Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 40209 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #525 vào: 14/01/2019, 20:59:42 »
BÁCH KHOA |  SỐ 82  [1-6-1960 |  114 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Nguyễn Phúc Sa |  Một vài yếu tố của chánh sách tiểu công nghệ |  3-8
Phạm Hoàng (sưu tầm) |  Danh ngôn, danh lý: Thuật trách vấn |  4, 13, 29, 36, 40, 49, 58, 67
Hoàng Minh Tuynh & Thong Kham |  Nhân ngày Phật đản: Bàn về chữ “Từ” trong Phật giáo [III] |  9-13
Phạm Hoàng |  Dòng tư tưởng… Tinh thần khách quan và tinh thần trách nhiệm |  14
Trọng Khang (dịch) |  Vấn đề tài trợ ngành trồng tỉa cao su \ J. Polton |  15-21
Phạm Ái Bích |  Tinh túy của triết lý Phật giáo [III] |  22-24
Phạm Ngọc Thảo | Sao đánh hoài du kích chưa hết… |  25-29
Bách-Khoa |  Danh dự |  27
Đoàn Thêm |  Người viết và người đọc |  30-36
Bách-Khoa |  Chân nhân, đạt nhân |  34
Cô Liêu |  Nước Anh đã và sẽ làm gì cho thanh niên |  37-40
Nguyễn Hiến Lê |  Dostoievsky (1821-1881) một kẻ suốt đời chịu đau khổ để viết |  41-49
Bùi Khánh Đản |  Nhắn nhủ (thơ) |  50
Nguyễn Văn Hầu |  Vấn đề chánh tả: nhân cuốn chánh tả tự vị của ông Lê Ngọc Trụ vừa xuất bản |  51-54
Quảng cáo |  55
Nguyễn Trần Huân |  Thành tích năm mươi năm khoa học (1900-1950) [II] |  56-61
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 81 |  61
Đỗ Tấn |  Ngày xưa (thơ) |  62-63
Trần Văn Khê |  Hát Ả đào [II] |  64-67
Bách-Khoa |  “Đập nồi, nhận thuyền” |  67
Quảng cáo |  68-69
Cô Phương Thảo |  Điểm sách: Ký thác của Bình Nguyên Lộc |  70-76
Bách-Khoa |  Chí phục thù |  76
Quảng cáo |  77-78
Phan Văn Tạo |  Ông “Ba Kim” (truyện) |  79-83
Huy Lực |  Thuyền trăng (thơ) |  84
Hoài Hương |  Tháng 10, tôi nhớ vụ đồi làng anh (thơ) |  85-87
Thiên Giang |  Miếng tồi tàn (hồi ký) |  88-91
Nguyễn (dịch) |  Đồng tiền cấm cuối cùng của Vương Tiên Sinh (Mr. Weng’s Last Forbidden Dollar) \ C. Y. Lee |  92-97
Phan Du |  Ả Xíu (truyện) |  98-108
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  109
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách mới |  109
Quảng cáo |  110-114


SAIGON |  1960




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #526 vào: 14/01/2019, 22:54:26 »


Tinh túy của triết lý Phật giáo (tt)
000
Vấn đề đặt ra không phải tìm hiểu ý nghĩa của cuộc đời này là gì.
Vấn đề duy nhất là tìm hiểu: chúng ta có thể làm gì cho cuộc đời này?

―  Louis Guilloux
(Le sang Noir – 1935)

V
CHÚNG TA đã từng nghe rằng đạo lý nhà Phật thu gọn trong bài thuyết pháp đầu tiên của ngài. Chúng ta hãy dở kinh Mahavagga, chúng ta hãy mở lòng lắng nghe lời giảng của bậc Đại giác tự ngàn xưa vẳng lại, giọng rõ ràng, vừa thanh thoát vừa thâm trầm; âm hưởng rung động mọi tâm hồn thiết tha đi tìm hướng sống cho kiếp đời cơ cực này:

         “Các con ơi, hãy lắng nghe ta: con đường giải thoát khỏi sự chết đã tìm được. Ta dạy các con giáo pháp của ta. Nếu các con theo đạo lý của ta, các con sẽ đi tới sự thành tựu tối cao của những ước vọng cao quí. Ngay trong đời sống này, các con sẽ thấu hiểu Chân lý, các con sẽ nhìn Chân lý, mặt giáp mặt […] Hỡi các con, có hai cực đoan mà kẻ nào muốn đeo đuổi một đời sống tâm linh đều phải tránh xa. Hai cực đoan ấy là gì? Một là đời sống khoái lạc, buông thả theo nhục dục và lạc thú: như vậy thì rất ty tiện, ô trọc, phù phiếm… Cực đoan kia là đời sống khổ hạnh, phiền não, hèn hạ, vô ích. Các con ơi, ta đã tránh hai cực đoan ấy và đã tìm được con đường này mở những con mắt và tâm trí, con đường này dẫn đến An tĩnh, Trí tuệ, Giác ngộ, Niết bàn. Hỡi các con, con đường chính giữa mà ta đã tìm được là con đường gì? Đó là con đường cao quí gồm có tám nhánh, gọi là bát chính đạo: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định. Đó là con đường chính giữa (Trung đạo) mà ta đã phát giác, con đường này mở những con mắt và tâm trí, con đường này dẫn đến An tĩnh, Trí tuệ, Giác ngộ, Niết bàn.
         Hỡi các con, đây là
Thánh đế về sự đau khổ: Sinh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ; gần gũi với những gì ta ghét là khổ, ly biệt những gì ta yêu là khổ, thèm muốn những gì ta không thể có được là khổ, nói tóm lại triền miên trong ngũ uẩn là khổ.
         Hỡi các con, đây là
Thánh đế về nguồn gốc của sự đau khổ: sự ham sống đã đem con người đầu thai từ kiếp này đến kiếp nọ, cùng với sự tham dục, tìm cách thỏa mãn ở đây ở đó, nghĩa là sự thèm khát nhục dục, thèm khát cuộc sống, thèm khát quyền thế, hưng thịnh.
         Hỡi các con, đây là
Thánh đế về sự diệt khổ: diệt sự thèm khát, tuyệt diệt dục vọng, khu trừ, từ bỏ, giải thoát cho ra khỏi dục vọng.
         Hỡi các con, đây là
Thánh đế về con đường dẫn đến sự diệt khổ: Đó là bát chính đạo, gọi là chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm và chính định”.(1)

         Trong kinh Samyutta Nikâya, V-437 sqq., đức Phật có nhắc lại đạo lý cơ bản của ngài cùng các đệ tử: “Hỡi các đệ tử, thầy đã dạy các con những gì? Thầy đã dạy các con: khổ, nguyên nhân khổ, diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ. Hỡi các đệ tử, đó là tất cả những gì thầy đã dạy các con”.
         Trong một đoạn Phật kinh khác, chúng ta được ngài nhắc lại nữa: “Vì chúng ta không hiểu vì chúng ta không thấu Tứ thánh đế mà chúng ta phải chịu hành trình lâu dài như thế này, phải chịu đầu thai liên tục như thế này. Vậy Tứ thánh đế ấy là gì? Đó là thánh đế về khổ, thánh đế về nguồn gốc khổ, thánh đế về sự diệt khổ, thánh đế về con đường dẫn đến sự diệt khổ. Khi các con đã hiểu thấu suốt Tứ thánh đế này thì sự thèm khát cuộc sống sẽ được hủy diệt và các con không còn bị đầu thai nữa… Khi các con không hiểu thấu suốt những thánh đế này thì các con sẽ bị đầu thai mãi mãi. Khi các con thấy rõ những thánh đế này, nguồn gốc đầu thai bị hủy diệt cỗi rễ của sự đau khổ bị nhổ mất và sự hiện hữu không còn nữa”.
         Đọc mấy đoạn Phật kinh trích ở trên chúng ta đều thấy rằng Tứ thánh đế (Hay Tứ diệu đế) giữ một vai trò tối ư trọng đại trong tư tưởng Phật giáo; bao nhiêu lời dạy của đức Phật đều qui tụ trong Tứ thánh đế:
            I.– Khổ thánh đế (sự hiện hữu của khổ);
            II.– Tập thánh đế (nguyên nhân của khổ);
            III.– Diệt thánh đế (sự khổ diệt);
            IV.– Đạo thánh đế (con đường phải theo để giải thoát, để diệt khổ).
         Những thuyết rất quan trọng của Phật là vô thường (anicca), vô ngã (anatta), thập nhị nhân duyên (paticcasamuppada). Đáng lẽ chúng tôi phải trình bày rõ ràng những thuyết quan trọng này, nhưng vì khuôn khổ của tạp chí có hạn định, chúng tôi xin dành lại một dịp khác. Thật ra, ba thuyết trên đều nằm trong Tứ thánh đế. Xét cho cùng, bản-thể-luận, hiện-tượng-luận và đạo-đức-học Phật giáo cũng nằm trong Tứ thánh đế. Giáo sư thạc sĩ Henri Arvon quả quyết rằng Tứ thánh đế là tinh túy của Phật giáo (la quintessence de la doctrine de Bouddha).(2) Đệ nhất thánh đế tóm tắt những gì mà người ta có thể gọi là bản-thể-luận của Phật giáo (ontologie bouddhique), vì nó xác định thực chất của vật thể (l’être); đệ nhị thánh đế và đệ tam thánh đế triển khai những dạng thái sai biệt của vật thể: có thể gọi là hiện-tượng-luận Phật giáo (phénoménologie bouddhique); đệ tứ thánh đế vạch ra một con đường giải thoát thực tiễn; có thể gọi là đạo-đức-học Phật giáo (éthique bouddhique).(3)
         Thật vậy chúng tôi nghĩ rằng bốn thánh đế này là cốt tủy của Phật giáo. Quả như nhà phật học uyên bác André Migot đã nói trong buổi diễn thuyết ngày 11 tháng 5 năm 1952 tại chùa Quán Sứ ở Hànội: “Tứ thánh đế là tinh túy của Phật giáo và như vậy, chúng ta thấy ngay rằng Phật giáo nguyên thủy không phải là một tôn giáo – theo nghĩa Tây phương – mà là một kỹ thuật thuần lý để chống lại sự đau khổ” (c’est l’essence de la doctrine du Bienheureux, et cela vous montre bien que la Bouddhisme originel n’était pas une religion, au sens occidental du terme, mais une tecnuique rationnelle pour combattre la douleur).



         Đức Phật chỉ là một người. Trải qua bao gian nan khó khăn, ngài đã tìm được ánh sáng cho cuộc đời, thấy được hào quang giữa đêm tối và, với lòng từ bi vô hạn, ngài đã trao lại hậu thế một chiếc bè vững chắc để qua bên kia bờ sông thanh tĩnh.
         Giống như ta, ngài chỉ là người; giống như ngài, ta cũng có thể tự giải thoát để đạt Niết bàn.
         “Cũng như ngày hôm nay, bậc giác ngộ, bậc Hoàng tử của chiến thắng, bậc Đại sư tối cao, bậc Toàn năng, Toàn thiện đã đi vào Niết bàn, rồi đây ở thế gian này, vạn vật cũng sẽ cởi bỏ kiếp đời trần tục” (Kinh Mahaparinibbhâna Sutta).


PHẠM ÁI BÍCH

_________________________________
(1) E. H. Brewsiet: Gotama le bouddha, trang 71-81 (Payot, Paris, 1951).
(2) Henri Arvon: Le Bouddhisme, trang 36 (Presses universitaires de France, 1956).
(3) Henri Arvon, opere citato, ibidem.


BÁCH KHOA |  SỐ 82

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #527 vào: 15/01/2019, 11:20:30 »


                        Nhắn nhủ
000
                                    I
            Cái khổ là thường cứ gặp nhau
            Để trông nét mặt đượm u sầu
            Con đường “độc đạo” ta còn ước
            Câu chuyện “duy tâm” bạn chớ cầu.
            Đã trót lỡ rồi ba kiếp sống
            Cũng nên thương lấy một dòng châu
            Áo xanh quần đỏ dù hai ngả
            Vẫn thoảng hương thơm giấc mộng đầu.


                                    II
            Đã lạc lâu rồi, mây viễn phương
            Cành chim lá gió sớm chia đường
            Sá gì chuyện cũ Vương-tôn-các
            Mà ủ tình sầu Dương Tử Giang.
            Dòng máu đỗ quyên gào nước cũ
            Giấc mơ hồ điệp loạn canh trường
            Hương xưa ví nhập vào thơ ý
            Cũng chỉ thêm bài: Một Dở Dang.


                                         BÙI KHÁNH ĐẢN



BÁCH KHOA |  SỐ 82

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #528 vào: 15/01/2019, 20:13:40 »


                        Ngày xưa

            BÓNG tối nằm giữa sân trường
            Tôi đưa hai bàn tay thức dậy
            Vẫy những thằng bạn xưa
            Những thằng bạn như mới vừa đây, vừa giấc ngủ ban trưa.
            Gần nhau biết mấy!
                                                ¤
            Những thằng bạn xưa học sách một thầy
            Cùng đi về một đường, cùng nói chuyện ngày mai
            Cùng xâu xé nhau ổi non từng quả
            Cùng tranh giành nhau kẹo bi, nước lã
            Cùng giận nhau, ục nhau, cùng tinh nghịch một bầy

            Thế mà giờ đây
            Thế giới năm ba phe
            Bạn bè năm bảy lũ
            Hai phe, Nga Tàu Anh Pháp Mỹ
            Nam Tào, Bắc Đẩu nào hay
            Những đứa so vai, rút cổ, lưng gầy
            Bàn định mưu mô giết những thằng to béo
            Những thằng béo to chửi bạn so vai khéo lòn, đòn khéo

            Những thằng cơm no áo tốt giung giăng
            Chúng nó đành quên ngày xưa cơm đùm gạo sạn
            Chỉ biết chạy từng đàn cho kịp trống vừa khua
            Chạy từng đàn kịp giật trái me chua
            Chạy từng đàn tranh nhau bóng tối
            Xót chia nhau từng nắm xôi nhai vội
            Giận hờn nhau cho lắm để cười khì
            Rồi cử rồi thi
            Đứa che thầy, đứa núp lưng giở vở
            Trái ni của tau – Trái mi to rứa
            Nghịch như tinh một bầy khỉ của thầy
            Thầy không hề nói chuyện Tàu Tây
            Không hề nói chuyện chủ nghĩa, hai phe, Nga Tàu Anh Pháp Mỹ

            Thế mà
            Giờ đây
            Bầy khỉ của thầy nay thành lũ quỷ
                                    ¤
            Bóng tối ngủ dưới sân trường
            Tôi đưa tay ngượng ngùng ve vẩy
            Ánh sáng ngày xưa không buồn trổi dậy
            Chúng nó ngày xưa đã biến cả rồi
            Bạn hay thù, chúng nó hay tôi
            Ngày xưa của chúng ta nay đã mất.


                                                   ĐỖ TẤN



BÁCH KHOA |  SỐ 82

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #529 vào: 16/01/2019, 20:50:23 »


Điểm sách: Ký Thác của Bình Nguyên Lộc
000
Tên sách: Ký Thác (1)ooo
Tác giả: Bình Nguyên Lộc
Nhà xuất bản: Bến Nghéii

QUA MƯỜI SÁU truyện ngắn chọn lọc của tập Ký Thác, người đọc có thể nhận thấy những điều sau này:
         Bình Nguyên Lộc là một nhà văn phong phú. Ông đề cập rất nhiều vấn đề, nói đến rất nhiều cảnh sống và bày tỏ rất nhiều thái độ. Với Rừng mắm ông đưa ta trở về với lớp người của cái thế hệ tiên phong vỡ đất khai hoang để gầy sự sống giữa chốn đồng chua nước mặn. Trong Hạ bệ ông lôi ta lại với không khí phố phường, ném ta vào với cái khung cảnh gia đình đã bị bụi bặm của cuộc sống ăn chơi nhiễm độc. Ba con cáo là hình ảnh của cặn bã đô thành mà sự đói khổ trong những ngày mưa, như một que gỗ, đã khơi cho bốc dậy những màu rác bẩn hôi tanh. Ba sao giữa trời chiếu lại ít vẻ sinh hoạt của những sinh viên trường thuốc để làm nền cho một khám phá về nghĩa cuộc đời. Ăn cơm chưa là tấn bi kịch mà nhân vật chính là một ả-xẩm đáng thương như ả-xẩm trong Pì-Pế-Hán nói lên nỗi sầu của người kỹ nữ lạc loài bên cái tiêu điều của những con người văn nghệ cố gắng để khỏi trở thành héo hắt. Cho tay nầy, lấy tay kia hay nỗi hoài nghi về khoa học có thể trở thành một sự trớ trêu của định mệnh. Tác giả còn muốn đi sâu hơn, dẫn ta lục lọi trong tiềm thức u ẩn để bắt Hồn ma cũ, và đi xa hơn, ra ngoài đảo vắng xa cách với phần đông nhân loại để khi nhớ đến chuyện Rung cây dừa lại háo hức trở lại với loài người. Bình Nguyên Lộc còn làm ta cảm động trong Đôi bạn mắc hoa vông với một cô gái già sầu tủi tình yêu và con chó Ma-lên khao khát… ái tình, buồn cười trong Nắng chiều với thầy Mười Sáng lẩn thẩn phí bỏ gần ba mươi năm để theo đuổi tà thuật, và một Người tài xế điên, một Kẻ chiến bại đưa ta vào những thói tục, vào những tâm lý u ám của con người. Hơn thế, tác giả còn trả ta về với Đồng đội của ta, cho ta tin tưởng ở cái sức mạnh khác thường của tinh thần tập thể, và trong Người đàn ông đẻ, trong Lầu ba phòng bảy, cho ta hiểu thêm cái giá trị của con người văn nghệ.
         Như thế, tác giả tỏ ra không muốn thiếu thốn bất cứ điều gì. Từ lớp cùng khốn đến hạng giàu sang, từ thời xa xưa cho đến hiện tại, từ tâm lý đến khoa học và văn nghệ, Bình Nguyên Lộc đều muốn đảo cái nhìn bao quát của mình để ôm lấy sự việc. Sự phong phú của Bình Nguyên Lộc không bao giờ làm cho ta nản lòng. Tác giả lôi cuốn ta đi, bắt ta xông xáo nhiều nơi và dành cho ta nhiều sự chờ đợi thú vị. Bình Nguyên Lộc không phải là người dẫn đường trầm ngâm hoặc khó tính nhưng là con người ưa thích giảng giải sự đời và tính vốn lành, do đó ngòi bút của ông trân trọng gìn giữ cuộc đời như một người con thuận thảo giữ gìn nền nếp gia phong. Cái khía cạnh lành mạnh ấy là điểm mà nhiều người tìm đến với ông như phải bước qua những nẻo tối tăm dày đặc ta hướng về những con đường sáng sủa phong quang. Người đọc biết chắc rằng ở cuối lối đi sẽ có ngôi nhà chờ đợi và dù nghèo nàn sẵn có cơm, có nước và chỗ nghỉ ngơi. Đường đi của Bình Nguyên Lộc không có chông gai như nhiều con đàng miền Nam khô ráo chạy qua giữa đám bùn lầy. Trong Bình Nguyên Lộc vẫn có bùn lầy nhưng bùn lầy đã được đắp lên thành những con đường khô ráo.
         Sự lành mạnh ấy có lẽ xuất phát từ cái căn bản thuần hậu của phần nhiều con người miền Nam, được bồi tiếp bằng cái không khí một cuộc sống điều hòa, dễ dãi, luôn luôn theo đúng khuôn phép gia đình. Bởi vậy cuộc đời mà Bình Nguyên Lộc đem đến cho ta không có vẻ gì tàn ác, không có vẻ gì khó khăn và cũng không có vẻ gì lớn lao như nhiều bạn trẻ mơ ước. Cái sắc thái lành mạnh vừa phải ấy ở Bình Nguyên Lộc thực là chân thành, vì Bình Nguyên Lộc không hề cố ý để làm điều thiện nhưng điều thiện có sẵn từ trong nếp sống của ông. Tất cả những ưu điểm ấy làm cho Bình Nguyên Lộc nổi bật lên như một vệt sáng giữa những bóng u tối là lớp người cầm bút quanh quẩn với một nội dung bệnh hoạn và nghèo nàn. Vì vậy nhiều người đã ca ngợi rất hợp lý cái cao quí của Rừng mắm, cái xót xa của Ba Con Cáo và cái hùng tráng của Đồng Đội. Đọc Bình Nguyên Lộc chúng ta không bị đe dọa nhưng được an ủi, vỗ về. Có thể là chúng ta không chịu nghe lời an ủi và không hài lòng về chuyện vỗ về nhưng ít nhất chúng ta cũng không cảm thấy là mình đã bị bạc đãi hoặc bị phỉnh lừa. Những kẻ muốn tìm sự sống tinh vi của tâm hồn và những uyển chuyển phức tạp của cuộc đời cũng không thể gặp nơi Bình Nguyên Lộc, tuy Bình Nguyên Lộc luôn luôn giúp ta yêu mến cuộc đời, khiến ta quay về lẽ phải, lấy sự hiểu biết làm một phương châm hành động.
         Nhưng ngoài sự phong phú trên cách nhìn, ngoài sự lành mạnh trong cảm nghĩ, Bình Nguyên Lộc còn khiến cho chúng ta mến yêu vì cái sắc thái địa phương đậm đà ở trong tác phẩm. Với Bình Nguyên Lộc chúng ta có dịp trở về với ruộng đồng miền Nam, chui qua cái ngõ ngách của đô thành, tìm đến những hàng quán cũ, chứng kiến những mẩu sống, những thói tục và những con người không thể tìm thấy ở bất cứ một nơi nào khác. Bình Nguyên Lộc không thuộc về lớp người khư khư ôm lấy địa-phương-tính của mình như một kẻ sợ hãi chân trời bám lấy lũy tre và ruộng vườn quê cũ và cũng khác hẳn với những lớp người đứt rễ chỉ bay lượn lên trên nhiều khoảng không gian. Tác giả biết yêu quí cái gì vốn là của riêng mình và khai thác những khía cạnh tốt đẹp của nó để làm vẻ vang cho mình và cho quê cảnh mình. Trong lúc đi tìm vẻ đẹp, Bình Nguyên Lộc đi vào lẽ thiện của con người và do đó màu sắc địa phương ở trong tác phẩm cũng mất đi những vẻ thô kệch, nặng nề để chỉ giữ lấy cái nét hiền hòa, tươi sáng, giản dị, quân bình. Địa-phương-tính của tác giả là một địa-phương-tính lành mạnh và hòa đồng, không hề cản trở bước đường người đọc tìm về tác giả mà trái lại, giúp thêm thanh thoát lưu thông.



         Nhưng qua một số truyện của Bình Nguyên Lộc nhiều người nhận thấy việc làm của tác giả hình như có khác với đa số những kẻ theo nghiệp văn chương. Trong sự sáng tác thường thường người ta đi vào cuộc đời, nhiễm vào sinh hoạt rồi từ đấy bỗng nghe một tiếng kêu đòi như lời thúc giục để mà phải viết. Càng đi vào cuộc sống người ta càng thích viết, lại càng phải viết nếu viết vừa là nghiệp dĩ đối với bản thân vừa là trách nhiệm đối với xã hội. Từ những hình tượng mà ta xây dựng ở trong tác phẩm, từ cái khung cảnh nghệ thuật ấy vấn đề phát sinh như hoa được nở, như trái kết thành ở những cây lá mà ta vun quén tươi xanh. Đáng lẽ vấn đề phải phát ra từ những cảnh đời thì ở tác giả – trong rất nhiều truyện – cảnh đời phát ra từ những vấn đề. Người đọc có cảm giác chắc chắn rằng trước khi sáng tác, Bình Nguyên Lộc đi tìm những tư tưởng tổng quát – những tư tưởng có vẻ mới và lạ – rồi đem cuộc đời bắt nó chứng minh. Những tư tưởng tiên thiên ấy không cần là một tiếng kêu đòi từ trong sinh hoạt bên ngoài hay là bên trong, không cần phải là lẽ sống của người viết truyện. Những tư tưởng ấy – như đã trình bày – chỉ cốt mới, cốt lạ, cốt sâu sắc – cố nhiên là đối với tác giả – thế là đủ để cho tác phẩm ra đời. Và tác phẩm ra đời như thế nào? Những cảnh sống lẻ tẻ được chắp nối và dồn vào cái khung tư tưởng. Tư tưởng khái quát quá, trừu tượng quá mà sự việc thì cụ thể quá, phiến diện quá, cho nên tác giả vấp phải cái trở ngại sau này: muốn vừa cái khung của truyện ngắn thì không thể vừa được cái khung tư tưởng và ngược lại. Vì vậy ít khi tác giả thỏa mãn chúng ta trên phương diện này. Nắng chiều muốn chứng tỏ cái khoa học tà thuật thật là hoàn toàn vô ích nhưng không làm cho chúng ta tin ở nhận thức tác giả đối với vấn đề. Nó vô ích thực đấy – ai cũng đều biết như thế – nhưng nó có ích cho lũ người thực hiện tà thuật và bọn này không chịu đầu hàng một cách quá dễ dàng như vậy. Hai mươi tám năm trời học tập của thầy Mười Sáng chỉ gặp mấy câu nói pha trò đơn giản của một cậu Vinh đã phải sụp đổ tan tành. Để có một chiến thắng, Bình Nguyên Lộc dựng lên một bức tường thành và tấn công bằng vài phát đạn chì là khúc ca khải hoàn trỗi dậy. Rung cây dừa viết ra để chứng minh rằng con người không thể thoát ly cái xã hội văn minh đang sống để trở lại cuộc đời gần như man rợ. Trên hai mươi năm trời xa lánh cảnh sống văn minh, thầy giáo Lầu lúc về già, trở về với mảnh đất liền. Con người như thầy giáo có thể thực chăng? Chắc rằng không ai nghĩ rằng là thực, cả đến tác giả cũng thấy như vậy. Tuy nhiên tác giả chỉ cần một người để chứng minh cho tư tưởng trên và tác giả cứ tạo. Khi cần diễn tả sự ghét bỏ loài người thì tác giả đày thầy giáo Lầu ra cù lao Củ Tron, khi cần đề cao xã hội văn minh thì tác giả bắt thầy “háo hức” (trang 163) trở về. Mặc kệ cho thầy giáo Lầu già nua, khổ cực, đã hết tình đời, quên nhà, quên nước nhưng cuối cùng không được quên phần cơm cháo bố thí của cái xã hội văn minh mà mình nhất định quay lưng lại đến trên hai chục năm trời! Đưa thầy giáo Lầu trở về như vậy, thực là công việc vô cùng gian khổ nhưng đối với nhà văn Bình Nguyên Lộc thì xem như trở bàn tay. Nhiều người còn yêu tác giả là vì lẽ đó. Bình Nguyên Lộc làm cho đơn giản cuộc đời. Và nếu cần, ông hi sinh con người văn nghệ để bảo đảm cho con người xã hội mặc dù hi sinh như thế, nhiều khi phải mất cả hai. Nhà văn – mặc dù là một ông tạo hóa nhỏ – cũng phải tuân theo qui luật của sự sáng tác và qui luật ấy nương theo qui luật của tâm lý, của xã hội, của thiên nhiên chứ không thể tự do bố trí cho con người hoạt động tùy theo ý thích của mình. Khi nhà văn bất chấp cả những điều kiện thực tế, công trình của nhà văn không là sáng tạo mà thành bịa đặt.
         Qua một số truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc người ta dễ có cảm tưởng tác giả là một giáo sư có tâm huyết và có năng khiếu văn nghệ nhiều hơn là một nhà văn.
         Hồn ma cũ phải chăng là một bài tâm lý học thường thức được cụ thể hóa? Người đàn ông đẻ là một “cổ tích tân thời” cố gắng chứng minh – mặc dù rất nhiều sai lạc – về quan niệm người nghệ sĩ. Kẻ chiến bại là một đoạn phân tích tâm lý không hơn không kém. Về loại truyện có tính cách luận đề này, Bình Nguyên Lộc không có khám phá thêm những gì mới mẻ, tác giả chỉ củng cố lòng tin của ta về những chân lý đã có sẵn từ lâu. Và phương thức sáng tác này có thể đem lại hai kết quả tai hại, về nội dung, cũng như hình thức.
         Về nội dung đôi khi tác giả mâu thuẫn với mình. Chạy theo những ý tưởng có vẻ mới, có vẻ lạ tác giả không tìm ra lối về và đi ngược đường. Hình như đọc xong Cho tay nầy, lấy tay kia không ai ngăn được nỗi lòng giận dỗi đối với tác giả. Giận dỗi là vì người ta đã tin, đã yêu tác giả, bây giờ cảm thấy bị sự phụ phàng. Khoa học đã chạy chữa hết sức cho một con bệnh được lành, nhưng khi giả từ bệnh viện người kia qua đường và bị ôtô cán chết. Thế là tác giả bắt giáo sư H. – một giáo sư y khoa lỗi lạc có uy tín trên quốc tế – thở dài mà nói “Khoa học đã lấy lại tất cả những gì mà khoa học đã cho” (trang 101).
         Người ta chỉ có thể nghĩ rằng giáo sư H. có quyền nói thế, nhưng nói để đùa cợt – một lối đùa cợt chua chát trước những hiện tượng may rủi xem kẽ trên đời, tuy sự may rủi ở trường hợp này có thể lường được.
         Nhưng nếu quả có một giáo sư H. trên thế giới lẩn thẩn nói lên như thế thì ông giáo sư ấy không đáng đem vào tác phẩm của Bình Nguyên Lộc. Bởi vì đấy không phải là sự thực của cuộc đời cũng như không phải là sự thực của câu truyện ngắn trên đây. Sự thực của cuộc đời là khoa học đã giúp nhiều cho nhân loại và chúng ta phải đặt hết lòng tin vào khoa học, chứ không thể gieo rắc hoài nghi. Nhà văn phải phân biệt khoa học, cái tinh túy của trí tuệ nhân loại, với những lớp người sử dụng khoa học. Thêm nữa, sự thực của câu truyện ngắn trên đây cũng chẳng có gì đáng cho ta bi quan. Cái ôtô không phải tự nó tìm người để cán và trước sau nó vẫn là công cụ rất có ích lợi cho loài người. Trong khi Bình Nguyên Lộc cố gắng đem thầy Mười Sáng về với ánh sáng của khoa học thì lại toan đưa giáo sư H. ra khỏi nơi này. Phải chăng tác giả tự mâu thuẫn hay là tự thấy không thể đẩy xa hơn những sự suy luận trước những hiện tượng có vẻ trái ngược của cuộc đời? Vừa rồi, Bình Nguyên Lộc – trong truyện Mối tình cuối cùng – lại chứng tỏ thêm một lần nữa những điều nhận xét trên đây. Tác giả tự cho mình cái trách nhiệm đề cao mối tình cuối cùng trong khi phần đông – theo tác giả tưởng – chỉ thấy mối tình ban đầu mới đẹp. Thực ra ý kiến về mối tình cuối cùng không mới mẻ gì và đã được các đào kép ở Hô-ly-út chủ trương, thực hiện và tuyên bố từ lâu lắm rồi, như một nữ sĩ Pháp đã từng quan niệm: “Tình yêu ban đầu chỉ là nhu cầu yêu đương” (Le premier amour n’est que le besoin d’aimer). Về vấn đề ấy – đầu hay cuối – thiết tưởng chúng ta không nên bênh vực gì hết bởi vì những cái ấy không thể biến thành quan niệm, biến thành chủ trương. Có người thấy mối tình đầu là đẹp, là vừa ý rồi và không thể yêu đương lang chạ thì cũng đáng cho ta chia mừng như kẻ sau nhiều mối tình mới gặp được người vừa ý. Khi nêu cao thành tiêu đề để bênh vực cho mối tình cuối cùng là đã đi ngược lại thực tế ngoài đời, đi ngược lại yêu cầu của ngòi bút. Một chủ trương như thế – của một người có uy tín như tác giả – dễ bị những tâm hồn hư hỏng lợi dụng làm chỗ cậy dựa tinh thần. Chúng ta đều hiểu rằng cớ sự xảy ra như thế là vì tác giả thích nói điều mới, điều lạ – hoặc tưởng là mới, là lạ – chứ tác giả không hề có chút ác tâm. Phần lớn truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc có thể bảo đảm cho ta điều ấy. Tình yêu của Bình Nguyên Lộc bao giờ cũng chân thật, cũng thiết thực tuy thường hay bị phụ phàng. Phải chăng vì bị phụ phàng nhiều quá nên chủ trương mối tình cuối cùng để tự an ủi? Hay là chỉ yêu được có một lần nên thường khao khát những chân trời mới?
         Về phương diện kỹ thuật phương thức sáng tác như thế tạo nên nhiều sự ép uổng. Nhân vật, sự việc phải minh chứng cho tư tưởng nên nhiều khi xử sự không đúng theo những phản ứng tất nhiên của những tâm lý nào đó trong những trường hợp nhất định, như ta đã nhận xét trên kia. Điều này còn giải thích vì sao nhiều người trách Bình Nguyên Lộc hay làm luân lý hay nói triết lý trong truyện. Khi con người văn nghệ tự thấy không diễn tả nổi thì phải cầu cứu con người triết lý, con người giảng sư để phụ lực cho mình chở hết vấn đề. Bình Nguyên Lộc là người chu đáo, vẹn tròn. Tác giả lo lắng cho nội dung nhiều hơn hình thức và ông thường tỏ ra không câu nệ bất cứ là ai phải lên sân khấu, miễn là kẻ ấy nói giùm cho hết câu chuyện. Trong Rừng mắm tác giả phải cho người ông bỏ một ngày đàng chèo ghe ra biển để tạo một trường hợp cụ thể hầu giảng giải cho thằng cháu ngây ngô hiểu rõ thế nào là nhiệm vụ cây mắm cây tràm. Trong Hạ bệ ông cho đứa con trai ăn chơi chạm trán với người cha đạo đức của mình ở trong tiệm nhảy, lý luận về sự tự hạ bệ y như một nhà tâm lý chuyên môn. Trong Ba sao giữa trời bắt gặp xác chết của người yêu ở trong phòng thí nghiệm, cậu Hùng nhút nhát kia đột ngột nói chuyện triết ý về ý nghĩa đời người thao thao bất tuyệt! Trong Ăn cơm chưa, A Lìl, trước khi chết cũng còn nói được ít câu để tỏ ra được chết một cách có ý thức chứ không chịu lìa đời một cách âm thầm như bao nhiêu kẻ vào trường hợp ấy. Cho đến trong Ba Con Cáo, cô gái giang hồ sau khi bán rẻ người bạn của mình để kiếm cái ăn cũng phải khóc òa, hối hận, tuyên bố ngày mai nhất định hoàn lương để cho câu chuyện hoàn toàn… có hậu. Và cô ta không quên kêu lên cả Phật lẫn Chúa để cho hai bên “bổn đạo” khỏi dịp so bì!
         Tóm lại Bình Nguyên Lộc không muốn cho ta băn khoăn, không muốn cho ta khổ sở, chỉ muốn cho ta vừa lòng, đẹp dạ và nhiều khi cho ta được quyền quên ông sau khi ông nghĩ đã làm cho ta thỏa mãn.



         Nguyên nhân của những khuyết điểm trong sáng tác như trên có thể là vì tác giả đã chịu ảnh hưởng quan niệm sáng tác theo lối ấy ở một số người đi trước, hoặc vì tác giả phải bận sáng tác quá nhiều cho nên không còn thì giờ để đi vào sự sống, để chiêm nghiệm, để nuôi dưỡng vấn đề. Tác giả phải lướt trên sự việc để bắt vội bắt vàng những cánh tư tưởng rồi sau đó thêm đầu thêm chân cho nó thành những con chim. Nhiều người đã từng ngạc nhiên trước tổng số truyện lớn lao mà Bình Nguyên Lộc tuyên bố hoàn thành. Ngạc nhiên để mà lo lắng cho tác giả bởi vì với điều kiện chủ quan và khách quan của những người cầm bút ở nước ta, sự viết nhiều như thế vừa là điều đáng nên kiêu hãnh mà cũng đáng nên xót xa hoặc đáng đề phòng. Có thể sự sáng tác dễ dãi trên đây còn một nguyên nhân thuộc về bản chất tác giả. Bình Nguyên Lộc có lẽ là người thích hoạt động hơn thích suy tư, một kiểu người lý trí, hướng ngoại hơn là hướng nội. Bình Nguyên Lộc không thích dừng lâu ở những khúc mắc của tâm tình, không thích theo dõi những ngõ ngách chi li ở trong thế giới tình cảm, ông chỉ đảo cặp mắt thông minh, tò mò lướt trên mọi vật, khai thác lấy những khía cạnh có vẻ bất ngờ, có vẻ độc đáo và trình bày cho ta xem, nhắm thỏa mãn tính hiếu kỳ của ta là đủ. Sau khi xếp truyện lại, ta không tìm thấy một tiếng ngân vang lâu dài nào cả bởi vì mọi việc đã được tác giả cố gắng lo cho ổn thỏa cả rồi. Điều đó cũng giải thích vì sao mà truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc có nhiều loại đề tài khác nhau thuộc về những khu vực, những tính chất khác nhau và tại sao tác giả lại viết được nhanh và viết được nhiều.


         Những ý kiến trên đây là sự tìm hiểu của một tư tưởng cầu toàn. Thực ra, mặc dầu có những khuyết điểm và nhược điểm, Bình Nguyên Lộc vẫn là nhà văn được nhiều người đọc tin yêu. Người ta tin ở tài năng tác giả, yêu sự phong phú, yêu sự lành mạnh, yêu cái sắc thái tự nhiên giản dị của tác giả. Xa hẳn những kẻ làm dáng che đậy nghèo nàn bằng mọi kiểu cách, xa hẳn những kẻ bệnh hoạn bôi nhọ cuộc cống bằng mọi ác ý và cũng xa hẳn những kẻ ti tiện xu phụ thị hiếu nhất thời bằng những ve vuốt bịp lừa, Bình Nguyên Lộc đi đến với ta bằng nhiều chân thực, bằng nhiều thiện ý, bằng nhiều ước mong. Trong khi muốn ôm tất cả cảnh đời, Bình Nguyên Lộc vẫn nhớ dành cho tất cả chúng ta những vẻ độc đáo của một Rừng mắm, của Ba Con Cáo, của Đôi bạn mắc hoa vông. Khi nào Bình Nguyên Lộc loại được các nhà giáo sư, các nhà triết lý ra khỏi bàn giấy của mình, khi nào Bình Nguyên Lộc trở về với cái tinh thần giản dị, mạnh mẽ cố hữu của con người miền Nam thì Bình Nguyên Lộc thành công một cách rỡ ràng và ta có thể kể truyện Đồng Đội là một chứng minh cụ thể. Trong Đồng Đội người đọc tìm thấy sức mạnh, tìm thấy quân bình và sự phối hợp điều hòa tạo nên âm điệu thâm trầm và sự tiết chế gãy gọn bật lên ánh sáng nghệ thuật. Qua Đồng Đội người ta có thể nhìn thấy tất cả khía cạnh đáng yêu của Bình Nguyên Lộc: sự việc dầu cũ, tinh thần rất mới và tình tiết rộn ràng phát lộ được hết cái đặc sắc của cá tính nhà văn.
         Bình Nguyên Lộc còn hứa hẹn với ta rất nhiều tác phẩm. Ta vui lòng chờ như đã vui lòng tìm đọc những công trình sáng tạo của tác giả từ bấy lâu nay.


CÔ PHƯƠNG THẢO

_______________________________________
(1) Trong khi chuẩn bị đăng tải bài điểm sách này của Cô Phương Thảo, Tòa soạn có nhận được bài phê bình Ký Thác của bạn Nguyễn Văn Xuân trong một bài phê bình công phu về Những truyện ngắn năm 59 và 60 gồm có 4 quyển: Ký thác của Bình Nguyên Lộc, Cô gái xóm nghèo của Phan Du, Gìn vàng giữ ngọc của Doãn Quốc Sỹ, Hoài cố nhân của Võ Hồng. Để khỏi lặp lại những vấn đề đã được đề cập ở Bách-Khoa và để giới thiệu xứng đáng công trình của tác giả, chúng tôi xin gởi loạt bài này cho tờ Mai sẽ ra vào hạ tuần tháng 6-1960.


BÁCH KHOA |  SỐ 82

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #530 vào: 17/01/2019, 11:18:38 »


                        Thuyền trăng

            AI chở trăng cô đơn về xứ mộng?
            Đêm mênh mông tràn ngập ánh Cung Hằng
            Sao tưng bừng về dự hội cùng trăng
            Không gian sống muôn linh hồn diệu vợi
            Thuyền trăng đẹp tỏa hào quang lướt tới
            Nhạc êm êm trong gió thoảng mơ hồ
            Thanh sắc ba đào xô đẩy nhấp nhô
            Ý ngưng lại, thơ đầu thuyền ăm ắp
            Đường trăng tiến, giữa không cùng xa tắp
            Chèo pha lê khua ánh nguyệt lưng trời
            Bàn tay vãi ướt thi nhân ngồi vọng cảnh
            Trăng đổ vỡ tiếng vang rung lanh lảnh
            Thuyền trăng nghiêng thơ tuôn chảy mất rồi
            Hỡi chị Hằng yêu quý thế gian ơi!
            Phí phạm quá, một giọt thơ ngàn ánh nguyệt.
            Trời lồng lộng đêm sâu sâu xanh biếc
            Trăng mông lung thanh thoát chảy xuôi giòng
            Ánh sáng dịu huyền vô tận thanh trong
            Từng lớp đẩy thuyền trăng về xứ mộng…


                                                     HUY LỰC
                                                     (Thuở Ban đầu)




BÁCH KHOA |  SỐ 82

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #531 vào: 17/01/2019, 20:59:32 »


          Tháng mười, tôi nhớ vụ đồi làng anh

                        LÀNG tôi cách làng anh
                        Một dòng sông bé nhỏ
                        Mấy nhịp cầu con
                        Nối hai đồng cỏ
            Đứng bên ni, nhìn sang bên đó
            Thấy khói chiều lên,
            Trâu về lối ngõ
            Thương làm sao hai xóm nhỏ anh, em

            Mấy mươi đời nếp sống dựng êm đềm
            Dân hai xóm đổi công cày giống cấy.
            Mùa gặt đồi
(1) tôi sang bên ấy
            Gánh lúa giùm anh.
            Vì đồng tôi, trì
(2) mới ướm đòng(3) xanh
            Khoai tháng chạp chỉ phủ rò
(4) non mướt.
            Làng anh lúa đồi chín trước,
            Tôi sang gặt giúp mươi ngày
            Cuối mùa, anh gửi theo ngay
            Lúa mới, còn thơm khói nắng.
            Đưa tới đầu cầu, hò hẹn:
           “Mùa trì, anh đến làng tôi!”
            Tình hai làng không ngại nẻo xa xôi
            Trai bên ni mến cô nàng xóm nớ
            Cứ mỗi độ trăng tròn hơ hớ
            Tiếng cười vui xao xác lũy tre ngà
(5)
            Mấy nhịp cầu ngơ ngẩn đón câu ca
            Trai, gái hai làng trao lời thắm thiết,
            Đôi tháng sau tôi đưa người quen biết
            Qua nhịp cầu sang làm rể làng anh.
            Tình dịu dàng như một quả cau xanh…
                                          ¤
                        Những buổi hoàng hôn
                        Gió mát mây lành
            Tôi ra ngõ ngắm trâu về lũ lượt.
            Tiếng kèn dứa
(6) lửng lơ trên sóng nước,
            Trẻ làng tôi thổi từ biệt đồng anh
            Qua bãi dâu xanh
            Qua bờ tre biếc
            Trẻ làng anh cũng thổi kèn tha thiết
            Như gọi nhau, như hò hẹn, như tự tình
            Tiếng kèn chiều keo kết chút duyên xinh
            Của trẻ hai làng, của tình đôi xóm
            Giào giạt lòng trai đôi tám
            Bồi hồi tuổi gái mười lăm…
            Kẻ lớn lên hồi hộp đợi trăng rằm!
                                       ¤
                        Nhưng chiều nay đã hết,
                        Chiều nay thực xa xăm
            Sông nho nhỏ chia đôi bờ Nam Bắc
            Cho lòng người hai ngả nhớ đăm đăm.
            Chiều tháng mười, bên ngõ gió, rét căm căm
            Tôi vẫn đứng thẫn thờ, nhìn sang nẻo ấy
            Bên đồng anh lúa đồi như sắp mái
(7)
            Bờ cỏ non ôm ấp bãi lúa vàng
            Lúa chín rồi, nhưng rất khó lòng sang.
            Tôi thơ thẫn nhớ đường thôn xóm bạn.
            Khi nắng vàng phai. Sao chiều thấp thoáng
            Gió dìu lên tiếng kèn dứa mục đồng
            Kèn bên ni, bên nớ, cách dòng sông
            Lơ lửng, bồi hồi, băng ngang sóng nước
            Tiếng kèn dứa nhắc mối tình buổi trước
            Nhưng điệu kèn đã cách bức hai nơi
            Trẻ làng anh thương nhớ trẻ làng tôi
            Lên đỉnh gò cao thổi kèn, mến tiếc
                        Kèn quyện hồn lên.
                        Tình sao tha thiết.
                        Hai xóm anh em,
                        Từ đây cách biệt.
                        Hai bờ sông
                        Hai nước Việt
                        Hai cánh đồng
            Hai màu cờ phất phơ trên nền trời xanh biếc.
            Nghe nỗi buồn đất nước tỏa mênh mông
                                           ¤
                       Từ ngày chia cắt non sông,
            Trăng rằm vẫn đó, cầu không bóng người
                         Bà con cách trở, xa xôi,
               Tháng mười, tôi nhớ vụ đồi làng anh…


                                                    HOÀI HƯƠNG

____________________________________
(1) đồi: giống lúa chín vào khoảng tháng mười âm lịch (gieo vào khoảng tháng năm).
(2) trì: giống lúa chín vào khoảng đầu tháng chạp (gieo vào khoảng giữa tháng năm)
(3) đòng: bông lúa non, chưa trổ.
(4) : luống.
(5) tre ngà: loại tre, thân màu vàng, lá to và sắc.
(6) dứa: một loại cây có lá dài hàng thước. Mục đồng thường tước lá vấn kèn để thổi (khác với loại dứa ở Nam, tức là thơm ở Trung)
(7) sắp mái: lúa được mùa, nặng hột ngã chồng lên nhau thành từng lớp.


BÁCH KHOA |  SỐ 82

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #532 vào: 18/01/2019, 11:48:54 »
BÁCH KHOA |  SỐ 83  [15-6-1960 |  120 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Nguyễn Phúc Sa |  Vay mượn giữa tư nhân và phát triển kinh tế |  3-9
Phạm Hoàng (sưu tầm) |  Danh ngôn, danh lý: Thuật trách vấn |  4, 9, 14, 26, 30, 41, 58
Bách-Khoa |  “Nhi bối thành công” |  6
Hoàng Minh Tuynh & Thong Kham |  Nhân ngày Phật đản: Bàn về chữ “Từ” trong Phật giáo [IV] |  10-14
Phạm Hoàng |  Dòng tư tưởng… Tình người đối với vật dụng |  15
Bửu Kế |  Châu bản triều Nguyễn |  16-20
Cô Liêu |  Nước Anh đã và sẽ làm gì cho thanh niên [II] |  21-26
Bách-Khoa |  Mối tình của nàng Didon |  23
Nguyễn Trần Huân |  Thành tích năm mươi năm khoa học (1900-1950) [III] |  27-30
Nguyễn Hiến Lê |  Dostoievsky (1821-1881) một kẻ suốt đời chịu đau khổ để viết [II] |  31-41
Bách-Khoa |  Tên Đức Phật |  41
Quảng cáo |  42
Bình Nguyên Lộc & Nguiễn Ngu Í |  Tiếc thay duyên Tấn phận Tần |  43-49
Ái Lan |  Bãi bể chiều hôm (thơ) |  48
Nguyễn Văn Thư |  Gửi Bùi quân theo vần bài “Trống rỗng” (thơ) |  50
Bùi Hữu Sủng |  Thanh khí (thơ) |  51
Trần Văn Khê |  Hát Ả đào [III] |  52-58
Quảng cáo |  59-61
Cô Liêu |  Viễn ảnh về tầu không gian chạy bằng ánh sáng mặt trời |  62-64
Quảng cáo |  65-66
Nguyễn Văn Xuân |  Điểm sách: Việt Nam văn học toàn thư: thần thoại của Hoàng Trọng Miên |  67-76
Vũ Trung Túy Lang |  Rừng (thơ) |  77
Trúc Liên |  Xe “buýt” và tôi |  78-84
Bách-Khoa |  Gió thổi, hạc kêu |  82
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 82 |  84
Nguyễn Thị Hoàng |  Đau niềm chia phôi… (thơ) |  85
Nguyễn (dịch) |  Vương Long (Wang Lung) \ Pearl S. Buck |  86-93
Yã-Hạc Nguyễn Văn Trung |  Sáng trăng xanh (thơ) |  94
Phan Văn Tạo |  Một trận quyền anh (truyện) |  95-99
Bách-Khoa |  Rau phong, rau phỉ |  98
Mạc Phương Đình |  Mong manh (thơ) |  100
Phan Du |  Ả Xíu [II] (truyện) |  101-111
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn \ Giới thiệu sách mới |  112
Quảng cáo |  113-120


SAIGON |  1960




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #533 vào: 18/01/2019, 20:32:38 »


                 Bãi bể chiều hôm

            BIỂN mênh mông, trời bao la,
            Trời biển xanh xanh, bóng xế tà,
            Sóng bạc rì rào đua lớp lớp,
            Buồm nâu lặng lẽ, lướt xa xa.
            Đầu non vương vấn làn the mượt,
            Góc bể trơ trơ bãi cát ngà.
            Bóng khuất ngàn lau, chim nghỉ cánh,
            Màn đêm bàng bạc khói sương pha.


                                                      ÁI LAN



BÁCH KHOA |  SỐ 83

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #534 vào: 19/01/2019, 11:38:10 »


          Gửi Bùi quân theo vần bài “Trống rỗng”

            BIẾT mà chưa biết phải không anh?
            Mong điệu đàn tâm khúc dễ thành.
            Khách ở đâu ta, trời mấy ngả?
            Tôi người xưa đấy, áo ba manh.
            Buồn gieo “Trống Rỗng” thơ nhiều tứ,
            Nhớ gợi Mênh Mông ý đượm tình.
            Bạn cũ nơi nao, nao bạn mới?
            Trục kia dây nọ mộng chưa thanh


                                     NGUYỄN VĂN THƯ
                                     Quảng Trị




BÁCH KHOA |  SỐ 83

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #535 vào: 19/01/2019, 22:14:01 »


                          Thanh khí
000
                                       I
                                        tặng bạn Nguyễn Văn Thư

            Âm hưởng xa khơi vọng tới lòng
            Ôi! Tình hàn mặc, nghĩa non sông
            Đài sen người đã trao tâm sự
            Dậu cúc tôi thường đợi cảm thông
            Có phải Tam thiên nhiều thế giới
            Cho nên Bách tuế hiếm tao phùng
            Từ nay ấm lại lời thơ cổ
           “Nguyệt thập tà song, hiểu tự chung”



                                       II
                                        (theo vận bài Trống Rỗng)

            Cảm động nghe lời tặng của anh
            Đời mang nhiều Bại, dám mong Thành
            Nước mây lạc với sầu đôi chốn
            Non biển ghi vào giấy một manh
            Những tưởng hương xa chìm viễn ý
            Nào hay đất lạ thắm giao tình
            Ngập ngừng muốn mượn cầu Im Lặng
            Mà để “vô thanh thắng hữu thanh”


                                               BÙI HỮU SỦNG



BÁCH KHOA |  SỐ 83

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #536 vào: Hôm nay lúc 18:50:02 »


Điểm sách: Việt Nam văn học toàn thư: thần thoại của Hoàng Trọng Miên

Tên sách: Việt Nam văn học toàn thư: thần thoại
Tác giả: Hoàng Trọng Miên00000000000000000
Nhà xuất bản: Quốc Hoa
0000000000iiii0000000

QUYỂN “Việt Nam văn học toàn thư” phần Thần thoại ra đời đã lâu. Hôm nay tôi không đặt vấn đề phê bình tỉ mỉ, mà chỉ đi vào vài điểm, theo tôi nhận thức, rất quan trọng đối với Văn học sử Việt Nam.
         Tất nhiên như thế tôi sẽ không bàn tới công trình tác giả đã bỏ ra để có nhiều tài liệu, hình ảnh(1) khiến quyển sách, trước hết, có một vẻ bề thế, khang kiện, thanh nhã, khả dĩ làm cho ngành biên khảo nước nhà đã tiến được một bước về hình thức. Và tôi cũng không cần dài giòng khen tác giả đã chú trọng nhiều về bút pháp để những tư tưởng phiền toái rắc rối diễn ra một cách trong sáng, tinh tường.
         Tôi chỉ nêu hai điểm chính: một điểm tổng quát về Văn học và một điểm riêng về Thần Thoại.

I.– Điểm tổng quát về Văn học
         Sở dĩ có điểm này là vì Thần Thoại là quyển đầu trong tập Việt Nam văn học Tùng thư, cho nên tác giả có nêu ra những điểm làm căn bản cho toàn bộ sẽ tiếp tục ấn hành. Những điều này khá quan hệ, vì ông muốn: “tổng hợp lại cái kho tàng (Văn học) quí giá của tổ tiên chúng ta để lại, đánh giá đúng đắn những giá trị tinh thần cũ”.
         Công việc tổng hợp của ông đặt trên cơ sở “tìm hiểu quá trình phát triển của văn học theo giòng lịch sử, khảo sát giá trị những hình thái văn học và tác phẩm văn chương qua các thời đại”.
         Một công việc có thể nói là vĩ đại. Vì ta có thể hiểu là qua công cuộc sưu tầm toàn thư, tác giả còn làm công cuộc tổng hợp của nhà văn học sử trong cái nghĩa đứng đắn và quan trọng nhất của nó.
         Nhưng trên đây, mới là những lời vào đầu cho “…con thú có bề ngang, bề cao, nghênh ngang giữa cỏ cây…”(2) Ta sẽ chờ để thấy sự xuất lộ của toàn hình con thú qua những quyển sách mang các đề tài khác nhau. Chúng ta sẽ tuần tự theo tác giả khảo sát, để xem công cuộc tổng hợp đó ra sao trong cái tình trạng của đa số nhà biên khảo còn như mù tịt trước một nền văn học mà tài liệu thiếu hẳn. Một tình trạng văn học trong đó có lẽ chỉ văn chương truyền khẩu và thi ca là còn lưu lại những gì đáng kể, song đã được ông Hoàng Trọng Miên báo trước: “Một nền văn chương dân tộc, có thể đem so sánh với bất cứ dân tộc nào, đã có những tác giả và tác phẩm có thể sánh vai với bất cứ nước nào trên thế giới”, trang 6 (sic và resic).
         Nhưng hãy khoan… Những điều này chỉ có thể nhận định sau khi toàn bộ sách ra đời. Bây giờ chúng ta đi theo việc chia phần.
         Sách gồm bốn phần, theo sự phát triển của “4 ngành rõ rệt trong văn học:
             1) Văn chương Truyền khẩu.
             2) Văn chương chữ Hán.
             3) Văn chương chữ Nôm.
             4) Văn chương Quốc ngữ.”
         Chỉ cần nhìn qua, người ta đã thấy có sự lạ trong việc phân ngành: chữ Hán! Gọi là sự lạ vì không mấy ai dám công nhận một ngoại ngữ – cho dẫu quan hệ đến văn học ta như thế nào – đem nó vào nền văn học nước nhà. Đành là: “Trong một thời gian suốt mười mấy thế kỷ, tổ tiên chúng ta đã diễn đạt tư tưởng tình cảm bằng chữ Hán, văn học chữ Hán do người Việt sáng tác đã có ảnh hưởng đến đời sống của dân tộc, tác động đến sự tiến triển của lịch sử đất nước và chữ Nôm cũng thoát thai từ chữ Hán mà ra”.
         Song như thế, chính ông đã tự phản ông. Vì ở trang mở đầu, ông đã tuyên bố một cách rất hợp lý, hợp tình là: “Văn học là một hiện tượng dùng ngôn ngữ dân tộc có tính chất nghệ thuật để diễn đạt bằng hình ảnh mà truyền cảm, biểu hiệu tinh thần, tình cảm của con người”.
         Hay ông cho đó là lệ chung, còn sự dùng Hán tự là ngoại lệ? Có thể có một lệ ngoại ngữ 1/4 của toàn thể? Có lệ ngoại đưa tiếng ngoài vào để tìm hiểu những sắc thái tinh thần của một dân tộc? Cái thứ chữ ngoại đó, ông tin là đã ảnh hưởng đến quần chúng thế nào qua các thời kỳ lịch sử? Còn bảo nó có ảnh hưởng đến đời sống dân tộc, tác động đến sự tiến triển của lịch sử đất nước thì tôi thiết tưởng Tứ thư, Ngũ kinh, Tam quốc, Thủy hử và sau này các sách của Lương Khải Siêu chẳng hạn… ảnh hưởng có kém đâu?
         Trong thế giới, đâu phải thiếu những nước chịu ảnh hưởng sâu đậm của một nền văn hóa khác mà chính chữ viết của họ cũng lấy theo “mẫu tự” nước khác giống hệt trường hợp Việt, Nhật đối với văn học Trung Hoa. Văn sĩ, biên khảo gia của họ cũng tạo tác nhiều công trình đáng kể bằng thứ tiếng liên hệ ấy. Trường hợp văn học La-Hy đối với một số nước Tây phương là bằng chứng hùng hồn hơn hết. Thế mà có ai đi ghép các nhà văn, nhà biên khảo ấy cùng là tác phẩm của họ vào văn học chính thống nước nhà đâu? Ngược lại, chỉ thấy các văn học sử gia công nhận vào văn học sử Tổ quốc những nhà văn ngoại quốc viết bằng tiếng nước họ thôi.
         Sự táo bạo này của ông Hoàng Trọng Miên không phải đầu tiên. Mười mấy năm trước, tôi nhớ ông Nguyễn Đổng Chi trong Việt Nam cổ văn học sử cũng đã thực hiện công việc ấy và đã bị khá nhiều học giả (trong số ấy có ông Đặng Thái Mai ở Thanh Nghị) công kích một cách chính đáng.
         Tôi sở dĩ nói dài một việc mà người ta nhắc đến đã nhàm tai này chỉ vì một sự lạ thứ hai mà Hoàng quân sắp cống hiến chúng ta. Tôi hãy chép lại sự lạ ấy:

         “Ngoài những thơ văn truyền miệng bằng tiếng Việt, hoặc chữ viết bằng nôm, hán, quốc ngữ, chúng tôi có thêm phần văn chương của các đồng bào thiểu số (Mường, Thái, Thổ, Mèo, Mán, Cao Nguyên…) vốn có quan hệ xa gần với chúng ta mà bấy lâu đã bị bỏ quên. Thêm phần văn học của các dân tộc thiểu số vào văn học của dân tộc đa số Việt Nam, mục đích của tôi là làm cho bộ Việt Nam văn học toàn thư được thêm phong phú với sự đóng góp hợp lẽ, hợp tình của văn chương các dân tộc cùng trên một giải đất, cùng chung một hoàn cảnh lịch sử với chúng ta”.

         Thật là một ý mới mẻ! và đáng yêu biết bao. Còn có cái tinh thần đại đoàn kết nào cao cả hơn. Nhưng nghĩ cho kỹ, tôi cho đó chỉ là một sự lạ thứ hai đẻ ra do sự lạ thứ nhất: Quan niệm sai lầm về Văn học sử. Bởi vì, lần thứ hai, ông lại tự phản với nhận định của mình về văn học là: “dùng ngôn ngữ dân tộc” “biểu hiện tinh thần, tình cảm con người”. Đó không phải một ý tầm thường, mà chính là tư tưởng căn bản quyết định. Đưa nền Văn học thiểu số vào, ông sẽ đứng trên căn bản nào để phê bình và tổng hợp? Mà trước hết, ông hiểu thiểu số là thế nào? Dân tộc thiểu số chỉ có nghĩa là không hay chưa có nền độc lập riêng rẽ nên phải có sự liên hệ với đa số trên một quốc gia về phương diện chính trị, quân sự để bảo vệ sự an toàn chung cho lãnh thổ. Nhưng về các điều kiện khác, nhất là về văn hóa thì họ độc lập rõ ràng. Họ có tiếng nói riêng, có sự phát biểu riêng (có thể khác hẳn và trái ngược với ta) có chữ viết riêng, có phong tục tập quán riêng. Văn học của họ, dù chỉ mới là truyền khẩu, cũng chỉ để thể hiện những mối cảm nghĩ đặc biệt của họ, không liên can gì đến chúng ta, dù có sự ảnh hưởng qua lại đối với ta. Từ truyền khẩu, khi họ đã có chữ viết riêng thì chữ viết đó đã cũng sẽ theo qui luật tự nhiên mà thể hiện những tư tưởng, tình cảm mỗi ngày mỗi trưởng thành, mỗi trở nên phức tạp của họ và riêng của họ.
         Nó chỉ có thể giúp ta hiểu vấn đề có ảnh hưởng qua lại với nhau như đối với văn học Trung Hoa hay Pháp mà thôi. Vậy, tôi nhắc lại, ông đứng trên căn bản nào để phê bình và tổng hợp? Trên tinh thần đa số, ông sẽ trở thành một loại “đế quốc tinh thần” một cách trịnh trọng. Còn trên tinh thần thiểu số thì ông lại đi ra ngoài mục đích của Văn học Việt Nam. Còn dung hòa thì dung hòa gì được giữa hai khác biệt?
         Đó là cái khó trên tính chất. Còn trên phương tiện, ông sẽ nghiên cứu bằng thứ tiếng gì? Tôi đoán (đáng lẽ tôi không có quyền đoán) ông sẽ nghiên cứu bằng tiếng Pháp vì trong bản sách tham khảo, tôi thấy ông chỉ căn cứ vào tiếng Pháp để dịch các văn kiện của dân tộc thiểu số? Như thế nghĩa là nghiên cứu văn học “nước mình” ông lại phải dịch “nguyên tác” bằng một thứ tiếng thứ ba?
         Sự sai lầm này hết sức nghiêm trọng, không ai cấm ta, trong phần phân tích, tổng hợp có thể đưa nhiều chứng minh của văn chương miền Núi để đối chiếu, làm phong phú và sâu sắc thêm vấn đề. Song dầu cả một mớ tài liệu dịch từ tiếng ngoại quốc để làm chính văn mà nghiên cứu phê bình văn học nước nhà thì hoàn toàn sai lầm. Sự sai lầm càng trở nên quá quắt – tôi sẽ còn nhắc lại lần thứ hai – khi nhìn qua tập thần thoại, ta lại thấy văn chương miền Núi chiếm phần quan trọng gấp mấy văn chương Việt Nam! Thành người ta không hiểu đang đọc văn học sử miền Núi hay văn học sử Việt Nam nữa.

II.– Điểm riêng về thần thoại
         Thần thoại nằm trong văn chương truyền khẩu. Mở đầu phần này, ông Hoàng Trọng Miên viết: “Văn học các dân tộc trên thế giới đều bắt đầu bằng văn chương truyền khẩu”.
         Lại một sự sai lầm đáng kể nữa. Vì ở trong thế giới, một nền văn học quan trọng như Hoa Kỳ, đã không mở đầu bằng truyền khấu. Mà do đó, ta cũng có thể đoán biết nhiều dân tộc thành hình sau cuộc tìm ra Tân lục địa cũng bắt đầu ngay văn học của họ bằng các hình thức đã tiến bộ như chữ viết hoặc cả ấn loát nữa. Sự kiện này nhắc ta chú ý đến việc chưa nên vội vàng thành nguyên tắc và nhất định cũng không hoàn toàn theo tình trạng chung để xét các vấn đề quan hệ đối với từng quốc gia. Nhất là với văn học, dầu chỉ là một hai lệ ngoại trong tổng quát, cũng cứ phải theo lệ ngoại ấy để nghiên cứu tường tận, vì nó có quan hệ đến tư tưởng tình cảm muôn vạn con người. Nó quan hệ như một quyền phủ quyết.
         Tôi muốn dẫn đến việc nhận thức một điểm quan hệ: Không kể ở các dân tộc không có văn chương truyền khẩu, thì tại các nơi có văn chương truyền khẩu thần thoại có nhất thiết phải khởi đầu cho nền văn chương này không?
         Đó là điều căn bản. Vì có đi từ đó, chúng ta mới đặt vấn đề nghiên cứu thần thoại được.
         Và sở dĩ đặt điểm căn bản ấy, bởi vì nghiên cứu văn học của nhiều quốc gia, người ta cũng thấy có các văn học sử gia không đề cập đến thần thoại. Ngay nền văn học rực rỡ và sớm tiến bộ ở cạnh ta, nền văn học Trung Quốc, mà có người cũng không công nhận thời kỳ thần thoại của nó. Tôi không dám nói điều ấy là đúng, song sự kiện này mở ra cho chúng ta một hoài nghi xứng đáng! Vấn đề thần thoại không nhất thiết là hễ ở đâu có văn chương truyền khẩu tất là phải có. Nghĩa là ở những nơi dân tộc thành hình hơi chậm, vào thời kỳ các tôn giáo đã thịnh, hoặc ý thức tôn giáo đã rõ ràng thì không có thần thoại. Và ở các nước tiếp theo thời kỳ tiền sử quá lâu mà chưa có chữ viết để ghi chép, thần thoại bị thất lạc hoặc bị thời thế đổi thay đồng hóa nó với cổ tích, làm mất hẳn tính chất căn bản, thì vấn đề thần thoại cũng không thành hình.
         Tất nhiên còn rất nhiều trường hợp phức tạp khác đã đưa đến hiện tượng không có thời kỳ thần thoại trong lịch sử văn học một quốc gia, một dân tộc. Ông Hoàng Trọng Miên không phải không đặt vấn đề hoài nghi: “Song ở nước ta phần vì bị lệ thuộc ngoại tộc ngay từ khi dân tộc mới vượt khỏi thời kỳ dã man, văn hóa bị pha trộn sâu đậm với văn hóa phương bắc, phần vì ranh giới giữa thần thoại với truyền thuyết lịch sử mập mờ, lẫn lộn, nên có dư luận cho rằng trong văn học truyền miệng chúng ta không có thần thoại đúng nghĩa như thần thoại các dân tộc khác”. Nhưng ông lướt qua ngay để xác nhận sự kiện thần thoại trong quá trình phát triển dân tộc: “Dân tộc Việt Nam cũng như các dân tộc khác, đã trải qua một thời kỳ nguyên thủy và thần thoại phát sinh ở trong giai đoạn sơ khai của lịch sử”.
         Tôi cần nhắc rõ ý nghĩa chữ nguyên thủy này mà nhiều người vẫn còn lầm, mặc dầu đã biết qua thời kỳ đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Lịch sử đó có thể giảng nhiều cách khác nhau, nhưng tựu trung có thể hiểu theo lời ông Hoàng Trọng Miên: “… Khi tìm lại nguồn gốc dân tộc, biết rằng đám người Lạc Việt trước kia sống ở lưu vực sông Dương Tử rồi sau vì Hán tộc bành trướng mà phải dồn xuống vùng Trung châu sông Hồng Hà”. Nghĩa là chúng ta bắt đầu không phải như người Trung Hoa, đi từ sự “thiên địa mịt mù” mà là khi đã trưởng thành trong một xã hội có tổ chức, đã biết đóng thuyền, chài lưới, đánh giặc bằng vũ khí như “rìu, cung tên, lao…”, như thế tất là chúng ta đã ra đi với khá nhiều kiến thức tiến bộ có phong tục, tập quán thành hình.
         Tôi muốn so sánh tình trạng của chúng ta với các sắc dân Âu châu khi tiến sang Tân lục địa. Không dám nói rằng chúng ta tiến bộ bằng họ, nhưng chắc chắn chúng ta đã thoát khỏi hình thái tối dã man của người thượng cổ khá lâu rồi. Chỉ có điểm khác với đám dân vượt biển sau này là chúng ta tiến chậm lắm vì các thế hệ sau bị cắt đứt với xã hội Trung Quốc khá lâu. Rồi chính trong các thời kỳ này với những điều kiện về sản xuất, về tổ chức đời sống thích nghi với địa phương v.v… mà một dân tộc mới thành hình và tất nhiên không phải thành hình trên cơ sở “hư vô”, thiếu những liên quan mật thiết với văn hóa phương Bắc.
         Tôi nhấn mạnh cái điểm này để góp ý với Hoàng quân là có lẽ xã hội Việt Nam khi thành lập là ở ngay thời kỳ “tiến từ đa thần đến nhất thần, xã hội loài người sắp vượt khỏi thời đại dã man, những thần thoại trong giai đoạn cuối cùng cũng bắt đầu nhân hóa các vị thần, và các vị anh hùng, dũng sĩ trong lịch sử, những nhân vật khai hóa văn minh, tổ sư các nghề, cũng được thần hóa đưa vào thần thoại. Biên giới giữa thần thoại và lịch sử bắt đầu lẫn lộn, yếu tố truyền thuyết xen vào, thần thoại giảm mất dần tính chất thuần túy” (trang 42).


⋆  ⎎  ⋆

         Mà cho dầu không phải ở trong tình trạng đó thì với cái trường kỳ lịch sử không có chữ viết để ghi chép, thần thoại cũng đổi thay. Nó đổi thay vì thời gian đã đành mà còn vì những biến chuyển quan trọng trong đời sống con người như thay đổi phương diện sản xuất, tổ chức xã hội, chiến tranh, thu nhận văn hóa mới và “… bản chất dân tộc bị phai nhạt, pha trộn. Triết học thực tiễn của Khổng Tử cùng Phật và Lão giáo đã biến đổi chân tướng của thần thoại Việt Nam cũng như đã thay đổi sâu sắc văn hóa Việt tộc, thần thoại nhuốm nhiều yếu tố tiên phật và thế giới của thần phản ảnh tổ chức quân chủ hạ giới theo quan niệm nho giáo”.
         Đó là về nội dung.
         Còn về hình thức thì thần thoại nằm trong hệ thống văn chương truyền khẩu, cốt cách là “truyện” mà phương pháp biểu thị là “kể” lại. Tất cả loại “truyện” phần lớn đều xây dựng theo phương pháp căn bản của truyện và sau này của kịch: trình bày, gút mở(3) qua nhiều biến chuyển tình tiết. Vì “kể” thì nó phải giản dị rõ ràng, cần làm thế nào phản chiếu những nếp cảm nghĩ trong đời sống thực tế bằng lời nói và sự kiện cụ thể. Người nghe có thể liên hệ, so sánh ngay với mọi điều quen thuộc trong sinh hoạt, tín ngưỡng, phong tục v.v… để do đó nẩy ra tưởng tượng, cảm giác. Người nghe truyện không có thì giờ nghĩ ngợi và tìm tòi mọi cái rắc rối nên người kể truyện cứ phải thay đổi chi tiết, tình tiết và có khi cả cốt truyện để thích hợp thời thượng. Chính nhờ ở sự cách điều hòa, văn nghệ hóa mà thần thoại cụ thể hóa được các ý niệm trừu tượng để giải thích thiên nhiên, và cũng vì cách điệu hóa, văn nghệ hóa mà thần thoại mới đi từ tín ngưỡng bước sang văn học. Cho nên nó cũng phải chịu mọi luật lệ biến đổi của văn chương truyền khẩu chi phối.
         Những lý do kể trên đã khiến thần thoại của ta, nếu có, đã biến vào văn chương truyền khẩu như một làn khói biến vào không khí. Muốn trở lại nguồn thật là một vấn đề hết sức khó khăn. Nhà văn phải dùng những phương pháp của nhà sử học: xã hội học, tâm lý học, địa chất học, ngôn ngữ học, lịch sử đối chiếu… và biết đâu không dùng cả kỹ thuật chụp ảnh, thực vật học, hóa học nữa!
         Tại sao không quan niệm như một loại cổ tích mà phải làm việc khó khăn đến thế?
         Vì lẽ thần thoại là một lịch sử của xã hội con người trong một thời kỳ nhất định (từ đa thần đến nhất thần). Nó không chỉ cắt nghĩa các hiện tượng thiên nhiên theo một quan niệm cổ mà quan trọng hơn nhiều là ở chỗ nó phản ảnh tâm lý và xã hội thời đại nhất định đó rất rõ ràng. Tôi tưởng nếu chúng ta có chừng mười cái thần thoại chắc chắn là “nguyên tác” thì chúng ta có thể do đó tìm hiểu được khá nhiều phương diện của xã hội thời cơ sở ấy. Mỗi mỗi chi tiết của nó bao hàm nhiều ý nghĩa. Ví như từ một câu này của ông Hoàng Trọng Miên trong truyện “Tu bổ các giống vật: thấy gần đó có bình hương”… Chỉ chừng ấy thôi cũng đủ cho chúng ta biết: Người dân Việt thời ấy đã biết dùng đất nung bình hương tức là cũng đã biết nặn ra các đồ dùng khác như chén bát, nồi trà, vò, hũ. Người dân Việt cũng đã xa cái quan niệm thô sơ về cúng tế vì đã biết dùng cây hương. Như thế tức là họ xa thời kỳ giữ lửa một cách khó nhọc, đã biết chế hóa các chất cháy liên tục (nếu là mua của ngoại quốc thì ít ra họ cũng đã thay đổi quan niệm về lửa), đã biết dùng tre trong những việc rất tinh vi (chân nhang). Và cũng có lẽ họ đã biết ngửi mùi hương (nếu nhang lúc đó đã có trộn quế) do người chế tạo, đã tìm hiểu ý nghĩa của một làn khói đi từ hữu hình vào hư vô. Rộng ra, tất đã có sự giao thông, giao thương với xã hội Trung Quốc và tiếp xúc khá thân mật với văn hóa Trung Quốc.


⋆  ⎎  ⋆

         Vậy Hoàng quân đã dùng phương pháp nào để tìm cho ra những truyện thần thoại trong cái đám cỏ rậm mênh mông của cố tích?
         Ông viết:

          “Thần thoại Việt Nam lại không được ghi chép sớm bằng chữ viết nên phải chịu thất lạc, tản mác đi nhiều. Tuy nhiên, qua bao nhiêu sự biến cải trong quá trình diễn tiến thần thoại Việt Nam vẫn còn giữ được cốt cách dân tộc, duy trì được các căn bản cố hữu mà không để bị đồng hóa.
         Theo những chuyện thần thoại đã phục hồi được sau đây, chúng ta có thể chia làm ba phần:
             1) Phần thứ nhất, gồm các tích thuộc về nguồn gốc sáng tạo vũ trụ và muôn vật.
             2) Phần thứ hai, gồm các tích thuộc những thần có quyền lực siêu nhiên, trông nom các sự vật đã được cấu tạo.
             3) Phần thứ ba, gồm các tích về những anh hùng dũng sĩ đã được thần hóa
”.

         Tôi vẫn chưa hiểu Hoàng quân đã tìm phương pháp nào để lọc cho ra các truyện thần thoại “còn giữ được cốt cách dân tộc, duy trì được các căn bản cố hữu mà không để bị đồng hóa”.
         Ông chỉ nói qua như thế rồi ông đi sang việc phục hồi. Theo ý ông, việc phục hồi có lẽ chỉ cần làm theo phương pháp giản dị này! Lấy trong các truyện cổ tích ra. Xem những truyện nào có sự tích ly kỳ thì thu góp lại. Xong rồi đem lược bỏ lần các sự tích thuộc Tiên thoại, Phật thoại và sau các loại thần mới phát minh sau này như thần ăn mày, thần ăn trộm. Nghĩa là cứ theo phương pháp loại dần cho tới khi nào chỉ còn những bài có “tích chuyện đời xưa, mà nhân vật là các thần của thời nguyên thủy, khác với thần về sau phần nhiều đã chịu ảnh hưởng của tín ngưỡng tôn giáo. Thần trong thần thoại là một năng lực siêu nhiên, chất phác, vô tư, cũng khác hẳn với các thần trong truyền thuyết, lịch sử và những nhân vật được thần thánh hóa…” “Thần trong thần thoại đều phát sinh từ những hiện tượng thiên nhiên, như thần Sấm, thần Sét, thần Đất, thần Nước, qua trí tưởng tưởng chất phác của con người nguyên thủy với một quan niệm đơn sơ, mộc mạc về vũ trụ và nhân sinh”.
         Điều cần nhấn mạnh là quan niệm nhất thần và đa thần ở xã hội Việt Nam từ xưa không có biên giới rạch ròi. Ông Trời của Khổng học (nhất thần) cũng chỉ được nhận thức theo một cách trừu tượng tổng quát chứ không giống như Đức Chúa Trời trong Ki-tô giáo. Do lẽ đó các vị thần khác không phải được đặt ra xa lìa cái trục tâm về ý niệm tối cao, tối thiêng liêng kia, mà cốt để minh họa nó ra bằng nhiều phương diện. Thần Sấm, thần Sét, thần Đất v.v… đâu có phải là những vị có quyền lực siêu nhiên, mà quyền lực đó là do Trời truyền sang. Ý niệm về Thần chưa hẳn có trước ý niệm Trời, mà kể từ khi tin vào Trời một cách rõ ràng hơn với các học thuyết Khổng Mạnh thì các vị Thần vẫn còn giữ rất nhiều “quyền lực tinh thần”. Còn được súng bái và còn được “phát minh” thêm. Trời và Thần là một trong xã hội cổ Việt Nam.
         Ngay trong cái truyện đầu tiên về “Trời” ông Hoàng Trọng Miên cũng viết:

         “Ngày xưa, trước tất cả mọi sự, đã có ông Trời. Trời là một bậc quyền phép vô song ở trên cao, làm ra tất cả: trái đất, núi non, sông biển, mưa, nắng. Sinh ra tất cả: loài người, muôn vật, cỏ cây…
         Từ mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao trên trời cho đến vạn vật ở mặt đất, tất cả đều do Trời tạo nên.
         Trời có con mắt, thấy tất cả, biết hết mọi sự xẩy ra ở thế gian. Trời là cha đẻ muôn loài, xét đến muôn việc, thưởng phạt không bỏ ai. Do đó mà con người tin có đạo Trời, nhờ Trời, cho là Trời sinh, Trời dưỡng và đến khi chết thì về chầu Trời
”.

         Đã có một ông Trời được quan niệm như thế thì thử hỏi có khác mấy với ông Trời mà nhân dân ta vẫn tin suốt mấy nghìn năm? Và cho đến ngày nay, dân gian ở nhiều nơi vẫn còn tin? Huống chi ông Trời ấy “ở trên cao chín tầng”. Đó không phải là hình ảnh cửu trùng ở thế gian ư? Như vậy thì biết là ông Trời được cấu tạo vào thời kỳ nào? Nhất là với ông Trời Ngọc Hoàng mà tác giả cho là đã theo “Văn hóa Trung Hoa tràn sang với đạo Lão” thì tôi tưởng chẳng còn biết ông ấy thuộc về thoại nào? Tiên, Phật, Thánh? Là ông Trời cổ hay ông Trời kim? Vì Trời “ở trong một cung điện giống như cung điện nhà vua dưới trần đã bắt chước làm theo”, có “quan văn, quan võ tướng tá”, có vợ là “bà Tây Vương Mẫu ở núi Còn Côn” có vườn đào, ăn một trái chín thì được “trường sinh bất tử”… Trời “đội mũ có tua đỏ dắt mười ba viên ngọc ngũ sắc, tay cầm hốt”…
         Thần thoại kể theo lối ấy, thiết tưởng dễ dàng quá! Mà nhân dân ta chắc đều mới sống qua thời kỳ thần thoại chưa quá vài mươi năm!
         Tính chất nguyên thủy được phục hồi như thế nào, quả chúng ta mịt mù thiên địa!


⋆  ⎎  ⋆

         Muốn hiểu rõ thêm sự phục hồi đó một lần cuối cùng, tôi dẫn thêm mấy lời sau đây của Hoàng Trọng Miên:

         “Có những truyện hoàn toàn là của dân tộc, có từ thời nguyên thủy, rồi về sau vì ảnh hưởng của ngoại tộc mà bị chế biến đi. Song những nhân vật, tâm lý, tình tiết trong các chuyện thần thoại dù có giống nhau, khi đã chuyền sang Việt Nam, đều được thay đổi, có khi đến cả chủ đề, nhuộm màu sắc của dân tộc, Việt hóa thành sáng tác của người Việt Nam”.

         Lý luận như thế không sai. Vì đó là tình trạng tổng quát của các nền văn học ở trong một quốc gia phải trải qua nhiều biến cố như ta. Nhưng cái khó nhất và cần nhất là phải đề ra phương pháp nào, phương tiện nào để đi đến sự tìm ra các truyện hoàn toàn Việt Nam, có từ nguyên thủy rồi sau bị chế biến. Cần phải chứng minh ông Hoàng Trọng Miên cũng có kể một số truyện hoàn toàn Việt Nam như Sáng tạo vạn vật, Tu bổ các giống vật, Lúa và cỏ, Thằng cuội với cung trăng, thì nhiều truyện chẳng biết “Thần” nằm ở đâu! Thần thoại khác với các truyện cổ tích khác ở chỗ nào! Tôi chắc ông Hoàng Trọng Miên ít đi vào trong dân chúng. Không cần nói dân chúng miền Bắc. Ngay những khu vực mới định cư từ thời kỳ Nguyễn Hoàng trở về sau, suốt cả miền Nam hiện nay, dân chúng đến đâu cũng đặt ngay các truyện mới để giải thích các hiện tượng thiên nhiên. Không kể những truyện theo loại: giải thích tại sao con chim nọ “chới với nhún ba lần” rồi mới đậu (Tu bổ các giống vật), hay trời giận vì người đàn bà “cầm chổi rượt theo hạt lúa” khiến bắt người phải trồng lúa mà ăn (Lúa cỏ) v.v… Đó là những lối của cổ tích. Một trăm cổ tích đã hết đôi ba mươi cái giải thích thiên nhiên theo lối ấy rồi. Tôi nói ngay đến những chuyện có các vị thần linh cai quản các khu vực, các hang núi, các con sông, những nơi hoang vu; cả sấm, sét, mưa, lụt nhiều nơi nhân dân cũng đặt sự tích, hoặc cải đổi ít nhiều các sự tích cũ để tìm hiểu, giải thích…
         Ngoài một số truyện ít oi “thuần túy Việt Nam” toàn theo lối “Cổ tích giải thích” những hạt lúa, chim chóc cây cỏ chứ không có mục đích giải thích hiện tượng thiên nhiên theo lối thần uy, còn thì hết bảy, tám phần kia là sự tích của Tàu với mấy lời mào đầu trên mỗi bài để đoán định thần thoại Việt Nam trong loại ấy (thần biển, thần nước, thần núi, thần đất v.v…) Không biết nó “Việt Nam hóa” tới đâu (vì thiếu bản đối chiếu với từng truyện của Trung Hoa) chứ cứ nghe nào Long Vương, nào Thiên Hậu, nào Cao Sơn đại vương, nào Thổ Công, nào Kình Thiên Trụ thì chẳng còn rõ là thần thoại của ta hay của Tàu nữa. Vô lý nhất là còn có Thần Văn (thi cử). Nó phải là một sản phẩm tạo ra sau khi nền độc lập đã thu hồi, chủ quyền đã thuộc Việt Nam, Vua Chúa đặt thi cử để chọn nhân tài. Lại cả “Ả Chức” là một truyện cổ tích hoàn toàn Tàu và chẳng có chút gì là thần thoại cũng hiện diện một cách ngơ ngác…


⋆  ⎎  ⋆

         Tôi có thể nói: dẫu các lý thuyết của ông Hoàng Trọng Miên về Thần Thoại đúng hết và những điều tôi khảo luận trên kia sai hết thì tập Thần Thoại của ông vẫn không thể công nhận, vì Thần Thoại không phải chỉ là cổ tích, mà còn là những sản phẩm tinh thần của dân chúng trong một giai đoạn lịch sử nhất định (từ đa thần đến nhất thần) để giải thích các hiện tượng thiên nhiên có ảnh hưởng đến đời sống con người, tức là giải thích gián tiếp về thân phận con người. Nó không có thể chỉ là những bản văn có giá trị truyền cảm mà còn phải là những sự kiện lịch sử có thể minh họa về xã hội một thời. Vậy cần phải có phương pháp của nhiều ngành sử học góp sức để tìm ra chứng minh nó. Nếu là những thần thoại không do một sự kiện lịch sử đáng kể nào có ghi chép, mà chỉ do truyền khẩu của dân chúng lưu lại thì tất cả là sai nhiều. Nhất là khi dân chúng còn tôn sùng những vị Thần trong thần thoại thì chưa có gì chứng minh các vị thần đó là sản phẩm của thời kỳ thần thoại.
         Điểm không thể công nhận thứ hai là tập thần thoại của ông không thuộc Văn học sử vì những sản phẩm gọi là thuần túy Việt Nam trong đó, không ghi theo lối đã được cách điệu hóa, văn nghệ hóa, nghĩa là nội dung và hình thức không có đủ tính chất của những tác phẩm nhỏ truyền cảm. Nó chỉ có thể là một bộ sách thuộc Văn hóa sử.
         Điều không thể công nhận thứ ba là có quá nhiều thần thoại Trung Quốc đã bị Việt hóa. Vì có lý nào một dân tộc thành hình, có cả một thời kỳ thần thoại mà không tự đặt ra được những thần thoại riêng cho mình? Nhất là dân tộc ấy không thể tỏ ra nghèo nàn chút nào khi họ có không biết bao truyện cổ tích đặt ra theo đủ cách khác nhau mà cũng có không biết bao truyện cổ tích chuyên giải thích các hiện tượng thiên nhiên.
         Điểm không thể công nhận thứ tư là trong một tập thần thoại Việt Nam mà thần thoại của miền Núi – có đủ điều kiện của dân tộc thiểu số – lại chiếm hơn phân nửa. Như thế thì là thần thoại của nền Văn học nào?


⋆  ⎎  ⋆

         Tôi mạnh dạn nói thế vì tôi biết tất cả chúng ta chưa có đủ điều kiện để viết một quyển thần thoại. Sở dĩ từ trước đến nay, các tác giả cả Pháp lẫn Nam chỉ để trên các truyện xưa của họ sưu tầm là cổ tích hoặc truyền kỳ là vì họ đều không dám chắc các truyện sản xuất từ thời kỳ nào, cho dẫu đó là truyện của các vị thần.
         Có người cho là một phần lớn thần thoại của ông Hoàng Trọng Miên chép theo các thần thoại của ông Nguyễn Đổng Chi ngoài Bắc. Tôi tưởng như thế, Hoàng quân lại vấp một sai lầm nghiêm trọng thứ hai của ông Nguyễn Đổng Chi mà cái sai lầm thứ nhất tôi đã nêu từ phần một của bài này: Sự đưa văn học chữ Hán vào văn học Việt Nam.
         Nhưng ông Nguyễn Đổng Chi có thể ít lầm hơn nếu ông không ghép tập thần thoại(4) của ông vào lịch sử văn học.


NGUYỄN VĂN XUÂN

___________________________________
(1) Tôi không rõ một số ảnh chụp ở bảo tàng Guinet có in trong quyển này là sản phẩm mỹ thuật của nước nào. Tàu, Nhật hay Việt Nam? Nếu là của Việt Nam tác giả nên chua rõ một số chi tiết vì nó có quan hệ đến sự tìm hiểu văn nghệ Việt Nam. Còn nếu của Tàu hay Nhật cũng nên cho độc giả biết để khỏi nhầm lẫn.
(2) Lời tựa của Tam Ích, mượn ý của Flaubert khi nói về các tác phẩm lớn.
(3) exposition, noeud, denoument.
(4) Nếu đúng là lối viết ông Miên.


BÁCH KHOA |  SỐ 83