Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 19286 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #150 vào: 24/11/2018, 23:31:45 »
Nghệ sĩ Xuân Phát từ làm hề đến soạn tuồng cải lương

Khoảng giữa thập niên 1960 trong làng cải lương xuất hiện anh hề Xuân Phát đã gây sự chú ý đặc biệt của khán giả, với nét độc đáo khác lạ với bao nhiêu hề từ trước đến giờ, do bởi anh có giọng nói phát âm y chang người Hoa nói tiếng Việt. Nếu như không được sự giới thiệu trước thì có lẽ người coi hát tưởng đâu rằng một anh người Hoa Chợ Lớn nào đó đi lạc trên sân khấu cải lương vậy.

Hình bìa cuốn bài ca “14 Năm Mong Ðợi”


XUÂN PHÁT khi diễn xuất đã không nhăn nhó, mặt méo mặt tròn, cũng không nói năng bậy bạ hoặc cười dê, nói tục như một số hề, mà anh chỉ nói tự nhiên giọng Hoa, thế mà khán giả cười rần sau mỗi câu nói, làm ồn lên trong rạp.
            Thành công ở phương diện làm hề một thời gian, con tạo cải lương đưa đẩy Xuân Phát trở thành soạn giả và cũng thành công luôn. Lúc đầu ông chỉ viết những vở ca kịch ngắn có tính hài hước như Ðắc Kỷ Ho Gà, Tiết Giao Ðoạt Ngọc, Chú Xồi Thợ Nhuộm… Dần dà về sau Xuân Phát viết tuồng cải lương dài cũng thuộc loại hài hước trình diễn suốt gần 3 tiếng đồng hồ, và tuồng được coi như nổi tiếng nhứt là “Tình Anh Bảy Chà”. Ðây là vở hát thuộc loại xã hội khá hay, đem đến nụ cười vui cho khán giả khá nhiều. Xuân Phát dựng lên nhân vật người Ấn Ðộ có vợ Việt, cho Thành Ðược thủ vai anh Bảy Chà khiến khán giả cười nghiêng ngửa.
            Tuồng ăn khách, tiền bản quyền vô đầy túi hằng đêm, và tuồng lại còn được phát trên đài truyền hình để có thêm số bạc nữa, nên thời gian này Xuân Phát không còn là anh hề mà đứng vô hàng soạn giả lớn. Thừa thắng xông lên, Xuân Phát đang viết thêm tuồng cũng thuộc loại hài hước, và nghe nói hình như đưa lên nhân vật người Miên có vợ Việt. Tuồng chưa được ra mắt thì lại bị tai nạn nghề nghiệp, do bởi khi viết tuồng “Tình Anh Bảy Chà”, Xuân Phát không nghiên cứu kỹ văn hóa của người Ấn Ðộ, nên bị Hội Ấn Kiều Sài Gòn lên tiếng phản đối mạnh mẽ, khiến cho Bộ Thông Tin cấm không cho tiếp tục trình diễn trên sân khấu và trên truyền hình.
            Cũng nhờ sự phản đối này mà khán giả cải lương cũng như thiên hạ rõ biết người Ấn Ðộ có hai phái Hồi Giáo và Bà La Môn, họ ăn mặc khác nhau, người thông hiểu chỉ nhìn vào là phân biệt được họ thuộc phái nào. Cũng như cái tên cũng khác, thế mà soạn giả nhà ta đâu có biết nên cho kép Thành Ðược mặc trang phục Bà La Môn mà cái tên thì Hồi Giáo.
            Tuồng bị cấm hát, Xuân Phát xuống tinh thần không thể viết tuồng cải lương được nữa, vì sở trường của ông là viết tuồng chọc cười thiên hạ, nhân vật chính là người ngoại quốc nói tiếng Việt, chẳng hạn như trước đó ông cho ra đời vở hát “Tình Chú Thoòng”, người Hoa có vợ Việt.
            Ðến năm 1969 Xuân Phát quay sang viết bài ca vọng cổ, và bài “14 Năm Mong Ðợi” được ra đời.
            Sau năm 1975, Xuân Phát ra hải ngoại, nhưng không thấy hoạt động nghệ thuật, mà có thời gian buôn bán tiệm vàng trong Phước Lộc Thọ. Ông qua đời cách đây khoảng hơn một năm.
            Và dưới đây là bài vọng cổ “14 Năm Mong Ðợi” của Xuân Phát.

            Hò ví:
            (Sơn ca Ðài Bắc):
                        Nam: Ố… ô! Hãy lắng tiếng khóc nghe! Nàng thôn nữ ơi!
                        Thấp thoáng đã cách xa mười bốn năm rồi.
                        Giờ đây anh quay gót ghé thăm người cũ,
                        Bỏ những lúc bóng đêm về cuối thôn buồn em chờ…

                        Nữ: Ố… ôi! Chớ nhắc nhở chi ngày quen biết nhau.
                        Có lúc hối tiếc mối duyên tình lỡ yêu rồi.

                        Nam: Ðừng sầu chi, có anh đã về.
                        Và từ đây nối duyên tình ta đắm say…


            Vọng cổ:
            1) Nữ: Không! Mười bốn năm qua tôi hoài phí tuổi xuân ôm tấm tình chung mong đợi, nhưng thời gian đã hoàn toàn biến đổi, bôi xóa lương năng của người tôi yêu nhứt trên… đời. Ô! Ngày gặp lại nhau có ngờ đâu tan nát rã rời… Anh đã đem lại cho tôi sự đau buồn khổ hận, cả một trời băng giá cô đơn. Và từ đây tôi sống bơ vơ như kẻ lạc loài không chỗ tựa nương. Phải chăng, sự có mặt của anh nó tượng trưng cho một trời tang tóc.

            2) Nam: Em hãy dịu bớt đau thương và bình tâm nghe anh nói, phải đâu anh cố tâm tàn nhẫn để gây khổ hận cho nàng, em nức nở khóc than khiến cho anh hổ thẹn muôn ngàn…

            Thơ:
                        Xót xa anh lắm nàng ơi!
                        Thân anh như kẻ đang trôi giữa dòng,
                        Bờ xa, xa thẳm muôn trùng,
                        Sóng to, gió cả hãi hùng nàng ơi!
                        Nói ra thêm những nghẹn lời,
                        Ðời anh nay đã hết rồi tình thương.


            Vọng cổ:
            4) Nữ: Anh vừa nói đến hai tiếng tình thương, nhưng chân thành hay mỉa mai? Ðã mười bốn năm tôi ấp ủ bóng hình anh ngự giữa tim son, với bao kỷ niệm mặn nồng của người đầu tiên gặp gỡ, nhưng thần tượng kia nay đã sụp đổ chôn vùi trong lớp tro than. Lòng tôi tan tác hoang mang khi hai tâm hồn không chung lối. Ôi duyên xưa còn chi mà tiếc nuối, kể từ đây đôi ngả đôi đường.

            5) Nam: Khoan xin em đừng vội vàng cất bước! Chẳng thà trên nẻo hoang mang anh phải tan nát tấm thân cho đáng hình hài tên tử tội. Còn đã gặp lại nhau xin em đừng vội nói tiếng chia lìa, nơi bến cũ, đò xưa có những đêm trăng nước nặng thề. Nước vẫn trong trăng khuya còn sáng tỏ, sao em nỡ để duyên mình gãy đổ cho đang.

            Thơ:
                        Ái tình càng lắm trái ngang,
                        Lại càng thắm thiết, lại càng thêm sâu,
                        Trời sanh thế! Biết yêu là khổ,
                        Mà xa nhau còn khổ gắp trăm lần.


            6) Nín đi em! Thôi đừng khóc nữa, từ phút này tất cả cho em. Bến nước xưa trăng sáng đã lên, khoang thuyền cũ đưa nhau tìm dĩ vãng. Em hãy giúp anh những ngày luân lạc, vòng tay ôm giấc mộng trùng hoang. Hãy trút lên nhau tất cả niềm thương nhớ, cho trời rung cho nước vỡ ngập khoang thuyền.

            Thơ:
                        Nữ (ngâm): Mười bốn năm mong đợi,
                        Một đêm vợi nhớ thương.

                        Nam ca: Người mà không biết yêu đương,
                        Ngàn năm khắc khoải, muôn đường khổ đau.


NGÀNH MAI
Tháng 02/2017


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/nghe-si-xuan-phat-tu-lam-den-soan-tuong-cai-luong/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #151 vào: 01/12/2018, 22:36:43 »
Điền Tử Lang, người ca sĩ đài phát thanh của hai chế độ

Đài phát thanh là một cơ quan truyền thông mà dù ở chế độ nào cũng đặt nặng, do bởi hiệu năng hoạt động của cơ sở kỹ thuật này rất cao. Ở đây tôi không đề cập đến những lãnh vực khác mà đài phát thanh mang lại sự hữu hiệu, mà trong buổi nói chuyện này tôi chỉ nói về mặt văn nghệ, nói riêng về cổ nhạc cải lương có liên quan đến đài phát thanh mà thôi.

Ca sĩ Điền Tử Lang

Sự hữu hiệu của đài phát thanh
            Một tuồng cải lương hát ở rạp thì số người đi coi chỉ vài trăm, nếu như tuồng hay, rạp lớn, đào kép tên tuổi, thì cũng chỉ trên dưới một ngàn khán giả là cùng. Nhưng nếu hôm đó chuyên viên kỹ thuật đài phát thanh mang máy móc đến làm việc, cho trực tiếp truyền thanh thì có hàng triệu người mộ điệu trong cả nước được thưởng thức. Do vậy mà người ca sĩ cổ nhạc cộng tác với đài phát thanh thì quá nhiều người biết đến tên, dù rằng họ chưa một lần gặp mặt, như trường hợp danh ca cổ nhạc Điền Tử Lang.
            Người hâm mộ cổ nhạc cải lương của hai ba thế hệ, có ai mà không biết cái tên Điền Tử Lang. Nếu nói về tài nghệ, về làn hơi ca của Điền Tử Lang thì không thể sánh được với nhiều giọng ca quá hay của nghệ sĩ sân khấu. Nói rõ hơn nếu người nghệ sĩ mà quanh năm suốt tháng chỉ hát ở sân khấu, dù rằng ca hay diễn giỏi thì con số người biết đến tên cũng bị giới hạn, còn Điền Tử Lang thì trên cả nước đều biết đến tên tuổi, do bởi anh ta cộng tác với đài phát thanh cả hai thời kỳ trước và sau 1975.
            Điều đáng nói ở đây là Điền Tử Lang đã phục vụ thính giả của đài phát thanh Sài Gòn thời kỳ trước 1975 (khoảng 10 năm) và hát trên đài Tiếng Nói Nhân Dân Thành Phố, tức đài phát thanh Sài Gòn cũ được đổi tên (khoảng gần 20 năm). Có nghĩa là Điền Tử Lang đã phục vụ thính giả đài phát thanh cả hai chế độ, và hai thời gian cộng lại gần 30 năm.
            Sau 1975 các ban văn nghệ, ca sĩ đài Sài Gòn đã bị cho nghỉ việc, đại đa số phải rời khỏi đài, để cho ca sĩ khác vào thay thế. Nhưng riêng Điền Tử Lang thì ở lại tiếp tục làm việc, mà lại còn làm lâu hơn, gấp đôi thời gian trước 1975. Lý do vì sao thì tự ai nấy biết, tùy theo hoàn cảnh của mỗi người. Có điều tôi muốn nói thêm ở đây là ca sĩ cộng tác với đài phát thanh tuy không nhiều tiền như đi hát, nhưng hưởng lương căn bản, chắc ăn, không có cái chuyện bị giựt tiền lương, bị lãnh đờ mi v.v… do vậy mà Điền Tử Lang kể như may mắn hơn nhiều người khác bị thất nghiệp.
            Nhưng ngược lại thì ca đài phát thanh rất nguy hiểm, nghệ sĩ quen hát “cương” phải thận trọng, nếu hát cương (tức lời ca tiếng hát không có trong kịch bản, trong bài ca) mà vô tình phát ra câu hát “phạm chính trị” thì lãnh đủ thôi! Đây, tôi xin kể lại một câu chuyện từng xảy ra trên đài phát thanh Sài Gòn, thời kỳ những năm đầu Đệ Nhứt Cộng Hòa.
            Lúc bấy giờ thì Đài Pháp Á đã đóng cửa, đa số ca sĩ ở đài này chạy sang đài phát thanh Quốc gia, tức đài Sài Gòn, trong số có ca sĩ Văn Chung, tức hề Văn Chung mà hiện nay đang định cư ở Hoa Kỳ, miền Nam California. Văn Chung lúc ấy là danh ca, dù rằng giọng ca chẳng mấy hay, và ông cũng chưa đi hát, sau này mới cùng vợ là đào Thanh Hương thành lập gánh hát lấy bảng hiệu Thanh Hương – Văn Chung. Lúc bấy giờ Văn Chung tham gia Ban Lệ Liễu, là một ban cổ nhạc có khá nhiều thính giả của đài phát thanh Sài Gòn.
            Thời này các ban cổ nhạc của đài phát thanh được lệnh phải soạn bài ca đề cao chế độ thì mới được hát. Ngày nọ khoảng 1957-1958, Lệ Liễu (cô cũng là soạn giả) đã viết bài trao cho Văn Chung ca theo điệu Xàng Xê với câu mở đầu “Nước Việt Nam ta dưới chế độ Cộng Hòa”. Nhưng bữa đó Văn Chung lại mở đầu bằng câu ca “Nước Việt Nam ta dưới chế độ Dân Chủ Cộng Hòa”. Văn Chung tự thêm hai chữ “dân chủ” vào mà hại hết cả đám, kể cả ông luôn, vì đó là chế độ miền Bắc. Người ta nói do miệng ăn mắm ăn muối rồi thần khẩu hại xác phàm hay sao?
            Đài kiểm thính của mật vụ Phủ Tổng Thống nghe được, và giám đốc đài phát thanh Sài Gòn bị kêu vô Đinh Độc Lập gặp ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu. Rồi thì khi ra về với vẻ mặt hầm hầm, ông liền ra quyết định ngưng cho Ban Lệ Liễu cộng tác. Đồng thời làm văn thư gởi Nha Cảnh Sát Công An Đô Thành. Thế là Lệ Liễu và Văn Chung bị điều tra, nhưng nhờ Văn Chung từng là cựu nhân viên cảnh sát đô thành nên được thông cảm, chỉ bị cấm hát trên đài mà thôi.
            Như mọi người đều thấy đó, chỉ có hai chữ “dân chủ” thêm vào bài ca mà giám đốc đài phát thanh bị khiển trách, xém mất chức. Ban Lệ Liễu thì mất chỗ đứng, gây thất nghiệp cho số người trong toàn ban, và Văn Chung thì mất chỗ làm khá lâu, bởi đâu có ban nào dám mời Văn Chung cộng tác lúc đó.


Rạp hát cải lương Long Vân ở Ngã Bảy, Sài Gòn

Làn hơi ca mang âm hưởng riêng biệt
            Giờ đây xin trở lại vấn đề Điền Tử Lang, danh ca này từng cộng tác với đài phát thanh Sài Gòn trước 1975, trong chương trình “Tiếng Chim Gọi Đàn” của Bộ Chiêu Hồi, thường phát thanh khoảng sau 10 giờ đêm. Thính giả của đài phát thanh Sài Gòn khi xưa, đặc biệt là những người hâm mộ cổ nhạc, chắc không lạ gì hai giọng ca mùi rệu của đôi nam nữ Điền Tử Lang – Trang Mỹ Hường. Chương trình văn nghệ không những chỉ nhằm đem lại cho giới mộ điệu ở ngoài thành, mà mục tiêu là nhắm vào vùng đồng ruộng xa xôi, nơi thâm sơn cùng cốc. Nói chung dù ở tận nơi đâu trong rừng rậm mật khu, thì tiếng ca cũng được đem đến, nếu như có chiếc radio nhỏ mang theo.
            Làn hơi ca của Điền Tử Lang có âm hưởng riêng biệt, không chạy theo ai hết, không giống với giọng ca nào trên sân khấu hoặc là trong dĩa hát. Còn giọng ca Trang Mỹ Hường thì trầm ấm ngọt ngào, đi sâu vào tình cảm những ai có tâm sự gì đó mà khó bộc lộ ra. Thanh âm ấy cất lên tựa hồ lời than thở của người thiếu phụ trông chồng trong đêm khuya thanh vắng.
            Thiên hạ thời ấy nói rằng, ban chương trình văn nghệ chiêu hồi đã khéo tuyển lựa hai giọng ca nghe sao mà não nuột, tê tái tận cõi lòng, đã đi theo làn sóng phát thanh vào bưng biền, tận nơi rừng sâu núi thẳm. Nếu như người cán binh cộng sản nghe được thì làm sao khỏi nhớ mái ấm gia đình ở quê nhà, nhớ vợ con đang mòn mỏi đợi trông, thì một lúc nào đó có cơ hội là họ sẽ về chiêu hồi.
            Người ta không biết rõ hai giọng ca Điền Tử Lang và Trang Mỹ Hường đã làm nản lòng bao nhiêu cán binh, bao nhiêu người về hồi chánh, nhưng chắc ít nhiều gì cũng có tác dụng, nên cả hai mới cộng tác lâu dài ở chương trình văn nghệ chiêu hồi này. Sau ngày 30-4-75 có lẽ nghĩ rằng ca hát ở cơ quan chiêu hồi là có tội, nên Điền Tử Lang “rét” quá, lánh mặt ở đâu đó một thời gian. Nhưng rồi thấy các nghệ sĩ ở Sài Gòn lần lượt trước sau đi hát trở lại, mà trong đó có Ngọc Đan Thanh cũng từng hát trong ban văn nghệ chiêu hồi với mình, mà chẳng bị lôi thôi gì hết.
            Thế là Điền Tử Lang ra trình diện ở đài phát thanh, được cho làm việc trở lại, và được kể là một trong những con chim đầu đàn hưởng ứng nhiệt tình chương trình văn nghệ của đài tiếng nói nhân dân thành phố (tức đài Sài Gòn trước đó). Lúc này thì nội dung lời hát quay ngược 180 độ, lời ca đề cao người bộ đội về thành, chớ không kêu gọi chiêu hồi như lúc trước.
            Lúc ấy có người nói rằng Điền Tử Lang hát chiêu hồi hay quá, cán binh cộng sản không phải về hồi chánh lẻ tẻ vài ba người, mà đồng loạt về tràn ngập đi đầy đường ở Sài Gòn…
            Điền Tử Lang nói:
            – Thôi tội nghiệp mà, đừng phá tôi mà các anh em!
            Hát đài phát thanh gần ba thập niên mà không bị chuyện gì rắc rối lớn lao, kể ra thì Điền Tử Lang cũng tốt số vậy. Thời gian sau thì Điền Tử Lang theo đoàn cải lương Văn Công Thành Phố, lưu diễn miền Trung miền Tây, và anh không muốn ai nói đến dĩ vãng, nhắc tới việc mình từng hát chương trình chiêu hồi. Có người thắc mắc về cái tên Điền Tử Lang sao nghe giống như là kiếm sĩ đất Phù Tang vậy? Điền Tử Lang nói rằng cái tên của anh là do soạn giả Thể Hà Vân đặt cho, lúc mới đi hát ở đoàn Thủ Đô năm 1964.
            Hình như Điền Tử Lang chỉ ca cổ nhạc thuần túy, tôi chưa từng nghe anh ta ca tân cổ giao duyên, tức vọng cổ có chen lẫn tân nhạc. Hiện nay danh ca nầy thường hay lẩn quẩn ở các tụ điểm có ca cổ nhạc ở các vùng thuộc tỉnh Gia Định cũ, có ai kêu thì hát cho đỡ nhớ cái nghiệp cầm ca, và cũng để kiếm tiền sống đấp đổi phụ thêm cho một việc làm nào đó ngoài nghề. Riêng Trang Mỹ Hường thì sau 1975 nghe nói cũng có đi vài đoàn hát nhỏ, lưu diễn nhiều nơi nên rất khó mà biết có thành công hay không. Rồi đến khoảng 1994 đoàn cải lương Sông Hậu ở miền Tây, diễn tuồng Thoại Khanh – Châu Tuấn, thì người ta thấy Trang Mỹ Hường đóng đào mụ, trong vai bà mẹ chồng. Thế nhưng, anh kép đóng vai “thần hổ”, thay vì chỉ nói vài lời rồi cõng mẹ con Thoại Khanh chạy ra khỏi rừng thì hạ màn. Nhưng bữa nay bởi lý do nào đó không biết, anh kép đóng vai cọp lại… ca vọng cổ (tuồng không có lớp ca này).
            Trước sự việc “cọp”… ca vọng cổ, bà con khán giả cười như vỡ chợ. Có người nói: “Cha. Đêm nay đoàn chế ra lớp này coi cũng được chứ! Tay đóng vai cọp này ca nghe cũng mùi lắm”. Còn nghệ sĩ Trang Mỹ Hường trong vai mẹ chồng của Thoại Khanh mắt đang mù, quá bất ngờ trước giọng ca ngọt ngào của… con cọp, cô ta mở bừng to đôi mắt, quên mất mình đang đóng vai mù. Trang Mỹ Hường cười bò lăn bò càng, té từ trên lưng cọp xuống sàn mà cũng chưa hết cười. Nhiều khán giả đùa: “Hay quá, nhờ có cọp ca vọng cổ mà mắt mẹ chồng Thoại Khanh sáng lại…”
            Giai thoại “cọp… ca vọng cổ” ở miền Tây, cũng góp phần làm phong phú thêm cho những câu chuyện bên lề của hoạt động sân khấu cải lương vậy. Và thời gian gần 20 năm qua không biết Trang Mỹ Hường có còn ca hát gì nữa không. Ở đâu?


NGÀNH MAI
Tháng 08/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0801-nm-08012015110952.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #152 vào: 11/12/2018, 23:11:54 »
Nghệ sĩ Năm Nghĩa với bài vọng cổ 20 câu

Những năm cuối thập niên 1940 giới mộ điệu vẫn còn nghe đờn ca tài tử có người ca bài “Tình Yêu Trong Mộng Tưởng”. Đây là bài vọng cổ dài 20 câu do tài tử Năm Nghĩa ca thu thanh dĩa hát Asia. Thời này thiên hạ vẫn gọi Năm Nghĩa là “tài tử”, đến đầu thập niên 1950 Năm Nghĩa lên sân khấu Mộng Vân thì người ta dùng danh từ “nghệ sĩ” để gọi Năm Nghĩa.

Hình chụp đám tang của nghệ sĩ Năm Nghĩa tại Sài Gòn năm 1959.
Hai người mặc côm-lê trắng đi hai bên xe tang là đệ nhất danh ca Út Trà Ôn (trái)
và kép độc Hoàng Giang. Tính đến nay đã tròn 60 năm

Khoảng năm 1952 nghệ sĩ Năm Nghĩa đứng ra thành lập gánh hát Thanh Minh và hoạt động vùng Sài Gòn, Chợ Lớn chớ ít khi đi lưu diễn xa. Các rạp Đông Vũ Đài trong Đại Thế Giới, rạp Nguyễn Văn Hảo đường Galiéni Sài Gòn (đường Trần Hưng Đạo sau này) và rạp Thành Xương cạnh bên hàng rào tường nhà ga xe lửa, là các rạp mà đoàn Thanh Minh thường hay dọn đến hát. Năm Nghĩa qua đời ngày 7 Tháng Mười Hai, 1959, phu nhân của ông là bà bầu Thơ sửa bảng hiệu thêm chữ Thanh Nga (đoàn Thanh Minh – Thanh Nga).
            Với giọng ca hơ hơ hơ… thiên phú độc đáo, Năm Nghĩa đã để lại cho đời nhiều bài vọng cổ có giá trị lịch sử cổ nhạc, đờn ca tài tử, như các bài “Văng Vẳng Tiếng Chuông Chùa”, “Tình Yêu Trong Mộng Tưởng”…
            Thời điểm 1959 giới mộ điệu nhiều người biết đến bài vọng cổ “Tình Yêu Trong Mộng Tưởng” nên trong đám tang của Năm Nghĩa, có người đã ca lên bài ca ấy để mọi người cùng nghe, cũng như tưởng nhớ đến ông.
            Dưới đây là bài vọng cổ 20 câu “Tình Yêu Trong Mộng Tưởng”:

            1) Một khi đã lậm với tình, mà phải yêu nhau trong yên lặng, và phải nhớ nhau trong bất bình thì hỏi lại tâm hồn mới hay rằng đã chứa chan nhiều điều trắc ẩn.
            2) Bó tay về với yêu đương, là tự dìm sâu trong vòng đợi thảm chờ thương, thì cơ hồ như cuộc đời chỉ kết toàn bằng những sự éo le, khúc đoạn trường se sẻ khảy để tự mình nghe.
            3) Giờ tao ngộ đầy thanh thú buổi đầu tiên, tưởng chừng như đã gió đùa mây nổi, chớ có biết đâu rằng, đã ngày qua và ngày ngày qua rồi mà chuyện xưa cũng vẫn còn rạo rực mãi bên lòng.
            4) Song những vết thương ri rỉ, máu chơn thành đã không mong gì chữa khỏi thì thôi, mình có khổ đau thì hãy cứ lặng lẽ mà đau khổ, chớ có se chi cuồn chỉ nhện mà càng thêm rối rắm cho cuộn tơ lòng.
            5) Chim chiều hát tiếng véo von như nôn nao giục giã tình xuân xanh biếc một màu mộng ước phải mơn man lả lướt trong yêu đương tình tứ, để đem tâm hồn lãng mạn, mà trọn giao tứ, để đem tâm hồn lãng mạn, mà trọn giao cho người lãng mạn tâm hồn.
            6) Nhưng ánh sáng cuối cùng của ngọn đèn thất vọng đã rọi thấu bên sau bức màng âu yếm, để lộ ra những khoản khắc của mê ly và những lâm lụy của thương sầu, mà lạnh lùng ai có biết đâu đến người đã hoằng hoại trong thảm đạm của thương yêu.
            7) Sông khuya nước lạnh lờ đờ, xuôi dòng cá lội thung dung, thì lòng càng rạo rực với tương phùng thì dạ càng nấu nung vì ao ước, nhưng khốn khổ làm sao những viễn ảnh sum vầy chỉ như cánh bèo lang đang gập ghềnh trên làn sóng biếc.
            8) Luôn luôn đeo đẳng bên mình và mãi say sưa vì đôi mắt đen lanh lánh của chúa ái tình, mà sau những khi chầu chực công trình, khi anh, nàng lại để cho thân anh như chiếc bóng chập chờn vấn sâu vào trong cát bụi của thời gian.
            9) Tri âm ôi, nàng có biết cho rằng, sống trong cảnh thiếu thốn lạnh lùng thì người cầu cạnh cho được yêu đã mộng ước biết bao đêm dịu dàng và cũng chẳng biết bao ngày hoa lệ.
            10) Đây rồi thời gian hầu tàn lụn trong lạnh nhạt bơ thờ, nói rõ hơn hết là một khi cái đài lộng lẫy của tuổi xuân đã đổ nát đi rồi, mà trăm trận bão lòng cũng chưa bình được cánh con chim xanh.
            11) Rồi đây những ngày lâm lụy sẽ đổ vang vầy để báo tin rằng, kiếp phù sinh sắp mãn, mà giở lại quyển sách vàng của tình tứ, thì bao nhiêu nét tự tình cũng chưa ghi lên được nửa điểm son nào.
            12) Mãi đến nay thương đã sâu, buồn đã nặng, mà anh chẳng dám yêu cầu một mảy may chi, nên đến nay anh cũng chẳng đặng tri âm, nàng ban cho một mảy may gì.
            13) Dầu trăng nước đêm xuân, hay dầu mây chiều hạ, cũng không sao thắng nổi công trình tuyệt tác của nữ thần điêu khắc, thiên nhiên đã vói tay uốn nắn tri âm, nàng thành một pho tượng tuyệt toàn trần bằng dịu dàng và âu yếm tạo nên.
            14) Nhưng anh vẫn tự hỏi con tim rằng, sau khi anh lại cứ thản nhiên tha thướt trên bước đường trần, mà không nghiêng tai nghe lấy bên dưới gót chơn nàng biết bao nhiêu tiếng thì thầm sầu lụy buồn than, mà trên tấm lưới tơ lòng mà nàng vẫn lãnh đạm bước ngang.
            15) Tri âm ôi, một điều anh trông mong hơn hết, là mấy câu chan chứa cảm động vì nhau, sẽ có ngày nhờ sự lạ lùng may mắn của thế cuộc mà được đưa đến dưới đôi mắt đen lanh lánh của nàng.
            16) Còn một điều anh tuyệt vọng hơn hết là, nếu nàng lạnh lùng đọc suốt cả tâm trường áo não của anh rồi ngơ ngẩn hỏi rằng ai gây ra đoạn thảm tình này, chớ không cảm tưởng đến người, bao phen đeo đẳng bên nàng rồi vương mang cho phải điêu đứng đến hư hỏng cả một đời tài hoa.
            17) Ai ôi, bút thất tình mực tuyệt vọng, đã vẽ đậm nét sầu thương, nhà thi sĩ của một bài thi muốn cho vơi những nỗi thảm đau mà không thể vơi, mới buông ra bao tiếng thở dài của một cõi lòng, đã mười mấy năm chôn chặt khối ẩn tình.
            18) Yêu đương chan chứa một đời mà chỉ kêu than lên được chỉ có mấy lời, thì cũng như tiếng gọi không đâu giữa bãi sa mạc không đâu, thì ra cái đau âm thầm còn muôn phần khốc liệt hơn cái đau mà ta được thở than.
            19) Mấy mươi năm trước bên kia trời Tây đã có một khách lụy tình vật lạc, quá cảm động nên đề mười bốn vần thơ tuyệt tác, rồi đến nay bên góc trời Nam cũng có một nghệ sĩ vật lạc, vì lụy tình mới mượn nỗi khổ của ai để mà than nỗi khổ của mình.
            20) Nhưng chuyện thảm của tác giả đã không được người yêu lưu ý, và chuyện thảm của người dịch thơ cũng không được bạn gái để lòng; thì ra cả hai nghệ sĩ đều có công trải ra những tấm thảm đầy danh dự và thiên tài, nhưng hai người tinh ý vẫn lạnh lùng cất bước ra đi, thui thủi chết dặm đường.


NGÀNH MAI
Tháng 12/2018


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nghe-si-nam-nghia-voi-bai-vong-co-20-cau/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #153 vào: 15/12/2018, 23:26:50 »
Vai trò cây đờn cò trong cổ nhạc

Cây đờn cò là loại đờn kéo có hai dây nên cũng gọi là đờn nhị cầm, là nhạc cụ truyền thống của âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Đờn cò đã có từ lâu đời, nhưng không biết là thời nào, cũng như không rõ xuất xứ từ đâu, từ quốc gia nào. Có người nói nó bắt nguồn từ Trung Hoa, Ấn Độ… nhưng chỉ nói khơi khơi, chứ không có cơ sở nào hết.

Tiến sĩ Trần Văn Khê giới thiệu cây đàn cò (đàn nhị),
một nhạc khí sử dụng trong đờn ca tài tử, hát chèo, tuồng, nhạc thính phòng Huế

Đờn cò là nhạc cụ thuần túy của dân tộc Việt Nam
            Nếu như ai đó có sinh sống ở vùng Chợ Lớn, ắt đã thấy các ban nhạc cổ Triều Châu, Quảng Đông, họ không có cây đờn cò, mà chỉ sử dụng cây đơn gáo (làm bằng gáo dừa khô). Như vậy thì không thể nói rằng đờn cò xuất xứ từ nước Trung Hoa. Và nước Ấn Độ cũng thế, ở Sài Gòn có mấy chùa Chà, thỉnh thoảng có lễ hội, hoặc sinh hoạt ca hát ăn uống, và nhạc cụ thì thổi kèn làm bằng gỗ hay trái gì đó giống như người dân tộc thiểu số ở miền Cao Nguyên thổi tù và. Đồng thời gõ trống nhịp nhàng theo điệu múa điệu hát, chớ đâu ai thấy họ có đờn cò.
            Do đó người ta có thể tạm kết luận cây đờn cò là nhạc cụ thuần túy của dân tộc Việt Nam, được phổ biến rộng rãi trong nhân gian từ thời xa xưa cho đến bây giờ. Đờn cò có một thế đứng vững vàng trong các bộ môn: Nhạc lễ, hát bội, đờn ca tài tử, cải lương, đã có mặt trong hầu hết các giàn nhạc nói trên, và giữ một vài trò khá quan trọng, vì nó có thể quán xuyến cho những tình huống xấu, chẳng hạn như một buổi sinh hoạt mà nhạc sĩ mấy cây đờn khác vì lý do nào đó mà không tham gia, thì cây đờn cò có thể đơn độc giúp cho buổi sinh hoạt được hoàn tất.
            Trong cổ nhạc có nhiều loại dây đờn cao, thấp để đáp ứng cho làn hơi ca của ca sĩ, bởi có những người ca dây cao nhứt, và có những người ca dây thấp nhứt mà người ta gọi là: Hò nhứt, hò nhì, hò ba, hò tư và có cả “hò đậy”. Một số nhạc sĩ đã dùng danh từ “hò đậy” để chỉ những dây đờn cao nhứt mà nghệ sĩ Thanh Hải đã ca được. Thanh Hải người gốc ở Bến Cát, Bình Dương là xứ có nhiều cây cao su, và vài người thuộc giới đờn ca tài tử đã nói rằng Thanh Hải nhờ cao su, nên đã kéo làn hơi ca giãn ra nên ca được dây hò đậy (không biết họ muốn nói nhờ cái gì, chớ không lẽ nhờ… ăn cao su).
            Trong trường hợp người ca dây cao, kẻ ca dây thấp, nếu như nhạc sĩ của những cây đờn khác thì phải chỉnh sửa dây đờn nhiều lần cho nhiều giọng ca, nên khó mà đờn cho mùi, cho hay. Phần đông các nhạc sĩ đã rất ngại chỉnh dây đờn (lên hay xuống) phiền phức, nhứt là cây lục huyền cầm, tức cây guitar phím lõm mà thời này được coi như cây đờn chánh, thì có một số nhạc sĩ cứ để mặc cho các ca sĩ phải khổ sở, khi phải chạy theo một dây đờn không thích hợp với làn hơi ca riêng biệt của mình. Do đó mà người ca sĩ không diễn đạt được cái hay, cái độc đáo, bởi có người phải ráng gân cổ để ca cao, hoặc có người phải hạ thấp giọng ca, như bị ngăn chận lại thì ca hay thế nào được chớ!
            Riêng cây đờn cò thì nhạc sĩ chỉ lên dây đờn một lần theo chuẩn mực là có thể giải quyết được tất cả, có nghĩa ai ca thế nào thì nhạc sĩ đờn thế đó. Nói một cách khác người nhạc sĩ đờn cò họ có thể linh động chuyển dây theo các giọng ca thấp cao, và đổi cung hơi ca từ nam sang nữ, từ nữ sang nam hoặc nam nữ ca chung.
            Nhạc sĩ Chín Trích là thân phụ của kịch sĩ Tú Trinh, ông là nhạc sĩ đờn cò lão luyện có thể theo được hết các làn hơi ca. Chín Trích là danh cầm đờn cò từng tham gia nhiều ban cổ nhạc ở đài phát thanh Sài Gòn suốt thời gian dài mấy chục năm.
            Trong Lễ Kỳ Yên ở các đình làng, thiếu cây đờn gì cũng có thể được, nhưng không thể thiếu cây đờn cò, vì nó là nhạc cụ chiến lược cho nhạc lễ. Ban nhạc lễ ở Tòa Thánh Tây Ninh và Thánh Thất Cao Đài ở các địa phương khi cúng đại đàn cũng không hề thiếu cây đờn cò. Thời thập niên 1930-1940 hầu hết các gánh hát cải lương đều có cây đờn cò đi song song với cây đờn kìm, tức một cây khảy và một cây kéo là chính yếu. Các gánh lớn thì có thêm cây đờn tranh, đờn sến hoặc loại đờn nào khác, nhưng không thiết yếu, có thì xôm tụ mà không có cũng chẳng sao.
            Đầu thập niên 1950, nghệ sĩ Năm Nghĩa bầu gánh Thanh Minh đã đưa cây đờn violon vào thay thế cây đờn cò, theo sự yêu cầu của đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn, muốn tiếng violon rao mùi cho ông nói lối vô vọng cổ.
            Bởi vậy khán giả cải lương sành điệu khi nghe tiếng đờn violon phát ra từ hậu trường sân khấu, thì rạp hát im phăng phắc, bởi khán giả biết rằng Út Trà Ôn sắp vô vọng cổ, nên họ im lặng để thưởng thức làn hơi ca thiên phú của Cậu Mười Út. Tuy vậy bầu gánh Năm Nghĩa vẫn giữ nhạc sĩ cây đờn cò, bởi có những bài bản Bắc, Oán hoặc các bản nhỏ mà cây violon không thể thay thế.
            Phía bên tân nhạc không thấy xử dụng cây đờn cò, có lẽ do hình dáng của nó quá xưa, không thích ứng với chư “Tân” chăng? Cũng có người nói rằng nếu như đem đờn cò vào tân nhạc thay thế cho cây violon vẫn có thể được. Do bởi người ta từng thấy các gánh hát bầu tèo ở miền quê, thường chỉ có hai cây đờn kìm, và cò là đủ để hoạt động rồi. Nhưng nếu như hát nhằm vở hát có cảnh đào kép hát bài tân nhạc thì phải làm sao, chắc không có cái chuyện chạy đi kêu người đờn tân nhạc bên ngoài vào tiếp ứng, nên đã tận dụng cây đờn cò.
            Người ta từng thấy gánh hát nhỏ, hát đình hát chợ, trong một vở tuồng có lớp hát tân nhạc do cô đào chánh hát bản “Dư Âm”. Thế là nhạc sĩ đờn cò (cây đờn duy nhứt hôm bữa đó) đã đờn cho cô ta hát. Và rồi thì cũng tốt thôi, cũng làm vừa lòng khán giả. Thông lệ của hầu hết các gánh hát, khi vãn là giàn nhạc trỗi lên bản nhạc “Giã Từ” thì cây đờn cò vẫn làm tròn nhiệm vụ vậy.


Nghệ sĩ Mai Tuyết Hoa sử dụng cây đàn cò trong tiết mục hát xẩm

Tại sao không có nữ nhạc sĩ đờn cò?
            Cây đờn cò giữ vai trò quan trọng trong tất cả các giàn nhạc. Thế nhưng, cây đờn cò lại không được giới nữ chiếu cố, học hỏi để trở thành người nhạc sĩ đờn cò. Tại sao vậy chớ? Trước đây tôi có nói về cây đờn tranh mà giới nữ rất nhiều người học, “hằng hà sa số” nữ nhạc sĩ đờn tranh ở khắp nơi không thể đếm xuể. Còn cây đờn kìm thì hiện nay trong làng cổ nhạc, cải lương đã có hai cô (một ở Cà Mau và một ở Bình Dương). Như vậy cũng hơn nữ nhạc sĩ đờn cò chẳng có người nào hết. Ở trường Quốc Gia Âm Nhạc, ở Nhạc Viện Thành Phố, các cô chỉ học cho biết mà thôi, chớ không phải học để trở thành nhạc sĩ đờn cò thành thạo.
            Có người nói phụ nữ là phái đẹp, mà hình dáng cây đờn cò thì chẳng mấy đẹp so với những cây đờn khác, mà lại rất cổ xưa. Nếu mang cây đờn cò đi đây đó tham dự các buổi sinh hoạt đờn ca tài tử, nhạc lễ thì có điều bất tiện cho các cô mà phần dưới đây tôi sẽ trình bày.
            Sở dĩ các cô đã không mặn mà gì với cây đờn cò là có lý do của nó, chỉ có cái là các cô không nói thẳng ra thôi. Tôi từng nghe một nhạc sĩ lão thành nói cái nguyên do ấy, nhưng không biết nhận xét của vị này có đúng hay không, nên từ lâu nay tôi chẳng hề đề cập. Hôm nay sẵn dịp nói về cây đờn cò, tôi nêu lên để quí thính giả nhận xét và phán đoán.
            Thông thường khi đưa cây đờn cò nhập cuộc các buổi đờn ca, thì người nhạc sĩ phải ngồi trên ghế, hai chân thòng xuống cho thoải mái, rồi kẹp hai đầu của ống đờn vào phía trên hai đầu gối để giữ cho cây đờn thăng bằng không lệch lạc, xê dịch khi cây cần kéo (còn gọi là cây cung kéo) chạm vào hai sợi dây ở hai bên thì mới tạo được âm thanh trầm bổng theo ý muốn. Vị nhạc sĩ lão thành nói rằng, với cái thế ngồi đờn cò nói trên đối với người nam thì chẳng làm sao hết, cũng không ai để ý. Thế nhưng đối với người nữ thì lại rất khó coi, bởi lúc cây cung kéo đang hoạt động giữa hai sợi dây phát ra tiếng, thì người đứng coi biểu diễn họ thường nhìn vào cái ống đờn, tức không tránh khỏi nhìn thẳng vào nơi kín đáo của người phụ nữ. Dù rằng có mặc quần mặc áo, người nữ vẫn ngại ngùng, mất tự nhiên, đây là vấn đề tâm lý rất khó mà giải thích.
            Chớ như nữ nhạc sĩ đờn tranh, các cô dù ngồi hay đứng, thì cây đờn để trên bàn đương nhiên che khuất từ bụng trở xuống, người ngoài nhìn vô chỉ thấy đôi tay nhạc sĩ đang nhảy múa, chớ không thấy phần bụng của mấy cô. Còn với cây đờn kìm hay guitar phím lõm thì người nữ nhạc sĩ ôm vào một bên hông, đồng thời đưa cần đờn xéo ra phía trước. Như vậy cây đờn cũng vô tình che cho phần dưới bụng của các cô thì đâu có hề gì.
            Nói rõ hơn cây đờn cò nhỏ bé, lại thêm cái thế ngồi đờn không thể che khuất nơi hiểm yếu của người nữ khi đang đờn. Có lẽ do vậy mà giới nữ đã không học để trở thành nữ nhạc sĩ đờn cò chăng? Tôi chỉ thuật lại thôi chớ không có ý kiến gì hết!
            Ở trường Quốc Gia Âm Nhạc thời kỳ trước 1975 hình như trong học trình có dạy sơ qua cho học viên sự hiểu biết về cây đờn cò, chớ không nhằm đào tạo trở thành nhạc sĩ. Và người ta thấy các cô đã để ống đờn trên đùi trái, để đờn lấy lệ mà thôi, thành thử ra trong nhân gian, các giàn đờn cổ nhạc đã không có nữ nhạc sĩ đờn cò.
            Tóm lại dù rằng cây đờn cò có vai trò quan trọng trong tất cả các giàn nhạc, nhưng từ thập niên 1960 trở về sau người ta ít thấy giới trẻ học đờn cò. Phái nam cũng rất ít người học, hay là họ cho cây đờn cò là cổ hũ, là lỗi thời chăng? Hiện nay hình như chỉ có nhạc lễ Cao Đài và Nhạc Viện Thành Phố là có đào tạo lớp trẻ trở thành nhạc sĩ đờn cò mà thôi.


NGÀNH MAI
Tháng 08/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/role-of-vn-ancient-harp-music-08082015052916.html

 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #154 vào: 20/12/2018, 21:42:34 »
Thanh Hải xuất hiện gây bất ngờ cho giới mộ điệu cải lương

Vở tuồng “Nắng Chiều Trên Sông Dịch” được dàn dựng đúng lúc nghệ sĩ Thanh Hải vừa rời khỏi đoàn Thủ Đô, chàng nghệ sĩ có giọng ca hay này về với gánh Kim Chưởng nhận vai chánh, đóng cặp với đào Ngọc Hương. Trước đó chẳng bao lâu Ngọc Hương và ông xã là soạn giả Thu An, cũng đã bỏ đoàn Thủ Đô về với Kim Chưởng, tăng cường thực lực cho đoàn này.

Từ trái sang: Minh Vương, Thanh Hải, Ngọc Hương
và Lệ Thủy trong chương trình Sân khấu Vàng

Khán giả đầy rạp
            Kể từ đó đoàn Kim Chưởng tung ra một loạt tuồng hay, có giá trị nghệ thuật, đoàn dọn đi đến đâu cũng đông đảo khán giả, nên sẵn trớn bà bầu Kim Chưởng cho đoàn đi nhiều tỉnh miền Đông, miền Tây và luôn cả miền Trung. Do đó ngoài việc thành công mỹ mãn về tài chánh, đoàn còn được giới mộ điệu cải lương tặng phong danh hiệu “đệ nhứt anh hùng lưu diễn”.
            Nhờ có cặp Thanh Hải – Ngọc Hương đóng vai chánh nên gánh Kim Chưởng lưu diễn đi đến đâu, tuồng “Nắng Chiều Trên Sông Dịch” cũng ăn khách, khán giả đầy rạp. Đặc biệt là giọng ca Thanh Hải quá quen thuộc với khán thính giả khắp nơi, do bởi đài phát thanh Sài Gòn rất thường phát thanh dĩa hát với tiếng ca Thanh Hải. Lúc ấy thiên hạ rất muốn biết tay ca vọng cổ này từ đâu xuất hiện, kẻ thì nói Thanh Hải ở miền Tây, người thì nói ở miền Đông. Vậy thì Thanh Hải xuất thân từ đâu, lúc nào mà đã góp phần làm cho đại ban Kim Chưởng vững vàng, tăng cường sức mạnh cho bảng hiệu.
            Số là Thanh Hải nhờ có làn hơi ca thiên phú mà nên sự nghiệp, nổi danh như cồn, nhưng có ai rõ được thời gian trước đó Thanh Hải là một dân phu với cái nghề cạo mủ cao su mà quanh năm suốt tháng với cuộc sống thiếu thốn, nghèo nàn cơ cực.
            Thật vậy, phần lớn nghệ sĩ cải lương tên tuổi, được khán thính giả khắp nơi mến mộ, thì thuở thiều thời của họ đã có một quá khứ chẳng rạng rỡ gì, họ đã xuất thân từ những nghề bần hàn, khốn khó mà trong xã hội hầu như chẳng ai muốn, cực chẳng đã phải chịu lấy mà thôi.
            Nếu như ai đó theo dõi hoạt động cải lương từ thời xa xưa, không ít thì nhiều đã biết Út Trà Ôn từng làm ruộng chăn trâu ở quận Trà Ôn, Cần Thơ (về sau Trà Ôn thuộc Vĩnh Long). Nhờ làn hơi ca vọng cổ trời cho, mà được người đời tặng phong cho danh hiệu đệ nhứt danh ca, đem đến cho Cậu Mười Út một cuộc sống sung túc, tiền vô như nước, lên xe xuống ngựa, bỏ hẳn cái nghề cực nhọc tay lấm chơn bùn.
            Còn như nghệ sĩ Hữu Phước cũng thế, với những bài vọng cổ vang danh trong làng cổ nhạc, được hàng vạn khán thính giả ái mộ, và trở thành “nghệ sĩ đi xe hơi”. Thế nhưng, có ai biết được thuở thiếu thời Hữu Phước rất nghèo khổ, vất vả phải đi làm phổ ky chạy bàn cho tiệm nhậu “Họa Mi” của cô Năm Cần Thơ trong Đại Thế Giới. Rồi cũng nhờ có giọng ca hay nên Hữu Phước được Tướng Bảy Viễn giới thiệu với ông Ba Bản, chủ nhân hãng dĩa hát Hoành Sơn, để rồi sau đó nổi tiếng luôn.


Nghệ sĩ Thanh Hải và Soạn giả Viễn Châu

Thanh Hải nổi tiếng do đâu?
            Còn Thanh Hải thì sao, nổi tiếng do đâu? Thanh Hải tên thật là Hồ Văn Xia, vốn là dân phu ở đồn điền cao su Lai Khê, Bến Cát, Bình Dương. Khi đi cạo mủ anh ta thường hay cất tiếng ca vọng cổ, và mỗi lần nghe ca thì đám dân phu ở gần, họ ngưng làm việc vài phút để thưởng thức làn hơi ca thiên phú của Thanh Hải. Việc ấy được đồn đãi nhiều, nên ngày nọ vị kỹ sư đồn điền đưa anh ta xuống Sài Gòn giới thiệu với ông Ba Bản, đang là là bầu gánh đoàn hát Thủ Đô.
            Nghe Thanh Hải ca vọng cổ, ông Ba Bản nghĩ thầm rằng giọng ca này nếu được khai thác thì cũng ngang ngửa với Út Trà Ôn, nên ông quyết định thu nhận và trả lương mỗi ngày, nhưng không giao vai trò gì hết, mà hằng đêm ngồi bên cánh gà, học hỏi tất cả mọi vai trò của nghệ sĩ trong tuồng, kể cả vai của Út Trà Ôn.
            Thời vận đã đến, gặp lúc Út Trà Ôn và Hoàng Giang rời bỏ đoàn Thủ Đô nhảy ra lập gánh Thống Nhứt, thì Thanh Hải được bầu Ba Bản đưa vào thay thế các vai trò của đệ nhứt danh ca. Thế là từ một anh kép dự phòng, chưa có vai trò gì hết, Thanh Hải một bước nhảy vọt lên ngôi vị kép chánh một đoàn hát đại ban.
            Thế nhưng, ngay đêm đầu đăng bảng không có Út Trà Ôn thì con số khán giả mất đi hơn phân nửa, liên tiếp hai, ba đêm sau cũng chẳng khá hơn, dù rằng tiếng ca Thanh Hải đâu thua gì đệ nhứt danh ca, còn hay hơn là đằng khác. Trong lúc Thanh Hải lo âu thì ông Ba Bản nghĩ ra phương cách khá hay, rất thực tế, là phải cho giới mộ điệu cải lương khắp nơi nghe được giọng ca Thanh Hải, thì đoàn Thủ Đô sẽ lấy lại phong độ dễ dàng.


NGÀNH MAI
Tháng 09/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0905-nm-09042015212155.html

 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #155 vào: 22/12/2018, 21:15:05 »
Ông bầu Ba Bản và giới chức chính quyền đương thời

Vì muốn giới thiệu tiếng ca Thanh Hải với giới mộ điệu bốn phương, cũng như muốn cứu vãn tình trạng giảm sút khán giả đoàn Thủ Đô, ông bầu Ba Bản đã tận dụng cái vị thế sẵn có của một đại điền chủ, mà sự quen biết rộng rãi với các cấp chính quyền cao trọng từ thời thuộc địa Pháp cho đến bây giờ.

Từ trái sang: Minh Vương, Thanh Sang, Thanh Hải, Thanh Tú
trong buổi họp mặt đoàn cải lương Thanh Minh tại Bình Dương

Nhờ sự quen biết
            Theo lời ông kể lại thì ngày nọ ông kêu Thanh Hải, và một nhạc sĩ mang cây đờn lục huyền cầm đi theo ông đến đài phát thanh Sài Gòn. Do sắp đặt sẵn nên cùng đi lại có cả ông Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành; Tướng Mai Hữu Xuân, chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, và ông Đô Trưởng Sài Gòn Nguyễn Phú Hải. Do được báo trước, ông giám đốc đài phát thanh có mặt tại cổng để chào đón, tiếp rước ông bộ trưởng và các vị vào phòng khách danh dự của đài, và tại đây Thanh Hải được gọi vào ca 6 câu vọng cổ. Nghe xong hầu như vị nào cũng công nhận làn hơi ca độc đáo của Thanh Hải là hiếm có, cần phải phổ biến rộng rãi. Tiếp đó thì người tùy phái đi gọi ông trưởng ban văn nghệ đến nhận lệnh dẫn Thanh Hải vô phòng thu âm của đài. Sau khi các vị khách nói trên ra về, thì ngay buổi phát thanh Cổ Nhạc Nam Phần lúc 11 giờ trưa, tiếng ca ngọt ngào truyền cảm của Thanh Hải được phát đi trên làn sóng phát thanh của đài Sài Gòn, gây bất ngờ cho thính giả bốn phương.
            Nhờ sự quen biết với nhiều viên chức chính quyền đương thời, mà ông Ba Bản một đại điền chủ ở Bến Tre kiêm bầu gánh cải lương, đã rút ngắn thời gian đưa một dân phu đồn điền cao su lên ngôi vị một danh ca lừng danh, một kép hát hữu hạng, được giới mộ điệu cả nước biết tên. Còn về phía khán thính giả, những người yêu thích cổ nhạc cải lương thì được thưởng thức một giọng ca truyền cảm mới lạ, một làn hơi ca độc đáo xuất hiện, phục vụ cho giới yêu thích cổ nhạc, phục vụ cho đời.
            Quả thật, đúng như dự đoán của ông bầu Ba Bản, khi trưa đài phát thanh Sài Gòn cho phát tiếng ca Thanh Hải, thì tối hôm đó thiên hạ sắp hàng mua vé vào xem. Họ nói rằng đi coi để so sánh giọng ca Thanh Hải và Út Trà Ôn, khiến cho vé hát đoàn Thủ Đô không còn một vé. Vãn hát khán giả hài lòng khi ra về, và đây là những người đầu tiên quảng bá giọng ca Thanh Hải, để cho những hôm sau số người đi coi hát tiếp tục đầy rạp.
            Từ đó Thanh Hải được hãng dĩa hát mời gọi thu thanh liên miên, và giờ đây thì tiếng ca Thanh Hải không còn thu hẹp ở rạp hát, hay lẩn quẩn trong vườn cao su, mà nó được làn sóng phát thanh đài Sài Gòn mang đi cùng khắp, để giới mộ điệu cổ nhạc trên cả nước thưởng thức. Lúc này thì dĩ nhiên tiền bạc xài thoải mái, chớ không còn bẩn chật như lúc còn ở vườn cao su, hay tiền lương hạn hẹp của một anh kép hát chưa có vai trò, mỗi đêm còn ngồi học bên cánh gà sân khấu mà chẳng biết tương lai sẽ đi về đâu.


Tuấn Thanh, Thanh Thanh Tâm, Thanh Hải
và Ngọc Hương trong chương trình “Làn điệu phương Nam”

Cuộc đời lên hương
            Thanh Hải thật tốt số, nếu như không có cái chuyện Út Trà Ôn rời bỏ gánh, để anh ta có cơ hội được đưa lên thay thế vai trò. Cũng như nếu không có vấn đề ông Ba Bản muốn cứu vãn tình trạng sụt giảm khán giả của đoàn Thủ Đô, thì Thanh Hải dễ gì được lăng xê ở đài phát thanh Sài Gòn, để rồi cuộc đời lên hương luôn.
            Có lẽ do xuất thân từ nghèo khó, bần hàn, đi làm dân phu đồn điền đời sống thiếu thốn mọi mặt, nên về sau dù làm ra nhiều tiền, ký công tra bạc triệu, đêm hát lãnh lương gấp mười lần kép nhì, đào ba, Thanh Hải vẫn chí thú làm ăn, không phí phạm đồng tiền, không sa ngã vào bốn bức tường tai hại như nhiều nghệ sĩ nổi tiếng khác.
            Nhờ tránh được những tệ hại nói trên mà năm Mậu Thân cải lương khủng hoảng trầm trọng, hầu hết đào kép và những người có liên hệ làm ăn đến hoạt động cải lương đều khổ sở, điêu đứng, nợ nần tứ giăng, phải chạy lung tung kiếm sống qua ngày, kể cả những người cho vay gánh hát cũng than trời. Nhưng riêng Thanh Hải thì không hề hấn gì, chẳng ảnh hưởng bao nhiêu. Do đâu mà Thanh Hải được như vậy chớ? Người ta nói Thanh Hải có đến ba bốn cái tiệm buôn bán gì đó ở Bình Dương, nên cuộc sống khỏe re, khỏi phải chạy đôn chạy đáo như nhiều đồng nghiệp.
            Ông bầu Ba Bản nguyên là đại điền chủ ở Bến Tre, ông quen biết với nhiều nhân vật chức quyền cao trọng từ thời Pháp cho đến thời Đệ Nhứt và Đệ Nhị Cộng Hòa. Lúc đoàn Thủ Đô mới thành lập còn đang tập tuồng tại hãng dĩa hát Hoành Sơn ở đường Ngô Đình Khôi. Mỗi ngày ông Đốc Phủ Sứ Nguyễn Phú Hải, Đô Trưởng Sài Gòn và phu nhân lên đây coi tập tuồng và trò chuyện với ông Ba Bản.
            Lúc soạn giả Thu An nộp tuồng ở Bộ Thông Tin xin kiểm duyệt, thì lúc ấy tuồng mang tên “Tiếng Trống Tàn Canh”. Ông Nguyễn Phú Hải nói rằng tuồng khai trương nên tránh chữ “Tàn” và ông đề nghị sửa lại “Tiếng Trống Sang Canh” và tuồng mang tên ấy luôn từ đó.


NGÀNH MAI
Tháng 09/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0910-nm-09102015113151.html

 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #156 vào: 29/12/2018, 19:25:56 »
Bài vọng cổ “Thiên Thần Áo Trắng”

Khoảng gần cuối năm Mậu Thân 1968, bài vọng cổ “Thiên Thần Áo Trắng” xuất hiện ở các chợ làng quê nông thôn, gây sự tò mò cho nhiều người, đặc biệt là giới đờn ca tài tử rất khó bỏ qua, bởi hình bìa hấp dẫn.

Bìa cuốn bài ca “Thiên Thần Áo Trắng”

DO CHỮ “Thiên Thần” ở bìa cuốn bài ca, lại thêm hình vẽ nàng tiên có cánh nên mới nhìn vào tưởng đâu là bài ca mang ý nghĩa tôn giáo. Thế nhưng, khi mua về đọc qua hai câu đầu thì người ta mới rõ là bài ca nói về tâm trạng người thương binh và cô nữ y tá trong câu chuyện.
            Người sáng tác bài ca là nghệ sĩ lão thành Năm Châu, ông gây bất ngờ cho bà con mộ điệu và giới soạn giả thời ấy. Bởi vì suốt thời gian mấy chục năm hoạt động sân khấu và điện ảnh, Năm Châu chỉ soạn tuồng cải lương, vừa viết tuồng, vừa làm kép hát, nổi tiếng một thời gian dài với các vở tuồng xã hội như “Vợ Và Tình”, “Chàng Đi Theo Nước”…
            Năm Châu cũng có thời gian khoảng mười năm hoạt động trong làng điện ảnh như viết truyện phim. Cuốn phim “Người Đẹp Bình Dương” do Năm Châu viết đã đưa cô nữ sinh Thẩm Thúy Hằng trở thành tài tử điện ảnh sáng giá.
            Năm Châu cũng hợp tác với hãng phim Mỹ Vân cho ra đời cuốn phim ăn khách “Quan Âm Thị Kính”, do người nhà của ông là Kim Lan, Kim Cúc, Bảy Nhiêu, và luôn cả ông đảm trách các vai trò chính yếu của phim. Ban Năm Châu lại chuyên môn chuyển âm phim Nhật, phim Ấn Độ thời bấy giờ.
            Nói chung suốt hơn ba thập niên Năm Châu chưa bao giờ viết bài ca vọng cổ. Đến năm Mậu Thân cải lương khủng hoảng trầm trọng, nếu viết tuồng thì đâu có gánh hát nào nhận đưa lên sân khấu. Do vậy mà giờ đây Năm Châu mới viết bài ca vọng cổ, và bài “Thiên Thần Áo Trắng” được ra đời khoảng gần cuối năm 1968 như đã nói.
            Bài ca nói lên tâm trạng của người thương binh nằm bệnh viện, được bàn tay tận tình của cô y tá chăm sóc cho mình mà tưởng tượng như là Thiên Thần Áo Trắng. Lời ca khá hay, nhưng cái xui xẻo cho Năm Châu là bài ca ra đời vào thời điểm luật tổng động viên ban hành, giới thanh niên đờn ca tài tử nếu không nhập ngũ thì cũng lẩn trốn, đâu dám xuất đầu lộ diện tham gia đờn ca xướng hát. Do vậy mà bài vọng cổ “Thiên Thần Áo Trắng” rất ít người học, hiếm thấy người ca ở thời buổi mà sinh hoạt đờn ca bị hạn chế này.
            Dưới đây là bài vọng cổ “Thiên Thần Áo Trắng”:

            Thơ:
                        Chiếc khăn thập đỏ cài lên tóc,
                        Áo trắng dán vào thân mảnh mai,
                        Gió lạnh ru hồn đêm quạnh quẽ,
                        Trong mơ bỗng vẳng tiếng rên dài.


            Vọng cổ:
            1) Em vội ngồi lên bỏ chân vào đôi dép nhỏ, qua hai dãy giường lặng lẽ em thấy một thương binh thổn thức giữa đêm… tàn. Em tưởng là mộng chinh nhân đang hiện lên trong giấc ngủ mơ màng… Em đứng kề bên chăm chú nhìn từng phản ứng, thấy im lặng em toan trở gót thì bỗng nghe anh gọi: Cô ơi! Cô… Rồi đôi mắt mệt mỏi của anh nhìn em với một niềm trìu mến thiết tha, bàn tay khẳng khiu của anh đưa ra như van xin một chút mơn man để làm dịu cơn đau đớn.

            2) Lòng em thấy xót xa, em mới ngồi bên anh mà hỏi han an ủi: Nào, bịnh tình có giảm thuyên đôi chút, hay vết thương anh hành hạ suốt đêm ngày? Anh gượng ngồi lên rồi buông thở một hơi dài. Anh bảo rằng: Thân anh dầu có nát tan vì non nước thân yêu, anh cũng không bao giờ hối tiếc, nhưng lòng anh sao cứ luôn luôn thổn thức mỗi khi anh nhớ đến đôi bàn tay óng chuốt của vị thiên thần áo trắng, săn sóc êm ả như gió nhẹ buổi chiều thu…

            Thơ:
                        Lòng rung cảm thấy thầm yêu người chiến sĩ,
                        Thân thép gang mà hào kiệt vẫn đa tình,
                        Giữa sa trường, sông máu lửa nhẹ thân chinh,
                        Về gối nệm lại bàng hoàng yêu chất “đẹp”.


            Vọng cổ:
            3) Trong ánh mắt tuy sáng ngời màu sắt thép, mà đôi môi rung như chờ đợi chiếc hôn… nồng, em cũng mến tặng cho ai một chút hương lòng. Nhưng phận sự của một y tá có lương tâm là thoa dịu những vết thương đau, an ủi những tấm lòng cô đơn lạnh lẽo, giúp ánh sáng cho người mù dò thấy lối, và giúp tiện nghi cho những phế nhân day trở nặng như cùm.

            4) Nhạc:
                        Em tiêm một mũi thuốc để chế ngự cơn đau,
                        Em thay một cuộn băng khi vết thương rỉ máu,
                        Em tiếp một chén nước để hạ dần cơn sốt,
                        Em đưa tay vuốt ve cho lòng dạ đỡ băn khoăn.


            Rồi thì đằng này gọi cô, đằng kia kêu chị, em thoăn thoắt chạy khắp các giường không bén gót, lắm lúc mồ hôi tuôn ướt áo, mà thân em không quản nhọc, lòng em cũng không buồn… Phận sự thiêng liêng với đức tin cao cả, em ban phát tình thương cho mọi người xấu số, chuyển không khí trầm ưu ra phấn khởi, tạo nguồn vui cho đau khổ hóa tươi cười.


NGÀNH MAI
Tháng 03/2017


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/bai-vong-co-thien-ao-trang/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #157 vào: 03/01/2019, 12:52:48 »
Nghệ sĩ tài danh thu thanh dĩa hát “Nắng Chiều Trên Sông Dịch”

Sau thời gian hát trên sân khấu, nhận thấy vở tuồng “Nắng Chiều Trên Sông Dịch” khán giả luôn đầy rạp, nên hãng dĩa Hồng Hoa thương lượng với soạn giả Thu An để khai thác về mặt dĩa hát. Thế là thành phần nghệ sĩ được coi như gạo cội ăn khách thời bấy giờ đã được mời thu thanh.


Thành phần nghệ sĩ gạo cội
            Ngoài nghệ sĩ Thanh Hải giữ vai chánh Trần Tử Lang, người ta cũng được nghe giọng ca vàng của nữ nghệ sĩ Thanh Hương trong vai Trần Tử Ly Cơ, nhưng rất tiếc là vai đào nhì nên Thanh Hương ca diễn rất ít. Trong khi đó thì Ngọc Hương thành tích và giọng ca thì không thể sánh với Thanh Hương, nhưng nhờ là bà xã của Thu An nên đương nhiên được giao vai chánh Chu Sơn Anh Đài, ca diễn rất nhiều, ngang với Thanh Hải. Và nghệ sĩ Hữu Phước cũng chấp nhận đứng sau Thanh Hải khi đảm nhận vai Chu Sơn Kiệt, dù rằng Hữu Phước nổi tiếng trước Thanh Hải khá lâu. Giới mộ điệu chỉ cần căn cứ vào vai trò thì biết ai cao ai thấp trong việc thu thanh dĩa hát này, dĩ nhiên Hữu Phước thấp hơn một bực.
            Còn hề Minh với vai trò hề ca, vừa có giọng ca mùi lại vừa chọc cười độc đáo, là yếu tố ăn khách, có nhiều khán giả nói rằng họ đi coi đoàn Kim Chưởng là để nghe hề Minh ca mà thôi. Sang qua địa hạt dĩa hát vai nầy vẫn là hề Minh, đoàn Kim Chưởng làm ăn khá, một phần cũng nhờ giọng ca hề Minh. Hề ca luôn được khán thính giả mến mộ nên lương bổng không thua đào kép chánh. Vậy mà năm Mậu Thân cải lương bị khủng hoảng mới hai tháng là người ta thấy hề Minh vay nợ để sống cầm chừng, và sau đó đã phải chạy xe ôm ở Thị Nghè để chạy gạo hằng ngày. Mấy bà đi chợ vốn mến tài hề Minh nên đi xe chẳng trả giá mà còn cho thêm tiền. Năm Mậu Thân cải lương lâm vào tình trạng bi đát hơn bất cứ nghề nào, vì như mọi người đã thấy, sau biến cố gần hai tháng mọi ngành nghề hoạt động trở lại bình thường, nhưng cải lương thì không bình thường, bởi đâu có hát được, có mấy người mua vé đi coi đâu để mà mở màn. Do đó mà đào kép công nhân tiếp tục khổ dài dài, chớ không riêng gì hề Minh.
            Về phần kép độc Trường Xuân với vai trò thâm độc, gây ra bao nhiêu tang tóc, thù hận. Nếu như trên sân khấu với giọng nói dữ dằn, điệu bộ hung bạo, thì ở ngoài đời Trường Xuân rất hài hòa, dễ mến, cái hay của người nghệ sĩ là vậy. Vai trò thúc phụ của Trường Xuân cũng rất khó có kép độc nào thay thế, nên từ sân khấu đến dĩa hát vẫn là Trường Xuân thủ vai.


Thanh Tú, Phương Quang và Thanh Hải trong chương trình “Sân khấu Vàng”
xây nhà tình thương cho người nghèo do Lệ Thủy và Minh Vương sáng lập

Nhờ giọng ca trời cho Thanh Hải
            Tóm lại vở hát “Nắng Chiều Trên Sông Dịch” thành công lớn là do nhiều nghệ sĩ tài danh góp sức, nhưng ai cũng nhìn nhận một phần lớn là nhờ giọng ca trời cho của Thanh Hải. Ở đoàn Kim Chưởng, nghệ sĩ Thanh Hải nổi tiếng với những vở tuồng ăn khách như: Hai Chiều Ly Biệt, Nửa Bản Tình Ca, Nắng Chiều Trên Sông Dịch, Cô Gái Sông Đà… và đến năm 1965 thì Thanh Hải rời đoàn Kim Chưởng về cộng tác với công ty Kim Chung, khởi đầu ở đoàn Kim Chung 3 hát với Thanh Hùng, Ngọc Hoa, Lệ Thủy…
            Khoảng cuối năm 1965 đoàn Út Bạch Lan – Thành Được rã gánh, vợ chồng chia tay, Thành Được về đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, còn Út Bạch Lan về đầu quân công ty Kim Chung. Được cô đào thương số một về cộng tác, ông bầu Long liền thành lập đoàn Kim Chung 4, đồng thời điều động kép Thanh Hải từ đoàn 3 sang đóng cặp với Út Bạch Lan, những vai phụ chỉ cần lấy ở các đoàn khác về là xong. Như vậy người ta thấy chỉ cần một Út Bạch Lan về là ông bầu Long thành lập thêm một đoàn hát dễ dàng. Cặp đào kép chánh Thanh Hải – Út Bạch Lan là hai giọng ca nam nữ đang được khán giả mến chuộng nhứt lúc bấy giờ, nên đã thu hút mạnh mẽ số người đi coi hát thích nghe ca vọng cổ.
            Thời gian sau Út Bạch Lan hết hợp đồng rời khỏi Kim Chung, tự mình thành lập đoàn Tân Hoa Lan, thì ông bầu Long chuyển Thanh Hải về đoàn Kim Chung 1 hát với các nghệ sĩ miền Bắc: Bích Hợp, Kim Chung, Huỳnh Thái, Ngọc Toàn…
            Năm Mậu Thân 1968 bầu Long đưa Thanh Hải về đoàn Kim Chung 6, và cũng trong cái năm khốn khổ của cải lương này, anh ta chấm dứt hợp đồng với Kim Chung. Nói rõ hơn từ năm Mậu Thân nghệ sĩ mãn hợp đồng, bầu Long không kêu ký giao kèo trở lại như trước, ai ở ai đi cũng được, ông chẳng tha thiết gì. Đào kép ở lại phải trả lương tháng mà không có chỗ đứng thì chỉ lỗ lã thôi, bởi lúc ấy Kim Chung cho giải tán hết bốn đoàn, chỉ còn lại hai đoàn hát cầm chừng cho có hát mà thôi, chớ không lẽ dẹp luôn.
            Giữ lại hai đoàn, một phần là để giúp đỡ những người mà từ lâu nay sống chết với Kim Chung, đặc biệt là những người theo đoàn từ Bắc vào Nam. Làm kép chánh mà không được ký giao kèo, đồng nghĩa với không còn được trọng dụng, Thanh Hải tự ái nghỉ hát về nhà khoảng hơn một năm thì về đi đoàn Thái Dương 3 của bà Tiêu Thị Mai, chủ rạp Quốc Thanh. Lúc đó là năm 1970 và hình như Thanh Hải hát ngày nào lãnh lương bữa nấy chớ chẳng có giao kèo gì hết.


NGÀNH MAI
Tháng 09/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0918-nm-09182015143859.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #158 vào: 08/01/2019, 21:45:00 »
Ngọc Bích – Út Trà Ôn về đoàn Thanh Hải

Sau nhiều năm đi hát, có lẽ rút được kinh nghiệm, nên đến năm 1972 Thanh Hải cùng với hề Văn Hường đứng ra lập gánh lấy bảng hiệu Thanh Hải – Văn Hường. Và lúc này thì Út Trà Ôn bị thất nghiệp do các đoàn Kim Chung giải tán. Cậu Mười cùng cô học trò Ngọc Bích về đầu quân cho gánh hát Thanh Hải – Văn Hường.

Nghệ sĩ Thanh Hải

Cá ăn kiến, thì cũng có lúc kiến ăn cá
            Trước đây khi còn ở đoàn Thủ Đô, trong khi Út Trà Ôn hát vai chánh ngoài sân khấu thì Thanh Hải đứng núp sau cánh gà học hỏi, bởi không có vai nào hết. Người ta nói lúc ấy Thanh Hải rất “sợ” Cậu Mười, cậu nói gì nghe nấy, sai bảo gì cũng phải làm. Bởi thời này đào kép chánh muốn gì bầu gánh cũng phải chiều theo, nhứt là Út Trà Ôn nổi tiếng hay làm khó dễ. Nếu như cậu bất mãn gì đó mà có liên quan đến Thanh Hải, thì anh ta rất dễ dàng bị đuổi khỏi đoàn, bởi làm mất lòng kép chánh.
            Thế nhưng, mười năm sau thì đệ nhứt danh ca lại về đầu quân gánh Thanh Hải – Văn Hường, tức chịu sự điều động phân bố vai trò của bầu gánh Thanh Hải. Nói rõ hơn là Út Trà Ôn làm việc dưới sự chỉ huy của Thanh Hải. Thiên hạ nói đời là thế! Cá ăn kiến, thì cũng có lúc kiến ăn cá vậy!
            Rồi thì thời gian chưa đầy một năm thì đoàn Thanh Hải – Văn Hường cũng bị rã gánh, hầu hết đào kép công nhân phải chịu thất nghiệp, bởi đâu còn đoàn nào, sân khấu nào để mà đầu quân. Riêng bầu Thanh Hải về nhà trông coi mấy cửa hàng buôn bán của anh. Thế nhưng, vẫn nhớ nghề nên thỉnh thoảng có đoàn nào kêu đi hát chầu thì cũng nhận lời cho vui thôi, chớ không nhắm vào tiền bạc hay giao kèo gì hết.
            Sau 1975 gánh hát cải lương thành lập nhiều, tỉnh nào cũng có, Thanh Hải về hát cho đoàn Quê Hương (Bến Tre) cùng với Út Hiền, Hồng Thủy, Thành Chiến. Đến năm 1977 lại về cộng tác với đoàn Thống Nhứt (Tây Ninh) hát với Ánh Hồng, được khán giả khen ngợi qua vai Trần Bình Trọng. Lúc bấy giờ mỗi khi Thanh Hải ra chợ Long Hoa thì người ta gọi anh bằng cái tên của vai tuồng.
            Năm 1978 Thanh Hải về thành phố hát ở đoàn Sống Chung, được một năm thì về cộng tác với đoàn Văn Công thành phố, đây là đoàn cải lương mà Thanh Hải cộng tác thời gian lâu dài nhứt (9 năm).


Thanh Thanh Tâm và Thanh Hải trong chương trình “Làn điệu phương Nam”

Nghỉ hát sau 30 năm theo đuổi nghiệp cầm ca
            Cuối năm 1988, thời điểm này cải lương còn hoạt động trong bao cấp, nên người lãnh đạo đoàn hát có nhiều quyền hành. Không biết vô tình hay cố ý, hoặc vì lý do nào đó mà trưởng đoàn lại phân bố vai trò, giao cho Thanh Hải vai hề, mà lại là vai trò rất khó coi, anh ta thua buồn rời khỏi đoàn về… nằm nhà, nghỉ hát sau 30 năm theo đuổi nghiệp cầm ca.
            Suốt 5 năm không thấy Thanh Hải xuất hiện ở đoàn hát nào hết, mà chỉ thường xuyên chăm sóc vườn điều 5 mẫu ở Bến Cát, Sông Bé, mà anh đã tạo ra nó lúc còn đi hát kiếm ra tiền.
            Có lần một nhà báo gặp Thanh Hải đã hỏi anh:
            – Thế sao Thanh Hải chưa hát trở lại dù có đoàn mời?
            – Tôi đã lớn tuổi, sức khỏe kém, không thể theo đoàn đi lưu diễn xa nên tôi quyết định nghỉ hát.
            – Còn một nguyên nhân nào khác khiến anh đột ngột nghỉ hát, điều gì đã làm cho anh chán ngán tình đời không đi hát?
            Thanh Hải buồn bã trả lời:
            – Tôi nghỉ hát nằm nhà, có nghĩa là không phải tôi vì tiền nhiều tiền ít, mà bỏ đoàn này theo đoàn nọ. Nhưng vấn đề tiền bạc, sự tương quan đồng lương của nghệ sĩ trong cùng đơn vị nghệ thuật rất là quan trọng. Về mặt nghề nghiệp, sự cao thấp chênh lệch của đồng lương, nói lên cái gì khác hơn là ý nghĩa tiền nhiều hay ít. Người ta tranh giành nhau từng chiếc ghế để có quyền xếp lương người này, nâng lương người nọ, hạ lương người kia, phân công phân vai không hợp lý, để đẩy lùi nghề nghiệp người khác, để cho người ta chán nản bỏ đi.
            Đó là sự hiểm độc của người đời từ xưa đến nay vẫn không đổi mới chút nào. Tôi từng làm bầu gánh, tôi đã cố sức tránh không để cho sự quyết định tiền bạc, đồng lương của mình như là đánh giá tài năng làm đau khổ đồng nghiệp, vì tôi biết làm thế là mất đức. Tôi chỉ nói thế để giải thích sự nghỉ hát của tôi, chứ không còn để tâm phiền trách gì ai đã từng gây đau khổ cho tôi.
            Đêm về tôi cứ suy nghĩ mãi, lẽ nào chỉ vì tự ái cá nhân, vì bất đồng với vài người mà mình phải từ bỏ sự nghiệp của mình. Nhưng sở trường của tôi là kép mùi. Tôi biết mình lớn tuổi không thể hát kép chánh, nhưng dù vai gì cũng phải hợp với sở trường của mình. Người ta lại giao cho tôi đóng vai hề. Có lần tôi “được” giao đóng vai một thằng cầm sợi dây giữ cho con heo nái đi động đực để chọc cho khán giả cười. Như thế làm sao tôi còn muốn đi hát nữa. Dù sao tôi cũng đã 30 năm trong nghề, vinh quang đã trải qua, nên tôi rút lui khỏi sân khấu không có gì để mà hối tiếc.


NGÀNH MAI
Tháng 09/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0926-nm-09262015103912.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #159 vào: 12/01/2019, 20:46:47 »
Bản ca Phụng Hoàng trong vở hát “Nửa Đời Hương Phấn”

Vở hát tâm lý tình cảm xã hội “Nửa Đời Hương Phấn” của hai soạn giả Hà Triều-Hoa Phượng đưa lên sân khấu Thanh Minh năm 1960 đã gây chấn động giới mộ điệu lúc bấy giờ (thời điểm này đoàn Thanh Minh chưa có chữ Thanh Nga trên bảng hiệu).

Bìa cuốn bài ca “Nửa Đời Hương Phấn” phát hành năm 1960

ĐÂY LÀ VỞ HÁT thuộc loại tuồng xã hội hiện đại, mà nhân vật chánh là một cô gái giang hồ, đó là điều mà xưa nay chưa có một soạn giả nào dàn dựng kịch bản như thế. Hà Triều-Hoa Phượng đã dựng lên cô gái giang hồ lại có được một nghĩa cử đáng khen, với lòng hy sinh cao đẹp. Cũng như sự thiệt thòi, chịu đựng khổ đau của cô đã làm khán giả bùi ngùi xúc động đến rơi lệ.
            Tuồng trình diễn liên tục tại rạp Nguyễn Văn Hảo suốt cả tháng vẫn còn đông đảo khán giả, do đó tiếng đồn sâu rộng trong thiên hạ, nên đoàn Thanh Minh đi lưu diễn đến nơi nào cũng thành công lớn với vở tuồng này.
            Thêm vào đó hãng dĩa hát Hồng Hoa cũng thu thanh phát hành bộ dĩa “Nửa Đời Hương Phấn” phổ biến cùng khắp, do vậy mà tuồng đã nổi tiếng lại càng nổi tiếng hơn. Rồi từ đó về sau thỉnh thoảng lại được tái diễn và cũng đông đảo người đi coi, người ta ước tính vở hát ấy đã có trên cả trăm lần trình diễn. Đào thương Út Bạch Lan (vai Hương), kép Thành Được (vai Tùng), đào Ngọc Nuôi (vai Diệu).
            Câu chuyện được tóm tắt như sau: Cô The từ vùng thôn dã ra chốn thị thành phồn hoa đô hội, rồi đổi tên là Hương. Cô có nhan sắc dễ nhìn khiến cho bao nhiêu khách tìm hoa mến mộ chạy theo săn đón, trong số ấy có chàng trai tên Tùng đã yêu cô tha thiết, và mong mỏi được cưới cô làm vợ. Hương cũng mềm lòng trước anh chàng trai ấy, vốn chưa biết cô là gái giang hồ.
            Trong khi cả hai ước hẹn thì người anh của Tùng tên là Cang, biết được quá khứ của Hương và vì lý do danh giá gia đình, Cang đã can thiệp vào chia cách hai người. Tuy lòng đau khổ phải xa người yêu, Hương cũng chấp nhận yêu cầu của Cang. Rồi cô dứt tình với Tùng bằng cách giả bộ phản bội phụ rẫy chàng ta.
            Để trả thù người yêu phụ bạc, Tùng đi cưới vợ, nhưng trớ trêu thay, cô Diệu vợ Tùng lại là em ruột của Hương. Diệu đâu có biết trước đó Tùng và chị mình đã từng yêu nhau.
            Sau ngày cưới, Hương về thăm em thì mới vở lẽ ra sự việc. Nỗi ngang trái, đoạn trường này được diễn ta bằng bản ca Phụng Hoàng, một bài ca mà khi xưa lẫn bây giờ hầu như nhóm đờn ca tài tử nào cũng có người thuộc lòng.
            Cái điều đáng nói ở đây là bản ca Phụng Hoàng coi như bất hủ, được soạn giả đưa vào kịch bản đúng lúc, đúng chỗ, với ba nhân vật chính là Tùng, và hai chị em cô Hương, cô Diệu, mà tình tiết câu chuyện thật éo le, gay cấn.
            Riêng ở hải ngoại trong các buổi đờn ca tài tử họp mặt tại phòng sinh hoạt nhật báo Người Việt, Westminster, đã có giai nhân tài tử: Thanh Nương, Hồng Châu và một nam tài tử đã nối tiếp nhau trình bày 12 câu Phụng Hoàng nói trên. Có nghĩa là cả ba đều đã thuộc lòng mới liên ca được, mà không vấp váp, bỡ ngỡ.
            Kỳ báo này chúng tôi đăng trọn bản ca Phụng Hoàng “Nửa Đời Hương Phấn”. Bài ca này lên báo, tương lai sẽ có thêm giai nhân tài tử học thuộc lòng đưa vào sinh hoạt.
            Bản Phụng Hoàng – 12 câu

            Dù em có thành hôn với ai đi nữa thì chị cũng về với em…
            Để mừng ngày em xuất giá, cho đẹp lòng ba với má.
            Chị cũng nở mặt nở mày với lối xóm bà con.
            Còn dượng Ba đây, là một thanh niên có học thức lại đàng hoàng.
            Chị vô cùng sung sướng, thấy em có một người chồng đúng như lòng chị ước mong.

            Chị Hai ôi, chị nói chi câu đó cho thêm đau lòng,
            Ai kia cũng đau khổ muôn phần.
            Nào có phải tại ai đan tâm phụ bạc,
            Phải chăng số trời biết nói sao đây.

            Anh nói chuyện ai mà em không rõ được,
            Vậy anh hãy nói rõ ngọn ngành,
            Kẻo mà em đây thắc mắc vô cùng.

            Nếu thương người thì xin đừng có nói ra,
            Mà tội nghiệp cho em của người ta,
            Thà chịu khổ riêng mình, chớ đừng để sầu cho em.

            Ôi đau đớn thay khi gọi em mà gọi chẳng nên lời,
            Diệu ơi em hãy nghe đây là sự thật,
            Sự thật chị Hai đây là…

            Chị đây là chị ruột của em.


NGÀNH MAI
Tháng 04/2017


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/ban-ca-phung-hoang-trong-vo-hat-nua-doi-huong-phan/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #160 vào: 17/01/2019, 20:14:56 »
Soạn giả Thu An và cặp đào kép chánh Ngọc Hương – Thanh Hải thành danh từ đâu?

Những người am tường theo dõi hoạt động cải lương, hầu như ai cũng biết Thu An – Ngọc Hương – Thanh Hải thành danh, tạo nên sự nghiệp là nhờ ở đoàn Thủ Đô của ông bầu Ba Bản, chớ như hát ở đoàn khác thì khó thể nào nổi tiếng mau lẹ như vậy, mà rất dễ dàng bị lu mờ luôn, bởi đoàn hát nhỏ thường hay rã gánh.

Thanh Hải và Ngọc Hương trong chương trình Tưởng niệm soạn giả Thu An

Tạo nên sự nghiệp nhờ đoàn Thủ Đô
            Trong lịch sử cải lương đã từng cho thấy ca vọng cổ hay như đệ nhị danh ca Út Nhị mà ở đoàn nhỏ thì tên tuổi bị lu mờ đi. Thế mà cả ba người khi đã nên danh, có tiền vô nhiều lại bỏ đi, gây cho đoàn Thủ Đô một khoảng trống, phải thời gian vài tháng mới lấy lại phong độ, thì ai lại không chán nản bỏ cuộc.
            Khi sang đầu quân đoàn Kim Chưởng thì Thu An cũng làm soạn giả thường trực kiêm giám đốc kỹ thuật, và Thanh Hải – Ngọc Hương thì cũng nắm giữ vai đào kép chánh, tức chẳng kém hơn lúc còn ở đoàn Thủ Đô về tiền lương đêm hát, cũng như ký giao kèo. Nhưng có điều là thành danh nhờ đoàn Thủ Đô mà bỏ đi như vậy thì Tổ nghiệp có cho hưởng lộc lâu dài, hay là về sau thì đã không còn được như vậy. Nhiều người tin tưởng vào vô vi đã nói thế, và họ chứng minh rằng về sau thì Thanh Hải bị bạc đãi, kép mùi mà bị giao cho vai hề, một vai khó coi, bị làm trò cười cho đồng nghiệp đến nổi phải nghỉ hát.
            Còn vợ chồng Thu An, Ngọc Hương thì sao, Tổ nghiệp có cho hưởng lộc lâu dài không? Nếu như người ta ngược thời gian trở về trước thì sẽ rõ biết và tùy theo sự nhận xét ở mỗi người mà phê phán. Soạn giả Thu An nguyên là nhạc sĩ đờn cò, quê quán ở Ba Vát, Bến Tre, thường hay tham gia đờn ca tài tử, đình đám ở địa phương. Tuy xuất thân là nhạc sĩ đờn cò, nhưng về sau làm soạn giả thường trực kiêm giám đốc kỹ thuật đoàn Thủ Đô, đoàn Kim Chưởng, làm bầu gánh. Nhưng khi tiếp xúc với mọi người, với báo chí, chẳng khi nào Thu An nhắc đến cái quá khứ “đờn cò” của mình, mà chỉ nói mình biết đờn mandolin, viết nhạc…


Ngọc Hương – Thu An ngày xuân

Chán ngán cảnh sống trong bưng biền
            Năm 1946 Thu An đi kháng chiến, làm văn nghệ trong khu, được vài năm thì chán ngán cảnh sống trong bưng biền, nên bỏ trốn về thành, thì lại bị lính của Le Roy bắt giam ở khám lá Bến Tre. Thời này Tỉnh Trưởng Bến Tre là Đại Tá Le Roy, vốn là Tây lai, rất gắt gao với những ai có thành tích kháng chiến.
            Thân mẫu Thu An nghe nói ông bị lên án tử, nên gấp rút lên Sài Gòn cầu cứu với ông Ba Bản. Sợ rằng đợi đến ngày mai có thể Thu An sẽ không còn, nên dù đêm tối ông Ba Bản cũng lái xe về Bến Tre ngay.
            Gặp Đại Tá Le Roy tại dinh tỉnh trưởng lúc gần nửa đêm, ông Ba Bản nói về vấn đề Thu An. Theo lời ông Ba Bản kể lại với tôi thì lúc đó Le Roy nói:
            – Thằng đó là Việt Minh, ở đây nhiều người biết nó đi kháng chiến.
            Ông Ba Bản nói:
            – Chớ bộ tôi không phải Việt Minh sao? Nhưng tôi biết nó đã về thành rồi.
            Lúc kháng chiến mới nổi lên, ông Ba Bản từng tham gia và có chức vụ khá lớn, ông từng mang cả nhà in vào chiến khu hiến cho kháng chiến. Thời gian sau ông về thành, cùng với các ông Trần Văn Lắm, Hồ Thông Minh, Tướng Bảy Viễn…
            Le Roy lệnh cho tập họp tất cả người tù cho ông Ba Bản tìm Thu An trong đám tù nhân, gặp Thu An thì thấy đã bị cạo đầu rồi. Vấn đề “cạo đầu” này tôi thắc mắc hỏi ông Ba Bản thì ông nói “để đừng lộn với thằng khác”. Thế là ông Ba Bản lãnh Thu An đem lên Sài Gòn ở tại nhà ông ở đường Macmahon (thiên hạ ở Sài Gòn gọi là đường “Mặt Má Hồng”) phía trên cầu Công Lý, đường đi lên phi trường Tân Sơn Nhứt. Với cái ơn cứu mạng kia, người ta nói Thu An có làm thân trâu ngựa cũng chưa trả được, vậy mà về sau Thu An lại phản ông, đưa đến việc đoàn Thủ Đô bị rã gánh. Vấn đề sẽ nói ở phần sau, giờ đây nói tiếp chuyện lãnh Thu An lên Sài Gòn. Đến lúc ông Ba Bản thành lập hãng dĩa hát Hoành Sơn, ông cho Thu An trông coi phòng thu thanh và trả lương tháng, nhiệm vụ giữ chìa khóa mở cửa đóng cửa mỗi khi có nghệ sĩ thu thanh.
            Cũng cần nói thêm lúc bấy giờ chưa có cái tên Thu An, mà tên của ông là Nguyễn Văn Sáu, người ta thường gọi là chú Sáu, anh Sáu. Ở phía sau hãng dĩa Hoành Sơn đất rộng, ông Ba Bản cất dãy nhà nhiều căn cho nhân viên ở, trong đó có dành một căn cho cô thư ký tên Thu, và chú Sáu đang đeo đuổi cô thư ký này, dù rằng ông đã có vợ con ở quê nhà Ba Vát, Bến Tre.
            Ngày nọ Út Trà Ôn và các nghệ sĩ nhạc sĩ, đến thu thanh, họ chờ lâu mà không thấy chú Sáu mở cửa. Cậu Mười Út nói có lẽ chú Sáu đang ở nhà cô Thu, kêu Hữu Phước xuống kiếm coi có ở đó không. Lúc nầy thì Hữu Phước mới vừa được Tướng Bảy Viễn giới thiệu về đây, còn hụ hợ chớ chưa có nhận việc gì chánh thức, cũng chưa được cho ca vô dĩa hát. Thời gian sau chú Sáu lên chức (làm thêm việc gì đó cao hơn) nên giao chìa khóa cho Hữu Phước.
            Quả thật, Hữu Phước xuống nhà cô Thu thì thấy chú Sáu đang tán tỉnh người đẹp, chạy về báo lại.
            Út Trà Ôn nói:
            – Đó! Tôi nói có trật đâu, chú Sáu đang an nghỉ ở nhà cô Thu.
            Rồi người nào đó lại lên tiếng:
            – An nghỉ ở nhà cô Thu, vậy thì từ đây mình gọi chú Sáu là “Thu An” anh chị em đồng ý chớ!
            Mọi người cùng cười vui sau câu nói ấy, và rồi cũng có người gọi chú Sáu là Thu An. Thấy cái tên “Thu An” nghe cũng hay hay, nên khi viết tuồng cải lương chú Sáu lấy biệt danh Thu An luôn cho tới bây giờ. Chớ trước đó viết bài ca vọng cổ Tấm Lòng Hiếu Tử, bài Ly Rượu Thọ thu thanh dĩa hát, thì chú Sáu lấy biệt danh Nguyễn Thu, tức ghép tên cô Thu với cái họ của mình.
            Cái tên soạn giả Thu An bắt nguồn là như vậy đó. Nhiều người mới nghe tưởng là nói đùa, nhưng sự thật là thế.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1001-nm-10012015095019.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #161 vào: 22/01/2019, 22:49:41 »
Ai là soạn giả vở hát “Nắng Chiều Trên Sông Dịch”

Trong nghệ thuật sân khấu cải lương từ lúc mới hình thành vào đầu thập niên 1920 đến nay, riêng về tuồng tích thì trong suốt thời gian dài một thế kỷ ấy thì đã có hàng trăm hoặc cả ngàn tuồng đủ loại, nếu như người ta tính chung luôn cả những tuồng sao chép. Hoặc lấy tuồng này một ít, tuồng kia một mớ rồi ghép lại với cái tên mới, hay là lấy tuồng cũ đánh bóng lại rồi đặt cho cái tên khác để thành tuồng mới. Nói chung là có quá nhiều tuồng xuất hiện trong làng cải lương, từ những đoàn đại ban cho đến gánh hát bầu tèo. Ðó là chưa kể đến nhiều tuồng viết xong chưa được dàn dựng để ra mắt khán giả, đã phải chịu nằm yên trong ngăn kéo nhiều năm, coi như chết luôn!

Vợ chồng soạn giả Phong Anh

THẾ NHƯNG, nếu nói về “tuồng hay” thì có bao nhiêu đâu, do vậy mà mỗi khi có một tuồng hay, tuồng ăn khách ra đời thì thiên hạ bàn tán khá nhiều. Báo chí kịch trường tập trung vào viết bài khai thác về mặt báo chí, thành thử ra tuồng hay thì được nổi tiếng là vậy.
            Khoảng 1962-1963 đoàn Kim Chưởng khai trương vở tuồng “Nắng Chiều Trên Sông Dịch” được kể là tuồng hay, người ta chen chân mua vé, tiền của khán giả chạy vô hầu bao bà bầu gánh khá nhiều. Nhưng mãi đến nhiều năm sau người ta cũng không biết soạn giả thực sự của vở hát là ai, do bởi người trong cuộc có liên hệ thì lại không có mặt để xác nhận. Do đó bao nhiêu thắc mắc cũng vẫn còn mãi, chưa có một giải đáp chính thức.
            Tuồng thì đề tên soạn giả Thu An, nhưng lúc bấy giờ giới soạn giả, bầu gánh, cũng như giới ký giả kịch trường đã không tin như vậy, họ sầm xì to nhỏ với nhau rằng đó là tuồng của Phong Anh, và Thu An chỉ là người đứng tên giùm để xin kiểm duyệt và đưa lên sân khấu. Phong Anh là soạn giả mà trước đó đã nổi tiếng với vở hát “Thuyền Ra Cửa Biển”, do vậy mà thiên hạ bàn tán rất nhiều.
            Ðồng thời lúc ấy trong giới cải lương lại có nguồn tin được rỉ tai truyền miệng với nhau, rằng soạn giả Phong Anh đã vào mật khu, nên người vợ của ông đã trao tuồng cho Thu An và ngầm chia tiền bản quyền, hoặc là đã bán cho Thu An rồi chăng? Vì nghe đâu khi vào mật khu Phong Anh đã để lại một số bản thảo tuồng cải lương. Vấn đề này về sau bà Phong Anh có tiết lộ với nhà báo Dương Thị Liên Chi của tờ sân khấu thành phố như sau: “Anh mất đi gia tài để lại gồm một mớ bản thảo mà lúc sinh thời anh hết sức gìn giữ”.
            Như vậy thì mớ bản thảo ấy đi đâu? Cũng theo sự đồn đãi thì trong số bản thảo kia có cả vở tuồng “Hai Chiều Ly Biệt”, soạn giả Thu An xin kiểm duyệt ở Bộ Thông Tin, dĩ nhiên đề tên Thu An. Ðoàn Kim Chưởng đưa vở hát này lên sân khấu khoảng năm 1963, tuồng quá ăn khách đã làm giàu thêm cho bà bầu Kim Chưởng. Nhưng sự thật thế nào thì rất khó mà rõ biết, bởi thời kỳ trước 1975 đâu có ai dám bàn tán công khai chuyện này.
            Soạn giả Phong Anh vào mật khu năm 1962, người vợ chưa đầy 30 tuổi phải chịu chia ly, nuôi hai con thơ ăn học. Cũng theo lời bà Phong Anh thì đã có những lần bà được bí mật đưa vào chiến khu thăm chồng. Người ta nghĩ rằng biết đâu là bà có mang theo tiền bản quyền các vở tuồng đang ăn khách, khán giả ủng hộ nhiều ở vùng quốc gia.
            Những thắc mắc về sự việc ai là soạn giả thật sự của tuồng chưa có câu trả lời, thì khoảng giữa năm 1966 (tức 3 năm sau) Phong Anh qua đời trong mật khu, do một trận dội bom B.52 ở vùng biên giới Tây Ninh-Cambodia. Ông vĩnh viễn ra đi cùng với ba người bạn văn nghệ, mà trong đó có soạn giả Ngọc Cung, người biên soạn vở hát Kiều Nguyệt Nga, là vở tuồng đầu tiên được hát ở Sài Gòn sau ngày đổi đời.
            Tin soạn giả Phong Anh qua đời được bí mật loan truyền về thành, đã tạo ra bầu không khí căng thẳng, ảm đạm ở Ngã Tư Quốc Tế (ngã tư đường Bùi Viện-Ðề Thám). Họ chỉ nói nhỏ với nhau, không nói nhiều, và một màu tang vô hình trùm phủ ở khu vực phía sau rạp hát Nguyễn Văn Hảo lúc đó.
            Một soạn giả tài ba đã vĩnh viễn ra đi, coi như sự thật ai là soạn giả tuồng “Nắng Chiều Trên Sông Dịch”, được Phong Anh mang xuống tuyền đài. Thôi thì trên giấy trắng mực đen kể như là tuồng của Thu An vậy. Nhưng rồi sau 1975 tuồng “Nắng Chiều Trên Sông Dịch” được tái dàn dựng, và tờ báo sân khấu thành phố tường thuật đề tên soạn giả Phong Anh, Hoài Linh, có nghĩa Thu An chẳng có gì hết.
            Như vậy là thế nào chứ? Tờ báo đã căn cứ vào đâu để đề tên Phong Anh là soạn giả? Có lẽ thời gian quá lâu không có ai nêu lên thắc mắc, nên sự việc có thể sẽ đi vào quên lãng, phai mờ dần theo thời gian vậy.
            Có điều mà những người am tường, theo dõi về hoạt động cải lương, hầu như ai cũng muốn biết, rằng trong suốt bốn năm ở trong mật khu (1962-1966) soạn giả Phong Anh có cho ra đời thêm tuồng cải lương nào nữa không mà chẳng nghe nói. Hay là sở trường của ông là viết tuồng thuộc loại hương xa với “văn chương cải lương”. Rồi khi vào chiến khu phải viết tuồng tuyên truyền cho cuộc chiến lúc ấy không thích hợp với sở trường chăng?


NGÀNH MAI
Tháng 10/2015


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/Ai-la-soan-gia-vo-hat-Nang-Chieu-Tren-Song-Dich-0028/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #162 vào: 26/01/2019, 23:38:24 »
Ca kịch hài hước “Bùi Kiệm Thọ Tai Ương”

Khoảng giữa thập niên 1960, trên đài phát thanh Sài Gòn, chương trình cổ nhạc lúc 11 giờ trưa cho phát thanh vở kịch ngắn hài hước có tên “Bùi Kiệm Thọ Tai Ương” đã gây bất ngờ cho giới yêu thích cổ nhạc, cũng như thính giả khắp nơi.

Bao bìa dĩa hát “Bùi Kiệm Thọ Tai Ương”

LÚC ĐẦU mới nghe giới thiệu, người ta tưởng đâu là trích một đoạn nào đó trong danh tác “Lục Vân Tiên” của thi hào Nguyễn Ðình Chiểu, nhưng nghe qua một lúc thì hầu như ai cũng cười.
            Ðảm nhiệm các vai trò trong vở kịch là các anh hề Hoàng Mai, Xuân Phát, Phi Thoàn, Tùng Lâm và Kim Loan, nữ diễn viên duy nhất đóng vai Kiều Nguyệt Nga.
            Cũng cần nói thêm vào thời điểm này, ở thôn quê hiếm thấy nhà nào có máy hát dĩa, chỉ một số ít nhà có radio, thành thử ra khi nghe đài phát thanh rồi, nếu muốn nghe trở lại chỉ có cách viết thơ gởi về đài yêu cầu, và chịu khó theo dõi chương trình cổ nhạc vào buổi trưa.
             “Bùi Kiệm Thọ Tai Ương” được phát đi trên làn sóng phát thanh thì không đầy một tuần sau đài nhận nhiều thơ yêu cầu xin phát trở lại, và đài đã đáp ứng sự yêu cầu cho phát lần thứ hai.
            Cái điều đáng nói ở đây là sau khi đài phát lần thứ hai thì thơ yêu cầu lại gởi đến nhiều hơn, thế là thính giả cứ cách một vài tuần thì được thưởng thức vở kịch trở lại. Có người nghe riết rồi thuộc luôn câu đối đáp và mang ra áp dụng trong sinh hoạt để cười vui.
            Một nhân viên phụ trách mục thính giả yêu cầu của đài phát thanh, anh ta đến Ngã Tư Quốc Tế, phía sau rạp hát Nguyễn Văn Hảo, nói rằng thời gian mấy năm làm việc ở đài, vẫn thường đọc thơ yêu cầu cho phát bài ca cổ nhạc hoặc tuồng cải lương, nhưng chưa bao giờ đọc thơ yêu cầu của thính giả nhiều như “Bùi Kiệm Thọ Tai Ương”, mở thơ đọc cả tiếng đồng hồ mới xem xong.
            Người ta đã cố tìm hiểu xem vở ca kịch hài hước “Bùi Kiệm Thọ Tai Ương” hay ở chỗ nào, hấp dẫn đến độ thơ yêu cầu gởi tới tấp về đài. Và rồi thì khá nhiều người đã đi đến kết luận:
            – Tên nhân vật có từ trong danh phẩm “Lục Vân Tiên” mà người miền Nam ưa thích, ngôn từ, âm điệu Thơ Vân Tiên đã ăn sâu vào lòng người. Biết rằng khi chuyển sang kịch hài hước chỉ còn tên nhân vật, chớ tình tiết, địa danh đều đổi khác. Chẳng hạn như trong danh phẩm “Lục Vân Tiên” làm gì có Trịnh Hâm đi taxi đến cầu Chữ Y; Kiều Nguyệt Nga bán bún bò ở sông Chợ Ðệm. Danh phẩm đâu có từ ngữ Mobylette, Vespa, hoa hậu, brocanteur (tiệm cầm đồ)…
            – Trong vở kịch lại có hát Nam hát Khách của hát bội, thính giả môn nghệ thuật này có rất nhiều ở miền Tây, Lục Tỉnh, họ rất thích thú khi nghe đờn nhạc hát bội trỗi lên. Và đặc biệt là có lớp thầy pháp đọc thiệu chữa bệnh cho Bùi Kiệm, nghe qua giống như mấy buổi đi coi thầy pháp trị bệnh tà ở miền quê nông thôn. Tuy rằng lối trị bệnh phản khoa học, các thế hệ sau này đã tẩy chay, nhưng nghe lối đọc thần chú có bài có bản cũng khá hay, lôi cuốn người ta nghe. Chưa bao giờ thấy “Pháp Sư” lên sân khấu, giờ đây xuất hiện trong dĩa hát thì họ viết thơ yêu cầu đài phát thanh để được nghe thôi.
            Tác giả biên soạn vở hài kịch “Bùi Kiệm Thọ Tai Ương” là thường dân, nhưng lại lấy biệt hiệu Vĩnh Thụy, là tên tộc của cựu hoàng Bảo Ðại. Ông đã hợp soạn với danh hề Phi Thoàn, để lại cho đời một vở kịch rất hay, thích đáng.


NGÀNH MAI
Tháng 02/2017


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/ca-kich-hai-huoc-bui-kiem-tho-tai-uong/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #163 vào: 31/01/2019, 22:07:54 »
Do đâu đạo hữu Cao Ðài tìm mua báo Xuân Người Việt

Một bức hình đăng trên cuốn báo Xuân Người Việt Bính Thân phát hành hai tuần qua, đã gây ra luồng dư luận trong các đạo hữu Cao Ðài, họ xôn xao bàn tán, hỏi han lẫn nhau. Rồi thì kẻ nói không, người nói đúng, và câu nói cuối cùng của nhiều người là “chờ xem!”


THẬT VẬY, bức hình nói trên là hình chụp chung của bốn vị chức sắc Thiên Phong lãnh đạo cao cấp nhứt của đạo Cao Ðài: Ðức Hộ Pháp Phạm Công Tắc, Ðức Thượng Sanh Cao Hoài Sang, Ðức Thượng Phẩm Cao Huỳnh Cư, và bà Nữ Ðầu Sư Hương Hiếu. Hằng triệu tín hữu Cao Ðài ai ai cũng tôn thờ các vị trên một cách tuyệt đối.
            Xưa giờ hầu như đại đa số người đạo Cao Ðài chỉ nhìn thấy những bức hình, bức tượng của các vị chức sắc Thiên Phong nói trên với đạo phục phẩm vị, chứ chưa bao giờ họ được nhìn thấy các vị với trang phục ngoài đời (Âu phục), thành thử ra khi bức hình xuất hiện trên báo, họ xôn xao bàn tán nhiều cũng đúng thôi! Có người còn nói không biết bức hình có phải thật là của các vị hay là ai đó?
            Có một cô đi mua báo Xuân nói rằng: “Má tôi năm nay gần 80 tuổi, làm đạo hơn 60 năm, bà nói thời còn trẻ đi cúng lạy ở Tòa Thánh Tây Ninh từng gặp các vị trên, nhưng chưa bao giờ thấy các vị y phục ngoài đời, chứ đừng nói chi hình ảnh. Giờ đây nghe nói có hình các vị mặc đồ Tây nên rất khó tin. Bởi vậy nên phải tìm mua tờ báo Xuân Người Việt coi có phải như vậy không?”
            Và điều mà họ thắc mắc nhiều là do đâu báo Người Việt lại có bức hình này, trong khi chính họ là người của tôn giáo này lại không có, cũng như chưa từng thấy. Do bởi bức hình chụp từ năm 1924, có nghĩa là trước ngày thành lập đạo Cao Ðài đến những hai năm (1926). Thành thử ra các thế hệ sau này có mấy ai thấy được bức hình trên.
            Theo như tác giả bài báo “Nhạc lễ tôn giáo Cao Ðài xuất phát từ nhạc lễ Nam Kỳ – đờn ca tài tử”, cũng đồng thời là người sưu tầm bức ảnh lịch sử kia, thì trong thư viện Tòa Thánh Tây Ninh và các Thánh Thất Cao Ðài đã không có lưu trữ bức hình trên.
            Ở miền Nam California có hai có sở đạo Cao Ðài:
            1) Châu Ðạo Cao Ðài California, đường Chestnut, Westminster.
            2) Thánh Thất Cao Ðài ở đường Orangewood, Garden Grove.
            Hai cơ sở đạo thường hoạt động vào mỗi Chủ Nhựt từ 10 giờ trưa. Rất nhiều người đạo Cao Ðài thâm niên và chức sắc như: Hiền Tài, Giáo Hữu, Lễ Sanh, Chánh Sự, v.v… hiện diện cúng lễ. Những vị này nhìn vào bức hình là biết ngay. Mong rằng các vị lên tiếng để cho đồng đạo yên tâm về bức hình.
            Do bức hình mang tầm vóc hết sức quan trọng, liên quan đến một tôn giáo lớn, hình phải chính xác thì mới được. Rất có thể báo Người Việt sẽ cử phóng viên đến tiếp xúc với các vị ở hai nơi để rõ ràng hơn, hầu thông báo phổ biến rộng rãi trong dư luận.
            Một hiện tượng khá độc đáo là người Cao Ðài mua báo Xuân Người Việt mang về, sau khi đọc xong họ trân quí, kính cẩn trịnh trọng để vào tầng cao của kệ tủ gần nơi bàn thờ, bởi trong tờ báo có hình của các vị mà họ thường xuyên cúng lạy, vái van.
            Cũng có những người mua sẵn cuốn báo Xuân chờ tặng cho người thân ở các tiểu bang, nhân dịp Tết họ về thăm Little Saigon, ở miền Nam California.
            Như vậy vô tình cuốn báo Xuân Người Việt năm nay đã “chạy” vô nhà người đạo Cao Ðài khá nhiều và sẽ vĩnh viễn nằm ở đó.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2016


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/Do-dau-dao-huu-Cao-Dai-tim-mua-bao-Xuan-Nguoi-Viet-0854/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #164 vào: 05/02/2019, 20:27:15 »
Cái Tết ngày xưa của cải lương

Năm nay Tháng Chạp, tháng thiếu nên không đầy hai ngày nữa là đến giờ giao thừa hết năm cũ bước sang năm mới. Ở trong nước phần lớn mọi ngành nghề trong xã hội đều đã nghỉ ngơi chờ ăn Tết. Ðối với hoạt động của cải lương thời xưa thì ngày hôm nay mọi gánh hát lớn hoặc nhỏ đều sẵn sàng chờ đón ngày vui vẻ nhứt trong nghề làm nghệ thuật sân khấu.

Trước rạp hát ngày đầu Xuân thời thập niên 1960

NÓI CHUNG chỉ riêng có cải lương thì phải chuẩn bị làm việc nhiều hơn gấp bội. Những năm thịnh thời của cải lương ở các thập niên 1950-1960 thì ngày Tết là dịp hốt bạc của giới này, mà giờ đây cứ mỗi lần Tết là mỗi lần họ không khỏi ngậm ngùi luyến tiếc cho cái thời vàng son thuở ấy.
            Thật vậy, khi xưa giới cải lương đã đón Tết một cách huy hoàng, tiền vô như nước. Chỉ nội ngày mùng 1 Tết họ có thể hát đến 4 suất, mà mỗi suất hát được trả tiền gấp đôi, tức số tiền lãnh tăng lên gấp tám lần. Nói một cách rõ ràng hơn là những ngày trong Tháng Chạp mỗi đêm hát họ còn lãnh một ngàn đồng, nhưng đêm Mùng Một thì bầu gánh phải trả đến 8 ngàn, mà còn cộng thêm tiền lì xì Tết, tiền nhiều ít tùy theo gánh.
            Ngày mùng 2, mùng 3 cũng vậy, hoặc nếu có thấp xuống thì cũng còn 2 hoặc 3 suất hát. Mấy ngày Tết đào kép mệt khờ người luôn, bởi suất hát vừa vãn nghỉ xả hơi độ một, hai giờ đồng hồ thì lại tiếp tục lên sân khấu. Tuy vậy mà người nào cũng thoải mái tinh thần, mừng vui ra mặt.
            Về phần bầu gánh trả lương cho nghệ sĩ gấp đôi như vậy, họ có lời không? Câu trả lời nhanh là họ lời khẩm! Bởi vé bán tăng tiền lên gấp rưỡi mà suất hát nào cũng hết vé, thiên hạ chen chân mua vé, sân khấu còn đang trình diễn mà suất hát kế tiếp đã treo bảng “hết vé” rồi! Ðó là chưa kể tiền cửa (tiền cửa tức tiền đưa tại cửa rồi đứng coi, vì ghế ngồi đã đầy hết). Tiền vô cửa ngang bằng với vé ngồi hạng ba và cũng thu vô liền tay, bỏ đầy thùng.
            Cái đặc biệt của cải lương hát Tết là khán giả không hề kén chọn tuồng, cũng không kén chọn đào kép, diễn viên, tuồng hay, tuồng dở gì cũng chật rạp, và hầu như tuồng nào cũng bị nhận lớp ít hay nhiều, tức bỏ bớt những cảnh nào đó mà người xem vẫn hiểu, chứ nếu không thì đâu đủ giờ hát suất sau.
            Cải lương hát Tết ngon lành như vậy, bảo sao khi xưa mấy tháng cuối năm là ở các địa phương xa gần, tỉnh nào cũng có thêm gánh hát mới ra lò, với không khí đầy hy vọng. Họ vẽ bảng hiệu mới, vẽ tranh cảnh mới và người ta cũng nghe ca hát tập tuồng ngày đêm. Ðây là thời gian mà bầu gánh hát mới chuẩn bị cho ngày Tết ra quân, khai trương bảng hiệu để lượm bạc, ít nhứt cũng đầy túi trong ba ngày Xuân. Sau ngày mùng 4 thì hát trở lại bình thường nhưng khán giả cũng còn đông đảo, kéo dài cho đến Rằm Tháng Giêng thì khán giả mới thưa dần.
            Thế nhưng, cái thời kỳ mà Tết đến thiên hạ nô nức rủ nhau đến rạp cải lương kia nó đã không còn nữa, khi Việt Nam bắt đầu có truyền hình. Người ta nằm nhà coi cải lương trên truyền hình, bởi đài cũng chọn tuồng hay để phát vào dịp Tết, và dĩ nhiên sân khấu chẳng còn đông người coi, có gánh khán giả thưa thớt, phải đóng màn chịu trận cho qua ba ngày đầu Xuân. Nhiều đoàn đã cho đào kép nghỉ “ăn Tết” với cái túi trống rỗng, chớ mở màn thì có mấy người đi coi đâu, bởi thiên hạ đổ dồn về những nơi có máy truyền hình để coi tuồng của gánh lớn.
            Và giờ đây cải lương lại thêm một cái Tết điêu tàn, cái thời kỳ hoàng kim của cải lương đã lui về dĩ vãng và có lẽ sẽ không bao giờ trở lại, trừ phi có phép lạ nào đó! Người ta chỉ mong mỏi sao bộ môn nghệ thuật này được bảo tồn là may lắm rồi!


NGÀNH MAI
Tháng 06/2016


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/Cai-Tet-ngay-xua-cua-cai-luong-5415/