Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 60996 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #855 vào: 06/08/2019, 16:36:41 »


Thư xuân

Khuya nay mùa động đầu cành
Đồng trăng lục nhạt vàng thanh lối gần…

         Cám ơn em đã viết thư cho tôi, kể chuyện sông nước tỉnh nhà và chép lại cho tôi câu thơ của thi sĩ ấy. Em hỏi tôi: “Xuân Ý là gì? Hồn Xuân là gì? Như thế nào là: mùa động đầu cành? Anh ở Saigon, anh tìm đâu ra một đồng trăng lục nhạt? Anh kiếm đâu một lối gần vàng thanh?”
         Vậy bây giờ tôi xin hỏi lại: Tại sao em nêu nhiều câu hỏi thế? Mà câu nào nghe cũng thân mến cảm thông? Có hồn xuân thơ ngây tràn lan trong đó. Tại sao? Tuổi mười sáu mà nêu câu hỏi về xuân, thì đố ai dám giải thích. Em hiểu giùm? Em tha thứ nhé? Nếu thư này tôi viết rất vu vơ…
         Làm thế nào giải đáp cho em ngay từ đầu? Câu hỏi của em làm tôi choáng váng. Một mùa Xuân mênh mông về tràn ngập cái phòng văn bé bỏng, làm rối bời những trang bản thảo; hai con mắt của tôi bây giờ rất lim dim…


Hồng vàng tụ bữa kia em có thấy
Nước xuôi dòng là cổ độ nhìn theo
Tuổi mười sáu bây giờ lên gấp gảy
Mộng miên man là mây phủ lưng đèo…

         Phút giây, mọi ưu tư chìm tan đâu mất. Giờ choáng váng qua, tôi bước vào bờ cõi huyền nhiệm của trường xuân, của hồng vàng vĩnh viễn. Những lầm lỗi hôm kia, những lỡ làng bữa nọ, thôi không còn ray rứt. Trên tro tàn, cây lá đã hồi sinh, linh hồn hoài vọng của tuổi mười sáu đã đi về làm long lanh sự vật.
         Tôi nghĩ rằng hồn xuân là tơ liễu. Tôi thử đưa bàn tay chạm vào một đồ vật, và thấy rằng đồ vật đã ngân lên đúng âm hưởng của tơ liễu hồn xuân. Không có gì có thể ma chiết hi vọng của lòng người khi mùa xuân đã về động đầu cành, khua đầu lá, nhịp đầu bãi, hay dậy dàng ở đầu bến cuối trăng. Giữa tăm tối mê cung, lòng nhân gian vẫn nhìn ra non nước sơ nguyên bên kia một màu sương lãng đãng.


Buồn phố thị cũng xa bay như gió
Cộ xe nhiều cũng nhảy múa như hươu
Bờ cõi dựng xuân xanh em còn đó
Bến đào nguyên anh khoác áo khinh cừu

         Thế là bỗng dưng anh thành thi sĩ làm thơ từ sáng đến chiều. Nguyện rằng: giờ nào cũng là mùa vĩnh viễn của Xuân, sóng nào cũng là sóng phơi trường mộng, bể nào cũng là bể vàng kim hải, trang đời nào cũng là “trang hồng phố Hội ra hoa, trổ bông mùa phượng cũ đà hồ phai…”
         Đời không biên giới nữa. Nấm cỏ khâu rầu rầu không đợi đó để kết liễu đời ta.


Xưa nay những đấng tài hoa,
Thác là thể phách còn là tinh anh.

         Thúy Kiều đã bắt gặp hồn xuân bất tận. Trong chiều tảo Mộ nàng linh cảm một nhịp cầu giao nối hai bờ cõi u hiển âm dương. Nàng vượt ra ngoài vòng vây hãm của thời gian để trò chuyện với người xưa từ bao năm đã lìa trần giới. Những giới hạn nghiệt khắc của “phù du trăm năm trong cõi” không thao túng nổi tấm tinh thành thanh thoát của những khách “vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”. Bởi vì khi ra ngoài cũng như khi vào trong họ vẫn tạo lập được một thế giới kỳ bí trong tiết điệu của thơ ngân theo mỗi nhịp bàn chân vi vu bước tới. Chinh phục thời gian mai hậu bằng cái tâm hồn bát ngát vương vấn ngàn kỷ niệm trong ký ức tổ truyền nguyên vẹn với những hương màu ngan ngát của non nước ngàn xưa long lanh bên dòng tơ liễu:

Dưới dòng nước chảy trong veo,
Bên dòng tơ liễu bóng chiều thướt tha.

         Đó là hình ảnh thiên thu của tình yêu, của xuân mộng. Niềm giao cảm xóa bỏ hết cõi bờ gò đống ngổn ngang. Đôi lứa đầu xanh nhìn nhau buổi mới đã vượt qua hai cái “bờ-bản-ngã-riêng-ta-riêng-người” để cùng nhau bước vào trong dập dìu mùa hội, hội Hoa Đăng, hội Đố Lá, hội Đạp Thanh bên Bất-Tuyệt-Nguyên-Khê của Hữu-Thể-Tròn-Nguyên-Thiên-Cổ-Lạc…
         Mùa xuân là gì, thưa em? Tình yêu trong cổ lục là gì? “Nhặt thưa trăng dọi đầu cành” có đủ bảo tồn nhịp miên man chiêm niệm? Bóng hoa dung tuổi mười sáu một lần dưới trăng nguyên tiêu lộng lẫy, có đủ hương màu để giữ gìn kỷ niệm với ngày sau?


Trùng phùng dù họa có khi
Thân này thôi có còn gì mà mong…

         Giận mà nói thế. Thật ra, vẫn còn nhiều lắm chớ…

Còn nhiều ân ái chan chan,
Từng cay đắng lại nồng nàn hơn xưa…
Bây giờ gương vỡ lại lành,
Khuôn thiêng lừa lọc đã đành có nơi.
Hoa tàn mà lại thêm tươi,
Trăng tàn mà lại hơn mười năm xưa…

         Cái chỗ huyền diệu của Nguyễn Du là đó. Giữa những cung bậc thống thiết đoạn trường, bao lần ta nghe len lấn về những xoang điệu tươi vui. Đó là hồn xuân hồi sinh trên dâu bể phủ ngập mộng đời.
         Nói như một triết gia hiện đại:
         ― Chỉ riêng cái hời hợt ở bên ngoài cuộc sống, cái nông cạn ở bề mặt cuộc đời chia lìa, ly tán; chỉ riêng cái thực-tại-người lao xao lơ-láo-tớ-thầy, là có tuổi có tên, biểu chưng cái hỗn độn vào sau ra trước. Thật ra, sự vật không có phân ly chia cắt. Và nghệ thuật của con người ngàn thu vẫn xoay quanh một đề tài duy nhất và tình yêu muôn thuở vẫn gửi gắm về riêng một lời ước hẹn với Hữu Thể Sơ Nguyên. Và hết thảy mọi cái chết-mãi-mãi vẫn là tượng số siêu việt của duy-nhất-một-Hồn-Xuân hồi sinh trong tàn phế.
         Em mười sáu tuổi, với trực giác trong suốt hồn nhiên xin hãy đưa tay cho người thi sĩ. Chúng ta sẽ đồng thanh thưa lại với đời rằng: mười lăm năm bấy nhiêu lần hoen ố, mảnh quần hồng vẫn giữ vẹn một tấm gương… Có một cái nguồn nước đổ “Hoàng hà chi thủy thiên thượng lai” cứ chảy về bất tuyệt cho dạt dào xanh mãi những tâm hồn tình mộng thơ ngây.


Hai tình vẹn vẻ hòa hai
Chẳng trong chăn gối cũng ngoài cầm thơ
Khi chén rượu khi cuộc cờ
Khi xem hoa nở khi chờ trăng lên.

                        Nguyễn Du

         Mùa Xuân bất tuyệt đã trở về. Bao nhiêu mối tương xứng được hòa giải. Thôi không còn cỏ áy bòng tà. Thôi không còn cái điều bạc mệnh.

Những từ sen ngó đào tơ
Ngàn thu vô hạn bây giờ là đây

         Chạy đâu cũng không thoát nhé. Mùa Xuân đón đợi ta ở khắp các nẻo đường, em có thấy không. Mười lăm năm, nửa đời nếm trải… em Thúy vẫn trở về trùng ngộ với nguyên xuân. Pénélope vẫn còn chờ Ulysse trở về sau chiến cuộc mười mấy năm. Bờ bể Phéacie vẫn có kẻ chờ ai trôi giạt. Anh xin ghé về nhìn gương mặt Nausica. Nhìn sơ một lần, nhưng anh nhớ mãi. Trên tơi bời tro tàn gạch vụn, từ Iliade đến Odyssée, Homère vẫn dựng lên hình bóng Xuân Thơ Dại Ngọc Ngà. Anh sờ lên mái tóc mình sương lổ đổ, anh sực nhớ rằng mình cũng có mang đủ bụi hồng, bụi đỏ, đất đen: Xuân chạy giặc, Xuân tản cư, Xuân đốn củi trong rừng nghe ve núi khóc, Xuân phố thị lận đận lạc loài; Xuân Hậu Giang, Xuân Lục Tỉnh… Để bây giờ đối diện với mùa Xuân Mười Sáu của em:

Khuya nay mùa động đầu cành
Đồng trăng lục nhạt vàng thanh lối gần

         Phải rồi lối về vĩnh viễn có xa chi mấy đâu. Đồng trăng lục nhạt, đồng nội nhật quang lan, còn chờ ta mãi đó. Mùa động đầu cành lay lắt, hương mùa tư lự, em đã đem linh hồn gửi gắm, tôi cũng xin lựa lời thưa với cô bác: hãy vui lòng liều liệu thâu nạp giúp cho nhau.

BÙI GIÁNG


BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #856 vào: 07/08/2019, 12:16:47 »


                     Đường xuân luyến gót

                        HỚN hớn má đào đôi quả
                        Hây hây xuân thắm mười ba
                        Hé cánh song hồ êm ả
                        Hài xuân nhè nhẹ lướt qua
                                             ●
                        Từng bước noi lề kim cổ
                        Đôi bờ cỏ thánh hoa hiền
                        Bè bạn bốn mùa trăng gió
                        Rừng em suối chị giao duyên
                                             ●
                        Giấy mực đau lòng chữ nghĩa
                        Tài hoa phô giữa chợ đời
                        Những nghĩ e hồng thẹn tía
                        Chi cho bướm cợt ong cười
                                             ●
                        Mấy độ phai sương nhạt nắng
                        Mắt xanh còn luyến gót đường
                        Giữ chút niềm Trinh ý Trắng
                        Gởi lòng tri kỷ muôn phương


                                                        ĐÔNG HỒ



BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #857 vào: 07/08/2019, 19:21:06 »


                                Chúc hoa

                  NĂM cũ đã qua, đời thêm tuổi mới,
                  Lòng tha thiết như tình Xuân mời gọi.
                  Duyên ngân hà giăng bóng mát sơn khê,
                  Dập dìu hồn trong mộng tưởng đê mê.
                  Hoa gọi gió cành trăng trinh trắng lắm,
                  Đàn tình tự trời cao xanh thăm thẳm.
                  Chúa Xuân về hoa chúc mãi xinh tươi,
                  Đẹp một bình minh son sắt môi cười.
                  Rung điềm ngọc đi vào cung nguyệt yến,
                  Âm thanh réo rắt làn mây suối điện.
                  Lối đi quen Xuân nở kết toàn thơ,
                  Giữa trời hoa thơm mát tự bao giờ.
                  Nguồn thi vị dâng về tay tuổi trẻ,
                  Tình năm mới dạt dào men diệu thể.
                  Từ hôm nay phước lộc nở muôn mầu,
                  Hoa thời gian còn sót lại phương nao.
                  Về chia xẻ những ngọt bùi cay đắng,
                  Xóa hết buồn xưa cho nguôi thù hận.
                  Đẹp anh-hài giòng nhạc trổi phương phi,
                  Trên cánh đàn mây lọc nắng biên thùy.
                  Trăng diệu vợi nhả lời Xuân trang trọng,
                  Người tìm thấy hoài thiên thu khát vọng.
                  Chim tìm về cùng tổ ấm duyên xưa,
                  Nắng tươi hồng câu tình tự như mưa.
                  Tình nguyên thủy đậm đà hồn thạch bích,
                  Trào cung ý dịu dàng Xuân cảm kích.
                  Tạ ơn đời vạn thuở nụ đồng trinh,
                  Đi hái mùa thơ trẻ đẹp ân tình.
                  Trong những lúc Đông tàn nơi góc phố,
                  Bàng bạc sơn khê, kinh thành dang dở.
                  Xuân về đây lòng lữ thứ cô liêu,
                  Hồn là trăng nên nước biếc nuông chiều.
                  Bình yên mãi khúc trường ca dưới nguyệt,
                  Hoa lá nở gọi đàn Xuân diễm tuyết.


                                                              THANH AN



BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #858 vào: 08/08/2019, 12:39:53 »


Hát hoa
                                                thân tặng H, C, T, M, P, X,
                                   để mỗi người liệu lãnh phần mình

CÚC
Chợ giời mưa bụi gieo tơ
Cúc vàng cao giá đương chờ bán xuân
Thoảng đưa mắt, vội rời chân
Ngắm lâu chỉ ngại phai dần ý thơ


HỒNG
Hồng xuân sắp nở, tặng ai
Nhớ người năm trước hay cài tóc tơ
Mùa qua mây nước hững hờ
Hoa chưa ngỏ cánh, khách mơ nụ cười


LAN
Lan liền khép bóng hẹn hương
Gió xanh còn lạc về phương đậm hồng
Cuống đầm nâng giấc trắng trong
Đêm sương rớt ánh động lòng trăng sao


MAI
Đường xuân bước nắng chang chang
Đi tìm trắng cũ gặp vàng hôm nay
Cả màu hoa cũng đổi thay
Thấy mai chắc phải đợi ngày tuyết gieo


ĐÀO
Hội xuân khuất ráng hoa đào
Hoa đem tươi thắm đi chào gió đông
Vắng hoa thầm ủ nhớ mong
Gần hoa, lại ngẩn ngơ lòng mơ tiên


HUỆ
Đất ngầu nẩy áng băng trinh
Nõn ngoan mở gió dịu tình trắng lay
Tuổi thương đã mát giờ say
Nhường ai chưa biết vơi đầy sóng hương


Dịu, nồng, phai, thắm, non tươi
Mỗi bông mang một chút đời gửi mơ
Nở tàn, sắc nhuộm hồn thơ
Hương đưa gió nhị sang giờ gọi yêu

Hoa xui cuộc sống dâng triều
Xuân thương cây cỏ, cho nhiều chất xanh
Say màu, nét chẳng nên tranh
Thử ru hương sắc, may thành tiếng ca.

                               ĐOÀN THÊM



BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #859 vào: 08/08/2019, 19:31:35 »


                        Ông lão trồng hoa

                       CỨ mạnh thu là ông lão ấy
                       Bắt đầu cặm cụi với vườn hoa
                       Biết bao khó nhọc công lao vậy
                       Mới có màu xuân nở mọi nhà

                       Mưa bụi tung trời, ương hạt giống
                       Hòa phân, ủ đất để chờ hoai
                       Mầm lên, lá bé gây nguồn sống
                       Cứ mỗi ngày thêm một đốt dài

                       Thời tiết hợp rồi, con khá lớn
                       Lìa nhau ra chậu kiểng xinh xinh
                       Từ nay, ông lão thêm bề bộn
                       Chăm chút thân hoa rất tận tình

                       Sớm, dậy hong sương, trưa, chắn bóng
                       Chiều, lo xới gốc, tưới, gia màu
                       Đêm, đèn leo lét mờ lay động
                       Vạch nách, soi chồi diệt lũ sâu

                       Không thấy khi nào ông lão rảnh
                       Lưng còng cúi mãi lại còng thêm
                       Trên môi điếu thuốc buồn tro lạnh
                       Bát nước đầy vơi vẫn cạnh thềm

                       Khuyết mấy vầng trăng, hoa chớm nụ
                       Lả mình đón gió nhoẻn cười duyên
                       Từ xa ong bướm gom về đủ
                       Chớp cánh vờn quanh dệt cảnh Tiên

                       Hoa nở chưa tròn, bao kẻ ướm
                       Và, hoa giã biệt chị em yêu
                       Vườn vơi hoa cũng vơi ong bướm
                       Cho đến hôm nao… tuyệt dáng kiều

                       Hoa khắp mọi nhà phô sắc Xuân
                       Đời vui quên bớt nỗi gian truân
                       Còn đây; trơ mảnh vườn khô đất
                       Với chiếc lưng cong ngoại lục tuần

                       Buổi sáng đầu năm, pháo nổ giòn
                       Gật gù hít nhẹ khói thơm ngon
                       Khoan thai nâng tách trà; ông lão
                       Tiếc khóm hoa Xuân đã chẳng còn.


                                                   TRẦN HUYỀN ÂN



BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #860 vào: 09/08/2019, 12:31:33 »


                Dạ hội mùa xuân

                  XIN mời Em vào
                  Đây vườn hai mươi thế kỷ chiêm bao
                  Anh người gác dan
                  được Thượng đế tấn phong
                  do quả lành kiếp trước

                  Xin Em dìu dặt bước
                  Nhạc cất lên rồi
                  Nương vào nhau
                  theo vũ khúc nổi trôi
                  Hãy cho thêm Ánh sáng
                  soi rõ đời lứa đôi
                  Anh đưa em du ngoạn bốn phương trời

                  Ôi hào quang nhan sắc
                  đốt men tình lên hơi
                  Cuộc sống chung thân
                  hương nồng choáng váng
                  Sầu hận chết thiêu tay ngà mai táng
                  Điệp khúc cuồng chân dẫm buồn tủi nát tan.

                  Xin dìu Em đi cho nốt cung đàn
                  Hôm nay mùa Xuân
                  thời gian đứng chờ ngoài cửa
                  Hãy nhen thêm Ánh lửa
                  trong mắt ngời yêu thương
                  Tay siết tay chân xoắn nhịp nghê thường
                  môi bỏng hoa hôn
                  nụ cười rạng rỡ
                  hạnh phúc trĩu vai
                  dập dồn hơi thở
                  tuổi trẻ diễm huyền
                  nồng thắm giao duyên…

                  Xin mời Em vào
                  Đây vườn thi nhân thế giới trăng sao
                  Anh tôn Em lên ngôi Nàng Thơ
                  đời đời diễm tuyệt
                  Dạ hội mùa Xuân
                  xanh màu tóc biếc
                  Anh mở kho trời phân phát thương yêu
                  tự thấy mình giàu quá biết bao nhiêu…


                                                          HUY LỰC



BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #861 vào: 09/08/2019, 19:34:37 »


                        Nhìn trước nhìn sau

                     tôi dòm đời khi tuổi sắp hai mươi
                     nhìn trước nhìn sau thấy rõ ràng
                     những người đi trước sầu đeo nặng
                     những người đi sau sầu chưa tan

                     tôi dòm đời khi tuổi sắp hai mươi
                     thấy hay hay nhưng làm sao cười
                     như chuyện lớn lên rồi có vợ
                     cuối đời về đất lạnh nằm xuôi

                     tôi dòm đời khi tuổi sắp hai mươi
                     thấy vắng tan hoang ngụt đất trời
                     cha mẹ anh em dù đông đủ
                     mình tôi sao mối sầu không nguôi

                     ngập ngừng chân bước con đường vắng
                     mây trắng bay lên òa đất trời
                     tôi cúi đầu nghe mình nhỏ lệ
                     biết chuyện gì rồi cũng buồn thôi

                     rộng bể trời ơi cái chán chường
                     nhạt nhẽo cả những mối sầu vương
                     ôi từng đêm thức nghe xa vắng
                     về ngập trong hồn tự bốn phương

                     tôi dòm đời khi tuổi sắp hai mươi
                     đôi lúc còn mơ chuyện trên trời
                     đôi lúc cũng buồn chuyện xa xôi
                     khi biết trước sẽ đi về hủy diệt

                     vẫn biết thương nếu cha mẹ chết
                     vẫn thấy sầu khi nhớ người yêu
                     nhưng lòng tôi tình vẫn không đều
                     biết đâu được hỡi người tôi mến

                     vâng tình tôi thì cũng không nhiều
                     coi tất cả chỉ là bọt nước
                     vâng tất cả chỉ là bọt nước


                                               SAO TRÊN RỪNG
                                             (Những bài tình đầu)




BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #862 vào: 10/08/2019, 11:52:51 »


Bến sương

Thuyền ơi đỗ lại bến này
Nép bờ lau đợi mai ngày nắng lên
Đêm xuân trăng rãi đầu ghềnh
Giòng xa sóng cả lênh đênh mấy chiều
Lâu đài kỷ niệm mang theo
Vẫn thương chiều gió mùa reo độ nào
Đầy khoang một giấc chiêm bao
Cánh thơ hồ hải bay vào hư không
Mây trôi gợi ý phiêu bồng
Mai xuôi về cuối giòng sông, bến nào?
Thẳm mờ lốm đốm hoa sao
Nước reo, lau hái, trời cao, đêm dài
Thuyền sương quạnh quẽ chờ ai
Khuya lên nửa mảnh trăng cài đầu non
Nguồn xa thác réo mỏi mòn
Phải chăng tiếng núi gọi hồn trường giang?

                                     TƯỜNG LINH



BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #863 vào: 10/08/2019, 19:34:25 »


                                 Hương sắc

                    EM thường thắc mắc chóng già nua,
                    Cằn cỗi như cây héo cuối mùa
                    Bếp lửa; Đường kim; Bầy trẻ nhỏ,
                    làm phai ánh mắt, úa màu da.

                    Đâu mảnh lưng eo, suối tóc dài?
                    Đâu bàn chân ngọc bước khoan thai?
                    Mỗi lần hấp tấp về quê Ngoại,
                    Con dắt, con bồng… Em trách ai…!

                    Em đã cùng anh vượt quãng đồng,
                    Ruộng hoang nắng ngợp, buồn mênh mông.
                    ― “Em ơi, người vợ không sinh nở,
                    như đất âu sầu chẳng trổ bông”.

                    Họ là hoàng hôn đêm không trăng,
                    Nấn ná ngày xanh, chút nắng tàn.
                    Còn em chôn vội chiều sau núi
                    Cho những Rằm xinh ngự thế gian.

                    Ngô lúa, là Em, chẳng ngại già
                    Lá tàn cho đẹp trái, thơm hoa.
                    Bầy con thay mẹ phô hương sắc
                    Mắt sáng trần gian, Ý đậm đà.


                                               HOÀI HƯƠNG



BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #864 vào: 11/08/2019, 13:26:23 »


Cuộc phỏng vấn thứ hai của Bách-Khoa: Các nhà thơ, nhà viết truyện, nhà soạn kịch sáng tác như thế nào?

Vân Trang
              Tên thật: Nguyễn Huệ Trang.
              Sanh năm 1925 tại Phước Long, tỉnh Rạch Giá (Nam Việt).
              Chuyên về giáo dục nhi đồng, thường sáng tác theo hướng đi của Tân giáo dục, và truyện thường lấy cảm hứng cùng đề tài, nhân vật của ngành giáo dục mới này hoặc nếp sống, phong cảnh, nhân vật miền Hậu Giang
              Cộng tác với Bách-Khoa, Mai, Tiểu Thuyết thứ bảy.
              Đã xuất bản: Người ăn trộm (truyện giáo dục nhi đồng, 1957), Phụ huynh nên biết khi cho con em đi học; Người mẹ sáng suốt (cùng soạn với Thiên Giang, 1957).



         Anh Ngu Í,
         Tôi nghĩ không ra vì nguyên do gì anh đã lấy biệt hiệu là “Ngu Í” trong khi ai cũng thấy anh rất “Ranh Í” mà tìm những câu hỏi hóc búa và giữ vai trò “điều tra viên” thường trực. Hay tòa soạn đã chọn đề tài ấy và anh “Hội Í” thì cũng vậy. Đúng thế thì anh là người có “Ác Í”.
         Tất cả nạn nhân của anh, kẻ thì bị anh lấy khẩu cung, người thì phải làm tờ tự thú, nói chung ít ai thoát được cái lưới khai thác của anh.
         Lần này là lần thứ tám, anh vác cái lưới ấy tới nhà tôi. Kể cũng khá kiên nhẫn, đáng mặt nhà nghề! Tôi đã từng trả lời cho anh rằng về điểm thứ nhất tôi đồng ý với Phan Du, điển thứ hai thì đồng ý với… ai quên rồi! Nào anh có “Tinh Í”, thì thử đoán xem. Nếu đoán không ra thì rán đọc hết thơ này. Tôi trả lời “Tùy Í”, không theo thứ tự câu hỏi, vả chăng hiện giờ cũng chẳng nhớ đã bị hỏi những gì.


⎎ ⎎ ⎎

         Có một lần, chúng tôi lên chơi trại mới của thi sĩ Đông Hồ. Anh nói với chúng tôi rằng suốt ngày hôm qua anh làm thợ và làm khá lắm. Rồi anh kết luận: “Làm thợ dễ hơn làm thơ nhiều”.
         Vậy tôi cũng bắt chước mà nói rằng:
         ― Nuôi gà khỏe hơn viết văn nhiều!
         Tuy thỉnh thoảng nàng “Hứng” cũng có giúp đỡ đó, nhưng chỉ có một phần hứng mà thôi. Sau đó là phần toát mồ hôi. Chẳng trách các nhà văn chuyên nghiệp hầu hết đều ốm nhách ốm nhom, trong đó có “Ngu Í”. Vì viết văn mệt hơn kéo cày nhiều! Kéo cày mệt nhờ người khác thay được, chứ kéo chữ mà bí thì rán chịu lấy! Không ai giúp đỡ cho mình được dầu người ta có “Hảo Í” mười mươi.
         Khi nào tôi may mắn gặp một đề tài “Hạp Í” nàng Hứng thì viết dễ lắm. Dễ không có nghĩa là khỏe. Ngừng lại ăn cơm hay bị ai gọi chuyện gì thì nàng ta giận ngoe nguẩy đi liền, xong việc, cầu khẩn cũng không trở lại. Thế là phải kéo cày cho tới kết cuộc câu chuyện. Đôi khi đành bỏ dở chứ kéo cũng không nổi. Lạ lùng, đến khi bí thì văn chương thấy nặng nề không thua một toa gỗ súc, dù rằng cốt chuyện, tình tiết sẵn từ lâu, đã ở trong đầu, theo dõi cả trong khi làm, khi ăn, khi ngủ của mình, từ khi tôi có ý muốn viết một truyện với nội dung nào đó – ví dụ đề cao tính thiện của nông dân hay là muốn đả phá mê tín, hoặc trình bày một phương pháp giáo dục mới – thì tất cả tình tiết, câu chuyện, bối cảnh cứ lởn vởn như đang diễn ra trước mắt vậy. Tôi tự thấy như bị tách rời khỏi cuộc sống thực tại.
         Thế là phải viết. Xong mới lấy bình thường cho tâm hồn được.
         Đó là câu hỏi thứ mấy đấy, anh Ngu Í? và đã đầy đủ chưa? À, tôi nhớ còn có câu hỏi “viết cho mình hay cho thiên hạ?” Theo tôi thì cho cả hai đàng. Nếu chỉ viết cho mình không thì hãy viết nhựt ký. Mà nhựt ký chắc cũng muốn cho một người thứ hai xem để “Thỏa Í” mình và còn cần “Lĩnh Í” của người đó chứ, hở anh?
         Và viết cho người khác tức nhiên phải nên đặt vào đó “Thiện Í” gì ích lợi nhắm vào sự tiến lên cái tốt, cái phải của con người. Nhưng muốn làm cho được việc gì thì về phần mình cũng phải có cái hi vọng, ham thích, say mê, mang lại phần nào sung sướng cho chính bản thân – sự sung sướng tinh thần hay vật chất – thì mới có thể làm được mà làm mới thành công. Chứ cứ đặt có mỗi cái bổn phận khô queo, buồn tanh thì chắc việc gì cũng không làm được. Vả chăng, ai cũng bết phải tìm cái vui trong bổn phận.
         Đó chỉ là “Thiển Í” thôi, còn đúng và được hay không còn phải nhờ “Góp Í”.
         Còn có câu hỏi thích truyện nào của mình nữa phải không anh? Anh hết hỏi thích truyện nào của người rồi đến thích truyện nào của mình? May mà lúc trước tôi còn nhớ được truyện “Miếng thịt bò” của Jack London để trả lời anh, còn bây giờ tôi không nhớ truyện nào của tôi ra sao để trả lời cho đúng. Nhưng nói chung thì truyện nào tôi cũng thích lắm, nhưng chỉ thích khi đang xây dựng, và thích lắm lắm như vậy thì xây dựng mới xong được. Viết xong, đọc lại thấy quen quá, hết thích! Cầm tờ báo chỉ muốn đọc truyện của người khác xem nó ra sao, còn truyện của mình thì biết quá, biết rõ quá, đã gần thuộc lòng khi còn đang viết, đọc, sửa “chín mươi chín lần đổ mồ hôi” thì còn thích gì nữa! Có bài nào được khen, tôi mới đọc lại xem nó hay ho đến thế nào!
         À, tôi nhớ còn có câu hỏi khó nghe nhất là câu “Để cho bây giờ hay cho mai sau?” Từ các bậc thánh nhân dựng ra một triết lý, hay nêu ra một lý thuyết gì, mới định để cho nhân loại mai sau, chớ các cái gì thuộc về văn nghệ thì chắc ít dám nuôi cao vọng đó! Nếu mai sau mà vạn nhất nó còn tồn tại là tự cái phẩm chất, giá trị của nó vượt được sự đào thải của thời gian, của tiến bộ, chứ tác giả của nó bây giờ lo đuổi bắt cho được cái ảo ảnh cũng đã là mệt rồi.
         Vả chăng mấy ai bắt được mà chắc rằng có thể để lại cho mai sau!
         Sở dĩ tôi phải bỏ thì giờ để viết ba trang giấy này là vì e anh “cước chú” nhiều cái nguy hiểm vào dưới tên tôi đấy! Chính miệng anh đã thú ra cái “Mỹ Í” (!) ấy. Vậy, anh không được thêm gì…(1) Cám ơn trước.
         “Tệ Í” chỉ có vầy thôi.


VÂN TRANG




Bút Trà
              Tên thật: Nguyễn Đức Nhuận.
              Sanh năm 1900 tại làng Phổ An, huyện Tư Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi (Trung Việt), gốc người Bảo An, Quảng Nam.
              Làm báo, làm thơ.
              Đã cộng tác với các báo: Lục Tỉnh tân văn (1921), Đông Pháp thời báo(1923), Công Luận (1925).
              Đã chủ trương các nhật báo: Sài Thành (1929-31), Sài Gòn (1931-45)…
              Sau cuộc cách mạng 1945, chủ trương các nhật báo: Kiến Thiết, Ban Ngày, Điện Báo, Sài Gòn Mới (1947).



         Tôi đẩy cửa, bước vào phòng khách, một thế giới khác.
         Bên kia cửa, là ti quản lý báo hằng ngày bán chạy nhất nước Việt tự do, nhộn nhịp, ồn ào; bên này cửa: lặng im, và tôi sao liên tưởng ngay đến câu Kiều “êm đềm trướng rũ màn che”.
         Anh mời tôi ngồi, rồi hỏi tôi muốn uống gì.
         Lúc ấy, gần bốn giờ chiều. Quạt có chạy, nhưng không đuổi hết cái bức ra ngoài. Tôi nhìn anh: cà-vạt ca rô đỏ, đầu tóc chải bằng gom, bạc không mấy sợi, và ít nhiều nghĩ ngợi lộ ở đôi mắt đăm chiêu; mặc dầu buổi thiếu thời từng trải qua lắm cảnh phong sương, nhưng con người anh lúc nào cũng tỏ vẻ vui vẻ trẻ trung.
         ― Bốn mươi năm lăn lộn trong nghề anh đã chán cái nghiệp báo chưa?
         Anh lơ đãng nhìn lên trần:
         ― Anh đã nói đến cái nghiệp, thì dầu có chán cũng phải làm sao cho đừng chán.
         ― Nhưng có khi nào anh chán… thơ không?
         Anh rít mạnh một hơi thuốc lào, một tia vui hực lên ở khóe mắt.
         ― Người ta có thể chán giàu sang, người ta có thể chán đàn bà, nhưng không thể chán thơ được.
         ― Tại sao thế anh?
         ― Vì nàng Thơ là một nhân tình trẻ mãi không bao giờ già, một người nhân tình không bao giờ phụ ta, và lúc nào cũng sẵn sàng để an ủi, vỗ về ta.
         Rồi anh như chìm vào quá khứ.
         ― Đời tôi lúc trẻ cũng lắm gian truân. Nhà nghèo, cha mẹ mất sớm, bỏ xứ vào Sàigòn làm báo, rồi dạy học, thất nghiệp ba năm, xuống núi Sập đập đá, không tiền đóng thuế thân, bị bắt giam ở Long Xuyên. Ra khám vài tháng sau thì bị giam ca-sô rồi giải về nguyên quán vì bị tình nghi chánh trị.
         ― Chắc lúc nằm co trong khám nàng Thơ đã tìm tới an ủi, vỗ về anh.
         Anh gật đầu.
         ― Để tôi ngâm anh nghe bài thơ kỉ niệm thời niên thiếu, làm trong khám Long Xuyên, thu năm 1921.
         ― Anh cho biết nhan đề.
         ― Nhan đề thật thà lắm. “Không thẻ thuế thân, bị giam hai tháng”. Và đây ít câu thơ, tôi làm theo thể lục bát:
                           Nắng mưa trời có bốn mùa,
                           Riêng tôi cảm thấy một mùa xuân đen;
                           Chữ “nghèo” đi với chữ “hèn”,
                           Một bên đói lạnh, một bên khám đàng
                           . . . . . .
                           Lao tù tạm chốn nghỉ ngơi.
                           Vững lèo đâu ngại biển đời phong ba.
                           Sinh ta, trời há phụ ta.


         Anh dứt lời. Tôi nghĩ thầm: “Trời quả chẳng phụ người trai xứ Quảng này thật! Chưa bốn mươi năm qua mà người không tiền đóng giấy thuế thân ấy nay dư sức cất một rạp chiếu bóng vài chục triệu, và sống đời một ông hoàng nho nhỏ…”
         ― Thế còn khi thất nghiệp, lê giày khắp vỉa hè Sài Thành, anh cũng thơ với thẩn?
         Để trả lời, anh ngâm tiếp:
                           Cả ngày kiếm việc, mồ hôi toát;
                           Ai biết thiên đường ở vỉa hè!
                           Không sợ, không lo quân trộm cắp.
                           Kẻ nghèo giấc ngủ khỏe khòe khoe.


         ― Thế giờ giấc ngủ của anh có khỏe có khòe có khoe không?
         Anh đáp lại bằng cách rít mạnh một hơi thuốc lào và nhả khói, nhẹ nhàng.
         Tôi bèn hỏi ngả khác:
         ― Anh có nhớ anh bắt đầu làm thơ lúc nào không?
         ― Hồi còn nhỏ, anh à. Khi đi học chữ Hán với các ông Phạm Liệu, Đinh Văn Chấp.
         ― Chắc những bài thơ đầu của anh là…
         ― … những bài thơ tình.
         ― Rồi kế đó?
         ― Kế đó, tôi bỏ quê hương, sông đời giang hồ, tôi làm thơ cách mạng.
         ― Tại sao có sự chuyển hướng đó anh?
         ― Vì đã lớn khôn, vì sinh nơi vốn là một trong những lò cách mạng của dân tộc, vì đi ra được thấy được nghe…
         ― Và sau…
         ― Sau thì là thơ xã hội.
         ― Có phải vì lúc đó anh “kiếm cơm từng bữa… toát mồ hôi”?
         ― Phải. Hoàn cảnh xã hội và thân thế mình ảnh hưởng mạnh đến thi văn của mình.
         ― Còn như bây giờ, khỏi lo đến cái ăn, cái mặc, thì…
         ― Tuy ở cảnh sung sướng, nhưng tôi không quên những hồi đau khổ, vả lại, nhìn quanh mình, biết bao cảnh chẳng vui. Còn văn thơ của tôi, nào phải của tôi hết đâu, nó là của Sông, Núi nhiều hơn anh nhớ câu thơ cổ này chớ?
                          “Văn vô sơn thủy phi kì khí,
                           Nhơn bất phong sương vị lão thành.


         Chợt nhớ đôi điều, tôi vội hỏi:
         ― Tôi nghe các anh bạn già có nói khoảng 1934, lúc Phạm Quỳnh được vời làm thượng thư triều đình Huế, ông Marty, giám đốc sở Liêm phóng Đông Dương, có tỏ ý mời anh làm tham tri, mà anh từ chối vì anh thấy cây bút của con nhà báo quí hơn cái mũ cánh chuồn của kẻ làm quan. Xin anh cho biết thêm chi tiết.
         Anh phất phất bàn tay:
         ― Thôi, tôi xin anh. “Chuyện trăm năm cũ nhắc chi bây giờ!”
         Tôi xoay câu chuyện.
         ― Anh có nói hoàn cảnh có ảnh hưởng đến thi văn anh. Vậy chớ lúc báo anh chị tặng độc giả các kì quan trong vũ trụ cùng tranh lịch sử, có thờ đề, vịnh ở mỗi bức tranh, chẳng hay tác giả những vần thơ đó có phải là của anh chăng?
         Anh cười nhè nhẹ. Mặt anh tươi tươi và anh trẻ đi mươi tuổi.
         ― Tôi cũng có mà anh Thanh Phong cũng có. Nếu khi không, bảo tôi “đề Vạn lí trường thành”, “vịnh Đinh Tiên Hoàng”, thì tôi chịu. Nhưng gặp lúc báo ra, tranh ảnh sẵn, thì hứng có ngay. Tôi đọc anh nghe bài đề cảnh trước.
                           Xây lên Vạn lí trường thành.
                           Tần Hoàng đâu biết tội mình muôn năm!
                           Trường thành sức mạnh bao lăm.
                           Sao không biết lấy dân tâm làm thành?


         ― Còn đây anh nghe tôi vịnh “Đinh Tiên Hoàng”.
                           Oai nghi trên kiệu rế,
                           Chễm chệ trước cờ lau.
                           Khí phách từ khi nhỏ,
                           Vua mà thằng chăn trâu!

                           Dưới ngọn cờ Vạn Thắng.
                           Còn ai dám đương đầu?
                           Bao sứ quân ngã gục,
                           Vua mà thằng chăn trâu!

                           Quét sạch trời mây gió,
                           Đạp bằng cuộc bể dâu.
                           Cứu dân trong nước lửa,
                           Vua mà thằng chân trâu!


         Nhìn anh say sưa đọc thơ, quên cả người đối diện, tôi như quên hẳn mái tóc điểm sương, khi mới gặp, mà chỉ thấy một tâm hồn còn thừa sức để mà say với đắm, với nàng Thơ và với các nàng Tiên. Tôi xin anh cho biết quan niệm anh về thơ.
         ― Thơ phải cho dễ hiểu. Chữ phải rẻ, đừng dùng điển tích, hoặc có thì càng ít càng hay. Mình đừng quên rằng mình nói với người đồng thời. Như ở đất Sàigòn này. Đôi tình nhân xa nhau, người ở lại, kẻ qua mấy vạn trùng dương, thì không nên nhắc đến sông Tương, đến bến Tần Dương ở tận bên Tàu, vào thời xa lơ xa lắc nào, mà phải nói đến con sông Bến Nghé, bến đò Thủ Thiêm.
         Tôi cười, nối lời anh:
         ― Hoặc phi trường Tân Sơn Nhất!
         Anh cười cười, nhấp một miếng nước trà nóng, mơ màng một thoáng.
         ― Tôi còn có ý này. Hình ảnh gì người ta dùng, mình tránh đừng dùng. Mình phải đem phần mình vào cái gì mình sáng tạo chớ. Con của mình phải có cái gì của mình chớ. Anh nghĩ thời nguyên tử chúng mình mà ngồi lựa chữ so vần dệt từng câu thơ như Nguyễn Du trăm rưỡi năm về trước là hỏng. Nô lệ cổ nhân – dầu cổ nhân đó là bực thiên tài đi nữa – cũng chẳng nên. Mỗi thời có một cái hay của nó. Vả lại Nguyễn Du chỉ hưởng được một nền văn hóa Việt và Trung Hoa từ xưa tới đời ông thôi, còn bọn chúng ta giờ, còn hưởng thêm trăm rưỡi năm nữa, lại ngoài văn hóa Hán, Việt, ta còn thu thập tinh hoa của Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nhật… Sao ta lại “sợ” một Nguyễn Du mà cứ lo cóp ý, cóp lời ông ấy?
         Tôi làm thơ, có lắm câu bị các bạn cho rằng đã mượn của thơ Tây, thơ Tàu, Nhật ra đó là sự bất ngờ. Như hai câu:
                          “Thời gian mi hãy bay cho chóng
                           Mang gió đông về với cỏ cây.


         Có bạn cho tôi nhờ “Ô tempa! Supends ton vol” của Lamartine.
         Còn:
                          “Mưa tuôn giọt giọt vui mừng,
                           Bước vào mộng đẹp tưởng chừng cảnh tiên.


         Một bạn cho tôi dịch ý câu Pháp: “Il pleut de la joie”. Có người thân cho tôi “lấy” của Tùng Viên để biến làm của mình:
                          “Phải chi mình hóa ra sao
                           Nước, sao lấp lánh ôm nhau đêm dài


         Thật ra thì đó là một cuộc gặp gỡ tình cờ. Chớ lấy của người làm của mình, thôi tôi không khi nào làm.
         ― Anh hẳn làm thơ dễ dàng như làm báo?
         Anh nhìn tôi.
         ― Ai bảo với anh làm báo dễ? Nghề nào, nghệ thuật nào cũng có cái khó của nó. Với tôi, làm thơ, cực, cực thật là cực.
         ― Cực như gì anh?
         ― Cực như đàn bà đẻ. Mà còn đau hơn đàn bà đẻ nữa kia. Nhưng làm xong thì sướng ghê…
         ― Sướng như gì, anh?
         ― Không có cái sướng nào sánh bằng. Tiền bạc, nữ sắc, danh vọng đều không làm ta sướng bằng khi làm xong một bài thơ đắc ý mình ôm ấp từ lâu. Còn nhớ có lần tôi làm xong một bài thơ, thích quá tôi quên hẳn mình nằm bên một người đàn bà…
         ― … đẹp?
         ― Đẹp như mây mùa… thu…!
         ― Thế anh làm thơ có mau không?
         ― Mau thì vài phút. Lâu thì từ ba ngày trở lên. Tôi làm xong bài thơ về Phạm Hồng Thái, dài 400 câu, 5.000 chữ, hơn tháng mới xong, xong rồi sụt đến ba kí lô!
         ― Còn hứng đến, anh làm liền hay để đó?
         ― Làm liền chớ, kẻo mình quên mất. Xong mới gọt giũa.
         ― Thơ anh đăng, bị người ta chê, anh có tức không?
         ― Tức cái gì anh. Họ chửi, tôi cũng không khi nào buồn. Mình đưa thơ lên mặt báo hay in thành sách, thì nó đâu còn là của riêng của mình nữa.
         ― Còn như được khen là… thi bá?
         ― Khen đúng thì mình sướng; còn khen sai, hoặc quá lố, thì mình cũng ngại, cũng ngượng.
         ― Anh này, anh có thấy khi mình no đủ, mình làm thơ khó hơn lúc nghèo túng không?
         ― Cái đó cũng tùy. Với tôi, khi tôi làm thơ, tôi quên hết, quên cả sự nghiệp, quên cả giai nhân, mà chỉ nghĩ có thơ thôi.
         Rồi anh xăng tay áo sơ mi.
         ― Lúc hứng đến, tôi tìm chữ tìm vần thì tôi có nằm bên người đẹp cũng coi như không có…
         ― Kí lô nào! Tôi cười, tiếp; anh cũng cười theo, rồi giọng có phần hùng hơn.
         ― Một câu thơ lắm khi bằng vạn hùng binh. Anh nhớ bài La Marseillaise chớ. Mà điều khiển một chữ lắm khi khó hơn điều khiển một đạo binh!
         ― Anh có định xuất bản thơ anh để góp một tiếng lòng với thiên hạ?
         ― May mắn hơn một số anh em đồng hội đồng thuyền, tôi có đủ phương tiện, nhưng từ lâu tôi vẫn ngần ngại. Gần đây có vài bạn thân thúc đẩy, nên tôi sắp có chút quà xuân ra mắt anh em.
         ― Anh có thể cho biết tập thơ ấy tên gì.
         ― Tiếng bom Sa Diện, anh hùng ca. Ra ngoài này. Sẽ có Tâm sự ngàn thu, thơ xã hội và thơ vịnh sử. Tập thứ ba là Hương tình.
         Anh như trẻ lại. Tôi bèn bước sang cái thế giới… phấn hương Tình.
         ― Nghe anh em nói anh hay làm thơ tình, xin anh cho biết kinh nghiệm anh về loại thơ này
         Mắt anh như sáng lên
         ― Muốn làm thơ tình hay, phải nếm đủ vị của tình, chớ còn ngồi một chỗ mà tưởng tượng thì chỉ tạo thơ không hồn, không cảm được người khác. Theo tôi thì điều kị nhất của thơ tình, là đừng trụy lạc, cũng như thơ nghèo, làm sao đừng khiến người đọc bi quan, chán nản.
         ― Xin anh đọc cho nghe ít câu thơ tình của anh.
         ― Đây là hai câu tứ tuyệt:
                          “Anh hùng từ trước ai không dại,
                           Có dại chăng là với mĩ nhân.


         Và bốn câu thơ mới:
                          “Mưa rỉ rả, cõi lòng đầy tê tái
                           Của nỗi niềm, của đau khổ, của chờ mong.
                           Mỗi giọt mưa là cả suối lệ lòng,
                           Đừng khóc nữa, ông xanh, đừng khóc nữa…


         Nàng đọc câu thơ này, cho tôi tuổi tuy quá thời “tri thiên mạng” mà tâm hồn trai tráng như một chàng tuổi trẻ sắp lên đường đi quân dịch.
         Tôi toan hỏi anh Nàng là ai, thì bóng chị hiện ra ở cửa, hỏi anh về đôi việc cần về nghề báo. Tôi đứng dậy, cáo từ anh chị. Một mình xuống thang lầu chung cho dãy phố lầu đối diện chợ Bến Thành mà không khỏi bâng khuâng: hồi tưởng lại cũng một chiều nào, cùng ai ái ngại lên thang lầu này, để đến nơi mình vừa từ giã, lúc ở Trung hồi cư về, mươi năm về trước…


NGUIỄN NGU Í viết lại




Hoàng Trọng Miên
              Sinh năm 1918 tại Thừa Thiên (Trung Việt).
              Viết báo ở Sàigòn từ năm 1935.
              Viết kịch và làm kịch từ năm 1946.
              Đã xuất bản: Một giấc mơ ghê gớm (tiểu thuyết, Sàigòn, 1939), Trăng xanh huyền hoặc (tiểu thuyết, Hà Nội, 1940), Người thơ (tiểu thuyết, Hà Nội, 1940), Chiêu hồn (phê bình văn tế Thập loại chúng sinh của Nguyễn Du, Sàigòn, 1941), Việt Nam văn học toàn thư ((biên khảo, Sàigòn, 1959).
              Sắp in: Tác giả và tác phẩm Đông Tây cổ kim.
              Hiện làm giáo sư, trưởng ngành Thoại kịch trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ, thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục.



         Anh Ngu Í,
         Tôi xin khỏi trả lời thẳng vào ba câu hỏi của anh, vì lẽ ít thì giờ, mà nói cho đủ ý thì biết bao nhiêu trang giấy cho vừa. Tôi chỉ xin giới hạn trong vòng ít nhiều kinh nghiệm cá nhân về việc viết kịch.
         Tôi nhớ đến câu nói ý nghĩa đầy kinh nghiệm của một kịch tác giả Tây phương: “Bắt đầu người ta làm thơ, viết văn, rồi đến sau cùng mới soạn kịch”.
         Sáng tác kịch bản đòi hỏi những kinh nghiệm sống, những chất liệu dồi dào về con người, những nhận định chân xác về tình trạng và diễn tiến của đời sống xã hội, của thời đại. Tôi nghĩ rằng mỗi kịch bản là một bài toán về một tình trạng nhất định nào đó của con người, một trạng thái nhân sinh dựng lên thành một vấn đề tiêu biểu cần giải quyết.
         Đề tài kịch bản rất giới hạn, cũng như phạm vi hoạt động của nhân vật sân khấu thu hẹp ở trong không gian sàn gỗ, trong thời gian vài tiếng đồng hồ, với một phương tiện diễn đạt độc nhất: đối thoại.
         Tôi vẫn có cảm tưởng viết kịch cũng như viết luật, không thể thiếu mà cũng không thể thừa, từ cảnh lớp đến nhân vật, sự vô ra, lời nói, tất cả thành một toàn thể mật thiết và điều hòa như những nhạc khí trong một bản đại hòa tấu, không một bộ phận nào là vô ích và phần nào cũng cần thiết, đóng góp cho sự diễn tiến chung.
         Vượt quá phần kỹ thuật, kiến trúc vở kịch, người viết kịch hiện nay gặp phải khó khăn trong sự sáng tác.
         Thời đại chúng ta đã mang sẵn khá nhiều kịch tính và có một số vấn đề mâu thuẫn gay cấn, có thể khai thác thành kịch bản giá trị. Nhưng vì không có ban kịch trình diễn nên ít ai viết sẵn để gởi vào ngăn kéo. Hoàn cảnh thiếu thốn lại không thuận tiện cho kịch tác giả sáng tác để đấy, trong khi còn phải “lo sống”.
         Hơn nữa, về mặt tinh thần, soạn giả lại phải ngần ngại trong khi chọn lựa đề tài, sợ nội dung vấp váp những điều cấm kị.
         Ngoài ra, kinh nghiệm cho tôi thấy rằng trong khi sáng tác, kịch tác giả còn lo nghĩ cả đến việc thực hiện tác phẩm lên sân khấu, có đủ phương tiện cần thiết và diễn viên vững vàng để làm sống kịch bản của mình không?
         Một vở kịch viết ra, để mà diễn, còn xuất bản thành sách là phần phụ thuộc. Trong tình trạng phải lo toan nhiều việc, như đã kể trên, tôi cho là kịch tác giả phải can đảm, bất chấp nhiều lắm, mới hoàn thành được kịch bản.
         Quá khứ thoại kịch Việt Nam chưa được nửa thế kỷ tôi nghĩ rằng ngoài phần sáng tác, chúng ta cần phải phỏng tác nhiều kịch phẩm tiêu biểu nước ngoài để xây đắp cho sân khấu mới của mình. Vì thế mà tôi đã phóng tác một số kịch dài của Shakespeare, Molière, Sartre, Schiller, Goethe…
         Triển vọng của kịch bản sáng tác phần lớn do khả năng và hoạt động của sân khấu thoại kịch do sự đòi hỏi, của khán giả thoại kịch. Trong hoàn cảnh sân khấu mới phôi thai, mối tương quan ấy lại càng mật thiết.
         Có người mói rằng: “Nhìn vào sân khấu của một nước, có thể biết được trình độ văn hóa của dân tộc nước đó”. Ở các nước văn minh, chính phủ vẫn luôn luôn có phận sự nâng đỡ và trợ cấp hữu hiệu cho nền sân khấu quốc gia. Ví dụ như ở Pháp, sự phát triển mạnh mẽ và sâu rộng của kịch nghệ, cũng một phần lớn nhờ ở sự quan tâm của giới lãnh đạo, đã nhận thức được tầm quan trọng của sân khấu trong sự phát huy văn hóa.
         Tôi cũng hi vọng nước mình đã từng có các thời kỳ sân khấu rực rỡ như ở đời Trần, đời Nguyễn, có nhiều soạn giả và kịch phẩm xuất sắc ngày nay vẫn còn có giá trị đối với kịch nghệ cổ điển, một quốc gia thường vẫn tự cho là đã có mấy ngàn năm văn hiến, sớm vượt khỏi tình trạng chậm tiến để xây dựng một nền kịch nghệ xứng đáng.
         Có lẽ không riêng gì tôi, mà chắc các bạn viết kịch cũng đều mong mỏi ngày ấy, để “có đất dụng võ”.


HOÀNG TRỌNG MIÊN




Bùi Giáng
              Sanh năm 1926 ở Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam (Trung Việt).
              Dạy học, viết văn, làm thơ, soạn sách giáo khoa.
              Cộng tác với: Đời Mới, Giáo Dục phổ thông, Bách-Khoa, Mai, Định Hướng…



         Anh Ngu Í.
         Xin gửi anh vài kinh nghiệm và ý nghĩ riêng:
         Viết cũng như sống: Cần chút trật tự, điều hòa; ăn ít, ngủ nhiều. Đừng để những bực bội phá giấc ngủ. Thỉnh thoảng đi về Lục Tỉnh… (Con đường từ Long Xuyên xuống Châu Đốc đẹp lạ lùng.)
         Không hút thuốc lá nặng khói. Nên uống la-de, uống vừa phải.
         Tôi xin trở lại với giấc ngủ, vì vốn xem đó là cái tốt nhất trong đời. Nếu có thể, nên ngủ thật sớm (lúc 7, 8 giờ tối) để có thể thức giấc lúc 4, 5 giờ sáng. Ra đường đi dạo “lai rai” vài tua, hít thở nhịp nhàng, rồi trở về ngồi viết hoặc nằm viết.
         Đừng nên ngủ chung giường với một người nào. Hơi thở của họ sẽ chi phối nhịp thở của ta.


BÙI GIÁNG

____________________________________
(1) Sao câu này có vẻ “võ trang” thế chị? (Nguiễn Ngu Í chú)


BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #865 vào: 12/08/2019, 12:35:58 »


Điểm sách: Viết và đọc tiểu thuyết của Nhất Linh

Tên sách:  Viết và đọc tiểu thuyết
Tác giả:  Nhất Linh                       
Nhà xuất bản:  Đời Nay,  1961     

ĐẦU NĂM 61, trước khi cho ra hàng loạt tác phẩm, nào Mối tình “chân”, Dòng sông Thanh Thủy, Thương chồng, nhà văn lão thành Nhất Linh trình bày quan niệm của mình về Viết và đọc tiểu thuyết trong một tác phẩm biên khảo đầu tiên.
         Sách in chữ lớn, dày khoảng 100 trang, chia làm ba phần rõ rệt: Phần nhất, nói chung về tiểu thuyết, tác giả kể những lầm lỗi của mình trong khi sáng tác, bàn về lợi ích của tiểu thuyết để cuối cùng dẫn đến một câu định nghĩa về tiểu thuyết hay. Phần hai, nói về cách viết tiểu thuyết, tác giả đi vào chi tiết vấn đề, trình bày đại cương của truyện và cách xây dựng nhân vật. Phần ba, là đọc tiểu thuyết, tác giả nhấn mạnh vai trò độc giả trong sự xây dựng văn hóa.


⦁ ○ ⦁

         Ưu điểm đầu tiên của tác phẩm chính là giá trị hướng dẫn, một sự hướng dẫn cụ thể, giản dị xa hẳn những lối giảng giải uyên bác, khoa đại, thường thấy trong những con người mọt sách vốn dễ sợ hãi tác phong bình dị, lầm tưởng đấy là trạng chứng nghèo nàn nên thích nấp vào trong cõi trừu tượng, trong vỏ cầu kỳ để che đậy sự trống rỗng. Ông Nhất Linh đã cố “tránh dùng những chữ khó hiểu, những câu ý nghĩa tối tăm”, bởi vì ông không viết cho “một số ít ỏi có học thức cao, quen thuộc với những danh từ triết lý” (trang 7). Sự hướng dẫn của ông nhằm mục đích phổ biến rộng rãi, và thái độ ấy gần như phản ứng lại cái hiện tình văn nghệ vốn ưa những sự kiểu cách, tối tăm. Nhờ đó, người đọc có cái thú vị tìm thấy một sự sống thực đã được đúc kết thành những kinh nghiệm, và dễ có niềm tin tưởng khi nghĩ đến 40 năm từng trải trong nghề của chính tác giả. Người ta không chỉ đọc những lời văn, mà còn thấy được con người, không chỉ đọc những kinh nghiệm, mà còn thấy được sự sống. Vốn đủ tư cách hơn bất cứ ai để đem kinh nghiệm bản thân chứng dẫn cho sự trình bày, tác giả còn thừa mặc cảm tự tôn để làm một cuộc kiểm thảo, nói đến những ưu, khuyết điểm của mình. Do đó, ưu điểm thứ hai là trong lĩnh vực văn học tác giả đã đem vào một tinh thần mới mẻ để mà đóng góp thiết thực, chân thành.
         Nhưng quan niệm của một nhà văn lão thành có nhiều nhiệt tâm đối với văn học, ngày nay có thể giúp đỡ chúng ta đến mức độ nào? Và những ý kiến, những kinh nghiệm, dù là nặng về phổ cập, có thể soi sáng cho ta thấy được những gì?


⦁ ○ ⦁

         Trước hết, chúng ta tìm hiểu thiện ý tác giả khi viết về tác phẩm này, là nhằm phục vụ đối tượng đông đảo gồm hai loại người: những người viết văn và những độc giả. Về người viết văn, tác giả phân làm hai hạng: hạng mới vào nghề và hạng có nhiều tác phẩm. Những người mới bước vào nghề, theo như tác giả quan niệm, có thể rất là đông đảo: “Bất kỳ ai biết viết quốc ngữ, cho dẫu người đó viết văn sai mẹo hay không có học thức cao rộng, cũng có thể viết ra những tiểu thuyết có giá trị” (trang 7). Về phần độc giả, theo như tác giả mong ước, cũng không phải ít: “Những ai ít học không nên vì lý do ấy mà bỏ cái thú thanh tao đọc sách (…) và các bạn nghèo – tức là số đông – sẽ là những độc giả thúc đẩy mạnh nhất nền văn hóa nước nhà” (trang 10).
         Như thế, đối tượng của tác phẩm thật là vô cùng rộng rãi, bao gồm cả người sáng tác và người tiêu thụ ở mọi tầng lớp dân chúng. Nhằm một đối tượng như thế là vì tác giả có niềm tự tin và được thúc đẩy bởi một tinh thần trách nhiệm: “sau gần bốn mươi năm kinh nghiệm viết tiểu thuyết, trải qua bao nhiêu phen lầm lỗi và tìm tòi, tôi tự thấy có trách nhiệm giúp đỡ một phần nào vào sự cố gắng của hàng nghìn hàng vạn các anh chị em…” (trang 8).
         Đối với những thiện ý ấy, chúng ta đều muốn bày tỏ tấm lòng quí mến chân thành. Nhưng chúng ta không ngăn được nỗi hoài nghi ở trong nhiều điểm.
         Chúng ta dễ dàng đồng ý với tác giả rằng “chỉ có những người thợ, người dân quê mới dễ viết tiểu thuyết về đời sống của họ” (trang 9) và muốn viết văn “cái chính là cần có khiếu riêng, cái khiếu ấy có thể có ở bất cứ giới nào, người làm thợ hay người làm ruộng, nhưng xưa nay không nẩy nở ra được chỉ vì cái thành kiến trưởng giả cho văn nghệ, tiểu thuyết là một thứ cao siêu dành riêng cho một hạng người” (trang 8). Trên một nhận thức thuần lý, những ý kiến này thực là xác đáng, tiến bộ. Nhưng giá trị của một nhận thức chỉ có thể kiểm chứng ở trên thực tế mà thôi.
         Thiết tưởng, vấn đề chính yếu không phải chỉ là nói lên cái thành kiến ấy, cái sự thực ấy, bởi vì bao nhiêu điều đó đã được nói đến từ lâu lắm rồi. Hiện tình văn nghệ đòi hỏi thanh toán cái thành kiến ấy, chứng minh cái sự thực ấy, và những người có ý thức xây dựng xã hội – trong số đó các người cầm bút là một lực lượng đáng kể – phải thành tâm góp sức giải quyết vấn đề một cách thiết thực bằng những phương tiện có thể đạt được của mình.
         Ở đây, tác giả chỉ nêu lên sự kiện đó với một thái độ hoàn toàn không có trách nhiệm. Sau khi nêu lên, cơ hồ tác giả như thấy quần chúng đã làm văn nghệ được rồi, có thể tìm ra cái thú thanh tao đọc sách được rồi. Và tác giả vội vàng góp sức chỉ vẽ cách đọc, cách viết. Nhưng giữa vấn đề tác giả quan niệm và sự thực hiện quan niệm còn có một khoảng cách xa thăm thẳm. Khoảng cách xa ấy, tác giả không chịu đi cùng chúng ta mà vội đằng vân giá võ lướt qua rất chóng. Vì thế, trong khi tác giả đứng bên kia bờ truyền đạo thì đa số chúng sinh chưa đóng kịp bè vượt biển mà sang.
         Một sự dẫn giải phần lớn rơi vào hư vô vì không nhằm đúng đối tượng, không phải là thiếu nhiệt thành, nhưng mà phí nhiều sức lực, chỉ đưa đến cái tác dụng giải tỏa lương tâm của chính bản thân người viết. Nói thế là vì chúng ta thảy đều thấy rằng ở trong hiện tình, vấn đề phải được đặt ra cách khác, giải quyết bằng một cách khác. Xét trên thực tế, người làm thợ, người làm ruộng thiếu hẳn đồng tiền mua sách, không có thì giờ đọc sách, nói gì đến chuyện viết văn? Phỏng họ viết được, thì ai sửa chữa, ai chịu đăng tải, ai chịu xuất bản? Và xuất bản được thì bán cho ai? Chính ngay quyển Viết và đọc tiểu thuyết đã được mấy người bình dân biết đến? Và với số trang thế ấy, giá tiền thế kia, vị tất đã có mấy người mua được? Và mua được rồi, chưa hẳn hiểu ý trong sách, mặc dầu tác giả đã nói ở ngay trang đầu: “Đây là cuốn sách viết để bất cứ người nào cũng có thể hiểu được miễn là biết đọc chữ quốc ngữ”. Chúng ta khó lòng mà tin như thế, bởi vì hiểu đượcđọc được, là hai việc khác nhau xa lắm. Một quyển sách dễ hiểu không phải ở chỗ dễ đọc (sách nào mà chẳng dễ đọc, nếu in rõ ràng?) mà ở quan niệm trong sách, ý tưởng trong sách và ở cách thức lập luận, trình bày.
         Nói thế, thực không có ý phủ nhận giá trị tác phẩm mà chỉ muốn xác định rằng, đối tượng theo như tác giả quan niệm là một đối tượng hoàn toàn không tưởng. Tác giả chỉ muốn tìm đến chứ chưa đi đến. Giá trị của nhận thức làm đầu mối cho tác phẩm chỉ là giá trị của sự mong đợi chứ không phải một giá trị thực hiện. Cho nên xét trên thực tế, tác phẩm có thể dẫn đến hai cái hiện tượng trái ngược: Một là, về phần tác giả, một số vấn đề có bị đơn giản hóa, trở thành khó khăn trong sự diễn tả. Hai là, về phần độc giả, thì cái đa số mà tác giả nhắm vào có lẽ không thể đọc được tác phẩm nhưng chính thiểu số tác giả ít chú tâm đến, lại đi tìm hiểu tác phẩm.
         Tác giả có thể trả lời cho chúng ta rằng: Đứng trên cương vị nhà văn, tác giả chỉ nên trình bày những gì liên thuộc trực tiếp đến nghề cầm bút mà thôi. Làm cho quần chúng có ăn, có học, có sách và có thì giờ để xem là phần việc của nhà chính trị, của nhà xã hội, tác giả không thể ôm đồm, bao biện, ra khỏi biên giới của mình. Tác giả chỉ hướng về phía tương lai, nghĩ được những cái sẽ có, phải có, là quá đủ rồi.
         Câu “anh hàng giày xin chớ lên trên hàng dép” của chàng họa sĩ Apelle ngày xưa không phải là một quan niệm hoàn toàn đúng đắn. Nhất là ở trong lĩnh vực văn nghệ mà nhiệm vụ chính là mô tả con người và các phương thức sinh hoạt của nó thì cái ý thức văn chương thuần túy không còn tồn tại được nữa. Hơn nữa, một tác phẩm biên khảo có nhiệm vụ hướng dẫn cụ thể cho một đối tượng thì phải nhìn thấy cái đối tượng ấy rõ rệt, cũng như một người thợ may áo không thể ước lượng ni-tấc về một khách hàng tưởng tượng. Nhưng ở đây, vấn đề không phải đơn giản là vậy. Sở dĩ chúng ta nhận xét đối tượng tác phẩm có cái tính chất không tưởng là vì sự nhận định về đối tượng có tương quan mật thiết đến vấn đề đặt ra cho đối tượng ấy. Nói cụ thể hơn, tác giả quan niệm về người độc giả của mình thế nào thì cái quan niệm sáng tác của chính tác giả vạch ra cho họ cũng mang tính chất phù hợp. Và kẻ độc giả đã là trừu tượng, thì lẽ dĩ nhiên quan niệm văn nghệ cũng thành trừu tượng.
         Do đó, ngay từ đầu tác phẩm, nói về lầm lỗi của người cầm bút, tác giả cho rằng khuyết điểm lớn nhất là không lấy sự viết hay làm điều chính yếu. Kể ra nếu chỉ có bấy nhiêu thôi, thì là quá đúng. Quá đúng y như câu nói của ông thầy võ trong kịch Molière: “Bí quyết nghề võ là làm thế nào đánh trúng kẻ khác và để kẻ khác đừng đánh trúng mình”. Nhưng làm thế nào đánh trúng, cũng như phải làm thế nào viết hay là chuyện thiên nan vạn nan có thể đánh đổi cả một cuộc đời mà chưa đạt được. Chắc rằng ngày xưa không phải tác giả không nghĩ như thế, (bởi vì đã viết thì ai chẳng muốn viết hay), nhưng vì chưa biết cách nào để làm cho hay đấy thôi.
         Vậy thì muốn hay phải làm thế nào? Trước hết, tác giả gián tiếp trả lời trong câu định nghĩa: “một cuốn sách hay phải có giá trị trong không gian và thời gian” (trang 39).
         Thực ra, câu đó không phải là một tiêu chuẩn hợp lý. Chưa nói tính chất mơ hồ, nghi-nghĩa của tiếng “không gian” và tiếng “thời gian”, (bao nhiêu dặm đất mới tạo nên không gian ấy, bao nhiêu năm tháng cho thời gian kia?) câu định nghĩa trên chỉ có tác dụng đối với tác phẩm đã qua chứ không tác dụng đối với tác phẩm hiện tại. Với định nghĩa này, người ta đành phải bó tay trước những công trình trước mắt và đành trối trăng cho lớp con cháu về sau phê bình tác phẩm bây giờ. Nhưng một khi tác phẩm còn được truyền tụng đến con đến cháu chúng ta thì nhất định nó hay rồi, cần gì phải có cái tiêu chuẩn ấy! Bởi vậy yêu cầu trước nhất là phải xác định cho được giá trị hiện tại, vì mọi sự vật đều có giá trị tương đối và chính giá trị trước mắt trực tiếp liên hệ đến cái đời sống chúng ta, cho nên nó là quan trọng hơn cả. Chúng ta quả có yêu mến đồ cổ nhưng chính các đồ cổ ấy sở dĩ tồn tại về sau là vì thời nó người ta không đập vỡ đi, bởi đã biết rằng nó là xứng đáng để lại. Tóm lại, một định nghĩa như vậy chỉ có ý nghĩa đối với những người ham chơi đồ cổ mà thôi. Và không có một kẻ nào lại đem câu ấy để mà tiên đoán cho những tác phẩm hiện tại, bởi vì chưa ai ở trên đời này có cái tự kiêu vô lối đem mình thay thế lịch sử và quần chúng được.
         Có lẽ tác giả cũng thấy một câu định nghĩa như thế thật là khó lòng đứng vững, trải qua không gian và qua thời gian vì nó thoát ly thực tế trước mắt, cho nên tác giả dẫn đến một câu định nghĩa thứ hai tỉ mỉ hơn nhiều. Chúng ta có thể nhắc lại sau đây:

        “Những cuốn tiểu thuyết hay là những cuốn tả đúng sự thật cả bề trong lẫn bề ngoài, diễn được một cách linh động các trạng thái phức tạp của cuộc đời, đi thật sâu vào sự sống với tất cả những chuyển biến mong manh, tế nhị của tâm hồn bằng những chi tiết về người và việc để làm hoạt động những nhân vật cùng hành vi, cảm giác và ý nghĩ của họ.
         Những cuốn đó cần phải do sự thành thực của tác giả cấu tạo nên, viết bằng một lời văn giản dị, không giảng giải nhiều và không phải hay chỉ vì cốt truyện
” (trang 45).

         Câu định nghĩa này vừa làm tiêu chuẩn cho người thưởng thức cũng như cho người sáng tác, có một tính chất qui nạp công phu chứng tỏ giá trị của sự suy nghiệm tìm tòi. Nhưng vì xuất phát trên một quan niệm trừu tượng, cho nên nó vẫn mang nhiều khiếm khuyết căn bản.
         Tác giả nói đến “sự thực cả bề trong lẫn bề ngoài” “trạng thái phức tạp của cuộc đời” “đi thật sâu vào sự sống” “biến chuyển tế nhị của tâm hồn” nhưng làm sao thấy được sự thực ấy, trạng thái ấy, biến chuyển ấy, thì suốt tác phẩm tác giả không giúp cho ta được ý kiến nào. Đọc câu định nghĩa trên đây ta tưởng chừng như những tiếng “sự thực”, “tâm hồn”, “sự sống” đều có tính cách mơ hồ tổng quát, bất chấp không gian lẫn cả thời gian. Đành rằng nhà văn có tài phải đạt cho được tính chất trường tồn vĩnh cửu cho tác phẩm mình, nhưng một tác phẩm muốn đạt tính chất vĩnh cửu phải được xuyên qua thời đại của mình. Không có con người trừu tượng, cuộc đời trừu tượng, tâm hồn trừu tượng, mà chỉ có con người cụ thể, tâm hồn cụ thể, cuộc đời cụ thể mà thôi. Nhưng sở dĩ có cái quan niệm “con người muôn thuở”, là vì người ta nhìn thấy những nét tương đồng ở trong một số vấn đề căn bản của người, chẳng hạn vấn đề ăn uống, yêu đương, thù hận… Thật ra, trên một điều kiện sinh hoạt nào đó có những tương quan giống nhau thì cách quan niệm vấn đề có thể giống nhau, nhưng sự biểu hiện đều mang thể cách suy cảm của thời đại ấy và sự phản ứng của cá tính ấy. Nếu không gắn liền với thời đại mình và sống thiết tha với nó, nhất định người ta không sao thông cảm sâu xa sự sống chung quanh, không đi vào được những người đồng thời và nhất định là tác phẩm không có sự sống, chỉ tạo được những nhân vật ước lệ, hời hợt. Như thế, yêu cầu trước hết của tác phẩm là thời đại tính. Tính chất thời đại ở đây không phải là cái tinh thần phục vụ chính trị cấp thời, giai đoạn, mà chính là sự trình bày những con người cụ thể, tiêu biểu đang sống. Có qua khỏi cửa thời đại mới mong đi vào cái cửa trường cửu. Bỏ thời đại tính, nhất định giá trị tác phẩm chỉ là hư vô. Người ta không thể quan niệm tính chất trường cửu ngoài cái tính chất thời đại, cũng như không thể quan niệm có ngọn mà không có gốc. Trong một đoạn, tác giả nhắc lại tác phẩm Đoạn Tuyệt và lấy làm tiếc là mình ngày xưa không cố viết hay cho nên “sự hoan nghênh của những chuyện đó, nhất là Đoạn tuyệt, những lời khen ngợi của các nhà phê bình đã làm tôi sau này khó chịu một cách thành thực” (trang 20). Tác giả khó chịu một cách thành thực, nhưng sự khó chịu ấy có hợp với sự thực khách quan không, lại là một điều khác nữa. Ở đây, chúng ta có thể thấy rằng sự khó chịu ấy nói lên hai cái sự kiện tâm lý: một là khát khao tuyệt đối, như tâm trạng chung của người văn nghệ chân chính luôn luôn bất mãn với mình; hai là sự phản ứng đối với xã hội hiện tại, âm thầm từ chối một cái thái độ gắn bó đối với thực tại, bởi vì Đoạn Tuyệt chứng tỏ rõ rệt thái độ gắn bó, bênh vực cuộc đời. Do hai sự kiện tâm lý này phối hợp nên sự khó chịu của tác giả có hơi quá đáng, bởi vì khách quan mà xét, thì sự hoan nghênh của các nhà phê bình không phải là không chính đáng. Lý do là một chừng nào Đoạn Tuyệt đã đạt tính chất thời đại. Nếu tác giả mô tả linh hoạt hơn thì hẳn tác phẩm sẽ còn hiệu lực nhiều hơn đối với người đọc, nhưng Đoạn tuyệt cũng đã thể hiện cao độ những sự cố gắng ngày xưa của chính tác giả. Ngày nay, Đoạn Tuyệt đã thành ra một tác phẩm lịch sử, chiếm một chỗ ngồi ở trong chương trình giáo dục, và lựa chọn ấy không phải là không hợp lý. Mãi về sau này, cái gì còn lại của ông Nhất Linh, sẽ là Đoạn Tuyệt mặc dù nó còn khá nhiều khuyết điểm, mặc dù ông còn khó chịu nhiều thêm.
         Còn bộ Dòng sông Thanh Thủy chắc rằng chỉ vài năm nữa là không mấy ai còn nhớ tới sự có mặt của nó. Điều đó thật là giản dị. Nếu Loan và Dũng ở trong Đoạn Tuyệt chừng nào đã phản ảnh được tâm trạng thời đại của mình, thì Ngọc và Thanh trong bộ Dòng sông Thanh Thủy và những tâm trạng vá chắp buồn cười. Các nhân vật này mang cái hình hài của những con người thời tiền cách mạng, nhưng chứa tâm trạng của một tầng lớp trí thức sau ngày hiệp định Genève.
         Tóm lại, khiếm khuyết thứ nhất trong câu định nghĩa về tiểu thuyết hay của tác giả “Viết và đọc tiểu thuyết” là không xác định tính chất thời đại, không thấy được tầm quan trọng và cái vai trò quyết định của nó. Ngoài ra, tính chất thời đại đòi hỏi nơi người cầm bút một tính chất khác hết sức thiết yếu, đó là tính chất tiêu biểu. Nhân loại đã trải qua ba giai đoạn văn học lớn lao và mỗi giai đoạn có một quan niệm riêng biệt về xây dựng con người ở trong tác phẩm. Văn học cổ điển chỉ có mục đích “chở đạo”, cốt dùng văn chương làm một lợi khí truyền bá đạo đức, cho nên nhân vật của tác phẩm xưa chỉ là những thứ ước lệ, rất đỗi hoàn toàn để mà tượng trưng trung hiếu tiết nghĩa. Tác phẩm cổ điển không có những con người thực mà chỉ có con người kiểu, những con người giả, con người tiêu chuẩn mà thôi. Cho nên muốn thấy những con người thực trong tác phẩm xưa có lẽ phải tìm trong các nhân vật phụ thuộc, nghĩa là trong những loại người mà tác giả ít quan tâm hơn, và cái trách nhiệm luân lý của họ không có bao nhiêu, chứ khó lòng tìm trong nhân vật chính, bởi vì loại nhân vật này phải chở đạo đức lút đầu lút cổ khiến những quả tim, khối óc của họ bẹp nát cả rồi. Cũng bởi lẽ đó mà nàng Thúy Kiều – một nhân vật chính có nhiều vẻ sống hơn cả – đã bị các cụ ta xưa mắng lên mắng xuống nhiều phen, mặc dù đáy lòng các cụ có thể ấp ủ hình ảnh của một Kiều-nhi tương tự.
         Khi nền văn nghệ lãng mạn trỗi dậy thay thế cho nền văn nghệ cổ điển, thì các nắp lò tình cảm được mở tung ra, và những con người ẩn ức bấy lâu bị sự chèn ép của các tiêu chuẩn đạo lý, bây giờ vồ vập đón lấy sự sống, a-sấm vào các ngõ ngách cuộc đời. Những con người tạm gọi là tự do ấy, có vẻ đông đảo hơn xưa nhiều lắm. Các tiểu thuyết mặc tình nói đến con người yêu đương, con người đau khổ, con người mơ mộng và bệnh hoạn, và chết chóc, nghĩa là chỉ cốt chú trọng khía cạnh cảm xúc phóng túng của những cá nhân riêng lẻ, cho nên nhân vật ở trong tiểu thuyết không còn phải làm mẫu mực, không còn phải làm tiêu chuẩn, nên có tính chất cá biệt, và sự cá biệt làm họ trở nên khuất lấp ở trong số đông vạn trạng thiên hình.
         Nhưng nền văn nghệ ngày nay đã cùng tiến với khoa học, chính trị trong sự tìm hiểu con người, lấy sự tả thực làm một phương pháp chính yếu. Giá trị của một tác phẩm văn nghệ cao hay thấp, thâu hẹp hay tỏa rộng là do tác phẩm ấy phản ảnh sâu sắc, trung thực về các con người trong xã hội hay không, có giúp người đọc tự hiểu thêm mình cũng như hiểu thêm về các cảnh đời hay không. Nhưng làm sao thấy được những con người thực, làm sao để cho nhân vật trở nên sống động, có một sự sống lâu bền? Và trong cuộc đời đông đảo, biết chọn lựa ai mà nói bây giờ? Đến đây, vấn đề trở nên phức tạp, đòi hỏi một sự nhận định thật là dứt khoát, cụ thể.
         Tác giả Viết và đọc tiểu thuyết đã bày tỏ gì về các điểm này? Trước hết, xét trên tính chất căn bản, tác giả thừa nhận phải nói sự thực, nghĩa là tán thành lập trường tả thực. Và tả những ai, tác giả cho rằng cứ việc lựa chọn trước mắt và chung quanh ta, vì ta có cả hàng trăm hàng nghìn mẫu người ở trong cuộc đời. Làm sao để cho nhân vật linh động, sâu sắc, có một sự sống lâu bền, tác giả khuyên ta quan sát cho kỹ vì về hình thức thì “không có một người nào giống người nào cũng như có muôn ức triệu lá cây không có lá nào giống một lá nào” (trang 52), còn về ý-tình của họ, thì “ta đem chính lòng ta mà suy nghĩ. Câu “suy bụng ta ra bụng người” phải là câu châm ngôn của các tiểu thuyết gia” (trang 52).
         Thiết tưởng viết tiểu thuyết là tả cuộc đời trong đó hầu hết là tả con người (trang 52) mà quan niệm theo như tác giả thì không tránh khỏi những điều mơ hồ và những lầm lẫn.
         Mơ hồ là vì người viết không có một chỗ dựa nào cụ thể để mà quan sát nhân vật, nhất định phải bị hoang mang trong sự lựa chọn.
         Lầm lẫn là vì quan sát con người, tác giả đặt nặng vấn đề hình thức mà không chú trọng nội dung. Theo lập luận tác giả thì chỉ có cái bên ngoài là khác nhau thôi – cũng như muôn triệu cái lá không có cái nào giống với cái nào – còn về nội dung thì sự khác biệt không gì đáng kể cho nên mới “lấy bụng ta để suy bụng người”. Đó là quan điểm hình thức, chỉ phản ảnh được những cái vỏ ngoài đa dạng một cách hời hợt, không sao thấu triệt được hết con người – Thật ra, vấn đề nội dung nhân vật được chỉ định rất nhiều bởi những điều kiện sinh hoạt và cùng một lối sinh hoạt như nhau người ta mới dễ có mối tương đồng trong sự cảm nghĩ. Sự cảm nghĩ ấy được biểu hiện ra bằng lời nói, bằng cử chỉ, bằng cách phục sức, nghĩa là hình thức của một nhân vật vẫn biểu hiện được nội dung nhân vật một cách cụ thể, đồng thời cũng giới thiệu luôn tầng lớp sinh hoạt của nhân vật ấy. Cái vỏ bên ngoài của một công chức vẫn giúp cho ta thấy rõ chừng nào tinh thần của công chức ấy và nói lên được chừng nào những nét tiêu biểu của giới công chức. Một người lơ xe đò, một người học sinh mẫu mực, một tên du đãng, một cô con gái nhà lành, đều có những cái hình thức riêng biệt của họ, và hình thức ấy biểu hiện nội dung của nhân vật ấy, đồng thời cũng giúp cho ta thấy được ít nhiều về hạng học sinh mẫu mực, hạng lơ xe đò, hạng gái nhà lành… Trong khi quan sát con người, quan điểm hình thức của ông Nhất Linh đã thoát ly hẳn sinh hoạt, không lấy điều kiện sinh hoạt làm tiêu chuẩn chính để mà nhận định nhân vật.
         Chúng ta đều thấy, mỗi một con người đều có hai phần riêng biệt: một phần gồm những màu sắc cá biệt, một phần gồm những màu sắc xã hội, tức là màu sắc do sự sinh hoạt tạo thành. Vậy muốn mô tả con người cho thật sâu sắc, linh động, tất nhiên phải phân biệt rõ được hai điều ấy ở trong một người, tức là phải thể hiện được cái cá biệt tính đồng thời với xã hội tính.
         Về xã hội tính, muốn tả nhà giáo ta phải quan sát nhiều nhà giáo khác chứ không thể đi quan sát phiêu lưu, chỉ tạo nên những chiếc áo tạp sắc của Arlequin. Phải lấy tiêu chuẩn sinh hoạt để mà quan sát, Gustave Flaubert bàn về tả thực cũng đã nhấn mạnh điều này. Sự quan sát về nhiều con người chung một điều kiện sinh hoạt cũng sẽ cung cấp bao nhiêu tài liệu quí giá về loại người ấy, về lớp người ấy, bởi vì trong khi quan sát ta sẽ loại bỏ những gì không tiêu biểu được cho điểm chung ấy.
         Sở dĩ ta phải quan sát nhiều người cùng trong điều kiện sinh hoạt tương tự để lấy những nét tiêu biểu cho sinh hoạt ấy, tổng kết lại trong một người, là cốt để cho người đọc – ở những loại hạng khác nhau, trình độ khác nhau – dễ gặp lại mình qua nhân vật ấy (nếu cùng chung một sinh hoạt) hoặc dễ nhìn ra kẻ khác qua nhân vật ấy (nếu không cùng chung sinh hoạt). Thiếu một khả năng tổng quát hóa trong khi thể hiện, nhân vật trở nên lờ mờ, thiếu sót. Nói một cách khác, phải đạt đến xã hội tính, nhân vật mới có chiều rộng, mới tạo nên sự cảm thông và chỉ cần một ít nhân vật tiêu biểu đủ dựng được một cảnh đời bề bộn, phức tạp. Nếu không, nhân vật sẽ bị mất hút trong đám nhân sinh hỗn độn và không nói lên được một cảnh nào cho thật rõ ràng.
         Nhưng chỉ đạt đến xã hội tính, tức là chỉ vẽ được nét tiêu biểu trong một nhân vật, thì nhân vật ấy có thể trở thành một thứ công thức trừu tượng, một thứ nhân vật ước lệ kiểu mới. Gọi ước lệ kiểu mới là để phân biệt với những con người ước lệ kiểu cũ ở trong văn học cổ điển. Ngày xưa, tính chất ước lệ hoàn toàn dựa vào tính tình, tư tưởng một cách trừu tượng, và nhân vật được chia làm kẻ trung, người nịnh, kẻ xấu, người tốt ở một tổng số loại hạng nào đó mà thôi. Còn ngày nay, sự ước lệ dựa vào những thói quen, những nề nếp cảm nghĩ và những phản ứng tất nhiên của nó, tạo thành bởi cuộc sinh hoạt thiên hình vạn trạng, cho nên tương đối phong phú, cụ thể hơn nhiều.
         Để tránh một thứ ước lệ kiểu mới chỉ tạo nhân vật có mỗi thứ xã hội tính, tức là những loại nhân vật đại diện khái quát, không đúng với con người thực, cần phải thêm vào trong nhân vật ấy tính chất cá biệt. Nghĩa là, trong mỗi nhân vật, ngoài cái nhãn hiệu chung nói lên hoàn cảnh sinh hoạt nào đó, còn có cái nhãn hiệu riêng làm bằng cấu tạo di truyền riêng biệt, phản ứng riêng biệt. Chính cá tính này làm cho nhân vật có cuộc sống riêng ở giữa một cuộc sống chung, y như mọi con người thực ngoài đời. Điểm quan trọng nhất là xã hội tính của nhân vật phải được biểu hiện qua cái màu sắc cá biệt, chứ không tách rời một cách trừu tượng. Chẳng hạn, bản sắc mực thước của ông công chức A không thể giống như của ông công chức B, tinh thần sách vở của ông giáo X cũng khác với ông giáo Y.
         Nhận định như vậy, tức là không thể tách rời hình thức ra khỏi nội dung, cũng như không thể quá thiên về một bên nào. Hình thức (tức là biểu hiện của nội dung) vẫn có tính chất cá biệt và cái tính chất xã hội của nó, y hệt như nội dung vậy. Chẳng hạn trong ba bốn người thợ máy vẫn có người lùn, người cao, người mập, người gầy, đó là một nét cá biệt về phần hình thức, nhưng trong thể cách ăn mặc, nói năng, đi lại, ngoài những sở thích cá biệt, cốt cách cá biệt, ta vẫn tìm thấy những điểm tương đồng, quen thuộc của lớp thợ máy, tức là tính cách xã hội của họ.
         Ông Nhất Linh đứng trên quan điểm hình thức và trên quan điểm cá nhân chủ nghĩa chỉ nhìn thấy những con người ở cái bề ngoài rời rạc, nên có nhận định trừu tượng, chủ quan, về mặt nội dung.
         Câu “suy bụng ta, ra bụng người”, trước khi muốn thành một cái tiêu chuẩn cho người học viết, cần được hạn chế rất nhiều. Khác hẳn thể cách sinh hoạt, con người không sao cảm nghĩ hoàn toàn như nhau. Tục ngữ Tây phương có câu: “Il semble à un larron que tout le monde lui ressemble” có thể tạm dịch bằng câu tục ngữ của ta “Bụng mình có thói gian tà. Mà mình lại nghĩ người ta như mình” đủ chứng tỏ rằng, nếu suy bụng ta ra bụng người, thì sẽ phạm phải không biết bao nhiêu lầm lẫn.
         Có thể nói rằng lập luận trên đây của ông Nhất Linh gián tiếp thừa nhận quan điểm nghệ thuật tháp ngà, nghĩa là có thể ngồi yên một chỗ để mà suy tưởng ruột gan thiên hạ. Không, người ta cần phải từng trải, tìm sống, tiếp xúc để mà cảm thông nhiều cảnh, nhiều người, mới mong nói lên được những tâm trạng kẻ khác. Do đó, viết tức là sống, sống cả chiều rộng và cả chiều sâu của cuộc đời mình. Văn nghệ là sự trao đổi kỳ diệu, nghiệt ngã, nhưng mà công bình. Nghiệt ngã là vì khó lòng “làm chơi ăn thiệt” mà những tác phẩm lớn lao đòi hỏi đánh đổi rất nhiều sự sống. Công bằng là vì người ta chỉ tìm thấy được những gì người ta mang đến mà thôi. Nhưng một khi sự sống đã được nhồi đúc trong lò sáng tạo thì đã biến hóa khí chất để thành một cuộc sống mới có những khả năng, quyền phép, tạo sự kỳ diệu của những công trình nghệ thuật.
         Nếu ta liên hệ đến nhân vật chính trong bộ tiểu thuyết mới nhất, lớn nhất của ông Nhất Linh – tác phẩm Dòng sông Thanh Thủy ¬– chúng ta nhận thấy cậu Ngọc cô Thanh chỉ có đôi nét cá biệt mà thiếu nhiều nét xã hội, tức là tiêu biểu. Người đọc không biết Ngọc là trí thức hay là công nhân, cách mạng hay là lãng tử, cũng như cô Thanh ở vào một tầng lớp nào rõ rệt. Các nhân vật ấy không có nguồn gốc xã hội cụ thể, và chỉ là những nhân vật không thực, khiến cho người đọc khó chịu, không giúp cho ta tìm gặp gì hết ngoài cái vấn đề gượng ép, mơ hồ mà chính tác giả bắt các nhân vật chuyên chở.
         Nhưng thấy được các con người ở trong hoàn cảnh thời đại cụ thể, thấy được tính chất xã hội, tính chất cá biệt cùng những cảm nghĩ của các nhân vật, vẫn chưa thể hiện sâu sắc nếu không nhìn thấy vấn đề của các nhân vật.
         Vấn đề của các nhân vật là những tương quan quyền lợi vật chất hoặc tinh thần đã ràng buộc các nhân vật ở vào những thế tranh đối, va chạm, cần phải tìm cách giải quyết cho được thỏa đáng. Vấn đề phát sinh từ sự bất ổn trong các điều kiện nhân sinh, luôn luôn hướng về một thể quân bình tương đối. Mỗi người phải bị ràng buộc vào nhiều vấn đề, nào là sinh kế, yêu đương, chính trị, văn hóa… và trong một vấn đề lớn lại có không biết bao nhiêu là vấn đề nhỏ. Chẳng hạn, trong một vấn đề yêu đương còn có vấn đề liên lạc, vấn đề tín nhiệm, vấn đề sức khỏe… cho nên có thể nói rằng cuộc sống là một quá trình liên tục của sự phát hiện và sự giải quyết vấn đề. Chính khả năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấn đề làm nên giá trị của một con người. Kẻ sống an nhàn ít phải tiếp xúc vấn đề hơn là người ham hoạt động, một kẻ nhu nhược để mặc cho điều kiện khách quan của những vấn đề quyết định lấy họ, khác hẳn với nghị lực, sáng suốt, luôn luôn tìm cách làm chủ tình thế, làm chủ vấn đề.
         Khi người cầm bút viết lên một cảnh tình nào là đã thể hiện vấn đề rồi đó. Một khi tác phẩm có một vấn đề đóng vai trò chủ điểm và buộc một sự giải quyết cụ thể, dứt khoát thì đấy là loại tác phẩm luận đề. Văn chương cổ điển hầu hết gồm những tác phẩm luận đề, nhưng luận đề ngày xưa có tính phiến diện, tổng quát, thiên về luân lý, khác với luận đề ngày nay đề cập đến nhiều sự kiện phức tạp và có nhận định cụ thể, sát thực nhiều hơn.
         Một số tác phẩm luận đề sở dĩ bị sự công kích là vì người viết khi phát hiện vấn đề cũng như giải quyết vấn đề đã quá gò ép nhân vật chạy theo quan niệm của mình, bất chấp cả những qui luật khách quan chi phối sự sống nhân vật. Nhà văn sau khi tạo ra nhân vật thì vừa điều khiển nhân vật lại vừa lệ thuộc nhân vật. Xưa nay có một số người cầm bút chỉ thấy mỗi phần điều khiển mà quên hẳn phần lệ thuộc. Không có sự điều khiển nào thật sự hiệu quả mà không gắn liền với sự vâng lời. Chính nhận định này nói lên tinh thần dân chủ ở trong văn nghệ, bởi vì trong các tác phẩm cổ điển ý thức xây dựng nhân vật thật là hết sức độc tài. Gọi rằng độc tài là vì nhà văn toàn quyền nhất định nhân vật, nhà văn tự do ban phước giáng họa dựa theo sở thích chủ quan của mình và bất chấp đến điều kiện thực tế của các nhân vật. Một người đáng yêu như nàng Thúy Kiều hay nàng Nguyệt Nga thì dù có nhảy xuống sông, xuống biển cũng vẫn ngâm câu trường thọ, còn một Lý Thông hay một Trịnh Hâm thì đi bất cứ nơi nào, mùa nào cũng bị sét đánh hay là cá nuốt.
         Ngoại trừ một loại tác phẩm luận đề máy móc như vậy, chúng ta có thể suy rộng hơn nữa để xác định rằng tất cả tác phẩm văn chương đều là tác phẩm luận đề, gồm trong hai loại: tác phẩm luận đề gián tiếp và tác phẩm luận đề trực tiếp.
         Gọi là luận đề trực tiếp hay tích cực là những công trình nghệ thuật có một chủ điểm khá rõ và mọi chi tiết đều qui về chủ điểm ấy, lấy sự thực hiện chủ điểm, giải quyết vấn đề làm một băn khoăn chính yếu. Ngoài ra, các tác phẩm khác, bất luận là tác phẩm nào, cũng đều nói lên một số vấn đề, và dù không có giải quyết cụ thể, ít nhất nhà văn cũng có thái độ trong cách trình bày hoặc là phản đối, hoặc là tán thành, hoặc là lưng chừng, hoài nghi không có ý kiến dứt khoát. Như thế, trong các tác phẩm loại này, phần luận đề không được nhận diện rõ ràng nơi phần kết thúc mà được khám phá ở trong toàn thể công trình, nên ta có thể gọi đó là những tác phẩm luận đề gián tiếp hay là tiêu cực.
         Chúng ta phải đi khá xa như vậy chỉ cốt xác nhận sự quan trọng đặc biệt của vấn đề ở trong tác phẩm, và đấy là điểm mà ông Nhất Linh không đề cập đến trong tập biên khảo của mình. Vấn đề của những nhân vật chi phối nhân vật và có sự sống độc lập ngoài các nhân vật. Người ta có thể cho rằng không có con người trừu tượng, con người lẻ loi mà chỉ có con người của các vấn đề. Tách rời nhân vật ra khỏi vấn đề, tức là tách rời ra khỏi sự sống và cũng là chuyện phi lý, không thể thực hiện. Bởi vậy, dù không còn thích viết loại truyện tiểu thuyết luận đề, Dòng sông Thanh Thủy lại là tác phẩm luận đề, một thứ luận đề thụ động, giả tạo. Thực ra, vấn đề của tác phẩm đã được ông Nhất Linh nêu lên trong mục các việc xảy ra (để tránh dùng chữ “cốt truyện”) nhưng ông không thấy đúng tầm quan trọng của nó và mối liên hệ của nó đối với nhân vật. Ông bảo “cốt truyện không có gì là quan trọng (…) cần có cái đại cương là đủ rồi” (trang 65). Những tiếng không có gì là quan trọng cũng như có cái đại cương quả là mơ hồ hết sức.
         Nhận xét thực tế văn nghệ hằng ngày, ta có thể thấy hai cái sự kiện mâu thuẫn sau đây: một số nhà văn chuyên nghiệp viết những truyện dài đăng các nhật báo thường bịa đặt những câu chuyện tình tiết éo le, gay cấn để mà câu dẫn người đọc và họ tách rời ra khỏi thực tế trước mắt, vì chỉ chú trọng vấn đề mà không chú trọng con người. Ngược lại, một số nhà văn không phải chuyên nghiệp, quá thiên về sự phân tích tỉ mỉ con người, dẫn dắt độc giả lan man vào trong ngõ ngách tâm hồn và cũng tách rời tác phẩm ra khỏi sự sống vì chỉ chú trọng nhân vật mà không chú trọng vấn đề. Vậy thì quá thiên về những vấn đề mà quên con người cũng là sai lầm như quá thiên về con người mà quên vấn đề. Nhà văn có tài thể hiện đầy đủ con người và vấn đề của con người một cách sống động, và tùy theo từng vấn đề mà nên có nhiều tình tiết hay ít tình tiết đó thôi. Không thể lẩn thẩn nói rằng đừng nên chú ý cốt truyện mà cũng không thể nông nổi cho rằng phải nên chú ý cốt truyện. Tả những va chạm éo le ở trong xã hội, làm sao mà không có cốt truyện được? Tả một nỗi buồn, một niềm vui, ít nhiều thắc mắc tâm tư, cần gì phải xây dựng nhiều tình tiết? Ông Nhất Linh đặt nhẹ cốt truyện là đã nhận định vấn đề một cách phiến diện. Cốt truyện Thủy Hử rắc rối là vậy mà vẫn không kém nghệ thuật là vì nhân vật cùng với vấn đề của tác phẩm ấy đã được xây dựng trong một nhận thức tổng hợp, bằng những chi tiết điển hình. Nếu gạt bỏ cốt truyện ấy đi, thử hỏi còn lại cái gì về các con người? Chỉ là một đoàn quân ma biểu diễn mờ nhạt dưới cái lá cờ buồn thảm là đầu đề sách mà thôi. Và chính vấn đề ở trong Dòng sông Thanh Thủy quan niệm không được rõ ràng, hợp lý, cho nên cậu Ngọc cô Thanh đều là nhân vật giả tạo.
         Tóm lại, bàn về xây dựng nhân vật, tác giả Viết và đọc tiểu thuyết vấp phải bốn sự thiếu sót sau đây: một là chỉ thấy tính chất trường cửu mà không nhìn thấy tính chất thời đại, hai là chỉ thấy con người riêng lẻ mà không nhìn thấy con người xã hội, ba là chỉ thấy cảm nghĩ cộng đồng mà không nhìn thấy cảm nghĩ cá biệt, bốn là chỉ thấy con người mà không nhìn thấy được vấn đề của những con người. Tác giả khuyên bảo người ta phải viết cho hay, nghĩa là phải viết cho sâu sắc, nhưng trong phương pháp đề ra, thiếu thốn quá nhiều điều kiện căn bản để tạo nên sự sâu sắc. Cho nên, người ta không phải ngạc nhiên khi nhận thấy rằng tiểu thuyết của ông Nhất Linh – nhất là những sáng tác phẩm sau này – không hề có sự sâu sắc chút nào mà chỉ có được những nét tinh tế lẻ tẻ trong cách quan sát bên ngoài nhân vật.


⦁ ○ ⦁

         Thiết tưởng chỉ cần tìm hiểu trên câu định nghĩa về tiểu thuyết hay chúng ta đủ nhận định rõ toàn bộ quan niệm văn nghệ của ông Nhất Linh có một giá trị thế nào. Tác giả bị cái tinh thần cá nhân chủ nghĩa hạn chế mọi sự suy tưởng nên chỉ nhìn thấy vấn đề văn nghệ một cách thụ động, tách rời ra khỏi sinh hoạt, thoát ly ra khỏi nội dung, rơi vào các vết xe cũ của những quan điểm hình thức, quan điểm cục bộ, quan điểm không tưởng, biến đổi văn chương thành một khu vực an toàn của kẻ dư nhàn hưởng thụ. Cố nhiên là một quan niệm văn nghệ như vậy khó lòng mà được chấp nhận, nhất là đối tượng tác giả nhằm vào là quần chúng đông đảo. Do đó nói về cách viết và đọc tiểu thuyết – tức là phần hai, phần ba – ở trong tác phẩm, tác giả phải bị lệ thuộc vào nhận định trên nên không tránh được khuyết điểm tương tự. Cũng như bố cục tác phẩm, ngay trong phần đầu, đã có nhiều sự lộn xộn, phản ảnh tình trạng nhận thức thiếu sót. Nếu tác giả khởi sự nói rõ vì sao người ta viết những tiểu thuyết rồi liên hệ với trường hợp của bản thân mình để cho vấn đề được thêm cụ thể, lý thú, sau đó sẽ nói đến ích lợi của tiểu thuyết, và thế nào là tiểu thuyết hay, rồi cuối cùng nêu lên những điều lầm lẫn của mình trong khi sáng tác, thì chắc độc giả dễ dàng lĩnh hội vấn đề hơn cả. Đằng này tác giả bắt đầu bằng cái tiểu đề Những điều lầm lỗi nhưng lại không thấy một lỗi lầm nào, đến cái tiểu đề Tiểu thuyết hay nhưng chẳng thấy sự hay ấy ra sao, rồi mới đến các phần khác, không theo một trật tự nào hợp lý.
         Tuy vậy, nếu không tán thành quan niệm văn nghệ của ông Nhất Linh người ta vẫn chẳng vì thế mà không nhìn thấy thiện chí của một ngòi bút không hề ngừng nghỉ, tác phong trung thực của một con người biết mổ xẻ mình, thái độ khiêm tốn của một nhà văn có nhiều uy tín và trên hết là tinh thần tích cực của một con người tuổi tác không muốn rời xa bạn trẻ, không quên trách nhiệm đối với tiền đồ văn nghệ.


CÔ PHƯƠNG THẢO


BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #866 vào: 13/08/2019, 11:23:10 »


                        Con, mùa Xuân của Ba
                                      Gởi con Nguiễn Hữu Tuiền

                           TRƯA nọ, Ba về trễ
                           Dọc đường bánh xe bể
                           Cả buổi học trò ồn
                           Ba mệt vô số kể.

                           Trời lại nắng chang chang
                           Mồ hôi chảy thành hàng
                           Ba thèm một bóng mát
                           Ba nhớ Con vô ngần

                           Được nhìn đôi mắt trong
                           Được siết Con vào lòng
                           Được hôn Con trăm cái
                           Tức mệt thành số không.

                           Nhưng khi Ba vô nhà
                           Con trố mắt nhìn Ba
                           Ba giơ tay rộng mở
                           Con ngoảnh mặt rồi la…

                           Ba ôm Con, Con hất
                           Hai cánh tay Ba ra
                           Rồi Con lại khóc rống
                           Như Ba chẳng phải Ba!

                           Có cái gì đè nặng
                           Lên tấm lòng của Ba
                           Có cái gì sụp đổ
                           Trong cõi hồn của Ba.

                           Bàn tay lạnh của Ba
                           Phát đít Con một cái
                           Từ miệng đắng của Ba
                           Thốt ra một tiếng:… “Đồ…!”

                           Ba ngơ ngác giây lâu
                           Rồi Ba bỗng cúi đầu
                           Để mình rơi xuống ghế
                           Mắt mờ nhìn vào đâu.

                           Con ơi! Con bé dại
                           Con có biết gì đâu!
                           Hắt tay Ba rồi khóc
                           Con nào biết Ba đau!

                           Người ta chẳng hiểu Ba
                           Đường Ba, Ba vẫn bước
                           Nhưng Con hắt hủi Ba
                           Ba làm sao chịu được?

                           Nên Ba mới đánh Con
                           – Lần đầu mà lần chót –
                           Nên ba mới mắng con
                           – Tiếng đầu mà tiếng chót.

                           Con nhỏ dại của Ba
                           Mới hơn mười tháng tuổi
                           Hãy tha lỗi cho Ba
                           Đã làm con đau tủi.

                           Lại đây cho Ba áp
                           má Con vào má Ba
                           Cho nước mắt Con chan hòa
                           Với mồ hôi Ba nhễ nhại.

                           Rồi nín nghe Ba hỏi:
                          “Con tha lỗi Ba chưa?
                           Trả lời mau đi Con,
                           Con, mùa Xuân của Ba…”


                                     T. T. Tân Sửu (1961)
                                     NGUIỄN HỮU NGƯ




BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #867 vào: 13/08/2019, 20:11:40 »


Bọt sóng

Thôi về rũ áo hiên ngoài
Ủ bàn chân lại ngủ dài đêm thâu

Mai qua phố của sương mù
Một khoang xe nhỏ người thu dáng ngồi

Đường lên rừng – vết máu tươi
Dưới chân rỉ sắt bụi trời đỏ hoe

Bỏ rừng khoan gió nằm nghe
Đêm đồng nội khói thuốc che mặt người

Cầu cô đơn nước dòng trôi
Mù khơi bến bắc mù khơi chiếu nằm

Dài theo giấc ngủ vắng không
Vết chân người bọt sóng đong đã đầy

                                 NGHIÊU ĐỀ



BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #868 vào: 14/08/2019, 11:17:51 »


                            Đêm giao thừa

                       MẤY năm lạc loài đất khách.
                       Đêm nay pháo nổ giao thừa,
                       Vời vợi nỗi niềm ly cách,
                       Chạnh lòng bỗng nhớ quê xưa.

                       Quê xưa chừ đây tan tác,
                       Xóm làng bụi phủ tang thương.
                       Tết nầy đành vui đạm bạc,
                       Linh đài hiu hắt trầm hương.

                       Quê xưa mẹ già vò võ,
                       Xác xơ một mái tranh nghèo.
                       Chờ con mỗi chiều nắng đổ,
                       Thương về ngày tháng cheo leo.

                       Quê xưa, người yêu tuổi nhỏ,
                       Chờ tôi hay đã lấy chồng?
                       Hay đã chết rồi không rõ!
                       Hay là vẫn mỏi mòn trông!

                       Ở đây miền Nam sán lạn,
                       Miền Nam cuộc sống tưng bừng,
                       Phố phường tràn đầy ánh sáng,
                       Người người nô nức đón xuân.

                       Miền Nam lúa đồng đang trổ,
                       Xuân về mở hội trăm hoa,
                       Giao thừa nằm nghe pháo nổ,
                       Cô đơn lòng kẻ xa nhà.

                       Bao giờ chiến tranh chấm dứt,
                       Tôi về thăm lại quê xưa,
                       Tôi sẽ cúi đầu hôn đất,
                       Quê hương thương mấy cho vừa.

                       Em ơi! Chờ anh xuân tới,
                       Anh về kể chuyện đêm nay.
                       Vui xuân cùng nghe pháo nổ,
                       Đôi ta cất chén cùng say.


                                      VŨ QUỲNH QUANG



BÁCH KHOA |  SỐ 122

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #869 vào: 14/08/2019, 21:42:57 »


Lục bát

Thôi em dỗ giấc ngủ về
đêm đang rời rạc bốn bề yên vui,
mưa nghe buồn rộng đất trời
xe lên phố nhỏ trông đời thanh xuân.

Thôi em dỗ giấc ngủ gần
nẻo xa chim đậu quen thân buồn phiền,
tóc dài song cửa, mái hiên
tay co hạnh phúc trăm miền dưới kia.

Cây quên, bóng lụi, sinh thì
một vai áo lạnh vai đi dần dần,
thôi giờ, ở lại yên tâm
dỗ tương lai chịu hồi âm về đời.

Ngủ buồn em, ngủ buồn thôi
đêm mai, của biển, chân trời, phố xa.

                                  VIÊN LINH



BÁCH KHOA |  SỐ 122