Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 36352 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #450 vào: 28/11/2018, 21:11:11 »


Cái bong bóng lợn

ĐÃ CÓ MỘT THỜI GIAN, tôi không thể quan niệm rằng tôi có thể ăn Tết mà không có một cái bong bóng lợn. Đó là những năm tôi còn nhỏ, đi học ở một tỉnh xa nhà và Tết đến thì được trở về làng với gia đình. Ở thời đó, những hình thức thưởng xuân chưa bị giản dị hóa đến mực độ làm nông cạn cả ý nghĩa của Tết như bây giờ. Thầy tôi thì bắt buộc phải có cái giò thủy tiên, mẹ tôi thì bắt buộc phải có nồi nước nóng lá mùi để tắm gội, và tôi thì bắt buộc phải có cái bong bóng lợn, đúng cái bong bóng của con lợn nhà giết để ăn Tết.
         Nói đến giết lợn ăn Tết, là nói đến cả một nghi thức nhịp nhàng như một bản hợp tấu do chính thầy tôi chỉ huy vững vàng như một nhạc trưởng.
         Tết nào cũng vậy, đúng năm giờ sáng hôm ba mươi, sau khi kéo xong điếu thuốc lào thường lệ là thầy tôi tiến ra phía chuồng lợn với bác Nhiêu Cầu. Bác Nhiêu giúp việc cho gia đình tôi đã trên mười lăm năm, và đã trên mười lăm cái Tết rồi, cứ đến ngày ba mươi tháng chạp thì bác lại diễn lại đúng như chừng nấy cử chỉ. Bác cầm một cái thòng lọng làm bằng một cây tre, một đầu để nguyên, một đầu đánh dập ra rồi tết lại thành một nút như con số 9. Bác dồn lợn vào một góc chuồng, lùa thòng lọng qua đầu và một chân trước của lợn, giật mạnh rồi nhấc lợn ra khỏi chuồng, dáng điệu vừa gọn vừa “sang”. Lợn được mang ra bên bờ ao, đặt trên một cái chõng tre, dưới có một cái sanh đồng để hứng tiết. Một nồi lớn nước sôi được bưng ra, và chỉ một loáng một con lợn trắng hếu đã nằm tênh hênh trên chõng, vết thương ở cổ còn rỉ máu, mặt ngửa lên trời, mắt nhắm nghiền. Phải nhìn cái lúc con lợn được mổ xẻ, chia cắt mới có thể thấy rõ được thế nào là một sự phân phối hợp lý theo nhu cầu. Cái thủ và bộ lòng thì để cúng trưa ba mươi, khoanh bí tức là cái cổ thì để nấu ninh với măng khô, cái lưng nạc để gói giò lụa, cái bụng ba chỉ gói giò mỡ và làm nhân bánh chưng, mông đem làm nem, lá mỡ đem rán bỏ vào một cái liễn dùng cả tháng Giêng, chân giò để cúng miếu Thổ Thần và nấu giả cầy.
         Có một điều tôi lấy làm lạ nhất, là vai trò của mẹ tôi trong tất cả những sự liệu lý nhộn nhịp đó. Ngày thường, công việc bếp nước là do mẹ tôi chỉ huy suốt năm với một thứ oai quyền không ai cưỡng lại được, thế mà đến hôm ba mươi là bị thầy tôi giành lại một cách thật là bất ngờ và thật là êm đềm. Trong khi thầy tôi cắt đặt người gói bánh chưng, người giã giò, người làm nem, người luộc lợn, thì mẹ tôi với một dáng điệu khiêm tốn đến mực âm thầm, lúi húi ngồi lau mấy cái lá chuối hay cầm cái rây rây thính. Tết có cái gì thiêng liêng đến nỗi mà mẹ tôi phải trả lại quyền hành cho thầy tôi một cách không va chạm như vậy?
         Tuy vậy tất cả những sự kiện trên đối với tôi chỉ quan trọng một cách vừa phải – Phút chủ yếu là lúc bác Nhiêu Cầu thích lưỡi con dao nhọn hoắt vào bụng dưới con lợn, lách một bàn tay thành thạo xuống dưới bộ lòng vừa mới xổ tung, rút ra một cái túi màu trắng đục lớn gần bằng bàn tay của tôi, rồi cầm giơ cao lên giời. Tất cả những người có mặt reo to lên: “Bong bóng!” Tôi đánh đu lên cánh tay bác, cố níu xuống để lấy cái túi đó. Bác lại vươn tay lên kéo dài sự giằng vật để tăng sự kích thích của tôi, chán chê rồi mới cho tôi hẳn. Tôi nắm chặt cái bong bóng vào trong lòng bàn tay như bắt được một của quý. Những ai không say mê thì không thể nào hiểu nổi cái lý do say mê của kẻ khác. Tôi chắc có người cho rằng cái bong bóng lợn thì quý hóa gì mà thèm khát nâng niu đến thế? Giảng làm sao cho người đó hiểu được đây? Tôi chỉ biết đối với tuổi tôi khi đó, cái bong bóng lợn không phải chỉ là một đồ chơi kỳ diệu trong mấy ngày Tết, nó còn ý nghĩa hơn thế nhiều. Cả một con lợn mà cả nhà trịnh trọng giết để ăn Tết, chỉ có một cái bong bóng. Phải là đứa trẻ được thương yêu nhất nhà mới được chơi cái bong bóng đó. Thành ra việc mình được cái bong bóng có một cái giá trị tinh thần đặc biệt: đó là một sự thừa nhận long trọng, một năm một lần, cái địa vị khác thường của mình trong lòng thương của gia đình. Cái ngày mà mình bị coi là lớn không được chơi bong bóng lợn nữa, cũng là cái ngày mà lòng thương của gia đình tìm thấy một trọng tâm mới.
         Cái bong bóng lợn mới lấy ra, thì hãy còn nhầy nhụa những mỡ, những miếng bạc nhạc. Công việc đầu tiên là phải làm sạch bong bóng đã. Tôi chạy vào bếp lấy ra một ít gio rồi chọn một miếng đất nhẵn đặt cái bong bóng xuống, phủ gio lên, xong lấy chân nhẹ di cho gio tuốt lấy mỡ. Sau đó tôi vò khe khẽ bằng tay rồi rửa nước thật kỹ cho bong bóng sạch hẳn – Còn vài cái xơ lủa tủa như mấy sợi râu, tôi bóc nốt cho thật nhẵn nhụi.
         Bây giờ đến công việc thổi bong bóng – Tôi lấy cái se điếu của thầy tôi, luồn một đầu vào cuống bong bóng, buộc một cọng rơm cho cuống bóng thật sát với đầu se điếu, rồi phùng má trợn mắt lên thổi. Mặt tôi đỏ gay lên, mắt như muốn lòi ra ngoài (Mẹ tôi bảo thế) mà bong bóng vẫn chưa to. Tôi lại cầu cứu đến bác Nhiêu Cầu và chỉ hai ba hơi, bác đã thổi bong bóng phình lên to bằng đầu tôi. Bác áp bóng vào tai tôi, lấy ngón tay búng hai ba tiếng kêu boong boong nghe quyến rũ lạ. Tôi lấy chỉ buộc cuống thật chặt, rút se điếu ra, rồi chạy sang sân nhà thờ. Ở đây, con ông Hội Chúc, em ông Lý Sanh, con ông cả Trữ, cháu bà khán Bình đã chờ sẵn, và nhìn tôi mang bóng đến với một vẻ mặt hết sức khâm phục. Chúng tôi đá trận banh tất niên với một niềm say sưa khó tả, và khi nghỉ giải lao, chúng tôi được mẹ tôi mang cho một đĩa xôi, mấy cái đầu giò, một quả nem và một đĩa lòng lợn. Tôi đố ai tìm thấy ở đâu một thứ lòng lợn ngon hơn.
         Qua ba ngày Tết, thì quả bóng đã se mặt lại, nhem nhuốc cát bụi, và đã bắt đầu xuống hơi, đá không thấy thú nữa. Nhưng tôi đâu có chịu bỏ nó ngay? Tôi đem rửa đi sạch sẽ, rồi cắt ra đem bưng lên trên cái đấu của mẹ tôi làm thành một cái mặt trống, hay đem bưng lên hai ống sữa bò rồi nối một sợi chỉ dài từ mặt nọ tới mặt kia làm ống điện thoại. Biến hóa đi như thế, tôi còn chơi cái bong bóng được suốt cả tháng giêng – Và đến tháng hai bác Nhiêu Cầu lại sang chợ Quỳnh Côi, chọn một lợn con thật đẹp về vỗ trong tám tháng cho thật béo để đến ngày ba mươi Tết sẽ diễn lại những cử chỉ cổ truyền. Thành ra vừa khi cái bong bóng này hỏng, thì tôi đã được thấy ngay sự hứa hẹn của một cái bong bóng khác đang tiềm sinh trong lòng con lợn đang nuôi – chỉ một sự hứa hẹn đó là đủ thi vị của cuộc đời.
         Nhưng tôi càng lớn lên, thì tôi lại càng bị cạnh tranh ráo riết về vấn đề bong bóng lợn. Số em tôi mỗi ngày một nhiều ra, và mỗi ngày chúng một thêm ý thức về quyền lợi của chúng. Càng gần đến Tết, mối tham vọng của chúng càng phát hiện, và tôi càng thấy khó khăn trong sự bảo vệ ưu thế của tôi. Cũng may mà bác Nhiêu Cầu đối với tôi còn nhiều tư vị.
         Tôi còn nhớ cái Tết mà tôi tranh được lần cuối cùng cái bong bóng lợn với các em tôi. Thật là vất vả! Bác Nhiêu Cầu vừa vật con lợn lên cái chõng tre bên bờ ao, thì thằng Cống, thằng Phùng, thằng Kim, thằng Ngân đã đứng chầu chồm chỗm như bốn con chó. Dáng chúng nó khiêu khích lạ – Chốc chốc thằng Cống lại lải nhải: “Anh được chơi nhiều rồi – Lần này là của chúng em”. Thằng Phùng phụ họa luôn: “Anh lớn rồi phải nhường các em – Mẹ bảo thế”. Nghe có tức không! Nó lại lấy cả cái oai mẹ tôi mà khuynh loát tôi nữa – Tôi chỉ còn biết nhìn bác Nhiêu Cầu như van lơn và cũng hơi thấy hy vọng một chút, khi thoáng bắt được ở bác một tia mắt thông cảm. Bác chăm chú làm lợn như không biết gì đến sự tranh chấp đang bao vây bác. Khi bác lấy đến cỗ lòng thì mấy thằng em tôi mắt sáng lên, đấu cúi thấp xuống như chờ đợi sự xuất hiện của vật đang mong chờ. Bác Nhiêu Cầu lùa tay vào trong bụng lợn, khua đi khua lại mấy lần rồi nói một cách rất thản nhiên: “Ơ, con lợn này không có bong bóng”.
         Mấy thằng em tôi xìu ngay nét mặt, bán tin bán nghi – Tôi cũng thẫn thờ cả người, nhưng bỗng thấy mắt bác hướng về mắt tôi một cách đầy ý nghĩa, tôi chợt hiểu ngay – Để đánh lạc hướng địch thủ, tôi hất hàm về phía các em tôi và nói: “Nào tranh nhau nữa đi!”
         Chúng chưa chịu thua hẳn, cứ lằng nhằng đứng mãi bên con lợn không chịu đi. Tôi nóng ruột không thể nào nói hết.
         Cơm trưa xong, tôi mới tìm được cách đến gần bác Nhiêu Cầu mà không bị bọn em tôi theo dõi. Bác bới đống gio trong bếp, lấy ra một gói bọc lá chuối và trao cho tôi với một nụ cười ý nhị. Tôi nắn cái gói thấy một cái gì nhùn nhũn bên trong mà sung sướng tưởng chừng như muốn khóc – Tôi bỏ luôn vào túi chạy một mạch ra đến tận ao đình, mới giở gói lấy cái bong bóng ra – Phải, không là cái bong bóng thì còn là cái gì nữa! Tôi cọ, tôi kỳ, tôi vò, tôi rửa. Thỉnh thoảng tôi lại ngậm vào cái cuống thổi thử xem. Khi cái bong bóng đã sạch rồi tôi lại bỏ vào túi, tay nắm lấy khư khư và đi về nhà. Tôi chờ cho các em tôi đi ngủ hết mới lấy cái se điếu của thầy tôi, chạy ra ngồi bên đống rơm, lấy rơm buộc se điếu vào cuống bóng rồi thổi… Bóng phình lên dần, lên dần… Tôi buộc chặt cuống lại, áp má tôi vào bong bóng một hồi lầu, rồi cứ ngồi cười một mình khi nghĩ đến mấy thằng em bị gạt. Gần tới giao thừa, tôi mới đi ngủ, mang theo cả bong bóng lợn vào trong chăn. Đêm nằm chỉ mơ thấy đá bóng với thằng con ông Hội Chúc, thằng em ông Lý Sanh, thằng cháu bà khán Bình, thằng con ông cả Chữ.
         Sáng mồng một, tôi trở dậy cứ thấy thầy tôi lúi húi tìm một cái gì. Chắc thầy tôi tìm đã lâu lắm rồi, xem dáng đã có vẻ hơi cáu. Vừa thấy mặt tôi thầy tôi hỏi: “Mày có thấy cái se điếu của tao đâu không?” Thôi chết rồi! Cái se điếu, cái se điếu tôi thổi bong bóng đêm qua. Lúc tôi say mê quá trở vào nhà đã quên không mang se điếu về trả thầy tôi.
         Tôi chạy ra đống rơm, bới tung cả lên mà cũng không thấy se điếu đâu. Chắc có ai sáng sớm ra rút rơm về đun bếp đã đun cả cái se điếu rồi. Thầy tôi ngủ dậy mà không có điếu thuốc lào, thì không làm ăn gì được. Cả nhà quay ra đi tìm cái se điếu, nhưng khi chính tôi mà không tìm thấy thì còn ai tìm thấy cho ra. Sáng mồng một Tết lại cũng chẳng mua đâu được se điếu mới. Thầy tôi giận lắm nhưng vẫn cố nhịn không gắt sợ giông cả năm. Sau cùng thèm thuốc quá, thầy tôi lẳng lặng xé mấy tờ giấy đã viết rồi trong một quyển vở cũ, rồi ngồi cuộn một cái se điếu bằng giấy hút tạm. Khi thầy tôi nhả cái se điếu mới chế ra này ra để thở khói, tôi nhìn thấy mực tím ở mấy trang giấy vừa cuộn lại đã thôi ra trên môi thầy tôi, tôi buồn cười quá mà không dám cười. Hình như cái điếu thuốc tạm bợ này không làm cho thầy tôi hài lòng. Thầy tôi quăng cái se bằng giấy ra một bên rồi đưa mắt lườm tôi, hỏi một cách rất nghiêm nghị: “Mày lấy cái se điếu của tao thổi bong bóng phải không?” Tôi chưa biết trả lời ra sao thì ở giường bên, thằng Ngân, thằng em út cùng ngủ với tôi bây giờ mới trở dậy, lục sục ở trong chăn rồi kêu lên: “Ơ, bắt được một cái bong bóng lợn”.


PHAN VĂN TẠO


BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #451 vào: 29/11/2018, 13:06:13 »


                      Tết mới Tết cũ

            TÔI vẫn nhớ năm xưa gần đến Tết,
            Bao thây ma hốc hác gục bên đường,
            Hết gạo rồi, cháo loãng với lòng thương
            Không cứu nổi những thân tàn đói lả.
            Vải khan hiếm, trời xuân sao rét quá?
            Đợi giao thừa, lập cập cóng hay lo?
            Chẳng hương trầm, xó bếp nhặt cành khô,
            Chầu ông Táo, đốt lò nghe gió thổi
            Như rền rĩ kể nguồn cơn nông nỗi
            Của giống nòi thảm thiết gọi từ bi…
            Hỡi hoa mai, nở mãi nữa làm chi,
            Ngày bỉ cực sá gì hương với sắc?
                                      ○
            Từ dạo tôi dời chân xa đất Bắc,
            Mỗi Tết về, đem lại cảnh hân hoan
            Với niềm tin chấm dứt nạn cơ hàn,
            Người no ấm và ruộng đồng xanh tốt.
            Trông thấy bao người đã từng đau xót,
            Nay tươi cười và rộn dịp nghênh xuân,
            Trước rét run nay tha thướt áo quần,
            Tôi hy vọng lãng quên dần thảm kịch.
            Và mừng thầm không còn ai đói rách;
            Tôi bắt nguồn vui trong cuộc sống chung
            Của thân sơ và tất cả giống dòng
            Mà trời đất phù trì trong thương mến.


                                                     ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #452 vào: 29/11/2018, 22:38:51 »


             Tiếng chim mùa xuân

                NẾP trán núi khô cằn
                Nghe thế kỷ dần qua
                Vàng lá liệm màu thu
                Tê buốt hồn sương khuya
                Từng nhánh mai mơ buồn
                Ngơ ngác ngọn đồi xa
                Ru bước nhạc hững hờ
                Khói trăng áo rừng thưa
                Mắt hồ ngây tròn mộng
                Lãng mù sâu quên lãng
                Nhìn tinh cầu đi hoang
                Trên nền trời đỏ lửa
                Tim chiều im cô quạnh
                Hồn trăng sao thèm đi
                Từng cơn đau nhân loại
                Qua đi như bốn mùa
                Hiện sinh hay nhân bản
                Như cánh chim én nhỏ
                Đi tìm mãi mùa xuân
                Có những chàng trai trẻ
                Thầm hẹn người mình yêu
                Anh hóa làm cây xanh
                Em là nhánh chim nhỏ
                Vượt qua trời giông tố
                Về mang theo mùa xuân…


                                     PHAN LẠC TUYÊN



BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #453 vào: 30/11/2018, 19:18:27 »


Một vài nhận xét về: Tình hình Văn chương và Báo chí năm 1959

NHẬN XÉT VỀ tình hình văn chương và báo chí toàn năm, ý kiến của một người không thể tránh khỏi chủ quan. Vì vậy, tôi chỉ làm cái công việc thâu lượm và sắp xếp những nhận định đây đó của một số người văn nghệ, hy vọng rằng như thế sự lệch lạc cũng bớt được ít nhiều.
         Nhìn chung, số lượng của các tác phẩm văn nghệ năm nay, so với năm trước, sút kém rất rõ rệt. Căn cứ vào bản tổng kết trưng bày ở Phòng Triển lãm do Văn hóa vụ tổ chức ngày 14-11-59 thì bất cứ loại sách về ngành nào, trừ sách giáo khoa, cũng sụt xuống mức 2 phần 3, phân nửa, hoặc 1 phần 3, so với năm ngoái.
         Về tác phẩm văn nghệ thì năm nay so với năm ngoái, ta thấy như sau:

                     Tiểu thuyết  |  Thơ  |  Kịch  |  Dịch
                    1958  |   97   |   14   |   292  |   16
                    1959  |   52   |   08   |   186  |   05

         Hiện tượng sút kém này, xét ra do nhiều nguyên nhân sâu xa và phức tạp phải tìm hiểu nơi người cầm bút, nơi nhà cầm quyền và nơi độc giả.
         Một số văn nghệ sĩ cũ, trước những hiện tượng xã hội biến đổi đòi hỏi cái nhìn cụ thể và tổng quát hơn vẫn bằng lòng với phương thức văn nghệ đại bản doanh thiết lập nơi các phòng trà, khách sạn, quan niệm sự sáng tác như là một cách nhắc nhở quần chúng đừng quên đến tên mình, do đó cõi lòng dễ thấy âm u, nguội lạnh đứng trước cái mâu thuẫn không thể giải quyết giữa yêu cầu của xã hội với yêu cầu của bản thân. Một số khá đông phải chạy theo kinh tế hằng ngày, đặt nặng cái lo lắng cơm gạo cho bản thân lên trên cái băn khoăn sáng tạo, không bị thôi thúc bởi một lý tưởng nào nhiệt thành, số này từ lâu cũng như số trên vẫn xem ngòi bút là một món trang điểm cho đời mình hơn là một phương tiện để phụng sự cuộc sống nên sẵn sàng xếp nó vào góc tủ để thỉnh thoảng tiếc nhớ một cách rất văn chương, xem như là một ân hận mà cuộc đời bắt mình gánh chịu và mình chỉ vỏn vẹn là một nạn nhân.
         Một số văn nghệ sĩ chuyên nghiệp phải viết cho nhiều tờ báo khác nhau và muốn cho đủ sống phải sản xuất rất nhiều như nhà ảo thuật phải thổi ra nhiều trứng trong một cái ống cao su. Mỗi tờ báo phục vụ cho một số độc giả khác nhau, nên yêu cầu của bài vở cũng khác nhau, do đó số này phải viết theo thể thức “đặt cọc” của ông chủ bút và chỉ chiều theo thị hiếu của người mua. Nỗi đau khổ của lớp văn nghệ sĩ này là cảm thấy trong sự sáng tác mình tự ly khai với mình, và càng viết ra mình không còn là mình nữa, dần dần họ chỉ bằng lòng những công thức, những mô phỏng và những chắp nối văn nghệ.
         Có ý kiến cho rằng sự giảm sút ấy một phần nào đáng kể là tại cái quan niệm hơi vội vàng của chúng ta về những tiêu chuẩn lành mạnh, xây dựng mà phòng kiểm duyệt cũng như một số nhà phê bình đã cố ý đòi hỏi gắt gao ở nơi người viết. Trong khi xã hội chúng ta phải thừa hưởng một quá khứ xấu xa và sự cố gắng sửa đổi của nền Cộng hòa gặp nhiều khó khăn do tàn tích cũ gây nên mà nhất thiết buộc người cầm bút không được phản ảnh hiện thực, chỉ nên một mực nói tốt, nói đẹp, thì dễ đối phó với một hình thức văn nghệ chỉ huy gián tiếp.
         Sự tan rã hay gần như ngưng hẳn hoạt động của nhiều nhóm văn nghệ để thay thế bằng những cơ quan, có thể tìm thấy ít nhiều lý do đã kể trên đây.
         Tuy vậy, sự giảm sút này không chỉ toàn là hiện tượng đi xuống mà ta còn tìm thấy nguyên nhân đáng kể sau này: Con người văn nghệ đã tránh lối “ăn xổi ở thì” như trong thời chiến tranh hoặc lúc chiến tranh vừa chấm dứt, để trở về chiêm nghiệm với chính mình, suy ngẫm những công trình đứng đắn và lâu dài hơn.
         Nhưng chúng ta sẽ thiếu sót lớn nếu không căn cứ trên hiện tình độc giả để tìm hiểu sự giảm sút này. Độc giả của ta vốn đã ít ỏi mà phải ở trong tình trạng chia đôi đất nước cho nên mức tiêu thụ từ lâu đã phải kém sút nhiều rồi, đã thế, sự chú ý của độc giả hiện nay đối với các loại tiểu thuyết đã hạ thấp hơn mấy năm và các nhà xuất bản đều e ngại xuất bản tiểu thuyết(1) một phần là vì đời sống kinh tế phải lo lắng nhiều khiến người dân phải hạn chế chi tiêu và cuộc sống bận rộn không cho họ thì giờ đọc sách, họ có thể tạm giải trí những truyện trọn kỳ hay truyện dài đăng trong các báo hàng tuần, hàng ngày, một phần vì sách vở không trả lời được những đòi hỏi của tâm tình, không giải đáp được những băn khoăn của con người họ. Để bổ túc cho nhận xét này cho ta có thể nhắc lại hiện tượng sách báo bán “xôn” khá nhiều trên con đường Lê Lợi. Hầu hết các loại sách xuất bản, các loại tạp chí đều có mặt ở trên vỉa hè. Theo ý kiến của một số chủ tiệm sách lớn ở Đô thành thì sách vỉa hè này đối với họ là mối cạnh tranh đáng kể.
         Nói đến tình hình văn nghệ là nói đến tình hình tác phẩm.
         – Về phần tiểu thuyết mặc dầu con số tổng kết là 52 – con số của phòng kiểm duyệt – nhưng tác phẩm thực sự xuất bản chỉ độ chừng một phần năm. Ngoài Đò dọc, Gieo gió gặt bão của Bình Nguyên Lộc do tác giả tự xuất bản, Mưa đêm cuối năm của Võ Phiến, Dì Mơ của Đỗ Thúc Vinh, Dòng sông định mệnh của Doãn Quốc Sỹ do cơ sở Tự Do xuất bản, Cô gái xóm nghèo của Phan Du do Văn Hữu xuất bản, Những người áo trắng của Nhật Tiến do Huyền Trân xuất bản, thì không còn những tác phẩm nào đáng kể nữa.
         Điều nhận xét trước nhất mà nhiều người có thể tìm thấy dễ dàng là không có tác phẩm nào phản ảnh được thời đại, đánh dấu được xã hội chúng ta trong mấy năm nay về một khía cạnh rộng lớn nào, các tác giả kể trên đều có một trình độ bút pháp điêu luyện và nhiều người tỏ rõ rất phong phú, biểu trưng được cái vốn liếng tài năng về văn học của nền Cộng hòa, nhưng vấn đề họ nêu lên phần nhiều hoặc đã cũ, hoặc hẹp hòi. Những tính chất này chưa hẳn là những khuyết điểm rõ rệt nếu bên cạnh có những tác phẩm đề cập đến những đề tài tiêu biểu đậm hơn. Cố nhiên là có những tác phẩm sáng tác từ lâu bây giờ mới có dịp xuất bản, nhưng qua những tác phẩm ấy ta vẫn mong thấy lại đậm rõ hoàn cảnh mà nó phát sinh hơn là chứng kiến những sự phản chiếu mờ nhạt, phiến diện.
         Đành rằng trong phạm vi hoạt động văn nghệ của chúng ta nhà văn được tự do khai thác bất cứ đề tài nào ưa thích, nhưng ta vẫn đề phòng một hiện tượng lẫn tránh thực tại vì hiện nay một quan niệm phiêu lưu, thoát ly của con người văn nghệ là điều không có lý do tồn tại, cũng như trong phạm vi biên khảo, đành rằng các nhà văn hóa trình độ sâu rộng phải có trách nhiệm khôi phục lại cái giá trị cũ, giới thiệu các vốn liếng cổ trong và ngoài nước nhưng nếu chỉ bằng lòng có thế thì trong hoàn cảnh xã hội hiện nay, sự biên khảo dễ trở thành một nơi… trú ẩn “cao siêu”.
         – Về thơ, ngoại trừ Hoa Đăng của Vũ Hoàng Chương đáng đánh dấu một sự chuyển hướng về sáng tác(2) và của Đoàn Thêm – một loại tiểu thuyết bằng thơ – có tính cách một công trình dài hơi đề cập đến vấn đề nhân sinh, xã hội, thì không còn thi phẩm nào có sự cố gắng đáng lưu ý. Một số đông thi phẩm chứng tỏ hùng hồn sự bất lực của thi ca trên phương diện diễn tả và truyền cảm, nhưng một mặt khác lại giới thiệu khá rõ rệt thực trạng khá bi đát của tâm hồn đa số tác giả: khóc than, rên siết, đau khổ giả tạo, say mê cuồng dục, lập dị vì nghèo nàn, lẩn trốn trong huyền bí, “nhiệm mầu” để che đậy sự yếu hèn… do đó thi ca gần như một thứ hàng sản xuất để tặng hơn là để bán. Và trừ một số rất ít, phần đông in thơ là vì muốn có cái “tên” để làm những công việc ngoài đề!
         – Về kịch bản, tuy con số ghi đến 186 vở, nhưng hầu hết là ca kịch dài ngắn trên sân khấu cải lương. Không có một vở thoại kịch dài nào xuất hiện trong suốt năm nay!
         – Các loại sách viết cho nhi đồng còn ít. Phần nhiều chú trọng đến cái hình thức lòe loẹt và tranh vẽ rậm rạp mà không chú trọng đến nội dung cũng như kỹ thuật. Cốt truyện nặng phần vay mượn, chắp nối trong các cổ tích các nước đã được nhắc đến nhiều lần hoặc mô phỏng theo các truyện phim, truyện dịch ngoại quốc. Tính cách mua bán quá nặng hơn là trách nhiệm giáo dục, những loại sách viết ra, không theo một đường lối nào rõ rệt và vì thế có thể truyền dạy cho con trẻ khá nhiều nhận thức sai lạc, các loại sách đứng đắn viết cho trẻ em ở các nước – cũng như loại Sách Hồng, Hoa Xuân, Truyền Bá ở ta ngày xưa – đều do những nhà văn có uy tín và có lòng yêu trẻ đảm nhận. Một sự hờ hững đối với vấn đề này, ở một xã hội đang xây dựng dân chủ như xã hội ta có thể xem như một thiếu sót khá lớn.
         – Về phần dịch thuật, mức sản xuất so với năm ngoái giảm thua tới một phần ba. Một đường lối dịch thuật chưa được đề ra, chưa có một cơ quan, một tổ chức nào đảm nhận việc này cho có kế hoạch.
         Nếu phải kể thêm những hiện tượng đáng chú ý thì năm 1959 về phương diện cá nhân nhà văn Bình Nguyên Lộc đã có những cố gắng nổi bật: dựng nhà xuất bản Bến Nghé với ba tác phẩm trong vòng năm tháng, chủ trương một tờ tuần báo văn nghệ – tờ Vui Sống – mặc dù chỉ đến số 10. Về các cơ quan thì Cơ sở Tự Do tỏ rõ một chương trình làm việc đứng đắn, lâu dài với những tác phẩm xuất bản đều đặn theo một hình thức trình bày riêng biệt. Về phương diện chính quyền sự lưu tâm đến văn nghệ càng ngày càng thấy đậm hơn: giải thưởng của Văn hóa vụ, về các loại sáng tác biên khảo giải thưởng của Nha Chiến tranh Tâm lý về truyện ngắn và kịch, Hội Văn Hữu in giúp sách cho các tác giả, triển lãm sách báo, tranh ảnh, mở cuộc thi về kịch để chọn vở hay nhất cũng như diễn viên xuất sắc nhất, gởi hai thi sĩ dự cuộc gặp mặt hằng hai năm của các thi sĩ thế giới ở Bỉ…
         Tuy nhiên, nói về tình hình sáng tác văn nghệ trong năm không thể không đặc biệt lưu ý đến các tạp chí, tuần báo và các nhật báo đăng tải khá nhiều sáng tác và chứa đựng bao nhiêu sắc thái khác nhau.
         Hiện tượng báo chí xuất hiện càng ngày càng nhiều chứng tỏ số lượng độc giả được gia tăng và phân hóa. Mỗi tờ báo phục vụ cho một hạng độc giả riêng biệt và chỉ cần nhìn qua hình thức nội dung một tờ báo đủ giúp ta thấy rõ đối tượng và chủ trương của nó.
         – Về loại tạp chí biên khảo có nội dung đáng kể, ta thấy: Đại Học, Văn Hữu, Văn Hóa Á châu, Quê Hương, Bách Khoa…
         Tờ Đại Học ấn loát đẹp đẽ, biên soạn đứng đắn, công phu, đã cố gắng đề cập đến những vấn đề thời đại bằng những loạt bài khá phong phú. Tuy vậy, nội dung chưa thoát hẳn tính chất thuần lý và không tưởng trong lập luận nên sự đóng góp vào thực tế của nhiều vấn đề chỉ có giá trị một thái độ.
         Tờ Văn Hóa Á châu vẫn giữ được tín nhiệm người đọc nhưng nội dung biên khảo thiếu hẳn một hệ thống, những vấn đề trình bày phần nhiều rời rạc, không giúp cho những người tìm hiểu văn hóa Á châu có những nhận định chu đáo và liên tục.
         Văn Hữu nguyệt san tuy chỉ mới xuất hiện được hai số nhưng đã chứng tỏ cái công trình suy ngẫm có bề thế của một ý thức xây dựng lâu dài. Đề cập đến hội họa và sân khấu trong hai số đặc biệt, tờ Văn Hữu đã nhằm bổ khuyết rất căn bản cho tình hình phát triển của văn nghệ hiện nay.
         Quê Hương qua sáu số đã cải tiến không ngừng. Những bài vở đều có trọng lượng và nhiệt thành, một thái độ quan tâm đến những vấn đề thời đại. Tuy vậy người đọc muốn theo dõi và tìm hiểu sâu sắc về tình hình vẫn chưa tìm được một mối liên hệ căn bản giữa các vấn đề nghiên cứu và chưa thấy được sự thống nhất cần thiết giữa các quan niệm.
         Bách Khoa đã xuất hiện đều đặn suốt ba năm nay và trong làng biên khảo, kể đã có tuổi. Nội dung vốn cổ kính tham lam như tên gọi, qua một năm nay đã bớt cổ kính ở phần biên khảo và càng tỏ ra tham lam ở phần văn nghệ. Phần biên khảo đã chú trọng đến những vấn đề thời sự, và mục điểm sách thường xuyên với mục đích phỏng vấn liên tục chứng tỏ một ý thức xây dựng thiết thực. Tuy vậy một số vấn đề nặng nề còn kéo quá dài và một số vấn đề to lớn phải rút quá gọn khiến độc giả nhiều khi cảm thấy khó khăn trong sự theo dõi.
         Về loại biên khảo nếu phải kể thêm, chúng ta còn có tờ Giáo Dục Phổ Thông và Sinh Lực. Giáo Dục Phổ Thông giữ được một tác phong đứng đắn trong sự phổ biến các tài liệu giáo khoa, chú trọng đối tượng học sinh Trung học. Nhưng người ta vẫn mong người viết, thay vì thu nhặt tài liệu, nên trình bày sát hợp với trình độ học sinh hơn nữa. Nhất là phần dịch thuật về văn học sử còn bắt chúng ta chờ đợi nhiều hơn. Tờ Sinh Lực, vốn bẩm thọ không sung mãn nên năm nay ít người gặp gỡ ngoài đường và nhiều khi thiên hạ tưởng rằng nó đã mệnh một.
         Tình hình tạp chí biên khảo xuất hiện càng nhiều trong khi sự sáng tác giảm sút chứng tỏ một chuyển đổi lớn trong quan niệm sống. Người ta đã bắt đầu ý thức nhiều hơn về những vấn đề to lớn có giá trị quyết định vận mạng dân tộc và đời sống con người, nên dừng lại để tìm hiểu, để xác định thái độ, để phân tích các sự kiện là dấu hiệu băn khoăn của ý thức trưởng thành.
         Tuy nhiên, như trên kia đã cố gắng trình bày, trong sự biên khảo, bên cạnh cái thái độ tìm hiểu vẫn có thể lẫn lộn cái thái độ lẩn trốn thực tế của một số người.
         Dù sao, ưu điểm nổi bật về biên khảo trong năm nay ngoài số lượng gia tăng là sự lưu tâm đến những vấn đề thời đại. Trong phạm vi chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, nghệ thuật, những ý kiến xây dựng dược bắt đầu đề cập đến trên một căn bản thực tế và hệ thống hơn. Không riêng gì những tạp chí biên khảo mà cả đến những tờ báo hằng ngày như tờ Tự Do, các vấn đề có tính cách xây dựng lâu dài về giáo dục, về con người lý tưởng vẫn được thường xuyên nêu lên để độc giả góp phần ý kiến.
         Một sự thực đáng kể là hầu hết tạp chí biên khảo của ta không sống hoàn toàn bằng độc giả mà chỉ sống phần lớn nhờ sự nâng đỡ của Chính quyền, Cơ quan Đoàn thể… Với hiện tình của nước ta, sự kiện ấy không thể nào tránh khỏi vì ở nhiều nước ngoài một số tạp chí biên khảo có uy tín vẫn phải dựa vào những cơ sở kinh tế khác hơn là sự đóng góp của độc giả. Như thế xét ra có những điều lợi là tờ tạp chí sẽ được dễ dàng phổ biến vì giá bán có thể hạ thấp rất nhiều, thêm nữa khỏi phải theo đuôi quần chúng để bán cho chạy. Nhưng mặt khác, nếu không chết sống vì độc giả thì khó lòng hiểu được độc giả muốn gì và không bao giờ kiểm tra được ý thức, trình độ độc giả. Cứ tình trạng ấy kéo dài và không được bổ túc bằng những phương thức hữu hiệu nằm trong tinh thần phục vụ thiết tha thì công trình biên khảo dễ biến thành phiêu lưu và vô trách nhiệm, trừ cái trách nhiệm thanh toán bút phí giữa người trong cuộc.
         Một hiện tượng cần chấm dứt là trong phần biên khảo năm nay ta thấy một số người cầm bút nông nổi và hiếu danh đã thiếu tinh thần tự trọng trong khi vay mượn ý kiến của các tác giả khác trong nước cũng như ngoài nước. Những sự mạo nhận trí thức ấy đã được một vài tờ báo mạnh dạn phát giác và sự phát giác này có thể gây nên bất mãn, hiểu lầm nhưng dù sao một thái độ xây dựng thẳng thắn như thế rất cần và đáng khuyến khích để ngăn lại những khuynh hướng bất chính, khôi phục lại giá trị cho làng văn biên khảo chúng ta, hầu tránh khỏi một tình trạng che đậy có thể gây thành ung nhọt hiểm nghèo.
         – Về các tập san, tuần báo văn nghệ ai cũng thấy rõ sự phát triển phồn thịnh của Phụ Nữ Diễn đàn, Phụ Nữ Ngày Mai, sự sống dở chết dở của Sáng Tạo, Nhân Loại,(3) Ngày Mới, sự tái sinh của Tiền Phong, sự thoát xác của tờ Văn Hóa Ngày Nay ra tờ Tân Phong, sự xuất hiện và biến đi đột ngột của tờ Vui Sống như một chuỗi cười vụt tắt vì bỗng nghẹn ngào. Riêng tờ Trinh Thám, với một thể tài riêng biệt và hợp thời, đã thu hút được một số độc giả đáng kể.
         Sự thất bại của một số tập san và tạp chí văn nghệ chủ trương văn nghệ “phi không gian và thời gian” văn nghệ “hũ nút, tối tăm” “lập dị” chứng tỏ trình độ thưởng thức của đối tượng độc giả mà các tờ báo ấy nhắm vào đã thay đổi, đúng hơn đã tiến bộ, và xác nhận thêm cái qui luật đào thải của những sự kiện không còn phù hợp với nhu cầu cấp thiết của sự sống biến chuyển.
         Tuy vậy, sự thành công của một số tuần báo chỉ có nghĩa là sự thành công của một phương thức thương mại. Đối tượng của số tuần báo này là đa số độc giả trình độ trung bình, có đủ điều kiện để theo dõi báo chí – nữ học sinh trung học đệ nhất cấp, các bà nội trợ, những cô gái bán hàng – và chủ trương là nuông chiều, ve vuốt thị hiếu của độc giả, những thị hiếu phổ biến và thấp kém: khuyến khích yêu đương vơ vẩn qua các mục “Gỡ rối tơ lòng”, “Dòng lá thắm”, và cách dạy “đeo lông mi giả, thế nào cho đẹp, nhuộm màu mắt thế nào cho sáng” hoặc khêu gợi bản năng bằng những câu chuyện tiếu lâm thô bỉ. Những tờ tuần báo này dần dần chỉ còn thuần túy là phương tiện làm tiền cho các chủ báo, một phương tiện làm tiền hạ cấp như bao nhiêu phương tiện làm tiền hạ cấp khác.
         Về các tờ nội san thì trong năm nay sự hợp nhất tờ Quân ĐộiPhụng Sự thành tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa có những nỗ lực đáng kể. Tờ Chiến Sĩ Cộng Hòa có một số phát hành rất lớn và đòi hỏi một nội dung vừa phổ biến vừa nâng cao sát hợp với nhu cầu của lực lượng quân đội vốn đông đảo và nhiệt thành nên được cải tiến không ngừng. Tuy vậy ta vẫn mong nó giải trí nhiều hơn nữa – tuy mục Vui cười của Binh cà gật và loại “truyện ngộ nghĩnh trong đời tôi” tỏ ra tế nhị, sát hợp, phong phú hơn tất cả báo khác và ta mong nó giáo dục được nhiều hơn mặc dù bài vở cũng gồm lắm chương mục.
         Hai tờ Phổ ThôngThời Nay theo đuổi một công thức như “Sélection, Rider’s Digest” ở nước ngoài. Tờ Phổ Thông có vẻ chú trọng về hình thức hơn nhưng lối tô điểm thiếu hẳn một căn bản mỹ thuật vững vàng và phần bài vở nhắm gần gũi càng ngày càng nhiều hơn với độc giả trung bình tuy chưa thoát sự gượng ép trong thái độ. Tờ Thời Nay hình thức rất kém nhưng bài vở lại có tính cách nâng cao biểu lộ một thái độ xây dựng thận trọng, đứng đắn nhưng còn quá khô khan. Nhìn chung loại này rất hợp với nhu cầu tìm hiểu của độc giả vốn muốn biết nhiều vấn đề trong một cuộc sống quá bận rộn, nhưng cả hai tờ Phổ ThôngThời Nay còn thiếu những ngòi bút duyên dáng và màu sắc để thỏa mãn người đọc nhiều hơn. Vào những tháng cuối năm, trong loại này lại xuất hiện thêm tờ Mã Thượng. Xét về hình thức cũng như nội dung, tờ Mã Thượng là một mối cạnh tranh đáng kể của hai tờ Phổ ThôngThời Nay.
         Trong năm nay ta còn tờ Tuổi Xanh chuyên viết cho nhi đồng, một tờ báo cần được nâng đỡ khuyến khích và sửa đổi khá nhiều hơn nữa vì cả hình thức lẫn nội dung còn rất thấp kém. Những tạp chí nặng phần tranh ảnh như Trẻ, Sáng Dội Miền Nam rất được người đọc chú ý nhưng nếu người ta chịu khó nâng cao nội dung bài vở cho cân xứng với phần trình bày mỹ thuật thì có lẽ được yêu chuộng hơn nữa.
         Các tờ báo hằng ngày của ta cũng khá nhiều và sự cạnh tranh càng làm phát hiện thêm nhiều phương thức mới mẻ. Ta có thể chia ra làm ba loại: loại nghiêng về chính trị nhiều hơn kinh doanh, chỉ cần một số độc giả trung thành nào đó, loại nghiêng về kinh doanh hơn là chính trị nhắm thực hiện mọi cách để tranh thủ cho được đa số người đọc và loại tỏ ra phân vân giữa hai con đường chính trị và kinh doanh thì phải lo âu rất nhiều để giữ vững sự sống.
         Tờ Tự Do được xem là đứng đắn, có tinh thần xây dựng hơn cả. Đa số người đọc thích mục “Thăm dân cho biết sự tình” của Vũ Bình. Tranh vẽ hài hước hằng ngày cũng có giá trị đặc biệt vì có nhiều ý nghĩa sát hợp với tình hình. Tờ Dân Chúng tranh thủ được cảm tình của độc giả Đô thành nhiều nhờ ở một phương thức hết sức linh hoạt và Tiểu Nguyên Tử trong mục “Gẫm cười hai chữ nhân tình” quả thực là một ngòi bút hài hước duyên dáng có một khả năng hết sức phong phú. Nhưng một số báo hằng ngày vì mục đích thương mãi mà không ngần ngại để lộ một sự tương phản rõ rệt trong thái độ: ở ngoài mặt, – tức trang nhất – thì luôn kêu gọi, hô hào, tranh dấu cho quyền lợi nhân dân, tố cáo những hạng lợi dụng mê tín để bóc lột đồng bào mà trong ruột – tức là trang hai, trang ba – thì kể chuyện ma quỉ, yêu tinh, huyễn hoặc độc giả bằng tất cả sự hùng hồn của một hạng nói láo có bằng cấp chuyên môn.


¤

         Tóm lại về cái sáng tác thơ văn, sự giảm sút của năm 1959 là một vấn đề khá lớn đề ra cho những người có trách nhiệm trực tiếp đối với văn nghệ, những nhà cầm bút vá các cơ quan hữu trách. Về báo chí, tư tưởng ỷ lại của loại tạp chí biên khảo và tư tưởng theo đuôi quần chúng của loại tuần báo văn nghệ và nhật báo đã đưa đến hai sự kiện trái ngược nhưng cùng một tai hại lớn lao: loại biên khảo phần nhiều quá cao hơn sự đòi hỏi của quần chúng và loại sáng tác phần nhiều quá thấp đối với trình độ quần chúng. Nếu không bổ khuyết tình trạng này thì trình độ của quần chúng độc giả phải bị giam hãm trong sự sút kém và các tạp chí muốn phổ biến rộng rãi phải nặng phần biếu không cũng như các tuần báo bìa phải có tranh ảnh đàn bà thật đẹp và đẹp cho chọc vào mắt người xem, thì mới bán chạy. Chúng ta mong đợi ở chính quyền những biện pháp hữu hiệu hơn nữa đối với tình trạng văn nghệ hiện nay và mong đợi những tờ báo viết cho đa số độc giả hòa hợp được cái tinh thần phổ biến với ý thức nâng cao thì mới mong xây dựng được những tác phẩm đáng kể và văn nghệ mới xứng đáng với trách nhiệm của mình đối với dân tộc.

CÔ PHƯƠNG THẢO

_________________________________________
(1) Xin xem bài Tình hình xuất bản trong năm 1959 của Nguyễn Hiến Lê đăng trong số này.
(2) Xin xem bài điểm sách Hoa Đăng của Nguyễn Văn Xuân – Bách-Khoa số 64.
(3) Tờ Nhân Loại hiện nay đã sống lại dưới hình thức một tuần báo chính trị.


BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #454 vào: 01/12/2018, 12:51:40 »


           Lá thư gửi mẹ lúc xuân về

            PHỐ đã ngập đầy hoa giấy đỏ,
            Mai vàng khoe thắm báo Xuân sang,
            Mây bay đâu vắng, trời xanh thẳm,
            Nẻo biếc, thuyền chim đã nhịp nhàng;
            Đất mới ươm hương, cành hé nụ,
            Trên đường xe ngựa dọc ngang đan.
            Pháo sớm lẻ loi vài tiếng nổ,
            Nhà ai, trẻ dại hát hân hoan.
            Bắt gặp Xuân về trên khóm cúc,
            Vài cô thiếu nữ mộng sang ngang…

            Con chợt thấy lòng tê tái quá:
            Những chiều mây khói ngút biên quan
            Tết nay, con lại về chưa được
            Dù biết phương xa mẹ võ vàng,
            Dù biết giờ đây lo bánh Tết
            Mẹ thường nhắc tới đứa con hoang
           “Nó đi đã mấy năm rồi nhỉ?”
            Sao chẳng phong thơ gởi xóm làng?
            Sao chẳng xót thương về mẹ nó
            Chiều chiều tựa cửa nhớ mang mang.

            ― Con biết là con đơn bạc lắm,
            Mười năm lưu lạc buốt tim gan,
            Nhưng làm sao được, làm sao được,
            Chí lớn mà cam hận bẽ bàng.
            Nghĩa sự mười năm ngời huyết lệ,
            Làm sao con dám ngại gian nan…
            Làm sao con dám về quê cũ
            Khi ước nguyền xưa chửa vẹn toàn:
            Huống nữa “Non Sông mờ cát bụi”,
            Mười phương dân chúng sống lầm than!
            Huống nữa gian tà đang mị thế,
            Giang san xé nửa xót tương tàn:
            Huống nữa bên ni dòng Bến Hải,
            Bao người còn đắm mộng cao sang.
            Con đi cho tới bao giờ đấy,
            Khúc nhạc Bài Phong hát khải hoàn,
            …
            Cho tới bao giờ Xuân Thống nhất
            Về đây tràn ngập khắp Giang San,
            Cho tới bao giờ hoa pháo nở,
            Lời ca Dân chủ khắp nơi vang,
            Cho tới bao giờ Xuân vũ trụ
            Cùng Xuân Đất Nước hiệp liên hoan,
            Con sẽ lại về bên gối mẹ,
            Bụi đường phủi sạch hết tân toan,
            Con sẽ nguyện về bên gối mẹ
            Quì xin nhận tội đứa con hoang.


                                     NGUYỄN PHAN AN
                                     Trích thi phẩm “Nghĩa Sự Hành”




BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #455 vào: 01/12/2018, 23:12:33 »


               Bách-Khoa đại tiệc
              (Đầu năm xông đất Bách-Khoa)

         NĂM xưa câu đối tặng ai ai
        “Xông đất” năm nay gọi có bài
         Tiếng pháo mừng xuân vừa rộn phố
         Vội vàng bút thỏ giắt ngang tai

         Vừa bước ra đường gập Cụ Lâu
         Đỏ từ đôi… ủng đỏ lên đầu
         Gập mình, cụ quát qua hơi đế
         ― Chiếc Ấn Gia Long cậu… giấu đâu?

                           Mình vội vàng chuồn ra thật xa
                           Quay nhìn còn thấy cụ đương la
                           Hồn chưa thu kịp cho đầy cỗ
                           Bỗng vấp ngay vào… Ngu-Í ta

                           Bận rộn, “nhà-thơ-phỏng-vấn-viên”
                           Quanh năm chép chép với biên biên
                           Đầu năm “phỏng” lại ngay Ngu-Í:
                           ― Truyện ngắn nào hay, cho biết tên?

                          “Thi sĩ” dường quen phỏng vấn người
                           Vô tình bị “phỏng” toát mồ hôi
                           ― Rằng nhiều công chuyện thành… quên mất
                           Phỏng phiếc làm chi, bác Hiến ôi!

                           Vừa mới ra lò đã gập đen
                           Một ông thì “quát” một ông… “quên”
                           Dọc đường đã lắm trò xui xẻo
                           Ta thử xông… chùa, may có hên?

         Vừa bước vào am thấy “tiểu” Dân
         Đương ngồi ngất ngưởng với sư “Tăng”(1)
         Một mâm dựa mận dăm chai bố
         Túy lúy hai thầy đương nhậu hăng

         Vòng mé sau chùa thấy một Cô:
         Cô… Liêu tha thướt đứng ven hồ
         Kiều Yiêu lả lướt bên “người ngọc”
         Tán chuyện Liêu Trai của họ Bồ

         Vừa mới đầu năm kiêng chuyện ma
         Nhẹ nhàng Xuân Hiến rút lui ra
         Và rồi, vác bút bay cho nhẹn
         Thẳng nẻo về luôn báo… Bách-Khoa

         Dọc đường dừng bước đứng phân vân
         Thoáng bóng ai quen tiến tới gần…
         Tay cuốc, tay bừa vang tiếng hát
         Nhìn ra: Từ Thức với Đoàn quân

         Ngoài cửa ai như Phan Lạc Tuyên,
         Một tay cầm bút, tay cầm gươm,
         Đương sang sảng đọc thơ chinh chiến:

                  “Có buồn sầu cổ mộ
                  Chiều tím nét sa trường”

         Đằng sau duyên dáng bóng Vũ Hạnh
         Điệu “Cuôi ba dùm” thổi lanh lảnh
         Cô Thượng kề bên nghe “khèn” hay
         Ôm chiếc “cà tiu” cười khanh khách(2)

                           Vào tới nhà trong anh ký Trâu (Châu)
                           Chiếc cầy lủng liểng ở trên đầu

                           ― Ủa không ăn Tết?
                                                 Rằng: “Trăm việc
                           Việc Bách-Khoa nào đã hết đâu?”

                           Báo bổ đùa dai ông ký gầy
                           Quanh năm công việc chẳng rời tay
                           Kệ Xuân, kệ tết ngồi bôi xóa
                          “Ngửi” báo dường như cũng thấy say

                           Nguyên Phủ hôm nay trông bảnh bao
                           Giữa sân đương múa một bài đao
                           Dịu dàng Phương Thảo khen Nguyên Phủ:
                           ― Võ nghệ anh này quả có cao!

         Đèn nến lung linh, hương ngát nhà
         Mừng Xuân Canh Tý cỗ bày ra.
         Không gà vịt mập không dê béo,
         Toàn món “ăn chơi” món… Bách-Khoa.

         Rượu đào “kinh tế” hiệu Văn Lang,
        “Thắc mắc” đưa cay nhãn Phạm Hoàng.
         Ngu-Í (Ông từ nay phá giới),
         Tặng bà con lọ “mắm Giang san”.

         Võ Phiến chiên giòn dĩa Mác-Lê,
         Anh em đụng đũa thấy cay xè,
        “Món hầm Dân chủ” Minh Tuynh soạn
         Khách khứa ăn vào thấy lưỡi tê.

         Thuốc bổ “thanh niên” kiến hiệu chăng?
         Nước “dùng tư tưởng” thấy hăng hăng
        “Sách” trần “điểm” ớt nhiều ông thích
         Và mệnh danh là món “giật gân”

         Vương quân nhã ý tặng trà ngon,
         Ba chén xinh xinh hai dĩa tròn.
         Mai Hạc mơ màng qua khói đượm,
         Trà thơm hay chính tấm lòng son?

         Huy Lực, Huy Trâm bên Khổng Nghi,
         Thành Tôn, Việt Trữ, Vũ Thanh Ly
         Tình Xuân bàng bạc, men Xuân đượm
         Sưởi ấm tâm hồn Trang Thế Hy.(3)

         Xuân Hiến đưa thêm vị “đét xe”,
         Một mâm lỏng chỏng mấy câu… vè
         Bà con bịt mũi rằng: “Thơ ấy
         Mạn phép làng xin lại quả về!...”

         Nghe món mình suông, thẹn điếng người
         Giật mình tỉnh dậy toát mồ hôi.
        “Bách-Khoa đại tiệc” thành ra… mộng
         Xông xáo gì đâu các cụ ơi!

                           Tiếng pháo nghe vang xa gần xa
                           Giao thừa ngồi đợi lắng năm qua
                           Thưởng Xuân thơ tết đương khai bút
                           Ngủ gục trên chồng báo Bách-Khoa

                           Giận thân tiếc mộng chẳng dài lâu
                           Gấp rút nhiều nơi chửa tới hầu
                           Ví phỏng Trời cho còn tiếp mộng
                           Ngày này xin hẹn đến năm sau


Riêng tặng các bạn mà Xuân Hiến chưa được gặp trong “Tiệc đầu Xuân”

                           Men đượm hương nồng với Bách-Khoa
                           Tuy không cùng họ hóa chung nhà
                           Nghe tưng bừng dậy hồn non nước
                           Thấy thiết tha mừng dáng cỏ hoa
                           Bút thép lòng gang danh khó bả
                           Mục đanh giấy sắt lợi khôn qua
                           Mộng Xuân một giấc bao khăng khít
                           Dù đắng dù cay ta với ta.


                                                           XUÂN HIẾN
                                                           Xuân Canh Tý


___________________________________________
(1) Tiểu Dân và Phạm Tăng.
(2) Xin bạn đọc xem “Cuôi ba dùm” trong số này.
(3) Tác giả “Bơ vơ”.


BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #456 vào: 02/12/2018, 12:13:08 »


                     Dòng tháng năm

            CỚ làm sao đời mãi mãi cô đơn?
            Buồn hơn cả những chiều tàn huyện lỵ
            Người xa vắng nhớ nhung dài vạn lý
            Thời gian trôi, ngày lá rụng: hoang liêu
            Buồn không tan hoa cỏ cũng tiêu điều
            Nghe phố xá gió đâu về xao xác
            Đèn ai thắp trong sương xa vàng nhạt?
            Mùa tha phương tôi lạc bước bơ vơ
            Đường trần gian chiều khói trắng mịt mù
            Trong rét mướt những cây cành úa héo.
           “Thưa Thượng Đế tình thương con vẫn thiếu
            Dòng tháng năm réo rắt khúc thương đau”
            Đôi vai gầy mang phiến đá u sầu
            Lây lất mãi bao mùa xuân chán ngán.
            Ôi! Quạnh quẽ những hoàng hôn vắng bạn
            Người xa nhau, đường phố nhớ rưng rưng
            Rồi trăng phai, lá rụng cuốn xuân hồng
            Lấy năm tháng phổ đàn xưa nức nở
            Đời bưng bít, mộng tang bồng cũng vỡ
            Màn sương rơi vây kín chí phiêu du
            Ngỡ ai về, đêm thức giấc: trăng lu!


                                                  HUY TRÂM



BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #457 vào: 02/12/2018, 21:15:24 »


Duyên xuân   
                                           Mùa thắm dâng triều nao ý gió
                                              Tóc thề ươm phấn cánh hoa mai
                                                 Nghe trong im vắng duyên mùa nở
                                   Ai lại ai mà sợ nhạt phai?

NHỚ nhung xưa đã cạn rồi,
Khuya nay tình chớm mấy chồi thanh tân.
Tương tư đôi hướng chuyển vần,
Lòng trai quạnh quẽ mây Tần dáng xưa.
Duyên lành, hoa cánh đơm thưa,
Đất se ý thắm, lòng chưa ngọt ngào.
Mai đây tỉnh hội hoa đào,
Tin yêu lòng chửa kịp rào bốn phương.
Lầu đời rót nặng mái sương,
Đắng cay độ chín, mùa hương giao hòa.
Chiều về, màu ấm sinh cơ,
Gió chênh cánh nắng, đài hoa dịu cành.
Anh đào chớm nụ đan thanh,
Lá vàng thu ấy, tình xanh xuân nầy.
Nắng về, cành lá say say,
Duyên xuân mới bén, tình cây ngại ngùng.
Du xuân chân bước trập trùng,
Cẩm Châu duyên đó, tao phùng hội đây
Quan hà chén tiễn hương bày,
Giang hồ thói cũ mê say viễn trình.
Quê hương: Tình ngọt, đất lành,
Mến thương hồ dễ khuây tình lãng du?

                              Quê hương, một Tết hồi xuân
                              NGUYỄN VĂN XUNG



BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #458 vào: 03/12/2018, 12:34:37 »


                           Vui

                 CÓ con chim hoàng anh
                 Hót vang ngoài cửa sổ
                 Có cô nàng áo đỏ
                 Đi dưới rặng soan xanh.

                 Cô áo đỏ tươi cười
                 Vì nghe hoàng anh hót
                 – Buồn ơi, giây phút chót
                 Ta từ giã mi thôi!

                 Chim hót trên đầu ta,
                 Hoa cười trong lòng ta
                 Nắng ngừng bên bực cửa
                 Nhường lối buồn đi qua.


                                        TƯỜNG LINH



BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #459 vào: 03/12/2018, 23:19:58 »


                            Vườn

            BÌNH minh thả nắng đuổi xua đêm
            Trong lá cành xanh rộn tiếng chim
            Mấy ả Hồng, Lan vừa thức giấc
            Chờ mong gã bướm hẹn sang tìm.

            Có bàn-tay-gió vân vê Liễu,
            Liễu thẹn, làm rơi chuỗi ngọc sương
            Dậu biếc tơ hồng giăng mắc tóc
            Nàng Mai khoe sắc, Huệ dâng hương.

            Cô Xuân thơ thẩn thăm vườn sớm
            Thảm có nhung tơ đặt gót hài
            Nâng má hoa hôn, cười chúm chím
            Hoa “thật”, hoa “người”… đẹp cả hai?


                                                 TƯỜNG LINH



BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #460 vào: 04/12/2018, 12:33:27 »


           Chí Hạng Võ – Tình Ngu Cơ
000
                             I
            Lực bạt sơn hề khí cái thế,
            Thời bất lợi hề chuy bất thệ.
            Chuy bất thệ hề khả nại hà!
            Ngu hề! Ngu hề! Nại nhược hà!
                                    HẠNG VÕ

                             II
            Hán binh dĩ lược địa,
            Tứ diện Sở ca thanh.
            Đại vương ý khí tận,
            Tiện thiếp hà liều sanh?
                                    NGU CƠ

                                                I
                        Sức nhổ núi chừ, khí vô địch.
                        Thời nay hết chừ, ngựa không nhích.
                        Ngựa không nhúc nhích, tính sao chừ!
                        Ngu ơi! Ngu ơi! Làm sao chừ!

                                              II
                        Quân Hán cướp hết đất,
                        Quân Sở hát bốn bề.
                        Chí Người chừ đã nát,
                        Tiện thiếp sống mà chi!


                                                     NGUIỄN NGU Í dịch



BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #461 vào: 04/12/2018, 22:59:28 »


Thuyền đi
000
SÔNG khuya nước lớn lưng bờ
Thuyền ơi sắp sửa tới giờ nhổ neo.
Ra đi mà gió hiu hiu
Hẳn là vui thú bao nhiêu hỡi thuyền.

Buồm giương theo ngọn triều lên
Thuyền nghe tiếng gọi những miền xa xôi.
Âm thầm lòng bến lẻ loi
Nỡ nào chẳng đoái, thuyền ôi là thuyền.

Thoáng trông bến vẫn điềm nhiên
Ngập bao nhiêu nỗi đau phiền ai hay.
Suốt đời hiu quạnh nằm đây
Bãi lau xơ xác bờ cây hững hờ.

Quanh năm nước chảy lờ đờ
Điệu ru tẻ nhạt bao giờ đổi thay.
Đời ta như điệu ru này
Muôn năm khuôn đúc một ngày thế thôi.

Bến sầu chỉ thấy khuây vui
Khi nào bến được kề đôi với thuyền.
Trở về hạ cánh ố hoen
Thoảng mùi gió mặn những miền biển khơi.

Và khi êm ả chiều trời
Được nghe thuyền kể những hồi lênh đênh.
Niềm vui chưa thỏa tâm tình
Bỗng nay thuyền lại nỡ đành kéo neo.

Nhẫn tâm bỏ bến đìu hiu
Trống không ngày tháng, buồn thiu cuộc đời.
Nhưng thôi nước lớn đầy rồi
Gió vi vút thổi giục mời thuyền đi.

Dám đâu bận bịu làm chi:
Biết thân phận bến là ly biệt thuyền.
Thuyền đi bến sẽ lặng yên
Dầm sương trông với ánh đèn mờ soi.

Nếu thuyền thương bến lẻ đôi
Hãy đi chầm chậm, thuyền ơi là thuyền.

                Yã-Hạc NGUYỄN VĂN TRUNG
                (Hoang đảo)



BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #462 vào: 05/12/2018, 12:15:18 »


                   Những mùa xuân

            MÙA xuân
            Có ai sống những mùa xuân?
            Đời trong xanh như nắng lọc cây rừng
            Tuổi xuân gài hoa trên mái tóc
            Đôi mắt chôn vạn tâm tình
            Thương nhớ rưng rưng…
            Ôi những mùa xuân…!

            Xuân mười bốn
            Em có biết gì đâu…
            Tà áo phất phơ gió lộng qua cầu.
            Trên trang giấy trắng tinh,
            Những nét chữ đều tay nắn nót.
            Số điểm thấp cao trên đường về theo gót
            Làm bận trí ngây thơ
            Chân non dại nhanh nhanh,
            Về kịp những bữa cơm cha mẹ đợi chờ…

            Xuân mười sáu,
            Em có tròn như mặt trăng không…?
            Đôi má tròn như quả lựu chín hồng.
            Ra đường tay nghiêng nghiêng vành nón
            Để che nắng hè…,
            Hay sợ người trông…?
            Em hay buồn vơ vẩn,
            Sách bài là những sa mạc mênh mông,
            Đêm xuân về dìu dịu…
            Mộng mơ thường theo đuổi giấc nồng.
            Qua cầu tay em ghì vạt áo,
            Thẹn thùng nhớ năm xưa, để mãi gió lồng
            Em nghiêng mình soi bóng nước
            Và mỉm cười đôi má ửng hồng…
            Sông hững hờ xuôi chảy
            Người qua cầu có trẻ mãi,
            Như nước xanh không…?
            Năm mười tám
            Núi đồi đẹp như bức tranh xuân
            Đời trải qua, chân em bước ngập ngừng
            Môi hồng cười e ấp…
            Ai về không man mác bâng khuâng…
            Đôi mắt em,
            Chôn vạn tâm tình muôn thuở…,
            Phương trời nào xa vắng rưng rưng…
            Trang vở tâm tình,
            Em gài đôi bướm đẹp,
            Chết cho kỷ niệm mùa xuân
            Cho tình em nhảy múa tưng bừng
            Cho em nằm trên mộng điệp
            Ấp duyên lành trong giấc ngủ lâng lâng…
            Qua cầu em sững sờ tự hỏi:
            ― Có phải mình đi giữa sông Ngân?
            Nước vẫn xanh,
            Đời trẻ mãi trong ngần…
            Mười tám mùa xuân
            Lê thê mái tóc
            Chuyện trầu cau, em nguây nguẩy bao lần…

            Xuân hai mươi,
            Môi em trọn vẹn nụ cười…
            Mắt ngời tia lửa ngọc
            Rạo rực xuân tình
            Đốt cháy tâm tư…
            Hoa bên đường tàn úa
            Sao lòng em bồi hồi…?
            Tuổi hai mươi hoa đời khai mầu
            Đến lượt mình xuân sắc pha phôi…?
            Đêm hai mươi trăng vàng lên muộn,
            Em nhớ mình chiếc bóng đơn côi…?
            Sao ngang trời rơi rụng,
            Sao về đâu sao ơi…?
            Chuyện nghìn năm e thế nhỉ!
            Biết đâu vật đổi sao dời…

            Qua cầu em đếm nhịp
            Một… hai… ba… bốn… người.
            Bao giờ thuyền định hướng
            Để em nhìn lên thẳng thắn nụ cười…
            Đời chạy đua rộn rã,
            Xáo trộn tâm tình thầm kín tuổi đôi mươi…
            Và những mùa xuân,
            Bài thơ viết giữa mùa xuân…
            Trong gió reo nắng múa tưng bừng…
            Mười bốn – Hai mươi,
            Khoảng đời xuân sắc
            Em đã qua không vương vấn ngập ngừng…?
            Giữa cuộc đời,
            Sao em bàng hoàng khi nghe hát:
            ― “À ơi… Có những mùa xuân…”


                                        HUY LỰC
                                        (Trong “thuở ban đầu”)




BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #463 vào: 12/12/2018, 23:18:45 »


                     Bài thơ hai ngả

            ĐƯỜNG sáng từ đây đành để mất,
            Tình sâu, nghĩa nặng: cũng vô duyên.
            Người cũ không dung người mới được,
            Thì… cho nước chảy trôi về… triền miên…

            Vĩnh biệt giờ đây, ta chẳng rượu,

            (rượu Hoàng hoa ấy ở đâu đâu…)
            Thơ thường, tình lạ, một vài câu,
           “Muôn năm!” thôi nó đành dang dở,
            Để lại này đây kỉ niệm đầu:

            Một bó hoa riêng ta mới kết:
            Lá sâu; hoa héo; trái thừa xanh.
            Lá hoa trái góp, dường chưa đủ,
            Ta tặng ai thêm, gãy một cành…

                                    •
            Một cành Dâu gãy, thiên thu Hận.
            Ai tiếc Tình ta, Thức một mình.


                                     Trà Khúc: 1947 – Đồng Nai: 1957
                                     Ngu-Í NGUIỄN HỮU NGƯ




BÁCH KHOA |  SỐ 73

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #464 vào: Hôm nay lúc 07:11:39 »
BÁCH KHOA |  SỐ 74  [1-2-1960 |  138 trang]  giá: 15$

⎎  Số tân niên    Xuân Canh Tý 
MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Nghiêm Phú Lưu |  Một định hướng mới: Tiết kiệm |  3-9
Phạm Hoàng (sưu tầm) |  Danh ngôn, danh lý: Đào luyện và giáo hóa |  9, 22, 59, 92, 112, 129
Hoàng Minh Tuynh |  Những khó khăn trong thật hiện dân chủ |  10-14
Phạm Hoàng |  Dòng tư tưởng… Khẩu hiệu và hô hào |  15
Nguyễn Thượng Huyền |  Cụ Phan Bội Châu ở Hàng Châu [II] |  16-22
Nguyễn Hiến Lê |  Vấn đề dạy sinh ngữ ở bậc Trung học và dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ ở bậc Đại học [II] |  23-30
Bách-Khoa |  “Quá náo động vì món trứng rán” |  30
Tiểu Dân |  Năm 1960 với những khả năng kiến tạo hòa bình [II] |  31-35
Đoàn Thêm |  Mộng tầm xuân (thơ) |  36-39
Nguiễn Hữu Ngư |  Một bài thơ phải đợi 15 năm mới được đăng trọn vẹn |  40-45
Cô Liêu (dịch) |  Thanh niên Việt Nam ngày nay [II] \ F. Parrel |  46-51
Băng Đình |  Xuân chiến sĩ (thơ) |  52
Kim Thu |  Men xuân (thơ) |  53
Nguiễn Ngu Í |  Nhân ngày giỗ trận Đống Đa: Nguyễn Huệ hay là giấc mộng lớn chưa thành |  54-59
Quảng cáo |  60
Nguyễn Trinh Dzoanh |  Lunik III |  61-65
Quảng cáo |  66
Trần Văn Khê |  Vài xu hướng trong âm nhạc Âu, Mỹ cận đại |  67-75
Mộng Trung |  Cảm xuân (thơ) |  76
Quan Thị Châu |  Nhân xem cuốn “Tìm về sinh lộ” của Kỳ Văn Nguyên |  77-82
Bùi Khánh Đản (dịch) |  Thơ dịch: Phó Phi Luật Tân dự Quốc tế Đồng tử quân Đại lộ dinh ngẫu vịnh \ J.M. Thich |  83
Phan Văn Tạo & Đoàn Thêm |  Dọn nhà (truyện) |  84-92
Lê Khắc Lý |  Xuân hoài vọng (thơ) |  93
Kiều Yiêu (dịch) |  Dịch Liêu Trai: Tương Quần \ Bồ Tùng Linh |  94-99
X. |  Gió xuân (thơ) |  100
Võ Phiến |  Tuổi thơ đã mất [II] (truyện) |  101-112
Yã-Hạc & Trinh Nguiên |  Đêm, đi thuyền máy trên Cửu Long giang (thơ) |  113
Vũ Hạnh |  Người nữ tỳ [III] (truyện) |  114-129
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  130
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  131
Quảng cáo |  132-138


SAIGON |  1960