Tác giả Chủ đề: Viện Viễn Đông Bác Cổ, EFEO và kho sách quý hiếm về Việt Nam  (Đã xem 7431 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai


Lênh đênh thân phận Geisha tại Đông Dương

Số phận của nhiều bé gái Nhật Bản, xuất thân từ những gia đình nghèo, lênh đênh tới nhiều khu vực ở châu Á. Thay vì bán họ vào những khu phố đèn đỏ ở Nhật Bản, các băng đảng buôn người đưa họ sang Hồng Kông, Thượng Hải, hay bán đảo Đông Dương, Singapore, thậm chí tới tận Madagascar.

Một geisha Nhật Bản chơi đàn shamisen (đàn ba dây),
vào khoảng năm 1870

HOẠT ĐỘNG mại dâm của những thiếu nữ này xuất hiện tại Đông Dương vào khoảng những năm 1820. Theo nhà nghiên cứu Frédéric Roustan, giảng viên tại đại học Aix-Marseille (Pháp), khởi điểm có thể là vào năm 1823 cho tới những năm 1920 khi họ già đi và không có người thay thế. Nói chung, những bé gái có số phận hẩm hiu này chủ yếu phục vụ khách hàng người Nhật Bản và người phương Tây.
            Bác sĩ Emile Laurent miêu tả lại những thiếu nữ Nhật Bản này tại Đông Á và Đông Nam Á trong bài “Những đêm ở Bangkok” (Les Nuits de Bangkok), được đăng trong tập Tài liệu lưu trữ về nhân chủng học hình sự, tội phạm hình sự và tâm lý học và bệnh lý (Archives d’Anthropologie criminelle, de Criminologie et de Psychologie normale et pathologique, tập 22, NXB Masson et cie, Paris, 1907):

            “Giờ chúng ta có thể gặp họ khắp các thành phố ở vùng Viễn Đông, những cô bé đến từ một nước nghèo nhưng lại sinh đẻ nhiều. Từ Hồng Kông tới Thượng Hải, họ có mặt khắp nơi. Tại Sài Gòn hay Phnompenh, các cô gái này có địa vị cao hơn, sống trong những căn nhà tiện nghi, trong khi cô bé An Nam ưỡn ẹo ngoài phố còn cô gái Cam Bốt bán thân trong những túp lều tồi tàn. Chính vì vậy, có sự đối kháng và cạnh tranh giữa hai nhóm người”.

            Dù được người phương Tây thời đó gọi là “geisha”, nhưng thật sự họ chỉ là những cô gái “buôn hương bán phấn” xuất thân từ nông thôn. Họ cũng không được đào tạo những bộ môn nghệ thuật mà một geisha thực thụ phải nắm rõ.
            Tại Đông Dương, để tạo chút không khí mang hơi hướng Nhật Bản trong chốn lầu xanh và để khẳng định “đẳng cấp” với những cô gái bán hoa bản địa, các “geisha” cũng chơi, hay đúng hơn là “gảy” vài ngón đàn truyền thống Nhật Bản. Các cô cố tạo ra hình ảnh một geisha mà các quan chức phương Tây vẫn mường tượng và dĩ nhiên là không thể đạt tới trình độ như vậy.

Gái bán hoa cao cấp?
            So với những cô gái người Việt cùng số phận hẩm hiu, “geisha” người Nhật được coi là gái mại dâm cao cấp và có giá đắt hơn. Khách hàng của họ thường là những quan chức người Pháp, người châu Âu hay người Nhật Bản, hay một số người Trung Quốc và dĩ nhiên là không có khách hàng người Việt. Ông Frédéric Roustan cho biết theo một vài chi tiết được nêu trong cuốn tiểu sử về Phan Bội Châu, nhà yêu nước đã từng thăm một “phòng trà geisha”.

            “Vào khoảng cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX, các “geisha” Nhật Bản có mặt ở nhiều nơi, đặc biệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng và Sài Gòn.
            Ở thủ đô Hà Nội, “geisha” Nhật Bản tập trung tại khu phố cổ, chủ yếu là phố Hàng Đồng (rue du Cuivre), Hàng Mã, Hàng Chén (rue Vieille des Tasses) hay Đường Thành (rue de la Citadelle).
            Còn tại Hải Phòng, các cô tập trung gần khu phố người Hoa, về phía đại lộ Bonnal (nay là phố Phan Bội Châu), đại lộ Chavassieux (phố Nguyễn Đức Cảnh) và đại lộ Paul Bert (đường Quang Trung). Ở Sài Gòn, họ sống chủ yếu ở đại lộ Catinat (đường Đồng Khởi) và phố Boresse (đường Yersin).
            Ngoài ra họ cũng hành nghề tại các vùng có doanh trại của người Pháp như ở Lạng Sơn. Tại khu vực biên giới này, vào đầu thế kỷ XX chỉ nhỏ như một ngôi làng, có riêng một khu phố với nhiều nhà chứa Nhật Bản xuất hiện ngay từ những năm 1890. Trong những năm 1930, người Pháp đặt tên là “Phố Nhật Bản” dù các “geisha” không còn hoạt động nữa”
.

            Theo ông Frédéric Roustan, các “geisha” Nhật Bản tại Việt Nam có thể xoay sở với một chút vốn tiếng Việt, song thường xuyên sử tiếng Pháp hơn vì khách hàng của họ chủ yếu là người Pháp và họ rất ít khi giao thiệp với người Việt.
            Nhà nghiên cứu người Pháp cũng tìm thấy một tài liệu ghi chép của bác sĩ Emile Laurent, khá lý thú, ghi lại những lời thóa mạ giữa một cô gái làng chơi người Việt và một “geisha” Nhật Bản vào một buổi tối ngoài phố Sài Gòn, trong khi giành khách:

            “Một cô gái An Nam yểu điệu, trông như một cô bé thì đúng hơn, đi chân đất, đánh liều hỏi một khách hàng: “Không có tiền à?” Người đàn ông nhìn cô rồi nói: “Cô còn bé quá”. Cô bạo dạn trả lời: “Vẫn làm được!” Nhưng một phụ nữ Nhật Bản liền chen vào, mắng té tát cô bé An Nam và đuổi cô về lều. Thế là, cô bé An Nam bật lại với vẻ mỉa mai: “Vâng, thưa quý bà Nhật Bản, vâng thứ quý bà “Vịt”. Bà cũng da vàng như những người An Nam khác”.
            Từ “Vịt” xuất hiện vì các “geisha” Nhật Bản khi mặc áo kimono phải bước theo cách truyền thống là chụm hai đầu mũi chân vào trong và trông họ đi như vịt”
.


Một geisha tại Gion (Nhật Bản), khoảng 1800 đến 1833

Bỏ mạng nơi đất khách quê người
            “Các cô bé bị bán từ lúc còn trẻ, thường chỉ khoảng 12-13 tuổi, nên rất nhiều cô chết sớm, chỉ tầm 20 tuổi. Trước khi mộ của họ được đưa về Nhật Bản, cho tới năm 1975, tại các nghĩa trang ở Hà Nội và Sài Gòn vẫn còn mộ của những phụ nữ này, chết trong khoảng thời gian cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Hiện giờ, mộ của họ được dựng ở một nghĩa trang ngoại ô Tokyo”.

            Vẫn theo nhà nghiên cứu Frédéric Roustan, trong những năm 1890 đến 1900 có khoảng hơn một trăm “geisha” Nhật Bản. Sau đó, con số này tăng lên thành 300 đến 500 người. Đỉnh điểm là trong cuộc Thế Chiến thứ nhất, khoảng năm 1915, thì lên tới 500 người. Về sau, số lượng giảm xuống và biến khỏi các bản thống kê kể từ những năm 1920 sau khi Nhật Bản mở một lãnh sự tại Đông Dương, thay thế lãnh sự danh dự Nhật Bản trước đó do người Pháp quản lý.
            Và kể từ khi lãnh sự đi vào hoạt động, Nhật Bản gây sức ép để giấu số liệu thống kê gái mại dâm Nhật Bản tại Đông Dương. Có nghĩa là trên thực tế, vẫn tồn tại tình trạng mại dâm song không hề được thống kê. Chính vì vậy, có rất ít tài liệu liên quan tới chủ đề này.
            Với những tài liệu tìm kiếm được tại các trung tâm lưu trữ ở Pháp, Việt Nam và Nhật Bản, ông Roustan cho biết:

            “Việc xếp loại “geisha” Nhật Bản vào danh sách gái mại dâm cao cấp chỉ có ở Đông Dương. Còn tại Singapore, Indonesia, Hồng Kông và các khu vực thuộc địa khác, các nhà cầm quyền đều xếp họ vào danh sách “gái mại dâm” như những gái mại dâm địa phương.
            Việc nâng cấp gái mại dâm Nhật Bản là do sở thích và thị hiếu của người Pháp. Vì vào cuối thế kỷ XIX, có một bài diễn văn thuộc địa mang tính phân biệt chủng tộc, bôi xấu gái mại dâm Việt Nam và đề cao gái mại dâm Nhật Bản. Chính vì thế, các cô “geisha” Nhật Bản có giá đắt hơn. Bằng cách chơi các nhạc cụ truyền thống của Nhật, họ luôn thể hiện cao giá hơn những cô gái “buôn hương bán phấn” khác trước sự cạnh tranh khốc liệt về mặt kinh tế và để giữ khách. Điều này cũng giải thích hình ảnh các geisha Nhật Bản tại Đông Dương được in nhiều thành ảnh hay bưu thiếp”
.


THU HẰNG
Tháng 2/2016


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20160226-lenh-denh-than-phan-geisha-tai-dong-duong

 

Ngủ rồi nduytai

Cầu Long Biên sẽ thành viện bảo tàng ký ức thế kỷ 20

Cầu Long Biên, tên cũ là cầu Doumer, là một trong những công trình mang nhiều dấu ấn lịch sử của thành phố Hà Nội. Trước nguy cơ cầu Long Biên bị sập do bị xuống cấp nghiêm trọng, đã có lúc chính quyền Việt Nam dự tính phá bỏ cây cầu này, để xây một cầu mới. Nhưng nhờ nỗ lực vận động kiên trì trong suốt nhiều năm qua của những người như kiến trúc sư Nguyễn Nga tại Pháp, cầu Long Biên sẽ không bị khai tử, mà sẽ được cải tạo thành một viện bảo tàng ký ức thế kỷ 20.

Cầu Long Biên khoảng năm 1940

DỰ ÁN của kiến trúc sư Nguyễn Nga vào cuối năm ngoái đã được thủ tướng Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc chấp thuận cho thực hiện. Hiện đang ở Việt Nam để thúc đẩy dự án này, kiến trúc sư Nguyễn Nga trả lời phỏng vấn RFI:

RFI: Kính chào kiến trúc sư Nguyễn Nga. Từ khi nào mà bà nẩy ra ý định biến cây cầu Long Biên thành một viện bảo tàng ký ức thế kỷ 20?
KTS Nguyễn Nga: Tôi là người sống tại Paris, mà nhà tôi lại ngay cạnh tháp Eiffel, thành ra khi lần đầu tiên tôi về Hà Nội vào 1989, đi lên trên cây cầy Long Biên, tôi mới ý thức được là ở Việt Nam có một cây cầu huyền thoại, chở trên mình cả một thế kỷ về ký ức của Hà Nội một thời đạn bom và một thời hòa bình. Tôi cứ nghĩ là một ngày nào đó sẽ biến cây cầu này thành một đại lộ như Champs-Elysée, đại lộ vì hòa bình.
            Nhưng phải chờ đến năm 2007, lúc đó phía Pháp, tức là Poste d’expansion économique, có nói với tôi: “Bà đã lo rất nhiều dự án sử dụng ODA (viện trợ phát triển chính thức) của Pháp, nhưng ở đây có một dự án 60 triệu euro, do chính phủ Pháp hai đời tổng thống François Mitterand và Jacques Chirac cấp. Nhất là tổng thống Chirac, sau khi sang thăm Việt Nam, ông ấy có rất nhiều cảm xúc với cầu Long Biên, nghĩ rằng một cây cầu đã hơn 100 năm mà người Việt Nam còn giữ gìn nó, để nó còn sống đến ngày hôm nay, thì mình phải làm cho nó có một tương lai huy hoàng hơn”.
            Chính phủ Pháp đã cho một triệu euro để nghiên cứu cây cầu ấy. Sau một năm nghiên cứu, họ nói là muốn sửa cây cầu này thì phải có 60 triệu euro. Phía Pháp chờ Việt Nam có một phương án phù hợp và họ sẵn sàng tài trợ 60 triệu euro. Nhưng 5 năm sau, Việt Nam vẫn chưa có một phương án nào phù hợp và tới năm 2007, đại sứ quán Pháp nói với tôi rằng, nếu năm nay, phía Việt Nam không trả lời chính thức về số tiền Pháp đề nghị, thì chúng tôi sẽ cất số tiền này ở chỗ khác.
            Tôi mới đi tìm hiểu thì mới biết lúc đó có một quyết định là cây cầu này sẽ bị tháo dỡ, thay vào đó là một cây cầu mới. Tôi thực sự hoảng hốt, vì một cây cầu không những có một vẻ đẹp lịch sử của thời kiến trúc sắt thép đỉnh cao nhất, mà còn là cây cầu lớn nhất Đông Nam Á thời bấy giờ, thế mà mình lại tháo dỡ nó. Thành ra tôi mới đề ra ngay một ý kiến, đó là kêu gọi cả thế giới và toàn dân ý thức về ký ức đó. Thành ra tôi mới tổ chức festival trên cây cầu Long Biên trong gần ba ngày, từ tối thứ Sáu đến tối Chủ nhật, với 20 loại hình nghệ thuật khác nhau. Tôi mời 69 quốc gia mang cờ của họ đến để cắm vào chữ hòa bình bằng tất cả mọi thứ tiếng. Lúc đó các quốc gia rất là hân hoan đáp ứng và tôi luôn luôn mở màn với một cuộc đi bộ vì hòa bình. Tất cả các thành phần của dân tộc cũng như của các quốc gia đi bộ từ đầu này qua đầu kia. Tôi đã là được hai lần với sự ủng hộ của thành phố Hà Nội vào năm 2009 và 2010.

RFI: Từ những kinh nghiệm, hiểu biết của một kiến trúc sư sống tại Paris, bà đã thiết kế như thế nào dự án biến cầu Long Biên thành viện bảo tàng ký ức thế kỷ 20?
KTS Nguyễn Nga: Về đoạn cầu cạn đi vào phố, tôi nhớ ở Paris cũng có một đoạn cầu cạn y như thế, gọi là Viaduc des Arts, dưới đó cũng có những vòm như vòm cầu Long Biên. Cầu có 131 vòm thì tôi muốn biến 131 vòm đó thành phố nghề nghệ thuật của Việt Nam và thế giới. 100 vòm là dành cho 100 làng nghề Việt Nam và 30 vòm là 30 làng nghề của các nước. Trên đó sẽ xây một vườn treo. Sau đó, bên kia Gia Lâm thì chúng tôi muốn làm một tháp sen như là biểu tượng quốc hoa của Việt Nam và trong đó là một viện bảo tàng nghệ thuật đương đại.
            Tôi muốn biến château d’eau, tức tháp nước Hàng Đậu, thành một viện bảo tàng cổ vật. Bãi giữa sông Hồng sẽ trở thành một écrin, tức là một công viên nghệ thuật, trên đó có bảo tàng nông nghiệp Việt Nam. Tức là các thứ đã sẵn có ở đấy, không cần phải xây mới, chỉ cần tôn tạo, nâng cấp lên.
            Từ năm 2018, tôi đã tổ chức hai cuộc hội thảo, đã được người dân ủng hộ rất nhiệt tình, mạnh nhất là giới truyền thông, rồi các chuyên gia đầu ngành, các nhà sử học cũng đều ủng hộ dự án này. Nhưng đó là một dự án lớn, liên quan vừa đến Hà Nội, vừa đến bộ Giao Thông, Văn Hóa, đến các nhóm lợi ích khác nhau, thành ra (vận động cho dự án này) rất là vất vả.

RFI: Cụ thể, cầu Long Biên sẽ được cải tạo ra sao để trở thành một viện bảo tàng thật sự, một nơi triển lãm văn hóa, chứ không còn là cây cầu phục vụ cho giao thông?
KTS Nguyễn Nga: Hiện nay, một nửa cầu, tức là trên 9 nhịp còn nguyên thì chúng tôi sẽ giữ 9 nhịp đó. Trên đó chúng tôi sẽ triển lãm những đầu tàu hơi nước trên một nền kính trong veo, để người ta có thể nhìn thấy đường ray cũ và sông Hồng. Trên những đầu tàu đó chúng tôi sẽ làm thành những viện bảo tàng ký ức của đường sắt, những quán cà phê musée, những restaurant musée.
            Long Biên sẽ trở thành cây cầu văn hóa, chứ không phải cầu giao thông nữa, vì Nhà nước Việt Nam đã quyết định sẽ đưa đường xe hỏa sang một cây cầu khác, cách đó khoảng 75 mét về phía thượng nguồn. Cây cầu văn hóa đó sẽ biến thành cây cầu đi bộ, với hai làn đường đi bộ hai bên. Về khung cầu thì chúng tôi dùng lại khung cũ và bảo tồn nó bằng phương pháp đinh tán rivet, còn nữa cầu bên kia đã bị đánh bom sập, thì chúng tôi tái dựng lại bằng phương pháp đúc mới.
            Trên đoạn nửa cầu đó, bên phía Gia Lâm, chúng tôi sẽ cho ốp kính trong vào, để làm cây cầu hai tầng, tạo ra được một không gian để làm những gallery, và làm một bảo tàng ký ức có lẽ là dài nhất thế giới, sử dụng toàn năng lượng xanh: năng lượng mặt trời, và năng lượng của dòng sông. Cầu đủ cao để chúng tôi làm hai tầng. Tầng dưới là tất cả các gallery và tầng trên là bảo tàng theo đúng chiều dài của khung cầu. Hai bên là làn đường đi bộ có thể được nới rộng ra một chút.
            Đoạn ở giữa, tức là đoạn qua sông, thì chúng tôi sẽ nâng lên 3 mét cho bằng với chiều cao của những cầu khác, vì cầu Long Biên hiện là cây cầu thấp nhất và cản trở lưu thông của tàu bè trên sông Hồng.

RFI: RFI Việt ngữ xin cám ơn KTS Nguyễn Nga đã trả lời phỏng vấn hôm nay về dự án biến Cầu Long Biên sẽ thành viện bảo tàng ký ức thế kỷ 20.


THANH PHƯƠNG
Tháng 5/2019


http://vi.rfi.fr/viet-nam/20190412-cau-long-bien-se-thanh-vien-bao-tang-ky-uc-the-ky-20