùng như sau: Nếu tường thuật một trận đá banh, các ký giả xưa đề cái tựa là: “Diểu cầu fool ball luận”. Mục thơ tín thì: “Tin tức vản lai”. Cổ động kiêm thông tín viên gởi thư về nhà báo thì đề: “Viên-môn xạ-kích”.
         Mục chuyện vui thì: “Tiếu đàm”.
         Trách đồng nghiệp xoi bói mình thì: “Xuy mao cầu tì”.
         Dịch thơ Tây ra Việt văn thì: “Pháp, Nam liên lạc đòi bài”.
         Bài độc giả gởi đến để “Tự do diễn đàng” (có g). Tiểu thuyết trinh thám đề là: “Mật thám truyện”. Trên cái tựa tiểu thuyết “Ba gái cầu chồng” lại đề là Roman chớ không là tiểu thuyết, truyện dài gì cả. Thách họa thơ thì gọi là; “Thi quại”.



         Cổ động kiêm thông tín viên của Nông-Cổ Mín-Đàm là ông Võ-Sâm đi cổ động thâu tiền độc giả dưới tỉnh; lỡ thâm thủng tiền báo không có trả. Lại thấy hai tờ báo bút chiến với nhau làm độc giả bất bình, khó cổ động bán báo nên gởi thơ về khuyên can cả hai bên và tâm tình kể lể thân phận mình trong báo Nông-Cổ ngày 14-10-1915:

Viên môn xạ kích
         “Mang chữ nghèo ngày treo tháng trễ, khiến nên đường nghĩa lễ u ơ. Trước kính thăm Nguyễn-Kim với Lê-Hoằng(2) nhị vị. Xin hai ngài rộng ý, đoái thương phận sĩ hèn. Tôi mấy trăng vắng bặt múa men, mình mảng nỗi khuynh nguy bịnh hoạn.
         Tôi hổ vì!!! Chức thông tin phụ âm cả hai đều lảnh choán, tờ báo chương Nông-Cổ mấy tháng luống lấp ngơ. Công linh đã chẳng cậy nhờ. Lời vốn lại còn thất phát. Trọn mấy tháng thân danh hằng lưu lạc. Đi mấy ngày về viếng kiểng mấy ngày. Mỗi một tuần anh Đính gởi nhựt trình. Nổi danh giá đã hư minh danh giá. Ông rộng ý mọi đều đều ân xá. Tôi hổ lòng cư xử xử vô kham. Kìa! Kìa! Kìa! văn chương ngôn ngữ kẻ luận người đàm. Ủa! Ủa! Ủa! thi phu kinh nguyền mình tôi trọc lóc. Ân nghĩa ví chẳng ra cái cóc. Nhơn tình so chẳng đáng chàng hiêu. Ông Nguyễn-Kim Lê-Hoằng ôi! Bạn trông tin phụ-diễn ôi! Trách bấy nhiêu cũng chịu bấy nhiêu. Lỗi bao nả đành cam bao nả. Còn bịnh oan (có lẽ muốn nói hoạn) an nguy buồn bã. Mảng lần hồi phận sự náo nương. Thấy mấy ông tranh luận phô trương. Buồn biến thốt phải răng hay rứa. Nhựt trình là một tấm bản rất quí báu, muôn ngàn mắt đều ước nghe xem, nở đem vùi bùng đất lọ lấm lem mà chẳng chọn lời vàng tiếng ngọc. Kẻ răng chân tóc, kẻ đọc người coi, còn để truyền roi, mỗi tuần một xấp. Tuy van cao thấp, đạo vị cho thanh, đừng đem sâu mà hại nồi canh, ông chủ bút phải siêng xét nét, chẳng nên dùng khê khét, cho lộn với ngọt ngon, nếu lắm tiếng vàng son, ắc lu bù đạo lý.
         Cái bài thơ “đưa chồng” tranh luận với nhau mấy tuần đã đậm, coi hơi còn xích mích tương tranh – Vậy chớ! Từ thuở bên đông bóng mới lò, đưa chồng ứng thí mảng lần mò, hay là mảng lần dò, hoặc mằn mò, lò mò v.v…

         Ký tên Võ-Sâm Tây-ninh



         Phóng viên Lê-Sum tường thuật cuộc tiếp rước “quan Nguyên-soái Nam-kỳ” tại làng Đông-Sơn Gò-Công như sau:

         “… Mỗi ngã đường trong làng đều có cửa tam-quan đơm bông kết tụi, và cứ cách 100 thước là có một cây cột cờ, dưới cột cờ có bàn hương án, có chưng lỗ bộ lọng tàn, lư hương đốt trầm.

         Để chấm dứt bài tường thuật, phóng-viên nhà báo viết tiếp:

         “Cuộc thanh lễ nghinh tiếp quan Nguyên-soái đây trước sau đều có tôi rõ ràng sự tích, nên tôi xin lược trần kỳ sự đăng thượng báo chương cho chư vị khán quan lục châu nhàn lãm.



         Ông Lê-Hoằng-Mưu mượn hai câu Kiều đề dưới cái tựa tiểu thuyết “Hà-hương Phong-nguyệt” của ông:

                           Thiếp như con én lạc đàng,
                           Thấy cung thì phải sợ làn máy cung.


         Ông Nguyễn-Văn-Nghĩa, một độc giả Nông-Cổ gởi bài bẻ lại đại khái:

         “Ông Lê-Hoằng-Mưu chép trật hai câu Kiều. Theo ông biết thì hai câu đó như vầy mới trúng:
         Thiếp như con én lạc đạn chớ không phải lạc đàng, vì con chim én nó sợ lạc đạn. Tác giả Nguyễn Du đã có ý viết như thế…



         Về quảng cáo trên mặt báo lúc bấy giờ thì cũng đủ các nhà buôn như báo hiện nay. Nhưng có một cái quảng cáo làm chúng tôi đặc biệt lưu ý là cái quảng cáo: “Bùi nhùi hộp quẹt đá Hồng-Mao”. Có lẽ thời bấy giờ chưa có hợp diêm, còn xài đá chọi vào nhau cho ra lửa rồi để bùi nhùi vào cho cháy.
         Còn giá lúa nêu lên trên báo lúc ấy thì: “mỗi tạ 68 kí lô chở tới nhà máy Chợ-lớn, lấy bao lại, mỗi tạ từ 2$90 đến 2$95”.
         Bấy nhiêu đó cũng đủ cho chúng ta thấy nó xưa như thế nào? Thế thì báo chí thời đó với văn chương như trên, ta không lấy làm lạ. Thời nầy với thời đó cách xa nhau gần nửa thế kỷ rồi, còn gì?


ÁI LAN (trích lục)

____________________________________
(1) (Đáng lẽ chữ Mín phải có g) Nông-Cổ Mín-Đàm lúc bấy giờ chủ nhơn sáng lập là ông Canavaggio. Chủ bút: Lê-Hoằng-Mưu. Chủ nhiệm: ông Nguyễn-Kim-Đính.
(2) Nguyễn-Kim-Đính và Lê-Hoằng-Mưu.


BÁCH KHOA |  SỐ 100

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #674 vào: 12/04/2019, 11:51:01 »


                        Làng tôi

               LÀNG tôi đấy
               Năm năm rồi quạnh quẽ
               Tôi về thăm
               Chiều sầu lên tím lệ
               Ông tôi buồn đăm đăm
               Cúi gập mình dưới gánh nặng tháng năm
               Mắt đau xót xa xăm nhìn đất chết
               Môi mím chặt nghẹn ngào không nói hết
               Tay gầy nâng quờ quạng với trong không
               Còn chi đâu?
               Hay chỉ nặng thêm lòng
               Hình bóng cũ và mảnh đời vô vọng.

               Buồn tan tác đã dập vùi xứ mộng
               Tôi tìm trong dòng sông
               Bóng trời quê trong sáng
               Tôi tìm trong khói sóng
               Tiếng chày khuya rả róng mỗi đêm trăng
               Tôi nhìn nước màu son
               Ngỡ như máu lệ ai còn
               Pha sắc đỏ chiều héo hon hoang dại
               Làng tôi đấy
               Bao năm rồi trở lại
               Còn chi đâu
               Sóng vỗ rưng rưng buồn
               Một tôi về không ấm lại mùa thương
               Một tôi về đời cũ chẳng lên hương
               Men xuân mới không buồn vương nếp áo
               Ngơ ngẩn giữa nước trời trân tráo
               Tôi hỏi người
               Vì đâu thế, người ơi
               Và nghẹn ngào người chẳng trả lời tôi
               Câm lặng đứng giữa nước trời câm lặng

               Xa xôi lắm
               Những mái tranh vàng nắng
               Những vành nón trắng đơn sơ
               Những môi cười rực rỡ
               Dòng sông trong sóng gợn tỏa đôi bờ
               Xa xôi rồi
               Đời không đẹp như thơ
               Đây tường rêu
               Miếu cổ giăng tơ nhện
               Sông nước chiều hôm vỗ bập bềnh.
                                ¤
               Có ai về lối cũ
               Thuyền buông mái lênh đênh
               Nằm êm trôi bất định
               Nghe nước réo bình minh
               Mùa chẳng ngỡ như
               Vang đâu
               Câu hát đượm ân tình
               Của nàng thôn nữ
               Má bầu phinh phính
               (Chiều hành quân
               Anh lính ngẩn ngơ nhìn).
                                ¤
               Có ai về lối cũ
               Thương trời nhạt sắc xanh
               Ai về qua lối cũ
               Thương cây lá trơ cành
               Ngẩn ngơ sầu nước lũ
               Hồn chiều lên âm u
               Ai về qua lối cũ
               Mà nhớ…
               Mùa xa xưa
               Rừng cây vàng sắc lá
               Mái ngói đỏ màu son
               Nụ cười dưới nón ai tha thiết
               Áo thắm da trời biêng biếc xanh.


                                             TRÚC LIÊN



BÁCH KHOA |  SỐ 100