Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 27862 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #330 vào: 02/09/2018, 23:29:01 »


                       Huyễn hoặc

          TRỜI xanh huyễn hoặc đêm thâm cung,
          Trăng sáng bình yên, sáng lạnh lùng!
          Gió lặng bờ cây không thở nhẹ,
          Êm đềm sông nhỏ chảy mông lung…
                                    ¤
          Tôi với nàng đi… bước mỏng manh
          Trên làn không khí rất tinh anh;
          Lắng nghe những tiếng trong im lặng
          Rơi nhẹ vô lòng thăm thẳm xanh…
                                    ¤
          Một vì sao nhỏ lạc chơi vơi,
          Qua mút không gian, đến cuối trời,
          Đứng lại bồi hồi nghe ánh sáng
          Loãng dần như nước ngập ngàn khơi…
                                    ¤
          Khi ấy trời trăng sáng dị thường!
          Sáng xanh màu lục Thái Bình Dương…
          Tôi không thấy bóng nàng đâu nữa,
          Nàng thấy tôi chăng giữa mộng trường?


                                              NGỤY TẦN THƯƠNG



BÁCH KHOA |  SỐ 61

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #331 vào: 03/09/2018, 18:26:48 »


                      Bãi bể Nha Trang

               BẢNG lãng chiều hôm bóng ác vàng,
               Ngàn thông xanh biếc Bãi Nha Trang
              “Hòn Chồng” sừng sững xây từng lớp,
              “Núi Én” trơ trơ dựng mấy hàng,
               Gành đá sóng gào câu vạn cổ
               Màn trời mây diễn cảnh ly tan,
               Nhọc công xây dựng trên bờ cát,
               Lữ khách thương vay kiếp dã tràng


                                                 7-55
                                                 QUỲNH HƯƠNG




BÁCH KHOA |  SỐ 61

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #332 vào: 03/09/2018, 22:39:31 »


                  Trong đêm

            NHỮNG đêm buồn cô quạnh
            Hai tay trong túi quần
            Tôi lạnh lùng im lặng
            Đều đều lê bước chân.
            Tiếng giầy trên đường vắng
            Âm vang tận trong hồn
            U trầm đôi mắt nhỏ
            Mịt mùng hơn bóng đêm
            Hàng cây im bóng ngủ
            Đại lộ dài thênh thênh.
                             ○
            Những căn nhà sang trọng
            Đèn néon sáng choang
            Những căn nhà lao động
            Đèn đóm soi chập chờn.
            Cảnh gia đình sum họp
            Hình ảnh đẹp mơ màng!

            Những người cha khắc khổ
            Những bà mẹ rã rời,
            Sau ngày dài vất vả
            Lòng nhẹ nhàng vui tươi
            Khi nhìn đàn con nhỏ
            Vô tư đôi mắt ngời
            Ê a vần quốc ngữ
            Bên anh chị miệt mài
            Trên trang bài dang dở.

            Qua vài khung cửa sổ
            Thiếu nữ tóc buông lơi
            Tay tì lên song cửa
            Mắt xanh nhìn xa xôi.
            Chơi vơi hồn tơ tưởng…
            Hay dệt mộng ngày mai?

            Trên đường đêm quạnh quẽ
            Đám trẻ nghèo lang thang
            Vài phụ xe lặng lẽ
            Rời rạc nhấn gót chân.

            Đôi bà hàng khốn khổ
            Chiếc đèn treo lắt leo
            Sau gánh hàng kĩn kịt
            Người con nhỏ bươn theo.
            Dưới đèn đêm nhợt nhạt
            Những hình bóng mờ xiêu.

            Càng đi vào khuya vắng
            Rợn rợn nỗi cô đơn.
            Cặp tình nhân say đắm
            Vai kề vai luyến thương.
            Đôi vợ chồng son trẻ
            Cùng về tổ uyên ương.
                            ○
            Ta thở dài khe khẽ
            Lầm lũi dưới trời sương
            Dế mèn kêu ra rả
            Tê tái luồn trong xương.


                                 HƯƠNG QUY



BÁCH KHOA |  SỐ 61

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #333 vào: 04/09/2018, 11:29:06 »
BÁCH KHOA |  SỐ 62  [1-8-1959 |  118 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Hoàng Minh Tuynh |  Vấn đề viện trợ các nước chậm tiến đối với Thế giới hiện nay [II] |  3-9
Song An Cư Sĩ |  Nước Thái Lan |  10-15
Bách-Khoa |  Khoan dung, độ lượng |  15
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Trí thức và Sĩ phu |  16
Phạm Hoàng Hộ |  Sự bảo tồn thiên nhiên [IV] |  17-20
Huynh Đệ |  Quân nhân phạm pháp |  21-28
Bách-Khoa |  Tăng Tử phụng dưỡng cha |  28
Phan Khoang & Hoàng Minh Tuynh |  Hồn Trung Hoa và Ki-tô giáo: Kiêm ái của Mặc Địch và bác ái của Ki-Tô giáo [XII] \ F. Houang |  29-33
Đoàn Thêm |  Lại nói chuyện Quốc hồn, Quốc túy |  34-43
Bách-Khoa |  “Trướng trung khỉ vũ” |  43
Nguyễn Đình Hòa |  Phương pháp phân định từ loại [III] |  44-46
Tân Fong Hiệb |  Bạch Thái Bưởi (1874-1932): Người Việt đầu tiên dám hơn thua cùng người Tây, người Tàu trên đường doanh nghiệp |  47-54
Quảng cáo |  55-56
Trần Văn Khê |  Hát tuồng [II] |  57-61
Quảng cáo |  62-64
Trần Nguyễn Anh Ca |  “Tôi đóng phim bên Anh” hay là “mang danh kịch sĩ một thời” [VI] |  65-70
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 61 |  70
Quảng cáo |  71-72
Nguyên Phủ |  Điểm sách: Người yêu tôi khóc (thơ) của Thế Viên |  73-76
Quảng cáo |  77-78
Thanh Lãng |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  79
Linh Bảo |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  80
Thế Phong |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  81-82
Phan Lạc Tuyên |  Mưa qua phòng tuyến cũ (thơ) |  83
Phan Du |  Con ngựa hai chân |  84-90
Xuân Hiến |  Tinh túy (thơ) |  89
Bách-Khoa |  Lấy thiện phục người và lấy thiện nuôi người |  90
Quảng cáo |  91-92
Nguyễn (dịch) |  Đám dân tị nạn \ Pearl S. Buck |  93-96
Huy Trâm |  Về quê em (thơ) |  97
Vũ Hạnh |  Ổ ong rừng |  98-103
Bách-Khoa |  Miễn cho mình thỏa chí |  103
Hoàng Khanh |  Bàn tay (thơ) |  104
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XXXIX] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  105-110
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách mới |  111
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 60 và 61 |  111
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  112-113
Quảng cáo |  114-118


SAIGON |  1959




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #334 vào: 04/09/2018, 21:22:00 »


Điểm sách: Người yêu tôi khóc (thơ) của Thế Viên

TÔI CÓ người yêu hay khóc nên tôi muốn biết người yêu của Thế Viên khóc lóc thế nào. Tiếng cười dễ nghiêng về tội lỗi nhưng tiếng khóc, dù rằng bất lực, thường khi vẫn giúp ta hướng về lẽ phải cuộc đời.
         Đọc xong tôi thấy sự thực thật là bi đát. Không chỉ người yêu khóc lóc, Thế Viên cũng khóc rất dào. Ba mươi bài thơ (chứ không phải ba mươi hai như ông Nguyên Sa đã đếm nhầm ở trong lời tựa) có thể nói là ba mươi tiếng khóc. Từ buổi ấy Hờ hững cho nên Võ vàng để Cuối cùng phải chịu Long đong Kể lể Một mình rồi… Đau. Tuy chẳng biết Bao giờ em quên nhưng đành Cứ hẹn Giấc mộng sau xưa và nằm trong Hiu quạnh. Rốt cuộc Em vẫn là em. Và trong Cô đơn chỉ còn những tiếng Nức nở.(1) Khóc nhiều đến nỗi đôi lúc không biết là đang khóc ai đây. Trong bài Tôi khóc ai, tác giả lau xong nước mắt, ngỡ ngàng:

                  Thuyền đã giăng sào, tôi khóc ai?

         Người đọc cũng đâm ra ngơ ngác. Và bối rối, không biết lựa lời an ủi thế nào. May thay tác giả đã hạ giọng, thì thầm nói rõ sự thực:

                  Nhưng yêu em quá, yêu em quá
                  Tôi cứ khóc thầm với ái ân!


         Thì ra tình yêu làm cho người ta bé lại – sinh ra ngây ngô – hoặc làm cho người ta già đi – sinh ra lẩm cẩm.
         Nhưng thói thường người ta khoe miệng ra cười nhưng lại hay bưng mặt khóc. Để giấu che yếu đuối của lòng mình. Không phải như vậy là con người giả dối, nhưng con người tự trọng luôn luôn nhớ đến ngôi vị của mình đối với vạn vật và liên hệ của mình đối với chung quanh.
         Cho nên khi thấy Thế Viên dậm chân gào lên:

                  Vò nát tâm tình tôi khóc đây
                   (Nức nở)

hoặc đuối sức, lờ đờ:

                  Giấc mộng tôi về khóc ngẩn ngơ
                   (Bao giờ)

         Hay kiểu cách bắt chước người xưa:

                  Nghẹn ngào ta để lệ đầm áo xanh
                   (Em là cố nhân)

thì ta ngại rằng tác giả khó bề sống nổi trên đời. Nhưng chính Thế Viên cũng đã biết rõ như thế. Thỉnh thoảng Thế Viên vẫn nói đến cái chết, bởi vì:

                  Đứng giữa cuộc đời quên lối đi

cho nên:

                  Hồn tôi tìm nẻo chết quay về
                   (Một mình)

Và con người có vẻ đau khổ lâm ly kia phải tìm một khung cảnh thích hợp với tâm hồn để chết:

                  Chết giữa hoàng hôn giăng nước mắt
                   (Nức nở)

Trong khi bên giường thần chết rất thèm thuồng những sinh mạng như thế:

                  Thần chết bên giường cười ngất ngây
                   (Nức nở)

Nhưng chính câu thơ sau này lại cho chúng ta biết rằng sự thực Thế Viên vẫn không muốn chết. Thần chết mà cười ngất ngây không phải là thần chết chính hiệu. Thói thường những người hay kêu gào sự chết đều là bà con thân thuộc với lão tiều phu của Lã Phong Tên. Chết đối với Thế Viên, chỉ là câu nói hờn dỗi. Những kẻ bực dọc vì sự kêu đòi của xác thịt:

                  Tôi muốn đập tan xác thịt này!
                   (Nức nở)

và không hiểu cái giá trị cao quí của nó khi Thượng đế đã tác thành:

                  Thượng đế sinh chi xác thịt này!
                   (Một mình)

Rồi hỏi lẩn thẩn:

                  Xác thịt bao giờ mới nở hoa?
                   (Một mình)

thì trong thâm tâm không phải là con người thích chết. Những lúc đau khổ – hay tưởng rằng đau khổ – lại ưa nói thế cho vui cuộc sống, cho lạ sự đời hoặc cho bỏ ghét thân mình. Và những dòng đau thương ấy, còn xa lắm lắm mới trở thành:

                  Những dòng thơ đau thế kỷ
                   (Bao giờ em quên)

         Nhà thơ có thể khám phá nhân loại ở nơi hồn mình nhưng không phải chỉ đi vào mình là gặp được nhân loại. Vả lại, đi như thế nào? Nếu chỉ quanh quẩn với những khía cạnh u tối của tâm hồn và bằng lòng với những sắc thái bên ngoài cạn cợt, thất thường và thông thường, nếu không thể đi xa hơn người yêu của mình – cũng lại là mình – thì làm sao mà truyền lan mãnh liệt, sâu xa, thành những dòng thơ thế kỷ? Thời kỳ rên rỉ đã qua lâu rồi. Và đời sống ích kỷ của những con người chỉ biết có mình đã bị xem như là một sự phản bội nhân loại. Nhà thơ có quyền ca ngợi tình yêu, có quyền phân tích tiếng khóc. Chúng ta đâu có nghĩ rằng nhà thơ phải là một con chó sói của Vi Nhi! Chính con chó này mặc dù cho rằng “đau khổ và chết không nói một lời” vẫn nói khá dài trước khi nhắm mắt để cho thiên hạ biết cái cao thượng của mình!
         Từ thuở Đường thi, những tiếng lâm ly nức nở còn vọng đến bây giờ. Trước đấy hàng bao thế kỷ, những khúc bi ca trữ tình Ấn Độ làm tuôn bao nhiêu suối lệ và tiếng thở dài còn vẳng lại ngày nay. Nhưng Bạch Cư Dị tuy lệ đầm áo xanh mà nói lên bao nỗi cảm thông của kiếp người lận đận. Do đó mà nghe được tiếng khóc của kẻ láng giềng:

                  Mới hôm nọ xóm Nam người khóc
                  Tiếng khóc sao đau độc nỗi lòng
                  Rằng đâu là vợ khóc chồng
                  Chồng hai lăm tuổi khuất vòng nhân gian
                  Sớm nay lại khóc than xóm Bắc
                  Tiếng khóc sao ruột thắt từng cơn
                  Rằng đâu là mẹ khóc con
                  Con mười bảy, tám chết còn tuổi xanh…

                   (Văn khóc già – Tản Đà dịch)

         Ngày nay sáng sủa hơn xưa nhưng bao nỗi đoạn trường vẫn còn có thể là những tân thanh. Nhưng dù tiếng khóc bây giờ có kiểu cách hơn trước, nó vẫn không thể ồn ào và không đủ láng lai để đóng thành những thi tập. Huống hồ chỉ là những tiếng rên la của những tâm hồn bạc nhược!
         Thực ra, Thế Viên có đọc “những dòng thư xuân em viết” nhưng với bao nhiêu cách biệt, thương đau, duyên nợ lỡ làng. Chỉ có mỗi một Cánh hoa đầu súng lên hương, khoe sắc nhưng hương sắc hoa kia vẫn thấy ngỡ ngàng ở giữa một vùng u ám.



         Tuy vậy, Thế Viên có thể là một thi sĩ có tài. Khi mùa hạ về, con người trễ nãi lại sục sạo tình yêu giữa ngày trái chín, nói lên được những dào dạt lòng mình qua mấy nét lửng lơ đậm đà sự sống:

                  Hoa điệp đỏ chìm mắt ai bỡ ngỡ
                  Tôi bước đi tóc nắng phất phơ bay.
                  Thời gian im trong một chiếc hôn đầy.
                  Tay em nõn như cặp môi em mọng
                  Ghế thư viện bao chỗ ngồi còn trống

                   (Từ buổi ấy)

         Hay bằng một giọng điệu thuần thục nói lên cái chán nản, nghẹn ngào ở trong tâm tư của một số người không gượng dậy nổi sau những tàn phá của bao ngày khói lửa:

                  Tay trắng đã không thành sự nghiệp
                  Núi nào xây giấc mộng sau xưa
                  Em tôi! Tao loạn nhầu vai áo
                  Gió bụi đêm nao nước mắt mờ.

                   (Mộng sau xưa)

         Đi vào những tình cảm cụ thể, Thế Viên nói được những lời nhẹ nhàng tha thiết tuy cái vẻ trân trọng với nhiều kiểu cách xa xưa có giảm đi xúc động ít nhiều:

                  Đau đã bao lâu rồi đấy em
                  Mà sao mắt biếc chĩu hoa đèn
                  Mà sao vóc liễu gầy xiêm áo
                  Và lạnh môi hồng, em hỡi em!

                   (Đau)

         Nhưng trở về mảnh vườn lục bát quen thuộc, Thế Viên mới thực phóng khoáng, tự do. Vần điệu thanh thoát, qui về được những nét hào hoa tản mác, tưởng như hòa hợp được cái trong sáng của ca dao với cái sầu tư cao diệu của cổ văn trong cái dáng dấp linh hoạt của con người thời đại. Bài Người yêu tôi khóc, ngoài những nét bút sở trường, tâm tình cũng rộng mở theo một chiều hướng mới mẻ:

                  …Bao giờ cây bưởi ra hoa
                  Tôi xin thưa với me già tôi sang
                  Xin em kết nghĩa đá vàng
                  Bởi chưng em bị phụ phàng từ lâu
                  Xưa em thích chuyện sang giàu
                  Giờ em thích nói những câu chung tình…



         Khi nghĩ rằng Thế Viên có thể là một thi sĩ có tài chúng ta thấy rằng phải nhiều cố gắng công phu mới đạt đến thành công. Nói nhiều mà xoay quanh những ý đã loãng chỉ là đi tìm một sự phong phú nghèo nàn. Chính cái trong trẻo nhịp nhàng của Thế Viên là sự cản trở rất lớn cho bước đi lên. Không tìm được lối thoát trong nội dung, hình thức phải xoay vần trong những kỹ thuật quen thuộc, bào nhẵn, mài trơn một miếng gỗ cũ đến lúc tưởng là bảo vật. Dần dà tâm hồn lãng mạn của Thế Viên không còn nhận thức rõ rệt sự vật. Nhan nhản những câu thơ mà tác giả viết ra không hiểu mình muốn nói gì. Những hình ảnh:

                  Tôi ném không gian qua cửa sổ thiên đường
                  Cho gần gũi với linh hồn Thượng Đế.

                   (Của tuổi trẻ)

những sắc màu:

                  Em cười tiếng cười man rợ
                  Tím chiều thế kỷ hai mươi
                   (Em vẫn là em)

những chữ dùng:

                  Khấp khểnh bánh xe về hồng thúy
                   (Khúc ca nàng Kiều)

sau khi đã chết, thân xác gục rồi:

                  Lời kinh cầu rưng rưng trên bờ môi
                   (Hờ hững)

         Và còn rất nhiều. Thế kỷ chúng ta đã từng cho phép nhà thơ nói lên những câu vô nghĩa, nhưng đúng hơn phải là những câu vô nghĩa có nghĩa, những câu mà phần lý trí chịu thua nhưng âm thanh gợi cảm chừng nào.
         Chính cái bệnh trạng ấy làm cho Thế Viên mô phỏng câu thơ người khác một cách tự nhiên. Đọc câu Hoa đào bay suối ngọt hoa đào bay, người ta phải nghĩ tới “Hoa đào bay trước cửa hoa đào bay” trong bài Ly rượu thọ của Tố Hữu và những câu:

                  Trời hỡi làm sao tôi cứ buồn
                  Làm sao tôi cứ nhớ thương luôn…
                  Làm sao chấp nối…


         Người ta lại bắt buộc phải nhớ thơ của Xuân Diệu:

                  Trời hỡi làm sao tôi cứ buồn
                  Làm sao tôi cứ khổ luôn luôn
                  Làm sao tôi cứ…


và rất tiếc những câu của hai nhà thơ này lại chẳng hay gì. Do đó nhiều khi muốn bước ra lối cũ đường mòn, Thế Viên không giấu được những vấp váp quá rõ. Về âm điệu, ngoài ba tiếng trắc đi liền gây sự khổ độc rải rác khắp các bài thơ, ta lại gặp những tiếng bình liền dãy (không phải là giọng bình dụng ý như của nhà thơ Tản Đà cốt gây một cảm giác đặc biệt, trong bài Mả cũ bên đường, chẳng hạn) khiến lời thơ đang xuôi chiều bỗng đổi sang giọng văn xuôi, trở nên lạc lõng, bất ngờ, tiêu tan hết mọi cảm xúc.



         Chỉ có từ chối lối cũ đường mòn Thế Viên mới có thể trở thành thi sĩ có tài. Và sự thay đổi hình thức chỉ thực hiện bằng sự thay đổi nội dung. Một khi trong lòng chúng ta giày vò băn khoăn về những cảnh sống, dạt dào cảm xúc về những tình đời, thâm nhập được vào chiều sâu thì tự nhiên ngòi bút phải tìm ra điệu nói phù hợp. Đầu mối của kỹ thuật muôn thuở vẫn là rung động.
         Trong nền văn nghệ mới của chúng ta, ai cũng thành tâm chờ đợi những thi sĩ chân tài. Nếu cứ lối mòn bước mãi, Thế Viên dù có cố gắng bao nhiêu cũng chỉ đạt đến cao điểm là hạng thi sĩ trung bình, thi sĩ của những con người thất vọng vì tình hoặc của một số độc giả cần đến ít câu dễ chịu gởi tặng người thương. Nhưng chính trong bài “Bao giờ em quên”, Thế Viên đã viết:

                  Mười năm mưa nắng đã nhiều
                  Lòng em sao còn ủy mị?


         Thế thì em nào mà tác giả nói đây?


NGUYÊN PHỦ

______________________________________
(1) Đầu đề các bài thơ trong tác phẩm.


BÁCH KHOA |  SỐ 62

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #335 vào: 05/09/2018, 22:53:37 »


Thanh Lãng trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Tên thật: Đinh Xuân Nguyên. Sanh ngày 23-12-1924 ở Thanh Hóa.
            Tác giả “Văn chương bình dân” (1953), “Văn chương chữ Nôm” (1954), “Biểu nhất lãm văn học I” (1958). Được giải thưởng văn chương toàn quốc 1957, về môn khảo luận (với quyển Văn chương bình dân).
            Hiện làm giáo sư trường Đại học Văn khoa, giám đốc toàn quốc thông tin báo chí Công giáo Việt Nam và chủ nhiệm kiêm chủ bút báo “Việt Tiến”, tiếng nói của người Công giáo nước Việt.


○ ○ ○

         Thưa ông,
         Đi dạy học ở Huế về, tôi có nhận được thư ông hỏi về hai điểm. Tôi xin tỏ một vài cảm tưởng riêng thôi.
         I.– Tôi thích truyện ngắn Việt nào nhất?
         – Tôi thích tập “Vang bóng một thời”(1) của Nguyễn Tuân nhất:
         – vì tất cả các truyện ngắn khác, nhiều ít mô phỏng của Tây, ít phác họa được cá tính Việt Nam,
         – đang khi một mình “Vang bóng một thời” cho ta cảm một cách say sưa cái nếp sống của cả một dận tộc:
         Ta càng tiến, “Vang bóng một thời” càng là cái vang bóng một thời hơn nữa, nên càng cảm ta hơn.
         II.– Tôi thích truyện ngắn ngoại quốc nào nhất?
         – Tôi thích truyện “Le Petit Prince”(2) của Saint-Exupéry nhất:
         – vì nó đặc biệt mới mẻ trong nghệ thuật viết truyện của Tây phương.
         – mà đặc biệt là nó trình bày một cách hồn nhiên bộ mặt phi lý, kỳ cục của loài người thế kỷ XX.
         Đó là một hai ý kiến cũng kỳ cục của tôi, tôi gởi nó nguyên vẹn cả cái kỳ cục ấy cho ông và xin kính chào ông.


THANH LÃNG

_______________________________________
(1) Tập truyện ngắn này, lần đầu do nhà “Tân Dân” xuất bản, trong loại “Những tác phẩm hay” (Hà Nội, 1940), sau do nhà “Thời Đại” tái bản (Hà Nội, 1943). Sau cùng, do “Trúc Khê thư xã và Chính Ký” in lại lần ba (Hà Nội, 1953).
      Theo bổn in lần đầu, có 11 truyện: Bữa rượu đầu lâu, Những chiếc ấm đất, Trên đỉnh non Tản, Thả thơ, Đánh thơ, Ngôi mả cũ, Hương cuội, Chữ người tử tù, Ném bút chì, Chén trà trong sương sớm, Một cảnh thu muộn.
      Bổn in thứ nhì, truyện đầu đổi tên lại là: Chém treo ngành; truyện Trên đỉnh non Tản không có, nhưng lại thêm truyện Báo oán ở sau chót.
      Bổn in lần ba theo bổn in lần nhì.
      Từ lâu, chúng tôi đã có thư hỏi ông Thanh Lãng cho biết tên truyện hay những truyện ông thích nhất trong tập “Vang bóng một thời”, nhưng đến nay – có 4 tháng qua – vẫn chưa được ông trả lời. Ví phỏng câu “bất hữu” của Tam Ích: “Hỏi, tức là trả lời” may mà đúng trong trường hợp này, thì chúng ta có thể nói ông Thanh Lãng thích hết 11 truyện “vang bóng” của Nguyễn Tuân vậy. (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)
(2) Truyện này đã được ông Bạch Công phiên dịch, nhan: “Ông Hoàng nhỏ”, khởi đăng trên bán nguyệt san “Gió Mới”, số 25 ngày 5-9-1958 và đến số 39, ngày 5-4-1959 thì hết. Nhưng, trái với ông Thanh Lãng, ông Bạch Công lại cho là “truyện dài”. Và chúng tôi có tra lại nguyên văn thì thấy dưới nhan “Le Petit Prince”, chữ: roman (tiểu thuyết, truyện dài), trong bản do nhà Gallimard in, Paris 1945 (93 trang, khổ 230-170).


BÁCH KHOA |  SỐ 62

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #336 vào: 06/09/2018, 20:59:49 »


Cô Linh Bảo trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Tên thật: Võ Thị Diệu Viên, sanh ngày 14-4-1926 tại Huế. Có theo học Đại học đường Tôn Trung Sơn (Quảng Châu, Trung Hoa).
            Tác phẩm đầu tay là tập phóng sự “Chồng chung” (viết với em gái: Hướng Dương, và ký chung: Hương Thơ), nhưng bản thảo thất lạc trong cuộc Cách mạng 1945.
            Từng cộng tác với tuần báo “Mới” (1953-1954).
            Đã xuất bản “Gió Bấc” (1952).
            Sẽ xuất bản “Những đêm mưa”, hiện đang đăng ở “Văn Hóa ngày nay”.


○ ○ ○

         Hongkong ngày 5 tháng 4 năm 1959
         Anh ngu Í,
         Thư anh đến từ nửa tháng nay, nhưng tôi ngại trả lời quá. Nếu chỉ là một bức thư thường thôi, chắc không đến nỗi để lâu thế này.
         Bài phỏng vấn của anh khó trả lời vì anh biết đấy, tôi ở Việt Nam ít và không được đọc hết tất cả các truyện ngắn từ xưa đến nay của Việt Nam. Còn những truyện đã đọc rồi thì thích tất cả. Hay nhất, tôi không thể nói được vì mỗi nhà văn có một lối viết khác nhau, tả một đề tài khác nhau, chỉ có thể hay, hay không hay chứ hay nhất nhì chắc khó thấy hơn kém.
         Về truyện ngoại quốc cũng thế, tôi không trả lời vừa ý anh được. Nếu cần phải giận xin cứ việc giận nhiều vào, khỏi khách khí gì cả […](1)



         Hương Cảng 13-4-1959
         …
         Vụ “chuyện nào cũng thích” là một cách nói mà thôi. Tôi cho là không thể chấm hay nhất, nhì được, vì: cũng như muôn hoa, muôn mùi hương, muôn vẻ đẹp, ai thích gì thì thích. Có thể nói hay hay không hay, chứ không thể chấm nhất, nhì như bài luận học sinh tả chung một đầu đề được.
         Tôi thích “Ba con cáo” của Bình Nguyên Lộc.(2) Đọc truyện ấy, tôi thấy thú vị. Tại sao? Vì tôi thấy nó chua chát, xót xa như mắt tôi nhìn đời.
         Người khác họ thích bài khác vì một lý do khác, làm sao định được hơn kém?



         Hongkong 24-4-1959
         …
         Truyện ngắn tôi thích nhất của ngoại quốc (không phải hay nhất) là truyện “The door in the wall” (Cái cửa ở trong trường) của Herbert Georges Wells.



         Cảng Thơm 15-5-1959
         …
         Truyện anh hỏi, tôi không nhớ đã xem trong tập truyện ngắn nào vì lâu rồi. Tôi còn nhớ sơ sơ câu chuyện tả một người kể chuyện mình với bạn. Lúc còn bé độ 4, 5 tuổi, anh ta mồ côi mẹ. Một hôm, trông thấy một bức tường trắng có cái cửa. Anh ta vào trong chơi. Bên trong là một cái vườn hoa “Thiên đường”, ai cũng có vẻ sung sướng vô tư lự, rất nhiều trẻ con cùng tuổi đến chơi với anh ta, anh ta về nhà kể lại, không ai tin cả, riêng anh ta nhớ tiếc vô cùng. Về sau cứ vài năm anh ta lại có dịp tình cờ gặp lại cái cửa quen thuộc ấy, ở một nơi không nhất định, lúc gặp anh ta không vào, rồi sau đấy tìm lại thì không thấy nữa, anh ta thi đậu và đi làm, thành một nhân vật của xã hội thượng lưu, nhưng không lúc nào không nhớ cái vườn ấy. Thỉnh thoảng anh lại có dịp thấy lại, nhưng anh đi qua và để rồi bâng khuâng tiếc nhớ. Cho đến một hôm, người ta tìm thấy xác anh trên một con đường sắt băng qua đường lộ có một cái cửa chắn ngang…
         Tôi không hiểu tại sao tôi lai thích truyện này, chỉ biết xem xong, hơi bâng khuâng, có cảm giác như mình cũng đã từng trông thấy một cái vườn như thế, nhưng mà ở trong giấc mơ, chứ không phải thật, và tôi có ý tưởng nếu tôi gặp được thì bất cứ là mơ hay thật, và bên kia cánh cửa là cái gì đi nữa, tôi cũng sẵn sàng bước vào!…


LINH BẢO

___________________________________________________
(1) Tuy được biết tác giả “Gió Bấc” bận lắm việc ở quê người (việc học và việc hành), nhưng chẳng lẽ là phỏng vấn viên của báo… Bách-Khoa lại chỉ có một lần đi, nên chúng tôi dầu có giận đi nữa, cũng vui vẻ có thư đi, đi thêm ba lần nữa, và được một, hai, ba, bốn “chút của tin này”. (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)
(2) Đã đăng ở “Bách-Khoa” số kỷ niệm đệ nhất chu niên, ngày 15-1-1958.


BÁCH KHOA |  SỐ 62

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #337 vào: 07/09/2018, 22:46:35 »


Thế Phong trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Tên thật: Đỗ Mạnh Cường. Sanh năm 1930 ở Nghĩa Lộ (Việt Bắc):
            1952: bắt đầu viết báo, giúp “Tia Sáng” và “Giang Sơn”.
            1953: cùng Hồ Nam, Huy Sơn, Huyền Giang chủ trương tờ “Quê Hương”.
            1954: phóng viên các báo: “Thân Dân”, “Dân Chủ”, cộng tác với các báo: “Đời Mới”, “Nguồn Sống Mới”, “Thời Đại”, “Việt Chính”. Xuất bản tác phẩm đầu tay: “Tình sơn nữ” (truyện dài) và “Đợi ngày chiến thắng”; rồi “Gái Nghĩa Lộ”; viết giúp báo “Quốc Gia” và “Văn Nghệ Tập San” (của Nguyễn Đăng Thục).
            1956: xuất bản: “Muốn hiểu chính trị”, “Sinh hoạt chính trị ở Nhật Bản”, “Làm lại cuộc đời” (truyện ngắn). Viết xong bộ “Lược sử văn nghệ Việt Nam”, gồm 5 cuốn, nhưng chỉ mới xuất bản được quyển thứ IV, tức quyển “Nhà văn Hậu chiến” (1959).
            Hiện cộng tác với tạp chí “Văn Hóa Á Châu”.


○ ○ ○

         I và II.– Cho đến hôm nay, quan niệm văn nghệ của tôi nhận định về một tác phẩm (truyện ngắn, truyện dài…) vẫn nằm trong tiền đề nguyên tắc “ghi lại hình tượng thời đại mà chúng ta đang sống và dựa vào đấy có phần hướng thượng” (réalisme orienté). Bertrand Russell nói khác đi là hướng dẫn thế kỷ tiến bộ. Cũng một nghĩa. Tôi thích Khái Hưng viết truyện ngắn, chẳng hạn như “Đợi chờ”, tôi thích Tô Hoài qua “Xóm Giếng ngày xưa”, thích Nguyên Hồng “Những chiều đông xám”, Văn An qua “Bến cũ”, Phạm Thái qua “Truyện năm người thanh niên” (truyện dài), Nguyễn Thị Vinh qua “Đồng năm xu”, Đình Quang qua “Bàn tay”, Nguyễn Hoài Văn qua “Chiếc mũ lá”…
         Nói như thế, tôi không những chỉ thích một truyện hay của một tác giả nào, mà tôi còn thích các tác giả khác diễn tả hình tượng cuộc đời trong một khuynh hướng “réalisme orienté”.(1) Tôi không cho rằng đọc truyện, ta phải tìm tác giả đứng trong nhóm nào, giới hạn văn nghệ (démarcation littéraire) nào? quen hay không quen… những điều ấy không quan hệ. Bởi lẽ lịch sử một quốc gia cũng như lịch sử văn nghệ bao giờ cũng diễn tiến, tiếp nối không ngừng. Không ai có thể cắt xén, đánh giá trị (cả hai) tốt đẹp khi mà thực chất giá trị chưa có thời gian lắng đọng xét lại, hoặc thái độ của người xét bảng giá trị có giá trị không? Tôi đọc “Đợi chờ” của Khái Hưng khi cuộc đời thôi ám khói muốn có phút mơ mộng, đọc Tô Hoài qua “Xóm Giếng ngày xưa” để hiểu rõ người bạn nông dân của ta mức sống ra sao? (tinh thần, vật chất), đọc Nguyên Hồng qua “Những chiều đông xám” để nhận một giá trị nhân bản cao độ và vật nào sinh ra trong đời đều có ích lợi, nếu biết sử dụng…
         III và IV.– Vì thế, nên tôi không tin rằng Maxime Gorki là cộng sản chuyên nghiệp như đa số bạn bè có mặc cảm cho rằng hễ đứng về phe nào (cứ theo chiến thuật, chiến lược) vội kết luận bằng nguyên tắc. Tôi cho rằng Maxime Gorki của thế kỷ giao thời đây đi tìm lẽ sống của thân phận con người bị thống trị.
         Trong “Truyện một mùa thu” (Conte d’un automne) hoặc “Grand père Arkhip et Lenka”,(2) “Dan le steppe”(3) là những truyện đầy hình tượng cặn bã của thân phận con người sống dưới thời phong kiến Nga hoàng.
         Nói chung, tôi vẫn có thể thích John Steinbeck khi đọc “Un Américain à Paris et à New-York”(4) (truyện ngắn) nói nhiều về tự sự bước đường đầu tiên dằn vặt phải tranh đấu với đời. Albert Camus qua “l’Hôte” (l’exil et le royaume),(5) nói lên sự đấu tranh của người dân Bắc Phi chống người da trắng đi thống trị.
         Những truyện ngắn (nói riêng) mang tính chất bị thống trị, dẫu là thứ thống trị nào? Hòa hợp với sự tranh đấu vong tồn qua một nghệ thuật viết già dặn, cảm động, tôi tưởng rằng đó là những truyện của muôn đời còn được nhắc đến. Bởi rằng văn nghệ là một gạch nối (trait d’union) cho con đường “Vẫn lộ nhân sinh” của các thế kỷ sau và trước…


THẾ PHONG

______________________________________
(1) Chúng tôi tạm dịch: tả chân được hướng dẫn. (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)
(2) Ông nội Arkhip và Lenka.
(3) Trong cánh đồng hoang.
(4) Một người Mỹ ở Ba Lê và ở Nữu Ước.
(5) “Người khách trọ” (sự lưu đày và vương quốc).


BÁCH KHOA |  SỐ 62

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #338 vào: 08/09/2018, 21:07:21 »


         Mưa qua phòng tuyến cũ

            MƯA qua phòng tuyến cũ
            Chiều lịm ngủ bờ khuya
            Lá rừng trôi loang lổ
            Lối mòn lau lách thưa.

            Chiến hào đan ngang dọc
            Chia cắt bao tình thương
            Từng pháo đài lô cốt
            Phơi xác nằm ngổn ngang
            Nhọt nào đau nhân loại
            Cạn sữa gầy đau thương.

            Mưa qua phòng tuyến cũ
            Chiều tím nét sa trường
            Buồn dâng hàng mộ chí
            Dằng dặc sầu cô đơn
            Người ngủ sâu lòng đất
            Chiến hữu hay địch thù
            Có buồn sầu cổ mộ
            Nghe lá dục mùa đi
            Bao lần mơ ước hẹn
            Giờ có nhớ mong gì
            Từng môi hồng tàn úa
            Những biên giới hoang vu
            Lưỡi lê hoen rỉ máu
            Đồi đất đỏ bơ vơ
            Bài thơ đau lỡ dở
            Sim tím hận mong chờ.

            Mưa qua phòng tuyến cũ
            Đây chiến trường năm xưa
            Nhớ chiều hoang lửa đạn
            Hồn trai say bóng cờ
            Đêm rừng lan trận địa
            Đạn đẹp giáng sao băng
            Pháo gầm reo xung kích
            Giờ im không tiếng vang.

            Mưa qua phòng tuyến cũ
            Ta nhìn như giấc mơ
            Trên mồ hoang lạnh cỏ
            Xuân về tươi dáng hoa.


                                PHAN LẠC TUYÊN



BÁCH KHOA |  SỐ 62

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #339 vào: 09/09/2018, 22:13:10 »


                          Tinh túy

            LÒNG say rạo rực. Khát vô biên
            Bóng tối mênh mang đăm đắm nhìn:
            Trong đó thấy Hương và Ánh sáng
            Và muôn mầu sắc cuộn dâng lên.
                                    ⟡
            Hồn lịm tê trong phút ảo kỳ
            Tay run. Ngực tức. Mắt mờ đi
            Những hình ảnh sống xôn xao tới
            Đợt sóng cao dồn.
                                            Vội vã ghi…
                                    ⟡
            Có tiếng pha lê chen vỡ mau
            Tiếng xiềng xích lạnh chạm nơi đâu…
            Những đường heo hút… nhà tăm tối…
            Những bóng mơ hồ đuổi bắt nhau…
                                    ⟡
            Đêm vắng nghe vang tiếng động xa
            Thời gian ngưng lại. Không gian nhòa.
            Chao ơi! Sung sướng nghe “trong ấy”
            Một chút tâm mình siêu thoát ra.
                                    ⟡
            Tôi viết cho anh hay cho tôi?
            ― Viết cho Thế hệ, gửi muôn người.
            Nghe dâng giào giạt niềm tin tưởng
            Dưới bút bừng lên ánh nắng mai.
                                    ⟡
            Gió lộng trời cao. Ngan ngát hương
            Ngàn sao nức nở khóc đêm buồn.
            Sớm nay gục ngủ trên trang giấy.
            Vở kịch. Bài thơ. Hay giọt sương?


                                                XUÂN HIẾN



BÁCH KHOA |  SỐ 62

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #340 vào: 10/09/2018, 21:29:37 »


                   Về quê em

    TA mỏi gót giang hồ đường bụi gió
    Dừng quê em trưa nắng mới thu vàng,
    Đường đi êm ngõ mát thoáng hoa thơm
    Giữa trưa vắng, điệu ru buồn lên tiếng.
    Từng mái lá bâng khuâng như hò hẹn
    Đón ta về hoa lá khẽ rung rinh.
    Hàng cau nghiêng ru mộng đẹp thanh bình
    Lòng đất mát chứa chan niềm quyến luyến
    Mây lờ lững, khói buồn lên gió quyện
    Làng thôn êm, thiêm thiếp giấc mơ trưa
    Dòng sông xinh, cầu vắt vẻo đôi bờ
    Gió hiu hắt, ngây ngây hương đất mới
    Nghe trong gió lời quê hương réo gọi:
   “Về quê em, cho bớt nỗi tang du
    Về quê em nghe lắng mộng sông hồ”
    Đất cũng biết đời ta buồn quá lắm!
    Từng mê mải nơi phồn hoa bụi bặm
    Lòng nhân gian, tình đếm được bao nhiêu!
    Đường ngược xuôi, nắng sớm với mưa chiều
    Tim lạnh giá những đêm không lửa ấm
    Thôi giã biệt bao ngã đường thăm thẳm.
    Ta dừng chân, nương náu chốn quê em
    Này ngô, khoai, này lúa sắn thơm hiền
    Lấy dưa, muối, yên vui quên sự thế.
    Và em nữa người thôn trang ngỏ bé!
    Ta yêu em tình mát đất quê hương
    Trời trong xanh, sông núi lắng u buồn
    Vườn đất cũ ta vun trồng cỏ, lá
    Quên danh lợi, quên thị thành xảo trá
    Những vàng son, nhung lụa nỡ khinh nhau
    Này quê hương! ôi phép lạ nhiệm mầu
    Vang tiếng sáo một trời thu bát ngát
    Lòng rộng mở nghe hồn quê giào giạt
    Nguồn thương yêu chan chứa tự bao giờ
    Hỡi người em thôn xóm bé ngây thơ!


                                            HUY TRÂM



BÁCH KHOA |  SỐ 62

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #341 vào: 11/09/2018, 22:32:57 »

                        Bàn tay

         GIÓ ngập bàn tay ý viễn phương
         Buồm căng gió lộng lúc lên đường
         Em thơ mắt biếc buồn heo hút
         Vẫy cánh tay ngà neo nhớ thương
                                ¤
         Ta đến nơi đây ngọt cán bừa
         Có bầy em nhỏ hát say sưa
         Đôi tay xinh rắc ngàn hoa đẹp
         Mạch sống tràn lên đẹp nếp dừa
                                ¤
         Dệt đẹp dùm ta manh áo len
         Nhờ tay em nhỏ bắc cầu duyên
         Bao giờ ta nối liền sông núi
         Sẽ dệt lời thơ lên mắt Em
                                ¤
         Anh bạn làm chi đã vội sầu
         Dang bàn tay rộng xóa thương đau
         A ha! Ta đón mùa hoan lạc
         Nắng dệt ngàn hoa đẹp mái đầu
                                ¤
         Thương Mẹ miền quê hận tháng ngày
         Chiều lên lòng Mẹ tím đôi tay
         Xa quê đã mấy mùa hoang dại
         Bến Hải sầu dâng máu lệ đầy
                                ¤
         Lửa đỏ bàn tay ôi nhớ mong
         Ngày mai ta tắm mát sông Hồng
         Đôi tay em bắc cầu thông cảm
         Gió lộng tình thương đẹp vạn lòng.


                                        HOÀNG KHANH



BÁCH KHOA |  SỐ 62

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #342 vào: 12/09/2018, 11:52:36 »
BÁCH KHOA |  SỐ 63  [15-8-1959 |  104 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ công xã nhân dân tại Trung Hoa Cộng sản |  3-7
Bách-Khoa |  Thiện tâm và hảo ý |  7
Thái Văn Kiểm |  Sử học Việt Nam qua các thời đại |  8-11
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Vai trò của trí thức |  12
Huynh Đệ |  Quân nhân phạm pháp [II] |  13-16
Tân Fong Hiệb |  Bạch Thái Bưởi (1874-1932): Người Việt đầu tiên dám hơn thua cùng người Tây, người Tàu trên đường doanh nghiệp [II] |  17-22
Bách-Khoa |  Tha tội con quạ mà làm tội con bồ câu |  22
Võ Phiến |  Nghĩ về Cá tính văn học miền Nam |  23-30
Nguyễn Trần Huân |  Vấn đề thuốc giả (Placebos): Lai lịch và công dụng |  31-35
Bách-Khoa |  Đông phong dữ tiện |  35
Cô Liêu |  Thanh niên và mặc cảm thời đại |  36-40
Bách-Khoa |  Đông ly quân tử |  40
Đoàn Thêm |  Thử giải quyết vấn đề giải trí |  41-51
Bách-Khoa |  Muốn thống trị kẻ có vàng hơn là được vàng |  51
Quảng cáo |  52
Mộng Tuyết |  Đốt sách (ký sự) |  53-56
Quảng cáo |  57-58
Yã-Hạc Nguyễn Văn Trung |  Tiếng địa phương: Danh từ địa phương miền Nam [XIII] |  59-62
Quảng cáo |  63-64
Nguyễn Tử Quang |  Thử tìm xuất xứ bài Vọng cổ |  65-72
Bách-Khoa |  Mật lớn bằng đấu |  72
Quảng cáo |  73-75
Thẩm Thệ Hà |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  76-78
Hồ Nam |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  79-80
Nguiễn Ngu Í |  Tóm tắt ý kiến và ghi những vấn đề cùng câu hỏi được nêu lên trong hai kỳ phỏng vấn trước |  80-81
Phượng Hoa |  Không đề (thơ) |  82-83
Trần Đại |  Đêm đại lộ |  84-88
Đinh Cường |  Tuổi dại (thơ) |  85
Nguyễn Thị Hoàng |  Bước thời gian – Nắng trưa (thơ) |  87
Đỗ Tấn |  Chiều mưa mau (thơ) |  89
Tam Thập Ngũ Lang (dịch) |  Người thủy thủ Hòa Lan \ Guillaume Apollinaire |  90-94
Nguiễn Ngu Í |  Bóng, hương: xưa (thơ) |  93
Kim Tuấn |  Chiều Pleiku (thơ) |  95
Bùi Giáng |  Gửi anh (thơ) |  95
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [XL] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  96-99
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn \ Giới thiệu sách báo mới |  100
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 62 và Tập “Mục lục theo bộ môn” của Bách-Khoa từ số 1 đến số 24 |  101
Quảng cáo |  102-104


SAIGON |  1959




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #343 vào: 12/09/2018, 20:15:49 »


Thử tìm xuất xứ bài Vọng cổ

                           ―  Hoàn cảnh lịch sử của bài Vọng cổ hoài lang
                           ―  Tác giả lời ca và nhạc của ai?
                           ―  Những biến chuyển của thời đại
                           ―  Thử tìm một kết luận cho vấn đề


Bài Vọng cổ được phổ thông đại chúng
         Ở nước ta, có lẽ từ trước đến nay, trong âm nhạc, đặc biệt là ở miền Nam, chưa có một bài ca nào được phổ biến trong đại chúng nhiều nhứt như bài Vọng cổ. Trên sâu khấu, trong tiệc rượu, trong những đám hoan hôn, tang tế có Vọng cổ “ngự trị” đã đành mà ngay cả các em, các chị nằm võng ru em, các anh, các cậu cày cấy ngoài đồng cũng ngâm lên những câu than gió khóc mây, luyến tiếc thương vay những mối duyên bạ tình bờ, không đâu với những câu “mùi” tận mạng.
         Bài Vọng cổ có một ma lực hấp dẫn, ảnh hưởng lan rộng như thế, nên ngay trong thời nước ta bị Pháp thống trị, nó là một đầu đề cho các báo bàn cãi sôi nổi, hao giấy tốn mực nhiều lần.
         Người yêu nó cũng nhiều mà người ghét nó cũng không phải ít. Lúc bỏ lúc chơi. Chơi rồi lại bỏ. Ghét nó, bỏ nó đã đành. Yêu nó mà bỏ nó là vì lý trí, chớ thật ra trong lòng vẫn còn bâng khuâng, bận bịu với tình…
         Nhưng rồi…
         Mặc dù thời cuộc biến chuyển, nước ta đã chuyển sang một thời đại mới, thời đại dân tộc quật khởi đấu tranh, dân ta đã biểu dương một sức sống hùng mạnh, âm nhạc, hội họa v.v… là một bộ môn trong văn nghệ đã tiêu biểu được một sức sống mãnh liệt đó. Tuy vậy, bên cạnh đó, ta vẫn còn được nghe văng vẳng từ thành thị đến hương thôn: “Nhìn bóng trăng khuya soi lặng lẽ giữa đêm trường…”

Tác giả lời và nhạc của bài Vọng cổ
         Vào khoảng năm 1920, tại chùa làng Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu có một nhà sư, tại họ thật là gì người ta không được biết mà chỉ biết pháp danh là Nguyệt Chiếu. Vì ở xa lại nên người ta không rõ được tông tích nhà sư.
         Nhưng thấy nhà sư Nho học uyên thâm với tư tưởng ẩn dật, người ta đoán chừng là một “văn thân” chống Pháp trong thời Cần vương, nay thất thời nên tạm lánh mình vào cửa Phật.
         Tuy đã đi tu nhưng vẫn mang nặng tình non nước, lòng còn hoài bão chí khí lớn lao với một cuộc đổi thay, nên nhà sư mới đem tâm sự của mình ký gởi trên một bài từ, đề là “Dạ cổ hoài lang” nghĩa là “Đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng”. Đại ý của nó cũng tựa như tác phẩm “Chinh phụ ngâm” của bà Đoàn Thị Điểm.
         Bài thơ nầy lại được vào tay ông Sáu Lầu, một nhạc sĩ có tiếng lúc bấy giờ. Lời thơ tuy tầm thường nhưng có lẽ lúc bấy giờ, giữa đôi bên thông cảm được mối tình “thương nhà nhớ nước”, nên ông Sáu Lầu mới lấy bài thơ ấy phổ ra nhạc.
         Đó là bài Dạ cổ hoài lang, nhịp đơn, âm điệu mường tượng hai bài Hành vân và Xuân nữ. Bài ấy lời lẽ như thế nầy:

                            “Từ phu tướng,
                  Báu kiếm sắc phong lên đàng
                  Vào ra luống trông tin chàng,
                            Thêm đau gan vàng.
                            Trông tin chàng,
                            Gan vàng thêm đau!
                  Chàng dầu say ong bướm,
                  Xin đó đừng phụ nghĩa tào khang.
                  Đêm ngóng trông tin bạn,
                  Ngày mỏi mòn như đá vọng phu.
                  Vọng phu, vọng luống trông tin chàng.
                            Năm canh mơ màng,
                  Chàng hỡi, chàng có hay.
                  Đêm thiếp nằm luống những sầu tây.
                  Bao thuở đó đây sum vầy,
                  Duyên sắc cầm tình thương.
                            Nguyện cho chàng
                            Đặng chữ bình an.
                            Trở lại gia đàng,
                            Cho én nhạn hiệp đôi.


         Nó chỉ thế thôi.
         Tuy vậy, nó cũng hàm súc được mối tình thương nhà nhớ nước của một chí sĩ đã ký gởi tâm sự mình trong một khách chinh phụ, giữa một thời đại mà nhà thống trị Pháp không bao giờ cho Việt Nam mở miệng tha thiết nói: “Tôi yêu nước!
         Nhưng tinh thần kháng Pháp của phái Văn thân tiêu tan, thì bài Dạ cổ hoài lang cũng lần lần thay đổi nội dung lẫn hình thức và cả đến tên của nó nữa.

Quá trình biến chuyển của thời đại hay sự thay hình đổi dạng của bài Dạ cổ
         Sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), nước Pháp phát triển sự khai thác kinh tế ở Đông Dương. Kinh tế nông nghiệp ở Việt Nam bị kinh tế thực dân làm lung lay dữ đội. Nước Việt Nam biến thành thôn quê của thành thị Pháp.
         Hàng hóa Pháp tràn vào thôn quê làm phá sản những tiểu công nghệ, thủ công nghiệp ở thôn quê. Nông dân mang cảnh bần cùng, vô sản hóa. Chế độ phong kiến ở miền Nam lung lay tận cội rễ. Nhưng lung lay mà vẫn ở một chỗ, không tiến lên được theo sự tiến triển tự nhiên của nó tức là con đường tư sản hóa.
         Vì mỗi khi một địa chủ nào lìa bỏ đất đai để ra thành thị kinh doanh, thì bị thực dân tìm cách hất trở lại đất đai. Giai cấp tư sản Việt Nam ở miền Nam không thành hình được, mà chỉ có những phần tử tư sản thôi. Những phần tử đó không có cơ sở kinh tế tư sản (doanh nghiệp, thương mại, kỹ nghệ…) gì vững chắc, cho nên ta có thể bảo tư sản miền Nam tức là địa chủ và ngược lại, cũng là tư sản chưa thoát thân.
        Vì những phần tử tư sản địa chủ Việt Nam ở miền Nam không lối thoát, họ chỉ còn cách than thở, mơ mộng. Mơ mộng chế độ phong kiến tư sản được đứng trên địa vị rực rỡ như ngày nào.
         Tuy không tích cực quật khởi được, nhưng những phần tử tư sản nầy dựa theo phong trào vùng dậy của nông dân trong từng thời kỳ, nên xuất thân tranh đấu với một đường hướng cải lương.
         Chính trị vốn có ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng của con người. Thế là trên hình thức văn nghệ – một sản phẩm của tư tưởng – những gánh hát cải lương ra đời. Bài Dạ cổ nhịp đôi được đưa lên sân khấu với gánh hát thành lập đầu tiên ở miền Nam. Đó là gánh Thầy Năm Tú, tỉnh Mỹ Tho. Rồi lần lượt các gánh khác xuất hiện.
         Xuất xứ ở Bạc Liêu, bài Dạ cổ qua những giai đoạn biến đổi cũng ở Bạc Liêu. Từ nhịp đôi lên nhịp tư, nhịp tám xuất bản bằng những tập mỏng nhỏ bán 5 xu trong thời kỳ kinh tế khủng hoảng với nhãn hiệu “Vọng cổ Bạc Liêu”, rồi lần lần kéo dài thườn thượt như ngày nay ta đã thấy.
         Từ “Dạ cổ hoài lang” (Đêm khuya nghe trống nhớ chồng) đổi sang “Vọng cổ hoài lang” (tưởng chuyện xưa nhớ chồng), có sự thay đổi ấy, vì nhiều nhạc sĩ cho rằng: suốt bài chánh của nó không diễn tả một tiếng trống nào; hơn nữa, bao nhiêu bài Dạ cổ khác cũng đều nhắc chuyện xưa, như vậy sửa lại “Vọng cổ” cho hợp hơn.
         Thay đổi như thế, nhưng thực ra cái tên không có gì quan hệ ở chỗ nội dụng và hình thức của nó.
         Tư sản địa chủ lấy nó làm sản phẩm của mình đưa lên sân khấu, cho vào đĩa hát bán chạy như tôm tươi. Thấy nhiều người ưa thích, bọn thực dân Pháp thống trị lợi dụng cho phát triển nó làm một lợi khí tác động tinh thần.



         Từ nhịp đôi bài “Từ phu tướng…” tả người đàn bà mong chồng “hoài bão mối tình non nước”, hình thức đơn giản, gọn gàng, buồn man mác, khêu gợi nhớ nhung, biểu lộ mối tình chung thủy. Rồi từ bài Dạ cổ biến thành Vọng cổ, kéo dài lên nhịp tư, nhịp tám, nhịp mười sáu, ba mươi hai v.v… Càng kéo dài, càng lâm ly, bi sầu, não nuột.
         Từ chỗ hoài bão mối tình non nước để nhắc nhở, dặn dò ai kia bao giờ cũng phải vẹn thủy toàn chung, bấy giờ lại trở nên tiết khóc sướt mướt của những kẻ bị tình phụ, những tiếng than tuyệt vọng như của những người hấp hối… Nào:

                 “Con nhạn đành kêu sương nơi biển Bắc…
                  Thức trót canh gà, thương con nhớ chồng, gan sầu ruột héo…
                  Tôi khóc đã lắm phen rồi…
” vân vân…

         Chúng tôi phải nhắc lại dài dòng như vậy là để cho bạn đọc nhận thấy cái quá trình thay đổi của bài Vọng cổ. Tuy nó không biểu dương được sức tranh đấu anh dũng của dân tộc, nhưng dù sao cũng là một sản phẩm văn nghệ của dân tộc, nó đánh dấu được một bước đường lịch sử của dân tộc – không phân biệt là giai cấp nào trong thời kỳ bị đô hộ.

Bài Vọng cổ sau tháng Tám năm 1945
         Tháng Tám năm 1945, nhân dân ta làm một cuộc cách mạng lật đổ một lần cả ba tầng áp bức thống trị: đế quốc Pháp, Nhật và phong kiến bản xứ. Rồi để hoàn thành nhiệm vụ đó, nhân dân ta hiên ngang trong khói lửa, bom đạn, quyết tâm kháng chiến, đánh đuổi thực dân để bảo tồn đất nước, giải phóng dân tộc. Bao nhiêu cái ủy mị, du dương, nô lệ đều bị xua đuổi, chạy trốn những điệu nhạc oai hùng. Những bài “Lên đàng”, “Xếp bút nghiên”, “Tiến lên đường máu” v.v… được người người say sưa ca hát, phổ biến từ thành thị đến thôn quê.
         Bài Vọng cổ hoài lang đã chết trong tinh thần quật khởi của nhân dân.
         Tưởng rằng nó đã chết luôn.
         Nhưng cuộc chiến tranh giữa Việt-Pháp kéo dài, ở thành thị, nhịp sống của đồng bào với một chế độ khác nên bài Vọng cổ tất nhiên được hồi sinh. Rồi, chiến tranh ấy lại đi sâu vào thôn quê có tính cách dằng co, trường kỳ nên hoàn cảnh nông thôn và nhịp sống xềnh xoàng của đồng bào bắt đầu gợi lại đống tro tàn dĩ vãng… trong tâm tư của họ.
         Không phải bi quan, chán nản trước cuộc kháng chiến mà đồng bào lùi lại quá khứ để chịu sống một cuộc đời ô nhục; mà vì lẽ trước cuộc chống lại đạn lửa, giết chóc thảm khốc gieo rắc của giặc, họ muốn làm êm dịu một phần nào ở cõi lòng. Họ cần tìm lại một cái gì ở dĩ vãng để tâm hồn được chút thơ thới, rảnh rang với mây trời, đất nước, trăng hoa…
         Thế rồi, ở thôn quê bao nhiêu người sửa lại cây kìm, lau lại cây cò, xưởng đàn “măng đô” chuyển sang đóng “guy-ta”. Đồng bào thôn quê cũng đàn Vọng cổ.
         Không nhận thức sâu sắc được tình cảm của con người, nên có người chủ trương thay đổi nội dung (lời và ý) hùng mạnh, tranh đấu cho bài Vọng cổ. Nhạc và lời, hình thức phải bảo đảm nội dung.
         Nhưng hình thức (nhạc) của bài Vọng cổ vốn du dương, ủy mị, tính chất của nó vốn bi sầu, như vậy nó chỉ nói lên được cái gì bi sầu. Cụ thể đã chứng minh việc đó.
         Bao nhiêu bài Vọng cổ có một nội dung khá tiến bộ, tranh đấu lại không được người ưa thích, sử dụng bằng những bài ca tình tứ, lãng mạn… Vì như trên đã nói tính chất của nó vốn bi sầu, thì nó chỉ nói lên những cái gì đau khổ, bi sầu. Áp dụng nội dung tranh đấu, hùng dũng vào Vọng cổ thật trơ trẽn, khô khan, ngân lên thiếu cả “mùi vị”.

Một đầu đề với hai tư tưởng, hai lập luận
         Vọng cổ ngày nay vẫn còn bành trướng.
         Vọng cổ ngày nay vẫn còn ham thích, say sưa. Sáu câu “mùi” dưới ánh đèn đỏ, có nghệ sĩ sân khấu đã hốt được bạc triệu.
         Vọng cổ ngày nay vẫn còn “ngự trị” trên máy phát thanh, trong tiệc rượu v.v… Tóm lại, nó vẫn còn mãnh lực hấp dẫn được đa số người.
         Trước làn sóng ca nhạc đó, những kẻ ưu thời mẫn thế có nhiệt tâm phụng sự văn nghệ đối với tiền đồ dân tộc, nên đưa ra hai ý kiến, hai lập trường đối lập nhau:
         – Nên bỏ hay nên để bài Vọng cổ?
         Thế là trên mặt báo chí cũng như trong những cuộc bàn phiếm bên chén rượu chung trà hồi tiền chiến, hai ý kiến được nêu lên một cách sôi nổi. Một cuộc trưng cầu ý kiến về đề mục trên được đề ra. Tổng kết những ý kiến bằng giấy mực ấy, chúng ta thấy:
         Đứng trên lập trường giai cấp quá máy móc một số người đã cho rằng: bản chất của Nông dân không ưa thích Vọng cổ. Đời sống lam lũ, tranh đấu của họ trước một hoàn cảnh thực tế làm cho họ không thích khóc gió, than mây, mơ mộng. Họ không cần biết “Ngân bình sơn cúc có rũ, thu có tàn…” hay không? Họ chỉ lo lắng vấn đề ăn, mặc, ở ăn. Đó là điều rất thiết thực đối với họ.
         Cũng như nông dân, hạng thợ thuyền suốt ngày chỉ bù đầu trong công xưởng với cây búa, cây kềm, mình mẩy nhuộm đầy dầu, khi về lại chui rúc vào những căn nhà lá tồi tàn, ẩm thấp chẳng khác nào những ổ chuột… Như thế, họ đâu còn thì giờ nghĩ đến những câu tình tứ: “Lòng anh đây mang nặng một khối u tình…”
         Vậy kiểm điểm lại, chỉ có một số người ở hàng thượng lưu ăn không ngồi rồi mới thích, hoặc các bạn nghệ sĩ cũ còn vương mang tính chất lãng mạn của thời qua nên còn bận bịu với tình trăng gió, nước mây, mơ mộng…
         Cùng quan niệm trên, các bạn ấy lập luận thêm rằng: tuy chúng ta tận dụng những hình thức văn nghệ nhân dân còn ưa thích, nhưng nhân dân có nhiều giai cấp và nhiều tầng lớp, giai cấp cần lao như nông dân, thợ thuyền vốn chiếm đa số trong nhân dân và họ không thích say sưa Vọng cổ. Bởi vậy, Vọng cổ không phải là cái “vốn” của nhân dân. Đành rằng khoa học tiến triển vẫn phải chú ý đến truyền thống, nhưng cũng mạnh bạo vứt bỏ những cái cũ, thì trên lãnh vực văn hóa, văn nghệ tranh đấu cũng tùy theo những cái cũ lành mạnh, nhưng cũng không ngần ngại vứt bỏ những cái gì có tệ hại cho tư tưởng tranh đấu.
         Căn cứ vào quá trình phát triển của bài Vọng cổ, và tính chất ủy mị, bi sầu của nó, căn cứ vào cảm quan của giai cấp nên hạng người có ý kiến trên đã mạnh bạo kết án, cho nó không phải là một sản phẩm tinh thần đáng quí của dân tộc, không phải là một tác phẩm văn nghệ biểu dương được sức sống tranh đấu anh dũng của dân tộc. Vì thế hủy bỏ là đúng, là hợp với triều lưu tiến bộ.
         Trái với lập luận trên, một số đông người cho rằng: Vọng cổ là một tác phẩm văn nghệ hiện nhân dân còn say sưa mê thích vì nó hợp với cảm quan của nhân dân, nó diễn tả được nỗi bi sầu, đau đớn của con người, biểu lộ được một cách đầy đủ tình cảm của con người trong hoàn cảnh đau khổ, thất vọng…
         Đành rằng khóc lóc, rên rỉ là hèn nhát, nhưng đã là “một con người” thì làm sao im lìm, bất động như gỗ đá trước những trạng thái biến đổi của xã hội, trước những thói đời đen bạc, trước sự thay đổi, nham hiểm của lòng người… mà không mượn lời ca ai oán, điệu nhạc não nuột kia hầu xoa dịu một phần nào vết thương lòng từ thiên cổ!
         Sao ta lại quá máy móc đến dại khờ cứ muốn mình tiến hóa thành mộc thạch, không chịu nghe tiếng nói của quả tim, lại kiềm hãm tình cảm, tự giam buộc mình mãi trong vòng hắc ám, khô khan của lý trí, của hoàn toàn vật chất ti tiện, khả ố.
         Sống là tình cảm. Bản Vọng cổ đã đánh dấu được một bước tiến dài trong âm nhạc, xuất phát trong nhân dân, nó có đầy đủ khả năng diễn tả cái sức sống dồi dào, mãnh liệt của tình cảm đó.
         Căn cứ vào cái vốn tinh thần xuất phát của dân tộc, căn cứ vào tình cảm của con người cần phải được cởi mở, nên hạng người có luận điệu trên cương quyết bảo vệ bài Vọng cổ trên đài âm nhạc.

Phân tách hai tư tưởng đối lập để thử tìm một kết luận cho vấn đề
         Thật thế, hai luận điệu trên không phải là mới mẻ. Nó đã được nêu ra trong thời tiền chiến. Và rồi, nó được đi đến một kết luận cụ thể, thực tế nhứt: bài Vọng cổ vẫn còn.
         Vậy lập luận thứ hai đã hoàn toàn thắng lợi một cách vinh quang chăng? Và bản Vọng cổ vẫn còn ngự trị mãi chăng?
         Như vậy, cái yếu tố tinh thần để xây dựng một nền độc lập, thống nhứt, dân chủ cho đất nước bằng một nền văn nghệ lành mạnh đã hoàn toàn thất bại đau đớn chăng?
         Kiểm điểm lại, nếu có chút ý thức khách quan, chúng ta phải thành thực nhận rằng: hai lập luận trên không phải là không có cái lý vững chắc của nó. Nhưng đáng tiếc, nó chưa được xây dựng với tính chất điều hòa và toàn diện của vấn đề.
         Con người vốn có lý trí và tình cảm, hai mặt nầy luôn luôn xung đột, mâu thuẫn dữ dội trong nội tâm.
         Quá thiên về lý trí lập luận trên đã đặt cho con người có một tính cách quá cao, vô tình biến con người trở nên khô khan, máy móc. Trái lại, quá thiên về tình cảm lập luận thứ hai đã đặt cho con người một tính cách rất tầm thường, vô tình biến con người thành một vô ý thức, luôn luôn bươn bả chạy theo tiếng lòng một cách nông nổi, thiếu hẳn bản năng tranh đấu.
         Vậy ta thử tìm một kết luận cho vấn đề trên.
         Ta không thể phủ nhận giá trị của bài Vọng cổ. Nó có tác dụng làm rung cảm người ca cũng như người nghe. Làm cho người say sưa, rung cảm được dù buồn bã, ủy mị hay hùng tráng, vui tươi đều làm tròn được sứ mạng của nó là đi đúng với bản chất của văn nghệ.
         Con người có đau khổ, có sung sướng. Bên cạnh cái khổ đã có cái sướng; cũng như bên cạnh cái sướng đã có cái khổ. Vui cười hay khóc lóc vốn đi liền bên nhau. Vậy một bài văn, một bài thơ, một điệu nhạc, một bài ca v.v… khêu gợi được, truyền cảm được, diễn tả được nỗi vui buồn, tức giận, đau khổ là đi đúng với bản chất của loài người, là hòa hợp với luật tự nhiên.
         Lịch sử tranh đấu của nhân loại có những thiên hùng tráng, cũng có những thiên bi ai. Hùng tráng, ta reo hò; bi ai, sao ta lại ngăn, không cho nhỏ lệ, than thở?… Ta đâu phải là sắt đá, cỏ cây!
         Là một trong bộ môn văn nghệ, bài Vọng cổ có tính chất bi ai, ủ rũ tức nó đã làm tròn một phương diện của bản chất văn nghệ, của trạng thái tâm lý loài người. Ở các nước được tiếng là tiền tiến văn minh hiện thời trên thế giới đâu phải chỉ có những điệu nhạc hùng tráng mà không có điệu nhạc u buồn? Nếu không sợ bi ai rầy, chúng tôi còn mong ước sao bản Vọng cổ được u buồn, bi ai, du dương mang mác, não nuột… hơn nữa kìa!
         Nói như thế không phải là khôi hài hay chúng tôi bi quan, quá thiên về tình cảm, mà bênh điệu nhạc như Vọng cổ ấy. Chúng tôi cũng mong ước có những bài bản hùng tráng, hăng hái, phấn khởi, mạnh bạo, vui tươi… đã được tiếng hiện giờ càng phát triển hơn nữa với một tính chất đã sẵn có của nó.



         Việt Nam ta chỉ có đế quốc và phong kiến, chúng là kẻ thù của dân tộc. Trên địa hạt tư tưởng, văn nghệ của dân tộc phải tiến đánh hai kẻ thù chung đó. Vì thế, nhu cầu của mặt trận tranh đấu đó đã đòi hỏi cấp thiết một nền văn nghệ của nhân dân. Nghĩa là song song với mặt trận quân sự, chính trị, mặt trận văn hóa phải làm tròn sứ mạng cao cả của nó.
         Đành rằng, ngoài hạng nông dân và thợ thuyền là đối tượng căn bản, còn các lực lượng khác (các giai tầng trung gian) cũng là đối tượng của văn nghệ. Bởi thế, xử dụng hình thức văn nghệ phải là hình thức của dân tộc (có nhiều tầng lớp, giai cấp), bao gồm nhiều thứ mới cũ phức tạp hợp với cảm quan của Nhân dân.
         Xét qua lịch trình tiến hóa của bài Vọng cổ, ta đã nhận thấy nó vốn xuất phát tự trong lòng của dân tộc, trong tình cảm bi ai của dân tộc, vậy sao ta lại hẹp hòi bảo nó không phải là “cái vốn” của Nhân dân? Đâu phải chỉ căn cứ vào sở thích của một hạng ngươi rồi võ đoán với một lý thuyết giai cấp quá máy móc, mà cho đó là của riêng của một giai tầng nào trong xã hội.
         Những tác phẩm thi ca cổ điển: Chinh phụ ngâm, Cung oán, Truyện Kiều… là những tác phẩm có tính chất bi sầu, thế mà vẫn được truyền tụng trong dân gian, vậy tại sao ta không cho bài Vọng cổ sống trong Nhân dân?
         Sở dĩ có nhiều người muốn giết chết nó là vì tại ta không biết “nuôi dưỡng” lấy nó, để chiếm lấy lòng thích chuộng, mến yêu của tất cả mọi người. Nghĩa là các bạn nghệ sĩ đã quá lạm dụng Vọng cổ, không biết áp dụng, “xài” Vọng cổ tùy hoàn cảnh: thời gian và không gian.
         Giặc cướp của giết người, nước nhà tang tóc, giữa lúc con người đương đau khổ căm hờn… mà lại hát lên những lời hùng tráng, vui tươi thì thật là một hành vi điên rồ. Trái lại, trước cảnh chiến đấu cần có những bài bản để nung sôi bầu nhiệt huyết, mà lại rền rĩ khóc lóc, thì đó là một thái độ gàn dở, nhu nhược, muốn tự tử!…
         Ở đâu cũng rầu rĩ, nhai lại bằng những bài Vọng cổ đó là làm cho người chán ghét. Bài Vọng cổ mất cả tác dụng hay quí của nó. Để cho người căm thù bài Vọng cổ, đó là nhạc sĩ, ca sĩ không biết dùng của báu, đó là vô tình đánh giá quá thấp văn nghệ, là hạ nhân phẩm của một văn nghệ sĩ.
         Sử dụng Vọng cổ với tính cách tự do là trói buộc tinh thần tiến thủ, hủy diệt tư tưởng tranh đấu làm cho con người nhu nhược, lụn bại, làm cho dân tộc bị diệt vong.
         Văn nghệ không có tự do tuyệt đối.
         Hẳn ai cũng thừa nhận rằng: tự do là một điều quí báu. Biết tranh đấu cho tự do, bảo vệ tự do, yêu chuộng tự do là một điều đáng kính, nhưng trên đời không có “tự do tuyệt đối” bao giờ. Một triết nhân danh tiếng ở Đức có nói:
         “Tự do là sự tự chủ con người của ta và làm chủ được thế giới bên ngoài. Sự tự chủ và làm chủ đó căn cứ vào sự ta hiểu biết những qui luật cần thiết của thiên nhiên. Cho nên tự do cũng cần thiết phải là một sản phẩm của lịch sử tiến hóa”.
         Văn nghệ sĩ chuộng tự do là người hiểu rõ luật tiến hóa của xã hội, của lịch sử dân tộc; và hoạt động trong phạm vi hiểu biết những qui luật đó về phương diện nghệ thuật, để đẩy bánh xe lịch sử nhân loại tiến tới.
         Có một nhận thức rõ rệt để thực hiện con đường văn nghệ phải đi, bài Vọng cổ sẽ là một sản phẩm tinh thần quí báu, một lợi khí bên trong công cuộc xây dựng tình cảm đứng đắn của con người. Và, có thế, nó mới được người mến chuộng, chẳng những nó được tồn tại mà còn được phát huy theo một chiều tiến bộ của hoàn cảnh xã hội Việt Nam.

Kết luận
         Ta đã nhận thấy Vọng cổ là một sản phẩm tinh thần của dân tộc có tính chất du dương, bi sầu, rung cảm được lòng người. Nó là cái di sản tinh thần quí báu của tiền nhân, ta cần tô điểm cho nó được tốt đẹp cao quí hơn lên để phù hợp với bản chất “Con người” của ta.
         Là một trong bộ môn của văn nghệ nó cần có một sự lãnh đạo chặt chẽ của văn nghệ sĩ, không thể sử dụng bằng một cách tự do, bừa bãi.
         Như thế, bài Vọng cổ mới đứng vững được trên đài âm nhạc một cách vinh quang.


NGUYỄN TỬ QUANG


BÁCH KHOA |  SỐ 63

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #344 vào: 13/09/2018, 22:29:10 »


Thẩm Thệ Hà trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Tên thật là Tạ Thành Kinh, sinh ngày 9-3-1923 tại Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
            Ông vừa là thi sĩ, văn sĩ, vừa là giáo sư văn chương và đang dạy ở nhiều trường trung học ở đô thành: Tân Thanh, Chi Lăng, Nguyễn Văn Khuê v.v…
            Trước 1945, ông đã cộng tác với “Phổ Thông bán nguyệt san” ở Bắc, phần “Văn học”, do Trúc Khê chủ trương (1940-1943) và tuần báo “Thanh Niên” ở Nam (1943).
            Ông từng chủ trương nhà xuất bản Tân Việt Nam (1949), chủ trương tạp chí Việt Nam giáo khoa (1952), chủ bút nguyệt san Phụng Sự (1953), giám đốc nhà xuất bản Lá Dâu (1957), ông từng biên tập cho các báo và tạp chí: Việt Bút, Nhân Loại, Phổ Thông v.v…
            Những tác phẩm của ông đã xuất bản:
            Truyện dài: Người yêu nước (1949), Vó ngựa cầu Thu (1948), Gió biên thùy (1948), Đời tươi thắm (1957), Hoa trinh nữ (1958).
            Khảo luận: Việt Nam trên đường Cách mạng Tân văn hóa (1950).
            Sách giáo khoa: Chánh tả văn phạm (1958).


○ ○ ○

TÔI QUAN NIỆM một tiểu thuyết hay phải hoàn toàn về ba phương diện: chân, thiện, mỹ.
         Chân tức là phải nói lên được sự thật. Nhân vật, bối cảnh sự kiện đều phải được diễn tả đúng với thật tế.
         Thiện tức là truyện phải gây được một tác dụng lành mạnh, phải có tánh cách xây dựng dầu lộ liễu hay tiềm tàng.
         Mỹ tức là phải đạt được một nghệ thuật cao độ, nghĩa là nhà văn phải viết thật hay, diễn được một cách linh động các trạng thái phức tạp của cuộc sống và sự diễn tiến tâm lý tế nhị của con người. Lời văn phải phù hợp với nội dung và có năng lực truyền cảm mạnh mẽ.
         Gần đây, giới văn nghệ quốc tế trình bày nhiều khuynh hướng văn chương chống lại với thứ văn chương nhân bản cổ điển. Một số tiểu thuyết gia chủ trương văn chương khách quan phi ngã. Một số khác chủ trương văn chương phi luân lý, phi chánh trị v.v… Những luồng sóng văn nghệ ấy đã bắt đầu tràn sang Việt Nam, và người ta đã thấy hơi hướng cách thức “phi” này ở Nhất Linh, Mặc Đỗ…
         Văn chương cần có nhiều khuynh hướng cũng như vườn hoa cần có nhiều màu sắc. Tuy nhiên, tôi nghĩ phi gì thì phi, văn chương không thể phi tác dụng được. Mà đã nói đến tác dụng, ta phải nghĩ đến hai thứ: tác dụng lành mạnh và tác dụng bệnh hoạn.
         Có lần tôi đọc hai quyển truyện của hai nhà văn cùng diễn tả cảnh lao tù của một nhà cách mạng. Cả hai tác giả đều đứng trên lập trường khách quan (một tương đối và một tuyệt đối), họ không khoác áo nhà đạo đức, nhà truyền giáo hay nhà chánh trị. Thế mà khi tôi xem xong, một quyển đã làm cho tôi phấn khởi mãnh liệt trong ý thức đấu tranh; một quyển đã làm cho tôi rùng rợn hoang mang, chán ngán cảnh đời lao lý. Hai tác dụng đã biểu hiện rõ rệt qua hai tác phẩm đó: một thứ lành mạnh và một thứ bệnh hoạn, cả hai tác phẩm đều được diễn tả đúng thực tế và với một nghệ thuật cao, nghĩa là đạt được hai yếu tố. Chân và Mỹ. Riêng tác phẩm (mà tác giả đã đứng trên lập trường khách quan tương đối) lại gây được một tác dụng lành mạnh và đạt thêm yếu tố thứ ba nữa là Thiện. Tôi cho đó là một tác phẩm hay, đúng với nghĩa của nó.
         Theo đó, tôi thấy không nên đặt vấn đề khách quan tuyệt đối trong văn chương. Và không cần phải khoác áo nhà đạo đức, nhà truyền giáo, nhà chánh trị mới có thể đạt được yếu tố Thiện. Nhà văn chỉ cần có thiện chí xây dựng và trình bày sự kiện một cách khéo léo để gây cho độc giả những ấn tượng; rồi từ sự kiện, tư tưởng đạo đức, triết lý, chánh trị sẽ phát sinh trong tâm hồn độc giả. Có như thế, nhà văn mới làm tròn thiên chức của mình, mới xứng đáng là “Kỹ sư của tâm hồn” và mới sáng tạo được những tác phẩm đặc sắc có giá trị vượt qua không gian và thời gian.
         Đó là đại cương quan niệm của tôi về việc định giá trị một văn phẩm. Căn cứ trên những tiêu chuẩn nghệ thuật đó, tôi xin bày tỏ vài thiển kiến – theo sự hiểu biết của tôi – về truyện ngắn Việt Nam và truyện ngắn quốc tế.



         I.– Về truyện ngắn Việt, tôi thích nhất truyện “Trời xanh như mắt em” của Trang Thế Hy, đăng ở tạp chí Nhân Loại bộ mới số 12, năm 1959.
         II.– Thật ra, về truyện ngắn, nước ta có nhiều truyện đặc sắc không kém gì những truyện đặc sắc quốc tế. Những nhà văn có tài viết truyện như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Lý Văn Sâm, Bình Nguyên Lộc… và gần đây một ngòi bút rất mới: Trang Thế Hy… mỗi người đều có một bản sắc riêng. Thạch Lam có lối nhận xét tế nhị về nội tâm, muốn tạo giá trị trường cửu cho văn phẩm mình bằng cách diễn tả những chuyển biến tình cảm mong manh của con người muôn thuở. Nguyễn Tuân với lối văn bóng bẩy, nhuốm đầy màu sắc dân tộc, đã tự tạo cho mình một kỹ thuật tân kỳ, và độc đáo. Lý Văn Sâm với lối văn hào hoa phong nhã, Bình Nguyên Lộc với lối văn nhẹ nhàng, thâm thúy và Trang Thế Hy với lối văn ý nhị, hàm súc, chan hòa dân tộc tính lẫn địa phương tính… đều xứng đáng ngồi ngang nhau tên chiếc chiếu văn nhân. Thật khó mà nhận định văn phẩm của người nào đặc sắc hơn hết.
         Tuy vậy, theo cảm quan riêng, tôi thích (xin nhấn mạnh chữ thích) truyện “Trời xanh như mắt em” của Trang Thế Hy hơn cả.
         Ở truyện này, Trang Thế Hy đã đạt được ba đặc điểm:
         1) Phản ảnh đúng bối cảnh thời đại thuộc phạm vi quốc gia, đồng thời làm người ta liên tưởng đến bối cảnh vĩ đại của toàn diện thế giới thời hậu chiến. Nhân vật điển hình chỉ có tính cách địa phương (thành thị và thôn quê) nhưng thể hiện được dân tộc tính của một dân tộc vừa trải qua những biến cố lớn lao.
         2) Tuy chỉ là một truyện nhưng nó đã nói lên được tiếng nói của một dân tộc căm thù xâm lăng và yêu cảnh thái hòa, như một người tình nhân yêu một khung trời xanh và một đôi mắt xanh.
         3) Nhận xét tâm lý tinh vi với một lối văn linh động gợi cảm và hàm súc.
         Ngoài ba đặc điểm riêng trên đây, truyện còn có một đặc điểm chung: ai thích đọc truyện mà không cần nghĩ ngợi hoặc ai thích đọc truyện để nghĩ ngợi đều có thể thỏa mãn với lối viết truyện đặc biệt của Trang Thế Hy.



         III.– Về truyện ngắn quốc tế, tôi thích nhất truyện “Chiếc lá cuối cùng” (The last leaf) của O. Henry (bút danh của William Sydney Porler, sinh ở Greensboro phía nam Carolina năm 1862). Truyện này ông viết lối năm 1902 khi ông biên tập cho các tạp chí ở New-York.
         IV.– Nếu về truyện dài, cảm quan của dân ta có nhiều điểm khác biệt với dân chúng ở các nước khác, thì về truyện ngắn, cảm quan của ta lại tương đồng với họ. Đọc những truyện dài của Tolstoï, Dostoïevsky, John Steinbeck, Malraux… độc giả ta (trừ một thiểu số tri thức có tây học và hiểu nghệ thuật) phần đông không thấy say mê, thích thú và nhận thức được cái hay. Trái lại, đọc truyện ngắn của những văn hào quốc tế, ta lại thấy thích thú và rung động.
         Tại sao có sự trái ngược ấy?
         Nhà văn Mỹ chú trọng tả ngoại cảnh, truyện thường nhuộm màu triết lý. Nhà văn Nga chú trọng tả nội tâm, truyện thường nhuốm màu chánh trị. Nhà văn Anh có tài chụp ảnh thực tế xã hội, viết những truyện không cần cốt truyện, không đầu không đuôi, buông lửng như dòng đời. Dân ta, bị ảnh hưởng sâu xa bởi truyện Tàu, thích những truyện chứa đựng động tác dồn dập, cho nên họ không thích thú những nhận xét tế nhị, phân tách tỉ mỉ, diễn tả rườm rà. Vì vậy mà những danh tác quốc tế dịch ra Việt văn như quyển “Trên cao gió lộng” của Emily Bronte, quyển “Cuốn theo chiều gió” của Margaret Mitchell được tung ra trước sự hờ hững gần như lạnh nhạt của dân ta. Cả đến những truyện dài sáng tác với một kỹ thuật mới như quyển “Gió mát” của Tường Hùng (ảnh hưởng nghệ thuật của Mansfield), trường giang tiểu thuyết “Xóm Cầu Mới” của Nhất Linh (hòa hợp nghệ thuật của Mansfield, Tolstoï và Dostoïevsky) cũng không được đại chúng ưa thích.
         Đó là nói về truyện dài. Ở truyện ngắn, các nhà văn quốc tế vẫn giữ những bản sắc riêng khi sáng tác. Tuy nhiên, vì phạm vi eo hẹp của thể văn đó, họ không thể diễn tả dài dòng nội tâm và ngoại cảnh, do đó mà không làm chán người đọc khác cảm quan. Nhờ vậy mà các truyện ngắn đặc sắc của Mansfield, John Steinbeck, Hémingway, O. Henry vẫn hấp dẫn được ta, gieo vào lòng ta những nguồn rung cảm dạt dào.
         Trong số những truyện ngắn quốc tế đặc sắc, tôi thích nhất truyện “Chiếc lá cuối cùng”(1) của O. Henry, mặc dầu Henry không nổi tiếng bằng nhiều nhà văn khác như Mansfield, Hémingway chẳng hạn.
         Truyện “Chiếc lá cuối cùng” đã làm nổi bật ba đặc điểm:
         1) Tả đúng tâm trạng của những người yêu nghệ thuật, thiết tha với đời sống và mang nặng trong lòng những hoài bão lớn lao.
         2) Nhà văn không làm nhà luân lý nhưng tự sự kiện trong truyện đã làm hiển hiện lên trong tâm hồn người đọc những ý niệm trừu tượng về luân lý. Chúng ta xúc cảm vì những hành động cao quý. Thông cảm với một tâm hồn cao thượng hy sinh đời mình để tạo nên một tác phẩm nghệ thuật vô cùng ý nhị.
         3) Văn O. Henry có một năng lực quyến rũ và gợi cảm sâu sắc. Tình cảm bàng bạc khắp truyện, vương vấn lòng người đọc như một làn hương ngào ngạt lúc ban đầu, rồi tỏa ra dặm dà, rồi lan ra dịu dàng, mênh mang, thanh thoát…
         Truyện “Chiếc lá cuối cùng” là một đóa hoa có nhiều hương: một thứ hoa làm cho đời lên hương, như lời những nhà thơ thường bảo.


THẨM THỆ HÀ

__________________________________________________
(1) “The last leaf” đã được Võ Hà Lang, Trương Quang Vinh, Bảo Sơn dịch cùng 9 truyện Mỹ khác và do nhà Phượng Giang xuất bản lần đầu (1957) lấy tên truyện của John Steinbeck “Nội cỏ của Thiên đường” mà đặt tên cho tuyển tập; lần tái bản (1959) tuyển tập lại mang tên “Chiếc lá cuối cùng: 10 truyện hay thế giới”. (Lời chú của Nguiễn Ngu Í)


BÁCH KHOA |  SỐ 63