Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 45616 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #585 vào: 17/02/2019, 20:29:35 »
BÁCH KHOA |  SỐ 90  [1-10-1960 |  110 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Hoàng Minh Tuynh |  Cuộc liên minh giữa Nhật Bản với khối Tây phương |  3-10
Phạm Hoàng (sưu tầm) |  Danh ngôn, danh lý: Thuật kiếm người phụ tá |  10, 15, 21, 24, 29, 34
Nguyễn Phúc Sa |  Một vài khía cạnh vấn đề chuyên chở tại Việt Nam |  11-15
Phạm Hoàng |  Dòng tư tưởng… Kỷ luật và qui củ |  16
Bùi Hữu Sủng |  Phê bình văn học là gì? |  17-29
Bách-Khoa |  Đảng ngục |  29
Đoàn Thêm |  Nỗi niềm tháng tám |  30-34
Thúc-Hạ Bùi Lương (trích dịch) |  Giải thích bốn chữ: Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ [II] \ Nhậm Giác Ngũ |  35-39
Vương Hồng Sển |  Trung thu |  40-43
Quảng cáo |  44-45
Nguyễn Thiệu Lâu |  Tóm tắt lịch sử: Thông thương và chiến tranh giữa người Hòa Lan và xứ ta (thế kỷ XVII và XVIII) [II] |  46-49
Bách-Khoa |  Tam Đa theo quan điểm vua Nghiêu |  49
Quảng cáo |  50
Thái Văn Kiểm |  Ý nghĩa cổ tục, giai thoại về Tết Trung Thu |  51-61
Bách-Khoa |  Viên cát nên hòn |  61
Quảng cáo |  62
Thiên Giang (thuật) |  Tôi dạy con tôi cách nào? |  63-66
Bách-Khoa |  Đàn không dây |  66
Quảng cáo |  67-68
Nguyễn Trần Huân |  Thành tích năm mươi năm khoa học (1900-1950) [X] |  69-72
Bách-Khoa |  “Xã” và “tắc” |  72
Đoàn Thêm |  Thổn thức (thơ) |  73
Trần Văn Khê |  Nhân xem “Con đường cái quan” của Phạm Duy |  74-81
Bách-Khoa |  Đổ dầu trên lửa |  80
Bùi Khánh Đản |  Hủy diệt (thơ) |  82
Bùi Khánh Đản |  Đường sống (thơ) |  82
Nghiêu Nhựt (dịch) |  Chìm xuống \ Ba Kim |  83-95
Hương Quy |  Bài ca tình yêu (thơ) |  96-97
Vân Trang |  Dỡ chà |  98-105
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  106
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách mới |  106
Quảng cáo |  107-110


SAIGON |  1960




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #586 vào: 17/02/2019, 21:54:06 »


Ý nghĩa cổ tục, giai thoại về Tết Trung Thu

CHÚNG TA đang ở vào giữa mùa Thu, mặc dầu “miền Nam chỉ có hai mùa”, họa chăng chỉ có “Xuân sáng, Hạ trưa, Thu chiều, Đông tối”. Nhưng không phải vì lẽ ấy mà chúng ta quên hẳn những tiết lễ của mùa Thu, như Lễ Thất Tịch (đêm mồng 7 tháng 7), Lễ Vu Lan Bồn (rằm tháng 7) và nhất là Tết Trung Thu (rằm tháng 8).

Trung Thu Tiết
         Tết Trung Thu hay là Trung thu tiết (chữ Tiết sinh ra chữ Tết) là một tiết lễ có tính cách mùa màng (fète saisonnière). Sở dĩ, chúng ta biết như vậy là vì trong chữ Thu (秋) có chữ Hòa (禾) là lúa, và chữ Hỏa (火) là lửa, tức là khí nóng làm cho lúa chín, mà cũng chỉ màu vàng rực của lúa chín chẳng khác gì màu lửa.
         Chính cũng như chữ hòa này, nếu thêm vào chữ khẩu (口) là miệng, thì thành ra chữ hòa (和) có nghĩa là hòa thuận, khi thiên hạ có đầy đủ lúa gạo mà ăn.
         Theo Khang Hy từ điển:
         – Thu thuộc về Kim trong Ngũ Hành. Thuyết đó theo sách “Vân Hội” và “Chính Vận”.
         – Thu nghĩa là Bạch tàng, nghĩa là khí bạch mà thâu tàng. Thuyết đó theo sách “Nhĩ Nhã”.
         – Thu là tựu, nghĩa là vạn vật thành tựu. Thuyết này theo sách “Thích danh”.
         – Thu nghĩa là mùa lúa chín, theo sách “Thuyết Văn”. Thu giả bách cốc thành thục chi kỳ (mùa thu là thời kỳ trăm giống lúa đều chín).
         – Theo “Kinh Lễ” có nói: Tây phương giả thu (mùa thu thuộc về phương tây). Thu sầu giả: thu có nghĩa là sầu. Thu ưu bi trạng: Thu là cái giáng buồn bã.
         Cho nên chữ sầu (愁) chiết tự ra gồm có chữ thu chữ tâm, có nghĩa là cái lòng con người ta về mùa thu thường hay sầu tư buồn bã.

Luật Âm-Dương trong các Tiết lễ
         Giữa mùa Xuân, tức là Xuân-phân (Equinoxe de printemps), âm-dương và đêm ngày ngang nhau; nhưng bắt đầu từ đó khí Dương tăng lên cho đến giữa mùa hạ, tức là Hạ Chí (Solstice d’été) thì khí Dương tiến đến mức cao nhất, cho nên ngày rất dài mà đêm rất ngắn.
         Từ đó, khí Dương bắt đầu xuống và khí Âm bắt đầu lên ngang với khí Dương vào giữa mùa Thu, tức Thu-phân (Equinoxe d’automne), với đêm ngày ngang nhau. Sau đó, khí Âm tiến dần đến cực độ vào giữa mùa Đông, tức là Đông Chí (Solstice d’hiver) với đêm dài vô tận.
         Sau Đông Chí, khí Âm hạ xuống và khí Dương lại bắt đầu tiến lên để ngang với khí Âm vào giữa mùa Xuân, và cứ như thế, âm dương tranh tiến, vũ trụ tuần hoàn, nhân loại tiến hóa không ngừng.
         Tiết Trung Thu năm nay cũng lọt vào tiết Thu-phân gồm có 15 ngày và bắt đầu từ mồng 3 cho đến 18 tháng 8 mới hết, nhưng ngày chính của Thu-phân là mồng 3 tháng 8. Đêm Trung Thu, trời quang đãng, trăng tròn sáng, mọi người đều thích uống rượu làm thơ và thưởng nguyệt. Cũng có người ước nguyện được lên cung trăng như Đường Minh Hoàng thuở nọ.

Đường Minh Hoàng du nguyệt điện
         Minh Hoàng là vua thứ sáu đời nhà Đường, trị vì từ năm 712 đến năm 756. Tên tục là Lý Long Cơ, khi còn nhỏ tên là A-Man, còn theo thứ tự trong gia đình là Tam Lang, vì ngài là con trai thứ ba của hoàng đế Duệ Tôn. Khi lên ngôi, ngài lấy tên Huyền Tôn Minh hoàng đế, gọi tắt là Minh Hoàng. Ngài vừa là văn sĩ, thi sĩ, vừa là nhạc sĩ, họa sĩ. Một đêm rằm tháng 8, Đường Minh Hoàng vừa bước ra ngoài cung điện, liền gặp một đạo sĩ lại gần, tay chống cái gậy, ngỏ lời bàn với nhà vua lên chơi cung trăng. Nhà vua ưng thuận. Đạo sĩ tên là La Công Viễn, tay cầm cái gậy tung lên trời, gậy đó biến ngay thành một cái cầu rất lớn bằng bạc. Đạo sĩ mời Minh Hoàng bước lên cầu. Hai người phút chốc đã tới cung trăng và thấy một thế giới khác hẳn cõi nhân gian này. Không khí êm đềm thơm tho, tưởng chưa có nơi nào được như vậy. Chung quanh có những tiên nữ rất đẹp, lướt qua sau mấy hàng cây hoa trên bãi cỏ thơm, nhà vua và đạo sĩ tới gần một lâu đài to lớn, trên cửa ra vào có khắc mấy chữ vàng: “Quảng Hàn cung”. Trong sân rộng lại có những thiếu nữ ăn vận thướt tha đương nhảy múa theo điệu nhạc quyến rũ.
         Tục truyền rằng trong chuyến đi cung trăng ngoài Đường Minh Hoàng và La Công Viễn ra, còn có pháp sư Thân Thiên Sư, chủ tể của Đạo giáo; nhưng cũng có truyền thuyết cho rằng chỉ có Đường Minh Hoàng và Diệp Pháp Hỉ.
         Dù sao chăng nữa, sau khi du nguyệt điện, Đường Minh Hoàng trở về Hạ giới, ngày đêm mơ tưởng âm nhạc và khiêu vũ ở cung Trăng, bèn truyền lập ngay một ban vũ nhạc và dạy cho những vũ khúc mà Đường Minh Hoàng đã chiêm ngưỡng tại Cung Quảng Hàn.
         Ban vũ nhạc ấy được đặt tên là “Lê Viên tử đệ”, cho nên kép hát bên Trung Hoa ngày nay còn gọi là Lê Viên. Họ chuyên dạy hai điệu múa là Nghê Thường và Vũ Y.
         Nghê Thường có nghĩa là cái xiêm hồng nghê (rán, mống, cầu vồng). Quần của các vũ nữ nhuộm đủ các thứ màu sắc của cầu vồng.
         Vũ Y có nghĩa là áo kết bằng lông chim.
         Dương Quí Phi rất thích hai điệu múa hát này và chính Dương Quí Phi cũng thường múa hát điệu này cho Vua Đường Minh Hoàng xem.

Lễ con Rồng
         Lễ Trung Thu cũng là lễ con Rồng, một linh vật đã chiếm một địa vị độc tôn trong các thú vật được người Á Đông thờ phượng. Nơi này, nghề nông chiếm một địa vị quan trọng, mà đã nói đến nghề nông thì phải có nước, phải có mưa. Chính con Rồng tiêu biểu cho nước mưa. Nó có thể sống dưới nước và bay lên trời. Từ những đám mây đen nghịt, nó phun nước xuống ruộng vườn, làm cho cây cỏ xanh tươi. Theo thần thoại Hoa-Việt, nó có đầu lạc đà, sừng hoẵng, mắt lồi ra, tai trâu, mình rắn, vẩy cá, móng ó, chân cọp. Râu mép lòng thòng hai khóe miệng và trong miệng nó có một trái châu sáng ánh. Trên đầu nó u lên một cục xương là biểu hiện của trí thông minh tuyệt vời. Sau hết, nét đặc biệt của nó là cái mồng gồm 81 cái vẩy dựng đứng dài trên xương sống của nó. Con rồng nhả một thứ khói có thể biến thành lửa hay nước tùy ý. Nó sống trên trời, dưới nước hay trong đất đều được cả. Nó trường sinh bất tử, và không sinh con nhưng không vì thế mà có hại cho giống Rồng, vì lẽ số rồng càng ngày càng tăng do sự biến hóa của con Giao Long, một loài rắn hoang đường nửa thằn lằn, nửa rắn, sau khi sống đủ mười thế kỷ và khi chỗ sưng phù dưới cổ biến mất thì tự nhiên thành rồng.
         Mặc dù có một thân hình quái gở, con Rồng không phải là hiện thân của ác thần. Người Trung Hoa và người Việt Nam luôn luôn coi con rồng là tượng trưng của quyền thế và quý tộc. Chính vì thế mà nó được chọn, với tất cả cái kỳ lạ của nó, để làm biểu hiện cho vua, con của Trời.
         Rồng không sinh con nhưng lại hay đẻ trứng. Theo ông Nguyễn Văn Huyên viết trong bài “La mi-automne” (Tết Trung Thu) đăng trong tạp chí “Indochine” số 108 xuất bản ngày 24-9-1942, thì mỗi lần Rồng đẻ mười trứng, nhưng chỉ một trứng đầu hóa Rồng thôi. Còn chín trứng kia hóa ra chín con vật thần quái khác; mỗi con có một khuynh hướng một chi thú đặc biệt.
         Một con gọi là bị hí, hình giống con rùa lớn; nó thích mang những con vật nặng nề. Con thứ hai gọi tên là li vẩn và giống loài thú bốn chân, nó thích nhìn. Con thứ ba gọi là bồ lao, tính thích kêu. Nó là con vật bốn chân sống ở các bể, hình giống con cá mập. Nếu ai đánh nó, nó kêu rất to. Con thứ tư gọi là Can bệ, nó có sức mạnh. Nó giữ việc canh gác rất khéo. Con thứ năm gọi là Thao thiết, nó thích ăn uống. Con thứ sáu gọi là Công hạ hay Công phúc. Nó thích nước và thích uống. Con thứ bảy gọi là Nhai tí, tính thích giết hại. Con thứ tám gọi là Kim nghê, tính thích nuốt lửa và hà ra khói. Con thứ chín gọi là Tiên đồ. Nó giống con ốc và thích kín miệng. Có người gọi tên là Tù ngưu và cho nó là thích âm nhạc. Người ta còn gọi tên nó là Trào phong và nói nó thích những ghềnh đá và hang sâu.
         Rồng đánh nhau = trời mưa như trút.
         Duy chỉ có con đầu tiên là Rồng mới có mình Rồng và có nhiệm vụ biến mây thành mưa. Tục truyền rằng khi các Rồng đánh nhau trên không trung thì trời mưa như trút. Khi thôi đánh nhau thì hết mưa. Về đề tài này, người ta còn nói đời nhà Chu có Rồng đánh nhau. Ở thời đại đó, một ngày mùa hạ, người ta thấy ánh sáng trắng từ chân trời phương đông. Cũng lúc ấy, một con Rồng trắng dài mười trượng tiến về phía Tây-Bắc, vừa tiến vừa kêu và liếm nanh vuốt. Ở hướng Tây-Bắc cũng xuất hiện một con Rồng đen cỡi mây mà đi. Một cơn gió mạnh nổi lên; tiếng sấm dậy khắp trời. Rồng càng sát bên nhau, mưa càng dữ, rồng xa nhau thì mưa lại nhẹ hột. Cuộc giao chiến kéo dài hàng mấy tiếng đồng hồ. Đến tối ngày, Rồng trắng biến lên trời mất, còn Rồng đen thì rơi xuống đất. Khi các Rồng xuất hiện thì trời cũng mưa tầm tã, thế cho nên về đời cổ sơ các vua chúa thường hay bắt đâu đâu cũng vẽ rồng để trong nước luôn luôn có mưa. Đầu thế kỷ thứ tám, có một lần đại hạn, nhà Vua sai một vị sư cầu nguyện cho trời mưa xuống. Nhà sư tâu rằng: Bệ hạ phải cho tôi một vật trên có vẽ hình rồng thì tôi mới có thể cầu mưa được! Nhà vua cho đi tìm vật ấy khắp nơi. Vài ngày sau người ta tìm được một cái gương soi, có cái cán chạm rồng. Nhà sư vui vẻ kêu to lên rằng “Đây là con Rồng thật”. Người ta để lên bàn thờ; nhà sư vừa dứt lời cầu nguyện thì mưa rơi tầm tã.

Rồng múa ở thế gian
         Vì lẽ đó mà rồng được coi là ân nhân của thế gian! Người ta vẽ hình Rồng hoạt động như Rồng bay, Rồng múa, Rồng lượn, là có ý cầu mưa gió hòa thuận.
         Tiết xuân sang, người ta hay đem Rồng đi diễn trong các đám rước thần. Rồng phải ủng hộ cho vụ chiêm được mùa. Nhưng Tết thực sự của Rồng là vào Trung Thu. Sau tết này nó phải lo liệu cho mùa màng tháng 10. Đêm rằm tháng 8, Rồng đi diễn khắp phố phường, đám rước có cờ ngũ sắc, đèn trái cây, cá giấy và các thú vật bằng giấy, các biển sáng ghi chữ “Hoàng long thịnh thế” hay “thiên hạ thái bình”. Rồng đan bằng tre nứa, ngoài bọc giấy hay vải. Thân Rồng có vẩy nhọn, xanh lơ hay xanh xẫm, đuôi cong, đầu có râu mép và râu cằm rậm, mắt sáng ngời, linh động, bốn chân đu đưa có vuốt nhọn đáng sợ. Rồng giấy được đặt trên những cây gậy làm thế nào mà các người khiêng đi lại chạy nhảy có thể làm cho Rồng tự uốn được mình. Rồng múa trước một hòn ngọc theo nhịp chiêng trống. Khi Rồng đi qua các nhà giàu thường đốt pháo mừng để cầu phước.

Tục lệ múa Sư tử
         Sau rồng có Sư tử đi yểm hộ. Sư tử cũng đan bằng nan, nhưng chỉ có cái đầu thôi. Đầu Sư tử do một người đội múa bằng hai tay. Một người nữa cầm đầu tấm vải khéo dựa theo người đội đầu Sư tử khi quay sang phải, khi cử động sang trái, lúc đi vòng tròn làm thế nào cho con vật có một thân hình linh động.
         Các nhà giàu thường treo từ mái nhà cách mặt đất độ năm, sáu thước, một phong bì đỏ trong có số tiền coi như phần thưởng dành cho người múa rồng và Sư tử giỏi. Sư tử thì bắt buộc phải trèo cây sào để tới phong bì tiền. Khi đến đầu cây sào. Sư tử phải đùa giỡn với mồi trong khi đó Rồng múa chung quanh nó. Khi Sư tử lấy được phần thưởng rồi, người ta đốt pháo để reo mừng, Sư tử nhảy xuống đất rồi múa trước nhà chủ tỏ ý cám ơn gia chủ cùng chúc sự thịnh vượng, đông con nhiều cháu.
         Cũng có nơi, con sư tử được thay thế bằng con lân (ly). Con lân cũng là một con vật hoang đường do người Việt Nam và người Trung Hoa tưởng tượng ra; nó làm cho người ta nhớ tới con vật đồng chủng của nó trong thần thoại Âu châu, gọi là licome hay là griffon.
         Người ta còn gọi là con Kỳ Lân (Kỳ là tên con đực, Lân và con cái). Các nhà nho đặt cho nó cái thông danh là con Ly.
         Người ta tưởng tượng con Lân hình dáng như con sơn dương (daim), đuôi trâu, vuốt ngựa; và nếu là con đực thì trên trán có một sừng độc nhất bao bọc ở chót vót bằng một cục bướu. Con lân được coi như một gương mẫu hiền lành. Nó chỉ xuất hiện trong thời kỳ thịnh vượng mà thôi. Nó cũng là biểu hiện của sự giàu sang và hạnh phúc.
         Tục truyền rằng khi đức Khổng Tử ra đời, nước Lỗ có bắt được một con lân, dưới thời vua Ai Công thứ 14, tức là năm Canh Thân đời vua Chu Kỉnh Vương thứ 49 (481 trước tây lịch).

Tại sao có tục lệ múa sư tử
         Về đời Đường bên Tàu có một bà lão, không có con cái gì, họ hàng thân lại rất xa cách. Bà sống ở một khu rừng hẻo lánh, làm nghề may vá quần áo rồi đem về chợ tỉnh bán.
         Một hôm, bà đến nhận may áo quần tại một làng rất xa, khi trở về gặp trời tối; trông sang hai bên đường thỉnh thoảng thấy có nhiều nhà đèn thắp sáng trưng, cỗ bàn bánh trái bày la liệt, ăn uống vui vẻ tới khuya. Bà ngạc nhiên hỏi người trong các nhà thì họ đáp rằng: tối nay là đêm rằm tháng tám, cho nên có tục lệ ăn uống để chơi trăng.
         Bà lão muốn bắt chước, bèn mua bánh trái hoa quả linh đình, định mang về nhà ăn uống và thưởng trăng. Trên đường về nhà, bà phải đi qua một khu rừng vắng. Khoảng rừng này lâu nay có một con sư tử đã thành yêu tinh. Bà chợt gặp nó giữa đường, Sư tử muốn xông đến để ăn thịt bà. Bà lão cả sợ. Bà nghĩ đến công mua bánh trái rồi mà chẳng được chơi rằm. Bà bèn quỳ xuống khóc lóc van với Sư tử rằng: Cho bà về bày lễ thưởng trăng song rồi sẽ đến hiến thân cho Sư tử. Nghe lời van vỉ. Sư tử cảm động đi để cho bà lão về yên lành vô sự.
         Khi ăn uống xong, trăng tàn, bà lão nghĩ đến giờ tận số, khóc lóc thảm thiết, loài vật và đồ vật trong nhà cũng động lòng thương. Đột nhiên có một con rết ở dưới gầm giường bò lên như ra hiệu nói với bà lão đừng sợ, để rết lo cứu khỏi chết; còn cái cối xay đặt gần bên cũng tự nhiên quay tít.
         Thấu sự lạ lùng, bà lo sợ, nhưng tưởng có thần thánh ra hiệu phù hộ cho bà thoát khỏi chết vì sư tử, nên bà mới yên lòng lên giường nằm ngủ.
         Đến khuya đúng lời hẹn. Sư tử lần mò nhẹ nhàng đến giường bà lão, định đưa hai chân trước lên choàng thân hình bà lão, đem ra ăn thịt thì con rết bò tới đốt vào đùi con ác thú. Sư tử đau buốt quá, lật mình ngã lăn xuống đất, chẳng may chạm phải cái cối xay để gần đó vỡ đầu chết tươi.
         Thấy ác thú chết rồi, bà lão mừng rỡ đi báo cho dân chúng biết. Dân chúng đua nhau đến xem, đèn đuốc sáng trưng; rồi họ đem con vật vào nạp vua để lấy thưởng.
         Nghe rõ con ác thú đã từng giết hại lương dân, mà chưa trông thấy bao giờ, nên sau khi được thấy vua liền hạ lệnh cho dân đem theo gươm trường giáo mác, thắp đèn đuốc, khiêng sư tử đi khắp châu thành phố cho dân gian và quan quân xem chơi.
         Vì lẽ đó, nên đến ngày rằm tháng tám, bên Tàu lại có tục rước sư tử giả để nhớ lại ngày bắt được sư tử. Nước ta cũng bắt chước theo phong hóa của Tàu và cứ đến rằm tháng tám lại thi nhau mua bánh trái trà, mứt đem về cúng, rồi ăn uống xem trăng lên và múa sư tử, múa lân, đốt đèn khắp nơi.
         Cuộc múa rồng và sư tử lại nhắc nhở cho ta sự chiến đấu giữa mặt trăng và kỳ lân mà người ta lầm lẫn với sư tử. Tương truyền rằng trong khi xoay chuyển mặt trời, mặt trăng bị kỳ lân đánh. Khi cả hai đều bị nuốt thì quả đất ở trong bóng tối, đó là hiện tượng của nhật thực và nguyệt thực. Lúc bấy giờ loài người phải lo giải phóng mặt trời và mặt trăng bằng cách đánh trống và bắn mũi tên lên.
         Nước ta và nước Trung Hoa không muốn có những hiện tượng ấy, vì hậu quả không hay cho nên mới đặt ra tục lệ múa rồng và kỳ lân (hoặc sư tử) để cầu phước hoặc để thỉnh cầu những quái vật đừng nuốt mất nhật tinh và nguyệt tinh rất cần cho đời sống nhân loại.

Chiêm nghiễm mặt trăng
         Ngoài những truyện hoang đường về rồng, kỳ lân, sư tử, các nước Á Đông lại có quan niệm riêng về mặt trăng. Cổ học Đông phương cho trăng thuộc về thủy (nước) trong năm yếu tố (ngũ hành) là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Dân trí cho rằng mặt trăng thuộc về thủy, mà thủy dĩ nhiên là ích lợi cho nghề nông. Vì lẽ đó người ta coi trăng là biểu hiện sự thịnh mãn, may lành.
         Tối rằm tháng tám, khí trời mát mẻ, nhà nhà đều xum họp ngoài sân để chơi trăng. Người biết thiên văn thường để ý quan sát sự tiến triển của trăng. Tùy theo mầu sắc và hình tượng của vệ tinh ấy, người ta đoán được những điểm có quan hệ đến sự thịnh suy bĩ thái của quốc gia. Nếu trăng sáng tỏ là điềm tốt được mùa; nếu trăng vàng thì tầm sản xuất được nhiều tơ lụa. Ngoài ra, theo sách cổ thư, khi trăng có màu lục, hoặc màu xanh, đó là điềm cơ hàn. Trái lại, nếu trăng đổi thành màu cam, toàn quốc sẽ được hưởng cảnh thái bình thịnh trị. Nếu đêm ấy, trên trăng có một hình chóp nón thì tất cả mọi người đều được hưởng cảnh vui vẻ; nhưng khi trăng có nhiều chân đó là điềm quốc vương đắm vào vòng sắc dục thái quá, có điều bất minh sai lầm. Khi nước sắp có loạn hay dưới hạ giới có chiến tranh, thì mặt trăng có những nanh vuốt sắc nhọn.

Con cóc là cậu ông Trời
         Tập quán xem trăng đêm Trung Thu đã tạo ra trong óc tưởng tượng nhân dân cả một thế giới kỳ dị.
         Truyện con Cóc trên cung Quảng cũng là một truyện hoang đường nữa. Cóc đóng một vai trò khá quan trọng là vì:
                           Con Cóc là cậu ông Trời.
                           Hễ ai đánh nó thì trời đánh cho.

         Nó giống ễnh ương, tiếng kêu nó báo hiệu trời mưa. Mọi người đều thấy nó trên cung trăng và ta gọi là Thiềm thừ. Mặt trăng cũng có một tên gọi là thi vị khác nữa là Thiềm cung (Cung con Cóc).
         Cóc này thường sống lâu bốn nghìn năm. Ngày xưa nó sống ở dưới hạ giới, ở ven bờ bể, tính hay ăn thịt các hành khách qua lại gần nó. Muốn cho nó có thiện tính, Ngọc Hoàng Thượng Đế đem lên trời để nó gác cung Quảng Hàn.
         Nhiều truyện hoang đường khác lại bảo con Thiềm thừ chỉ có ba chân, hai chân đằng trước, một chân đằng sau; trước kia Cóc sống ở dưới hạ giới đội lốt một người đàn bà. Đó là vợ của chàng thiện xạ Hậu Nghệ, một trong những anh hùng thần thoại. Thời đại bấy giờ có mười nhật tinh huynh đệ tuần tự xuất hiện để phát ánh sáng và nhiệt khí cho thế gian. Có một ngày, cả mười nhật tinh xuất hiện cùng một khi, khí hậu nóng quá, quả đất gần cháy. Hậu Nghệ tức giận hắn bắn rơi mất chín mặt trời. Sau này anh ta được bà Tây Vương Mẫu ban cho liều thuốc trường sinh bất tử. Khi anh đi vắng, vợ ở nhà ăn cắp thuốc uống trộm. Chị ta đang uống dở thì Hậu Nghệ ở đâu về bắt gặp, vợ sợ hãi bỏ trốn. Nhờ có thuốc đã uống, chị ta bay lên trời được, nhưng vì chị ta uống chưa hết cả liều thuốc nên đi đến nửa đường đành dừng lại, và phải dừng lại ở cung trăng, mà hóa thành con Cóc có ba chân.
         Theo thần thoại Trung Hoa, thiềm thừ là một con cóc linh diệu, thọ rất lâu, là vì chốn cung trăng là nơi lưu trú của các vị thần tiên bất tử. Chỉ ngại có một điều là nơi cung trăng lạnh lắm (Quảng Hàn), đó là một sự kiện mà các thi sĩ của ta ngày xưa đã biết trước cả các nhà khoa học, vì lẽ cung trăng là một vệ tinh đã chết từ lâu.
         Nhà thơ Phan Mạnh Danh (mất năm 1942) đã than rằng:
                         “Quảng Hàn lạnh lẽo bao la lắm!
                           Giấc ấy êm không, hỡi chị Hằng?”

         Rất may là bên cạnh chị Hằng, còn có con thỏ ngọc mà các văn nhân thi sĩ đã bất tử hóa:
                           Trải bao thỏ lặn ác tà…
                           (Nguyễn Du)
để tả cái chuỗi ngày đêm dài dằng dặc đã nói qua trên trời cũng như dưới trần thế.
         Nguyên xưa kia, trong một khu rừng nọ, có ba con thỏ: một con nâu, một con vàng và một con trắng, đã dày công tu luyện và suốt đời chỉ làm việc thiện. Đức hạnh cao dày đã động đến lòng Trời. Trời bèn sai một vị thiên thần xuống khu rừng nói trên, giả làm một bộ hành đói rét vì lạc đường lỡ bước.
         Thỏ nâu và thỏ vàng, sẵn có lương thực, bèn đem ra biếu hết tất cả cho người bộ hành. Còn con thỏ trắng, vì đã bố thí tất cả, không biết lấy gì mà cho, chỉ còn một bó củi, bèn tự ý thiêu mình, để dâng thịt thơm cho ông khách chưa hề quen biết.
         Vị Thiên thần cảm động liền bay về trời để tâu trình sứ mạng thì đã thấy Ngọc Hoàng Thượng Đế vuốt ve con thỏ trắng mà bảo rằng: Thỏ trắng đã tu hành đắc đạo, nay ta đã gọi về đây để cho tận hưởng an nhàn nơi Cung Trăng thanh bình và tinh khiết. Và từ đó, Thỏ ngọc ở lại Cung Trăng.
         Theo truyền thuyết, con thỏ chỉ nhìn trăng mà thọ thai. Nó càng nhìn mặt trăng sáng bao nhiêu, thì việc sinh sản càng tăng lên bấy nhiêu.


¤

         Ngoài con Cóc, con Thỏ, Ông Tơ bà Nguyệt mà sự tích ai ai cũng đều biết trên Cung Trăng còn có cây đa thằng Cuội.

Sự tích cây đa thằng Cuội
         Trong văn chương truyền khẩu của ta có một bài hát trẻ em rất thông dụng có liên hệ đến “Cây Đa” “Thằng Cuội”:
                           Thằng Cuội ngồi gốc cây đa,
                           Cho trâu ăn lúa gọi cha ời ời!
                           Cha còn cắt cỏ trên trời,
                           Mẹ còn cỡi ngựa đi mời quan viên.
                           Ông thì cầm bút cầm nghiên,
                           Ông thì cầm tiền đi chuộc lá đa.

         Nhà văn Văn Thôn kể lại rằng: “Một hôm, Cuội vào rừng chặt củi bán, bỗng gặp bốn con hổ con, đang run rẩy bò ra phía bên ngoài một cửa hang đá. Nhân tay cầm rìu, Cuội lần lượt đập chết cả bốn, thì vừa nghe tiếng gầm từ đàng xa đưa lại, làm rung động cả một góc rừng: hổ mẹ đi vắng đã lần về. Đoán chắc như vậy. Cuội cắm đầu chạy đến bên bờ suối, rồi lanh lẹn leo lên một ngọn cây cao chót vót, nằm ép mình sau những cụm lá um tùm… Đã tạm yên thân, Cuội lặng lẽ cúi xuống nhìn, thấy hổ mẹ tỏ vẻ giận dữ, đau thương, vừa buông ra những tiếng gầm gừ ghê sợ, rồi bỗng im bặt và đi về gần dòng nước. Cuội lại một phen thất kinh! Nhưng, hổ mẹ chỉ đến dưới một gốc cây, giống như cây Đa nhỏ, rồi nhảy lên mấy bận, mỗi bận đớp một ít lá về các phía tây, nam, bắc, sau lại ngậm lá mang về cửa hang, nhai đi nhai lại, mớm cho các con… Chỉ trong chốc lát, đàn hổ con đã sống lại, tỉnh táo như thường. Thế là cả năm mẹ con dắt díu nhau, thiên cư đi nơi khác.
         “Cuội tụt xuống, hăm hở đánh hẳn cả cái cây hồi sinh kia, rồi đem về trồng ở sau nhà, và từ đó, đã làm thuốc cứu người. Một ngày kia, Cuội đã dùng lá, cải tử hoàn sinh một thiếu nữ, con một phú ông. Để cảm tạ, phú ông đã gả người con gái đó cho Cuội, lại cấp thêm nhiều của hồi môn.
         “Cuội rất quý cây hồi sinh, và luôn luôn dặn vợ: “Kiêng kỵ nhất là làm rung động phía đông thân cây, vì chạm tới phía đông, cây giông lên trời!” Một buổi chiều, vợ tò mò, thử bứt mấy cành ở phía đông xem sao, thì ôi thôi, cây tự nhiên long gốc, bật rễ, lừng lững bay thẳng lên không trung. Cuội đi rừng về, thấy cây đã ở mức quá đầu người sinh ra hốt hoảng, chỉ kịp lấy rìu mắc vào rễ, để cố ghìm lại; nhưng cây vẫn lên cao, mỗi lúc một nhanh mà Cuội nhất định không buông tay. Chẳng bao lâu, cả người và cây đã bay tới cung trăng, để dừng lại, mà còn mãi tới ngày nay…
         “Hình đen đen ở mặt trăng, giống như bóng cây đa, đã xui trí tưởng tượng con người đặt ra truyện kể trên. Còn câu hát nhắc nhở đến cha, mẹ Cuội thì chỉ là mấy vần liên tiếp của dân quê, tha thiết với cảnh gia đình, làng xóm…”
         Trong cổ tích Chiêm Thành, cũng có chuyện thằng Cuội, mà tôi xin kể lại như sau: “Một người đàn bà đi dạo trong rừng giết một ổ rắn con, rồi ngồi đợi rắn mẹ về xem nó làm thế nào. Rắn mẹ về thấy con chết mới bò đi tìm cây “phun jrai” tức là cây đa của ta (ficus Bangalensis L). Cây nầy ở Ấn Độ người ta nấu thành nước để băng bó các vết thương. Rắn mẹ nhai mấy lá phun vào mấy rắn con, tức khắc rắn con hồi sinh. Thấy như vậy, người đàn bà mới bẻ một nhánh lá jrai, đem về trồng ở sau nhà. Một ngày kia trước khi đi, người đàn bà dặn con cái không được đái trên cây đa, vì nếu phạm lỗi ấy, cây sẽ biến mất. Bầy con muốn thử xem có thật không, mới rủ nhau đái. Khi bà mẹ trở về thì thấy cây đa bỗng nhiên bay lừng lững lên trời. Bà mới nhảy níu về thì thấy cây vẫn bay mang theo bà ấy và một con chó đen. Bấy giờ người ta có thể trông thấy bà ấy ở trên cung trăng”. Người Chàm còn tôn thờ và gọi là Paja Yan (Bà chúa Linh thiêng). Khi nào mặt trời đi ngang trước mặt bà thì bà ta quỳ lạy và do đó sinh ra nguyệt thực (Xem Nouvelles Recherches sur les Chams của Antoine Cabaton, do Ernest Leroux, Paris, 1901).

Tục hát trống quân
         Cũng vì còn quyến luyến trần gian, tha thiết với gia đình làng xóm, nên dân ta mới quan niệm Tết Trung Thu là một cơ hội thuận tiện nhất để biểu lộ tâm tình. Cho nên Trung Thu chìm đắm trong ánh trăng ngà cũng là một cái Tết Nhân Duyên, một dịp tốt để cho trai gái có thể hiểu biết và thông cảm với nhau, cho đôi bên tìm bạn tri âm cầm sắt.
         Họ ngồi thành hai dãy, bên trai bên gái, chuyện trò vui vẻ, ngắm cảnh thưởng trăng, rồi lần lượt hát đối. Cô cậu nào hát dở hoặc là đối không xong, thì bị loại ra ngoài. Lối chơi thanh nhã nầy kéo dài cho đến khi trăng tàn, cho đến lúc nào hầu hết trai gái đều bị loại, chỉ còn một cặp hát qua đối lại thông suốt, rất ăn ý với nhau, để được lãnh phần thưởng xứng đáng, chưa kể việc đi đến một cuộc hôn nhân giữa đôi trai tài gái sắc.
         Ở những nơi thôn dã, còn có tục lệ hát trống quân. Theo học giả Phan Kế Bính (1875-1921), viết trong Việt Nam Phong Tục (Đông Dương tạp chí số 26, trang 24-25, năm 1945), tục hát trống quân phát xuất từ đời Nguyễn Huệ. Khi ông đem quân ra Bắc, quân sĩ lắm kẻ nhớ nhà. Có đánh trống cầm quân làm nhịp nên gọi là trống quân.
         Nhưng ông Nordemann thì cho rằng “trống quân” có nghĩa là “dây trống quân” (Chrestomathie annamite, Hanoi, 1898, trang 283). Ông ta tả cái đàn bầu có một dãy (độc huyền cầm) thường dùng để hòa nhịp lối hát nói trên. Vì rằng những người hát, đàn ông đàn bà chia ra làm hai phe đối đáp nhau, nên ông ta cho rằng tiếng “quân” có nghĩa là “bọn, phường”, chứ không có nghĩa là “quân lính”.
         Ông Georges Cordier viết trong quyển “Essai sur la Littérature annamite” (La Chanson, Hanoi 1910, trang 10 và tiếp theo) rằng ông không tán đồng ý kiến của ông Nordemann và ông cho rằng: “Hát trống quân hay là hát có kèn trống (mà nhiều người cho là tiếng của quân đội), là vì có cái đàn mà người ta đánh và để lấy nhịp”. Ông cũng có nói đến cái đàn bầu mà ông Nordemann đã tả. Rồi ông nêu ý kiến “trống quân” có lẽ là “tống quân” cải biến. Tống quân có nghĩa là “tiễn một nhân vật” ra đến nơi nào và trước khi chia tay, bạn bè mỗi người lần lượt hát một bài có đàn bầu hòa nhịp theo.
         Ông Maurice Durand cho rằng thuyết minh đó không thể dung hòa được với nguyên lai của hát trống quân, vì lối hát này dành riêng cho đám thanh niên và thiếu nữ. Ông tán đồng ý kiến của Phan Kế Bính và cho rằng Trống quân “Kỳ thủy là một cái trống để ra trận, sau này vì không có trống trận nên người ta mới dùng dây đàn bầu để bắt chước tiếng trống. Vì thế nên “dây đàn Bầu” người ta vẫn gọi là “dây trống quân”.
         Ông Durand thêm rằng nếu lý thuyết của Phan Kế Bính đứng vững dược thì hát trống quân không phải mới phát xuất từ đời Nguyễn Huệ mà có lẽ đã có từ đời thượng cổ (Xem Dân Việt Nam số 1, Mai 1948, trang 33, 34).

Cá chép hóa long
         Đêm Trung Thu nào cũng có rước đèn, múa long, lân sư tử. Đèn đủ cả hình thức: đèn vuông, đèn xếp, đèn kéo quân và nhất là đèn cá chép.
         Theo Phan Kế Bính, tục rước đèn có đời nhà Tống, vì tục truyền rằng: Vua Nhân Tông (1023-1063) có con cá chép thành yêu tinh, cứ đêm trăng hiện lên làm con gái để đi hại người. Bấy giờ Ông Bao Công, tức Bao Chung, tức Bao Long Đồ (mất năm 1062), mới sức cho dân gian làm đèn con cá giống như hình nó mà đem rong chơi ngoài đường, treo ở trước nhà, để nó nhìn thấy đồng loại mà không phá hoại nữa.
         Cho nên, những đêm Trung Thu, vô số lồng đèn cá chép được trưng bày la liệt. Nó còn nhắc lại sự tích những con cá chép (lý ngư) vượt Long môn hoặc Vũ môn(1) để biến hóa thành rồng. Câu chuyện nửa thực nửa hư, nhưng nó ngụ ý rằng bước đường khoa hoạn công danh của các nho sĩ tương tự như vậy; muốn hiển đạt phải trải qua các kỳ thi cử khó khăn. Cửa nhà vua hay cửa Rồng đều mở rộng cho hết thẩy mọi người. Con đường khoa hoạn ấy sẽ đưa họ lên địa vị cao nhất của quốc gia và đó là tham vọng của hầu hết thanh niên Á Đông xưa nay. Vì lẽ đó, trong dịp Tết Trung Thu, người ta làm những Ông Tiến sĩ giấy, để tượng trưng ước vọng của giới trí thức đang “dồi mài kinh sử” để chờ kịp khoa.
         Sở dĩ có tục lệ làm đèn cá chép trong dịp Tết Trung Thu, là để nhắc lại một điển tích và hiện tượng kỳ lạ ở bên Trung Hoa cũng như bên Việt Nam ta.
         Theo “Tam Tần Ký”, nơi Hà Tân có địa điểm tên là Long Môn (Trung Hoa), cách Trường An 900 dặm, có những con cá lớn ở ngoài sông biển, đến nhóm họp nơi cửa có đến vài nghìn con, cố gắng nhảy lên thớt đá. Con nào lên được thì hóa rồng, con nào không lên được thì gục đầu phơi má, nên gọi là “bộc tai long môn” (cửa Long phơi má).
         Theo sách “Thủy Kinh Chú”, con cá gáy tháng ba nhảy qua cửa Long Môn thì hóa rồng, con nào nhảy không qua thì gục đầu lui về.
         Theo sách “Quảng sự loại” cá gáy nhảy qua Long Môn ắt có trận sấm sét đốt đuôi nó thì mới hóa rồng (Vũ môn tam cấp lãng; bình địa nhất thinh lôi).
         Bên Việt Nam ta, cũng có Suối vũ môn (Vũ môn tuyền) ở về ngọn thứ hai núi Khai Trướng, thuộc huyện Hương khê, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi đây nước chảy thành ba đợt, có tới vài trăm dặm, trong như tấm lụa giải. Mỗi năm cứ ngày mồng 8 tháng 4, thì tự nhiên mây móc dày đặc, tục truyền đây là chỗ hóa long. Cứ đến ngày ấy là ngày Phật đản sinh, các thuyền chài kiêng cữ, không có đặt lưới nò ở vùng hạ lưu. Nơi đây cũng có tên là Vụ thấp thủy có nghĩa là chỗ “nước sa mù ẩm ướt” (Theo Đại Nam Nhất Thống Chí – quyển Hà Tĩnh).
         Cũng theo bộ sách này, quyển Biên Hòa, ở phía Nam châu Đại Phố, thôn Bình Hoành, huyện Phước Chánh, có đền thờ Lễ Công, Nguyễn Hữu Cảnh (Kính), tức Tráng Hoàn Hầu. Nguyên xưa Ông phụng mạng kinh lược đất Nông Nại (Đồng Nai), mở đất được ngàn dặm chiêu mộ dân cư, đặt thành thôn ấp, dân địa phương nhớ ơn lập đền thờ phụng, ở trước mặt đền ngó xuống sông Phước Giang, lấy vũng đá làm thủy thành, dưới vũng đá có con cá gáy to lớn dị thường, dóc dài sáu, bảy thước, mỗi khi canh khuya đêm vắng thường đến trước đền bơi nhảy, khi lặn khi nổi, khi vượt qua thác đá, khi nhảy qua cơn sóng lớn, như để thỏa chí vẫy vùng.
         Con cá chép của Tết Trung Thu, dù là hình của con cá Long Môn, của con cá Vũ Môn hoặc là con cá Phước Chính, thảy đều tượng trưng tinh thần tranh đấu và ý chí quật cường của dân tộc Á Đông nói chung và Việt Nam nói riêng, luôn luôn tìm cách vượt qua mọi sự khó khăn để tiến đến một tương lai huy hoàng.


Hoàng Mai Thôn, Gia Định
Trung Thu Canh Tý 1960

THÁI VĂN KIỂM

__________________________________
(1) Long Môn là địa danh, thuộc Hà Tân tỉnh Sơn Tây, nguyên xưa kia vua Vũ trị thủy có đào nơi này, nên sau mới đổi tên là Vũ Môn.


BÁCH KHOA |  SỐ 90

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #587 vào: 18/02/2019, 11:53:27 »


                           Thổn thức

            QUÊN mây vẩn và quên luồng gió trái
            Chờ phút giây êm ái dịu lo âu
            Dẫu đau thương tràn ngập các tinh cầu
            Bởi ham sống vẫn tin ngày giải thoát.

                        Bên hoa ngủ trước vườn trăng thoảng mát
                        Thả hồn mơ đợi uống chút hương đêm
                        Bóng lung lay, bông lý rụng trên thềm
                        Bao hy vọng xanh tươi vừa héo hắt…

            Đương luyến tiếc, ánh sao hôm bừng mất
            Khoảng cao vời như biển lặng chiều thu
            Trời đã quang, tiềm thức vẫn âm u
            Dò ẩn ý muốn gì đây chẳng rõ?

                        Thôi hãy biết trăng sao còn rạng tỏ
                        Hẹn ngày mai thiên lý lại gây hương
                        Nỗi ưu tư tan giãn với màng sương
                        Lòng tự nhủ, dế mèn nghe, thổn thức.


                                                         ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 90

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #588 vào: 18/02/2019, 21:00:52 »


                           Hủy diệt

               ÂN tình chưa kín một lòng tay
               Hận đã dâng lên mấy lớp dày
               Những tưởng non cao tràn nhật nguyệt
               Nào hay chợ xép bán râu mày
              “Chặt đầu bỏ níp” ngươi buồn nhỉ
              “Móc mắt treo thành” ta chết ngay
               Hủy diệt chẳng riêng về thể xác
               Ác-Hoa thường nở giữa vơi đầy


                                        Hànội 1953
                                        BÙI KHÁNH ĐẢN




BÁCH KHOA |  SỐ 90

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #589 vào: 19/02/2019, 11:21:30 »


                          Đường sống

                NĂM xưa hồn dựng đá Trường Sơn,
                Để đến năm nay chép tủi hờn:
               “Mặc quách tuyết tan vào ý lạnh”,
               “Cho thành băng đóng giữa tình đơn”.
                Tiếng chuông Hưng Phế còn văng vẳng.
                Giấc mộng Vinh Hoa hết chập chờn.
                Chợt đến xóm nghèo nghe trẻ khóc:
                Biết lòng trời đất, nhẹ nguồn cơn.


                                            BÙI KHÁNH ĐẢN



BÁCH KHOA |  SỐ 90

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #590 vào: 19/02/2019, 20:19:45 »


               Bài ca tình yêu

            ÔI đẹp làm sao tình yêu
            Cuộc đời xiết bao vô nghĩa
            Thế nhân khác gì cầm thú
            Nếu hồn không ngập thương yêu

            Ôi đẹp làm sao tình yêu
            Cõi đời ê chề đau khổ
            Con người dễ dàng gục ngã
            Nếu không mát ngọt tình yêu

            Ôi đẹp làm sao tình yêu
            Giữa đôi mảnh hồn thơ trẻ
            Trao nhau ánh mắt nụ cười
            Hiến nhau trọn niềm chung thủy

            Ôi đẹp làm sao tình yêu
            Giữa đôi vợ chồng gắn bó
            Cùng nhau xây dựng ngày mai
            Hạnh phúc tràn căn nhà nhỏ

            Ôi đẹp làm sao tình yêu
            Của những người cha tận tụy
            Mải lo cơm áo gia đình
            Đành giẫm tràn bao phiền lụy

            Ôi đẹp làm sao tình yêu
            Những bà mẹ hiền lam lũ
            Nuôi con bằng máu tim mình
            Trọn kiếp mơ gì sinh thú?

            Ôi đẹp làm sao tình yêu
            Của đàn con thơ măng sữa
            Đêm ngày thỏ thẻ ba me
            Lớn lên trọn lòng hiếu tử

            Ôi đẹp làm sao tình yêu
            Một nhà anh em máu mủ
            Sẵn lòng chị ngã em nâng
            Chia xẻ buồn vui sướng khổ

            Ôi đẹp làm sao tình yêu
            Những đôi bạn bè chân thật
            Cảm thông tâm sự đầy vơi
            Hơn tình anh em ruột thịt

            Ôi đẹp làm sao tình yêu
            Của người dân cùng Tổ quốc
            Sẵn sàng gươm súng hiên ngang
            Điểm tô màu cờ dân tộc

            Ôi đẹp làm sao tình yêu
            Những kẻ không cùng máu mủ
            Cảm thông ngàn nỗi thương đau
            Rộng mối từ tâm giúp đỡ

            Ôi đẹp làm sao tình yêu
            Dù riêng gặp nhiều đau tủi
            Cuộc đời sa mạc hoang liêu
            Vẫn nguyền say sưa ca ngợi:

            Tình yêu là hương hoa trái ngọt
            Là nguồn thơ, là hy vọng muôn lòng
            Là ánh sáng, hòa bình, hạnh phúc
            Ôi tình yêu lý tưởng đẹp vô cùng


                                          HƯƠNG QUY



BÁCH KHOA |  SỐ 90

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #591 vào: 20/02/2019, 11:43:12 »
BÁCH KHOA |  SỐ 91  [15-10-1960 |  104 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Hoàng Minh Tuynh |  Chủ trương của người Nhật trung lập |  3-9
Phạm Hoàng (sưu tầm) |  Danh ngôn, danh lý: Thuật lựa người cộng tác |  4, 9, 14, 16, 26, 54, 55, 97
Nguyễn Phúc Sa |  Những vấn đề liên quan đến gia tăng dân số |  10-16
Bách-Khoa |  Cảm giác đầu tiên |  16
Phạm Hoàng |  Dòng tư tưởng… Nhắm mắt trước sự thật |  17
Bửu Kế |  Từ điện Voi Ré đến Hổ Quyền |  18-26
Bách-Khoa |  Đàn lòng |  24
Phạm Trọng Nhân |  Bài học của thánh Gandhi |  27-33
Đoàn Thêm |  Bức thư gửi một sinh viên du học |  34-38
H. Đ. |  Nghề xuất bản với loại sách cho thanh thiếu nhi bên Pháp |  39-48
Quảng cáo |  49-50
Quý Bảo |  Một tháng ở Nhật Bản (hồi ký) |  51-55
Bách-Khoa |  Tiết hạnh |  55
Quảng cáo |  56
Nguyễn Trần Huân |  Thành tích năm mươi năm khoa học (1900-1950) [XI] |  57-60
Quảng cáo |  61-62
Cát Sĩ |  Vài nhận xét về tập thơ “Tổ Ấm” của Anh Tuyến |  63-71
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 90 |  70
Quảng cáo |  72-73
Phạm Lê Phan |  Lồng đèn Ông Sao |  74-81
Bách-Khoa |  Một quân vương không có quyền khóc! |  76
Đoàn Thêm |  Vô đề (thơ) |  82
Kim Tuấn |  Huă Lui Posat (truyện) |  83-87
Huy Lực |  Mưa thu… (thơ) |  88
Nguyễn Văn Xuân |  Hương máu |  89-98
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  99
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách mới |  99
Quảng cáo |  100-104


SAIGON |  1960




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #592 vào: 20/02/2019, 20:21:31 »


Vài nhận xét về tập thơ “Tổ Ấm” của Anh Tuyến

CÁCH ĐÂY KHÔNG LÂU, trong một cuộc diễn thuyết về thi ca Việt Nam, một thi sĩ cho biết hiện thời những tập thơ xuất bản rất nhiều, song không bán được, vì rất ít người mua. Và theo diễn giả, đó là tại phần đông thi sĩ Việt Nam hay làm thơ bí hiểm, khác với lối diễn giả của truyện Kiều và phong dao.
         Nhưng nghĩ kỹ, đó chỉ là cách nhận xét bên ngoài, về hình thức của thi ca; nếu đi sâu vào vấn đề, người ta sẽ thấy nhiều nguyên nhân về xã hội, chánh trị, nó đưa đến một tình trạng tâm lý và xác định thị hiếu của một thời kỳ. Thử đặt lại truyện Kiều vào buổi Lê mạt, Nguyễn sơ, và dưới thời thực dân, chúng ta sẽ hiểu vì sao tác phẩm ấy được hoan nghênh, tán thưởng. Sở dĩ quyển Lục Vân Tiên được phổ thông trong dân chúng miền Nam, phải chăng vì tập thơ ấy đã phản chiếu cái sĩ khí, nho phong, giữa buổi thiên hạ loạn ly, luân thường đảo ngược?
         Không thấy rõ hiện trạng của xã hội, không cảm thông với nguyện vọng của đồng bào, thi sĩ sẽ tìm những đề mục lãng mạn, viễn vông, chỉ thỏa mãn một nhóm người ưa mơ mộng, an nhàn. Anh sẽ thấy mình như lạc lối, bơ vơ giữa đám đông người và rốt cuộc, tỏ ra một thái độ kiêu kỳ, anh tự giam mình trong cái tháp ngà cổ kính, tưởng rằng như thế sẽ ngồi trên quần chúng và thấy xa hơn mọi người. Đó là trường hợp của nhiều thi sĩ ở xứ ta hiện nay. Trách nào những tác phẩm thi ca không ứ đọng trong các nhà bán sách!



         Tập thơ “Tổ Ấm” của Anh Tuyến có lẽ là một lệ ngoại đối với những điều nhận xét trên đây. Tôi không dám nói Anh Tuyến đã nhìn thấy thực trạng của xã hội hiện thời và tôi không cho rằng tập thơ “Tổ Ấm” là tổng hợp những ước mong, khao khát của dân tộc Việt Nam. Nhưng Anh Tuyến đã quan sát kỹ càng, đã tả đúng cảnh sinh hoạt hằng ngày và diễn được tâm tình của phần đông trong chúng ta từ gia đình ra xã hội.
         Ta thấy nơi thi sĩ một người bạn hiền hiểu biết chúng ta, sống gần gũi chúng ta, chia vui sớt khổ… Bấy nhiêu đó cũng đủ phân biệt Anh Tuyến với nhiều thi sĩ đồng thời; người ta không tìm thấy trong thơ Anh Tuyến những cảnh huyền hoặc, mơ hồ, nó lôi cuốn tâm hồn xa sự đời, xa thực tế. Hãy để cho Hàn Mạc Tử dời giường bịnh lên Đà Lạt ngắm trăng; xin nhường cho Thế Lữ theo các nàng tiên đến Thiên Thai nghe sáo, chúng ta thích nghe Anh Tuyến kể lại đời sống thanh bình ở thôn quê: một nhà lá ba gian rợp bóng dừa mát mẻ, chung quanh trồng rau cải, bông hoa. Ngoài vườn bà lão đang đưa võng ru em, trong nhà ông lão ngồi uống trà lẳng lặng. Ta hãy đến mừng cho anh ba Nghĩa nới vừa mua được “con trâu Pháo” và đang chống nạnh nhìn trâu sung sướng mỉm cười. Ta hãy đi thăm một người bạn nông dân và thử dùng với bạn một “bữa cơm nghèo” chỉ có cà, canh và rau muống luộc…
         Rồi từ thôn quê ta trở về thành thị và theo thi sĩ qua xóm Bàn Cờ đến chợ Vườn Chuối là nơi ta sẽ gặp đủ hạng người trong giới cần lao. Vào những buổi mưa đêm, đường trơn, gió lạnh, thi sĩ còn cho ta thấy một cô gái nhỏ bán chè khoai, mang trên vai một gánh đầy, cất giọng rao trong trẻo, nhưng nghe dường thắm hơi ướt át…
         Một chỗ khác biệt trong thơ Anh Tuyến là không có một bài nào ca ngợi tình yêu. Đừng kiếm nơi đây một hình bóng mỹ miều hay những câu nồng nàn, đắm đuối, dễ quyến rũ những óc non tim yếu. Các độc giả của Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư thời tiền chiến có lẽ ngày nay đã kinh nghiệm nhiều, đã hiểu đời nhiều, đã chán đọc những bài: gặp gỡ, đợi chờ, tương tư, đau khổ… Họ sẽ thích trở về Tổ ấm để tìm trong ấy những tình yêu thấm thía, thiêng liêng; một người con gợi bóng mẹ hiền trong khi nằm giường bịnh “trưa nhà thương” vắng vẻ. Một người anh nhớ đến người em bé đi xa, trong khi mẹ già mỗi buổi tối nhìn tấm ảnh đọc kinh cầu nguyện. Ai sinh trong cảnh nghèo, có chị là con trưởng, mà không thương người chị đã tận tâm lo lắng cho đàn em? Ai có gia đình mà không biết những phút “xé ruột đứt gan” khi nghe tiếng rên khẽ của người yêu trong phòng bảo sanh im lặng? Đó là những tình cảm thông thường mà ăn sâu trong nhân tính, nó đã làm cho chúng ta thích đọc Les Feuillca d’Automne, Les voix intérieures của V. Hugo trong ấy cũng nói đến người mẹ hiền từ và người vợ gương mẫu.
         Ra ngoài vòng gia quyến, thi nhân không quên tỏ tình thương đối với bằng hữu, quê hương: một bạn xưa đến chơi nhà, ở một đêm rồi vụt ra đi miền biên ải, đã được thi nhân nói đến với một giọng bùi ngùi. Mặc dầu được an vui trong cảnh mới, thi nhân vẫn nhớ đến “người bạn nghèo” ở xóm lao động mà mình đã chung sống mấy năm. Anh đã từng thả hồn đến chốn Hậu giang để noi theo con “đường làng” về “quê cũ” viếng “đồng xanh” cho giải lòng thương nhớ…
         Có biết bao tập thơ chan chứa cảm tình mà tác giả có lẽ đã dùng nhiều danh từ, nhiều nghệ thuật hơn Anh Tuyến để đập mạnh vào tâm não chúng ta. Nhưng khi đọc qua, rồi xếp sách lại, chúng ta không nghe một tiếng ngân, tiếng dội trong lòng. Ta cảm thấy rằng tác giả chỉ là người thợ sắp chữ, ráp vần, cố nặn ra lời thơ bi thảm, mà chính mình lãnh đạm, thản nhiên…
         Thơ Anh Tuyến không có giọng rên rỉ, não nùng, nhưng đọc qua nghe bồi hồi, cảm động. Phải chăng vì tác giả đã sống trong những cảnh hiện thực mà mình đã gợi lên? Tình cảm do đó càng chân thật, tự nhiên, lại càng khêu được lòng độc giả.



         Nói như thế không phải là cho rằng thơ Anh Tuyến chỉ có một nghệ thuật quá giản dị, bình thường. Nghệ thuật lắm khi là ở chỗ không phô trương nghệ thuật. Đọc suốt những bài đặc biệt nhất trong “Tổ Ấm”, chúng ta không thấy tác giả có dụng công xếp đặt một khung cảnh nào để cho ngoại giới ảnh hưởng đến tâm hồn của nhân vật, cũng như Nguyễn Du đã khóa cô Kiều trong lầu Ngưng Bích quạnh hiu. Thế mà tình cảm được diễn ra rất dễ dàng, càng lúc vàng rõ rệt, khiến cho người đọc cảm thấy như chính mình đang ở trong cảnh, hay đang nghe tác giả nói lên tâm trạng của mình. Đó là nhờ tác giả cố tránh những kỹ xảo rườm rà, khéo phân tích những kỷ niệm thực, mà mỗi người trong chúng ta có thể đã sống qua như tác giả. Muốn kể lại mối cảm tình sâu đậm đối với người “bạn nghèo” xưa kia, tác giả không cần phải tưởng tượng một đêm mưa dầm, ngồi dưới bóng đèn mờ nhớ đến số phận những người lao động v.v… Anh chỉ chắc ngay đến năm tản cư phải bỏ nhà ở tỉnh chạy lên Sàigòn, sống trong một căn nhà lá gần “anh xe ngựa”, chính là người bạn tốt của anh:

                           … Anh đánh xe, tắm ngựa, rửa chuồng heo,
                           Chị bồng con, cắt cỏ, thổi cơm chiều;
                           Nhà nho nhỏ, nhưng thân tình ấm cúng.
                           Tôi yêu anh, một gia đình lao động;
                           Tôi đã nghèo anh chị lại nghèo hơn!


         Rồi tác giả cho biết bạn anh vốn người dễ dãi, thật thà, có một tấm lòng hiền lương, rộng rãi, đã giúp đỡ anh nhiều lần trong bước khó, chẳng một chút so đo. Tuy bây giờ anh đã dời nhà ở xa, đã giao thiệp nhiều bạn mới, nhưng xem lại không ai bằng anh xe ngựa:

                           Hồi tưởng lại, nghe buồn lên rười rượi.
                           Xóm xưa nghèo, tôi đã đổi đi xa…
                           Qua phố phường thay đổi mấy lần nhà,
                           Giao tình mới đã thêm nhiều bạn mới.
                           Nhà đã đổi, cuộc đời nay cũng đổi,
                           Bạn láng giềng, đôi ba kẻ xa hoa;
                           Tình xã giao nghe thiếu vị mặn mà,
                           Nghĩa lân lý thiếu chút gì ấp ủ.
                           Chút gì đó, phải chăng… tình tối lửa,
                           Láng giềng nghèo, ta chia xẻ cho nhau?

                            (Anh, trang 71, 73)

         Còn rất nhiều bài khác trong đó tác giả vừa kể việc, vừa phân tích, để làm nổi rõ tâm lý của người trong cuộc. Có cô gái nào sau khi về nhà chồng mà không nhớ lại giờ phút “vu qui”? Cô sẽ thấy thi sĩ tả đúng nỗi lòng mình, từ lúc đầu cô bối rối khi họ đàng trai đã đến sân, cho đến lúc cô hồi hộp ra đứng sánh vai với “chàng” trước bàn thờ trang nghiêm, “cặp nến hồng sáng rực”. Rồi cô nghe lòng mình thổn thức khi cùng chàng bước chân lên xe hoa sắp lìa mái nhà thân:

                           Buồn vui sao lẫn lộn?
                           Theo đà bánh xe quay!
                           Lòng em nghe phơi phới,
                           Sao lệ tràn ướt tay!
                           Quay nhìn sau lần cuối,
                           – Em có chồng từ đây…

                            (Vu qui, trang 54)

         Bài thơ “Vu qui” của Anh Tuyến có lối tự sự bình dị, êm đềm, nghe phảng phất như bài “Chùa Hương” trong đó Nguyễn Nhược Pháp cũng diễn tả tâm trạng của một cô gái ngây thơ vừa buổi đầu gặp một văn nhân đẹp ý.
         Nghệ thuật kín đáo mà tinh vi của Anh Tuyến càng thấy rõ trong những bài tả chân. Như chúng ta đã biết, thi sĩ không tưởng tượng, mơ màng, mà chỉ xem xét, tìm hiểu. Ngọn bút tỉ mỉ đã tạo nên những bức họa, hay đúng hơn, đã bày ra dưới mắt chúng ta những cảnh sống động khác thường trong đó mỗi người, mỗi vật nổi bật lên với những nét rõ ràng, đích xác. Có lẽ nhiều văn nhân thi sĩ đã cư ngụ, hay ít nhất cũng biết qua xóm Bàn Cờ ở thủ đô, nhưng chưa thấy ai nói đến vùng ấy trong văn thơ của mình. Đây ta hãy nghe Anh Tuyến tả “xóm nghèo” nơi đó anh đã sống mấy năm:

                           Cù lao nhà lá giữa đô thành!
                           Ngõ hẹp tư mùa chuối trổ xanh.
                           Xan xát chen vai nhà khít khít!
                           Lối mòn trăm ngả, rẽ quanh quanh…
                           Từ sáng mờ sương chửa tắt đèn,
                           Nhà nhà bốc khói thở hơi lên…
                           Tiếng cười, tiếng nói nghe nao nức,
                           Dậy sức cần lao ngõ tối đen!


         Nói đến nghệ thuật tả chân của Anh Tuyến, không thể bỏ qua bài “Con trâu Pháo”:

                           Con trâu Pháo mập u, vừa dậy cổ,
                           Hai cái sừng cong vút, nhọn, đen mung.
                           Vàng tai to vênh vểnh, mắt hung hung,
                           Nghinh nghinh mõm, mũi phì phì thở bọt.
                           Thằng Sáu Ngọ vỗ mông trâu, khen tốt!
                           Ông Năm Già đếm xoáy, gục gật đầu:
                           – Trâu cổ tơ ăn đứt hẳn trâu tao.
                           Hơn tất cả một bầy trong xóm thổ!


         Con trâu Pháo lại là tượng trưng cho bao nhiêu hy vọng của bần nông ở xứ ta. Nó mở ra một viễn ảnh vui tươi trong ấy anh chị Nghĩa thấy mình cấy xong sẽ cho trâu cày mướn. Nếu may ta trúng lúa, lại trồng thử một mùa dưa, rồi “sang năm tới bắt thêm con Pháo nữa”.

                           Anh chị Nghĩa trong lòng hoa nở đỏ…
                           Con anh Ba xuống bếp thổi cơm chiều.
                           Vợ anh Ba trải chiếu dựa chuồng heo,
                           Và ngồi xuống, vá chiếc mùng đã cũ.
                           Chiếc mùng cũ anh may hồi cưới vợ,
                           Chị tháo ra sửa lại chiếc mùng trâu.
                           Trong khi anh cắt cỏ dưới dàn bầu…
                           Con trâu Pháo lạ chuồng khua lộp cộp.
                                                     ○
                           Lòng anh chị đã nghe lên, hồi hộp,
                           Gió được mùa, lúa trổ sắc vàng hoe;
                           Hai con trâu mập cụi đứng trên đê,
                           Sừng nhọn hoắt, lắc lư đầu, gậm cỏ…
                           Anh chị Nghĩa trong lòng hoa nở đỏ…

                            (Con trâu Pháo, trang 89)

         Phải có sống gần với nông dân mới cảm thông nỗi vui mừng và ước mong của họ và mới hiểu rõ vì sao họ săn sóc con trâu đến đỗi lấy chiếc mùng cũ đã may ngày cưới vợ sửa lại làm “chiếc mùng trâu”. Bài thơ của Anh Tuyến thật là độc đáo trong loại tả chân mà ngụ ý gây cảm tình cho nhân vật. Trong các nhà thơ hiện đại tôi chỉ thấy có nữ sĩ Ái Lan với bài “cảnh đẹp của nông dân” và “người lao động” là đã được nổi tiếng trong loại nầy.



         Trong những bài tả cảnh, thi sĩ không tìm những hình ảnh lớn lao, những màu sắc rực rỡ, mà chỉ để ý đến những nét tế nhị trong thiên nhiên: một tia nắng hiền, một làn gió nhẹ, cũng đủ làm rung cảm tâm hồn. Ở đây cũng vẫn là nghệ thuật tả chân, nhưng có thêm cái gì thanh thoát, dịu dàng, chỉ có con mắt của thi nhân mới nhận thấy. Thử đọc bốn câu nầy của Anh Tuyến tả cảnh xưa nhìn xuyên qua cửa sổ một nhà thương:

                           Qua cửa sổ một mảnh trời trong suốt.
                           Xuyên tàn cây, vài tia nắng lung linh…
                           Cơn gió trưa, trở giấc dậy trong cành,
                           Một chiếc lá rùng mình rơi xuống đất!

                            (Trưa nhà thương, trang 78)

         Và đây cũng là một “buổi trưa” nhưng ở vào trong cảnh khác:

                           Thiu thiu mặt nước êm đềm.
                           Lửng lơ đớp bóng, cá tìm bọt rêu.
                           Mơ màng rụng cánh hoa bèo,
                           Lung linh sóng gợn loang đều cánh cung…
                           Lúa vàng trong nắng trổ bông,
                           Một con cò trắng rỉa lông trên bờ…
                                                     ○
                           Nhà ai thở khói xanh lơ,
                           Bâng khuâng xóm nhỏ trong mơ thả hồn…

                            (Trưa, trang 14)

         Cảnh thông thường, xác thực ở thôn quê, nhưng trong đó có điểm thêm chút ít màu sắc, chút ít hình bóng rung rinh, những cái đã gây thú vị cho bài “Thu điếu” của Nguyễn Khuyến.
         Do theo những bài tả cảnh kể trên và nhiều bài khác trong “Tổ Ấm”, chúng ta thấy rõ tình cảm của thi sĩ đối với thiên nhiên. Thi sĩ không ưa mùa thu, gió heo, lá rụng, hoặc những đêm buồn, mây phủ, trăng mờ; mà chỉ thích cảnh nắng lên, lúa vàng, trái chín. Phải chăng vì thi sĩ sanh trưởng nơi miền Nam đất Việt, có bao giờ biết được mùa thu? Lại nữa một thanh niên khỏe mạnh, đầy đủ tinh thần, tại sao phải đeo buồn, thương mây khóc gió? Có lẽ thi sĩ thấy đó là những tình cảm hão huyền diễn ra bằng những lời thơ giả dối. – Thiên nhiên ở đây, dẫu bốn mùa không thay đổi, cũng có thể gây cảm hứng cho tao khách, văn nhân. Thơ Anh Tuyến vừa tránh được chỗ khô khan, vừa tả đúng thực tại, là vì anh biết tìm nét xinh tươi trong cảnh vật bên ngoài. So với các thi nhân hiện tại miền Nam, tôi chưa thấy ai có một tình cảm chân thành như thế. Đông Hồ đã tỏ ra say mê với non nước Phương Thành; nhưng đó là một thắng cảnh đã từng được ca tụng từ xưa, nhất là do các nhân viên trong Chiêu Anh Các. Chỉ có cảnh đồng bằng ruộng rẫy, nắng đổ mưa chan, là mới lần đầu tiên được một thi nhân hạ cố.
         Tất cả những yếu tố hợp thành thú vị của thơ Anh Tuyến đều kết tinh trong bài “Đường làng” có thể xem là một bài thơ toàn bích, có lẽ tác giả đã mượn cảm hứng trong bài “Lời con đường quê” của Tế Hanh. Nhưng xét về nghệ thuật, ta thấy hai bài thơ khác hẳn, bài của Tế Hanh là những lời tự thuật, những lời của con đường quê tự tả lấy mình, cốt cho mọi người vừa thấy chỗ xinh tươi, vừa cảm vì ai phải trải thân với mưa thu nắng hạ. Còn bài của Anh Tuyến là miêu tả con đường đất trong làng, chạy quanh co qua cánh đồng, đám rẫy, rồi chui vào xóm nhỏ, lại “thoát ra đi giữa rặng lau…” Toàn bài chỉ nhắm vào thực tế, mà cũng ngụ ý cho ta thấy nhiệm vụ của con đường đất là “nối tình quê khắp mọi miền…” Cách tả cảnh rất rõ rệt, tự nhiên, mà không kém phần bóng bẩy, linh động. Đây tôi xin trích ra hai đoạn cuối cùng:

                           Đường thoát ra đi giữa rặng lau,
                           Tiễn đưa bờ chuối phất phơ chào…
                           Bên đình thong thả dừng chân ngắm,
                           Một cánh sen vàng nở mặt ao.

                           Đường lại ra đi dưới nắng hiền,
                           Hoa ngàn cỏ nội đẹp thiên nhiên;
                           Trải lòng đất trắng qua thôn xóm,
                           Để nối tình quê khắp mọi miền…

                            (Đường làng, trang 91)



         Tiếc thay, chúng ta không tìm thấy trong “Tổ Ấm” nhiều bài được hoàn toàn như thế. Tôi xin phép kể ra đây một vài khuyết điểm và nhân tiện xin đề nghị sửa chữa cho câu thơ được ổn hơn. Trước hết về từ ngữ ta thấy có nhiều chữ dùng không đúng hoặc có hơi vụng về:
         Như trong bài “Xóm nghèo” trang 65, tác giả viết: “Xan xát chen vai, nhà khít khít!” Lẽ thì nên viết: “San sát nghĩa là khít, liền nhau (chữ xan xát không có trong tiếng Việt). Thế thì chữ khít khít là đồng nghĩa và thừa trong câu. Nên để: nhà nhỏ nhỏ là đúng hơn, vì xóm Bàn Cờ trước kia có nhiều nhà lá nhỏ cất gần sát với nhau.
         Cũng trong bài ấy trang 66, câu: “Bác Tư phở bắc bằm tay thịt”, nghe hơi lạ tai. Nên sửa: tay bằm thịt là đúng hơn – Trong câu kế:
         “Thơm nức hương lân bát súp gà…”, bốn chữ “thơm nức hương lân” trong truyện Kiều có nghĩa thanh nhã hơn; còn đây muốn chỉ mùi thơm của cháo gà mà lại dùng bốn chữ ấy, sợ e có ý mỉa mai. Vả lại người ta thường nói “bát cháo gà”, ít nghe nói “bát súp gà”. Nên sửa: thơm nức từ trong bát cháo gà. Nhưng ở đây ta còn vấp phải một chỗ khó nữa: khi đọc:

                           Bác Tư phở bắc tay bằm thịt
                           Thơm nức từ trong bát cháo gà.


         Người ta thấy câu dưới bổ nghĩa cho câu trên: như thế phở bắc làm sao lại có mùi cháo gà?
         Trong bài “Đường về quê cũ” trang 75, tác giả viết ở đoạn chót: “gang tấc mà ra… Vạn lý thành”. Chữ thành dùng không đúng, vì ít nghe người ta nói Vạn lý thành. Vả lại đã cho biết đi trên con đường cũ mình nhớ nhà, nhưng về không được; cho nên đường tuy gần mà thấy rất xa. Vậy nên để: gang tấc mà ra vạn lý trình, là đúng hơn.
         Trong tập thơ Tổ Ấm có rất nhiều điệp tự hoặc những tiếng trùng nghĩa với nhau. Thí dụ tác giả viết:

                           Bạn láng giềng chia xẻ tấm tình trơn
                           Nghĩa lân lý đậm đà tình… tối lửa!
                            (Anh, trang 71)

         Chữ tình ở câu trên và chữ tình ở câu dưới là điệp tự, bạn láng giềng, nghĩa lân lý là trùng nghĩa với nhau. Rồi tác giả lặp lại “nghĩa lân lý” trong đoạn chót bài thơ: “Nghĩa lân lý, thiếu chút gì ấp ủ”.
         Trong bài “Long Xuyên”, trang 25, tác giả vừa viết câu đầu: Long Xuyên! Long Xuyên! châu thành thân mến, kế lặp lại chữ thân mến trong câu thứ ba:

                           Một tấm lòng thân mến cũ xa xôi.

         Hai điệp tự ấy làm cho câu thơ nghèo nàn ý nghĩa.
         Nên để ý: các điệp tự trên đây không có dụng ý như trong bài “Con trâu Pháo” tác giả dùng ba lần “trong lòng hoa nở đỏ” để nhấn mạnh chỗ ước mong của anh chị Nghĩa. Đấy là một kỹ xảo rất công hiệu trong văn chương.
         Ngoài ra, có nhiều câu nghe tối nghĩa hoặc có nghĩa mâu thuẫn với nhau. Thí dụ tác giả viết:

                           Bâng khuâng vẫn nhớ cô đào
                           Mặt trắng, môi hường, lịch sự trai!

         Cô đào võ là cô đào mặc đồ võ tướng như Phàm Lê Huê, Lưu Kim Đính chẳng hạn làm sao lại lịch sự trai?
         Trong bài “Long Xuyên” trang 26, sau khi thuật lại đêm trăng chơi thuyền và ca hát trên sông Hậu giang tác giả tự hỏi:

                           Đây là đâu, bến Tầm Dương có phải?
                           Hay đây giòng sông Hát? Bến Mê Linh?

         Nhắc đến bến Tầm Dương có thể được, nhưng sao giữa cuộc vui lại nhớ đến dòng sông Hát, bến Mê Linh? Chỗ sinh trưởng và nơi gieo mình của bà Trưng có liên quan gì với việc này? Có lẽ nên để: “Hay sông Hương lờ lững chốn Thần Kinh”? như thế là hợp lý hơn.
         Cũng trong bài ấy, tác giả viết hai câu chót:

                           Giòng Hậu giang lặng lẽ dưới trời sương,
                           Tiếng sóng vỗ âm thầm trong đêm lạnh.

         Ở câu trên đã nói lặng lẽ, sao ở dưới còn nghe tiếng sóng vỗ? (mặc dầu là âm thầm).
         Nên để: Dòng Hậu giang mờ trải dưới trời sương, cho được đi với tiếng sóng vỗ, mà lại có nghĩa cụ thể hơn.
         Có nhiều chữ tác giả dùng hơi kém thi vị và nghe như có vẻ tản văn. Thí dụ trong bài “Chị tôi”, trang 34, tác giả viết:

                           Tuy không son phấn mà tươi thắm,
                           Mơn mởn như là một đóa hoa.
                           Em khóc chị thường vẫn dỗ em.

         Mấy chữ: như là, thường vẫn dỗ em, đọc nghe rất thường và giống như văn xuôi. Vả lại chữ thường và chữ vẫn đồng nghĩa với nhau.
         Cũng nghe thường và kém thi vị, câu: “Lúc ấy trời chiều đã nhá nhem”, trong bài “Nó”, trang 60. Nhất là chữ lúc ấy ít thấy dùng trong thi phú.
         Về thi pháp tôi thấy trước hết cách gieo vần có nhiều chỗ hơi sai. Thường người trong Nam đọc những âm cuối không rõ; nên khi làm thơ họ hợp vần một cách tự nhiên những chữ có âm: an, ang, ao, au, ai, ay v.v… Cách hợp vần ấy ít thấy trong các thi nhân ngoài Bắc, vì họ phát âm đúng hơn. Tuy vậy Nguyễn Du trước kia đã viết:

                           Người lên ngựa, kẻ chia bào,
                           Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san
.

         Và Trần Tế Xương:

                           Lẳng lặng mà nghe nó chúc sang:
                           Đứa thì mua tước đứa mua quan…


         Nhưng có lẽ đó là những trường hợp ít thấy nơi mấy bậc thi hào.
         Trong tập Tổ Ấm rất có nhiều chỗ gieo vần như vậy: song điều ấy có thể miễn thứ được, chỉ trừ nhiều chữ vần hơi cưỡng ép, như: ơm vần với ôn, uôn v.v…
         Thí dụ:

                           Tôi đến thì vừa đúng bữa cơm,
                           Anh mời, tôi lại ghế ăn
luôn.
                            (Một bữa cơm, trang 11)

         Hoặc ai vần với ây:

                           Thằn lằn tắc lưỡi tiếc thương ai…
                           Tí tách đồng hồ đếm phút giây…

                            (Giận nhau, trang 51)

         Nhiều câu thơ đọc nghe hơi lạc vận. Thí dụ:

                           Lòng tôi khoan khoái lác trông theo
                           Vượt gió, tung trời, run rẩy đuôi
                            (Diều giấy, trang 41)

         Có những câu tám chữ, vì sai bình, trắc, mà thành ra khổ độc. Thí dụ:

                           Một bát canh nóng khói vị vừa nêm!
                           Lửa ngút trời, súng đạn tơi bời bay
.
                            (Long Xuyên, trang 25, 27)



         Các khuyết điểm nói trên đều thuộc về hình thức.
         Một vườn hoa, mặc dầu tươi đẹp, làm sao tránh khỏi những bông dại, cỏ hoang? Khách ngắm hoa, vì có dạ mến yêu, nên buộc lòng chỉ ra những gì có thể hại đến khu vườn thơm ngát.
         Những ai đã đọc qua các bài trong “Tổ Ấm” chắc cũng đều có một cảm tưởng như thế. Tác giả vốn không phải là một thợ thơ mà là một nhà thơ chân chính. Do những cảnh thực tế đã trình bày, do những mối cảm tình thâm thiết diễn ra bằng lời thơ thanh tao, ta thấy thi sĩ có một nhãn quan sắc sảo và một tâm hồn rất dồi dào. Đó là những thiên tư cần thiết cho sự sáng tạo hiện thời và nó cũng cho phép ta đặt nhiều hy vọng nơi thi sĩ. Tập thơ “Tổ Ấm” đã tránh khỏi các dấu vết lãng mạn thời xưa và cố tìm ra một con đường mới cho thi ca tả thực. Ta sẽ thấy một nhà thơ không còn “rung với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”, mà là người biết quan sát đời sống của đồng bào, biết cảm thông với nỗi vui buồn của dân chúng. Ước mong ta sẽ ra khỏi vòng Tổ Ấm để mở lòng đón tiếp những tình thương rộng rãi, bao la nhất là cảm thông bản chất của hiện thực nhiều hơn. Bởi vì, qua Tổ Ấm, người ta chưa thấy được hết cái xao xuyến, cái rung động mới mẻ của nông thôn hiện tại. Người ta mới chỉ tìm thấy những hình ảnh của một đời sống nhàn tản phảng phất dư vị của một thời xưa. Và nhưng tin chắc rằng thi sĩ sẽ thành công với những tác phẩm quan trọng hơn, trong đó thi sĩ sẽ vững vàng về quan niệm thi ca và sẽ già giặn về nghệ thuật diễn tả.


CÁT SĨ


BÁCH KHOA |  SỐ 91

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #593 vào: 21/02/2019, 12:48:01 »


                                     Vô đề

                       NẮNG dãi song thưa lọt kẽ mành
                       Trưa hè lặng lẽ quá đêm thanh
                       Sầu ve ru ngủ cây ôm bóng
                       Cánh sẻ vù bay gió động cành
                       Lả gối trôi mơ dòng nước bạc
                       Trạnh lòng thoảng tiếc lũy tre xanh
                       Mười lăm năm chẵn chim lìa tổ
                       Để giọt mưa dào khóc mái tranh.


                                                          ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 91

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #594 vào: 21/02/2019, 18:39:47 »


                        Mưa thu…

                  MƯA rơi rơi giăng mắc
                  Ấp ủ những con đường
                  Dìu em đi bước một
                  Giữa phố nghèo quê hương
                  Tóc em cười nhấp nháy
                  Ngọc cài đầu mưa sương
                  Một trời thu chôn chặt
                  Trong mắt buồn tơ vương
                  Môi hồng tươi thắm nở
                  Tiếng thì thầm nhớ thương…?
                  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .
                  Mưa rơi rơi giăng mắc
                  Ấp ủ những con đường
                  Mưa tâm tình kể lể
                  Mưa sụt sùi giọt tương
                  Đường tình yêu vô tận
                  Đưa em về muôn phương
                  Siết tay tìm hơi nóng
                  Bỗng dưng ấm phố phường
                  Yêu nhau rồi, tan loãng…
                  Giữa muôn màu sắc hương
                  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .  .
                  Mưa rơi rơi giăng mắc
                  Ấp ủ những con đường
                  Anh làm mưa hôn nhẹ
                  Trên má hồng yêu thương


                                           HUY LỰC



BÁCH KHOA |  SỐ 91

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #595 vào: 22/02/2019, 11:20:12 »
BÁCH KHOA |  SỐ 92  [1-11-1960 |  110 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Hoàng Minh Tuynh |  Hiệp chúng quốc trước ngày tuyển cử tổng thống |  3-12
Phạm Hoàng (sưu tầm) |  Danh ngôn, danh lý: Thuật đào luyện người cộng tác |  12, 16, 21, 70
Nguyễn Văn Thư |  Đồ sứ Đại Tống và tranh Đại Tống |  13-16
Bách-Khoa |  Mở cửa |  14
Bách-Khoa |  Sức hấp dẫn của người có ân đức |  16
Nguyễn Văn Hầu |  “Tế cẩu văn” của cụ Thủ Khoa Huân |  17-21
Bách-Khoa |  Đàn bà cực đoan |  20
Bách-Khoa |  Một câu nói của Louis XIV |  21
Bửu Kế |  Thảm cảnh ngoài bể khơi hay cái chết bi đát của 108 người Trung Hoa thờ tại đền Chiêu Ứng ở Huế |  22-28
Bách-Khoa |  Cấm chỉ và tự do |  28
Nguyễn Anh Linh |  Nietzsche (1844-1900) con người siêu việt (ubermensch) |  29-44
Quảng cáo |  45-46
Đoàn Thêm |  Vài thắc mắc của người ham đọc báo |  47-52
Quảng cáo |  53-54
Nguyễn Bạt Tụy |  Tên cá trong ngữ Việt |  55-63
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 89 |  63
Phạm Hoàng |  Dòng tư tưởng… Mức thang giá trị |  64
Đông Hồ |  Mạn đàm về văn hóa |  65-70
Bùi Khánh Đản |  Âm hưởng (thơ) |  71
Nguyễn Hiến Lê (dịch) |  Mưa \ Somerset Maugham |  72-89
Huy Lực |  Đồi xa (thơ) |  86
Đoàn Thêm |  Hòa hợp (thơ) |  90
Phan Du |  Tình “người” |  91-99
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  100
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  101
Quảng cáo |  102-110


SAIGON |  1960




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #596 vào: 22/02/2019, 22:28:04 »


Nietzsche (1844-1900) con người siêu việt (ubermensch)

MỘT NHẬT BÁO Hànội, thời kháng chiến, nhận định rằng một số thanh niên nam nữ đã vào tu viện, chùa chiền, để tìm an ủi nơi tôn giáo vì lý do bất lực hay chán trong cuộc sống.
         Nhận xét đó đến nay vẫn còn ám ảnh chúng ta:

                           Cửa không đành gửi cái xuân tàn.
                           .  .  .  .  .  .  .  .
                           An cảnh tang u một chữ nhàn…

                            (Tôn Thọ Tường)

         Tiếp xúc với văn hóa Âu châu, bắt gặp lý thuyết của Nietzsche, nhiều người lấy làm hài lòng. Lý thuyết của Nietzsche có một sức hấp dẫn lạ lùng trải bao thế hệ, bất luận màu da, chủng tộc.
         Một sinh viên Việt kiều ở Pháp viết: “Je continue ce que Nietzsche a si bien commencé”. Tôi tiếp tục công cuộc mà Nietzsche đã bắt đầu thật đẹp đẽ.(1)
         Ngày nay, những sách bàn về nhân bản đã đề cao vai trò của Nietzsche.
         Bài điểm sách “xây dựng nhân sinh quan” của ông Nghiêm Xuân Hồng (Bách-Khoa số 88) có nói đến lập luận của Nietzsche về Thượng Đế. Ở đây, chúng tôi xin trình bày phổ quát quan niệm con người siêu nhân để nhận chân giá trị của nó.(2)

Định nghĩa con người siêu việt
         Con người siêu việt có thể định nghĩa như “một trạng thái mà nhân loại sẽ đạt đến, sau khi rứt bỏ hệ thống giá trị, rứt bỏ lý tưởng công giáo, dân chủ hay khổ hạnh đang bành trướng ở Âu châu cận đại, để trở về đồ biểu giá trị của những chủ nhân ông đã tạo ra và chấp nhận chúng, chứ không thu nạp chúng do ở ngoài đến” (Lichtenberger, la philosophie de Nietzsche).
         Trước thời Âu châu cận đại suy vong, con người đó đã xuất hiện ở những dân tộc hiếu chiến và thống trị, như Hy Lạp, Rôme, Đức. Nhưng con người siêu việt sẽ lợi dụng tất cả những khám phá khoa học để chế ngự thiên nhiên.
         Đặc tính của con người siêu việt là ý chí quật cường (Volonté de Puissancz), tức là bản năng sinh lực sẵn có trong mọi sinh vật lành mạnh; là khuynh hướng mãnh liệt, không ai cản nổi, bắt buộc tha nhân lệ thuộc vào mình. Những gì trợ giúp khuynh hướng đó được gọi là chân lý và hoàn hảo: “Tôi giả thiết ý chí quật cường là nguồn gốc mọi nhân tình; nhân tình là biến thiên của ý chí đó; mọi sức mạnh là ý chí quật cường, và ngoài ra không có sức mạnh nào khác, dù thế lực, khí lực hay động lực”.
         Nhân loại thăng hoa hay sa đọa là tùy sự tồn vong của ý chí quật cường.
         Nhưng trước khi chinh phục tha nhân, phải tự chinh phục mình, tự làm chủ mình, để đạt tới một tự do tuyệt đối. Tuyệt đối nghĩa là loại trừ những gì gò bó, bất luận từ đâu đến. Trong ba cuộc biến hình, nhà tiên tri Zarathoustra, tức Nietzsche, trở nên lạc đà, để mang lấy những gánh nặng nhất đời và biểu dương khả năng chịu đựng của mình.
         Vào Sa mạc, Zarathoustra hóa ra sư tử “để chinh phục tự do và làm chúa sa mạc. Muốn thế, phải chối từ những luật lệ xưa nay vẫn ép uổng nhân loại, để nắm lấy quyền tự quyết:
         “Trở nên tự do, đối lập và phủ nhận tuyệt đối, đến cả phận sự, hỡi anh em, đó là nhiệm vụ phải có sư tử mới thi hành nổi.
         “Chinh phục quyền tác tạo những giá trị mới là một chinh phục ghê gớm nhất đối với một tinh thần kiên nhẫn và tự trọng. Quả là một hành động tàn bạo đối với sư tử và đã làm cho sư tử thành mãnh thú…”
(Volonté de puissance N∘ 420).
         Sau cùng Zarathoustra phải trở nên trẻ em. Tại sao trẻ em? “Vì trẻ em là vô tội, là lãng quên, là đổi thay, là chơi đùa, là bánh xe xoay quanh mình, là luôn luôn quyết đoán”. Trẻ em tiêu biểu cho ý chí quật cường thuần túy: trẻ em chơi đùa, vì tâm hồn quá sung túc như nước vỡ bờ; bậc siêu nhân tạo nên những giá trị mới, cũng không cần nghĩ đến ai, ngay đến cả hành động tác tạo đó.
         Đời sống siêu nhân sẽ ích kỷ; nhưng ích kỷ đây khác ích kỷ phàm nhân vì phàm nhân lợi dụng tha nhân để bổ cứu khuyết điểm mình, còn siêu nhân ở bậc toàn vẹn. Siêu nhân cũng không muốn phục vụ tha nhân vì phục vụ tha nhân là ngờ vực ngay chính bản thân mình: “Khi một cá nhân tìm cách phục vụ tha nhân, thì có thể kết luận chắc chắn rằng đã có sự mệt nhọc, thoái hóa” (Volonté de puissance N∘ 341).
         Siêu nhân có thể từ thiện, miễn là từ thiện không vì thương hại hay tình yêu: thương hại làm cho con người yếu hèn; tình yêu làm cho ta lệ thuộc người yêu. Khi đại lượng hay thi ân, siêu nhân chỉ tung ra những dư dật, thừa thãi của mình, và làm rạng tỏ thái độ trác tuyệt của mình. Đại lượng và khinh miệt đi đôi với nhau: ta chê bai con người đã hạ mình xuống cầu cứu ta, đã không đủ khả năng chinh phục mà còn giơ tay khẩn nài.
         Siêu nhân không tìm hạnh phúc, vì hạnh phúc là an nghỉ, mà chỉ tìm an vui, vì an vui làm cho ta cảm thấy quật cường. Siêu nhân cũng không nhân từ, vì nhân từ làm cho ta hệ lụy đến tha nhân. Nếu có đếm xỉa đến tha nhân, thì không vì ta sợ tha nhân, mà chỉ vì ta tôn trọng ý chí quật cường của tha nhân. Siêu nhân bản tính vốn không ác tâm, dù đôi khi chống đối các luật pháp hay giết người là những phương tiện giúp ta lướt thắng quần chúng. Sát nhân để bóc lột tiền của hay trả thù là một hành động hèn nhát, trong khi nó phải biểu dương ý chí quật cường.
         Anh hùng của Nietzsche là một anh hùng dữ tợn; lịch sử để lại nhiều hình ảnh tượng trưng:

         “Không thể không nhìn nhận rằng giống nòi quý tộc đó là một loài dã thú; một loài dã thú hùng tráng, sắc hung hung, khát máu, đi tìm mồi. Thú tính bí ẩn đôi khi cần được biểu lộ ra ngoài: con dã thú cần lộ diện, cần trở về giang sơn hoang vu của nó xưa; phái quý tộc Rôma, Đức, Nhật, những anh hùng của Hôme (Homère), những vua chúa của nước Xì-căng-đi-na-vi (Scandinavie) đều giống nhau ở chỗ đó. Họ là giống nòi quý tộc đã để trên đường đi của họ những dấu tích “man rợ”, mà văn hóa cao cả nhất của họ vẫn ý thức và lấy làm hãnh diện; (Chẳng hạn khi Pé-ri-cờ-lét (Périclès) trong bài điếu văn trứ danh nói với dân thành A-ten (Athènes): “Can đảm của chúng ta đã vẽ được một lối đi trên đất cũng như ở biển, đã dựng khắp nơi những kỷ niệm bất hủ, kỷ niệm tốt đẹp cũng như hung ác”). Cái can đảm của giống nòi quý tộc, can đảm điên cuồng, phi lý, hồn nhiên; những sự nghiệp bất ngờ, huyễn hoặc của họ – Pé-ri-cờ-lét ca tụng dân thành A-ten đã biết coi thường thể xác; khinh chê những tiện nghi của đời sống; cảnh khoái lạc dữ tợn hay cảnh an vui mà họ thụ hưởng sau các cuộc tàn phá, sau các cuộc chiến thắng hay hành động độc ác; tất cả những cái đó đã được nạn nhân của họ tóm tắt bằng hình ảnh “man rợ”, “thù địch tàn nhẫn” hay danh từ “văng đan” (Vandales) (Généalogie de la morale N∘ 11).

         Đó không phải là hành vi tạm thời của giống nòi trẻ trung, bồng bột, hăng hái, mà lại là yêu sách khẩn thiết của đời sống, nếu đời sống không muốn bị tiêu diệt.

         “Bành trướng là yếu tố của sinh hoạt; sinh hoạt phải nẩy nở và vì thế cần tiêu thụ những lực lượng bên ngoài. Ảnh hưởng của một luân lý lờ mờ, như một liều thuốc mê, đã làm cho người ta nói đến quyền tự vệ của cá nhân. Theo nghĩa đó, người ta cũng có thể nói đến quyền tấn công của cá nhân. Hai quyền đó – quyền thứ hai hơn quyền thứ nhất – đều cần thiết cho sinh vật. Tấn công hay tự vệ không phải là vấn đề lựa chọn, mà chính là nhu cầu của sinh hoạt, của cá nhân hay thân thể sống động, hay xã hội đang muốn khuếch trương…
          “Khi cần xâm lược, ít ra một dân tộc cũng phải tăng cường uy lực bằng súng ống, thương mại hay bằng cách chiếm thuộc địa và cũng có đủ lý để gọi cái cần “đó là quyền”. Đó là quyền phát dục. Một xã hội mà rứt khoát chối bỏ, mà bản năng vốn xa lánh chiến tranh hay không có tinh thần xâm lược, là một xã hội xã hội suy đồi; là một xã hội sắp trở nên dân chủ, sắp có chế độ thối nát. Trong đa số trường hợp, quả thế, những bảo đảm hòa bình chỉ là những phương tiện làm cho con người đần độn”
(Généalogie de la morale N∘ 11).

         Yêu cầu sức mạnh đừng biểu dương sức mạnh, đừng tỏ ra “ý chí đả phá và chinh phục, đừng thủ tiêu địch thủ, kháng đối và chiến thắng” là hành động vô ích.

Luân lý căn cứ vào trường hợp
         “Đối với luân lý phàm tục, siêu nhân sẽ là “một tên sát nhân”. Nhưng đây không phải là “tên sát nhân đáng thương hại”, còn lệ thuộc vào những phê bình của xã hội về tội ác của mình, và sẵn sàng ăn năn hối cải. Đây là “một tên sát nhân theo thể cao nhã” (criminel de grand style), tự đặt mình ra ngoài vòng pháp luật, truyền thống, lương tâm và phận sự” (Volonté de puissance N∘ 332, 334).
         “Giá trị của hành động căn cứ vào tư cách đời sống của người hành động: “Người ta muốn biệt tách hành động ra khỏi con người hành động. Người ta muốn chê ghét tội lỗi”; người ta tưởng rằng có những hành động tự nó là tốt hay xấu… Nhưng, tự nó, một hành động, tuyệt đối không có một giá trị nào; điều cần là xem ai hành động. Cũng một tội ác, nhưng trong trường hợp này, nó có thể là một đặc ân siêu nhân, trong trường hợp nọ là một sỉ nhục” (Volonté de puissance N∘ 249).

         Đặc ân siêu nhân không dành riêng cho giai cấp xã hội, chức vụ, chính trị. Dù cảm phục Ma-ki-a-ven (Machiavel), dù chủ trương mưu kế, Nietzsche chắc không ưa thích hạng người xảo quyệt, gian trá, vì thiếu can đảm. Cần phải ích kỷ, nhưng phải lên án hạng người hèn nhát chỉ biết bám vào người khác để sống; còn ích kỷ của hạng người có tâm hồn cao thượng, của chủ nhân ông chỉ biết có mình và bắt vạn sự phụ thuộc vào mình, ích kỷ đó mới là cực điểm của luân lý chân chính.
         Theo Nietzsche, những giá trị luân lý trước hết gắn liền với con người, sau mới được đem áp dụng vào hành vi con người. Vì đã quên điều đó, nên trong xã hội ngày nay con người đã bị ràng buộc bởi những luật lệ luân lý, trong khi đáng lẽ con người phải tạo tác và làm chủ các luật đó.
         Dĩ nhiên ta có thể định rõ những đặc tính của con người siêu nhân:

         “Hiên ngang, xa quần chúng, gánh vác trách nhiệm lớn lao; tâm hồn bộc lộ hùng tráng như một dã thú; bản năng hiếu chiến, xâm lược, đầy nhiệt tình, thù oán, mưu kế, giận dữ, khoái lạc, mạo hiểm; kiến thức rất mực uyên thâm… Tao nhã, khôn ngoan, quật cường, nguy nga, hiểm sâu: đó là hạng người biết quyết định các mục đích; đó là con người tương lai” (Volonté de puissance N∘ 143).

         Nhưng phải tùy hoàn cảnh mà tự tạo ra thái độ của mình. Nietzsche không muốn gò bó siêu nhân vào một gông cùm chật hẹp, mà để cho đầy đủ tự do sáng kiến, tự do hành động vì đã có sẵn ý chí quật cường. Vậy, tâm hồn cao thượng không vì đã có những hành vi hợp với một lý tưởng cao thượng; trái lại, hành vi cao thượng vì phát xuất do bởi một tâm hồn cao thượng; nên nhân danh một luân lý mà bôi nhọ những vĩ nhân là phi lý:

         “Sự lầm lẫn trở nên nặng nề đến nỗi người ta cố chấp bêu xấu những bậc tài danh của đời, mà tính tự chủ của họ ngược hẳn với tật xấu, rồi gán cho họ những danh từ nhục nhã. Ngày nay người ta vẫn còn tưởng cần phản đối Xê-gia Boóc-gi-a (César Borgia): thật lố bịch. Giáo hội đã lên án những Đế vương Đức, vì tật xấu của họ: thày tu hay linh mục sao lại cho biết tư tưởng mình về yêu sách của Fê-đê-ric (Frédéric)? Người ta tống cổ Đông Giu-ăng (Don Juan) xuống địa ngục: thật là ngây ngô! Ta có biết những người kỳ thú, đáng lưu ý, đều khiếm diện ở thiên cung chăng?” (Volonté de puissance N∘ 229).

         Do đó, Nietzsche bài xích tất cả những tổ chức ngăn cản hạng người có ý chí quật cường phát xuất: “Coi nhân loại như một khối lớn phải hy sinh cho sự thịnh vượng của một nòi giống con người lực lượng hơn, đó mới là tiến bộ” (Généalogie de la morale N∘ 12).
         Đôi khi lương tâm của hạng siêu nhiên sẽ bị cắn rứt, làm cho họ nghi ngờ thực lực và quyền năng của họ, nhưng Nietzsche đã chận đứng: “Tôi dạy cho người ta nói “không” trước những gì đưa họ đến hèn nhát, khánh kiệt; tôi dạy cho người ta nói “phải” trước những gì tăng gia và củng cố uy lực, trước những gì biện hộ cho cảm giác cương cường” (Volonté de puissance N∘ 86).


¤

Nietzsche và Công giáo
         Sở dĩ hạng siêu nhân ra đời là để đối phó với luân lý công giáo, mà Nietzsche gọi là hèn nhát nhu nhược; đối phó với tín lý công giáo, mà Nietzsche coi là phản khoa học, phản lý trí, là một thần thoại. Tất cả cố gắng của Nietzsche là diệt trừ không chỉ những luật lệ, giới răn, mà diệt trừ ngay chính nguyên tắc căn bản của luân lý công giáo, một luân lý đã tự hào sản sinh những giá trị cao quý:

         “Người ta hay công kích Công giáo một cách chẳng những nhút nhát mà lại sai lầm. Bao lâu ta không coi luân lý công giáo như một cuộc sát hại đời sống, thì những người công giáo có thể dễ dàng cãi lại. Tìm xem Công giáo xác thực hay không, Thượng Đế có hay không, nguồn gốc đạo đó bịa đặt hay không, cũng như giá trị thiên văn và khoa học Công giáo… đều hoàn toàn phụ thuộc, bao lâu ta chưa chất vấn họ về giá trị luân lý Công giáo. Vậy luân lý Công giáo có giá trị nào không hay chỉ là một ô nhục, một lạm dụng, dù nghệ thuật quyến rũ của nó có tính cách thần thánh” (Volonté de puissance N∘ 162).

         Sự đối lập không do ở sự so sánh nhân đức công giáo vớn nhân đức của Nietzsche, mà do ở chính tinh thần của hai lý thuyết. Sự thực, Nietzsche chỉ nói đến lý tưởng của luân lý công giáo, vì theo ông, Phúc Âm chỉ là một thần thoại thêu dệt quanh giảng thuyết của Chúa Giêsu, thêu dệt và xuyên tạc để gây nên lý tưởng luân lý Công giáo. Dù những chỉ trích của Nietzsche không trực tiếp liên hệ đến Chúa Giêsu, Chúa Giêsu vẫn không đại diện nổi siêu nhân theo viễn vọng của Nietzsche. Địch thủ chính của Nietzsche không phải là Chúa Giêsu, mà lại là Thánh Phaolô (Saint Paul).

Luân lý hờn dỗi
         Nietzsche không tiếc lời mạt sát luân lý công giao, một luân lý thoái hóa, kết quả đương nhiên của một tâm hồn bệnh hoạn, sản phẩm của phản động: phản động chống lại luân lý của những tâm hồn cao thượng theo chủ nghĩa tà giáo thời cổ; thoái bộ trước đời sống anh dũng và sung mãn. Vì thế luân lý Công giáo là một luân lý “hờn dỗi” (morale de ressentiment): đứng trước những giá trị không thể đạt tới, vì thiếu nghị lực, lẽ ra ta phải khiêm tốn nhìn nhận ta bất lực và chỉ đổ lỗi cho ta thôi, thì ta lại tìm cách tái lập thế quân bình, nghĩa là ta tránh sự giảm giá của ta bằng cách đánh giảm giá trị cao quý, cho đó là những giá trị giả dối; hay ngược lại, ta đề cao những giá trị đối lập với những giá trị mà ta không thể vươn tới: nhân đức trở nên tật xấu, tật xấu trở nên nhân đức. Hành động này không phải là một lừa bịp có ý thức, vì như thế ta sẽ không đạt được mục đích và đời sống ta vẫn còn, có cái gì khiến ta áy náy. Chung quy, hờn dỗi là nền tảng luân lý công giáo, luân lý của kẻ nô lệ:

         “Bạo động của người nô lệ trong phạm vi luân lý bắt đầu từ khi tái tạo và sản sinh ra những giá trị trong hờn dỗi: hờn dỗi của những người này, vì không được phép phản ứng và hành động chính đáng, nên để đền bù lại thì tạo ra một sự thù oán tưởng tượng. Trong khi luân lý quý tộc phát xuất do một xác định, một tự tín, một chiến thắng oanh liệt thì luân lý kẻ nô lệ ngay từ đầu phủ nhận tất cả những gì không thuộc về “mình”, tất cả những gì “khác mình”, tất cả những gì là “phi ngã”. Phủ nhận là hành vi tác tạo của họ. Lối nhìn và đánh giá đảo ngược đó – một lối nhìn dĩ nhiên do vũ trụ ngoại giới ảnh hưởng – là của riêng của hờn dỗi: luân lý của kẻ nô lệ luôn luôn và trước hết cần đến vũ trụ đối lập và ngoại giới mới ra đời được” (Généalogie de la morale N∘ 10).

         Là một xuyên tạc, một phản động tiêu cực, luân lý công giáo phải cần đến những giá trị mà chính nó đã phủ nhận như mặt trái cần đến mặt phải. Nhờ phủ nhận mà luân lý công giáo mới tồn tại, nên luân lý công giáo không thể có một nguồn gốc độc lập: khi chủ trương con người hoàn hảo là con người theo gương thánh thiện của Thượng Đế – đúng hơn theo gương một nhân vật được thần thánh hóa, mệnh danh là Thượng Đế – thì luân lý công giáo không có một nội dung tích cực mà phải liên hệ đến sự phủ nhận những giá trị con người cao thượng.
         Do đó đặc tính luân lý công giáo vốn là giảm giá trị đời sống, làm bại hoại tất cả những gì hùng tráng nhưng giáo dân vẫn đinh ninh mình đang theo đuổi một lý tưởng tuyệt diệu. Luân lý công giáo chỉ lý tưởng hóa những yếu hèn của con người biến đổi hèn yếu thành nhân đức và cuộc biến đổi được thi hành trong một bầu không khí vẩn đục, đáng khả nghi:

         “Tôi không thấy gì, nhưng tôi lại nghe rõ hơn… Một tiếng xôn xao thận trọng, một tiếng thì thầm, khó phân biệt, một tiếng rì rầm âm hiểm phát xuất từ mọi xó xỉnh. Tôi xem như là nói dối; mỗi âm thanh thật là ngọt ngào, êm dịu như mật ong. Hèn yếu phải được biến thành công đức bằng nói dối, đó là điều không thể nghi ngờ; đúng như anh đã nói,
         – “Rồi sau đó?
         – “Và sự bất lực không thể trả thù, nhờ nói dối, trở nên hiền lành; đê tiện, hèn hạ trở nên “khiêm nhượng”; khúm núm trước những người mình ghét trở nên “vâng lời” (nghĩa là vâng lời một người mà họ bảo rằng người đó ra lệnh phải vâng lời, mà họ gọi là Thượng Đế). Tính nhút nhát tràn ngập con người hèn yếu, một thứ nhút nhát làm cho y phải chầu chực, đợi chờ ở các cửa, cái nhút nhát đó tất nhiên đã mang một danh từ rất kêu và được gọi là “kiên nhẫn”, đôi khi là “nhân đức” không hơn không kém; “không thể trả thù” biến thành “không muốn trả thù” và đôi khi lại là “tha thứ tội lỗi” (vì chúng không biết những điều chúng làm, duy chúng ta mới biết những điều chúng làm!) Người ta cũng nói đến tình yêu đối với địch thủ, rồi ai nấy đều toát cả mồ hôi”
(Généalogie de la morale N∘ 11).

         Đi sâu vào bản chất của sự phản động đó, Nietzsche nhận thấy thái độ ích kỷ, một thứ ích kỷ đáng chê trách vì là ích kỷ của người hèn yếu, của một giống người không đáng sống. Người công giáo xem ra chú trọng rất nhiều đến thái độ vị lợi, đưa nó lên hàng nhân đức, nghĩa là bó buộc người khác tuân giữ những điều kiện bảo vệ sống còn của mình; đó là “nguyên tắc luân lý xã hội công giáo”:

         “Khi đòi hỏi phải thi hành nhân đức mà họ có khả năng thi hành, mà họ cần để tồn tại, thì họ xem bộ chiến đấu cho nhân đức, để nhân đức thống trị khắp nơi” (Crépusule des idoles, l’Antichrist N∘ 44).

         Phương tiện độc nhất của con người hèn nhát để dụ dỗ con người quật cường tránh xa võ lực là chủ trương dùng võ lực là bất chính. Lời Phúc Âm “Đừng chống lại điều ác” cho ta hay công giáo, vì bất lực trước những bất công xã hội, nên đã biến bất lực đó thành nhân đức. Nếu lời khuyên này cho dành riêng cho bọn hèn yếu, nô lệ, thì tai hại không là bao. Nhưng những biện hộ cho hòa bình, những vụ lên án bạo lực để tìm cách giải giáp những người có võ trang lại đều căn cứ vào lời đó:

         “Khi hạng người bị áp chế, đè nén, tôi tớ không đủ xảo quyệt, năng lực để trả thù, thì họ tự nhủ: “chúng ta hãy sống ngược với bọn ác nhân, nghĩa là phải hiền lành!” Hiền lành là không bạo động với ai, không lăng nhục ai, không trả thù ai, mà để việc trả thù cho Thượng Đế; là sống ẩn dật như chúng ta, kiên nhẫn, khiêm nhường và chính trực”. Nếu ta lãnh đạm và khách quan nghe lời chúng, thì tựu trung câu đó có nghĩa: “Là hạng hèn yếu, chúng ta quả nhiên là hèn yếu, vậy hay hơn cả là đừng làm điều gì mà chúng ta cảm thấy không đủ lực”. Nhưng cái nhận định cay đắng đó, cái khôn ngoan lép vế mà ngay loài sâu bọ cũng có (vì trong nguy biến, sâu bọ giả chết không làm gì hơn), nhờ giả trá và lừa dối chính mình, đã khoác một bộ áo lộng lẫy, mệnh danh là nhân đức, nhẫn nại, hy sinh, thầm lặng: chính sự hèn yếu của hạng hèn yếu – tức là bản thể, hành động, thực thể hiển nhiên không sao xóa bỏ được của hạng hèn yếu – được xem như là một hành động có tự do, có ý thức, chú ý, có công trạng” (Première dissertation N∘ 13).

         Trả thù đối với siêu nhân là để biểu lộ uy lực mình và nếu đôi khi anh ta không thèm trả thù là không vì anh ta muốn tha thứ như công giáo chủ trương. Hạng hèn yếu trả thù vì tâm hồn đê tiện. Người công giáo không dám khêu chọc một thù địch trong một trận chiến cần phô trương lực lượng mình. Nhưng rồi, vì ghen tương, công giáo lại tìm cách đánh hạ uy tín anh ta, bằng cách yêu cầu anh ta đừng dùng võ lực mà coi võ lực là một điều ác. Tệ hơn nữa, công giáo làm cho anh ta áp dụng hệ thống giảm giá đó để anh ta tự kiểm thảo và nhận mình kém nhân đức, nhận rằng con người chí khí quật cường là hạng người khả nghi. Đó là “cách trả thù thiêng liêng”, nguy hiểm và hèn nhát nhất. Chúng ta đứng trước “bọn người thù hằn đội lốt quan tòa, bọn đao phủ tâm hồn”:

         “Bọn hèn yếu, bọn bất trị nay đã lập khế ước để thuê lấy nhân đức: điều đó quá hiển nhiên. Chúng lớn tiếng bảo: “Chỉ chúng ta mới là hiền lành, chính trực, chỉ chúng ta mới là những người đầy thiện chí”. Chúng sống giữa chúng ta như để khiển trách chúng ta, như để cảnh cáo chúng ta, như để cho ta biết sức khỏe, tráng kiện, võ lực, hiên ngang chỉ là những tội lỗi cần phải cứu chuộc. Trong thâm tâm, chúng sẵn sàng giúp chúng ta chuộc tội, chúng muốn đóng vai trò đao phủ. Trong bọn chúng có khá nhiều người thù hằn đội lốt quan tòa; miệng chúng – một thứ miệng với những môi mỏng và chúm – đầy nước bọt nhiễm độc mà chúng gọi là công bằng, mà chúng sẵn sàng phun ra khi thấy ai có vẻ bất bình, khi thấy ai đi đứng lòng thư thái, không hối hận” (Généalogie de la morale N∘ 14).

Địa ngục
         Cũng chính vì muốn thù oán con người quật cường mà bọn phản động đặt ra địa ngục. Không nghe lời chúng, con người quật cường sẽ bị trầm luân ở một thế giới khác và Thượng Đế sẽ đứng thi hành án đó. Rồi bọn bất lực, bọn chiến bại đời này sẽ vui hưởng cảnh đày đọa trường cửu của hạng người chiến thắng nhất thời, mà không phải lao tâm khổ trí. Đăng-tơ (Dante) đã ngộ nhận khi chủ trương địa ngục là sản phẩm của tình yêu vĩnh cửu của Thượng Đế. Trái lại, địa ngục là sản phẩm của thù ghét, bất lực, của bọn hèn nhát. Và Nietzsche trích dịch Thánh Tô-ma (Saint Thomas): “Trên thiên cung những vị Thánh sẽ trông thấy cực hình của người bị đày đọa, để hạnh phúc của các thánh được tăng cường”. Hay nhắc lại đoạn Tec-tu-liêng (Tertullien) khuyên giáo dân xa lánh cảnh giết chóc giữa người giác đấu (combat des gladiateurs) và hứa ở thiên cung họ sẽ chiêm ngưỡng cảnh cùng khổ của những người đã bắt bớ đạo.
         Sách Khải Huyền của Gio-an (Jean), tức sách cuối cùng của bộ Tân Ước nói về tận thế, Nietzsche cho là “một trong những văn phẩm có tính cách xâm hại, dã man nhất”, vì là một tác phẩm đầy hờn ghét chống lại quật cường, bạo lực. Rõ ràng là luân lý công giáo “đã dạy người ta thù oán và miệt thị tất cả cái tinh túy của hạng người thống trị, tức ý chí quật cường” (Volonté de puissance N∘ 10).
         Thực ra thì mánh khóe công giáo để giảm giá hay giải giáp siêu nhân vẫn là tàn tích của ý chí quật cường mà công giáo đã lăng mạ. Quả thế vì thiếu ý chí quật cường tức là đi đến cái chết: “Đâu tôi thấy sống động, thì đấy đều có ý chí quật cường, và ngay trong ý chí của người phục tòng, tôi cũng thấy ý chí của chủ nhân ông” (Ainsi parlait Zarathoustra page 162). Tính hiếu thù của công giáo hay mánh khóe đảo lộn hệ thống các giá trị để lướt thắng con người quật cường hay thần thoại về địa ngục đều tiềm tàng ý chí đó. Nhưng ý chí này không làm cho công giáo trở nên mãnh liệt, vì con đường chúng đi là con đường của hạng hèn yếu, đầy đầy đê tiện và uẩn khúc: “Con người hèn yếu lén lút vào pháo đài vào tận tâm can của con người cường tráng bằng những con đường hẻo lánh và đã ăn cắp ý chí quật cường” (Ainsi parlait Zarathoustra page 163).
         Luật công giáo buộc phải thương kẻ yếu hèn, bệnh tật, khốn cùng, nhưng không vì lý do xả kỷ, nhiệt thành, mà chỉ mặc cảm tự tôn:

         “Trở về nguồn gốc công giáo thời đế quốc Rôma, ta thấy những hội tương trợ, tế bần, cứu giúp bệnh nhân, chôn xác kẻ chết xuất hiện ở hạ tầng xã hội, nơi mà người ta cố tìm một liều thuốc chống lại cảnh tiều tụy: “đó là niềm vui bé nhỏ, căn cứ vào sự cứu trợ lẫn nhau” (Généalogie de la morale. Troisième issertation N∘ 18 page 236).

Dụ dỗ
         Nietzsche tự hỏi: sao hạng hèn yếu dùng phương pháp đó mà lại thu được nhiều kết quả, thắng được Rôma, chế ngự cả phong trào Phục Hưng. Đó là vì bọn hèn yếu vừa gièm pha những giá trị cao quý, vừa đưa ra một lý tưởng gian dối để dụ dỗ nhân tâm. Dĩ nhiên, chúng không dám cởi mặt nạ ra để tự xưng là người phá hoại, nhưng chúng cam kết mang lại cho nhân loại một lý tưởng quý báu hơn: chúng có mánh khóe nhà nghề, là hạng chuyên làm bạc giả để lừa gạt mọi người.
         Và đôi khi con người quật cường, trong cơn yếu đuối, cũng bị cạm bẫy, đâm ra nghi ngờ chính mình và cậy nhờ vào chúng. Công giáo đã khôn khéo nắm lấy những dịp đó để tha hồ tuyên truyền, thuyết phục. Tựu trung, bí quyết công giáo là dụ dỗ. Phúc Âm là sách dụ dỗ. Công giáo vừa giả dối vừa hấp dẫn, biết lợi dụng nhược điểm con người hay hoảng sợ trước tấn kịch bi đát của đời sống, hay hướng về thế giới vô hình để an hưởng hạnh phúc.
         Nhưng nguồn gốc của lý thuyết công giáo về thế giới vô hình là ở sự khiếp sợ đời này, và thuyết đó đã làm cho người ta thích chê trần thế:

         “Chỉ bo bo lo đến mình và đến “cuộc cứu rỗi đời đời” không biểu dương đặc tính một tâm hồn phong phú và tự chủ. Một tâm hồn phong phú và tự chủ không thiết đến sự giải thoát không cần đến hạnh phúc dưới bất cứ hình thức nào; trái lại nó là võ lực, là hành động, là ham muốn, nó in dấu vào sự vật, đưa tay chiếm lấy sự vật… Công giáo là bệnh ưu uất, lãng mạn của kẻ chân không đứng vững” (Volonté de puissance N∘ 313).

Đau khổ
         Thái độ chịu đựng đau khổ như kẻ nô lệ của người công giáo ở đời này ngược với lập trường của người hùng tráng thường coi đau khổ như một thử thách để rèn luyện tâm hồn, để đạt đến những kỳ công siêu tuyệt. Khổ hạnh công giáo cũng đầy tư tưởng hèn nhát: cảm thấy mình tội lỗi, sắp bị án phạt, người công giáo chạy tìm đau khổ để đền tội và đợi ngày giải phóng. Khổ hạnh kiểu đó chỉ là một liều thuốc cho hạng người uất hận; không kháng cự nổi đau khổ: “khi không thể chống lại với nỗi khổ tâm, thì lỗi đó – ta phải nói trắng trợn – không do tâm hồn, mà đúng hơn do cái bụng của mình… con người cường tráng và có khả năng sẽ tiêu hóa được cái biến cố trong đời mình (kể cả hành vi và đại tội) như tiêu hóa các đồ ăn, dù nhỡ nhai phải những miếng thịt dai…” (Généalogie de la morale. Troisième issertation N∘ 16)
         Điều cốt yếu là gây bầu không khí lành mạnh, quật cường, khả dĩ giúp hạng lâm bệnh chiến thắng thái độ yếm thế để đi đến tự tín. Tắt một lời, công giáo là một thứ đạo yên ủi, người công giáo là người đi tìm yên ủi:

         “Ta có thể bảo riêng rằng công giáo là kho tàng vô tận chứa đựng những yên ủi, tinh xảo vì có sẵn những gì để bồi bổ, xoa dịu, làm mê man, vì để ủy lao, đã cả gan dùng những toa thuốc nguy hiểm và táo bạo, đạo đó có tài đánh hơi rất tinh luyện, không kém gì Á Đông, và đoán được những kích thích cần thiết trong việc cứu chữa dù chỉ tạm thời, trạng thái trầm uất, quá chán chường, bi quan của con người mà có thể bị tổn thương. Ta có thể nói, theo lệ thường, mục đích chính của những tôn giáo đại trào là chiến thắng trạng thái quá chán chường của tâm hồn đã trở nên như một bệnh truyền nhiễm” (Généalogie de la morale. Troisième issertation N∘ 17)

         Giáo hội công giáo là nơi “tập trung bệnh nhân” và lý luận của công giáo là “lý luận của kẻ kiệt sức” (Généalogie de la morale N∘ 16).

Thượng Đế
         Đề cập đến Thượng Đế, Nietzsche lại càng nóng nảy, vì siêu nhân là con người tự chủ, tự tín, tự hào, tự đắc, không ai có thể truất phế được. Nhưng Nietzsche công nhận một dân tộc cần có Thượng Đế để đại diện ý chí quật cường:

         “Một dân tộc còn tin tưởng vào mình thì còn có một Thượng Đế riêng biệt. Qua Thượng Đế đó, họ tôn sùng những ủy lạo, những đức tính đã làm cho mình chiến thắng; họ phóng vào một Đấng để có thể tri ân, những cảm giác thích thú, quật cường của họ. Giàu có thì hay làm ơn; một dân tộc hãnh diện cần có một Thượng Đế để cúng bái…
         “Trong trường hợp này, tôn giáo là hình thức của sự biết ơn. Và người ta chỉ tự biết ơn mình, vì thế cần có Thượng Đế”
(Crépuscule des idoles, l’Antichrist N∘ 16).

         Muốn có một đời sống độc lập, đầy nhân cách và cố gắng, dân tộc phải quan niệm Thượng Đế như một thù địch của con người, như một Đấng làm tăng gia bi kịch của trần thế, chứ không như một kẻ sẽ giải quyết mọi thắc mắc.

         “Người ta cần đến một Thượng Đế ác nghiệt cũng như cần đến một Thượng Đế tốt lành. Đời sống chúng ta không lệ thuộc vào khoan dung hay nhân ái. Cần gì đến một Thượng Đế không biết giận dữ, thù oán, ghen tuông, chọc ghẹo, mánh khóe hay tàn bạo? Một Thượng Đế có lẽ cũng không biết đến những say sưa của chiến thắng và hủy diệt? Người ta không hiểu Thượng Đế như vậy và làm sao có thể hiểu được?” (Crépuscule des idoles, l’Antichrist N∘ 16).

         Khi ý chí quật cường bị tê liệt, một dân tộc không thể bảo tồn được một Thượng Đế oanh liệt, vì không thể sống theo quan niệm đó nữa. Bấy giờ Thượng Đế là nơi tập trung những gì hèn nhát của dân tộc.

         “Dĩ nhiên khi một dân tộc trở nên suy nhược, khi cảm thấy không còn tin tưởng ở tương lai, không còn hy vọng vào tự do, khi biết sự phục tòng là tối cần đối với mình, khi nhân đức phục tòng ăn sâu vào lương tâm và biến thành điều kiện duy từ sinh mệnh, chính khi đó Thượng Đế của dân tộc phải biến đổi. Thượng Đế giờ đây trở nên mê tín, sợ hãi, khiêm nhượng sẽ khuyên tâm hồn ăn ở hòa nhã, xa lánh giận dữ, quyền cao chức trọng, yêu thương “thân nhân cũng như địch thù” (Crépuscule des idoles, l’Antichrist N∘ 16).

         Theo Nietzsche, cuộc biến chuyển này giúp ta nhận thấy loài người đi từ quan niệm duy lý đến quan niệm phổ thế về Thượng Đế: “không còn là hình ảnh những đặc tính cao quý mà chỉ tượng trưng cho những tật xấu, Thượng Đế trở nên phổ biến, nghĩa là thu hút được những hạng hèn nhát của mọi giai cấp, của mọi nước, mọi màu da. Đồng thời, vì hờn dỗi, hạng này đã “ma quỷ hóa”, đã đánh giảm giá các Thượng Đế mà họ chối bỏ, cho là những thần loạn luân”.
         Và chính đây là nguồn gốc Thượng Đế công giáo, một thứ Thượng Đế bị giải giáp, bị tước lột tất cả những gì hùng dũng, nên đâm ra nhu nhược, thoái hóa, “mối hy vọng của kẻ sắp chết đuối”. Nhân danh Thượng Đế đó, công giáo đã phản đối bản tính tự nhiên cũng như ý chí quyết sống của nhân loại! Vì thế, có thể bảo “trong mọi tôn giáo tích cực, hư vô được gọi là Thượng Đế”.

Bình đẳng?
         Là lý tưởng dành riêng cho người hèn nhát, nên công giáo là đạo của quần chúng của “đoàn lũ” (troupeau), mà đạo đó chủ trương ngang hàng với người cương cường. Nietzsche tức giận trước lập luận “linh hồn bình đẳng”.

         “Điều mà tôi không thích ở Giêsu hay ở đồ đệ của y, Phaolô, là chúng nhồi sọ bọn hạ cấp, để ta có thể tưởng rằng những nhân đức khiêm nhượng của hạng này cũng có giá trị. Chúng ta phải bắt chúng trả một giá rất đắt, vì chúng đã khinh miệt những đức tính cao quý nhất của con người…
         “Những nhân đức đê tiện của bầy súc vật không đưa đến đời sống vĩnh cửu: đưa nhân đức đó lên sân khấu và phô trương chính mình ra, thì có lẽ là rất khôn khéo, nhưng đối với con người tỉnh thức, đó chỉ là một vở kịch cực kỳ lố bịch. Dưới thế cũng như trên thiên cung, ta không thể có một công đức nào, nếu ta cứ hết sức hiền lành, êm dịu như bầy cừu. Ta vẫn chỉ là con cừu ngoan ngoãn, với cặp sừng mà thôi, nếu ta không quá ngạo mạn, khoe khoang hay nêu gương xấu bằng thái độ quan tòa của ta”
(Volonté de puissance N∘ 116-117).

         Nietzsche lại càng phẫn uất, chửi bới thậm tệ, khi thấy công giáo giải quyết các nỗi băn khoăn, các điều khó hiểu:

         “Tiếp xúc với Tân Ước, ta không thể không cảm thấy một nỗi khó chịu khôn tả. Vì thái độ xấc láo của hạng hạ nhân muốn tỏ bày ý kiến mình về những vấn đề quan trọng, muốn làm quan tòa để xét xử các vấn đề đó… thật là quá mức; cũng như cách giải quyết về những vấn đề (đời sống, vũ trụ, Thượng Đế, cứu cánh cuộc đời) thật là nông cạn và vô liêm sĩ, vì hạng mê tín không biết gì đến những vấn đề đó và ngay cả những điều tối sơ chúng cũng chẳng hay” (Volonté de puissance N∘ 122).

Công giáo và sự sống
         Nhân danh phẩm giá con người, công giáo cấm hy sinh cá nhân cho giống nòi, và nhân danh từ bi bác ái, công giáo bênh vực bọn tật nguyền. Nietzsche không cầm được bực tức: “Xã hội được ủy nhiệm bảo vệ sinh mệnh thì cũng có trách nhiệm đối với đời sống nào tỏ ra thất bại; xã hội cũng đau đớn về đời sống đó nên phải ngăn cản. Trong nhiều trường hợp, xã hội phải cấm sự sinh nở: xã hội có thể tự dành cho mình những phương tiện hữu hiệu nhất để cấm sản sinh, và ở nhiều trường hợp để thiến… Lời ngăn cấm của Thánh Kinh “Mi không được giết ai” thật là ngây thơ, bên lệnh trang nghiêm buộc bọn thoái hóa phải tuân giữ: “chúng bây không được sản sinh”. Ngay chính sự sống cũng không công nhận bộ phận lành mạnh và bộ phận hư hỏng liên đới với nhau, hay có quyền bằng nhau: phải giảm bớt bộ phận hư hỏng, nếu không, toàn cơ thể sẽ bị tiêu diệt” (Volonté de puissance N∘ 229).

Bản tuyên án
         Chung quy, đạo công giáo đã xúc phạm đến sự sống, đã cố hành động không cho siêu nhân xuất hiện. Và siêu nhân có xuất hiện thì cũng tìm cách cho nó thất tín. Nietzsche như thét lên:

         “Tôi kết thúc ở đây và tuyên bố lời phê phán của tôi. Tôi quy tội công giáo, tôi buộc tội Giáo hội công giáo một cách rất nặng, mà từ trước đến nay chưa từng ai lên tiếng. Giáo hội công giáo là tổ chức vĩ đại nhất để làm hoại phong tục ngoài sức tưởng tượng. Giáo hội công giáo đã có dụng tâm làm lung lạc mọi sự. Giáo hội công giáo không trừ một nơi nào mà không len lỏi vào để bành trướng hành động bại hoại, đã đảo lộn các giá trị, đã làm cho chân lý trở nên giả dối, thanh liêm trở nên hèn nhát. Đừng ai dám nói với tôi về những công việc nhân đạo của nó! Hủy diệt khổ cực là trái với chủ nghĩa vụ lợi vô cùng thầm kín của nó; nó sống bằng khổ cực, nó tạo nên khổ cực để sống lâu dài… Tội lỗi chẳng hạn, là một khổ cực – mà Giáo hội đã làm giàu cho nhân loại. Chủ trương mọi tâm hồn bình đẳng trước Thượng Đế là một lầm lỗi, là một cớ để giận dữ nhau một cách đê tiện, là một tư tưởng cách mạng dần dần trở nên tư tưởng cận đại, là nguyên tắc làm thoái hóa trật tự xã hội, là cốt mìn của đạo công giáo…
         “Tôi muốn viết lên tường vách, đâu đâu có tường vách, tôi cũng viết lên lời buộc tội muôn đời công giáo – tôi có những chữ có thể làm cho người mù trông thấy. Tôi gọi công giáo là tai họa độc nhất, lớn nhất, là tổ chức độc nhất lớn nhất làm suy đồi nhân tâm; với một bản năng oán hận độc nhất, lớn nhất, nó không lùi bước trước những phương tiện hiểm độc, thầm kín, thấp hèn; tôi gọi công giáo là tổ chức độc nhất làm sỉ nhục muôn đời nhân loại.
         “Và ta đo lường thời gian từ ngày công giáo xuất hiện, từ cái ngày bất hạnh đó. Sao ta lại không đo lường thời gian từ ngày đạo đó tiêu diệt? Giờ đây, mọi giá trị đảo lộn!”
(Crépuscule des idoles, l’Antichrist N∘ 62).


¤

         Con của một vị mục sư Thệ Phản, trưởng thành, Nietzsche rứt bỏ mọi tín ngưỡng để theo “sứ mệnh” của mình. Sứ mệnh mệnh đó có thể tóm tắt: “Mi hãy bành trướng bản ngã của mi một cách có hệ thống, cho đến cực độ, không nhu nhược!” Bành trướng đến cực độ tức là dần dần thần thánh hóa bản ngã rồi hủy diệt Thượng Đế để thay vào đó chính bản ngã của mình.
         Muốn sát hại Thượng Đế, tất nhiên phải tiêu trừ tôn giáo của Ngài. Nietzsche đứng lên phản đối văn minh và văn hóa thế kỷ thứ 19, cho là “hư vô”, vì thấm nhuần công giáo, một thứ đạo do dân Do Thái tạo nên.
         Muốn phi bác, tất nhiên phải trình bày lại tất cả lý thuyết công giáo mà Nietzsche đã nhìn thấy dưới những hình thức xuyên tạc của một thế kỷ. Không một người công giáo nào, không một nhà tâm linh nào lại không cảm thấy lý lẽ của Nietzsche là một phỉ báng, vũ nhục.

Giá trị của Nietzsche
         Bảo lý thuyết của Nietzsche hoàn toàn sai lạc, là điều quá đáng. Người công giáo ngày nay vẫn còn có thể lơi dụng Nietzsche, ít ra một cách tiêu cực: Nietzsche vạch rõ những điểm mà lý tưởng công giáo phải tránh. Đọc Nietzsche có cái hay là giúp người công giáo phản ứng lại, ý thức được khuynh hướng nguy hiểm trong thâm tâm mỗi người, tức khuynh hướng hạ thấp theo tầm vóc kích thước của ta lý tưởng cao cả mà đáng lẽ người công giáo phải vươn đến, trong khi họ vẫn giữ nguyên danh từ hay công thức cũ của lý tưởng đó. Nietzsche còn làm cho người công giáo lưu tâm đến một xuyên tạc chẳng những có thể xẩy ra, mà lại là một xuyên tạc thông thường, nếu không chống đối lại: người công giáo hay biện hộ cho những yếu đuối, hèn nhát của mình và khoác cho chúng những danh từ nhân đức giả mạo.
         Nietzsche chỉ trích công giáo đã dụ dỗ, mê hoặc lòng người. Đây cũng là một cám dỗ tự nhiên: ta thường chạy đến những người khốn khổ bần cùng, thất bại, chán chường, tuyệt vọng để thuyết pháp họ để nói với họ về tôn giáo, như một hy vọng, tia sáng trong đen tối. Theo lý thuyết công giáo những đau thương đó là một dịp, một “ơn trên” giúp nạn nhân trấn tỉnh tâm hồn, nhận chân giá trị cuộc đời, cảm thấy vẻ hào nhoáng giả dối của danh vọng trần gian, để ăn năn sám hối. Nhưng không vì thế mà lại giới thiệu tôn giáo như một nơi trú ẩn, một nguồn an ủi. Cần hiểu công giáo có một lý tưởng cao quý, đòi hỏi những cố gắng liên tục; giáo dân không phải là một con người suy giảm, hèn nhát, an phận thủ thường. Công giáo không phải là nơi để người ta gác bỏ mọi trách nhiệm, mà trái lại giúp người ta mở rộng nhãn giới. Thượng Đế là Đấng trợ lực, nhưng giúp đỡ của Thượng Đế vẫn tùy cố gắng của người ta là đúng hơn, Thượng Đế giúp người ta cố gắng trước hết.
         Công giáo có mục đích thăng hoa con người, kêu gọi con người sống theo đời sống của Thượng Đế trong thế giới hiện hữu Giáo dân buộc phải luôn luôn cải tạo thế giới, canh tân mọi tổ chức xã hội, sao cho thế giới một phần nào phản ảnh được thiên cung. Lý tưởng đó phải là một lý tưởng anh hùng; con người phải vượt quá con người: vượt quá không nghĩa là giảm yếu, mà làm cho con người lướt thắng chính mình.
         Hiểu nhầm bài rao giảng của Chúa Giêsu vế “Tám mối phúc”, người ta đã đề ra một tôn giáo đầy khóc lóc, nhu nhược, tạo nên một thứ đạo đức nhạt nhẽo, yếu đuối, những ca vịnh lãng mạn, ru ngủ đầy cảm tình đức tính khôn ngoan, chẳng hạn, ngày nay trở nên đồng nghĩa với dè dặt, bảo thủ, hay xảo quyệt, trong khi nó phải là nhận định quá khứ và hiện tại để quyết hướng về tương lai. Vì thế trong óc nhiều người, công giáo đi đôi với thủ cựu. Chậm tiến vì một tư tưởng không phải là một nhân đức!
         Mareel Légaut trong Prières d’un croyant đã can đảm nhận định: “Thưa Chúa, Chúa đã phán: “Hãy đến cùng Ta những ai đau khổ và gánh nặng. Ta sẽ cứu giúp”. Chúng đã đến và với chúng cả đoàn người mà thế gian đã làm cho thất vọng vì thế gian không biết làm thỏa mãn những nguyện vọng rất hữu hạn của chúng. Đó là hạng đa tình đang theo đuổi một tình yêu đắm say mà không thể bắt được; hạng chán nản đang tìm ở tôn giáo một nguồn an ủi mới; hạng nhát gan đang cố bám vào một tổ chức để nương tựa; hạng nhu nhược, dốt nát vì thấy ở tôn giáo một bảo đảm cho đời sống mình, trong khi các nơi khác đều khước từ. Thưa Chúa, chúng đến từ bốn phương trời, chúng là những bệnh nhân khao khát sức khỏe, mà sức khỏe đó không phải là sức khỏe Chúa muốn cho chúng… Những lời của Chúa rơi vào tai chúng… và mỗi người tìm thấy trong lời Chúa sự kết án những gì mà mình bí mật ghen ganh. Chúng phấn khởi trước những lời mà xem ra miệt thị những gì mà chúng không có thể hay không có gan đạt đến. Đó là sự đề cao những gì nghèo nàn, bé nhỏ, hèn yếu, tầm thường. Tâm hồn khi bị thương tích, lại đánh hạ tín ngưỡng xuống theo tầm vóc của mình… xa lánh sự đời đầy hà khắc, dũng cảm, họ thấy trong những lễ nghi, phụng vụ tôn giáo, trong sư tiến bước đều đều của những tập quán đạo đức, một thế giới mới vui vẻ hơn thế giới trên, một thế giới mà họ được kính trọng hơn… Tất cả đều thành thực lầm lẫn yếu đuối với hèn nhát, khiêm nhường với tầm thường, hiền lành với nhát gan. Không để ý đến nghĩa chúng chỉ để ý đến chữ, đến cái vỏ Phúc Âm, và cái vỏ đó đối với chúng là cực kỳ thánh thiện, vì có vẻ lên án những nguyện vọng chính đáng nhất của một nhân loại sống không cần chúng” (trang 245).
         “Hãy trọn lành như Cha Ta trên trời! Ai muốn theo Ta thì phải mang thập giá với Ta!” Những lời này của Chúa Giêsu nói cho tất cả mọi người, chứ không cho một thiểu số, và tố cáo những hạnh phúc hạ giá, những an ủi quá dễ dãi. Duy những người có nghị lực mới chiếm giữ được thiên đường.
         Ngày nay, muốn dành giựt thế giới khỏi tay những người say mê thuyết Nietzsche, muốn có trong hàng ngũ mình những tâm hồn ưu tú, muốn trở nên mạch sống cho nhân loại, công giáo phải được trình bày theo đúng ý nghĩa của nó, ý nghĩa toàn vẹn, ý nghĩa nỗ lực, anh hùng. “Rút lui về vị trí đã được định trước”, như theo thông cáo quân sự Pháp thời đại chiến thứ hai, sẽ làm cho thanh niên chán chường.
         Không vì những hạng tầm thường đang sống ngoi ngóp dưới bóng tôn giáo mà ta phải hy sinh hạng ưu tú: như thế, trước sau hạng ưu tú cũng sẽ trở nên tầm thường, và tôn giáo mất hết nhuệ khí. Ngược lại, vì hạng ưu tú mà ta phải hy sinh hạng tầm thường, hay đúng hơn, ta phải dìu dắt hạng tầm thường theo gương anh hùng liệt sĩ.
         Hạng ưu tú công giáo khác hẳn hạng siêu nhân, Nietzsche đòi hỏi ở siêu nhân nhiều đức tính đáng ngại: để kích thích con người, Nietzsche cần đến bản năng thú vật hòng đương đầu với kẻ khác và chính mình. Muốn tránh những mầm mống có thể đưa đến nhu nhược, siêu nhân mất cả nhân tính và cuối đời, Nietzsche cũng trở nên điên dại.
         Vị thánh trong công giáo không hy sinh đức tính này cho đức tính khác, không vì muốn đề cao chí khí anh hùng mà lại miệt thị tình âu yếm, lòng thương xót cảnh cùng cực của tha nhân. Phải chăng vị thánh công giáo đã giữ được “thế quân bình”? Danh từ này, cũng như danh từ “trung dung, trung hòa” có thể làm cho ta rơi vào lầm lỗi mà Nietzsche đã cảnh cáo, vì có thể gợi ra cảnh lặng lẽ, bình tĩnh, trưởng giả, nhàn rỗi, dù sự thực thế quân bình là một thế linh động, khó khăn gấp mấy châm ngôn của Nietzsche: “Phải sống một cách nguy hiểm!”
         Vị thánh phải có những đức tính siêu việt hình như tương khắc: “Tôi không tán thưởng một nhân đức đã đi đến quá độ, cũng như một giá trị, nếu tôi không thấy nhân đức trái ngược nó cũng đã đi đến quá độ, chẳng hạn Ê-pa-mi-non-đát (Epaminondas) vừa rất mực dũng chiến vừa rất mực nhân từ. Nếu không như thế, thì không phải là đi lên, mà là đi xuống. Muốn biểu dương đức cao cả của mình, không phải chỉ đưa đức tính đến cực điểm, mà còn phải đưa đức tính trái ngược đến cực điểm nữa, đồng thời quãng giữa hai cực điểm đó, phải được bù đắp lại” (Pascal, Pensées, section 6 N∘ 253).
         Anh hùng của Nietzsche trở nên siêu nhân thì thành bất nhân.
         Anh hùng của công giáo trở nên thánh thiện mà vẫn giữ được đức ái nhân.


¤

         Cái bất nhân của Nietzsche đã được biểu lộ sau này với những hiệu quả tai hại của nó.

Những hiệu quả tai hại của Nietzsche
         Độc tài fát-xít (mối tương giao giữa các nước chỉ có thể căn cứ vào võ lực: lời của Mussolini), chủ nghĩa Đức quốc xã của Hít-le, hay… đều dựa vào thuyết Nietzsche, và ta đã thấy rõ hiểm họa của các chế độ đó.
         Giờ đây, vụ án Adolf Eichmnn làm cho ta nhớ đến những “cuộc ngăn cấm sản sinh”, diệt trừ một giống nòi mệnh danh là hèn nhát, nô lệ, những trại giam nhốt con người như “bầy súc vật”: bốn triệu Do Thái bỏ mình ở các trại tập trung, hai triệu bị bắn ở Nga, tức sáu triệu đã phải hy sinh để Hít-le có thể sản xuất hạng siêu nhân, có khí huyết thuần túy A-riêng. Mỗi ngày trung bình mười hai đến mười lăm ngàn người bị đẩy vào lò sát sinh để bị hơi độc giết chết, rồi đốt cháy, mỡ thu thập lại dùng làm xà phòng, nhớt máy… Auschwitz, Maidnek, Treblinka, Belzek, hay Buchenwal… những danh từ rùng rợn nói lên tất cả những gì khủng khiếp nhất trong trận chiến vừa qua, và lên án siêu nhân và lời quyết đáp của Nietzsche “Xã hội có thể dành cho mình những phương tiện hữu hiệu nhất để cấm sản sinh…”


NGUYỄN ANH LINH

_________________________________________
(1) Hoàng Xuân Nhị, trong bản dịch Chinh Phụ Ngâm ra tiếng Pháp. Phần nhật ký.
(2) Dựa theo những đoạn trích dịch về Nietzsche của Yves de Montchenil, Mélanges théologiques.


BÁCH KHOA |  SỐ 92

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #597 vào: 23/02/2019, 11:10:54 »


                          Âm hưởng

               CÓ nghe bút trúc nhủ hoa tiên
               Nghe ánh thời gian động mắt huyền
               Nghe ngả đường trăng mai trước ngõ
               Nghe dồn nhịp nắng liễu bên hiên
               Nghe hồn du tử say mây nước
               Nghe ý ly nhân hận ước nguyền
               Nghe cả mùa xuân lên khúc dạo
               Muôn ngàn âm hưởng đã giao duyên


                                              BÙI KHÁNH ĐẢN



BÁCH KHOA |  SỐ 92

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #598 vào: 23/02/2019, 21:16:09 »


Đồi xa
000
ĐỒI xa heo hút thu phong
Sương ôm hoang vắng, mây vòng quạnh hiu
Vàng rơi… loang lổ tiêu điều
Nghe buồn nức nở giữa chiều bao la…
Một mình em một mình ta
Rừng xanh đáy mắt, tay ngà run cây
Tình yêu trốn giữa nơi nầy
Môi ngon cỏ lạ, má đầy hoa thơm
Ngất ngây hình bóng chập chờn
Đèn cao hút gió, đưa hồn phiêu diêu…

                          HUY LỰC



BÁCH KHOA |  SỐ 92

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #599 vào: 24/02/2019, 11:52:03 »


                               Hòa hợp

            HOA rực nắng mắt ngây lòng nhuộm thắm
            Muốn niềm vui bén nhị giục trao hương
            Cảnh nhiễm tình trong nhựa hợp ngoài sương
            Cùng thấm đậm để hồng non mở cánh.

            Đàn xa vẳng điệu sầu rung bóng lá
            Thoảng trời khuya sao lặn giấc mơ tan
            Âm ngân thanh gợn sóng lướt qua màn
            Ta, gió, nhạc với thời gian hiu hắt…

            Bên song vắng trăng hiền soi dáng ngọc
            Tay ấp tay, nghe mạch sống giao hòa
            Trong hư không còn lại có đôi ta
            Phút tương ứng, biết mình cho hay lấy?

            Trốn minh bạch, quãng biên thùy thực mộng
            Thả giác quan chờ đợi chút say mê
            Cõi du dương, dìu dặt bước đi về
            Trút bản ngã, nhập sắc hình thân mến.


                                                      ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 92