Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 27850 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #345 vào: 14/09/2018, 23:37:05 »


Hồ Nam trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Tên thật là Lê Nguyên Ngư. Sanh tại Bắc Ninh năm 1930. Làm thơ, viết truyện, phê bình. Còn kí tên là Vương Tân khi làm thơ; khi viết báo cho các báo hằng ngày, anh lại kí: Trần Nam Thanh, Viết Tân.
            Từng làm chủ bút một tạp chí văn nghệ xuất bản tại Hà Nội năm 1954, tuần báo “Quê Hương”.
            Đã từng cộng tác với nhật báo “Phương Đông” (1953-54), các tạp chí Đời Mới, Người Việt, Sáng Tạo, Tân Kỷ Nguyên, Việt Chính…
            Hiện dạy học.


○ ○ ○

         I.– Biết thế nào là hay nhất và thích nhất. Nếu chỉ nói thích, thì tôi thích nhiều lắm, tôi thích những truyện ngắn của các tác giả hiện đại như Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Duy Thanh (tôi nghĩ Duy Thanh là một trong những tác giả viết truyện ngắn có kỹ thuật siêu đẳng), những truyện ngắn Giấc ngủ, Cầu thang(1) của văn sĩ kiêm họa sĩ này, theo ý tôi, là một trong những giai tác hiếm có trên văn đàn Việt Nam, Vũ Hạnh tôi chỉ thích có mỗi một truyện Miếng thịt vịt(2) (của Vũ Hạnh, và chỉ một truyện này thôi).
         II.– Lý do khó nói quá. Mỗi tác giả có một không khí quyến rũ, mỗi ngòi bút có một sức truyền cảm riêng. Có lẽ tôi thích họ vì những tác giả này hợp với cảm quan của tôi, tại sao dân Việt ăn mắm tôm, dân Âu Mỹ thích ăn phó-mát, tôi ghét những chữ tại sao lắm.
         III.– Về vấn đề truyện ngắn ngoại quốc, thật quả tôi đọc rất ít, tôi thích các truyện của Lỗ Tấn (nhà văn Trung Hoa), nhất là truyện “Lễ chúc phước”, Tchékov (nhà văn Nga), Katherine Mansfield (nhà văn người Anh), O. Henry (nhà văn người Mỹ).
         IV.– Những nhà văn ấy mỗi người một vẻ. Lỗ Tấn làm tôi thấy đời thật buồn, cuộc sống đáng suy nghĩ, lịch sử phải làm lại, Tchékov khiến tôi thấy xã hội ngấy và tởm quá, mặt trái của con người thật mỉa mai và chua chát. Katherine Mansfield ngược lại cho tôi những phút ý vị, thoáng vui thoáng buồn… Đại khái là như thế […]


HỒ NAM

____________________________________________
(1) Giấc ngủ đăng trong “Sáng tạo” số xuân mậu tuất (1958), và Cầu thang, trong số 12, tháng 7-1958.
(2) Miếng thịt vịt đăng trong “Bách-Khoa” số 33, 15-5-1958. (Lời chú của Nguiễn Ngu Í)


BÁCH KHOA |  SỐ 63

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #346 vào: 15/09/2018, 22:16:34 »


                Không đề

TÔI chỉ muốn tình chúng ta như tình hai kẻ ấy:
Suzanna, Moritz, rất chân thành!
Đượm mùi hương từ thuở khai sinh,
Còn thơm mãi cho đến ngày đầu bạc!
… Người đã bước trăm nẻo đời loạn lạc,
Thịt khô, tim bỏng, môi nhạt, mắt lòa,
Địa ngục trần gian mấy độ tái tê da,
Hơn cái chết, đã biết thế nào là sống khổ.
Những hành xác làm con người thành vứt bỏ,
Những khối thịt mềm, ánh sáng lương tri xa,
Những đường gân không rung cảm nữa với roi, điện, cùm, tra,
Hơn cái chết, biết thế nào là nhục hình kẻ sống!
37 trại(1) cùm giam, suốt nửa đời tan hi vọng;
Trước mắt người, những hàng gai kẽm giăng giăng,
Những hình người chết ba phần, còn sống một, chỉ biết ăn,
Ngủ, và cúi xuống trong cái lò sát sinh vĩ đại,
Là Chiến tranh, là Hoang tàn, là Khổ ải!
… Đến bao giờ Người mới biết thương nhau?
Ôi? Đến bao giờ Người mới biết thương nhau?
… Thì qua mấy độ chết thừa sống thiếu,
Thèm khát đến một chút khí trời huyền diệu…
Thịt khô, tim bỏng, môi nhạt, mắt lòa,
Ngã từng thây, từng thây ngã, người ta
Bíu cái sống và rùng mình sợ sống!…
Nơi đây ngạt hơi người, ngoài kia trời lồng lộng…
Thì người được trở về đây, trong bóng mát gia đình!
Ôi! Sao lòng vẫn trinh! Sao tình cũ vẫn xinh!
… Người thiếu phụ ấy, hơn 10 năm lau lệ,
― Câu chuyện 10 năm, ai lòng nào kể.
Khóc khi chồng xa, khóc khi phải sống nuôi con,
Thân tưởng tàn trong cát bụi xô dồn:
Trong loạn lạc, con người, ôi vô nghĩa!
Thì người thiếu phụ ấy vẫn ủ trong lòng tia lửa,
Của Lòng tin, của Chờ đợi, của Thương yêu.
Ai có đo Lòng ấy rộng bao nhiêu!
… Cho đến hôm nay tan rời khói lửa,
Khi người trở về, tóc xanh còn đâu nữa!
Thế nhưng lòng vẫn trinh, và tình cũ vẫn xinh!

Tôi vẫn muốn tình đôi ta rồi cũng thế.
Nghĩa cuộc đời? Ai đã học chữ Thương?
Nhưng đã sinh làm người và hẹn kiếp uyên ương,
Thì hãy sống với mối tình thuở trẻ,
Và hãy chết với lòng không chia rẽ,
Như Suzanna, Moritz,(2) anh ơi,
Những quả tim đau, những quả tim người!


                                         PHƯỢNG HOA


_____________________________________
(1) Số 37 tượng trưng – Thật ra, mấy, tôi cũng không nhớ kỹ.
(2) Nhân vật trong tiểu thuyết: “Giờ thứ 25” (La 25è heure) của Gheorghiu.


BÁCH KHOA |  SỐ 63

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #347 vào: 16/09/2018, 22:54:33 »


                      Tuổi dại
                                   “Tôi lại mỉa mai rồi
                                   Sao mà buồn thế ấy”

                                                       H. C.


               Những chiều đi nhỏ lệ
               Những chiều mưa buồn không
               Bước chân hờn thế kỷ
               Xác xao về trong lòng.
                              ⟡
               Thế nhân hồn ô trọc
               Lệ nhỏ dòng thời gian
               Hơi thở đầy tội lỗi
               Nức nở mấy điệu đàn
                              ⟡
               Chân bước hoài đã mỏi
               Mắt trông chừng đã buồn
               Tôi quì trong bóng tối
               Mong người ban lòng Thương
                              ⟡
               Người tha thứ giùm tôi:
               Xin cúi đầu trả lại
               Này hoàng hôn sớm mai
               Này hoàng hôn tuổi dại


                                     59
                                     ĐINH CƯỜNG




BÁCH KHOA |  SỐ 63

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #348 vào: 17/09/2018, 11:45:01 »


                    Bước thời gian
                                               Hãy gieo cánh hồng
                                              Trên bước thời gian

                                       Semans de roses
                                       Les pas du temps.
                                              Gérard de Nerval

                   
                    I.– Nắng trưa

                    Hạnh phúc rất bao la
                    Nhịp đời xin bước chậm
                    Vườn cây ru nắng trưa
                    Long lanh vừng khói ấm.

                    Tôi đi trên đường nắng
                    Thương những buổi trưa vàng
                    Những bờ hoang xa vắng
                    Đôi tâm hồn lang thang…

                    Kiếm tìm trên lối ngõ
                    Bàn chân yêu thương qua
                    Rưng rưng màu ngói đỏ
                    Trời xanh ôm mái nhà.

                    Chòm hoa nghiêng với gió
                    Ngàn lá đang thời tươi
                    Rèm thưa buông cửa mở
                    Khung trời, làn mây trôi…

                    Tôi dồn trong tim nhỏ
                    Chim bướm của ngày xanh
                    Vườn trưa nghiêng nắng đỏ
                    Chim xa thương nhớ cành.

                    Bước đời tôi ghé lại
                    Trong cửa cấm nhà ai
                    Tình yêu không dám nói
                    Bâng khuâng nên thở dài.


                                     NGUYỄN THỊ HOÀNG



BÁCH KHOA |  SỐ 63

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #349 vào: 17/09/2018, 22:49:35 »


            Chiều mưa mau
                                          Gửi Lưu Kiếm

ANH nhớ em chiều nay đâu phải vì trời mưa mau
Anh nhớ em chiều nay đâu phải vì chuyện cau trầu
Anh nhớ em chiều nay đâu phải vì sao tất cả
Anh nhớ em chiều nay đâu phải có trước có sau
                             ○
Chiều nay mưa mau trên đường phố
Anh nhớ em chiều nay như người đi đầu dầu
Anh nhớ em chiều nay như những cô nàng sợ hư áo mới
Hối hả, rất nhiều… như không có mai sau
                             ○
Vì mai sau đâu phải là chiều nay
Có một người nhớ thương, nhớ thương lan tận đêm dài
Mai sau sợ có những chiều nắng ấm
Nắng ấm rồi biết đâu tình không phai?!
                             ○
Vì thế nên chiều nay anh vẫn thích mưa mau
Để còn mãi nhớ thương, còn mãi buổi ban đầu
Còn mãi những trinh nguyên, tuổi làm bằng ân ái
Còn mãi những chiều… những chiều thương nhớ nhau.


                                                                 ĐỖ TẤN



BÁCH KHOA |  SỐ 63

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #350 vào: 18/09/2018, 22:11:34 »


      Bóng, hương: xưa

TÌM em, anh về đây nhìn lại
Nhà ai xưa: lớp Mẫu giáo còn măng.
(Nhà thì trống, người thì không, mà tường thì nặng
Bao cỏ hoa chim cá thú hiền hiền)


Ai trả lại giùm tôi cô giáo nhỏ
Mà phấn son chưa đầy đọa mặt nghiêng nghiêng…

Tìm em, anh về đây thăm lại
Đình nhỏ kia: đai Nam bộ(1) náu thân hình.
(Ai xui gặp, và nào ai toan tính.
Chuyện trẻ con, bàn hiểu với lòng son)


Ai trả lại giùm tôi cô gái Quảng
Mà tóc ngay thơ thẩn lưng thon thon…

Tìm em, anh về đây, nhìn xuống
Dòng sông nao có hai kẻ kề nhau.
(Người trách nặng, người nghẹn ngào, tim rướm máu.
Lòng sông nay còn lưu lại một tình điên?)


Ai trả lại giùm tôi cô y tá
Mà ngón tay chẳng nhọn, nắm êm êm…

                               ●

Chín năm trời hai cuộc đời chung nước lửa,
Sáu năm trời, cách biệt tình thương thương…
Nay trở lại, tìm ai-không-còn-nữa,
Lòng hỏi lòng: ai mất một làn hương?


                            Giữa hai sông Trà và một sông Vệ,
                            Hè 1958

                            NGUIỄN NGU Í


_______________________________
(1) Đồng bào gọi tên một đài phát thanh thời kháng chiến (1946).


BÁCH KHOA |  SỐ 63

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #351 vào: 19/09/2018, 11:17:30 »


                      Chiều Pleiku

         RỒI những hoàng hôn mưa nhìn thành phố
         Nặng bước em về ngõ cũ mồ côi
         Bóng núi chênh vênh thông ngã ven đồi
         Mây vẫn tìm nhau theo ngàn viễn xứ
         Tình cũ ngày xưa sao mà tư lự
         Trong mắt em buồn phố lạnh đèn soi
         Mình biết thương ai mưa mãi mưa hoài
         Đường đi về đêm thơ sầu tăm tối
         Đường đi về đêm ngõ bùn lầy lội
         Em có nghe chiều lất phất mưa bay
         Có nghe đau thương nhỏ xuống tim này
         Thế Kỷ vòng quay kinh cầu nửa kiếp
         Trần thế làm sao u hoài oan nghiệp
         Để ý thơ buồn thương nhớ chiều nay
         Mắt biếc em đâu, mưa núi giăng đầy
         Bóng lẻ nhà ai đèn lu mới thắp
         Mình vẫn tìm nhau sao mà không gặp
         Mưa mãi xóa nhòa thành phố mồ côi

         Thành phố mồ côi ngày cũ đâu rồi
         Đường đi về đêm thơ sầu tăm tối
         Đường đi về đêm ngõ bùn lầy lội
         Em có nghe chiều lất phất mưa bay?


                                                Pleiku 1959
                                                KIM TUẤN




BÁCH KHOA |  SỐ 63

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #352 vào: 19/09/2018, 23:44:23 »


                           Gửi anh

            KHÔNG ở được nữa rồi, anh đã thấy
            Và vội vàng anh đã bỏ anh đi
            Anh đã ngó chúng tôi lần cuối
            Anh hiểu rằng chưa gặp gỡ một khi.
                                       ¤
            Trời đất lạnh anh nhìn quanh bốn phía
            Chỉ một người đi một nẻo ngu ngơ
            Anh đã thấy những mũi tên đời chĩa
            Vào giữa người, giữa ngực quả tim thơ.
                                       ¤
            Anh cho hết máu trong dòng chảy
            Để giờ đây anh ngó nước đầy vơi
            Bờ đâu bến? đâu hoa tình thắm giậy
            Đã ngưng màu xuân mới mộng đâu nơi?
                                       ¤
            Anh lặng lẽ vòng tay khoanh trên ngực
            Anh chỉ nhìn chìm lặng cõi xa xôi
            Anh không nói một lời trong một phút
            Mười mấy năm anh nói đã nhiều rồi.
                                       ¤
            Là thôi hết? Nghĩa là thôi đã hết
            Vỡ tan là mộng sóng giữa trùng khơi
            Cùng thế kỷ một ngày anh đã chết
            Để ngàn năm anh sống vẹn với đời.


                                                    BÙI GIÁNG



BÁCH KHOA |  SỐ 63

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #353 vào: 20/09/2018, 11:08:53 »
BÁCH KHOA |  SỐ 64  [1-9-1959 |  108 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Vấn đề phát triển kinh tế |  3-8
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ công xã nhân dân tại Trung Hoa Cộng sản [II] |  9-16
Bách-Khoa |  Thiện tâm, hảo ý |  16
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Học hành |  17
Nguyễn Hiến Lê |  Luật phát triển theo trôn ốc của trẻ, áp dụng vào sự dạy dỗ thiếu niên |  18-22
Bách-Khoa |  Đồ nam |  22
Nguyễn Thiếu Nguyên |  Tìm hiểu công cuộc sáng tạo của nghệ sĩ |  23-29
Bách-Khoa |  Đề-kiều-bi |  29
Nguyễn Văn Hầu |  Tài liệu lịch sử: Trần Văn Thành: một chiến sĩ Cách mạng Cần vương ít được các sử gia biết tới |  30-35
Cô Liêu |  Thanh niên và mặc cảm thời đại [II] |  36-41
Nguyễn Tiến Chiêu |  Tìm hiểu nguồn gốc Quan họ Bắc Ninh |  42-44
Nguyễn Văn Xuân |  Điểm sách: Hoa Đăng của Vũ Hoàng Chương |  45-52
Quảng cáo |  53-54
Phan Ngô |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  55-57
Nguyễn Vỹ |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  58-61
Quảng cáo |  62-64
Trần Nguyễn Anh Ca |  “Tôi đóng phim tại Pháp” |  65-66
Quảng cáo |  67-68
Lãng Ngâm Khách (dịch) |  Dịch thơ cổ Trung Hoa: Mộc Lan từ (thơ) \ Vô Danh Thị |  69-72
Hoàng Khanh |  Bài thơ của những kẻ không nhà (thơ) |  73
Mộng Tuyết |  Đốt sách (ký sự) [II] |  74-77
Đoàn Thêm |  Tao Đàn Mộng Ký |  78-81
Xuân Hiến |  Anh thợ nhà in (thơ) |  82-83
Trúc Anh |  Thầy trò nhà tôi… (nhật ký) |  84-99
Huy Trâm |  Chiều tỉnh lỵ (thơ) |  90
Trần Hà Trung |  Tình Bắc Nam (thơ) |  93
Nguyễn Thị Hoàng |  Bước thời gian – Chiều (thơ) |  95
Huy Lực |  Rừng… (thơ) |  97
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  100
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  101
Quảng cáo |  102-108


SAIGON |  1959




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #354 vào: 20/09/2018, 23:43:11 »


Phan Ngô trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Bút hiệu Ảo Giản. Sanh năm 1921 tại xóm Phần Kiều, dưới chân núi Chúa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
            Năm 1943, đương học Luật ở trường Đại học Hànội, bỏ học để đi theo “Tiếng gọi Sinh viên” (Sau này là “Tiếng gọi Thanh niên”, và bây giờ là “Quốc ca”).
            – Dạy học, hoạt động chánh trị trong một đoàn thế Cách mạng dân tộc, bị tù, rồi dạy học, lại bị tù; từ 1955, giã từ sân khấu chánh trị để chuyên hẳn về giáo dục và văn hóa.
            – Từng chủ trương các cơ quan ngôn luận: Sóng Mới, Duy Sinh, Dân Đen ở Huế (1947-48-49), và cộng tác với các tờ báo giáo dục Việt Nam: Giáo Khoa tập san, Khuyến Học, Chuyên Cần ở Sàigòn (1953, 1959).
            – Hiện là hiệu trưởng trung-tiểu học tư thục Tân Phương ở Giađịnh.
            – Soạn giả sách giáo khoa: Việt Nam tân văn hợp tuyển (cùng soạn với Huỳnh Hòa, 1949), bộ Giảng văn cho bậc Trung học đệ nhất cấp (1953-1956), Nghị luận luân lý (3 tập, 1952-1957).
            Tác giả các vở kịch thơ lịch sử và giáo dục: Lệnh Thầy (1954), Người giữ ngựa (1955), Ăn cỗ đầu người (1956), Lời thề đền Hùng (1957), Khúc hát Ngày mai (1959).


○ ○ ○

         Bạn Ngu Í,
         Tôi tin chắc không có một cuộc phỏng vấn nào “dày vò” người lại phỏng vấn lâu dài bằng “cuộc phỏng vấn văn nghệ” do bạn phụ trách cho “Bách-Khoa”. Từ ngày nhận được những câu phỏng vấn, năm tháng đã trôi qua với hàng chục số “Bách-Khoa”… Tôi tưởng các vị tài danh đã có bài nói hết, nói quá đầy đủ, thì bạn và nhà báo “miễn dịch” cho hạng tôi…
         Nhưng mà nghề nghiệp khiến bạn thường gặp tôi hơn ai hết trong số các “bị phỏng vấn gia”, thành chẳng lẽ “khất nợ” với “Bách-Khoa” hoài, nên dầu dài ngắn dở hay, cũng phải có phần đóng góp.
         Phân trần với bạn cũng khá rồi, giờ xin vào đề vậy.
          […] Tôi không phải là một nhà phê bình văn học. Tôi lại vốn không ưa tiểu thuyết dầu ngắn, dầu dài. Nói thể chắc có người chỉ biết những sách giáo khoa về loại giảng văn của tôi đã soạn mà chưa hề “biết tôi”, sẽ cho là vô lý hay kém thành thật. – Trích nhiều và đủ các văn gia như thế thì không đọc làm sao được? – Thưa tôi đọc, đọc khá nhiều, nhưng không hề đọc theo lối thông thường của độc giả tìm thú vui, hay của nhà phê bình tỉ mỉ. Tôi đọc như cánh bướm lướt vườn hoa. Bướm đã dừng cánh trên biết bao nhiêu đóa, đã hút bao nhiêu thứ nhụy! Nhưng nếu có ai hỏi bướm thích hoa nào thì bướm làm sao mà trả lời? Hằng ngày bướm sống bằng nhụy hoa. Hằng ngày tôi đem những tinh hoa lượm lặt được ra giảng dạy, phê bình cho học sinh nghe. Bây giờ hỏi tôi thích “truyện ngắn” nào thì thật là khó lòng mà trả lời.
         Đó là những cảm tưởng và cũng là những lúng túng đầy dốt nát của tôi khi phải đáp lại cuộc phỏng vấn của “Bách-Khoa”.
         Và đó cũng là cách trả lời thành thật nhất của tôi trong hiện tại. Tuy nhiên, nếu phải ép thì tôi sẽ kể lại một câu chuyện, một kỷ niệm không xa xôi lắm: Mùa hè năm ngoái, tôi có hân hạnh tham gia ủy ban cải tổ chương trình Trung học. Ủy ban sơ bộ chúng tôi có nhiệm vụ phác họa những nguyên tắc căn bản của nền Giáo dục Việt Nam. Sau đó ba nguyên tắc: Nhân bản, Dân tộc, Khai phóng đã được Đại hội thừa nhận với bản chương trình dự thảo…
         Công cuộc khẩn hoang bắt đầu trong giáo dục lâu nay không có cứu cánh, – tôi có cảm tưởng như vậy, hay mơ ước như thế. Giữa những ngày tôi sống với cảm tưởng hay mơ ước đó thì tôi được đọc một truyện đăng trong Bách-Khoa số 36, ngày 1-7-58. Đó là chuyện “Rừng mắm” của Bình Nguyên Lộc.
         Trong truyện ngắn nầy, tác giả kể lại cuộc đời lam lũ, cần cù, kiên nhẫn, tự lập và đầy tin tưởng ở sức người của một gia đình nông dân vì quá nghèo, không có một tấc đất cắm dùi, đành phải rời bỏ làng xóm, mồ mả tổ tiên di cư đến một nơi bùn lầy nước đọng hoang vu với rừng tràm trầm thủy mênh mông, đó là U Minh. Gia đình đó chỉ gồm có một ông nội già mà tuổi tác tượng trưng cho kinh lịch dồi dào và sức bền dẻo; hai vợ chồng và một đứa con trai duy nhất tuổi độ 13, 14 với cái tên hơi man rợ: thằng Cộc. Họ rời bỏ Sa Đéc đến U Minh để đốt rừng tràm, chinh phục thiên nhiên, khẩn hoang thành ruộng rẫy. Họ tin rằng mồ hôi của họ sẽ thấm nhuần đồng chua nước mặn để biến nó thành nước ngọt đất lành, thôn xóm sầm uất vui vẻ… Họ là những lớp người tiên phong mở sinh lộ cho cả một dân tộc ngột thở vì nạn nhân mãn nên: phải Nam tiến.
         (Đến đây tôi muốn trích độ hai mươi dòng, đoạn ông cháu thằng Cộc nói về hai loại cây mắm, cây tràm, nhưng e lạm dùng lòng tốt của “Bách-Khoa”, nên phiền bạn đọc xem lại truyện nầy.)
         Câu chuyện “Rừng mắm” mang một ý nghĩa tượng trưng.
         Ý nghĩa đó làm cho tôi thích thú trong những ngày mà tôi cảm thấy mình là một cây tràm, nhỏ bé trong cái rừng tràm trầm thủy tức là nền Giáo dục của nước ta hiện nay vậy.
         ― Hãy đốt đi hỡi gia đình thằng Cộc! Hãy can đảm và kiên nhẫn đốt phá rừng tràm kia để khai khẩn thành ruộng đất màu mỡ cho cây Văn hiến bốn nghìn năm khỏi già cỗi…

                  “Ta quyết làm ngọn nến trên bàn thờ
                  Đốt cho Ngươi! Hỡi tiếng của Nguyễn Du!
                  Của Đoàn Thị Điểm, Thanh Quan, Công Trứ!
                  Dầu phải cháy, phải mòn, ta vẫn cứ
                  Để thân tàn cho bọn Trẻ mến Ngươi!

                  (Ảo Giản, trích: Hồn thiêng tiếng Mẹ)

         … Tôi thiết tưởng đã thỏa mãn 50% cuộc phỏng vấn, tức là về phương diện “quốc gia”.
         Còn phương diện “quốc tế’ nữa! Rắc rối quá! Tôi nguyện sẽ rất vắn tắt, sẽ rất “cán mai” (dốt đặc cán mai).
         Tôi sẽ trả lời như một học sinh, mặc dầu tôi mang tiếng… giáo sư.
         ― Dạ thưa tôi chỉ biết thích có tập “Lettres de mon Moulin”(1) của Alphonse Daudet ạ!
         ― Vì những lẽ gì?
         ― Dạ thưa vì văn từ của ông thật là thuần túy, ý nhị, lắm khi thi vị. Còn nội dung thì nhuốm đầy màu sắc đất nước; mặc dầu đó là đất nước của ông, nhưng sao tôi vẫn cứ cảm như trước những cảnh trí của non sông xứ ở mình. Hay là tác giả đã đạt đến cái chỗ thông tính (l’universel) rồi?
         Lúc còn học ở các lớp đầu của ban Cao tiểu, tôi đã học thuộc lòng bao nhiêu trang trong tập sách ấy.
         Ngày nay những lời “dã ca” bằng văn xuôi như các câu sau đây vẫn còn âm hưởng trong lòng tôi như tiếng sỏi dưới vó ngựa của cô con gái xinh đẹp của ông chủ trại vang dội trong tâm hồn si tình của anh chàng mục tử trong truyện “Les étoiles” (tập Contes du Lundi).
         …”Il faut vou dire qu’en Provence, c’est l’usage, quand viennent les chaleurs, d’envoyer le bétail dans les Alpes”…
         Đến đây, tôi chỉ còn xin phép chấm dứt bằng một lời:

                  Ôi! Gió Hành Sơn, mây Hải Vân!
                  Thu hồn lai láng vẻ thanh tân.
                  Trà Mi rừng quế xuân về đó
                  Muôn dặm chờ ai chén tẩy trần…

                  (Nam Xuyên)

         Bạn Ngu Í! Biết bao giờ tôi sống được những phút như Alphonse Daudet bên cạnh cái máy xay gió phong kiến mà thái bình của ông??


PHAN NGÔ

_____________________________
(1) Một số truyện trong tác phẩm trên đây đã được ông Lưu Bằng dịch trong một loại sách Song ngữ dưới cái nhan “Những cánh thư hè”, và hai ông Nguyễn Xuân Hiếu, Trần Mộng Chu cũng dịch một số đăng ở tuần báo “Rạng Đông” (Huế) dưới cái nhan: “Những lá thư hè”. (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)


BÁCH KHOA |  SỐ 64