Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 52427 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #720 vào: 14/05/2019, 18:51:39 »


                         Tiêu đài nguyên

                  NGÀY xưa có một chàng thổi sáo
                  tu luyện cùng thầy trên núi xanh
                  chín năm hơi trúc ngân bằng suối
                  êm như mây và nhẹ dáng mành

                  một sáng chim chào mào đến đậu
                  hươu nai thập thò trong lá thưa
                  vâng thầy, chàng giã từ xuống núi
                  hay tay nâng sáo mềm tựa tơ

                  chàng đi đến một con sông nhỏ
                  nơi đây năm tháng mê mùa xuân
                  chàng dựng chòi và ăn hoa quả
                  cốt cách như thần tiên giáng trần

                  chàng ở đấy ba năm một mình
                  đêm kia trăng về ngủ trên sông
                  có con thuyền ai đâu trôi đến
                  rồi một chàng thư sinh bước lên

                  hai người gặp nhau bên bờ nước
                  lễ phép vòng tay và cúi chào
                  bốn mắt nhìn… Ồ, không ngờ được
                  như đã quen từ muôn kiếp nao

                  hai chàng cùng đem sáo ra thổi
                  một giọng như gió và như mây
                  còn của chàng thư sinh mới lại
                  đượm những u buồn những đắng cay

                 “Dám hỏi thưa huynh, cho được hỏi
                  có gì cô phẫn hay u phiền?”
                 “Thưa: mười hai năm về trước
                  đệ nằm mơ, và nửa hồn lên tiên…”

                  từ đấy lều tranh vắng bóng người
                  sông cũng buồn sông không muốn trôi
                  nàng xuân thay áo che buồng lại
                  mây thầm rủ gió trốn ra khơi


                                                MAI TRÚC DIÊN



BÁCH KHOA |  SỐ 106

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #721 vào: 15/05/2019, 10:47:40 »


                          Bài ca cảm giác

                  XOAN vui reo nắng mùa rung gió
                  Ve tiếc ngày qua bạc ánh mây
                  Biếc nẩy cành tơ mưa đọng sáng
                  Mơ sen, ao ngủ nước chưa đầy

                  Thắm tươi cũng đượm sầu phai ý
                  Ta biết phương nao gửi dấu giầy
                  Thầm đợi hôm mai giờ sóng lặng
                  Chuốt màu say sống, lọc hương gây

                  Xoan vui reo nắng mùa rung gió
                  Sao vẽ bằng thơ sắc nhuộm hoa?
                  Nét mực in dòng không giữ lại
                  Những màu, những ráng gợi lòng ta

                  Trùng xanh lộng tía tưng bừng nhỉ?
                  Vẫn nhớ sương chiều dịu nẻo xa
                  Tím lặn đêm trăng, hồng ngậm lửa
                  Xoan vui lay bóng rực lời ca…


                                               ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 106

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #722 vào: 15/05/2019, 17:33:48 »


Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào?
000
Võ Hồng, làm thơ, viết truyện ngắn, truyện dài
         I.– Cũng như con chim biểu lộ cảm xúc của nó bằng tiếng hót, tôi biểu lộ cảm xúc của tôi bằng thơ văn. Vậy viết trước tiên là về mình. Lúc trẻ thì nặng về mình lắm (truyện ngắn đầu tiên của tôi là truyện Mùa gặt đăng ở Tiểu thuyết thứ bảy năm 1939, dưới bút hiệu Ngân Sơn). Lớn lên thì hướng về người hơn. Như khi viết những truyện về cuộc đời “gà trống nuôi con”, tôi sung sướng được thổ lộ một ít tâm sự mình, đồng thời an ủi được mấy con tôi là những độc giả đầu tiên, an ủi những người đồng cảnh ngộ, những trẻ mồ côi, vừa gián tiếp khuyên những cặp vợ chồng đang sống yên lành hãy thương yêu nhau nhiều hơn nữa hãy tận hưởng hạnh phúc họ đang nắm trong tay. Những hồi ký về chiến tranh cũng cùng một mục đích tương tự. Tôi là nạn nhân của chiến tranh, nên tôi lợi dụng lại chiến tranh, viết hồi ký về chiến tranh để mong những người sau tha thiết với hòa bình hơn.
         Tôi hiện thích đọc những truyện thật hơn là truyện giả tạo. Chúng có giá trị giáo dục, suy từ tâm lý đó, tôi thích viết những truyện thật. Cô Thu Vân trong truyện Hoài Cố Nhân gặp một lần mà đã yêu, đó là một sự thật. Khi truyện còn là bản thảo, đôi người bạn bảo sửa đổi lại cho có vẻ thật hơn. Tôi không sửa vì nghĩ rằng: một sự thật không có vẻ thật sẽ khiến người đọc suy nghĩ và chính nó dẫn họ khám phá con người.
         II.– Lúc mới bắt đầu viết thì viết tùy hứng, nhưng cho văn nghiệp có giá trị thì sau đó phải sáng tác theo một đường lối nhất định.
         III.– Khi thai nghén tác phẩm thì tâm trí bận rộn lắm. Phải “đẻ” ra nhân vật và ban cho nhân vật những cá tính. Phải tạo những cơ hội thuận lý để sự việc xảy ra theo ý mình dự định. Khổ nhất là tìm một cái gút một cách tự nhiên. Bảo rằng tác giả là một “ông tạo hóa con con” thật không phải là nói ngoa vậy. Tất nhiên là nếu vụng tay thì từ một ông Tạo hóa ta rơi xuống làm “con bà mụ dở hơi”.
         Còn trên trang giấy? Thôi thì gạch, bỏ, bôi xóa lèm nhèm. Cắt dán dày cộm. Những mũi tên móc đoạn dưới gài lên trên, những chương viết say sưa hôm trước phải bỏ hết mặc dù tiếc, những tên nhân vật, tên địa phương bị thay đi đổi lại năm, ba lần. Người viết như một con sâu ăn lá. Gặp chỗ lá mềm thì ăn mải miết, khi nhằm sóng lá, gân lá cứng thì ngẩn ngơ dừng lại. Có nhiều chỗ dừng lại mà ba, bốn lần sau đặt bút viết tiếp, tiếp không được.
         IV.– Vài kinh nghiệm sau đây chỉ dám nói với những bạn mới tập viết văn:
         1/ Đặt chương trình viết đều đặn thì phải viết được. Cứ ngồi lại bàn giấy, vừa tìm ý vừa viết. Không nên đợi hứng. Viết văn lắm lúc cũng như ăn cơm, “cứ ăn đi rồi sẽ thấy ngon miệng”.
         2/ Truyện viết xong tôi đưa cho nhiều người quen đọc trước. Người có trình độ khá thường phê bình nội dung. Người có trình độ kém chú trọng về hình thức. Người kém thường phê bình nhảm nhưng bên cạnh chín cái nhảm có: cái đúng.


VÕ HỒNG




Thế Phong, làm thơ, viết truyện ngắn, truyện dài
         Anh Ngu Í,
         Tôi coi làm nghệ thuật là nói băn khoăn, phong độ sống của tôi, của đồng loại ở thời đại này. Chỉ có văn nghệ mới đủ thẩm quyền làm thỏa ý nghĩ thầm kín nhất của tôi. “Để mà tiếp tục sống với đời, phải viết”, tôi đồng ý với André Malraux khi nghĩ như vậy.
         Với tôi, tắt rằng một khi sáng tác trước hết phải để cho mình, đồng loại sống chung khung cảnh với mình trong một khoảng đời nào đó. Tôi không mấy hài lòng về sự giả dối quá non kém của số ít ký giả văn nghệ, lý luận rằng các nhà làm nghệ thuật bây giờ chỉ nói lên cái tôi thôi. Cái tôi theo họ là xấu xa, phải nói lên nỗi thống khổ của đồng bào mới đáng gọi tác phẩm thời đại? Tôi đã gợi câu hỏi sau khi đọc bài kia – một khi không rung cảm thành thật với mình, chưa khai thác, phát triển hết ý nghĩ của mình – thì với phương tiện nào có thể viết lên nỗi thống khổ đồng loại. Văn nghệ không phải là bài tường thuật báo chí, báo cáo, tóm tắt, khẩu hiệu bích chương. Nên bạn có hỏi nỗi thống khổ như thế nào, bạn sẽ được dịp cười vang lên để nhìn họ lúng túng. Họ chỉ là những ký giả giỏi chứ không thể là nhà văn.
         Bây giờ đến ý anh hỏi, sáng tác cho bây giờ hay cho mai sau? Tôi thì vẫn tưởng rằng lối nói mai hậu chỉ là một cách nói thông thường có lợi cho ai chưa tin tài mình, hoặc giả, tạo ảo tưởng cho mình sống được lâu hơn. Thời đại này mình chưa nói hết, huống hồ bàn làm gì đến mai hậu. Chỉ khi nào nhận định nổi hướng đi hiện tại, chẳng cần nói cho mai sau cũng sẽ là để cho mai sau rồi. Thế này nhé, ý tôi, mỗi sáng tác đánh dấu một giai đoạn sống, sầu, cảm, nghĩ, thái độ, hành động của mình. Đừng nên phủ nhận nó sau khi ngoảnh lại. Nghĩa là tôi chủ trương mỗi tác phẩm của mỗi người cầm bút ý thức phải sống cho nhân vật khá nhiều. Phải thành thật với chính mình, trách nhiệm trong ý thức sống nhân vật – điều này hình như ở ta không mấy nhà văn – dầu là nổi tiếng – làm được. Tôi nghĩ đến thời-đoạn-sống của Jean Paul Sartre còn thanh niên (31 tuổi) phản ảnh trong La Nausée gần như là tự sự phản ảnh trung thành nhất. Hoặc André Malraux ghi chép đầy đủ giai đoạn ông sống với anh em cách mạng ở Trung Hoa trong Les conquérants. Nhờ tài nhận diện cuộc sống bấy giờ để hướng nhân vật của mình ở mai hậu, cho nên sau Malraux tuyên bố “trong mười năm nữa họ sẽ sống theo truyện của tôi”. Còn với chúng ta? Thực mà nói nhỏ với nhau, trong văn chương hào hoa, phong nhã lắm, có tinh thần đồng đội nào là hy sinh, nào là cải tạo xã hội – nhưng một khi phải đối bóng với hành động thật, so sánh với nhân vật, họ làm trái lại. Cho nên tôi gặp họ (nhân vật) quả là quí mến, nhưng không muốn thấy họ ở ngoài đời. Cho nên mình khổ… là vậy. Văn chương nghĩa lý ta chưa tạo được phong trào, đừng nên trách, phải hiểu rằng chưa bao giờ mình sáng tạo có ý thức trách nhiệm, cho văn chương. Có những người không mang danh là thi văn sĩ nhưng sống cao đẹp hơn cả đời văn chương. Để có phản ứng kia, tôi viết những tác phẩm sau này rất “fresque”, đôi khi quá mạnh bạo như “Nửa đường đi xuống”, “Người lính Casablanca”. Bởi hầu hết truyện của tôi đều có một phần xương máu, cảm nghĩ. Điều khác biệt giữa quyển này, truyện kia, hơn, kém, ở chỗ: tôi sống với nhân vật sâu đậm nhiều, ít; thế thôi. Có những khi tôi nuôi dưỡng truyện từ năm này, mãi hai ba năm sau mới viết, có khi viết ngay. Một phần ý niệm làm văn nghệ phản ảnh mới nhất trong truyện ngắn “Người đàn bà không tóc”. Và trong chín năm làm văn, sống bằng ngòi bút thực thụ chỉ có sáu về sau này, tôi lăn xả vào cuộc đời bằng hành động, thái độ, không mấy ngại ngần, bất chấp luật lệ, cả nếp sống luân lý cũ. Tôi sống theo chiều hướng nào đi nữa, dù hôm nay với luân lý qua con mắt của đời dành cho tôi – xấu, tốt – tôi vẫn biết tôi sống cho một “mythe” riêng biệt, có ý thức đi lên trên xấu tốt kia (…)
         “Nửa đường đi xuống” phản ảnh đầy đủ nhất thế nào là người, người là người ra sao, quan niệm sống, sáng tạo, luyến ái, ý thức tranh đấu của tôi những năm về trước. Rõ hơn là 30 năm nhìn lại.(1) Còn những truyện khác “Người lính Casablanca” là những mẩu truyện mà nhân vật thực nhan nhản ở ngoài đời. Danakie là tên hiệu của một người bạn Algérie sống với tôi trong quân đội. Diệu Trang “Nàng kỹ nữ sống Kỳ-Cùng”, chắc anh biết là ai rồi? Cả đến Mai-A cũng vậy. Xin nói nhỏ trong tập thơ phụ lục “Đàn bà và Tổ quốc” (cuối chương “Nửa đường đi xuống”). Mai-A, tác giả bài thơ “Báu Vật” là một thứ Elsa Triolet của tôi trong văn chương và rất có thể có nhau ở ngoài đời mãi mãi. Hoặc những Mạnh (Cô bán sách cũ), Hạnh (Lòng mình), Lê Văn Hiền (Màn kịch cuối cùng)(2) hiện nay còn sống cả, chắc chắn anh vẫn gặp ngoài phố mà không biết đấy thôi. Những Lan, Ngọc, chẳng xa lạ gì với những nàng con gái của trường nữ học “T. V.” hoặc trong quán cà phê nổi tiếng một thời. Gần như là hai tập truyện “Nửa đường đi xuống”, “Người lính Casablanca” là một, có liên quan với nhau mật thiết lắm, xin lỗi cả một phần trong cuốn “Người Thương Binh Liên Khu” nữa. Những Vân, Hà (một nhà văn mà anh biết, quen lắm), nói riêng, nhân vật của tôi (nói chung) là những người đã sống với tôi trong một chu kỳ cuộc đời, nhiều, ít, tốt, xấu, bao giờ tôi cũng cảm ơn họ trong đoạn cuối “Nửa đường đi xuống”. Riêng với những người bạn lao động, tôi phải nói rằng họ thiệt hại nhiều, giúp đỡ tôi mà không bao giờ nghĩ rằng tôi sẽ trả ơn họ. Cảm phục nên tôi chỉ còn đền đáp họ bằng những dòng văn chương, ở truyện, ở thơ, ở thái độ mình cố gắng cao đẹp. Riêng về thơ, tôi thích “Đàn bà và Tổ quốc” hơn cả, nó mang đầy đủ các dáng cảm nghĩ của tôi, đại diện chính thức cho tôi trong nửa đời người đã sống, qua cảm nghĩ “état brut” chưa bị biến thể.
         Tôi bắt đầu “yên nghỉ” có lẽ trong năm nay. Một vài tác phẩm sắp ra đây như “Vương miện của Mai-A”, “Người đàn bà không tóc” là cảm nghĩ bây giờ. Tôi nói theo A. Wazyk, phải sống lắng trong câm lặng cho mình một thời gian, sau khi cầm bằng cuộc đời trên tóc tơ, tung ra mọi tình nguyện. Cũng mong tâm trạng Lawrence, Wazyk, băn khoăn. Nhất là thi hào sau này đã thốt lên bao não nuột qua thi phẩm, ôm mộng, tham gia kháng chiến giải phóng dân tộc, giải thoát trạng huống đen bạc xã hội. Rồi phát xít hết, tổ quốc Ba Lan hiện chìm vào thảm cảnh. Thi hào chỉ còn đáp:

                          “Anh hỏi sao tôi không còn làm thơ?
                           Khi hứng tâm khẩn cầu, kêu cứu
                           Vần thơ đầu lên án bất công của người tình địch
                           nhưng trong buồn rầu tôi biết nói sao hơn?


         Tôi bắt đầu như thế. Đó cũng là cách làm mới lại cuộc đời cho chính mình, cho ý thức sáng tạo của mình sang chiều diện mới. Buồn sẽ làm thơ, viết truyện giãi bày cảm xúc của mình sống. Với bạn bè thân thiết, vợ con. Rồi một hôm, tôi sẽ đọc đoạn dưới đây của Adam Wazyk cho nghe:

                          “Tôi cũng có con, tôi yêu thời thơ ấu và yêu nụ cười của vợ tôi ban cho
                           nhưng chỉ khi nào nàng thấy cửa sổ tôi tràn đầy ánh sáng
                           và biết rằng
                           tôi làm thơ ghi thực trạng cuộc đời
”.


THẾ PHONG




Lê Văn Trương, viết tiểu thuyết
         Anh thư kí tòa soạn nhắc tôi, ngay khi cuộc phỏng vấn bắt đầu.
         ― Anh đừng quên “con người hùng” nhé! Thiếu ý kiến tác giả “Một người” là cái nhà phỏng vấn do anh phụ trách việc dựng xây thiếu mất một cây cột cái đấy!
         Tôi cười cười, nhớ lại cuộc phỏng vấn trước, nên đáp gọn:
         ― Hỏi ai thì hỏi, chớ hỏi tác giả “Ngựa đã thuần rồi, mời ngài lên”, là tôi không hỏi.
         ― Sao lạ vậy? Anh quên chỗ anh ấy ở à? Hay anh ấy đổi nhà mà không để lại địa chỉ?
         Tôi lắc đầu.
         ― Tôi không tìm anh ấy.
         ― Không tìm người ta. Không hỏi người ta. Làm sao có ý kiến của người viết tiểu thuyết nhanh nhất, nhiều nhất của nước mình, đã từng được thanh nam thanh nữ một thời nhiệt liệt hoan nghinh. Phỏng vấn kiểu anh thì rồi… Hay là anh định nằm nhà đặt tuồng bụng thì nói?
         Tôi để tay lên bụng, chẳng nói gì, làm anh bạn thân chung của chúng tôi có mặt ở đó phát cáu lây:
         ― Hèn chi có một người bạn già rất trung thành của Bách-Khoa đã viết thư “xin kính chúc ông mãi Ngu…”
         Tôi phì cười, nheo mắt một cách ngu ngơ: “Bí mật nhà nghề!” và tôi giã từ anh với cái tòa soạn trăm khoa ấy.


⎎ ⎎ ⎎

         Ba kì báo ra, ba kì báo có đăng bài trả lời của một số anh chị em nhà văn. Và một buổi trưa nọ, bóng cao của anh hiện ở cửa ra vào. Tôi bắt tay anh, kéo ghế, rót nước, chẳng một lời nào. Tôi không tìm anh, thì phải giữ y lời với anh Thư kí tòa soạn, không hỏi anh “Dám xa xôi mặt mà…”
         Anh vừa thở, vừa chậm mồ hôi ở trán, vừa quan sát căn nhà nhỏ của tôi. Rồi anh nói:
         ― Đệ chờ huynh đến nhà để phỏng vấn đệ, mà không thấy huynh đến, nên hôm nay đệ đến. Lần thứ ba đấy. May lần này gặp huynh.
         Mà này, mấy câu huynh phỏng vấn ra sao, chép cho đệ, về nhà đệ viết gởi tới hầu huynh.
         Tôi cười. Và vì anh đã hỏi, thì tôi phải thưa, thưa rồi sẽ hỏi vậy.
         ― Có vì đâu mà anh phải viết với lách. Ta nói qua nói lại, rồi tôi ghi. Anh đỡ mất công mà tôi đỡ tốn… thì giờ chờ.
         ― Được rồi. Mọi sự tùy huynh. À, huynh cho miếng giấy để đệ vấn điều thuốc lào.
         ― Giấy dày, mỏng hay vừa vừa?
         ― Giấy vừa vừa… Cám ơn huynh. Huynh tử thế quá. À, có lửa cho đệ xin với…
         Qua khói thuốc anh phà một cách khoan khoái, gương mặt anh càng đượm vẻ tiều tụy, xanh xao… Bước thời gian đã để dấu rõ ràng ở khóe mắt, ở vầng trán, ở tóc anh; mà bịnh tật cũng đã in dấu vết.
         ― Nước trà nhà huynh ngon lạ. Đệ đã sẵn sàng.
         ― Tác phẩm đầu tay của anh có phải là “Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế Thích”?
         ― Không phải đâu huynh. Chính là quyển “Một người cha
         ― Thế à? Tôi cứ tưởng…
         Vì tôi nhớ mang máng, bảy năm về trước, lúc cộng tác với tờ “Phương Đông” anh có nói với tôi anh viết tập truyện ngắn “Trước cảnh hoang tàn Đế Thiên Đế thích” trước nhất.(3)
         ― Vì sao anh lại nâng bút?
         Mắt anh sáng lên, tuy yếu ớt; tay mặt anh đưa lên khỏi bàn, xòe ra, giọng anh tuy run run mà có vẻ cứng cỏi:
         ― Sau mấy năm ở ngoại quốc, tôi trở về quê hương, ở Bắc lúc đó, thời Châtel. Vắng mặt lâu, về, tôi thấy người thấy việc lúc bấy giờ mả tởm. Có cái gì sôi nổi trong tôi, phải la phải hét, phải đập (hai tay anh cùng giơ lên, nhưng rồi chỉ hạ cách mặt bàn một gang tay), phải làm một cái gì, làm bất cứ một cái gì, không thể làm thinh được. Làm thinh là hèn. Tôi mới nắm lấy bút, viết, viết. Mươi hôm sau “Một người cha” hoàn thành.(4)
         Anh ngưng nói. Mồ hôi lại lấm tấm trên trán, trên mép, dưới cằm và ở cổ anh. Tôi mời:
         ― Anh uống nước.
         Và anh uống nước.
         Anh dựa vào ghế, có vẻ mệt, nhưng mà vui.
         ― Anh viết tiểu thuyết hoàn toàn tưởng tượng hay…
         Anh cướp lời tôi, đôi mắt tròn vo.
         ― Không có gì tưởng tượng trong các sách của tôi. Không đời tôi thì đời bạn bè, đời người quen hay kẻ lạ. Tôi thêm thắt thì có, chớ bịa thì chẳng khi nào. Tôi có trên hai trăm quyển in rồi và có ba mươi quyển chưa xuất bản, truyện nào cũng do đời cung cấp nhân liệu, vật liệu cả.
         ― Viết nhiều thế, có bao giờ anh… anh… phóng tác một cuốn truyện ngoại quốc không?
         Anh bất bình ra mặt. Tay anh vung lên nửa chừng.
         ― Jamais de la vie! Không bao giờ! Không bao giờ. Làm gì mà đi ăn mày thế! Nước ta có bốn nghìn năm lịch sử, dân tộc ta sống nhiều sống mạnh, sống dài, biết bao nhiêu là truyện, hay có dở có, buồn vui có, li kì rùng rợn mê li đều có cả. Dại gì mà cóp của thiên hạ! Đời dân tộc ta đó, ta thẻo “une tranche de la vie”, một miếng thịt đời, đủ lắm rồi, cần gì nhờ ai, bắt chước ai.
         ― Thế thì muốn sáng tác, nhà văn cần phải sống nhiều…
         Vâng, huynh nói phải. Phải sống đây sống đó, sống lây sống lất, sống hùng sống mạnh, để hiểu tất cả mặt phải mặt trái cuộc đời; rồi phải học, phải đọc, phải đi, nghĩa là phải sống cho ra sống.
         ― Thế nhà văn có cần chơi bời không, anh?
         ― Đứa nào nói thế là thằng láo! Sống nào phải chơi bời. Chơi bời tự nhiên nó đến, thì để nó đến. Chớ nhà văn chân chính, nhà văn cho mình một sứ mệnh, không bao giờ chủ trương phải chơi bời mới viết văn sống, văn hay.
         Và tác giả “Cô Tư Thung” mỉm môi lại.
         ― Vậy anh viết có khó không?
         ― Chẳng khó tí nào cả. J’écris automatiquement ce que je pense.(5) (Và anh chỉ lên đầu.) Tôi nhìn, tôi ghi trên giấy, tôi nhớ trong óc, tôi dựng cốt truyện, tôi chờ nó lắng xuống rồi một hôm nào đó, tự nhiên nó trào ra, tôi chụp lấy bút, viết, viết…
         Có khi, tôi đem đốt cả tập nốt dày thế này này, bởi vì tôi không muốn chúng ảnh hưởng đến tôi lúc cấu tứ hành văn; chỉ còn có gì nó lưu lại trong này (anh chỉ đầu anh), mới là thứ thật, thứ quí; tôi chỉ dùng những thứ đó thôi. Có đôi bạn ngăn tôi đừng đốt các tài liệu sống ấy, không được, phát khóc.
         ― Xin lỗi anh. Người ta có kể hai việc về anh, mà tôi cho là hai giai thoại… bịa; việc đầu tôi đã có lần hỏi anh, nay nhân tiện cũng xin hỏi lại.
         ― Huynh cứ nói.
         ― Thời tiền chiến, khoảng 1942, trên một tờ báo trong Nam, có người viết, đại khái: nếu đọc sách anh mà có thấy mạch văn không đều, hoặc có chỗ non kém, thì bạn đọc đừng làm lạ, đó là “nhị vị phu nhân”… của anh góp phần vào sự nghiệp của đức phu quân; anh vốn thích viết về đêm, mệt, anh gọi: “Dì hai ơi! Ra viết tiếp giùm anh”. Dì hai ra, anh vào buồng ngủ lấy sức. Rồi anh ra viết tiếp. Một chặp, mệt, anh gọi: “Dì ba ơi! Ra viết tiếp giùm anh”. Dì ba ra, anh vào buồng ngủ lấy sức. Và cứ thế cho đến sáng… Việc này, năm 1954, anh Nguyễn Vỹ cũng có nhắc lại trong báo “Dân ta”, bảo rằng do Lan Khai kể lại. Có đúng phần nào không anh.
         Anh chỉ lắc đầu một cách mệt mỏi.
         ― Và cách đây không lâu, có người tiết lộ (trên giấy trắng mực in… rônêô) anh đã sáng tác theo kiểu Alexandre Dumas cha: anh thuê một vài nhà văn nghèo nào đó, viết, anh xem lại, sửa, rồi để tên anh, đem xuất bản.
         Anh lại lắc đầu.
         ― Ngược lại, cái này thì có.
         Rồi anh tâm sự với tôi: thời Nhật thuộc anh ẩn ở Lao Cai… rồi dặn: “Nói riêng anh biết vậy thôi. Chớ anh đừng công bố. Việc chẳng đẹp gì, mà trong số đó có vài anh hiện sống tại đây. Vả lại đó cũng là cảnh ngộ “cùng tắc biến”.”
         Thấy mắt anh chớp nhiều, và mồ hôi càng rịn, tôi hỏi dồn dập:
         ― Anh viết tiểu thuyết chắc là để cho anh, cho hả một cái gi ấm ức trong anh.
         ― Cho tôi mà cũng cho người ta nữa chứ. Hai cái này nó liên hệ mật thiết với nhau.
         ― Thế thì anh sáng tác vừa cho bây giờ vừa cho mai sau?
         ― Chính thế. Bây giờ mà có giá trị, thì sống đến mai sau.
         Tác giả thì nhắm cái hiện đại, mà tác phẩm ăn về mai hậu.
         ― Tác phẩm chót của anh chừng nào mới cho chào đời đây? Tôi nghe anh em nói đến nó nhiều.
         ― Chưa gặp thời, huynh ạ. Cuốn “Những người có sứ mệnh” của tôi đây, dày tới ba nghìn sáu trăm trang vẫn còn trong bản thảo. Tôi đã viết nó với tất cả bầu nhiệt huyết, với cả cái lương tâm của tôi. À, anh biết trên đời có bốn hạng người nào mà cần phải có “đại lương tâm” không? Không có, thì loài người chẳng phải loài người.
         Tôi ngập ngừng. Anh vừa lau mồ hôi, vừa thúc:
         ― Anh cứ nói!
         ― Theo chỗ tôi biết, thì đó là: nhà giáo.
         ― Huynh nói đúng.
         ― Nhà văn…
         ― Huynh nói phải. Nhà văn và nhà báo.
         ― Nhà… ơ… người thầy thuốc.
         ― Huynh nói chẳng sai. Còn hạng thứ tư?
         Tôi chịu thua. Anh xòe hai bàn tay ra:
         ― Nhà tu.
         Im lặng.
         ― À, có khi nào anh viết vì một áp lực gì không? Uy quyền ép buộc hay… thần cùng xui giục…
         ― Không bao giờ. Đệ thà chết, chớ không gì bắt buộc đệ viết khi đệ không muốn. Và khi tôi viết, tôi thấy như những người đã chết và những người sắp đến đang đứng nhìn tôi.
         Rồi anh hỏi: “Huynh không còn gì để hỏi đệ nữa chứ? Không, thì đệ có chút chuyện này nói với huynh”. Rồi anh nghiêng mình, nói nhỏ…
         Đưa anh ra cửa, tôi sực nhớ, vỗ vai anh: “À quên, anh thích nhất tiểu thuyết nào của anh?” Anh đáp ngay: “Ông Hoàng một đêm”, tôi thích nó nhất vì truyện chỉ nói đến một người đi chơi nhà thổ mà nói lên được tình Thương, cái tình mà tôi cho không có nó, thì trái Đất không còn là trái Đất nữa.
         Tôi hỏi anh câu cuối: “Người ta cho rằng những anh hùng anh tạo là những anh hùng rơm chỉ có tài nói huênh hoang. Anh có giận không?” Anh lắc đầu, tỏ vẻ không thừa sức đâu mà giận: “Những người đó họ sống ít, sống hẹp, sống cạn, chớ thật ra, những người anh hùng ngoài đời mà tôi được gặp họ còn có những hành vi cử chỉ anh hùng gấp mười lần những anh hùng trong tiểu thuyết của tôi”. Và người cha đẻ thuyết… người hùng bước đi, chậm yếu, bóng nghiêng nghiêng.


NGUIỄN NGU Í viết lại

__________________________________
(1) Xin đính chính, tôi sinh năm 1932 (Nhâm Thân) chứ không phải 1936 như trong khai sinh mà lần trước anh phỏng vấn, tôi làm theo tục lệ hành chính (Thế Phong chú thích).
(2) Trong “Người lính Casablanca” (Thế Phong chú thích).
(3) Xin xem lại báo “Phương Đông” ngày 8-8-1954, mục “Gia đình văn nghệ”.
(4) Tiện đây, chúng tôi xin sao lại một đoạn trong bài chúng tôi phỏng vấn anh, cách đây bảy năm (báo Phương Đông, 8-8-1954, mục Gia đình văn nghệ) để bạn đọc rõ thêm vì sao Lê Văn Trương làm văn nghệ.
      ― Anh gấp đi ăn cơm là vì cái dạ dày nó đói còn anh viết văn nhiều thế, là bởi cái gì nó đói?
       …
      ― Có thể nói rằng tôi đã “giác ngộ” về kiếp con người trước cảnh hoang tàn của Đế Thiên Đế Thích. Đây, Đế Thích tan tành, đâu kia Vạn Lí trường thành san phẳng… Những công trình “vĩ đại” xây bằng mồ hôi, nước mắt và máu của dân lành rồi cũng sụp nát, cũng đổ vỡ, cũng tàn phai… và chỉ gợi cho người sau những gì là bất công, là áp bức, là bạo tàn. Thế thì sánh với cái “kì quan” đang tan rã trước mắt tôi, có nghĩa lí gì cái sự nghiệp của tôi, mà có lúc tôi tự hào: những cái đồn điền “vậy vậy”.
      Vậy thì, nhà cao, đất rộng, vợ đẹp, con ngoan, thuốc bổ mua từ Nga, ô tô tậu ngay Mĩ, toàn là những trái bóng… bọt xà phòng. Có thật, và may còn lại về sau, còn nguyên vẹn, là những gì xây dựng trong lòng người, chớ chẳng phải trên mặt đất, là chân giá trị của con người, là khí phách của kẻ làm trai, là chí đả phá bao bất công, bao xấu xa, bao giả dối, bao độc ác để dựng lên cái gì đẹp hơn, thật hơn, lành hơn…
(5) Tôi viết một cách máy móc những gì tôi nghĩ.


BÁCH KHOA |  SỐ 106

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #723 vào: 16/05/2019, 17:56:07 »


Lại trả lời ông Thu-Giang

NĂM NGOÁI ông Thu Giang có xuất bản quyển sách Một nghệ thuật sống trong đó trình bày một quan niệm sống theo cái triết lý vô vi của Lão Trang. Trên tạp chí Bách-Khoa số 96 ra ngày 1-1-1961, tôi có phát biểu một ít cảm tưởng về sách ấy, đại khái cho rằng trong hoàn cảnh chúng ta đang sống nhiều lúc khó lòng ứng dụng được cái triết lý kia, và tôi có nêu lên vài ba trường hợp mà tôi cho là khó xử. Trên Bách-Khoa số 98, ông Thu Giang bảo rằng ông theo tam nguyên còn tôi theo nhị nguyên nên ông không biện bạch, vì như thế vô ích, ông chỉ lên tiếng để nêu mấy điểm nào ông cho là tôi “cắt xén đoạn mạch” văn ông để xuyên tạc ông thôi. Tôi tự xét không thấy có ý định ấy nên đã trình bày lại trên Bách-Khoa số 99 cho ông Thu Giang rõ rằng tôi không hề xuyên tạc văn ông. Ông Thu Giang ngẫm nghĩ ít lâu (độ chừng non ba tháng) rồi không hiểu sao bỗng lại gọi tôi ra minh xác lần nữa trên nhật báo Tự Do từ số 1220 đến số 1225.
         Đọc suốt sáu số báo Tự Do, tôi không thấy ông Thu Giang nhắc tới chuyện “con chiên ăn cỏ” tức là điểm mà ông cho là quan trọng nhất trong sự xuyên tạc của tôi, cũng không thấy ông Thu Giang nhắc tới chuyện cách ngôn của ông T.G. nào đó nữa. Ông bảo rằng đó toàn là “những chi tiết vụn vặt do tiểu khí gây ra” cả. (Nào tôi có gây thêm ra cái gì đâu, tôi chỉ gỡ từng điều mà ông Thu Giang buộc cho tôi đó thôi.) Tuy vậy tôi an lòng. Bởi vì ông Thu Giang đã không nhắc đến tất là không còn có gì để nhắc nữa, chứ nếu còn thì ông Thu Giang là người “hành động theo cái đạo nơi con người” của ông, lúc nào cũng chăm lo “lập lại sự công bằng” không chịu “dung tha” những thiên lệch, lẽ nào ông lại bỏ qua. Do đó nhận thấy lần này trong bài minh xác của ông Thu Giang “điểm quan trọng nhất” biến hóa thành ra “chi tiết vụn vặt” và được tạm gác bỏ, tôi thầm phục rằng ở đời ít người có được cái độ lượng khoan hồng khôn ngoan như ông Thu Giang.
         Duy còn một điểm về chỗ ông Thu Giang có thích hay không thích văn minh cơ giới là ông có nhắc lại. Cách nhắc của ông có chỗ đặc biệt mà tôi tưởng nên trình bày ra đây để độc giả nhận xét. Nguyên ông Thu Giang trách tôi xuyên tạc vì đã cho rằng phần phụ lục sách Một nghệ thuật sống của ông chống đối văn minh cơ giới, trong khi ý ông là chứng minh cái luật quân bình vũ trụ. Trong bài trả lời, tôi bảo rằng ý ấy tôi đâu có bỏ qua, trái lại tôi đã nêu ra trước rồi; nhưng ngoài ý ấy ra, lời lẽ và hơi hám hành văn của ông trong phần phụ lục còn để lộ mối ác cảm đối với văn minh cơ giới nên tôi lại nêu thêm một ý nữa đó thôi, thế không gọi được là xuyên tạc. Trên Tự Do số 1223, ông Thu Giang trích một đoạn văn của tôi trên Bách-Khoa số 99 thế này: “Phần phụ lục của ông cốt nói về cái lẽ quân bình vũ trụ, lẽ ra có nói thì tôi chỉ nên nói đến chỗ chính yếu đó thôi, chứ không nên nói tới cái sự yêu hay ghét văn minh cơ giới là điều thứ yếu, là điều chỉ đoán qua hơi hám hành văn của ông. Ông trách thế tôi chịu”. Rồi ông Thu Giang reo lên: “Như vậy, sự trách cứ của tôi rằng ông đã “cắt xén văn mạch” bài văn ấy của tôi là đúng hay sai?” Tôi đành thưa rằng “sai”, mặc dầu như thế có thể làm mất cảm hứng của ông Thu Giang đi nhiều lắm. Bởi vì làm thế nào khác được, rõ ràng ở đoạn vừa trích dẫn tôi chịu trách là nói thêm điều thứ yếu, ông Thu Giang lại muốn hiểu là tôi chịu sự “cắt xén văn mạch”. Nói thêm một điều thứ yếu thì có gì là tội lỗi đâu, có dính líu gì đến sự “cắt xén văn mạch” đâu mà ông Thu Giang lại ghép hai việc làm một? Vả lại trong bài phê bình trên Bách-Khoa số 96 tôi có trích câu nào của bài phụ lục Một nghệ thuật sống đâu mà bảo tôi có thể làm cái việc “cắt xén văn mạch” của ông được?
         Còn về phần ông Thu Giang trích văn tôi ở Bách-Khoa số 99 vừa rồi, thì xin độc giả cho là sau câu: “Ông trách thế tôi chịu”, còn một câu nữa thế này: “Nhưng thực ra chỗ chính yếu tức là việc quân bình giữa Phải Quấy, Lợi Hại, Thiện Ác… tôi đã có đề cập tới trong đoạn nhận xét trên rồi, chứ không có khinh chính mà trọng thứ”. Có câu sau đó thì tôi không khinh chính trọng thứ, không có câu đó thì có thể hiểu là tôi khinh chính trọng thứ: cái lối ông Thu Giang cắt văn người nó đặc biệt như thế đấy. Cắt văn thế nào để cho một ý này hóa thành ý khác, đó gọi là xuyên tạc, tức thì là một thủ đoạn thô thiển và bất lương. Mà ở trên đời này không ai ghét những thủ đoạn thô thiển và bất lương hơn là ông Thu Giang, cho nên tôi nhất định tin rằng việc đã xảy ra ấy chẳng qua là do một lẫn lộn nào đó, một “chi tiết vụn vặt” rất đáng “tạm gác bỏ”.
         Nhân đây tôi nói qua về thái độ “tạm gác bỏ” của ông Thu Giang. Trong loạt bài trên nhật báo Tự Do, sau khi đã bỏ qua cái “điểm quan trọng nhất” trong sự xuyên tạc của tôi là chuyện “con chiên ăn cỏ”, ông Thu Giang không đưa ra bằng chứng xuyên tạc nữa mà cứ cách một đoạn văn ông lại kêu lên về sự xuyên tạc của tôi một lần, đay nghiến tôi mãi. Tôi biết gán cho người những điều xấu xa không có chứng cứ ấy là cách vu cáo bất lương mà ông Thu Giang chẳng bao giờ chịu làm nhưng dẫu sao cũng phải chịu rằng hầu chuyện một người khó tính như ông Thu Giang thực là khổ cực.


○ ᴑ ○

         Ở trên tôi nói “không hiểu sao” ông Thu Giang lại minh xác, bởi vì cái lý do độc nhất khiến ông lên tiếng là việc cắt xén văn mạch đã không còn nữa (hay là đã biến ra vụn vặt), còn việc quan điểm khác nhau giữa kẻ nhị nguyên người tam nguyên thì “biện bạch hẳn là vô ích” như chính ông đã nói; thế thì còn có gì đáng nói nữa? Xem lại toàn loạt bài trên nhật báo Tự Do của ông thì phần chính lại đúng là chuyện nhị nguyên với tam nguyên. Nhưng về vấn đề này trong khi tôi chỉ ngại cái phải của ông Thu Giang khó đem ra ứng dụng trong hoàn cảnh sinh sống hàng ngày của chúng ta, thì ông Thu Giang lại mải miết lo biện minh cho cái Phải tam nguyên của mình, thành ra cuộc đối thoại diễn ra theo một chiều hướng ngộ nghĩnh, có thể tóm tắt như sau:
         Ông Thu Giang: Lão Tử nói… Trang Tử nói… Tăng Xán nói… Đạo Tín nói… Ram Linssen nói… Carlo Suarès nói… Khoa sinh lý nói… Khoa vật lý nói… Vậy đừng thiên hẳn về một bên nào của đòn cân Thiện Ác, Phải Quấy, đừng lấy Phải trừ Quấy, đừng phản động lại cái lầm.
         Tôi: Nhưng khi cái Quấy, cái Lầm, cái Ác nó lăm lăm hại ta, như… đối với nước ta, như thực dân đối với Algérie, như Nga Sô đối với thế giới tự do hiện giờ… thì làm cách nào để khỏi phản động lại cái lầm?
         Ông Thu Giang: Quản Trọng nói… Keyserling nói… Pascal nói… Mẹ tôi nói… Anh tôi nói… Tôi nói… Khoa tâm lý nói… Khoa vật lý nói… Vậy đừng thiên hẳn về một bên nào của đòn cân Thiện Ác, Phải Quấy, đừng lấy Phải trừ Quấy…
         Tôi: Nhưng trong những trường hợp cụ thể ở đời mà cái Quấy nó lăm lăm hại ta. Như… ở nước ta, như thực dân ở Algrérie v.v…
         Ông Thu Giang: Tôi bối rối!
         Tôi: …?
         Ông Thu Giang: “Nếu ông bạn (…) chịu nhận quan niệm về nhân sinh của tôi đã trình bày thì việc giải quyết mâu thuẫn giữa những sự Phải Quấy ở các nơi đây có gì là khó hiểu”… (Tự Do, số 1224).
         Ấy chết! Ông Thu Giang đã bối rối thì tôi làm quái gì mà hiểu nổi!
         Điều tôi ao ước ấy là có thể mang được triết lý trong sách vở ông Thu Giang ra để sống ở đời, chứ tôi nào có muốn nghe hết ông này nói đến ông kia nói (nhất là có ông nói đi nói rồi dẫn lại nhiều lần như ông T.G.) những điều lý thuyết xa vời. Mà tôi tưởng điều ước ao của mình cũng không trái với bản ý của tác giả Một nghệ thuật sống nếu căn cứ vào cách ông đặt tên cho tác phẩm. Ông Thu Giang hứa bày vẽ cho người đời một nghệ thuật sống chứ đâu có phải một nghệ thuật làm trọng tài giữa các cuộc xung khắc trong vũ trụ, hay là một nghệ thuật ngắm nghía cuộc sống? Thế mà đọc xong sách, tôi càng dò hỏi ông về cách sống trong những trường hợp cụ thể thì ông càng lùi ra, không! càng thăng lên cao, nhẫn tâm bỏ rơi tôi lại, lính quýnh với những phiền toái gay go mà thiết thực của cuộc đời. Tôi càng thiết tha nài ông nhìn xuống những việc thiết thực, ông càng trổ tài đằng vân giá vũ trên chín tầng mây thăm thẳm. Từ trên đó ông nhắn xuống: “Đạo chủ trương và bao trùm vạn vật, cho nên không thể thu hẹp hành động mình trong khu vực của một lẽ Quấy hay lẽ Phải nào, trong một cái Nóng hay cái Lạnh nào, thì người sống theo cái Đạo nơi mình cũng sẽ là kẻ không thể thu hẹp hành động cùng nhãn quan mình trong vòng eo hẹp của một quốc gia hay dân tộc nào. Cái nhìn của họ là cái nhìn bao quát, trùm lấp cả nhân loại, vạn vật, chứ không bị hạn định vào ranh giới của một quốc gia hay dân tộc nào cả. Lòng yêu thương của họ cũng không thể dừng nơi một khu vực nào, trong một ranh giới nào, mà lan tràn cùng vũ trụ muôn loài, không phân biệt màu da đen trắng nữa” (Tự Do số 1224).
         Như vậy cái nhìn của “người sống theo Đạo nơi mình” chiếu xuống vạn vật giống như thể cái nhìn của đấng tạo hóa. Thú vậy thay! Ai chẳng ao ước được có cái nhìn ấy? Nhưng khốn nỗi mỗi người trong chúng ta đều bị buộc sống vào một hoàn cảnh cụ thể, và khi phải suy luận cùng hành động thì lại không thể làm với tư cách người vũ trụ mà tùy trường hợp phải xử sự hoặc với tư cách một phần tử trong gia đình, hoặc với tư cách một công dân trong quốc gia, hoặc với tư cách một viên chức trong sở v.v… Những khi ấy muốn biết sống cho có nghệ thuật thì phải khu xử ra sao, hỏi đến ông Thu Giang, thì ông phàn nàn rằng đừng có “kéo” ông về những vấn đề thiết thực, ông không muốn có một sự níu kéo như vậy, nhất là kéo về thiết thực. Nhưng “những khi ấy” chính là tất cả cuộc đời của những người tầm thường chúng ta, ngoài ra chúng ta khó mà tìm được cơ hội để suy nghĩ hành động mà không bị những hoàn cảnh sinh sống cụ thể giới hạn. Đứng ngoài vòng, làm một kẻ trọng tài mà lập thế quân bình giữa Nóng Lạnh Thiện Ác thì hay quá, nhưng khi trong gia đình vợ ta tư tình với kẻ khác thì giữa ta với kẻ gian phu thực khó lập nên một thế quân bình, hoặc khi trong quốc gia chúng ta địch đến dấy lên một lực lượng quấy phá như hiện nay mà bảo đừng phản động mạnh, hãy se sẽ, “nó cao thì ép nó xuống, nó thấp thì nâng nó lên”, cho yên một thế quân bình, thì cũng lại thực khó nữa.
         Ấy, mối băn khoăn của tôi chỉ có như thế, ngay từ Bách-Khoa số 96 tôi đã nói rõ; thế mà mãi đến sau này trên nhật báo Tự Do ông Thu Giang vẫn mãi lo trích dẫn lời ông Thu Giang để giảng cái Phải tam nguyên của mình mà không thèm đếm xỉa ngó ngàng gì tới nó. Bởi vậy lối minh xác của ông mới đưa câu chuyện đến một chiều hướng ngộ nghĩnh như trên. Dầu sao, cái ý muốn minh xác của ông Thu Giang thì không còn hồ nghi gì nữa, cho nên tôi tự bảo nên nén lòng chờ đợi, biết đâu không có lúc ông Thu Giang lại chẳng minh xác cách khác, đúng vào đề tài thảo luận?


○ ᴑ ○

         Vả lại chờ đợi như thế cũng có thể là điều hay. Vì kể ra từ Một nghệ thuật sống cho đến bài minh xác trên nhật báo Tự Do lời lẽ ông Thu Giang đã có khác đi ít nhiều. Trong Một nghệ thuật sống ông phản đối cả sự chọn lựa, vì “đã là còn chọn lọc, tức là còn cho một cái gì phải hơn một cái gì, tức là còn nô lệ một bảng giá trị nào mà ta cho là phải hơn là một bảng giá trị nào khác mà ta không thích”; trên Tự Do, số 1225, ông bảo người sống và làm theo Đạo đâu phải là kẻ “không dứt khoát với điều Thiện lẽ Ác”. Đã dứt khoát chắc chắn là lần này có sự chọn lựa rồi. Trong Một nghệ thuật sống ông cho rằng dù chỉ thiên về bên Phải hay Quấy, Thiện hay Ác “một hào ly thôi, cũng đủ làm cho Trời Đất chia phân” và ông cho phản động lại cái lầm cũng là lầm; trên Tự Do số 1225, ông lại nói “người sống và làm theo Đạo đâu phải là kẻ “ấm ớ lưng chừng”, không làm Phải, không chống Quấy… Họ làm phải, nhưng đến mức độ nào; họ chống quấy, nhưng cũng đến mực độ nào”. Tôi đoán dù cái mực độ ấy có ngắn hẹp đến đâu cũng vượt quá một hào ly và cũng được gọi là một phản động rồi đấy.
         Sự “khác đi ít nhiều” ấy cũng nằm trong thông lệ dịch biến của vạn vật ở đời đó chăng? Hay là theo ngôn ngữ tam nguyên hai cách nói khác nhau có thể vẫn là một? Không thể biết rõ được, nhưng cứ theo cái đà đổi thay đó, nếu khéo chờ đợi nhẫn nại biết đâu chẳng có ngày tôi được cái vinh hạnh thấy ý mình giống ý ông Thu Giang? Ông Thu Giang chẳng đã bảo rằng cái Phải nó thường vượt Trung mà biến ra Quấy, cái Quấy biến ra Phải, Phải Quấy Quấy Phải biến hóa lẫn nhau được đó sao?
         Nhưng “người sống và làm theo Đạo” lần này đã bảo mình không ấm ớ lưng chừng, đã chống Quấy, thì ta hãy cứ xem người ấy chống Quấy đến cái mực độ nào, tại sao lại ngừng ở mức độ ấy. Theo chỗ tôi hiểu thì ông Thu Giang bảo chống Quấy vừa vừa thôi, vì một lẽ là nếu chống mạnh thì “vật cực tắc phản”, vả lại không thể diệt Quấy nổi bởi âm cô thì dương tuyệt, dương cô thì âm tuyệt, “Trời Đất Vũ Trụ bấy giờ sẽ nổ tung như quả bom nguyên tử”. Nghe ông Thu Giang nói khiếp quá! Tôi có thói liên hệ lý thuyết đến thực tế, nghĩ ngay rằng thế thì lực lượng quốc gia ở nước ta hiện giờ khó đối xử với lực lượng địch lắm lắm: Làm cho âm cô đi thì dương ắt tuyệt, dương cô đi thì âm ắt tuyệt, vậy phe quốc gia phải cẩn trọng gìn giữ sự tồn tại của phe địch như gìn giữ vận mạng của mình chăng? Nếu vạn nhất mà phe địch có mệnh hệ nào thì, âm cô dương tuyệt, phe quốc gia cũng đi đời luôn chăng? Vậy thấy nó “cao thì ép xuống thấy nó thấp thì nâng lên”, điều chỉnh thế quân bình cho thật cân nhau giữa địch và quốc gia mới đúng với Đạo chăng? Ông Thu Giang lại tiên tri ra cái chuyện “Trời đất Vũ trụ nổ tung như quả bom nguyên tử” để dọa mọi người, phòng chúng ta đừng có lỡ dại nhè cái Quấy, cái Ác, cái Lầm mà trừ đi.
         Nghe vậy tôi đã thực kinh sợ lắm rồi, nhưng tôi tự hỏi cách đây một trăm năm ở Hoa Kỳ có một phe chủ trương duy trì chế độ nô lệ một phe chủ trương giải phóng nô lệ, “cặp đối đích” ấy giằng co nhau gây thành cuộc Nam Bắc phân tranh, ông Lincoln không sợ dương cô âm tuyệt, không sợ Trời Đất nổ tung, không điều chỉnh thế quân bình, ông ta cứ thiên hẳn về một bên để trừ hẳn một bên, cứ vậy mà sao quốc gia lại thống nhất, dân tộc lại tiến bộ? Gần đây hơn, trên thế giới cũng có một phe dân chủ với một một phe phát xít Đức Ý Nhật sóng đôi nhau thành một “cặp đối đích” rất nên cân xứng, giá để yên cho người tam nguyên chiếu cái nhìn “bao trùm vạn vật”, tỏa cái lòng yêu thương “lan tràn cùng vũ trụ muôn loài” xuống cảnh ấy thì cặp đối đích ấy chắc vẫn còn song song bên nhau mãi. Nhưng phe dân chủ không ngần ngại, không sợ người tam nguyên mắng cho là “độc tài kém thông minh”, họ cứ nhè phát xít tiêu diệt bừa đi, cứ thế mà nhân loại thanh toán được một cái nhục, sao Trời Đất không nổ tung?
         Ông Thu Giang vẫn xưng rằng quan niệm của ông là một thứ quan niệm động, tôi không hiểu sự biến hóa theo ông có thể xảy ra cách nào nếu đối với mỗi cặp đối đích ông đều nâng bên này đỡ bên kia cho giữ yên mãi một thế quân bình. Thứ quân bình đó không phải là cái quân bình tịnh đó sao? Cái quân bình của sự yên nghỉ, đưa về cái chết đó sao? Muốn có biến hóa chẳng phải một khi có xung khắc giữa cặp đối đích thì có thể làm tan vỡ một thế quân bình để tiến tới một thế quân bình mới sao? Luôn luôn lập ra những cặp đối đích, những thế quân bình trong vũ trụ, đó có thể là định luật của tạo hóa, nhưng tất cả hoạt động của con người không phải là để giúp Thiện thắng Ác, giúp Phải thắng Quấy, phá vỡ thế quân bình này để tiến lên thế quân bình kia, dần dần tiến hóa sao?
         Vẫn theo ông Thu Giang, còn một lẽ nữa khiến ta phải chống Quấy vừa vừa thôi, ấy là mối lo cái Quấy có thể biến ra Phải, mà cái Phải biến ra Quấy. Theo cái Phải hăng quá tới ngày nó biến thành Quấy hay chống cái Quấy hăng quá tới ngày nó biến thành Phải, ông Thu Giang đều sợ gặp cảnh lỡ tàu, cho nên ông cẩn thận lo xa. Ông lo cho thân ông rồi, ông còn khuyên bạn bè: “Tôi thường nhắn nhủ bạn bè đừng quá “hăm hở” quá nhiệt liệt “hoan hô” để rồi khi sự việc vượt quá mức “trung”, lại cũng chính mình “hăm hở” nhiệt liệt “đả đảo” mà làm trò cười cho thiên hạ!” (Tự Do, số 1221). Hoan hô hay đả đảo đều dại cả vì đều có thể làm trò cười cho thiên hạ. Vậy đành chỉ có cưỡi tường là khôn hơn cả! Đó là lời nhắn nhủ của ông Thu Giang (tức thị một triết gia “thông minh”).
         Tôi nghĩ đến thái độ quả cảm của một số ký giả, trong cuộc chống đối với…, trước những biến cố ở Cuba, ở Lào v.v… họ luôn luôn ủng hộ một chính sách cương quyết, lành mạnh. Nhớ khi nghe tin phe tự do chịu điều đình với… về Cuba và Lào, ông Hà Thượng Nhân phẫn nộ:
                  “Hội nghị bao giờ mở?
                  Để năm châu bực mình!” (Tự Do, số 1224).
         Lại nhớ cái dạo luận về thái độ của người văn nghệ, ông Hiếu Chân cực lực đả kích sự hèn nhát của kẻ cưỡi tường. E rằng những thái độ của các ký giả ấy không hợp với triết lý, không có nghệ thuật, nhưng tôi tin đó là thái độ ích lợi đối với sự tiến hóa của xã hội.
         Lịch sử không phải đã tiến bước, đời sống nhân loại không phải đã mỗi ngày một sáng sủa tốt đẹp thêm lên là nhờ ở thái đô tích cực của những kẻ thấy Quấy chịu trừ, thấy Phải chịu hết lòng ủng hộ, thấy Ác có gan chống triệt để, thấy Thiện chịu phát huy đó sao? Không phải chỉ ủng hộ cái Phải bằng một tiếng “hoan hô” mà đã sợ là quá hăm hở, đã lo một ngày kia có thể “làm trò cười cho thiên hạ” đâu! Họ còn hăm hở đến cái mức đem mạng sống của mình ra mà hy sinh để cho lẽ Phải thắng lợi. Cuộc đời không phải được đến như ngày nay do những kẻ chu đáo khôn ngoan đến cái mức không hoan nghênh mạnh không đả đảo mạnh để khỏi lo ngày sau bị lỡ tàu, mà là do những người biết giận cái Ác, biết yêu say mê cái Phải, biết khóc biết cười mà không sợ lố bịch, biết liều mình vì chính nghĩa mà không sợ bị chê là dại. Nói thế, không phải bảo rằng cái nghệ thuật của ông Thu Giang người đời không công nhận đâu: trước khi Một nghệ thuật sống ra đời vẫn có chán vạn người sống có nghệ thuật rồi đấy chứ, nhưng có điều họ lặng lẽ khôn ngầm, họ ngượng mồm ngượng miệng không đem ra truyền bá nghệ thuật. Ông Thu Giang hơn người ở chỗ đem cái nghệ thuật ấy ra nhắn nhủ với bạn bè, rồi làm sách dạy cho cả thiên hạ. Nhưng sống như lối ấy mà gọi là nghệ thuật e là một lối gọi không chính danh, gọi là thủ đoạn, là mánh lới có hợp hơn chăng?
         Ông Thu Giang không hăm hở hoan hô Phải, vì lo Phải nó biến ra Quấy. – Thì lúc đó ta lại hăm hở đả đảo Quấy chớ có sao? Tôi lại tự kéo mình về chuyện thiết thực: hồi năm 1945 một bên Việt Minh kêu gọi toàn dân kháng chiến với một bên thực dân Pháp chiếm đóng nước ta, giữa “cặp đối đích” ấy người tam nguyên có lẽ nâng bên thấp ép bên cao cho nó quân bình, nhưng kẻ “hăm hở” tưởng cứ mạnh dạn thiên hẳn về một bên mà hoan hô đi. Rồi thì đến lúc Việt Minh nó hóa ra độc tài, đối đích với phe quốc gia, người tam nguyên có lẽ cũng vẫn nâng bên thấp ép bên cao cho nó quân bình, trước sau như một, thiên hạ không cười vào đâu được, nhưng kẻ “hăm hở” lại tưởng cứ có thể quay ra thiên hẳn về phía khác mà đã đảo mạnh độc tài chớ có sao?
         Trước một thời cuộc cụ thể như vậy, thái độ người tam nguyên thế kia mà gọi được là “ấm ơ lưng chừng” ư? Ông Thu Giang bảo sai, ông có lý. Trong trường hợp ấy “ấm ớ lưng chừng” là cái tiếng kỵ nhất, không nên dùng đến. Cũng như đối với người hỏng mất thị giác thì kỵ nhất là tiếng đui, hãy nên nói người ấy tối, đối với kẻ râu quặp thì kỵ nhất là tiếng sợ vợ, hãy nói kẻ ấy nể vợ. Trong trường hợp vừa kể, không phải là “ấm ớ lưng chừng” mà phải nói “chống quấy đến một mức độ nào”. Danh từ của giới nhị nguyên thường vấp phải cái khuyết điểm là sống sượng.


○ ᴑ ○

         Trên Bách-Khoa số 98, ông Thu Giang có nói người nhị nguyên “là người không thể quan niệm rằng trong đời này còn có cái Phải nào ngoài cái Phải theo ông (người nhị nguyên) quan niệm, và người ta không thể nào vượt lên trên sự Phải Quấy của ông (người nhị nguyên) để suy nghĩ khác được” (trang 149). Thì ra người nhị nguyên họ cố chấp hẹp hòi quá lắm. Còn người tam nguyên? Ông Thu Giang bảo: “… tôi không có ý cầu mong gì được phần phải về mình cả, vì tôi không tin rằng có cái phải nào là cái phải chung cho tất cả mọi người được” (trang 150). “Tôi” ấy tức thị là ông Thu Giang, một người tam nguyên đó. Như vậy ai chẳng cho rằng người tam nguyên phóng khoáng rộng rãi khác đời? Như thế những điều ông tranh luận để bênh vực ấy là cái không Phải không Quấy đó chăng? là cái vừa Phải vừa Quấy đó chăng? Vả lại trong cuộc thảo luận tôi chưa bao giờ cho ông Thu Giang là sai, chỉ than thở rằng đem cái nghệ thuật của ông ra sống e không tiện, thế thôi; còn ông Thu Giang thì ông quyết rằng tôi cũng như phần đông người đời ngày nay đều sa vào cái lầm, và lầm lớn, bởi vì bị “cái lầm trước kéo đến cái lầm sau” (Tự Do, số 1222), ông lại quyết rằng phải hiểu cái luật quân bình như ông đã tuyên bố, còn “hiểu khác hơn là nguy hiểm vô cùng đã hiểu sai rất xa sự thật” (Tự Do, số 1222).
         Cái việc một người đứng ra bênh vực quan niệm của mình không có gì đáng lạ lùng. Nhưng sao ông Thu Giang không bảo thẳng ra rằng mình cũng giống như mọi người, mình cũng sẽ bênh vực cái mà mình cho là đúng, là chân lý, cái Phải của mình, như thế có phải giản dị không? Ban đầu ông lại đi cao giọng giới thiệu một mẫu người tam nguyên như là một bậc siêu phàm đứng trên mọi lẽ phải quấy. Thế rồi càng lâu càng rõ ra thì là người tam nguyên… cũng chẳng khác gì người nhị nguyên (theo cái mẫu ông Thu Giang đưa ra). Nghĩa là cũng cho chỉ có mình là phải, cũng công kích cái phải của kẻ khác mà mình coi là quấy. Sự thực về người tam nguyên chỉ có vậy, mà thái độ ỡm ờ của ông Thu Giang làm cho nó rắc rối thêm biết bao nhiêu!
         Bởi vậy một lần nữa, tôi lại ôm mối hy vọng rằng nếu mình khéo nén lòng chờ đợi biết đâu chẳng có ngày mình lại không được cái vinh hạnh giống ông Thu Giang thêm về một phương diện nữa?
         Cũng trên Bách-Khoa số 98, ông Thu Giang có viết: “Lẽ ra tôi không cần biện bạch dài dòng” (trang 149). Lẽ ra ông Thu Giang không biện bạch mà rồi ông Thu Giang lại biện bạch. Biện bạch xong, ông Thu Giang lại biện bạch nữa, và rất dài dòng trên sáu kỳ báo Tự Do (mà không phải là vì tiểu khí đâu nhé).
         Vài sao mà lẽ ra ông Thu Giang quyết không biện bạch? Ông có nói rõ, vẫn trên Bách-Khoa số 98: “vì tư tưởng của nhà phê bình của báo Bách-Khoa là lối tư tưởng của nhị nguyên” (trang 149). Người tam nguyên không muốn biện bạch với kẻ nhị nguyên, thế rồi người tam nguyên lại biện bạch, mà lại biện bạch chính về cái chỗ nhị nguyên với tam nguyên! Gớm! Sao mà bất nhất rắc rối lắm vậy? Đó cũng lại là cái lẽ dịch biến đó chăng?
         Dầu sao tôi cũng rất lấy làm ân hận về chỗ đã khiến ông Thu Giang cứ theo đòi tự làm trái ý mình mãi, mà không vì tiểu khí.
         Trên Tự Do số 1220, ông Thu Giang có thuật rằng cách đây 25 năm, có xảy ra một cuộc bút chiến “vô cùng nhiệt liệt” giữa ông một bên và cả nhóm mác-xít do Phan Văn Hùm cầm đầu một bên, diễn ra trong sáu tháng. Tôi tiếc mình sinh sau đẻ muộn, không được chứng kiến cuộc bút chiến khủng khiếp ấy, nếu được thấy có lẽ tôi đã đâm hãi mà không dám lao đầu vào cuộc bút chiến với một người có thành tích ghê gớm như ông Thu Giang. Tôi nghĩ tới con dê thứ bảy của ông Seguin, trốn chuồng ra núi gặp sói, nó nhớ lại một bậc đàn chị của nó đã cầm cự với sói suốt đêm tới sáng mới bị ăn thịt, và nó cũng cố sức cầm cự, chỉ chờ cho chóng tới sáng để kiêu hãnh nằm dài xuống cho sói ăn. (Cố nhiên, về một phương diện, không thể hiểu ông Thu Giang là sói mà ông Phan Văn Hùm là dê.) Sực nhớ ra từ ngày bài đầu tiên của tôi nói về ông Thu Giang đăng trên báo Bách-Khoa tới nay đã quá năm tháng rồi, tôi giật mình: hạn kỳ ông Thu Giang tiết lộ gần chấm dứt! Mình sắp phải nằm dài ra rồi sao?


NHÂN THẾ


BÁCH KHOA |  SỐ 106

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #724 vào: 17/05/2019, 11:50:56 »
BÁCH KHOA |  SỐ 107  [15-6-1961 |  110 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Nguyễn Hữu Phiếm |  Thi rớt, thi đậu… |  3-8
Quảng cáo |  9-10
Hoàng Minh Tuynh |  Chủ thuyết “Chân dũng” của Găng-Đi [V] |  11-14
Phạm Hoàng |  Nhận định: Làm người |  15
Quảng cáo |  16
Nguyễn Phúc Sa |  Viện trợ song phương và viện trợ đa phương |  17-21
Quảng cáo |  22
Nguyễn Hiến Lê |  Ibn-Seoud (1881-1953): Một vị anh hùng nhờ kiên nhẫn… |  23-32
Quảng cáo |  33-34
Đoàn Thêm |  Thử tìm hiểu hội họa [VII] |  35-50
Quảng cáo |  51-52
Vân Trang |  Người đàn bà phục thù (truyện) |  53-56
Tường Linh |  Khóc một người thơ (thơ) |  57
Vũ Hân |  Tái ngộ (thơ) |  58
Trần Văn Khê |  Lá thư Ba-tư |  59-64
Vi Huyền Đắc |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? \ Nguiễn Ngu Í viết lại |  65-72
Bà Thu Vân |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  72-74
Việt Bằng (phỏng dịch) |  Hồn ma trở về \ Falikn Gwizdz |  75-78
Mộng Trung |  Tỉnh mộng (thơ) |  79
Tuyết Hương |  Phấn đấu [VI] (truyện dài) |  80-86
Bùi Khánh Đản |  Những bàn tay mạnh (thơ) |  86
Võ Hồng |  Tai họa cuối cùng (truyện) |  87-95
Đoàn Thêm |  Mát trời (thơ) |  96
SINH HOẠT:
   |  Thu Thủy |  Vấn đề da đen ở Hoa Kỳ |  97-101
   |  Thu Thủy |  Một tác phẩm của Alberto Moravia |  102-103
   |  Bùi Kim Chi |  Phương pháp trị bệnh và thuốc rễ nhàu |  104-106
   |  Nguyễn Ngu Í |  Thi hào Goethe dưới mắt một người Việt |  107-108
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 105 |  108
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  109
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  110


SAIGON |  1961




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #725 vào: 17/05/2019, 18:47:57 »


                        Khóc một người thơ

                  MƯỜI năm khóc chuyện buồn thiên hạ
                  Chừ cỏ xanh rồi, ai khóc anh?
                  Bia mộ: người đi vào tuổi đá
                  Nghìn sao ngơ ngác hỏi đêm thanh

                  Từ thuở nằm yên dưới mộ sâu
                  Nếu anh còn nhớ, nhớ về đâu
                  Chuyện lòng nói hết hay chưa hết,
                  Còn nợ nần chi mộng buổi đầu?

                  Anh phụ tình xuân, bỏ tuổi hoa
                  Quên đêm rờn rợn sóng trăng ngà
                  Quên chiều nắng nhạt mây vương núi
                  Bỏ ngõ rèm khuya gió thoảng qua…

                  Hôm nao có một người con gái
                  Thơ thẩn tìm anh trong nghĩa trang
                  Tôi biết: người xưa anh đã gặp
                  – Bên anh, bia mộ có tên nàng.

                  Mai sau, có những người con gái
                  Nhìn lá thu rơi trước cổng trường
                  Trong những tim hồng, anh sống lại
                  Mùa thơ vạn kỷ sáng yêu thương.

                  Mất tuổi xanh, chừ được cỏ xanh
                  Mười năm lòng rách vá chưa lành
                  Mà thôi anh nhé, chiều nay đẹp
                  Đời vẫn cần Thơ – tôi khóc anh.


                                                 TƯỜNG LINH



BÁCH KHOA |  SỐ 107

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #726 vào: 18/05/2019, 10:19:37 »


                                Tái ngộ

                  TRÔNG nhớ lâu rồi, nay gặp nhau.
                  Tưởng chừng tái ngộ giữa Mai-Sau.
                  Nhìn ai nào thấy gì thay đổi,
                  Nhưng thoảng năm xưa Đôi Mắt Sầu.
                                          ○
                  Mắt ấy đã một lần tiễn bạn
                  Một chiều ngược gió vượt sông sâu…
                  Cách giang, ngó lại bờ lau cũ,
                  Man mác thuyền sương nguyệt gác sào
                                          ○
                  Xin vẽ giùm ta hình ảnh đó
                  Thơ ơi! thực tế quá buồn đau!
                  Năm canh muốn xáo thành năm mộng
                  Để được cùng Thơ nhập Sắc màu…
                                          ○
                  Màu sắc, Âm thanh tình hữu thủy,
                  Hòa nhau muôn kỷ vẫn vô chung.
                  Lời nguyền thuở trước, Thu vằng vặc,
                  Chừ gặp nhau đây, lòng hỏi lòng?…


                                     Huế – Bước vào mùa Sen – 61
                                                       VŨ HÂN
                                                      (Mai Sau)




BÁCH KHOA |  SỐ 107

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #727 vào: 18/05/2019, 21:43:30 »


Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào?
000
Vi Huyền Đắc, soạn kịch

              Sanh ngày 18 tháng chạp mậu tuất (nhằm 30-1-1899) ở làng Vạn Xuân, quận Ninh Hải, tỉnh Hải Ninh (Bắc Việt).
              Cộng tác với các báo: Đông Tây, Phong Hóa, Ngày Nay… trước 1945, và sau 1954, giúp các báo: Tự Do, Bách-Khoa, Phổ Thông…
              Tác phẩm, xin xem trong bài, đoạn “Thư mục”.



         Tôi vừa tắt máy xe ở trước vỉa thềm “Hoàng Mai hiên”, thì chủ nhơn ở trong nhà đà lên tiếng:
         ― Tôi đợi anh đã có một tiếng đồng hồ. Hẹn 4 giờ rưỡi chiều, mà mãi đến 5 giờ rưỡi mới nghe tiếng xe anh!
         Tôi vừa lau mồ hôi trán, vừa bắt tay anh và vừa cười một cách héo khô dưới ánh nắng mặt trời gay gắt.
         ― Anh ơi! Anh ngồi trong mát mà đợi, anh có biết đâu cái nóng lòng và cái bực trí của người nhớ giờ hẹn mà cái của bạn đường máy móc có tuổi trở chứng này, đã làm tôi vất vả dọc đường chẳng ít, từ khu Bàn Cờ của tôi đến cái ngoại ô Gia Định này của anh.
         Tác giả “Khóc lên tiếng cười” để nở một nụ cười mênh mông rồi đưa tôi lên gác. Vừa hớp tách nước trà, tôi vừa ngó qua cửa sổ theo tay anh chỉ: có cây đủng đỉnh vẻ an nhàn, có cây xoài chưa tỉnh giấc, có mấy bụi chuối mà gió phũ phàng chưa xé lá tả tơi… Êm êm, dịu dịu.
         ― Của anh?
         Cười: “Nếu là của tôi, thì khoe với anh chi”. Tôi cũng cười theo, nhớ đến trái cấm, nhớ đến cái giàu của những tâm hồn nghệ sĩ.
         ― Tôi soạn sẵn cái này cho anh đây!
         Và tác giả “Nghệ sĩ hồn” trao cho tôi.

Thư mục của Vi Huyền Đắc:
         Kịch dài:
         ― Uyên ương, kịch 4 đoạn, diễn lần thứ nhất ở Hà Nội, ngày 5, 6 và 12, 13 tháng năm 1928, do hội Uẩn Hoa tổ chức (Thái Dương văn xã, 1927).
         ― Hoàng Mộng Điệp, kịch 5 đoạn, diễn lần thứ nhất ở Hà Nội, ngày 12 tháng tư năm 1930, do ban kịch của trường Cao đẳng Mỹ thuật trình bày (Thái Dương văn xã, 1928).
         ― Hai tối tân hôn, kịch 3 đoạn, diễn lần thứ nhất ở Hà Nội, này 4 tháng sáu năm 1931 (Thái Dương văn xã, 1929).
         ― Cô đầu Yến, kịch 4 đoạn (Thái Dương văn xã, 1930).
         ― Cô đốc Minh, kịch 4 đoạn (Thái Dương văn xã, 1931).
         ― Nghệ sĩ hồn, kịch 3 đoạn, diễn lần thứ nhất ở Hà Nội, ngày 5 tháng ba 1933, do ban kịch của trường Cao đẳng Luật học trình diễn (Thái Dương, 1932).
         ― Mạc Tin, kịch 4 cảnh suất, bản dịch ra Việt văn của vở “Martine” của Jean Jacques Bernard (Đời Nay, 1936).
         ― Kinh Kha, kịch 3 đoạn, diễn lần thứ nhất ở Hải Phòng, ngày 10 tháng mười 1934 (Hàn Thuyên, 1937).
         ― Kim tiền, kịch 4 đoạn và 1 khai từ, diễn lần thứ nhất ở Hà Nội, ngày 31 tháng ba 1938 (Cơ sở Báo chí và xuất bản Tự Do, 1960).
         ― Éternels regrets (Trường hận), kịch Pháp văn, 6 cảnh suất và 1 khai từ. Đã trúng giải thưởng của Hàn Lâm viện Nice trong cuộc thi mùa đông 1936-1937 (Thái Dương, 1938).
         ― Ông ký Cóp, kịch 3 đoạn, diễn lần thứ nhất ở Hải Phòng, ngày 10 tháng mười 1938 (Hàn Thuyên, 1937).
         ― Giê Su, đấng cứu thế, kịch 4 đoạn, diễn lần thứ nhất ở Nha Trang, Phan Rang và Đà Lạt, tháng sáu 1958, do ban kịch của Nhà đệ tử tu viện Thánh Giuse tại Nha Trang, Phước Hải.
         ― Khóc lên tiếng cười, kịch 4 đoạn, diễn lần thứ nhất ở Hải Phòng, năm 1940, do ban kịch Thế Lữ trình bày.
         ― Lệ chi viên, kịch 4 đoạn, diễn lần thứ nhất ở Hà Nội, tháng mười năm 1934 (Đại La, 1945).
         ― Bạch Hạc Đình, kịch 4 đoạn.
         ― Thành Cát Tư Hãn, kịch 3 đoạn và 1 khai từ (Người Việt tự do, 1956).
         ― Genghis Khan, kịch Pháp văn, 3 đoạn và 1 khai từ.

         Kịch ngắn:
         ― Vở kịch hay nhất, 2 đoạn.
         ― Nhà có phúc, 2 đoạn.
         ― Chung thân đại sự, 1 đoạn (dịch Trung văn).
         ― Láng giềng, 1 đoạn (dịch Trung văn).
         ― Trả thù (dịch Pháp văn).

         Tiểu thuyết dịch:
         ― Một gia đình, bản dịch cuốn Nhất gia của Từ Vu (Nguyễn Thế, 1957).
         ― Khói lửa kinh thành, bản dịch bộ Kinh hoa yên vân của Lâm Ngữ Đường.
         ― Người bạn lòng, bản dịch cuốn Hồng nhan tri kỷ của Tuấn Nhân.

         Khảo cứu:
         ― Việt tự, một lối viết Việt ngữ bỏ 5 dấu (Thái Dương, 1929).
         ― Máy hơi nổ, dùng trong các kiểu xe tự động.


⎎ ⎎ ⎎

         Tôi lẩm nhẩm: cả dài, ngắn: 22 vở kịch, trong đó có 4 vở kịch dịch, hai vở kịch viết bằng tiếng Pháp, vốn liếng người đàn anh này cũng khá nhiều, hẳn kinh nghiệm của anh về môn kịch nghệ rất là phong phú?
         ― Ta ra ngoài này nói chuyện, có quạt máy.
         Nhưng cái quạt máy xoay qua, xoay lại ấy không làm tôi quên cái nóng còn nung người lúc bấy giờ bằng cái thiết tha, cái sôi nổi của người hai thứ tóc gầy gầy, cao cao ấy. Và câu chuyện tâm sự lôi hai người chúng tôi về quá khứ:
         ― Tôi bước vào gia đình văn nghệ, thật là một sự bất ngờ, anh ạ. Gia đình tôi là một gia đình sống về thực nghiệp. Cha tôi hoạt động về kinh tế. Không có ngọn gió văn nghệ nào phe phẩy trong tiểu và đại gia đình của tôi cả. Khi học, tôi lại thích… khoa học, mà chẳng để ý gì tới văn chương. Tôi lại nuôi giấc mơ được sang Pháp học về ngành máy và điện. Giấc mơ này rất có thể biến thành sự thật nếu đừng có trận giặc 1914-18 xảy ra. Tôi đành học ở trường Mỹ nghệ thực hành ở Hải Phòng. Học ba năm, tôi ra trường, về trông nom việc đấu thầu cho cha tôi.
         Lúc bấy giờ, tôi cũng thuộc vào lớp thanh niên thích cái gì mới. Cho nên tôi đã vỗ đến đỏ cả bàn tay khi xem kịch “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long. Khoảng 1921-22. Tôi đâm ra mê kịch, cũng như thuở bé, tôi mê tuồng, mê chèo vậy. Nhưng tôi thấy chưa vừa lòng về vở kịch đầu tay đó của ông Long, vì nó còn mang tính chất tuồng chèo: có pha trò, có vai hề chọc người khán giả. Tôi cho đó chưa phải là kịch.
         ― Nên anh “nổi loạn”: giã từ đời doanh nghiệp, để phiêu lưu trong nghiệp văn chương?
         ― Đâu dám nổi loạn, chỉ có không bằng lòng, rồi phản ứng.
         ― Bằng cách xăn tay áo viết kịch…?
         Anh cười, rót thêm trà, và kéo cái quạt máy lại gần người khách đường xa… Giọng anh hăng lên.
         ― Tôi cho kịch phải là kịch thuần túy, không nên pha trộn trò hề vào.
         ― Nghĩa là phải có cái gì kịch liệt?
         ― Tôi chưa hiểu anh muốn cho hai tiếng kịch liệt cái nghĩa nào. Kịch, theo tôi, là phải phản ảnh cuộc đời, không được gò bó theo một đường lối nào… để cố ý làm cho khán giả phải khóc hay phải cười.
         Cái nóng nung người vẫn còn nóng nóng ghê, mà anh trong lời nói trong cử chỉ, có vẻ là một nghệ sĩ đương bị ngọn “lửa thiêng nung nấu ở nội tâm”, nên tôi hỏi sang chuyện khác:
         ― Anh nói thuở nhỏ mê tuồng mê chèo, mà khi lớn anh có mê cải lương Nam kỳ không?
         ― Sao lại không?… Vì tôi vốn có óc chiết trung nên tôi yêu thích bất cứ loại nghệ thuật nào. Bình kịch hay thoại kịch đều có một đặc tính và một sức hấp dẫn cả. Nếu người soạn vở có thực tài và diễn viên lột được hết tinh thần, loại nào cũng làm cho khán giả thích thú, và hoan thưởng.
         ― Có phải vở kịch đầu tay của anh là vở “Uyên ương” không? Và anh lấy đề tài ở đâu?
         Mắt anh nheo nheo, lưỡng quyền anh như cao thêm trên gương mặt xương xương.
         ― Ở cả cuộc đời, và sách vở.
         Anh ngừng một chặp, nhắp miếng nước trà, rồi mới tiếp:
         ― Xem sách Tàu, tôi đặc biệt đế ý đến tích tình chim uyên ương. Thật là kỳ dị! Chim đó sống lúc nào cũng có đôi, quấn quít lấy nhau. Một con chết, thì con kia cũng chết theo. Tôi liên tưởng đến một mối tình chung thủy của hai người yêu nhau, yêu nhau tha thiết và chân thành. Và tôi mượn của cuộc đời một câu chuyện để làm cốt kịch. Kịch đem diễn, làm cảm động người xem; được diễn nhiều lần, và đều được hoan nghênh. Được khích lệ một cách cụ thể, nên tôi đi hẳn theo con đường kịch.
         ― Kịch “Uyên ương”, anh viết có lâu không?
         ― Không lâu. Ấp ủ trong ba tháng, rồi tôi viết một hơi, tôi nhớ trong vòng hai tuần thì phải. Có điều đáng nhớ, là tôi soạn vở kịch đầu của tôi ở Nam Vang, năm 1926; tôi đọc ở Sài Gòn cho… Anh biết ai là người đầu tiên nghe tôi đọc tác phẩm đầu lòng của mình không?
         Tôi lắc đầu. Anh thong thả nhắp trà.
         ― Tản Đà. Tản Đà pha trà thì tuyệt! Và Tản Đà nghe xong, buông ra ba tiếng: “Nghe được đấy”. Và diễn ở Hà Nội, năm 1928, do hội Uẩn Hoa; đạo diễn là anh Tam Lang.
         ― Còn vở thứ nhì của anh?
         ― Lần này, thì do đời cung cấp đề tài. Chẳng là lúc đó, có phong trào cổ xúy phụ nữ ra làm việc xã hội với bao sự lố lăng nên tôi không mấy hoan nghênh. Lúc đó, tôi cho rằng cái “ngai vàng” của đàn bà là ở trong gia đình. Vở “Hoàng Mộng Điệp” do ban kịch của trường Cao đẳng Mỹ thuật trình bày năm 1930 tuy gặt được nhiều tán thưởng của khán giả, nhưng cũng hái được khá nhiều lời đả kích. Trong số các nhà báo đả kích “Hoàng Mộng Điệp”, hăng hái vào bậc nhất là Vũ Trọng Phụng. Lúc ấy, Phụng vừa thâu nhập tư tưởng Mác-Lê, nên chỉ trích tôi chẳng tiếc lời. Nhưng sau, gặp tôi anh em quen nhau, Phụng xin lỗi tôi, vì rõ đó chẳng phải là chủ trương của tôi: không cho phụ nữ gánh vác việc đời, mà chỉ là để bài xích những cái rởm, cái lố lăng của thời đại.
         ― Thế còn “Hai tối tân hôn”?
         ― Trong vở kịch thứ ba này, tôi cho rằng lòng hiếu thảo và lòng hi sinh có thể chuộc được các tội lỗi, lỡ lầm, và cái lý tưởng cao quí nhất là sự tha thứ.
         ― Vậy theo anh, kịch để phụng sự…
         ― Tôi không nghĩ đến phụng sự cái này hay cái nọ. Đã là kịch, với tôi, thì lúc nào cũng đi sát sự thật và tả tâm tính con người.
         Kịch là một biến cố; khai thác biến cố đó, kịch gia phải làm sao cho nổi bật tánh tình của từng vai một. Muốn đạt được điều này, dĩ nhiên là kịch gia phải sống nhiều, vì không thể thêu dệt được… Muốn đưa lên sân khấu một ông giáo chẳng hạn, người soạn kịch phải rõ cách dạy của ông giáo ấy, tánh nết cùng những thói, những tật của ông ta. Muốn đưa một nhân vật mình ra tòa, mà tác giả không từng xem một phiên tòa xử, thì hỏng.
         ― Thế thì cái chánh trong kịch không phải là phần kịch tính?
         ― Đứng về mặt kỹ thuật mà nói, người ta hay chú trọng đến cái cốt của vở kịch. Nhưng tôi cho điều đó phải đứng hàng thứ hai, hàng thứ nhất, phải để cho con người, rõ ràng hơn là cái tâm tính của các nhân vật…
         Chủ chốt là con người. Ta phải làm sao cho nổi bật nhân vật, dù nhân vật ấy chỉ ra mắt người xem có năm phút. Thế, ta phải viết nhân vật mình cho thấu đáo, để có thể dùng một câu, một câu thôi, mà làm nổi vai của người ấy.
         ― Vậy, đối với các vở kịch của Đoàn Phú Tứ, chắc anh không hài lòng. Bởi lẽ anh ấy chịu ảnh hưởng kịch Pháp nhiều quá, rồi chuyển tình ý của kịch Pháp qua kịch Việt; do đó anh gán cho người Việt những ý nghĩ, những lối nói không phải của người Việt?
         Anh chỉ hớp nước trà để thay câu trả lời. Một chặp, anh nói:
         ― Kịch đi sát sự thật, mà phải hợp tình, hợp lý, làm cho người xem thấy diễn viên trên sân khấu là người đời đang hoạt động.
         ― Những vai chánh trong các kịch của anh, chắc không phải hoàn toàn tưởng tượng.
         Anh gật gù.
         ― Lắm khi, một nhân vật ngoài đời chắp lại. Như vai chánh trong vở “Kim tiền”, nhà kinh doanh Trần Thiết Chung là hình ảnh của tôi, một phần, và của mấy nhân vật khác chặp lại…
         ― Còn cái ông ký ăn cơm nhà lo chuyện thiên hạ.
         ― “Ông ký Cóp à?” Nhân vật này có thật. Tôi tìm một câu chuyện rồi lồng ông ta vào đó.
         Tôi nói thế này chẳng biết có quá đáng không … “Kịch là kinh nghiệm của sự sống”.
         Anh từng thấy có những thần đồng về Thơ, về Nhạc, về Họa, về Toán…, mà không có thần đồng về Kịch. Muốn thành công về ngành kịch, phải có tài năng hợp cùng kinh nghiệm phong phú về cuộc sống. Kinh nghiệm cần cho kịch gia hơn là cho thi sĩ, cho tiểu thuyết gia. Tiểu thuyết, thi ca, người ta đọc có một mình; còn kịch phải trình bày trên sân khấu, trước hàng ngàn người: cùng một lần, mà bị cả một số đông chê thì phải biết!
         ― Người diễn viên làm trung gian cho tác giả và khán giả, anh thấy họ cần có những đức tính gì để cho vở kịch được thành công, tự nhiên là vở kịch ấy phải có một giá trị nào.
         ― Vai trò của diễn viên quan trọng lắm. Nó làm bật lên hay làm chìm xuống nhân vật trong kịch và ảnh hưởng đến sự thành bại của vở kịch phần nào. Một diễn viên hay, theo tôi, phải đặt mình trong vai mình đóng, mà phải tỉnh chớ không được mê. Người diễn viên phải luôn luôn nhớ rằng: mình đóng vai nào đó trên sâu khấu, chứ không phải mình sống trên sâu khấu. Mình phải thắng mình. Mình hóa ra hai. Mình làm ra vai mình, tức là mình góp phần sáng tạo vào đấy. Chớ chẳng phải do cái hứng nhất thời.
         Như có một diễn viên đóng vai người tình bị phụ đúng cái lúc anh ta bị phụ tình. Anh đóng xuất sắc, khán giả khen anh là đóng y như hệt. Nhưng rồi, sự thật không phải thế, có sự hiểu lầm; anh ta vẫn được yêu, thành sau đó anh ta đóng vai cũ gượng gạo, vì anh đã sống vai anh trên sâu khấu, chớ không phải anh đã đóng vai ấy.
         Tôi rời sân khấu về với tác phẩm.
         ― Thường anh viết một vở kịch có lâu không?
         ― Cũng tùy anh à. Như vở kịch đầu, vở “Uyên ương”, từ ngày thai nghén đến ngày hoàn thành, độ ba tháng rưỡi.
         Còn như vở “Thành Cát Tư Hãn”, tôi nghĩ đến nó từ sau khi Hitler lên cầm quyền ở Đức, rồi tôi đã rao trước trên vở Éternels regrets năm 1938, mà mãi đến năm 1955 tôi mới viết ra được.
         ― Anh đã cấu tạo nhân vật lịch sử này cách nào?
         ― Thành Cát Tư Hãn đã làm tôi nhọc không ít. Tôi phải mua sách Tàu, sách Tây để khảo cứu về thời đại ông ta, về dân tộc Mông Cổ, và về con người của ông ta. Tôi đã ký chú các chi tiết trong tám năm ròng, rồi chiến tranh, tản cư, mất hết cả. Hồi cư về, năm 1950, tôi mới lại bắt đầu ghi chép lại.
         ― Anh còn nhớ vì đâu anh có ý định viết vở kịch này.
         ― Nhớ, anh ạ. Một câu của P. Valéry: “La fiblesse de la force, c’est de ne croire qu’à la force” (Cái chỗ yếu của sức mạnh, là chỉ tin vào sức mạnh) và câu này của Đổng Trác khi quyết định thiên đô nhà Hán: “Ngã vị thiên hạ kế, khởi tích tiểu dân tai” (Vì cái kế làm chủ thiên hạ, ta hà tất phải thương cái lũ dân đen).
         ― Hẳn vở kịch sau chót nầy đã để cho anh nhiều kỷ niệm?
         ― Nhiều thì có nhiều, nhưng giờ anh hỏi, tôi lại nhớ anh Võ Đức Diên quá. Năm 1955, anh lập đoàn Anh Vũ. Cần “lăng xê” bằng đôi vở kịch mới, đặc biệt. Biết tôi “nuôi” Thành Cát Tư Hãn từ lâu, anh thúc giục tôi, tôi hoàn thành vở này. Nhưng vì một sự rủi ro, đoàn Anh Vũ tan, vở kịch không ra mắt công chúng. Rồi, gần đây, anh vội vĩnh biệt chúng ta!…
         Anh không nói nữa. Bóng chiều đã ngã vào phòng. Người giai nhân trời Âu có cái đẹp dịu hiền với mái tóc xõa dài phơ phất bỗng trở nên mơ hồ như người trong mộng đang ngập ngừng giữa hai thế giới thực, hư. Mắt tôi vẫn không rời tấm lịch to treo trên tường gần đó, mà tấc dạ ngùi ngùi. Nhớ lại buổi tiệc thân mật cuối cùng dùng với anh bạn họ Võ ở một cao lâu Chợ Lớn. khi chia tay, anh bạn to lớn ấy đã nghiêng tai nói nhỏ, hẹn hò… Bỗng tuần sau, hay tin anh mất một cách bất ngờ, để lại một chỗ trống lớn cho giới kịch nghệ vốn ít oi càng thêm ít ỏi. Thương người đã khuất tôi lại buồn cho người trước mặt: quyết tâm phụng sự môn kịch mà nay đành ngồi dịch tiểu thuyết Tàu: có võ mà không có đất!
         Chúng tôi im lặng hồi lâu. Tôi phá tan bầu không khí phảng phất u buồn trước.
         ― Anh thích nhất vở kịch nào của anh?
         Bỏ cái thế giới Tình, thì ta nói chuyện Tiền vậy. Anh trả lời gọn lõn:
         ― “Kim tiền”!
         Rồi anh phân trần: “Ông thân tôi vốn xuất thân nghèo, và gây sự nghiệp với hai bàn tay trắng. Khi tôi mới lớn, người bảo: “Đời này, muốn sống, muốn bằng người và vượt hơn người phải có tiền. Con không có đồng xu đính túi, thì con không ăn được, thì con không học được, con không đi được. Con nói chẳng ai nghe. Không tiền, thì con sẽ bị đời hành hạ, giày vò, chà đạp một cách kinh khủng.
         Muốn sống con ơi! Phải có tiền!”
         Nhưng sau, tôi nghĩ và tôi cho rằng trên đời còn có cái gì quí hơn tiền. Tiền có thể mất. Nghèo, đành là khổ; có tiền, càng tham, thành tôi mọi đồng tiền, quên mất cả tình, cả nghĩa, rồi cũng khổ. Tôi muốn đưa ra ý kiến: có tiền vừa đủ tiêu thì dễ có hạnh phúc. Nhưng đây là một vấn đề nan giải của loài người, cũng như chiến tranh.
         Trong cảnh tranh tối tranh sáng, chúng tôi nhè nhẹ xuống thang. Tôi sực nhớ, hỏi anh câu chót:
         ― Anh có kinh nghiệm gì sau ba mươi mấy năm đeo đuổi môn kịch?
         ― Tôi chỉ có chút kinh nghiệm này: ta chớ nên đem tác phẩm của mình uốn nắn, gò bó vào một khuôn khổ nào, phải để cho nó có một tính chất thật là phóng khoáng. Có được như vậy, vở kịch mới đạt tới sự phổ biến sâu, rộng, vì đó là đặc điểm của sự bình dị, sự minh khiết.
         Và anh cười cười, chẳng biết cười mình hay lại cười ai.
         Đêm vừa kéo màn lên khỏi mái hiên Hoàng Mai; tịch mịch cũng bao trùm cái xóm ngoại ô gần nghĩa trang này. Tiếng máy nổ quá to của chiếc xe tôi lúc đó sao nó vô duyên và tàn nhẫn lạ. Và tiếng nổ ấy, tôi nghe sao như là:
         ― Kịch! Kịch!
         ― Nhưng mà bi hay hài đây?


NGUIỄN NGU Í viết lại




Bà Thu Vân, làm thơ, viết truyện ngắn, tùy bút

              Tên thật: Lê Thị Anh.
              Sanh năm 1925, tại làng Long Hậu, quận Lai Vung, tỉnh Sa Đéc (Nam Việt).
              Cộng tác với giai phẩm “Văn hóa Ngày nay”, “Tân Phong”, tuần báo “Văn Đàn”.
              Đã xuất bản “Đất Mẹ” (tạp bút, 1960 ).



         Kính Anh,
          (…) Tôi đã cố quên hết sách vở và những điều được nghe về sự sáng tác, để thử kể lại một cách thành thật những gì đã xảy đến cho tôi, khi tôi bắt đầu cầm bút viết…
         Viết để làm gì?
         Khởi đầu là để giúp vui cho một vài bạn hữu đến chơi ở sở Trà của tôi, vào những sáng chúa nhật. Đó là những bài thơ và tùy bút. Tôi bình lên cho các bạn nghe, khi các bạn ngồi ngoài nhà mát, nhấm nháp chung trà.
         Những bài này nay mất mát cũng nhiều, chỉ còn sót lại một vài bài như: “Đất Mẹ, Trăng Ngàn” v.v… Vì viết để cho mình và một vài bạn hữu, nên về sau lâu ngày, bản thảo lạc mất, cũng không còn nhớ đến nữa.
         Trở lại câu hỏi: Sáng tác để làm gì?
         Xin trả lời bằng một câu rất cũ, cũ đến gần thành sáo:
         ― “Vì thấy cần phải sáng tác”.
         Để thể hiện những giấc mơ thoáng qua đầu.
         Để ghi chép những tình cảm, cảm xúc xuyên qua lòng. Thể tùy bút hoặc thơ là những thể rất thích hợp để tả tình, tả cảnh.
         Họa sĩ dùng màu, nét, nhạc sĩ dùng âm thanh, điêu khắc gia dùng đường nét, còn tôi trót dốt về thuật sử dụng các khí cụ ấy, đành phải dùng ngòi bút là thứ mà tôi đã được học ít nhiều ở trường, làm phương tiện duy nhứt để diễn tả những gì chứa đựng ở lòng mình.
         Tôi nhiều khi tự ví: con người tôi như một gốc thông, một chiếc thuẫn. Gió thổi vào tự nhiên thông reo, thuẫn cất lên cao. Sống giữa cuộc đời tự nhiên đón gió từ tám hướng giạt về, thồi phồng lên một tấm lòng để cảm nhiễm cùng ngoại vật.
         Và khi thu nhận của ngoại giới nhiều quá, nghe đầy ứ cả lòng, lại thấy cần phải trút bớt ra: tiếc vì mây núi không nghiêng tai, nên phải gởi vào trang giấy.
         Đó là trường hợp sáng tác thơ và tùy bút là những loại tôi bắt đầu viết trước tiên cả.
         Còn trường hợp dựng nhân vật tiểu thuyết hay truyện ngắn? Đôi khi một câu truyện không đâu, một ý nghĩ thoáng qua, một mẫu người chợt gặp trên đời, trong sở, trên xe, ngoài đường lộ, cho tôi một nhân vật, một cốt truyện.
         Lẽ cố nhiên, mẫu người hay mẫu truyện cũng có sắc thái gì riêng biệt mới đập vào tri giác tôi và ở lại đó. Rồi trí tưởng tượng của tôi tiếp tay vào, dần dần xây dựng truyện. Cả những khi tôi đi, đứng, nằm ngồi, khi ăn, khi ngủ, cái mẫu truyện được gieo giống ươm mầm cứ tự nhiên âm thầm nẩy nở trong óc tôi.
         Trong tôi là một con người muôn mặt.
         Vừa có bậc nữ lưu đứng đắn, vừa có người đàn bà lẳng lơ, vừa có một thầy tu, vừa có một kẻ cắp.
         Nhưng có lẽ cái bản chất đa hình vạn trạng ấy đã giúp tôi nhiều trong việc xây dựng những nhân vật tiểu thuyết của tôi, gồm đủ hạng người, từ người chân chính đến kẻ lưu manh.
         Nếu tôi chỉ có thuần tinh túy của một vị thầy tu, tôi khó mà chun vô lớp da của một người kì nữ chẳng hạn. Mà khi tả người kì nữ, nếu không chun được trong lớp da người ấy, thì nhân vật tả ra không thể sống động được mà chỉ là một thứ hình nộm.
         Tôi nghĩ diễn viên trên sân khấu với người viết tiểu thuyết rất gần nhau về điểm đó.
         Chính tôi nhiều khi cũng lấy làm lạ cho tính cách phức tạp của tâm hồn mình.
         Nhiệm vụ người viết tiểu thuyết còn khó khăn hơn một bực nữa. Vì phải “đóng vai” đủ hạng người trong xã hội: đàn ông đóng vai đàn bà, đàn bà đóng vai đàn ông, già đóng vai trẻ, trẻ đóng vai già v.v… Cần phải hoàn thành cái trò thoát xác mình ra để chun vào trong lốt của kẻ khác.
         Theo ý tôi, nghệ thuật sáng tạo là ở chỗ đó.
         Mà tôi làm thế để làm gì? Đầu tiên, tôi không cố ý. Những mẫu chuyện ngẫu nhiên xô đẩy đến với tôi, những con người sống động, buồn, yêu, giận, ghét, cứ lô xô lộn xộn trong đầu óc tôi với những mẫu truyện tâm tình rắc rối của họ. Nhiều lúc tôi không sống trong đời thật của tôi nữa, mà lại nhập bọn với họ, những con ma do trí tưởng tượng của tôi đẻ ra.
         Cho tới một ngày kia, chúng ám ảnh tôi quá sức, không chịu được nữa, tôi cảm thấy cần phải tự giải thoát cho mình.
         Dưới đầu bút, cá tánh lũ ma dại của tôi càng thêm rõ rệt. Nhiều chi tiết hiện ra thêm. Viết xong, tôi cảm thấy nhẹ nhàng vô cùng, và thôi không bị ám ảnh đó quấy rầy nữa.
         Viết là hưởng cái thích thú ngã trên mặt giấy những gì trí tưởng tượng cấu tạo trong đầu, những cái gì nung nấu, thiết ha, u uất, đáng thương, đáng ghét, đáng khinh, đáng sợ, đang kính, đáng cười đang xô đẩy nhau trong ấy.
         Nhân vật, thì tôi lấy của người nầy một chút, người kia một chút, quẻ quàng đấp vá lại. Truyện, thì tôi cũng lấy chỗ nầy nửa mẩu chỗ kia một góc để cấu tạo nên. Ít khi là một mẩu người nguyên vẹn hay một mẩu truyện nguyên vẹn. Nhưng cốt sao cho có vẻ “chuyện thật ngoài đời” là được rồi.
         Chữ viết là những mấu chốt tôi dùng để ghi, để vẽ những nhân vật đang dao động trong một bầu không khí riêng biệt. Sau nầy, khi tôi đọc lại, bầu không khí đặc biệt ấy sẽ vụt sống trở lại dưới mắt tôi. Tôi sẽ cùng họ diễn lại những câu chuyện đã qua, thương, ghét, buồn, vui, y như cái hồi họ cùng tôi còn chung sống.
         Người khác, khi đọc truyện tôi, có trông thấy họ chăng? Hình dung đậm lợt cách nào? Sống động ra sao? Đó là điều mà tôi thường băn khoăn tự hỏi, không dám quá tin nơi tài ghi chép của mình.
         Sáng tác cho mình hay cho thiên hạ?
         Chỉ mỗi một ý nghĩ viết cho thiên hạ đã làm cho tôi thấy ngòi bút bị gò bó rồi.
         Cứ viết những cái gì mình thích viết, muốn viết, nếu người đồng thời thích đọc, đó là điều may mắn cho mình, không thì đành chịu. Mình không phải là “chứng nhân của thời đại”, biết sao?
         Câu hỏi: Viết cho bây giờ hay cho mai sau? Thú thật tôi chưa dám nghĩ đến.
         Và tôi cũng không có ý định sáng tác theo một đường lối nhất định nào. Tôi không chủ trương viết tiểu thuyết luận đề. Tôi chỉ muốn diễn tả lại cuộc sống rồi tự nó muốn nói gì thì nói. Luận đề, nếu có, phải tự nhiên bàng bạc trong cuộc sống, lẽ cố nhiên một cuộc sống đã được lọc xuyên qua cá tính của tác giả (…)


THU VÂN


BÁCH KHOA |  SỐ 107

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #728 vào: 19/05/2019, 10:34:17 »


                             Tỉnh mộng

                  CHỢT nghe hơi gió phất qua đầu
                  Bỡ ngỡ thực hư chửa biết đâu
                  Cao tiếng cành xuân chim gọi thức
                  Sáng lòn cửa mộng nắng lên màu

                  Giựt mình mang máng tưởng đang mơ
                  Lên tiếng, thời gian điểm bốn giờ
                  Ấp gối làm ngơ ru giấc lại
                  Mặc cho chim nắng rộn tình thơ

                  Mặc hè dệt gấm trải bao la
                  Hãy ngủ, tình đêm vẫn mặn mà
                  Nhưng vận trắc bình thao thức mãi
                  Ghép hồn vũ trụ thấm hồn ta

                  Rồi thơ bừng dậy mở song nhìn
                  Nắng cháy mênh mông mộng trắng trinh
                  Gió sớm trên ngàn chưa vẩn bụi
                  Trần gian tỉnh giấc đón bình minh

                  Chuyển mình cảnh tục thoát cơn mơ
                  Nhuốm bụi tình thơ cũng hững hờ
                  Eo óc giọng gà chen tiếng máy
                  Cạn nguồn thơ bỗng thấy bơ vơ


                                                  MỘNG TRUNG



BÁCH KHOA |  SỐ 107

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #729 vào: 20/05/2019, 10:43:05 »


                    Những bàn tay mạnh

                  BIẾT bao giá trị những bàn tay
                  Hoạt động trong công việc mỗi ngày
                  Chỗ nổi lằn chai gang thép cọ
                  Nơi loang vết nhọ mỡ dầu dây
                  Ngón mềm mê mải đưa dòng chữ
                  Gân cứng say sưa vạch luống cày
                  Xã hội tương lai đều dựng bởi
                  những bàn tay mạnh của hôm nay


                                              BÙI KHÁNH ĐẢN



BÁCH KHOA |  SỐ 107

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #730 vào: 20/05/2019, 17:42:31 »


                        Mát trời

                  GIÃN sóng hè nguôi nắng
                  Giờ xanh lặng vẻ thu
                  Mưa gieo vườn óng cỏ
                  Gió biếc nhẹ cành ru

                  Trưa nay đời dịu bóng
                  Hương đọng ứa tình ngâu
                  Mành nước che hiên bạc
                  Nhô bông, lựu nẩy mầu

                  Buông kín, mây thầm ngủ
                  Lòng sông ngả ánh trời
                  Tơ màng căng mối nhện
                  Ngọc dỏ đẫm hồng tươi

                  Dang tay chìm đáy mộng
                  Nghiêng gối tưởng kề vai
                  Dụi mắt đèn rung sáng
                  Chiều hôm ngỡ sớm mai.


                                     ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 107

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #731 vào: 21/05/2019, 10:33:06 »
BÁCH KHOA |  SỐ 108  [1-7-1961 |  112 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Quốc Dũng |  Giúp đỡ dân quê |  3-10
Phạm Hoàng (sưu tầm) |  Danh ngôn, danh lý |  10, 15
Hoàng Minh Tuynh |  Chủ thuyết “Chân dũng” của Găng-Đi [VI] |  11-15
Quảng cáo |  16
Nguyễn Hiến Lê |  Việt ngữ sẽ dùng làm chuyển ngữ ở bậc Đại học kể từ niên khóa 1961-1962 |  17-22
Quảng cáo |  23-24
Nguyễn Hữu Phiếm |  Thi rớt, thi đậu… [II] |  25-27
Quảng cáo |  28
Mộng Trung |  Bệnh thời đại |  29-33
Quảng cáo |  34
Đoàn Thêm |  Thử tìm hiểu hội họa [VIII] |  35-50
Quảng cáo |  51
Thu Thủy |  Thế hệ mới ở Pháp |  52-55
Minh Đức |  Bóng mẹ quê người (thơ) |  56
Minh Đức |  Lá thư Maroc |  57-61
Lê Thanh Thái |  Tiếng đàn dây (thơ) |  62
Phan Văn Tạo |  Hết sợ (truyện) |  63-69
Võ Hồng |  Nghẹn ngào (thơ) |  69
Thu Thủy (dịch) |  Đừng đi sâu… \ Alberto Moravia |  70-74
Huy Lực |  Nắng… (thơ) |  75
Tuyết Hương |  Phấn đấu [VII] (truyện dài) |  76-82
Bách-Khoa |  Bất mãn và thỏa mãn |  82
Đoàn Thêm |  Khúc phi hành (thơ) |  83
Đông Xuyên |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  84-85
Hoàng Khanh |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  86-87
Nguyễn Vỹ |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? \ Nguiễn Ngu Í viết lại |  88-95
SINH HOẠT:
   |  Nguiễn Ngu Í |  Nhóm “Bút Việt” cử ban Thường vụ và ban Chấp hành niên khóa 61-62 |  96-97
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  98
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  98
Bách-Khoa |  Mục lục theo bộ môn của Bách-Khoa (từ số 97 đến 108) |  99-110
Quảng cáo |  111-112


SAIGON |  1961




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #732 vào: 21/05/2019, 20:56:07 »


                         Bóng mẹ, quê người

                  THẤM thoát đã ba năm
                  Từ ngày ta mất mẹ,
                  Mộ sầu chưa viếng thăm,
                  Bơ vơ đời xuân trẻ,

                            Ngày được tin mẹ mất,
                            Ta không có tiền về;
                            Trông vời cơn gió bấc
                            Đường dài chân bước lê

                  Độ ấy vừa sang xuân,
                  Thiên hạ chào đón Tết.
                  Pháo nhà ai tưng bừng,
                  Pháo lòng ta lịm chết.

                            Rồi mỗi năm ngày giỗ
                            Ta vẫn còn lang thang…
                            Cỏ trên mồ ai nhổ.
                            Ai sửa vòng hoa tang.

                  Nhiều đêm mơ thấy mẹ,
                  Tưởng như trong cuộc đời.
                  Nhớ thuở nào thơ bé
                  Vòi mẹ hôn lên môi.

                            Nhưng rồi giấc mơ qua,
                            Giật mình nghe cô quạnh,
                            Dáng mẹ đã mờ xa,
                            Ngoài trời sao lấp lánh.

                  Nhớ hôm xưa ra đi,
                  Bến tàu còn in bóng.
                  Nhưng giờ phút chia ly
                  Là phút giờ tuyệt vọng.

                            Đêm nay bơ vơ lắm,
                            Đốt hương chờ mẹ về…
                            Đường tha ma thăm thẳm,
                            Nước mắt đời lê thê…


                                                MINH ĐỨC



BÁCH KHOA |  SỐ 108

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #733 vào: 22/05/2019, 11:16:53 »


                        Tiếng đàn dây
                                      Gửi tiếng đàn xa xôi…

                  CHIẾC Hạ-uy-cầm
                  Âu yếm nằm nghiêng nghiêng
                  Móng sắt dày,
                  Tay có yêu?
                  Nhạc rơi rơi
                  Từng giọt máu vương tay
                  Chua xót dội triền miên…

                  Có giùn chăng?
                  Chân thon gót mỏng
                  Mòn ngược xuôi
                  Năm tháng vọng quê xưa…!

                  Tiếng đàn đưa
                  Trêu gió ngàn đùa cát ướt
                  Cọ vách thưa sướt mướt nức dư âm…

                  Lòng quặn thì thầm
                  Vai rung lả lướt
                  Trĩu lưng gầy vướng víu bước chân tơ…

                  Tay mảnh mai
                  Đàn tựa hoài có mỏi
                  Nhạc ru hồn trong cung bực chơi vơi

                  Mái đầu ai
                  Quên cài chẳng bới
                  Lũ tóc khô bối rối níu bờ vai…

                  Đàn ngân dài
                  Từng nhát dao lạnh ngắt
                  Lắt buồng tim rơi máu mắt tủi bơ vơ!…
                  Nặng thờ ơ
                  Mờ héo hắt;
                  Đàn khơi dòng dắt nẻo đến trời Thơ…

                  Đang dập dồn réo rắt.
                  Tiếng đàn im bặt,
                  Cho hai vì sao cười trong ánh mắt
                  Ngát cơn mơ…!


                                                LÊ THANH THÁI



BÁCH KHOA |  SỐ 108

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #734 vào: 22/05/2019, 18:57:24 »


                       Nghẹn ngào

                  BẢO rằng: Đừng nhớ nữa!
                  Bảo rằng: Thôi quên đi!
                  Nhưng mà lòng không nỡ…
                  ― Ngoài em, ta còn chi?

                  Ôi tình yêu, tình yêu
                  Sao buộc nhiều điều kiện?
                  Xã hội chọn mục tiêu,
                  Luật pháp đòi vĩnh viễn.

                  Sao ta không là bướm
                  Sao em không là hoa?
                  Gặp gỡ nhau một sớm,
                  Chia tay không hẹn giờ.

                  Sao ta không là hoa
                  Em là giọt sương đọng?
                  Yêu bằng tình thoáng qua,
                  Kể gì lâu hay chóng?


                                           VÕ HỒNG



BÁCH KHOA |  SỐ 108