Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 61512 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #660 vào: 03/04/2019, 22:19:22 »


                      Bồng đảo

               KHOÁC áo màu thu biếc
               Đi về lối đẫm sương
               Trao xuân tùy gió lộng
               Cho cỏ bén mùi hương.

               Lang thang vài thế kỷ
               Ngơ ngác hỏi thăm đường
               Khách chỉ vùng mây khói:
               Đầu non, cõi nhớ thương.

               Nắng đốt bầu thơ cạn
               Trăng tàn mộng viễn phương
               Gầm trời không quán trọ
               Gió bạc cuộn trùng dương

               Uống sầu, say đập chén
               Chưa thấy điện Tây Vương
               Tỉnh giấc bên người cũ:
               Trần gian, cũng Giáng Hương!


                                        ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #661 vào: 04/04/2019, 12:12:47 »


Lăng Hoàng đế Quang Trung?
000
         Ở cách Hà Nội bốn cây số, về phía Nam, đường đi Hà Đông, có một cái gò gọi là gò Đống Đa.
         Gò này khiến ta nhớ tới một chiến công oanh liệt của một người trai đất Việt, ấy là Hoàng đế Quang Trung đã thắng quân Tàu xâm lăng, chỉ trong một trận, vào năm Kỷ Dậu (1789) đúng ngày mồng năm tháng giêng.
         Tháng sáu, năm Giáp thìn 1784, Ngài đã thắng quân Xiêm ở Rạch Gầm, ở phía nam Mỹ Tho.
         …
         Công đánh Tàu.
         Công đánh Xiêm.
         Giữ vững giang sơn.
         Bảo vệ dân tộc.
         Vị quân nhân và hoàng đế này cũng đã lại là một nhà đại cách mạng quốc gia…
         Lăng ngài ở đâu?
         Chúng tôi đăng bài sau đây của ông Nguyễn Thiệu Lâu.
         Vị nào có chí đi tìm hiểu thời sẽ có thể theo nhời chỉ dẫn trong bài này mà đi tìm lăng Ngài Quang Trung.
         Lăng ngài, hỏi dân ở mấy xóm gần đấy, hỏi trẻ mục đồng thời, nôm na, gọi là mộ Ba Vòng.


⎎ ⎎ ⎎

VÀO NĂM 1941 tôi ở Huế, sinh nhai bằng nghề gõ đầu trẻ. Nhưng cũng vì tôi giảng về môn sử ký và địa lý nên tôi phải khảo cứu và dẫn anh em học sinh đi học tại chỗ.
         Có một vấn đề sử học đặt ra, ấy là lăng Hoàng đế Quang Trung ở đâu?
         Sử ghi rằng ngài an táng ở phía tây kinh thành (Huế) ở trong miền núi.



         Tôi đã đi tìm lăng Ngài, bản đồ tỷ lệ 1/100.000 ở tay, viễn kính địa bàn.
         Sở dĩ tôi đi tìm lăng Ngài Quang Trung là do cha Cadière, một nhà khảo cứu, đã bảo tôi, đại khái như sau này. Cha nói bằng tiếng Pháp:
         “Le tombeau de Nguyễn Huệ est dans la région montagneuse, à l’Ouest de Huế. Cherchez le et vous en ferez une étude”.
         Dịch ra tiếng Việt như sau:
         “Lăng Nguyễn Huệ ở trong miền núi, phía Tây thành phố Huế. Ông đi tìm lăng ấy đi và ông sẽ khảo cứu”.
         Sở dĩ cha bảo tôi như thế là vì tôi là nhân viên Đô thành Hiếu cổ xã (Association des Amis du Vieux Huế) mà cha thời là chủ bút tập kỷ yếu của hội học này.
         Vốn là người trèo núi, tôi ra đi, bị gậy và con chó lên đường.
         Cả một cuộc hành trình.



         Tôi từ dốc bến Ngự đi lên đường Nam Giao, theo đường lăng Khải Định.
         Mặt đất dần dần cao. Miền núi trước mặt. Làng mạc lơ thơ.
         Tới lăng Khải Định tôi ngồi nghỉ. Tôi nhìn trên bản đồ và đánh dấu địa điểm.
         Trước mặt, qua một cái khe là một dãy đồi.
         Tôi xuống khe và trèo lên đồi.
         Đồi chất đá là thứ đất sét rắn (schis-to-gréseux) mà các đồi song song chạy với nhau (relief appalachien).
         Có một thứ cây mọc ấy là cây chổi sể (bruyère).
         Đứng trên đồi cao, nhìn về phía Tây bắc thấy một thung lũng. Rồi núi non, trùng trùng điệp điệp.
         Không có một làng một xóm nào cả.
         Viễn kính chiếu xa.
         Tôi đã nản.
         Vì đi từ sáng sớm, mười một mười hai giờ mới tới đỉnh đồi này.
         Trèo đã mệt.
         Con khuyển chạy cũng đã mệt.
         Thầy trò ngồi ăn.
         …
         Rồi chúng tôi cứ theo đỉnh đồi mà đi, từ đồi này sang đồi khác. Cây chổi sể hồi đó ra hoa, không khí thơm phưng phức.
         Cây chổi sể mọc cao đến bụng.
         Viễn kính ở tay, tôi nhìn tứ phía.
         Dãy đồi này không khác gì dãy núi Tiên Du ở Bắc Ninh.
         Ở trên dãy đồi này mà nhìn, vừa đi vừa nhìn qua viễn kính.
         Rồi tôi nhìn thấy, ở trong một thung lũng, một cái thành.
         Tôi tự bảo: xuống xem.
         Hồi đó còn trẻ và có sức.
         Tính phỏng thời từ ngọn đồi mà xuống nơi, độ ba cây số, nhưng mà phải lên lên xuống xuống, mà không có đường mòn!
         Trời đã quá ngọ rồi.
         Tôi và con khuyển lần mò tới cái thành đó. Nếu tôi không đem theo địa bàn thời nhất định là bị lạc.
         Chúng tôi tới sát thành, sau khi đi qua một vùng toàn lau sậy.



         Thực là một sự lạ.
         Trong đời tôi, đi cũng đã nhiều nơi, bây giờ nhớ lại tôi mới biết rằng hôm đó tôi đã làm một công việc theo bổn phận nhà nghề của mình và có kết quả.
         Tôi tin chắc đây là lăng Hoàng đế Quang Trung.
         Tôi loanh quanh luẩn quẩn, quan sát, suy nghĩ, trèo lên mấy ngọn đồi trên, lấy dây đo, xụt xuống dưới, tới chỗ một cái khe cạn vi mùa mưa đã hết.
         Trời tà, khí núi bốc, mây xám, mưa phùn, một làn gió nhẹ…
         Tôi vỗ con khuyển ra về. Con khuyển nhớ đường đi nên nó dẫn tôi về tới nhà, quá tối mịt.
         Miền này có hổ.



         Sau hôm đó đến quá nửa tháng vì phải để thời giờ suy nghĩ và tìm tài liệu, tôi rủ anh em học sinh lớp đệ nhị, đệ nhất ở trường Khải Định cùng đi học với tôi.
         Tôi bảo là đi học địa lý thiên nhiên.
         Độ vài ba chục anh thích đi.



         Chúng tôi vừa đi vừa quan sát các đá, ở hai bên dọc đường. Đá mài (grès), đất sét rắn (schiste), đá vôi già (Calcaire primaire plissé). Quá lăng Khải Định, tôi chỉ mấy ngọn đồi và tôi bảo anh em trèo lên đấy, nghỉ, rồi về.
         …
         Trèo lên đồi, sau khi đi qua khe, chúng tôi ngồi nghỉ, chia nhau thức ăn.
         Tôi đã đánh dấu chỗ nhìn rồi.
         Tôi đưa viễn kính cho các anh em nhìn và tôi bảo: “Lạ thật, có cái gì đằng kia, ở giữa miền núi”.
         Anh nói thế này, anh nói thế nọ.
         – Một cái thành?
         – Một cái mộ cổ?
         – Sao lại có thành ở đây được?
         – Sao lại có mộ ở dây được?
         – Chúng ta xuống xem!
         …
         Tôi vội can thiệp.
         – Các anh muốn xuống thời xuống, tôi chờ ở đỉnh đồi này, nhưng nhìn kỹ phương hướng, kẻo mà lạc.
         Các anh em thanh niên chia nhau từng lớp mà đi.
         Tôi lấy viễn kính theo dõi họ.
         Mục đích của tôi để cho họ đi trước, để cho họ bàn với nhau, cùng họ được hưởng thú trèo núi.
         Rồi tôi và vài anh em đi theo sau.
         …
         Tới nơi, tôi thấy các anh em, kẻ ở chỗ này người ở chỗ khác, kẻ ở dưới đất, người ngồi trên trường thành.
         Lần trước tôi đi, có một mình, không leo được lên mặt thành. Lần này, nhờ hai anh em công kênh, tôi lên được mặt thành và ngồi, lấy viễn kính nhìn kỹ.
         Để cho các anh em bàn tán lao xao, rồi tôi lại nhờ hai anh em cho tôi xuống đất.
         Rồi chúng tôi nói chuyện.
         Đại để câu chuyện như sau này:



         Tôi: Lạ nhỉ, tại sao ở miền núi hoang vu như thế này lại có một cái thành.
         Một anh: Thành này kiểu lạ, có ba thành hình tròn, ôm lấy nhau. Ba cửa mở theo một hướng.
         Tôi: Sau cửa mở vào, có một cái bia to, bia này bằng đá dày, rắn lắm, anh nào khá chữ Hán thử cố đọc mà xem.
         Mấy anh em xúm xít lại đọc. Họ lấy khăn tay chùi bia, họ chẳng đọc được chữ gì cả.
         Một anh: Bia này mòn.
         Tôi: Anh nhìn kỹ đi. Bia này không có thể mòn được một cách nhanh chóng vì chất đá rắn lắm. Anh nhìn kỹ xem. Các chữ khắc sâu ở trong bia đá bị các nhát búa rấp đi.
         Vết các nhát búa đó hãy còn, tuy bia ở ngoài trời, chịu mưa, chịu nắng không biết đã từ bao nhiêu năm rồi.
         Dựa vào bia, nhìn vào thành thứ ba, anh thấy một cái mộ to.
         Mộ này xây bằng vôi mật còn ba thành đều xây bằng đá ong.
         Mộ này phải là mộ của một ông quan to, thuộc triều đại nào không biết.
         Các anh xem kỹ mộ đi.
         …
         Tôi cầm búa đập chan chát vào mộ. Búa chỉ nảy ra mà thôi. (Nguyên là đi học địa lý, bao giờ chúng tôi cũng phải giắt một cái búa dài để đập đá).
         Tôi chỉ một lỗ hổng trong mộ, lỗ hổng này nhỏ. Vì bị đất chung quanh dần dần lấp đi. Lỗ hổng này đã phải to, đủ cho người chui vào, và vào sâu, để đào, đào sâu.
         Đào để làm gì?
         Phải chăng để lấy của trong áo quan?
         Phải chăng để lấy xương?
         – Một anh: Chắc để lấy của.
         – Tôi: Các anh suy nghĩ đi.
         Đã phải có một sự liên lạc giữa cái bia bị búa rập chữ và cái hố đào này. Rập bia để cho hậu thế không đọc được.
         Đào mộ lấy xương để báo thù. Báo thù người chết nhưng cũng để cho con cháu người này không mở mày mở mặt được.
         – Một anh: Đây chắc là mộ một ông quan khi sống độc ác, có kẻ thù: kẻ này chờ sau khi ông ấy chết bèn rập bia, đào mộ.
         – Tôi: Gần Huế, ở các xã An Ninh, Nguyệt Biểu, Kim Long, có biết bao nhiêu mộ to. Có mộ mà bia bị chìm xuống đất.
         Nhưng chỉ thuộc về hai kiểu, một kiểu thuộc về đời Nhà Tây Sơn, một kiểu thuộc về đời Nhà Nguyễn.
         Các anh đã biết hai kiểu mộ ấy rồi.
         Đây là một mộ to, có ba thành bằng đá ong bao bọc. Chung quanh thành ngoài, như các anh đã đứng trên mặt thành mà nhìn, thời là các ngọn núi, chạy vòng quanh với nhau, ôm lấy ba cái thành, nghĩa là cái mộ ở giữa một vùng hình lòng chảo vì chất đá mềm đã bị suối đào (cuvette d’érosion).
         Nói tóm lại, lối kiến trúc hùng vĩ trong một khung cảnh đặc biệt của thiên nhiên, cái bia chữ thật to, bị rập và cái mộ bị đào, ba chi tiết này khiến tôi nghĩ rằng đây là mộ một vị cấp cao chứ không phải là một ông quan thường, dù là nhất phẩm, Văn hay Võ.
         …
         Các anh em suy nghĩ đi.
         …
         Một lúc lâu tôi mới trả nhời: Đây là lăng Hoàng đế Quang Trung.
         Chúng ta hôm nay đến cung chiêm lăng Ngài.
         Bây giờ tôi nói các anh rõ. Tôi đã tới đây một lần. Hôm nay tôi bị dẫn các anh lại đây…
               1) Bia của Ngài đã bị Hoàng đế Gia Long cho rập.
               2) Tẩm của Ngài đã bị đào. Hài cốt đem về cho vào một cái chum, có xích xiềng, để ở dưới khám đường Huế.
               3) Nhưng Ngọc Hân công chúa, con gái vua Lê và Hoàng hậu hay Quí phi của Hoàng đế Quang Trung được tha tội chết và được tuyển vào hầu hạ Hoàng đế Gia Long ở trong cung…
         Các anh muốn biết công của Hoàng đế Quang Trung với dân tộc nhà thế nào, sau này, các anh học sẽ biết…



         Trời đã tà.
         Anh em chúng tôi đi hàng một vạch lau mà về… Thỉnh thoảng có anh quay lại, đứng nhìn lăng Ngài…
         Chúng tôi im lặng mà về.
         Sau cuộc cung chiêm lần thứ hai này, cùng với anh em, tôi không có dịp quay lại lăng Ngài nữa.
         Các ảnh mà tôi đã chụp đã bị mất!
         Vào năm 1952, tôi đã có dịp trở lại Huế nhưng đã không có phương tiện để lại cung chiêm lăng Ngài.
         Bây giờ, tôi chắc rằng lau mọc trên mặt thành vẫn nhiều, bông phất phơ trước gió. Đứng trên ngọn đồi mà lấy viễn kính nhìn thời thấy thực là đẹp.
         Chung quanh lăng, chắc toàn là lau sậy, cỏ ranh hay nếu có cây dại mọc thời cũng chỉ là mới đây.
         Oái oăm thay. Ở gần chỗ mà tẩm Ngài bị đào, tôi có thấy một cái mộ con, không có bia, mộ này, tôi đã hỏi ra, là mộ một thường dân ở gần đấy, đem an táng để mong được phước.
         Trong mùa mưa, nước ở trên núi đổ về phía sau lăng và chảy vòng quanh. Đến phía cửa lăng thời tụ lại và chảy theo một cái khe:
         Nhà Nguyễn đã thu thập để hủy tất cả sử liệu về Nhà Tây Sơn, cũng như đã rập bia, đào mả…
         Bây giờ chúng ta nhớ tới lăng Hoàng đế Quang Trung
.


NGUYỄN THIỆU LÂU


BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #662 vào: 05/04/2019, 10:11:11 »


Biển cát
000
LÒNG tôi biển cát bao la
Dấu chân từng dáng người qua vẫn còn
Phũ phàng sóng táp bãi mòn
Mà riêng hình cũ trong hồn chưa phai
Vết chân người đó người ơi
Ấn sâu cho dấu chân người đậm thêm
Cuộc đời rồi sẽ nguôi quên
Hồn tôi rồi sẽ lên miền mây bay
Chỉ mong đôi dấu chân bày
Đã in trên biển cát này con nguyên

Sớm mai sóng sẽ đưa thuyền
Gió đưa buồm trắng qua miền phiêu du
Hồn tôi vạn bến, muôn bờ
Mở yêu thương thiết tha chờ thuyền ơi
Vòng tay tôi rộng tuyệt vời
Cánh tay tôi với theo người bao dung

Người qua đời cũng qua dần
Trắng phau lòng cát còn nâng gót người

                             PHAN DUY NHÂN
                             1959



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #663 vào: 05/04/2019, 22:57:53 »


                   Chiều hết niềm đau

               DÁNG xuân vừa hiện lên màu áo
               Gờn gợn niềm vui mộng buổi chiều
               Thôi thả mây buồn cho quá khứ
               Đem về ánh sáng giữa hoang liêu

               Em đã no rồi chuyện đã qua
               Hờn ghen hoen ố giấc mơ ngà
               Chiều nay sau giấc trưa đầy đủ
               Êm ái tàn phai ý cỗi già

               Tóc buông dòng suối dài đen tối
               Ánh mắt gửi về xứ khói sương
               Dáng dấp u phiền xin gột rửa
               Mượn màu trang điểm để yêu đương

               Lầu vắng trăng treo trả lại người
               Trầm tư mòn giữa tuổi đôi mươi
               Nay xin làm vết dầu phai lạt
               Để giấy trinh ngà nguyên vẻ tươi

               Bồng bềnh sóng áo trôi tha thướt
               Chân vướng niềm vui lót vỉa hè
               Đô thị bừng men chiều gió lộng
               Đưa người dạo phố đến say mê

               Em kiếm chiều nay một dáng người
               Đã từng ngược đãi thuở xuân tươi
               Mong tìm trên mặt xanh như tượng
               Trong nét buồn le lói nụ cười

               Hồn xưa ớn lạnh chiều sâu thẳm
               Về sưởi bên em ánh mắt nồng
               Hãy đến tìm dài theo đại lộ
               Hương màu trang sức tỏa mênh mông


                                             HÀ HỢP NGUYÊN



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #664 vào: 06/04/2019, 10:52:32 »


Thượng du
000
LÁ theo nước lũ trôi về
Thượng du với nỗi buồn tê lòng người
Chiều mưa rừng núi chơi vơi
Đêm sương lạnh ngắt trăng cười héo hon
Buồn hoang vu chảy từ nguồn
Xuôi về tận biển vẫn còn hoang vu

                            HOÀNG KHANH



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #665 vào: 06/04/2019, 23:58:19 »


Lời xuân
000
EM còn nuôi giấc chiêm bao
Mùa xuân tha thướt theo vào mái tranh
Ta ru với ý thơm lành
Cánh tay trai biến nguyên hình gối tơ
Ngàn hoa tô điểm Sông Hồ
Chim cao giọng dệt lời thơ gấm vàng
Xóm nghèo tiếng trẻ ca vang
Guốc reo từng chuỗi nhạc ran nụ cười
Tiếng chuông cầu nguyện cho đời
Nâng hồng lên, nắng hồng tươi xóm nghèo
Nhìn Em, ta muốn mơ theo
Hẳn trong giấc mộng có nhiều say mê

                                1-61
                                HOÀNG KHANH



BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #666 vào: 07/04/2019, 21:40:07 »


                  Em bé chăn trâu

               MƯA như nước xối
               Gió gội tơi dày
               Lúa trì sợ ngọn “tay may”
(1)
               Đòng đòng núp mình trong lá
               Gió lạnh về chi vội vã
               Giữa mùa đang ướm đơm bông
               Chiều nay hun hút gió đồng
               Có em sợ rét gói lòng trong tơi
               Em chẳng yêu mây vần vũ lưng trời
               Em chẳng thích lội dầm trong ruộng nước
               Em cũng e mưa
               Em từng ngại bấc
               Mà sao em vẫn ra đồng
               Cô đơn, hứng cả mùa đông
               Tay bé bỏng lùa sâu trong lớp cỏ
               Em cắt, em ôm, mong sao đầy giỏ
               Mang về hong ráo, nuôi nấng bầy trâu
               Đời ở thuê, mưa nắng khác gì đâu!
                                         ○
               Em như cây lúa ngậm màu,
(2)
               Mong mỏi bàn tay che chở
               Thèm khát lắm cảnh trường vui, sách vở
               Cơm cá no nê
               Mảnh áo ngự hàn
               Khỏi ra đồng cắt cỏ dưới mưa chan
               Bớt gội sương khuya. Thôi dang nắng hạ
               Chẳng phải lo chuồng trâu thiếu lá
               Ngày mưa dầm ướt cỏ, hôi rơm…
               Những hồi trâu trở chứng hung hăng
               Chạy xéo vườn khoai
               Băng càn bãi lúa
               Em đuổi theo hoài
               Mồi hôi tua tủa
               Mà lo, mà khóc dầm dề.
               Những ngày hè, cỏ trên bãi ủ ê
               Trâu chẳng ăn no, em về lo lắng
               Miếng cơm nhạt nuốt theo lời chủ mắng
               Biết nói cùng ai?
                                         ○
               Em đã từng nghe tiếng hát khoan thai
               Giọng du dương, ngân mặt kính lâu đài
               Vang giữa trường thôn, hay bên cửa sổ:
              “Ai bảo chăn trâu là khổ
               Không. Chăn trâu sướng lắm chứ”
(3)
               Người ta đã cướp bao nhiêu văn tự
               Lừa dối mục đồng!
               Vì đời em, đầy nắng hạ, mưa đông.


                                                HOÀI HƯƠNG

_______________________________
(1) “Tay may”: một loại gió làm cho lúa lép hạt.
(2) Lúa ngậm hạt: nhị đực, nhị cái của lòng lúa kết với nhau để thành hạt.
(3) Trích trong bài học, sách “Quốc văn giáo khoa thư”.


BÁCH KHOA |  SỐ 99

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #667 vào: 08/04/2019, 11:47:40 »


                     Sao em còn buồn?

               VÌ sao em còn buồn
               Xuân sang rồi, đâu phải màu thương nhớ?

               Luyến tiếc làm chi
               Ngày Xưa
               Kỷ Niệm
               Em hãy ngừng tay kéo sợi tơ sầu
               Để ta đừng viết mãi áng thơ đau
               Bản tình ca chưa vào nhịp cuối
               Tình ơi Tình, về đâu, về đâu!

               Vì sao em buồn?
               Sớm mai này chim ca đầu ngõ
               Lời chim rất nhanh
               Tay gió vân vê tà áo xuất hành
               Đi về hướng nắng
               Trời đất giao duyên – niềm yêu thầm lặng

               Tơ không gian như có hẹn cây rừng
               Nắng gội thủy ngân
               Lửa ân tình reo vui bếp ấm
               Sao em nhốt tuổi xuân vào lòng cung cấm
               Bốn mùa hoang lạnh đơn côi!
               Những bức tường nghiêm của ngàn lối mộng
               Những chiều xanh lần lượt qua rồi!
               Bàn tay mùa xuân chờ dìu em đấy
               Này đây phố hẹp
               Này lối viền hoa
               Đừng nghiêng tai về tiếng gió đêm thu xa
               Em hãy cùng ta tiến lên phía trước
               Và em hãy nói lên lời nguyện ước
               Dẫu muộn màng nhưng chưa trễ đâu em!
               Vì có ai ngăn máu trở về tim
               Chưa thề thốt vẫn còn quyền hò hẹn
               Đàn én tha phương
               Đã trở lại với hương rừng, ý biển
               Dâng màu xanh tiếng hót thanh tao
               Em hãy cười lên vì xuân đã đến
               Hãy bước nhanh nhanh kẻo thời gian qua cầu
               Hãy giữ lại những gì còn lại
               Kẻo nữa rồi than nắng quái, mưa mau…

               Đời chưa hờ hững
               Sao em còn buồn?
               Xuân sang rồi, đâu phải mùa nhớ thương?