Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 31991 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #345 vào: 14/09/2018, 23:37:05 »


Hồ Nam trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Tên thật là Lê Nguyên Ngư. Sanh tại Bắc Ninh năm 1930. Làm thơ, viết truyện, phê bình. Còn kí tên là Vương Tân khi làm thơ; khi viết báo cho các báo hằng ngày, anh lại kí: Trần Nam Thanh, Viết Tân.
            Từng làm chủ bút một tạp chí văn nghệ xuất bản tại Hà Nội năm 1954, tuần báo “Quê Hương”.
            Đã từng cộng tác với nhật báo “Phương Đông” (1953-54), các tạp chí Đời Mới, Người Việt, Sáng Tạo, Tân Kỷ Nguyên, Việt Chính…
            Hiện dạy học.


○ ○ ○

         I.– Biết thế nào là hay nhất và thích nhất. Nếu chỉ nói thích, thì tôi thích nhiều lắm, tôi thích những truyện ngắn của các tác giả hiện đại như Thanh Tâm Tuyền, Vũ Khắc Khoan, Duy Thanh (tôi nghĩ Duy Thanh là một trong những tác giả viết truyện ngắn có kỹ thuật siêu đẳng), những truyện ngắn Giấc ngủ, Cầu thang(1) của văn sĩ kiêm họa sĩ này, theo ý tôi, là một trong những giai tác hiếm có trên văn đàn Việt Nam, Vũ Hạnh tôi chỉ thích có mỗi một truyện Miếng thịt vịt(2) (của Vũ Hạnh, và chỉ một truyện này thôi).
         II.– Lý do khó nói quá. Mỗi tác giả có một không khí quyến rũ, mỗi ngòi bút có một sức truyền cảm riêng. Có lẽ tôi thích họ vì những tác giả này hợp với cảm quan của tôi, tại sao dân Việt ăn mắm tôm, dân Âu Mỹ thích ăn phó-mát, tôi ghét những chữ tại sao lắm.
         III.– Về vấn đề truyện ngắn ngoại quốc, thật quả tôi đọc rất ít, tôi thích các truyện của Lỗ Tấn (nhà văn Trung Hoa), nhất là truyện “Lễ chúc phước”, Tchékov (nhà văn Nga), Katherine Mansfield (nhà văn người Anh), O. Henry (nhà văn người Mỹ).
         IV.– Những nhà văn ấy mỗi người một vẻ. Lỗ Tấn làm tôi thấy đời thật buồn, cuộc sống đáng suy nghĩ, lịch sử phải làm lại, Tchékov khiến tôi thấy xã hội ngấy và tởm quá, mặt trái của con người thật mỉa mai và chua chát. Katherine Mansfield ngược lại cho tôi những phút ý vị, thoáng vui thoáng buồn… Đại khái là như thế […]


HỒ NAM

____________________________________________
(1) Giấc ngủ đăng trong “Sáng tạo” số xuân mậu tuất (1958), và Cầu thang, trong số 12, tháng 7-1958.
(2) Miếng thịt vịt đăng trong “Bách-Khoa” số 33, 15-5-1958. (Lời chú của Nguiễn Ngu Í)


BÁCH KHOA |  SỐ 63

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #346 vào: 15/09/2018, 22:16:34 »


                Không đề

TÔI chỉ muốn tình chúng ta như tình hai kẻ ấy:
Suzanna, Moritz, rất chân thành!
Đượm mùi hương từ thuở khai sinh,
Còn thơm mãi cho đến ngày đầu bạc!
… Người đã bước trăm nẻo đời loạn lạc,
Thịt khô, tim bỏng, môi nhạt, mắt lòa,
Địa ngục trần gian mấy độ tái tê da,
Hơn cái chết, đã biết thế nào là sống khổ.
Những hành xác làm con người thành vứt bỏ,
Những khối thịt mềm, ánh sáng lương tri xa,
Những đường gân không rung cảm nữa với roi, điện, cùm, tra,
Hơn cái chết, biết thế nào là nhục hình kẻ sống!
37 trại(1) cùm giam, suốt nửa đời tan hi vọng;
Trước mắt người, những hàng gai kẽm giăng giăng,
Những hình người chết ba phần, còn sống một, chỉ biết ăn,
Ngủ, và cúi xuống trong cái lò sát sinh vĩ đại,
Là Chiến tranh, là Hoang tàn, là Khổ ải!
… Đến bao giờ Người mới biết thương nhau?
Ôi? Đến bao giờ Người mới biết thương nhau?
… Thì qua mấy độ chết thừa sống thiếu,
Thèm khát đến một chút khí trời huyền diệu…
Thịt khô, tim bỏng, môi nhạt, mắt lòa,
Ngã từng thây, từng thây ngã, người ta
Bíu cái sống và rùng mình sợ sống!…
Nơi đây ngạt hơi người, ngoài kia trời lồng lộng…
Thì người được trở về đây, trong bóng mát gia đình!
Ôi! Sao lòng vẫn trinh! Sao tình cũ vẫn xinh!
… Người thiếu phụ ấy, hơn 10 năm lau lệ,
― Câu chuyện 10 năm, ai lòng nào kể.
Khóc khi chồng xa, khóc khi phải sống nuôi con,
Thân tưởng tàn trong cát bụi xô dồn:
Trong loạn lạc, con người, ôi vô nghĩa!
Thì người thiếu phụ ấy vẫn ủ trong lòng tia lửa,
Của Lòng tin, của Chờ đợi, của Thương yêu.
Ai có đo Lòng ấy rộng bao nhiêu!
… Cho đến hôm nay tan rời khói lửa,
Khi người trở về, tóc xanh còn đâu nữa!
Thế nhưng lòng vẫn trinh, và tình cũ vẫn xinh!

Tôi vẫn muốn tình đôi ta rồi cũng thế.
Nghĩa cuộc đời? Ai đã học chữ Thương?
Nhưng đã sinh làm người và hẹn kiếp uyên ương,
Thì hãy sống với mối tình thuở trẻ,
Và hãy chết với lòng không chia rẽ,
Như Suzanna, Moritz,(2) anh ơi,
Những quả tim đau, những quả tim người!


                                         PHƯỢNG HOA


_____________________________________
(1) Số 37 tượng trưng – Thật ra, mấy, tôi cũng không nhớ kỹ.
(2) Nhân vật trong tiểu thuyết: “Giờ thứ 25” (La 25è heure) của Gheorghiu.


BÁCH KHOA |  SỐ 63

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #347 vào: 16/09/2018, 22:54:33 »


                      Tuổi dại
                                   “Tôi lại mỉa mai rồi
                                   Sao mà buồn thế ấy”

                                                       H. C.


               Những chiều đi nhỏ lệ
               Những chiều mưa buồn không
               Bước chân hờn thế kỷ
               Xác xao về trong lòng.
                              ⟡
               Thế nhân hồn ô trọc
               Lệ nhỏ dòng thời gian
               Hơi thở đầy tội lỗi
               Nức nở mấy điệu đàn
                              ⟡
               Chân bước hoài đã mỏi
               Mắt trông chừng đã buồn
               Tôi quì trong bóng tối
               Mong người ban lòng Thương
                              ⟡
               Người tha thứ giùm tôi:
               Xin cúi đầu trả lại
               Này hoàng hôn sớm mai
               Này hoàng hôn tuổi dại


                                     59
                                     ĐINH CƯỜNG




BÁCH KHOA |  SỐ 63

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #348 vào: 17/09/2018, 11:45:01 »


                    Bước thời gian
                                               Hãy gieo cánh hồng
                                              Trên bước thời gian

                                       Semans de roses
                                       Les pas du temps.
                                              Gérard de Nerval

                   
                    I.– Nắng trưa

                    Hạnh phúc rất bao la
                    Nhịp đời xin bước chậm
                    Vườn cây ru nắng trưa
                    Long lanh vừng khói ấm.

                    Tôi đi trên đường nắng
                    Thương những buổi trưa vàng
                    Những bờ hoang xa vắng
                    Đôi tâm hồn lang thang…

                    Kiếm tìm trên lối ngõ
                    Bàn chân yêu thương qua
                    Rưng rưng màu ngói đỏ
                    Trời xanh ôm mái nhà.

                    Chòm hoa nghiêng với gió
                    Ngàn lá đang thời tươi
                    Rèm thưa buông cửa mở
                    Khung trời, làn mây trôi…

                    Tôi dồn trong tim nhỏ
                    Chim bướm của ngày xanh
                    Vườn trưa nghiêng nắng đỏ
                    Chim xa thương nhớ cành.

                    Bước đời tôi ghé lại
                    Trong cửa cấm nhà ai
                    Tình yêu không dám nói
                    Bâng khuâng nên thở dài.


                                     NGUYỄN THỊ HOÀNG



BÁCH KHOA |  SỐ 63

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #349 vào: 17/09/2018, 22:49:35 »


            Chiều mưa mau
                                          Gửi Lưu Kiếm

ANH nhớ em chiều nay đâu phải vì trời mưa mau
Anh nhớ em chiều nay đâu phải vì chuyện cau trầu
Anh nhớ em chiều nay đâu phải vì sao tất cả
Anh nhớ em chiều nay đâu phải có trước có sau
                             ○
Chiều nay mưa mau trên đường phố
Anh nhớ em chiều nay như người đi đầu dầu
Anh nhớ em chiều nay như những cô nàng sợ hư áo mới
Hối hả, rất nhiều… như không có mai sau
                             ○
Vì mai sau đâu phải là chiều nay
Có một người nhớ thương, nhớ thương lan tận đêm dài
Mai sau sợ có những chiều nắng ấm
Nắng ấm rồi biết đâu tình không phai?!
                             ○
Vì thế nên chiều nay anh vẫn thích mưa mau
Để còn mãi nhớ thương, còn mãi buổi ban đầu
Còn mãi những trinh nguyên, tuổi làm bằng ân ái
Còn mãi những chiều… những chiều thương nhớ nhau.


                                                                 ĐỖ TẤN



BÁCH KHOA |  SỐ 63

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #350 vào: 18/09/2018, 22:11:34 »


      Bóng, hương: xưa

TÌM em, anh về đây nhìn lại
Nhà ai xưa: lớp Mẫu giáo còn măng.
(Nhà thì trống, người thì không, mà tường thì nặng
Bao cỏ hoa chim cá thú hiền hiền)


Ai trả lại giùm tôi cô giáo nhỏ
Mà phấn son chưa đầy đọa mặt nghiêng nghiêng…

Tìm em, anh về đây thăm lại
Đình nhỏ kia: đai Nam bộ(1) náu thân hình.
(Ai xui gặp, và nào ai toan tính.
Chuyện trẻ con, bàn hiểu với lòng son)


Ai trả lại giùm tôi cô gái Quảng
Mà tóc ngay thơ thẩn lưng thon thon…

Tìm em, anh về đây, nhìn xuống
Dòng sông nao có hai kẻ kề nhau.
(Người trách nặng, người nghẹn ngào, tim rướm máu.
Lòng sông nay còn lưu lại một tình điên?)


Ai trả lại giùm tôi cô y tá
Mà ngón tay chẳng nhọn, nắm êm êm…

                               ●

Chín năm trời hai cuộc đời chung nước lửa,
Sáu năm trời, cách biệt tình thương thương…
Nay trở lại, tìm ai-không-còn-nữa,
Lòng hỏi lòng: ai mất một làn hương?


                            Giữa hai sông Trà và một sông Vệ,
                            Hè 1958

                            NGUIỄN NGU Í


_______________________________
(1) Đồng bào gọi tên một đài phát thanh thời kháng chiến (1946).


BÁCH KHOA |  SỐ 63

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #351 vào: 19/09/2018, 11:17:30 »


                      Chiều Pleiku

         RỒI những hoàng hôn mưa nhìn thành phố
         Nặng bước em về ngõ cũ mồ côi
         Bóng núi chênh vênh thông ngã ven đồi
         Mây vẫn tìm nhau theo ngàn viễn xứ
         Tình cũ ngày xưa sao mà tư lự
         Trong mắt em buồn phố lạnh đèn soi
         Mình biết thương ai mưa mãi mưa hoài
         Đường đi về đêm thơ sầu tăm tối
         Đường đi về đêm ngõ bùn lầy lội
         Em có nghe chiều lất phất mưa bay
         Có nghe đau thương nhỏ xuống tim này
         Thế Kỷ vòng quay kinh cầu nửa kiếp
         Trần thế làm sao u hoài oan nghiệp
         Để ý thơ buồn thương nhớ chiều nay
         Mắt biếc em đâu, mưa núi giăng đầy
         Bóng lẻ nhà ai đèn lu mới thắp
         Mình vẫn tìm nhau sao mà không gặp
         Mưa mãi xóa nhòa thành phố mồ côi

         Thành phố mồ côi ngày cũ đâu rồi
         Đường đi về đêm thơ sầu tăm tối
         Đường đi về đêm ngõ bùn lầy lội
         Em có nghe chiều lất phất mưa bay?


                                                Pleiku 1959
                                                KIM TUẤN




BÁCH KHOA |  SỐ 63

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #352 vào: 19/09/2018, 23:44:23 »


                           Gửi anh

            KHÔNG ở được nữa rồi, anh đã thấy
            Và vội vàng anh đã bỏ anh đi
            Anh đã ngó chúng tôi lần cuối
            Anh hiểu rằng chưa gặp gỡ một khi.
                                       ¤
            Trời đất lạnh anh nhìn quanh bốn phía
            Chỉ một người đi một nẻo ngu ngơ
            Anh đã thấy những mũi tên đời chĩa
            Vào giữa người, giữa ngực quả tim thơ.
                                       ¤
            Anh cho hết máu trong dòng chảy
            Để giờ đây anh ngó nước đầy vơi
            Bờ đâu bến? đâu hoa tình thắm giậy
            Đã ngưng màu xuân mới mộng đâu nơi?
                                       ¤
            Anh lặng lẽ vòng tay khoanh trên ngực
            Anh chỉ nhìn chìm lặng cõi xa xôi
            Anh không nói một lời trong một phút
            Mười mấy năm anh nói đã nhiều rồi.
                                       ¤
            Là thôi hết? Nghĩa là thôi đã hết
            Vỡ tan là mộng sóng giữa trùng khơi
            Cùng thế kỷ một ngày anh đã chết
            Để ngàn năm anh sống vẹn với đời.


                                                    BÙI GIÁNG



BÁCH KHOA |  SỐ 63

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #353 vào: 20/09/2018, 11:08:53 »
BÁCH KHOA |  SỐ 64  [1-9-1959 |  108 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Vấn đề phát triển kinh tế |  3-8
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ công xã nhân dân tại Trung Hoa Cộng sản [II] |  9-16
Bách-Khoa |  Thiện tâm, hảo ý |  16
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Học hành |  17
Nguyễn Hiến Lê |  Luật phát triển theo trôn ốc của trẻ, áp dụng vào sự dạy dỗ thiếu niên |  18-22
Bách-Khoa |  Đồ nam |  22
Nguyễn Thiếu Nguyên |  Tìm hiểu công cuộc sáng tạo của nghệ sĩ |  23-29
Bách-Khoa |  Đề-kiều-bi |  29
Nguyễn Văn Hầu |  Tài liệu lịch sử: Trần Văn Thành: một chiến sĩ Cách mạng Cần vương ít được các sử gia biết tới |  30-35
Cô Liêu |  Thanh niên và mặc cảm thời đại [II] |  36-41
Nguyễn Tiến Chiêu |  Tìm hiểu nguồn gốc Quan họ Bắc Ninh |  42-44
Nguyễn Văn Xuân |  Điểm sách: Hoa Đăng của Vũ Hoàng Chương |  45-52
Quảng cáo |  53-54
Phan Ngô |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  55-57
Nguyễn Vỹ |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  58-61
Quảng cáo |  62-64
Trần Nguyễn Anh Ca |  “Tôi đóng phim tại Pháp” |  65-66
Quảng cáo |  67-68
Lãng Ngâm Khách (dịch) |  Dịch thơ cổ Trung Hoa: Mộc Lan từ (thơ) \ Vô Danh Thị |  69-72
Hoàng Khanh |  Bài thơ của những kẻ không nhà (thơ) |  73
Mộng Tuyết |  Đốt sách (ký sự) [II] |  74-77
Đoàn Thêm |  Tao Đàn Mộng Ký |  78-81
Xuân Hiến |  Anh thợ nhà in (thơ) |  82-83
Trúc Anh |  Thầy trò nhà tôi… (nhật ký) |  84-99
Huy Trâm |  Chiều tỉnh lỵ (thơ) |  90
Trần Hà Trung |  Tình Bắc Nam (thơ) |  93
Nguyễn Thị Hoàng |  Bước thời gian – Chiều (thơ) |  95
Huy Lực |  Rừng… (thơ) |  97
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  100
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  101
Quảng cáo |  102-108


SAIGON |  1959




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #354 vào: 20/09/2018, 23:43:11 »


Phan Ngô trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Bút hiệu Ảo Giản. Sanh năm 1921 tại xóm Phần Kiều, dưới chân núi Chúa, phủ Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
            Năm 1943, đương học Luật ở trường Đại học Hànội, bỏ học để đi theo “Tiếng gọi Sinh viên” (Sau này là “Tiếng gọi Thanh niên”, và bây giờ là “Quốc ca”).
            – Dạy học, hoạt động chánh trị trong một đoàn thế Cách mạng dân tộc, bị tù, rồi dạy học, lại bị tù; từ 1955, giã từ sân khấu chánh trị để chuyên hẳn về giáo dục và văn hóa.
            – Từng chủ trương các cơ quan ngôn luận: Sóng Mới, Duy Sinh, Dân Đen ở Huế (1947-48-49), và cộng tác với các tờ báo giáo dục Việt Nam: Giáo Khoa tập san, Khuyến Học, Chuyên Cần ở Sàigòn (1953, 1959).
            – Hiện là hiệu trưởng trung-tiểu học tư thục Tân Phương ở Giađịnh.
            – Soạn giả sách giáo khoa: Việt Nam tân văn hợp tuyển (cùng soạn với Huỳnh Hòa, 1949), bộ Giảng văn cho bậc Trung học đệ nhất cấp (1953-1956), Nghị luận luân lý (3 tập, 1952-1957).
            Tác giả các vở kịch thơ lịch sử và giáo dục: Lệnh Thầy (1954), Người giữ ngựa (1955), Ăn cỗ đầu người (1956), Lời thề đền Hùng (1957), Khúc hát Ngày mai (1959).


○ ○ ○

         Bạn Ngu Í,
         Tôi tin chắc không có một cuộc phỏng vấn nào “dày vò” người lại phỏng vấn lâu dài bằng “cuộc phỏng vấn văn nghệ” do bạn phụ trách cho “Bách-Khoa”. Từ ngày nhận được những câu phỏng vấn, năm tháng đã trôi qua với hàng chục số “Bách-Khoa”… Tôi tưởng các vị tài danh đã có bài nói hết, nói quá đầy đủ, thì bạn và nhà báo “miễn dịch” cho hạng tôi…
         Nhưng mà nghề nghiệp khiến bạn thường gặp tôi hơn ai hết trong số các “bị phỏng vấn gia”, thành chẳng lẽ “khất nợ” với “Bách-Khoa” hoài, nên dầu dài ngắn dở hay, cũng phải có phần đóng góp.
         Phân trần với bạn cũng khá rồi, giờ xin vào đề vậy.
          […] Tôi không phải là một nhà phê bình văn học. Tôi lại vốn không ưa tiểu thuyết dầu ngắn, dầu dài. Nói thể chắc có người chỉ biết những sách giáo khoa về loại giảng văn của tôi đã soạn mà chưa hề “biết tôi”, sẽ cho là vô lý hay kém thành thật. – Trích nhiều và đủ các văn gia như thế thì không đọc làm sao được? – Thưa tôi đọc, đọc khá nhiều, nhưng không hề đọc theo lối thông thường của độc giả tìm thú vui, hay của nhà phê bình tỉ mỉ. Tôi đọc như cánh bướm lướt vườn hoa. Bướm đã dừng cánh trên biết bao nhiêu đóa, đã hút bao nhiêu thứ nhụy! Nhưng nếu có ai hỏi bướm thích hoa nào thì bướm làm sao mà trả lời? Hằng ngày bướm sống bằng nhụy hoa. Hằng ngày tôi đem những tinh hoa lượm lặt được ra giảng dạy, phê bình cho học sinh nghe. Bây giờ hỏi tôi thích “truyện ngắn” nào thì thật là khó lòng mà trả lời.
         Đó là những cảm tưởng và cũng là những lúng túng đầy dốt nát của tôi khi phải đáp lại cuộc phỏng vấn của “Bách-Khoa”.
         Và đó cũng là cách trả lời thành thật nhất của tôi trong hiện tại. Tuy nhiên, nếu phải ép thì tôi sẽ kể lại một câu chuyện, một kỷ niệm không xa xôi lắm: Mùa hè năm ngoái, tôi có hân hạnh tham gia ủy ban cải tổ chương trình Trung học. Ủy ban sơ bộ chúng tôi có nhiệm vụ phác họa những nguyên tắc căn bản của nền Giáo dục Việt Nam. Sau đó ba nguyên tắc: Nhân bản, Dân tộc, Khai phóng đã được Đại hội thừa nhận với bản chương trình dự thảo…
         Công cuộc khẩn hoang bắt đầu trong giáo dục lâu nay không có cứu cánh, – tôi có cảm tưởng như vậy, hay mơ ước như thế. Giữa những ngày tôi sống với cảm tưởng hay mơ ước đó thì tôi được đọc một truyện đăng trong Bách-Khoa số 36, ngày 1-7-58. Đó là chuyện “Rừng mắm” của Bình Nguyên Lộc.
         Trong truyện ngắn nầy, tác giả kể lại cuộc đời lam lũ, cần cù, kiên nhẫn, tự lập và đầy tin tưởng ở sức người của một gia đình nông dân vì quá nghèo, không có một tấc đất cắm dùi, đành phải rời bỏ làng xóm, mồ mả tổ tiên di cư đến một nơi bùn lầy nước đọng hoang vu với rừng tràm trầm thủy mênh mông, đó là U Minh. Gia đình đó chỉ gồm có một ông nội già mà tuổi tác tượng trưng cho kinh lịch dồi dào và sức bền dẻo; hai vợ chồng và một đứa con trai duy nhất tuổi độ 13, 14 với cái tên hơi man rợ: thằng Cộc. Họ rời bỏ Sa Đéc đến U Minh để đốt rừng tràm, chinh phục thiên nhiên, khẩn hoang thành ruộng rẫy. Họ tin rằng mồ hôi của họ sẽ thấm nhuần đồng chua nước mặn để biến nó thành nước ngọt đất lành, thôn xóm sầm uất vui vẻ… Họ là những lớp người tiên phong mở sinh lộ cho cả một dân tộc ngột thở vì nạn nhân mãn nên: phải Nam tiến.
         (Đến đây tôi muốn trích độ hai mươi dòng, đoạn ông cháu thằng Cộc nói về hai loại cây mắm, cây tràm, nhưng e lạm dùng lòng tốt của “Bách-Khoa”, nên phiền bạn đọc xem lại truyện nầy.)
         Câu chuyện “Rừng mắm” mang một ý nghĩa tượng trưng.
         Ý nghĩa đó làm cho tôi thích thú trong những ngày mà tôi cảm thấy mình là một cây tràm, nhỏ bé trong cái rừng tràm trầm thủy tức là nền Giáo dục của nước ta hiện nay vậy.
         ― Hãy đốt đi hỡi gia đình thằng Cộc! Hãy can đảm và kiên nhẫn đốt phá rừng tràm kia để khai khẩn thành ruộng đất màu mỡ cho cây Văn hiến bốn nghìn năm khỏi già cỗi…

                  “Ta quyết làm ngọn nến trên bàn thờ
                  Đốt cho Ngươi! Hỡi tiếng của Nguyễn Du!
                  Của Đoàn Thị Điểm, Thanh Quan, Công Trứ!
                  Dầu phải cháy, phải mòn, ta vẫn cứ
                  Để thân tàn cho bọn Trẻ mến Ngươi!

                  (Ảo Giản, trích: Hồn thiêng tiếng Mẹ)

         … Tôi thiết tưởng đã thỏa mãn 50% cuộc phỏng vấn, tức là về phương diện “quốc gia”.
         Còn phương diện “quốc tế’ nữa! Rắc rối quá! Tôi nguyện sẽ rất vắn tắt, sẽ rất “cán mai” (dốt đặc cán mai).
         Tôi sẽ trả lời như một học sinh, mặc dầu tôi mang tiếng… giáo sư.
         ― Dạ thưa tôi chỉ biết thích có tập “Lettres de mon Moulin”(1) của Alphonse Daudet ạ!
         ― Vì những lẽ gì?
         ― Dạ thưa vì văn từ của ông thật là thuần túy, ý nhị, lắm khi thi vị. Còn nội dung thì nhuốm đầy màu sắc đất nước; mặc dầu đó là đất nước của ông, nhưng sao tôi vẫn cứ cảm như trước những cảnh trí của non sông xứ ở mình. Hay là tác giả đã đạt đến cái chỗ thông tính (l’universel) rồi?
         Lúc còn học ở các lớp đầu của ban Cao tiểu, tôi đã học thuộc lòng bao nhiêu trang trong tập sách ấy.
         Ngày nay những lời “dã ca” bằng văn xuôi như các câu sau đây vẫn còn âm hưởng trong lòng tôi như tiếng sỏi dưới vó ngựa của cô con gái xinh đẹp của ông chủ trại vang dội trong tâm hồn si tình của anh chàng mục tử trong truyện “Les étoiles” (tập Contes du Lundi).
         …”Il faut vou dire qu’en Provence, c’est l’usage, quand viennent les chaleurs, d’envoyer le bétail dans les Alpes”…
         Đến đây, tôi chỉ còn xin phép chấm dứt bằng một lời:

                  Ôi! Gió Hành Sơn, mây Hải Vân!
                  Thu hồn lai láng vẻ thanh tân.
                  Trà Mi rừng quế xuân về đó
                  Muôn dặm chờ ai chén tẩy trần…

                  (Nam Xuyên)

         Bạn Ngu Í! Biết bao giờ tôi sống được những phút như Alphonse Daudet bên cạnh cái máy xay gió phong kiến mà thái bình của ông??


PHAN NGÔ

_____________________________
(1) Một số truyện trong tác phẩm trên đây đã được ông Lưu Bằng dịch trong một loại sách Song ngữ dưới cái nhan “Những cánh thư hè”, và hai ông Nguyễn Xuân Hiếu, Trần Mộng Chu cũng dịch một số đăng ở tuần báo “Rạng Đông” (Huế) dưới cái nhan: “Những lá thư hè”. (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)


BÁCH KHOA |  SỐ 64

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #355 vào: 22/09/2018, 11:33:28 »


Nguyễn Vỹ trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Sanh năm 1912 (trong “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh và Hoài Chân ghi năm 1910, theo ông Nguyễn Vỹ là sai) tại Phổ Phong (Đức Phổ, Quảng Ngãi).
            Giáo sư Trung học, nhà báo, nhà viết tiểu thuyết, nhà thơ (chủ trương trường thơ “Bạch Nga”).
            Trước 1945, đã viết các báo: Ami du peuple, Le Cygne, Văn Học tạp chí 1935, Hànội báo, Phụ Nữ. Từ 1945, chủ trương báo Tổ Quốc (1945), Dân Chủ (ở Đàlạt, 1948-50), Phổ Thông (1952-53, rồi 1958…), Dân Ta (1945), Bông Lúa (1957-58).
            Đã xuất bản: Tập thơ đầu (1934), Grandenrs et servitudes de Nguyễn Văn Nguyên (Những cái vinh và nhục của người dân quê nước Việt) (1931), Đứa con hoang (1938), Người yêu của Hoàng thượng (1938), Thi sĩ Kỳ Phong (kí, Lệ Chi, 1939), Chiếc bóng (1941), Kẻ thù là Nhật Bản (1941). Đứng trước thảm kịch Pháp-Việt (1946), Hai thiêng liêng, Chiếc áo cưới màu hồng, Dây bí rợ (1957).


○ ○ ○

ANH THUỘC VỀ số người bận rộn nhất! Nhà báo, nhà văn, nhà thơ, lại kiêm chủ một tờ tạp chí: tạp chí Phổ Thông, kiêm luôn chủ một nhà xuất bản: nhà xuất bản Dân Ta. Nên chi gặp được anh, là tôi đã mừng rồi, và vội vàng tay đưa, miệng nói. Anh sửa lại cặp kính, đọc. Đọc chưa hết tờ nêu lí do cuộc phỏng vấn và mấy câu hỏi, anh nhè nhẹ lắc đầu:
         ― Tôi chịu thôi.
         ― Sao vậy anh?
         ― Phải nhớ lại, phải xem lại… Tốn nhiều thì giờ. Mà tôi thì như anh thấy…
         Tôi cười: “Tôi chẳng những thấy mà còn nghe, còn biết nữa. Anh bận rộn lắm. Nhưng xem lại, lớp anh em sáng tác đứng tuổi, nhiều kinh nghiệm như anh Nhất Linh, như anh, mà giờ cũng vẫn đeo đuổi cái nghiệp văn chương, còn được mấy? Anh chẳng cho chút ý kiến gì, thì…”
         Anh mỉm cười: “Thì anh cứ để bài phỏng vấn lại đây. Nhưng tôi không hứa gì với “Bách-Khoa” đâu nhé”.
         Nửa tháng sau, lại tìm anh, và cũng may mắn, được gặp anh. Tôi nhắc lại. Anh như mơ màng.
         ― Truyện nước mình, thì đến giờ tôi chưa thấy có truyện nào làm tôi thích nhất. Còn truyện nước người, tôi nhớ có đọc mấy truyện của Đan Mạch, lấy làm thú. Anh đừng hỏi tên truyện hay tên tác giả, tôi hiện quên mất.
         Hiện giờ anh quên mất, nhưng biết đâu một tháng sau, anh nhớ. Vả lại, bắt chước chàng Lưu…, Lưu Bị, tôi cho mình một nguyên tắc: phải “ba lần” đến quấy rầy những vị, những bạn “bị” phỏng vấn để công việc mình đảm nhận, may chăng còn lưu lại chút gì.
         Một tháng sau tôi lại tìm đến nhà văn miền Trung, mà hoạt động văn nghệ hết ở miền Bắc, tới ở miền Nam này, và lần này là lần thứ ba.
         Lầu sau cùng này, vừa bước chân vào tòa soạn là tôi e “rồi ta cũng chẳng nước non gì”. Vì anh đang chăm chú vào cái bìa báo Phổ Thông vừa in thử. Và câu chuyện mở đầu là những lời than phiền của anh về bao cái đắng cay bực dọc của nghề làm báo, xưa cũng như nay. Tôi càng thấy cái “e” trên kia hẳn thành cái “chắc”. Nhưng đã liều đến hai lần, thì còn tiếc chi mà chẳng liều thêm lần nữa. Tôi nhờ anh xem lại những lời tôi ghi lại hai lần quấy rầy anh. Anh xin chữa lại một chữ trong bài, và cười cười đọc lên câu chót:
         “Và lần này là lần thứ ba…”
         ― Anh cố nhớ giùm một tác giả, hay một tên truyện Đan Mạch mà anh thích…
         ― Thật ra, chỉ có một tác giả, và chỉ có một tên truyện thôi, nhưng mà tôi lại không thể nhớ được mới khổ cho anh chớ!
         Nỗi ngạc nhiên chưa biến trong mắt tôi, thì anh tiếp:
         “Và mới khổ cho tôi nữa chớ!”
         Linh tính báo cho tôi biết sắp có chuyện huyền diệu, diệu huyền gì đây, nên tôi ngại “bước đi sẽ đứt, động hờ sẽ tiêu”, bèn ngồi im như ông… thánh Đồng đen và câm miệng như con cá chép. Quả nhiên, có sự lạ:
         ― Anh để thủng thẳng cho, họa may tôi nhớ lại cốt chuyện. Từ bây giờ, tôi buộc tôi phải nhớ, biết đâu…
         Anh bỏ lửng, nhưng ai là người chẳng thể nối đuôi:
         “Biết đâu… Hợp phố mà mong châu về”.
         Thì thôi vậy. Để khi nào người chủ trương trường thơ Bạch Nga biết, hãy hay. Giờ, thì cùng ai bàn chuyện phiếm đầu Ngô mình Sở vậy: bài thơ họa bài “Mắng Tết Kỉ Hợi” bị kiểm duyệt này, bài thơ “Gởi Trương Tửu” không đúng nguyên tắc này, thái độ “không đẹp” của tác giả “Thi nhân Việt Nam” đối với tác giả bài thơ “Sương rơi” này, bài anh sắp trả lời cho Hoài Thanh này… Nhưng đường đã rộn ràng xe cộ, cô thư kí đã sắp xong giấy tờ, bài vở, đậy bàn đánh máy.
         Còn nước non gì mà chẳng đứng dậy, rồi đi? Thì, huyền diệu thay, ông Thần phỏng vấn bỗng mở miệng tôi:
         “Anh cố nhớ giùm cốt chuyện Đan Mạch đó nhá! Biết đâu rồi chẳng có một bạn sinh viên Việt nào ở hải ngoại, hay nhân viên tòa lãnh sự Đan Mạch ở đây, tình cờ đọc được cốt chuyện ấy, lại biết ngay truyện ấy tên gì, của ai, và cho chúng ta hay. Anh có tin rằng trong giới văn chương, có lắm cái bất ngờ li kì và thú vị hơn trong tiểu thuyết không?…”
         Anh khe khẽ gật đầu, và cái “nước non” chờ đợi ấy đến.
         ― Thú thật với anh rằng khi anh hỏi truyện ngắn quốc tế nào tôi thích nhất, là tôi có thể trả lời anh ngay, mặc dầu tôi không biết tên tác giả cùng tên truyện. Tôi đã chẳng nói thật với anh là để coi anh có thiết tha đến điều đó không. Giờ, thì đã có bằng chứng rồi, tôi xin nói rõ, kẻo anh lại cho rằng anh chàng Nguyễn Vỹ cứ ỡm ờ.
          “Anh cho tôi dài dòng một chút. Từ 1940 đến 1945, tôi bị chánh phủ Pháp bắt đi an trí cùng một số trí thức, nhà văn khác. Các “ông nước mẹ” ấy lo xa vậy mà. Vì Nhật đã vào Đông Dương rồi. Tôi bị nhốt ở trại giam Trà Khê, thuộc tỉnh Phú Yên. À này, anh có ở tù lần nào chưa?”
         Tôi chỉ cười, không đáp. Thế mà chẳng biết sao, anh nói: “Vậy thì anh dễ hiểu tôi lắm. Trại giam gồm những cán bộ Cộng sản, anh em Cao Đài và một số không đảng phái, không tôn giáo, trong số này, có tôi. Và vì tôi chơi với tất cả mọi người, thẳng thắn và vui vẻ, nên được hai phe “bất cọng đái thiên” nói trên bầu làm đại diện. Và nhờ thế, tôi tương đối hưởng được tự do hơn anh em. Một hôm, tôi được lão trưởng đồn Pháp cắt đi chăn bò. Một tên lính Mọi coi chúng tôi. Tên lính này lại học chữ Tây với tôi, nên hắn vô cùng dễ dãi. Để bầy bò tự do ăn cỏ, tôi ngồi chơi dưới một gốc cây, thì bỗng thấy một tờ nhật trình. Anh dư biết lúc mình ở tù, bắt được một tờ nhật trình, sung sướng bết bao. Đó là một tờ báo Pháp, một tờ báo hằng ngày, bị rách nhiều nơi và dính bơ lắm chỗ. Tờ báo này, tên trưởng đồn đã xem xong, lấy gói bơ, phó-mát, rồi chẳng biết ai vứt nơi đây. Tôi như vớ được vàng. Ngồi đọc chẳng sót một chữ. Một truyện làm tôi cảm động vô ngần. Tôi xin kể sơ cốt chuyện:
         ― Một chàng trai nọ, có chút tâm sự gì đó, thường la cà các hộp đêm. Để nghe, để nhìn hơn là để nhảy, để uống. Một đêm kia, chàng ta sung sướng đến cực độ. Chàng vừa thấy một thiếu nữ đẹp như chàng hằng mơ tưởng, mà bấy lâu nay, chàng cố tìm, nhưng đã luống công; khi sắp tuyệt vọng, thì lại gặp nàng, đêm ấy. Chàng tìm cách làm quen, rồi gợi chuyện. Người đẹp im lặng nghe chàng nói, nhưng trong khóe mắt, trong làn môi, trong cử chỉ kín đáo, tỏ ra có cảm tình với chàng. Lạ một điều, là chàng nói, chàng kể, chàng hỏi…, mà nàng thì cứ làm thinh, nghe, chăm chú nghe, và cười nụ. Chàng ngạc nhiên, rồi chàng đau khổ, rồi chàng tức bực. Tức bực đến một hôm, đón nàng giữa đường, chàng cật vấn, chàng van nài, chàng hùng hổ nữa! Lần này, người đẹp không mỉm cười như trước, mà nghẹn ngào, mà tức tưởi, rồi ôm mặt, khóc. Chàng chưa hết ngạc nhiên thì nàng đã vụt chạy biến mất. Chàng ngơ ngác, như người lạc mất Thiên đường, để rồi hôm sau, nhận được bức thư đầu tiên và cũng là cuối cùng của người đẹp trong mơ hiện giữa cõi đời, trong khoảng khắc. Đại khái:
         “Anh được thư này, là em xa anh mãi mãi. Đừng tìm kiếm em, vô ích. Không nghe anh được, nhưng em biết rằng anh yêu em, thiết tha và chân thành. Không trả lời anh được, nhưng em yêu anh với tất cả tâm hồn. Vì, anh ơi! Em điếc, em câm”.
         Im lặng một chặp, tôi mới hỏi anh:
         ― Anh còn nhớ lúc ấy, một ngàn chín trăm bốn mươi mấy chăng?
         ― Còn nhớ, anh à, 1943.
         ― Còn tên tờ báo, tên truyện, và tên tác giả?
         ― Rủi lại mất những cái đó. Tôi mà biết đó là truyện Đan Mạch, là nhờ ở chót, có mấy chữ “Dịch truyện Đan Mạch”.
         Anh trầm ngâm một hồi.
         ― Tối lại, tôi kể cho một bạn nằm gần, anh ta cũng lấy làm thích lắm. Tôi càng thích truyện ấy, là vì giọng kể là giọng tâm tình; người viết phải sống trong cuộc mới có giọng văn bi thiết và cảm động như thế. Trước kia, tôi đã chứng kiến một cuộc tình duyên não nuột của Nguyễn Nhược Pháp, có chỗ giống như truyện này; cuộc tình duyên của Nhược Pháp, đã đăng “Phổ Thông”. Thuở thiếu thời, lúc học ở Qui Nhơn, tôi đã sống một cuộc tình duyên gần như thế: người tôi tỏ tình tha thiết, lại cứ một mực làm thinh, tai lắng nghe, mắt ngời sáng, mà chân cứ bước đi… tôi đã ngờ nàng câm…
         Rồi anh kể sơ câu chuyện tình thời đôi chín ấy.
         Tôi hỏi: “Anh có định viết chuyện anh chăng?”
         ― Không, anh à. Chẳng phải tôi ngại ai bảo tôi ăn cắp cốt chuyện người ta, mà là vì tôi muốn nhà văn Đan Mạch mà tôi chẳng được may mắn biết tên kia, tôi muốn nhà văn Đan Mạch ấy hưởng toàn vẹn sự độc đáo của sáng tác mình, còn tôi, tôi lại muốn hưởng trọn vẹn cái thích thú được gặp người đồng điệu, mà chỉ riêng mình mình biết.
         ― Thế thì, sở dĩ anh thích truyện Đan Mạch trên là vì…
         ― Anh đoán đúng. Anh có nghĩ như tôi không? Một truyện mình cho hay, mình thích, ngoài cái hình thức nó phải ra sao, ngoài cái nội dung nó như thế nào, còn có cái gì hợp với ta, giống ta, gợi lại trong ta bao nỗi, bao niềm… Phần chủ quan đóng vai trọng yếu, có phải thế không anh?


NGUIỄN NGU Í thuật lại


BÁCH KHOA |  SỐ 64

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #356 vào: 23/09/2018, 12:06:53 »


      Bài thơ của những kẻ không nhà

      CÓ một đêm
      Tôi nằm cô đơn ngoài nội cỏ
      Ánh sao mờ lạc hướng bơ vơ
      Tôi tưởng về bên bếp lửa năm xưa
      Mà ánh mắt nhìn tôi âu yếm lắm
      Khoác áo phong trần đường đi ngàn dậm
      Bước chân sầu hun hút những đường xa
      Chiều cuối đông sương lạnh vẫn không nhà
      Khói thuốc quyện những ngày hoa mộng cũ
      Tôi mộng về bến sông xanh tình tự
      Cung đàn xưa vẫn nức nở vơi đầy
      Nụ môi hồng và mắt biếc thơ ngây
      Là bia đá trên đài kỷ niệm
      Tôi quỳ xuống trong đêm hoang sơ cầu nguyện
      Được trở về đường cũ cỏ thơm non
      Đi giữa mùa xuân mây trắng dắt linh hồn
      Tôi e lệ cõi lòng nguyên thơ dại
      Rất cảm động bởi những lời mừng tuổi
      Lòng vội vàng nở đón vạn tình xuân
      Tôi ân cần nắm chặt những ái ân
      Mà hơi thở dồn căng lồng ngực
      Tôi tìm đến hội hoa xuân nô nức
      Những người Anh những người Mẹ thân yêu
      Những người Em bé nhỏ yêu kiều
      Để tâm sự những Sông Hồ rộng lớn
      Những bước đi dài, hành trang rất gọn
      Mà tâm tư thì thương nhớ rất nhiều
      Tôi vẫn mơ về bên bếp lửa thân yêu
      Lời du tử vẫn là lời ước hẹn
      Tôi nhìn sao thưa mộng về len lén
      Với người Em bé nhỏ thân yêu
      Với Mẹ hiền chờ đợi sớm chiều.


                                   HOÀNG KHANH



BÁCH KHOA |  SỐ 64

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #357 vào: 23/09/2018, 23:27:49 »


                  Anh thợ nhà in

         SUỐT năm trời tôi sống bên các anh
         Những con người luôn luôn âm thầm
         Bên giàn chữ cỡ to và cỡ nhỏ
         Có những em vừa rời trường lìa sách vở
         Cố lần tìm từng hộc chữ ô vuông
         Những mái đầu xanh còn khao khát yêu thương
         Sớm cằn cỗi vì cha già em dại
         Trước trang bài em đăm chiêu ít nói
         Từng tờ in, từng ngày tháng trôi mau
         Những cụ già sương đã điểm mái đầu
         Trễ cặp kính miệng đọc thầm từng chữ
         Tôi đã vui khi bài trao đầy đủ
         Tôi đã lo khi thiếu chữ, thừa khuôn
         Bên các anh tôi sống những đêm buồn
         Nghe tiếng máy đều đều trong vắng lặng
         Anh đã hiểu thế nào là cay đắng
         Của cuộc đời khi tính toán thành trang
         Những mầu tươi những nét chữ hiên ngang
         Đâu nói được tấm lòng anh sắp chữ
         Mộng của anh: lo bài sao có đủ
         Chữ dư dùng, tác giả chớ bôi lem
         Bài xong rồi đừng dồn xuống đưa lên
        “Bông” mang xuống kịp giờ cho máy chạy
         Đơn giản quá cả mộng lòng anh đấy
         Và tình anh tôi thấy ở từng trang:
         Chỗ này đây mồ hôi anh nhỏ từng hàng
         Cố gọt lại những dấu ô, dấu ă
         Dòng chữ đứng kia đổi thành chữ ngả
         Bản kẽm này cần phải dán thêm lên
         Mầu mực tươi, mùi giấy mới, ngọn đèn đêm
         Máy đều đặn nhịp theo tim anh đập
                                    ●
         Báo đã xong, giấy nõn nà từng xấp
         Chờ đóng bìa, ôi tờ báo thân yêu
         Sẽ ra đi trong nắng sớm sương chiều
         Nơi khuê các hay bùn lầy tăm tối
         Giấy vô tri như vang lên tiếng nói
         Trong mầu đen tôi đọc thấy tình anh
         Qua từng trang, tôi thấy rụng mầu xanh
         Của tuổi trẻ say mê cùng nghề nghiệp
         Trả nợ dâu tằm kia mong trọn kiếp
         Người đọc đâu có biết tới công anh
         Khi đèn mầu soi sáng khắp đô thành
         Đời nhung lụa tôi thương anh biết mấy
         Và lòng tôi, nghe vang lên tiếng máy…


                                               XUÂN HIẾN



BÁCH KHOA |  SỐ 64

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #358 vào: 24/09/2018, 11:51:13 »


                Chiều tỉnh lỵ

            CÔN trùng than dưới cỏ
            Con đường đá mờ dần
            Người lê đôi guốc gỗ
            Chiều tỉnh lỵ rỗng không
                             ¤
            Ngàn thương nhớ bâng quơ
            Lên không gian mờ mịt
            Tiếng hát buồn vu vơ
            Đưa lòng bay xa tít
                             ¤
            Từng mái tranh le lói
            Đèn không sáng âm u
            Nỗi eo sèo chẳng nói
            Sầu ngưng thành lao tù
                             ¤
            Người ngồi trong bóng tối
            Khe khẽ giọng kinh cầu
            Sao lên ngày hấp hối
            Buồn tan trong đêm sâu
                             ¤
            Ôi! Những chiều tỉnh lỵ
            Năm tháng dài hoang liêu
            Đời đời không biến đổi
            Như thành phố tiêu điều.


                                     HUY TRÂM



BÁCH KHOA |  SỐ 64

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #359 vào: 25/09/2018, 11:37:00 »


             Tình Bắc Nam

            ANH là người xứ bắc
            Em là người miền Nam
            Một chiều nghe tiếng hát
            Mòn mỏi anh đi tìm.
                            ○
            Tìm mãi tới xóm Tây
            Không người em tiếng hát
            Khói sầu dâng man mác
            Em miền Nam thơ ngây!
                            ○
            Tìm mãi sang xóm Đông
            Có người em áo hồng
            Lẳng lơ đưa tiếng hát
            Cuồn cuộn sóng dòng sông.
                            ○
            Hàng tre cao vi vút
            Hàng dừa ngả thướt tha
            Phải người em tiếng hát
            Lòng anh dường đê mê.
                            ○
            Ngàn ngày qua bên ấy
            Chiều chiều sóng dòng sông
            Đôi ta tìm nhau thấy
            Âm ấm tình đôi lòng.
                            ○
            Đôi ta cùng thệ ước
            Cuối năm trời trăng tròn
            Em về bên xóm Bắc
            Cho tình thêm mặn nồng.
                            ○
            Đôi ta ở với nhau
            Son sắt đẹp cơi trầu
            Ngày kia đàn con nhỏ
            Vui cảnh đời khổ đau.


                               TRẦN HÀ TRUNG



BÁCH KHOA |  SỐ 64