Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 34076 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #420 vào: 06/11/2018, 22:57:42 »


Cô Trúc Liên trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Tên thật: Võ Thị Tuất.
            Sanh năm 1929 ở Tân Hưng (Sađéc).
            Nhập tịch làng văn, làng báo từ năm 1948.
            Làm thơ, viết truyện dài, truyện ngắn.
            Cộng tác với các báo: Mùa Gặt Mới (Huế), Tín Điển, Tiếng Chuông, Tuần san Phòng Thương Mại, Nhân Loại, Cách Mạng quốc gia, Giáo Dục phổ thông, Phổ Thông, Vui sống…


○ ○ ○

[…] THEO TÔI, văn nhân nước Việt ta rất thành công trong truyện ngắn, từ những truyện có cốt truyện đến những truyện không có gì cả; chỉ một mảnh đời vụn vặt, chỉ một tâm trạng gút mắt, thế mà nhiều lúc tôi say sưa, thích thú y như khi đọc tác phẩm của những văn hào tiếng tăm thế giới.
         Có lẽ anh không thấy mấy hài lòng câu trả lời của tôi. Thật sự, khi cầm bút, tôi cũng định nhắc lại một truyện đang thích, nhưng cùng lúc, bỗng dưng dồn dập đến trong đầu tôi bao nhiêu truyện khác, cuối cùng tôi đâm lúng túng trước sự lựa chọn quá khó khăn ấy.
         Biết làm sao, tôi chỉ là một kẻ đứng trước khu vườn đẹp, nhìn trăm hoa đua nở, tay muốn ngắt một đóa, nhưng lại tiếc rẻ bao nhiêu đóa khác cũng mặn mà hương sắc, đành không hái đóa hoa nào, như thế có lẽ hơn, phải không anh?
         Riêng về truyện ngắn nước người, lại càng khó hơn nữa, anh ạ. Tôi đọc Somerset Maugham, Vicky Baum, Giovanni Gunreschi, André Maurois và nhiều nhà văn quốc tế khác, mỗi người đều có một lối diễn tả riêng, một quan niệm đời sống riêng, có người hợp với tôi về văn chương, người khác lại hợp về tư tưởng hoặc về tình cảm. Có thể nói mỗi truyện đọc qua đều không nhiều cũng ít để lại lòng tôi một chút gì lưu luyến. Thế mà hôm nay, dù có moi óc để tìm một trong những truyện cũ thì cốt truyện quên mất, tư tưởng hay cũng phôi pha, còn chăng chỉ một thoáng đẹp, dư vị của cái thích lúc bấy giờ mà thôi.
         Vậy tôi chỉ xin nhắc lại một truyện mới nhất tôi vừa đọc nhưng rất thích: “Les hommes de dix-huit ans” của Darig Ollivro.
         Chuyện xảy ra trong một trường Da-Tô giáo.
         Một buổi sáng, vừa đến trường, cha Cadic cởi áo ngoài, lấy nón xuống để máng lên móc. Tình cờ mắt ông đưa đến một vật gì trăng trắng nép sau vòng da bên trong nón, ông tò mò dở ra thì là một bức thư tình của một nam sinh viên gửi cho một nữ sinh trường kế cận. Thì ra từ lâu rồi, cô cậu dùng chiếc nón đáng kính của ông làm hộp thơ để trao đổi những mảnh tình vụn vặt. Từ ngạc nhiên qua giận dữ, ông định làm to chuyện. Nhưng qua lúc suy nghĩ, ông lại để yên xếp trả bức thơ vào chỗ cũ, một vì lòng tò mò muốn hiểu thêm tuổi trẻ, hai vì thấy trong thơ toàn những lời đứng đắn, không vượt ra ngoài lễ giáo. Từ đấy ông phiêu lưu theo mối tình của đôi thanh thiếu niên ấy.
         “Tous les jours, Saint-Yves crivail à la Providence; tous les jours, la Providence répondait à Saint-Yves, et le vénérable chapeau se remplissait de soupris ennuyés, d’admonestations vigoureuses, de confidences attendries et de millions de bisers”.(1)
         Đến một hôm, hai trẻ bỗng giận nhau vì ganh đua sự học: qua những ngày dài dằng dặc, ông băn khoăn lo nghĩ, chờ đợi bức thơ xin lỗi, nhưng tuổi trẻ hiếu thắng, không ai chịu nhường ai, ngày nào chiếc nón cũng rỗng không và mỗi lúc tan học ông lại tất tả đi xuống phòng máng áo, móc gần rách vành nón, vẫn không có gì. Nhìn đôi mắt trẻ thơ héo dần, lòng ông càng buồn hơn mỗi khi cầm chiếc nón.
         “Cependant, sur le chemin de la Providene, le chanoine Cadic promenait avectristesse son vénérable chapeau, ce vénérable chapeau que parfunait jadis toute la grâce des printemps et qui n’était plus qu’un couvre-chef pareil à tous les autres couvrechef, sans joie ni tré sor secret”.(2)
         Một cốt truyện nhẹ nhàng, đọc xong thấy lòng vui lên theo cuộc tình duyên thơ dại và buồn cười nỗi băn khoăn của một người đã thoát tục, bắt buộc phải dùng mưu chước để cho đôi trẻ làm lành với nhau. Ông âm thầm không cho chúng biết một bàn tay thứ ba đã gián tiếp giúp vào, để rồi mấy năm sau, hồn nhiên nghe lời thú tội của đôi trẻ giữa buổi tiệc tân hôn.
         Tác giả có một lối văn dí dỏm, đầy thi vị, nụ cười nhẹ nhàng sẽ luôn luôn phảng phất trên môi người đọc, vì mỗi câu mỗi lời đều gợi lên một hình ảnh buồn cười nhưng đẹp đẽ.



         Anh có hài lòng chút nào không? Có lẽ chuyện tôi kể xoàng quá anh nhỉ, nhưng lúc đọc tôi thích thú vô cùng. Trong truyện không có những nhân vật phi thường, không có những tư tưởng cao cả, chỉ có đôi tâm hồn ngây thơ chưa hiểu đời, bỡ ngỡ trên đường tình, và một nhà tu hành không biết chút gì về luyến ái cũng cố đem hết sức mình để gián tiếp dìu dắt cho đôi trẻ bước vào con đường tươi sáng, gạt bỏ được tự ái và ích kỷ của tuổi ngông nghênh.
         Tôi thích giọng văn trong sáng đầy thú vị của tác giả và nhất là cốt truyện, đó là phản ảnh của cuộc sống hằng ngày. Với đủ cái rắc rối, buồn, vui, toan tính, và đủ cái ngông nghênh […]


TRÚC LIÊN

_______________________________________________
(1) Ngày nào trường nam Sanit-Yves cũng viết thư cho trường nữ Providence, và ngày nào trường nữ Providence cũng trả lời cho trường nam Saint-Yves, và cái mũ đáng kính chứa đầy những tiếng thở dài buồn bực, những câu trách móc quyết liệt, những lời tâm sự cảm động và biết bao là triệu cái hôn
(2) Nhưng mà, trên đường đưa đến trường Providence, nhà tu hành Cadic đi, về một cách buồn bã, mang theo cái mũ đáng kính của mình. Cái mũ đáng kính này, xưa thơm ngát cả cái duyên dáng của mùa xuân, giờ đây chỉ là một cái “chụp dầu” giống như tất cả thứ chụp đầu khác, chẳng chứa một niềm vui, không giấu giếm một kho tàng bí mật. (Người phụ trách cuộc phỏng vấn dịch)


BÁCH KHOA |  SỐ 71

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #421 vào: 07/11/2018, 22:08:16 »


Sơn Nam trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Họ Phạm. Sanh năm 1926 tại làng Đông Thái, quận Gò Quao (Rạch Giá).
            Viết báo, viết văn, chuyên về cảnh, người, việc, phong tục, đời sống miền Hậu Giang.
            Từng cộng tác với các báo: Nhân Loại, Bông Lúa, Lẽ Sống, Phụ Nữ diễn đàn. Văn hóa Á châu, Vui Sống. Hiện chủ trương nhà xuất bản Phù Sa.
            Đã xuất bản: Chuyện xưa tích cũ I (1957); Con cá thu thi, Chiếc ghe ngo, Đóng gông thằng Quít, Thùng thiết giết anh hùng (trong loại “Tin yêu đất Mẹ” của nhà xuất bản Trùng Dương); Nguyễn Trung Trực (cùng Ngọc Linh), Tìm hiểu đất Hậu Giang.


○ ○ ○

         “Truyện ngắn (Việt và ngoại quốc) nào mà bạn cho là hay nhứt, hoặc ưa thích nhứt?
         Câu hỏi thật khá rắc rối! có nhiều truyện hay nhưng tôi không ưa thích. Có những truyện tôi ưa thích nhưng nó không hay…
         Tự bấy lâu nay, trong “làng văn chợ báo” đã xuất hiện mấy tiếng “lành mạnh xây dựng” hoặc Chân, Thiện, Mỹ để làm tiêu chuẩn hầu định đoạt giá trị một áng văn… Nói chung, những truyện ngắn mà tác giả muốn xây dựng, lành mạnh… đều hay, nhưng tôi không thích. Tại sao? Có lẽ vì tình cảm của người viết truyện không chân thành đến mức độ 100 phần 100. Họ có thiện chí đấy – nhưng họ quá gò ép họ. Tôi liên tưởng đến những chàng (và những nàng) lực sĩ, thân hình thiếu tráng kiện, bắp thịt chưa nở nang đầy đủ, nhưng rán co tay, thót bụng, vận nội công, gồng lên… Và ngoài da lại còn thoa thêm một lớp dầu mỡ bóng loáng…
         Vì bản chất thiếu tráng kiện nên các lực sĩ này chỉ biểu diễn “quanh quẩn mãi một vài ba dáng điệu”… Và một số khán giả đâm ra thương hại họ…
         Tôi nói thành thật như thế, không phải là công kích ai – hoặc khuyên tất cả mọi người đừng luyện tập làm lực sĩ, suốt đời cam tâm giữ thân hình èo uột bịnh hoạn!
         Nghệ thuật phải hồn nhiên, – đồng thời cũng phải trau chuốt về kỹ thuật. Hồn nhiên và trau chuốt hai điểm không mâu thuẫn nhau; trái lại, dung hòa nhau để tạo nên cái Đẹp.
         Một khi người ta đã khỏe mạnh thật sự thì cần gì ở trần, gồng tay, thoa mỡ dầu… Cứ đi đứng tự nhiên, mặc quần áo che phủ thân thể… Dầu ngồi chồm hổm, ngồi xếp bằng hoặc trợt té… thì động tác, dáng điệu cũng vẫn đẹp như thường…
         Tôi rất khắt khe với loại truyện ngắn, tiểu thuyết. Nếu đọc thì đọc vài đoạn (truyện do tôi viết ra, tôi lại càng không đọc vì ngột ngạt quá). Văn hay chẳng luận… đọc nhiều… Có lẽ vì khí hậu, thời tiết nóng nực.
         Thời tiết, khí hậu, quan hệ mật thiết đến vấn đề thưởng thức văn xuôi… Ở miền Nam nước Việt, bấy lâu nay đồng bào “nói thơ, nói truyện Tàu”; một người đọc (hoặc ngâm nga) để cho những người xung quanh nằm trên võng lim dim đôi mắt mà thưởng thức.
         “Ai ơi lẳng lặng mà nghe”…
         Câu ấy không phải là tiếng của cụ Đồ Chiểu kêu gọi những độc giả của ông – nhưng chính là tiếng của người nói thơ Vân Tiên nói với cử tọa nằm võng lim dim ở chung quanh. Điểm ấy rất quan trọng. Những người khắt khe cho rằng thơ Lục Vân Tiên, truyện Tàu (do các người Việt miền Nam dịch lại) ngô nghê, thô kệch. Biết đâu những đoạn, những chữ ngô nghê ấy là những công thức cần thiết… để người nghe có thể lãnh hội, Cả kêu tức là châm kêu(!) “Thứ nầy đến thứ…” “Đây nói về lúc Tiết Đinh San…” tức là qua chương mục khác… vân vân…
         Tóm lại, truyện hay phải là truyện đọc ra tiếng mà “nghe” được truyền cảm được. Cốt truyện phải có – cốt nầy có thể tóm tắt trong một phút nhưng vẫn có thể nói mãi mà chưa hết.
         Tôi còn nhớ lối giữa năm 1938, nhật báo “Điển Tín” ở Nam do ông Lan Đình Bùi Thế Mỹ làm chủ bút, có tổ chức một cuộc thi truyện ngắn toàn quốc. Ban giám khảo đã đặc biệt chú ý đến truyện “Muồng Tênh” của ông Khổng Nghi ở Sầm Giang, và định chấm giải nhất, nhưng tiếc thay, ông Khổng Nghi lại có một truyện ngắn khác dự thi mà kém xa truyện “Muồng Tênh”, thành ban giám khảo cho ông Khổng Nghi viết chưa đồng đều, nên để truyện “Muồng Tênh” xuống hạng ba. Số “Điển Tín Tết năm Kỉ Mão, 1939”, có đăng truyện này, mà năm rồi, tạp chí “Nhân Loại”, số 3, bộ mới, ngày 30-9-1958, có đăng lại.
         Hai mươi năm qua, đọc lại, tôi vẫn còn thích “Muồng Tênh”. Cốt truyện đơn giản quá! Anh chàng Muồng Tênh, người Kờ-me (tôi không muốn dùng tiếng mới: Cam-bốt), ao ước sống cuộc đời “Bô-hê-miên” với người yêu, bên cỗ xe bò…
         Nhưng rồi nàng phụ chàng, ưng người giàu có. Chàng đau khổ, nhưng thay vì giết người khác hay tự giết mình, chàng gởi tặng cỗ xe với đôi bò – tất cả sự nghiệp của chàng, vì nàng mà có – cho người chẳng giữ lời nguyền, gọi là “mừng đám cưới” ai. Rồi chàng ra đi (đi bộ) với hai bàn tay trắng để làm lại cuộc đời, lòng thơ thới, trong khi “…cảm động vì chàng, tiếng đờn “Khène” dìu dặt trong khoảng không gian”:
                  “Đêm đã đến rồi, em hãy ngủ.
                  Anh hôn em và ôm em vào lòng.
                  Đôi ta nằm trên cái giường đẹp bằng đồng.

         Ôi! Cỗ xe bò lắc lư trên đường gió bụi mịt mù, làm sao sánh được với cái giường đẹp bằng đồng vững chãi trong cái nhà chắc chắn!
         Cái lâm li chất phác… Nhưng tôi xin nhường lời cho bậc đàn anh xấu số, ông Lan Đình Bùi Thế Mỹ:
         “Mô tả cái tâm lý chất phác của người dân quê Cao Miên, ông Khổng Nghi, tác giả truyện “Muồng Tênh”, đã thành công một cách tốt đẹp. Câu chuyện tình ái ông đã vẽ trong “Muồng Tênh” cũng giống như một bài Đường thi hay một bức tranh thủy mặc của Tàu, khiến cho người ta sau khi đọc xong, hay ngắm rồi, hãy còn như cảm thấy hương thừa vị sót”.
         Ông Khổng Nghi đã khéo diễn tả tâm hồn của người Kờ-me, đề cao đức tánh của dân tộc bạn.
         Thoạt xem qua, chàng Muồng Tênh của chúng ta dường như khờ dại. Nhưng cái khờ dại ấy là sự khờ dại hình thức cố ý. Khờ dại vì chơn chất, thật thà. Thà là… thật thà mà bị hiểu lầm là dại còn hơn điếm đàng, xảo quyệt mà… được tiếng là khôn.
         Truyện ấy viết rất ngắn. Đọc qua ba bốn câu đầu là chúng ta sống chìm trong bầu không khí đặc biệt… Vòm trời vừa sáng sủa vừa âm u… Đâu đây, hình dáng hàng cây thốt nốt phơi mình trong bụi trắng bên bờ hồ Ton-lê-sap; những người không sợ nắng đang bước những bước chậm chạp, đều đều, cổ kính…
         Tôi chỉ đơn cử một thí dụ trên đây.
         Có nhiều truyện ngắn xưa (đã đăng trong “Tiểu thuyết thứ bảy”, “Phong Hóa”) đã được tôi thích thú hồi còn trẻ. Nhưng đến bây giờ đọc lại thì thấy lạt lẽo quá, đôi khi lại “vô duyên” nữa…
         “Ainsi commença le declin de Zarathoustra”. “Bao nhiêu nhan sắc đã tàn phai, Bao nhiêu người đẹp răng long cả!”
         Nhưng tôi biết ơn những nhà văn tiền bối ấy. Họ vẫn có đóng góp phần nào… Sách của họ vẫn tái bản, bán chạy. Tôi không muốn công kích và đả phá họ. Nhưng tôi sao vẫn thấy tác phẩm họ như những món địa khai (fossile): sau mười năm đau khổ của toàn dân, tôi mong được đọc những gì không cũ quá, đừng xa lạ quá…
         Làng văn nước Việt đang sản xuất nhiều cây bút viết truyện ngắn… Họ làm việc rất tài tình, hạ bút thành văn, viết một mạch không cần đọc lại, dưới cơn mưa dầu nắng lửa miền nhiệt đới, trong quán cà phê Tàu hoặc trong nhà lá của đô thành… (bên cạnh tiếng than vãn của vợ con và đôi khi của… cả bao tử mình)… Họ viết cả trăm truyện hàng năm… Trong 100 truyện ấy cũng có một truyện hay, nếu chúng ta có công và cố công tìm kiếm.
         Tôi không đề cập đến những cây bút dịch cẩu thả hoặc phóng tác truyện ngắn Tây, Tàu, Mỹ, hoặc “mạ” lại truyện ngắn cũ của chính họ hoặc của người khác.



         Tôi ít đọc sách chữ Pháp (sách chữ Pháp bán mắc quá!) – chữ Anh thì tôi không biết.
         Ngoại trừ những loại cổ điển trong chương trình Pháp ngày xưa, tôi được dịp đọc thêm vài quyển khá hay – mua… đại giảm giá. Người Âu, người Mỹ theo một quan niệm nhân sinh, vũ trụ hơi khác người Á Đông chúng ta. Đọc họ để mà biết, để mà so sánh vậy thôi!
         Trong hàng ngũ văn sĩ Mỹ, Henry Miller là cây bút thành thật nhứt, độc đáo nhứt. Ông này viết những mẩu chuyện, những mẩu tùy bút, ngắn có, dài có… Lối hành văn táo bạo, những ý tứ thô tục – thô tục vì quá thành thật. Henry Miller là người hiểu rộng, khát khao chân lý. Những mẩu chuyện của ông đượm màu triết lý nên khó mà tóm tắt được. Ngoại trừ vài quyển ác độc (không nên cho người vị thành niên đọc) ta nên xem qua để cảm thông: Plexus, Dimanche après la guerre, Le cauchemar climatisé… Le sourire au pied de l’échelle
         Jacques Chardonne (người Pháp) viết rất êm dịu, rất sâu sắc, đọc không nhức đầu.
         Vasco Pratolini (người Ý) có tâm hồn rất đẹp.
         (Chronique des pauvres amants, Destinée…)
         Trên kia, tôi đã nói: quan niệm về nhân sinh và vũ trụ của người Âu, Mỹ hơi khác người Á Đông chúng ta, tôi còn quên: còn không giống nhau về quan niệm thẩm mỹ nữa.


SƠN NAM


BÁCH KHOA |  SỐ 71

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #422 vào: 08/11/2018, 21:31:48 »


Bà Vân Trang trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Tên thật Nguyễn Huệ Trang. Sanh năm 1925 tại Phước Long (Rạch Giá).
            Chuyên về mẫu giáo; sáng tác theo hướng đi của Tân giáo dục, và truyện thường lấy cảm hứng cùng đề tài, nhân vật của ngành giáo dục mới này.
            Đã xuất bản: Người ăn trộm (1957, truyện giáo dục nhi đồng) và Phụ huynh nên biết khi cho con em đi học, Người mẹ sáng suốt (1957, cùng soạn với Thiên Giang).


○ ○ ○

CÓ LẼ SUỐT ĐỜI không thể quên được cái cảm giác bồng bột, say mê sau khi đọc hai truyện ngắn “Nhóm lửa”(1) và “Miếng thịt bò”(1) của Jack London: cái lối văn cuồn cuộn như nước lớn nó cứ cuốn tâm trí mình theo như cuốn cánh bèo lẻ bạn. Đã đọc thì không dừng được, và khi dứt truyện mà cái say mê cũng còn cao như đang đọc nửa chừng. Đã vậy, cái phần triết lí trong truyện càng gẫm càng thấy thấm.
         Luật đào thải trong truyện “Miếng thịt bò” vừa xác thực vừa tàn nhẫn, lưu lại trong lòng tôi một dư vị chua cay còn lâu mới phai đi được.
         “Nhóm lửa” mô tả một con người tận lực chiến đấu với Thiên nhiên để giành sự sống. Kỹ thuật viết đưa đến cho người đọc một cảm giác hăng hái mặc dù con người trong truyện sau cùng đành thất bại!
         Nói chuyện ao người mãi mà quên mất ao ta!
         Lối hành văn của anh Bình nguyên Lộc trong truyện “Hồn ma cũ”(2) không thể coi thường! Anh trở lại phăng dây, dò lối, mở gút dĩ vãng một cách tài tình, khéo léo vô cùng. Câu chuyện vừa thương tâm, vừa tức cười! Không biết hiện giờ trên trái đất đang “đau đẻ” đây, trong số những người chống chế độ này, chống chủ nghĩa nọ, có ai chỉ vì một “duyên cớ nhỏ xíu lúc ban đầu” mà hò hét nơi này, mà phất cờ nơi nọ hay héo mòn ở một góc trời mô, như anh chàng trong truyện “Hồn ma cũ” hay không, anh Ngu Í nhỉ?
         À, nhưng còn tái bút câu này: Anh nhớ cách ngôn có câu: “Hôm qua không giống hôm nay và ngày mai lại khác nữa”. Vậy thì tuy khoảng trên tôi bảo rằng “suốt đời tôi không quên…”, nhưng nếu một ngày nào đó có ai hỏi lại tôi, như anh đã phỏng vấn tôi đà bảy tháng nay và hôm nay còn chịu khó nhắc lại lần cuối cùng, mà nghe tôi trả lời khác hẳn thư này, thì tôi cũng vẫn… có lý nhé […]


VÂN TRANG

_________________________________________________
(1) Trong quyển “Một thiên tình hận”, những truyện hay nhất của Jack London, do Anh Liễn chọn và dịch, Chim Đàn xuất bản, Sàigòn, 1955. Tuyển tập này gồm có năm truyện: Một thiên tình hận (An Odyssey of the north), Miêu kì (Msouki), Miếng thịt bò (A piece of Steak), Mất mặt (Lost face) và Nhóm lửa (To burn lire).
(2) Đăng tạp chí Bách-Khoa, số 4 ngày 1-3-1957; giai phẩm “Văn hóa Ngày nay”, đăng lại, trong tập 2, giấy phép xuất bản ngày 29-5-59.


BÁCH KHOA |  SỐ 71

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #423 vào: 09/11/2018, 20:20:43 »


Trần Văn Khê trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Sanh ngày 24-7-1921 ở Chợ Giữa (làng Đông Hòa, tỉnh Mỹ Tho).
            Theo ban Thuốc trường Đại học Hànội từ 1941 đến 1943, từng làm Nhạc trưởng Tổng hội Sinh viên Việt Nam.
            Dạy học tư và làm phái viên các báo “Thần Chung, Tiếng Chuông, Việt Báo” tại Pháp.
            Tốt nghiệp trường Chánh trị Paris, môn Giao dịch quốc tế (1951) và Tiến sĩ Văn chương Pháp với luận án “Nền nhạc Việt cổ truyền” (VI-1958).
            Hiện chuyên học và khảo nhạc cùng viết báo, diễn thuyết về nhạc Việt ở các trường Đại học các nước châu Âu để giới thiệu dân tộc Việt qua âm nhạc xưa, nay; cộng tác với tạp chí Bách-Khoa từ 1958.
            Đã xuất bản: “Con chúng ta sẽ làm gì?” (Ký: Quang Hải, Phạm Văn Tươi, Sàigòn, 1952.)


○ ○ ○

         Ng. thân mến,
         “Biết thì thốt, không biết dựa cột mà nghe”. Trong cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa, tôi chỉ muốn dựa cột mà nghe.
         Nhưng nếu phải trả lời với bạn rằng truyện ngắn Việt hay truyện ngắn quốc tế nào hay nhất thì tôi cũng xin hàng. Ngay như những nhà văn đã từng đọc truyện ngắn nhiều hơn tôi cũng khó mà cho truyện nào hay nhất. Muốn sắp hạng như thế phải đọc rất nhiều, phải tự đặt trước nhiều nguyên tắc căn bản để làm tiêu chuẩn, rồi đưa vào đó mà phân tách từng truyện để xem xét coi truyện nào từ nội dung đến hình thức đáng cho là truyện hay nhất. Công việc đó ra ngoài khả năng của tôi, vậy thì đành nói với Ng. truyện nào tôi thích nhất, nhưng tôi vẫn thấy bối rối. Dầu Ng. hỏi tôi trong cổ nhạc Việt thôi thích bài nào, điệu nào nhất, tôi cũng không thể trả lời đứt khoát. Có hôm tôi thích nghe điệu Bắc vui tươi, có hôm muốn thả hồn mơ màng theo hơi Xuân hay đắm đuối theo hơi Ai, Oán. Cái “thích nhất” của con người tùy từng lúc. Và đã nói là “thích nhất” tức là xem xét sự vật bên ngoài một cách chủ quan. Ng. bằng lòng vậy chớ?
         Hiện giờ, trong lúc tôi đang viết thơ nầy cho Ng., tôi thấy thích nhất truyện “Rừng mắm” của Bình Nguyên Lộc đăng trong Bách-Khoa, số 36, ngày 1-7-1958.
         Một gia đình nông dân đã vì quá nghèo phải rời bỏ xứ Cao Lãnh “có vườn trái, có nước ngọt quanh năm” để đi khai phá vùng U Minh, nơi rừng sâu, nước độc, vắng cả “tiếng gà gáy, tiếng chó sủa”. Những người lớn như ông nội, cha, mẹ thằng Cộc tất nhiên có cái lý của họ, khi họ bằng lòng đến ở tại “cái xó không người” ấy. Nhưng thằng Cộc, nhân vật chánh trong truyện, tuổi vừa 13, không hiểu được. Nó chỉ thấy khổ vì thèm chè, thèm xoài và thèm cả người. Đến khi bị một chị từ xa đến đây nhổ bồn bồn trêu nó và hứa gả con Thôi, em gái của chị cho nó, thằng Cộc, vừa đến tuổi dậy thì đã mơ màng mái tóc con Thôi với nước da trắng mịn, đến muốn bỏ vùng U Minh mà đi, “đi đâu cũng được, miễn là ở đó có làng xóm, có người ta”.
         Nhưng khi nghe ông nội nó nói đến những người xưa “ngã rạp trong chốn ma thiêng nước độc nầy để lót đường cho con cháu họ đi tới, y như là đàn kiến xung phong tốp đầu liều chết đuối, lội qua tộ nước dộng hũ đường để làm cầu cho bạn đi sau vào đến nơi có thức ngọt”, cũng như cây mắm làm chắc đất phù sa để cho sau nầy cây tràm và bao nhiêu cây ăn trái mới mọc được”, thì thằng Cộc bằng lòng ở lại đất U Minh.
         Chỉ trong một truyện ngắn mà tác giả nêu lên được một ý nghĩa tượng trưng: lòng hi sinh, can đảm của bực tiền nhân để mở đường Nam tiến cho dân tộc Việt và của lớp người đương thời đang tiếp tục công trình của ông cha.
         Lại có nhiều chi tiết về tâm lý như cái thèm của thằng Cộc. Nó thèm khế chua, thèm xoài ngọt là những món mà trước kia nó đã biết hương vị mà nay nó không có nữa. Nó lại thèm một chuyện mà nó chưa biết bao giờ: nó thèm cái êm dịu khi nó hò đối đáp với con Thôi.
         Chuyện lại đầy những nét vẽ lại đời sống gian khổ của người nông dân trong đồng Cà Mau, một vùng “nóng, ẩm, còn muỗi mòng thì quơ tay một cái là nắm được cả một nắm đầy”. Phải đốt rừng, khoét rừng để làm ruộng, phải chịu làm mười công đất mà gặt chỉ tám giạ, phải đổi lúa bằng cá khô, ăn rùa ăn rắn trừ cơm, mang đất từ xa lại, để trong nồi lủng đít, đặt nổi trên giá ba chơn để trồng rau, phải biết xem “bề dài của bóng giá mà tính giờ”.
         Câu chuyện kể lại bằng một lối văn nhẹ nhàng, tự nhiên; câu văn dùng toàn những chữ đặc biệt miền Nam. Thỉnh thoảng một câu hò đem chút âm thanh vào cảnh quá im lặng của vùng Cà Mau, như một làn gió nhẹ.
         Nhưng chuyện dầu như thế mà không gợi được trong lòng tôi một tiếng dội thì chưa chắc tôi thích nó nhất.
         Đằng này, từ nội dung đến hình thức, chuyện Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc làm tôi bồi hồi.
         Tôi thông cảm với ông nội và cha mẹ thằng Cộc và nghĩ rằng chắc cũng có lúc họ thấy mệt mỏi, chán nản, nhưng viễn ảnh của vùng Ổ Heo ngày mai thịnh vượng hơn ngày nay, người đến sau sẽ gặp đất tốt hơn, có hoa quả có ruộng vườn, cho họ đủ can đảm mà ở lại.
         Trong cuộc sưu tầm tài liệu về Việt nhạc sử, tôi đã gặp cảnh ngộ tương tợ như thế: một mình dò dẫm, không thấy đâu là ánh sáng, nhiều khi đọc suốt mười hôm liền không tìm được một chi tiết về nhạc sử. Trong lúc mỏi mệt, nghĩ rằng mình mất thì giờ ngày nay để người đi sau mình đỡ nhọc công đôi chút lòng thấy phấn khởi để tiếp tục việc khai phá vườn Việt sử còn hoang vu.
         Đọc đến đoạn nói về cái thèm của thằng Cộc, tôi nhớ lại nhiều đêm trăng bên nầy, tôi thèm nghe một câu hò, thèm được như ngày xưa, “chèo ghe” dọc theo bờ sông, cạnh các bụi dừa nước, hay nhiều hôm thèm thấy tàu chuối phất phơ, những cái thèm mà người khác có thể cho là vô lý nhưng đã nhiều lần làm tôi ngơ ngẩn suốt canh trường.
         Tôi thích truyện “Rừng mắm” nhất, vì nội dung và hình thức câu truyện hay, đẹp, nhưng một phần lớn vì tôi dễ cảm thông với người với cảnh trong truyện, cảnh đồng Cà Mau nơi tôi nương náu suốt mấy tháng trời trong buổi đầu của cuộc kháng chiến.



         Trong văn chương quốc tế, thật ra tôi thích truyện dài hơn truyện ngắn. Thành ra khi đọc câu hỏi của Ng. gửi đến, thử ôn lại trong trí nhớ chỉ có tên Alphonse Daudet là còn rõ rệt nhất. Chắc Ng. còn nhớ rõ hơn tôi những chuyện mà chúng ta dịch ra Việt văn 21 năm về trước, trong các giờ học tiếng nước nhà ở lớp Đệ tứ tại trường Trương Vĩnh Ký, với ông thầy “Xíu hữu mai…” dáng nhỏ bé, tiếng to to, giọng đặc biệt Nghệ Tĩnh, lòng thiết tha với tiếng mẹ đẻ làm chúng ta càng thêm tin, yêu văn chương Đất Nước. Lối văn giản dị nhẹ nhàng như những câu nhạc, nhiều câu ngắn trở đi trở lại như điệp khúc của một bài hát đã làm cho tôi thích Alphonse Daudet. Nhưng trong các truyện, tôi thích nhất truyện “Buổi học cuối cùng” (La dernière classe). Chú học trò nhỏ vùng Alsace của nước Pháp, một hôm định trốn học vì lỡ không thuộc bài văn phạm, nhưng rốt cuộc, lại đến trường để dự buổi học mà cậu không dè là buổi học cuối cùng về Pháp văn. Từ hôm sau, học sinh phải học tiếng Đức vì vùng Alsace bị Đức thuộc. Lần đó trong giờ Việt ngữ, tôi có cảm giác rằng tôi là tên học trò nhỏ đó, và câu nhắn nhủ của ông giáo yêu nước suốt 40 năm tận tụy với nghề vang trong đầu tôi: “Khi một dân tộc sa vào cảnh nô lệ, ngày nào còn giữ được ngôn ngữ của mình, thì như giữ được chìa khóa để mở ngục tù giam hãm mình”.
         Và khi dịch câu “Vive la France!” của ông giáo Hamel viết lên bảng đen, tôi không thể viết “Pháp quốc vạn tuế!” mà tôi lại viết: “nước Việt muôn năm!” – Ngoài khoản câu chuyện ấy làm cho tôi thấy yêu nước Việt, tiếng Việt muôn phần, “Buổi học cuối cùng” lại làm cho tôi liên tưởng đến “Buổi hòa nhạc cuối cùng của cô tôi”. Như Ng. đã biết, cha mẹ tôi mất sớm, cô tôi nuôi tôi từ thuở lên mười đến lúc thành nhân. Ng. nhớ chăng năm đó, cô bị lao nặng. Tôi dạy học tư ở Sàigòn, mấy lần muốn về thăm cô nhưng rồi lại thôi vì e sợ cô đòi tôi đem đứa con trai đầu lòng tôi về cho cô thấy mặt. Các bác sĩ khuyên tôi đừng nghe lời cô vì đứa bé còn non nớt sợ dễ bị truyền nhiễm. Nhưng một hôm, tôi đánh bạo về thăm cô. Có cậu Năm tôi ra chơi nhà, cô lúc đó tắt tiếng không nói được, viết trên một mảnh giấy câu: “Con hòa đờn với cậu Năm cho cô nghe một lần trước khi cô chết. Cũng như tế sống cô vậy”. Tôi vừa đờn mà nước mắt ràn rụa. Người đã hi sinh cả đời nuôi tôi nên người có lẽ hôm nay nghe tôi đờn lần chót. Đến mấy đoạn hay, cô tôi gật đầu cố sức mỉm cười – Tiếng đàn đứt, cô tôi nắm tay tôi nhăn mặt khóc. Nhưng nước mắt cô tôi đã cạn và lúc nầy cô tôi cười như mếu, mà khóc không ra một giọt lệ! Đến lúc sắp mất cô tôi, tôi mới biết quí người cô vừa là cha vừa là mẹ, người tôi yêu kính nhất trên đời. Biết như thế mà cô tôi còn sống được bao nhiêu ngày và tôi làm gì để đền đáp nghĩa cả tình sâu?
         Tâm trạng tôi lúc bấy giờ không khác gì tâm trạng của đứa bé trong truyện. Cái gì sắp mất đối với mình thường có một giá trị đặc biệt.



         Có lẽ “Ng. phỏng vấn viên” đã thất vọng. Tôi đã quá chủ quan, trong mấy câu trả lời. Hai câu chuyện trên tôi thích nhất vì những lý do riêng biệt hơn là vì giá trị văn chương tuyệt đối của nó. Nhưng hẳn “Ng. người bạn” cũng có chỗ hài lòng: người bạn xa xôi của Ng. đã thành thật với chính mình, và trong vài phút đã đưa Ng. trở lại thời đôi chín…
         “Nhưng nào đâu những áng tuyết của thời xưa?…”


Quê người, Trung thu Kỷ hợi (1959)
TRẦN VĂN KHÊ


BÁCH KHOA |  SỐ 71

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #424 vào: 10/11/2018, 21:54:57 »


Trang Thế Hy trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Sanh năm 1924 tại An Hóa (tỉnh Mỹ tho, bây giờ thuộc Kiến Hòa).
            Bắt đầu viết từ 1957. Đã viết cho: tập san Nhân Loại, Vui Sống, Ngày Mới, Bách-Khoa, Phụ Nữ diễn đàn…
            Chuyên về truyện ngắn tâm tình thời đại.


○ ○ ○

         Anh Nguiễn,
         Trong bức thư sau cùng của anh nhắc nhở về cuộc phỏng vấn, có câu: “…Bằng như anh không vui góp ý, thì cũng xin anh cho biết vì sao để chúng tôi rút kinh nghiệm…”
         Mặc dù trong ý thức, tôi có chờ đợi một câu hỏi với tinh thần đó. Nhưng khi đọc nó, tôi có hơi buồn buồn. Tôi cảm nhận rằng có lẽ anh đã gặp một số chuyện phiền bực chung quanh cuộc phỏng vấn mà anh phụ trách.
         Vì sao lại có chuyện không vui lòng góp ý khi mình được mời phát biểu với một thiện ý quá rõ ràng và nghiêm chỉnh?
         Cho nên, trong thư nầy, điểm tôi muốn nói trước nhứt là sở dĩ tôi chưa phát biểu về cuộc phỏng vấn chẳng qua vì tôi suy nghĩ coi nó nên phát biểu hay không, chớ không phải là tôi thiếu nhiệt tình hưởng ứng đối với một cuộc phỏng vấn như Bách-Khoa đang tiến hành.
         Và tại sao lại có sự cân nhắc nói trên? Tôi quan niệm rằng trên con đường tìm sự thật, con người không phải chỉ cần đến những ý kiến hay nhứt gần sự thật nhứt, mà vẫn phải cần đến những ý kiến tầm thường nhứt hay thậm chí những ý kiến kém cỏi, phiến diện, xa sự thật nhứt. Bởi chính nhờ nó mà tính chất đa dạng của nguồn cảm nghĩ con người được phô bày ra.
         Nhưng mặt khác, tôi lại cho rằng người muốn phát biểu ý kiến – dù tự nguyện hay được hỏi đến – cần phải nghiêm khắc đối với mình bằng cách suy xét cho kỹ để coi mình có tư cách phát biểu về vấn đề được đặt ra hay không. Bởi có nói phải có chịu trách nhiệm. (Về khoản nầy, tuy không muốn chút nào, tôi vẫn thấy phải nói đến một số trường hợp đã làm tôi buồn bã chung quanh cuộc phỏng vấn. Như một nhà khảo cứu văn học nọ nói rằng ông không có đọc truyện Việt Nam. Hoặc có vài nhà văn, nhà báo, học giả khác phớt bỏ không nói đến truyện ngắn Việt Nam mà không nói về lý do gì. Thái độ khinh bạc hoặc bộc lộ hoặc ngán ngầm nầy sẽ tác động như thế nào đối với các bạn trẻ yêu văn nghệ Việt Nam và chỉ mới biết yêu về mặt cảm tình?)
         Căn cứ vào quan niệm trên, tôi cho rằng tôi chưa có đủ tư cách phát biểu về những điều anh phụ trách trước Bách-Khoa mà hỏi tôi. Bởi:
         a) văn nghiệp tôi chưa thành hình rõ ràng;(1)
         b) số vốn đọc và hiểu của tôi còn non(2) so với tầm quan trọng của vấn đề được đặt ra tham khảo dù rằng tổ chức đặt ra vấn đề đó (là Bách-Khoa) đã khuôn hẹp lại yêu cầu đến một mức cần thiết cho sự phát biểu được dễ dàng. Làm việc gì – dù việc làm đó là “nói” – tôi vẫn tự hỏi coi nó có giúp ích được gì cho người chung quanh chăng, có làm sáng tỏ được điều gì chăng?
         Chừng đó ý đủ giải đáp hai trang “vì sao”? Của anh chưa, anh Nguiễn nhỉ?
         Thân kính,


TRANG THẾ HY

________________________________
(1) Nhưng anh quên rằng trong “Lời nói đầu” Bách-Khoa số 58 tôi đã viết: “… làm phiền từ những bực đàn anh nổi tiếng dạo “Nam Phong”, qua những bạn đồng lứa thời 39-45, đến những bạn mới được trước bạ tên mình vào làng văn làng báo sau khi một tờ giấy cắt hai tình Sông Núi”. (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)
(2) Nhưng chúng ta thử hỏi có mấy ai dám tự hào cho cái vốn “đọc và hiểu” của mình đã “già” rồi? Mà chúng tôi nào dám nghĩ đến cái “tuyệt đối”, cái “chu toàn”, “cái vĩnh viễn” trong việc mình làm.


BÁCH KHOA |  SỐ 71

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #425 vào: 11/11/2018, 19:14:51 »


Pierre-Kèn Dariville trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Sanh năm 1912 ở Huế (mẹ vốn người Việt miền Trung).
            Giáo sư Triết học, từng dạy Việt văn ở ban Tú tài các trường Pháp ở Sàigòn.
            Vốn thông tín viên ở Pháp cho nhật báo “L’écho du Vietnam”, 1948 (Tiếng dội của người Việt) của Nguyễn Phan Long và hiện là biên tập viên cho tạp chí “France-Asie” (Pháp-Á) từ 1948.
            Viết báo, làm thơ, dịch văn, dạy học, diễn thuyết.
            Tất cả những hoạt động về văn hóa của ông đều hướng về một trọng tâm: nối liền hai dòng văn hóa Việt, Pháp.


○ ○ ○

         …
         ― Giờ đây, truyện ngắn làm tôi thích nhất, thì anh đã biết rồi.
         Tôi trố mắt nhìn anh.
         ― “Con thằn lằn chọn nghiệp” của Hồ Hữu Tường.(1)
         ― À, phải rồi. Tôi dở thật! Anh đã để công dịch nó ra tiếng Pháp, thì hẳn là anh phải thích nó nhiều.
         ― Đúng hơn, là tôi thích nó nhất, vì nó đặt một vấn đề trọng đại của thời buổi chúng ta: vấn đề Tự do Chọn lựa, vì nó bao hàm một triết lý: triết lý về: Cứu cánh và Phương tiện.
         Không bao giờ bằng lúc này, ở thời nguyên tử chúng ta, loài người khao khát Tự do, say mê Bác ái, đòi hỏi Dân chủ.
         Vậy, ta có thể nào thực hiện Dân chủ, Dân chủ chân chính, bằng những biện pháp phản Dân chủ chăng?
         […] Dân tộc nào cũng cho mình là Dân chủ cả. Song thử hỏi mấy dân tộc trên địa cầu này đã dám tự hào cho mình chỉ dùng những phương tiện thật là Dân chủ để thực hiện cái chế độ lý tưởng mà loài người đã đổ không biết bao nhiêu là mực với máu?
         ― Khoan! Anh bước qua địa hạt chính trị rồi đó! Đây là một cuộc phỏng vấn văn nghệ. Hãy trở về những con cừu của chúng ta!
         ― Biết làm sao giờ! Một khi triết lý đem ra hành động thì làm sao khỏi đụng chính trị.
         Thôi anh muốn “Triết” thì tôi nói “lý” vậy.
         ― Con thằn lằn chọn nghiệp của Hồ Hữu Tường gợi một…
         ― Một bài học?…
         ― Tôi van anh. Chúng ta đâu phải ở trong lớp mà học với bài. Một… thôi thì dùng tạm: một “con đường”, gợi một con đường Triết học; đó là:
         Các quốc gia trên thế giới cùng quyết tâm đạt Tự do, được Bác ái, đến Dân chủ mà không dùng đến Bạo lực, Bất công, Giả dối, thì nhân loại bước một bước khá dài trên con đường tiến tới Hòa bình thật sự […]
        “Một nhà sư tưởng rằng tụng đủ 1.000 lần kinh Di Lạc, rồi tự thiêu mình, thì sẽ đắc đạo. Hai người khách lạ biết chuyện, thương hại cho người tu không sáng suốt. Một con thằn lằn nghe được tiếng người quyết tìm cách ngăn người toan tự hủy. Rán uống hết dĩa dầu cho đèn tắt: sư chẳng thể tụng trọn bài kinh thứ 1.000. Nhưng kẻ nóng lên Niết bàn để tâm tình, bắt được thủ phạm, nổi giận, mắng, rồi lấy dùi mõ đập bể đầu con vật đáng thương. Rồi đêm ấy, có hai linh hồn nghe Phật dạy nhà sư bị tội tham, sân, si, sát sanh, nên phải chờ lớp người – do tro xác mình cháy hóa nên – đắc đạo mới thành chánh quả. Con thằn lằn đã chọn cách cưỡng bách để độ nhà sư, là phạm đến tự do kẻ khác, là kẻ áp bức, là hành động trái với tinh thần của Phật, nên được cho hóa sanh kiếp khác – như lời nó cầu xin – để dùng phương pháp tự do mà độ vô số chúng sanh do những hột tro của xác nhà sư đã bị tung ra khắp bốn phương trời, nhưng từ ấy đến nay, hồn con thằn lằn chưa biết chọn phương pháp tự do nào mà độ hằng hà sa số người do tro xác nọ hóa thành”
         Bỗng anh ngừng trước mặt tôi, ngó tôi mà như chẳng thấy: giọng anh xa xôi và mơ hồ như nói với người vắng mặt hay nói với kẻ ở một thế giới nào xa, xa thật là xa:
         “Thật chưa hề một lúc nào có một linh hồn bị trừng phạt phải đau khổ đến thế”.
         […] Chúng tôi im lặng, hai người cùng đuổi theo một ý nghĩ chung […]
         ― Thôi, hứa với hẹn là việc của mai sau, giờ, tôi trả lời tiếp về truyện ngoại quốc. Tôi thích truyện “Les Aventures du dernier Abencérage”.(2)
         Tôi ngắt lời anh:
         ― Của Chateaubriand?
         ― Phải của Chateaubriand. Một truyện gọi là truyện ngắn dài hay một tiểu thuyết ngắn cũng được.(3) Mà anh cũng có đọc nó rồi à?
         ― Lâu lắm. Hồi tôi 14 tuổi, lúc mới bước chân vào trường trung học Trương Vĩnh Ký, mượn của thư viện nhà trường.
         ― Thế anh còn nhớ gì không?
         ― Bộ anh tính làm giám khảo ”truy” thí sinh sao? Hai mươi bốn năm rồi…
         ― Ít hơn tôi. Tôi đọc nó lúc 13 tuổi. Đến nay được ba mươi bốn năm rồi. Đâu, anh thử nhớ lại coi. Ngày xưa…
         ― Ngày xưa… nhưng mà không xưa gì mấy, vì câu chuyện xảy ra ở cuối thế kỷ XV, ở nước Y Pha Nho, tận một vùng mà tôi nhớ mài mại có nhiều trái lựu và nhiều quả lựu đạn, thì phải.
         Anh phì cười:
         ― Grenade, có nhiều thiếu nữ nồng nàn như “đầu tường lửa lựu… đơm bông”.
         ― Người Á Rập đã bị người Y pha Nho đuổi ra khỏi nước, người cuối cùng nối dõi dòng “Abencérage” từng kiêu hùng ngự trị ở xứ này, lén về thăm lại “quê hương”, viếng mộ ông cha… Tình cờ chàng Á Rập đạo Hồi Hồi này gặp dịp chịu ơn một nàng quí tộc Y Pha Nho sùng đạo Da-Tô. Thế rồi, hai bên nhìn thẳng, hai lòng cảm thông. Họ yêu nhau, say đắm và trong sạch, nhưng vì thuộc hai chủng tộc cựu thù, hai tôn giáo chẳng đội trời chung, hai gia tộc còn một món nợ máu… Họ có thể tay trong tay đi trọn đường đời, nếu nàng vào đạo Hồi Hồi, hay chàng theo đạo Da-Tô. Rồi đến đoạn cuối, chàng giao cho nàng quyền định đoạt, thì nàng chỉ thốt một câu ngắn ngủn: “Chàng hãy trở về sa mạc” rồi ngã ra bất tỉnh.
         ― Về chi tiết, tôi không nhớ hơn anh đâu, tôi chỉ nhớ rằng “nó” đã làm tôi khóc.
         ― Lúc anh mới 13? Tôi thì chỉ ngùi ngùi…
         ― Tôi khóc, vì truyện ấy…
         Anh bước ra bao lơn, phải chăng để thấy trên đầu mình, không phải là cái trần nhà trắng bạch thăng bằng, như đè xuống, mà là cả một vòm trời xanh nhè nhẹ vươn lên?
         ― Tôi đã khóc nhiều, vì truyện ấy gợi cho tôi một nỗi xót đau, đó là vấn đề chủng tộc, vấn đề chủng tộc nặng nợ với nhau, không phải nợ thương yêu, mà là nợ oán cừu. Mình phải cúi đầu mà chịu. Mà lỗi nào tại mình. Sanh ra đời, mà mình phải chịu nhận lãnh, không chịu cũng chẳng được nào, vấn đề chủng tộc, nó làm tôi đặc biệt chú ý sau những giọt nước mắt tuổi 13, cho mãi tới nay, 46 tuổi rồi, nó vẫn làm tôi quan tâm đặc biệt, mà mãi tới nay, nó cũng còn là một vấn đề chung của thế giới, chớ chẳng phải riêng cho một quốc gia nào, một đoàn thể nào.
         ― Còn tôi, tôi nhớ mãi một câu của bà cựu hoàng xứ Grenade, mẹ ông vua trẻ không ngôi kia, mẹ người trai chót của dòng Abencérage ấy:
         “Khóc đi, cứ khóc đi – khóc như một đứa nữ nhi – khóc cái giang san mà mi đã không biết bảo vệ – bảo vệ như một kẻ tu mi!”
         ― Về truyện ngoại quốc, tôi con thích tập truyện đời xưa sáng tác của Phạm Duy Khiêm, tập “Légendes des terresserenes”.(4)
         ― Về truyện ngoại quốc?
         ― Anh ngớ ngẩn rồi! Trả lời anh, tôi đứng vào hàng ngũ người Việt.
         ― Nhưng Phạm Duy Khiêm…
         ― Phạm Duy Khiêm đã viết bằng tiếng Pháp, thì ta xem như là một nhà văn nước ngoài. Anh đã quên rằng văn học Pháp đã dành một chỗ ngồi xứng đáng cho Maeterlinck, nhà văn hào Bỉ mà viết văn, làm thơ, soạn kịch bằng tiếng Pháp sao?
         […] Sở dĩ tôi thích các truyện đời xưa của Phạm Duy Khiêm viết, vì ngoài văn tài của tác giả, trong những truyện ấy, còn tiềm tàng một tư tưởng gì, một luận đề vĩnh viễn nào đó nó nằm trong cõi vô thức của con người, dầu xưa hay nay, dầu da có màu vàng hay trắng. Tôi thích những truyện mà đề tài là những cuộc tình duyên tuyệt vọng, những cuộc tình duyên người ta không khi nào quên được, những cuộc tình duyên thành nợ thành nần, những cuộc tình duyên nó làm người ta đi lần vào cõi chết: “Le Cristal d’amour, La fille de l’Empereur de Jade, L’ombre et l’absent, La Montgne de l’Attente…”(5)
         Anh hít một hơi thuốc là dài, rồi nhả mạnh khói, khoan khoái như vừa trả xong một món nợ tình…


NGUIỄN NGU Í thuật lại

______________________________________________
(1) Đăng ở tuần báo “Mới”, số 26, ngày 16-5-53 và ở nhật báo “Phương Đông”, số 83, ngày 15-8-54
(2) “Những cuộc phiêu lưu của người thanh niên cuối cùng dòng A-be-xê-ra-i”, viết năm 1807, xuất bản lần đầu năm 1826.
(3) Trong bài tựa, tác giả gọi nó là “nouvelle”.
(4) “Truyện truyền kỳ ở những miền thanh thản”.
(5) Khối tình, Con gái Ngọc Hoàng, Thiếu phụ Nam Xương, Hòn Vọng phu…


BÁCH KHOA |  SỐ 71

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #426 vào: 12/11/2018, 12:13:21 »


           Chuyến toa và sân ga
                                   Tặng Ngọc Anh

            ANH là chuyến toa đời
            Em là sân ga nhỏ
            Gặp nhau lời hẹn lời
            Xa nhau nguyền thệ bỏ

            Thương nhớ nỗi đìu hiu
            Mộng đời không kịp níu
            Anh xuôi tháng ngày theo
            Em về nương mong mỏi

            Toa đời mấy độ vui
            Sân ga luống ngậm ngùi
            Nên cười hay nên khóc
            Toa ơi và ga ơi!

            Chớ nên làm cô độc
            Khi quá biết duyên đời
            Chớ nên làm thắc mắc
            Khi tình hờ buông xuôi.


                        ÁI PHƯỢNG LIÊN



BÁCH KHOA |  SỐ 71

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #427 vào: 12/11/2018, 20:57:13 »


Thuyền

Năm xưa thuyền mới ra đời,
Mắt lam mơ những phương trời mênh mông.
Một ngày gió lạnh ven sông,
Động lòng mây nước bình bồng ra đi.
Phiêu lưu nặng một tình si,
Tấm thân anh dũng sá gì long đong:
Miền xa ngày tháng ruổi dong,
Buồm nâu giỡn gió, mui bồng cợt mưa.
Gian lao, lòng vẫn say sưa,
Hương yêu muôn bến vạn bờ gởi theo.
Gành hoang vắng, đảo cheo leo,
Đâu không nghe thấy nhịp chèo lãng du.
Giờ đây mãn kiếp giang hồ,
Trở về bến cũ mỏi chờ cây đa.
Thân tàn e sợ phong ba,
Buồm xơ xác rách, mui già khọm run.
Bơ vơ đậu bãi sông buồn,
Nằm nghe giá rét chảy luồn vào khoang.
Những đêm bảng lảng trăng vàng,
Sương mờ bát ngát, mây tang dàu dàu.
Khách bờ ai có hay đâu,
Lòng thuyền u uất động sầu muôn phương.
Gió mà có chút tình thương,
Đừng hiu hắt thổi canh trường gió ơi!…

                                    Yã-Hạc NGUYỄN VĂN TRUNG
                                   (Hoang đảo)



BÁCH KHOA |  SỐ 71

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #428 vào: 13/11/2018, 12:40:18 »


                        Hoa soan

            KHI xưa thơ ấu tôi thường hái
            Những cánh hoa soan nở trước mùa
            Đem ép trong lòng trang sách mới
            Còn thơm như má đứa em thơ.
                                    ○
            Tôi đi trên những con đường cỏ
            Theo bướm vàng khoe cánh dịu hiền
            Cùng với mùa hoa như máu đỏ
            Đời tươi như nắng mới đang lên.
                                    ○
            Nhưng rồi thu đến hoa soan héo
            Rụng xuống hồn tôi những sắc tàn
            Bướm cũng buồn thu bay lạc nẻo
            Ngỡ ngàng tôi khóc nhớ thời gian.
                                    ○
            Tôi sợ mùa thu trời dịu dịu
            Mang về hơi gió lạnh hoàng hôn
            Làm bay những cánh hoa soan nhỏ
            Nhè nhẹ rơi trong một thoáng buồn.
                                    ○
            Chiều nay nhìn bóng hoa soan cũ
            Lòng nhớ nhung về những thoáng xưa
            Tuổi mộng mười hai, mười một ấy
            Đã chìm theo quá khứ sương mơ.


                                                  HUY TRÂM



BÁCH KHOA |  SỐ 71

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #429 vào: 13/11/2018, 19:14:28 »
BÁCH KHOA |  SỐ 72  [1-1-1960 |  102 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Nghiêm Phú Lưu |  Những quan niệm viện trợ kinh tế hợp lý của Tây Đức |  3-9
Bách-Khoa |  Khiêm nhượng |  9
Phạm Hoàng |  Thắc mắc… Còn tin tưởng hay mất tin tưởng? |  10
Hoàng Minh Tuynh (dịch) |  Chính trị phải đạo đức \ Yves de Montcheuil S. J. |  11-14
Phan Khoang |  Vì sao các đề nghị duy tân không được thực hiện? |  15-22
Cô Liêu |  Một hy vọng cho tương lai giải phẫu: Ghép thận |  23-26
Đoàn Thêm |  Mơ mộng và lang thang |  27-32
Quảng cáo |  33-34
Lê Thành Nhân |  Về bài “Nhân đọc Sandor Petöfi” của Ông Phạm Công Thiện: Thư trả lời của Ông Lê Thành Nhân |  35-37
Quảng cáo |  38
Trần Văn Khê |  Lá thư hải ngoại |  39-43
Quảng cáo |  44
Nguyễn Hiến Lê |  Điểm sách: Đường Thi trích dịch của Đỗ Bằng Đoàn và Bùi Khánh Đản [II] |  45-52
Quảng cáo |  53-54
Bình Nguyên Lộc |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  55-59
Độc giả Bách-Khoa góp ý kiến |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  59
Đặng Trần Huân |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  60
Phan Nam Xuyên |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  61-62
Vũ Hân |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  63
Một độc giả ở Côn Đảo |  Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa |  64
Nguiễn Ngu Í |  Tóm tắt ý kiến và ghi những vấn đề cùng câu hỏi được nêu lên trong hai kỳ phỏng vấn trước |  65-68
Nguyễn (dịch) |  Cây giáng sinh thượng giới \ Dostoevsky |  69-73
Diệu Linh |  Quà tặng Noel (thơ) |  73
Đoàn Thêm |  Âm hưởng (thơ) |  74-76
Kiều Yiêu (dịch) |  Dịch Liêu trai: Trương Tam Quan \ Bồ Tùng Linh |  77-79
Lê Hùng |  Khép nép (thơ) |  80
Việt Trữ |  Kèn đưa ma |  81-84
Kim Thu |  Lối cũ về chiều (thơ) |  85
Vũ Hạnh |  Người nữ tỳ [II] (truyện) |  86-95
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách mới |  96
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 71 |  96
Quảng cáo |  97-102


SAIGON |  1960




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #430 vào: 13/11/2018, 21:18:08 »


Về bài “Nhân đọc Sandor Petöfi” của Ông Phạm Công Thiện:
Thư trả lời của Ông Lê Thành Nhân

L. T. S.– Sau khi đăng bài “Nhân đọc Sandor Petöfi” của Ông Phạm Công Thiện trên Bách-Khoa số 70 (ngày 1-12-1959) chúng tôi nhận được bài sau đây của Ông Lê Thành Nhân công nhận rằng Ông Phạm Công Thiện đã “có nhiều nhận xét rất đúng” tuy nhiên Ông vẫn còn chưa thỏa mãn về nhiều điểm. Chúng tôi xin đăng nguyên văn bức thư trả lời, để bạn đọc rõ những điểm mà Ông Lê Thành Nhân còn thắc mắc.

¤ ¤ ¤

TRONG BÁO Bách-Khoa số 70 ra ngày 1 tháng 12 năm1959, Ông đã có nhã ý viết một bài phê bình đầy đủ về bài báo Sandor Petöfi, linh hồn của hai cuộc Cách mạng đăng trên nguyệt san Sinh Lực số 10 ra ngày 25-10-1959 do tôi viết. Tôi thành thật cám ơn Ông rất nhiều và lãnh hội những ý kiến quí báu chung quanh câu chuyện.
         Bài báo kể trên tôi đã viết cách đây hơn ba năm trong lúc nhàn rỗi và đã bỏ quên trong hộc tủ cho đến ngày đưa đăng trên báo Sinh Lực. Sự cách biệt thời gian đó đã làm tôi thấy ngại, vì những tài liệu dùng để tham khảo bị mất hết. Khi viết, tôi còn ở Huế, bây giờ ở Tuy Hòa. Và vì thế khi đưa đăng trên Sinh Lực, tôi đã có ý tìm các tài liệu để sửa chữa lại, vì một tác phẩm cách khoảng thời gian đến ba năm chắc chắn không thể nào tránh được những sự sơ suất những khuyết điểm về hành văn cũng như về những chi tiết nhỏ không để ý đến. Cuối cùng tôi không tìm ra nên cứ cho đăng liều để kịp số báo. Vì thế mà có bài chỉ trích của Ông Phạm Công Thiện.
         Sau khi đọc kỹ bài phê bình của Ông, tôi nhận thấy ông có nhiều nhận xét rất đúng. Tuy nhiên cũng còn có nhiều điểm làm tôi không được thỏa mãn. Tôi xin lần lượt trình bày ở đây những ý kiến để cùng ông xác định lại những điểm trên tinh thần học hỏi và cầu tiến.
         Trong suốt bảy trang báo, ông đã mổ xẻ kỹ càng và nếu tôi không lầm thì cái chủ đích của Ông là đánh một tiếng chuông báo nguy về việc đề xuất xứ các bài trích dịch, phỏng theo…
         Tôi đã căn cứ trên tài liệu của các tạp chí ngoại quốc, và một số sách nhỏ do Bộ Thông tin ấn hành để viết bài “Sandor Petöfi…” Tôi đồng ý với Ông là bài cảo luận đã có nhiều đoạn phỏng dịch theo tạp chí Pháp ngữ mà ông đã dùng làm dẫn chứng. Nhưng thật ra, xuất xứ của bài báo đó không phải hoàn toàn xuất xứ từ bài của Maurice Croizard, mà còn do một số tài liệu khác (tôi không được nhớ rõ) và một vài ý kiến cá nhân cùng cái bố cục do chính tôi sáng tạo ra. Tôi không đề xuất xứ là vì thế. Ông gán cho tôi cái tội đạo văn ngoại quốc như trường hợp của Mel d’Orval thì cũng có hơi quá đáng đấy. Chính vì chỉ lấy ý, lấy tài liệu, đôi khi tôi đã dịch thoát cho nên một vài đoạn tôi không dịch đúng theo nguyên văn của các bài báo ngoại quốc. Có đoạn tôi tự ý thêm, đoạn khác tôi tự ý cắt xén đi, vì theo nhận thức chủ quan của tôi, đoạn đó không cần thiết hoặc vì một vài nguyên do khác. Ông căn cứ vào đó để nói tôi kém Pháp ngữ thì tôi cũng đành chịu. Vả lại trình độ hiểu biết về một ngoại ngữ không biết đến đâu là vừa.
         Nhân nói đến vấn đề xuất xứ các bài biên khảo, cảo luận về văn học ngoại quốc hoặc một vài danh nhân nào đó, tôi cũng xin có một vài ý kiến chắc ông cũng đồng ý với tôi là tất cả các bài biên khảo về văn học ngoại quốc hoặc về một vấn đề nào đó thuộc về các nước ngoài thì người viết đều dựa vào các tài liệu ngoại ngữ. Chúng ta ở trên đất Việt chắc chắn không thể nào biết được những sự biến chuyển về mọi mặt của nước ngoài, nhất là những câu chuyện xảy ra cách đây hàng mấy chục năm. Nếu lỡ ông dựa vào một tài liệu quá khích hoặc có những nhận định sai lầm thì bài biên khảo của ông không tránh được những khuyết điểm trên. Ngược lại, ông chọn được một tài liệu đúng đắn, sâu sắc thì bài nào của ông nhất định có giá trị. Hầu hết các bài biên khảo những vấn đề nước ngoài đều nằm trong trường hợp đó.
         Đối với một bài báo ngắn đăng trên một tờ báo, tôi ít khi thấy đề xuất xứ hoặc đưa ra cả lô tài liệu tham khảo. Vả lại nếu có đưa ra cũng ít người chịu khó tra lại từng chi tiết một. Trường hợp của Ông chẳng hạn. Trong báo Phổ Thông số 4, tôi có thấy Ông cho đăng một bài nói về thi sĩ Petöfi. Nếu trí nhớ tôi không kém thì hầu hết ý kiến, trừ những bài thơ Ông đã trích đăng, đều của tác giả bài báo mà Ông đã đem ra làm dẫn chứng. Lối hành văn cũng giống, nếu ông chịu khó đọc lại trang 87, 88, 89… thì sẽ nhận thấy rõ.(1) Tôi đã để ý tìm chỗ để xuất xứ nhưng không thấy đâu hết cả. Tôi đoán chắc ông không có ý đạo văn ngoại quốc mà có lẽ vì một lý do nào khác.
         Điểm thứ hai trong bài phê bình, ông đã chịu khó chú ý đến những sơ xuất của ấn công. Đầu tiên Ông nhận xét rất đúng về chữ CORSE thay vì CORSO. Chữ Danube Le Corso mà viết như vậy Ông nói cũng phải. Tôi tiếc rằng không còn có một bản thảo nào khác để so sánh lại thử xem sao. Từ trước đến nay, những sự sai lầm nhỏ của ấn công tôi ít khi chú ý, nhưng bây giờ ông đã làm cho tôi sáng mắt ra để rồi phải cẩn thận như ông mới được. Trường hợp chữ Magyare cũng vậy.
         Về đoạn thơ, tôi bỏ câu kia không dịch đến vì muốn nhấn mạnh hai chữ Nô Lệ và Tự Do. Nếu có câu kia vào thì sẽ làm ngăn cách và như thế sẽ loãng ý. Tôi có chấm nhiều chấm sau câu tiếp đó nhưng không thấy trong bài báo. Căn cứ vào đó ông đặt câu nghi vấn về việc tôi không dịch nổi câu chữ Pháp C’est l’heure à présent ou jamais hay Maintenant ou jamais, vous avez le choix thì cũng có hơi buồn cười và khe khắt đấy.
         Rouget de Lisle không làm thơ. Tôi đồng ý. Gia tài văn nghệ của ông chỉ có bài quốc ca Pháp La Marseillaise. Nhưng chẳng riêng gì những người làm thơ mới có công trình sáng tạo và được người ta gọi như vậy. Thế thì người viết văn, soạn nhạc, họa không có công trình sáng tạo sao?
         Đoạn nói về yêu sách của thi sĩ, tôi nhớ có đọc một bài báo nhưng không còn nhớ tên gì và ở trang nào. Nếu tôi được ở gần thủ đô có nhiều thư viện như ông bây giờ thì quý biết mấy. Tiếc rằng tỉnh của tôi không có thư viện nào cả và cũng chẳng có nhà sách nào bán báo chí ngoại ngữ. Những tác phẩm của ông đã đọc có lẽ vì quá sùng kính thi sĩ nên không có nói đến, hoặc vì ông dễ tính nên cho những sự điều đình của thi sĩ và nhà xuất bản không có những điều khoản khó khăn nên ông thần thánh hóa nhà thơ chăng?
         Ông cho tôi nhục mạ dân tộc Hung Gia Lợi, dù chỉ vô tình. Cũng may ở nước ta không có mấy người Hung nên tôi được sống yên, nếu không, có ngày vì tình yêu nước tha thiết của người Hung mà tôi không khéo bị mất mạng. Thật ra tôi dùng chữ Mọi rợ để ám chỉ dân Magyare vào thế kỷ thứ XVII, XVIII thì cũng có hơi quá đáng đấy, nhưng tôi chắc họ cũng không văn minh gì.
         Câu nói về Vienne và Hung Gia Lợi tôi đề cập tình hình kinh tế mà ông gán cho tôi muốn đề cập tình hình chính trị, thì tôi thật không biết đường nào mà rờ. Ông đọc lại chắc sẽ thấy rõ.
         Tôi thành thật cám ơn Ông đã sốt sắng phê bình bài báo của tôi. Tôi xin thâu nhận. Những sơ hở mà ông đã nêu ra trong bài đăng ở Bách-Khoa số trước đều do tính không thận trọng của tôi. Tôi trả lời bức thư này không có ý thương xác và tranh luận với Ông và chỉ muốn làm sáng tỏ một vài điểm tôi không được thỏa mãn lắm qua bài phê bình của Ông. Mong Ông hiểu cho và xin ngừng hẳn ở nơi đây.


3.XII.1959
LÊ THÀNH NHÂN

_________________________________________
(1) Theo Ông Phạm Công Thiện cho biết thì Ông Lê Thành Nhân, nếu không dụng ý xuyên tạc, cũng đã quá lầm lẫn khi quyết đoán rằng bài Petöfi trên Phổ Thông số 4 là lấy của Maurice Croizard. Thực ra hai bài khác hẳn nhau (so sánh là thấy ngay), vì viết bài báo trên đây, Ông Phạm Công Thiện đã tham khảo một số sách báo khác hẳn với bài của Croizard. Vả lại nếu cùng một “xuất xứ” thì bài Petöfi trên Phổ Thông số 4 tất phải giống hệt bài Petöfi trên Sinh Lực số 10 rồi! (Chú thích của Tòa soạn.)


BÁCH KHOA |  SỐ 72

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #431 vào: 15/11/2018, 00:02:33 »


Bình Nguyên Lộc Trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

            Sanh năm 1914 tại Tân Uyên (Biên Hòa).
            Tên thật là Tô Văn Tuấn. Sau khi ra trường, đi buôn, rồi làm công chức; sau cuộc cách mạng 1945, chuyên sống về nghề viết. Hiện chủ trương nhà xuất bản “Bến Nghé” và tuần báo “Vui Sống”.
            Nhập tịch vào làng văn từ 1943 (nhóm “Thanh Niên” ở Nam). Tác phẩm đầu tay: “Hương gió Đồng Nai”, bản thảo bị thất lạc trong thời tản cư.
            Từ 1950, cộng tác với hầu hết các báo ở miền Nam. Có lẽ là nhà văn sáng tác đều và nhiều nhất hiện giờ ở nước Việt tự do: mười bài thơ, vài tập truyện bằng thơ, 15 truyện dài, 500 truyện ngắn, nhưng mới được xuất bản một tập truyện ngắn: Nhốt gió (1951), và tự xuất bản trong măm 1959 hai cuốn truyện dài: Đò dọc, Gieo gió gặt bão.


○ ○ ○

HỎI TÔI những truyện ngắn nào hay, tôi đáp rất dễ dàng, nhưng hỏi truyện hay nhứt thì tôi bối rối quá. Vẻ đẹp thiên hình vạn trạng, khó mà cho rằng màu hồng đẹp hơn màu xanh.
         Nhưng chắc nhà báo cũng định hỏi thử xem sao thì tôi cũng xin chọn thử vậy.
         Tôi nghĩ đến truyện “Ma đậu” của Bùi Hiển; trước nhứt vì tôi thấy đó là một truyện ngắn dựng lên chặt chẽ nhứt. Nhưng tôi chợt nhận thức rằng truyện ấy chỉ hay nhứt về hình thức thôi, chớ nội dung không có gì nên tôi lại đổi ý. Tôi rất trọng hình thức, nhưng không thể bỏ qua nội dung được.
         Xin nhắc rằng “Ma đậu” là truyện chót trong tập truyện ngắn nhan là “Nằm vạ” của Bùi Hiển, do nhà Đời Nay xuất bản lần đầu hồi tiền chiến.(1) Truyện kể một mưu mẹo tài tình mà một ông lão nhà quê dùng để cho chị vợ nọ thuận ăn ở với một anh chồng cục mịch.
         Tôi khỏi phải do dự lâu trước hai truyện nổi tiếng khác là truyện “Sợi tóc” của Thạch Lam(2) và truyện “Năm hạn” của Trần Tiêu.
         Truyện “Sợi tóc” mà ai cũng biết, rất nặng phần phân tách (theo kiểu Stefan Zweig) nên mặc dầu sâu sắc, nó không đáng là một truyện ngắn theo quan niệm của toàn thể thế giới. Nên nhớ là thế giới xem Marcel Proust là nhà văn hơn là nhà tiểu thuyết, và xem Stefan Zweig là nhà văn hơn là nhà truyện ngắn, vì tiểu thuyết và truyện ngắn phải có đức tánh khác hơn là chỉ phân tách sâu sắc thôi.
         Vậy tôi chọn ngay truyện “Năm hạn”, “Năm hạn” là truyện đầu của tập truyện ngắn nhan là “Truyện quê” do nhà “Lượm lúa vàng” xuất bản hồi tiền chiến.(3)
         Truyện bắt đầu bằng một cảnh bối rối của dân làng nơi một xó quê kia. Kẻ mang gừng, người rượu thuốc, dân làng chạy tới chạy lui lăng xăng vì trong làng có một con bịnh nguy. Con bịnh ấy phải là người quan trọng, con ông Chánh tổng chẳng hạn, vì cả vùng nhao nhao lên kia mà, và hẳn phải là một nhơn vật rất được cảm tình, vì ai cũng xót xa vì bịnh trạng của hắn.
         Tác giả tả cảnh bối rối, xót xa nầy rất hoạt và rất hay. Câu chuyện cứ kéo dài như thế cho đến khi chấm dứt người đọc mới được biết con bịnh mà số mạng làm hồi hộp cả một vùng ấy là một… con trâu.
         Vậy, con trâu độc nhứt trong vùng mà người dân ai cũng nhờ nó để cày bừa cho đỡ nhọc, con trâu cứu tinh ấy hấp hối thì người ta xót xa vì nó hơn là vua chết, không còn làm ngạc nhiên ai nữa.
         Thảm cảnh của dân quê miền châu thổ Nhị Hà, tác giả đã đưa ra một cách thản nhiên, lạnh lùng, nhưng hùng biện, không nói ra mà người đọc thấy ngay, linh hoạt hơn lời phân tách sâu sắc nào cả. Nghệ thuật là ở chỗ đó: để sự việc nói thay cho tác giả.
         Nghệ thuật của tác giả ở đây, làm ta nhớ đến nghệ thuật của Somerset Maugham trong truyện ngắn “Mr. Know-All”.(4) Trong truyện nầy nhà văn Anh chỉ tả từ đầu đến gần cuối sự làm phách của một anh chàng kia. Nhưng đại ý của câu chuyện thì khác: đó là truyện tả cái cao cả của một sự hi sanh, anh chàng làm phách hi sanh lòng tự ái của hắn. Nhưng nghệ thuật siêu việt của Maugham khiến nhiều người hiểu lầm, hoặc không thấy đại ý câu chuyện, hoặc thấy, nhưng cho là truyện thiếu thăng bằng, cái đoạn tả sự làm phách dài quá.
         Sự thật thì chính nghệ thuật là ở chỗ đó. Sự làm phách càng được nói đến nhiều thì sự hi sanh lòng tự ái mới thấy là to tát, mà tác giả khỏi nói ra là nó to tát.
         Nghệ thuật của Trần Tiêu cũng thế. Sự bối rối, xót xa của dân làng càng được tả nhiều thì cái chết của con bịnh mới thấy là quan trọng, và con bịnh mới thấy là cần thiết cho họ, và như thế cái khổ minh mông của họ khỏi phải nói ra, vẫn rõ bông bông và đánh mạnh vào lòng ta hơn là lời thuyết dụ nào cả.
         Vậy tôi chọn truyện “Năm hạn” vì truyện ấy có một nội dung hay và nội dung ấy được nâng đỡ bằng một nghệ thuật tuyệt vời.



         Truyện ngắn ngoại quốc nào hay nhứt à? Phần đông bạn hữu tôi đều cho là truyện “Ông Tự Vị” nói trên hay nhứt. Nhưng theo tôi thì truyện “Johnny, người gấu” của John Steinbeck mới là hay nhứt.
         Nhà xuất bản Pierre Seghers ở Ba Lê có ấn hành một tập nhan là “Hai mươi tân truyện hay nhứt của Hoa Kỳ” do ông Alain Bosquet chọn truyện. Nhưng ông A. B. đã chọn truyện “Người lãnh tụ” của John Steinbeck mà đáng lý gì phải trọn truyện “Johnny, người gấu” mới phải.
         Thế mới biết việc chọn truyện thay đổi từng người, tùy sở thích từng người. Nhưng lý do của ai vững thì sự lựa chọn của người ấy là đúng. Mà khổ là ai cũng tưởng lý do của mình là đúng. Vậy bạn đọc cứ tin theo lý do nào hợp với quan niệm của bạn. Ta nên hiểu đây là một cuộc dọ thử của nhà báo chớ không phải là một cuộc triển lãm khuôn vàng thước ngọc, cần phải nghe theo, và xin bạn trẻ chớ tin tôi lắm, mà nên vận dụng trí phán đoán riêng của các bạn.
         Tiện đây cũng xin nhắc rằng có những tập truyện ngắn Pháp nhan là “Năm mươi bốn truyện ngắn quốc tế hay nhứt”, hoặc “Những truyện ngắn quốc tế hay nhứt”.
         Nên biết rằng đó là những truyện dự thi, trong một năm, do một tạp chí đề xướng,(5) chớ không phải là đó là những chuyện từ cổ chí kim, và nhứt là những truyện của những người chịu dự thi, phần đông là những người mới viết, chớ không của phải toàn thể văn nhân thế giới.



        “Johnny, người gấu” đăng trong tập “Thung lũng lớn” của John Steinbeck.
         Loma một làng hẻo lánh trong tiểu bang Californie, là nơi cò ho khỉ gáy. Tối tối đờn ông trong làng không biết giải trí ở đâu, nên tụ họp tại quán rượu Buffalo để uống whisky và tán truyện gấu.
         Quán Buffalo có một ẩm khách kỳ dị. Đó là một đứa đần độn trong làng, không nói được một câu có nghĩa, nhưng có tài nhái giọng người khác. Nó nhái y hệt đến chính người bị nhái cũng phải kinh ngạc. Nó cao lớn dình dàng, bộ tịch chậm chạp và đi đứng êm ái y hệt như một con gấu, nên người ta thường gọi nó là Johnny-người-gấu.
         Người gấu thích uống whisky mà không tiền, nên hay chà lết ở quán rượu vào giờ đầu hôm, nhái một mẩu chuyện nghe lóm được ở đâu đó, để được khách tò mò thưởng rượu cho.
         Người gấu hay rình để bắt chợt chuyện thầm kín của người khác để có đề tài nhái họ mỗi đêm. Không vách nhà, không bụi rậm nào giữ nhẹm chuyện gì được đối với hắn.
         Người đời luôn luôn tò mò để biết chuyện xấu của thiên hạ, vợ ai chửi ai như thế nào, ông chủ ve vãn cô thơ ký làm sao v.v…, nên hắn ta đêm nào cũng có rượu uống phủ phê. Khách hàng của quán rượu ai cũng sợ bị hắn phanh phui chuyện riêng mà không làm gì hắn được vì hắn to lớn vậm vỡ lắm, nhưng ai cũng thích hắn tiết lộ chuyện riêng của kẻ khác.
         Mỗi tối người gấu lòi ra một mẩu chuyện bất ngờ mà hắn nghe lóm được đêm rồi dưới của sổ các tư gia. Nó không kể chuyện mà chỉ nhái lời và giọng của hai người nào đó thôi. Không khí ghê sợ như có ma hay có tay phù thủy nào xen vào đời tư của mỗi người. Người ta hồi hộp nín thở mà nghe con đồng cốt ấy tố cáo mọi việc bí ẩn xảy ra trong vùng.
         Một hôm, theo lệ thường, người gấu vào quán Buffalo và bắt đầu quay cái dĩa hát miệng kỳ dị mà hẳn vừa thu thanh được đêm qua. Lần nầy giọng hai phụ nữ làm cho thính giả thoạt thất vọng. À, vợ chửi chồng, ông chủ ve chị vú, nghĩa là phải một nam một nữ thì nghe mới hấp dẫn, chớ còn hai bà nói với nhau thì còn thú vị gì. Hơn nữa đó là hai bà đạo đức thì có gì lộn xộn trong đời họ đâu mà nghe cho mất công.
         Hai bà bị nhái là hai cô gái già, tên Emaly và Amy, hai chị em ruột, con của một nghị sĩ ngày xưa. Là chủ đồn điền giàu có, hai chị em rất đoan trang, rất mộ đạo và ưa làm việc phước thiện. Trong làng, người ta nêu đời sống của hai chị em ra để làm gương mẫu cho con cái họ.
         Thằng người gấu không được một giọt rượu nào. Nhưng mà kìa, nó lại nhái giọng cô chị để mắng cô em về sự động cỡn của cô nầy trong những lúc đêm khuya canh vắng. Sự kinh ngạc của thính giả lên đến cực độ. Cho đến anh chủ quán keo kiệt Carl, cũng rót rượu mà thưởng cho tên phù thủy đáng sợ nầy. Người ta còn muốn nghe tiếp cho biết chuyện gì đã xảy ra sau cổng kín tường cao kia, vì có một câu của Emaly hơi tối nghĩa. “Tao không bao giờ dè, nếu tao không thấy mầy như vậy. Mầy là con quỉ!”
         Thấy kiếm ăn được người gấu tiếp tục rình nhà hai chị em cô gái già ấy. Rồi cứ mỗi đầu hôm nó một phát giác thêm một mẩu chuyện rọi ánh sáng ghê rợn vào gia đình đoan chánh đó.
         Một đêm kia, khi nghe nó, người ta mới hay rằng cô Amy đã treo cổ tự tử. Vị bác sĩ riêng của gia đình đến cứu chữa và nói cho cô Emaly biết rằng cô Amy đã mang thai.
         Mẩu chuyện cuối cùng về nhà ấy, cho người ta biết đoạn đầu của cuộc sa đọa của cô gái già đạo đức: mỗi tối một anh tá điền Trung Hoa, vào nhà dạy Amy học tiếng Khách…
         Viết truyện ngắn nầy, hình như J. Steinbeck thách đố cả làng văn thế giới. Nhà văn ấy cố chọn một đề tài sáo, một câu chuyện thường hay xảy ra, và đã được khai thác nhiều lần rồi. Nhưng quả chưa nhà văn nào khai thác đề tài cũ ấy được hấp dẫn cả. Như ông, như tôi, người ta đã trình bày câu chuyện theo một mạch tự nhiên: Hai cô gái già đoan chính sống hòa thuận với nhau trong sự kính nể của người chung quanh. Bỗng đùng một cái, một cô mang thai, rồi tự tử. Như thế thì ai nói cũng được, không đợi đến nghệ thuật tuyệt xảo của một nhà tiểu thuyết nữa.
         Một truyện ngắn hay phải có đủ những đức tính nầy: nội dung câu chuyệnnghệ thuật. Câu chuyện lắm khi không cần mà người đọc vẫn không thấy chán nhờ nghệ thuật bù qua.
         Nghệ thuật thì gồm lối dựng truyện, cách bố trí, hành văn và linh hồn truyện, tức là những chi tiết nhỏ, những ý nghĩ nhỏ rải rác trong đó.
         Xin các bạn chớ ngạc nhiên khi thấy tôi không đả động đến hai điểm cuối cùng: hành văn và hồn truyện khi chọn truyện ngắn hay nhứt ở trên.
         Tôi chỉ noi gương các nhà chọn truyện thế giới mà làm việc thôi. Thường thì người ta lấy truyện đã ra truyện rồi mà chọn, tức là lấy những truyện văn đã hay và đã có hồn. Những truyện khác, mặc dầu nội dung sâu sắc, bố trí tài tình bao nhiêu, mà hỏng về văn, về hồn, thì đã bị loại, không thể nào in được, thì không còn vấn đề chọn lọc nữa.
         Vậy những truyện được đưa ra chọn là ngầm hiểu với nhau rằng đó là những truyện đã hay rồi về hành văn và đã có hồn rồi.
         Các nhà phê bình ngoại quốc cũng ít khi nói đến văn cũng vì lẽ trên.
         Trở lại vấn đề chính. Hai truyện Năm hạnJohnny, Người gấu có đủ đức tánh vừa nói qua, nên xin cử nó là hai truyện đầu đàn của ta và thế giới.
         Có lẽ tôi chủ quan. Nhưng tôi thành thật.


Sàigòn ngày 18-3-1959
BÌNH NGUYÊN LỘC

______________________________________
(1) Năm 1941. (Tất cả các lời chú trong bài này là của Nguiễn Ngu Í.)
(2) Đời Nay xuất bản, Hànội 1942, Phượng Giang vừa tái bản.
(3) Hànội 1942.
(4) Thạch Lam dịch là “Ông Tự Vị” (Bình Nguyên Lộc chú). Chúng tôi nhớ có đọc truyện dịch này trong báo “Ngày Nay” vào khoảng năm 1940 và nhớ dịch giả là Thế Lữ, chớ chẳng phải là Thạch Lam. Rất có thể là bổn dịch ấy viết tắt T. L., anh Bình Nguyên Lộc hiểu là Thạch Lam, còn chúng tôi lại hiểu là Thế Lữ, vì thấy Thế Lữ hay dịch truyện và tiểu thuyết Anh. Đoán rằng nay chỉ có mình ông Nhất Linh là có thể trọn bộ Ngày Nay, chúng tôi có thư nhờ ông cho biết chi tiết này, nhưng chẳng được ông trả lời. Vậy bạn nào biết chắc tên dịch giả thì xin cho chúng tôi rõ (còn may hơn nữa, bạn nào còn giữ được số Ngày Nay ấy, xin cho biết thêm số và ngày). Mới đây, trên báo Ngày Mới (số 6, bộ mới, ngày 8-5-1959), có đăng một bản dịch của Quốc Ấn, nhan là “Ông Bách-Khoa”.
(5) Rõ ràng hơn là do nhật báo “New-Yofk Herlad Tribune” và Hãng Báo chí ở Luân Đôn và ở Nữu Ước tổ chức lần đầu năm 1952, với sự hợp tác của 23 quốc gia trên khắp thế giới.


BÁCH KHOA |  SỐ 72

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #432 vào: 15/11/2018, 21:21:00 »


Độc giả Bách-Khoa góp ý kiến

Lời nói đầu của người phụ trách cuộc phỏng vấn
         Kỳ này, chúng tôi xin giới thiệu cùng quí bạn bốn người… bạn của Bách-Khoa trong số những người bạn đã viết thư và góp ý. Đó là bốn bạn: Đặng Trần Huân, Phan Nam Xuyên, Vũ Hân và một độc giả không cho biết tên ở Côn Đảo.
         Bạn thì mang quân phục, bạn thì làm một nhà mô phạm, bạn lại từng viết sách, làm thơ, đang dưỡng bịnh ở bến Hàn Giang, bạn là một phạm nhân chánh trị còn ở đảo Côn Sơn, tuy có khác nhau vì “nghề”, nhưng lại cùng nhau chung một “nghiệp”: nghiệp văn chương. Nên bốn bạn đã sốt sắng cầm bút mà góp ý, tỏ tình, về mấy câu hỏi của cuộc phỏng vấn do chúng tôi phụ trách.
         Để rộng đường bàn xét, chúng tôi xin đăng bài bốn bạn trên đây, theo thứ tự nhận được. Mong rằng các bài này, ví chẳng đem lại điều gì mới, lạ, cùng nói được chút gì… chẳng hạn chút tình của vài bạn đọc của Bách-Khoa, đã chẳng thờ ơ với một việc làm văn nghệ do tờ tạp chí của mình đề xướng.
         Và với ý kiến của bốn bạn đọc này, là cuộc phỏng vấn chấm dứt. Xin mời các bạn xem bài tổng kết trong số Kỷ niệm đệ tam chu niên.


NGUIỄN NGU Í


BÁCH KHOA |  SỐ 72

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #433 vào: 15/11/2018, 22:57:29 »


Đặng Trần Huân trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

… XIN GÓP Ý KIẾN VỀ “truyện ngắn hay nhất”. Trong mục này, ông có phỏng vấn nhiều nhà văn, tôi muốn trả lời quá, nhưng không phải là nhà văn mà chỉ mới là độc giả. Vậy xin trả lời để mà chơi(1) để ông biết ý kiến của một “phi văn sĩ” và để giải thoát một cái gì trong lòng tôi mà không biết nói với ai.
         1.– Truyện ngắn Việt
         Không thể nói một truyện ngắn thích nhất. Tôi chỉ có thể nói những truyện ngắn tôi thích nhất:
         a) Truyện Nhà bên kia(2) của Đỗ Đức Thu. Tôi thích truyện này vì nó như một phim chớp bóng, chỉ ngồi nhìn những bóng đen bên nhà hàng xóm qua cửa sổ mà đoán ra câu chuyện như đi xem phim câm, quả là thích thú vô cùng. Đọc “Nhà bên kia” của Đỗ Đức Thu, tôi thích như xem phim “Fenêtre sur cour”(3) hay tiểu thuyết “Grand Hôtel” của Vicki Baum vậy, cái khoái của một người nhìn qua lỗ khóa.
         b) Truyện Tiếng sáo của Thạch Lam (đăng trong Nắng trong vườn).(4) Xem truyện như là lạc vào cõi mộng. Không khí lãng mạn của câu chuyện làm mình quên cả cuộc đời hỗn độn ngoài thực tế.
         c) Một truyện trào phúng tôi rất thích mà chắc ông chưa đọc vì tác giả không nói tiếng và đã chết. Chính tôi cũng quên tên. Đó là một truyện ngắn của Tùng Khanh đăng trong tuần báo “Thanh Niên”, xuất bản ở Hànội hồi 1950-1953. Có lẽ tên truyện là “Gác cho thuê”. Truyện tả một thanh niên nghèo thuê nhà được con gái chủ nhà mê. Nhưng vì ở trên gác mà chủ nhà quá khó tính không chịu mở cửa cầu thang về đêm nên thanh niên này đã phải đại tiện vào một tờ báo rồi ném qua cửa sổ sang nhà hàng xóm, không may, vì lúng túng quá, gói phân đã rớt xuống sàn nhà dưới, cô con gái chủ nhà tưởng thanh niên gửi quà tỏ tình, ngước mắt lên gác cười tủm rồi chạy ra nhặt vội… gói phân.
         Câu chuyện giản dị như thế nhưng Tùng Khanh viết rất có duyên, vừa sâu cay vừa buồn cười.
         Tôi phục “Khao” của Đỗ Phồn, “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, nhưng Đỗ Phồn tàn ác quá, và Vũ Trọng Phụng chỉ làm ta mỉm cười chứ không bắt ta bật cười ra tiếng như Tùng Khanh.
         Đọc “Gác cho thuê”, tôi thấy như xem phim Charlot, có giá trỉ cả về khôi hài lẫn trào phúng.
         2.– Truyện ngắn ngoại quốc
         a) Tôi thì thích nhất truyện Pluie (Mưa) của Somerset Maugham (đăng trong tập L’archipel aux sirènes).
         Truyện không có gì nhưng đọc rất ham. Truyện tả một giáo sĩ tới một hòn đảo ở Thái Bình Dương rất bất bình về cuộc sống trụy lạc tại đây. Ông đã mang hết tâm trí, tài năng ra để thuyết phục một thương nữ trở về đời sống lương thiện, nhưng cuối cùng chính giáo sĩ đã sa ngã và đã phạm tội với người kỹ nữ ấy. Hối hận ông cứa cổ tự sát. “Pluie” hay vì đoạn kết có nhân loại tính; “Pluie” là một truyện rất “người”. Còn toàn truyện làm cho độc giả thấy một không khí mưa tràn trề, mưa lai rai, dầm dề khó chịu, diễn tả đúng cái nhan đề vắn tắt mà đủ nghĩa: Rain.
         b) Truyện thứ hai mà tôi thích là một truyện Mỹ “Le grand contrat pour la fourniture du boeuf conservé” (Bảng đại khế ước để cung cấp thịt bò hộp) của Mark Twain đăng trong một cuốn Contes choisis của M. Twain do Mercure de France xuất bản.
         Thích vì truyện quá chua chát khi công kích căn bệnh quốc tế tại một số cơ quan là bệnh câu nệ nguyên tắc giấy tờ thái quá.
         Vì thích truyện này quá nên tôi đã liền dịch một cách rất tồi truyện này ra Việt ngữ và đã đăng trong “Văn Nghệ Tiền Phong” số 94, ngày 10/4/1958.
         3.– Ngoại lệ
         Có một truyện của Áo tôi đọc năm 1950 – Tôi đọc nó tới bốn lần: hai lần bằng tiếng Pháp. Sau đó đọc bản dịch của Ngọc Giao, nhan “Tâm sự người điên”, rồi bản dịch (thiếu sót) của bà Vũ Bá Hùng, nhan “Người điên ngã trên quan tài”, và gần đây đọc lại vẫn thấy thích vô cùng. Tôi thích hơn cả Pluie và Le grand contrat…
         Đó là truyện Amok của Stefan Zweig.
         Truyện viết theo lối kể chuyện: tác giả kể cho chúng ta nghe và một bác sĩ kể cho tác giả nghe… Nhưng đến đoạn kết, chính viên bác sĩ đã tử tự trước mắt tác giả. Thành ra khi hết chuyện, người kể chuyện (bác sĩ) đều trở thành những nhân vật của câu chuyện.
         Tôi đọc Amok thấy hấp dẫn hơn một tiểu thuyết trinh thám. (…)


ĐẶNG TRẦN HUÂN

_________________________________________________
(1) Tuy tác giả bảo “trả lời để mà chơi” nhưng mà chúng tôi thấy rằng thật sự ông bạn họ Đặng Trần trả lời khá kỹ càng và rất duyên dáng nữa.
(2) Trong tập truyện ngắn do Cộng Lực (Hànội) xuất bản năm 1942, nhan mang tên truyện ngắn này.
(3) Do Alfried Hitchcock đạo diễn.
(4) Đời Nay, Hànội, 1938.


BÁCH KHOA |  SỐ 72

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #434 vào: 16/11/2018, 23:11:32 »


Phan Nam Xuyên trả lời cuộc phỏng vấn văn nghệ của Bách-Khoa

         Kính gởi anh (…)
         (…) Phân vân như thế, cũng phải trả lời hai câu hỏi 2 và 4.
         1.– Truyện ngắn Việt
         Có những truyện mà tôi đã đọc trong thời học sinh, tôi thích lắm; bây giờ tôi hết thích, nhưng tôi vẫn thấy là hay; thật ỡm ờ! Như Sống chết mặc bây! của Phạm Duy Tốn. Về sau, các tác phẩm của Tự Lực văn đoàn hấp dẫn tôi mạnh mẽ nhất, bấy giờ tôi mới thấy họ nói đến những gì mà mình đã cảm thấy, mà cái tuổi thanh niên của mình hằng tơ tưởng, băn khoăn hay ước mong… Nhà văn cảm thông với mình lắm!
         Tôi rất thích (chứ không thích nhất) truyện Cái tẩy,(1) trong tập Hai buổi chiều vàng của Nhất Linh.(1) Anh cho phép tôi kể lại một tí: đấy là chuyện anh “Huy địa dư”, một học sinh đã thi tú tài hai lần; nổi tiếng giỏi sử địa, mà thi hỏng sử địa vì… cái tẩy. Về sau… chiều chiều anh ngồi cho lạc rang vào chai, để giúp vợ bán hàng tạp hóa tại một làng quê xa vắng. Tôi quên làm sao được cái tâm sự khả liên của Huy địa dư hồn nhiên kể cho một người bạn học cũ nghe (một kỹ sư), câu chuyện bên cạnh giàn mướp sau hiên nhà tồi tàn của chàng, dưới ánh trăng khuya trong thôn trang xa vắng. Câu chuyện kể một cách tự nhiên, ngắn mà thấu đáo; bẳn sắc hồn nhiên của Huy nổi rõ, tự nhiên ta cảm động thương thương chàng mà biết rằng chàng không nghĩ đến việc được ai thương. Mỉa mai, cay đắng, mà vui vui, thật quá, mà không não nề. “Sự nghèo khổ không nguy hiểm cho người ta bằng sự trụy lạc về tinh thần”, cảm tưởng ấy của người bạn cũ càng làm nổi bật cái cá tính của Huy và khiến cho người đọc suy ngẫm, trong giới học sinh, có biết bao nhiêu là “Huy địa dư”, và trong đời biết bao nhiêu người đã gặp, đương gặp và sẽ gặp “cái tẩy”; nhưng được mấy người tự nhiên, ung dung như “Huy địa dư”? – Còn truyện Hồn bướm mơ tiên của Khái Hưng (xấp xỉ 100 trang) anh có cho là một truyện ngắn không? Trong khi truyện Mối tình đầu (Premier Amour, của Tourgueniev), 110 trang, đã xếp vào hạng nouvelle (truyện ngắn?). Tôi đọc truyện ấy không chán, nó như một con đường ở sơn thôn, len lỏi theo những dãy đồi xanh tươi và những cánh đồng bé nhỏ xinh xinh; mỗi khúc quanh để hiện ra một cảnh mới lạ, thỉnh thoảng ra nghe tiếng suối khuất nẻo róc rách đâu đó và tiếng chim mách lẻo trong lùm cây. Phong cảnh bên đường buồn hay vui cũng nhẹ nhàng, không thái quá, khiến ta háo kỳ, vui chân đi mãi. Tác giả kể vui, nước truyện chập chờn, các tình tiết như kết thúc mà không kết hẳn, tác giả thôi kể mà câu chuyện như vẫn còn.
         Gần đây tôi có đọc các ông Lưu Nghi, Võ Phiến, Nguyễn Văn Xuân, Bình Nguyên Lộc; tác phẩm các vị ấy có những đặc sắc khiến tôi chú ý lắm. Tôi chưa có những ấn tượng gì rõ trệt, nên chưa dám trình bày. Vả lại, công việc hằng ngày bận rộn quá, anh ạ. Bây giờ mời anh đi ngoại quốc.
         2.– Truyện ngắn ngoại quốc
         Từ truyện “Quả cam” trong Kim Cổ Kỳ Quan, “Những đêm trắng” (Les nuits bianches, của Dostoievsky) cho đến “Những cánh thư hè” (Les lettres de mon moulin, A Daudet) và “Trên sông khuya” (Sur l’eau của Guy de Maupassant) v.v… thật là những kỳ hoa dị thảo. Tôi rất thích “Những vì sao” (Les étoiles, A. Daudet) và “Các cụ già” (Les vieux, A. Daudet). Ông Daudet có lời văn nhanh nhẹn, linh động và vui vẻ; những nhân vật của ông ngộ nghĩnh, đến đâu làm vui đó. Nhưng điều đáng chú ý hồn trong tác phẩm của ông là ông tả rất linh động những nếp sống và phong tục dân gian ở chốn thôn dã. Đọc ông, ta như nghe rõ tiếng vọng của quê hương, ngửi mùi vị chất phác và đậm đà của đất nước, cũng như ở vài đoạn trong “Ngày mới” của Thạch Lam. Về Maupassant, tôi thích một truyện mà tôi quên mất tên, ở trong tập “Trên sông khuya” (Sur l’eau). Có lẽ đấy là truyện “trong sạch” độc nhất của ông: Truyện chỉ có một nhân vật và một chiếc thuyền trên sông khuya dày đặc sương mù, và… gần sáng, một cái… xác người, kéo từ dưới sông lên. Cái cảm giác được gợi mạnh mẽ nhất trong đó là sự sợ hãi. Truyện không có gì, nhưng trí tưởng tượng của tác giả khéo quá và vì hay quá nên kể lại không nổi, Guy de Maupassant có tài tả thực tuyệt khéo; cây bút của ông linh hoạt, già dặn; ông đã nói ra những chuyện thầm kín, tội lỗi của con người mà ông kể một cách dễ dàng, duyên dáng, nửa đùa nửa thật lắm đoạn trong tác phẩm ông rất văn chương, rất nên thơ, làm cho người đọc rung động thích thú.
         Tổng chi, tôi không thể nói được truyện ngắn nào hay nhất và cũng không nói được thích nhất, chỉ có thể nói “thích lắm”, mà nói thế cũng không phải hoàn toàn chủ quan vì không phải riêng mình khám phá cái hay, cái đẹp của một tác phẩm. Tuy nhiên, tôi tưởng không có công chúng thì cái hay của các văn phẩm cũng không được phát giác.
         Vậy nên, tôi đã nói đây là một vấn đề mênh mông; tuy có đáp vấn mà không thật có đủ thẩm quyền, không thể nói một cách độc đoán. Nhưng tôi thấy cần nên phát biểu ý kiến của mình, gọi là không thờ ơ với một vấn đề văn nghệ mới mẻ rất đáng chú ý.
         Mến chào anh.


Khu Bàn Cờ, mùa mưa 1959
Nam-Xuyên PHAN NGỌC CHÂU

_______________________________________________
(1) Đời Nay, Hànội, 1937.


BÁCH KHOA |  SỐ 72