Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 57587 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #810 vào: 09/07/2019, 13:20:50 »
BÁCH KHOA |  SỐ 118  [1-12-1961 |  110 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Hoàng Minh Tuynh |  Đại hội Cộng sản XXII có gì lạ?: Thi hài Staline bị khai quật và tống khứ khỏi Công trường Đỏ |  3-10
Bách-Khoa |  Tham nghị và tham nghị |  10
Nguyễn Hiến Lê |  Đuổi bắt ảo ảnh [IV] |  11-15
Quảng cáo |  16
Trần Hương Tử |  Giới thiệu những trào lưu tư tưởng mới: IV.– Kierkegaard, ông tổ hiện sinh chính thức [II] |  17-29
Bách-Khoa |  Nỗi ân hận của một người văn minh da trắng |  29
Quảng cáo |  30
Cô Liêu (thuật) |  Bụi phóng xạ của bom nguyên tử đối với tương lai nhân loại \ Escoffier Lambiotte |  31-34
Bách-Khoa |  Cũng là cách mạng |  34
Nguyễn Văn Trung |  Văn chương như một vết tích hay nhà văn và chữ viết |  35-51
Quảng cáo |  52
Thu Thủy |  Mấy giải thưởng quan trọng cuối năm |  53-57
Quảng cáo |  58
Mộng Trung |  Thư Hè [III] |  59-64
Quảng cáo |  65-66
Thạch Hà |  Đình công (truyện) |  67-76
Vũ Quỳnh Bang |  Tình thôn dã (thơ) |  77
Hoài Hương |  Giành đất sống (thơ) |  78-79
Quảng cáo |  80
Thiên Giang |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? \ Nguiễn Ngu Í viết lại |  81-83
Phi Vân |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  83-84
Viên Linh |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  84-85
Sao Trên Rừng |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  85-87
Sao Trên Rừng |  Mặt trời xưa (thơ) |  88
Xuân Hiến |  Mưa cuối thu (thơ) |  89
Hàn Xuân |  Mộng cố thôn (thơ) |  89
Quảng cáo |  90
Bùi Giáng (dịch) |  Ngộ nhận (Le Malentendu) [II] \ Albert Camus |  91-101
Đoàn Thêm |  Chưa thấy (thơ) |  102
QUA CÁC HÀNG SÁCH:
   |  Nguiễn Ngu Í |  “Tâm tình người đẹp” của Vũ Hoàng Chương; và “Trinh trắng” của Đông Hồ |  103-108
   |  Tràng Thiên |  “Màu mưa đêm” của Thu Vân |  108-109
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  110
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  110


SAIGON |  1961




 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #811 vào: 09/07/2019, 15:13:38 »


                          Tình thôn dã

                  MẮT em không là hồ thu,
                                    mà là ao bèo thôn dã;
                  Tình anh không là tình quân tử,
                                    mà là tình kẻ nông phu.
                  Đã qua rồi
                  Những mùa thu
                                    Của những chàng trai thi sĩ,
                  Ngồi đợi chờ trăng đã từ vạn kỷ,
                  Khóc lá vàng rơi mỗi độ thu sang.
                  Mùa thu của đôi ta,
                                    Trăng sáng ngập đường làng
                  Anh đứng tựa bờ tre, chờ em bên ngõ,
                  Ta tát nước lên đồng xanh, giục mùa lúa trổ,
                  Lòng anh reo như sóng vỗ trùng khơi.
                  Thuyền sẵn sàng rồi, anh cầm lái, em bơi.
                  Ta hát nhịp hồ khoan, bốn bề nước sóng.
                  Lứa tằm nầy, em sẽ chọn tơ vàng óng,
                  Dệt lụa vàng, may áo cưới mùa sau.
                  Và mùa sau,
                                    Ta đã hẹn hò nhau
                  Ta tát nước đầu mùa, cuối mùa giã gạo.
                  Trăng sáng bên hè, em ngồi may chiếc áo.
                  Áo lụa vàng, màu lúa chín lên hương.
                  Đám cưới chúng mình không có rượu quỳnh-tương
                  Chỉ có nước chè xanh, dăm ba vò rượu trắng,
                  Lòng anh say trong mối tình khoai sắn,
                  Tình em thơm như một bát canh rau.

                                    Đường về làng hai đứa nắm tay nhau,
                                    Đời đẹp quá, muôn chim kêu rộn rã.

                                    Tình em vẫn là mối tình thôn dã,
                                    Mà tình anh là tình kẻ nông phu.


                                                                   VŨ QUỲNH BANG
                                                                            7-1961




BÁCH KHOA |  SỐ 118

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #812 vào: 10/07/2019, 13:59:32 »


                              Giành đất sống

                  NƯỚC cuồn cuộn tràn sông giành đất lạ
                  Dâng hoài lên chực nuốt cả đồng xanh
                  Hồng Ngự. Kiến Tường. Long Xuyên. Rạch Giá
                  Nước với người lăn lộn giữa giao tranh
                  Những bè chuối mong manh,
                  Thuyền nan gối sóng
                  Tàu sắt, quân xa cướp đường giải phóng
                  Cứu dân lành trôi nổi giữa gieo neo.
                  Sóng bạc đầu cố đuổi cánh tay chèo
                  Phủ trắng cả vườn cây, nẻo đường, lối phố.
                  Ai thương tiếc ngôi nhà xưa sụp đổ?
                  Trâu bò chôn trong nấm mộ thủy triều?
                  Khăn nào lau ráo mắt những người yêu?
                  Rưng rức chảy nỗi buồn lo khiếp hãi.
                  Trời đất hôm nay
                                             dường như tím lại
                  Chòm sao canh giấc ngủ kẻ không nhà
                  Bao mảnh đời lịm chết giữa phù sa,
                  Hồn vương vất không đành xa đất mẹ.
                  Tôi thấy bao người trai trẻ
                  Đổ đất ngăn bờ,
                  Chắn nước trào dâng,
                  Bức thành người,
                  Giành đất sống,
                                         Bám chắc bàn chân.
                  Giữ quê hương cho sắc lá xanh ngần.
                  Mầm hy vọng nở trên chồi hoa trái
                  Hàng triệu đồng bào thân ái,
                  Nhịn thuốc, dành quà
                  Gửi thương về che chở Hậu Giang xa…

                  Ngày mai cạn nước phù sa,
                  Người về xóm cũ dựng nhà thương nhau…


                                                          HOÀI HƯƠNG



BÁCH KHOA |  SỐ 118

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #813 vào: 10/07/2019, 19:57:08 »


Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào?
000
Thiên Giang

              Tên thật: Trần Kim Bảng.
              Sanh năm 1913 ở Hòa Vang, Quảng Nam (nhưng khai sanh thì ghi Đà Nẵng).
              Trước 1945, có bút hiệu: Hải Vân, Thạch Vân.
              Trước 1954, không chuyên hẳn về lối văn nào hoặc về ngành nào. Viết bài bút chiến, bài nghị luận, viết hồi ký, truyện ngắn, truyện dài, dịch tiểu thuyết ngoại quốc, phê bình sách, phim, nhân vật lịch sử… Nhưng từ hiệp định Genève, chuyên hẳn về ngành Tân giáo dục và viết sách viết báo để giới thiệu, cổ động cho ngành này.
              Đã cộng tác với các báo: Tiếng Dân (1933), Tiến Bộ, Hồn Trẻ (1935-36), Phụ Nữ thời đàm (1937), Văn Lang (1939-40), Việt Bút (1946-47), Đời Sống, Cộng Đồng (1948), Nhân Loại (1953, 1958), Mới (1953-54), Bách-Khoa (1957), Vui Sống (1959), Mai (1960), Luận Đàm (1961).



         Anh gọn gàng với áo mai-dô quần đùi, chăm chỉ rút thuốc vào ống tiêm; chị giản dị trong bộ bà ba đen, ân cần đưa từ con gà con trong chuồng vừa bắt ra cho anh chích.
         Và tôi lợi dụng đôi hồi thư thả của cặp vợ chồng toan đổi nghề dạy trẻ sang nghề nuôi gà con ấy mà tấn công ngay.
         Và anh dễ dãi trả lời.
         ― Tôi sáng tác không phải để mà sáng tác.
         Chị đưa gà tới. Anh ngưng nói để làm bổn phận người chủ… trại nuôi gà. Sau đó anh nói tiếp:
         ― Bao giờ tôi sáng tác cũng để minh giải một lí thuyết nào đó, hay để đưa người đọc đến một nơi nào.
         ― Nghĩa là đề tài đối với anh là phụ?
         ― Đúng vậy. Cũng như lông lá, mồng mào của con gà là phần phụ thuộc, là cái bề ngoài của nó.
         ― Vậy anh có thể cho biết cái lí thuyết văn nghệ mà anh chủ trương, cái sườn của những gì anh sáng tác chăng?
         Anh hơi nghiêm nét mặt:
         ― Anh đọc văn tôi thì anh đã hiểu rồi.
         ― Hiểu là hiểu vậy thôi, chớ hiểu sao bằng chính người viết cho được.
         ― Vậy thì khách hãy gõ cửa trước cái đã.
         Thì ra tôi bị dồn vào cái thế bị phỏng vấn lại! Nghĩ rằng có qua có lại mới toại lòng nhau, nên mắt tôi từ giã đàn gà mà nhìn ngọn cây ngọc lan ở cạnh, nhớ lại…
         ― Tôi… thì tôi thấy như thế này. Trong các truyện của anh, anh gợi cho người đọc, hoặc anh chứng minh rằng: con người sống phải có quyền sống, mà trong những quyền thiêng liêng ấy, anh tha thiết nhất đến Tự do. Tự do của mỗi con người riêng rẽ. Tự do của một quốc gia. Tự do của cả loài người. Thân thể bị xiềng xích, tư tưởng bị kìm hãm, cuộc sống bị đè nén, là anh chống đối, và tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh mà anh chống trả thẳng thắn hay quanh co, tích cực hay tiêu cực. Đó là điểm tôi thấy được trong các hồi kí và tiểu thuyết của anh mà tôi được đọc. Chẳng biết có đúng hay không?
         Anh cười cười, không đáp mà lại hỏi:
         ― Anh còn “thấy” cái gì nữa không?
         Tôi nhìn đàn gà con chen chúc trong lồng, cố nhớ… để cho trôi cái nợ phải “tội ngược dòng”.
         ― Dường như còn cái này. Tình thương thì phải. Tình thương giữa người với người, nhất là những cơn thất thế, những chốn đớn đau, những nơi chật hẹp, khiến con người dễ gần với con vật.
         Và tôi đợi anh. Nhưng anh không nói, không tỏ gì là tôi nói đúng, chỉ đều đặn lấy thuốc ra, tiêm thuốc vào, làm tôi tự hỏi phải chăng đó là một lối trả lời của một người đã hai thứ tóc, có nói, có làm, có đi, có viết… rồi giờ “thối vi sư” có lẽ chẳng vui gì, nên định trở về vườn cũ nuôi gà cho xong…
         Thôi thì đương sự đã không phản đối cũng không tán thành, thì mình cứ cho là đồng ý đi, để mà đi cho trọn con đường…
         ― Lúc anh viết mà khoái nhất, có lẽ là lúc anh chẳng bận bịu gì…
         Anh chưa trả lời, có lẽ còn muốn đào sâu coi cái tiếng “gì” của tôi nó chỉ cái gì đây.
         ― Tôi muốn nói lúc chẳng bận bịu vì bao cái bổn phận trước mặt, hằng ngày, chẳng hạn như bận bịu vì học trò, bận bịu vì thê tử, bận bịu vì… gà con…
         ― Trái lại thì có! Chính những lúc bị ép vào một cái thế nào đó mà mình khó thoát, thì tôi lại viết sướng nhất. Như lắm khi bận công việc ở nhà in, máy chạy rầm rầm, mà anh em thúc viết cho kịp ra số báo sắp xong, trong lúc còn khổ vì chỗ ăn chỗ ở không yên, thì sao lại viết mau viết sướng thế!
         ― Vậy những khi thư thả, tiền dư bọc sẵn, nhà cửa thênh thang, cái ăn cái ở khỏi cần lo, là anh viết khổ sở lắm sao?
         ― Đúng vậy anh à, khổ sở như trâu kéo cày vậy.
         Thành ra người văn với thằng người ít chịu đi song song. Thằng người mà chẳng bị gì dày vò, không chi làm cho bận rộn, thì lại… làm thiệt thòi cho người văn.
         Chẳng biết trường hợp anh là riêng biệt hay là một lệ chung đây?


NGUIỄN NGU Í thuật




Phi Vân

              Một nhà báo lâu năm miền Nam.
              Chuyên viết truyện ngắn và phóng sự.
              Tập phóng sự “Đồng Quê” được giải thưởng hội Khuyến học Cần Thơ (thời tiền chiến) và được dịch ra Hoa văn.



         Kính Anh,
         Tôi đã tiếp được thư anh từ lâu, nhưng (…) hôm nay xin phép anh cho tóm tắt một vài ý kiến mọn để đáp tạ sự chiếu cố của anh:
         “Là một văn nghệ sĩ, một khi đã thiết tha với tiền đồ Văn nghệ nước nhà, không thể bảo rằng: “Tôi sáng tác theo nguồn cảm hứng của tôi”. Dẫu rằng nếu không có nguồn cảm thì không thể tạo nên một sáng tác có “hồn”.
         Vâng một tác phẩm không có “hồn” theo thiển ý, là một tác phẩm bỏ đi.
         Nhìn thấy một số khá nhiều tác phẩm được tung ra bừa bãi ở “thị trường” lúc nầy, tôi không hiểu những văn hữu tác giả những “món ăn tinh thần” kia đã nghĩ sao về văn nghệ? Riêng tôi, tôi cho rằng sáng tác theo thị hiếu của một số người, hoặc sáng tác để vụ lợi, để sanh sống nhất thời, không một chủ định, không một đường lối, thì cho dầu đề tài có sôi nổi đến đâu, những tác phẩm ấy nếu có “sống” cũng chỉ là sống trong một thời kỳ nào đó rồi cũng sẽ chìm trong quên lãng mà thôi.
         Vì có ý nghĩ như thế, từ lâu nay tôi tự đặt một phương châm, một đường lối để kiềm hãm lấy mình. Rồi khi cầm bút lên bảo rằng để sáng tác là tôi phải tự vấn “Mình viết để làm gì đây?” nếu đề tài đưa ra không phục vụ cho xã hội (dầu là một phần cỏn con) cho một lý tưởng nào đi thì nên sắp xếp gọn để làm một thiên ký ức, hơn là phơi bày dưới mắt bạn đọc”.


⎎ ⎎ ⎎

         Bấy nhiêu đó, tôi tưởng rằng cũng tạm đáp lại sự ân cần thăm hỏi của anh (…)

PHI VÂN




Viên Linh

              Tên thật: Nguyễn Nam.
              Sinh năm 1948 tại Đồng Văn (Hà Nam).
              Cộng tác với: Sống, Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn nghệ…



         Chắc tôi không thể làm vừa lòng anh về việc trả lời những câu phỏng vấn trên được, bởi lẽ tất cả nó chỉ ít oi như dưới dây.
         Về phần đầu, tôi khó nói dứt khoát được. Thường tôi vẫn nghĩ viết là viết, viết cũng như ăn, ngủ, nghỉ, chơi. Nhưng có lần tôi lại nói với một người đàn bà rằng: “Trước vong linh Trời Đất, anh thề là anh viết vì em”. Vậy mong anh em hiểu cho.
         Tôi cũng không rõ mình có viết tùy hứng không, nhưng tôi hay viết vào đêm, tuy nhiên cũng không hẳn nhất thiết là như thế.
         Khi đã đặt bút là tôi viết liên tục. Những gì tâm hồn và thân thể tôi thấy trong lúc đó, hoặc thấy lại lúc đó, tôi viết hết ra một cách thứ tự và công bằng – thứ tự và công bằng như khi thụ nhận vậy, nghĩa là không do mình sắp xếp. Sự thứ tự và công bằng này một khi đã nằm trong bài thơ thì trở nên lộn xộn và nhiều, nhưng sự lộn xộn và nhiều này sẽ làm cho bài thơ sáng tỏ và giản dị hơn lên.
         Trường hợp bài Cái chết của A. Hitler là một. Sự diễn biến xảy ra ở trong đầu cùng một lúc với sự diễn biến trên trang giấy, việc sáng tác chỉ là việc đổ hết tiềm thức ra một lượt, bởi vậy tôi không phải trả lời câu thứ III của anh nữa, vì vấn đề không dẫn tới chỗ đó.
         Còn về những kinh nghiệm, với tuổi trẻ của tôi, tôi cũng mong anh hiểu cho. Nhưng thường trong một năm, hay giữa hai thời kỳ viết, tôi dành một khoảng giữa, chừng ba hoặc sáu tháng để đọc truyện Tàu. Tôi thích bộ “Tây du ký” nhất. Trong một bài lục bát gần đây, tôi có viết.
                  Tôi đi tôi lại bóng mù thinh không.
         Khi viết câu này tôi đang nhớ đến Tôn Ngộ Không cân đẩu vân về động Hoa Quả.


⎎ ⎎ ⎎

         Anh Ngu Í,
         Còn anh hỏi tôi có viết cho Mai Sau không? Xin trả lời anh bằng một đoạn thơ của Raymond Queneau:
                           Cesoir
                  si j’écrivais un poème
                  pour la postérité?…
                  à
                  la
                  postérité
                  j’y dis merde et memerde
                  et reremerde
                  drôlement feintée
                  la postérité
                  qui attendait son poème

                  (…)


VIÊN LINH




Sao Trên Rừng

              Sanh ngày 18-11-1939 tại Nha Trang.
              Sống lâu năm ở Đà Lạt, Đơn Dương, Ngoạn Mục.
              Cộng tác với: Sáng Tạo, Văn nghệ…



         I.– Sáng tác để làm gì? Để cho mình hay cho thiên hạ? Để cho bây giờ hay để cho mai sau?
         Tôi chưa hề thử đặt cho mình câu hỏi này. Tôi viết vì bị thúc đẩy bởi một lực ở đàng sau và được thu hút bởi một lực ở phía trước. Đó là những ma lực làm tôi cảm khoái huyền dịu, xa xăm, thứ cảm khoái nầy kéo dài được chứ không ngắn như nhục cảm. Viết được một đoạn hay, tôi đi lên đi xuống thưởng thức và khoái trí. Nên tôi nghĩ sáng tác là sáng tác cho mình trước hết. Nhưng nếu viết xong để đốt đi hoặc vì lý do nào đó biết chắc chắn sẽ không có một người nào đọc đến, tôi sẽ không viết. Nên tôi lại nghĩ sáng tác là sáng tác cho người khác… trước hết. Dùng lý trí phân tích để biết rằng sáng tác cho mình hay cho thiên hạ, tôi e nhiều người phản lại ý mình. Có thể nói câu hỏi đầu tiên của người phụ trách không được. Vì lý do tinh thần, như tôi đã nói, tôi viết cho bây giờ. Và sự thực, vì lý do vật chất, tôi cũng viết cho… bây giờ. Nhưng viết cho bây giờ là thế nào? Chỉ có người viết truyền đơn trong một giai đoạn hay tình thế chính trị nào đó, chỉ có những người viết thiệp mời, những người viết đó mới viết cho bây giờ. Còn người viết phóng sự xã hội (tôi muốn nói đến những phóng viên có học thức và khả năng hẳn hoi, và hạng người này rất hiếm thấy) cũng chưa phải hoàn toàn viết là viết cho bây giờ. Vậy tôi nghĩ viết là viết cho mai sau. Hơn nữa nếu tôi biết chắc chắn rằng hằng hằng thế kỷ sau, những cái gì tôi viết trong đời sẽ không có ai đọc, tôi bỏ viết ngay. (Tôi biết nhiều người đang bĩu môi khó chịu khi đọc xong câu đó.) Và nếu bây giờ tự nhiên tôi có một lòng tin chắc chắn là trái đất sẽ sụp đổ và loài người sẽ tiêu diệt, và, đồng thời, không có một loài người nào tái thế hoặc từ một hành tinh, một cõi đời nào khác tìm đọc, tôi bỏ viết ngay. Cũng nên nói thêm là nếu tôi biết chắc chắn sau này có người vượt tôi một cách xứng đáng, tôi sẽ không viết. Tôi không muốn làm Tolstoi để sau này biết có Dostoiewsky, dù Tolstoi cũng đã là một hòn núi cao mà ít người vượt qua. Nếu Chateaubriand, nếu Victor Hugo hồi sinh thời biết rằng đến bây giờ học sinh ngao ngán chán chường đọc văn hai ông và giáo sư (tôi chỉ nói những giáo sư có thực tài) phải giảng những đoạn văn kia như một của nợ, hai ông đó sẽ làm một người thường rồi. Nói tắt một lời, tôi viết cho mai sau.
         II.– Sáng tác theo một đường lối nhứt định nào hay là tùy hứng?
         Thường tôi viết tùy hứng. Nhưng hầu như bất cứ nơi chốn và bất cứ thời gian nào – trừ những giờ phút kinh hãi hoặc mệt mỏi chán chường chỉ muốn chết mà chưa dám – tôi cũng có thể viết được. Và hứng sẽ từng hồi từng chập đến một cách thần tình. Nhiều khi đang viết nửa chừng phải đi ngủ (nhưng thường thì lúc đó ngủ không được vì đầu óc như nóng bừng hoặc tâm trí căng thẳng). Lúc sắp thiu thiu, nhiều ý tưởng cùng hình ảnh lạ lùng xuất phát làm mình phải ngồi dậy ghi ngay. Vì nếu không, nhiều ý tưởng khác có thể dồn dập nẩy sinh ra làm mình không thế nhớ hết. Mà dù có nhớ hết, khi thức dậy ngồi vào bàn viết ghi lại, sẽ thấy chúng trơ trẽn, lạt nhách. Những ý tưởng, những hình ảnh kia trong cuộc sống tầm thường, mình tưởng không bao giờ mình có được. Những ý tưởng, những hình ảnh kia nhiều lúc tôi tưởng chúng hiện đến tâm trí tôi từ một cõi tiền kinh nghiệm hay từ hư không. (Từ lâu tôi đã theo dõi và đã cảm thấy nhiều lý lẽ của những người trong phái tiểu thuyết mới đặc biệt ở Pháp. Nhưng tôi tin chắc chắn rằng họ sẽ không có những cơn hứng say sưa huyền diệu, chẳng hạn, như những người trong trường phái siêu thực, ấn tượng, hoặc cả lãng mạn. Nhưng ý thức hệ phải thay đổi và lịch sử vẫn tiến, biết nói sao. Hãy chờ.)
         III.– Những gì đã xảy ra trong tâm trí và trên trang giấy của tác giả từ khi tác phẩm bắt đầu thai nghén cho đến lúc nó thành hình.
         Tôi chưa viết được gì cả. Tôi chưa làm được gì cả. Tôi không khiêm tốn vì khiêm tốn nhiều lúc thật đáng ghét bằng mười lần cái đáng ghét của cái tôi. Tôi chưa có tác phẩm nào hết. Tôi đang thí nghiệm. Tôi đang khai phá. Tôi đang tìm đường. Và rất có thể tôi không làm được gì hết. Đó là lý do tôi không muốn trả lời câu hỏi này. Hơn nữa tôi nhận thấy nó na ná giống câu hỏi trên. Tôi chỉ nói riêng về tiềm thức. Tiềm thức làm việc thần tình. Quả đúng như lời giáo sư Thạch Trung Giả đã nói rất nhiều khi tôi còn học ở Nha Trang và khi ông kể đến những đoạn văn của Dostoiewsky, của nhiều tác giả nữa và đặc biệt là của Goethe trong vở Faust. Những giờ học kỳ thú đó suốt đời tôi không quên.
         IV.– Những kinh nghiệm sống và sáng tác thích nhất.
         Sartre nói: “Je n’ai pas besoin de faire de phrases (…) Se méfier de la littérature. Il faut écrire au courant de la plume; sans chercher les mots” (La Nausée, trang 77). Như vậy, đúng. Vì mới theo kịp ý tưởng, nhất là khi chúng xuất hiện hai ba cái một lần và xuất hiện quá mau. Viết như vậy thì sống khỏe lắm. Có điểm khác mọi người là tôi không viết nhật ký. Mệt lắm. Trước giờ phút hân hoan hay đau đớn quặn người, tôi lặng người cảm xúc. Nhất định tôi không ghi lại. Vì sẽ không đúng và khổ sở lắm. Tôi rất kỵ và gần như kinh tởm những người bạn đồng lứa đã làm văn nghệ hoặc muốn làm văn nghệ. Vì nhiều lý do phương hại đến sự sáng tác của tôi. Lý do thứ nhất: tất cả tình cảm, hành động, cử chỉ, những cử chỉ thật nhỏ nhặt của họ cũng đều có tính toán, sắp đặt hết. Điểm này làm tôi phát ngấy. Lý do thứ nhì: tôi không tin tưởng ở bất cứ ai hết, nhất là khi hầu hết đều có vẻ tự mãn trong lúc họ thiếu hoàn toàn căn bản. Điểm nầy làm tôi khổ sở vì suốt đời e không có lấy một người bạn đồng hành – dù đồng hành không phải là đi chung với nhau. Còn sáng tác thích nhất? – Chưa có. Riêng về thơ, tôi chỉ mới cho đăng một ít thơ cũ, làm trong bước đầu, để kiếm những khoản tiền nhỏ nhưng nhiều khi tối cần. Mơ ước hiện tại của tôi là những nhà in nhỏ nhưng có nhiều chữ sắc, nhọn, đẹp gởi đúc từ Pháp chẳng hạn. Và có giấy có bìa đẹp một cách nghệ thuật hẳn hoi như của bao nhiêu sách ở Pháp, ở Mỹ, v.v… Và những nhà xuất bản cai quản và điều khiển bởi những tâm hồn mới, có học thức, có thực lực, và cấp tiến. Và sự không-gặp-nhiều-khó-khăn để được đăng lên tạp chí hay in thành sách. Chừng ấy điều kiện, nền văn học Việt Nam chắc chắn sẽ được củng cố, phát triển rực rỡ và hùng cường. Những tác phẩm vô vị, những tờ báo lá cải, nhất là những bọn trẻ vô tài bất tướng, chắn chắn sẽ bị đào thải. Viễn tượng kia có xa lắm không, để cho những “sáng tác thích nhất” của tôi mà người phỏng vấn đã hỏi sẽ ra đời. Tôi đã lạc đề nhiều quá và xin dừng.


SAO TRÊN RỪNG


BÁCH KHOA |  SỐ 118

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #814 vào: 11/07/2019, 15:16:31 »


                            Mặt trời xưa

                  gió ban sớm sao lê dài heo hút
                  thông reo buồn như nhạc tiễn hồn tôi
                  theo vàng hanh đem lạnh rải trên đồi
                  nương lối cỏ rủ nhau về xa vắng
                  nghe mông mênh đang lùa vào mây trắng
                  sương đi rồi sao nắng cũng sầu theo
                  trời cao lên như tất cả tiêu điều
                  lan rộng mãi để đưa về vô tận
                  mặt trời lặn kìa mặt trời sắp lặn
                  giữa hồn tôi hay thực giữa ban mai
                  thời gian qua đang bỏ lại di hài
                  của kỷ niệm giờ bắt đầu tan rã
                  từng phút từng giây theo màu trắng xóa
                  như sương mù di biến giữa mênh mông.
                  mộng ban xưa bừng dậy giữa mai hồng
                  nay đã rụng giữa một trời tang chế
                  ghế đá buồn tanh vườn cây hoang phế
                  chim chóc rầu buông lả tiếng chơi vơi
                  thẫn thờ đi tìm chỗ chúng ta ngồi
                  hoa dại khép như hồn anh ai biết
                  nước lắng đìu hiu suối ngàn thê thiết
                  cảm mơ hồ dư ảnh với dư hương
                  sáng hôm nay men lối cỏ bên đường
                  anh trở lại mặt trời xưa đã chết.


                                                SAO TRÊN RỪNG
                                               (Những bài tình đầu)




BÁCH KHOA |  SỐ 118

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #815 vào: 11/07/2019, 19:52:45 »


Mưa cuối thu

CỐ hương giờ cuối thu rồi
Nửa đêm tỉnh giấc mưa ngoài trời khuya
Gối nghiêng thao thức nằm nghe
Mái xôn xao hứng bốn bề mưa rơi
Tưởng như trời Bắc sụt sùi
Giọt buồn trĩu nặng lòng người nghe mưa.
Cửa đêm lỏng khép gió lùa
Đèn run bốn bức tường mờ run theo
Giá băng về ngự xóm nghèo
Nước quằn quại xối, đều đều tiếng mưa
Nhạc mênh mông rót hững hờ
Đọng âm thành một bài thơ buồn buồn
Nhớ heo may gió con đường
Nhớ run rẩy trận lá vàng cố đô
Và, trong cung bậc mơ hồ
Tôi nghe xa vọng tiếng mùa tịch liêu.

                                     XUÂN HIẾN



BÁCH KHOA |  SỐ 118

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #816 vào: 12/07/2019, 15:31:17 »


                                 Mộng cố thôn

                       CHỢT giấc bàng hoàng mộng cố thôn
                       Làng xưa bóng vẫn dõi theo hồn.
                       Tre đùa nắng nhạt run xao xuyến
                       Lúa cợt cuồng phong sóng đuổi dồn
                       Sông nhỏ nao nao triều bích ngọc
                       Đa già sừng sựng thách hàn ôn.
                       Mười năm chừng đã bao mưa nắng
                       Bể mấy nương dâu? Ruộng mấy cồn?


                                                                  HÀN XUÂN



BÁCH KHOA |  SỐ 118

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #817 vào: 12/07/2019, 23:28:40 »


                                     Chưa thấy

                                    TỪ khi qua trái đất
                                    Mây vẫn gọi thơ bay
                                    Trăng ngó lòng hoa nở
                                    Cho đời Lý Bạch say

                                    Nước mắt tình pha mực
                                    Đầy vơi ngập núi sông
                                    Thở than dài đáp ngắn
                                    Nổi gió cuộn mùa giông

                                    Xua trăng về Xích Bích
                                    Trả gió lại Tầm Dương
                                    Ngả tối trời tây lặn
                                    Vào mơ, chửa thấy đường

                                    Đẹp cỗi hay hồn úa
                                    Âm thanh uống cạn rồi
                                    Sắc hương còn trẻ mãi
                                    Tha thẩn một mình tôi.


                                                        ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 118

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #818 vào: 13/07/2019, 21:44:34 »
BÁCH KHOA |  SỐ 119  [15-12-1961 |  116 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Hoàng Minh Tuynh |  Đại hội Cộng sản XXII có gì lạ?: Ông “K” giữa chủ nghĩa Staline và chủ nghĩa xét lại |  3-7
Quảng cáo |  8
Nguyễn Hiến Lê |  Nói chuyện với các bạn thanh niên: Thành công và thất bại |  9-16
Quảng cáo |  17-18
Vũ Thụy Hoàng |  Công cuộc phòng thủ chống hỏa tiễn liên lục địa |  19-24
Bách-Khoa |  Máu kẻ nghèo |  22
Trần Hương Tử |  Giới thiệu những trào lưu tư tưởng mới: V.– Nietzsche, ông tổ của Hiện sinh vô thần |  25-37
Quảng cáo |  38
Trần Thúc Linh |  Bảo vệ thiếu nhi |  39-42
Bách-Khoa |  Nhà phê bình giỏi |  42
Nguyễn Tạo Lâm |  Một địa hạt văn chương mới: Loại tiểu thuyết khoa học dự tưởng |  43-50
Bách-Khoa |  Một lời phê bình Edgar Poe |  50
Võ Quang Yến |  Hành trình của Enos |  51-53
Quảng cáo |  54-56
Đoàn Thêm |  Lá thư cuối năm |  57-62
Phan Duy Nhân |  Trên vùng cao sáng (thơ) |  63
Đoàn Thêm |  Chung linh (thơ) |  64
Hoài Hương |  Lẽ sống (thơ) |  65
Minh Đức |  Đi La Mã (nhật ký) |  66-76
Huy Lực |  Biển sáng (thơ) |  76
Bùi Giáng |  Tờ mây (thơ) |  77
Minh Khiết |  Mặc nhận (thơ) |  78-79
Quảng cáo |  80
Bùi Giáng (dịch) |  Ngộ nhận (Le Malentendu) [III] \ Albert Camus |  81-92
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 117 |  92
Nguiễn Ngu Í |  Có chồng không tỉnh trí (truyện) |  93-102
Tường Hùng |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  103-104
Phạm Việt Tuyền |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? \ Nguiễn Ngu Í viết lại |  104-106
Bùi Khánh Đản |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  106-111
SINH HOẠT:
   |  Tân Fong Hiệb |  Hội nhà văn Việt Nam |  112-113
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  114
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  114
Quảng cáo |  115-116


SAIGON |  1961




 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #819 vào: 13/07/2019, 23:25:51 »


                        Trên vùng cao sáng

                  bởi vùng vẫy trong hình hài trói buộc
                  cho tôi xin một phút mở linh hồn
                  khi đã biết sinh ra cùng cỏ mọc
                  số phận người từ đó bỗng hoang mang

                  khi vừa lớn nỗi buồn cao với núi
                  tôi băn khoăn soi mặt bến sông này
                  lửa bập bùng hai bên bờ cát bụi
                  e căm hờn thiêu hủy nốt tương lai

                  người thất vọng rên la từng dấu đạn
                  cột đèn cao khói xám tiếng kêu buồn
                  khi nằm xuống trông thấy mình suy nhược
                  tôi tủi hờn ngửa mặt ngó tiền nhân

                  lửa đã cháy vây đời tôi bốn phía
                  nên thất thanh xin mở ngõ thiên đường
                  khi quỳ xuống cao dâng lời ngưỡng mộ
                  kẻ tội đồ mong được Chúa tuyên dương

                  tim tôi đây dâng Người làm lễ tặng
                  thân tôi đây dâng đời làm cầu thang
                  hy vọng mới bùng trong niềm phá hoại
                  trên cao kia tôi thấy lại linh hồn
                  nỗi yêu thương từ đó nở hoa vàng


                                                 PHAN DUY NHÂN



BÁCH KHOA |  SỐ 119

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #820 vào: 15/07/2019, 13:57:56 »


                            Chung linh

                  TRƯA dãi chán chường khô dốc nắng
                  Rối ren sầm vía mọc chông gai
                  Những mùa rơi héo từ hoang rợ
                  Thổi ác về hun quãng lạc loài

                  Lòng sông chia đôi cầu biên cương
                  Lửa ngấm phương tàn nung ráng thép
                  Nước quên non bơ vơ chiều sương
                  Đổ hướng, mặt trời nghiêng kiếp vắng

                  Hai ngàn năm tình ru yêu thương
                  Sóng cát loang thinh mờ tiếng gọi
                  Khinh thiêng liêng, người xa du dương
                  Núi, biển, ruộng, rừng nghe khóc gió

                  Dòng tuổi trôi quanh thời hối tiếc
                  Nhớ nguồn reo sáng lọc hôm mai
                  Hồn hoa mất trắng tìm linh diệu
                  Trở lại ngây thơ thuở mẫu hoài

                  Nửa giấc đời khuya lay bóng sử
                  Tắt mơ buông ý lặng giờ xanh
                  Đêm nay hương ngát, đồng ngân điệu
                  Nghĩa sống rung mây nở mộng lành.


                                                       ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 119

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #821 vào: 15/07/2019, 21:51:52 »


                               Lẽ sống

                  CUỘC đời nếu chỉ áo cơm thôi,
                  Hăm bảy năm sinh đủ chán rồi!
                  Nhưng mắt còn vương hoa thắm nở
                  Còn nằm thao thức ngắm mây trôi.

                  Có những bài thơ ngập cảm tình
                  Dặt dìu sóng nhạc quyến đêm xinh
                  Nụ cười không tắt trong tranh ấy,
                  Là cả đời vui của chúng mình

                  Buồn với mưa khuya, tiếc nắng chiều
                  Môi thèm chực cắn cả niềm yêu
                  Đã từng ấp ủ Ngày Mai Đẹp
                  Sao nỡ vây đời giữa Quạnh Hiu?

                  Hãy xới cho hoa nở ngập vườn
                  Giữ màu nắng biếc, bóng trăng thương,
                  Đem thơ ràng buộc Thanh bình lại,
                  Trên nẻo mình đi rộn trống trường.

                  Cơm áo đã đành chia khắp cả,
                  San đều Thương Mến, Nỗi Vui Chung,
                  Ghép những tâm hồn Quen với Lạ
                  Ý nhạc, Đời thơ bớt lạnh lùng.


                                                HOÀI HƯƠNG



BÁCH KHOA |  SỐ 119

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #822 vào: 16/07/2019, 15:46:54 »


                                  Biển sáng

                             BÌNH minh cười rực biển
                             Trăng sao trốn cuộc đời
                             Hòn bi hồng ai liệng
                             Nằm trên cát chơi vơi…

                             Ngày vươn vai thức giấc
                             Vén màn đêm tung trời
                             Gió nồng thơm phảng phất
                             Thơ dong buồm ra khơi…


                                                        HUY LỰC



BÁCH KHOA |  SỐ 119

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #823 vào: 16/07/2019, 23:27:15 »


Tờ mây

HUẾ                             
Chập chờn hương thổi ngàn thông
Lời dâng cánh mỏng nét bồng bềnh mây
Vàng xanh mắt ghé bên mày
Hồn xuân ước hẹn với tay ngón về
Ngậm ngùi xoay điệu tê mê
Chiều kia nức nở xuống đè âm thanh
Bước đi tự buổi cây cành
Bỏ rơi lá cũ bên thành nhạt son
Trời kim hải ngó thu mòn
Cồn hoa tê lạnh lệ dồn nguyên tiêu
Chiêm bao giấn bước mộng liều
Tuyết băng tụ giữa gió dìu lang thang



LỤC TỈNH                 
Hồng về hương bóng bay ngang
Trời xanh tụ lá hàng hàng ngẩn ngơ
Em đi tự buổi ai ngờ
Tiếng than đầu ngõ bây giờ vọng qua
Ngọn nguồn em có nhớ ra
Đầu nghiêng gợn sóng nước xa thêm bờ
Trời Lục Tỉnh lất lây thơ
Đồng thanh thánh thót sương mờ Hậu Giang
Xa nhau cỏ lạnh trên ngàn
Nhớ nhung gửi nước lũ tràn xuống khe
Mùa măng hoa núi lại về
Thị thành mở cửa đón nghe một lời

                                 BÙI GIÁNG



BÁCH KHOA |  SỐ 119

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #824 vào: 17/07/2019, 13:51:22 »


                                  Mặc nhận

                  CHƯA lần nào hai người còn trẻ đó!
                  Dắt tay nhau sóng bước giữa công viên,
                  Thóc mách bên tai những giọng chim hiền:
                              ― Em tôi đẹp!
                                          ― Thơ anh làm tuyệt quá
                                                ¤
                  Chưa lần nào, sau chiều mưa tầm tã,
                  Tan sở làm, người vội vã “rồ” xăng…
                  (Em về xe, hay lại cũng về chân?)
                              ― Ồ anh đến!
                                          ― Đưa em về kẻo tối.
                                                ¤
                  Chưa lần nào, trong vườn tràn nắng mới,
                  Vai kề vai; cùng nhắc chuyện trầu cau;
                  Giấy mực bây giờ, vàng đá mai sau,
                              ― Em có thuận?
                                          ― Đến ngày nao anh nhỉ?
                                                ¤
                  Chưa lần nào, giữa trời khuya, thủ thỉ
                  Đấy trăng, sao – Người chứng của chúng mình
                  (Xin nguyện thề, dù gặp cảnh điêu linh)
                              ― Mãi bền chặt…
                                          ― Mãi chung tình anh nhé!
                                                ¤
                  Chưa lần nào, nhưng thảy đều có cả
                  Trong suy tư, đã cho, nhận quá nhiều…
                  Hai dòng sông, thuyền: chung một bến yêu,
                  Dù cách trở, vẫn dặt dìu âm hưởng.
                                                ¤
                  Chưa lần nào, vì hãy còn tin tưởng,
                  Tay chẳng trong tay, lòng hiểu qua lòng.
                  Lối đi về, còn cách núi, rào sông.
                  Trước Thượng Đế, Họ cúi đầu mặc nhận!


                                                                MINH KHIẾT



BÁCH KHOA |  SỐ 119