Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 22502 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #300 vào: 08/08/2018, 23:50:10 »


                 Những bàn tay
                               Gửi đời một quan niệm “Đẹp”

            Đẹp làm sao những bàn tay!
            Cử động theo guồng nhân loại
            Nhận máu nguồn tim bác ái
            Tin vui hoạt động tháng ngày.
                                 ●
            Có những bàn tay thôn nữ
            Mùa về, nhổ mạ dưới trăng
            Êm dịu câu hò tình tự
            Trăng ngời sóng mạ lăn tăn
                                 ●
            Có những bàn tay cháy nắng
            Tình thương gửi luống cày thơm
            Mồ hôi giọt dài giọt vắn
            Đất lành hò hẹn áo cơm
                                 ●
            Có những bàn tay thon nhỏ
            Tập đồ, tập viết hôm mai
            Nét bút dâng về đây đó
            Điểm tô núi biếc, sông dài
                                 ●
            Có những bàn tay lao động
            Bạn cùng sắt, thép, tro, than
            Sinh lực tô màu cuộc sống
            Mai chiều búa thét vang vang
                                 ●
            Có những bàn tay rắn rỏi
            Đáp lời Đất Nước vàng son
            Ôm súng giữa mùa hoa mới
            Cho giang san Việt trường tồn
                                 ●
            Có những bàn tay nắn bút
            Mạch đời chảy giữa nguồn thơ
            Đốt cháy con người thủa trước:
           “U sầu, điên loạn say, mơ…”
                                 ●
            Yêu là yêu những bàn tay
            Chỉ biết làm theo lẽ phải
            Chỉ biết vì tình nhân loại
            Sẵn sàng xây dựng ngày mai.


                                     TƯỜNG LINH



BÁCH KHOA |  SỐ 56

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #301 vào: 10/08/2018, 23:35:18 »


           Dòng suối đam mê

            ƠI rừng hoang mê mải
            Say vũ trụ hoa thơm
            Yêu màu tươi cỏ dại
            Ánh sáng ngập tình thương

            Hồi sinh tưng bừng cây lá
            Vụt nở sắc hoa kỳ lạ
            Màu hoang sơ từ xa xăm
            Thơm thịt da trái đất
            Thời hồng hoang ngây ngất
            Mặt trời lột xác
            Dậy thì mộng vàng

            Ta ngủ giữa rừng cỏ biếc
            Ru bằng mầu xanh
            Những giòng suối ánh sáng Ngân Hà
                        Êm dịu tràn về
            Những câu hát ca dao ngọt ngào
                        Rạo rực đê mê

            Mầu xanh hội hè
            Chùa Thầy, lang Lim
            Không bao giờ hết
            Mùa Xuân biêng biếc
            Mãi mãi về trên nụ hoa
            Hoa đồng cỏ dại
            Hoang sơ sôi nổi
            Tha thiết cuồng si
            Gợi nét tay Van Gogh
            Ca hát rất điên tình người
            Tiếp sức sống vào tim lạnh
            Như lửa mặt trời
            Ta vĩnh viễn là dòng suối đam mê
            Đi giữa rừng sâu núi thẳm
            Hát giữa hoa đồng cỏ thắm
            Đón muôn ngàn dòng nước cùng đi
            Dự hội trời-cao-biển-rộng
            Dù đá lớn cản đường
            Dù gai rừng ngăn lối
            Cho sa mạc nở hoa
            Những xác người sống lại
            Cho bạo tàn vùi dưới gốc cỏ cây
            Cho thú dữ ngủ bình yên
            Ủ tình hương đồng cỏ dại
            Dù mưa bão dập vùi
            Chúng ta là ánh sáng mặt trời
            Làm hồi sinh nhân loại…


                                  PHAN LẠC TUYÊN
                                  1959




BÁCH KHOA |  SỐ 56

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #302 vào: 11/08/2018, 23:20:40 »
BÁCH KHOA |  SỐ 57  [15-5-1959 |  104 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Nguyễn Phan Châu |  Nhân ngày Phật đản |  3-6
Cô Liêu |  Sinh vật học và con người [II] |  7-10
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Hiếu danh, hiếu thắng và không an phận? |  11
Trần Hà |  Trần Huyền Trang và chuyến thỉnh kinh lịch sử |  12-21
Bùi Giáng |  Một vài cảm tưởng khi đọc sách Phật |  22-27
Bách-Khoa |  Tướng mạo với bản lĩnh |  27
Đông Hồ |  Thư ký Hàn lâm viện Ấn Độ K. E. Kripalani tiếp xúc với thi sĩ Đông Hồ để hỏi về Kỷ niệm thi hào R. Tagore [II] (ký sự) |  28-34
Bách-Khoa |  Trụy lệ bi |  34
Nguyễn Thiệu Lâu |  Sự tích một chiếc nghiên xưa |  35-36
Phan Khoang & Hoàng Minh Tuynh |  Hồn Trung Hoa và Ki-tô giáo: Đức ẩn khuất của Lão giáo và đức khiêm nhu của Ki-Tô giáo [IX] \ F. Houang |  37-40
Nguyễn Ngọc Quang |  Thơ ma |  41-43
Trần Văn Khê |  Âm nhạc phải chăng là một thú tiêu khiển? |  44-50
Bách-Khoa |  Con sư tử của chàng Androclès |  50
Quảng cáo |  51-52
Phạm Công Thiện |  Tôi đọc: “Thi sĩ cận đại Anh” của Lê Thanh Châu |  53-61
Bách-Khoa |  Sông Amazome |  61
Bùi Giáng |  Nguyện cầu (thơ) |  62
Phong Ngạn |  Chiếc áo trên mồ |  63-67
Bách-Khoa |  Sách cất trong mồ |  67
Quảng cáo |  68
Công Diêu (dịch) |  Thà chết một mình \ Eric Rae |  69-77
Bách-Khoa |  Kho tàng trữ thuốc chữa bệnh tâm hồn |  77
Quảng cáo |  78-79
Đông Xuyên (dịch) |  Cam Lộ tự Đa Cảnh lâu (thơ) \ Tăng Củng |  80
Vân Trang |  Phấn đấu (truyện) |  81-89
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XXXV] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  90-92
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  93
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách mới |  94
Quảng cáo |  95-104


SAIGON |  1959




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #303 vào: 11/08/2018, 23:49:12 »


Một vài cảm tưởng khi đọc sách Phật

THƯỜNG TÔI KHÔNG chú tâm đọc sách Phật nhiều. Vốn bản chất không ưa cố gắng hì hục, tôi đọc sách cốt để tìm một tâm hồn hơn là để ghi nhớ những lý thuyết lung tung.
         Không thích đọc sách khảo luận về Phật giáo nhiều, vì bản chất, đã đành là một lẽ. Và lẽ nữa là vì tôi thường thấy có một mối hoài nghi, mối hoang mang lớn luôn luôn theo dõi mình mỗi khi muốn nghiên cứu tìm tòi. Tôi sợ rằng những sách viết ra không chắc gì đã không vô tình xuyên tạc.
         Đọc sách viết về Phật, tôi chỉ có thể đọc sách Pháp. Và tôi sợ tinh thần người Âu vốn ưa phân tích theo tinh thần khoa học, có thể không nhận ra cái phần thăm thẳm thâm u trong một hệ thống triết học ngự trị trên tư tưởng Á Đông tự bao đời.
         Nếu rủi ro vớ phải một tập sách không giá trị mấy, thì ắt là không lợi gì, mà có phần nguy hiểm. Ít nhiều mình cũng sẽ chịu ảnh hưởng. Thế nên mỗi khi đọc một tập sách tiếng Pháp nói về Phật giáo, là tôi cứ thầm tự nhủ mình: nếu thấy tác giả này có ý phân tích tỉ mỉ, lý luận sắc bén nhiều, và có ý công kích gì đó, thì hãy nên làm ngơ đi. Đừng vì những lời của học giả mà đánh mất lòng tin tưởng nơi Thích Ca.
         Và tôi thấy rằng xưa nay tuy đã có va chạm với ít nhiều sách viết về Phật, tôi vẫn giữ nguyên vẹn hình ảnh Phật, rất đẹp trong tâm hồn mình. Có một cái gì không nói được ở nơi vị giáo chủ lạ thường ấy cứ như xui tôi mỉm cười khi thấy người đời nay đem tư tưởng Phật ra để mổ xẻ, lý luận. Tôi vốn thường có cảm tình với những tâm hồn sống thiên về tình cảm hơn là lý trí. Nên chi tuy tôi là người Quảng Nam mà tôi không chịu nổi cái phần người “Quảng Nam hay cãi” nơi tôi. Sống ở Sàigòn năm bảy năm trời, nhớ thương núi sông cố quận, mà mỗi bận gặp người cố quận là cảm thấy ngại ngùng. Cứ ngồi lại nói chuyện với nhau là y như cãi cọ. Quảng Nam có thể có những Phan Chu Trinh, Phan Khôi mà không bao giờ có một Nguyễn Khắc Hiếu.
         Tôi thường nghĩ rằng một trang văn viết với say sưa nồng nhiệt của tâm hồn, dù có chủ quan, thiên lệch, ít nữa cũng còn một chút gì ở bên trong đáng nên chấp thuận. Còn hơn nhiều ý tưởng, lý luận nghe rành rẽ mà thật có hẹp hòi. Tôi vốn làm nghề dạy học, nên thường thấy đau lòng khi giảng bình, phân tích văn thơ, buộc học sinh ghi chép bài vở. Học sinh ngoan ngoãn ghi chép đầy đủ hì hục miệt mài, cho đủ chương trình để rồi bữa sau, gần đến ngày thi, tôi gọi lên ôn lại bài vở cũ, học sinh trả lời nghe rất nhanh nhảu, phân minh, lặp lại một đôi câu tôi đã nói một cách-không-sai-lệch chút nào. Và tôi đã toát mồ hôi: cu cậu có một giọng điệu nào đó khiến tôi hốt hoảng. Tôi không chấp thuận âm vang của câu trả lời. Tuy lời lời rất đúng. Tôi buồn lắm khi nghe học sinh lúc trả bài đọc song suốt một đoạn thơ Nguyễn Du, giải rành rẽ những điển cố, đáp rành rẽ những câu hỏi về đại ý, về bố cục, về lối tả cảnh, tả người… Tôi nói: – “Thà rằng em đừng trả lời tôi được một câu hỏi nào, mà hơn. Tôi chỉ mong lắng được trong giọng đọc một âm hưởng nào đó thôi”. Tôi càng bực mình biết bao khi thấy các bạn đồng nghiệp dở vở con em ra để nhìn ngó, nhận xét đồng nghiệp này dạy đúng phương pháp, đồng chí nọ dạy bài có đầu hụt đuôi. Tôi nghĩ: Ừ! Môn gì thì có thể nhận xét thế được, phải buộc ghi chép đuôi đầu phân minh, chứ môn Việt văn, và nhất là Việt thi, có lẽ đừng nên cho học sinh ghi chép một chút gì cả.
         Đó là nói một cách tuyệt đối cho vui đáp lại lời một vài bạn, thế thôi. Tôi chỉ có ý muốn rằng bạn đọc bài này nhận ra mối hoài nghi của tôi đối với những nhà khảo luận Phật giáo phải là một mối hoài nghi có tính cách trầm trọng. “Một lời nói nhỏ nhỏ của mình đã không được con em hiểu giúp, đã bị các bạn đồng nghiệp hiểu sai, đã bị ông Hiệu trưởng khiển trách…, đã bị người đương thời của mình nhao nhao lên… thì thử hỏi những tư tưởng mênh mông trong tâm hồn của vị giáo chủ sống cách đây bao nhiêu thế kỷ làm sao được các học giả khệnh khạng giải thích cho xong?”
         Tôi vốn thường có tâm lý bi quan ấy.
         Thế nên bạn đọc thử tưởng tượng tôi sung sướng là bao khi đọc trong tập Nhận định của ông Trung, và tập Biện chứng giải thoát trong Phật giáo thấy có những câu như: “Trong tương giao thiết thực, lý luận phê bình hầu như vô ích, bất lực trước những người sống mãnh liệt theo một niềm tin, thấm nhuần một tôn giáo mà ta gặp”. Lời nói ấy đặt ở cuối tập sách nghiên cứu dày trên hai trăm trang, công phu suy luận quả thật phải có một trọng lực lớn.
         Và rải rác trong tập Nhận định còn bao nhiêu lời như: “Khi đề cập một tôn giáo, ta chỉ có quyền thảo luận trong cái phần triết lý của nó thôi. Khi triết lý đó bước sang phạm vi tôn giáo, ta không còn phê bình được nữa, vì có những điều mà người có tôn giáo đó tin, người ngoài không thể hiểu được và cho là vô lý. Đối với người chỉ công nhận lý trí là phương tiện độc nhất để lãnh hội chân lý, cái gì không hiểu được là vô lý; nhưng với người có tôn giáo, nghĩa là còn công nhận một phương tiện khác là Đức Tin, sẽ coi những điều mình tin không phải là vô lý nhưng siêu lý, có những tính chất khác cái hữu lý…”
         Tôi đã cảm động lạ thường khi đọc những câu đó. Đã có lần tôi nghĩ rằng: giữa những ngửa nghiêng của thời đại mình còn có một nhà tư tưởng trẻ nói được tiếng nói đó đối với một tôn giáo không phải tôn giáo của mình, thì thật là điều đáng mừng cho thiên hạ. Tôi đã nghĩ rằng tập Nhận định và tập Phật giáo của ông Trung là món quà đẹp của người Công giáo gửi cho thế hệ chúng ta, và cho Phật giáo. Những người Phật tử hãy nhận giùm. Đất nước ngày mai có được cứu vớt phần nào là do ở tấm lòng đầy bác ái của người Công giáo. Ta có nên nguyện cầu gì thì hãy cùng người Phật giáo và Công giáo nguyện cầu. Thời đại mình sắp chứng kiến một sự hồi sinh.
         Thế nên tôi đờ đẫn biết bao khi thấy những đồ đệ của Phật lần lượt ra mặt phản đối, đả kích kịch liệt ông Trung. Tại sao giữa đời luôn luôn có những sự cản ngăn, những bức hàng rào chia biệt, không cho người giao cảm với người. Người ta đến với mình bằng cả một tấm lòng thân thiện, mà mình lại e ngại, nghi ngờ, nghĩ rằng người ta có ác ý gì đây, có định lợi dụng gì đây, có định ăn cắp của mình một món đồ gì đây.
         Nhưng rồi lòng tôi dễ thay đổi. Đọc nhiều bài công kích giống giọng nhau, dần dà tôi chịu ảnh hưởng. Rồi, về tập sách ông Trung, tôi chỉ còn nhớ những trang phân tích tỉ mỉ, lý luận hẹp hòi, cần phải được một Lê Đình Thám chỉnh lại gấp. Tôi quên mất mấy lời sâu thẳm, tuy quá ít, đã phủ trùm trên tập sách của ông một không khí khác hẳn. Mất bầu không khí ấy thì người với người nhìn nhau với đôi con mắt khác nhau ngay. Y như là trong một bữa tiệc vui hứng hội hè anh-em-hoa-đèn-rượu-thịt-hể-hả-tươi-cười, bỗng dưng điện tắt, đèn hết cháy, quạt điện không quay vù vù, mọi người đắm mồ hôi, sắp cùng nhau to tiếng. Xin điện hãy sáng gấp lên. Xin Ava Gardner hãy bừng nở nụ cười trở lại.
         Tôi đã chịu ảnh hưởng của điện tắt. Và khi tạp chí Bách-Khoa khuyến khích tôi viết gấp một bài bàn về Phật giáo nội trong một ngày cho xong, vì báo đã sắp lên khuôn, thì tôi hân hoan hí hửng ra về, nghĩ rằng lần này mình sẽ tiếp tay thiên hạ mà “bồi” thêm cho ông Trung một nhát dao găm chơi. Nhát dao sẽ xuyên ngay vào ngực. Về nhà tôi bỏ ăn trưa, nằm khểnh ra, cầm một cây bút chì đỏ, lăm le… Coi chừng! gặp câu nào đáng nêu ra thì không bỏ sót dịp.
         Tôi cương quyết trong ý định đó. Nhất là từ bấy lâu, ngoài hai tập sách của ông Trung, tôi còn đọc những bài thơ của ông đăng trong Đại Học, trong một bài cuối nào tôi có gặp những dòng làm tôi bất mãn. – Không ngờ ông Trung đã biến tính thế này. Một giáo sư triết học còn hẹp hòi thế này.
         Tôi có ngờ đâu khi gấp gáp đọc lại tập Nhận định và Biện chứng giải thoát của ông Trung, tôi vẫn vấp trở lại những dòng chữ đã nêu ở trên. Chúng nằm sừng sững ra đó, nằm ỳ ra, không chịu nhúc nhích. Tôi cố xô đi cho nó xuôi theo định kiến của mình mà không được. Tôi đành bó tay lắc đầu, quẳng bút chì đỏ, thở ra một hơi dài, nửa như bực mình, nửa như khoan khoái. Tôi đi ăn cơm. Bữa cơm trưa nguội ngặm trở thành bữa cơm chiều. Rồi đánh thẳng một giấc ngủ dài, không có mộng triền miên. Nửa đêm thức dậy ngồi lại bàn khởi sự viết, không biết trước là ngòi bút sẽ lôi kéo mình tới đâu. Thì đến đây mới hay rằng… đến đó.
         Ta phải cùng ông Trung thiết tha chấp thuận một điều: Dù có muốn thảo luận gì thì thảo luận, đưa ra bao nhiêu lý lẽ gì thì lý lẽ, cho uyên bác đi, cho khoa học đi, cho rằng lòng từ bi của Phật giáo có tính cách vị kỷ đi, lòng từ bi chỉ là phương tiện không phải cứu cánh đi… Nhưng đừng quên một điều căn bản: trong tương giao thiết thực, lý luận phê bình hầu như vô ích, bất lực trước những người sống mãnh liệt theo một niềm tin, thấm nhuần một tôn giáo mà ta gặp. Trước những người đó, ta chỉ còn biết: kỉnh phục và im lặng.
         Phải chăng chính tấm lòng của Giêsu đã lên tiếng bảo người công giáo hãy thốt ra lời đó đối với Thích Ca? Và phải chăng những môn đệ của Thích Ca vì có định kiến ít nhiều nên quên mất một đôi lời của vị giáo chủ: “Tôi không thích lý thuyết. Bổn phận trước tiên của chư tăng là gây hòa thuận không phải tranh luận”. Thật là trọn vẹn. Mở đầu bài bàn về từ bi Phật trong tập Nhận định, ông Trung dám nhắc ngay liền lời nói đó của Phật, để rồi sang tập sách kia “Biện chứng giải thoát trong Phật giáo”, ông kết luận như ta đã nói ở trên, thì sau này dù ông có tranh luận ồn ào, sai lệch, cố chấp, ông vẫn đủ tư cách để cố chấp, đủ điều kiện để chủ quan. Ông sẽ phụ người mà vẫn vẹn nghĩa sắt son là thế. Chính những lời nói trên đã giúp ta tin tưởng ở ông, chứ không phải cái bằng tiến sĩ triết học hay cái chức Giáo sư đại học của ông.
         Và ta biết rằng ở bên kia thế giới, nơi nước non xa lạ nào, hai vị giáo chủ đã có mỉm cười nhìn nhau. Thích Ca nói với Giêsu: “Sái thật! Dương Minh của tôi chỉ vì quá yêu tôi mà không nhận thấy tấm lòng của môn đệ hiền huynh”. Và Giêsu cười rằng: “Văn Trung của tôi dám táo bạo vạch những điểm mâu thuẫn trong tư tưởng của hiền huynh, mà quên mất rằng trong giáo lý của tôi cũng có biết bao nhiêu là paradoxes. Nhưng không hề gì”.
         Nếu tập sách của ông Trung thiếu câu nói trên, và những lời khác tương tự rải rác khắp tác phẩm, thì ta có thể nghĩ rằng ông chỉ là một luận lý gia, chưa phải một nhà tư tưởng, một nhà triết học chân chính. Lý luận, phân tích chỉ là một chặng đường tạm đi, để tìm thấy ở cuối đường bầu trời tổng hợp mênh mông bát ngát ta từng linh cảm tự buổi đầu bằng trực giác của thương yêu. Nếu ông Trung lý luận mãi, mà không có lời hạn chế ấy, thì ta dám tin chắc rằng tuy ông là người công giáo, ông không thật có niềm tin ở Chúa Trời.
         Nhiều lời nói của Ki-tô nếu đem ra phân tích theo lối sắc bén hẹp hòi, thì ta sẽ nghĩ sao? Chẳng hạn: “Ta đến giữa cõi đời này để phán xét lại, sao cho những người không thấy phải thấy, và những kẻ thấy trở thành đui”. Ta sẽ hỏi: kẻ nào thấy, kẻ nào đui? Thế nào là thấy? Thế nào là đui. Suy luận nghiêm ngặt luẩn quẩn, cuối cùng ta sẽ tự hỏi người-không-thấy bây giờ được thấy là ông Tiến sĩ Triết học hay là gã nông phu chân lấm tay bùn?
         Và lời này: “Kẻ nào tự hạ sẽ được nâng lên, kẻ nào tự cao sẽ bị hạ xuống”. Phân tích theo lối “đạo Phật không có từ bi, bác ái”, thì lời nói đó của Ki-tô cũng có thể là lời dạy người hãy đạo đức giả để được nâng lên cao.
         Những bậc Chí Tôn, họ tổng hợp mâu thuẫn ở cõi bát ngát của thương yêu, còn ta loay hoay ở giữa hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục, thì ta ước độ họ sao nổi. Rất ít khi đi giữa vòm cây lá mà cảm thấy hồn mình với hồn lá chung một với hồn cánh chuồn chuồn bay.
         Trước nụ cười bất tuyệt của Thích Ca, bao nhiêu những lý luận của triết gia vạch mâu thuẫn của Người phải chịu rơi lả tả hết. Người không nói một lời nào. Nhưng ta phải hiểu. Và ta ắt phải nhớ lại nụ cười của Giêsu, một bận nào… Buổi cuối cùng còn ở lại trần gian Người đã cho các Sứ đồ một bài học cuối cùng. Rồi Người đã im lặng. Một niềm linh cảm ghê khiếp bàng bạc trong không khí phủ lạnh tâm hồn các Sứ đồ… “Encore un peu de temps et vous ne me verrez plus; encore un peu de temps et vous me verrez, – chỉ còn ít lâu nữa, các ngươi sẽ không còn nhìn thấy ta; chỉ còn ít lâu nữa, các ngươi sẽ nhìn thấy ta”. Giêsu dừng lại. Rồi nói. Rồi lặng thinh. Nơi khác Người nói với các Sứ đồ chuẩn bị sẵn sàng vì giờ tranh đấu sẽ đến, và đến giờ đó, một “lưỡi gươm sẽ có ích lợi hơn một chiếc áo dài”, thì các Sứ đồ vốn quen hiểu hình ảnh tượng trưng theo nghĩa thiết thực nhất, bèn đưa ra cho người ngó những khí giới đầy đủ có mang theo: có thể đương đầu hiểm nguy với đêm tối. “Seigneur, nous avons deux épées” – “C’est assez! Đủ lắm rồi”. Giêsu đã mỉm một nụ cười với một niềm xót thương vô hạn. Nụ cười mỉa mai mà rộng lượng vô ngần của con người phi thường đã ước độ hết đáy sâu thẳm của bao nhiêu tủi buồn, của bao nhiêu điều hiểu lầm chua xót, và từ đó đã tìm ra lý do để mà thương đời với lòng bác ái mênh mông thêm.
         Bạn đọc có thể trách tôi có lần đã táo bạo, trong một tập giảng luận, dám cao hứng đưa một thi nhân lăng nhăng ra sánh với những bực Thánh. “Tản Đà là Lão Tử. Tản Đà là Giêsu Ki-tô. Tản Đà là Thích Ca. Tản Đà là cả ba người kia hợp lại”. Thú thật, nhiều lúc đọc lại mình, tôi toát mồ hôi, hoảng lên trước cái ngông cuồng dại đột của mình. Nhưng sở dĩ tôi dám ngông cuồng đến thế là cũng do sự tin tưởng ở lòng thăm thẳm của Giêsu. Sinh thời, Người đã chịu rửa chân cho một môn đệ. Thì ngày nay thiết tưởng ở đôi trường hợp oái oăm oan uổng, ta cần phải nhờ đến Người để rửa giùm nỗi khổ đau cho một kẻ hàm oan giữa những u tình khôn tỏ. Người sẽ bằng lòng mỉm cười tha thứ thấy chúng ta dám ghép bừa người vào với hai bậc thánh khác để cùng đứng chung biện hộ cho một kiếp người nhỏ bé dở dang…
         Tôi dại dột tưởng thời đại chúng ta nên tìm cách kìm hãm bớt sự tra cứu bác học, sự miệt mài kinh sử, sự ngốn ngấu văn chương cho đầu óc đầy phè. Vì cái tật uyên bác đôi khi là trở ngại cho sự tìm về giao cảm với những mạch nguồn sâu thẳm của tôn giáo ngàn xưa. Thời đại chúng ta lầm than đã lắm, phải chăng vì Tri thắng Tâm? Riêng người nông phu chân lấm tay bùn không biết khinh ai, lại còn vì nể kẻ ăn xin chia sớt buồn đau với những cô đĩ, với những thầy thông, thầy ký thất nghiệp lang thang ghé xin trọ nhờ một đêm, ăn nhờ một chén cơm hẩm. Không có một Thạc sĩ Simone Weil nào chối bỏ cái ghế giáo sư triết học của mình để đi vào đám thợ thuyền mà thông cảm những lao đao, những lầm than khôn xiết (X. La condition ouvrière – S. Weil) để rồi trọn đời tự buộc mình nhịn đói nhịn khát mặc dù bịnh lao hành hạ, tâm hồn canh cánh khôn nguôi vì tai ương của nhân gian một lần đã đi sâu vào trong xương thịt, vì người đã dám một mình, giữa cuồng loạn, mang chịu hết trên quả tim mình bao nhiêu khổ ải của đời, của hàng triệu kẻ bữa ăn bữa nhịn, đầu đường xó chợ lang thang…


BÙI GIÁNG


BÁCH KHOA |  SỐ 57

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #304 vào: 12/08/2018, 23:26:19 »


Tôi đọc: “Thi sĩ cận đại Anh” của Lê Thanh Châu

NHÀ XUẤT BẢN Đại Học rao sắp xuất bản một tập sách nhỏ về “Thi sĩ cận đại Anh” của Ông Lê Thanh Châu; thiên khảo luận này đã được đăng trước trong Đại Học, số 1, tháng 2, năm 1958.
         “Thi sĩ cận đại” Anh có hai nghĩa: theo nghĩa thứ nhất, nó gồm có tác phẩm của một nhóm thi sĩ mới có những đặc điểm chung; nhưng danh từ này lại có một nghĩa thứ hai rộng rãi hơn: “Thi ca cận đại” là “tất cả thi phẩm xuất hiện trong thời kỳ cận đại” (trang 40).
         Trong thiên khảo luận này tác giả chỉ nghiên cứu “thi ca cận đại” theo nghĩa thứ nhất (“tác phẩm của một nhóm thi sĩ mới có những đặc điểm chung”).
         Đọc xong thiên khảo luận này, người có sẵn căn bản về văn học hiện đại Anh có thể tạm hài lòng vì được tác giả dẫn dắt một cách rất công phu đến một kiến giải khúc chiết, đại khái về nền thi ca của một nhóm thanh niên trí thức ở Anh nổi tiếng vào khoảng mười năm trước trận Đệ nhị Thế chiến. Họ gồm có W. H. Auden, sinh năm 1907; Cecil Day Lewis, 1904, Stephen Spender, 1909; Louis Mac Neice, 1907; William Empson, 1905; Johnlehmann, 1907; Charles Madge, 1912; Michael Roberts, 1902-48; George Barker, 1913; Dylan Thomas, 1914 v.v…
         Người ta mệnh danh họ là “thi sĩ cận đại”.
        “Họ đã chịu ảnh hưởng của Ezra Pound, Wilfrid Owen, Donne, Blake, Rimbaud, nhóm thi sĩ “ảnh tượng” (imagiste) v.v…” (trang 40). Song người đã ảnh hưởng sâu xa nhất đến họ là Thomas Stearns Eliot, thi hào của giải Nobel văn chương năm 1948. “Họ cùng ở trong một xã hội với Eliot và họ cũng có một thái độ tương tự đối với xã hội ấy. Sự giác ngộ của Eliot trước đời sống hiện tại đã giúp cho họ nhận định thế kỷ họ đang sống một cách sáng suốt hơn” (trang 40). “Chỉ có T. S. Eliot mới làm cho họ hài lòng nhất. Thi ca Ông diễn đạt sự ngao ngán trước một hiện tại ghẻ lạnh không màu sắc, nỗi bàng hoàng này chính họ cũng cảm thấy. Ông kết án cái trống rỗng của xã hội, cái xã hội mà theo họ, đã vượt ra ngoài công dụng và sứ mạng của nó. Nhưng về điểm này, họ lại đi xa hơn Eliot nữa. Họ đi xa hơn ở lòng khinh bỉ chán ghét xã hội cận đại. Nhưng lúc họ muốn tìm con đường tháo thân, để tránh cái thế giới phù du vô nghĩa, họ tìm thấy con đường ấy, không ở tôn giáo như Eliot, mà ở thuyết cộng sản” (trang 41). “Các thi sĩ này đã dùng thi mình làm khí giới tuyên truyền cho một cuộc đảo lộn xã hội và cho chủ nghĩa. Thi ca theo họ phải là thi ca cách mạng… Sáng tác một thi phẩm, theo họ, phải có nghĩa là sáng tác một thi phẩm có tính cách tích cực tuyên truyền cho chủ nghĩa” (trang 45).
        “Những người trong nhóm này không những giống nhau trong lý tưởng của họ; họ lại dùng một từ ngữ, một lối văn ảnh tượng giống nhau. Nếu đối với một độc giả chưa quen thuộc, thi phẩm của họ có khi khó hiểu, một phần cũng vì họ buộc người đọc phải trải qua một kinh nghiệm như họ. Câu thơ của họ lắm khi lại khúc mắc vì văn phạm họ dùng thiếu sự chặt chẽ và nhiều ý nghĩ lại dồn vào một câu” (trang 42). “Từ chỗ thi ca phục vụ chủ nghĩa đến chỗ thi ca bị chủ nghĩa này chi phối và bóp chẹt, chỉ có một bước, sự cảm hứng trí tưởng tượng của thi sĩ bị lòng ham muốn tuyên truyền kìm hãm tất phải cằn cỗi, khô héo. Vì vậy một phần lớn thi ca của nhóm này, trong thời kỳ họ phục vụ chủ nghĩa là một thi ca nghèo nàn về nội dung và hình thức” (trang 45). “Nhưng vào hồi tin tưởng chính trị của họ còn mạnh, nhóm thi sĩ trẻ tuổi này đã có nhiều ảo tưởng về chủ nghĩa, họ là những người chuộng tự do và bình đẳng. Họ lầm tưởng rằng trong một thế giới, nhân vị sẽ được phát triển tột bực (the full development of the individual… might be possible in a state of social communism – M. Roberts) (trang 47). “Nhóm thi sĩ này vào hồi ấy đã lầm tưởng về chủ nghĩa đến thế. Sự lầm lẫn này cũng vì họ chỉ theo dõi chủ nghĩa trong lý thuyết, mà không biết gì về thực hành của nó… Những nhà thi sĩ trẻ tuổi này, sau ít năm sống trong sự tưởng lầm lớn về chủ nghĩa, cũng tỉnh ngộ và biết rằng họ đã đi lầm đường. Họ nhận thấy rằng phong trào chính trị mà họ đã nhiệt thành ủng hộ không mang đến cho họ một phương thuốc mầu nhiệm như họ đã tưởng… Họ im lặng từ bỏ, để trở về với thi ca của họ, như tình nhân sau bao năm bội phản trở về với mối tình đầu. Họ từ đấy dụng công sáng tác những thi phẩm sẽ là nền móng mới của Anh Quốc” (trang 47-48).



         Sau khi trình bày đặc điểm chung của nhóm “thi sĩ cận đại” (sic), tác giả giới thiệu từng thi sĩ quan trọng (major poet) của nhóm này như: W. H. Auden, W. Empson, Stephen Spender, C. Day Lewis, và hai thi sĩ đáng kể như George Barker và Dylan Thomas.
         Phần kết luận tác giả viết: “Dù những sáng tác của nhóm “thi sĩ mới” này có khi quá sỗ sàng, cầu kỳ và tối nghĩa, họ cũng đã mang lại cho làng thi văn của Anh một loại thơ chọn lọc và nghiêm khắc. Cũng chính vì thiếu đặc tính này mà thi ca ở Anh vào khoảng 1920 hầu bị bế tắc và quá ủy mị… Họ đã có công tìm một lối thơ mới, một thể thơ cứng rắn, đầy sinh lực… Nền móng công trình xây dựng của nhóm sẽ được tồn tại và đấy là nền móng cho một lối thi ca mới… Họ là những đứa con của làng thi ca Anh – dù là những đứa con phiến nghịch – và họ đã thêm vào cho đại gia đình ấy một mầm sống súc tích và phong phú” (trang 56).



         Nội dung thiên khảo luận đại khái là thế.
         Tác giả thật đã công phu cho ta một ý niệm khá rõ ràng về nhóm “Thi sĩ cận đại Anh” hay “Tân thi sĩ Anh”. Như vậy có lẽ đúng hơn. Vì nếu viết “thi sĩ cận đại Anh”, độc giả sẽ hiểu lầm về đề tài của tác giả. Nếu chúng tôi không lầm thì tác giả gọi “Thi sĩ cận đại Anh” là muốn diễn cái nghĩa “Modern Poet” trong Anh ngữ. Như thế e rằng sai. Vì chữ Modern ở đây không có nghĩa “cận đại” dùng trong sử học. Từ điển “The Advanced Learner’s Dictionary of current English” (Oxford University Press) định nghĩa chữ “modern” tuy đơn sơ nhưng xác đáng:
         (i) having to o with the present time (= hiện đại), as modern inventions and discoveries; in modern times; modern ideas (i. e. new and up-tp-date)
         (ii) having to do with any period after the Middle Ages (= cận đại), as modern history (contrasted with ancient and mediaeval); modern English (from the 15th century onwards)
         (iii) contrasted with classical as modern languages (e. g; French and German, not Latin and Greek) (mới hay tân)
         Như vậy ta có thể dịch nghĩa chữ “Modern” của Anh ra Việt ngữ là: hiện đại, cận đạimới.
         “Modern poet” là gì? học giả R. A. Scott James định nghĩa một cách qua loa nhưng cũng rất chuẩn xác: “The so-called “modern poets” of the 1930’s who had special characteristics, and those who are simply modern in the sense that they are still writing, or have been recently”. Dựa theo định nghĩa mạch lạc, khúc chiết của từ điển “The Advanced Learner’s Dictionary of current English” và định nghĩa học giả R. A. Scott James, ta có thể địch “modern poets” là:
         (i) thi sĩ mới hay tân thi sĩ (Scott James: The so-called “modern poets” of the 1930’s who had special characteristics – The Adv. Learner’s Dict.: contrasted with classical);
         (ii) thi sĩ hiện đại (Scott James: those who are simply modern in the sense that they are still writing – The Adv. Learner’s Dict.: having to do with the presen time);
         (iii) thi sĩ cận đại (Scott James: those who are simply modern in the sense that they have been recently – The Adv. Learner’s Dict.: having to do with any period after the Middle Ages).
         Giáo sư Lê Thanh Châu gọi “nhóm thi sĩ mới có những đặc điểm chung” là “thi sĩ cận đại”! Như vậy sợ tối nghĩa chăng. Ngôn ngữ Anh thường có những chữ rất khó dịch, nếu ta thấy không thể dịch sát nghĩa được thì tưởng nên để nguyên văn. Các học giả Pháp về điểm này thường tỏ ra thận trọng, thí dụ: về từ ngữ “public school English” trong quyển Manuei pratique d’Anglais parlé, G. Faure vẫn viết là “le public school English” chứ không dám dịch ra Pháp ngữ (Préface, trang iii), vì “public school” ở đây không có nghĩa giản dị là “école publique” của Pháp hay là “school under public management” ở bên Mỹ!
         Tác giả bảo nhóm thi sĩ “cận đại” Anh chịu ảnh hưởng của Eliot, Ezra Pound, nhóm thi sĩ “ảnh tượng” (imagiste), D. H. Lawrence, James Joyce, W. B. Yeats, Milfird Owen, Doune Blake và Rimbaud. Song Ông không nhắc đến đại thi hào Gerard Manley Hopkins, một người có ảnh hưởng rất lớn đến nhóm thi sĩ “cận đại”. Học giả trứ danh E. Legouis và Cazamian, giáo sư ở Sorbonne, gọi nhóm thi sĩ “cận đại” Anh là “những người thừa tự của G. M. Hopkins, của W. Owen và của T. S. Eliot” (héritiers de G. M. Hopkins, de W. Owen et de T. S. Eliot). Và chính Cecil Day Lewis, một trong những thi sĩ danh tiếng nhất của nhóm thi sĩ “cận đại” đã gọi Eliot, Owen và Hopkins là “immediate ancestors” của Ông cùng W. H. Auden và Stephen Spender (The literature of England by William J. Entwisile and Eric Gillett, Longmans, green and co 1943, p. 191). Tóm lại thi hào G. M. Hopkins là một trong ba người có ảnh hưởng sâu đậm nhất đến nhóm thi sĩ “cận đại” Anh thì Ông Lê Thanh Châu lại bỏ sót không nhắc đến trong khi ông nêu tên những người mà ảnh hưởng ít quan trọng như Rimbaud, Donne, vân, vân…
         Ông Lê Thanh Châu viết: “Cả nhóm thi sĩ này, không có một ai, chỉ trừ C. Day Lewis thật nghiên cứu kỹ càng những tác phẩm của Marx cả”. Điều này chỉ đúng một phần. Và trường hợp này cũng giống ở trên, tưởng Ông Châu nên đính chánh lại: “chỉ trừ Michael Roberts rất thông hiểu chủ nghĩa Mác-Xít, hơn hẳn C. D. Lewis. Ông là người hướng dẫn nhóm thi sĩ “cận đại” trên bình diện tư tưởng”.
         Trong phần giới thiệu những thi sĩ của nhóm, tác giả đã phân đoạn một cách thiếu sót và không hợp lý.
         Ba thi sĩ lãnh đạo nhóm là W. H. Auden, C. Day Lewis và Stephen Stender, vậy mà Ông chỉ giới thiệu hơi đầy đủ về W. H. Auden và Stephen Stender, còn C. Day Lewis, hình như Ông Châu không nhận định được địa vị của thi nhân này trong nhóm thi cận đại Anh. Ông Châu chỉ giới thiệu C. Day Lewis trong đôi ba dòng gượng gạo thôi.
         C. Day Lewis giữ vai cực kỳ trọng yếu trong việc thành lập nhóm thi sĩ “cận đại”. Ông là một đại thi hào của nền văn học hiện đại Anh. G. A. Astre gọi C. Day Lewis là “un très grand poète” (Anthologie de la póesie anglaise contemporaine, p. 26). Legouis và Cazamian cũng nhận C. Day Lewis vĩ đại hơn cả Auden và Spender.
         Khi giới thiệu mỗi thi sĩ chính, thiết tưởng cũng nên phác họa thêm tiểu sử và trích vài bài thơ tiêu biểu nhất của thi sĩ ấy. Nhất là nhóm thi sĩ “cận đại” Anh lại rất xa lạ với độc giả Việt Nam.
         Tôi nhận thấy hình như tác giả đã vô tình để lộ ra những sơ hở mà độc giả có thể ngờ về căn bản văn học ngoại quốc của tác giả. Chẳng hạn ở trang 55, tác giả viết “bản dịch bài thơ Georgics (Virgil) của ông rất được hoan nghênh”. Tại sao bài thơ Georgics? Có ai lại gọi “bài thơ” Divine Comédie? “bài thơ” l’liade? “bài thơ” l’Odyssée? Hay “bài thơ” Kim Vân Kiều? Tại sao gọi là bài?
         Chữ Georgics dịch ở chữ “Georgica” là một thi phẩm tuyệt tác của thi hào Virgile, gồm có 4 tập: Tập nhất (liber primus) gồm 514 câu, tập nhì (liber secundus) gồm 542 câu, tập ba (liber tertius) gồm 514 câu, tập tư (liber quartus) gồm 565 câu.
         Như vậy đâu có thể gọi là “bài thơ” mà thiết tưởng phải gọi lại là thi tập, thi phẩm Georgics mới đúng.
         Bất giác chúng tôi nhớ đến học giả Đào Duy Anh với câu “Giấc mộng con là những khúc thơ chan chứa cảm tình lãng mạn”(!) (trong quyển Việt Nam Văn Hóa sử cương).
         Trong “thi sĩ cận đại Anh” người ta còn thấy tác giả thường dùng những điển tích tây phương rất xa lạ đối với dân Việt Nam, chẳng hạn “nhìn thẳng vào mặt Meduse” (trang 49) “con nhân sư” (Sphinx) (trang 50), vân, vân…
         Cũng chính vì đọc thấy những điển tích xa lạ đó mà chúng tôi có cảm tưởng như đã được xem bài này ở đâu rồi…
         Chúng tôi nhớ đến chương “Modern Poet” trong quyển “Fifty Years Of English Literature” (Nhà xuất bản Longmans). Chúng tôi lục tra lại thì thấy hai bản có những chỗ giống nhau in hệt khiến người đọc tưởng như Ông Châu đã dịch nguyên văn của Scott James vậy. Song nếu quả đã dịch nguyên văn mà lại không chua rõ xuất xứ thì thực là một sơ xuất quan trọng, nhất là đối với một giáo sư đại học.



         Như đã trình bày ngay từ đầu, chúng tôi nhận thấy thiên khảo luận của Ông Lê Thanh Châu biên soạn công phu, kiến giải khúc chiết, rất lợi cho những người tìm hiểu văn học Anh. Cũng chính vì quan tâm đến phương diện ích dụng của thiên khảo luận đó mà chúng tôi đã thẳng thắn nêu ra những thiếu sót, sơ xuất trên đây, ước mong rằng sau này, khi in thành sách, thiên khảo luận sẽ được bổ chính cho hoàn hảo hơn nữa. Chúng tôi cũng tin chắc rằng tác giả “thi sĩ cận đại Anh” sẽ thông cảm tinh thần xây dựng đó trong sự góp ý trên đây của chúng tôi.

PHẠM CÔNG THIỆN


BÁCH KHOA |  SỐ 57

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #305 vào: 13/08/2018, 22:35:37 »


                          Nguyện cầu

            CON nhớ Người khôn xiết kể hoang mang
            Người về đây dưới gió thổi mây ngàn
            Cây lá rớt giữa vô thường vũ trụ
            Chắp bàn tay Người ngồi yên đã đủ
            Một nụ cười bất tuyệt ở nơi môi…
            Và từ đây trần gian lạnh hết rồi
            Và lạnh lắm, lạnh vô cùng, Người biết?
            Con theo dõi đời Người mải miết
            Lời của Người con cứ lắng âm vang
            Và ngày đêm những không hết ngổn ngang
            Vò trăm mối tơ lòng con bối rối
            Con tự hỏi: Giữa cõi đời gió thổi
            Biết bao giờ con trùng dấu bước chân
            Của Người đi. Con đứng lại tần ngần
            Tim đập những bao nhiêu lần thổn thức
            Con nín lặng. Muốn dâng Người lồng ngực
            Người xem giùm. Người xét lại cho con
            Người nắm giùm. Người cầm giúp cho con
            Dìu con bước đi về trời giải thoát
            Con đứng lại, mồ hôi đầm đìa toát
            Con một mình, đời tràn ngập bốn bên
            Con chần chờ, Người hãy giục con lên
            Con quỳ xuống. Hãy nâng đầu con bảo:
            ― “Dù được ít được nhiều hãy bước rảo
            Nhìn ngón tay và tin tưởng nơi ta
            Nhìn một ngón, trăm phương trời con thấy
            Mở huyền ảo trước thị quan lẩy bẩy
            Sương ám trời không chảy lệ rưng rưng
            Tinh tú ngời bừng sáng dậy một lần
            Để vĩnh viễn nói cùng con mầu nhiệm
            Của đạo lý nhân gian rung chuyển
            Nơi bàn tay ta chỉ. Con ngó xem.
            Nào con ơi! Hãy ngước mắt nhìn lên
            Trong giây phút lầm than mờ xóa hết
            Con từ bỏ giờ truy hoan oan nghiệt
            Của phù du nhân thế lạnh căm căm
            Nhìn tay ta vầng trăng tỏ đêm rằm
            Sẽ vĩnh viễn trong lòng con đón đợi
            Rồi từ đó mỗi lần về gió thổi
            Là mỗi lần hết khuấy động lầm than
            Là mỗi lần giục cánh mộng tung ngần
            Ngàn thử thách cho già thêm gang thép
            Ngàn lửa hực cho đỏ lòng con đẹp
            Sáng ngời theo lòng ta mộng nguy nga
            Bến bờ nào xóa hết nghĩa phôi pha
            Và ngày tháng giữa thời gian đứng lại
            Và huyền ảo sắc màu thôi rún rẩy
            Thôi không làm mê hoặc nữa tim con
            Vũ trụ nhân gian chung mộng chung hồn
            Và sinh tử là diệu huyền bất diệt
            Sinh là sống tử vẫn còn là sống
            Sống huy hoàng không giống sống nhân gian
            Chờ sẽ xem, giờ khôn xiết muôn vàn
            Khôn giãi tỏ, nghe con. Nào đứng dậy!”

            Con lẩy bẩy thưa rằng: Người có thấy
            Quả tim mềm nhu nhược là bao!
            Chỉ giùm cho con một phương cách nào
            Để té xuống còn đứng lên đủ sức
            Người hãy hứa đừng bỏ con một bước
            Dù trăm lần té xuống khó đứng lên
            Hứa cùng con: trên sóng vỗ lênh đênh
            Người không bỏ chiếc thuyền bằng gỗ bách
            Cho yên dạ con liều trong bão táp
            Cùng xông pha trong tin tưởng một ngày
            Một cõi trời sẽ hiện đầu ngón tay
            Của người chỉ cho con nhìn, con ngó
            Người hãy hứa sẽ không bao giờ bỏ
            Dù con nhu nhược có những ngàn lần
            Dù van xin con cứ mãi lần khân
            Mà cố gắng thật ít oi cố gắng…

            Con ngẩng mặt. Người nhìn trong thầm lặng
            Một nụ cười vẫn bất tuyệt nơi môi…
            Và Người ôi! con hiểu ý Người rồi.
            Con quỳ xuống. Người không cần phải đáp.


                                                       BÙI GIÁNG



BÁCH KHOA |  SỐ 57

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #306 vào: 14/08/2018, 11:51:02 »


       Cam Lộ tự Đa Cảnh lâu

      Dục thu giai cảnh thử lâu trung,
      Tỷ ỷ lan can tứ vọng thông.
      Vân loạn thủy quang phù tử thúy,
      Thiên hàm sơn khí nhập thanh hồng.
      Nhất xuyên chung bái Hoài Nam nguyệt,
      Vạn lý phàm tường hải ngoại phong.
      Lão khứ y khâm trần thổ tại,
      Chỉ tương tâm mục tiện minh hồng!
(1)


                                              TĂNG CỦNG


                 Lầu Đa Cảnh chùa Cam Lộ

                   BAO lơn ngồi tựa gác này coi,
                   Bốn mặt phong quang, một chỗ ngồi:
                   Biếc tía, bóng mây rờn bóng nước,
                   Đỏ xanh, hơi núi ngút hơi trời.
                   Mấy hồi chuông đổ, trăng sông lặng,
                   Muôn dậm buồm treo, gió biển khơi.
                   Áo xạm phong trần, đây một lão,
                   Thèm trông đàn nhạn, cánh chơi vơi!


                                                 ĐÔNG XUYÊN dịch

_____________________________
(1) Minh hồng: chim hồng chim nhạn bay vút trời – Nói ví người lánh đời.
Tăng Củng, tự Tử Cố, người đời Tống bên Tầu, đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức
Trung thư Xá nhân, thâm thúy kinh thuật; trứ tác có tập “Nguyên Phong loại cảo”.


BÁCH KHOA |  SỐ 57

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #307 vào: 14/08/2018, 21:43:16 »
BÁCH KHOA |  SỐ 58  [1-6-1959 |  112 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Bích Quang |  Một nền giáo dục nhân bản: một nền giáo dục toàn diện |  3-5
Nguyễn Hiến Lê |  Văn thế nào là ba-lan? |  6-14
Bách-Khoa |  Damon và Pythias |  14
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Tội chung? Trách nhiệm chung? |  15
Hoàng Minh Tuynh |  Cuộc khởi nghĩa Tây Tạng |  16-21
Bách-Khoa |  Hồng phúc của César |  21
Đoàn Thêm |  Sinh con đẻ cái |  22-30
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 56 |  30
Trần Hà |  Trần Huyền Trang và chuyến thỉnh kinh lịch sử [II] |  31-34
Song An Cư Sĩ |  Bá Linh, ngã tư quốc tế |  35-38
Bách-Khoa |  Đức khiêm nhượng |  38
Nguyễn Trần Huân |  Bàn qua về vấn đề “Thụ thai theo ý muốn” |  39-44
Bách-Khoa |  Tham vàng |  44
Trần Văn Khê |  150 năm sau khi nhạc sĩ Joseph Haydn từ trần |  45-48
Bách-Khoa |  Hạnh phúc người đời |  48
Nguiễn Ngu Í |  Truyện ngắn Việt và ngoại quốc mà bạn cho là hay nhất hoặc ưa thích nhất từ xưa đến nay |  49-51
Quảng cáo |  52-54
Nguyễn Văn Xuân |  Điểm sách: Đò Dọc của Bình Nguyên Lộc |  55-62
Bách-Khoa |  Cầm vật nóng mà không chịu giội nước |  62
Quảng cáo |  63-64
Trần Nguyễn Anh Ca |  “Tôi đóng phim bên Anh” hay là “mang danh kịch sĩ một thời” [IV] |  65-69
Lan Đình |  Màu vàng (thơ) |  70-71
Quảng cáo |  72-74
Nguyễn (dịch) |  Bà mẹ già \ Pearl S. Buck |  75-84
Võ Thùy Lam |  Mai anh về (thơ) |  83
Quảng cáo |  85-86
Minh Hữu |  Ngày lại sáng |  87-101
Quảng cáo |  102
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XXXVI] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  103-105
Quảng cáo |  106-107
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách mới |  108-109
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  110
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 57 |  110
Quảng cáo |  111-112


SAIGON |  1959




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #308 vào: 14/08/2018, 23:09:42 »


Truyện ngắn Việt và ngoại quốc mà bạn cho là hay nhất hoặc ưa thích nhất từ xưa đến nay

Một cuộc phỏng vấn văn nghệ của “Bách-Khoa”

                  1.– Từ xưa đến nay, trong những truyện ngắn Việt bạn đã đọc,
                  truyện ngắn nào bạn cho là hay nhất, hoặc ưa thích nhất?
                  2.– Lý do chọn lựa.
                  3.– Từ xưa đến nay, trong những truyện ngắn ngoại quốc bạn đã đọc,
                  truyện ngắn nào bạn cho là hay nhất, hoặc ưa thích nhất?
                  4.– Lý do chọn lựa.


○ ○ ○

LỜI NÓI ĐẦU.– Những câu phỏng vấn trên đây chúng tôi đã lần lượt gởi hoặc trao từ lúc “Bách-Khoa” dự bị ra số Kỷ niệm đệ nhị chu niên – nghĩa là có trên sáu tháng.
         Bắt đầu thực hiện trên sáu tháng, nhưng chúng tôi đã nghĩ đến sáu năm.
         Nguyên năm 1952, do sáng kiến báo “New-York Herald Tribune”, hai mươi ba tờ báo của hai mươi ba nước chung nhau tổ chức một giải thưởng văn chương quốc tế, lấy tên là “Giải tân truyện(1) hay nhất thế giới”. Qua năm sau, lại tổ chức giải truyện ngắn;(2) có 18 nước dự. Đặc biệt là kỳ này có nước Việt chúng ta, do tuần báo “Mới” đứng ra đảm nhiệm việc tổ chức. Ban giám khảo(3) không chọn được truyện ngắn nào xứng đáng đại diện cho nước Việt.(4)
         Vài anh em chúng tôi nhân đấy mới bàn với nhau: ví phỏng có người ngoại quốc nào nhờ mình giới thiệu một số truyện ngắn mình cho là hay, là tiêu biểu của nước Việt mình, thì chắc là mình phải lúng túng lắm. Vì đó mà chúng tôi nảy ý thử chọn, lựa, để mong gặp dịp, làm cho thế giới hiểu dân tộc Việt mình rõ hơn, đúng hơn: phong tục, nếp sống, tâm hồn, tư tưởng, nỗi khổ, niềm vui, băn khoăn, ước nguyện…



         Nên chi đã có lần chúng tôi bàn, xét với một số bạn hoặc chuyên sáng tác, hoặc chuyên biên khảo, để cùng nhau thử kết… một bó hoa nho nhỏ, mà nhiều sắc, nhiều hương. Công việc gần xong, thì lại được biết nhóm “Bút Việt” có ý định giới thiệu một số truyện ngắn Việt với ngoại quốc khiến hứng khởi xưa càng thêm sôi nổi. Chúng tôi liền cùng anh em trong tòa soạn “Bách-Khoa”, hoạch định một chương trình phỏng vấn khá sâu rộng, ước mong rằng những ý kiến, cảm nghĩ, nhận xét thâu nhập được biết đâu chẳng gián tiếp trả lời câu hỏi đặt từ lâu:
                   “Người làm văn nghệ của dân tộc Việt, bạn định đi về đâu?
         Bởi lẽ trên đây, đã sáu tháng nay, chúng tôi “làm rộn” nhiều vị, nhiều bạn trong văn giới, giáo giới, học giới: nào những nhà phê bình, viết văn học sử, viết sách bàn nghệ thuật viết văn, soạn sách dạy giảng văn, nào những nhà văn sáng tác hoặc có riêng một sở trường: trinh thám, tâm tình, nhi đồng, xã hội, truyện kỳ hoặc chẳng chuyên hẳn một ngành, một lối: có bạn vừa biên khảo, vừa dịch thuật, vừa phê bình, có bạn vừa học giả, vừa thi nhân, có bạn viết báo mà còn làm thơ, có bạn từng sống dưới ánh đèn sâu khấu và ở phim trường, hoặc ở chiến trường, có nhà giáo lại soạn kịch, xuất bản sách, có nhà cầm bút mà còn ở trong gia đình kiến trúc, ở trong ngành họa, ở trong giới nhạc, những bạn hiện ở trong nước và những bạn còn đang xa đất Tổ. Chúng tôi đã “làm phiền” từ những bực đàn anh nổi tiếng dạo “Nam Phong”, qua những bạn đồng lứa thời 39-45, đến những bạn mới trước bạ tên mình vào làng văn làng báo sau khi một tờ giấy cắt hai tình Sông Núi. Và làm sao chúng tôi bỏ qua bên được những nhóm này, nhóm nọ trong vòng non nửa thế kỷ nay.
         Những nhà văn chúng tôi đã phỏng vấn xin đăng danh sách sau đây; và hiện nay, chúng tôi còn tiếp tục. trong số các vị, các bạn còn lại, phần đông đã nhận lời, đôi vị khước từ vì bận, vì mệt, vài bạn làm thinh.

Danh sách các học giả, các nhà văn nghệ sĩ, nhà giáo, nhà báo chúng tôi đã phỏng vấn
         Thiếu Sơn, Bùi Xuân Uyên, Lưu Nghi, Thiên Giang, Thẩm Thệ Hà, Hồ Nam, Tam Ích, Quốc Ấn, Triều Đẩu, Nghiêm Toản, Phạm Văn Diêu, Nguyễn Văn Cổn, Nguyễn Hiến Lê, Thanh Lãng, Phạm Công Thiện, Lê Văn Siêu, Hoàng Trọng Miên, Thế Phong, Phan Ngô, Phạm Việt Tuyền, Vũ Ký, Pierre-Kèn Dariville, Giản Chi, Yã-Hạc Nguyện Văn Trung, Đông Hồ, Vũ Bằng, TchyA, Bình Nguyên Lộc, Doãn Quốc Sỹ, Hư Chu, Mai Thảo, Võ Phiến, Bà Tùng Long, Bà Xuân Nhã, Cô Linh Bảo, Nhất Linh, Đỗ Đức Thu, Lê Văn Trương, Cung Giũ Nguyên, Vũ Khắc Khoan, Mặc Thu, Trang Thế Hy, Tô Kiều Ngân, Bà Ái Lan, Bà Vân Trang, Cô Hợp Phố, Nguyễn Vỹ, Phạm Cao Củng, Nguyễn Đức Quỳnh, Nguyễn Văn Xuân, Mặc Đỗ, Vũ Hạnh, Nguyễn Phúc, Sơn Nam, Bà Nguyễn Thị Vinh, Cô Tú Anh, Cô Trúc Liên, Võ Đức Diên, Phạm Tăng, Trần Văn Khê.
         Chúng tôi mong rằng nỗi bận, cơn mệt của đôi vị đã khước từ – từ ba tháng nay – đã qua hẳn, cùng vài bạn còn làm thinh, giờ thấu rõ nguyên nhân và mục đích việc làm của chúng tôi mà vui lòng cầm bút, mở lời. Để cuộc phỏng vấn này được kết quả mong chờ: tất cả những nhà văn đều trả lời, cặn kẽ, thành thật, thì chúng tôi tin rằng:
         Những ý kiến, cảm nghĩ, nhận xét của các vị, các bạn, đứng tuổi hay trẻ trung, chuyên một lối đi, hay hoạt động trong nhiều ngành, những điều phát biểu giống nhau, khác nhau, chống nhau, bổ túc cho nhau ấy, sẽ giúp nhiều cho những ai lo âu về hiện tình văn nghệ nước nhà được thấy trong ngôi vườn – mà ngàn hoa chẳng che sắc giấu hương – một nguồn tin tưởng ở nơi Ngày mai, một hướng đi lên của văn nghệ nước nhà mà dường như còn đang tìm ngõ…



         Một mực tôn trọng ý kiến của các vị, các bạn đã sẵn lòng hưởng ứng, chúng tôi xin đăng nguyên văn bài nhận được, chỉ bỏ lại những đoạn xét có tính cách riêng tư (vì lắm bạn đã dùng hình thức thư từ). Có gì cần góp ý hoặc làm sáng tỏ, rõ thêm, chúng tôi sẽ có lời chú thích. Gặp trường hợp phải ghi lại, chúng tôi đều nhờ “đương sự” xem lại, sửa chữa nếu thấy cần, nghĩa là chúng tôi luôn luôn tôn trọng ý kiến thâu thập được. Song tôn trọng không hẳn là đồng ý. Vì thế, sau khi đăng hết loạt bài nhận được, chúng tôi sẽ có ít lời khép cuộc phỏng vấn văn nghệ này, trong đó, chúng tôi sẽ làm một bảng ghi tên các truyện được cho là hay, được ưa thích với tên các vị, các bạn đã chọn những truyện ấy, cùng ý kiến, cảm nghĩ, nhận xét của chúng tôi.


         Giờ đây xin mời các bạn của “Bách-Khoa” chờ… 15 hôm nữa, để được biết ý kiến của hai nhà văn đã trả lời trước nhất: Thiếu SơnVũ Bằng.

NGUIỄN NGU Í

___________________________________
(1) Tiếng pháp là: nouvelle. Người Tàu dịch là: trung thiên tiểu thuyết. Người Việt ta, có người dịch: truyện vừa vừa, có người dịch: truyện lỡ, có người dịch tân truyện. Bạn Bình Nguyên Lộc sẽ có bài nói về thể và tên loại truyện này.
(2) Tiếng Pháp là : conte.
(3) Gồm có 15 người: Đông Hồ, Đỗ Đức Thu, Lê Văn Siêu, Mộng Sơn, Ngọc Giao, Nguyễn Duy Cần, Nhất Linh, Nguyễn Hiến Lê, Tam Ích, Thê Húc, Thiên Giang, Thụy An, Triều Sơn, Trọng Miên, Vũ Bằng.
(4) Nhưng sau vì ban tổ chức quốc tế tha thiết yêu cầu nên vào giờ chót, “Con thằn lằn chọn nghiệp” của Hồ Hữu Tường và “Chiếc cầu khỉ” của Thụy An Hoàng Dân đã được lựa chọn và gởi đi. Hai truyện ngắn này không được giải, nhưng được ban chấm thi quốc tế chú ý và được nhà Gallimard (Pháp) xuất bản trong loại “L’air du temps” (Không khí của thời đại), năm 1955, chung với các truyện ngắn được chú ý và được thưởng, dưới cái nhan: “Les 54 meilleurs contes du monde” (54 truyện ngắn hay nhất thế giới).


BÁCH KHOA |  SỐ 58

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #309 vào: 15/08/2018, 23:28:01 »


Điểm sách: Đò Dọc của Bình Nguyên Lộc

Tác phẩm: Đò Dọc00000ii
Tác giả: Bình Nguyên Lộc
Nhà xuất bản: Bến Nghé
ii

Một “lối chơi” chân thực
QUYỂN “ĐÒ DỌC” đi vào các hàng sách giữa lúc đa số tác giả có tuổi, có mối ưu tư đối với thời cuộc, tự thấy phải phát biểu những tiếng nói ít nhiều có trách nhiệm của những thái độ muốn sòng phẳng với cuộc đời.
         Nhưng cũng những ai yêu nghệ thuật một cách chân thành, rộng rãi, không khỏi ngạc nhiên và bằng lòng khi đọc câu để tặng của ông Bình Nguyên Lộc in ngay ở những trang đầu: “Kính tặng J. J. Bernard, người sáng tạo “Kịch thuyết ít lời” mà vở kịch danh tiếng “Con đường Quốc gia số 6” đã gợi hứng cho tôi”.
         Chừng ấy thôi cũng đủ để chúng ta thấy cái khía cạnh liêm khiết nghệ sĩ nơi ông, nó phân biệt hẳn ông với biết bao kẻ mô phỏng vô điều kiện tác phẩm của người, rồi cứ vênh váo thản nhiên cho nó là sáng tác phẩm của mình, và cũng chừng ấy thôi cũng đủ để những ai chọn món hàng khỏi phải lầm lẫn, băn khoăn: vì nếu bạn thích loại truyện xã hội, tranh đấu, lý tưởng cao xa, phiêu lưu mạo hiểm thì bạn đừng mó đến “Đò dọc” làm gì! Đây sẽ chỉ là câu chuyện như chuyện một cô con gái nào, chuyên chú tựa cửa sổ nhìn những chuyến xe xuôi ngược trên quốc lộ số sáu, những chuyến xe từ các nẻo chân trời đi qua, không bao giờ dừng lại. Để đến ngày kia, một tai nạn ô-tô xảy ra, rồi một già một trẻ bước vào…
         Hình như thế. Tôi không dám tin ở trí nhớ vào một câu chuyện quá nhẹ nhàng đọc đã đến vài mươi năm. Nhưng cái giản dị, êm đềm im lặng thì vẫn còn phảng phất trong trí não và từng trang của “Đò dọc” lại khéo léo, duyên dáng gợi lại trong tâm hồn tôi.
         Không, tôi không muốn nói “Đò dọc” là phóng tác. Hoàn toàn là một sáng tác phẩm, và là một sáng tác phẩm giá trị của một nghệ sĩ có nhiều lương tâm, tha thiết với nghệ thuật, yêu cuộc đời tự nhiên chân thành, vừa nghiêm trang, vừa trào phúng một cách lành mạnh, vô tư. Xin mời các bạn bước lên Đò dọc.

Một cái trang giữa thế kỷ XX, một chuyến đò nên nghĩa
         “Tay ông Nam Thành cầm một cái quai dây kẽm, treo một tấm tôn hình chữ nhựt.
         Cô Quá chạy lại giựt bảng trên tay cha, lật ngửa ra cho mọi người xem. Bảng nền đen, trên viết nét trắng ba chữ sau đây: Thái-huyên-trang.
         ― Huyền Trang? Bộ ông là Huyền Trang đi thỉnh kinh ở Tây Trúc đó à? Bà Nam Thành hỏi.
         ― Huyên Trang chớ không phải Huyền Trang.
         ― Mà sao ông lại họ Thái?
         ― Dốt ơi là dốt. Trang là cái trại trong ấy có nếp nhà tranh. Trang ấy tên là trang Thái Huyên, hiểu chưa?
         ― Chưa, cô Hoa đáp hớt mẹ. Thái Huyên là gì ba?
         ― Thái là hái. Còn huyên là một thứ thảo mộc tượng trưng cho sự thanh nhàn, không lo nghĩ. Thái-huyên-trang là cái trại mà nơi đó ta hái được, hưởng được sự thanh nhàn.
         ― Ông già chữ Nho quá sá ta! Cô Quá khen mỉa. Nhưng cỏ huyên nói nôm na là cây gì, ba?
         ― Là cây kim châm. Mẹ con bây xào lăn thịt gà mỗi bữa bằng bún Tàu, nấm mèo, kim châm, quên rồi sao?
         ― Ba bây sắp thành đồ gàn rồi đó, bà Nam Thành pha trò…”

         Đó là tất cả câu chuyện về cái trang của gia đình ông Nam Thành và qua đó, ta có thể biết phần nào cái “không khí” của gia đình này. Trước khi đến trang, ông Nam Thành xuất thân là ông giáo, trở nên anh chủ hiệu bán va li cho lính Tây ở Sàigòn trong thời kỳ chiến tranh. Đến khi va li bán đắt hơn bao giờ hết, tức là chiến tranh vừa chấm dứt thì ông Nam Thành, cũng như đa số thương nhân ký sinh, phải chịu cảnh thất nghiệp. Khác họ, ông không xoay sở tìm cách ở lại thành mà lại đi tìm đất lập một cái trang trên đường Sàigòn-Thủđức, khỏi Thủđức bốn cây số ngàn, để chăn nuôi, trồng trọt.
         Rồi ở đây, bốn cô gái chưa chồng, trên 20 dưới 30, bắt đầu thấy lẻ loi, luôn luôn dán mắt vào những chiếc xe từ các nẻo đường đất nước vượt qua. Cho đến một đêm, một chiếc xe tư nhân ung dung cất bốn vó lên trời mà vào sân Thái-huyên-trang. Người ta phải phá cửa mới mang được anh chàng họa sĩ Long ngất ngư từ trong ấy ra. “Thế là một chiếc đò dọc đã ghé bến trên dòng Thiên lý”. Và cậu Long mới được dịp biết hết bốn cô con gái của ông Nam Thành khi họ tuần tự chia phiên nhau đến săn sóc cho cậu: cô Hương, lớn tuổi nhất, chu đáo, tận tụy đối với con bệnh, nhưng cũng không dám đặt hy vọng vào anh chàng họa sĩ xinh trai, tài hoa son trẻ hơn mình; cô Hồng “anh hoa phát tiết ra ngoài” xinh đẹp nhất, quyến rũ nhất, đau khổ vì một mối tình tan vỡ, tuy vậy cũng nghe lòng xao xuyến khi gặp “chàng”; cô Hoa, tự phụ có bản lĩnh, làm ra lãnh đạm, và chế giễu; cô Quá, trẻ nhất, chưa yêu bao giờ nên bị xúc động mãnh liệt; cô yêu ngập ngừng và yêu ngay.
         Bắt đầu từ đây, Thái-huyên-trang mất hẳn cái lặng lẽ, tĩnh mịch. Các cô gái khỏi gắng công chờ đợi cái anh Bằng, người bà con duy nhất, lâu lâu lại mang sinh khí Sàigòn đến cho họ. Rồi tình yêu giữa Long và các “đương sự” càng ngày càng nẩy nở rõ rệt hơn.
         Cô Hồng là người được Họa sĩ chú ý nhất, cũng là người hiểu mối tình của chàng. Cô Quá thì yêu chàng sôi nổi “quá”, mặc dầu chàng cố giữ gìn để cô khỏi hiểu lầm cái thâm ý chỉ muốn làm anh rể của mình. Nhưng càng giữ gìn, chàng lại càng làm cho cô Út hiểu lầm…
         Thế rồi một điều bất ngờ xảy ra: Thái-huyên-trang lần đầu tiên được tiếp người đi dạm mắt cô Quá. Người rất tử tế, do Bằng “khám phá” ra. Nhưng cô Quá cũng đã nói thẳng vào mặt chàng rể hờ là cô không muốn lấy y. Một cơn sóng gió trong gia đình nổi lên. Bằng đến. Long tự thấy trách nhiệm của mình nên hứa sẽ ra đi.
         Chàng lại phải tiếp tục vẽ chân dung cho Hoa. Bất ngờ, trong đám bù-xít, Hoa kể hết câu chuyện tình đau đớn của Hồng cho chàng nghe. Chàng cũng hiểu ngay lòng dạ nham hiểm của Hoa: cô gái làm ra vẻ có bản lĩnh nhất đã ngầm hiểu là chị được yêu, muốn lột trần sự thật về chị để chiếm trái tim của Long. Hồng cũng bất ngờ nghe được câu chuyện ấy, nên liền tối lại, lúc vắng Long, hai cô gái nề nếp nhảy lên võ đài: kết quả là thương tích, máu me bê bết. Long hiểu nên càng nhất quyết phải ra đi.
         Trước đêm từ giã, Long còn phải cứu Hồng, lúc cô này sắp nhảy xuống giếng tự tử. Chàng hẹn sẽ trở lại cưới cô. Khi chàng ra đi rồi, chàng không ngờ còn để lại sau mình một gia biến khác ở Thái-huyền-trang: cô Quá, tuyệt vọng, cũng uống thuốc ngủ để quyên sinh. May sao Quá lại được cứu sống.
         Long và Bằng ở Sàigòn lại gặp nhau. Chàng bàn cùng Bằng việc cưới Hồng. Muốn làm dịu mối tình nẩy lửa của các cô em, hai chàng phải đem tâm trí ra “phát minh” cho hai chàng rể. Và khi đám cưới của hai cô em xong thì đến cặp Long-Hồng – suýt tan vỡ lần nữa – cũng tiếp tục cử hành hôn lễ.

Một quyển tiểu thuyết về tình tiết khá hấp dẫn
         Có nhiều loại tiểu thuyết: tâm lý, phong tục, xã hội… Quyển “Đò dọc” thuộc loại phân tích tâm lý, tình cảm, về nội dung và hình thức xây dựng theo lối tình tiết.(1) Các tình tiết luôn luôn được sắp xếp để dẫn dắt câu chuyện một cách hợp lý và thú vị. Lối viết loại truyện này vì thế có thiên về trào phúng. Bởi lẽ nếu thiếu phần hài hước, trào phúng, câu chuyện sẽ hóa nên cầu kỳ, vô lý. Cả cuốn truyện là một sự hòa hợp cái lâm li, bi đát, sầu não, u buồn, mơ mộng với đủ tiếng cười theo đủ cách điệu; tiếng cười trong lời nói của nhân vật, trong sự diễn tả tính tình của họ cũng như của các éo le do tình tiết gây nên. Câu chuyện vì thế vừa buồn, vừa vui – nói đúng hơn, không buồn, cũng không vui, vì buồn ảm đảm hay vui ầm ĩ cũng đều không phải mục đích của tác giả.
         Điều tác giả muốn trước hết là xây dựng những nhân vật có cá tính rõ rệt, nhất là bốn chị em con ông Nam Thành, để gây sự mâu thuẫn làm nồng cốt cho câu chuyện. Động tác, đúng như thế, phải gọi là động tác của tấn kịch xảy ra và tiến triển cùng lúc họa sĩ Long vào nhà. Bốn cá tính kia sẽ có dịp bị khêu gợi để phát biểu những cảm nghĩ của mình, đi hoạt động thúc đẩy động tác tiến tới, qua các tình tiết khá ngộ nghĩnh, qua những miếng kịch bất ngờ – việc Hoa thổ lộ câu chuyện của chị, việc Quá mắng Long, để giải bày mối thầm kín – những gút mắc nan giải – Hồng, Hoa đánh nhau; Hồng, Quá tự tử – để đi đến những cách giải quyết đầy đủ, trọn vẹn cho tất cả vai trò đã được đẩy ra sân khấu.
         Phải nói ông Bình Nguyên Lộc đã chịu ảnh hưởng rất nhiều ở các loại hài kịch mới hay loại không vui, không buồn của Pháp. Tôi muốn nói đáng lẽ ông đã viết một quyển kịch mới phải! Nếu ông viết một vở kịch, thật khó mà thấy ông sơ hở điểm nào về mặt kết cấu. Bởi thế, ai không quen đọc loại kịch nói trên có lẽ đôi lúc sẽ khó chịu vì lối cấu tạo cốt truyện của tác giả, người ta sẽ thấy nhiều chỗ có vẻ sắp xếp quá, bất ngờ quá, ít phù hợp với các loại tiểu thuyết tâm lý, tình cảm. Nhất là những đoạn tả cuộc hội kiến lần đầu giữa bốn cô gái của ông Nam Thành với Long, khi họ tuần tự xuống thang để săn sóc chàng – hệt như… kịch! Đoạn tả việc hai chị em cô Hồng và cô Quá cùng nối nhau tự tử trong một đêm và cùng được cứu sống dễ dàng – thật là kịch nữa.
         Rồi đến việc các cô con gái nhà Nam Thành lại nối đuôi nhau đi lấy chồng, gần như một lúc. Đúng là sự sắp xếp ở màn cuối một vở kịch!
         Nhưng như tôi đã trình bày, những điểm đó trong loại sách này vẫn có thể tha thứ được vì chính tác giả đã khéo léo giới thiệu nó từ đầu, bằng giọng văn, bằng nhân vật, bằng chi tiết, bằng cả một “không khí” để cho người đọc biết trước mình sắp lạc vào một thế giới nào rồi.

Một bút pháp
         Loại văn vừa tình cảm vừa trào phúng, có xu hướng phân tích tâm lý không phải hoàn toàn mới mẻ. Nhưng văn ông Bình Nguyên Lộc khác với hầu hết tác giả khác – về loại này – ở chỗ ấy không có giọng hằn học, chua cay; loại trào phúng của ông – người Âu châu gọi là trào phúng hồng (humour rose) – thường ít khi tàn nhẫn. Ông nhìn đời bằng con mắt hơi triết lý một tí ti, như một thứ trang sức tinh thần, nhiều tin tưởng hơn hoài nghi, lạc quan hơn bi quan. Nhân vật của ông ở tầng lớp tiểu tư sản, tiểu trí thức, đều là hạng người đơn giản, trung hậu, đặc biệt có nhiều lương tri. Nếu họ có lỡ lầm, đó chỉ là các biến cố hãn hữu. Ông Nam Thành là người hình như chỉ có hai cái lỗi: một là sinh toàn con gái và hai là đã chọn về ở thôn quê giữa lúc các cô này đang cần lấy chồng ở thị thành. Cô Hương quá biết thủ phận, gần như một bộ máy của lý trí, cô Hồng, cô Hoa, cho đến cả cô Quá – cái lò yêu – cũng chỉ là những con người thừa trong sạch giữa cái xã hội đầy rẫy me Tây, tiệm kem và rạp xi nê. Phải thấy ông Bình Nguyên Lộc thương yêu và rộng lượng đối với bầy con của ông – tôi quên con của ông Nam Thành – đến đâu! Cái khẩu khí của họ (như ở đoạn trích về Thái-huyên-trang) có thể làm chướng tai một người Bắc, hay Trung chuộng kiểu cách bề ngoài, đã được ông diễn tả một cách giản dị, tự nhiên, như thể chính họ vừa thở khí trời, vừa nói, như thể nó phát ra tự phong tục, tự truyền thống. Mà thật thế, người miền Nam không phải vô lễ khi họ ăn nói một cách “bổng chảng” như thế. Ta phải nghe cả cái giọng của họ, cả cái cuối mắt đầu mày của họ, cả cái cử chỉ trong khi họ nói mới thấy sự thành thật, thản nhiên, ít kiểu cách, đầy lạc quan, độ lượng và khoan hòa của họ. Nhất là phải nghe cái giọng ấy dưới ngọn bút tài tình, phóng khoáng của Bình Nguyên Lộc, ta mới thấy gần gũi thêm họ và biết tác giả thật đã sống và yêu mến nhiều những đứa con của Đất Mới này!
         Tôi đã nói nhân vật của ông nhiều lương tri đôi khi trở thành lý trí quá. Cả cái chàng Long, họa sĩ, sao mà cũng đắn đo, cân nhắc, có ý thức trách nhiệm đến thế. Còn nói chi cái “anh Bằng”. Anh ấy thật hoàn toàn là người chỉ biết lo cho các cô em học một cách thiết thực và chu toàn hơn ai!

Mấy mẫu hàng
         Đây, chúng ta hãy nghe ông tả lại một cách hóm hỉnh cậu công tử ở nhà quê, chuyên bận bi-da-ma xanh đỏ:
         “Từ ngày xóm tiếp nhận lữ khách mới thì cậu xức nước hoa chế tạo ở Chợlớn và nhét mù xoa nhỏ có thêu chéo xanh xanh đỏ đỏ trên miệng túi bi-da-ma.
         Cậu diện thêm một cây đàn băng cầm, cứ chiều chiều xách nó ra đường, không phải vì chưa biết chơi, nhưng cắt nghĩa lu bù về nhạc cụ ấy, với đám trẻ con bu quanh cậu”.

         Ông nhận xét tinh tế một cử chỉ nó bao hàm cả một thái độ:
         “Bà Nam Thành cười hơi rung rinh cái xây. Bà cố cười cái cười thú tội, làm bộ như mặc nhận lời đoán của chồng là đúng, hầu lên gác tự nhiên cho con khỏi băn khoăn về câu chuyện mà bà muốn giữ kín”.

         Bằng lời nói, ông có thể giới thiệu với ta cả tâm trạng con người. Ta hãy nghe cô Hương tự nhiên, thành thật, cảm động đến đâu, khi trách mắng cô em út đã vụng dại xua đuổi một cuộc cầu hôn cả nhà mong đợi như nắng hạn mong mưa:
         “― Em còn thơ dại, không hiểu được nỗi khổ của ba má. Nhà có con gái đông vầy mà không gả được đứa nào hết, thiên hạ cười chê ba má dữ lắm. Họ nói: “Đẻ làm chi cả bầy con gái cho chúng ế chồng lên, ế chồng xuống như vậy?…
         Mình không thấy đó là xấu hổ, nên mình bất kể được. Nhưng ba má lại nghĩ khác mình, nghĩ như họ, nên ba má buồn phiền lắm”.

         Và đây, sự nổi khùng của một tâm hồn sóng gió, của cô Quá, khi chính cô đã từ chối cái đám xứng đáng kia vì ai, mà ai đó lại làm ra vẻ thản nhiên hỏi:
         “― Thế nào cô Út, chưa muốn lấy chồng thật à? Bữa nay thì tôi tin cô rồi đó. Nhưng vẫn không hiểu tại sao.
         ― Đồ ngốc! …
         Quá như điên lên, mắng càng một tiếng. Tiếng mắng vọt ra khỏi miệng nàng là nàng hả giận được ngay và tỉnh hồn lại rồi hoảng sợ vô cùng. Hoảng sợ lại làm cho nàng tức nghẹn lên nên Quá òa lên khóc”.

         Tôi không hiểu đã gặp tâm trạng và thái độ này ở đâu rồi. Nhưng dẫu đâu – phương Tây hay phương Đông, kịch hay thiểu thuyết – nó vẫn đúng và vẫn diễn tả được cái “mãnh lực cuồng loạn” của một tâm hồn trong trắng.
         Nếu ông thành công về phương diện diễn tả tình cảm bằng lời nói thì cũng bằng lời nói, ông có tài pha trò để làm vui, làm hoạt động mọi hoàn cảnh – đoạn văn sau đây thật đủ ý vị ngộ nghĩnh hóm hỉnh hàn gắn một vết thương lấp bằng một cái hố sâu đáng lẽ chỉ có thể sâu thêm:
         “― Nè, đau tương tư là như thế này: tim kẻ tương tư thì hoặc là khô lại, hoặc tan thành nước. Nếu nó khô thì hễ kẻ đau mà đi đứng thì ta nghe tim hắn kêu lốc cốc, lộc cộc trong lòng ngực hắn, nếu tim tan thành nước thì hắn đi, ta nghe kêu lọc ọc, lọc ọc như trái dừa khô mà nước đã cạn nửa chừng.
         Hoa cười ngả nghiêng mà Bằng lại nói thêm cho cô cười đến sặc:
         ― Những tiếng lốc cốc ấy đánh nhịp cho sáu câu vọng cổ mà hắn ca suốt ngày.
         ― Sao hắn lại không ca trường tương tư?
         ― Vì đời nay người ta chỉ đau tương tư có vài tháng ngắn ngủi thôi, rồi người ta tìm vợ khác, còn trường làm sao được mà trường”.
         Văn tả cảnh của ông không nhiều lắm. Ông cũng ít thích tả những cảnh đã thành tâm ước lệ: trời mây, cảnh đồng quê… Mỗi cảnh của ông muốn đạt đến một vẻ riêng biệt, gọn gàng (Rừng cần vọt, lửa kênh kênh, các trái sao dầu có cánh bay…)


¤

         Một quyển tiểu thuyết trên 300 trang, in chữ nhỏ, không thể thiếu khuyết điểm. Trước hết, toàn bộ quyển truyện, sự sắp đặt ít cân đối, có vẻ gì hơi tùy hứng, mặc dầu chính ở chỗ này, cái tài của tác giả phô bày dễ dàng, bén nhậy.
         Về phía nhân vật, người ta thấy Bà Nam Thành chìm mất. Mà đáng lẽ, như tác giả trình bày từ đầu, bà hơi lấn hiếp ông thì càng phải thấy rõ bà hơn trong các việc gả con, dung nạp khách lạ trong nhà. Đằng này bà có vẻ là “kẻ sống bên cạnh cuộc đời” của chồng con. Ở vai cô Hương, thì nếu tác giả tỏ ra rất tế nhị khi nhận xét tâm lý nhiêu khê của các vai khác, ông đã quên “phần người” nơi cô. Tôi ngạc nhiên là tại sao ông khám phá được nỗi đau khổ âm thầm, câm lặng của Hồng, sự lập dị bất đắc dĩ để rồi bùng nổ ở Hoa, tình yêu phừng phừng ở Quá, ông đã tài giỏi khám phá được chữ “élégante” nơi Long, nó bao hàm tâm trạng của một số thanh niên thành thị ngày nay, thì ông lại quên Hương!
         Trong truyện Kiều, khi Kim Trọng tàn nhẫn bảo với Kiều về Thúy Vân, con người có những nét tâm lý của Hương:

                  ― Duyên kia có phụ chi tình,
                  Mà toan xẻ gánh chung tình làm hai.


         Thi hào Nguyễn Du đã mượn lời Kiều để bày tỏ một ý kiến tôi tưởng phải là chân lý muôn đời – và nó phải là châm ngôn tất cả nhà văn muốn nói tới tình yêu:

                  ― Chút lòng ân ái, ai ai cũng lòng.

         Ngoài ra, tôi cũng trách ông Bình Nguyên Lộc lạm dụng cái tài biết lắm chuyện cũng như cái tài nhớ câu ca, câu hát và tài hài hước của mình. Nhiều chỗ ông đã kéo dài một cách khá vô ích những chuyện như chính ông đã hạ lời phê: cà, kê, dê, ngỗng (tr. 39-40-41-62-63). Những câu nói đôi lúc không hợp thời, khó chịu (lời Quá tr. 22, lời ông Nam Thành tr. 23-53).
         Về cách dùng từ ngữ, phải nhận tác giả là người yêu tiếng Việt Miền Nam đến thế nào và thật xứng đáng là người đang viết quyển Danh từ địa phương Miền Nam.(2) Ông không có ý dùng danh từ vì sự hiểu biết mà chính vì cần thiết; cái cần thiết cần diễn đạt của một văn sĩ Miền Nam, sống với nhân dân Miền Nam, muốn viết một tác phẩm phát ra từ mối rung cảm chân thành sâu xa của mình. Chính ở cái đống vô tận về từ ngữ địa phương ông cung cấp cho nền Văn chương Việt Nam, có một số không ít, nhờ sự bạo dạn này, sẽ biến thành tiếng Văn chương chính thức.
         Tuy nhiên, tôi tưởng ông Bình Nguyên Lộc cũng nên cân nhắc một chút trong việc này. Đây là tôi bàn thêm để cho quyển sách phổ biến rộng rãi hơn, được độc giả ba kỳ yêu thích – vì có hiểu mới thích – theo phép viết tiểu thuyết chung, các danh từ địa phương nên dùng nhiều trong lời nói – đối thoại, độc thoại – hơn trong văn thuật sự, miêu tả. Những từ ngữ xét thấy có vẻ thổ âm quá nên dùng càng ít càng hay để gây một ấn tượng đặc biệt, khiến người ta phải chú ý ghi nhớ. Các danh từ đã có trong văn chương từ trước đến nay mà địa phương phát âm sai, nên ghi theo chính tả chính thức. Như tôi thấy ông dùng: “ngốc lên” thay vì ngóc lên, “sút miệng” thay vì súc miệng; “cắc chú” thế cho các chú (hay khách trú,(3) tiếng này đã có lâu ở Trung-Việt, nơi người Tàu đến đây sớm và được yêu trọng); “mồ hôi múi” thay cho mồ hôi muối (mồ hôi theo tôi biết có 3 loại: muối: trắng, ít hôi, dầu: trỉn trỉn như chất dầu mỡ, rượu: có mùi chua chua)…
         Nhưng thôi, tôi tưởng câu chuyện hình thức có thể tạm dừng ở đây.

Kết luận
         Quyển “Đò dọc” là một quyển tiểu thuyết giá trị, viết công phu. Ông Bình Nguyên Lộc tự giới thiệu một tâm hồn của Văn Nghệ sĩ Miền Nam với gia đình lớn. Ông hé cho ta một cánh cửa để ta sống hẳn với cuộc sống của người Miền Nam, cùng hoạt động, ngôn ngữ, tình cảm chân thật của họ. Điều mà thường ta chỉ gặp từng mảnh trong các truyện ngắn của ông hoặc của các tác giả khác, hoặc có gặp được trong truyện dài thì nó lại ít tự nhiên, ít thành thật. Ông cũng cho ta thấy rõ sự đứng dậy của nhân sĩ Miền Nam trong việc chưa chịu công nhận Văn chương chính qui phải phát biểu hoàn toàn theo lối Trung, Bắc, mà nó phải là sự hòa hợp cả lối cảm nghĩ lối diễn tả, cũng như của sự đóng góp bằng kho Danh từ vô tận của ba miền, mà “Đò dọc” minh chứng hùng hồn Miền Nam không thiếu phần phong phú, uyển chuyển, khả ái.
         Tôi mong “Đò dọc” không chỉ được đông đảo độc giả đón nhận, mà còn được các giáo sư ghi thêm một cái tên của tác giả Văn xuôi người Miền Nam – việc ít thấy và thật là bất công, vô lý – vào chương trình Việt ngữ. Tôi cũng mong, một thời gian sóng êm bể lặng, ta lại vui vẻ và cảm động được nhìn gia đình ông Nam Thành trên sân khấu hay trên màn bạc nữa, để thử xem tiền thân của nó thật là đâu.


NGUYỄN VĂN XUÂN

________________________________
(1) Tôi muốn mượn tên một thể kịch thuộc loại hài kịch: thể tình tiết đối với các thể tính tình hay phong tục.
(2) Với Nguiễn Ngu Í, hiện đăng ở Bách-Khoa.
(3) Có người cho các chú là biến âm của khách trú. Người Bắc đọc khách trú và người Trung diễn ra là các chú.


BÁCH KHOA |  SỐ 58

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #310 vào: 16/08/2018, 23:09:17 »


                      Màu vàng

     THUỞ chưa gặp mình, tôi yêu người ấy:
     cô học trò mười bẩy đảm, ngoan, xinh.
     Tôi yêu say mê như kẻ rất chung tình,
     và cũng biết: bội nguyền thì xấu hổ!
     Nàng vẫn khen tôi: một người hiếm có,
     giữa cuộc đời đen đỏ, vẫn băng trinh.
     Như ngày xưa mùa xuân có hội đình,
     gái thêu thùa, trai thư sinh thề ước,
     tình xuôi giữa đường lan, rừng mai, đêm lượt,
     cho rất nhiều, không tính thiệt, xuy hơn.
     Ba năm chiêm bao hoa bướm chập chờn,
     tìm nhau cả trong nét đờn, thi tứ.
     Cho đến khi gặp mình rực rỡ,
     tôi còn yêu người đó chỉ nhu mì,
     những kẻ say mình, tôi cười họ cuồng xi,
     mắt xa, môi kín, ít ai bì tôi được!
     Nhưng muôn đời tình yêu không báo trước
     từ băn khoăn khi đếm bước bên mình
     – ánh mắt Điêu Thuyền xô nát đao binh,
     làm tôi chán nét nhìn con chiên nhỏ!
     có phải rằng những nhịp cười xé lụa
     vẫn rộn ràng hơn suối thở, đàn ngân? –
     tôi đã hoang mang buồn đến tần ngần
     những lần khuya, lòng tiệc tàn, về lẻ…
     Tôi sợ đêm đêm dáng mình nhè nhẹ
     mà uy quyền lấn bóng kẻ tôi yêu!
     Tôi đã cân đo xuy tính đủ điều,
     bao nhiêu lần, bấy nhiêu lần tôi bạc!
     Tôi thích đi trong áo trời bát ngát
     hơn ngồi nghe trong tóc dạt bên vai.
     Chuyện ngày xưa: vua ban mũ rộng, áo dài,
     gả công chúa, mà có người từ chối
     để trọn tình cô nàng đồng nội?
     chỉ là thơ ca ngợi cái hoang đường!
     Tôi tìm cố nhân, giảng nghĩa yêu đương,
     nàng đã khóc. Tôi thương mà không sót,
     vì trọn ba năm mối tình hời hợt,
     tôi hiền lành hoen vết gì đâu?
     thì thời gian là phương thuốc nhiệm mầu,
     mà tình cũ chưa thâm sâu gì mấy!
     Tôi chả sợ ai khinh tôi non dại
     bởi tình trường đã mấy kẻ tinh khôn?
     Tôi đổi cái chưa bằng những cái còn
     không cần biết lãi lời hay thua thiệt.
     Tôi yêu mình! chưa xin, mình cũng biết
     – chắc mình nhìn ánh mắt tôi xi? –
     thường nhắc xa: tôi thú thật lòng đi,
     tôi sẽ thú vào khi mình sẽ nhận.
     Tôi không tiếc vô tận lời cầu khẩn
     nhưng muốn là người xứng đáng được yêu,
     không muốn là con số cộng bài kiêu,
     mình chưa nhận, chưa bao giờ tôi thú.
     Sắc đào phai về mùa xuân quá khứ,
     đền cho tôi mầu rực rỡ hoa vàng!


                                            LAN ĐÌNH
                                            12-58




BÁCH KHOA |  SỐ 58

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #311 vào: 17/08/2018, 23:19:08 »


                         Mai anh về

                   MƯA nghiêng lòng phố nhỏ
                   Ngõ buồn hút trăng sao
                   Trở chăn nằm nghe gió
                   Lòng rộng chừng nao nao.

                   Mưa buồn giăng thương nhớ
                   Hoa cũ chắc phai màu
                   Cố hương chừ cách trở
                   Hồn mộng gởi về đâu?

                   Đôi bờ hoang lá đổ
                   Chắc đầy thêm nghẹn ngào.
                   Thềm sương sầu mấy độ,
                   Buồn hút nẻo trăng sao.

                   Ở đây nhiều son phấn,
                   Ai đếm được vàng thau!
                   Những môi cười cay đắng,
                   Những trán gầy thương đau!

                   Mưa giăng màu thương nhớ
                   Nhà chắc mấy hàng cau
                   Xác xơ đìu hiu lá
                   Run rẩy chiếc thân cầu.

                   Ôi đàn em bé nhỏ
                   Bốn mùa trắng gian lao
                   Hai thân gầy mưa nắng
                   Sương nhuốm nửa mái đầu.

                   Mưa giăng mờ quê cũ
                   Lối mòn lạnh chiêm bao
                   Biên thùy xa xôi lắm
                   Kinh kỳ loạn trăng sao.

                   Mai anh về em nhé
                   Quê mình hết thương đau!
                   Tháng năm dù cách trở
                   Tháng năm dù bể dâu.

                   Quê ơi sầu mấy độ
                   Ta đi xây nhịp cầu
                   Hỡi đàn em bé nhỏ
                   Mai về ta thương nhau.


                                   VÕ THÙY LAM



BÁCH KHOA |  SỐ 58

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #312 vào: 18/08/2018, 11:59:20 »
BÁCH KHOA |  SỐ 59  [15-6-1959 |  104 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Thế Quang |  Thử tìm hiểu ba chữ Minh Minh Đức của Khổng học |  3-6
Hoàng Minh Tuynh |  Nước Đức trước đề nghị hòa bình của Liên Xô |  7-14
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Chọn tài năng hay chọn đạo đức? |  15
Phạm Hoàng Hộ |  Sự bảo tồn thiên nhiên |  16-21
Bách-Khoa |  Điểm mắt |  21
Ngà-Ngà |  Nhân ngày giỗ Tản Đà thứ 20: Tôi cũng nhớ Tản Đà |  22-25
Phan Khoang & Hoàng Minh Tuynh |  Hồn Trung Hoa và Ki-tô giáo: Kiêm ái của Mặc Địch và bác ái của Ki-Tô giáo [X] \ F. Houang |  26-32
Nguyễn Trần Huân |  Bàn qua về vấn đề “Thụ thai theo ý muốn” [II] |  33-37
Đoàn Thêm |  Y phục và thời trang |  38-46
Trần Văn Khê |  Hát tuồng |  47-49
Quảng cáo |  50-52
Nguyễn Anh Linh |  Điểm sách: Thời mới, dạy con theo lối mới của Nguyễn Hiến Lê |  53-59
Quảng cáo |  60-62
Thiếu Sơn |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  63-67
Vũ Bằng |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  68-71
Vũ Hân |  Ngậm ngải tìm trầm (thơ) |  72-73
Quảng cáo |  74
Võ Phiến |  Lẽ sống |  75-83
Huy Lực |  Anh chị (thơ) |  82
Quảng cáo |  84-86
Kim Lương (dịch) |  Hồng Nhan \ P. Chekhov |  87-97
Phan Lạc Tuyên |  Tĩnh vật (thơ) |  96
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn \ Giới thiệu sách báo mới |  98
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 58 |  98
Quảng cáo |  99-104


SAIGON |  1959




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #313 vào: 18/08/2018, 23:08:50 »


Thiếu Sơn trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Tên Thật: Lê Sĩ Quí, sanh năm 1908 ở Hải Dương. Làm sở Bưu điện, viết văn, viết báo; hiện chỉ sống về ngòi bút.
            Chuyên viết về phê bình văn học, nhưng cũng viết truyện ngắn, truyện dài, truyện vui.
            Từng cộng tác với các báo: Nam Phong (1927), Phụ Nữ tân văn (1931), Đại Việt (1943), Nam Kỳ tuần báo (1943), Justice (1945-49); Chủ nhiệm tờ Công Lý (1948); Tổng thư ký đảng Xã hội ở Việt Nam (S.F.I.O.).
            Tác phẩm: Phê bình và cảo luận (Phan Khôi đề tựa, Nam Ký xuất bản, Hànội, 1933). – Người bạn gái (tiểu thuyết; Đời Mới, Hànội, 1942). – Đời sống tinh thần (tiểu luận: Đời Mới, Hànội, 1943). – Câu chuyện văn học (Cộng Lực, Hànội, 1945). – Giữa hai cuộc Cách mạng (1947). Tập hồi ý “Một đời người” đang đăng ở tạp chí “Phổ Thông” rất được văn, học, báo giới chú ý.


○ ○ ○

         Từ 15 năm nay thời cuộc đã kéo tôi ra khỏi “Tháp Ngà Văn nghệ” để cho tôi phải đi trên những quãng đường đầy gió bụi và chông gai. Những biến cố của đất nước đã làm mất sự yên tịnh của tâm hồn và khiến lòng tôi hững hờ với đời sống văn học.
         Tôi đương tính tu bổ lại cái Tháp Ngà với những vật liệu còn sót lại trong đống sách cũ và những mảnh hồn xưa, thì nhận được bức thư phỏng vấn của tạp chí “Bách-Khoa” do anh Nguiễn Ngu Í đem tới.
         Bốn câu hỏi rất giản dị mà đã làm tôi lúng túng mất mấy ngày.
         Tôi quên rất nhiều những sách tôi đã đọc và nhiều khi quên luôn cả những văn tôi đã viết. Nếu tôi còn được minh mẫn và sành sõi như hồi xưa thì nội một ký ức không cũng đủ giúp tôi trả lời mấy câu hỏi.
         Nay tôi không thể đọc lại những gì tôi đã đọc trước kia để so sánh và cân nhắc xem truyện nào tôi cho là hay nhứt trong văn học Việt Nam và trong văn học Quốc tế.
         Không so sánh được thì cũng không định được giá trị, hơn, kém, dầu chỉ là định theo chủ quan của mình.
         Vậy tôi chỉ có thể nói về những truyện ngắn nào mà tôi ưa thích nhứt lúc nầy xuyên qua những sách mà tôi mới đọc hoặc đọc lại và còn nhớ được chút đỉnh trong khoảng đời mưa gió của tôi.



         Trả lời câu I và II.– Trong văn khố Việt Nam, tôi thích nhứt một truyện rất cũ và một truyện rất mới. Tôi thích truyện “Trầu, Cau” nói về sự tích hai anh em cùng thương yêu một người con gái, nhưng rồi cả ba đều lần lượt quyên sinh để hi sinh cho hạnh phúc của nhau và giữ trọn tình, và đức hi sinh của họ đã biến xương cốt và máu huyết của họ thành một cây trầu, một cây cau và một tảng đá. Đá nung thành vôi quyệt vô trầu, cau làm thành miếng trầu mà hình như chỉ có dân tộc Việt Nam tìm ra, ưa thích và coi như một quốc sản của mình. Lấy miếng trầu làm đầu câu chuyện, nhưng nhai miếng trầu phải thật đỏ mới ngon. Nước trầu đỏ như máu, phải chăng là những dòng máu của ba người đã hòa hợp lại để biểu dương những tình thâm, nghĩa thiết của muôn đời, những căn bản đạo đức của dân tộc?
         Một truyện cổ tích có một giá trị luân lý và tượng trưng cho dạ sắt son, cho tình huynh đệ, cho sự hi sinh tới chết, cho tình máu mủ còn sống mãi với thời gian, một truyện cổ tích như thế tự nó đã có một giá trị đặc biệt. Huống chi tục ăn trầu lại đặc biệt Việt Nam, càng làm cho nhiều người nhớ tới sự tích của miếng trầu và tức là nhớ tới căn bản đạo đức của dân tộc. Lấy miếng trầu làm đầu câu chuyện mà trước khi bắt đầu đã nghiền ngẫm tất cả những cái gì sâu đậm nhứt, thiết tha nhứt, cao cả nhứt trong đạo nghĩa làm người, thì há không phải là một hành động đẹp đẽ hay sao?
         Tôi thấy “Sự tích Trầu Cau”(1) vừa có giá trị dân tộc vừa có giá trị nhân bản, có tính cách phổ biến sâu rộng trong dân gian đến nỗi cho tới nay người ta vẫn chưa giám bỏ khoản trầu cau trong các lễ vật cưới hỏi.
         Người ta có thể quên “Sự tích Trầu Cau” mà người ta vẫn bỏm bẻm nhai trầu. Cũng có người không thích nhai trầu nữa mà vẫn thích nghe lại “Sự tích Trầu Cau”. Cũng có người không biết ăn trầu nhưng chỉ thấy người ta nhai mà nhớ lại sự tích ấy, vẫn thấy hay và thú vị. Đó là trường hợp của tôi khi nhắc tới “Sự tích Trầu Cau”.
         Nhưng tôi chưa thỏa mãn nếu tôi không được lựa thêm một truyện nữa trong số những truyện ngắn hiện đại của Việt Nam. Tôi muốn nói đến truyện “Những người khổng lồ”(2), của Trần Duy. Ta đừng nghĩ rằng đây là một bài văn tố cộng, nghĩ như thế sẽ làm giảm giá trị, của một sáng tác văn nghệ hạ thấp nó xuống thành một tác phẩm tuyên truyền. Tác giả đã tham gia kháng chiến với cả một tấm lòng, đã sống những giờ phút say sưa và đương sống một khúc đời chán nản. Ông say sưa trong cuộc kháng chiến chống xâm lăng. Nhưng ông đã chán nản vì phải sống chung với những người không tình cảm mà, khổ thay! Những người đó đã từng là những chiến hữu của ông. Ông viết “Những người khổng lồ”, nói tới những người của Trời sai xuống để bạt núi, khai sông, tiêu diệt ma vương hổ báo đặng đem lại an ninh và hạnh phúc cho loài người. Những người khổng lồ nầy mình cao trăm trượng, tay chưn to lớn, sức lực vô địch nhưng lại có những bọn không tim vì lúc được nặn ra chỉ cốt to lớn nên xài hết cả nguyên liệu để nặn tim.
         Vì thiếu tim nên họ không nghe được “tiếng khóc và tiếng cười: họ nhổ cây vụt chết ma vương hổ báo, nhưng trong khi đánh vung vãi sướng tay, loài người cũng chết lây. Xác hoa bướm nằm cạnh xác ma vương hổ báo và xác người”.
         Vì thế mà tiếng cười im bặt, tiếng khóc trổi lên làm kinh động tới Ngọc Hoàng và làm cho Táo quân bị nhiều lần triệu thỉnh để báo cáo tình hình ở hạ giới.
         Sau nhiều lần kiểm thảo ở Thiên đình, Táo quân đưa đề nghị:
         “Nếu có những người khổng lồ đủ tim và đủ óc thì đó là điều hay, bằng không thì nặn những người nhà trời chỉ bằng con người hạ giới thôi mà quả tim thật to. Bàn tay tuy có nhỏ, sức khỏe tuy có ngắn, nhưng nếu nó có tim nó sẽ sống cùng điệu với loài người, nghe được tiếng thở dài và thấy được cái mỉm cười của họ, lúc bấy giờ bàn tay nó sẽ không bóp chết loài người cùng ma quỉ, sức khỏe nó sẽ không đè chết loài người cùng với hổ báo, núi cây, bước chưn nó sẽ không dày xéo lên con người cùng với tình yêu và hoa bướm…
         Đề nghị đó được Ngọc Hoàng gật gù chấp thuận và được hạ giới hoan hỉ chờ mong… Nhưng chờ mong đến ngày nào mới có tim đầy đủ cho những kẻ thiếu tim? Tác giả đặt vấn đề chờ mong để tỏ ra nhân nhượng, nhưng ông đã đạt được mục đích là tố cáo những kẻ không tim là chống lại những cái gì máy móc, những cái gì vũ phu, những cái gì phản nhân vị và thiếu nhân bản. Ngoài ngọn bút tài hoa và óc sáng tạo phong phú, Trần Duy còn giữ được truyền thống bất khuất của con nhà cầm viết và tất cả cái bản sắc của những văn nghệ sĩ tha thiết với tự do, có đầu óc tự chủ, luôn luôn chống công thức và sống mạnh với trái tim.



         Trả lời câu III và IV.– Qua địa hạt quốc tế tôi bớt lúng túng hơn, mặc dầu vườn hoa văn học thế giới rộng rãi và phong phú hơn nhiều. Tôi đọc sách Pháp và sách ngoại quốc dịch ra tiếng Pháp nhiều hơn sách quốc văn nên tôi còn nhớ được bộn bàng những danh sơn kiệt tác quốc tế. Vậy mà sau khi đã so sánh và lựa chọn tôi thấy hết thảy những cái tôi đã học đều thua “Đông Châu liệt quốc” của Trung Hoa. “Đông Châu liệt quốc” không phải là truyện ngắn và cũng không phải là truyện dài. Nó không phải là lịch sử tiểu thuyết như “Tam Quốc” hay “Thủy Hử”. Nó chưa hẳn là sử ký nhưng gần với sử ký nhiều hơn. Nó không phải là một truyện có đầu có đuôi, nhưng nó là những mẩu truyện, đầu Ngô, mình Sở, rối nùi và hỗn loạn. Đọc nó như đọc tiểu thuyết thì chán lắm. Nhưng đọc nó như đọc từng mẩu truyện để tìm ra những điển hình về con người thì hay vô cùng vô tận, trong văn học quốc tế tôi chưa thấy có sách nào hay như thế. Bỏ những chỗ rườm rà vô vị, tôi thấy Đông Châu liệt quốc quả là một xấp truyện ngắn cực tả được thiên hình vạn trạng cái bản sắc con người nói chung, và con người Trung Hoa nói riêng.
         Đơn cử một truyện Lữ Bất Vi,(3) người lái buôn nước Triệu. Anh ta gặp được người con tin của nước Tần bị giam lỏng ở Triệu là Vương Tôn Dị Nhân, con của Thái tử An Quốc Quân. Anh ta điều tra kỹ lưỡng và thấy rằng có thể dùng người nầy làm món hàng đắt giá. Anh ta về hỏi người cha: “Cầy ruộng lợi gấp mấy?” Người cha nói: “Lợi gấp mười”. Anh lại hỏi: “Buôn ngọc lợi gấp mấy?” Người cha nói: “Lợi gấp trăm”. Anh nói nữa: “Nếu giúp lập một người lên làm vua, thống trị sơn hà, được lợi gấp mấy?” Người cha cười nói: “Lấy đâu có được người làm vua mà lập, nếu có thì lợi đến gấp nghìn, gấp muôn, biết thế nào mà tính được?”
         Thề rồi anh tính. Anh lo lót với ông quan coi Dị Nhân để làm quen. Anh qua tới nước Tần lo lót với người ái thiếp của Thái tử An Quốc Quân nhận Dị Nhân làm con để rồi sẽ nhờ thế lực của bà mà Dị Nhân được lựa chọn làm người kế nghiệp trong đám trên 20 người con của Thái tử. Rồi anh còn biếu luôn một ái thiếp của anh cho Vương Tôn Dị Nhân. Khi anh biết rằng nàng đã có thai hai tháng và giao ước với nàng nếu khối thịt trong bụng sinh ra là con trai thì nó tức sẽ là thái tử và hai người sẽ là cha mẹ vua Tần, tha hồ hưởng vinh hoa phú quí.
         Thế rồi Lữ Bất Vi giúp cho Dị Nhân về nước, được mẹ nuôi chăm sóc, được cha ruột tưng tiu rồi phong cho làm Thái tử sau khi chính An Quốc Quân đã nối nghiệp vua Tần.
         Nhưng Lữ Bất Vi chờ lâu không được nên đã âm mưu bỏ thuốc độc cho vua mới để Dị Nhân mau lên làm vua và phong cho hắn làm thừa tướng, phong cho con hắn làm Thái tử. Thái tử nầy sẽ là Tần Thủy Hoàng của Trung Quốc.
         Cái óc đầu cơ như óc của Lữ Bất Vi thật là sâu sắc nước đời vô tiền, tuyệt hậu. Những gương tượng trưng, trinh, tiết, liệt, những truyện dâm loạn đồi phong, những đạo vương, bá, những phép tu, tề, những thuyết liên hoành và hợp tung, tóm lại tất cả những đòi hỏi của dục vọng, những vi ẩn của đạo tâm, những cá tánh của con người, những khôn ngoan của trí tuệ, tất cả đều có những điển hình phong phú trong bộ “Đông Châu liệt quốc”. Ở đây ta thấy có những cái lạc hậu không chỗ nói, nhưng cũng có những tư tưởng tiến bộ và những tình cảm sâu rộng phi thường. Nếu sách nầy không được công nhận là một xấp truyện ngắn theo quan điểm của tôi thì ít nào nó cũng là một cái kho chứa đựng đề tài cho những truyện ngắn xuất sắc của Đông, Tây, Kim, Cổ. Vàng ngọc mới ở mỏ đào lên, dầu chưa đẽo gọt, cũng vẫn là vàng ngọc. Tôi thấy cái mỏ nầy phong phú nên tôi say sưa ngắm mãi không thôi.
         Huống chi vàng ngọc mà tôi nói đây lại là tất cả những cái gì kết hợp lại thành bản sắc của con người, có những cái đặc biệt Trung Hoa, đặc biệt Á Đông, nhưng cũng có những cái phổ biến cho hết thẩy loài người, những cái mà bây giờ ta gọi là nhân bản, là nhân văn, nghĩa là cái kho tàng của văn hóa Nhân Loại.
         Điều đáng chú ý là ở thời đại Đông Châu con người rất phóng túng, rất tự do, rất khẳng khái. Phóng túng để buông lung theo thị dục, nhưng cũng phóng túng để thoát vòng trần lụy. Tự do làm những chuyện động trời, nhưng cũng tự do phát biểu ý kiến để binh vực lẽ phải. Còn nếu cần phải khẳng khái thì đứng trước cái chết họ cũng cứ khẳng khái như thường. Tôi không nhớ là ông Thái sử nước nào đã biên rõ ngày giờ và tên tuổi kẻ thoán nghịch giết vua để cướp lấy ngai vàng. Tên nầy bắt ông sửa lại. Ông không chịu sửa rồi ông bị nó chặt đầu. Rồi hai, ba người phụ tá cho ông cũng đều làm như ông và cũng chết như ông. Kết quả là kẻ thoán nghịch độc tài phải quăng gươm, thở dài, đành nhượng bộ trước những tinh thần bất khuất, coi chân lý nặng hơn sinh mạng của mình.
         Nhà văn nghệ dầu không được sống trong hoàn cảnh như thế cũng vẫn ưa thích nó. Kẻ hậu sanh dầu không đủ khí phách như người xưa nhưng vẫn ưa thích cái khí phách của người xưa. Vì vậy mà tôi lựa những “truyện ngắn” của “Đông Châu liệt quốc”.


THIẾU SƠN

____________________________
(1) Khi nói đến truyện ngắn, chúng ta nghĩ đến phần sáng tác và tác giả của nó. Truyện cổ tích, ở đây, lại là một công trình khuyết danh, tập thể, mà tác giả “Phê bình và cảo luận” lại nhắc đến “Sự tích…”, thì e có phần ép uổng chút nào chăng? Đã có những ý kiến không nhìn nhận những “Truyện cổ nước Nam” của Nguyễn Văn Ngọc là truyện ngắn vì ông này chỉ trung thành ghi lại mà thôi, không như Khái Hưng (Cây tre trăm đốt), Phạm Duy Khiêm (Légendes des terres sereines) tô điểm thêm, sắp đặt lại, hay Vũ Khắc Khoan trong tập “Thần Tháp Rùa”, Doãn Quốc Sỹ với “Sợ lửa”, “Hồ Thùy Dương” chỉ mượn khung cảnh xưa, nhân vật cổ, mà lồng ý mới, tình nay, hoặc hoàn toàn sáng tác, đuổi theo một mục đích chánh trị, triết lý… (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)
(2) Vốn đăng trong” Giai phẩm mùa thu, tập II, Hànội, 1956” nhà Minh Đức xuất bản. Có đăng lại trong “Tâm trạng giới văn nghệ ở miền Bắc của Mạc Đình, Sàigòn, 1957, và trong “Trăm hoa đua nở trên đất Bắc”, do Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa xuất bản, Sàigòn, 1959.
(3) Chúng tôi không đồng ý với ông Thiếu Sơn: chúng tôi nghĩ một truyện ngắn tự nó đầy đủ ý nghĩa và đứng một mình. Những “mẩu truyện” trong “Đông Châu liệt quốc” dù sao cũng là một phần của toàn bộ cuốn truyện này, chúng ăn dính với nhau không ít thì nhiều. Chúng có thể có những tính cách của truyện ngắn mà không phải là truyện ngắn. Còn nhớ lắm bạn văn từng tỏ ý khó chịu sau khi đọc các “truyện ngắn” của Nhất Linh đăng trong “Văn hóa Ngày nay”: “Bắn vịt trời, Một buổi sáng, Đi mua tôm, Lòng mẹ, Cúng rượu, Búng ruồi, Bao giờ em về”… vì họ cảm thấy đó là những đoạn trích ở các tiểu thuyết “Nhà mẹ Lê, Cậu Ấm”… trong bộ trường giang tiểu thuyết “Xóm cầu Mới”. Họ đã khó chịu vì có cảm giác “bị” chủ nhà lấy một món ăn trong một cỗ bàn thịnh soạn để mà đãi họ gọi là…


BÁCH KHOA |  SỐ 59

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #314 vào: 19/08/2018, 23:12:45 »


Vũ Bằng trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Sanh năm 1913 ở Hải Dương. Bắt đầu viết văn từ năm 17 tuổi; truyện và kịch được đăng lần đầu trên tờ “An Nam tạp chí” của Tản Đà.
            Nhà báo, nhà văn, hơi thiên về khía nhạo đời. Trợ bút các báo: Trung Bắc tân văn (của Nguyễn Văn Vĩnh), Chiếu Bóng, Công Dân, Ích Hữu, Đồng Minh (của Nguyễn Hải Thần), Vui Sống, Hòa Bình. – Thư ký tòa soạn các báo: Rạng Đông, Tương Lai, Tiểu Thuyết thứ bảy, Phổ Thông bán nguyệt san, Truyền Bá, Lửa Sống. – Chủ bút các báo: Trung Bắc chủ nhật, Tiểu thuyết thứ bảy (tạp chí, ra hằng tháng), Trung Việt tân văn (của quân đội Lư Hán). – Chủ nhiệm tờ Vịt Đực. – Đặc phái viên “Sàigòn mới” và “Phục Hưng” ở Hànội.
            Hiện trợ bút nhật báo “Dân Chúng”.
            Tác phẩm: Lọ văn. – Một mình trong đêm tối. – Ba chuyện mổ bụng. – Truyện hai người. – Tội ác và hối hận. – Bèo nước. – Cai. – Để cho chàng khỏi khổ. – Khảo về tiểu thuyết. – Miếng ngon Hànội. – Tinh hoa cổ học Âu-Á.
            Những sách về y học, phụ nữ, kí nhiều biệt hiệu khác nhau.


○ ○ ○

         Sàigòn, ngày 12-3-1959
         Thưa anh,
         Trước hết, tôi xin gởi lời cảm ơn anh đã nghĩ đến tôi. Trong trường văn, tôi rất tiếc chưa có dịp nào được hợp tác với anh; nay anh có lòng tin yêu hỏi tôi, tôi xin thừa dịp này để nói một vài ý kiến của tôi về truyện, theo thư anh hỏi.
         Đã đành là nếu muốn cho đầy đủ, thì phải viết thành bài. Tôi e không có thời giờ; vậy tuy đây là một bức thư, anh cũng cứ coi như là biểu thị được một phần nào ý kiến của tôi về cuộc phỏng vấn văn nghệ mà anh phụ trách.
         I.– Những truyện tôi đọc của các nhà văn Việt, có bài dở và có bài hay. Bảo tôi lựa lấy bài hay nhất, mà lại từ xưa đến nay, thì thực xin chịu, vì nhiều lẽ:
         a) không nhớ xuể;
         b) mỗi truyện hay một cách, không thể so sánh được, có truyện hay về phương diện xã hội, có truyện hay vì văn, có truyện hay vì tình, có truyện hay vì “nó không có gì cả”. Thành ra bảo lựa lấy một truyện hay nhất, hay ưa thích nhất, tôi không thể nào lựa được;
         c) có những truyện như của Phạm Duy Tốn, cách đây 30 năm, tôi đọc thực hay, hay truyện của Nam Cao, Tô Hoài v.v… đọc 15 năm trước thú lắm, nhưng bây giờ nghĩ lại, tôi không thích nữa – có lẽ vì mình tiến bộ chăng? Thành thử ra, thích mà cũng không thể bảo truyện nào mình ưa nhất.
         Vì những lí do trên, xin miễn trả lời câu hỏi II.
         III.– Đối với truyện của ngoại quốc, cũng thế, cách đây 18, 20 năm, tôi ưa đọc những truyện ngắn dịch của Anh, Hung Gia Lợi, nhưng bây giờ cũng thấy kém hay rồi. Tôi không biết truyện nào hay hơn hay kém, chỉ biết truyện này khá, truyện kia dở mà thôi.



         Đây là nói về truyện ngắn.
         Còn về truyện dài, truyện bằng thơ, thì tôi có một ý kiến nhất định, tôi chưa đọc một cuốn tiểu thuyết nào hay như Kiều. Có lẽ nói về tiểu thuyết dài (bằng thơ), đó là truyện tôi ưa thích nhất.
         Bao giờ ý kiến của tôi về truyện Kiều cũng chỉ có một:
                  Truyện Kiều hay hoàn toàn.



         Vắn tắt mấy lời, xin anh xét cho, và gởi lời kích chúc […]
         Nay kính,
         Vũ Bằng



(Nghĩ rằng “làm rộn” thêm nhà văn từng “Khảo về tiểu thuyết” và trước bạ tên mình vào làng văn trên 20 năm về trước với quyển “Lọ văn” (1932), để được biết rõ ràng hơn về tên những truyện mà tác giả “Một mình trong đêm tối” ưa thích – dù chỉ ưa thích một thời – là điều không thể tránh được, nên chúng tôi lại có thư đi và lại được thư về. – Nguiễn Ngu Í)


         Những truyện ngắn tôi thích
         Như tôi đã viết trong thư trước, có nhiều truyện tôi đọc lúc trước rất thích mà bây giờ không thích nữa, có lẽ là vì tư tưởng của tôi thay đổi. Cái hay đối với tôi hôm nay chưa chắc đã là cái hay của ngày mai.
         Tôi chỉ nhớ rằng có một thời tôi thích truyện “Sống chết mặc bây!”(1) của Phạm Duy Tốn, các bản dịch trong tùng thư “Âu-Tây tư tưởng” của Nguyễn Văn Vĩnh.
         Về sau, tôi làm “Tiểu Thuyết thứ bảy”, tiếp xúc với nhiều nhà văn có tài, thích truyện “Cười với trăng” của Nam Cao, “Cái nhọt” của Từ Thạch, và một truyện (tôi quên tên) của Tô Hoài, trong đó nói về một cuộc cãi nhau giữa đôi vợ chồng quê vì mấy xu dầu lửa.(2) Tôi cũng thích truyện “Tóc chị Hoài”(3) của Nguyễn Tuân.
         Về sách ngoại quốc, lúc đi học, tôi ưa đọc truyện của Guy de Maupassant. Tác phẩm của nhà văn này hầu hết đều làm cho tôi thích thú. Sau này, tôi thích truyện Barabao của nhà văn Pháp Lucien Jean, một truyện ngắn của Hung Gia Lợi (tôi quên mất tên) và truyện của Vicky Baum (Áo). Tôi đọc hết tác phẩm của bà này (trừ một hai cuốn mới nhất). Tôi cũng rất thích đọc Dostoiewsky (cuốn thích nhất là L’éternel marl).(4) Truyện ngắn của Vicky Baum, tôi thích L’aiguille rouge.(5) Truyện ngắn của Dostoiewsky, tôi thích Les nuits blanches.(6) Tôi thích đọc Stéphan Zweig. Tôi thích truyện “Vingt quatre heures de la vie d’une femme,(7) Le joueur d’échecs (?)(8) và Le bouqainiste(9) (hình như truyện này không in thành sách. Tôi đọc ở trong Les aeuvres littéraires do Huyền Hà cho tôi mượn).


VŨ BẰNG

______________________________________________
(1) Đăng ở “Nam Phong”, số 18, tháng 12 năm 1918, sau Dương Quảng Hàm trích đăng vào “Quốc văn trích diễm”.(Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)
(2) Tên truyện này là “Buổi chiều ở trong nhà”, đăng trong tập truyện “Nhà nghèo”, do Lại Phú Dần xuất bản, Hànội, 1952.
(3) “Tóc chị Hoài”do nhà Lượm Lúa Vàng xuất bản, Hànội, 1942, theo chúng tôi là một thiên tùy bút chớ chẳng phải một truyện ngắn.
(4) Người chồng vĩnh viễn.
(5) Cây kim đỏ.
(6) Những đêm thức trắng.
(7) Chúng tôi được biết: “Hai mươi bốn tiếng đồng hồ trong đời một người đàn bà”, phóng tác của Tiêu Liêu, nhà Thanh Bình xuất bản, Hànội, 1952 (nếu chúng tôi không lầm thì Tiêu Liêu là một trong những biệt hiệu của Vũ Quán); Võ Phiến vừa cho đăng một bản dịch tác phẩm này – mà chúng tôi cho là một tân truyện (nouvelle) chớ không phải là một truyện ngắn (conte) – với cái nhan: “Hăm bốn giờ trong đời một người đàn bà” trên tuần báo Rạng Đông ở Huế, từ số 1, ngày 16-8-1958 đến số 17, ngày 6-10-1958. Trong bản Pháp văn của nhà Victor Attinger, Paris, 1929, in kỳ nhì (175 trang), chúng tôi lại thấy ghi dưới nhan: “roman” (tiểu thuyết).
(8) Người đánh cờ.
(9) Truyện này đã được Huyền Hà dịch, nhan là “Người lái sách”, và đăng trong tuyển tập “Hương xa”, thuộc loại sách Gió Bốn Phương, do nhà Đời Nay xuất bản, Hànội, 1943.


BÁCH KHOA |  SỐ 59