Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 25870 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #240 vào: 04/07/2019, 17:53:48 »

Bà Năm Sa Đéc đi hát từ thuở xuân xanh cho đến lúc bạc đầu

Bà Năm Sa Đéc phục vụ nghệ thuật qua mấy thế hệ khán giả, từ hát bội đến cải lương, thoại kịch và luôn cả điện ảnh, hầu như môn nào cũng có mặt của bà. Do vậy hình ảnh của bà Năm Sa Đéc đã quá quen thuộc với khán giả. Có lúc người ta gọi bà là “Bà Năm Thép Súng”, đó là thời gian bà cộng tác với chương trình “Thép Súng” của đài truyền hình.

Vở Đoạn tuyệt trên sân khấu Thanh Minh – Thanh Nga năm 1960
(từ trái sang: Thanh Nga, Ngọc Nuôi, Kim Hương, Năm Sa Đéc, Việt Hùng)

“Bà Năm Thép Súng”
            Nếu chỉ kể về các nữ nghệ sĩ kỳ cựu mang những mỹ danh của một số tỉnh Miền Tây Nam Việt như các cô Năm Cần Thơ, cô Ba Trà Vinh, cô Ba Bến Tre v.v… thì chỉ riêng có Cô Năm Sa Đéc (khi về già khán giả gọi “Bà Năm Sa Đéc”) có thời gian đã trở lại sàn gỗ của đoàn Ánh Chiêu Dương với một phong độ tuy không được coi là dồi dào như thuở nào, song vẫn còn được hầu hết khách mộ điệu dành cho một cảm tình đặc biệt, nhờ ở một tài nghệ điêu luyện, vững vàng.
            Đó là một điều hiển nhiên mà không ai chối cãi được, vì rằng cô Năm Sa Đéc đã trải qua, đã học hỏi rất nhiều trong suốt thời kỳ cải lương từ khi hãy còn phôi thai cho đến lúc cực thịnh. Có thể người ta khó quên được những hình ảnh bà mẹ chồng luôn luôn làm khổ nàng dâu bằng mọi cách, và khi đã nhớ đến đó là người ta đã kịp “thấy” trong trí hình ảnh bà Năm Sa Đéc với bộ đồ bà ba đơn sơ, một chiếc khăn đỏ vắt vai, tay sỉ tới, sỉ lui, miệng nói tía lia, diễn một cách tự nhiên trên một số lớn sân khấu đại ban qua những vai tương tợ là… mẹ chồng với nàng dâu, người chủ nợ, hoặc chuyên đi đánh ghen mướn cho người hàng xóm…
            Người nữ nghệ sĩ “xưa” về… ăn mặc, nhưng rất “nay” về diễn trước hơn nghệ sĩ trẻ. Chắc chắn không một ai phủ nhận điều nầy, căn bản của ca kịch là diễn, kế đó phần ca được coi là phụ thuộc. Người nghệ sĩ có được trường tồn với sàn gỗ, nghệ thuật ca kịch có tiến bộ chăng nữa luôn luôn người ta vẫn đặt nặng phần diễn xuất lên hàng đầu.
            Cho nên đến mấy lúc sau này, bà Năm Sa Đéc cũng như một số anh chị nghệ sĩ tiền phong, dù đã trở lại sàn gỗ, trở lại với khách mộ điệu với một số tuổi đời chồng chất, vẫn không có chi là lạ. Đã chẳng những không lạ về sự hiện diện của họ, mà xét ra nghệ thuật ca diễn ngày nay vẫn rất cần đến độ cao của những nghệ sĩ già giặn nữa là khác. Đó là chúng ta chưa kể đến một nhận xét của một số người đã tự cho rằng nghệ thuật ca kịch ngày nay căn bản phải là nghệ sĩ trẻ, ca hay, đẹp, sáng sân khấu mới là quan trọng.
            Người ta không vội cho đó là một quan niệm bảo thủ, không tiến bộ, bởi số người đó vô tình phủ nhận một “qui luật” là dù dưới hình thức nào, ca kịch một ngày kia phải đi đến thoại kịch và khi đi đến đó mới đủ nói lên tính chất trung thực, phản ảnh đầy đủ một sinh hoạt đang nhịp nhàng tiến bộ với trào lưu.
            Có thể nói ra một điều phũ phàng nhứt là nếu một ông, bà bầu nào đó có cần “chuộc” một nghệ sĩ chắc chắn phải nhắm vào nghệ sĩ trẻ với khối bạc giao kèo. Nhưng trên thực tế và xét đoán căn bản của nghệ thuật ca diễn vẫn phải công nhận ở tài nghệ diễn xuất của những nghệ sĩ đã điêu luyện trên sàn gỗ. Song nghệ sĩ nầy – có chút ít tuổi nghề và tuổi đời – nếu được mời ký giao kèo thì lại chẳng được bao nhiêu tiền. Đó là thực trạng của người nghệ sĩ khi về già, mà bà Năm Sa Đéc là một điển hình vậy.
            Khoảng 1971 chúng tôi coi phim Lệ Đá (phim trúng giải Văn Học Nghệ Thuật của Tổng Thống). Bà Năm Sa Đéc xuất hiện trong phim và khán giả la ó lên: “Tại sao bà Năm Sa Đéc nói tiếng Bắc”?
            Thật ra người ta đâu có lạ gì tiếng nói rặt Nam Kỳ của bà Năm. Sở dĩ có như vậy là do kỹ thuật chuyển âm, bà già nào đó thu tiếng Bắc thay thế. Do bởi Thanh Lan nói giọng Bắc thì dĩ nhiên bà mẹ cũng nói tiếng Bắc luôn vậy!
            Người ta còn nhớ những năm trước 1975 bà Năm Sa Đéc từng dính líu vào vụ kiện “bánh bao Cả Cần”. Nghe nói bà thắng trong vụ kiện này. Bà Năm Sa Đéc là bạn đời với nhà khảo cổ Vương Hồng Sển, tên tuổi nghề nghiệp của bà được Cụ Vương đề cập khá nhiều trong cuốn hồi ký “50 Năm Mê Hát” xuất bản năm 1968. Bà qua đời trước ông khoảng sáu, bảy năm gì đó.
            Và tiếp đây mời quí vị tiếp tục theo dõi trong phần âm thanh là câu chuyện vui sân khấu: Vì là ngày tết phải cho nó sống.


NGÀNH MAI
Tháng 06/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/vnm263-06042016120153.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #241 vào: 09/07/2019, 17:29:17 »

Người Hoa ở Chợ Lớn hoan nghinh vở hát “Hoa Mộc Lan tùng chinh”

Thời kỳ những năm đầu thập niên 1960 đoàn Thanh Minh Thanh Nga đưa lên sân khấu vở hát “Hoa Mộc Lan tùng chinh” của soạn giả Viễn Châu đã thành công thích đáng, gây chấn động giới mộ điệu một dạo. Tuồng ăn khách, trình diễn gần cả tháng mà đêm nào cũng đầy rạp. Mãi đến mấy năm sau các bầu gánh và giới soạn giả vẫn chưa có tuồng nào tương tự đưa lên sân khấu, mà hầu như ai cũng nhìn nhận vở hát thành công vượt bực là nhờ Thanh Nga trong vai Hoa Mộc Lan.

Bìa đĩa hát Hoa Mộc Lan tùng chinh

Chấn động giới mộ điệu
            Tình tiết câu chuyện được khởi đầu ở gia trang viên ngoại họ Hoa. Một cô gái trẻ đẹp giả trai đi nhập ngũ tòng quân, một tiểu thư khuê các ở trong quân ngũ suốt mười năm mà chẳng ai phát hiện được “chàng ta” là gái. Bởi có ai ngờ được một nữ nhi hoa nhường nguyệt thẹn, lại không ngại gian khổ dấn thân xông pha trận mạc chiến trường với bao nhiêu lằn tên mũi đạn.
            Đây là vở hát đã đem sự mới lạ cho người thưởng thức nghệ thuật, cho giới mộ điệu cải lương. Vai nhân vật nữ chánh Hoa Mộc Lan do Thanh Nga đảm trách, và vai nam chánh Lý Quảng do kép Hữu Phước, cặp đào kép diễn xuất thành thạo. Giọng ca điêu luyện của Hữu Phước và tiếng ca buồn thảm của Thanh Nga rất thích hợp với tình tiết của tuồng. Cả hai diễn viên đã làm hài lòng khán giả khi vãn hát ra về.
            Cái điều đáng nói ở đây là xưa giờ đại đa số người Hoa họ không thích cải lương, mà chỉ coi hát Tàu ở mấy rạp trong Chợ Lớn. Thế mà khi vở hát Hoa Mộc Lan được trình diễn ở rạp Hảo Huê gần Đại Thế Giới thì khán giả người Hoa lại đông đảo hơn người Việt gấp mấy lần là điều mà khó ai đoán nổi. Đoàn Thanh Minh Thanh Nga trình diễn liên tục ba đêm đều chật rạp.
            Khi vãn hát một số khán giả người Hoa đã không ra về, mà tập trung phía sau hậu trường chờ xin chữ ký cô đào đóng vai Hoa Mộc Lan, họ hâm mộ Thanh Nga như từng mến mộ cô đào Hồng Tuyến Nữ hồi năm 1954 từ Hồng Kông sang Việt Nam đóng vai Thúy Kiều, mà soạn giả Trung Hoa đã phóng tác dựa theo danh phẩm Kim Vân Kiều của Nguyễn Du. Và dĩ nhiên chữ ký của Thanh Nga là “Nga” chứ không phải tiểu thư họ Hoa của câu chuyện.
            Tuồng hay, ăn khách dĩ nhiên là hãng dĩa chiếu cố, và Hoa Mộc Lan được hãng dĩa Hồng Hoa thu thanh dĩa hát. Thành phần nghệ sĩ thu dĩa gần y như diễn viên của tuồng trên sân khấu gồm: Thanh Nga, Hữu Phước, Hoàng Giang, Ngọc Nuôi, Kim Giác, Thanh Hải, hề Kim Quang…
            Rất tiếc là thời điểm đầu thập niên 1960 này Việt Nam chưa có truyền hình, thành thử ra tuồng chỉ được thu thanh, không có hình ảnh lưu lại cho các thế hệ sau này xem tài diễn xuất của Vương Hậu Thanh Nga trong vai Hoa Mộc Lan.
            Sau cái Tết Mậu Thân cải lương khủng hoảng trầm trọng, không còn hát xướng gì được, nên giới nghệ sĩ, soạn giả và thành phần có liên hệ làm ăn với nghệ thuật sân khấu đều thất nghiệp dài dài. Tiền bạc không còn mà mượn nợ thì không ai cho, nên họ chạy lung tung tìm việc khác sinh sống.
            Có những nghệ sĩ nhảy ra mở tiệm ăn, quán cà phê vệ đường sống tạm chờ thời. Riêng soạn giả Viễn Châu thì mở tiệm ăn vẽ bảng hiệu Hoa Mộc Lan có sân khấu nhỏ cho thực khách ca hát, cũng là hình thức lôi kéo khách. Lúc đầu thì quán mang tên nghệ sĩ rất đắt, nhưng dần thì ế ẩm phải dẹp tiệm, và Viễn Châu cũng dẹp quán Hoa Mộc Lan. Sau 1975 tuồng Hoa Mộc Lan được dàn dựng trở lại, dĩ nhiên là thành phần nghệ sĩ khác hoàn toàn. Bạch Tuyết và Mỹ Châu chia nhau đóng vai Hoa Mộc Lan, Thanh Sang vai Lý Quảng…
            Mời quí vị nghe vở tuồng “Hoa Mộc Lan tùng chinh” thâu thanh dĩa hát vào những năm đầu thập niên 1960.


NGÀNH MAI
Tháng 06/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/vnm264-06112016073958.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #242 vào: 13/07/2019, 22:23:58 »

Cô đào miền Bắc đóng vai “Bà Năm Trầu” miền Nam

Là một diễn viên sân khấu cải lương đất Bắc, quê quán ở Hà Nam Ninh, nữ nghệ sĩ Thanh Vy từng đóng vai Kiều Nguyệt Nga trước hằng bao khán giả miền Bắc. Thế mà sau 1975 khi vào Nam, cô lại có cảm tưởng như mới lần đầu lên sân khấu vậy.

Nghệ sĩ Phương Quang và Thanh Vy trong vở Nàng Xê Đa

Nghệ sĩ Thanh Vy
THẬT VẬY, hôm đó là đêm đầu tiên Thanh Vy xuất hiện trước khán giả sành điệu của cải lương miền Nam, thì làm sao người nghệ sĩ không lo được, do bởi diễn trước những khán giả hoàn toàn mới, chẳng biết cảm quan thẩm mỹ, cái “gu” nghệ thuật có gì khác nhau không? Mặc dù cũng là khán giả yêu nghệ thuật, yêu sân khấu. Thanh Vy nói, “Em rất lo”!
            Nhất là diễn luôn mấy màn, khán giả ngồi xem nghiêm túc, khán phòng im phăng phắc. Đến màn ba, lớp Kiều Nguyệt Nga sắp nhảy xuống sông quyên sinh, em ca bài Xàng Xê. Dứt bài ca là nhảy xuống sông. Khán giả vỗ tay muốn vỡ rạp. Ôi mừng quá đi thôi!
            Rồi hai mươi năm sau một lần nữa, trên sân khấu nhà hát kịch Sân Khấu Nhỏ, nữ nghệ sĩ Thanh Vy lại cũng lo không kém lúc mới vô Nam, do bởi nhận một vai trò, mà dù người miền Nam rặt cũng chưa chắc ăn, nếu như không tìm hiểu, nghiên cứu thật kỹ lưỡng thì khó mà nhập vai được, đó là vai Bà Năm Trầu, một bà già trầu Nam bộ.
            Tuy đã sống hơn hai mươi năm ở miền Nam, đã nhiều lần gặp các bà già trầu trong Nam, nhưng lần này khi nhận vai diễn, Thanh Vy rất lo, nên ngoài phần tập dượt chung ở sàn tập, cô đã phải bỏ nhiều buổi đi ra chợ để quan sát các bà già trầu, đồng thời tiếp xúc với mấy bà bán trầu cau, để tìm hiểu thêm về cách ăn trầu, têm trầu, xỉa thuốc của các cụ, rồi về nhà tập thử, đến nỗi tối ngủ còn nằm mơ thấy mình nhai trầu đến… cứng hàm!
            Do đạo diễn buộc phải ăn trầu thật, và bởi vì lần đầu mới tập ăn nên Thanh Vy bị say trầu. Ít ai biết được tối nào diễn vai bà Năm Trầu, Thanh Vy cũng như… người say. Đàn ông say rượu, còn cô say… trầu, say đến chảy cả nước mắt vì cả đời chưa hề biết mùi trầu là gì. Xuất hát nào cũng vậy, trước giờ diễn hơn nửa tiếng Thanh Vi đã phải ăn trầu, nhổ bớt hai lớp nước đầu cho bớt say để cái cảm giác say nồng giảm đi chỉ còn như lâng lâng. Có người nói vui nhờ cái say lâng lâng ấy mà diễn xuất của Thanh Vy trong vai bà Năm Trầu dường như bay bổng hơn.


Nữ nghệ sĩ Thanh Vy trên phim truyền hình

Một bà lão “rặt” Nam Kỳ
            Thanh Vy làm người xem hết sức thú vị, vì một tính cách rất dễ thương của một bà lão. Bà Năm Trầu vừa xuất hiện đã lập tức gây sự chú ý. Giọng nói vang đầy âm sắc, cương quyết, dáng đi mạnh mẽ, nhanh nhẹn khác thường, tay cắp chiếc khay têm trầu, miệng nhai trầu bỏm bẻm… Một bà lão “rặt” Nam kỳ đầy sức sống, thế mới lạ. Ngay từ phút đầu dường như Thanh Vy đã “tung hết” những dáng nét sắc cạnh của một bà lão sắc sảo, cương trực, không khoan nhượng và cũng hết sức cổ lỗ.
            Có điều là đã trên hai mươi năm đứng vững trên sân khấu miền Nam, đã hòa điệu cùng các nghệ sĩ ở trong Nam, thì cốt cách của cô đào xứ Bắc ở cô vẫn chưa thể xóa nhòa, mà dường như nó còn làm tăng thêm phong vị rất đặc biệt trong diễn xuất của Thanh Vy.
            Thanh Vy tâm sự: “Khi đọc kịch bản, thấy vai bà ngoại hay nên tôi rất quyết tâm. Dù lần nào cũng say vì trầu nhưng tôi rất thích vai này, và đã có gắng hóa thân cho vai diễn được thành công…”
            Trong thời kỳ có Hòa Đàm Ba Lê, Thanh Vy có mặt trong đoàn Văn Công Bắc Việt. Cùng với các nghệ sĩ gốc người miền Nam: Thanh Hùng, Ngọc Hoa, Dương Ngọc Thạch… sang Pháp trình diễn phục vụ kiều bào, hỗ trợ cho cái thế của phái đoàn Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng Miền Nam tại bàn hội nghị.
            Ngọc Hoa và Thanh Hùng là vợ chồng, trước đó hát ở đoàn Kim Chung. Đến khoảng 1965 thì tự nhiên vắng mặt ở đoàn hát, không ai biết đi đâu. Rồi thời gian ngắn sau thì tiếng ca vọng cổ của cả hai xuất hiện trên làn sóng phát thanh của đài phát thanh giải phóng. Sau đó thì được đưa ra miền Bắc và có mặt trong đoàn Văn công Bắc Việt tại Ba Lê.
            Chẳng bao lâu thì miền Nam cũng đưa đoàn cải lương Thanh Minh Thanh Nga sang Pháp, và tiếp đó thì đoàn Kim Chung và các đoàn văn nghệ khác cũng đến Ba Lê, mục đích là hỗ trợ cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa tại bàn hội nghị. Coi như đất Pháp là bãi chiến trường văn nghệ của hai miền Nam Bắc Việt Nam. Các nghệ sĩ dù muốn dù không cũng trở thành chiến sĩ trên mặt trận văn hóa.
            Riêng về đào Thanh Vy là diễn viên chánh của đoàn cải lương Nam bộ. Sau 1975 cô có mặt sớm nhất ở miền Nam đóng vai Kiều Nguyệt Nga trong vở hát Kiều Nguyệt Nga của soạn giả Ngọc Cung.


NGÀNH MAI
Tháng 06/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/vnm265-06182016071930.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #243 vào: 18/07/2019, 17:18:17 »

Tình sử cải lương “Cuộc Ðời Thanh Nga” quyển 2 sắp phát hành

Thế rồi tình sử cải lương “Cuộc Ðời Thanh Nga” lại được ra đời, đáp ứng sự mong đợi của quí vị, của những người vốn đã đọc qua quyển 1 từ lâu.

Nữ nghệ sĩ Thanh Nga

TUY RẰNG quyển 2 đến với quí vị quá chậm, nhưng chậm còn hơn không. Tác giả Ngành Mai đã hoàn thành từ mấy năm trước, nhưng do trở ngại đủ mọi chuyện, nên mãi đến hôm nay sách mới được ra mắt độc giả bốn phương.
            Nếu như tình sử cải lương “Cuộc Ðời Thanh Nga” quyển 1 đem lại sự thích thú cho người đọc, thì quyển 2 lại còn lý thú hơn, sẽ đưa quý vị từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, và từ bất ngờ kia đến bất ngờ nọ.
            Tác giả đã ghi lại sự kiện “Thanh Nga và vụ nhìn con ở Phan Rang”, xảy ra vào đầu thập niên 1960, từng gây chấn động giới mộ điệu cải lương một dạo, mà trong đó vấn đề ngôi vị Vương Hậu Thanh Nga là do Long Mạch kết thành? Chơn giả thế nào, phán đoán sau cùng vẫn là độc giả.
            Quyển 2 cũng đưa quí vị ngược thời gian về vùng đất Thủ Dầu Một thời thập niên 1930, cái thời mà thân phận người phụ nữ công nhân đồn điền cao su phải chấp nhận biết bao tủi nhục. Trong cái trù phú của rừng cao su bạt ngàn ấy biết bao nhiêu cành hoa bị vùi dập trong cơn giông bão phũ phàng, mà chỉ có trời mới biết, cây cỏ rừng cao su biết, chớ có mấy ai biết được.
            Và đây xin trích một đoạn trong quyển 2 khi tác giả đề cập đến tỉnh Thủ Dầu Một, tức tỉnh Bình Dương sau này.

            “… Xóm Bầu Bàng, Bình Dương lên cơn sốt! Quả đúng như dự đoán của mọi người, vài phút sau thì hai chiếc xe của Sở Công an Phú Cường, gồm một xe Jeep và một chiếc xe sáu bánh, cả hai chiếc đều sơn màu xanh lá cây chạy đến dừng lại. Hai chiếc xe chở đầy công an khoảng hai mươi người mặc thường phục, trong số có hai người Pháp chỉ huy, vào thời đó mà các xe màu xanh lá cây này chạy đến nơi nào thì dân chúng ở đó hồn vía lên mây, bởi hiếm khi xe chạy đến mà không bắt một hoặc vài người điều tra, đánh đập tại chỗ, mà khi chạy đi còn bắt theo vài người.
            “Kế đó thì ba chiếc xe nhà binh loại mười bánh chở khoảng một đại đội lính từ Phú Lợi cũng chạy trờ tới dừng lại đổ quân bủa vây khu vực Bầu Bàng. Số lính của các xe nhà binh này thuộc một trong hai tiểu đoàn thiện chiến, cấp chỉ huy là người Pháp, đa số là người Việt được tuyển mộ ở địa phương Thủ Dầu Một, căn cứ đóng tại Phú Lợi. Ðám lính nói trên có tiếng hung dữ, đi tới đâu là dân chúng kinh hoàng, bữa nay kéo đến đây thì khỏi phải nói, cả xóm đều trải qua cơn ác mộng.
            “Trong lúc đám lính Phú Lợi đi lục soát từng nhà, thứ gì cũng bị giở tung lên hết, đồ vật, mùng mền chiếu gối bị ném ra sân, các lùm cây bụi cỏ đều bị châm lửa đốt vì nghi Lý Trung trốn trong đó. Trong lúc đám lính lục xét không chừa chỗ nào, thì số người mặc thường phục thuộc Sở Công an Phú Cường cũng đi vô mấy nhà lân cận đám cưới bắt một số người đem ra chỗ hiện trường, tức mấy bàn tiệc mà chén bát, dĩa tộ còn để ngổn ngang. Sau mấy tiếng đồng hồ tra hỏi, đến gần chiều thì tất cả lên xe chạy về hướng Phú Cường, bắt theo mẹ con cô Út Ngó và ông bà Sáu Lục Lộ.
            “Thủ Dầu Một là một trong hai mươi tỉnh của Nam kỳ dưới thời thuộc địa Pháp, và cũng là tỉnh trù phú nhứt nhờ nguồn lợi từ cây cao su, do đó mà lực lượng quân sự của Pháp tại tỉnh này được kể như hùng hậu, và căn cứ Phú Lợi được coi như thành trì kiên cố nhứt tại Ðông Dương.
            “Phú Lợi nằm gần thị xã Phú Cường, là nơi người Pháp thiết lập trại tù giam giữ tù binh. Thời kỳ chiến tranh 1945-1954 giữa Pháp và Việt Minh, trại Phú Lợi là nơi tập trung tù chính trị từ các tỉnh đưa về giam giữ tại đây, có lúc con số lên đến cả ngàn người.
            “Ðêm 9 Tháng Ba, 1945, Nhựt đảo chánh, đến sáng hôm sau thì hầu hết cơ quan công quyền, cảnh sát, căn cứ quân sự của Pháp trên toàn cõi Ðông Dương rơi vào tay quân đội Thiên Hoàng, chỉ duy nhứt căn cứ Phú Lợi, Thủ Dầu Một là cầm cự tới 11 giờ trưa mới chịu đầu hàng.
            “Luật trời vay trả, trả vay, tên Tây nhiều năm qua gây tội lỗi ở đất địa Thủ Dầu Một này, thì hôm nay hắn phải đền tội tại đây thôi! Ðược xe đưa vô nhà thương Phú Cường, kế đó là nhà thương Ðồn Ðất (bệnh viện Gral) và thời gian sau thì đưa về Pháp. Nghe nói từ đó về sau hắn thành kẻ phế nhân bại liệt luôn, trí não cũng không bình thường, và dĩ nhiên là không còn dịp nào trở lại vùng đất thuộc địa từng đem lại cho hắn tiền tài, gái đẹp”.

            Quyển 2 cũng ghi lại hình ảnh một đêm tối trời tại ngôi nhà tranh vách đất của Thầy Chàm Phan Rang, với buổi hội ngộ đầu tiên giữa thầy và vị khách. Có ai rõ được đêm ấy Thầy Chàm nói đến những sự kiện trọng đại lịch sử, liên quan đến sự biến đổi giang sơn cơ đồ, và chuyển hóa một dân tộc trong quá khứ. Thầy cũng báo trước với vị khách về sự thay đổi Vương quyền trong tương lai.
            Vậy vị khách kia là ai? Xin trích lại một đoạn:

            “… Thanh Nga dù có chơn mạng nữ hoàng nghệ thuật theo như lời của Thầy Chàm, nhưng ngay lúc này cô chỉ là cô gái mới lớn lên, chưa có ý niệm gì về ngôi vị của cô sau này. Cũng như cô đâu biết được vị khách đang ngồi trước mặt cô về sau sẽ là nhân vật nắm trong tay vận mạng đất nước, quyền nghiêng thiên hạ, ai ai cũng biết tên ông, tức vị thế của ông cao hơn cô rất nhiều, nhưng có điều là hiện tại tên tuổi ông chỉ quen thuộc với một số người liên hệ. Hơn nữa đến đây ông lại ăn mặc rất bình dân, đã nhờ người nào đó đưa đến bằng chiếc xe Mobylette thì có ai đâu chú ý.
            “Thật vậy, chỉ có lần đầu tiên đến đây là ông mặc quân phục đeo lon trung tá, có xe Jeep nhà binh và cận vệ đi theo, nhưng hôm bữa đó là vào buổi tối, ban đêm thì đâu có ai thấy để mà có cái nhìn đúng về ông. Thế rồi từ sau cái buổi đầu tiên đó, nếu có đến cái xã ấp thôn quê này tiếp xúc với Thầy Chàm thì ông mặc thường phục giản dị như dân thường, cũng chẳng có cận vệ nào đi theo, do vậy mà người dân ở đây tưởng rằng người nào đó từ xa đến nhờ Thầy Chàm coi tướng số, chẳng để ý đến ông làm chi.
            “Như đã nói ở trên, vị khách kia là trung tá trong quân đội, nhưng do đâu đưa ông đến cái thôn xã vùng quê nghèo nàn, một xóm ấp nhà tranh vách đất của người Chàm, và vì sao ông lại được Thầy Chàm kính trọng, lập bàn hương án để tiếp đón. Ông từ đâu đến đây với chỉ một mục đích là coi tướng số, coi vận mạng…”

            Tóm lại quyển 2 tuy là tình sử cải lương, nhưng lại tập trung những câu chuyện nói lên hiện tình xã hội, và cũng có đôi điều liên hệ đến thời cuộc, vì nó có liên quan. Những câu chuyện chưa từng được nói đến tưởng đâu sẽ phai dần theo thời gian. Giờ đây lại được gom lại in thành sách thì có ai mà không muốn biết, có ai đâu lại bỏ qua.


NGÀNH MAI
Tháng 09/2015

__________________________________________
Tình sử cải lương “Cuộc Ðời Thanh Nga” quyển 2, do nhà xuất bản Người Việt phát hành. Quí vị mua sách liên lạc nhật báo Người Việt. Ðịa chỉ: 14771 Moran Street Westminster, CA 92683. Ðiện thoại: (714) 892-9414. Website: www.nguoi-viet.com


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/Tinh-su-cai-luong-Cuoc-Doi-Thanh-Nga-quyen-2-sap-phat-hanh-3537/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #244 vào: 23/07/2019, 10:43:39 »

Thanh Nga và vụ “nhìn con” ở Phan Rang

Năm 1961 đoàn Thanh Minh Thanh Nga lưu diễn miền Trung, đoàn dừng lại Phan Rang hát tại rạp Thanh Bình. Bỗng một buổi trưa nọ, trong khi đào kép công nhân đã thức dậy đầy đủ chuẩn bị cho bữa cơm trưa, thì bỗng xuất hiện một người đàn bà, tuổi xấp xỉ với bà Bầu Thơ, đến ngay hậu trường rạp hát tuyên bố rằng Thanh Nga là con ruột của bà, và yêu cầu cho gặp mặt đứa con gái.

Nghệ sĩ đoàn Thanh Minh Thanh Nga

TRƯỚC SỰ THỂ ẤY, lúc đầu ai cũng bất ngờ tưởng đâu bà này nói giỡn, nhưng sau đó nhận thấy lời nói quả quyết, cũng như ngồi lì nói mãi, do đó mà người trong đoàn chạy đi báo với bà Bầu Thơ và Thanh Nga đang ở tại khách sạn Mỹ Châu gần đó. Thế nhưng, bà Bầu Thơ sau một hồi lưỡng lự, đã bảo người nầy về trả lời với bà kia rằng không có chuyện Thanh Nga là con của ai hết, và bà từ chối việc tiếp xúc. Thế là sự kiện nổ bùng lên, thiên hạ truyền tai nhau và đổ xô đến rạp hát nghe ngóng câu chuyện, lúc đầu thì chỉ vài mươi người, sau đó lên đến cả trăm và người ta vẫn tiếp tục đổ đến rạp hát.
            Người địa phương, lạ có quen có, xúm xít lại hỏi han sự việc, thì bà này đoan chắc rằng Thanh Nga chính là con ruột của bà, còn bà Bầu Thơ chỉ là mẹ nuôi. Ðại để bà cho biết khi xưa năm 1947 đất nước đang thời kỳ chiến tranh, dân tình rối loạn, bà từ vùng thôn quê dẫn hai đứa con (một trai một gái) đi lánh nạn, đến Phan Rang thì tiền gạo mang theo đều hết, đi xin ăn cũng chẳng mấy người cho. Thấy con đói khát bà đành gởi Bé Cúc cho nghệ sĩ Năm Nghĩa làm con nuôi (theo bà thì Bé Cúc là Thanh Nga). Lúc đó Năm Nghĩa chưa phải bầu gánh, ông đi theo gánh hát nào đó và đoàn đang diễn tại đây. Năm Nghĩa có hứa là khi Bé Cúc lớn lên sẽ cho nhìn mẹ ruột, nhưng từ ấy đến giờ đã không được tin tức gì về đứa con gái mà do hoàn cảnh phải xa cách. Bữa nay ra chợ nghe người ta bàn tán là đêm qua đi coi hát thấy Thanh Nga vừa đẹp lại vừa hát hay, và có người sành sỏi về cải lương đã nói thêm rằng Thanh Nga là con nuôi của Năm Nghĩa.
            Nghe vậy, linh tính báo cho bà biết rằng Thanh Nga chính là Bé Cúc khi xưa, nên vội vã đến đây để nếu đúng thì bà hỏi thăm để cho biết con bà vẫn còn mạnh giỏi là mừng, chớ không có ý gì khác, và khi vừa đến trước rạp hát thấy treo hình Thanh Nga thì: “Khuôn mặt y hệt như thằng anh của nó!” Ðó là nguyên văn lời nói của bà, và “thằng anh” là người con trai thì năm đó lớn hơn Thanh Nga 2 tuổi. Như vậy sự thật như thế nào chớ? Nếu như lời của bà kia là đúng thì cả vợ chồng Năm Nghĩa đều là cha mẹ nuôi hay sao? Cũng như có phải Thanh Nga xuất thân từ Phan Rang?
            Một điều cũng cần nói rõ thêm là thời điểm bà nầy nhìn Thanh Nga là con, thì Năm Nghĩa đã mất trước đó khoảng gần hai năm rồi, cũng như suốt thập niên 1950 gánh Thanh Minh chỉ hát quanh quẩn ở Sài Gòn, có đi xa lắm thì cũng Thủ Ðức, Biên Hòa, Lái Thiêu, Tân An mà thôi, chớ không đi lưu diễn như bao nhiêu đoàn khác. Thời đó giới cải lương nói rằng, do căn bệnh trầm kha nên Năm Nghĩa không dám rời khỏi vùng Sài Gòn, rủi bịnh tình trở nặng thì khó khăn trong điều trị. Một phần là thời điểm đó gánh Thanh Minh có Út Trà Ôn ca vọng cổ hay quá, đêm nào cũng đông đảo khán giả thì dọn đi xa làm chi. Ðó là hai lý do chính mà đoàn Thanh Minh không đi lưu diễn, chớ còn gì sâu xa ở bên trong thì người ta không biết, cũng như về sau xảy ra “vụ nhìn con” như đang nói có liên quan gì đến vấn đề đoàn Thanh Minh không đi lưu diễn chăng?
            Với một người đàn bà quê mùa, hoàn cảnh nghèo khó, vậy mà ngày nào cũng hết phóng viên của tờ báo nầy, thì đến ký giả của tờ báo khác tìm đến phỏng vấn, hình ảnh bần hàn cơ cực, lam lũ của bà cũng được lên mặt báo mỗi ngày. Vậy bà này là ai? Tên thật của bà chắc rất ít người biết, mà thiên hạ ở vùng Thôn Ðạo Long, Phan Rang, này thường gọi bà bằng biệt danh: Bà Ba Ngọng! Sở dĩ có biệt danh trên là do giọng nói “đớt” của bà.
            Từ lâu nay bà Ba Ngọng làm nghề gánh nước mướn ở Thôn Ðạo Long, rất nghèo khổ nhưng không phải do vậy mà vấn đề “nhìn con” của bà bị người đời chế nhạo hay khinh khi, mà trái lại người ta rất thông cảm và thương hại bà.
            Sự việc bà Ba Ngọng nhìn Thanh Nga là con, dĩ nhiên là bà Bầu Thơ phủ nhận hoàn toàn, nói rằng Thanh Nga là con của bà có khai sanh đàng hoàng, chớ không có xin con nuôi nào hết, và còn nói thêm nếu bà kia cứ tiếp tục làm phiền, ảnh hưởng đến công cuộc làm ăn của gánh hát thì bà sẽ nhờ pháp luật can thiệp.
            Nhưng rồi bà Bầu Thơ nói gì thì nói, bà Ba Ngọng vẫn nằng nặc yêu cầu cho gặp mặt Thanh Nga, và cũng nói rằng nếu được gặp mặt thì Thanh Nga sẽ tin bà là mẹ ruột (do điểm đặc biệt nào đó ở trong người chăng?) Cả hai bà đều nói Thanh Nga là con của mình thì ai là mẹ ruột, thế nghĩa là sao? Thật là khó hiểu, và do đó mới có chuyện nhà báo đi tìm tòi dữ kiện để phục vụ độc giả.
            Theo như trên giấy tờ thì Thanh Nga là con của bà Nguyễn Thị Thơ, tức bà Bầu Thơ, là dưỡng nữ của cố nghệ sĩ Năm Nghĩa, giám đốc đoàn ca kịch Thanh Minh, và người cha của Thanh Nga là ông Hội Ðồng Lợi ở Tây Ninh (giấy khai sinh lập tại xã Thái Hiệp Thạnh, Tây Ninh). Từ trước đến giờ giới cải lương và mọi người xung quanh đinh ninh như vậy.
            Lúc thiên hạ nghe tin kéo tới mỗi lúc một đông hơn, vây kín cả con đường trước rạp hát khiến xe cộ di chuyển ngang đây bị tắc nghẽn, sinh hoạt làm ăn của dân chúng bị trở ngại. Trước tình trạng đó chủ rạp liền đến khách sạn Mỹ Châu yêu cầu bà Bầu Thơ đến rạp để giải quyết sự việc, nên buộc lòng bà mới đến rạp nhưng không cho Thanh Nga đi theo, mà ở tại phòng có chị giúp việc canh giữ.
            Rồi kể từ lúc có mặt tại đây, dù bà Ba Ngọng yêu cầu nhiều lần, rằng muốn gặp Thanh Nga, nhưng bà Bầu Thơ nhứt mực từ chối, kể cả lời khuyên của người xung quanh cũng không lay chuyển được, do đó mà vấn đề trở nên lớn chuyện. Ðến xế chiều thì thiên hạ tràn ngập hết cả khu vực từ rạp hát Thanh Bình, dài cho đến khách sạn Mỹ Châu là nơi Thanh Nga đang ở trong đó.
            Trên đây là một đoạn trích ra từ trong cuốn tình sử cải lương Cuộc Ðời Thanh Nga quyển 2. Do nhà xuất bản Người Việt phát hành. Quí vị mua sách liên lạc nhật báo Người Việt. Ðịa chỉ: 14771 Moran Street Westminster, CA 92683. Ðiện thoại (714) 892-9414. Website: www.nguoi-viet.com.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2015


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/Thanh-Nga-va-vu-nhin-con-o-Phan-Rang-0559/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #245 vào: 27/07/2019, 13:44:32 »

Thanh Nga xài loại nước hoa nào?

Khi xưa, có người kể lại rằng, những lúc trang điểm sắm tuồng để lên sân khấu, thì những ai đứng gần Thanh Nga họ cảm thấy một mùi hương kỳ diệu, tưởng rằng cô đào tài sắc đang xài loại dầu thơm đặc biệt nào đó. Vậy Thanh Nga đã xài loại nước hoa nào, mà làm mê mệt hằng bao nam tử tu mi?



XIN TRÍCH một vài đoạn ngắn trong tình sử cải lương Cuộc Ðời Thanh Nga quyển 2.
            “… Vào thời đó có những lúc người ta truyền miệng với nhau rằng Thanh Nga luôn xài một loại nước hoa đặc biệt do ai đó mua từ nước ngoài về tặng, nên mùi hương khác hẳn những loại dầu thơm mà dân sang ở Sài Gòn sử dụng. Nghe thế, nhiều bà mệnh phụ cố tìm mua, mua được hay không chẳng biết!
            Có người kể, một bà mệnh phụ, phu nhân của một ông đứng đầu một bộ, và người ở của bà có quen với Thanh Nga đã thuật lại chuyện dầu thơm, mà còn nói Thanh Nga được nhiều người đeo đuổi là do xài nước hoa gì đó. Thế là bà này lục lạo hết cả các loại nước hoa đang bán ở các tiệm lớn về xài, và mỗi lần bà thoa vào người là kêu người giúp việc nghe mùi coi có giống của Thanh Nga xài không, nhưng lần nào cô này cũng lắc đầu. Mua hoài không đúng, bà lệnh cho ông chồng gởi những người đi công cán ở ngoại quốc tìm mua cho được, nhưng rồi hằng mấy chục chai dầu thơm của mấy chục hiệu nước hoa danh tiếng đem về xài, mùi hương cũng chẳng giống của Thanh Nga.
            Một câu chuyện nữa cũng liên quan đến mùi hương, đó là cậu Nguyễn Ðức Thành, con của bà Bút Trà, chủ nhiệm tờ báo Sài Gòn Mới. Cậu Thành có thời gian theo đuổi Thanh Nga, nhân ngày sinh nhật của nàng, cậu đã mua tặng chiếc xe hơi với đồ vật, vải vóc, mỹ phẩm, máy móc, v.v… chất đầy xe, và nghe nói “cái ruột còn nhiều tiền hơn cái vỏ”. Thỉnh thoảng cậu ta nghe một mùi hương là lạ, đã hỏi Thanh Nga xài loại dầu thơm nào để mua tặng, nhưng lần nào người đẹp cũng lắc đầu nói rằng mình chẳng có xài loại nước hoa nào hết.
            Thêm một câu chuyện về “mùi hương” nữa cũng của Thanh Nga, mà vào thời đó ngay cả chính cô cũng thắc mắc tại sao người ta cứ hỏi cô mãi về dầu thơm, là món mà dù là nghệ sĩ, cô cũng chẳng hề để ý, và sau đây là câu chuyện đã không ít người ở Ban Mê Thuột từng nghe qua.
            Số là khoảng 1961 lúc đoàn Thanh Minh Thanh Nga lưu diễn ở vùng Cao Nguyên Trung Phần, mà chặng đầu tiên là thành phố Ban Mê Thuột, hát tại rạp Tường Hiệp và Thanh Nga thì ở khách sạn Darlac gần đó. Cũng cùng thời gian này thì Trung Tướng Thái Quang Hoàng, chỉ huy trưởng Trường Ðại Học Quân Sự, ông và phu nhân từ Ðà Lạt sang thăm đồn điền cà phê ở Ban Mê Thuột, và cũng ở tại khách sạn nói trên. Hai phòng cạnh nhau ở trên lầu, và bà chủ khách sạn lại là chị em với bà Tướng Thái Quang Hoàng. Trong lúc ông tướng đi họp ở Tòa Ðại Biểu Chính Phủ thì bà chủ khách sạn (có tên là bà Lý Trần Lý) lên thăm, và sẵn thấy Thanh Nga ở trong phòng đang mở cửa, bà Lý mời cô sang giới thiệu với bà Tướng Hoàng. Lúc bà Lý rời phòng thì Thanh Nga vẫn còn ở lại nói chuyện, đến chừng Tướng Hoàng về thì hai ông bà tiếp tục trò chuyện với Thanh Nga về hoạt động cải lương thêm một lúc rồi cô mới trở về phòng của mình.
            Không biết mùi hương của Thanh Nga kỳ diệu ra sao, thu hút phái nam như thế nào, mà sau đó bà Tướng Thái Quang Hoàng mới hỏi Thanh Nga xài loại dầu thơm gì chỉ cho bà mua, và Thanh Nga trả lời là cô không có xài thứ gì cả. Tưởng đâu cô đào cải lương giấu để xài một mình, bà Hoàng mới nhờ bà Lý giúp cho, nhưng rồi bà Lý cũng thất bại luôn, kể cả đề nghị miễn trả tiền thuê phòng.
             Theo lời người tài xế kể lại thì lúc đưa hai ông bà đi thăm đồn điền cà phê, thì Tướng Hoàng cằn nhằn bà vợ, ông nói tại sao không mua nước hoa hiệu của Thanh Nga xài, ông rất thích mùi hương đó. Không biết bà Hoàng có đi lục lạo tìm mua dầu thơm như bà bộ trưởng vừa nói ở trên hay không, chớ nghe nói thì sau này lúc Tướng Thái Quang Hoàng làm đại sứ ở Thái Lan, mỗi lần về nước đều có về thăm đồn điền ở Ban Mê Thuột, và bà Hoàng tâm sự với bà Lý rằng kiếm đỏ con mắt luôn ở Bangkok vẫn không có mùi dầu thơm của Thanh Nga xài, thứ nào ông chồng bà cũng chê hết.
             Vấn đề Thanh Nga xài loại nước hoa đặc biệt, hay thân thể nàng thoát ra mùi hương là một trong những huyền thoại về người nữ hoàng sân khấu cải lương này…”
            Cũng cần nói thêm trong thời gian có ngày Ðại Hội Không Quân (1960) gánh hát Thủ Ðô ra đời, hát khai trương ở rạp Thanh Bình đường Phạm Ngũ Lão, đến lúc cho hát vở tuồng Cây Quạt Lụa Hồng thì ông Ba Bản chủ nhân đoàn hát đã có sáng kiến độc đáo. Lúc đào Ngọc Hương bước ra sân khấu, vừa diễn vừa theo bực thang đi xuống trước hàng ghế khán giả, tức thì tại chỗ hai chiếc máy lạnh, hai chai dầu thơm được đổ vào, mùi hương bay ra khắp cả rạp, khiến người coi hát tưởng đâu thân thể đào Ngọc Hương thoát ra mùi hương bát ngát. Ðào hát có thời là như vậy đó! (Ông Ba Bản định cư tại San Diego Hoa Kỳ. Khoảng năm 2002-2003 tác giả có đến thăm ông vài lần).
            Trên đây là một đoạn trích ra từ trong cuốn tình sử cải lương Cuộc Ðời Thanh Nga quyển 2, do nhà xuất bản Người Việt phát hành.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2015


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/Thanh-Nga-xai-loai-nuoc-hoa-nao-5158/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #246 vào: 01/08/2019, 15:57:10 »

Thanh Nga gặp thầy Chàm ở Phan Rang

Lúc trời còn khuya, bến xe Nha Trang bắt đầu hoạt động thì Thanh Nga và bà Bảy Tầm Vu đã có mặt, mua vé lên chiếc xe chạy Sài Gòn, nhưng đến Phan Rang thì hai người xuống xe lúc trời vừa rạng sáng. Trong cái sinh hoạt rộn rịp tại đầu con lộ đi Ðà Lạt, nơi đây cũng là đường đi Tháp Chàm, bà Bảy Tầm Vu cùng Thanh Nga vào một tiệm nước vừa ăn sáng, chờ cho mặt trời lên một lúc thì mới tiếp tục cuộc hành trình.


THANH NGA nóng lòng muốn đến nơi ngay nên vừa ăn uống xong là cô thúc giục bà Bảy Tầm Vu kêu xe đi tiếp, và bà này liền thuê bao chiếc xe lam chạy đến một vùng cách xa thị xã Phan Rang khoảng hơn mười cây số, hướng đi lên Ðà Lạt, đây là một trong những thôn xã mà phần đông người Chàm sinh sống tại đây từ bao nhiêu đời.
            Thời đầu thập niên 1960 này có loại xe lam ba bánh (do chữ Lambretta của Ý Ðại Lợi) chuyên chở khách khoảng mười người, chạy các tuyến đường ngắn. Hiện nay ở trong nước hầu như loại xe này biến mất, không thấy ở đâu hết. Còn bà Bảy Tầm Vu thì không phải người của đoàn hát, nhưng thường hay đi theo đoàn mua bán lặt vặt cho nghệ sĩ. Bà được Thanh Nga tin cậy giao cho nhiều việc quan trọng đối với cô.
            Chiếc xe lam rẽ vào con lộ nhỏ, chạy thêm độ ba cây số thì đến một xóm nhà lưa thưa với những mái tranh, vách đất, nhà nọ cách nhà kia độ vài chục thước. Bà Bảy Tầm Vu kêu tài xế ngừng lại trước cổng rào ngôi nhà của một thầy tướng số người Chàm, và tuy là nhà tranh nhưng khang trang, sân trước khá rộng, quanh nhà trồng cây kiểng trông rất đẹp mắt.
            Vừa xuống xe thì nhìn thấy ngay ở giữa sân có chiếc bàn hương án bày biện hoa quả, nhang còn bốc khói, và từ trong nhà một người đàn ông đi nhanh ra cổng. Ông này khoảng 40 tuổi ngoài, nước da ngăm đen, bà Bảy Tầm Vu biết ngay là thầy Chàm, bởi mấy ngày trước bà có đến đây gặp ông một lần rồi.
            Khi hai bên sắp đối diện thì tự nhiên thầy Chàm cúi xuống lạy Thanh Nga hai lạy, khiến cô nàng hoảng vía, vội tránh sang một bên:
            ― Sao thầy làm như vậy, Nga còn nhỏ tuổi đáng con cháu của thầy kia mà.
            Bà Bảy Tầm Vu cũng bất ngờ, lấy làm lạ nói tiếp theo liền:
            ― Xin thầy đừng lạy như vậy mà tổn đức cho cô Nga, cô đến đây nhờ thầy coi tướng, coi vận mạng giùm đó.
            Dù cả hai đều lên tiếng với những lời vừa khuyên vừa trách, nhưng ông thầy không trả lời, mà sau khi lạy xong thì ông đứng lên hướng về phía chiếc bàn hương án, vái van lầm thầm một lúc, rồi quay lại tươi cười mời hai người vào nhà. Thầy Chàm lên tiếng:
            ― Bữa nay tôi không đi rẫy, vì phải ở nhà tiếp đón khách quí.
            Thanh Nga ái ngại nói liền:
            ― Như vậy Nga tới đây có gì trở ngại cho việc tiếp đón khách của thầy không vậy?
            ― Cô là khách quí của nhà này đó!
            ― Nga chỉ là dân thường mới đến đây lần đầu, chớ có phải quan quyền gì đâu mà là khách quí, thầy có nhớ lầm ai đó chăng?
            Thầy Chàm không trả lời mà nói lảng sang vấn đề khác chẳng ăn nhập vào đâu hết:
            ― Cô đến đây bằng xe nhà hay xe mướn?
            ― Nga đi xe lam, chiếc xe còn đậu chờ để rước trở về.
            ― Vậy là chiếc xe lam đó bữa nay cũng hân hạnh đưa đón một nữ hoàng.
            Tưởng đâu vị thầy nói đùa, Thanh Nga cười:
            ― Nữ hoàng như Nga thì có ai mà sợ, quan quân không có, thần dân cũng không.
            ― Vì cô là nữ hoàng nghệ thuật, hình ảnh cô sẽ được tôn sùng trong con tim của khán giả, trong tâm tưởng của người đời.
            Chủ và khách nói chuyện đến đây, chưa đi vào vấn đề chính thì có chiếc xe Mobylette ngừng lại trước cổng, người ngồi sau xuống xe, còn người kia tiếp tục chạy đi không biết đi đâu. Thầy Chàm vừa thấy người này thì ngưng ngay câu chuyện đang nói, ông đi một cách vội vã ra cổng, và người xuống xe đi vào sắp chạm mặt thì thầy Chàm cũng sụp xuống lạy hai lạy như đã lạy Thanh Nga lúc nãy, khiến cho cô không khỏi thắc mắc, quay sang hỏi bà Bảy Tầm Vu:
            ― Ai đến đây ông thầy cũng lạy hết, sao kỳ vậy hả thím Bảy?
            ― Không biết tại sao bữa nay ông làm như vậy, chớ lần trước tới đây có thấy ông quỳ lạy ai đâu.
            Thật vậy, Thanh Nga đâu có biết rằng chỉ có cô và vị khách vừa đến còn ở ngoài sân kia là được thầy Chàm quỳ lạy, chứ xưa giờ chưa có người nào đến đây mà thầy có thái độ kỳ lạ ấy. Cách đó vài tháng không biết do ai điềm chỉ mà vị tỉnh trưởng Ninh Thuận và phu nhân đến đây nhờ coi vận mạng, nhưng thầy cũng chỉ trang trọng mời ngồi mà thôi.
            Riêng người khách mới đến thì ông ta khoảng chừng 35, 36 tuổi, ăn mặc bình thường áo sơ mi bỏ ngoài, chân đi dép, đầu đội nón nỉ, đến đây cùng mục đích với Thanh Nga, nghĩa là cũng coi tướng, coi vận mạng…
            Tuy nhỏ tuổi hơn thầy Chàm đến một con giáp, nhưng thầy rất tôn kính và gọi ông bằng “ngài”, thưa ngài, bẩm ngài… coi như vị thế của vị khách và thầy Chàm có một khoảng cách vô hình khá rộng. Vậy ông khách kia là ai? Do đâu mà thầy Chàm tôn kính đến thế?
            Thầy Chàm nhắc lại chuyện của gần hai năm về trước, bởi thầy biết vị khách đang thắc mắc về chiếc bàn hương án, thầy nói:
            ― Ngài có nhớ chăng, lúc ngài đến đây lần đầu cũng có chiếc bàn hương án đặt ở đây?
            Một thoáng ôn lại trong trí, vị khách gật đầu liền:
            ― Nhớ chứ, lúc đó vào một đêm tối trời.
            Thầy Chàm nói tiếp:
            ― Chắc ngài còn nhớ trước đây tôi có nói đến nàng Quận Chúa cùng hoàng tộc với ngài, nhưng vẫn còn tiềm ẩn trong dân gian, và khi cô xuất hiện là trở thành nữ hoàng nghệ thuật, được mọi người thương mến. Cô đến đây trước ngài độ chừng 20 phút thôi, chưa kịp nói lên điều gì thì ngài tới, hiện giờ cô và một bà đi chung với cô đang ở trong nhà.
            Thầy Chàm nói đến đây thì vị khách nhớ lại là lúc trước thầy có đề cập đến một nàng Quận Chúa, nhưng lúc ấy ông chẳng hỏi gì thêm, cũng không chú ý bao nhiêu, và hôm nay thầy lập bàn hương án để đón rước mình và cô ấy. Vậy thì câu chuyện nàng Quận Chúa kia là có thật chớ đâu phải ông nói để cho vui. Giờ đây còn một vấn đề là cô đang ở trong nhà kia có trở thành nữ hoàng nghệ thuật như thầy đã nói hay không, nếu đúng thì thêm một yếu tố để tin tưởng lời của thầy nói về vận mạng của mình.
            Vị khách hỏi:
            ― Thưa thầy! Cô ấy đã trở thành nữ hoàng nghệ thuật hay chưa vậy?
            ― Quận Chúa chỉ mới bắt đầu nổi tiếng ở Phan Rang trong những ngày gần đây thôi, và con đường đi đến ngôi vị nữ hoàng nghệ thuật của cô sẽ không xa.
            Vị khách đang nóng lòng muốn biết cô gái ấy là ai mà thầy Chàm đã gọi là Quận Chúa. Ông định hỏi thì thầy lên tiếng:
            ― Xin mời ngài vào nhà, và kể từ giờ này xin ngài đừng lên tiếng nói lời nào hết, mà chỉ cần nghe những lời tôi nói với cô ấy mà thôi.
            ― Xin thầy cứ tự nhiên nói chuyện với cô ta, tôi sẽ không nói lên điều gì cả, chỉ im lặng nghe thôi.
            Vị khách bước theo thầy Chàm vào nhà và vừa thấy Thanh Nga là ông biết ngay cô nàng đang được báo chí nói nhiều về vụ nhìn con, mà hình ảnh của cô cũng hằng ngày lên báo. Ông rất chú ý sự kiện này vì nó đang xảy ra ở Phan Rang, quê hương của ông.
            Do đồng ý với đề nghị của thầy Chàm nên khi vào nhà, lúc Thanh Nga và bà Bảy Tầm Vu đứng dậy chào, ông chỉ tươi cười đáp lại: Chào cô, chào bà rồi im lặng luôn. Trong khi thầy Chàm giải thích cho Thanh Nga những điều cô đang thắc mắc thì vị khách ngồi nghe tất cả, ông nghĩ ngợi rằng, một cô đào hát cải lương đang làm xôn xao dư luận, báo chí làm rùm beng lên làm cho nổi tiếng cùng khắp, thì ngôi vị nữ hoàng nghệ thuật đặt cho cô ta cũng đúng thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 10/2014


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/Thanh-Nga-gap-thay-Cham-o-Phan-Rang-3351/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #247 vào: 06/08/2019, 10:37:57 »

Trước ngày về với Tổ nghiệp, nghệ sĩ tiền phong Phùng Há nói gì về cải lương

Một cây cổ thụ trong làng cải lương, tên tuổi vang lừng, được mọi người trong giới nể nang kính trọng và gọi bằng “Má Bảy”, và trong những năm cuối đời đã tiết lộ với tôi nhiều vấn đề liên quan đến hoạt động cải lương trong suốt chiều dài lịch sử của bộ môn nghệ thuật này.

Trong ảnh là nghệ sĩ Phùng Há (đeo kính đen),
kế bên giáo sư Trần Văn Khê và nghệ sĩ Kim Cương

(Ảnh do giáo sư Trần Văn Khê cung cấp)

Cây cổ thụ trong làng cải lương
            Năm đó (2005) nữ nghệ sĩ tiền phong Phùng Há đã 96 tuổi, và tôi đã có dịp tiếp xúc với bà tại Chùa Nghệ Sĩ ở quận Gò Vấp, cách trung tâm Sài Gòn khoảng mười cây số.
            Vừa vào cổng chùa, tôi gặp một người ở cánh tay mang băng vải có chữ “bảo vệ”, thì biết chùa này có tổ chức đàng hoàng, chớ không phải như nơi tu niệm thông thường của vị sư nào đó tự thành lập. Sau khi biết được ý định của tôi muốn gặp Má Bảy Phùng Há thì người bảo vệ nói ngay là Má Bảy đi khám bác sĩ, có nghĩa là không có mặt ở đây, và ông ta nói thêm rằng Má Bảy đã 96 tuổi, bệnh hoài!
            Thất vọng nhưng tôi chưa vội ra về mà ở lại thêm một lúc quan sát cây cảnh rất đẹp quanh chùa, cố ý chờ Má Bảy khám bệnh xong trở về sẽ gặp được bà. Nhưng vài phút sau thì có một người phụ nữ từ trong chùa đi ra phân bua với người bảo vệ điều gì đó, mà trong câu chuyện của họ, vô tình tôi được biết rằng Má Bảy Phùng Há hiện đang có mặt trong chùa chớ không phải đi bác sĩ hay đi đâu cả. Vì không muốn người khác nghe được chuyện đang nói, nên hai người cùng đi xa ra một khoảng cách, tiếp tục trao đổi sự việc.
            Thấy vậy tôi kiếu từ ra về và ghé vào một quán nước cạnh chùa kêu thức uống, đồng thời hỏi thăm người chủ quán về việc muốn gặp bà Phùng Há, thì người này cho biết không dễ gì gặp được Má Bảy đâu, bởi có nhiều người đến đây phải đành ra về, kể cả báo chí muốn gặp phỏng vấn cũng khó mà gặp được. Bà chủ quán nói thêm rằng bác sĩ căn dặn Má Bảy cần tịnh dưỡng, không được tiếp xúc nói chuyện nhiều sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, tuổi thọ… đồng thời cũng cho biết thỉnh thoảng thấy bà Phùng Há rời chùa đi đâu đó bằng xe du lịch, do người tài xế của ông bầu Xuân lái, và hầu như lần nào cũng thấy ông bầu Xuân ngồi bên cạnh Má Bảy.
            Tôi nghĩ bụng năm nay Má Bảy đã 96 tuổi, có thể ra đi bất cứ lúc nào, nếu lần này không tiếp xúc được, rủi không còn cơ hội thì sao? Ngày hôm sau trở lại đây một lần nữa, và lần thứ hai này tôi được mời vào nơi làm việc của ông bầu Xuân, hội phó thường trực Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế (Má Bảy là hội trưởng).
            Giữa cái nóng nực oi bức của mùa Hè ở Sài Gòn, nơi phòng làm việc của ông bầu Xuân có máy lạnh, nên rất thoải mái khi đàm đạo và ông bầu Xuân cho biết Má Bảy tuổi cao sức yếu, đôi lúc bị lẫn nên thời gian gần đây bà ít tiếp xúc với mọi người.
            Trong lúc chờ đợi để được đưa vào gặp Má Bảy Phùng Há, tôi không bỏ lỡ dịp phỏng vấn chớp nhoáng ông bầu Xuân về hoạt động và vai trò của ông tại Chùa Nghệ Sĩ, và được ông cho biết sở dĩ ông đang điều hành tại chùa này là do thời kỳ còn làm bầu đoàn hát Dạ Lý Hương, ông từng bỏ tiền ra trả nợ cho chùa để ngôi chùa được tồn tại.
            Được biết ông bầu Xuân nguyên là giám đốc đoàn hát Dạ Lý Hương nổi tiếng thời kỳ trước 1975, các nghệ sĩ tên tuổi như Hùng Cường, Bạch Tuyết, Dũng Thanh Lâm, Út Trà Ôn… từng cộng tác với đoàn hát của ông.
            Đồng thời trước đó ông cũng là giám đốc một công ty xuất nhập cảng, và là chủ nhân hãng sản xuất giấy vệ sinh hiệu Kiss Me. Sau 1975 ông bị cho đi học tập cải tạo vì tội “Tư Sản Văn Hóa”.
            Người bên trong đi ra báo tình trạng của Má Bảy Phùng Há, và sau đó ông bầu Xuân đich thân đưa chúng tôi vào phòng khách nhà riêng của bà ở phía sau chùa. Vài phút sau một người phụ nữ khoảng tuổi 40 dìu bà Phùng Há ra phòng khách, chứng tỏ sự đi đứng của Má Bảy đã khó khăn. Vừa nhìn thấy bà, chúng tôi không khỏi bàng hoàng xúc động một vài giây, bởi trước mặt tôi là một lão bà tay yếu chân run, và tôi liên tưởng thời thập niên 1950 từng nhìn thấy bà oai dũng trong vai tráng sĩ Kinh Kha, múa kiếm thích khách Tần Thủy Hoàng, cũng như uy nghiêm trong vai Lữ Bố, tuồng Phụng Nghi Đình.


Nghệ sĩ Phùng Há trong vở tuồng Mộng Hoa Vương

Thân thế sự nghiệp
            Sau khi hỏi thăm về sức khỏe, Má Bảy bắt đầu kể cho chúng tôi biết hoạt động của bà trong suốt nhiều thập niên ở lãnh vực cải lương, và cho biết tổng quát về thân thế sự nghiệp của bà như sau:
            Tên thật của bà là Trương Phụng Hảo và tên Phùng Há là nghệ danh. Bà sinh năm 1911 tại Làng Điều Hòa, Tổng Trương Thị, Tỉnh Mỹ Tho, cha là người Hoa: Ông Trương Nhơn Từ, người Hạt Sơn, Quảng Đông di cư sang Việt Nam lập nghiệp, cưới vợ và sinh được cả thảy bảy người con. Bà là người áp út, tức thứ bảy theo như cách gọi của người miền Nam (người con đầu là thứ hai).
            Năm mười ba tuổi, từ một “con xẩm lai ca hay”, bà được ông Hai Cư chủ gánh hát Tái Đồng Ban mời về làm đào chánh, đóng cặp với những nghệ sĩ đương thời tên tuổi như Năm Châu, Ba Du… Hai năm sau đó, bà nghỉ hát cho Tái Đồng Ban, qua gánh của Thầy Năm Tú, Trần Đắc, Huỳnh Kỳ, Phước Cương.
            Với hàng trăm vai diễn từng làm say mê người hâm mộ, với các vở tuồng: Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu, Phụng Nghi Đình, Kiều Nguyệt Nga, An Lộc Sơn, Tô Ánh Nguyệt, Đời Cô Lựu, Sân Khấu Về Khuya, Đoạn Tuyệt… trong các vai ấy, vai Lữ Bố trong Phụng Nghi Đình trải qua thời gian hơn nửa thế kỷ, người hâm mộ vẫn còn nhắc đến.
            Nói đến nữ nghệ sĩ tiền phong Phùng Há là hầu như ai cũng liên tưởng đến Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế, do bởi Má Bảy là hội trưởng của nhiều nhiệm kỳ, dĩ nhiên là người có nhiều uy tín nhứt đối với hội. Từ những năm đầu thập niên 1950 có nhiều lần đi ngang vùng phía sau chợ Cầu Muối ở đường Cô Giang, Cô Bắc tôi có nhìn thấy căn nhà khá rộng đề bảng Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu (thời đó chưa có chữ Tương Tế), và thắc mắc không biết chỗ này có liên quan gì đến cải lương không?
            Cũng cần nói rõ con đường Cô Giang và Cô Bắc có tên từ thời Pháp thuộc, là hai con đường nhỏ ăn thông ra đường lớn Kitchener, nơi có nhà sách Yiểm Yiểm Thư Trang mà tôi thường vào đây, nếu không mua sách thì cũng coi cho đã mắt. Đến khoảng 1957 phần lớn các con đường ở Đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn được đổi tên, và không biết do cố y hay vô tình trùng hợp, mà con đường lớn Kitchener lại được đổi tên Nguyễn Thái Học và đường Cô Giang đương nhiên nằm bên cạnh.
            Vốn đam mê cải lương nên thấy chữ “nghệ sĩ” là chúng tôi liên tưởng đến các gánh hát, cùng đào kép hằng đêm diễn tuồng trên sân khấu ở các rạp hát trong đô thành, và tìm hiểu thì được biết đây là trụ sở của một tổ chức hoạt động xã hội, mà số người tham gia thuộc thành phần nghệ sĩ cải lương. Rồi những thập niên sau thỉnh thoảng tôi vẫn nghe đề cập đến Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu và bà Phùng Há vẫn là hội trưởng, có nghĩa không thấy ai thay thế Má Bảy ở chức vụ này.
            Hôm nay sẵn dịp được Má Bảy Phùng Há tiếp tại Chùa Nghệ Sĩ, tôi không quên hỏi Má Bảy về Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu, vì đây là một tổ chức được coi như lâu đời, mà qua các triều đại chính quyền vẫn tồn tại. Dù rằng đã biết khá nhiều về sự hình thành và hoạt động của Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu, tôi cũng muốn Má Bảy nói lên vấn đề:
            ― Kính thưa Má Bảy, được biết Má Bảy là hội trưởng Nghệ Sĩ Ái Hữu Tương Tế rất nhiều năm, vậy xin Má Bảy cho biết hội được thành lập từ bao giờ, mục đích là gì và những ai đã đứng ra thành lập?
            Má Bảy chậm rãi trả lời:
            ― Tôi theo nghiệp cầm ca từ lúc còn rất nhỏ tuổi, nhờ Tổ đãi đã thành danh rất sớm trên sân khấu cải lương, năm 30 tuổi thì sự nghiệp nghệ thuật đã vững vàng, nhưng tôi nhận thấy cuộc đời nghệ sĩ đi theo gánh hát, gạo chợ nước sông, rày đây mai đó cuộc sống lênh đênh không nơi định cư nhứt định, khi về già sẽ không nơi nương tựa, do đó tôi nghĩ rằng mình phải làm cái gì đó để giúp đỡ giới nghệ sĩ cải lương khi không còn đi hát được. Vào năm 1947 trong một buổi họp mặt với các nghệ sĩ cùng thời như Năm Châu, Năm Phỉ, Duy Lân, Bảy Nhiêu, Tư Trang, Bảy Nam, Năm Nở, Từ Anh… chúng tôi đã bàn bạc vấn đề trên, kết quả là đưa đến việc thành lập một tổ chức xã hội, từ thiện trong giới nghệ sĩ: Hội Nghê Sĩ Ái Hữu ra đời năm 1948.
            Như vậy, hội đã được thành lập từ thời Pháp thuộc, và hoạt động liên tục từ ấy đến nay tính ra đã hơn sáu thập niên. Kể cả sau 1975 được cải tên “Ban Ái Hữu Nghệ Sĩ” nhưng chức năng và hoạt động vẫn không thay đổi, và Má Bảy vẫn là hội trưởng.
            Với một hội hoạt động xã hội từ thiện mà có chiều dài lịch sử như vậy, dĩ nhiên thành tích phải có nhiều mới được sự ủng hộ, tồn tại và phát triển. Tôi hỏi:
            ― Xin Má Bảy cho biết hội đã làm được những điều gì đáng kể, cũng như thành quả nào được coi như nổi bật nhứt của hội từ trước đến giờ?
            Hình như mọi việc đã in sâu vào trong ký ức, Má Bảy trả lời ngay:
            ― Trước hết phải nói đến trụ sở của Hội Ái Hữu Nghệ Sĩ ở đường Cô Bắc, là nơi hội họp sinh hoạt của giới nghệ sĩ cải lương, hát bội, nhiều vấn đề liên hệ đến nghệ sĩ đã được họp giải quyết tại đây. Trụ sở cũng từng có tổ chức những lớp học dạy ca, dạy hát, dạy đờn, ngoài ra hằng năm Ban Tuyển Chọn Giải Thanh Tâm cũng họp tại đây để xét trao giải.
            Kỳ sau tôi nói tiếp về buổi gặp gỡ Má Bảy Phùng Há.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-112115-nm-11212015073307.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #248 vào: 10/08/2019, 15:33:39 »

Nhờ có trường đua Phú Thọ mới có tiền mua đất cất Chùa và Nghĩa trang nghệ sĩ

Thật vậy, trong chúng ta nếu có lần đi qua các con đường Lê Đại Hành, Trần Quốc Toản, Nguyễn Văn Thoại, Lữ Gia sẽ nhìn thấy chạy dọc một bên của các con đường nầy là hàng rào tường bao bọc khu đất rộng hơn cả chục mẫu Tây, đó là trường đua Phú Thọ, tọa lạc tại xã Phú Thọ Hòa, do người Pháp thành lập xây dựng trên cả trăm năm nay, với mục đích dùng làm nơi giải trí cuối tuần của giới hâm mộ đua ngựa. Ngoài việc coi ngựa chạy giải trí, người ta còn đánh cá xem ngựa nào về nhứt, con nào về nhì, mà lúc bấy giờ việc đánh cá ngựa cũng là giải trí thôi, chớ hông nhắm vào ăn thua.

Chùa Nghệ Sĩ ở Gò Vấp

Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu
            Đó là nói về sự hình thành của Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu, còn về phần hoạt động của hội thì phải nói rằng có rất nhiều công việc, như tổ chức những buổi hát giúp nghệ sĩ nghèo, hát lấy tiền giúp chi phí các đám tang của nghệ sĩ, có những nghệ sĩ cải lương hát đêm nào lãnh tiền ăn bữa nấy mà còn mắc nợ, khi chết thì không có hòm chôn! Hội cũng đã từng tổ chức hát gây quỹ giúp nhạc sĩ Sáu Lầu, cha đẻ bản vọng cổ, bởi khi về già cuộc sống của ông vô cùng thiếu thốn, bi đát! Nhưng điều đáng nói, đáng ghi hơn hết là vận động tiền mua đất xây cất Chùa Nghệ Sĩ và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ.
            Tôi hỏi Má Bảy:
            ― Nghe nói Chùa và nghĩa trang đã do chính Má Bảy vận động tài chánh để tạo dựng, vậy xin Má Bảy cho biết tiền vận động được từ đâu và những ai, những tổ chức nào đã giúp?
            ― Ngày nay giới nghệ sĩ cải lương có Chùa Nghệ Sĩ để tu niệm, có nghĩa trang để chôn là nhờ… ngựa chạy đó!
            Câu nói kể khá vui, mới nghe thật tức cười, tôi tưởng đâu Má Bảy nói chuyện vui nào đó, hoặc là nghĩa bóng “ngựa chạy đường dài mới biết ngựa hay”, nói lên sự kiên trì, bền bỉ đóng góp lâu dài nên mới có chăng?
            Thế nhưng chuyện “ngựa chạy” đem lại việc có chùa, có nghĩa trang là có thật trăm phần trăm, nhờ những con ngựa “chiến” ở trường đua Phú Thọ, hàng tuần chạy đua giúp vui cho thiên hạ mà Má Bảy có được điều kiện tốt để xây cất Chùa, lập nghĩa trang cho giới nghệ sĩ. Và câu chuyện được tiếp tục như sau:
            ― Tại sao chuyện ngựa chạy lại dính vô vấn đề, là việc đáng ghi của hội, chắc là có điều gì rất đặc biệt xin Má Bảy nói rõ hơn?
            ― Sự thiệt nó là như vậy đó, nhờ có đua ngựa ở trường đua Phú Thọ nên tôi mới có tiền mua miếng đất trên nửa mẫu tây nầy để cất Chùa, lập nghĩa trang, hay nói đúng hơn là nhờ tiền lời đua ngựa của một ngày Chủ Nhật đã giúp tôi mua. Nhưng không phải khi không chẳng có gì hết mà trường đua ngựa nó giúp tôi đâu, cải lương đâu có ăn nhập gì với ngựa đua, mà cũng nhờ có trước có sau mới được, “hòn đất ném đi, hòn chì ném lại” đó!
            Trước khi tiếp tục câu hỏi và câu trả lời chi tiết của Má Bảy có liên quan đến trường đua Phú Thọ, chúng tôi xin đề cập sơ qua về một địa điểm vừa giải trí lại vừa có tính cách cờ bạc, mà có lẽ những người miền Nam, đặc biệt là những cư dân từng sinh sống ở Đô thành Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định nếu chưa từng vào xem cũng có nghe qua.
            Thật vậy, trong chúng ta nếu có lần đi qua các con đường Lê Đại Hành, Trần Quốc Toản, Nguyễn Văn Thoại, Lữ Gia sẽ nhìn thấy chạy dọc một bên của các con đường nầy là hàng rào tường bao bọc khu đất rộng hơn cả chục mẫu Tây, đó là trường đua Phú Thọ, tọa lạc tại xã Phú Thọ Hòa, do người Pháp thành lập xây dựng trên cả trăm năm nay, với mục đích dùng làm nơi giải trí cuối tuần của giới hâm mộ đua ngựa. Ngoài việc coi ngựa chạy giải trí, người ta còn đánh cá xem ngựa nào về nhứt, con nào về nhì, mà lúc bấy giờ việc đánh cá ngựa cũng là giải trí thôi, chớ hông nhắm vào ăn thua.
            Những năm cuối thập niên 1940 lực lượng võ trang Bình Xuyên chiếm cứ vùng đất bên kia cầu Chữ Y, Tướng Bảy Viễn kiểm soát cả vùng Chợ Lớn, khai thác sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới và luôn cả trường đua Phú Thọ cũng vào tay lãnh chúa nầy. Do đó mà đến năm 1955 xảy ra chiến tranh giữa lực lượng võ trang Bình Xuyên và quân đội Quốc Gia thì trường đua Phú Thọ đương nhiên bị đóng cửa. Thời Bình Xuyên còn khai thác trường đua Phú Thọ thì đánh cá ngựa trở thành môn cờ bạc lôi cuốn con người ta, nhiều người tán gia bại sản cũng vì đánh cá ngựa mà tiếng lóng gọi là “bị ngựa đá”!
            Trường đua bị đóng cửa khiến cho dân ghiền đi coi ngựa chạy mỗi tuần mất đi môn giải trí độc đáo, dân chuyên đánh cá ngựa cũng mất nơi ăn thua mỗi cuối tuần. Lúc Bình Xuyên bị đánh đuổi ra khỏi vùng Chợ Lớn, bị tiêu diệt tại Rừng Sát rồi mà trường đua cũng vẫn chưa mở cửa trở lại và có chiều hướng bị dẹp luôn, do bởi vấn đề “đánh cá ngựa”, mà chủ trương của chính phủ thời Đệ Nhứt Cộng Hòa là cấm cờ bạc dưới mọi hình thức.


Nghĩa trang chùa Nghệ sĩ tại Gò Vấp

Tiền lời đua ngựa để cất Chùa, lập nghĩa trang
            Tình trạng này khổ nhứt là những người có ngựa đua, những con ngựa chiến khác với ngựa rẻ tiền dùng kéo xe thổ mộ, kéo xe cá hằng ngày đậu tại bến chợ Cầu Ông Lãnh, chợ Bình Tây và các chợ trong Đô thành chờ vận chuyển hàng hóa. Thời đó một con ngựa kéo xe chỉ mua vài ngàn đồng, thì con ngựa đua phải mua mấy chục ngàn, có con trên cả trăm ngàn, nếu có lịch sử từng đua thắng nhiều độ. Giờ đây trường đua đóng cửa không lẽ đem ngựa đua cho kéo xe thổ mộ, bao nhiêu vốn liếng đổ vào coi như mất hết sao? Do đó mà sau thời gian cả năm trời cho ngựa nghỉ dưỡng sức dài hạn, các chủ ngựa đua họp lại gián tiếp thành lập “Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ” (chỉ nói thôi chớ hội không có trên giấy tờ), và đi vận động nhiều nơi, vận động với các hội từ thiện như: Viện Mồ Côi, Viện Dưỡng Lão, các Hội Ái Hữu… cùng ký tên trong đơn xin cho trường đua Phú Thọ hoạt động trở lại, và hứa rằng sẽ đặc biệt dành những buổi tiền lời để giúp các hội tự thiện, ái hữu nói trên.
            Tôi tiếp tục đặt câu hỏi:
            ― Có phải là nhờ nhiều tổ chức từ thiện, các hội ái hữu ủng hộ mà Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ đã được cho phép hoạt động trở lại, và riêng Má Bảy thì với danh nghĩa Hội Trưởng Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu, Má Bảy đã cũng ký tên vào đơn xin hỗ trợ cho hội đua ngựa lúc bây giờ?
            ― Đúng như vậy! Tôi thấy tờ đơn nói rất hợp tình hợp lý nên ký tên ủng hộ, bởi lý luận của Hội Đua Ngựa khá vững chắc, họ viện dẫn rằng trường đua Phú Thọ là nơi giải trí lành mạnh, là nghệ thuật coi giò coi cẳng con ngựa, cũng giống như dân mê đá gà coi vảy coi cựa vậy thôi! Còn chuyện đánh cá thì chỉ những người nào có máu ham mê cờ bạc thì họ mới đánh cá ăn thua lớn, chớ đa số là đánh cá mua vui, nếu là dân cờ bạc thì ở đâu họ cũng đánh bạc chớ không phải có trường đua ngựa họ mới ăn thua.
            Nghe lý luận đó vững quá, tôi hỏi tiếp:
            ― Vậy đơn xin còn nêu lên vấn đề nào thực tế nữa không, mà được rất nhiều tổ chức ủng hộ, như Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu của Má Bảy?
            ― Trong đơn xin phép cũng chứng minh hiện nay nhiều nước trên thế giới có đua ngựa, bên Ăng Lê, bên Tây, bên Tàu, bên Mỹ nói chung Âu châu, Á châu, Mỹ châu đều có đua ngựa giải trí, không lẽ chúng ta có sẵn trường đua lại dẹp bỏ đi sao? Hơn nữa số tiền đánh thuế trường đua Phú Thọ không phải nhỏ!
            Cuối cùng thì Má Bảy cho biết trường đua Phú Thọ được phép cho hoạt động trở lại, và năm 1957 bà đã lấy danh nghĩa Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu xin Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ một ngày tiền lời để mua đất cất Chùa Nghệ Sĩ và nghĩa trang.
            Má Bảy cho biết thêm sau khi Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ đồng ý giúp cho một ngày tiền lời đua ngựa thì công cuộc tìm mua đất cất Chùa, lập nghĩa trang được tiến hành ngay. Thế nhưng, không phải có tiền rồi mua được liền, mà phải trải qua nhiều giai đoạn gian nan, chán chường bỏ ra không biết bao nhiêu thì giờ công sức, bởi nhiều khó khăn phức tạp của vấn đề mà mãi đến cả năm sau Hội mới mua được miếng đất.
            ― Theo như tôi được biết thì vào thời điểm 1957 đất cát ở vùng Gia Định muốn mua cũng không khó lắm, điển hình là có rất nhiều chùa Phật giáo được xây cất ở thời gian đó, vậy thì do đâu việc mua đất cất Chùa Nghệ Sĩ phải cả năm sau?
            ― Nếu chỉ cất Chùa thôi thì dễ dàng mua đất và cũng dễ xin giấy phép, nhưng đằng nầy Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu phải thực hiện hai công việc cùng một lúc là vừa cất Chùa, đồng thời lập nghĩa trang luôn, và cũng do tìm kiếm mua đất thích hợp cho cả hai mục tiêu nên mới gặp khó khăn.
            ― Để cho giới nghệ sĩ cải lương sau nầy hiểu rõ công lao của người đi trước, xin Má Bảy cho biết một vài khó khăn cụ thể mà lúc bấy giờ Hội đã gặp phải trong vấn đề mua đất?
            ― Lúc đó ở gần Đô thành Sài Gòn thì không có đất rộng, nếu có chăng thì giá cả cũng rất đắt, số tiền của Hội có không thể vói tới.
            Má Bảy không nói rõ là Hội có bao nhiêu tiền và tôi cũng không hỏi việc đó, mà hỏi việc khác:
            ― Có phải nếu ở gần Đô thành hay Thị xã Gia Định thì không thể xin giấy phép được?
            ― Như tôi đã nói cất Chùa thì dễ hơn, đất cũng không cần rộng lắm, và giấy phép cũng dễ xin, chớ còn kèm theo nghĩa trang thì việc xin giấy phép là cả một vấn đề, không có xã nào muốn đem thây ma xác chết về chôn ở địa phương mình, thành thử ra khó khăn vô cùng và mất rất nhiều thời gian.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-112815-nm-11282015075337.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #249 vào: 15/08/2019, 09:44:36 »

Gian nan khi mua đất cất Chùa và Nghĩa trang Nghệ sĩ

Tiếp tục câu chuyện “mua đất” của Má Bảy Phùng Há để cất Chùa và lập nghĩa trang cho nghệ sĩ cải lương, thì Má Bảy nói đất ở gần thì không có, chớ còn như ở xa thì đất trống, đất rộng có nhiều, xin giấy phép lập nghĩa trang cũng dễ, người chết nằm đâu cũng được nhưng lại khó cho người sống, là khi có ai nằm xuống thì phải di chuyển đi xa, tốn kém nhiều, trở ngại cho người đi đưa đám. Cũng như việc cất Chùa, nếu như Chùa ở gần thì nghệ sĩ cũng siêng đi cúng hơn, có thể mỗi ngày rằm, ngày vía họ đều đi, chớ ở xa thì cả năm chưa chắc họ đi cúng Chùa một lần.

Nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp

Không dễ dàng
            Tiếp tục phỏng vấn Má Bảy Phùng Há về việc mua đất cất chùa và nghĩa trang nghệ sĩ. Dù đã có tiền, việc kiếm mua đất làm nghĩa trang cũng không dễ dàng. Việc xin giấy phép là cả một sự khó khăn. Chùa thì dễ hơn chớ còn kèm theo nghĩa trang thì việc xin giấy phép là cả một vấn đề, không có xã nào muốn đem thây ma xác chết về chôn ở địa phương mình.
            Tôi hỏi:
            ― Gồm chung hai vấn đề gặp khó khăn, thế nhưng tại sao Hội không tách hai vấn đề ra, cất chùa riêng và lập nghĩa trang riêng?
            ― Theo ý kiến của đa số người trong Hội lúc bấy giờ thì muốn cho giới nghệ sĩ vừa đi Chùa vừa đi thăm viếng chăm sóc mồ mả đồng nghiệp luôn, chớ nghĩa trang riêng thì hiếm có người đi thăm, bởi lúc đó có nhiều nghệ sĩ tuổi đã về chiều, một số đã nằm xuống rồi.
            Khi đã đi coi vừa ý một mảnh đất, đã thương lượng xong với chủ đất thì liền sau đó Má Bảy và nghệ sĩ Năm Châu phải liên hệ ngay với chính quyền xã ấp địa phương về việc cấp giấy phép, nếu chính quyền đồng ý thì mới tiến hành thủ tục mua bán, chớ như mua đất rồi mà không xin phép được thì làm sao đây? Mục tiêu của Hội là cất Chùa và lập nghĩa trang cho nghệ sĩ, nhưng bất cứ ở xã nào trong tỉnh Gia Định cũng gặp khó khăn trong vấn đề cho phép, chỗ nào cũng nói: Chờ xét! Mà mỗi lần như vậy là mất đôi ba tuần, có khi mất trên cả tháng và cuối cùng thì nhiều xã ấp đưa ra đủ lý do để từ chối cấp giấy phép.
            Tôi hỏi:
            ― Những lý do nào mà các chính quyền ở địa phương đưa ra để không chấp thuận việc cấp giấy phép, xin Má Bảy cho biết một vài thí dụ?
            ― Họ đưa ra cả chục lý do, nói rằng phải chi xin phép lập hãng xưởng, xây dựng cơ sở làm ăn như vừa qua mấy người Tàu xin lập hãng nước đá thì họ cho phép liền mà còn hoan nghinh, chớ đằng nầy xin lập nhị tỳ thì phải xét cho kỹ lưỡng, đem nhị tỳ về đây buồn lắm! Họ viện rất nhiều lý do để từ chối cấp giấy phép mà trong đó có cả lý do… sợ ma nữa, mới thật là buồn cười, thật là vô lý!
            ― Vấn đề “sợ ma” họ chứng minh thế nào vậy Má Bảy, có phản khoa học hay không, có thực tế không hay chỉ nói vu vơ?
            ― Có lần khoảng gần Tết đầu năm 1958, chúng tôi chọn được miếng đất hơn một mẫu Tây trên miệt Bà Quẹo, giá cả vừa phải, vừa túi tiền của Hội lúc đó và chủ đất cũng mong chúng tôi mua xong sẽ có tiền ăn Tết, đồng thời chia cho con cái số vốn làm ăn, bởi họ đang nghèo mong cho đất có người mua. Thế nhưng, khi đến chính quyền Hội đồng Xã địa phương hỏi về việc cấp phép thì xã không chấp thuận với lý do sợ ma, mà tôi còn nhớ lúc bấy giờ ở giữa phòng họp có chiếc bàn lớn, chúng tôi ngồi một bên, viên chức xã ngồi một bên nói chuyện. Bên chúng tôi gồm năm người và anh Năm Châu được đề cử ăn nói với làng xã, còn bốn người chúng tôi gồm có anh Duy Lân, anh Tư Trang, chị Bảy Nam và tôi thì ngồi nghe nhiều hơn.
            Bên phía xã thì có thầy Hương quản, tức Hội viên Cảnh sát, ông Hội viên Kinh tế, ông Hội viên Giáo dục cùng vài viên chức khác của xã, ông Hội viên Kinh tế nói trước: Miếng đất mà quý ông bà đào kép hát cải lương mua đó, nó nằm cạnh con đường qua lại làm ăn của dân chúng, họ đi khuya về sớm, những người gánh rau cải, bầu bí cho bạn hàng đem xuống bán các chợ ở Sài Gòn, họ đi ngang miếng đất đó từ bốn, năm giờ khuya và dân đi làm ruộng rẫy, cắt lúa đập lúa cũng đi ngang đó lúc mặt trời chưa mọc, nếu làm nhị tỳ ở đây khiến họ sợ ma không dám đi sớm, ảnh hưởng đến công chuyện mua bán làm ăn của họ.
            Viên chức trông coi về Kinh tế nói đến đây thì ông Giáo dục nói rằng, ở xã lân cận cho lập nhị tỳ cũng nằm sát con đường học trò đến trường, trẻ con nhát ma với nhau không dám đi học, và có lần bọn chúng chơi trò trốn kiếm trong nghĩa địa, một đứa bị ma giấu tới chừng dẫn chó đi cho sủa thì gặp nó ngồi gần bên cái mả mới chôn, miệng ngậm đầy đất sét!
            Rút kinh nghiệm nên với tư cách người trông coi về sự học hành của xã tôi chống lại việc lập nhị tỳ! Còn thầy Hương quản thì thực tế hơn, ông nói rằng lập nhị tỳ tại đây thì là chỗ ẩn náo tốt cho bọn bất lương trộm cướp, chúng sẽ lợi dụng sự vắng vẻ cướp giựt người đi đường, tạo sự bất an trong xã. Là viên chức có trách nhiệm về an ninh ở địa phương, ông cũng không chấp thuận làm nghĩa địa ở đây, xin quí ông bà đi kiếm đất chỗ khác.
            Biết là họ không chấp thuận rồi, nói nhiều cũng vô ích, nghệ sĩ Năm Châu mặt mày buồn hiu, cười gượng và nói giả lả trong phòng họp: “Ma nào thì nhát, chớ ma cải lương thì hiền khô, không có nhát ai đâu mà chỉ ca sáu câu vọng cổ thôi! Gặp ma cải lương thì cũng giống như bà con đi coi tuồng Phạm Công Cúc Hoa vậy!”

            ― Vô lý như vậy sao Má Bảy và các nghệ sĩ không khiếu nại ở cơ quan hành chánh cấp cao hơn như quận, tỉnh, chớ xã nào cũng không cho lập nghĩa trang thì người chết chôn ở đâu?
            ― Khiếu nại cái nỗi gì, không được chỗ nầy thì đi kiếm chỗ khác, hơi sức đâu đi khiếu nại, thưa gởi mất thì giờ rồi cũng chẳng đi đến đâu. “Phép Vua thua lệ Làng” mà!



Bỏ công để làm việc nghĩa
            Tiếp tục câu chuyện “mua đất” của Má Bảy Phùng Há để cất Chùa và lập nghĩa trang cho nghệ sĩ cải lương, thì Má Bảy nói đất ở gần thì không có, chớ còn như ở xa thì đất trống, đất rộng có nhiều, xin giấy phép lập nghĩa trang cũng dễ, người chết nằm đâu cũng được nhưng lại khó cho người sống, là khi có ai nằm xuống thì phải di chuyển đi xa, tốn kém nhiều, trở ngại cho người đi đưa đám. Cũng như việc cất Chùa, nếu như Chùa ở gần thì nghệ sĩ cũng siêng đi cúng hơn, có thể mỗi ngày rằm, ngày vía họ đều đi, chớ ở xa thì cả năm chưa chắc họ đi cúng Chùa một lần.
            Má Bảy nói thêm rằng việc mua đất có khó khăn, gian nan chán chường thật, cũng như tốn rất nhiều công sức thì giờ nhưng không thấy buồn mà đôi lúc còn thấy vui trong lòng, bởi dầu sao thì cũng bỏ công để làm việc nghĩa, việc từ thiện. Thế nhưng, cái khổ tâm nhứt cho bà là bị “hỏi thăm” đất đã mua chưa? Hầu như chẳng có ngày nào mà không bị hỏi thăm về miếng đất trong tương lai mà số tiền Hội đã có trong tay.
            Biết được Hội đã có tiền rồi thì giới nghệ sĩ hỏi, Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ hỏi, và cả những người ngoài không ăn nhập gì với Hội, với cải lương cũng hỏi tại sao lâu quá mà chưa mua đất, tiền có còn đủ hay đã xài việc khác hết rồi? Thậm chí có người còn kể lại rằng ai đó đã nói: “Tới Tết Chà Và mới mua, của Tào đem đổ Âm Ty hết rồi! Tiền đua ngựa chắc đi đánh cá ngựa trả lại cho trường đua Phú Thọ rồi”!
            Trời ơi, thiệt là khổ! Má Bảy than như vậy và nói phải chi biết trước có vấn đề bị nghi ngờ thế nầy thì chắc chẳng bao giờ bà dám dấn thân làm chuyện xã hội cho bị tai tiếng!
            Tôi hỏi:
            ― Bị tai tiếng như vậy sao Má Bảy không lên tiếng cho người ta biết rằng tiền vẫn con đủ, nếu cần trưng ra làm bằng cớ, bởi tham gia vào việc nầy còn có các người khác như nghệ sĩ Năm Châu, Ba Vân, Duy Lân, Tư Trang, Bảy Nhiêu…
            ― Thật ra thì trong nhóm đi mua đất ai cũng biết tiền còn đủ chớ có mất đi đâu đồng nào, chính họ cũng bực tức như tôi nhưng mỗi người một suy nghĩ khác, riêng tôi thì muốn đem tiền trả lại cho Hội Đua Ngựa cho xong, nhưng anh Năm Châu nói rằng đã lỡ cỡi trên lưng cọp rồi, nếu nhảy xuống sẽ bị cọp vồ, dù có đem tiền trả lại cho trường đua thì có mấy người biết chớ! Chi bằng ráng mua cho được miếng đất thì mọi sự nghi ngờ sẽ tan biến hết.
            ― Ý kiến của nghệ sĩ Năm Châu rất thực tế, chắc lúc đó mọi người đã theo ý kiến của ông phải không Má Bảy?
            ― Đúng vậy! Theo ý anh Năm Châu ai nói gì thì nói, việc mình mình làm, ráng chịu đựng thêm thời gian nữa, riêng tôi van vái Tổ nghiệp thì một ngày nọ có người điềm chỉ hướng dẫn đến cuộc đất nầy đây. Mua được đất rồi, giấy tờ xong xuôi rồi coi như cái gánh nặng từ một năm nay đã trút bỏ xuống, thiên hạ không còn ai nói ra nói vô, không còn nghĩ bậy cho Hội cũng như cho cá nhân tôi, kể cả Hội Đua Ngựa Trường Đua Phú Thọ nghe nói mua đất xong họ cũng gởi giấy chúc mừng.
            ― Lúc đó chắc Hội tổ chức ăn mừng, và Má Bảy có mời những người trước đó đã loan tin thất thiệt đến dự để cho họ biết không?
            ― Cần gì, mua xong là thiên hạ biết ngay, hôm bữa đó buổi sáng chồng tiền trước mặt Hội đồng Xã, thì buổi chiều ở hậu trường mấy rạp hát họ bàn tán xôn xao như ong vỡ tổ, có người nói rằng: “Mai một chết có chỗ chôn rồi!”
            Má Bảy Phùng Há nói rằng mua đất được rồi coi như đã giải quyết được hai phần ba công việc, bà và các nghệ sĩ cùng thời trong nhóm mừng vui ra mặt, tổ chức cúng đáp lễ Tổ nghiệp, ăn mừng rất lớn và tin trên bay đi thật xa, chỉ mấy ngày là tất cả các đoàn hát đang hoạt động ở các tỉnh đều biết.
            Miếng đất vừa mua có diện tích 6.080 thước vuông, tọa lạc tại xã Hạnh Thông Tây, Quận Gò Vấp, tính ra thì không gần cũng không xa, cũng như về mặt giấy tờ xin phép cũng dễ, do lúc bấy giờ quanh đây là căn cứ quân sự của quân đội viễn chinh Pháp. Sau Hiệp Định Genève 1954, Pháp rút về nước giao lại cho quân đội Quốc Gia, lực lượng còn yếu kém chẳng bao nhiêu lính tráng hiện diện nên vùng nầy vắng vẻ, con đường từ chợ Hạnh Thông Tây đi vô miếng đất là đường mòn, ít người qua lại, nhà cửa dân chúng thưa thớt, nhờ vậy mà vấn đề xin phép lập nghĩa trang không gặp khó khăn.


NGÀNH MAI
Tháng 12/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-120515-nm-12032015143936.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #250 vào: 20/08/2019, 16:19:05 »

Thầy Thanh Tao tụng kinh mùi như ca vọng cổ

Một chi tiết khá buồn cười Má Bảy kể lại rằng nghệ sĩ Thanh Tao là danh ca ngang ngửa với Út Trà Ôn, năm 1953 ông thuộc thành phần “nghệ sĩ đi xe hơi”, có chiếc xe Peugeot 203 màu xanh xám, nhưng có điều là ít ăn khách hơn Út Trà Ôn. Thanh Tao từng đóng vai Điệp, đóng cặp với đào Năm Phỉ vai Lan, cũng như từng vô nhiều dĩa hát. Lớn tuổi ông giải nghệ vào tu ở Chùa Nghệ Sĩ lấy pháp danh là Thích Quảng Minh, nhưng các Phật tử gọi ông bằng thầy “Thích Thanh Tao”, hễ mỗi lần có ông tụng kinh thì người ta đi cúng Chùa rất đông, đặc biệt là các nữ Phật tử từng là khán giả cải lương, họ nói: Thầy Thanh Tao tụng kinh mùi như ca vọng cổ, nghe ông tụng kinh mà tưởng chừng như đang nghe dĩa hát “Hoàng Tử Lưng Gù vậy!”

Chùa nghệ sĩ ở Gò Vấp, ảnh chụp trước khi sửa chữa.

Chùa chưa xây xong mà đã mắc nợ
            Tiếp tục câu chuyện cải lương với Má Bảy Phùng Há. Đất mua xong, giai đoạn kế tiếp là lo cất Chùa để giúp nghệ sĩ lúc sống có cơ hội tu hành, khi chết có mồ yên, mả đẹp và chúng tôi hỏi tiếp về giai đoạn này:
            ― Thưa Má Bảy, mua đất lắm gian nan và gặp nhiều khó khăn, vậy khi cất Chùa có dễ dàng không hay cũng khổ sở như mua đất?
            ― Cái nào cũng khó khăn hết, mỗi cái khó một cách và việc cất Chùa, Hội đồng ý giao cho ông Lê Minh Công, khi xưa vốn làm nghề quản lý các đoàn hát, về sau đi tu pháp danh là Tỳ kheo Thích Quảng An, ông đã cùng với các vị Phật tử phát tâm từ thiện xây dựng một ngôi Chùa nhỏ.
            Với sự giúp đỡ của Phật tử và Mạnh Thường Quân, cùng với sự chịu đựng gian khổ và tâm quyết của thầy Thích Quảng An, ngôi Chùa nhỏ đã được thực hiện, nhưng khổ nỗi ngôi Chùa chưa xây xong mà đã mắc nợ nên ngưng lại một thời gian.
            Nhận thấy không thể tiếp tục chương trình, nên Thầy Thích Quảng An đề nghị giao Chùa cho Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu và xin thanh toán món nợ, nhưng Hội không chấp thuận, vì không có tiền. Cuối vùng thầy Thích Quảng An và nhóm Phật tử đến cầu cứu ông bầu Xuân, giám đốc đoàn hát Dạ Lý Hương, tức ông Diệp Nam Thắng là chủ nhân xưởng giấy vệ sinh hiệu Kiss Me để lấy tiền trả nợ. Ông bầu Xuân đồng ý trả nợ và nhận Chùa năm 1971, rồi ông giao cho các nghệ sĩ tổ chức cơ cấu quản trị và xây dựng, còn ông chịu trách nhiệm ủng hộ tài chánh.

            Năm 1972, Chùa xây cất xong với tên Nhựt Quang Tự và thành lập Hội Chùa Nhật Quang và Nghĩa Trang, bầu ra một Ban Trị sự tạm thời đầu tiên để quản trị chùa và được ban chấp hành Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu chấp thuận với thành phần gồm:
            – Ông bầu Thới: Chủ Hội kiêm Phó Chủ hương;
            – Nghệ sĩ Thanh Tao: Chánh Chủ hương;
            – Ông Nam Hưng: Phó chủ Hội;
            – Ông Năm Anh: Tổng Thư ký;
            – Ông Nguyễn Kim Khánh: Thư ký;
            – Nghệ sĩ Duy Chức: Trưởng ban Bảo trợ;
            – Ông Tư Liêm: Phó ban Bảo trợ;
            – Ông Trần Văn Đáng: Thủ quỹ kiêm Trưởng ban Nghi lễ;
            – Và hai vị Cố vấn kiêm tiếp khách là ông Hứa Nam Thành và Hề Lập. Đặc biệt ông bầu Xuân được bầu Chủ Hội Danh Dự.


Bên trong khuôn viên Chùa nghệ sĩ

Nghệ sĩ Thanh Tao
            Một chi tiết khá buồn cười Má Bảy kể lại rằng nghệ sĩ Thanh Tao là danh ca ngang ngửa với Út Trà Ôn, năm 1953 ông thuộc thành phần “nghệ sĩ đi xe hơi”, có chiếc xe Peugeot 203 màu xanh xám, nhưng có điều là ít ăn khách hơn Út Trà Ôn. Thanh Tao từng đóng vai Điệp, đóng cặp với đào Năm Phỉ vai Lan, cũng như từng vô nhiều dĩa hát. Lớn tuổi ông giải nghệ vào tu ở Chùa Nghệ Sĩ lấy pháp danh là Thích Quảng Minh, nhưng các Phật tử gọi ông bằng thầy “Thích Thanh Tao”, hễ mỗi lần có ông tụng kinh thì người ta đi cúng Chùa rất đông, đặc biệt là các nữ Phật tử từng là khán giả cải lương, họ nói: Thầy Thanh Tao tụng kinh mùi như ca vọng cổ, nghe ông tụng kinh mà tưởng chừng như đang nghe dĩa hát “Hoàng Tử Lưng Gù vậy!”
            Từ năm 1972, sau khi thành lập Ban Trị sự thì Hội Chùa Nhật Quang, tức Chùa Nghệ Sĩ hoạt động mạnh với sự nhiệt tình đóng góp của ông bầu Xuân, tổ chức hát gây quỹ xây dựng nới rộng Chùa và nghĩa trang, nhờ đó mà Chùa đã được phát triển mạnh, từ một cái am nhỏ đã trở thành một ngôi Chùa tương đối lớn, được tổ chức có nề nếp.
            Từ năm 1972 việc quản trị Phật sự, có các vị trụ trì Chùa sau đây: Thầy Thích Quảng Tường (bầu Thới) trụ trì từ 1972 đến 1977. Thầy Thích Quảng Minh, tức nghệ sĩ Thanh Tao trụ trì từ 1978 đến 1982. Thầy Thích Huệ Trí, tức nghệ sĩ Bảy Bá trụ trì từ 1983 đến 1987, và Thầy Thích Thượng Niệm (nghệ sĩ Ba Cẩn) trụ trì từ 1988 đến 1993. Từ năm 1996 đến nay, quản sự do Đại Đức Thích Hồng Minh phụ trách.
            Tháng 9/1994, Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ra quyết định cải tổ cơ cấu tổ chức, thành lập Hội đồng Quản trị Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ, không có thầy trụ trì mà chỉ có Hội đồng Quản trị điều hành toàn bộ.
            Thành phần Hội đồng Quản trị gồm có: Bà Trương Phụng Hảo, tức Má Bảy Phùng Há (hội trưởng). Bà Như Mai và các ông Diệp Nam Thắng, tức ông bầu Xuân, ông Nguyễn Văn Hiếu, tức Tư Hiếu (phó hội trưởng). Ông Thanh Cao và nghệ sĩ Đinh Bằng Phi (hát bội) làm Ủy viên Thư ký. Nghệ sĩ Kim Hoàng, Thủ quỹ. Các nghệ sĩ Trường Xuân, Nam Hùng, Dũng Minh Sang và bà Lê Thị Tâm, tức bà Bê (Ủy viên Kiểm soát). Nghệ sĩ Huỳnh Nga và các ông Việt Thường, ông Nguyễn Văn Chức, và ông Lê Quang Anh tức Năm Anh (Cố vấn).
            Sau một thời gian ngắn, bà Như Mai, nghệ sĩ Kim Hoàng, nghệ sĩ Nam Hùng xin từ chức. Ông Nguyễn Văn Hiếu kiêm chức Thủ quỹ. Sau đó nghệ sĩ Trường Xuân và ông Lê Quang Anh cũng lần lượt qua đời.
            Sau khi thành lập, Hội đồng Quản trị mới đã hoạt động hăng say tích cực, cải tổ, chỉnh trang, với chủ trương miễn tất cả các chi phí chôn cất, giúp đỡ phương tiện chôn cất và nhận giữ cốt. Tất cả mọi hoạt động trên đã đem lại hiệu quả đáng kể là làm đổi mới toàn bộ Chùa trong những năm gần đây.
            Sự việc mà chúng tôi ghi lại mấy kỳ vừa qua trong việc hình thành Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ đã cho thấy sự hy sinh, nhẫn nại kiên trì của lớp người đi trước, của những nghệ sĩ tiền phong, và của những người tuy không phải nghệ sĩ, nhưng đã hết lòng với nghệ thuật như ông bầu Xuân, mà các thế hệ nghệ sĩ cải lương sau này có quyền tự hào hãnh diện. Chùa Nghệ Sĩ với lịch sử hình thành và nghĩa trang, nơi nằm nghỉ của những người nghệ sĩ thuần túy dân tộc, đã ra đi để lại cho đời một công trình văn hóa nghệ thuật, mà chắc những ai tha thiết với nền văn hóa nước nhà cũng đều muốn lưu lại di tích lịch sử văn hóa nghệ thuật nói trên.
            Sau phần phỏng vấn Má Bảy Phùng Hà về Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ, tôi thu thập được những sự kiện khá lý thú trong việc hình thành hai cơ sở nói trên, mà những kỳ vừa qua đã trình bày với quí thính giả, và để tiếp tục câu chuyện với Má Bảy tôi hỏi về Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ, bởi có nghe phong phanh rằng nghệ sĩ cải lương đã có được cơ sở từ thiện nầy rồi. Tôi đặt câu hỏi:
            ― Thưa Má Bảy, nghe nói giới nghệ sĩ cải lương đã có Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ, xin Má Bảy cho biết vài nét về cơ sở xã hội từ thiện này?
            ― Nhiều năm trước đây tôi từng chứng kiến những nghệ sĩ khi về già không nơi nương tựa, hết ở nhà người bạn này đến ở nhà người quen khác, cuộc sống long đong, do bởi lúc còn trẻ đi theo gánh hát thì đâu có nhà cửa gì, thành thử khi về già phải ở hành lang mấy rạp hát bị đuổi lên đuổi xuống, thậm chí có những người ở dưới gầm cầu chữ Y. Đó là động cơ thúc đẩy tôi và một số người trong Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu đứng ra thực hiện “Nhà Dưỡng Lão Nghệ Sĩ Sân Khấu”, kêu gọi sự từ tâm đóng góp của người trong giới, của những nhà hảo tâm, quí vị mạnh thường quân và kết quả thì năm 1998 nhà dưỡng lão đã được hình thành tại Quận 8, đường Âu Dương Lân.
            Những thành phần như đào, kép, hát, soạn giả, đạo diễn, họa sĩ thiết kế sân khấu cho đến khiêng vác, và luôn cả những người đi theo đoàn hát lo trang phục cho nghệ sĩ như cô Tám Bịt, người thay đổi phục trang cho cô Năm Đồ (hát bội) ngày xưa, nói chung là những người từng cống hiến cho nghệ thuật từ 25 năm trở lên.

            ― Ngoài vấn đề lâu năm cống hiến nghệ thuật, các nghệ sĩ phải có thêm điều kiện nào nữa không, và phải bao nhiêu tuổi mới được nhận vào Viện Dưỡng Lão?
            ― Những người đi hát từ xưa, những thập niên 1940, 1950, 1960 tính đến nay đã già yếu hết, nếu ai cũng xin vào Viện Dưỡng Lão thì Viện không kham nổi, do đó phải những người thực sự có hoàn cảnh khó khăn, không nơi nương tựa, và tuổi tác thì nam từ 65 tuổi trở lên và nữ từ 60.
            ― Hiện nay nhưng nghệ sĩ nào đã vào ở trong Nhà Dưỡng Lão Nghệ Sĩ, có những nghệ sĩ tên tuổi không?
            ― Có chớ, hiện có nghệ sĩ Út Hậu, nhạc sĩ Út Trong, nghệ sĩ Thành Phát, Bạch Yến, Tuyết Nga, Cẩm Hồng, Hoài Nam và có cả nghệ sĩ Thu Ba từng vang bóng một thời, trước đây đi gánh Thanh Minh Thanh Nga, và từng là đào chánh đoàn Tiếng Chuông Thu Ba thời thập niên 1960.
            ― Khi chấp nhận vào Viện Dưỡng Lão tất nhiên là những người cùng cực, lại già yếu, khó có thể làm gì ra tiền, vậy ngoài chỗ ở ra họ có còn được giúp đỡ thêm gì nữa không?
            ― Có cơm ăn, nhà bếp của Viện nấu cơm mỗi ngày ăn miễn phí, đau bệnh nhẹ thì khám ở Bệnh Viện Đa Khoa Quận 8, nặng thì vô nhà thương An Bình, mà nếu đi theo Tổ nghiệp thì về Chùa Nghệ Sĩ nằm ở nghĩa trang, rồi cũng phải tới đó thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 12/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-120915-nm-12092015094826.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #251 vào: 24/08/2019, 15:12:54 »

Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ

Nhà Dưỡng Lão khá khang trang, hai từng trông giống như biệt thự lầu, quanh nhà là khu vườn, đường đi có trồng cây hai bên rất đẹp, chiều chiều các cụ đi dạo quanh vườn, ca lai rai vài câu vọng cổ, hoặc ngồi băng đá tâm sự, kể lại thời vàng son đi hát được khán giả ái mộ. Những người mà nay được vào ở trong Viện Dưỡng Lão họ ghi khắc trong lòng, nhớ ơn Má Bảy Phùng Há, nếu không có tấm lòng của Má Bảy chắc tới bây giờ họ cũng còn ở dưới gầm cầu chữ Y.

Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ ở đường Âu Dương Lân, Quận 8

Không khác chi một đoàn hát cải lương
            Tiếp tục câu chuyện với Má Báy Phùng Há. Tôi hỏi:
            ― Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ đầy đủ các bộ phận không khác chi một đoàn hát cải lương, sao má Bảy không sử dụng cây nhà lá vườn, thành lập đoàn hát diễn tại chỗ thu tiền giúp quỹ cho Viện, hoặc tổ chức tập luyện ca hát?
            ― Đã vào nhà dưỡng lão thì còn hơi hám đâu nữa mà hát, nhưng được cái là nơi tập trung những tài danh kỳ cựu của sân khấu cải lương, các nghệ sĩ thuộc lớp trẻ sau này cần học hỏi các vai diễn, các nghệ sĩ lão thành mỗi người nhớ một ít, sẵn sàng hướng dẫn chỉ dạy thêm cho. Muốn biết y trang, áo mão hay công cụ diễn xuất ngày xưa thế nào thì vào đây thỉnh giáo, nếu không có viện dưỡng lão đi tìm được từng người rất khó khăn.
            ― Có những nghệ sĩ cải lương ra hải ngoại mà trước đó đã có mấy chục năm đi hát, khi về già quãng đời còn lại muốn về Việt Nam ở, thành phần này có được nhận vào Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ Sân Khấu không?
            ― Chưa thấy trường hợp này, nhưng có những nghệ sĩ về đây nói rằng bên Mỹ được lãnh tiền già, nhiều nghệ sĩ đã lãnh tiền già tiền bệnh, mỗi tháng cả tám, chín trăm đô la, về đầy mất tiền già họ đâu có về. Nhưng nếu có trường hợp này thì chắc cũng khó giải quyết, bởi người nào về đây cũng mang theo đô la về xài, chớ chưa thấy ai về nước mà lang thang đi ở nhờ ở đậu, thì đâu đủ điều kiện để vào Viện Dưỡng Lão.
            Má Bảy Phùng Há nói thêm rằng hầu như giới cải lương người nào về nước cũng đều có đến viếng Chùa Nghệ Sĩ, thăm Má Bảy kể lại sinh hoạt cải lương, đời sống của giới nghệ sĩ ở nước ngoài, ở Mỹ, Pháp, Úc…, do đó mà ở trong nước cũng hiểu khá nhiều về hoạt động của từng người, ai có thu nhập nhiều nhờ đi sô, hoặc chỉ trông cậy vào tiền già, tiền bệnh thì ở bên nhà cũng biết. Tóm lại dù ở trong nước hay hải ngoại, “hệ thống thông tin” của giới nghệ sĩ cải lương cũng khá tốt, nên mỗi khi cần phải xét việc gì, như thu nhận vô Viện Dưỡng Lão chẳng hạn thì cũng có cơ sở để xét.
            Chúng tôi tiếp tục đặt câu hỏi:
            ― Thưa Má Bảy, vào Viện Dưỡng Lão coi như sống tập thể, dĩ nhiên phải có nội quy, kỷ luật, nếu vi phạm thì biện pháp nào được áp dụng, có bị đuổi ra khỏi viện hay không?
            ― Trừ những trường hợp vi phạm nặng nề kìa, như đánh lộn u đầu chảy máu, gây thương tích cho người khác, hoặc tổ chức cờ bạc buôn bán ma túy trong viện thì mới áp dụng biện pháp trục xuất, phạm pháp là bị bắt rồi! Chớ còn vi phạm nhỏ như cãi vả, lời qua tiếng lại thì chỉ cảnh cáo thôi, nói chung chưa có trường hợp vi phạm nặng.
            ― Ở trong viện có bị gò bó gì không, có được tự do tiếp xúc với người ngoài như nhà của mình, và có phải làm công việc gì cho viện không?
            ― Đâu có gò bó gì, muốn tiếp ai thì tiếp, viện không có cấm và những nghệ sĩ về già được vào ở trong Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ Sân Khấu coi như cũng có được nơi tạm là “nhà”, không phải lo gì nữa, chỉ còn chờ ngày đi theo Tổ nghiệp mà thôi. Ở đây mấy ông bà nghệ sĩ già không phải làm công việc gì cả, chỉ có cái là chia nhau canh chừng… ăn trộm.
            ― Những ông già bà lão được cho vào ở nhà dưỡng lão đều là những nghèo xơ nghèo xác, ăn trộm vào đây lấy được cái gì chớ?
            ― Vùng này có rất nhiều con nghiện, xì ke ma túy để hở cái gì ra cũng bị lấy, nói chung cái gì xài được là có thể mất dễ dàng.
            Nhà Dưỡng Lão khá khang trang, hai từng trông giống như biệt thự lầu, quanh nhà là khu vườn, đường đi có trồng cây hai bên rất đẹp, chiều chiều các cụ đi dạo quanh vườn, ca lai rai vài câu vọng cổ, hoặc ngồi băng đá tâm sự, kể lại thời vàng son đi hát được khán giả ái mộ. Những người mà nay được vào ở trong Viện Dưỡng Lão họ ghi khắc trong lòng, nhớ ơn Má Bảy Phùng Há, nếu không có tấm lòng của Má Bảy chắc tới bây giờ họ cũng còn ở dưới gầm cầu chữ Y.
            Năm đó Má Bảy không còn mạnh khỏe như tám, chín năm về trước, đau yếu bệnh tật, thế nhưng tâm trí luôn nghĩ đến vấn đề phục vụ xã hội và tuy đã 96 tuổi Má Bảy vẫn có những câu nói “rất là nghệ sĩ”, rằng con tằm nhả tơ đến chết thì người nghệ sĩ cũng vậy, nếu còn hơi hám chút ít thì cũng hát chớ không thôi ngứa nghề, nghe đờn dạo lên là ngứa cổ, già yếu đi không nổi vẫn muốn lên sân khấu, do đó mà theo định kỳ cứ đúng đêm Rằm thì tại sân Nhà Dưỡng Lão có tổ chức trình diễn ca cổ nhạc, ngoài mấy ông bà già nghệ sĩ đang ở đây, còn có các nghệ sĩ đương thời cũng vào tham gia giúp vui, mỗi lần hát là bà con quanh vùng đến coi rất đông, không có bán vé ai vào coi cũng được riết rồi thành thông lệ.

Một buổi thăm viếng Viện Dưỡng Lão Nghệ Sĩ

Mong sao thế hệ gìn giữ
            Trong suốt cuộc tiếp xúc với nghệ sĩ tiền phong Phùng Há, có rất nhiều câu hỏi liên quan đến các sự việc được nêu ra, và những câu trả lời của Má Bảy Phùng Há cũng đã đáp ứng được một số thắc mắc của nhiều người, vốn muốn tìm hiểu về hoạt động của cải lương. Và như chúng ta đã biết một cách khái quát công trình của Má Bảy Phùng Há, của Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu đã thực hiện được như:
            Trụ sở của Hội ở đường Cô Bắc, Chùa và Nghĩa Trang Nghệ Sĩ ở Gò Vấp, Viện Dưỡng Lão ở đường Âu Dương Lân, Quận 8, tất cả đã đi vào hoạt động từ lâu. Má Bảy còn nói thêm rằng trên thế giới chưa có nước có “Chùa Nghệ Sĩ”, và bà mong sao các thế hệ sau này ráng mà gìn giữ, cũng như phát triển để không phụ lòng người đi trước.
            Chúng tôi tiếp tục phỏng vấn:
            ― Thưa Má Bảy, ngoài kho tàng vô giá văn hóa nghệ thuật của những người đi trước đã để lại, cùng những cơ sở vật chất phụng sự xã hội như đã thấy, vậy trong tương lai thì thế nào, Má Bảy có làm gì thêm nữa hay đã dưỡng già?
            ― Có chớ, chừng nào nằm xuống thì thôi, chớ còn ăn uống được, đi đứng được là vẫn có chuyện để làm, còn sống ngày nào là tôi phục vụ cho đời ngày nấy, nhiều người khuyên tôi nên dưỡng già nhưng tôi thì không muốn.
            ― Nếu chưa dưỡng già, tiếp tục làm việc thì công việc hiện tại của Má Bảy là gì, có đề án nào nữa không?
            ― Hiện tại tôi và anh chị em ở đây đang đặt trọng tâm vào vấn đề thực hiện Ký Nhi Viện Nghệ Sĩ, tôi mong Tổ nghiệp độ trì cho tôi làm được cơ sở quan trọng này trước khi nằm xuống.
            ― Thực hiện Ký Nhi Viện Nghệ Sĩ là nhắm vào mục đích gì, động lực nào làm cho Má Bảy đặt trọng tâm vào vấn đề trên?
            ― Nhắm vào sự học hành cho giới nghệ sĩ kế thừa, và phải ráng làm cho bằng được, chớ không thôi thì các thế hệ sau cũng không hơn gì thế hệ trước.
            Má Bảy tiếp tục nói về Ký Nhi Viện, và lời giải thích của bà làm chúng tôi khâm phục người nghệ sĩ tiền phong lão thành này, vì bà đã dám nói lên sự thật, một sự thật hiển nhiên rất nhiều người biết, mà hầu như người nghệ sĩ cải lương nào cũng muốn che giấu, không muốn một ai đề cập đến, và nếu như ai đó nói thẳng ra thì lại bị phản ứng, bị giận hờn…
            Má Bảy nói rằng cổ nhạc cải lương xuất phát từ trong lòng dân tộc, trong dân gian, người nào có giọng ca trời cho thì sau đó được thành danh, thành thử ra cái khuyết điểm lớn của cải lương là đa số đã không có trình độ tương đối để ăn nói với bên ngoài. Có những người xuất thân từ bồi bàn, gánh nước mướn, cạo mủ cao su, làm ruộng chăn trâu, làm thuê làm mướn, nói chung là các thành phần ít ăn học, trình độ thấp kém, thậm chí có những người tên tuổi nổi như cồn mà lại dốt, chẳng hạn như nghệ sĩ Út Trà Ôn, trên sân khấu thì lời lẽ văn hoa bóng bẩy, nhờ role tuồng viết thế nào thì nói thế nấy, viết sao ca vậy, chớ khi hết tuồng vãn hát rồi thì ai trở về nấy, nghĩa là lời ăn tiếng nói chẳng thay đổi gì hết. Do đó mà vấn đề thành lập Ký nhi viện rất cần thiết, cũng như cấp thiết để cho các nghệ sĩ rày đây mai đó, có nơi gởi con cái ăn học. Quan niệm của Má Bảy là người nghệ sĩ sau này ngoài vấn đề ca hay diễn giỏi, mà phải biết nói chuyện với người ngoài.
            Tôi hỏi tiếp:
            ― Thưa Má Bảy, nếu thực hiện Ký nhi viện thì làm ở đâu, gần hay xa, có thuận tiện cho vấn đề ăn học của con em nghệ sĩ?
            ― Lúc này chớ không phải như hồi xưa, hồi đó đi tìm mua đất cũng đã khó khăn rồi, huống chi hiện giờ nhà cửa thiên hạ ở chật hết, không thể tìm đâu ra địa điểm tốt, còn như nếu đi xa thì bất tiện, do đó mà công trình Ký nhi viện phải thực hiện ngay tại Chùa Nghệ Sĩ này, nghĩa là phải lên lầu, Ký nhi viện ở trên, Chùa ở dưới, chớ làm ở chỗ khác thì kinh phí không có để làm.
            Thế nhưng, “mưu sự tại Nhân, thành sự tại Thiên”. Ký Nhi Viện Nghệ Sĩ chưa thực hiện được thì Má Bảy về với Tổ nghiệp khi còn một tuổi thì đúng một trăm. Người ta mong rằng đề án Ký Nhi Viện Nghệ Sĩ của Má Bảy trong tương lai sẽ có người, có tổ chức đứng ra thực hiện. Muốn có được như vậy thì trước hết những kẻ từng ăn cơm Tổ nghiệp phải là những người đóng góp trước tiên vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 12/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditionalmusic121915-12192015075056.html