Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 61000 lần)

0 Thành viên và 2 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #825 vào: 18/07/2019, 18:43:23 »


Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào?

Tường Hùng

              Họ Nguyễn.
              Sanh ngày 4-9-1931 tại Hà Nội.
              Cộng tác với: giai phẩm “Văn hóa Ngày nay” (1958), giai phẩm “Tân Phong”.
              Đã xuất bản: Gió mát (truyện ngắn, 1956).
              Hiện du học về Kiến trúc và Điện ảnh ở La Mã.



         Rome 16-11-1961
         Thân gửi anh Ngu Í,
         Cách đây ít lâu tôi nhận được bài phỏng vấn của Bách-Khoa về quan niệm sáng tác do chị Vinh gửi. Và tôi thấy bài đó có đề ngày 10-5-61. Tuy bây giờ đã là tháng 11, tôi cũng trả lời anh và mong anh thứ lỗi cho (…)
         Viết để làm gì?
         Thỉnh thoảng tôi tò mò muốn thấy rõ thế giới bên trong của tôi, và tôi yêu lạc vào trong đó ít lâu. Viết đối với tôi giản dị như ăn, gặp một người bạn hay nhìn một làn gió. Vì vậy tôi không đặt “viết để làm gì” thành vấn đề.
         Cũng có thể tôi viết để tìm một người bạn. Anh ta kể cho tôi, làm cho tôi nhìn những điều thầm kín, những cái mà không ai kể cho ai nghe thấy cả. Một vài khi tôi thoáng thấy một vài sự thoát khỏi đời sống của tôi, một giọng nói lạ như ánh sáng của một vì sao.
         Đó là một quan niệm hoàn toàn chủ quan. Tôi không có ý viết cho ngày nay hay ngày mai. Có một điều tôi dám chắc là lúc nào tôi cũng thành thực, muốn tìm một cái gì bền vững hơn là cái an hưởng nhất thời.
         Đường lối sáng tác
         Tôi viết theo bốn lối.
         Cách thứ nhất tùy hứng. Do một mùi thơm, một câu hát, do một số rất nhỏ nhặt. Nhưng chắc chắn không phải khi tôi buồn nản. Cũng có khi tôi tự tạo hứng bằng cách thay đổi lối sống cho thân thể, hành hạ nó hoặc cho nó thực sung sướng.
         Cách thứ hai là lối của Nhất Linh, định nhân vật cho rõ rồi để họ sống với nhau, không cần định trước câu chuyện sẽ kết thúc ra sao.
         Cách thứ ba là coi viết truyện như một bài toán. Thí dụ tôi muốn viết về sự độc ác bao giờ cũng được sung sướng, thì tôi phải tìm nhân vật, khung cảnh, chi tiết và cốt truyện làm sao cho nổi rõ ràng điều tôi muốn. Tôi xây dựng rất nhiều trên giấy làm lý lịch cho các nhân vật, nói chuyện với họ. Khi đã rõ ràng thì truyện đã xong được 90%, chỉ còn viết ra giấy.
         Còn cách thứ tư thì hơi rắc rối và mất thì giờ, tôi chọn vai người trong đời thực, có một vài điểm về nhân cách và thân thể giống nhân vật tôi muốn cho vào truyện. Tôi họp họ lại, cho họ một quá khứ; tôi nói rất nhiều gần như thôi miên họ, để cho họ hoàn toàn nhiễm cái quá khứ đó. Tôi giảng cho họ rõ sự liên lạc tình cảm giữa họ, ai yêu ai, ai ghét ai chẳng hạn, và tôi bắt đầu cho họ sống với nhau. Như vậy tôi có một truyện gần thực, một phim ảnh, tôi ghi các việc xẩy ra và viết lại cho thành truyện.


NGUYỄN TƯỜNG HÙNG




Phạm Việt Tuyền

              Sanh ngày 15-8-1926 tại Thanh Hóa (Trung Việt).
              Giáo sư Trung học, làm thơ, viết văn, làm báo.
              Chủ nhiệm nhật báo “Tự Do”, giám đốc “Cơ sở báo chí và xuất bản Tự Do”, hội viên hội Liên lạc Văn hóa Á châu, tổng thơ kí nhóm Bút Việt.
              Đã xuất bản: Nghệ thuật viết văn (1952), Phá lao lung (thơ, 1956), Mấy vấn đề văn hóa (1958).



         Anh vốn đa đoan công kia việc nọ, lại còn mang cái nghiệp báo hằng ngày, nên gặp anh để mà hỏi han thư thả là một điều khó. Cho nên tôi đã lợi dụng một buổi họp của ban Thường vụ hội Bút Việt kết thúc sớm hơn thường lệ mà phỏng vấn tác giả “Phá lao lung”.
         Tên tập thơ anh đã nói khá nhiều về quan niệm sáng tác của anh. Nhưng tôi cũng cứ hỏi:
         ― Vì sao anh thơ thẩn với nàng Thơ?
         Anh đăm chiêu nhìn bức tranh vẽ các bô lão mua hoa xuân cạnh hồ Hoàn Kiếm, nét mặt bỗng trở nên khắc khổ, cái khắc khổ nửa như của nhà tu sĩ, nửa như của người chiến sĩ.
         Anh mím môi lại, mày hơi cau:
         ― Tôi làm thơ là vì thích thơ. Tôi thích thi ca từ hồi còn nhỏ: vỡ lòng thì học những sách chữ Hán có vần có điệu như “Tam tự kinh”, “Ấu học ngũ ngôn thi”… Lớn lên thì có những lúc ngây ngất nghe các câu ca dao vang dội giữa đồng quê bát ngát, có những lúc hồi hộp dự các buổi hát đối, hát chèo vào dịp lễ dịp Tết, có những lúc cùng bạn học cùng niên ngâm nga các bài vè yêu nước trong khi đi du ngoạn cảnh thiên nhiên sau những thời kỳ học tập thơ văn của Pháp, từ Villon, Ronsard cho đến Valéry, Mallarmé và thưởng thức những thơ văn Tây phương (phần lớn là qua các bản dịch Pháp văn) từ Ihade, qua Géorgiques, đến Byron, đến Heine… cùng những thơ văn Trung Hoa dịch ra tiếng ta do các thế hệ tiền bối. Ấy là chưa kể những khoảng thời gian mê Tản Đà, say Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Xuân Diệu, thương mến Hàn Mặc Tử…
         ― Cho nên mực đen mới làm tội tình giấy trắng?
         Anh hơi cười, tiếp:
         ― Bao giờ trong tôi, có cái gì uất ức, rồi bị dồn ép đến nước phải tuôn ra, là tôi sáng tác… Cần sáng tác lúc ấy, để được giải thoát tâm trí mình.
         ― Anh cho biết anh bắt đầu “Phá lao lung” lối nào?
         Anh ngẫm nghĩ một chút:
         ― Lối 1945. Tôi nghĩ rằng người ta làm thơ làm văn, dù hay hoặc dở, cũng thường bởi hai lý do chính: do cảm hứng cá nhân thôi thúc đến nỗi không sáng tác thì không thể chịu được, hoặc do nhu cầu xã hội đòi hỏi khi người ta, ngoài hứng thú cá nhân, còn có ý thức những xã hội. Hi vọng nhiều, làm thơ. Khắc khoải nhiều, làm văn. Đó là tìm cách ghi lại một tâm trạng, về sau biến thành kỷ niệm. Hoặc là giải đáp một nhu cầu, không những riêng cho mình, mà còn cho cả xã hội hay ít ra là một phần xã hội. Có khi viết là để vượt từ cõi đời thực bất như ý đến một cõi đời mộng bằng mơ tưởng, có khi viết là để lấy những hình thức, những nét thực, những mẫu thực ở trong đời để sáng tạo thành cả một thế giới riêng, một thế giới đầy bí mật mà khách bàng quan vô tình khó lòng đạt tới.
         ― Vậy hẳn là anh dan díu với nàng Thơ vào thời kháng chiến?
         Anh gật đầu.
         ― Lúc ấy tôi tuổi còn ít quá mà phải làm một việc quá lớn: hồi 1947-49 tôi phải chịu trách nhiệm một trường và một đoàn thể đông đến bốn ngàn người…
         ― Bốn ngàn người! Một đoàn thể chánh trị trong thời kháng chiến?
         ― Một đoàn thể văn hóa xã hội.
         ― Thế thì anh mệt lắm.
         ― Mệt nhọc không thể tưởng được. Bây giờ, hồi tưởng lại thời ấy, tôi không hiểu sao mình đủ sức để gánh trách nhiệm kia trong mấy năm trời. Cả tuần, có bổn phận đi công tác đó đây, chiều thứ bảy, về trụ sở, thân thể rã rời, thần trí mỏi mê, chưa kịp ngả lưng để nghỉ, thì lại phải giải quyết cái này, sắp xếp cái kia, góp ý kiến cái nọ. Được thanh thản các đêm khuya thì bao điều nghe thấy, cảm xúc lúc đi công tác lại bao vây lấy mình, dằn vặt mình.
         ― Thế là anh xăn tay áo, “phá lao lung”.
         Anh gật đầu, nhắp một miếng nước trà.
         ― “Phá lao lung” chỉ là một ít những gì tôi sáng tác trong thời gian ấy.
         ― Và chắc bài thơ anh thích nhất, anh đã làm trong lúc ấy.
         ― Anh nói đúng. Tiếc rằng bài thơ dài ba trăm câu ấy đã bị thất lạc… tuy rằng đã ghi lại trên một tờ bích báo.
         ― Anh còn nhớ nhan đề?
         ― Tôi quên mất.
         ― Nhưng đại khái, anh…
         ― Tôi nói lên nỗi đau khổ và niềm hi vọng của loài người.
         ― Vậy, theo anh, anh làm thơ để cho anh trước, rồi để cho thiên hạ sau?
         ― …
         ― Tôi muốn nói: cho anh trước, vì trong anh, dồn dập bao điều, anh giữ chúng để “một mình mình biết một mình mình hay” thì anh đau khổ như bị giam cầm tra tấn; anh cần tung ngục tù ra, để giải thoát cho mình… Nhưng những nỗi uất ức, căm hờn, đau khổ ấy chúng lớn hơn cái đau khổ, căm hờn, uất ức của cá nhân anh, nói theo Nguyễn Du “mà trong lẽ “ấy” có người có ta”.
         Anh nhìn tôi, im lặng như đồng tình. Rồi anh nhìn chiếc đồng hồ tay.
         Biết đến lúc phải trả lại… tự do cho anh, tôi đứng lên trước, sau lưng tôi, có lẽ mấy bô lão mua hoa xuân mua cũng chưa rồi.


NGUIỄN NGU Í viết lại




Bùi Khánh Đản

              Sanh năm 1913 tại làng Lại Trì, tỉnh Thái Bình (Bắc Việt).
              Học trường Công Chánh Hà Nội (1930).
              Đã cộng tác với: Ngọ Báo (1936), giai phẩm Văn hóa Ngày nay (1958), giai phẩm Tân Phong (1959), Văn Hóa nguyệt san, Mai, Bách-Khoa.
              Đã xuất bản (in rô-nê-ô): Đường thi trích dịch (cùng hợp tác với Đỗ Bằng Đoàn, 1959).
              Hiện làm thầu khoán.



         1.– Anh làm thơ từ lúc nào?
         Tôi làm thơ từ hồi còn nhỏ. Trong những buổi hầu trà thày tôi. Nhưng có thể gọi như thế là làm thơ không, khi một đứa bé được nhồi sọ bằng bộ thi văn và những luật bằng trắc để với các đề tài khô khan cố đặt đủ tám câu cho thành một bài vô tội. Vô tội đối với tôi lúc bấy giờ đã có nghĩa là hay rồi vì nếu không được lời khen thì ít ra cũng không phải mắng hoặc phải đòn. Thơ thất niêm thất luật thì nghe giáo huấn, ăn củng đầu, mà ý tưởng không ngay chính thì lập tức có roi. Trận đòn thấm thía ngày nay tôi còn nhớ là do bài thơ “Cái Mặt Nạ” mà thày tôi ra cho nhân buổi phường chèo về huyện hát mừng ông bố chánh ở tỉnh xuống thanh tra. Tôi không hiểu sao thày tôi lại ra cho cái đề tài quái ác thế ngoài nguyên do đêm trước anh kép phường chèo hai lần đánh rơi mặt nạ để mọi người cười ồ. Bài ấy như sau:

                           Khen kẻ vô công khéo vẽ mày
                           Cũng mồm cũng mũi chẳng chân tay
                           Một khuôn mặt lợn cười không biết
                           Hai lỗ tai trâu chửi kệ thây
                           Biến kẻ tôi trung thành đứa nịnh
                           Thay tên có tội hóa người ngay
                           Cái đời trà trộn mong manh lắm
                           Khéo rách rồi ra chó nó ray


         Tôi phải đòn thực đáng lắm. Tuy lúc đánh, thày tôi chỉ mắng là hỗn láo mà không cắt nghĩa tại sao, nhưng trong thâm tâm tôi cũng phải nhận là thơ rất có tội vì khi viết tôi đã bị hình bóng béo mập của ông bố chánh ám ảnh hoài.
         Sau này từ trường ra đời, có nhiều bè bạn bị tù tội vì viết lăng nhưng, rồi những Ngục trung ký sự, Chiêu hồn nước, Hải ngoại huyết thư v.v… càng làm cho tôi thấy những bài thơ “vô tội” tuy nó không hay về thi văn nhưng nó đã hay về nhiều phương diện khác.
         2.– Tại sao anh lại chọn thể thơ Đường là thể thơ bó buộc nhất?
         Tôi cho là thi luật của đời Đường đã đạt tới cái mức tinh vi hòa hợp từ ngữ của các dân tộc có tiến nói đơn âm (mono-syllabique). Bằng chứng là 12 thế kỷ nay người ta vẫn theo một cách thú vị, sự thiên nhiên đào thải qua 1.200 năm đã nói nhiều về giá trị thể thơ đó. Cứ đọc một bài thơ Đường luật (Hán hoặc Việt) nếu có chữ bằng trắc nào sai thì chướng hay tắc, nghĩa là cái gì phản lại sự hòa hợp âm thanh. Thơ có lẽ cũng như nhạc, những luật hòa hợp nói trên mà người xưa đã tìm ra chắc đã đạt đến chỗ thuận lý đối với thiên nhiên, với người, chúng ta ngày nay có muốn thay đổi cũng khó khăn. Nhạc sĩ có thể làm nhiều bản nhạc khác nhau mà vẫn phải trọng nhạc luật. (Trong phim Symphonie inachevéc, nhạc sĩ Schubert đã túng vì một nốt nhạc, mãi sau tìm thấy mới được ông thày đứng ngoài cửa gật đầu.)
         Khi người xưa nói: Vương Dương Lư Lạc đương thời thể, bất phế giang hà vạn cổ lưu, không phải là đã có ý gán cho bốn nhà thơ Đường này cái công đặt ra thi luật, nhưng chỉ bảo là họ đã tìm ra cái lẽ hòa hợp bằng trắc trong thơ để “cùng với nước sông trôi tồn tại đến muôn đời”. Vì yêu thơ có vần nên tôi đã phải nghĩ nhiều về câu nói của Rudyard Kipling trả lời Arthur Gordon (một nhà báo Mỹ) khi ông này đề cập đến giá trị Thơ của thi hào Eliot (tên thật là Mary Ann Evans):
                  ― Vraiment? s’écria-t-il, alors citex m’en que ques vers.
                  Je (Arthur Gordon) demeurai bouche bée et il (Kipling) se prit à rire:
                  ― Vous voyez, me dit-il. C’est toujours ce qui arrive avec les vers qui n’ont pas de rimes…

                  (― Thật ư? Ông nói. Vậy anh hãy đọc cho nghe vài đoạn.
                  Tôi (Arthur Gordon) ngồi há hốc mồm ra và ông (Kipling) mới phá lên cười:
                  ― Thấy không, ông nói. Với thứ thơ không vần thì bao giờ chẳng thế…)
         Thì ra những thứ thơ không vần điệu dù có hay mấy, có nổi tiếng mấy đi nữa cũng vẫn khó mà ai nhớ được. Trái lại như quyển Kiều của ta thì khắp chợ đến quê, đàn bà con trẻ ai cũng có thể thuộc lòng dăm ba đoạn. Ấy là không nói đến thơ của bà huyện Thanh Quan, bà Xuân Hương, cụ thượng Trứ, cụ Chu Mạnh Trinh, ông Tú Xương, ông Tản Đà v.v… người Việt Nam ai mà không có một đôi bài ngay đầu lưỡi. Thơ muốn truyền cảm tất phải nhập vào người đọc như một sở hữu để khi cao hứng có thể thốt ra một cách tự nhiên, chứ nếu gặp cảnh đẹp tình nồng muốn đọc một câu thơ hay lại phải trở về dở sách thì thơ đâu còn gì là thiên chức.
         3.– Có khi nào anh làm thơ lối khác chăng? Nếu có, xin anh cho một bài.
         Có thể nói là tôi không làm lối khác trừ dăm ba bài trường đoản như bài thơ dài “Trường Sơn hành” đã đăng trong tuần báo Văn Đàn. Những bài này cũng vẫn theo luật bằng trắc ít nhiều và giữ vần cẩn thận. Tôi không có cái tham vọng biết làm nhiều lối thơ trong khi tự xét một lối Thất ngôn luật mình chưa hay hẳn.
         4.– Anh có hài lòng với anh trong việc bắt nàng Thơ mặc áo chật chội đời Đường?
         Anh nói bắt nàng Thơ mặc áo chật chội đời Đường thí khí quá. Thật ra nếu có phải mặc thì tôi muốn nàng Thơ được mặc áo cắt may kỹ càng cẩn thận hơn là tự do khoác bừa mảnh vải lên người. Phải có những việc tỉ mỉ đo áo, cắt áo, may áo và phải khó khăn trong việc theo những điều kiện thẩm mỹ thì mới có nghệ thuật, mới có những Dior, Fouque chứ. Trong bài điểm sách Đường thi trích dịch, anh Nguyễn Hiến Lê đã chẳng dẫn chứng một câu của Gide: “Nghệ thuật sống là nhờ bó buộc” ư.
         5.– Anh cho biết anh làm thơ để làm chi?
         Câu hỏi của anh thật khó trả lời. Muốn cho thực thà tôi nói là không biết để làm chi. Tỏ một nỗi lòng, phát biểu một ý kiến, ghi một tâm trạng? Không biết có phải thế không. Có điều mỗi khi viết xong một bài vừa ý thì tất nhiên thấy thích thú và như người ta nói, để… biết đâu trong đám đông sẽ có một tâm hồn cùng ta rung cảm…
         6.– Anh có kinh nghiệm gì trong nghiệp thơ? Anh làm thơ có khó không? Đề tài anh do nội tâm hay ngoại cảnh, hay cảnh ngộ?
         Anh gọi là cái nghiệp thơ thì thật đúng. Từ lúc tuổi còn thơ, học lớp năm, tôi đã thuộc lòng và sụt sùi với truyện Bạch Viên Tôn Các. Lớn lên, những sách báo giữ gìn sưu tập không ngoài các thi phẩm. Tôi ưa những loại thơ có chứa chất một hồn thơ, rung cảm nhẹ nhàng người đọc như những câu:
                           … Phận bạc hẹn hò người chín suối,
                           Duyên may dun dủi khách ba sinh.
                           Dưới hoa nép mặt gương lồng bóng,
                           Ngàn liễu giong cương sóng gợn tình.

                           (Chu Mạnh Trinh)
mà tôi gọi là thơ hay hơn những thơ tiểu xảo, quá nhiên về kỹ thuật, như câu:
                           … Một bộ áo tàu coi cũng hổ
                           Ba gian nhà khách chạm thì long
                           (Nguyễn Khuyến)
mà tôi cho chỉ là thơ tài.
         Đã có chân cảm thì làm thơ cũng không thấy mấy khó, nguyên cái chân cảm đã giúp nửa bài thơ cho kẻ làm thơ.
         Đề tài những bài thơ của tôi có lẽ do cả ba thứ mà anh hỏi. Tôi không tin rằng ba phần này lại có thể riêng biệt để tạo nên đề tài, hay nói một cách khác, bài thơ lại có thể thiếu một phần nào về nội tâm, ngoại cảnh hay cảnh ngộ.
         7.– Tại sao anh biên soạn Đường thi trích dịch? Anh đã gặp những khó khăn, những an ủi gì trong công việc dài hơi ấy? Và chừng nào nó mới mang lối in như thiên hạ?
         Tôi với anh Đỗ Bằng Đoàn hợp soạn cuốn Đường thi trích dịch trong những trường hợp thật ngẫu nhiên. Ngày còn ở Hà Nội, anh Đỗ thường ở chơi nhà tôi và mỗi khi thấy một chuyện “thế sự thăng trầm” nào thì cả hai người chỉ biết chua chát mà ngâm lại những bài thơ Đường của những tác giả cùng tâm sự. Một lần bàn đến chuyện dịch ra thơ quốc âm thì cả hai đều đồng ý. Thế là chúng tôi khởi sự tìm hỏi và sưu tập. Có gần 600 bài thơ dịch trong tập Đường thi trích dịch, nhưng chúng tôi đã phải tìm đến hàng ngàn bài và đồng thời mỗi bài cũng phải dịch đi dịch lại đến bốn, năm lần. Những khó khăn về điển nghĩa, về sách vở và cả về vật chất (kinh phí) thật quá nhiều. Làm xong Xuân tập, ngắm lại con đường cũ chúng tôi mới thấy là táo bạo. Vì lẽ ngoài những khó khăn công phu kể trên lại còn phải cố hiểu ý tác giả trong nguyên tác. Việc này buổi đầu chúng tôi hơi nhẹ phần quan trọng, cứ tưởng có đủ và đúng nghĩa là đúng ý. Về sau mới rõ cách dụng chữ để hàm súc tứ thơ một cách oái oăm của các thi gia, không dễ gì cứ hiểu nghĩa chữ mà đã biết ngay được. Ngày nay đọc lại tập sách, một phần nhờ thi hữu chỉ giáo nhưng phần lớn vì cố nghiền ngẫm tìm hiểu mới sáng được nhiều ý trong thơ để sau hết vừa thấy thú vị vừa thấy ghê sợ cho sự liều lĩnh của mình khi khởi dịch. Việc tìm tòi này đã có nhiều kết quả, tôi hi vọng trong bài hồi ký tự phê bình sẽ ghi lại được đầy đủ. Trong khi chờ đợi, tôi kể một vài thí dụ ngắn để anh biết qua những cái lầm lẫn ấy.
         Bài Thiên Thai của Tào Đường, câu thơ đầu đã thấy cách đặt kỳ lạ: Thụ nhập Thiên Thai thạch lộ tân. Mà không đặt xuôi là: Lộ nhập Thiên Thai thạch thụ tân. Chúng tôi đã giản đị hiểu là: Cây vào Thiên Thai đá (núi) và đường mới mẻ (lạ lùng). Bây giờ mới biết dụng ý của tác giả đặt “Thụ nhập” mà không “Lộ nhập”, là có ý nêu lên sự quan trọng của lớp rừng cây mênh mông, còn lối vào thì nhỏ bé.
         Thứ đến câu (cùng bài ấy):
                           Yên hà bất tỉnh sinh tiền sự
                           Thủy mộc không nghi mộng hậu thân

         Mà chúng tôi hiểu lầm là:
         (Nhìn) khói và ráng không nhớ việc đã qua.
         (Thấy) suối và cây lại ngờ giấc mộng thân sau.
         Nhưng sự thực thì không có gì là nhìnthấy, mà cũng không không phải là mình (tác giả) nhớ hay ngờ. Câu thơ đã tả một cảnh vĩ đại không có thời gian và không có cả không gian: Chính mây (ráng) và khói không bao giờ nhớ có chuyện trước, còn cây (rừng) và nước (suối khe) cũng không cần ngờ có thân sau. Như thế mới rõ được ý thơ tiên của tác giả.
         Một ví dụ nữa như câu (trong bài Bán túy của Liễu Tôn Nguyên):
                           Tráng tâm ám trục cao ca tận
                           Vãng sự không thanh bán túy lai.

         Ở đây xin để một dấu ngoặc cảm ơn bạn Giản Chi đã chỉ cho biết Vãng sự không thành là việc xuông, không hẳn là việc không thành. Nhưng hiểu được “vãng sự” câu thơ vẫn còn bí hiểm. Nếu theo nghĩa đen thì:
         Lòng mạnh (chí hùng) ngầm theo điệu cao ca (mà) hết và
         Việc cũ đã thành xuông khi dở say lại đến.
         Hiểu như thế thực quá tầm thường và có khi còn phản ý tác giả. Đến nay sau khi giác ngộ chúng tôi mới rõ:
         – Khi dứt tiếng cao ca (cao ca tận) thì thấy chí hùng nổi lên hay ngầm theo ngay (tráng tâm ám trục).
         – Đến lúc dở say (bán túy lai) sẽ thấy nhiều việc trước mình cho là quan trọng đã thành xuông không có nghĩa gì (vãng sự không thành).
         Bản dịch vần cũ ghi:
                           Chí xưa hận gửi lời ca đẹp,
                           Chuyện lỡ buồn vào chén rượu vơi.

nay phải đổi là:
                           Chí hùng bừng dậy khi thôi hát,
                           Chuyện cũ thành xuông lúc dở say…

         Đại để nhiều bài như thế, mỗi khi tìm hiểu được tôi thấy thích thú như đã có nhận đầy đủ phần thưởng trong sự gian lao.
         Đến nay công việc sửa chữa như trên đã gần xong, vấn đề in không còn trở ngại ngoài sự tính toán sao cho độc giả được mua rẻ một cuốn sách có đôi chút giá trị, dù tác giả có bị thiệt thòi.
         8.– Có bài thơ nào anh thích nhất không? Nếu có, xin anh cho biết bài ấy và xin anh nói vì sao?
         Tôi chắc câu hỏi này sẽ làm lúng túng cho hầu hết các người làm thơ vì khó có ai biết đích bài thơ nào mình thích nhất. Thảng hoặc được một vài bài mình ưa (tương đối ra chưa chắc đã có giá trị hơn nhau) thì khi phải lựa chọn lấy một bài thôi tất nhiên cũng ngại ngần không quyết định. Chiều ý anh tôi cũng xin đan cử bài “THIẾU MỘT LỜI” dưới đây. Bài này ghi cảm tưởng một lần anh N.L. đến thăm tôi. Gặp nhau anh đã trầm lặng không nói trong khi đáng lẽ chúng tôi phải nói thuật nhiều. Sau vài tuần trà vẩn vơ, lâu lâu mới có đôi câu về mưa nắng, sức khỏe, rồi anh bạn ra về mà tôi cũng không giữ. Sự lặng lẽ ấy đã làm cho chúng tôi càng nghĩ sâu về chuyện định nói và nhân sự “đối diện đàm tâm” này đã khiến tôi ghi lại cái “không có gì cả” của một chút tình ý mơ hồ.

                                         Thiếu một lời
                           Chiều nào hiu quạnh đến thăm tôi
                           Anh đã quên không nói một lời
                           Tám hướng dần buông vào tịch mịch
                           Hai lòng vẫn ngả ở xa xôi
                           Mắt theo dĩ vãng mơ hồ hiện
                           Tai lắng thời gian thánh thót rơi
                           Tất cả chìm sâu, sâu xuống mãi
                           Vì anh chỉ thiếu một lời thôi.


         9.– Nghề thầu có ảnh hưởng gì đến việc làm thơ của anh không?
         Về ý kiến này từ trước tôi không quan tâm gì, đến nay anh hỏi tôi mới để ý nhận xét. Tôi bước vào nghề thầu xây dựng vì một cuốn sách đọc khi còn ở nhà trường, cuốn La source vive (truyện này đã được quay thành phim do Gary Cooper đóng). Cuốn sách tả cái thú vị và nhiệm vụ cao đẹp của công việc kiến trúc. Giờ đây, sau bao năm lăn lộn với nghề, tôi đã thấy lý tưởng trong sách và thực tế khác xa nhau như trắng với đen. Nhưng biết sao, vì sinh kế và cũng và đã quá lâu năm không còn là lúc thay đổi nên tôi đã coi công việc đó như một định mệnh an bài. Dù thế nào thì sự khô khan vật chất của nghề kiến trúc đã là sức mạnh cho cái bàn đạp tương phản để tôi sống với tâm tình và cũng để tôi dễ dàng kéo một cuộc đời trong hai thân thế.
         10.– Sao lại không có câu thứ 10? Và câu này để tôi chất vấn lại anh:
         ― Anh hỏi gì mà hỏi lắm thế?


BÙI KHÁNH ĐẢN


BÁCH KHOA |  SỐ 119

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #826 vào: 19/07/2019, 18:07:37 »
BÁCH KHOA |  SỐ 120  [1-1-1962 |  126 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  1-2
Hoàng Minh Tuynh |  Bá Linh sau ba năm khủng hoảng |  3-8
Nguyễn Hiến Lê |  Nói chuyện với các bạn thanh niên: Thành công và thất bại [II] |  9-14
Bách-Khoa |  Nghề nghiệp |  14
Quảng cáo |  15-16
Trần Hương Tử |  Giới thiệu những trào lưu tư tưởng mới: V.– Nietzsche, ông tổ của Hiện sinh vô thần [II] |  17-30
Bách-Khoa |  Đàn bà |  30
Quảng cáo |  31-32
Vũ Hạnh |  Hoàn cảnh sáng tác và điều kiện sống hiện thời của văn nghệ sĩ |  33-50
Minh Đức |  Đi La Mã (nhật ký) [II] |  51-57
Quảng cáo |  58
Bùi Giáng (dịch) |  Ngộ nhận (Le Malentendu) [IV] \ Albert Camus |  59-70
Bách-Khoa |  Ác tà và thiện lương |  70
Quảng cáo |  71
Sao Trên Rừng |  Những linh hồn trẻ (thơ) |  72
Quách Giao |  Chiều chúa nhật (thơ) |  73
Nguyễn (dịch) |  Ba ngày sau lễ giáng sinh (The Third Day After Christmas) \ William Saroyan |  74-81
Bách-Khoa |  Binh sĩ và quân vương |  77
Tường Linh |  Cách biệt (thơ) |  82
Vân Trang |  Màn kịch cuối năm (truyện) |  83-88
Đoàn Thêm |  Chuyển điệu buồn vui (thơ) |  89
Quảng cáo |  90
Tam Lang |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  91-94
Duy Lam |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? \ Nguiễn Ngu Í viết lại |  95-98
Toàn Phong |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? |  98-100
Hư Chu |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? \ Nguiễn Ngu Í viết lại |  100-102
Phạm Đình Tân |  Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào? \ Nguiễn Ngu Í viết lại |  102-105
Vũ Quỳnh Bang |  Chiều trong bệnh viện (thơ) |  106
SINH HOẠT:
   |  Nguiễn Ngu Í |  Giải thưởng Tinh Việt văn đoàn năm nay |  107-110
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  111
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  111
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 119 |  112
Quảng cáo |  113
Bách-Khoa |  Mục lục theo bộ môn của Bách-Khoa (từ số 109 đến 120) |  114-123
Quảng cáo |  124-126


SAIGON |  1962




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #827 vào: 19/07/2019, 22:31:43 »


                          Những linh hồn trẻ

                  huyền diệu quá những đời trăng mới lớn
                  dáng liễu mềm gót ngọc bước đường êm
                  mái buồn thu đem rũ nhạt bên thềm
                  đường khuya lạnh những hồn sương cảm ấm
                  là lượt bước xuân vạn mùa xuân thắm
                  con mắt thuyền đưa dịu nắng xanh mai
                  nhưng lầu cao nghe thoáng động linh hài
                  đời sách vở thơm hồn lên vách trắng
                  ai rét lạnh giữa đêm trường thanh vắng
                  giọt dương cầm thánh thót chở sầu đi
                  nghĩ gì đây sao mắt chớp nhanh mi
                  đời xanh lá tiếng chim vàng thoáng vọng
                  làm tiên nữ những chiều thu biển mộng
                  thả sợi buồn lên cát mịn thành thơ
                  tuổi các em suối tịnh của nguồn mơ
                  trùng dương lạnh thế kỷ dài tăm tối
                  các em đó mặt trời xuân sáng chói
                  thượng đế đành úp mặt trước sầu đau
                  còn các em trong ánh mắt nhiệm mầu
                  tơ trăng chiếu và muôn sao lấp lánh
                  các em tạm bước lên ngôi thần thánh
                  nghĩ gì đây những mắt thẳm ngàn khơi
                  còn trăng sao thì ý nghĩ xa xôi
                  đời xanh lá khi linh hồn đang trẻ


                                                    SAO TRÊN RỪNG
                                                    (Những bài tình đầu)




BÁCH KHOA |  SỐ 120

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #828 vào: 20/07/2019, 13:00:22 »


                           Chiều chúa nhật

                           MÂY hoàng hôn bềnh bồng
                           Chiều cuối thu mênh mông…

                           Hồn trôi về tuổi dại
                           Buổi chiều hoa và trái
                           Trìu mến mắt thơ ngây
                           Lời hát đượm mê say
                           Nao nao hồn trong sạch
                           Buổi chiều xa vở sách
                           Đi thả nhạc bên đồi
                           Ngắm cánh én chơi vơi
                           Đưa võng trời xanh thắm

                           Tiếng cu gù đồng vọng
                           Ráng đỏ rụng xa xôi
                           Mây trắng lững lờ trôi
                           Cánh cò vương chầm chậm…

                           Trang sách học ướt đẫm
                           Chiều chúa nhật mưa thu…


                                                 QUÁCH GIAO



BÁCH KHOA |  SỐ 120

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #829 vào: 20/07/2019, 19:08:41 »


                                 Cách biệt

                       MAI này tôi sang bên kia sông
                       Vào mãi phương Nam dậy nắng hồng
                       Vừng trăng rồi sẽ buồn đôi ngả
                       Chưa biệt ly mà vương nhớ nhung

                       Tháng sáu mưa ôm thành phố nhỏ
                       Mùa thương sang với rét kinh kỳ
                       Tiễn đưa, sông nước đôi bờ lạnh
                       Ai nỡ mời nhau chén biệt ly!

                       Em ngừng tay cho đàn thôi rung
                       Có phải chăng em điệu cuối cùng
                       Mai nầy tôi sang sông là hết
                       Bóng nhạt sầu mây núi chập chùng

                       Hoàng hôn viễn xứ nhiều sương khói
                       Đáy dạ thời gian xếp cõi sầu
                       Núi tím ngăn đôi trời nguyện ước
                       Đường xa khó nối mộng mai sau

                       Tôi sẽ tìm em đêm tịch liêu
                       Với sao hôm mọc lúc qua chiều
                       Hướng sao quen gợi buồn dư ảnh
                       Mà thuở nào xưa tôi trót yêu.


                                                     TƯỜNG LINH



BÁCH KHOA |  SỐ 120

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #830 vào: 21/07/2019, 23:37:00 »


Màn kịch cuối năm

CƠ THỂ sinh vật là cả một cấu tạo kỳ diệu. Ở giống cái, sự kỳ diệu ấy gần như tăng lên đến mức thiêng liêng. Riêng về người đàn bà, bộ máy sanh sản mà tạo hóa đã đặc biệt gài theo cơ thể họ, có thể ví như sự biểu hiện của một phép mầu, quyết định được cả kiếp người của họ. Lại bị chi phối bởi những tập tục, ước lệ của xã hội, mà cái ranh giới giữa cuộc đời thiếu nữ sang cuộc đời thiếu phụ đối với mỗi người phụ nữ như là một ranh giới của định mạng. Một đứa hài nhi ra đời có thể mang đến cho mẹ nó sự sung sướng hãnh diện tuyệt vời, hoặc là tủi hận, nhục nhã vô biên. Nó có thể nâng địa vị con người cưu mang nó từ nơi tăm tối vô danh lên đến chỗ huy hoàng, hay ngược lại.
         Trừ trường hợp đặc biệt của một số các bà mẹ bất đắc dĩ và những ác phụ, nói chung người đàn bà nào cũng đều có hưởng được hạnh phúc trong bổn phận làm mẹ của mình, trong mối tình mẫu tử do mình tạo ra. Đồng thời với sự hy sinh lo lắng từ móng chân sợi tóc cho con, người mẹ đã được biết thế nào là sung sướng âm đềm, thắm thía của một lòng yêu bao la, không vụ lợi. Trong tinh thần, lòng yêu ấy là một nguồn ban phát và thụ hưởng không ranh giới, một sự trao đổi thiêng liêng, mầu nhiệm nhất trong các thứ tình của giống người.
         Mụ ăn mày câm ở công viên này cũng vậy. Trong lãnh vực của tình mẫu tử không phải tính toán đến những điều kiện đẹp xấu, sang hèn, mụ cũng được sung sướng y như bất cứ một bà mẹ nào khác.
         Không ai rõ, không ai cần tìm hiểu trong trường hợp nào và vị anh hùng nào trong đám ăn mày của vùng Bà Chiểu này đã đánh thức được tiếng lòng của mụ, chỉ biết có một dạo, các bà thường đi chợ qua con đường đất nhỏ xẻ tắt ngang công viên, để ý thấy khúc giữa người của mụ càng ngày càng phình lên, rồi mụ vắng đi một dạo không ai nhớ tới nữa, ngày kia người ta lại thấy mụ xuất hiện ở chỗ cũ, thêm một đứa bé trai trong lòng. Mụ kiếm đâu được một cái mo cau, vanh tròn hai đầu và đặt thằng bé vào gọn lỏn như được nằm trong nôi. Ngày ngày, mụ đặt nguyên cả con lẫn nôi lên hai vế giữa đôi chân xếp bằng tròn, để cho tay được thong thả. Mỗi khi có người đi qua, mụ chắp lại xá lia lịa mấy cái, rồi đưa tay lên, há cái miệng rụng hết cả răng cửa, ú-ớ xin.
         Từ khi có thằng bé, hình như mụ kiếm được khá hơn. Trước kia, vì quá quen mặt với các bà, mụ chỉ hưởng được của khách lạ. Thỉnh thoảng mụ cũng phát tài nho nhỏ nhờ một cập trai gái nào đó trốn nhà ra công viên cập tay nhau thơ thẩn thì thầm tình tự dưới bóng mấy cây sao. Mụ coi thế mà già tâm lý. Gặp những trường hợp tương tự thế nào mụ cũng theo lẽo đẽo, miệng ú-ớ xin dai dẳng. Nếu không muốn bị phá đám hay muốn hãnh diện với người yêu, tức nhiên một trong hai người phải móc bóp.
         Bây giờ bị thằng bé nằm trên vế, mụ không theo các cặp tình nhân được nhưng đã có số khách khác thế vào. Ấy là các bà nội trợ hàng ngày đi chợ ngang công viên. Trước kia các bà phớt với mụ, nhưng từ khi có thằng bé, tình thế xoay có lợi cho mụ hơn. Các bà tuy đẻ chán chê ra mỗi khi nổi quạu vẫn gọi con mình là “lũ quỉ”, thế mà lại hay thương trẻ! Thằng bé nằm trong cái mo cau trên lòng mụ đã hấp dẫn một số không nhỏ, những hào bạc chì từ trong chiếc khăn tay ủa các bà chạy sang qua túi áo trong của mẹ nó.
         Mụ kiên nhẫn góp gió, thế là mẹ con sống dễ chịu. Nước da tái mét, hủng heo vốn dĩ của tất cả các sản phụ nghèo đã dần dần biến đi ở mụ. Thằng bé cũng tuần tự lớn, kháu khỉnh, tròn trịa, không thua con nhà có ăn nhưng chỉ phải mặt mũi nó thì xấu xí y như mẹ nó.
         Nhưng trẻ con còn có bao nhiêu cái khác nữa để gợi tình thương. Tằng bé khỏe mạnh, đầy năm đã đi chập chựng, mấy tháng sau, là chạy lẩm rẩm khắp công viên. Mông nó núng na núng nính những thịt, tay ngắn ngủn, khi chạy lúc lắc hai bên cạnh sườn như hai khúc dồi to.
         Cả ngày nó chơi quanh mẹ nó. Chơi chán, nó lại đến tắm, vọc ở một vòi nước công cộng gần đó. Ít khi thấy nó mặc quần áo. Thỉnh thoảng, vào những ngày trời lạnh gắt, mụ mặc cho nó chiếc áo túi cụt tay của mụ. Chiếc áo cũ mốc, và chùm năm bảy lớp, dài phủ cả chân thằng nhỏ, ấm như một cái áo mền.
         Coi thế mà mụ hạnh phúc hơn chán vạn bà mẹ có nhan sắc, giàu có khác. Mụ không bận tính toán việc nội trợ, không phải chìu chuộng chồng, khỏi khóc lóc, ghen tuông. Công việc của mụ chỉ là chấp tay xá-xá và xòe tay lãnh tiền. Khi nào thấy vắng khách mụ lại giỡn với con. Hai mẹ con rượt nhau, cút kiếm quanh mấy cái băng, mấy gốc cây cười như nắc nẻ bắt được thằng bé, cù nó lăn vùi dưới đất như con heo con lăn mỡ.
         Nhưng cơn vui như vậy cũng hại cho việc làm ăn của mụ. Có khi mụ đang giỡn với con cười toe toét cái miệng không răng, chợt thấy có khách đi tới. Mụ vội vàng lấy lại vẻ mặt đau khổ chạy tới chìa tay, nói ú-ớ. Nhưng khách tức cười mà thấy niềm vui vẫn còn trong đôi mắt mụ và nụ cười chưa tắt hẳn giữa vành môi méo mó. Mụ bẽn lẽn rụt tay và đứng im lặng nhìn khách đi qua, mặt mụ đầy vẻ bâng khuâng, tiếc rẻ. Nhưng khách chưa khuất bóng thì thằng bé đã từ sau gốc cây ù ra áp tới ôm chân mụ. Cái buồn liền tiêu tan. Hai mẹ con lại giỡn. Tiếng cười lại vang lên.
         Hình như mụ cũng cảm thấy với mớ tài ba của mình, mụ khó thành công nổi một lúc trong hai vai trò mà tâm lý đối chọi nhau. Một người mẹ yêu con, vui với con, muốn được tận hưởng tình mẫu tử và một người hành khất lúc nào cũng phải có vẻ đau thương, bi thiết để gợi lòng bác ái của khách qua đường.
         Càng ngày thằng bé càng lớn, càng mạnh khỏe, càng giỡn tợn, mụ câm lại càng khó kiếm ăn. Có khi mụ đang chìa tay run rẩy, khách đã cho tay vào túi lục kiếm, bỗng thằng bé từ sau gốc cây chạy ù tới, chặt mình vào nhượng chân mụ, làm mụ sụm xuống. Mụ phì cười, thế là khách đi luôn, mẹ con hụt ăn! Người ta không thích bố thí cho những kẻ vui vẻ, vì theo họ, cái vui vẻ chính là hạnh phúc, mà có hạnh phúc tất là đã có tất cả.
         Sau khi thấy bị hiểu lầm như thế, mụ có quay lại rượt đánh con, song mấy phát vào mông và vài tràng tiếng ú-ớ trong đốc giọng chỉ làm cho thằng nhỏ thêm cười ngặt nghẽo. Trẻ con không hề sợ đòn đau, chúng chỉ sợ sự hung dữ của người đánh. Mụ cũng biết vậy, nên đôi khi mụ quặn mặt, trừng trợn, cố sức ú-ớ to, lấy tay xỉ mắng nó. Những lúc ấy thì nó sợ, ngước nhìn mụ, mếu máo khóc. Mụ lại thương hại, vỗ về con. Có khi mụ phải mất tô hủ tiếu để làm hòa với thằng bé.
         Càng ngày vật giá càng lên, sự sống khó khăn, các bà không thể rộng rãi được như trước. Mụ buồn bã, bèn nghĩ cách di cư sang kiếm ăn bên Lăng Ông. Ngày thường cũng không xin được là mấy, vì những “đồng nghiệp” cũ ở đấy đẩy mụ ra khỏi xa mấy cổng ngõ ra vào. Nhưng nhằm những ngày rằm ngươn, ngày mồng một, hoặc những ngày vía lớn thì mụ dễ thở lắm.
         Những này ấy khách thập phương nườm nượp vào xin xăm. Họ muốn biết tương lai trong vài phút, hoặc dâng một lễ mọn để cò ke với Đức Ông bao nhiêu là điều kiện sung sướng ở thế gian.
         Đôi khi họ lại van vái nhờ Đức Ông tìm giúp con nợ trốn, hoặc giúp họ trả một mối thù. Rồi những khi ra vào cửa Lăng, họ muốn chứng minh họ là người tốt, bèn nới rộng hồ bao với người hành khất.
         Nhờ đó mà mấy tháng cuối của năm thằng bé đầy ba tuổi, hai mẹ con mụ câm sống no đủ. Mụ bèn rời hẳn công viên, sang cư ngụ bên ngoài hàng rào Lăng kiếm sống lưu động trong khoảng đường lăng Ông đến chợ Bà Chiểu.


• • •

         Nhưng vào độ từ nửa tháng chạp trở lên đến nay là hai mươi tám Tết thì mụ phải trụ hẳn tại gốc cây chuối tây trước cửa chính của Lăng. Chỗ ấy có bóng mát lại thường xin được tiền. Các đồng nghiệp què, thọt, cụt tay thèm lăm lẳm nên mụ không hề đám rời chỗ trừ giờ đi mua cơm, cả bọn đều đi. Mua cơm xong, mụ vội vã dẫn con trở lại gốc cây.
         Dọc theo hai bên cửa, bọn hành khất sắp thành hai hàng dài như hàng rào danh dự thường thấy trong các cuộc tiếp rước. Khách ra vào Lăng nườm nượp. Mụ câm mắt trước mắt sau vừa coi chừng khách vừa coi chừng con. Được cái, thằng bé sang đây có bạn nên không quẩn giỡn với mụ để làm mụ bị “ọt-giơ” như trước.
         Bạn của nó là một thằng bé trai lên năm tuổi, con của mụ đui cũng đang ngồi trong đám hành khất đó. Thằng bé sau này chuyên dẫn mẹ lên xin trên các chuyến xe “buýt” và các ngõ đường. Nó lanh lẹ như một con rái dưới nước, một con khỉ trên cây. Những khi mẹ nó đau, nó đẫn thuê một lão đui khác đi xin, hàng ngày chia cũng được đủ tiền cơm cho mẹ con nó.
         Kể ra, nó cũng được thong thả trong những ngáy Xuân, không phải bận dìu mẹ bê bết ở các ngõ hẻm.
         Đàng kia, hai bà mẹ đang “hành nghề” kêu than nhăn nhó, thì nơi đây hai đứa trẻ đùa giỡn, say mê, bộc hết cả cái yêu đời, ngây thơ trong ánh mắt, tiếng cười.
         Thằng con mụ đui, giả vờ rượt bắt thằng con mụ câm. Làm nó quấn quít chạy trốn vòng quanh mấy chiếc xe ta-xi đậu gần đấy. Nhưng rồi cũng bị thằng lớn tìm được, lôi ra, đột vào đầu gối mấy cái.
         Qua mấy lần bị bắt như vậy, lần này thằng nhỏ tìm một chỗ trốn rất kín. Nó bò vào nằm sãi tay chân dưới lườn một chiếc xe Peugeot ta-xi làm thằng kia tìm mãi không ra. Thấy đôi chân khẳng khiu đo qua đo lại quanh chiếc xe, thằng bé cười khẽ.
         Một bà xẩm từ trong cửa Lăng bước ra, lên xe. Anh tài xế vội vàng dụi điếu thuốc, lên phía trước, rồ máy. Thằng bé nằm dưới lườn xe, thấy đôi chân thằng lớn dừng lại ngay phía trên đầu nó. Thì ra, dầu ham chơi thằng này vẫn không quên kiếm sống. Nó đang chìa tay vào cửa xe, xin. Thằng bé không nín được, đưa tay cấu vào cườm chân bạn và cười ngất, thằng lớn giật mình ngồi khom xuống, nhìn vào chợt thấy thét to lên. Nhưng tiếng chưa thoát khỏi môi nó thì chiếc xe vụt lướt tới.


• • •

         Chỉ còn một chiều nữa, tối này đã cấm tất cả các thứ xe lưu thông trên con đường tới Lăng Ông, chỉ dành cho đi bộ.
         Mụ câm thất thểu, bước thấp bước cao băng qua một đường trong ngả ba trước tòa Tỉnh trưởng. Từ hôm con chết, mụ cứ đi như vậy. Lững thững từ lăng qua công viên, từ công viên qua lăng đêm ngày hàng bao nhiêu lượt, mụ không biết mỏi. Thinh thoảng đang đi mụ bỗng òa ra khóc, ú-ớ hàng tràng dài. Rồi lại nín, hỉ mũi rải xuống đường, lau tay vào tà áo.
         Mụ như sống trong mơ, hoặc không biết rằng mình đang sống. Mụ đã ra khỏi lề đường, rồi mà không hay, cứ bỏ chân bước, miệng nói ú-ớ, mếu máo khóc.
         Một chiếc xe Peugeot ta-xi từ phía cầu Bông chạy tới, thắng kêu rít sát người mụ, đầu xe như con thú muốn chồm lên chụp mồi.
         Mụ khiếp đảm, đứng khựng lại nhìn cái đầu xe, rồi lại ngơ ngẩn nhìn những người hai bên đường đang hít hà, hú hồn giùm mụ.
         Anh tài xế trên chiếc xe ta-xi ấy ló đầu ra cửa xe muốn nạt mụ một câu.
         Nhưng anh thất kinh mà thấy bỗng nhiên mụ như nổi cơn điên, hung dữ lạ thường. Mụ trợn dộc nhìn anh, hú một tiếng thật to rồi hùng hổ xăn tay áo, nhảy tới đấ túi bụi vào cái đầu xe. Anh tài xế ngạc nhiên, ngồi nguyên trên xe, trố mắt nhìn mụ. Không ai hiểu được gì cả.
         Nhưng anh cảnh sát đã từ về bên công viên vừa qua tới. Anh thì hiểu rõ chuyện của mụ. Anh bèn vỗ về, nắm tay mụ đắt qua đường. Thấy viên cảnh sát, mụ câm như gặp được bà con sau bao năm nổi trôi nơi đất lạ, nắm lấy cánh tay anh, trỏ miệng vào mặt anh ú-ớ hàng tràng dài những tiếng kỳ dị. Anh gật đầu ra dáng hiểu và nắm tay mụ, cố kéo khỏi đường lưu thông. Nhưmg mụ giật phăng tay ra tỏ ý không bằng lòng, rồi lại gia sức đấm liên tiếp vào đầu xe, vừa đấm vừa khóc to như trẻ con bị đòn. Sau một thôi, mụ nghỉ đánh, ú-ớ với người cảnh sát mấy tiếng, rồi lại co hai tay vào, giả bộ chạy lúp xúp như dáng trẻ con chơi. Rồi mụ lấy tay ra dấu ngang vế, thêm lên ngang hông. Người cảnh sát gật đầu, hiểu đó là chiều cao của hai đứa trẻ, thằng thấp ngang vế là con mụ và thằng cao tới hông là con mụ đui.
         Nhưng bổn phận của anh là phải cho đường được lưu thông, nhất là trong chiều ba mươi Tết như chiều nay. Bị chận một phút, xe có thể nối đuôi hàng trăm chiếc. Viên cảnh sát gật đầu lia lịa với mụ ra dáng rất thông cảm, nhưng cố sức lôi mụ vào lề.
         Mụ thì nhất định không chịu đi, hình như cho rằng chưa bộc bạch hết nỗi lòng. Mụ ngồi bệt xuống đường, ghì chặt cái cảng xe. Tuột được tay bị nắm, mụ đứng lên, tiếp tục không có tiếng nói. Mụ muốn diễn tả bằng những cử chỉ cho mọi người hiểu cái cảnh trạng mà vài ngày trước đây, mụ tưởng chính mụ là nạn nhơn trực tiếp. Và thủ phạm là một chiếc xe vào loại chiếc xe này, cũng sơn hai màu vàng xanh.
         Có mấy người trong số bu lại coi, biết chuyện, tới tiếp dỗ mụ. Nhưng bây giờ mụ không thèm “nói chuyện” với người nữa, mụ chỉ “tính sổ” với chiếc xe.
         Mụ quay lại đấm đá bất kể vào cái đống sắt vô tri đó, và bù lu bù loa khóc ú-ớ những tiếng man rợ như tiếng thú rồi bỗng nhiên mọi người sững sờ thấy mụ dừng tay và từ từ khụy xuống đường nhựa như cái nhà bị cưa cột.
         Mọi người xáp lại nhìn xuống. Nhưng mặt mụ đã tái như chàm và ngực mụ không thấy phập phồng mấy nữa. Nó nhẹ dần, nhẹ dần rồi im hẳn. Mụ đã chết. Không ai dám mó vào người mụ nữa xe đùn nghẹt phía sau.
         Gần hai mươi phút sau, mới thấy Hồng thập tự tới đem mụ đi. Cuộc đời lại trôi chảy.


• • •

         Sau đó mấy ngày, các báo số tân niên đều đăng tin một mụ ăn mày đứt mạch máu ngã chết trước đầu xe hơi ví suýt bị xe ấy chận phải.
         Mọi người đều bảo rằng vì mụ khiếp hãi quá.


VÂN TRANG


BÁCH KHOA |  SỐ 120

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #831 vào: 22/07/2019, 19:33:43 »


              Chuyển điệu buồn vui

                  GIÓ lẳng về rung sáng
                  Ngày tơ giục động âm
                  Ngập đồng nghe nước réo
                  Ý tắt, mặc đàn câm

            Buồn chung lây tiếng đau thầm
      Nẻo riêng vui lạnh, thơ ngâm nỗi người
               Đợi khi trời đất xanh tươi
  Sánh dây trao vẳng giọng cười nghênh xuân

                  Ra đi mùa đổ vỡ
                  Máu chảy cạn tình thân
                  Dốc mỏi trơ hồn đá
                  Yêu, thương, tiếc rụng dần

                 Ngả ba lạc bóng dừng chân
               Dế ve an ủi đôi vần du dương
             Chút mơ tặng khách qua đường
    Tạm quên gắng bước tìm phương hoa chờ.


                                             ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 120

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #832 vào: 23/07/2019, 23:18:20 »


Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào?

Tam Lang

              Tên thật: Vũ Đình Chí.
              Sanh ngày 25-3-1900 tại Hà Nội.
              Cộng tác với các báo: Trung Bắc tân văn (1923), Thực nghiệp Dân báo (1924-25), Hà thành Ngọ báo (1927-32), Nam Phong tạp chí (1932-33), Đông Tây tuần báo (1934), Tin Mới (1941-45), Dân Quốc (1945), Giang Sơn (1949-51), Tia Sáng đặc san (1954), Tự Do (bộ cũ, 1955), Công Nhân (1955-56), Cách mạng Quốc gia (1956-57), Tin Tức (1958-60), Mã Thượng (1959).
              Sáng lập và chủ biên hai tờ tuần báo trào phúng “Vịt Đực” (1939) và “Con Ong” (1940); chủ trương tuần báo nhi đồng “Cậu Ấm cô Chiêu” (1951).
              Sáng lập và giám đốc ban hát chèo cổ “Lạc Việt” và hội trường Hội Chấn hưng ca kịch cổ điển Việt Nam (Hànội: 1951-53), chủ tịch Nghiệp đoàn và Phó chủ tịch Liên đoàn văn nghệ Lao công (Sàigòn: 1955-56-57), chủ tịch Khóa I Hội đồng Kỉ luật Báo chí, Phó chủ tịch Ủy ban trung ương chống chánh sách nô dịch Văn hóa.
              Đã xuất bản: Tôi kéo xe (phóng sự, 1932), Đêm sông Hương (phóng sự), Lọng cụt cán (1939), Một đêm trước (xã hội tiểu thuyết, 1940), Người ngợm (1940).
              Hiện tòng sự tại Tổng nha Thanh niên.



         Hỏi: Anh cho biết anh vào làng báo năm nào? Và anh chuyên loại văn nào?
         Đáp: Tôi vào làng báo khoảng năm 1922, làm phóng viên cho tờ “Thực nghiệp Dân báo” ra hằng ngày, do ông Nguyễn Hữu Thu, viện trưởng viện Bắc kỳ Dân biểu, và là một nhà doanh nghiệp lớn, làm chủ nhiệm. Đồng thời tôi giữ cả việc dịch những tin về kinh tế đăng trong các báo Pháp.
         Làm phóng viên đây tôi không phải đi săn tin ở sở Cẩm, hay nhặt tin vặt ngoài đường, mà chỉ chuyên những điều “mắt thấy, tai nghe”, nhưng là những cái mắt thấy tai nghe… chướng tai, gai mắt xảy ra ngoài đường phố, bằng một giọng văn châm biếm.
         Tôi viết đủ loại văn, nhưng sở trường về hai loại: phóng sự và châm biếm.
         Hỏi: Tại sao anh lại chuyên về phóng sự? Phóng sự khác điều tra và phỏng vấn ra sao?
         Đáp: Do tôi làm phóng viên như vừa nói mà nẩy ra ý tưởng viết những thiên phóng sự xã hội. Những điều “mắt thấy, tai nghe” là những cảnh sống muôn mặt của xã hội, những cảnh sống vô cùng linh động và đủ mầu sắc.
         Có thể nói, những thiên phóng sự của tôi mở đường cho một mục mới trong văn chương của ta. Trước tôi, chưa có nhà văn nào viết phóng sự.
         Phóng sự khác điều tra và phỏng vấn ở chỗ nó gồm có cả điều tra và phỏng vấn. Nó còn khác ở chỗ là một sáng tác phẩm có bố cục hẳn hoi. Bởi vậy, viết phóng sự phải mất công phu nhiều hơn viết điều tra và phỏng vấn.
         Hỏi: Anh cho biết các phóng sự anh đã viết.
         Đáp: Cũng khá nhiều, song hãy xin kể tạm theo trí nhớ:
         Tôi kéo xe
         Màn trời, chiếu đất (Viết về cảnh sống đau khổ tủi cực của bọn người không nhà cửa).
         Lạc trong giang sơn Đinh Quách (Viết về đời sống thầm lặng của người Mường, Hòa Bình sống dưới chế độ “Quan Lang” độc tài, phong kiến).
         Đêm sông Hương (Nói đến kiếp sống của chị em ca kỹ trên giòng Tiêu Kim Thủy, đất Thần Kinh).
         Người Hời (Viết về cảnh tàn lụi của một dân tộc đang đi đến bước diệt vong).
         Một đêm trước (Nói đến cảnh khăn gói lên tàu của anh em đi làm phu đồn điền cao su trong Nam và Tân Thế Giới).
         Hỏi: Anh thích thiên phóng sự nào hơn hết? vì sao?
         Đáp: Tôi lấy làm hài lòng về tất cả những thiên phóng sự tôi đã viết ra, vì tôi gửi gấm được tất cả tâm tư của tôi trong những tác phẩm đó.
         Hỏi: Cái gì thúc đẩy anh cầm gọng xe để viết “Tôi kéo xe”? Anh đã được kinh nghiệm gì khi viết thiên phóng sự này và những kinh nghiệm của anh về thể văn này?
         Đáp: Tôi là một nhà văn xã hội. Trong những năm đầu vào nghề cầm bút, tôi đã lăn lộn trong nhiều cuộc sống cơ cực, nên tôi cảm thông nỗi thống khổ của những người nghèo khổ. Trông thấy người phu xe kéo vất vả cực nhọc chẳng khác một con ngựa, tôi vô cùng đau xót cho kiếp “ngựa người”. Muốn cho mình có những cảm giác thật và những rung động sâu xa thấm thía về nghề kéo xe, tôi quyết cầm gọng xe làm người phu xe nhất thời. Tôi nhớ hồi đó, bên Pháp, nữ sĩ Marie Choisy muốn viết thiên phóng sự về “nhà thổ”, đã dấn thân vào làm nghề gái điếm trong nhà chứa cho được thật sống cảnh sống của những phụ nữ bán phấn buôn son để thiên phóng sự đáng là phản ảnh trung thành của nghề đó.
         Kinh nghiệm của riêng tôi trong việc viết phóng sự là phải hết sức kiên nhẫn, chịu đựng; phải hòa mình vào mọi cuộc sống để biết rõ từng khía cạnh, vì cuộc sống của bất cứ lớp người nào, nghề nghiệp nào cũng có đủ mặt phải và mặt trái của nó. Còn về văn thể, phải gọn gàng, thành thực, có vậy mới gây được xúc động ở người đọc.
         Hỏi: Xin anh kể cho nghe một kỷ niệm của anh khi anh làm phóng sự (vui, buồn, tùy ý).
         Đáp: Nhắc lại làm gì những kỷ niệm buồn. Tôi xin kể lại một chuyện xẩy ra mới đây: khi tôi còn làm Tổng Thơ ký tòa soạn nhật báo “Cách mạng Quốc gia”. Lần ấy tôi được cử đi làm thiên phóng sự “Trâu về ăn cỏ đồng ta”, nói về việc cấp trâu cầy mua từ Thái Lan về, do một nước bạn viện trợ. Theo phái đoàn viện trợ, tôi phải đến Rạch Dừa gần Vũng Tàu là nơi tầu bể từ vịnh Thái Lan đang cặp bến để cho trâu lên bộ. Tôi được ngồi trên một xe jeep cũ kỹ của Nha Cải cách Điền địa nên không theo kịp đoàn công xa có lẽ toàn loại xe tốt. Giữa đường, trời đổ mưa lớn, mui xe rách sẵn, toàn người tôi ướt như chuột lột, mặc dầu đã khoác áo che mưa mà tôi cẩn thận mang theo để phòng bị. Khi xe tôi đến Rạch Dừa, thì nơi đây ác hại trời vẫn nắng chang chang và lễ khai mạc cuộc tiếp nhận trâu đã cử hành từ lâu, đông đủ mặt quan khách. Với bộ quần áo ướt đẫm nước mưa ấy, tôi cứ thản nhiên ngồi vào hàng ghế dân khách lấy bút giấy ra ghi chép cảm tưởng và những điều mắt thấy, tai nghe. Mọi người nhìn tôi bằng cặp mắt tò mò và hình như tất cả đã cùng ngạc nhiên và có lẽ đang cùng tự hỏi: “Anh chàng nào mà kỳ dị vậy?” Ý nghĩ duy nhất của tôi lúc đó chỉ là làm sao ghi chép cho đầy đủ mọi chi tiết những sự việc xẩy ra để viết thiên phóng sự theo đề tài như tôi vừa nói.
         Hỏi: “Đêm sông Hương” là một tập truyện ngắn hay có tánh cách phóng sự?
         Đáp: “Đêm sông Hương” là một thiên phóng sự. Có lẽ bạn đã lầm với tập tiểu thuyết “Giọt lệ sông Hương” cũng do tôi trước tác.
         Hỏi: Theo anh, một thiên phóng sự thành công phải có những yếu tố nào? Anh cho biết những tay viết phóng sự có tài.
         Đáp: Điều đó tôi đã trả lời trong một câu trước mà bạn đã hỏi về những kinh nghiệm riêng tôi thâu lượm được sau khi tôi viết thiên phóng sự “Tôi kéo xe”.
         Theo tôi thì Vũ Trọng Phụng và Vũ Bằng là những cây bút viết phóng sự có hạng, nhất Vũ Trọng Phụng.
         Hỏi: Tại sao vào Nam, ít thấy anh hoạt động về văn nghệ.
         Đáp: Có lẽ bạn không theo dõi công việc của tôi nên nhận xét này không đúng. Tôi vẫn hoạt động đều về văn nghệ trong bất cứ trường hợp nào từ ngày di cư vào Nam, chỉ có điều là vừa ý, hay không vừa ý mình thôi.
         Trong bảy năm nay, tôi vẫn sống bằng ngòi bút của tôi.
         Hỏi: Anh có dự định gì về văn nghệ chăng?
         Đáp: Là nhà văn chuyên nghiệp, ai chẳng ôm ấp nhiều nguyện vọng. Không kể đến sự dự tính viết cho xong một cuốn tiểu thuyết xã hội mà tôi đã phác thành một cái “sườn” chừng mười trang đánh máy, việc này đòi hỏi nhiều thì giờ rãnh, tôi vẫn ôm ấp ý muốn chủ trương, theo ý riêng, một nhật báo và tờ tuần báo châm biếm như tờ “Vịt Đực” trước kia. Tôi cũng ước được chủ trương một nguyệt san văn chương và một tuần san Nhi đồng.
         Sau hết. Lúc này tôi ao ước thành lập một sân khấu Chèo cổ, vì tôi quan niệm rằng Chèo cổ là tiêu biểu cho nghệ thuật sâu khấu thuần túy Việt Nam. Nó sẽ tàn lụi dần đi nếu người ta không tìm cách xây dựng cho nó một nền móng vững. Khi còn ở Hà Nội, tôi đã từng điều khiển một ban Chèo cổ trong thời gian hai năm. Tôi cũng đã có san nhuận lại mấy vở ca kịch thành “Kịch Chèo cổ” và đã có dịp trình diễn tại rạp Thống Nhất hồi năm trước. Tôi nghĩ: để bộ môn Chèo cổ chết dần mòn là điều đáng tiếc và có lỗi. Nếu bây giờ muốn cho người ngoại quốc thưởng thức nghệ thuật sân khấu cổ điển thuần túy Việt Nam về truyện tích, y phục, phong tục, ca điệu v.v… thì chỉ có Chèo cổ mới đủ tính cách tiêu biểu.


TAM LANG




Duy Lam

              Tên thật: Nguyễn Kim Tuấn.
              Sanh ngày 3-12-1932 tại Hà Nội.
              Đã cộng tác với: Mới (1952), Văn hóa Ngày nay, Tân Phong, Chỉ Đạo, Văn Nghệ Mới.
              Đã xuất bản: Chồng con tôi (truyện ngắn, 1960).
              Sắp xuất bản: Gia đình tôi (truyện dài hài hước), Ám ảnh (truyện dài).
              Hiện ở trong Quân đội.



         Buổi họp hằng tháng của ban chấp hành nhóm Bút Việt vừa bế mạc, là tôi giữ liền anh lại ở phòng họp: người quân nhân này như chim trời cá nước, tôi đã chạy tìm anh ở nhiều địa chỉ bạn bè cho, mà nay may mắn mới gặp anh.
         Các bạn văn khác đã xuống thang lầu, ra về. Căn phòng dài trở nên vắng lặng một cách dễ khuyến khích người ta tâm sự.
         ― Hẳn là anh đã kết tóc se tơ với văn nghệ bao bọc toàn gia tộc? Chú, bác… làm báo, viết văn… thì anh cũng lây cái men nghệ thuật?
         Ống bíp to tướng ở miệng anh phà một hơi mạnh rồi nằm gọn trong tay anh.
         ― Đúng vậy! Tôi viết văn mới đầu vì muốn bắt chước các bác các chú; sau dần thấy thú vị…
         Anh mân mê cán bíp:
         ― Như hút chơi một điếu thấy ngon, rồi điếu thứ nhì, thứ ba… thành ra nghiện thuốc. Cái thú vị đến, rồi mình đâm ra ham và anh chẳng lạ gì, ham tự nó cũng là một động lực thúc đẩy.
         ― Nhưng mà nó thúc đẩy mình đi đâu đây? Đi đến cái sống đang tượng hình hay lui về cái chết đã chực sẵn?
         Anh chưa vội đáp, nhìn bức tranh nhỏ vẽ bầy vịt con đang tung tăng dưới cặp mắt vui vui của vịt mẹ đứng trên bờ. Và câu trả lời đi theo khói thuốc.
         ― Khi viết tôi nhằm mục đích sống lại một lần nữa những lỗi lầm, những hèn yếu của chính mình. Mà này, anh có khi nào hèn yếu, lỗi lầm không?
         Tôi cười:
         ― Ai đời lại hỏi như thế chớ! Tôi có phải ông thánh đâu mà khỏi yếu hèn, lầm lỗi. Sao anh chẳng để chúng chết đi cho yên thân mà lại làm chúng sống lại lần nữa? Để làm gì?
         ― Để mình có thể cứng mạnh hơn.
         Tôi trông lại anh. Cao thì anh cao quá mực trung bình đó, nhưng mà ốm, thì cũng lại dưới mực trung bình.
         “À, vì thế mà anh muốn anh được cứng được mạnh hơn”, tôi tự nghĩ vậy.
         ― Con đường anh chọn để đi nó không giống người trong nhóm, cũng không giống người đồng lứa. Tại sao vậy anh?
         Câu trả lời vẫn nhỏ nhẽ, nhưng chắc nịch:
         ― Tại vì tôi là tôi! Cũng có thể vì tôi già trước tuổi, hoặc muốn đào sâu vào những đau khổ của các nhân vật để… tìm thấy tôi.
         Tôi bắt chợt một ý thoáng qua:
         ― Hoặc anh muốn người đọc chẳng biết đâu mà rờ?
         Anh chép miệng:
         ― Cũng có cái nghịch ngợm muốn “mystifier” người đọc.
         Phòng họp bắt đầu chìm trong bóng đêm, tôi vội hỏi:
         ― Anh có thỏa mãn về những tác phẩm anh đã viết chớ?
         Anh gõ mạnh miệng bíp xuống mép bàn.
         ― Thỏa mãn! Tôi chưa hề dùng cho tôi danh từ ấy bao giờ.
         ― Nhưng anh có chịu ảnh hưởng của Freud không nào?
         ― Và tại sao không?
         Và đôi mắt linh động của anh cười ranh mãnh.
         ― Anh lại muốn biết nhân vật của tôi được cấu tạo cách nào à? Đây anh nghe kĩ nhé: ½ là tôi; ¼ do tôi tưởng tượng; ¼ dựa vào kinh nghiệm sống.
         ― Của ai?
         ― Thì còn của ai nữa? Kinh nghiệm sống của chính tôi. Nhờ anh làm giùm con tính cộng phân số ấy rồi anh muốn rút ra kết luận gì thì anh cứ tùy tiện.
         Tôi mỉm cười rồi hỏi:
         ― Anh có nói anh viết là để sống lại một lần nữa; xin anh nói rõ hơn.
         ― Tôi thấy khi tôi viết, như thể tôi soi gương vậy, một cái gương đặc biệt cho tôi thấy tôi – cả thể xác lẫn tâm hồn – giúp tôi biết thêm tôi. Tấm gương ấy cho tôi nhận chân ý tưởng chính của truyện, nhờ đó mà tôi phô diễn nó ra, thể hiện tư tưởng mà trước khi viết, nó còn tiềm tàng đâu đó. Vả lại, có điều lí thú này: khi ta đang sống, ta không mấy để ý đến bao điều, đến lúc viết, những kỉ niệm ấy bỗng nhiên sống dậy, làm mình chú ý và khiến mình thấy thích thú vô cùng.
         ― Cũng như mình gặp lại một bạn thân lâu năm xa cách?
         Anh gật đầu.
         ― À, trong truyện “Chồng con tôi”, giấc mơ tôi kể là một giấc mơ có thật. Của bà cụ tôi và của tôi.
         ― Thế thì vai trò của tưởng tượng…
         ― Tưởng tượng là một lợi khí của nhà văn, nhưng nếu sự tưởng tượng mà không căn cứ vào thực tế, thì công cuộc xây dựng tác phẩm khó mà đứng vững, vì thiếu sự sống, chưa thấu hiểu nhân vật, thì khó mà làm cho nhân vật sống. Theo tôi, phải hiểu khá sâu sắc nhân vật của mình, rồi mới nhờ tưởng tượng giúp sức thêm. Tôi cho cái chính là đời, và văn nghệ tùy thuộc cuộc đời. Tôi sẽ giã từ văn nghệ nếu thấy cuộc đời nó khô khan, nó cằn cỗi.
         ― Cuộc đời chung hay cuộc đời anh?
         Anh không trả lời, chỉ cười nhẹ và mơ màng theo khói thuốc.
         ― Anh viết có bị đề tài chi phối không?
         ― Đề tài không chi phối tôi mấy. Tôi cho rằng một đề tài tầm thường, mà gặp nhà văn hay thì họ đào sâu, họ đi vào chi tiết, họ làm ta say mê. Còn có những đề tài vĩ đại, mà gặp nhà văn dở thì rồi tác phẩm cũng chẳng ra gì. Anh xem: gia đình lủng củng, là một đề tài nhàm, thế mà Dostoievski “làm” nó thành một bi kịch bất hủ với “Anh em Karamazov”. Bắn giết nhau chán, rồi bỏ gươm bỏ súng là đề tài muôn thuở nhưng “Chiến tranh và hòa bình” của Tolstoi là một kiệt tác.
         ― Anh viết truyện chắc có theo một đường lối?
         ― Đường lối thì tôi có, nhưng cũng tùy phương tiện, chớ không theo một chiều. Tôi thích viết truyện đi sâu hơn là tỏa rộng.
         ― Theo anh, khi nào mới viết… hay?
         ― Tôi cho tác phẩm là phản ảnh của đời mình. Tôi mà sống nghèo nàn, sống èo uột, thì tôi viết không được. Còn viết hay hay không, thì để độc giả phê phán. À, tôi không đồng ý với bạn đồng lứa, quan niệm viết theo hứng một thời, theo sự xúc động một lúc. Tôi cho rằng nhà văn phải cho mình một kỉ luật, phải kềm chế mình, phải để cho lí trí xen vào mà lựa chọn cân nhắc, rồi bố cục…
         ― Những truyện mới của anh, có gì khác xưa không?
         ― Có, anh à. Nếu anh cho phép, tôi xin dùng chữ: chuyển hướng. Trước, tôi thiếu can đảm, nhân vật chính không phải là tôi mà tôi mượn vai chính nói về tôi phần nào. Giờ, thì tôi viết thẳng.
         ― Hẳn là anh đưa ra một mẫu người…
         ― Một mẫu người thành thật với mình, và thành thật với người.
         Tôi xoay câu chuyện:
         ― Trong bước ban đầu, anh có được anh Nhất Linh giúp ít nhiều chớ?
         Mắt anh chớp chớp.
         ― Tôi chịu ơn bác(1) tôi rất nhiều trong sự nghiệp văn chương của tôi, nếu quả rồi sau này tôi có một sự nghiệp!
         ― Tác giả “Đôi bạn” có bắt bẻ gì anh về nội dung các sáng tác của anh không?
         ― Bác tôi rộng rãi lắm. Về nội dung, về tư tưởng, bác tôi thường bảo: người nào cũng có quyền đưa ra những tư tưởng mình thích, mình cho là phải, ta phải tuyệt đối tôn trọng, nhưng tư tưởng ấy được trình bày cách nào, đó là điều ta cần quan tâm. Phải trình bày cho có nghệ thuật đã. Tư tưởng dù cao siêu đến đâu, mà diễn tả rất tồi, thì rồi cũng chẳng ai buồn đọc.
         Cho nên, bác tôi có bắt bẻ, có chỉ vẽ cho tôi là về cách cấu tạo cốt truyện, lối hành văn, cùng những nhận xét về cảnh, về người.
         À, anh lại muốn biết tôi viết khó hay dễ, mau hay chậm. Khó, truyện nào tôi cũng sửa đi sửa lại bốn, năm lần; chậm như rùa, anh ạ. Còn xé đi xé lại lắm phen. Anh có tò mò, thì tôi xin nói chữ tôi viết bản thảo rất nhỏ, li ti như chân ruồi… chết. Anh mà đọc hết bản thảo tôi thì mắt anh cận thị gấp đôi bây giờ!
         Tôi đứng dậy, và chúng tôi chậm rãi xuống lầu. Tôi hỏi để phá cái im lặng có phần nặng nề trong bóng tối.
         ― Anh sống mấy mình?
         Tác giả “Chồng con tôi” đi chậm lại:
         ― Ba mình. Tôi mới lấy vợ và đang tập sự làm bố một đứa con gái được hai tháng.
         ― Khi cầm viết, anh có để yên cái bíp không?
         ― Tôi thường làm tội người bạn lắm… khói này khi viết. Anh có ngờ rằng tôi thích vẽ tranh lập thể, tranh trừu tượng không?
         Tôi không trả lời anh mà lại hỏi lại:
         ― Tại sao anh lại thích mỉa mai châm biếm?
         Chúng tôi đã ra tới đường, anh nắm lấy tay tôi.
         ― Tại sao à? Tại vì mỉa mai là đặc quyền của những kẻ mạnh. (Bỗng anh hạ giọng.) Nhưng thực ra, thì những kẻ rất… yếu phải dùng mỉa mai, châm biếm để chứng tỏ mình mạnh. (Rồi giọng anh trở lại bình thường.) Nếu chẳng may anh gởi báo cho, xin theo địa chỉ…


NGUYỄN NGU Í viết lại




Toàn Phong

              Tên thực: Nguyễn Xuân Vinh.
              Sinh ngày 3-2-1930 tại Yên Báy (Bắc Việt).
              Viết báo, viết văn, viết sách giáo khoa.
              Đã cộng tác với các báo: Thế Kỷ (1950), Quân Đội (1955-57), Phóng Sự (1955-58), Tự Do, Đồng Nai, Thời Nay.
              Đã xuất bản: Gương danh tướng (1957), Đời phi công (1960).
              Hiện ở trong ngành Không quân Việt Nam.



         Kính gửi anh ngu Í,
         Tôi nhận được lá thư thứ hai của anh sau lá thư trước một tháng, phải xin thưa ngay với anh ở đây! Sở dĩ có sự chậm trễ phúc đáp cuộc phỏng vấn của Bách-Khoa, không phải vì tôi lười, tôi bận, mà sự thực vì tôi thấy ngại ngần vô cùng. Nhưng, dù có lý do, tôi vẫn xin thành thực tạ lỗi cùng anh về việc đã để anh mất công chờ đợi.
         Sự ngần ngại mà tôi vừa thưa với anh, là tuy viết lách đã từ hơn mười năm nay, đã có sách báo bán và được giải thưởng, nhưng vì không được dành hết thì giờ để phụng sự văn nghệ nên tôi chưa dám nhận mình là một nhà văn, bởi ý nghĩ đó, tôi tự hỏi, nếu trả lời cuộc phỏng vấn của anh, mặc nhiên tự nhận mình là nhà văn, như ậy song mình đã mạo nhận chăng!
         Sau khi nhận được lá thư thứ hai của anh, tôi nghĩ rằng có lẽ câu trả lời cuộc phỏng vấn của anh để thỏa mãn sự đòi hỏi của độc giả có lẽ là bổn phận của tất cả những ai đã cầm bút viết nên tôi xin gửi đến anh những dòng này.
         I.– Sáng tác để làm gì? Để cho mình hay cho thiên hạ? Để cho bây giờ hay để cho mai sau?
         Cuộc sống của tôi hiện nay vừa là một quân nhân, vừa là một phi công, sáng tạo như là một đòi hỏi, một việc phải làm, thoát thai từ những hình ảnh của cuộc đời phụng sự nghề nghiệp, từ những cảm nghĩ bắt chợt trong đời sống mà tôi nhận ra là những cảm nghĩ, những hình ảnh ấy rất tốt đẹp, rất tế nhị, xứng đáng là những mầm sáng tạo.
         Bởi nguyên nhân sáng tác như thế, nên trước hết phải nhận rằng tôi viết để thỏa mãn sự đòi hỏi nghệ thuật trong tâm hồn. Nhưng, sản phẩm tinh thần đã tạo ra được, ai chả muốn có nhiều tri kỷ, cho nên có “tác phẩm” phải mong có độc giả, nghĩa là những người tri kỷ của mình, mà có lẽ anh gọi là “thiên hạ”.
         Vấn đề sáng tác để cho bây giờ hay cho mai sau là một vấn đề người viết khó mà đoan quyết được. Sự trường cửu của một tác phẩm tất nhiên thuộc quyền của độc giả, của những người hưởng thụ nghệ thuật. Nhưng thành tâm mà nói, thì bất cứ người văn nghệ nào chả muốn tác phẩm của mình có giá trị ở hiện tại và trường cửu đến tương lai!
         II.– Sáng tác theo một đường lối nhứt định nào hay là tùy hứng?
         Tất cả những truyện tôi viết ra từ trước tới nay đều bắt đầu bởi một phút xúc động nghệ thuật, nghĩa là ngẫu hứng. Tôi quan niệm khởi điểm của một công việc nghệ thuật phải là “hứng”. Biết đâu nếu một ngày kia tôi có may mắn được trở thành một nhà văn chuyên nghiệp, cần phải đẻ ra tác phẩm để mà sống thì có lẽ phải đặt một đường lối để sáng tác và một phương pháp để làm việc. Hiện nay thì phải thú thực với anh là nhiều khi có hứng mà tôi không thể viết ngay được, vì lý do công việc quá bộn bề thành ra phải “nuôi hứng” ấy, có khi phải chờ đợi một thời gian khá lâu mới có hoàn cảnh để viết được. Đứng ngoài mà nhìn vào chắc anh sẽ nói rằng tôi sáng tác không đều, về lượng cũng như về phẩm.
         III.– Những gì đã xảy ra trong tâm trí và trên trang giấy của tác giả từ khi tác phẩm bắt đầu thai nghén cho đến lúc nó thành hình.
         Như tôi đã thưa với anh ở trên, phút xúc động nghệ thuật là thời gian mà tôi nhận được xúc động ấy từ một hình ảnh hay một cảm nghĩ trong cuộc sống hàng ngày.
         Thời gian thai nghén tiếp theo, lâu mau tùy theo hoàn cảnh. Trong thời gian này tôi suy nghĩ thêm về những hình ảnh, những cảm nghĩ xung quanh “mầm nghệ thuật chính”. Sau chót là vấn đề kỹ thuật dựng truyện.
         Cuối cùng khi đặt bút xuống trang giấy là tôi viết một mạch, trừ những trường hợp bất đắc dĩ phải để dở dang và viết tiếp trong một thời gian sau.
         IV.– Những kinh nghiệm sống và sáng tác thích nhất.
         Tôi nghĩ rằng trong sự nghiệp văn chương cũng như trong binh nghiệp, tôi là kẻ mới bước chân vào đời nên câu này giá anh để cho mươi năm nữa trở lại vấn đề chắc câu trả lời sẽ phong phú hơn.
         Trân trọng cảm ơn anh và kính chúc anh mạnh tiến trên đường sự nghiệp.


TOÀN PHONG




Hư Chu

              Tên: Nguyễn Kỳ Thụy. Tuổi 39. Quê: Nam Định (Bắc Việt).
              Nhà văn, nhà giáo.
              Đã cộng tác với các báo: Việt Thanh (1953), Bách-Khoa (1958), giai phẩm Tân Phong (1960).
              Đã xuất bản: Nam Hải truyền kỳ (1953), Thơ, Nghiên, Hoa, Mộng (1955), Để hiểu thơ Đường luật (1958).



         Hớp trà cho ấm giọng, tôi thong thả bắt đầu…
         ― Anh viết truyện truyền kì có phải vì anh không thích cái hiện tại chụp giựt, tàn nhẫn và lắm khi ti tiện?
         Anh im lặng nhìn ra cửa sổ.
         ― Cái hiện tại nó có thế nào đi nữa, mình đã sống trong nó, thì trốn tránh nó có được nào. Phải chịu đựng nó, với thái độ này hay thái độ khác. Tôi viết truyện truyền kì là vì hoài cổ anh ạ.
         ― Anh hoài cổ vì anh đã sống trong cái nếp nho phong?
         Anh gật đầu và cười nhẹ mời tôi cạn chén nước con,
         ― Thế anh có lồng vào các truyện truyền kì ấy một chút gì… luân lí không?
         ― À, anh muốn hỏi mục đích sáng tác của tôi chớ gì? Tôi không hề nghĩ đến việc “giảng luân lí” trong tác phẩm của mình. Thoảng anh có bắt gặp, thì là tôi đã vô tình… Một khi người cầm bút sống theo đường ngay nẻo thẳng thì chẳng cần gì gò bó, cố tình, tác phẩm người ấy cũng tỏa ra một cái gì…
         ― Một cái gì chẳng phạm đến thuần phong mĩ tục?
         Anh cười trong khóe mắt rồi chăm chú chuyên trà.
         ― Thế anh có… “ăn gian” không?
         Anh ngưng tay, ngước nhìn tôi.
         ― Tôi muốn nói anh có mượn truyện xưa mà nói chuyện nay chăng, hoặc gởi vào người mấy trăm năm trước vài ý nghĩ của người thời nay.
         ― Tuyệt nhiên không. Tôi viết truyện xưa, chỉ vì tấm lòng hoài cổ.
         ― Nhưng nói chung, anh sáng tác để làm gì?
         Tác giả “Nam Hải truyền kỳ” để xuống bàn mây chén trà nâng lên gần tới miệng.
         ― Sáng tác để làm gì à? Cũng tùy anh ạ. Có khi để tặng. Có khi để bán.
         ― Vậy chớ có khi nào chẳng phải để tặng ai, mà cũng chẳng phải để bán cho ai ai?
         ― Có chớ. Có khi để thỏa một yêu cầu.
         Tôi chận anh.
         ― Yêu cầu hay nhu cầu?
         ― Yêu cầu mà lại nhu cầu. Anh cho phép tôi nói lại. Có khi để tặng. Có khi để bán. Có khi để thỏa một yêu cầu. Lại có khi không đặt thành mục đích. Nhưng đó chỉ là nói về lí do chứ không nói về tác dụng; thật ra, nhiều khi cốt viết để tặng mà rồi cũng đem bán được, nhiều khi ngược lại.
         Nghỉ một chút, anh nói tiếp:
         ― Nhiều khi cốt viết để thỏa mãn một yêu cầu của người khác mà không ngờ lại thỏa một nhu cầu của chính mình.
         Giọng tác giả “Thơ, Nghiên, Hoa, Mộng”, trầm trầm, âm ấm, không cho trí tôi nghĩ vẩn nghĩ vơ nữa. Và anh nói như để đối với chính mình hơn với người đối diện:
         ― Để tặng, để bán, để thỏa một yêu cầu, thì hẳn là để cho người. Không đặt thành mục đích thì hẳn là để cho mình, nhưng đã nói rằng đó chỉ là lí do chứ không phải là tác dụng: nếu gặp bài khá thì dẫu chỉ cốt để cho mình mà người cũng thích, còn nếu gặp bài tệ thì đến mình, mình cũng bỏ huống chi người!
         Anh cười. Tôi cũng cười theo.
         Anh nhìn vào bức thư tôi gởi cho anh từ trước.
         ― Còn như anh hỏi sáng tác để cho bây giờ hay để cho mai sau, thì tôi xin đáp: “Tôi sáng tác để cho bạn, để cho mình, và cũng để cho những người quen.
         ― Như vậy tức là chỉ để cho bây giờ?
         ― Chính vậy. Còn sáng tác, thì tôi chỉ theo hứng: viết cho mình thì theo hứng của mình, mà viết cho người thì theo…
         ― “Hứng của người”?
         Anh gật đầu…
         ― Anh viết có lâu, có say sưa không?
         Những câu trả lời đến, chậm rãi, đắn đo.
         ― Khi thai nghén thì trầm tư. Khi đang viết thì mê say, khi viết xong thì khoan khoái; và cái khoan khoái này cứ mỗi ngày một nhạt để rồi có một lúc tự nhận rằng cái tác phẩm này xem cũng rất tầm thường và thật cũng chẳng có gì đáng nên khoan khoái cả!
         Những kinh nghiệm sống? Tôi chưa hiểu rõ câu hỏi trên đây.
         Chẳng biết vì ảnh hưởng mưa bụi có gợi buồn hay vì nghĩ rằng lắm khi chẳng nên giải thích rõ ràng chi mà tôi lặng thinh, chờ đợi.
         ― Tôi thiết nghĩ về phương diện trước tác, một người tàn phế và một kẻ giang hồ, nếu có khiếu nhận xét như nhau, thì cũng chỉ có một kinh nghiệm sống bằng nhau: kẻ này có đủ kinh nghiệm sống để dựng lên những bối cảnh giang hồ thì người kia cũng có đủ kinh nghiệm sống để viết ra những cuộc đời tàn phế.
         Anh lại nhìn vào bức thư tôi.
         ― Câu chót đây rồi. Sáng tác nào của tôi tôi thích nhất? Sáng tác nào cũng thích, và chỉ thích vào khi vừa mới hoàn thành. Nói vậy nghĩa là ngoại trừ mấy sáng tác miễn cưỡng thuộc loại thù tạc, thì cái sáng tác thích nhất bao giờ cũng là “cái sáng tác hôm nay”.


NGUIẼN NGU Í viết lại




Phạm Đình Tân

              Sanh ngày 13-1-1913 tại làng Bảo Long. Nam Định (Bắc Việt).
              Đã cộng tác với các báo: Phong Hóa (1933), Phụ Nữ thời đàm (1934), Chủ Nhật (1941). Chủ bút các tuần báo: Thanh Niên (1945-46), Phụng Sự (1949-51), và chủ nhiệm tuần báo Văn Đàn (1960).
              Đoàn trưởng văn đoàn Tinh Việt (sáng lập từ 1945).
              Đã xuất bản: Thân phận Lao động (1946), Chúa Cứu thế với Thanh niên (dịch Tihamer Toth, 1946). Chúa Cứu thế với Thời nay (1949), Chúa Cứu thế với Gia đình (1949), Tiếng thầm (thơ, 1952), Đức Mẹ giữa chúng ta (1952), Frédéric Ozanam với hội Bác ái Vinh Sơn (1953), Tòa thánh La Mã (1953), Đường về (1955), Vấn đề đa thê (1956), Thơ Phạm Đình Tân (Tiếng thầm và Lời thiêng, 1960).



         Một chữ “Trung”(2) lớn, viết bằng mực đen trên nền giấy bạch đập mạnh vào mắt tôi, khi mới bước chân vô phòng khách tối tân của người chủ tịch văn đoàn Tinh Việt.
         Tôi nhập đề ngay. Và anh thong thả trả lời, giọng nhỏ nhẹ như tiếng gió thì thầm…
         ― Một sự ngẫu nhiên mở cửa cho tôi vào thế gới văn chương. Lúc bấy giờ, tôi đang học lớp nhất. Một hôm, thầy ra đề luận: tả một người ăn mày. Tôi chợt nhớ mỗi sáng, đi học, tôi thấy một người hành khất ở đầu đường. Tôi bèn quan sát người ấy để làm bài luận, và chỉ lúc ấy, tôi mới biết rằng hình ảnh người xấu số nọ ấy đã lởn vởn trong trí, trong lòng tôi từ lâu mà tôi không biết, bài làm xong, tôi cảm thấy như mình vừa cất được một gánh nặng. Nhẹ cả lòng. Thày chấm bài tôi cho điểm cao nhất, và khen bài cảm động. Tôi lấy làm sung sướng và cuốn sách tôi cho xuất bản đầu tiên là cuốn “Thân phận Lao động” nói về người ta phải coi và đối xử với người lao động như thế nào.
         ― Và anh như được giải thoát khi ràng buộc mình với Nghệ thuật?
         ― Có thế. Vì có gì ẩn náu trong tôi mà tôi chẳng biết. Tình cờ được biết, thì đó là lòng thương.
         ― Vậy anh cầm bút như nhà giáo sĩ mặc áo thầy tu. Tôi muốn nói, sứ mạng của giáo sĩ là truyền đạo của Ki-Tô, còn sứ mạng của nhà văn Phạm Đình Tân là dùng văn chương để mà tải đạo.
         Anh xác nhận bằng một cái gật đầu nhẹ:
         ― Tôi ý thức được điều này một chủ nhật nọ, đi nhà thờ, nghe vị linh mục nhắc lời Chúa: “Người ta lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì có ích gì!” Cho nên tôi viết vế giáo dục, về đạo đức trước. Tôi quan niệm rằng làm văn chương là để giúp ích cho mình, cho người chung quanh, cho nhân loại.
         ― Anh cho biết anh bắt đầu hoạt động văn nghệ lúc nào?
         Anh ngó ra cửa sổ, nhìn xuống đường, im một lúc.
         ― Khoảng năm 1928, khi tôi theo ban Trung học ở Hà Nội. Tôi có mấy người bạn thân, họp làm một nhóm, hằng tuần gặp nhau để đem trình cho anh em phê phản những áng văn hoặc những bức họa của mình, vì nhóm chúng tôi gồm những bạn đeo đuổi nghiệp văn, như Thế Lữ, Vũ Đình Liên, Ngô Bích San, và những bạn theo học hội họa, như Trần Bình Lộc, Nguyễn Đỗ Cung, Hoàng Lập Ngôn. Riêng hai anh Lộc và Cung – nhất là anh Lộc – vừa vẽ vừa viết. Chính trong lúc này, tôi bắt đầu làm thơ, nhưng làm rồi mà chẳng gởi báo nào, vì chưa tin ở mình.
         ― Thế ai “khám phá” ra anh?
         Anh cười nhè nhẹ:
         ― Anh làm như tôi là một “tân thế giới” không bằng! Thế Lữ chọn những bài anh ấy thích, rồi cho đăng, trước ở Phong Lóc, sau ở Chủ Nhật. Đăng rồi tôi mới hay. Và năm 1942, xem xong bản thảo “Tiếng thầm” của tôi, anh ấy đề tựa cho.
         ― Nhưng sau đến mười năm sau, anh mới xuất bản?
         ― Vì tôi thấy thơ tôi còn kém cỏi. Mà không phải tôi muốn xuất bản đâu. Nguyên khi chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ, tôi chuyển tủ sách tôi về quê. Bị tịch thu, đem bán cả, trên ngàn quyển với bảy bản thảo tôi tản lạc khắp nơi, trong đó có ba tác phẩm về vấn đề xã hội, hai tiểu thuyết (một trước tác, một dịch) và hai tác phẩm văn chương khác. May sao còn sót lại tập thơ viết tay, tờ còn tờ mất, tờ nguyên, tờ rách. Năm 1952, một số bạn thân khuyên mãi tôi nên cho in, để gọi là chút gì sau khi đã mất mát quá nhiều. Nể tình bạn bè, tôi mới cho in “Tiếng thầm”.
         ― Với “Tiếng thầm”, anh muốn nói…
         ― Tôi muốn tìm những gì lạ mà chưa ai nói đến. Tôi cố tìm nghe những tiếng không có tiếng vang (des voix sans écho), không những của con người, mà của mọi vật, cả những vật vô tri mà người ta cho là chẳng có linh hồn.
         Tôi cười:
         ― Thế ra anh hơn Lamartine ở chỗ không cần hỏi:
         “Objets inanimés, avez-vous done une âme…?”
         Anh mỉm cười tiếp:
         ― Tôi không muốn để ý những gì phơn phớt ngoài mặt, mà cố lắng tai nghe những gì sâu kín trong lòng người cũng như trong lòng Tạo vật, rồi cố diễn tả…
         Rồi, anh hỏi tôi, đột ngột:
         ― Anh đã nghe im lặng chưa?
         Tôi chưa kịp trả lời thì anh vội dở tập “Thơ Phạm Đình Tân”, và đọc:
                           Trời xanh lạnh lẽo lên ánh sao,
                           Đêm nghe bình tịch trôi vào hư vô.

                           (Thành xưa)

         Anh lại đọc tiếp:
                           Cây nghe sương lắng trong chiều,
                           Gió thầm thì gọi đìu hiu gió về.

                           (Chiều)

                           Còn đây tiếng gọi mơ hồ,
                           Vẩn vơ với gió chiều thu trên ngàn.

                           (Đá vọng phu)

         ― Tiếng thầm của anh, chẳng hay đã gặp người tri kỉ?
         ― Có ba người. Anh Bàng Bá Lân, mới đây và trước kia, anh Vũ Đình Liên và anh Thế Lữ.
         Và anh chỉ tôi xem đoạn nào trong bài tựa Thế Lữ đề tập “Tiếng thầm”.
         “… tôi tưởng chỉ mời bạn đọc ngâm thơ của ông và ngâm nhỏ nhẹ trong những giờ thân mật như nhắc lại những tiếng thầm lặng của tâm tình. Bởi vì thơ của bạn chúng ta cũng là những lời lặng lẽ.
         Đó là những tiếng đìu hiu của buổi chiều thu, những vang nhẹ xa xăm của thời dĩ vãng, điệu lạnh lẽo của những giọt mưa thu sụt sùi khi tâm hồn tỉnh thức “đêm nằm nghe tiếng giờ qua lạnh lùng”.
         Đó cũng là những nỗi u uẩn của hồn chí khí, ý thương nhớ sầu kín của tâm tư, buồn hối hận của tấm lòng quí trọng những châu ngọc bị tan ố”.
         Tôi giã từ địa hạt thơ mà sang lãnh vực văn.
         ― Anh cũng từng viết truyện chớ?
         ― Anh hỏi làm tôi nhớ một chuyện cảm động. Số là tôi viết một tập truyện ngắn, nhưng cứ ngại còn kém, thành viết rồi để đó. Đứa em tôi đọc được, lấy làm thích, nó mới chọn một truyện nó cho hay nhất, gởi đến ông Phan Khôi, lúc bấy giờ trông nom tờ “Phụ Nữ thời đàm”. Cụ Phan Khôi xem xong, viết thư ngay cho tôi, nói rằng cụ lấy làm thú lắm, vì làm báo bao nhiêu năm, nay mới được đọc một truyện ưng ý như thế.
         ― Anh còn nhớ tên truyện?
         ― “Người điên”. Đại khái, tôi truyện như thế này: tả tuổi già ganh ghét tuổi trẻ, rồi phạm vào tội ác. Cụ Phan Khôi lại đề nghị với tôi treo một giải phê bình truyện ấy. Nhưng tôi từ chối.
         ― Và anh cho rằng truyện ấy… kém?
         ― Quả có thế, tôi vừa sung sướng, vừa ngạc nhiên. Vì làm sao mà cụ Phan Khôi lại biết truyện tôi viết. Hỏi ra mới rõ là tại em tôi tự tiện gởi cho cụ.
         ― Truyện ấy kí…
         ― Tôi kí Bảo Giang, một biệt hiệu của thời đó.
         Tôi vừa nâng tách nước trà anh mới rót vừa hỏi:
         ― Thế bao giờ anh trở lại “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”?
         Anh nhìn hai con đồi mồi Phú Quốc gắn chặt vào tường vôi:
         ― Chắc không lâu đâu. Rồi tôi sẽ trở về con đường sáng tác tiểu thuyết. À, anh còn nhớ truyện “Con quỉ truyền kiếp” của Thế Lữ dịch?
         ― Có trong loại sách Bốn Phương, in làm hai cuốn.
         ― Tôi cũng dịch quyển ấy, trước Thế Lữ, nhưng rồi để đó. Nhan của tôi dịch là “Con quái vật bất tử”.
         ― Anh còn giữ “Con quái vật” ấy?
         Anh thở dài:
         ― Mất với cả ngàn quyển sách, cùng bảy tác phẩm khác như trên kia tôi đã nói với anh.
         Sực nhớ đến câu chuyện lôi thôi trong giải thưởng văn chương Tinh Việt văn đoàn vừa phát hai ngày trước(3) tôi hỏi anh, ngoài đề:
         ― Vụ lôi thôi vừa rồi làm anh chán nản hay kích thích anh?
         Nụ cười thoáng trên môi anh đượm chút gì của nhà tu sĩ:
         ― Tôi làm việc gì, cũng nghĩ rằng mình sẽ gặp khó khăn, không ít thì nhiều. Nên khi gặp, tôi cho đó là việc thường, không tránh khỏi. Vả lại tôi biết anh lắm tính vốn nóng và hay hành động theo xúc động một lúc. Tôi tin mọi người đều tốt. Tôi chỉ buồn cho anh ấy mà không giận.
         Thấy tôi chăm chú nhìn chữ “Trung” to tướng sau khi bắt tay anh, anh giải thích:
         ― Một thầy học quí mến của tôi cho chữ ấy. Tôi nhờ một người Trung Hoa viết, có tên thầy học ấy ở bên. Lấy tấm lòng trung hậu mà ở đời, tôi vẫn cố sống theo lời thầy dạy.


NGUIỄN NGU Í viết lại

_______________________________________
(1) Bác theo người Bắc: anh của mẹ; ở Trung và Nam, thì là cậu.
(2) Chữ Hán, gồm hai chữ: Trung (giữa) và Tâm (lòng).
(3) Xin xem mục “Sinh hoạt” số này, bài Giải thưởng văn chương Tinh Việt văn đàn năm nay.


BÁCH KHOA |  SỐ 120

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #833 vào: 24/07/2019, 15:57:07 »


                        Chiều trong bệnh viện

                           CHIỀU rơi trong bệnh viện
                           Bóng cây ngả xuống đường.
                           Mặt trời giờ hấp hối,
                           Thoi thóp ngọn thùy dương.

                           Nắng run vàng cỏ úa,
                           Mái cũ nhạt màu sương,
                           Có con chim lạc tổ
                           Kêu trong chiều thê lương.

                           Lầu cao ai tựa cửa,
                           Bóng in mờ sau gương,
                           Mồ hoang sao vắng vẻ,
                           Hiu hắt thoảng trầm hương.

                           Chiều rơi trong bệnh viện,
                           Băng giá chảy quanh giường,
                           Tỉnh dậy nghe chuông khóc,
                           Thương Đời vừa bị thương…


                                                VŨ QUỲNH BANG
                                                 (Thơ mùa ly loạn)




BÁCH KHOA |  SỐ 120

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #834 vào: 24/07/2019, 21:53:37 »


BÁN NGUYỆT SAN BÁCH KHOA
____ ₪₪₪ ____

Lá thư tòa soạn

5 NĂM QUA, tạp chí BÁCH-KHOA đã trình bầy cùng bạn đọc, về mỗi bộ môn một số bài như sau:
         Chính trị 156; Giáo dục 44; Khoa học 104; Kinh tế, Tài chánh 103; Luật pháp 8; Ngôn ngữ học 25; Nghệ thuật 88; Phong tục 12; Quân sự 23; Sử, Địa 121; Tôn giáo 51; Triết học 49; Văn hóa, Văn học 224; Xã hội 49; Danh nhân 37; Điểm sách 57; Thắc mắc, Dòng tư tưởng, Nhận định 58; Nếp sống nước người 20; Sinh hoạt 36; Phỏng vấn văn nghệ 2; Thơ 447; Kịch 4; Tùy bút 41; Ký sự, Hồi ký 20; Truyện ngắn 302; Truyện dài 3; Truyện dịch 53.
         Các bài trong 120 số BÁCH-KHOA trên đây đã xác nhận:
         ― Tạp chí BÁCH-KHOA là một diễn đàn rộng rãi, sẵn sàng tiếp nhận mọi ý kiến xây dựng về Chính trị, Kinh tế, cũng như Văn hóa, Xã hội…
         ― Tạp chí BÁCH-KHOA cũng chú trọng trình bầy những vấn đề thời sự, phổ biến những kiến thức mới mẻ, giới thiệu những trào lưu tư tưởng hiện đại, cung cấp những tài liệu có lợi ích mật thiết đến mọi tìm hiểu cùng mọi khía cạnh đời sống hiện thời của bạn đọc, và cống hiến các bạn yêu văn nghệ những sáng tác và dịch phẩm chọn lọc, cố gắng phản ảnh được thực nhiều xu hướng nghệ thuật dị biệt ngày nay.
         Với sự nỗ lực của các cây bút mà bạn đọc hằng tin cậy trong một trăm hai mươi số báo vừa qua, với sự góp ý thường xuyên và sự ủng hộ nhiệt thành mà bạn đọc vẫn đặc biệt dành cho trong năm năm liên tiếp, BÁCH-KHOA hân hoan chuyển sang năm thứ sáu, vững tin ở đường đi và bước tiến của mình.


BÁCH-KHOA         


SỐ ĐẶC BIỆT:  KỶ NIỆM ĐỆ NGŨ CHU NIÊN |  SAIGON  1962

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #835 vào: 25/07/2019, 11:02:26 »
BÁCH KHOA |  SỐ 121  [15-1-1962 |  264 trang]  giá: 25$

⎎  Số đặc biệt    Kỷ niệm đệ ngũ chu niên 
MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Mục lục |  i-ii
Bách-Khoa |  Lá thư tòa soạn |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Thử bàn về vấn đề khắc khổ |  3-5
Bách-Khoa |  Walter Scott miêu tả Napoléon |  5
Quảng cáo |  6
Võ Phiến |  Thời đại tính trong văn học |  7-18
Hoàng Minh Tuynh |  Hiện tình cuộc bang giao giữa Mỹ-Nga |  19-29
Bách-Khoa |  Nết thận trọng |  29
Quảng cáo |  30
Nguyễn Hiến Lê |  Một bi kịch trên ngàn năm chưa dứt |  31-43
Quảng cáo |  44
Võ Quang Yến |  Nobel khoa học 1961 |  45-49
Bách-Khoa |  Say sưa và tiết độ |  49
Quảng cáo |  50
Nguyễn Văn Ba |  Dịch lý và thiên địa chi tình |  51-58
Quảng cáo |  59-60
Nguyễn Phúc Sa |  Viễn tượng thị trường Việt Nam trong năm tới |  61-65
Bách-Khoa |  Người Do Thái lang thang |  65
Hoàng Xuân Hãn |  Để góp vào thân sử: Liệt sĩ Nguyễn Hiệu |  66-73
Bách-Khoa |  Chân lý thắng cường quyền |  73
Quảng cáo |  74
Đoàn Thêm |  Xem tranh Tàu |  75-95
Bách-Khoa |  Biên cương cũ và biên cương mới |  95
Hoài Hương |  Năm năm (thơ) |  96-97
Đông Hồ |  Họp chợ làng văn (thơ) |  98
Bùi Khánh Đản |  Dạ hội (thơ) |  99
Xuân Hiến |  Biển dâu, hồn bút (thơ) |  100
Trần Hương Tử |  Giới thiệu những trào lưu tư tưởng mới: Husserl, ông tổ văn chương triết lý Hiện tượng học |  101-110
Trần Quốc Dũng |  Phi châu 1961 |  111-113
Đoàn Thêm |  Đi về giấc cũ (thơ) |  114-115
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 120 |  115
Tường Linh |  Nắng xuân hồng (thơ) |  116
Vũ Nam Thủy |  Một năm qua, một năm tới |  117-123
Trần Văn Khê |  Vài nhận xét về xu hướng nhạc thế giới |  124-132
Cô Phương Thảo |  Tiểu thuyết năm 1961 |  133-140
Bách-Khoa |  Bốn châm ngôn trong một bài hát |  138
Bách-Khoa |  Nói sự thực |  140
Huy Lực |  Mùa xuân quê nhà (thơ) |  141-143
Viên Linh |  Chân dung 1960 (thơ) |  144
Phan Văn Ngân |  Nếp sống nước người: Lữ quán Nhật |  145-150
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 121 |  150
Hữu Phương |  Rời bến (thơ) |  151
Dương Phù Sao |  Thần thoại (thơ) |  152-153
Nguiễn Hữu Ngư |  Gửi non (thơ) |  154
Mộng Trung |  Lá thư Ba Lê: Những nghề phụ trong dịp hè trên đất Pháp |  155-158
Trần Dạ Từ |  Khi trở lại Saigon (thơ) |  159
Trần Thy Nhã Ca |  Bàn tay chàng (thơ) |  160
Bùi Giáng |  Mùa phượng cũ (thơ) |  161
Sao Trên Rừng |  Đàn trầm (thơ) |  162
Nguiễn Ngu Í (phụ trách) |  Tổng kết cuộc phỏng vấn về quan niệm sáng tác của các nhà văn |  163-176
Quảng cáo |  177-178
Nhật Tiến |  Bướm lạ (truyện) |  179-187
Quảng cáo |  188
Cô Liêu (lược dịch) |  Những con vật biến tính (Les animaux dénaturés) \ Vercons |  189-211
Võ Hồng |  Tia nắng rớt (truyện) |  212-238
Võ Phiến |  Thư nhà (truyện dài) |  239-251
SINH HOẠT:
   |  Tràng Thiên |  Qua các hàng sách: “Những đêm mưa” của Linh Bảo |  252-255
   |  Nguiễn Ngu Í (thuật ) |  Lễ trao giải “Trước thuật 1961” |  256-258
Bách-Khoa |  Hộp thư tòa soạn |  259
Bách-Khoa |  Giới thiệu sách báo mới |  259
Quảng cáo |  260-262
Phạm Tăng, Nghiêu Đề, Diệp Đình |  Trình bày và minh họa


SAIGON |  1962




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #836 vào: 25/07/2019, 22:38:26 »


Dịch lý và thiên địa chi tình

Công việc trời đất tuy có lúc biến thiên mà đạo trời đất thì vạn cổ
vẫn y nguyên. Ta nhìn nhận được chân TÌNH của Thiên Địa,
thì cuộc đời bể dâu, tình người nóng lạnh có thay đổi mặc dầu,
mà đạo tự lập của người quân tử không bao giờ thay đổi cả.

NÓI ĐẾN TÌNH thì phải nói Tính. Tính có liên hệ đến Lý, nên phải nói đến Lý. Nói đến Lý thì phải nói đến Sự; Sự tức là sự vật và thành công của sự vật.
         Thuở xưa, các Đấng Thánh Hiền làm ra Kinh Dịch không ngoài ý muốn: “thuận theo lý của TÍNH-mệnh” mà “khai vật, thành vụ”.
         Thế nào là “khai vật”? Chữ vật bao hàm cả người lẫn vật, như trong câu sự vật hay thiên địa vạn vật, thì có cả người ở trong. Lúc ấy, dân trí còn mê muội, dân chí còn uất tắc, dân tâm còn ngờ vực, thì Thánh Nhân muốn vạch một con đường chân lý, chính trung, lấy Lý trời làm lý người, dạy dân tự khai phát được trí dân, dạy dân tự khai thông được chí dân, và dạy dân tự đoạn được sự ngờ vực của mình. Đó là “khai vật” vậy.
         Thế nào là “thành vụ”? Vụ là việc, thành vụ là mọi việc được hoàn thành. Khi dân trí được khai, thì công việc mưu sinh ngày càng phát đạt. Dân chí được thông, thì gặp những việc đỉnh tân cách cố trong bước đường văn minh tiến triển, đâu đâu cũng thấy được hanh thông. Dân tâm đoạn được sự ngờ vực của mình trước những mãnh lực thiên nhiên như sấm sét, thì yên lòng mà tiến bộ trên con đường đạo lý của lẽ phải tự nhiên. Như thế, mọi việc trong thiên hạ, chẳng việc gì là chẳng thành, mọi người trong thiên hạ, từ thiên tử cho đến thứ nhân, chỉ lấy con đường thiên nhiên đạo lý làm con đường căn bản, không bị bắt buộc phải theo con đường của ai, của triều nào, của đảng nào, của phái nào.
         Thế nào là TÍNH-mệnh? Mọi vật sinh ra ở đời, vật nào cũng tự biết mình đang được SỐNG, nhất là loài người, ai cũng nhận rằng mình chẳng những được sống mà thôi, lại còn biết cảm tình, suy nghĩ và hoạt động nữa. Người cao minh và những bậc hiền, bậc thánh cũng nhìn nhận có sự SỐNG ấy, mà sự sống của các vị ấy lại được mươi phần dồi dào hơn sự sống tầm thường của mọi người chúng ta. Khi ta mới sinh ra, ta có sẵn những gì Trời phú cho ta, ta gọi là “Mệnh trời”; những gì ta bẩm thọ được đối với riêng ta, ta gọi đó là “TÍNH”. TÍNH với Mệnh vốn là Một, nhưng đứng ở khía cạnh con người mà nói thì là TÍNH, đứng ở khía cạnh Trời cho mà nói thì là Mệnh.
         Thế nào là “thuận lý”? Tạo hóa sinh ta ra cũng cùng trên định luật do đó mà Tạo Hóa đã được sinh ra. Nghĩa là tạo Hóa và ta đồng sinh đồng tử cùng trên một định luật vậy. Nói đến đây, không thể không nhắc đến bài thơ “Thiên Địa Nhân” của Trần Cao Vân, tay mặt của Đức Duy Tân cách mạng, là người phát minh “Trung Thiên Bát Quái” sau Tiên Thiên Bát Quái của Phục Hi và Hậu Thiên Bát Quái của Văn Vương:

                           Trời Đất sinh Ta có ý không?
                           Chưa sinh Trời Đất có Ta trong;
                           Ta cùng Trời Đất ba ngôi sánh,
                           Trời Đất in Ta một chữ đồng.
                           Đất nứt Ta ra Trời chuyển động,
                           Ta thay Trời mở Đất mênh mông.
                           Trời che Đất chở Ta thong thả,
                           Trời-Đất-Ta đây đủ Hóa Công.


         Vậy chớ thuận lý là gì, tức là thuận theo lý tự nhiên đã sinh ta ra và sẽ làm cho ta chết, lý ấy của người cũng là lý của trời đất, tức là lý của Tính (người) Mệnh (trời) vậy.
         Nhưng, lý của TÍNH-mệnh là lý gì? Tạo Hóa và con người đồng sinh, đồng tử trên định luật Thăng Bằng và Điều Hòa, Thăng Bằng và Điều Hòa còn, thì còn sinh, Thăng Bằng và Điều Hòa mất, thì phải tan rã. Thăng Bằng là Trung, Điều Hòa là Dung. Cho nên sách Trung Dung có nói: “Thiên-Mệnh chi vị Tính, Suất Tính chi vị Đạo… Đạo dã giả bất khả tu du lỵ dã, khả lỵ phi đạo dã”. Nghĩa là: Mệnh trời tức là Tính của mình vậy. Thuận theo TÍNH ấy, tức là đường đạo của mình phải đi… đường đạo ấy không thể rời lìa một phút, đường đạo mà rời lìa được thì không phải là đường đạo vậy.
         Bởi thế cho nên, thuận theo lý của TÍNH-mệnh tức là thuận theo lẽ “Trung”. Sách Trung Dung cũng có câu: “Trung dã giả, thiên hạ chi đại bản dã”, nghĩa là “Trung là gốc lớn của thiên hạ vậy”. Bản TÍNH con người ai ai cũng “hỉ, nộ, ai, lạc”. Hỉ, nộ, ai, lạc lúc chưa phát ra, gọi rằng “Trung” thuộc về TÍNH; chừng phát ta trúng tiết, đúng nhịp, thì gọi rằng “Dung” “hay Hòa” thuộc về TÌNH. Kinh Dịch nói: “tịch nhiên bất động” là nói đến TÍNH, và nói tiếp theo: “cảm nhi toại thông” là nói đến TÌNH. TÍNH là trạng thái còn tĩnh. TÌNH là trạng thái đã động, nhưng động phải “trúng tiết”, nếu không trúng tiết thì Dịch không gọi là Tính, mà gọi là “Ngụy”.
         Thuận theo lẽ của TÍNH mà hành động, thì khó trông thấy lẽ của TÍNH để thuận theo, vì TÍNH im lặng chưa phát động; nên phải tìm thuận theo lẽ của TÌNH (là TÍNH đã phát động) dễ trông thấy hơn. Nhưng phải theo TÌNH “trúng tiết” mới thật là CHÂN TÌNH. Nhìn TÌNH của mình được rồi, tức nhiên nhìn thấy được TÌNH của thiên địa; nhìn được TÌNH của thiên địa tức nhiên trở lại nhìn rõ được TÌNH của mình, vì rằng Ta cùng Trời Đất cũng đồng sinh đồng tử trên một định luật chung mà thôi.
         Trước khi nói đến TÌNH của Thiên Địa trong Dịch lý, ta hãy nghe vua Nghiêu truyền ngôi cho vua Thuấn chỉ có một câu: “Doãn chấp khuyết TRUNG”, nghĩa là “phải nắm chặt chữ TRUNG”. Nắm chặt chữ Trung tức là giữ được Thăng Bằng để thuận theo TÍNH của mình đã bẩm thụ. Khi vua Thuấn truyền ngôi cho vua Võ, vua Thuấn thêm vào hai đoạn: “Nhân tâm duy nguy Đạo tâm duy vi, duy tinh duy nhất, doãn chấp khuyết TRUNG”, nghĩa là “Nhân Tâm xao xuyến đạo tâm tế vi, phải hết sức tinh tường phải dốc một lòng, nắm chặt chữ TRUNG”. Vua Thuấn nói muốn nắm chặt chữ TRUNG thì phải thuận theo lẽ của TÍNH, nhưng lẽ của TÍNH khó trông thấy, nên phải thuận theo lẽ của TÌNH dễ trông thấy hơn (tính vời tình là hai trạng thái tĩnh và động của một thể); muốn thuận theo lẽ của TÌNH không gì hơn là phân biệt đạo tâm là CHÂN TÌNH với nhân tâm là ngụy tình.
         Cũng là một tâm hư-linh, tại sao phân biệt nhân tâm và đạo tâm; cũng cùng một tình, tại sao lại có chân tình và ngụy tình? Vì rằng: tâm là tri giác, mà tri giác do hình hài nầy tức là tri giác tư riêng của nhân tâm (nhân tâm là tâm của thân người mà ta đang trông thấy), còn tri giác nguyên do TÍNH-mệnh mà ra, là tri giác chân chính của đạo tâm (đạo tâm là tâm do Tính mà ra, như trong câu “Suất Tính chi vị Đạo”). Sở dĩ tri giác bất đồng, có khi xao xuyến không an, có khi tế vi khôn thấy, là tại vì đã là người không ai là không có hình hài, nên dù là thượng trí cũng không sao không có nhân tâm (như đói ăn, khát uống); và đã là người thì không ai không có tính mệnh, nên dù là hạ ngu đi nữa cũng không sao không có đạo tâm (như lòng trắc ẩn khi gặp người bị tai nạn). Hai tri giác ấy thường phức tạp lẫn lộn, nếu không phân biệt rành mạch khi hành động, thì xao xuyến ngày càng xao xuyến, tế vi lại càng tế vi mất tích.
         Tình riêng tư của nhân tâm hình hài càng xao xuyến, thì nhân dục càng phức tạp mạnh thế, lôi cuốn con người, rồi xã hội, đến cả thế giới vào vòng nguy hiểm khó ra. Tình chân chính của đạo tâm Tính-Mệnh đã tế vi lại càng tế vi, thì chân tình của con người sẽ đi đến chỗ diệt vong. Vậy nên vua Thuấn dạy vua Võ phải hết sức tinh tường phân biệt hai thứ Tình chân và ngụy, và phải dốc một lòng giữ lấy chân chính của đạo tâm, thì mới nắm được chữ TRUNG, tức là thuận theo được lẽ TÍNH; thuận theo được lẽ TÍNH tức nhiên phát động được TÌNH, tình nầy là CHÂN TÌNH vậy.
         Mình thuận theo được lẽ TÍNH của mình thì phát động được CHÂN TÌNH của mình; Thiên Địa tự nhiên thuận theo được lẽ TÍNH của Thiên Địa, thì Thiên Địa tự nhiên phát động được CHÂN TÌNH của Thiên Địa một cách tự nhiên vậy. TÍNH, TÌNH của Thiên Địa là Tính, Tình tự nhiên; TÍNH, TÌNH của con người là Tính, Tình đương-nhiên, nghĩa là con người phải hòa đồng đúng mực Tính, Tình mình với Tính, Tình của Thiên Địa để nắm chặt chữ TRUNG, là Thăng Bằng; không có Thăng Bằng ấy, thì sáng tạo của con người không có kết quả, văn minh không thể có được. Cho nên, sách Trung Dung có câu: “Thành giả, Thiên chi đạo dã; thành chi giả, Nhân chi đạo dã”. Nghĩa là “tự nhiên đúng đạo là con đường của Trời; phải làm cho đúng đạo, là con đường của người”. Vậy nên, trước khi muốn nuôi dưỡng Chân Tình của mình, mình phải biết TÌNH của Thiên Địa ra sao, đó là cốt ý của bài nầy, với lời vào đề tuy rất dài, nhưng rất cần yếu để hiểu.
         Thiên Địa chi TÌNH phát hiện ra sao? Trong quẻ Hàm, Kinh Dịch có câu: Quan kỳ sở CẢM, nhi Thiên Địa vạn vật chi TÌNH khả kiến hỉ”. Nghĩa là “nhìn chỗ Cảm trong trời đất, thì thấy được TÌNH của Thiên Địa vậy”.
         Trong vũ trụ, nhìn lên trông thấy văn vẻ của trời, cúi xuống nhận thấy lý lẽ của đất, cổ nhân “cực thâm nhi nghiêm cơ” nghĩa là “rất thâm sâu mà nghiên cứu cái cơ của tạo hóa”, mới nhận ra được trong vũ trụ chỉ có hai khí Âm Dương biến chuyển mà cảm ứng với nhau. Khi Dương ở trên trời hạ giáng xuống mà giao tiếp với khí Âm; khí Âm ở dưới đất thượng đằng lên mà hòa tiếp với khí Dương. Khí Âm Dương giao hòa được với nhau, thì vạn vật sinh sinh phồn thịnh. Đó là Âm Dương cảm ứng. Nói “Âm Dương cảm ứng”, tức là nói “lý” cảm ứng của hai khí Âm Dương. Lý không thể trông thấy được, chỉ là một ý niệm do trí suy diễn của con người mà kết thành. Trái lại, khi hai khí Âm Dương tương cảm và giao hòa được với nhau, thì vạn vật mới sinh sinh và phồn thịnh. Nói “Âm Đương giao hòa, vạn vật sinh sinh”, tức là nói “lẽ” của lý cảm ứng của hai khí Âm Dương. Lẽ là cái đã xuất hiện của lý; còn lý là chỗ ẩn tàng của lẽ, cũng như TÍNH là chỗ chưa xuất hiện, còn TÌNH là chỗ đã xuất hiện rồi.
         Lý đã xuất hiện thì thành lẽ, Tính đã xuất hiện thì thành TÌNH, thế thì lẽ và TÌNH đều có thể trông thấy được. Cho nên, Kinh Dịch nói: “Nhìn chỗ Âm Dương cảm ứng () mà nhận được chỗ Thiên Địa cảm thông khiến vạn vật sinh sinh và phồn thịnh (lẽ), thì trông thấy được TÌNH của Thiên Địa phát hiện ra vậy”.
         TÌNH thiên địa phát hiện ở nơi sinh sinh của vạn vật và ở sự phồn thịnh của vạn vật; còn Tình của vạn vật được nhận thấy ở nơi ứng cảm với Thiên Địa vậy. Gặp Xuân Hạ, vật gì cũng sinh trưởng; gặp Thu Đông, vật gì cũng thu tàng: đó là tình cảm ứng giữa Thiên địa và vạn vật vậy. Cảm rất to không chi bằng Trời với Đất, Trời lấy khí Dương mà hạ cảm với Đất, Đất lấy khí Âm mà thượng cảm với Trời, thì đó là TÌNH của Thiên Địa đã tỏ bày ra trước mắt. Cảm rất thâm thiết không chi bằng giữa thiếu nam và thiếu nữ. Cảm của thiếu nam trước hết đến cầu cảm của thiếu nữ; cảm thiếu nữ sau đáp lại lòng cảm của thiếu nam, đó là “Cảm” của quẻ HÀM trong Kinh Dịch. Quẻ HÀM là Cảm, do hai quẻ Cấn (thiếu nam) và quẻ Đoài (thiếu nữ) hợp lại. Cảm rất linh thiêng không chi bằng giữa con người và con người, cùng với quốc gia, xã hội. Loài người có cảm nhau chân chính mới gầy dựng được xã hội nước nhà, trên mới thông với dưới, dưới mới cảm tận lên trên, văn minh và hòa bình mới đạt được.
         Cảm thì sau được hanh thông, nhưng cảm phải cho CHÍNH thì hanh thông mới được vững bền. Cảm nguyên nhân vì CHÍNH, thì cảm mới đằm thắm lâu dài; Cảm nguyên nhân vì tà, thì cảm đã không ra gì mà kết quả tất phải xấu xa. Tỷ như trai gái mà cảm nhau bằng cách tà dâm, tất nhiên trước nồng sau lạt; trên dưới cảm nhau bằng cách nịnh hót, giả dối, tất nhiên hữu thỉ vô chung. Cho nên thánh nhân trong Dịch bảo ta cảm phải cho “trinh”, tức là phải cho chân chính. Nguyên quẻ Hàm (咸) là cảm, sao không đặt tên quẻ bằng CẢM (感) mà lại đặt bằng Hàm? Bởi vì cảm gốc ở TÍNH, không phải gốc ở tư tâm. Khi cảm bởi TÍNH thì chừng phát ra sẽ thành CHÂN TÌNH; khi cảm bởi tư tâm thì phát ra sẽ thành Ngụy tình. Vì chữ Cảm có chữ tâm ở dưới, nên không dùng đặt tên quẻ, mà đặt bằng chữ Hàm không có chữ tâm. Không tâm mà cảm, tức là cảm được bằng TÍNH, mới thật là CHÂN CẢM. Vả lại, quẻ Hàm là cảm, mà cũng có nghĩa là “đều” nhau; hai bên đều, tự nhiên tương hợp, thì Chân-Cảm lại càng đậm sâu hơn nữa.
         Một người họa sĩ khi sáng tác, không thông cảm được TÌNH của Thiên Địa (tức là Tình ở bức tranh mình đang muốn bộc lộ ra), thì làm sao trở thành một họa sĩ có thiên tài? Một chánh trị gia, trong khi cầm vận mạng của muôn dân, không thông cảm TÌNH chân chính của Thiên Địa thì làm sao lo cho dân như lo cho con đỏ của mình? Một nhà khoa học, khi phát minh, không thông cảm được TÌNH trung thực của Thiên Địa, thì có thể làm hại nhân sinh hơn là làm lợi. Một kịch sĩ, một sĩ phu, một người lao động, một kẻ làm chồng, một người làm vợ, không sao không thể trái với TÌNH chân chính của Thiên Địa mà được hoàn hảo trong sáng tác, hoặc trong hạnh phúc của mình.
         Cỏ cây, côn trùng, cầm thú, cho đến xác thân đang sống của mình, đều tự nhiên cảm được TÌNH của Thiên Địa mà tưng bừng sống mạnh theo hòa nhịp chung. Còn như con người, khi muốn tạo tác, hoặc lúc cảm tưởng hay suy tư, nếu tách mình ngoài TÌNH của Thiên Địa, thì Tình của mình sẽ không phải là Tình chân chính nữa, mà sẽ là Ngụy Tình; rồi kết quả của sự làm của mình tất phải xấu xa và bị đào thải.
         Nhưng, làm sao cảm được chân-TÌNH của Thiên Địa? Kinh Dịch dạy rằng: “Quẻ Hàm là Cảm, do hai quẻ hợp lại: có quẻ Cấn, ý của quẻ là “dừng lại” và quẻ Đoài, ý của quẻ là “Hòa vui”. Muốn cảm chân-TÌNH của Thiên Địa, trước hết phải “dừng lòng mình lại mà hòa vui với vạn vật đang sống tưng bừng”. Theo chữ của Dịch, thì nói chỉ nhi duyệt (chỉ là dừng, duyệt là hòa vui). Nếu trước hết, mình không chỉ mà cứ duyệt ngay, thì hễ duyệt ắt hay vọng động, vọng động mà duyệt thì duyệt hay bồng bột, ắt phải sai. Duy chỉduyệt, thì duyệt mới đắc chính được. Sách Luận Ngữ có câu: “Nhất nhật khắc kỷ phục lễ, thiên hạ qui nhân yên”, nghĩa là “một ngày mà mỗi người lo trừng trị tâm tư (chỉ) để hoàn phục được lễ tức là chân tình của Thiên Địa (duyệt), thì thiên hạ ai ai cũng sống được hòa đồng với chân-TÌNH trung chính ấy, nên gọi là “qui nhân”, nghĩa là trở về “nhân”, tức là trở về với chân-TÌNH của Thiên Địa vậy”.
         Muốn cảm được chân-TÌNH của Thiên Địa, ta thấy phải “chỉ nhi duyệt”. Nhưng muốn thụ được chân-TÌNH của Thiên Địa trong lòng mình một cách chân chính, thì ắt phải “hư nhi trung”.
         Ai đã từng thám hiểm những ngọn núi cao vót, bỗng chốc gặp ở nửa lưng chừng núi có một cái hồ, nước đã trong veo, mà mặt hồ lại phẳng lặng. Một con chuồn bay, một luồng gió phớt, một lá thu rơi đều cảm thấy như một biến động bất thường. Nhìn mặt hồ trong vắt như tấm gương xanh, mỗi nét mây, mỗi chòm hoa dại, như những tia lông cánh của con chim đang luyện cao ngất trên chín tầng, cũng đều được in rành rành trên mặt nước, cả trên cả dưới, hoặc lướt hoặc ngừng, không biết đâu là hình đâu là bóng. Vì lòng của núi trống-hư nên chứa được nước thành hồ; gương hồ trong veo phẳng lặng, nên mới thu được một cách chân chính những TÌNH-cảnh của thiên địa chung quanh. Đó là hư-trống nên mới thụ được tất cả, vì trung-chính nên mới nhận được chân-TÌNH. Quẻ Hàm là Cảm, có hai quẻ hợp lại: quẻ Cấn, tượng của quẻ là núi, quẻ Đoài, tượng là của quẻ là hồ; trên núi có hồ là “Cảm”. Người quân tử trông dáng tượng của quẻ Hàm như thế, mà phải đem lòng trống-hư, trung-chính đón tiếp mọi người (Sơn thượng hữu trạch: Hàm; quân tử dĩ hư thụ nhân).
         Xem chỗ CẢM của quẻ Hàm, ta thấy được chân-TÌNH của Thiên Địa, TÌNH của Thiên Địa có chân chính mới trường cửu được. Bốn triệu rưỡi năm nay, quả đất của mình vẫn quay, mặt trời, mặt trăng vẫn chiếu, bốn mùa vẫn luân chuyển. Đông thay sang Xuân, Xuân thay sang Hạ, Hạ thay sang Thu, Thu thay sang Đông; rét, nắng, ấm, lạnh trao đổi hằng năm, không bao giờ cùng. Chỗ trường cửu ấy, Dịch gọi là Hằng. Quẻ HẰNG có câu: “Quan kỳ Hằng, nhi Thiên Địa vạn vật chi Tình khả kiến hĩ”, nghĩa là: “Xem chỗ Hằng, thì có thể thấy được TÌNH của Thiên Địa vậy”. Mùa Hạ thường nóng, mùa Đông thường lạnh, núi thường cao, sông thường sâu, đó là thường-TÌNH của trời đất. Nhưng đôi khi, cũng có gió dữ mưa cuồng, phong sa bão táp, núi lở, sông sôi, nhưng là tạm thời, không bao lâu sẽ hết, âu đó là lẽ biến thiên bất thường của thiên địa. Đã là bất thường thì không trung chính; không trung chính thì không lâu dài được. Mà không lâu dài được, thì sự biến thiên kia đâu phải là chỗ chân-TÌNH của Thiên địa.
         Công việc trời đất tuy có lúc biến thiên mà đạo trời đất thì vạn cổ vẫn y nguyên. Ta nhìn nhận được chân-TÌNH của Thiên địa, thì cuộc đời bể dâu, tình người nóng lạnh có thay đổi mặc dầu, mà đạo tự lập của người quân tử không bao giờ thay đổi cả. Nên Dịch có câu: “Hằng, quân tử dĩ lập bất dịch phương”.
         Nhưng nếu đạo tự lập của người quân tử không bao giờ thay đổi, thì trái với đạo “Dịch” là thay đổi hay sao? Mạnh Tử có câu: “Khổng Tử thánh chi thời giả dã”, nghĩa là thời nên ra mà ra, thời nên ẩn mà ẩn, thời nên lâu mà lâu, thời nên chóng mà chóng. Dịch, là tùy thời biến dịch để theo đúng đạo của trời đất, như thế có mâu thuẫn với ý bất dịch ở trên hay không? Không đâu! Hai câu “thánh chi thời” với “quân tử dĩ lập bất dịch phương” là một gốc mà hai rễ. Thánh chi thời, là nói về phần tác dụng; lập bất dịch phương, là nói về phần nguyên tắc. Tỷ như tấm gương sáng treo một chỗ, bản thể quang minh của gương không bao giờ thay đổi, chẳng phải là “lập bất dịch phương” hay sao?
         Đến như chừng mọi vật đi ngang qua mà soi dọi vào gương, thì vật tròn hiện ra tròn vật méo hiện ra méo, người đẹp trông thấy đẹp, người sao thì thấy vậy, mỗi người mỗi vẻ đều lần lượt theo thời gian mà soi dọi, đó chẳng phải nghĩa của “thời” hay sao? Dầu “thời” hay “bất dịch”, cũng đều phải “trung chính”, nghĩa là đúng với chân-TÌNH của Thiên địa thì mới hằng cửu, trường tồn được.
         TÌNH của Thiên địa hiện ra bằng nhiều khía cạnh. Người triết học nhìn thấy Thiên địa chi TÌNH từ lúc ban sơ, là lúc lý Âm Dương tương cảm, nên quẻ Hàm nói: “Quan kỳ sở cảm, Thiên địa vạn vật chi TÌNH khả kiến hĩ”. Người nghệ sĩ cảm thấy TÌNH của Thiên địa từ lúc Âm Dương tương cảm đã thành hình, sinh hóa, và đến mức hằng cửu của nó rồi. Nên quẻ Hằng có nói: “Quan kỳ Hằng, nhi Thiên địa vạn vật chi TÌNH khả kiến hĩ”. Người trí óc thô sơ hơn nữa, đợi đến TÌNH của Thiên địa, phồn thịnh, tráng kiện, thông lợi, đại chính, đường đường minh bạch, thì khi trông thấy sự tráng thịnh chính đại của vạn vật mới nhận ra được TÌNH của Thiên địa. Nên quẻ Đại Tráng có câu: “Chính đại, nhi Thiên Địa chi TÌNH khả kiến hĩ”. Người tình cảm thô sơ hơn nữa, phải đợi đến Âm Dương biến hóa bầy thành nhóm, tụ hợp đông đảo, công việc thành tựu, văn minh rực rỡ, thì mới trông thấy được TÌNH của Thiên Địa ẩn trong sự hòa hợp, tụ nhóm phồn thịnh ấy. Nên quẻ Tụy (là tụ hợp) có câu: “Quan kỳ sở tụ, nhi Thiên Địa vạn vật chi TÌNH khả kiến hĩ”.
         Còn những người quá lo buôn tảo bán tần, hoặc tâm trí bận rộn với cuộc đời xao động, hoặc tấm lòng không thông cảm được với hư-linh của vũ trụ, thì không sao trông thấy được TÌNH của Thiên Địa. Nhưng, khi trở về già, tấm thân mỏi mệt, tâm thần bải hoải, những cuộc chiến đấu dường như không ngớt của đời mình để lại biết bao kinh nghiệm của sự biến thiên điên đảo; nhưng khi ta nhìn ngoái lại dĩ vãng, ta thấy Thiên Địa vẫn trường tồn, tình cao thượng trung trinh vẫn trường cửu, còn bao nhiêu biến thiên hình như không còn đâu nữa. Chừng đó, chân TÌNH của ta mới nẩy nở, hòa đồng với TÌNH của Thiên Địa, đem cho ta một thông cảm an lạc vô cùng.
         Người thông cảm được TÌNH của Thiên Địa, thì cùng với Thiên Địa hành động tương tự như nhau, nên hành động của người ấy không trái với lẽ trời (Dữ Thiên Địa tương tự, cố bất vi). Người được như thế, làm trước trời, trời cũng bằng lòng, mà làm sau trời, trời cũng ưng thuận.
         Người thông cảm được TÌNH của Thiên Địa, thì cùng với Trời thấu rõ TÌNH của muôn loài, nên con đường hành động của người ấy phổ tế được thiên hạ, không có lỗi lầm (Tri chu hồ vạn vật nhi đạo thế thiên hạ, cố bất quá).
         Người thông cảm được TÌNH của Thiên Địa, thì cùng với Trời mà vui đạo trời, biết được mệnh mình, cho nên không có mối ưu tư trong lòng (Lạc thiên tri mệnh, có bất quá ưu).
         Người thông cảm được TÌNH của Thiên Địa, thì cùng với Đất mà nâng đỡ muôn loài để làm dầy đức Nhân của mình, cho nên chỉ người như thế mới biết yêu người (An thổ đôn hồ Nhân, cố năng ái).
         Người thông cảm được TÌNH của Thiên Địa, thì cùng với Thiên Địa mà hóa dục, không bỏ sót điều nào (Phạm vi Thiên Địa chi hóa nhi bất quá, khúc thành vạn vật nhi bất di). Người như thế mới thật là Chí Thánh, Chí Thần. Chí Thánh, Chí Thần là do thông cảm được TÌNH của Thiên Địa vậy.


NGUYỄN VĂN BA

________________________________________________
Xin xem Dịch Lý và Thiên Địa chi Tâm ở số 97 Bách-Khoa.


BÁCH KHOA |  SỐ 121

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #837 vào: 26/07/2019, 13:39:05 »


                           Năm năm

                  GIỮA ngày loạn lạc
                  Chẳng thở than “Sinh bất phùng thời”
                  Mạnh dạn vào đời,
                  Anh lớn lên trong vạn niềm tin tưởng
                  Tay mở rộng muốn ôm trùm tám hướng,
                  Ghi Bách-Khoa trên khắp nẻo trưởng thành
                  Năm năm dài tôi sống bên anh
                  Mình thủ thỉ bao nhiêu lời kính cảm
                  Anh đã kể, tôi nghe
                 “Cảnh sống nơi đầm lầy thảm đạm
                  Tình người dân sơn cước rất đơn sơ
                  Cá miền chài, Cây núi thẳm,
                  Mắt lạ ngẩn ngơ,
                  Dừng lại thương anh,
                  Nên tháng tháng trông chờ…
                  Anh đã dắt tôi đi đến nhiều xứ lạ,
                  Đời sa mạc quạnh hiu. Tình Ba-Lê rộn rã
                  Anh cho xem thư bạn bốn phương về
                  Hoa nước người chợt nở giữa vườn quê.
                  Nét bút anh đi,
                  Dạo tìm quá khứ
                  Đập thức dậy những ảnh hình cổ sử
                  Non nước ngàn năm!
                  (Vô tư một kiếp tằm,
                  Ăn dâu dè dặt rồi nằm nhả tơ)
                  Đã bao đêm tôi thao thức thẫn thờ
                  Bên áng sách nghe anh bàn triết lý
                  Những nét thâm sâu, trong lời giản dị
                  Mình tô thêm màu sắc cuộc đời chung
                  Dài năm năm. Vạn thuở, Ý cô cùng”

                  Lắm lúc hỏi anh:
                  Gia đình, Bè bạn?
                  ― Nhà của anh là cuộc đời ánh sáng
                  ― Người dưỡng nuôi là kẻ sống mười phương.
                  Không Rẽ Chia. Cô Độc. Một đường,
                  Anh đi tới muôn tay dìu Vạn ngõ.
                  Ai khôn lớn mà không từng khốn khó,
                  Không băn khoăn, tha thiết, nghĩ mai sau
                  Tình Bách-Khoa cũng thắm đủ muôn màu
                  Năm năm đấy, anh trưởng thành vững chãi.
                  Giấy bút thắm lời ưu ái
                  Mặn nồng những mảnh thư xa,
                  Anh lớn lên trong Tình Ý đậm đà…


                                                              HOÀI HƯƠNG



BÁCH KHOA |  SỐ 121

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #838 vào: 26/07/2019, 23:45:41 »


Họp chợ làng văn

NHẮN ai tri kỷ nhà văn
Làng thơ vui họp chợ xuân đông rồi
Mình đi chợ cũng thêm vui
Không mình chợ cũng không ngơi phiên nào.

Văn-chương du-hí mối giao-duyên
Chợ họp đông vui cũng ghé thuyền
Tạm lẩn thị thành am đại-ẩn           
Dám noi tuyền thạch dấu cao hiền 
Rượu đôi chén nhấp ngà men thánh
Thơ mấy câu đề nguệch nét tiên       
Hoa tóc nở rồi trên mái tuyết           
Bạch-đầu ai hát khúc thanh-niên.     

                        ĐÔNG HỒ



BÁCH KHOA |  SỐ 121

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #839 vào: 27/07/2019, 11:14:39 »


                                      Dạ hội

                         NGHIÊNG chén tâm tình, bạn đã say
                         Lòng tôi cũng đảo giữa bàn tay
                         Im nghe! Nhạc điểm muôn hàng chữ
                         Có thấy: Thơ ôm vạn bóng gầy
                         Bước cũ dẫu thừa hoa rải lối
                         Đường xa còn hẹn gió lùa mây
                         Các anh, các chị… và ai nữa
                         Sẽ khát hương nồng những tối nay


                                                       BÙI KHÁNH ĐẢN



BÁCH KHOA |  SỐ 121