Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 57093 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #675 vào: 13/04/2019, 11:03:32 »


                   Gió nhẹ trăng non

               ĐÂY chút tơ tầm trả nghĩa dâu
               Đem lòng người trước gởi người sau
               Mong làm gió nhẹ qua hiên gác
               Luống thẹn trăng non xế mái lầu
               Ai xót Thanh Liên bờ Thái Thạch
               Ta sầu Đỗ Mục đất Dương Châu
               Đêm đêm đọc lại dòng thơ cũ
               Có thấy tâm tình gặp gỡ nhau


                                     BÙI KHÁNH ĐẢN
                                     (tự đề Đường thi trích dịch)



                                            Thử tài Lý Đỗ

                                       CHỚP mắt tàn theo mấy bể dâu
                                       Nghìn xưa còn sống với nghìn sau
                                       Thời gian mực xóa bờ kim cổ
                                       Hồn mộng thơ xây nếp thấu lầu
                                       Đàn sắt dặt dìu ca vũ địa
                                       Vàng son lộng lẫy đế vương châu
                                       Đâu là Lý Đỗ đâu Bùi Đỗ
                                       Khéo trộn vào nhau cho lẫn nhau


                                                              ĐÔNG HỒ
                                                              (họa đề Đường thi trích dịch)




BÁCH KHOA |  SỐ 100

« Sửa lần cuối: 13/04/2019, 19:08:46 gửi bởi nduytai »
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #676 vào: 13/04/2019, 22:29:32 »


                   Vàng reo ngọc đọng

               XIN giữ nguyên trinh ý tháp ngà
               Thơ thời nay hiện bút thời qua
               Một chiều khói sóng mơ Hoàng Hạc
               Hai ngả mây trời lạnh Bích Sa
               Giấc tỉnh nghe vàng reo gió sớm
               Lòng say thấy ngọc đọng trăng tà
               Nghìn sau trên những dòng tâm sự
               Còn thoảng hương thần vĩnh viễn hoa


                                     BÙI KHÁNH ĐẢN
                                     (tự đề Đường thi trích dịch)



                                          So giá Thịnh đường

                                          MEN thơ dâng ý rượu ngà ngà
                                          Đất rượu trời thơ mở nẻo qua
                                          Đài Phượng chim ca quanh án sách
                                          Đình trầm hương tỏa ngát song sa
                                          Bút đầu ngọn thỏ sương về tối
                                          Nghiên mực ao son nắng quái tà
                                          Chuông khánh Thịnh đường ti trúc Việt
                                          Cổ kim nô nức hội tài hoa


                                                              ĐÔNG HỒ
                                                              (họa đề Đường thi trích dịch)




BÁCH KHOA |  SỐ 100

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #677 vào: 14/04/2019, 08:46:06 »


                 Khúc hát mùa xuân
                                         Cho các em Bé Nhỏ

               ĐỒI xuân phơi mình trong nắng
               Lung linh gió mới thơm nồng…

               Lá vuốt ve nhau mừng gió
               Cỏ ôm nhau múa trên đồi
               Nhạc chim vang lừng vi vút
               Dặt dìu ai hát chơi vơi…

               Ai hát? Đàn em Bé Nhỏ
               Miệng còn thơm sữa hây hây
               – Nắng lên cho đào mau chín
               Nắng lên cho má em đầy!

               Tay nắm tay nhau tìm bướm
               Như bầy nga trắng đi ăn
               – Bướm ơi xin đừng bay nhé
               Cùng em vui dưới trời xuân…

               Hoa bướm nghiêng nghiêng cùng hát
               Trần gian ngợp sóng âm thanh
               Khói sương la đà xao xuyến…
               Mây hồng ngậm lá mong manh

               Tay nắm tay nhau cùng múa
               Như bầy nga trắng sang sông
               Dưới khe ta ngồi như chết
               Giả làm tảng đá bâng khuâng…

               Đồi xuân phơi mình trong nắng
               Lung linh gió mới thơm nồng…


                                             DU DU TỬ
                                             (Thời gian)




BÁCH KHOA |  SỐ 100

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #678 vào: 14/04/2019, 21:53:36 »


              Rơi vỡ bình hương

               TRỜI mơ sụp đổ
               Mộng thắm tan tành
               Vàng son rớt ánh lung linh
               Lạnh nghe vụn nát hương bình đượm say

               Ngó rỗng đôi bàn tay
               Ngơ ngẩn
               Gieo lạc đôi chân bước
               Rã rời
               Héo động đôi môi
               Tiếng vàng tắt lặng chuỗi lời yêu thương

               Xa đâu một thuở
               Gió hồng vương vương
               Hương dâng ngát ngát
               Tình đôi ta dào dạt chảy vô bờ

               Tỉnh giấc say mơ
               Đất trời xơ xác
               Nghe dâng thê thiết niềm tan tác
               Tay lòng buông rơi cái lạnh hờ


                                     NGUYỄN HỮU HIẾU



BÁCH KHOA |  SỐ 100

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #679 vào: 15/04/2019, 21:55:37 »


Vượt thác

KHI TIẾNG NƯỚC réo sôi trong chiếc ấm đồng dịu dần cùng với ngọn lửa lụi tàn, ông Tư Mễ nghe thêm rõ tiếng thác ào ào dội xuống lòng sông. Ông ngước nhìn gã con trai đang nằm chèo queo trên chiếc bè tre cắm ở ven bờ và hướng về phía quãng sông tỏa khói mờ mịt, thấp thoáng ẩn hiện những ghềnh đá lớn nhấp nhô.
         Ánh sáng thay dần từ màu tái nhạt sang màu vàng tươi, ngọn cây trên các đỉnh núi quanh vùng như cháy rực lên trong buổi hừng đông chỗi dậy vội vàng. Cảnh sống âm thầm của khoảng rừng núi bao la nhường bước cho sự nhộn nhịp khi ngày trở lại. Ông Tư Mễ yên lặng ngồi nghe tiếng chim quen thuộc vọng đến từ các bờ cây, hốc đá, từ tiếng bìm bịp đột ngột trở canh, đến tiếng chèo bẻo sắc sảo chào đón mặt trời, những tiếng bù-chao, chắc-hoạch rộn ràng trong những bụi lùm. Những tiếng chim ấy lần lượt tiếp nhau theo một thứ tự thời gian gần như cố định của chốn sinh hoạt hoang vu, khiến ông Tư Mễ thoáng có cảm tưởng rằng bao năm tháng trôi qua trên quãng đời mình không có chút gì thay đổi.
         Ông giở nắp ấm, đặt vội xuống mớ lá khô dồn lại xế chiều ngày qua ở bên bờ sông, và cúi mái đầu bạc xuống để nhờ hơi nước từ trong lòng ấm bốc lên xông cho sáng tỏ đôi mắt già nua. Ông ngửi thấy mùi nồng chát của vị chè tươi và tìm lại sự xúc động khoan khoái quen thuộc hằng ngày.
         Ông rót chè ra chiếc bát sành khá lớn, tay nâng ấm nước cao lên cho chè sủi bọt ở trong lòng bát. Qua vòi nước tuôn dài, ông Tư nghĩ đến những dòng thác lớn, cao vọi, đã từng vượt qua, một nỗi kiêu hãnh pha lẫn ít nhiều xót xa làm cho bàn tay của ông run rẩy nhẹ nhàng suýt làm bắn tung chè ra vành bát.
         Đặt chiếc ấm xuống hai tảng đá nhỏ kê làm bếp nấu, ông Tư xòe hai bàn tay gầy gò hằn những đường gân to lớn hong trên miệng bát, ngồi chờ nước nguội.
         Người con trai của ông Tư vẫn chưa chịu dậy. Bây giờ gã đã quay đầu về phía bờ sông để tránh ánh nắng sáng lòa giữa dòng chiếu hắt ngược lên. Gã nằm nghiêng, hai chân co lại kẹp lấy đôi tay, đầu hơi ngước về phía sau khiến cho cổ gã dài ra và vẻ mặt gã càng thêm thiểu não. Cái mền đã cũ bị gã đạp dồn xuống dưới chót cùng của tấm chiếu lát sờn mòn, một chéo tung ra thành bè chực rơi xuống nước.
         Ông Tư nhiều lần muốn gọi con dậy nhưng nhìn cặp mắt nhắm nghiền và hơi thở nhẹ phì phò đều đặn qua hai manh áo vải nâu che trên lồng ngục ốm o, ông lại cố nán chờ đợi. Tự nhiên, ông Tư cảm thấy một nỗi cô độc lạ lùng bao phủ lấy mình. Hầu như núi rừng, chìm muông, dòng sông lờ đờ trước mặt, tiếng thác rì rào đàng xa, và người con lớn của ông đang nằm im lìm mê mệt, tất cả đều thuộc về một cõi khác, mỗi lúc rời xa hẳn ông, không còn quan hệ với ông như trước. Ông đưa hai tay vuốt lấy mặt mình, thấy bàn tay chai đá cọ sát vào những nếp nhăn như chạm vào một thân cây cằn cỗi. Ông cất tiếng kêu:
         ― Cả Hộ! Người con trai ngả đầu tới, vẻ mặt đột nhiên tỉnh táo như vừa bừng dậy sau cơn suy tưởng, cặp mắt mở nhìn chòng chọc về phía bếp lửa đã tàn.
         ― Dậy con! Trưa hung rồi đó. Uống một bát nước chè nóng rồi cha con mình xuôi thôi. Qua khỏi ngọn thác, ta sẽ thổi cơm ở ngõ Suối Dài.
         Ông Tư tránh nhìn vào mặt con mình, vừa nói vừa cúi rót phần chè tươi còn lại trong ấm vào chiếc bát sành. Cả Hộ chậm rãi ngồi dậy, thừ người một lát để nhìn cái bóng của mình chiếu dài xuống nước với mớ tóc bù, rồi uể oải bò lại chỗ sợi mây neo bè vào một gốc cây, ì ạch kéo mạnh cho bè đậu sát bờ sông. Những người đi bè trong lúc về đêm phải ngủ xa bờ để tránh thú dữ và chỉ có những trường hợp hết sức đặc biệt mới gặp những con hổ đói phiêu lưu dám lội xuống nước tìm mồi. Gã đứng lên loạng choạng ở trên mạn bè chòng chành đùa nước bì bọp ven bờ, rồi nhảy một bước nặng nề lên bãi.


▪ ▪ ▪

         Ông Tư đợi con uống từng ngụm cho cạn bát nước, mới cất giọng nói khàn khàn cố gắng cho được ngọt ngào:
         ― Cả à, tuổi tao năm nay là sáu mươi hai rồi đó. Sáu mươi hai tuổi cũng chưa phải già nhưng hồi trẻ tao cực quá đỗi, phải đi phụ bè từ lúc mười lăm cho đến năm ba mươi tuổi mới đủ số vốn buôn riêng một mình. Từ ấy đến nay lên thác xuống ghềnh trang trải bao nhiêu nợ nần của ông nội mày, rồi còn mua đất, mua vườn, dựng nhà, dựng cửa, nuôi cho chúng mày khôn lớn, làm sao mà không suy mòn cho được? Bây giờ tao biết mình yếu lắm rồi. Chống bè qua vài ngọn thác đã thấy bải hoải chân tay. Ngồi suốt cả ngày dưới nắng, tối đến là không ngủ được. Nhưng tre tàn thì măng mọc, tao còn trông cậy ở mày. Đôi khi tao muốn nghỉ hẳn nghề này để mày ăn học rồi theo nghề khác nhưng mà tính thế không xong. Em mày thì đông, mẹ mày thì già, khó lòng để mày ngồi yên trên ghế nhà trường. Chỉ có con cái những nhà có của mới tính cái việc ăn học lâu dài. Nhà nghèo mà học như mày, tao tưởng cũng nhiều rồi đó. Với lại cái nghề đã nuôi gần trọn đời tao, đã gây dựng nên gia nghiệp của mình, bỏ đi sao được? Mình mua tận gốc, mình bán tận ngọn, sống cảnh trên trời, dưới nước, chẳng ai ràng buộc chi mình. Kể chi nỗi khổ dọc đường qua mấy thác ghềnh? Mày xem, có cái nghề gì mà không khổ sở gian nan? Nghề gì rồi cũng có thác, có ghềnh, Cả à. Đừng có sợ khó mà hư con người. Tao thấy cái cảnh ăn không ngồi rồi là hại một đời, đó Cả.
         Giờ chỉ có mày là lớn, rán mà chèo chống nuôi lũ em mày. Có tao chỉ dẫn cho mày đường đi nước bước, một năm hai năm là thành thạo rồi. Chừng đó tao có chết đi thì cũng yên lòng. Nếu trời cho tao còn sống thì cũng vui vẻ cảnh già với lũ cháu con. Vậy mà qua thác Kha-Li rồi thác Bà-Chầu mày cứ đòi băng ngõ núi không chịu cùng tao ngồi bè vượt thác là cớ làm sao? Đâu có vậy được. Đi bè phải giữ lấy bè, chết sống với bè mới được. Nhưng nghĩ mà coi, có gì là khó lắm đâu? Mười lăm tuổi đầu tao đã vượt thác rồi đó. Nay đã già rồi, cũng chẳng kể gì nữa đó. Tuổi Tị của mày năm nay là hai mươi mốt, à, hai mươi hai, chớ có ít ỏi gì đâu! Thôi đi, Cả à, mày cứ chịu khó một chút là xong hết cả, vượt được một thác thì bao nhiêu thác cũng coi là thường. Ra đến giữa dòng mày chỉ bám chặt xuống bè, khi bè lao theo ngọn thác thì mày cố nín hơi thở, cứ nhắm mắt lại, bè chìm xuống lòng hố sâu rồi theo dòng nước đẩy luôn mà trồi lên giữa mặt sông. Chỉ trong chốc lát, thế là thoát rồi.
         Cả Hộ vẫn ngồi chăm chăm nhìn ra mặt sông, không nói năng gì. Ông Tư đứng lên, gài khuy áo ở trên lồng ngực, kéo hai ống quần xếch lên cho gọn, rồi bảo:
         ― Đi con, cha chỉ có con là lớn, phải biết nghe lời. Vượt thác đôi lần rồi con lại thèm, lại nhớ cho coi. Đi trên con sông bằng phẳng nó buồn chán lắm, mình không thấy được tài sức của mình. Thác ghềnh nguy hiểm bao nhiêu con người cũng vượt như chơi. Cha nghĩ, cái gì rồi người cũng chống chỏi được. Cả à. Bây giờ chỉ còn có mỗi một cái thác này là gần như xong con đường rồi đó. Thác Mang-Mang này chảy mạnh hơn thác Bà-Chầu, hơn thác Ka-Li, nhưng chảy càng mạnh thì qua càng mau, thoáng chốc là vượt xong rồi. Ở trong gian nguy không phải chỉ toàn có những cái khổ hành hạ con người, đừng nên nghĩ thế mà lầm. Chận được cái nguy, cái nguy nó đẩy mình lên, vui lắm đó Cả. Vượt một cái thác chẳng qua như uống bát nước chè nóng vậy thôi. Thế mà bỏ thác leo quanh bờ núi có khi mất nửa ngày trời. Đứng lên, con à, gói chặt đồ đạc cột kỹ vào bè, rồi cha con mình xuôi sớm. Có ướt bao nhiêu chẳng sợ. Tới ngõ Suối-Dài đem ra phơi phong ngoài bãi, chốc lát là ráo khô rồi. Đi với cha đây, không có gì phải ngại. Bình tĩnh một chút mà thôi.
         Ông Tư úp cái bát sành lên trên nắp ấm rồi đem xuống bè. Cả Hộ quay người nhìn quãng núi rừng trùng điệp ở sau lưng mình rồi chống hai tay lên gối đứng dậy. Gã bước nhè nhẹ lại phía bờ sông, liếc nhìn rất nhanh ra phía ghềnh đá lô nhô giữa dòng, lưỡng lự giây lát trước khi bước xuống. Gã đứng chập choạng giữ lấy thăng bằng trên những thân tre chao đảo rồi ngồi phịch xuống quờ tay gói những chăn chiếu bỏ vào một cái bầu nhỏ trát chai kỹ lưỡng. Ông Tư cầm chiếc sào dài đứng ở cuối bè nhìn về quãng sông trước mặt nhưng vẫn chú ý theo dõi cử chỉ của con. Giây phút im lặng kéo dài và tiếng thác nước tưởng như vang dội mãnh liệt khác với ngày thường.
         ― Cả à, ta đi quãng sông này gần năm mươi năm rồi đó. Ta quen thuộc nó hơn quen nhà cửa của mình. Mỗi một cái ghềnh, mỗi một bờ đá ta nhớ như in, như khắc trong đầu. Ta rõ lòng sông hiểm trở hơn rõ lòng người nhiều lắm. Con chưa thấy khi nước lụt tràn về, dòng sông lên cao ngập cả ngọn tre ven bờ kia lận. Nhìn về phía trước ở bên tay trái mà xem. Có thấy rều rác bám trên những ngọn là-ngà đó không? Đã ba bốn tháng qua rồi mà dấu mực nước vẫn còn, bây giờ mình đi trong con nước dịu, thiệt là dễ dàng không biết chừng nào. Lòng sông nó còn hiền lành hơn cả lòng dạ nhiều người ở chốn phố phường nữa đó. Nó nuôi sống mình, và cũng như loài thú dữ chỉ hóa hung ác khi mình sợ chúng mà thôi. Đừng sợ, Cả à, ta đã già rồi, yếu rồi, chỉ còn trông cậy ở mỗi mình con. Mở cái dây neo rồi con lấy cây sào chống. Ra đến giữa dòng trên thác thì con cứ ngồi cho vững, để đó mặc ta.
         Cả Hộ tháo sợi dây mây cột bè và ném xuống nước. Gã nghe lời cha một cách lạnh lùng, vẻ mặt lầm lì như mải đăm chiêu theo một ý nghĩ bận rộn bên trong. Ngồi ở mạn bè quờ tay rút cây sào chống, gã thong thả đưa xuống nước và cứ ngồi thế đẩy bè lui ra. Mảng bè to lớn chòng chành giây lát rồi lừ lừ tiến ra giữa lòng sông rọi nắng chói chang. Cả Hộ rút vội cây sào gài vào thân bè và lết vào giữa, hai tay dang ra chống xuống thân tre nêm chặt bó từng lớp dày. Gã không dám ngó trước mặt, chỉ nghếch đôi mắt nhìn nghiêng về phía bên trái, ngắm nghía mấy lớp rác rều còn đọng trên ngọn tre cao.
         Ông Tư cúi khom trên cây sào chống cố giữ cho bè từ từ trôi nhẹ vào giữa lòng thác Mang-Mang. Mái tóc bạc trắng của ông phản chiếu ánh nắng phất phơ theo ngọn gió sớm man mát thổi về từ các đỉnh non xa vời. Những ngón chân ông bám chặt vào dưới mặt bè như bám vào mảnh đất sống lênh đênh quen thuộc lâu đời, đủ sức chuyển tiếp cho ông sức mạnh của lòng tự tin vững chãi.
         Mảng bè cứ thế trôi đi, yên lặng, lừ lừ tiến vào giữa dòng. Bỗng nó trành về một phía khiến cho Cả Hộ suýt nhào khuỵu xuống, rồi lại giữ lấy thăng bằng như cũ.
         ― Ở đây có vạt đá ngầm rộng lắm, sắp vào lòng thác, đó Cả.
         Bất giác, gã trai trẻ ngước nhìn về phía trước mặt và thấy một khoảng nước rộng cuộn tròn lăn mình xuống một vực xa. Những tiếng ầm ầm vang động mỗi lúc một gần như trút tất cả ồn ào khủng khiếp của chốn rừng núi hoang vu để xoáy sâu vào địa phủ. Các ghềnh đá nhô lên, nhọn hoắt, lởm chởm như loài quái vật chĩa nanh giơ vuốt trong những thế đứng hết sức dị kỳ. Bọt trắng tung tóe tỏa mờ từ xa như lớp khói sương dày đặc che cả núi rừng phía trước. Dần dần gã cảm thấy bè trôi nhanh như vâng theo một sức hút phi thường cuốn ra giữa thác. Hốt hoảng, gã quay nhìn về cuối bè. Ông Tư Mễ cầm ngang cây sào, đứng yên như pho tượng đồng, đôi mắt không chớp nhìn về phía trước uy nghi như một viên tướng dũng mãnh bắt đầu lâm trận.
         Gã bỗng kêu lên:
         ― Sắp vượt thác chưa?
         Tiếng nói của ông già vang lên trong sự trút đổ vang ầm mỗi lúc càng thêm dữ dội:
         ― Chưa đâu. Lòng thác còn dài.
         Gã cố chồm lên và vội thụp xuống khi thấy lườn nước như một sức cuốn phũ phàng nhào đi trước mặt. Bỗng gã rú lên:
         ― Thôi đi! Thôi đi!
         Ông già hét lên:
         ― Đừng sợ!
         Gã nhào ra ở mạn bè:
         ― Cho con lên bờ! Không dám vượt thác… Con nhảy xuống nước!
         Ông già giận dữ bước đến huơ cây sào lên như muốn giáng xuống đầu thằng con mình, rồi bỗng dừng tay, quát lên hùng hổ khác thường:
         ― Ngồi yên trên bè, đừng sợ!
         Nhưng gã tru tréo kêu lên:
         ― Không! Không! Con không ngồi được trên bè. Con nhảy xuống nước bây giờ!
         ― Đồ khốn!
         Ông già nhào tới đầu bè, thu hết sức lực chĩa cây sào dài xuống lớp đá ngầm, cố đẩy trệch bè ra khỏi dòng nước cuốn trôi. Đuôi bè lắc lư, vùng vẫy, những muốn quay ngược chiều lại nhưng ông Tư Mễ đã chuyển tất cả gân sức hướng bè tiến về một vùng nước phẳng, nằm trong khu vực đá ghềnh lởm chởm gần kề. Những đường gân trên cánh tay ông như những sợi thừng săn chặt đến độ căng thẳng tột cùng trong khi toàn thân quỵ xuống mạn bè co lại giữa thế chống đối giằng co quyết liệt để giành chủ động trước sức nước đẩy phũ phàng. Miệng ông mím chặt, đôi mắt trợn trừng, sắc máu nhuộm hồng khuôn mặt đổi dần ra màu nâu đậm, rồi màu tím sẫm.
         Khi mảng bè vào vùng nước yên tĩnh, mồ hôi đã thấm ướt sũng quần áo của ông Tư Mễ. Suốt quãng thời gian khá lâu chống chỏi với sức nước cuốn, ông lão không nói một lời, không quay nhìn lại đứa con bám chặt mình xuống thân bè, tóc buông rũ dài trong cái dáng điệu vô cùng thiểu não. Đến lúc cho bè đậu vào sát bờ, ông lão mới thả cây sào, chống đôi tay run rẩy lên sườn và giương cặp mắt trợn trừng che mờ mồ hôi chảy xuống từ một vầng trán nhăn nheo, quay nhìn chăm chắm Cả Hộ. Ông nói quát lên trong hơi thở hào hển mệt nhọc, khác thường:
         ― Bước lên! Đồ khốn! Chui vào bờ bụi mà đi cho được bình yên mạng sống của mày. Để mày ăn học nhiều năm ở trường là như vậy đó. Sợ khó, sợ khổ, chỉ muốn chui rúc cho xong cái kiếp tồi tàn. Mày làm khổ tao bao nhiêu, mày có biết không? Tao chết ở trong gan ruột vì mày đây này. Cùng đi một lần mà bao nhiêu bè đã về tận nơi tận chốn còn tao thì cứ lênh đênh trên nước đợi mày bò theo dọc núi mà đi để tránh thác ghềnh. Khốn nạn cho mày, đừng tưởng núi rừng là chỗ nghỉ ngơi và chớ có hòng cuộc sống ngồi mát ăn vàng. Nhục nhã cho mày lắm đó! Mạt kiếp cho mày! Nếu không thương hại mẹ mày thì tao đã đạp đầu mày xuống nước từ lúc nãy rồi. Bước gấp lên đi, còn đợi chờ gì, hở thằng khốn nạn lạc nòi?
         Ông Tư còn nói, còn chửi nhưng giọng ông lạc hẳn đi, đầu váng, tai ù, ông thấy cổ mình nghẹn lại và hai ống chân bủn rủn không sao đứng vững ở trên mặt bè bỗng nhiên như đang quay đảo, chập chờn.
         Cả Hộ cúi đầu lủi đi qua những bụi cây chằng chịt, không dám quay nhìn trở lại. Gã có cảm tưởng đôi mắt giận dữ của người cha già như hai mũi nhọn còn đuổi theo sau, đâm mạnh vào nơi ót gã. Gã không dám nghĩ đến việc vừa qua và cố vạch gai chạy theo bờ sông gập ghềnh, um tùm cây lá. Khi lên đến một dốc cao, đã mệt lắm rồi, gã bèn dừng lại để thở, cúi nhìn trở xuống.
         Người cha già nua với bộ quần áo vải nâu bạc màu và mái đầu trắng xóa ngồi im dưới nắng như một tảng đá lạc loài ven sông. Gã thấy ái ngại trong lòng, không muốn đi nữa, cứ đứng tần ngần nhìn mãi mẩu người bất động lâu lâu mới thấy lắc lư cùng mảng bè chao trên sóng theo cơn gió mạnh từ đâu đột ngột thổi về.
         Nhưng rồi cuối cùng người cha già yếu của gã từ từ đứng dậy. Gã muốn kêu lên một tiếng thật to nhưng cổ họng như nghẹn lại, khiến gã đứng yên bối rối trong lòng. Chiếc bè từ từ trôi ra giữa sông, hình ảnh ông già lẻ loi trở thành nhỏ bé quá chừng giữa khoảng nước rộng. Lưng ông như khòm hẳn xuống và cái dáng điệu không còn vững mạnh như trước. Đến gần ngọn thác, dòng nước phăng phăng cuốn mảng bè trôi. Bỗng chốc gã thấy cha mình như mất thăng bằng, lảo đảo ngã xuống, đánh rơi mất cây sào chống. Nhưng trong một thoáng ông lão chồm lên, rồi lại loạng choạng nhào tới. Mảng bè vùn vụt trôi mạnh tiến vào ngọn thác như một mũi tên khổng lồ phóng vào miệng hố thẳm sâu. Thình lình, mảng bè không có người lái, chồm lên, tuôn mạnh vào một thớ ghềnh rồi dội hẳn lên, ông lão bật ngã chới với nhào xuống giữa dòng thác lũ cuốn tràn.
         Cả Hộ chớp vội mi mắt, tưởng chừng nhào theo, hốt hoảng bám vào một cành gai bớm bên mình. Gai xóc đầy tay nhưng gã không nghe đau đớn, không nhìn thấy máu rỉ tuôn ở trên da thịt. Gã cứ nhướn người, cố tìm bóng dáng người cha, nhưng thác nước lũ hung hăng đã xoáy sâu vào lòng hố, chỉ có bọt xóa trắng ngầu và ít rều rác thỉnh thoảng hiện lên rồi bị giạt đi. Mảng bè không chủ phóng xuống vực sâu rồi chìm mất dạng. Lát sau, về phía trước xa, ở một mặt nước bình hơn, mảng bè hiện lên như rứt ra khỏi nanh vuốt thác ghềnh và theo dòng sông lướt tới.
         Cả Hộ chăm chắm nhìn theo cho đến lúc mảng bè tre chỉ còn là một vệt mờ ở trên mặt nước đằng xa. Qua một khúc sông rẽ ngoặt, vệt mờ vụt xóa tan đi. Gã cứ đứng yên, đầu óc tê dại không còn biết nghĩ ngợi gì. Lâu lắm, gã mới nghe tiếng lốc cốc của con mõ kiến ở trên một ngọn bương cao.
         Gã ngước nhìn lên. Mặt trời đã lách qua khỏi nhóm giang, vãi nắng tung tóe lên trên người gã.
         Mặt thác lạnh lùng vẫn tuôn tràn về lớp lớp xuống lòng vực sâu xóa bọt trắng ngần vang động tiếng ồn dữ dội.
         Tự nhiên, gã cảm thấy nỗi cô độc lạ lùng và khắp núi rừng tỏa lên một sự lạnh lẽo vô cùng khủng khiếp. Rồi mối đe dọa từ đâu vây bọc lấy gã. Tiếng nước réo gầm gào thét ghê hồn, sườn dốc như cao vụt lên và cây rừng, đá núi che giấu bao nhiêu bí mật hãi hùng. Gã kêu thét lên như tiếng rú dài hốt hoảng và nghe từ trong hốc núi âm u, từ dưới vực sâu thăm thẳm nhiều tiếng dội vang quái gở lạ lùng. Gã vụt chồm dậy, lao mình về trước, bươn qua gai bụi um tùm, cố tìm lấy một lối thoát.


▪ ▪ ▪

         Đã mấy hôm rồi, mảng bè cứ trôi theo sức nước đùa, ngần ngừ dừng lại ở các ghềnh đá giữa dòng rồi lại quày quả trôi đi. Có lúc về đêm nó tấp vào một bãi rộng, lừ đừ men theo một bờ sỏi vụn như tìm chỗ để nghỉ ngơi rồi theo sức đẩy bất thần của một luồng nước tràn lên cùng với một cơn gió núi bốc dậy, vội vã hướng về lòng sông lốm đốm sao khuya. Đôi lần trong khi lững lờ, gặp một ngọn suối chảy vội ra sông, mảng bè bị xô rạt về giữa dòng rồi lại lênh đênh để tấp vào một vịnh nhỏ tỏa bóng đen dày từ những cành si cổ quái sà trên mặt nước. Nằm đấy nhiều ngày, mảng bè đóng lớp rêu xanh dày cộm lại bị lá úa tuôn đầy như một nấm mộ bập bềnh, rồi dòng nước lũ đột ngột tràn tới, kéo đi hết sức vội vàng.
         Cứ thế, mảng bè vô chủ trôi xuôi, ngày lại qua ngày. Rồi một buổi chiều mảng bè bị đẩy nằm ngang vào hai ghềnh đá giữa dòng sông hẹp. Nước sông bị ngăn đón lại bất ngờ, vọt qua mảng bè, biến thành một cái thác nhỏ. Cách một ngày sau, một cái xác chết trương sình đã bị rỉa rói nhiều chỗ tấp về. Nhiều người xuôi sông, bị nghẽn mất đường, hì hục kéo bè ra khỏi kẹt đá, hốt hoảng khi nhìn thấy xác đã gần rục rã. Vài người căn cứ vào mái tóc bạc, vào bộ áo quần và cái vóc dáng kẻ chết, đoán chắc là ông Tư Mễ.
         Còn người con trai ông Tư thì không thấy gã trở về. Mẹ gã mỗi ngày vẫn ra ngoài ngõ đón những lái buôn quen thuộc để hỏi thăm chừng. Nhưng không một ai biết gã trôi dạt ngả lối nào. Họ chỉ nghe nói phong thanh vài người kiếm củi ở gần Rừng Lá dưới thác Mang-Mang có gặp nhiều mảnh vải nâu dính máu khô đen phất phơ trên một nhành gai trong núi và một sọ người da thịt bị gặm nham nhở nằm lăn dưới gốc một bụi chà là còn in móng vuốt cào cấu của cọp. Nhưng họ không chắc đó là Cả Hộ, vì gã phải đi theo bè cùng với ông Tư, làm sao mà lọt vào trong rừng được?


2/61
VŨ HẠNH


BÁCH KHOA |  SỐ 100

« Sửa lần cuối: 16/04/2019, 11:32:53 gửi bởi nduytai »
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #680 vào: 16/04/2019, 11:31:38 »


Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào?

NẾU CUỘC PHỎNG VẤN đầu tiên của Bách-Khoa: “Ý kiến các văn nghệ sĩ về truyện ngắn Việt và quốc tế hay nhất” là do chúng tôi khởi xướng thì trái lại cuộc phỏng vấn thứ hai này hoàn toàn do độc giả gợi nên.
         Các bạn muốn rõ, hoặc…: “Các nhà văn nghệ sáng tác để làm chi? Để cho mình hay cho thiên hạ? Để cho bây giờ hay để cho mai sau”, hoặc: “Họ sáng tác theo một đường lối nhất định nào hay là tùy hứng?…” Có một số bạn tò mò mong được biết những gì đã xảy ra trong tâm trí và trên trang giấy của tác giả từ khi tác phẩm bắt đầu thai nghén cho đến lúc nó thành hình; lại có một số bạn ước ao được nghiền ngẫm những kinh nghiệm sống của các văn nghệ sĩ trong loại văn chuyên môn của mình.
         Nhiều bạn cho rằng trước kia, nhà thơ Edgar Poe cho biết mình sáng tạo bài thơ “Con quạ” ra sao và giờ đây nhà văn André Maurois tự phê bình, hai nghệ sĩ Mỹ, Pháp này đã làm một công việc rất hữu ích. Vì nếu hai ông không nói trước thì hẳn mai sau, người ta chẳng biết giảng giải cách nào cho đúng với sự thật, lắm khi lại còn vô tình hay cố ý vu oan cho những người đã khuất. Hương hồn của Nguyễn Du ở nước ta đã mấy phen… ngơ ngác dưới lưỡi dao giải phẫu rất duy vật của Nguyễn Bách Khoa và cặp mắt rất khoa học của Trương Tửu. Quả là: “Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh”.
         Và chúng tôi còn mang những điều muốn biết chính đáng trên đây đều gõ cửa những nhà thơ, nhà viết truyện (ngắn và dài), nhà soạn kịch quen biết. Mong rằng các cánh cửa sẽ mở cả, không sớm thì chầy, không rộng thì hẹp để gây chút xôn xao gì trong khu vườn văn nghệ vốn im lìm.


NGUIỄN NGU Í


BÁCH KHOA |  SỐ 100

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #681 vào: 16/04/2019, 21:57:08 »
BÁCH KHOA |  SỐ 101  [15-3-1961 |  130 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Nguyễn Hiến Lê |  Tìm một giải pháp cho ngành xuất bản tại Việt Nam: So sánh ngành xuất bản ở Pháp và ở Việt Nam hiện nay [II] |  3-11
Phạm Hoàng (sưu tầm) |  Danh ngôn, danh lý: Tăng Quốc Phiên |  11
Bách-Khoa |  Kinh nghiệm |  11
Hoàng Minh Tuynh |  Thông điệp kinh tế của Tổng thống Kennedy gửi Quốc hội Hiệp Chúng Quốc |  12-15
Bách-Khoa |  Ông Hàn thực tế |  15
Quảng cáo |  16
Phạm Hoàng |  Nhận định: Tiền đồ vô biên, tiến bộ vô tận |  17
Quảng cáo |  18
Ưng Trình |  Một quan niệm về phương pháp đọc sử |  19-22
Quảng cáo |  23-24
Nguyễn Hữu Phiếm |  Tìm hiểu người thanh niên [II] |  25-31
Bách-Khoa |  Không dùng đàn bà |  31
Quảng cáo |  32-34
Đoàn Thêm |  Thử tìm hiểu hội họa |  35-48
Bùi Khánh Đản |  Bài thơ không gửi (thơ) |  48
Quảng cáo |  49-50
Bửu Kế |  Nhân đọc bài của ông Nguyễn Thiệu Lâu: Phải chăng vua Gia Long và vua Quang Trung là hai anh em bạn rể? |  51-58
Quảng cáo |  59-60
Võ Quang Yến |  Nuôi thai trong ống |  61-64
Tường Linh |  Bóng làng (thơ) |  65-66
Hoàng Anh Tuấn |  Điệu mai non (thơ) |  66
Trần Văn Khê |  Lối “ca Huế” và lối “nhạc tài tử” |  67-69
Đoàn Thêm |  Một quãng đường (thơ) |  70
Minh Đức |  Nếp sống nước người: Đường về sa mạc (phóng sự) [II] |  71-77
Hoài Hương |  Thế kỷ chúng ta (thơ) |  78
Doãn Dân |  Linh hồn tôi [II] (truyện) |  79-91
Bách-Khoa |  Khác đời |  80
Võ Hồng |  Ngôi trường quê (thơ) |  92
Hà Hữu Nguyễn (dịch) |  Khi con bọ hung bay vào lớp học… \ Robert Escarpit |  93-97
Nguiễn Hữu Ngư |  Dừng bút (thơ) |  97
Trúc Liên |  Một cuộc tàn sát (truyện) |  98-107
Nguiễn Ngu Í (phụ trách) |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Lời mở đầu |  108
Bình Nguyên Lộc |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  109-110
Phạm Phạm |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  110-111
SINH HOẠT:
   |  Nguiễn Ngu Í (thuật) |  Triển lãm và diễn thuyết nhân dịp kỷ niệm 300 năm húy nhật giáo sĩ Alexandre de Rhodes (22-2 đến 28-2-1961) [II] |  112-113
   |  Thu Thủy |  Sinh viên đen, đại học đỏ |  114-116
   |  Châu Hải Kỳ |  Tìm hiểu: Những hoạt động cách mạng của cụ Phan Châu Trinh tại Bình Thuận |  117-119
   |  Viễn Kính |  Nhiệm vụ công dân của một xí nghiệp |  120-121
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  122
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  123
Quảng cáo |  124-130


SAIGON |  1961




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #682 vào: 17/04/2019, 12:57:47 »


Một quan niệm về phương pháp đọc sử
000
Sử sách
         Sách là sử, sử là sách; chỉ trừ những sách chuyên khoa, ngoài ra, bất cứ sách gì đều thuộc về sử cả. Như Ngũ kinh Tứ thư, có sách do Khổng Tử san định hay là sáng tác; có sách do người đời sau thuật lại việc làm lời nói của Thánh, Hiền; ấy là sử của phương Đông, sử đời thượng cổ về quốc gia, về xã hội, về phong tục, về kinh tế về đạo đức, về giáo hóa; nào có phải chỉ những gì có tương quan đến duyên-cách biến thiên, mới gọi là sử hay sao? Sự vật gì cũng có thể xét ra hai phần: một phần hiện tại, một phần về quá khứ, tức là về lịch sử, dầu là việc mới xảy ra.
         Người phương Đông, tại Trung Quốc cũng như tại Việt Nam, làm sử theo thành kiến: quốc sử là cơ quan của nước, dã sử là của tư nhân; dã sử, lại là do bạn sĩ phu, tự đóng một vai quan sát việc đời, thường viết theo lối ngụ ngôn, lối thơ, lối tuồng, lối văn, hay là lối tiểu thuyết, mong sửa đổi phong tục chính trị, một phần nào. Bạn nầy học lối bao biếm trong sách Xuân Thu, theo lòng ưu thời mẫn thế.
         Đài Cát Phu, một đại Nho nhà Thanh trong bài bàn về phép viết sử, có nói: “Theo tầm mắt người phương Đông, thì sử học ngày xưa chỉ là một môn luân lý, dùng sử để khuyến trừng; thành thử người viết sử chỉ biên những gì có thể dạy đời, dầu thiện dầu ác, đều đủ khuyên răn. Vì vậy cho nên người làm sách không lưu tâm nghiên cứu, để thu lấy hình ảnh chân chính của thời đại đã qua, cũng chẳng vụ chứng minh: thế nào là đúng, thế nào là sai, chỉ trau lời văn về luận lý!”
         Edouard Chavannes, sau khi dịch pho Sử Ký của Tư mã Thiên, có phê bình rằng: “Người Tàu làm sử, chỉ lo sưu tập những gì đời trước lưu truyền, rồi xếp đặt đoạn nọ vào với đoạn kia, nhiều khi hai đoạn không liên lạc với nhau; chẳng những thế, người viết sử hầu như không nhìn nhận trách nhiệm công việc của mình… thậm chí tự đứng ra ngoài; người đọc không thấy rõ là lời của ai, của nhân vật trong sử, hay là của người viết sử!”
         Theo lời bình phẩm của hai nhà học sử đã nổi tiếng, thì người đời xưa làm sách không theo một phương pháp nào; chỉ vụ cây bút trổ hoa, văn cho tươi, và có ngụ ý khuyên răn là đủ. Không phải như tại Hy Lạp, La Mã, từ xưa, đã coi công việc viết sách là một nghệ thuật thông thường đến thế kỷ 17, 18, người viết sử đã vào thời kỳ chuyên khoa, nghĩa là viết có phương pháp, song hành với các khoa thực nghiệm khác; viết có những đặc tính say nầy:
         1) Không chuyên viết về vua quan hay là những nhân vật trứ danh, hầu như viết liệt truyện, không phải là viết sử. Huống dầu muốn biết rõ sự nghiệp một người nào, tất phải biết thời thế lúc bấy giờ; thành thử phải đi ngược dòng lịch sử.
         2) Không chuyên ở trong giới chính trị, giới quân sự, hay là giới đạo đức như đời xưa; mà phải quan sát đến chế độ, tư tưởng, phong tục và lối sinh hoạt nhân dân, không có một môn học nào mà không có một phần lịch sử.
         3) Từ thế kỷ 19 về sau, là về “thời kỳ của lịch sử”, việc trước liên tiếp với việc sau, làm nhân quả lẫn cho nhau, tuần tự tiến hóa. Có người đã nói: “Tạo vật chỉ bước dần, không bao giờ nhảy vọt”. Người làm sử phải đi theo từng bước, cuộc tiến hóa trong lịch sử, cũng như cuộc sinh trưởng muôn loài: sinh ra, lớn dần lên, già dần dần, không phải hốt nhiên mà già ngay, hay là trở lại trẻ.
         4) Mọi việc đều có nguồn gốc, có trước sau, người làm sử phải nhìn nhận từng việc nhỏ, để tìm qua việc lớn; rồi cai quát tất cả các việc, theo phép qui nạp, để định luật sau khi đã suy lý. Nói tóm lại là sát hạch cho kỹ, lý luận cho rõ ràng. Nhà làm sử phải nhận lấy phần thực làm cốt, lúc phần thực đã sung mãn, mới nhìn đến phần luân lý và văn chương.

Đồ thư
         Nhờ có những phương pháp, vừa kể trên này, nên mấy thế kỷ nay, sách ra như hoa nở tự nhiên, vừa lượng vừa phẩm, đã có nhiều sách, lẽ tất nhiên là phải có sở bảo tàng. Tại Âu Mỹ, có thư viện xưa nhất lớn nhất cả hoàn cầu; tuy đã bị mấy phen binh hỏa, song ngày nay, Mỹ, Anh, Pháp, Đức, tương đối có những thư viện đại qui mô, tùy mật số học sinh, nhiều địa phương, một thư viện có hơn vạn bản sách.
         Theo phương pháp tổ chức của Mỹ, thì mỗi thư viện là một cơ quan văn hóa: chính là nhân viên trong thư viện đã phải tự nghiên cứu, để đem những phương pháp có hệ thống, có hiệu quả, phổ biến sâu rộng, cho độc giả vui mà đến; nhân viên ấy trở thành những cán bộ chuyên khoa. Mỹ còn lợi dụng thư viện làm tự động cơ quan, để giáo dục quốc dân, đủ cho các hạng tuổi: chưa biết đọc, thì nhân viên ấy bày cho mà đọc.
         Người quản lý đã thành người giáo dục chuyên khoa, chẳng những phục vụ đồng bào, mà còn chiều chuộng khách phương xa đến nữa.
         Tại châu Á, vua Càn Long nhà Thanh, trị vì có 60 năm (1736-1799), tuy ngọn lửa nhà Tần đã tiêu hủy sách mất tám phần mười, mà còn thâu nhập lại bốn kho, gọi là Tứ khố toàn thư; đến vua Cao Tổ nhà Hán lên, sai Trần Nông trưng cầu thêm thư tịch ở ngoài dân; thành thử, nhà Đường có viện Tập Hiền, nhà Tống có viện Sùng Văn, nhà Nguyên, nhà Minh, tiếp tục mở những viện Bảo tàng, tức là thư viện ngày nay; đến cuối nhà Thanh, ngoài Tứ khố toàn thư, còn mở Đồ Thư quán.
         Tại Nhật Bản, thì lịch sử về Đồ Thư rất ngắn; chỉ sau triều Minh Trị, mới có Hồng Diệp Sơn văn khố, Thiên Thảo văn khố. Sau có lập Đồ Thư quán tại Đông Kinh, cả các tỉnh thành, cho đến các hương thôn, ngày nay đều có thư viện tương đối cả.
         Tại Việt Nam, từ triều Minh Mạng mới qui tụ sách vào trên lầu Đông Các, dành riêng cho nhà vua. Đến triều Khải Định, mới cho đưa ra viện Tàng Cổ sau Quốc Tử Giám, một phần sách ấy, gọi là viện Tân Thư, có sách chữ Pháp, có sách quốc văn, theo nhu cầu công chúng.
         Năm 1943, Chính phủ Việt Nam đổi tên Viện Tân Thư ra Viện Văn Hóa; đến năm 1946, lại bi ngọn lửa… tàn phá, chẳng thua gì ngọn lửa nhà Tần, bao nhiêu châu bản trong Quốc Sử quán, đồ tịch trong sở Tàng Thư, một phần bị hóa ra tro, một phần bị nhơn dân lấy về dùng giấy. Từ năm 1958, Chính phủ Cộng hòa mới mở Viện Đại học tại Huế, Thư viện Đại học cũng được tổ chức với đại qui mô.
         Song có Thư viện cũng chẳng ích gì, nếu không có người đến đọc. Vì vậy cho nên tại các thư viện trong nước Mỹ, viên Quản lý tự đóng vai cán bộ khuyên rủ quần chúng đến, chưa biết đọc thì bày cho mà đọc; thành thử, thư viện trở thành một cơ quan văn hóa phổ thông.
         Sách cần độc giả, cũng như độc giả cần sách, sở dĩ gọi là sách, là vì có người xem; nếu một tác phẩm của một nhà văn, mà chưa vào tay độc giả bao giờ, thì chưa phải là quyển sách. Theo luật ấy, tác giả nào, sau khi viết thành một quyển sách, tất phải có người đề tựa, hay phê bình; người đề tựa tức là người đọc đầu tiên; sau khi có người đọc, hay là người phê bình, thì tác phẩm mới thành là quyển sách. Từ xưa đã có quan niệm ấy, nhiều quyển sách nhờ bài tựa mà được lưu truyền. Vậy người đọc sách, hay là người phê bình sách quan trọng biết chừng nào? Cổ nhân đã trả lời rằng: “Tác giả nan, duyệt giả vưu nan!” – Người làm khó, mà người đọc càng khó.

Tác giả và Độc giả
         Không riêng gì những bạn tranh bằng cấp, chính ngay các bạn khoa cử ngày xưa, mở sách ra, chỉ chăm đọc thuộc lòng, có rảnh đâu mà suy nghĩ. Họ không phải là độc giả, mà chỉ học để kiếm tấm bằng; còn độc giả là hạng phê bình, khẩu tụng tâm suy, có não phán đoán.
         Bacon, người Anh, thường khuyên độc giả phải biết phán đoán, nghĩa là biết phân biệt vật-quan với tâm-quan. Vật-quan là nhìn nhận sự vật giữa vũ trụ, theo luật thiên nhiên; còn tâm-quan là tranh đấu với thiên nhiên, tâm không để cho sự vật chi phối. Có biết phân biệt mới biết phê bình.
         Kant người Đức, lại lấy nhận thức là đối tượng phê bình. Kant nói: “Chúng ta phải nhìn riêng chân tướng từng sự vật, rồi chứng minh mỗi sự vật với quan niệm của tiền nhân, có tư khảo nhiều, đã viết thành sử sách. Nếu muốn nhận thức một cách chân chính, thì nên lấy tâm lý học làm phương châm, và phê bình với sử sách lưu truyền, mà tự mình cho là đúng”.
         Có người nói: Tại phương Đông, Việt Nam cũng như Trung Quốc, không có nhà nào biết phê bình theo nhận thức, như học thuyết của Kant. Người nói đó, là người chưa nhận thức mà đã phê bình, nói cho đúng hơn, thì tại phương Đông nầy, nhiều nhà đã nhận thức phê bình; từ mấy ngàn năm trước, Khổng Tử đã bày phương pháp, thường khuyên môn đệ rằng: “Đọc sách cũ mà có phát minh gì thêm, thì có thể dạy người sau, những gì trong sách cũ chưa có”. – Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hỉ.
         Mạnh Tử cũng nói: “Nếu chỉ tin vào sách, ấy là làm nô lệ cho người viết sách, vậy thì không có sách còn hơn”. – Tận tính thư bất như vô thư. – Các bậc Thánh Hiền đều khuyên độc giả phải có não phán đoán, tức là phải biết nhận thức phê bình có nhận thức mới biết phê bình; mà có biết phê bình, mới là độc giả.
         Tại Việt Nam, người biết phê bình không phải ít. Trong tập văn Vỹ Dạ, có bài “Húy biện”. Bàn về chữ húy là gì. Đó là phê bình các sách xưa của người Tàu, truyền sang nước Việt Nam, có mấy ngàn năm, mà không ai dám phê bình, vì chưa nhận thức.
         Theo Tuy Lý Vương, tác giả tập văn Vỹ Dạ, thì đời thượng cổ chưa có húy, đến đời nhà Chu, theo lòng tôn kính quỉ thần, trước bàn thờ, không dám nói đến tên thần, chỉ xưng rõ tên người chính tế. Cũng do tư tưởng ấy, nhà Chu mới bày phép đặt “Thụy”, thế tên người quá vãng khi tế chỉ xưng hô bằng tên Thụy, tức là tên đặt sau khi mất, tên đề trên thần vị, thần chủ; còn chữ húy là tên lúc sống, thì không bao giờ được dùng trước bàn thờ.
         Từ Tần, Hán trở về sau, tôn kính vua, tôn kính cha, như tôn kính các vị thần; thành thử, không dám nói đến tên, chữ “Húy” mới có từ đời ấy. Vì quá kiêng cử, cho nên những tiếng thường nói, những chữ thường dùng, đều bị nói lệch, đọc sai, không đúng nguyên âm, hại không phải nhỏ; chỉ vì tập quán, không nhận thức lý do.
         Trương Đăng Quế, ngày nhỏ, đọc sử Tàu, đời Hậu Hán, thấy chép chuyện một ông kia, đêm mang vàng đến nhà Dương Chấn tạ ơn. Dương Chấn nói: “Ông tưởng là đêm không ai biết, song giữa nầy có trời biết, đất biết, ông biết, tôi biết, là đủ tự thẹn với nhau, ông nên cầm vàng về, sau đừng làm theo thói ấy!” Độc giả phê bình rằng: “Nếu không ai biết, sao sử gia biết rõ mà biên!” Ấy là chê nhà làm sử chưa phải sử học chuyên khoa, viết thiếu lẽ.


ƯNG TRÌNH


BÁCH KHOA |  SỐ 101

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #683 vào: 18/04/2019, 11:13:26 »


                   Bài thơ không gửi
                                                tặng Ng.v.Thư

               THƠ viết bao lần định gửi anh
               Xem xong lại thấy thẹn cho mình
               Đời qua dâu biển tình phai thắm
               Thân góp phong trần mộng hết xanh
               Vắng tựa canh khuya đò cổ độ
               Buồn hơn xuân sớm lính biên thành
               Từng tờ lịch xé, vùi năm tháng
               Dòng chữ không hồn khó kết tinh


                                            BÙI KHÁNH ĐẢN



BÁCH KHOA |  SỐ 101

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #684 vào: 21/04/2019, 21:43:41 »


                           Bóng làng

               NGƯỜI nhắn tôi về Trung Phước chơi
               Mừng đêm khai hạ đuốc hoa bơi
               Núi cao un đúc niềm xa vọng,
               Rừng lá ươm xanh mộng thiếu thời.

               Sông, vẫn dòng xưa thiêm thiếp trôi
               Bắp vươn khoe mạch đất tân bồi
               Nông Sơn: xóm nhỏ, tê lòng đá
               Khói mây ngàn phương, than xứ tôi.

               Đò sang làng ngoại già nua lắm
               Mạn gỗ meo phong giấc hải hà
               Cô lái buông chèo đưa đẩy nhịp
               Điệu buồn nương nhạc sóng loang xa.

               Đồng Chợ, đồng Hương hợp “móng chim”
(1)
               Tháng ba mùi rạ ngát trời đêm
               Nồi cơm gạo đỏ thơm phưng phức
               Gây tự ngày đi một nỗi niềm!

               Nhà tôi giữa xón Cà Tang Hạ
               Lửa chiến chinh thiêu rụi mái nghèo!
               Tôi cũng lên đường từ dạo ấy
               Mưa nhòe bến nước, mẹ trông theo.

               Ôi, tiếng gà rơi đêm thu xa
               Vườn sương khuya khoắt lạnh bông trà
               Gió lay cửa liếp nhầu tâm sự!
               Mấy kẻ lên đường theo bóng hoa?

               Đất lạ, mây che khuất bóng làng
               Sông Thu Bồn hỡi, núi Cà Tang!
               Người đau ly cách, ôm thương nhớ
               Sông lạnh lùng trôi, núi võ vàng!

               Người nhắn tôi về, nhưng ở đây
               Cánh chim chiều cũ lạc đường bay
               Đêm thâu có kẻ nương hồn mộng
               Thấy bóng làng vương nắng cuối ngày.


                                                     TƯỜNG LINH

____________________
(1) Tên một giống lúa.



BÁCH KHOA |  SỐ 101

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #685 vào: 22/04/2019, 11:05:27 »


Điệu mai non
000
TƯƠI non mát rượi từng chùm
Giọt sương khẽ gửi lên hồn mới thêu
Mỏng từng tờ gió hiu hiu
Nhạt từng con chỉ rối nhiều ánh trăng
Hương sao chỉ mới nói thầm
Mà say sưa đã đôi lần ngó nghiêng
Nhớ em phủi hết ánh đèn
Cho mầu chín ngọt lả mềm giấc mơ

                               HOÀNG ANH TUẤN



BÁCH KHOA |  SỐ 101

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #686 vào: 22/04/2019, 21:48:36 »


                     Một quãng đường
                                               (Tặng H. G. cư sĩ)

               AI về cõi đó gửi bông lan
               Một ánh sao băng, một tiếng đàn
               Tất cả tình suông còn có vậy
               Trăm ngàn nỗi khác gió xua tan

               Tưởng nhớ làm chi giấc mộng đầu
               Mơ duyên, nào chắc đã yêu nhau
               Qua cơn thử thách lòng thơ dại
               Thầm lặng chia tay dứt mối sầu

               Kẻ đi lạc hướng giữa trời mây
               Rong ruổi tìm xuân nhuộm tháng ngày
               Mưa nắng dọc ngang đường lá rụng
               Sương thu sắp xuống lạc ngàn cây

               Người tiếc đêm trăng vội đáp thuyền
               Dập dìu vui thú nước non tiên
               Giữa dòng tỉnh giấc, nằm nghe sóng
               Dào dạt bờ lau nghẹn tiếng quyên

               Vay nhau đời trước, trả chưa xong
               Thôi, ít hay nhiều, miễn nhớ mong
               Tha nợ cho nhau đòi chỗ khác
               Có dư, xin tặng mấy bông hồng…


                                               ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 101

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #687 vào: 23/04/2019, 13:58:20 »


                       Thế kỷ chúng ta

               THẾ kỷ hai mươi của chúng mình
               Chiến tranh núp dưới áo hòa bình.
               Bao nhiêu sức sống căng tròn vội
               Vũ trụ phùng mang nuốt vệ tinh.
                                       ○
               Chót mũi địa cầu tuyết vụt tan
               Đỉnh non Hy Mã, mây kinh hoàng
               Ngàn sao hớt hãi rưng rưng mắt
               E dấu chân người hăm lấn sang.
                                       ○
               Không còn kẻ muốn đời nô lệ
               Người của đôi mươi chẳng cúi đầu
               Mạnh như triều nước tuôn ra bể
               Cuốn hết lầm than, hết khổ đau
                                       ○
               Thời gian đã rắc sắc, hương hoa
               Gieo trẻ trung trên vũ trụ già
               Sa mạc đâm chồi, đồng cướp núi
               Oai hùng thay, thế hệ chúng ta
                                       ○
               Ai bảo “đầu thai lầm thế kỷ”
               Trốn giữa trần gian lại ngấy đời?!
               Họ chôn chân dọc đường thiên lý,
               Khi loài người vươn dậy nơi nơi

               Thế kỷ ta: mạnh như sóng ngàn khơi


                                               HOÀI HƯƠNG



BÁCH KHOA |  SỐ 101

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #688 vào: 23/04/2019, 21:10:02 »


                      Ngôi trường quê

               HÔM nay trở lại thăm trường cũ
               Trong tháng năm qua đổi khác rồi:
               Mái đỏ, tường vôi, sân lát gạch,
               Đôi hàng dương liễu chạy song đôi.
                                        ¤
               Mười mấy năm mà như mới đây,
               Lũ chim thơ dại đã xa bầy.
               Ai còn? Ai mất? Ai thương tiếc,
               Ai nhớ qua thăm lại chốn này?

               Nhớ độ bỏ trường, hè nắng gắt
               Dãy bàng trước cổng lá xanh tươi.
               Hoàng oanh mấy chiếc, dăm đôi bướm
               Mây trắng tung bay, gió ngập trời.

               Bây giờ cảnh cũ không còn nữa
               Mà khách năm xưa cũng ngại ngùng.
               Bỡ ngỡ chim nhìn, im tiếng hót
               Liễu gầy cũng đứng ngẩn ngơ trông.
                                        ¤
               Ôi những trường quê mái rạ vàng
               Có buồn khi thấy nắng hè sang?
               Bao con chim nhỏ bay tan tác
               Quên cả cành xưa, cả nẻo đàng.


                                                  VÕ HỒNG



BÁCH KHOA |  SỐ 101

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #689 vào: 24/04/2019, 11:48:43 »


                              Dừng bút

                  BAO nhiêu chí trẻ rồi tro bụi,
                  Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi.
                  Thử hỏi, dửng dưng từ dạo ấy,
                  Ai người nỡ bảo: “Đời còn vui”?


                                        Ngu-Í NGUIỄN HỮU NGƯ
                                        (Có những bài thơ…)




BÁCH KHOA |  SỐ 101