Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 61241 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #765 vào: 11/06/2019, 23:39:09 »


                                 Đồng lõa

                  VÌ chúng ta, trời chiều nay thêm xanh
                  Giếng mắt mùa thu thêm mọng xuân tình
                  Vì chúng ta, cả không gian nín lặng
                  Để nhường lời cho hai tiếng: em, anh.

                  Vì chúng ta, đêm qua trăng mọc sớm
                  Sữa trăng vàng vướng đọng gót chân em
                  Khóm dạ lý nhũ hồng thôi đợi bướm
                  Dành tặng chúng mình tất cả hương đêm.

                  Vì chúng ta, bác “phắc-tơ” trẻ mãi
                  Như vui lây cùng những lá thư mầu
                  Trăm ngày qua vẫn nhớ ngày-thứ-nhất
                  Chuyện bây giờ nối tiếp chuyện mai sau.

                  Em vì anh, dấu tờ thư giữa sách
                  Làm bài nhanh, lật vội, đắm say nhìn
                  Đêm thu lạnh, ngoài kia, sương gió mách
                  Em lại buồn vì những lẽ không tên!

                  Anh vì em, thành người-đi-qua-ngõ
                  Chiều nối theo chiều vơ vẩn, lang thang
                  Triều tâm sự dâng đầy căn gác nhỏ
                  Tiếng tình yêu ngân giữa một âm đàn…

                  Hoa nở đủ, xinh xinh viền đại lộ
                  Em đưa chân, tóc gội nắng mai hồng
                  Đời chấp nhận ta đi trên đường đó
                  ― Kìa chân trời mơ… đẹp quá, em trông!


                                                          TƯỜNG LINH
                                                             (Hai Mươi)




BÁCH KHOA |  SỐ 112

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #766 vào: 12/06/2019, 18:16:55 »


Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào?

Bà Tùng Long

              Tên thật: Lê Thị Bạch Vân.
              Sanh năm 1915 tại Đà Nẵng (Trung Việt).
              Nhà giáo, nhà báo, nhà văn.
              Đã cộng tác với các báo: Văn Nghệ tiền phong, Nhân Loại, Màn Ảnh sân khấu, Duy Tân, Tin Mới.
              Hiện viết cho: Phụ Nữ diễn đàn, Phụ Nữ ngày mai, Sàigòn Mới.
              Đã xuất bản:
              Tiểu thuyết: Ái tình và Danh dự, Lầu tỉnh mộng, Chúa Tiền Chúa Bạc, Nhị Lan, Hoa tỉ muội, Bóng người xưa, Giang san nhà chồng, Mẹ chồng nàng dâu, Vợ lớn vợ bé, Vợ hiền, Tình vạn dặm, Còn vương tơ lòng, Tình và Nghĩa.
              Sách nhi đồng: Mẹ hiền con thảo, Viên ngọc quí. Hai đứa bé đánh giầy, Ngày mai tươi sáng, Lòng nhân đạo.



         Vừa thấy tôi vén bức màn trúc là chị đã chận đầu:
         ― Anh có đến chơi, thì mời ngồi. Còn như đến để lại phỏng với vấn, thì mời anh đứng đó.
         ― Lần này đến để chuộc tội với chị đây.
         Chị cười.
         ― Chuộc tội hay là đòi nợ lần nữa đó?
         ― Chuộc tội trước.
         ― Nhưng mà anh có nhớ tôi đã nói với anh gì không?
         ― Sao lại quên được, chị. Nên nay mới nói chuyện chuộc tội. Lần trước, bài trả lời của chị về vấn đề giáo dục sinh lý,(1) chị dặn đăng trọn vẹn cho chị, mà vì lý do kỹ thuật, tòa soạn phải cắt bớt một đoạn, làm chị giận oan tôi và tuyên bố: “Từ rày anh đừng hòng tôi trả lời các cuộc phỏng vấn của anh nữa”. Nên lần này, khi anh chủ bút nhắc tôi phỏng vấn chị, thì tôi đưa ngay điều kiện: đừng bỏ một lời nào của chị.
         ― Lỡ tôi nói bậy, các anh cũng đăng à?
         Tôi không còn biết trả lời gì hơn là cười… xã giao với chị, bụng thầm nghĩ: “Chị khéo lo xa. Đàn bà lúc nào mà lại chẳng có lý!”
         ― Tôi từng nói như anh biết: tôi không nhận tôi viết văn.
         ― Chớ chị viết truyện ngắn truyện dài đăng báo này báo nọ, do nhà này xuất bản, nhà kia ấn hành, thì chị làm gì đó?
         Câu trả lời dịu dàng mà cương quyết.
         ― Tôi làm việc để nuôi con.
         Tôi toan lí luận để chị nhận mình là một nhà… viết văn, nhưng sực nhớ câu “Khi đàn bà muốn…” nên thôi.
         ― Năm rồi, báo “The Times of Việt Nam magazine” có viết về chị, có đoạn: “Bà Tùng Long tuyên bố là bà đang nắm hàng vạn hơi thở của phụ nữ Việt Nam” chẳng hay chị nghĩ sao?
         Một nụ cười nhẹ thoáng qua môi chị.
         ― Tự nhiên là tôi lấy làm sung sướng. Tôi không ngờ mình được cái vinh hạnh ấy, nhưng hiện tôi có thể thâu được mãi cái kết quả ấy chăng?
         Và chị có nhiều tư lự.
         ― Hai năm nay, chị không đi dạy, chắc chị có nhiều thì giờ để viết hơn trước?
         ― Bớt một nghề, thì thời giờ có nhiều hơn, nhưng mà sức người có hạn. Vả lại ngoài việc “tay làm hàm nhai”, tôi còn lo cho một bầy con dại. Tôi chỉ viết bốn giờ trong một ngày, bắt buộc mình ngồi lại bàn giấy như một công chức. Làm việc đủ số giờ đã định, là tôi gác bút, dù lúc ấy cảm hứng có dồi dào cách mấy đi nữa.
         ― Chị viết một hơi trong bốn tiếng đồng hồ?
         Chị cười:
         ― Làm sao mà viết luôn một hơi cho được, anh: khách khứa, bạn bè, và nhất là con. Bốn giờ là số giờ cộng lại đó thôi.
         ― Chị viết cho nhiều báo, thì thế nào chị cũng có một phương pháp làm việc chớ?
         ― Nói phương pháp thì là lớn chuyện, tôi có một lề lối riêng. Tôi làm một thời dụng biểu, và cứ thế mà theo. Còn tiểu thuyết, sau khi tìm được cốt truyện rồi, tôi ghi cái dàn lên giấy, tên các nhân vật cùng tánh tình của họ. Rồi tôi cứ căn cứ theo đó mà viết.
         ― Có khi nào chị “bỏ quên” một vai nào không?
         ― À, anh nhắc tôi mới nhớ có một lần, tôi để quên hồ sơ một truyện dài ở nhà. Tôi phải viết một đoạn ở nhà báo cho kịp kì. Về nhà, coi lại hồ sơ, mới hay mình đã vô tình tạo thêm một nhân vật mới. Làm tôi mất khá nhiều thì giờ để “kiếm đất dụng võ” cho nhân vật trên trời rớt xuống ấy.
         ― Có khi nào vì một lẽ gì đó mà chị sửa đổi cốt truyện không?
         ― Sửa đổi cốt truyện thì không, nhưng thay đổi đoạn kết thì có. Vì… nghề nghiệp bắt buộc, và vì tự ái. Chỉ có hai lần. Lần đầu, chị Bút Trà bắt tôi: “Tôi biết thím cho cặp nầy xa nhau. Nhưng mà tôi thương họ quá. Thím sắp xếp sao cho họ đừng chia lìa. Độc giả cũng muốn thế. Vậy thím chiều bạn đọc và chiều tôi một chút nhá”. Và tôi đành phải chiều.
         ― Còn lần thứ hai?
         ― Lần này thì vì tự ái. Tôi lúc đó viết cho “Văn Nghệ tiền phong” còn một kì nữa thì hết. Anh bạn V. K. gặp tôi, cười: “Có phải chị định kết tiểu thuyết đó như thế này không?” Anh ấy đã đoán đúng ý tôi. Nhưng tôi đáp lại: “Phải hay không, anh chờ hồi sau sẽ rõ”.
         ― Và chị phải kéo dài đoạn chót để kết thúc khác hơn, để anh V. K. thấy mình đoán già hóa non.
         Chị gật đầu với một cái mỉm cười.
         ― Này chị, có lắm bạn tỏ ý phàn nàn chị: chị đã từng sống một thời gian dài bên kháng chiến, biết bao điều nghe thấy trong khói lửa, mà chưa thấy chị nói đến các sáng tác của chị.
         Mặt chị thoáng vẻ buồn.
         ― Nãy giờ làm mệt chị, xin ngâm chị bài thơ này để gọi là cám ơn chị vậy.

                          “Má bây chừ trốn đói,
                           Bồng bế dắt bây đi.
                           Cha bây chừ ở lại,
                           Học người hái rau vi.
                           Thú Dương nào ở nơi ni.
                           Rau vi sánh với củ mì thua xa.
                           No lòng vỗ bụng ngâm nga.
                           Rằng Trời Đất đã sanh ta làm gì.
                           Ngang tàng một đấng nam nhi.
                           Phải chăng ngồi sực củ mì làm no?


         Mắt chị chớp chớp.
         ― Anh “móc” đâu được bài thơ của nhà tôi đó?
         ― Giữa năm 1952, nghe tin chị và các cháu được phép lìa xứ Quảng để hồi cư về Sài Gòn, nhà tôi giao tôi một món quà để biếu các cháu trước khi lên đường. Từ Đồng Cát, tôi lội bộ ra tỉnh để lên Mĩ Thịnh, nhưng đến chân núi Bút, gặp anh trong một cái quán bên đường, mới hay chị và các cháu vừa đi. Tôi gởi lại món quà cho anh. Anh bèn đọc cho tôi chép bài thơ trên.
         Chị mơ màng. Chẳng biết chị cũng đang như tôi nhớ lại cái giờ cằn cỗi, con đường đất song song với hữu ngạn sông Trà, một gian nhà tranh bên đường ấy, trên gò kia, một lớp học sơ sài, một đám khoai mì òi ọp, hay con đường hồi cư vất vả từ Quảng Ngãi đến Hội An, mươi năm về trước…
         ― Biết bao giờ mới được đọc trong tiểu thuyết chị cảnh người và việc của cái nơi, cái thời “ngồi sực củ mì làm no”?
         ― Tôi làm sao quên được đoạn đời đặc biệt ấy. Cũng được gợi lại ít nhiều. Nhưng e người ta hiểu lầm hay xuyên tạc. Tôi đã phải một phen bực mình vì một bài điểm tiểu thuyết “Bóng người xưa” của tôi trên nhật báo Tự Do độ nọ. Anh có xem bài ấy chớ?
         ― Có, chị ạ. Bài kí: Hi Hoàng.
         ― Phải đấy, Tác giả bài ấy cho tôi tuyên truyền, chỉ vì một nhân vật trong truyện “về thành”. Tác giả ấy với hai chữ “về thành”, bảo rằng đó là một thành ngữ của Việt Cộng, vậy thì nhân vật nọ mà tôi đề cao là một tên Việt Cộng. Nhưng tác giả quên mất trước tôi đã giới thiệu nhân vật nói trên là đảng viên một đảng chánh trị quốc gia, và câu chuyện xảy ra ở Huế, mà Huế có thành nội, thành ngoại, và “về thành” đây chỉ có nghĩa là về thành Huế mà thôi.
         ― Vậy đề tài những truyện của chị lấy ở…
         ― Tôi lấy phần lớn ở cuộc đời và một ít ở trong sách báo ngoại quốc. Tôi chỉ là một người kể truyện, tôi kể những gì tôi thấy nghe chung quanh tôi và những gì tôi cảm nghĩ. Có một dạo tôi giữ mục “Gỡ rối tơ lòng” cho tuần báo “Phụ Nữ diễn đàn” tôi được chị em xa gần kể cho lắm chuyện tâm tình, giúp tôi khá nhiều để dựng truyện. Khi thì cuộc đời cho tôi đoạn đầu, hoặc đoạn giữa, hay đoạn cuối, rồi tôi tưởng tượng, thêu dệt thêm để truyện có đầu có đuôi.
         ― Và có hậu nữa.
         Chị cười:
         ― Có phải anh muốn trách tôi đem luân lí vào sáng tác phẩm của mình không? Xin anh đừng quên tôi không dám nhận mình là một nhà văn, cũng không dám nhận mình là một nhà nghệ sĩ. Tôi chỉ nghĩ một cách đơn giản rằng mình viết để góp một chút gì cho công cuộc xây dựng xã hội trong đó mình đang sống.
         Sực nhớ một lời ghi chú của Nhất Linh trong quyển “Viết và đọc tiểu thuyết”, tôi hỏi:
         ― Anh Nhất Linh có nói về chị trong quyển biên khảo về tiểu thuyết mới xuất bản, chị có đọc qua chớ?
         ― Tôi có đọc; ông Nhất Linh cho tôi không phải là một nhà văn vì tôi “phóng tác các truyện của người khác mà không để của ai. Đấy cũng là một lối đạo văn nhưng còn chịu khó biến đổi đi”. Tôi không khỏi lấy làm lạ về những lời trên đây của ông Nhất Linh. Như tôi đã nói với anh, cũng như với nhiều kí giả khác phỏng vấn tôi, tôi không hề nhận mình là một nhà văn, một nữ sĩ, tôi không viết văn, làm văn…, tôi chỉ kể chuyện trên giấy trắng với mực đen để nuôi bầy con. Nhưng tôi viết theo một đường lối riêng, với một nguyện vọng: tôi muốn xây dựng người cùng giới, nhất là các thiếu nữ, tôi muốn góp phần vào việc bảo vệ thuần phong mĩ tục, tôi muốn ghi lại những biến chuyển của tâm hồn người phụ nữ trong giai đoạn này. Thế những tác phẩm của tôi đâu phải đều là phóng tác. Truyện ngắn – và cả truyện dài – của tôi vốn lấy tài liệu ở những bức thư tâm sự của độc giả bốn phương, cả nam lẫn nữ. Còn những tác phẩm của tôi phóng tác cũng lấy ở những chuyện tâm sự ở các báo ngoại quốc, mà cốt truyện có thể xảy ra bất cứ ở xã hội nào, kim hay cổ. Đông hay Tây, vì nó là chuyện của nhân loại, mà con người thì ở đâu, hồi nào mà không có thất tình: đau thương, vui buồn, yêu ghét, ham muốn, phải không anh? Và từ thất tình, đẻ ra biết bao nhiêu đề tài cho ta viết.
         Tôi không hề dám tự phụ mình là một nhà văn, một nữ sĩ, nhưng tôi có thể tự hào đôi chút là đã diễn được phần nào cái tâm lý của phụ nữ đương thời, đã nói lên được một số những gì mà chị em cùng phái tôi đang ao ước, hi vọng và tranh đấu tiến kịp các bạn nam giới.
         Tôi cũng hiểu tôi cô lập lắm…
         ― Vì chị là đàn bà?
         ― Vì tôi là đàn bà. Trên con đường văn nghệ, phụ nữ thường gặp nhiều trở ngại; tôi sở dĩ không nản lòng là vì bên tôi có cả một bầy con dại để khuyến khích tôi phải viết…
         Chị thôi nói. Tôi nghĩ đến một cô em quyết đi vào… văn nghệ, mở một tờ báo phụ nữ mà từ chủ bút đến ấn công đều chẳng phải là… đàn ông, mà lo lần cho cô em ấy.
         Có hai bóng hồng bước vô. Tôi đứng dậy, ngờ là khách, nhưng lại người nhà.
         Hai chị em này, cũng đã từng viết chuyện lòng mình cũng như chuyện lòng thiên hạ, phụ với người ngồi trước mặt tôi đây, đủ sức để điều khiển một tờ báo phụ nữ. Nên tôi vội hỏi:
         ― Chắc chị cũng từng muốn đứng chủ trương một tờ báo phụ nữ?
         ― Trước kia thì có, bây giờ thì không?
         ― Sao vậy chị?
         ― Vì lí tưởng và thực tế không đi đôi. Giờ, tôi muốn có một tờ báo hằng ngày. Có tờ báo hằng ngày mới mong tư tưởng, ý kiến mình phổ biến rộng và mới mong… nuôi được cả bầy con…
         Nhìn thấy một xấp bản thảo của chị móc ở tường, trước bàn làm việc, tôi xoay câu chuyện xa… bầy con của chị…
         ― Chị thích viết trên giấy in bản tin của Việt tấn xã?
         Chị gật đầu.
         ― Tôi có cái thói quen lạ đó, anh à. Viết trên giấy Việt tấn xã, thứ giấy có in rô-nê-ô một mặt, hơi xấu xấu, vàng vàng ấy, tôi viết mau.
         ― Còn giấy trắng tinh?
         ― Thì lại viết khó khăn. Còn anh thì sao?
         Tôi cười để thay câu trả lời. Vừa nhớ lại câu thơ pháp “Sur le vide papier que la blancheur défend”,(2) vừa nhớ cái tật của mình: viết bài trên giấy một mặt để chẳng phí của trời, cái tật đã làm anh em ấn công bực.
         ― Chị viết có khó khăn không?
         ― Tôi viết không khó, có thể nói là dễ. Hễ ngồi lại bàn giấy là tôi viết đều đều. Vì cốt truyện, nhân vật tôi đã nghiền ngẫm trước, khi rảnh hoặc khi làm việc nhà. Tôi cũng ít bôi ít sửa.
         Chị cười cười, cắt nghĩa: “Bởi lẽ tôi viết truyện chớ không phải viết văn”.
         Đã khá trưa. E làm mất phần nào cái số bốn giờ để viết của chị, tôi vội hỏi:
         ― Trong các truyện ngắn, truyện dài của chị, chị thích nhất truyện nào?
         Chị chỉ mấy đứa con đáp:
         ― Không thể trả lời cho anh được, cũng như không thể trả lời tôi thích nhất đứa con nào.
         Thấy tôi có vẻ đợi chờ, chị tiếp.
         ― Nhưng có thể nói với anh tác phẩm nào đã đem lại cho tôi một kỉ niệm cảm động nhất.
         Chị trầm ngâm một chút.
         ― Anh nhớ quyển “Giang san nhà chồng” chớ?
         ― Truyện một bà dâu hiền lành bị một bà mẹ chồng quái ác và những người bà con bên chồng làm tình làm tội đủ điều nhưng rồi nhờ tánh kiên nhẫn mà chinh phục được những người đã làm khổ mình?
         ― Anh nhớ dai đó. Một cô nọ hoàn cảnh giống y hệt vai chánh trong “Giang san nhà chồng”. Cô lại chưa có con, nên càng bị gia đình chồng ghét bỏ. Cô định có một phản ứng quyết liệt, thì tình cờ đọc quyển tiểu thuyết trên. Gương người truyện làm cô nghĩ ngợi, rồi cô cố tìm mọi cách để biến cải những người thù thành bạn. Và cô đã thành công. Một đứa con trai ra đời. Hạnh phúc đến với cả gia đình. Hai vợ chồng tìm đến cám ơn tôi. Cô lại cố trau dồi Việt văn, lãnh dạy môn này trong một trường nữ công lập nọ và chẳng tiếc lời giới thiệu tác phẩm trên cho đám nữ sinh của cô.
         Thật là một phần thưởng bất ngờ mà không bao giờ tôi quên được.
         Dứt lời, chị xoa đầu đứa con út vừa a vào lòng và ngước mặt nhìn lên. Tôi ngó theo. Bức ảnh đức Quan Âm đứng trên tòa sen dịu dàng nhìn xuống.


NGUIỄN NGU Í viết lại




Bà Ái Lan

              Tên thật: Lê Liễu Huê.
              Sanh năm 1910 tại Thạch Hàm, Quảng trị (nhưng gốc người miền Nam).
              Bước vào làng báo với bài “Cải cách phong tục” (chống chế độ hôn nhân phong kiến) đăng trên “Đông Pháp thời báo” (1928). Rồi sau đó lần lượt giúp các báo: Đuốc Nhà Nam (1930), Phụ Nữ tân văn (1931), Phóng Sự tuần báo (1936), Pháp-Việt (1948), Sông Hương (1948), Đoàn Kết (1948), Đời Mới (1953). – Từ 1953 tới 1955, cộng tác với các báo: Tiếng Chuông, Buổi Sáng, Sàigòn mới, Ánh Sáng, Tân Sanh, Dân Ta…
              Chuyên về nghị luận, phóng sự, văn thơ. Nhưng cũng viết các loại truyện ngắn, ký sự tiểu thuyết; thường thì chủ trương “trang Phụ nữ” cho các báo hằng ngày hằng tuần ỏ Thủ đô.
              Tác phẩm: Trên đường (thơ xã hội, 1951).



         I.– Sáng tác để được nhẹ bớt nỗi lòng. Cũng như kẻ đã trót mang thai, mong sớm đến ngày cho nó khai hoa nở nhụy, kẻo mang mển nặng nề ì ạch mãi, chịu sao nổi?
         Và lẽ cố nhiên, khi đã mang thai, cho đến ngày sinh nở, người mẹ nào lại chẳng mong mỏi, ước ao đứa con của mình sẽ là nguồn an ủi cho mình và nó sẽ trở nên một phần tử hữu ích cho xã hội?
         II.– Cái đó thì tùy. Vi dụ: Tôi phải trả lời bốn câu hỏi của anh đã đề ra. Nếu tôi trả lời ngoài bốn câu hỏi của anh là tôi đã “trật đường rầy”. Nhưng tùy hứng, thì bao giờ cũng thích hơn; vì khi đó mới thấy thèm ăn, mà ăn thì ngon miệng vậy.
         III.– Khi đã bắt đầu… ốm nghén thì tâm trí mình luôn luôn nghĩ đến cái thai; lo giáo dưỡng, bồi bổ cho nó được khỏe và đẹp cả thể chất lẫn tinh thần. Người mẹ có tinh thần trách nhiệm đối với đứa con của mình từ còn là cái trứng nước cho đến khi nó nên vai nên vóc, nên người, thì kẻ cầm bút để sáng tác cũng vì lương tâm, vì trách nhiệm mà đắn đo, cẩn thận, trao chuốc, thôi sao cho đứa con tinh thần cũng vậy.
         Nếu anh thông cảm được sự khổ sở, khó khăn, nặng nề, mệt nhọc của người đàn bà mang nặng đẻ đau và giáo dưỡng một đứa con như thế nào, thì sự thai nghén, sinh nở, bồi dưỡng một tác phẩm văn nghệ cũng thế, không hơn, không kém.
         IV.– Đời sống tinh thần và vật chất của mình rất quan hệ đến sự sáng tác. Nếu anh sống chật vật, thiếu thốn, tâm trí anh không yên ổn, chỉ lo nghĩ mãi đến cái hũ gạo của gia đình thì anh đừng mong sáng tác cho ra hồn. Có gượng ép chăng nữa thì sáng tác phẩm của anh chẳng khác chi một đứa con bị đẻ non.
         Điều thích thú là mình được ngồi yên mà sáng tác với tâm trí ổn định, cảm hứng khích lệ, thúc đẩy. Gặp trường hợp ấy, mình như hoàn toàn sống với tác phẩm mình đang viết; nghĩa là hồn mình đã nhập vào hồn văn nghệ mà… lên đồng. Ngòi bút sẽ nhờ “hồn” thúc đẩy mà thao thao bất tuyệt trên trang giấy.
         Những lúc “hồn văn đã lên” như thế thì tác giả không còn nghe thấy gì chung quanh nữa; cắm cổ viết mãi cho đến khi cái mệt mỏi nó vật ngã mình thì mình mới chợt thấy mệt mà buông viết đi nghỉ. Nhưng nào có nghỉ được; cái tay không còn viết thì cái óc lại làm việc tiếp, mà óc đã không nghỉ được thì nó lại sai cái tay mình phải viết, xóa xóa, dầu mình đã mệt… ứ hơi!
         Ấy thế mà mình thích mới kỳ! Càng thích hơn là sau khi đã hoàn thành một tác phẩm mà tương đối, mình thấy là kha khá.
         Vâng, tương đối thôi; vì chưa bao giờ tôi bằng lòng hoàn toàn một tác phẩm nào của tôi cả…
         Có lẽ tôi đã “trật đường rầy”? Và cố nhiên là anh không đặng hài lòng?
         Nhưng có khi nào anh so một nắm đũa mà đều răm rắp cả, không có một chiếc nào so le?


ÁI LAN

____________________________________
(1) Vốn đăng trong tạp chí “Mai”.
(2) Xin tạm dịch: Trên tờ giấy trống mà sự trắng trong bảo vệ.


BÁCH KHOA |  SỐ 112

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #767 vào: 13/06/2019, 11:46:59 »


                            Một buổi trưa

                  MỘT buổi trưa đi về trong ngõ nọ
                  Nắng trên trời đổ xuống lá trên cây
                  Màu tóc gội con mắt mờ em có
                  Nhớ vô cùng bữa nọ đến hôm nay

                  Về cổ lục cũ rồi câu chuyện cũ
                  Và cảo thơm không mới nữa bên đèn
                  Và sương sớm hay chiều buông liễu rũ
                  Biết thế nào mà nói lạ hay quen

                  Bữa hôm nay lại nhìn ra xanh lá
                  Xanh trời xanh mây tụ ở phương trời
                  Chợt nhớ lại buổi trưa về em ạ
                  Giấc mơ màng bóng nọ ở bên tôi


                                                       BÙI GIÁNG



BÁCH KHOA |  SỐ 112

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #768 vào: 13/06/2019, 23:55:53 »


                       Hương đồng phấn nội
                                                   Gởi Tường Linh

                  ĐỢT khói lam chiều tương tư mái rạ
                  Anh có thấy gì trong đó hay không?
                  Nếp sống bình yên, màu xanh sắc lá
                  Gói ghém cuộc đời nắng hạ mưa đông

                  Tản bộ nhàn du dừng chân xóm hạ
                  Mới cảm thấy nhiều lưu luyến quê hương
                  Những túp lều tranh ấm tình thôn dã
                  Tô đắp cuộc đời một nắng hai sương

                  Sáng ra đồng, những bác Tư cày cuốc
                  Trong trường làng, những thằng Út ê a…
                  Vọng từ ruộng dâu, tiếng hò quen thuộc
                  Giọng những cô Lài trầm, bổng, gần, xa…

                  Sau cửa hoàng hôn đèn dầu lụn bấc
                  Tất cả như vừa quên mọi âu lo
                  Áo vá quần khâu, gói tròn chân thật
                  Niềm thương yêu len lỏi giữa câu hò

                  Trống sớm làng Trung, chuông chiều xóm Thượng
                  Tiếng quê hương vang vọng tháng năm dài
                  Giọng hát: à ơi… chảy tràn tám hướng
                  Tiếng nói cuộc đời khoan, nhặt… êm tai

                  Những thứ ấy, những hương đồng phấn nội
                  Trang điểm cuộc đời trầm lặng thêm duyên
                  Dù nắng rào đường, dù mưa chắn lối
                  Chốn quê tình vẫn đậm nét trinh nguyên

                  Nếp sống bình yên, màu xanh sắc lá
                  Gói ghém cuộc đời nắng hạ mưa đông
                  Đợt khói lam chiều tương tư mái rạ
                  Anh có thấy gì trong đó hay không?


                                                        THÀNH TÔN



BÁCH KHOA |  SỐ 112

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #769 vào: 14/06/2019, 11:44:55 »


                                Tâm tình

                  NẾU bạn đã từng yêu Hậu Giang
                  Dòng sông, bãi lúa trăng mơ màng
                  Đã từng mỏi mắt qua Đồng Tháp
                  Về Búng thăm vườn trái ngổn ngang.

                  Bạn đã từng yêu chợ Bến Thành
                  Dọc ngang đường phố thức năm canh.
                  Yêu Biên Hòa bưởi, Bình Tuy cá
                  Thì mến Tây Ninh lớp núi xanh.

                  Có những vườn trầu loang lá nắng
                  Nhắc hoài vôi thắm, mặn tình quê.
                  Xanh đồng nước ngọt phơi thân trắng.
                  Sừng sững, rừng su ngóng tứ bề.

                  Chi chít đầy đồng những giếng khơi
                  Cần tre kéo nước chọc lưng trời.
                  Bao nhiêu sức sống trong lòng đất
                  Lên cả trái, cành để nghỉ ngơi…

                  Con đường Nam Bắc tạm ngừng đây
                  Ôm ấp bao xe nắng bụi đầy.
                  Lồng lộng gió từ biên giới lại,
                  Mà nghe tình Nước quyện hương cây.


                                                         HOÀI HƯƠNG



BÁCH KHOA |  SỐ 112

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #770 vào: 14/06/2019, 18:45:42 »
BÁCH KHOA |  SỐ 113  [15-9-1961 |  122 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Vấn đề xung đột giữa Nga Sô và Trung Cộng [II] |  3-13
Quảng cáo |  14
Nguyễn Hiến Lê |  Vài ý nghĩ về cú pháp |  15-22
Hoàng Minh Tuynh |  Đại Hàn trong cuộc khủng hoảng kinh tế |  23-27
Quảng cáo |  28
Nguyễn Văn Thư |  Nhân ngày Rằm tháng bảy thử bàn về ý nghĩa Lễ Vu Lan Bồn [II] |  29-34
Đoàn Thêm |  Thử tìm hiểu hội họa [XIII] |  35-50
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 112 |  50
Quảng cáo |  51-52
Vương Hồng Sển |  Thú chơi sách [VI] |  53-62
Hoàng Thái Linh |  Tìm hiểu những lối xây dựng mới về tiểu thuyết: truyện là thơ trong tiểu thuyết của Michel Butor |  63-71
Bách-Khoa |  Cái chết |  71
Tường Linh |  Hình ảnh (thơ) |  72
Hoài Hương |  Gác nhỏ (thơ) |  73
Quảng cáo |  74
Thạch Hà |  Tàn tật (truyện) |  75-82
Bách-Khoa |  Trừng phạt |  82
Huy Lực |  Sài-gòn (thơ) |  83-84
Võ Phiến |  Những buổi mai đẹp [III] (truyện) |  85-94
Nguyễn (dịch) |  Cần chết \ Giusseppe Berto |  95-102
Nghiêu Đề |  Buổi sáng nằm bệnh (thơ) |  102
Vũ Hạnh |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  103-106
Vũ Hân |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  106-108
Thế Viên |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  108-109
Quảng cáo |  110-111
Đoàn Thêm |  Ý chiều (thơ) |  112
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 112 |  112
SINH HOẠT:
   |  Nguiễn Ngu Í (thuật) |  Đại hội chống chính sách nô dịch văn hóa |  113-115
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  116
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  116
Quảng cáo |  117-122


SAIGON |  1961




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #771 vào: 15/06/2019, 12:30:49 »


Nhân ngày Rằm tháng bảy thử bàn về ý nghĩa Lễ Vu Lan Bồn (tt)

Phương pháp phá ngục cứu tù
         Người ta chớ nên quan niệm tù nhân được tha do một ơn cứu rỗi nào, cửa ngục được mở do mệnh lệnh của một quyền lực nào. Không có thẩm phán ký lệnh, không có Diêm Vương tha lỗi, không có Ngọc Đế can thiệp và nhất là không có Phật Bồ Tát hóa phép nữa. Phật có giỏi thì đã cứu nổi mẹ ngài Mục Kiền Liên, nhưng Phật cũng chịu. Người đã từng nói “Thần thông bất năng định nghiệp”.
         Phật có thể dạy cho biết cách thoát ra khỏi ngục nhưng biết cung cách cũng chưa đủ, phải thi hành và thi hành đúng phương pháp, phương pháp ấy là gây một cuộc cách mệnh tinh thần ở ngay nơi bản tâm tù nhân khiến cho họ thay đổi lối nhận xét và nhìn ra con đường độc nhất để giải thoát.

Sự giác ngộ
         Nói giác ngộ tức là phá vô minh.
         Vô minh là gì? Tôi đã từng nghe giảng về Vô minh và từng đọc những bài bàn về Vô minh; nhưng thấy giảng sư đã quanh cửa chùa, luận gia rờ bốn vách mà nói đấy là đường đi.
         Thực ra vô minh là không rõ, có thế thôi. Không rõ cái gì?

                           Không rõ mình với ta tuy hai mà một.
                           Ta với mình tuy một mà hai.


nên đem cái chấp ngã ra đặt ở giữa chiếu để sống theo đường lối ích kỷ có “ta”. Vì yêu ta. Quý ta nên đem ta để trước sự vật, đặt ta lên trước mọi người thành ra kiêu căng, hỗn xược, không được thì đâm ra giận dữ, thù hằn, được thì đâm ra mê đắm, đến lúc mất thì đâm ra si ngốc, ngẩn ngơ mong tiếc.
         Cuộc sống hằng ngày là một nỗ lực làm nở rộng cái ta bằng đủ mọi cách; nhà ta, cửa ta, con ta; thèm muốn mưu mẹo, lừa lọc, giết cướp ở đấy mà ra cả. Ngày đêm không dừng ta đem hình hài thọ mạng đặt vào công cuộc phục vụ cho lòng ích kỷ vì phục vụ cho lòng ích kỷ cho nên gây ra một mớ tội báo.
         Giữ chặt cái ta, bám vào nó tức là giữ cặt cái mớ tội mà cái ta đã gây ra bám chặt vào cái tổ chức hành phạt tội nhân, bảo tồn cái nhân quả địa ngục và chung đúc cái sức kiên cố của tường sắt vách đồng và tăng thêm uy thế cho bọn ngục tốt phán quan.
         Vậy thủ phạm gây ra tội ác, gây ra địa ngục rõ ràng là cái ta đáng ghét.
         Nhưng giải thoát cái ta không phải là đem thủ tiêu nó đi; trái lại phải suy xét kỹ lưỡng về nó để chơn trí chiếu rõ cái tính hư ảo của nó. Rõ ảo tưởng, ảo dụng của cái ta tức là chuyển mê thành ngộ, chuyển cái tâm chấp có ta, có người thành ra cái thực trí người và ta vốn không một, không khác.
         Khi cái ta gây ra tội là giả thì tất cả cái gì bám trên đất giả, xây dựng trên đất giả đều tự tan biến.
         Mình xưa đã giết người nhưng lúc bấy giờ mình thấy mình khác với người nên mới thành tội giết người. Nếu bây giờ mình rõ người ấy cũng là mình thì mình có giết ai đâu, có ăn cướp của ai đâu, không làm thiệt cho ai bao giờ, không được lợi của ai bao giờ, làm gì có tội, làm gì có ai phạm tội thì làm gì có người chịu tội.
         Trước kia là có, có hết cả nhưng có trong cách chiêm bao Nhân, Ngã. Còn chiêm bao thì cảnh trong chiêm bao vẫn thực, đến khi tỉnh giấc mộng Nhân, Ngã thì đâu ra vết tích sự vật trong giấc chiêm bao. Trước đây chính tội nhân là người xây ngục của mình và đã cung lưng góp sức để giữ vững những hình thức giam cầm họ, hành hạ họ. Chính họ đã tạo ra Diêm Vương, phán quan, ngục tốt, ra vạc dầu, lửa đỏ, nước sôi, cả đến những cảm giác thời gian thọ tội vô cùng vô tận nữa…
         Nhưng một khi phá tan được gốc rễ tội ác thì còn đâu đất bám cho những hình thức định tội, thọ tội. Tội đã không có đất bám thì các cơ cấu hành tội cũng theo tội mà tan biến trong hư vô.
         Cho nên suy tưởng với cái “ta” to tướng làm trung tâm so sánh, quyết định, tức là hành động theo vọng thức, là sinh hoạt trong ngục không gian, thời gian và đeo các thứ gông cùm của vọng cảnh, chịu một mớ tội do vọng tâm tạo ra.
         Giải thoát được cái ta tức là nhất như hóa với bản thể, tánh, tướng dụng của chân tâm tức là siêu xuất ra ngoài thời gian và không gian vì hai món này chỉ là giả tưởng, giả dụng của tâm pháp. Đã siêu thoát hết cả ảo ảnh, ảo tướng của Thời, Không, Nhân, Ngã thì lấy gì làm ngục, làm tội, làm hình phạt mà phải cầu ai cứu rỗi.
         Phương pháp phá địa ngục như thế, không phải là phá một cái gì ở ngoài phá vào, mà phải phá tự ở trong phá ra tức là làm thế nào cho tội nhân chuyển được thức-tâm thành thánh-chí.
         Công đức ấy người ta trông đợi ở chư Tăng, Phật cũng trông cậy vào chư Tăng. Có hai lý do đã được nêu ra về điểm này:
         – Lý do thứ nhất.– Phật đã ấn chứng pháp môn cần thi thiết, nhưng pháp môn này đòi hỏi sự gia hộ của chư Tăng mới thành tựu vì chỉ có công đức của chư Tăng mới chuyển nổi nghiệp thức nơi chúng sinh.
         – Lý do thứ hai.– Phật muốn cho khi nào Phật không còn tại thế nữa, pháp môn Vu Lan vẫn có thể thi hành được vì chỉ cần có hai ngôi Tăng và Pháp là đủ.
         Cho nên thứ vị quan trọng nhất trong nghi thức Vu Lan được đặt vào tay chư Tăng và ngay giờ cũng phải chọn cho thời được thuận tiện, cũng được thuận tiện.
         Cơ thuận tiện là lúc chư Tăng họp lại một chỗ trong các khóa hạ.
         Thời thuận tiện là ngày tự tứ tức là ngày mãn hạ (hết hóa học rồi), chư Tăng đều hoan hỉ mà bố thí công đức. Ngày rằm tháng Bảy vì thế nhất định là ngày Khế cơ, Khế thời để cử hành lễ Vu Lan.
         Một mặt khác, lễ Vu Lan đòi hỏi một hằng tâm ở nơi tín chủ, nhiều ít đặt vào trong một cái chậu hay cái mâm, cái quả đem dâng cúng chư Tăng. – Tôi nói dâng chúng chư Tăng chứ không phải là đem lễ Phật: điểm này quan trọng lắm.
         Nếu lễ Phật tức là Phật nhận lấy trách nhiệm rồi; đằng nầy nút bấm là ở cơ quan tăng già kia mà… Các thầy cứ nhận đi, rồi có đem dâng Phật, trước khi thọ thí đó là chuyện riêng của các thầy kính Bề trên, còn chúng tôi tín chủ chỉ biết căn cứ vào giáo pháp của Đức Thế Tôn đem lễ Vu Lan lại cúng dường chư Tăng để cầu một việc siêu thăng cho tiên linh. Các thầy mà thọ thí là các thầy hoan hỉ, hoan hỉ chuyển pháp luân, có thế thôi!…
         Chỉ có thế nhưng mà lắm chuyện lắm ạ!
         Bề ngoài thì mường tượng như thế nhưng bề trong thì quyết nhiên không phải chỉ có thế.
         Lễ vật đâu có phải là món thù lao giả cho mấy ông thầy kiện để chạy việc hộ.
         Đâu có phải là một “Khoán trắng” để thúc đẩy các Thượng tọa đấu phép với vua Diêm Vương?
         Muốn hiểu giáo lý Vu Lan, Phật tử cần đả thông một cách rốt ráo ý nghĩa cúng dường chư Tăng.
         Tại làm sao ta lại làm một tín chủ!
         Tại làm sao ta không để vải ta mặc, gạo ta ăn, tiền ta tiêu, ta không đem cho vợ con, anh em, bè bạn mà ta lại đem cúng nhà Sư.
         Xin trả lời việc cúng dường chư Tăng là một pháp môn rất mầu nhiệm, càng thành kính bao nhiêu thời càng lợi ích bấy nhiêu. Thử hỏi đem của mình ra cúng cho người đã là của mất đi lại còn chắp tay chắp chân kính cẩn thỉnh thầy thọ lĩnh! Lôi thôi quá…
         Nhưng mình vẫn phải làm, và phải hiểu tại làm sao phải làm thế, một cử động hy sinh là một cử động làm giảm bớt tham, sân, si của ta; một cử động nhẫn nhục, khuất phục là một cử động để phá bớt kiêu mạn của ta. Nói tóm lại về phía tín chủ, riêng cho tín chủ đã là một pháp môn tiêu tội và tăng thêm Đức hạnh. Nếu tín chủ cúng dường chư Tăng lại hồi hướng công đức cho Pháp giới chúng sinh lại càng quý hóa nữa và việc cứu rỗi tiên linh sẽ có hiệu lực.
         Về phía chư Tăng thì cả là một sự khó nói. Nếu nói thật thì e có sự ngộ nhận, nhưng thà bị ngộ nhận còn hơn là không nói, không nói đúng.
         Nhà Sư nhận của bố thí là có thể nói nhận tội thay cho tín chủ. Cho nên muốn lãnh thọ của tín thí phải có công đức tu hành (giới luật tinh nghiêm).
         Những bậc Thánh tăng chứng được nhị không chơn trí (Sinh không tức là không có nhân có ngã, và Pháp không thì dù có thọ của bố thí nhiều bằng ức núi Tu Di cũng đủ đức để chịu nổi). Người tín chủ được may mắn cúng dường cho các vị đó thì công đức hóa ra vô lượng, vô biên.
         Vô lượng vì phép bố thí chân thành được thành tựu. Người thọ thí không khởi Nhân tướng, Ngã tướng nên thí phẩm do đó giải thoát được mọi tương đối hạn lượng Thời, Không (nhiều ít, to nhỏ, nặng nhẹ, vuông tròn, bẩn sạch, thơm chua, lâu chóng, xanh đỏ…) Cho nên công quả không nghĩ bàn được vì đó là những pháp vô lậu, pháp không còn bị cái bụi bẩn Nhân Ngã nó hạn lượng.
         Trái lại, nếu gặp phải những Sãi chùa đã quét lá đa ăn lại không quét sạch lá rơi sân chùa mà còn thích ăn mặn thì thật là buồn quá: Thí chủ không gặt được ích lợi lại còn gieo họa cho Sư ông. Sư ông không đủ sức để lãnh thụ, cuộc cúng dường chỉ là chuyện vay trả của ngài Thượng tọa Tái sinh.
         Thượng tọa Tái sinh cũng như mọi con nợ khác… Làm thân trâu ngựa đền nghì Trúc Mai.
         Vì vậy cho nên chúng ta phải đợi tự tứ, các chư Tăng hội họp đủ mặt, có kẻ dở cũng phải có người hay, lấy số nhiều để bảo đảm kết quả.
         Hơn nữa khi Phật tại thế trong đám tăng già biết bao nhiêu là Bồ tát, La hán là các vị thần thông quảng đại, phước huệ lưỡng tôn.
         Sau này Phật đã nhập diệt rồi các Tổ nối nhau truyền đăng thì lại còn bao nhiêu vị Nhục thân Bồ tát vì nguyện mà ở trong đời hóa độ chúng sinh. Cho nên trong giáo lý Phật Đà là gồm cả phàm tăng, hiền tăng lẫn thánh tăng mới đủ gọi là Chư Tăng.
         Phàm tăng là các vị đầu tròn áo vuông, thụ giới tỷ kheo để trau dồi đức hạnh, vị thứ ở dưới ngôi Tư Lương.
         Hiền tăng là các ngài đã chứng ngôi Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hướng, Chứng Hiền Vị và sắp đăng Địa.
         Thánh tăng là các vị Bồ tát đã đăng địa từ lúc chứng ngôi sơ tâm hoan hỉ cho đến khi tu nhân đã tròn, chứng quả đã mãn, vào ngôi Đẳng Giác, Diệu Giác mà vì bốn nguyện lớn nên chưa chịu nhập Niết Bàn.
         Các vị ấy vẫn luôn luôn có mặt ở nơi có kinh, có tượng để hộ trì Chánh Pháp.
         Vả chăng chư Tăng gọi là Sư tức là Thiên, nhân Sư, thầy của Trời và loài người cho nên Tăng Bảo là một ngôi oai đức lớn; vì oai đức rất lớn nên trong nghi thức Vu Lan các vị ấy “như Pháp bố thí” diệu lực.
         Thế cho nên phía chư Tăng hiển oai nghi, thọ tín thí là khế hợp với đại nguyện của chư Phật.
         Phía tín chủ thành tín dâng hương là khế hợp với sở cầu của chúng sinh
         Nghi thức được thi hành đúng phép, Pháp luân tự chuyển, Hồng Từ của chư Phật, Uy đức của chư Tăng, tín lực của thí chủ làm chấn động cõi u minh, dọi ánh sáng trí huệ vào thức tâm tăm tối của bọn tội nhân khiến cho họ tỉnh giấc mộng dị sinh (dị hình, dị tính, dị loại mà sinh ra cho nên gọi là chúng sinh). Chỉ có phương pháp ấy làm cho họ tự cứu họ thì mới cứu được họ, ngoài ra không còn có phương pháp nào khác nữa. Nói tóm lại, Hồng từ của Phật phải thấu suốt cõi u mình.
         Mỗi mỗi chúng sinh nơi u minh phải riêng đón ánh tuệ quang chứ không ai giúp hộ được, kể cả Phật nữa. Chúng sinh đón được nhiều hay ít hay không đón được không phải là bề trên lọc chọn mặt người tùy theo yêu ghét, nhưng do nguyện lực của thân nhân họ có thâm, sâu, cảm được đến họ hay không, do đức của chư Tăng có đầy đủ hay không, do nghiệp báo của chính thân họ dày mỏng ra sao. Mặt trời vẫn chiếu khắp nhân gian nhưng chỗ nào có nước thời mới hiện được hình mặt trời. Tâm chúng sinh chưa có nước công đức thì làm sao chiếu được hình giải thoát.
         Sau đây là mối giao cảm giữa tín chủ với chư Phật qua trung gian của Hiền Thánh Tăng trong nghi thức Vu Lan.

Về phần người hành hương (tín chủ)
         Gọi là tín chủ đức tin là điều cần nhất. Kẻ cầu xin cho ông bà, cha mẹ được siêu thăng phải hết lòng tín ngưỡng pháp môn Vu Lan. Tin Pháp môn Vu Lan là tin Phật pháp, tin nhân quả thiện ác, là tin giáo lý Tam giới duy tâm, Vạn pháp duy thức.
         Tín chủ đã hiểu tội ác của tiên linh mình là do tham sân si kiêu mạn mà ra nên muốn cứu tổ tiên bản thân mình tất tu phải đến Phật Đài với tất cả lòng chân thành, kính hồi, phải khởi lòng thương hết cả mọi loài hữu tình như thương mình, tha thứ cho hết cả mọi người, cầu xin sự giải thoát cho tất cả mọi người dù là thù hay là bạn, như thế trong thời gian từ vô thủy đến vô chung.
         Tất cả tâm hồn phải chuyển thành một nguồn thương không phân biệt thân sơ, một suối hỉ xả không bờ bến điều kiện.
         Phẩm vật trong chậu Vu Lan chỉ là thứ tượng trưng cái tâm cúng dường của tín chủ mới định giá nổi kết quả hành động cứu rỗi ông bà cơ thân mình.

Về phần đức Phật trong nghi thức Vu Lan
         Chư Phật không hề thủ vai trò mở cửa ngục hay ra lệnh cho kẻ khác mở của ngục. Vả lại nói Phật không phải là chỉ một vị Phật nào là là tất cả Phật của mười phương ba đời.
         Vì chúng sinh nên mới có danh từ Phật, nên bốn thông nguyện của chư Phật, chư Bồ tát là cứu hết chúng sinh khiến cho chúng sinh thành Phật. Nếu chúng sinh đều thành Phật thì không còn cái gì phân biệt Phật với chúng sinh nữa cho nên danh từ Phật cũng chỉ là giả danh, Phật pháp cũng chỉ là giả lập để độ tận chúng sinh.
         Độ tận chúng sinh đó là nguyện mười phương chư Phật.
         Cho nên bất cứ đối với chúng sinh nào mười phương chư Phật đều “đồng nguyện thùy từ”. Cho nên tất cả mọi chúng sinh đều có thể ngửa trông lên mà đón lấy cái từ lực của Phật.
         Sự đón nhận ấy chỉ được thành tựu hoàn toàn khi nào mỗi chúng sinh đều hiểu rõ rằng mình với Phật cùng một thể.
         Mê thì là chúng sinh, lúc ngộ thời là Phật.
         Một mặt khác mỗi mỗi chúng sinh cũng phải nhẫn thấy mình với mọi chúng sinh khác cũng không phải là xa lạ gì mà cũng đồng một thể.
         Một chúng sinh cầu Phật phải ý niệm là hành động với ý chí vì toàn thể chúng sinh mười phương mà cầu Phật và phải cảm thấy một người cầu cũng như mười phương chúng sinh đều cầu cả. Như thế một chúng sinh cũng có thể có cái sức mạnh của mười phương chúng sinh vì lẽ rằng họ không mang cái bản ngã ty tiện của họ mà lễ Phật, trái lại họ đã dùng cả cái bản thể pháp giới mà cầu xin do đó cái nguyện lực “đồng thể bi ngưỡng” sẽ vô biên như pháp giới.
         Đồng thể bi ngưỡng nơi chúng sinh, đồng nguyện thùy từ nơi chư Phật nên Từ bi thành ra một phương tiện viên mãn nó hàm cả đại giác, đại hùng, đại lực và nó thành tựu tất cả mọi món công đức.
         Trước cái diệu lực đại từ bi ấy, cái thức tâm của tù nhân một khi được chấn động, ánh sáng không Ngã, không Pháp chiếu dọi vào thì cả ngục thành phải tan biến vào chỗ bản tính không không của nó cũng như người đau mắt khỏi bệnh thì tất cả các vòng tím tím, xanh xanh hết múa may quay cuồng.
         Mặt trời huệ đã soi sáng thì động sâu hang thẳm nào còn có thể tối tăm u uất được nữa.

Kết luận
         Hơn 300 năm trước, khi đi sứ sang Tàu cụ Nguyễn Du có lại lễ tại Đài Phân Kinh, là chỗ Lương Chiêu Minh thái tử dựng lên để kỷ niệm công đức san định kinh Kim Cang.

                           Ngã tụng kim cang thiên biến linh
                           Kỳ trung áo diệu độ bất minh
                           Hạnh đáo Phân Kinh thạch đài hạ
                           Chúng Chi Vô Tự thị Chân Kinh


         Đại ý nói rằng cụ hằng vẫn tụng kinh Kim Cang đến hơn nghìn lượt, thấy trong kinh nhiều chỗ khó hiểu. Nay may mà được đến lễ đài Phân Kinh mới chợt hiểu rằng Chân Kinh vốn là một thứ kinh không có chữ.
         Tác giả xin mượn câu chuyện kể trên làm đoạn kết đề tài lễ Vu Lan Bồn với tâm nguyện quý vị tìm thấy dưới đáy bồn Vu Lan cuốn kinh Vô Tự của cụ Nguyễn Du. Khi đó, chúng ta khỏi phải bàn đến chuyện có không, không có của loại địa ngục duy thức.


NGUYỄN VĂN THƯ


BÁCH KHOA |  SỐ 113

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #772 vào: 16/06/2019, 13:51:02 »


                          Hình ảnh

                    CHIỀU chiều tôi qua ngõ
                    Nàng đọc sách ngoài hiên
                    Bên người em gái nhỏ
                    Nắng lùi xa chân thềm

                    Tóc chị dài như suối
                    Tóc em lọn trái đào
                    Hai chị em không nói
                    Mà âu yếm làm sao!

                    Đôi khi nàng lặng lẽ
                    Nhìn mây chiều trôi ngang
                    Để mặc em gái bé
                    Quàng vai, nghịch tóc nàng

                    Có lúc nàng bỏ sách
                    Tay nựng má em thơ
                    Đôi bóng hình trinh bạch
                    Nhìn nhau đến bao giờ?

                    Len lén trông cảnh ấy
                    Tôi cứ muốn dừng chân
                    Nhưng ngại nàng trông thấy
                    Bước đi mà… bâng khuâng

                    Tôi chưa rời phố trọ
                    Vị ngại xa hai người
                    Dù nàng chỉ xem tôi:
                    Kẻ thường đi qua ngõ

                    Đời bỗng dâng sóng gió
                    Tôi vội vã lên đường
                    Lần cuối cùng qua ngõ
                    Rồi mãi mãi nhớ thương

                    Chiều nao tôi trở lại
                    Qua phố cũ đường xưa
                    Không có người chào hỏi
                    Vì không người tiễn đưa

                    Đường, vẫn con đường ấy
                    Chiều, vẫn chiều không mầu
                    Vẫn em thơ ngồi đấy
                    Nhưng nàng đâu, nàng đâu?

                    Một cái gì quen thuộc
                    Đã mất hẳn trong tôi
                    Hai chị em ngày trước
                    Sao thiếu mất một người?

                    Bỗng nhiên mà ngào nghẹn
                    Lòng vương vương mạch sầu
                    Mình buồn, ai biết đến
                    Vì ai bắt mình đau?

                    Tôi lại rời phố trọ
                    Vì đã “xa” một người
                    Vì nỗi đau không lời
                    Mỗi chiều đi qua ngõ…


                                     TƯỜNG LINH



BÁCH KHOA |  SỐ 113

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #773 vào: 16/06/2019, 21:49:03 »


                          Gác nhỏ

                  NHÀ tôi trong ngõ hẹp
                  Mái lá nhỏ mong manh
                  Vách dựa hè bên, hiên khép nép
                  Cửa xiêu xiêu lem luốc bụi đô thành.
                  Tôi ngồi đây, thèm một khoảng trời xanh
                  Thèm mây dong ruổi, đồng no gió
                  Thèm chiếc sao xa, giọt nắng lành
                  Nhưng nửa đời tôi cứ sống loanh quanh

                  Dưới mái lá nghèo nàn, đìu hiu, thấp thỏi
                  Đời chúng tôi u buồn như đợt khói
                  Cố vươn lên đón chút nắng chiều tan

                  Mười mấy năm qua,
                  Mắt vẫn mơ màng
                 “Một chiếc lầu con
                  Đôi hàng song gỗ
                  Bàn nhỏ nhỏ, kê liền khung cửa sổ,
                  Hé cho tôi một khoảng nhỏ trời xanh!”
                                               ●
                  Dồn tháng ngày, dựng chiếc gác mong manh
                  Mái nhà tôi đè trên bao nóc lá
                  Hiên nhỏ xíu cố nong đầy gió lạ
                  Cửa mở toang chực nuốt cả mây trời.
                  Vịn hàng song, tôi ngắm đến nơi nơi
                  Sáng giữa mắt tôi hay vừng sao xa tắp
                  Trời trên đó tự do mây bát ngát
                  Sầu trần gian tan biến giữa từng không.
                                              ●
                  Nhưng lên cao, tôi lại xót xa lòng
                  Thấy cuộc sống rõ ràng sau gác nhỏ
                  Tôi chẳng nhìn xa, mảnh trời ăm ắp gió
                  Mà lại nhìn trở xuống mái lá đìu hiu
                  Nghe tiếng em bán báo rộn sương chiều
                  Xe ba bánh lăn vào trong hẻm tối…


                                                     HOÀI HƯƠNG



BÁCH KHOA |  SỐ 113

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #774 vào: 17/06/2019, 10:27:23 »


                        Sài-gòn

                  SÀI-GÒN
                  Thủ đô vàng son
                  Hòn ngọc quý sáng tâm tình thời đại
                  Tám quận thênh thang
                  Mưa gió dầm nắng trải
                  Không lắng yên những sôi sục cuộc đời
                  Đây Sài-gòn
                  Cuộc sống uống từng hơi…
                                       ¤
                  Ai qua Lê Lợi
                  Ai ghé Tự Do
                  Đại lộ chen chân
                  Chiều thứ bảy hẹn hò
                  Mắt ngộp chói giữa muôn màu rực sáng
                  Phố mở hội
                  Những tà áo bay diễm kiều duyên dáng
                  Nụ cười tươi…
                                        trao ánh mắt…
                                                               hẹn tương lai
                  Xe đan cửi mặt đường
                  Không khuấy động cảnh thiên thai
                                        ¤
                  Ai thăm Cầu Kho
                  Bàn Cờ, Khánh Hội
                  Đường nhện giăng
                  Lạc bước kẻ thân yêu
                  Nhà chen chúc đấu lưng
                  Nắng mai ghé đậu đợi mưa chiều
                  Chuyện buồn vui
                  tưng bừng căn gác hẹp
                  Ngày tranh sống ồn ào
                  Đêm mệt mỏi loang liêu

                  Ai về Chợ Lớn
                  Rượu ngập cao lâu
                  say điên đảo canh dài
                  Nhạc vũ trường dìu dặt bước chân ai
                  Điệu nhảy múa
                  mắt long lanh mời quyến rũ

                  Ai đã qua
                  Công viên Tao Đàn, Sở Thú
                  Trốn phồn hoa trăng lả lướt đáy hồ
                  Gió thì thầm cây xao động nhấp nhô
                  Vượn hú gọi tiếng rừng qua vách lá

                  Ai đã đi
                  Những chuyến xe buýt đông người, hối hả
                  Thăm bốn mươi mốt phố phường
                  nhộn nhịp bụi khói bay
                  Đại lộ thênh thang
                  tủi hổ hẻm bùn lầy
                  Lều ổ chuột trốn lâu đài dinh thự
                  Hải cảng giang tay
                  Đón tàu bè viễn xứ
                  Đèn lửa chài chiều thoi thóp ven sông
                  Trời Thủ Thiêm
                  Khói lam nhẹ bềnh bồng
                  Khép nép đứng nhìn đô thành nhớ tiếc
                  Sông vẫn vơi đầy giòng xanh biếc
                  Đưa kinh kỳ hoa lệ chảy về đâu…?

                  Ôi Sài-gòn
                  Hòn ngọc quý trân châu.


                                              HUY LỰC



BÁCH KHOA |  SỐ 113

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #775 vào: 17/06/2019, 21:41:35 »


                          Buổi sáng nằm bệnh

                     TÔI mở mắt ngó mông ngày đến lạ
                     thân thể khoát hồn lười lĩnh nằm nghe
                     con rắn lạnh trơn trường đầy da thịt

                     mai qua rồi trưa đến chiều đi

                     và đêm hoang và ngày tàn như thế
                     nhánh cằn khô và gió bụi quên
                     chăn chiếu đắp lên bàn tay lạnh hoảng
                     rồi lá xanh vàng rồi sương bụi đen


                                                            NGHIÊU ĐỀ



BÁCH KHOA |  SỐ 113

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #776 vào: 18/06/2019, 19:48:48 »


Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào?

Vũ Hạnh

              Tên thật: Nguyễn Đức Dũng.
              Quê quán: Bình Nguyên, Thăng Bình, Quảng Nam.



         Lần trước, về truyện ngắn hay nhất, tôi đã trốn thoát bàn tay phỏng vấn của anh, vì tự xét mình là một độc giả hạng ruồi. Nay cái vòng vây phỏng vấn của anh có bề thắt chặt, lại thêm mỗi ngày đổ đồng gặp anh một lượt ở cái lối đi chật hẹp ấy của Tòa soạn thì thực khó nỗi làm thinh.
         Phải nói anh bày ra chuyện phỏng vấn là làm mệt trí nhiều người lắm đó. Mỗi người tất nhiên phải cố sửa soạn một cách trả lời. Dù muốn dù không, trả lời phỏng vấn là làm một cuộc trình diện. Mà nghĩ đến sự trình diện, tôi mắc cở quá. Cái nghề không quen nói chuyện của mình, thực là vụng về, kiểu cách. Cuối cùng mới nghĩ thôi thì nói gần nói xa, chẳng qua nói thiệt, công chuyện phỏng vấn của anh tuy cái kết quả trực tiếp chắc rằng chẳng được nhiều đâu, nhưng thật hữu ích. Kết quả không nhiều là vì những người cầm bút trong nền văn nghệ của ta – dù là có tuổi hay mới vào nghề – xưa nay ít có thói quen tổng kết việc làm của mình để rút ra ưu khuyết điểm trong từng giai đoạn. Cho nên những bậc đàn anh chắc là kinh nghiệm có thừa mà khi cần đem truyền lại lớp sau ít nhiều bí quyết thì sợ chỉ đem phổ biến toàn là công thức đại cương. Còn những bọn trẻ chúng tôi, kinh nghiệm đã ít, lại quên đi mất, thì biết còn gì mà nói nữa đây? Bởi vậy, để hưởng ứng anh, tôi phải bắt đầu một cuộc lục lọi dĩ vãng rất là tuyệt vọng và tôi không rõ trong những điều tôi sắp kể ra sau đây có độ bao nhiêu phần trăm bịa đặt. Nhưng mặc dù vậy, anh cũng đã tạo được dịp bắt buộc chúng tôi phải tự vấn để mà về sau làm việc có ý thức hơn. Cũng như trước kia, trong dịp phỏng vấn truyện ngắn hay nhất, anh bị đôi người công kích và thâu kết quả trực tiếp chẳng nhiều, nhưng anh đã giúp nhiều người thấy rõ thực trạng đọc sách của một số đông trí thức và chắc những ai trả lời cũng đã có dịp kiểm tra lại sự đọc sách của mình. Như vậy, anh gieo lúa mì mà anh lại gặt lúa kê và giúp người ta gặt được cả lúa tám thơm, đâu có phí công sản xuất?

Sáng tác để làm gì? Để cho mình hay cho thiên hạ? Để cho bây giờ hay để cho mai sau?
         Nói về sáng tác, tôi tưởng không một người nào có một quan niệm xác định từ đầu, mà thật ra quan niệm ấy phải được thành hình hoặc là biến đổi trải qua cuộc sống. Khi nhỏ, người ta sáng tác chỉ vì bắt chước, học đòi người lớn. Lớn thêm ít tuổi, người ta có thể sáng tác để cho người yêu biết mình thi sĩ hay là văn sĩ mà thêm ít chục gờ-ram ái tình. Người ta còn sáng tác vì háo danh, vì tiền nhuận bút và vì một lý tưởng xã hội nào. Như nhà văn Nhất Linh chẳng hạn, từ Đoạn tuyệt đến Bướm trắng là cả một sự thay đổi về quan niệm.
         Riêng tôi, công cuộc văn nghệ mới chỉ là giai đoạn khởi đầu và nhiều khi tôi cũng phân vân chẳng biết có nên theo đuổi cái nghiệp văn chương cho đến chiều tà bóng xế hay không, nên chưa biết được là mình sẽ hướng về đâu. Nhưng xét về cái đã có và hiện có thì thuở nhỏ tôi cũng như phần đông các bạn ở vào tuổi ấy, sáng tác là để bắt chước. Hồi học lớp Nhì, tôi cũng có ra báo tay, mục đích là để mô tả đám ma của tôi về sau này, để giễu cợt các thầy giáo bất công và viên thanh ta học vụ Le Bris thời bấy giờ. Một ý thức sáng tác như thế, hoàn toàn là bắt chước Phong Hóa, Ngày Nay và chỉ cần ông Hiệu trưởng lôi ra đánh ba chục roi ngay ngắn vào mông là đủ cho bộ biên tập giải tán lập tức. Lớn lên, ra tỉnh học, tôi sáng tác đăng ở tờ Đàn Bà, mục đích là để vừa lòng một người chị ruột vốn có khiếu thơ. Tôi làm thơ cho người chị tôi – được một thời gian thì phải gác bút, chỉ vì một ông chủ bút của tờ báo ấy (xin miễn nói tên) gởi thơ vào – lúc ấy chúng tôi ở Huế – tán tỉnh chị tôi khiến cho anh rể của tôi nổi ghen quá xá. Sự sáng tác này nhằm vào mục đích giải trí và để cho vui lòng chị mà thôi. Tôi còn nhớ một chuyện thật là đáng kể ra đây: thời ấy, tôi viết bài thơ nào giản dị mà công phu gởi ra tờ báo thì người ta không đăng. Còn bài nào tôi viết rất dối nhưng mà bí hiểm thì người ta cho đăng và có đóng khung viền đôi cẩn thận, sau đấy tôi cứ viết bừa, lựa những tiếng những câu cho không một ai hiểu cả – và cố nhiên tôi cũng không hiểu gì hết – thì nhà báo tỏ ý hoan nghinh đặc biệt. Tôi chỉ còn nhớ một bài gọi là Chiều mộng xưa (không rõ vào số nào) gồm năm sáu đoạn tứ tuyệt viết chẳng tốn công gì hết, chứa toàn những ý tối mò, vô nghĩa hết sức thế mà sau khi đăng liền nhà báo còn gởi thơ khen. Anh rể tôi và tôi, cứ đem chuyện ấy ra cười và chúng tôi từ đấy tỏ ra hết sức nghi ngờ trình độ các ông chủ trương những tờ tuần báo văn chương, cũng như nghi ngờ giá trị của loại văn thơ bí hiểm.
         Đến khi cách mạng nổi lên, chiến tranh bùng nổ, tôi đoạn tuyệt hẳn nghề thơ xoay ra viết kịch kháng chiến. Viết được một năm thì tôi bế tắc hoàn toàn vì không được ai chỉ vẽ, lại không nghe ai phê bình cho nên nhận thấy nghệ thuật không tiến, cuối cùng mình tự chán ngán cho mình. Nhưng điều quan trọng khiến tôi không viết được nữa là vì tôi chẳng hiểu rõ chủ trương đường lối do chính phủ thời ấy đề ra nên viết vở nào cũng bị phạm vào chính trị.
         Bây giờ khi cầm bút viết một truyện gì tôi cũng tự đặt câu hỏi: Có lợi gì cho xã hội hay không? Ít nhất tôi phải cho rằng có lợi nào đó tôi mới có đủ can đảm mà cầm bút viết. Tôi nghĩ rất đơn giản rằng sở dĩ mình khôn lớn được đều là nhờ công xã hội hết thảy, nếu không đóng góp vào đó chút gì thì hóa ra mình lường gạt ở trong cuộc sống, mình ích kỷ quá. Người viết văn đã thừa hưởng cái vốn văn chương của xã hội cũng như người thợ rèn thừa hưởng cách rèn, người thợ nề, thợ mộc thừa hướng cái cách xây dựng nhà cửa. Lấy cái chung ấy làm riêng cho mình đã là lợi rồi lại còn mang cái vốn ấy làm hại cho xã hội nữa, tôi nghĩ là bất nhân quá và rốt cuộc xã hội cũng chẳng dung tha cho mình. Nhưng nghĩ như thế song lúc thực hành thì có khi mình làm ngược lại ý định do không quan niệm thế nào là lợi, là hại cho thật rõ ràng. Ví dụ tôi tả đời sống cực khổ của người nông dân khiến họ có những thói tục hư tệ để mà nhân đấy nói đến cuộc đời đổi mới của họ sau này một khi họ đã vỡ hoang, biến đổi đất cát khô kiệt thành một đồng ruộng xanh tốt. Đấy là truyện dài Xóm cát mà tôi phác họa nhưng mới viết được đoạn đầu tôi đã gởi đăng, tức là truyện Miếng thịt vịt, và không viết thêm được nữa. Vô tình tôi đã nói xấu người dân quê trong lúc tôi biết rõ họ có nhiều tính tốt hơn là tính xấu.
         Có những truyện dụng tâm là tả những phong tục tốt của đồng bào Thượng để chống lại cái quan niệm coi thường dân tộc thiểu số, như truyện Cuôi Ba Dùm, Cái Xấu đi rồi, nhưng trong khi mô tả những đoạn gần gũi của trai gái, mình dễ bị những ẩn ức của bản năng thúc đẩy nên có những chỗ biến thành văn chương khiêu dâm. Tôi phải kể những truyện ấy ra mặc dầu có ít người đọc, là để trả lời cụ thể câu hỏi trên đây. Sáng tác để làm gì, đó là câu hỏi mà tôi có thể lầm tưởng đã trả lời được.
         Như vậy, mặc dầu muốn làm lợi ích, nhưng cái trình độ tư tưởng thấp kém của mình trong khi quan niệm vấn đề và cái kỹ thuật thiếu sót của mình trong lúc diễn tả sự việc đã khiến cho mình nhiều khi phản bội mục đích, thay vì làm lợi, lại hóa làm hại.
         Tóm lại, trong khi sáng tác, tôi vẫn tưởng rằng việc làm của tôi là cho thiên hạ, nhưng cá nhân tôi được hưởng khá nhiều. Một là tôi nói được những điều mà tôi thích nói khiến cho tinh thần giải thoát và chính sự sáng tạo biến đổi con người cầm bút. Chúng ta làm ra bài văn nhưng bài văn cũng làm nên chúng ta. Ngòi bút thực là khí cụ mầu nhiệm giúp ta hiểu thêm con người, rõ thêm sự đời. Người viết văn là ông tạo hóa nhỏ, đó là vinh dự quá lớn. Ngoài ra cũng phải thú thật về điểm vụ lợi của tôi, cả mặt tinh thần lẫn mặt vật chất nghĩa là tôi cũng chú trọng cả đến số nhuận bút cùng các lời khen tặng.
         Tóm lại, rõ rệt là tôi viết cho thiên hạ và cả cho tôi nữa đó. Còn viết cho bây giờ hay cho mai sau thì hiển nhiên là cho bây giờ. Còn mai sau thì có trời biết! Tôi nghĩ chỉ có những khối óc tự kiêu vô lối mới dám tự hào là viết cho mai sau. Huy Cận ngày xưa trong “Kinh Cầu Tự” mượn lời người mẹ may áo cho con, may rộng để khi lớn lên con mặc thì vừa. Nhưng khi đứa bé lớn lên thì, chiếc áo kia chỉ là một đống vải rách. Gide cũng có cái giọng lo xa tự hào ấy. Nhưng ngay khi còn sống, Gide cũng thấy là mình dại dột lỡ lời. Còn muốn lưu danh hậu thế thì thật tình là tôi không có mơ ước. Tôi nghĩ miễn là có lợi, có ích bây giờ là quá đủ rồi.

Sáng tác theo một đường lối nhất định nào hay là tùy hứng
         Tôi sáng tác theo đường lối nhất định và cũng tùy hứng một nửa. Theo đường lối nhất định là về ý hướng của nội dung, tùy hứng một nửa là khi nào thích thì viết, nhưng nếu nhà báo giục bài thì không hứng cũng phải viết…


VŨ HẠNH




Vũ Hân

              Sinh năm Tân Dậu (1921, nhưng khai sinh lại ghi: 15-7-1919), tại phường Minh Hương, thị xã Hội An (Quảng Nam); gốc ở Đồng Hới (Quảng Bình).
              Bắt đầu làm thơ, viết kịch, khoảng đầu năm 1944.
              Đã xuất bản: Diễm Trang (thơ), Để xây dựng kịch (khảo cứu), Giảng sách dưới trăng (kịch), Đoạn trường Tân thanh khái luận, Việt sử giảng yếu (sách giáo khoa).
              Cộng tác với Bách Khoa và Lành Mạnh.
              Hiện dạy các trường tư thục ở Huế và Đà Nẵng.



         Anh Ngu Í,
         (…) Còn về vấn đề “phỏng vấn” anh đã muốn có thêm tiếng nói của tôi, thằng bạn trọn đời bực dọc của anh, thì tôi đâu dám “không khứng trả lời”. Nhưng biết trả lời như thế nào đây để được vừa ý anh cũng như để được quí bạn bốn phương khỏi nghi rằng mình chưa thật với lòng mình.
         Vâng, thì trên mười năm nay, tôi đã quyết tâm theo đòi hai việc: làm thơ và viết kịch, nhất là kịch thơ. Bởi vậy có vài bạn thân, trẻ cũng như già, nam cũng như nữ, đều bảo đùa rằng đối với tôi kịch là thơ, thơ là kịch, nghĩa là tất cả đều mang hai hình ảnh quấn quít lấy nhau: nàng Thơ và cuộc Sống. Nói một cách “triết lý” cầu kỳ hơn, phải chăng đó là hai vấn đề tối quan trọng cho một thằng người, thằng người muôn nơi muôn thuở, hay là con người Việt của chúng ta, nói riêng thì cũng phải mang hai sắc thái căn bản ấy… Đó là Yêu thương và Đấu tranh để Sinh tồn. Thạch Sanh chém Chằng tinh, đánh chim Đại bàng và một Công chúa mỹ miều hay gì gì đó nữa, căn bản thu gọn vào trong hai yếu tố lớn lao ấy của cuộc sống con người… Cho nên nếu có bạn nào bảo đó là “một đường lối sáng tác” mà tôi đã và hiện đang theo đuổi, cố gắng theo đuổi, tìm hướng hoặc lợi dụng hướng bất ngờ mà theo đuổi thì tôi không dám chối cãi mà lại còn xem đó là một lời nhắc nhủ quí báu của bạn bè.
         Bởi lẽ đó, tâm trí tôi luôn luôn bám sát lại hình ảnh của cuộc sống kể trên (yêu thương và tranh đấu) để viết thành lối, thành vần điệu v.v… Rồi một khi gọi là “đã bắt đầu thai nghén” một đề tài, thì thôi, ngày đêm khó ngủ, ăn uống “sững sờ”, lo suy tính đủ chiều để làm sao cho cái “thai” ấy “no ngày khẳm tháng”. Và cứ như thế, cái “thai văn nghệ” ấy tiếp tục quấy phá tâm trí lẫn thể xác tôi cho đến ngày phải “khai sinh” nó bằng giấy trắng mực đen… Cho nên, anh Ngu Í ạ, cứ sau mỗi lúc cho thành hình một đứa con tinh thần “bằng sự” “mang nặng đẻ đau” ấy, tôi lại đọa xuống đau một trận bán sống, bán chết!
         Ấy thế mà tôi vẫn không chịu chừa nghiệp “viết kịch và làm thơ”! Tôi viết để làm gì? Và để cho ai đây, cho một thời hay cho muôn thuở? Chà! Cái ấy thật khó trả lời… Phải chăng vấn đề này rất liên quan đến vấn đề “đường lối” hoặc “lập trường” của người cầm bút? Thì như tôi đã thưa qua với anh về vài điểm có thể gọi là “đường lối viết” của tôi ở mấy dòng trên kia…, như thế là anh và quí bạn khác cũng đã thông cảm tôi trong mục đích của sự viết lách rồi. Tóm lại, còn thằng tôi, còn con người và nhất là còn đôi ông, hoặc bà, hoặc cô bạn tri kỷ, như anh, như ai… và như ai đó nữa…, lẽ tất nhiên tôi còn viết dù phải viết trong nghèo nàn và bệnh tật!
         Nhưng dù sao, “bí quyết” của vấn đề sáng tác vẫn là Cuộc Sống. Không Sống, không thể sáng tác một cái gì gọi là chân thành được. Văn nghệ sĩ chân chính (chứ không phải bất đắc dĩ) phải bám vào cuộc sống mà sáng tác cũng như cây cỏ phải bám đất đâm sâu rễ để đủ sinh khí mà trổ lá đơm hoa. Mùa nào có hoa xinh, trái ngọt mùa ấy. Thời đại nào, cuộc sống nào, cũng tất nhiên cung cấp cho văn nghệ sĩ những đề tài văn, thơ, họa, nhạc v.v… mang sắc thái của thời đại ấy, cuộc sống ấy. Dù bài thơ, bức họa, dù vở kịch, bản nhạc, có nhân vật, màu sắc, âm điệu huyền hoặc thần tiên, nhưng nội dung của chúng phải nói cho đủ cuộc đời thực tại và con người “hiện sinh”… Nếu không chúng sẽ bị xem là giả tạo và sẽ bị đổ vỡ! Thần Antée lỡ quên bám chân sát đất mà bị Hercule đánh ngã! Theo tôi, chắc anh cũng đồng ý, phải chăng đó là một kinh nghiệm sống và sáng tác xác đáng vô cùng? Còn nếu bảo bài thơ nào, vở kịch nào, quyển truyện nào, hoặc bức tranh nào, bản nhạc nào mà người sáng tác ra nó thích nhất, thì tôi mạn phép xin bắt chước anh ngâm lại câu thơ của Xuân Diệu thời tiền chiến sau đây:

                           ”Từ tôi phút trước sang tôi phút này…”


VŨ HÂN




Thế Viên

              Họ Hồ, sinh ngày 31-10-1935 tại Huế.
              Hiện giáo sư tại trường Trung học công lập Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho.
              Hoạt động văn nghệ từ năm 1949-1950; đã từng công tác các tuần báo, tạp chí ở Hà Nội, Huế, Sàigòn.
              Thơ và truyện ngắn thường đăng trên các tờ: Cải Tạo, Đời Mới, Nguồn Sống Mới, Thẩm Mỹ, Văn Nghệ Mới, Mùa Lúa Mới, Văn Nghệ Tiền Phong…
              Đã cho xuất bản hai thi phẩm: “Người yêu tôi khóc” (1959), và “Đau thương” (1960).



         I.– Theo tôi, sự sáng tác của các văn nhân thi sĩ tự nó đã có mục đích riêng. Nếu các nhà văn, nhà thơ không quan niệm sáng tác để phụng sự nghệ thuật hay đời sống thì ít nhất họ cũng xem sáng tác là một phương tiện để giải thoát cuộc sống nội tâm đầy dằn vặt, u uất, đau khổ hoặc chan chứa vui tươi, hạnh phúc của họ. Đối với tôi, sáng tác cũng chỉ là một phương tiện để giải thoát những phản ứng nội tâm của tôi khi giao tiếp với cuộc sống bên ngoài của đời hay vũ trụ thiên nhiên, từ ý niệm tầm thường ấy, tôi không có cao vọng sáng tác cho bây giờ hay để cho mai sau. Tôi sáng tác nghĩa là tôi thể hiện thân phận, đời sống của tôi hiện tại.
         II.– Trong lãnh vực thi ca, sáng tác bao giờ cũng tùy nguồn hứng cảm. Tôi không thể quan niệm nổi một nhà thơ cứ ngồi góp nhặt từng ý từng lời rồi chắp nối đẽo gọt để tạo thành tác phẩm của minh. Xóa bỏ những ý niệm về chính trị, thi ca là tiếng nói của tình cảm. (Ý niệm này tuy xưa, song đó là một sự thật không thể phủ nhận.) Mà tình cảm có chân thành mới làm rung động được tâm hồn người đọc. Sự thất bại của các nhà thơ chuộng lý trí đã chứng minh rõ ràng điều ấy. Vì quan niệm như thế, tôi sáng tác thường theo đà hứng cảm. Có những bài thơ sáng tác được nửa chừng, nguồn hứng cảm mất đi, không thể nào ngồi nặn trí óc để viết được nữa. Rồi cứ đợi đến chừng nào, có thể hai ba tháng sau, khi gặp một phản ứng nội tâm tương tự, tôi mới tiếp tục viết được. Do đấy, tôi cũng không câu nệ kỹ thuật hình thức thi ca. Tùy nguồn cảm hứng, tôi sáng tác những thể thơ riêng biệt. Có thể là lục bát, thất ngôn…, có thể là tự do, thơ xuôi…
         Hình thức chẳng qua chỉ là một phương tiện chứ không phải là cứu cánh để bắt buộc nhà thơ phải sáng tác theo thể này thể khác. Có nhiều nhà thơ đã lớn tiếng cho rằng họ đã khám phá ra nhiều chân trời mới lạ trong lĩnh vực thi ca. Thật ra họ chỉ dùng một mớ từ ngữ lập dị, một lề lối diễn tả “lai căng”, chứ thế giới thi ca của họ vẫn là những con đường mòn xưa cũ. Một tác phẩm văn nghệ có giá trị là nhờ có tính chất sáng tạo của nó. Nhưng sáng tạo không phải là chối bỏ quá khứ, phủ nhận sự tiếp thụ tiền nhân để “chân không đến đất, cật không thấu trời”, lơ lửng giữa không gian, xa lìa quần chúng. Liên hệ với quá khứ, tiếp thụ văn nghệ tiền nhân không phải là bắt chước, vay mượn như một số người đã xuyên tạc.
         III.– Những tác phẩm thi ca của tôi đều bắt buộc từ cuộc sống thực tế của tôi. Thường thường là những nỗi đớn đau dằn vặt về vấn đề cơm áo, những nỗi sầu muộn về tình yêu, những băn khoăn, thắc mắc về số kiếp làm người. Khi nào gặp một cảnh tượng, một thực tại có liên hệ đến những vấn đề trên, nguồn cảm hứng tự nhiên xuất hiện trong tâm hồn và bắt buộc tôi phải sáng tác. Nếu gặp một trở ngại nào không viết nên lời được, tôi thật vô cùng khốn khổ. Những lúc ấy tôi trở nên ngơ ngẩn, bao nhiêu tâm trí đều đổ dồn về cái thực tại, cảnh tượng mà tôi đã gặp hoặc trải qua.
         Hai thi phẩm “Người yêu tôi khóc” (1959) và “Đau thương” (1960), tôi đã sáng tác trong những trường hợp trên.
         IV.– Kinh nghiệm sáng tác thi ca của riêng tôi cho rằng muốn có nguồn cảm hứng dồi dào bất tận, phải luôn luôn say mê sống trong sự đau khổ hoặc say mê sống trong hạnh phúc. Sự say mê kỳ tuyệt đó làm cho những bài thơ trở nên có hồn, sống động, rung cảm được người đọc. Một cuộc sống hời hợt, nhạt nhẽo chỉ phát sinh được những bài thơ khô cằn, giả tạo mà thôi.
         Trong số những bài thơ in trong hai thi phẩm “Người yêu tôi khóc” và “Đau thương”, tôi thích nhất các bài Hờ Hững, Người yêu tôi khóc (trong “Người yêu tôi khóc”) và Chờ đợi, Lối về (trong “Đau thương”). Những bài Người yêu tôi khóc, Chờ đợi ghi lại những tình cảm yêu đương thiết tha chân thành của tuổi trẻ. Bài Hờ hững nói lên được những vọng tưởng huyền hoặc ám ảnh thường trực tâm trí tôi, và bài Lối về trinh bày chân xác cuộc sống của tôi và một số bạn bè thân thiết từ hơn mười năm nay.
         Anh Ngu Í,
         Như vậy tôi đã trả lời khái lược về những câu anh phỏng vấn. Không biết có làm vừa lòng anh không? Nhưng đến đây xin anh cho dừng bút. Vì sợ rằng “nói nhiều hóa ra không nói gì hết”.
         Kính chào anh.


THẾ VIÊN


BÁCH KHOA |  SỐ 113

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #777 vào: 19/06/2019, 12:04:52 »


                              Ý chiều

                        NGÕ vắng ngâm chiều dế
                        Giờ quên đợi gió ru
                        Bước xanh rầu nỗi cỏ
                        Hương úa rụng màu thu

                        Biệt nắng sầu rơi biếc
                        Tình huống ngả tóc bay
                        Rung thầm, sao gửi bóng
                        Ráng lụa khuất ngàn cây

                        Đi về nhớ du dương
                        Uốn khúc đời xa nhạc
                        Trao ý ngại mây vương
                        Đến mùa trăng thuở khác

                        Mỗi giây chìm cõi lặng
                        Gieo tiếc nhuộm ngày qua
                        Thoáng mắt lòng chưa bén
                        Vào mơ, sắc đậm hoa.


                                                ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 113

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #778 vào: 20/06/2019, 09:04:11 »
BÁCH KHOA |  SỐ 114  [1-10-1961 |  112 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Hoàng Minh Tuynh |  Hội nghị các nước “không tham gia” |  3-9
Quảng cáo |  10
Nguyễn Hiến Lê |  Vài ý nghĩ về cú pháp [II] |  11-19
Quảng cáo |  20
Trần Hương Tử |  Giới thiệu những trào lưu tư tưởng mới: I.– Bộ mặt thực của Triết học Hiện sinh |  21-32
Quảng cáo |  33-34
Đoàn Thêm |  Thử tìm hiểu hội họa [XIV] |  35-47
Quảng cáo |  48
Nguyễn Hữu Dung |  Thái độ của chúng ta đối với những nguồn tin cộng sản |  49-53
Quảng cáo |  54
Hoàng Thái Linh |  Tìm hiểu những lối xây dựng mới về tiểu thuyết: vật giới trong tiểu thuyết của Alain Robbe-Grillet |  55-62
Mộng Trung |  Nếp sống nước người: Thư Hè |  63-65
Vũ Hân |  Thao thức (thơ) |  66
Đoàn Thêm |  Tinh sương (thơ) |  67
Quảng cáo |  68-70
Phong Nhã (dịch) |  Người yêu tôi chết (Aminta) \ Giovanni Comisso |  71-76
Sao Trên Rừng |  Phù dung (thơ) |  76
Sao Trên Rừng |  Hoài vọng (thơ) |  77
Trần Dạ Lữ |  Thơ tình tháng sáu (thơ) |  78
Võ Phiến |  Những buổi mai đẹp [IV] (truyện) |  79-89
Quảng cáo |  90
Thạch Hà |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  91-92
Anh Tuyến |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  92-94
Doãn Quốc Sỹ |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? \ Nguiễn Ngu Í viết lại |  94-100
Bùi Giáng |  Đi tìm (thơ) |  101
SINH HOẠT:
   |  Thu Thủy |  Một quan điểm về vấn đề Bá Linh |  102-104
   |  Nguiễn Hữu Ngư (thuật) |  Hội thảo về Ái tình và Hôn nhân |  105-110
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 113 |  110
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  111
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  111
Quảng cáo |  112


SAIGON |  1961




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #779 vào: 20/06/2019, 21:47:05 »


                              Thao thức

                  MÀN nhung núi khép giăng sàn thượng
                  Chửa biết giờ nao mở diễn tuồng?
                  Ta với biển sông chờ khoắc khoải,
                  Đã mòn con mắt bấy đêm suông.

                  Nào rõ sau nhung có những gì…
                  Hay là xanh, đỏ đủ xiêm y?
                  Kép đào ngáp oải còn thèm ngủ,
                  Son lệch vành môi, phấn ố mi!

                  Ta buồn, sông biển cũng buồn theo
                  Bỗng mới đêm qua, nguyệt ghé đèo.
                  Sáng cả rừng tùng, chim tấu nhạc,
                  Biển sông gõ phách sóng vang reo!

                  Tuồng sắp diễn rồi: “Du nguyệt điện”?
                  Có Dương Quí Phi – Đường Minh Hoàng.
                  Có lầu Lộng Ngọc – sáo Tiêu Lang,
                  Có cả tình duyên Ta với Nàng…

                  Ta mời biển sông cùng nhắp rượu
                  Đất trời hừng hừng men liên hoan.
                  Vui niềm vui chung trăng quên xế,
                  Rộn rã gà thôn gáy mở màn…


                              Trên đèo Hải Vân – Bước vào Thu 1961
                              VŨ HÂN




BÁCH KHOA |  SỐ 114