Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 12197 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #120 vào: 30/06/2018, 23:06:08 »
Bài vọng cổ “Bến Vắng Chiều Thu”

Khi xưa đài phát thành Sài Gòn có chương trình cổ nhạc Nam Phần lúc 11 giờ trưa thường được giới mộ điệu đón nghe, vào giờ này hầu như chiếc radio nào cũng mở máy cho cả xóm cùng nghe.

Bìa cuốn bài ca nhỏ “Bến Vắng Chiều Thu”

VÀO KHOẢNG NĂM 1961-1962, một buổi trưa nọ đài phát bài vọng cổ sáu câu “Bến Vắng Chiều Thu” đã gây ngạc nhiên cho giới đờn ca tài tử và thính giả yêu thích cổ nhạc, do bởi lời văn nghe qua rất dễ ca, cũng như giọng ca mới lạ trầm ấm mà đài giới thiệu là ca sĩ tài tử Kim Nguyên.
            Bài ca phát trên làn sóng phát thanh vài ngày thì cuốn bài ca nhỏ “Bến Vắng Chiều Thu” có in hình Kim Nguyên xuất hiện tại khắp các chợ miền quê.
            Ðây là bài vọng cổ vừa tả cảnh sông nước hữu tình ở miền Tây, với con đò, với cô gái chèo đò. Ðồng thời cũng nói lên mối tình thầm lặng của cô lái đò và người lữ khách tha phương, trong một lần ghé lại bến đò ngang.
            Họ chưa từng hứa hẹn, chưa từng yêu nhau, cô nàng chỉ nói mỗi một câu, “Thuyền đã ghé bến sao không cất bước”, còn chàng thì nghẹn ngào rồi bạo dạn nắm lấy tay nàng đáp lại bâng quơ. Chia tay, chàng lên đường phiêu bạt, đến khi gió heo may thổi lạnh báo hiệu Ðông về, chàng lữ khách trở lại bến xưa thì chỉ thấy con đò còn đó mà cô lái đò thì đã đi lấy chồng.
            Chỉ có thế thôi, vậy mà câu chuyện không kém trữ tình, người nghe vọng cổ không khỏi bùi ngùi khi câu chuyện dẫn đến lúc cô gái sang ngang trong mùa lá rụng.
            Cái hơi vô lý của câu chuyện là cô gái đi lấy chồng, mà con đò thì vẫn cắm sào nằm ở bến sông cả tháng mà không bị lấy mất, kể cũng lạ. Có người thắc mắc hỏi soạn giả Viễn Châu vấn đề, thì ông chỉ cười vui thôi, không trả lời gì hết.
            Có điều là bài ca phổ biến rộng rãi, tài tử giai nhân hoan nghênh do có bài mới để học ca, chớ thời này lâu lâu mới có thêm một bài sáu câu vọng cổ xuất hiện.
            Sở dĩ ghi rõ vọng cổ sáu câu, vì thời gian sau từ năm 1965 trở đi tân nhạc xen vào gọi là tân cổ giao duyên, nên vọng cổ chỉ còn bốn hoặc năm câu, mất hẳn câu ba, câu bốn.
            Ðể giúp các giai nhân tài tử có bài vọng cổ sáu câu học thuộc lòng, hầu tham gia sinh hoạt đờn ca tài tử ở các buổi họp mặt, Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại xin đăng trọn bài “Bến Vắng Chiều Thu” của Viễn Châu, do nghệ sĩ Kim Nguyên ca thời đầu thập niên 1960.

                        Hò hơ…
                        Bến Châu Giang thuyền nan lướt sóng,
                        Thu không tiếng trống vang động sông dài.
                        Hoa sầu bởi ngọn heo may,
                        Anh sầu vì bởi đêm ngày nhớ nhung…

            1) Hỡi ôi tiếng hò xưa còn vang trong sương chiều ảm đạm, mà cô lái đã sang ngang trong một tối Thu… buồn, để khách sang ngang sống ủ rũ mơ màng. Con thuyền giờ đây vắng chủ nằm hững hờ trên mặt nước Châu Giang, mi có nhớ chăng ngày nào người lữ khách áo phong sương còn lấm tấm bụi giang hồ, lạc bước đến cạnh tràng giang nhìn chiếc thuyền nan nhẹ nhàng lướt sóng.
            2) Cô lái đò ôi nàng chưa cùng ta một lời hứa hẹn, sao ta cứ bâng khuâng chín đợi mười chờ, như quen nhau tự thuở bao giờ, ta chỉ là kẻ đi tìm tình yêu trong mộng tưởng nhưng suốt đời vẫn thiếu một tình thương. Một buổi hoàng hôn khi đoàn ô thước vừa vỗ cánh tung bay trở về tổ cũ, thì cũng là lúc ta quay gót giang hồ dừng lại bến đò ngang.
            3) Trong khi ta đang say sưa theo giọng hò trầm bổng nhặt khoan thì nàng đã cất tiếng oanh mời ta xuống bến, ta bàng hoàng như người vừa tỉnh mộng, nàng dịu dàng môi nở nụ cười tươi. Ðó rồi ta lặng nhìn theo bóng mây trôi, còn nàng thì quên cả việc chèo đò đưa khách, đôi mắt cứ lén trộm nhìn ta, rồi khẽ làm duyên đưa tay hái đóa hoa lau cài lên mái tóc như hứa hẹn tình duyên tha thiết đậm đà.


            Nói lối:
                        Thuyền lướt sóng nhẹ xuôi dòng nước biếc,
                        Sóng rập rờn khua nhẹ chiếc thuyền thơ.
                        Tà áo nâu theo gió lộng phất phơ,
                        Ta ngây ngất trong buổi chiều mơ miền biên ải.

            4) Thuyền ghé bến đã lâu bốn bề không tiếng động, mà ta vẫn mơ say trong giấc mộng đẫm hương… tình, nàng khẽ đến bên ta cất tiếng thưa rằng.


            Thơ:
                        Thuyền đà ghé bến Châu Giang,
                        Sao không cất bước dặm đàng còn xa.

            Ta nhìn nàng nghẹn ngào giây lát rồi bạo dạn nắm lấy tay nàng đáp lại bâng quơ.


            Thơ Vân Tiên:
                        Nàng về có nhớ ta chăng,
                        Ta về ta nhớ hàm răng nàng cười.

            5) Chia tay nhau ta lên đường phiêu bạt nhưng tâm trí vẫn bâng khuâng tưởng nhớ một con đò, nhớ miên man đến giọng hát câu hò, ta đợi cho đến khi heo may trở lạnh mới âm thầm trở lại bến đò xưa. Ta mới hay nàng đã sang ngang trong một mùa lá rụng, trước khi lên xe hoa sang xứ khác, nàng còn nhìn lại con sông đìu hiu gợn sóng, kéo khăn lên lau ngấn lệ u buồn.


            Thơ:
                        Nụ cười xưa đã chìm sâu đáy nước,
                        Cô lái đò đã cất bước sang ngang.

            Nhìn con đò ta chạnh nhớ đến người xưa, người ôi! Ta chẳng quản nắng mưa còn nàng sao không quen những giờ cô quạnh, có lẽ tiết Thu sang đêm dài gió lạnh, nàng muốn tìm một người thương để sưởi ấm tâm hồn.
            Con thuyền ôi! Ta với ngươi biết thuở nào đây cho vơi niềm sầu mộng, bởi cô lái đã theo chồng không trở lại bến đò xưa…


NGÀNH MAI
Tháng 11/2016


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/bai-vong-co-ben-vang-chieu-thu/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #121 vào: 08/07/2018, 11:14:14 »
Kỳ nữ Kim Cương trên bước đường nghệ thuật và tình cảm

Đoàn kịch Kim Cương được thành lập sau 1975, và đây là lần đầu tiên Kim Cương làm bầu một đoàn nghệ thuật, chớ trước đó kỳ nữ chỉ có một ban kịch nói trên truyền hình, và tham gia các sô đại nhạc hội, hoặc là tổ chức hay hùn hạp với các bầu sô để có một màn kịch ngắn trong sô đại nhạc hội thỉnh thoảng mới tổ chức một lần mà thôi.

Bìa đĩa hát Lá Sầu Riêng, Nghệ sĩ: Thành Được, Thanh Sang,
Út Hiền, Kim Cương, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết

Bước đường nghệ thuật thành công
            Đoàn kịch Kim Cương trước tiên ra mắt khán giả ở Sài Gòn, sau đó mới đi lưu diễn khắp các tỉnh giống như một gánh hát cải lương, và dù ở Sài Gòn hay đi lưu diễn miền Trung, miền Tây, hay vùng Cao Nguyên, đoàn Kim Cương luôn được sự ủng hộ của khán giả, của chính quyền địa phương ở những nơi nào mà đoàn dọn đến.
            Thời điểm những năm đó con số khán giả đi xem kịch Kim Cương ở rạp, hay ở sân bãi luôn ở mức cao hơn bất cứ đoàn nghệ thuật nào. Lúc bấy giờ căn cứ vào những nơi mà đoàn Kim Cương dọn đến thì thấy rõ, kỳ nữ vẫn thu hút giới mộ điệu một cách lạ lùng, vẫn là mục tiêu mua vé của khán giả. Ngoài ra Kim Cương cũng là một “nhà ngoại giao” lỗi lạc trong hoạt động nghệ thuật. Thời nào cũng vậy, kỳ nữ luôn “quen lớn” với giới chức chính quyền đương thời, đó cũng là yếu tố thuận lợi cho công cuộc làm ăn của Kim Cương.
            Có lần một nhà báo hỏi Kim Cương:
            – Người ta nói chị quen rất nhiều ông lớn…?
            Câu trả lời của kỳ nữ gần như xác nhận:
            – Lãnh đạo sân khấu thì chỉ biết hứa và… hứa. Làm như mấy ổng chỉ quen nghĩ “chuyện lớn” còn chuyện chết sống của một đoàn Kim Cương là quá nhỏ…
            Đề cập đến vấn đề “ngoại giao” này, người ta còn nhớ thời kỳ trước 1975, khoảng thời gian từ 1969 đến 1971 điện ảnh Việt Nam lên như diều, hãng phim mọc ra như nấm với nhiều cái tên rất khó mà nhớ cho hết. Hãng Kim Cương Film ra đời ở thời điểm này, được coi như một hãng có thực lực, có tầm cỡ, nhưng thực tế là cái gì cũng thuê mướn, từ chuyên viên kỹ thuật cho đến máy móc quay phim, rửa phim, cắt ráp, cho đến phim trường mọi thứ đều thuê từng cuốn phim một. Làm ăn kiểu này thiên hạ gọi là “mượn đầu heo nấu cháo”. Nhưng cũng còn đỡ hơn nhiều hãng phim khác chỉ có cái tên, mà chẳng thấy cái gì nữa hết, văn phòng cũng mượn ở đâu đó.
            Theo như những người am hiểu về điện ảnh, họ nói rằng lúc ấy một cuốn phim quay xong trình chiếu là kiếm lời cả chục triệu, hoặc ít nhứt cũng năm, bảy triệu. Có lẽ thực tế là như thế, nên nhiều nhà làm thương mại đã nhảy vào bỏ số vốn lớn ra làm ăn, để làm giàu thêm. Thế nhưng, chỉ hai năm thì các nhà sản xuất phim phải chết đứng, do bởi Chú Ba ở Chợ Lớn tóm thâu hết cả rạp hát để chiếu phim Tàu. Không riêng gì các rạp ở đô thành, các rạp ở tỉnh cũng bị Chú Ba làm chủ luôn, nếu không mua đứt thì cũng hợp đồng dài hạn. Do vậy mà phim Việt Nam quay xong phải đem cất vào kho chớ rạp đâu mà chiếu.
            Tình trạng bi đát ấy, hầu hết các hãng phim Việt Nam đều ngất ngư, mất trắng vốn liếng, lại còn mang nợ nần. Trong khi đó thì Kim Cương với cuốn phim “Biển Động” được chiếu các rạp lớn ở đô thành, rồi lại mang đi các tỉnh tiếp tục chiếu. Kế tiếp hãng Kim Cương lại cho ra cuốn phim “Mưa Trong Bình Minh” và cũng y như vậy, hốt bạc quá nhiều, kỳ nữ lời to. Thiên hạ nói cái thời làm phim này Kim Cương mua nhà ở Phú Nhuận, tậu khách sạn ở miền Tây giao cho người cậu quản lý điều hành. (Nghe đồn đãi như vậy chẳng biết có đúng hay không).
            Cũng theo giới điện ảnh thì nhờ Chú Ba giúp, chớ Kim Cương đâu phải là “cao thủ” mà chen chân làm được cái chuyện mà cả giới điện ảnh đành chịu thua. Có người nói nhờ tài ngoại giao khôn khéo, nên kỳ nữ Kim Cương mới làm ăn thành công như vậy. Nhưng theo một dư luận được coi là vững nhứt, có lý nhứt, nói rằng Chú Ba thấy kỳ nữ từng được mến mộ, khán giả chờ đợi xem Kim Cương trên màn ảnh nhỏ truyền hình, thì dĩ nhiên sẽ ăn khách trên màn ảnh rộng. Do vậy họ hợp đồng làm ăn với Kim Cương, nhưng không ra mặt, mọi chuyện đều do Kim Cương điều hành về mặt nổi, có nghĩa là Chú Ba chỉ bỏ tiền ra thôi, rồi đứng đàng sau khai thác về thương mại, và Kim Cương được chia lời bao nhiêu phần trăm thì chỉ có Kim Cương biết, Chú Ba biết và Trời biết mà thôi.
            Dù không bằng chứng nào về chuyện hợp tác với Chú Ba, nhưng trong ngày Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam 1971 kỳ nữ Kim Cương cũng bị tố sát ván. Trưởng ban tổ chức Thái Thúc Nha tố Kim Cương làm “đầu nậu” cho “cây bạc Tàu”, làm thiệt hại điện ảnh Việt Nam. Lúc ấy kỳ nữ khóc sướt mướt, nước mắt ràn rụa dầm đề, khóc còn nhiều hơn vai trò trong vở kịch Lan và Điệp, lúc Lan cắt đứt dây chuông…
            Trở lại vấn đề đoàn kịch Kim Cương, thì trong nhiều năm bảng hiệu này đi đâu cũng được ủng hộ, mưa bão liên miên đoàn vẫn mở màn cho anh chị em nghệ sĩ không sợ thất nghiệp. Nói chung là nghệ sĩ theo đoàn Kim Cương ai cũng an tâm nhờ tài tháo vát của kỳ nữ.
            Lâu nay đoàn Kim Cương vẫn được tiếng là “chơi sang” trong các chuyến lưu diễn, lo chu toàn mọi sinh hoạt của anh em với tiện nghi khá đầy đủ. Đi đến huyện, tỉnh nào đoàn cũng ở thị xã, thuê phòng khách sạn, phòng có máy lạnh, giường nệm… Có khi từ chỗ ở đến địa điểm diễn cách xa hàng chục cây số, mỗi tối đoàn mướn xe đưa đón anh em đến diễn. Nhưng trời mưa bão liên miên, anh em tự rút dần những tiện nghi sinh hoạt của mình.
            Lúc đầu đoàn còn hát được, mỗi ngày đoàn phát tiền cơm cho mỗi người, nhưng về sau anh em tự đi chợ, nấu cơm chung ăn chung. Đến điểm mới, chỗ ở khi thì trường học, lúc thì thuê nhà hàng bỏ trống. Như ở Sa Huỳnh không có điện, anh em cũng vui lòng ở nhà lá, nhà chòi, đêm đến trải chiếu ngủ. Dường như ai cũng lo lắng không ngủ được. Người mất ngủ nhiều nhứt là Kim Cương, gánh nặng của cả đoàn hát đè nặng lên vai kỳ nữ, người đời tặng cho biệt danh “kỳ nữ” cũng đúng thôi.


Nữ nghệ sĩ Kim Cương

Đời kỳ nữ bất hạnh?
            Về nghệ thuật thì thành công thích đáng, nhưng về tình cảm thì cuộc đời kỳ nữ gần như bất hạnh. Kim Cương từng tâm sự như sau:
           “Tuổi thơ của tôi quá nhiều cay nghiệt, bất hạnh. Tôi không được giáo dục như những cô tiểu thư “kín cổng cao tường”, suốt đời chỉ biết thờ chồng, nuôi con… Vả lại, tôi căm ghét thói giáo dục bắt người phụ nữ luôn luôn phải cúi đầu, cam phận. Ngay từ thời con gái tôi đã dám yêu và dám “sống chết” với người tôi yêu. Thế rồi tôi bước vào sân khấu và được nổi tiếng từ năm 19 tuổi.
            Nhiều người đàn ông đã đi qua cuộc đời tôi, như mỗi lần đóng màn sân khấu, với biết bao kỷ niệm, bao nhiêu nỗi đam mê, luyến tiếc… Mặc dù tôi luôn luôn kính trọng người tôi yêu và chỉ có như vậy mới có thể yêu được một người nào đó, nhưng người tình đẹp nhất, đáng yêu nhất của cả đời tôi chỉ có một. Đó là “người đàn ông lý tưởng…”
            Tôi không hề biết như thế nào là một mái ấm gia đình thực sự. Suốt mấy chục năm trời tôi không sao làm trọn bổn phận của một người đàn bà. Sân khấu đã cướp hết “thời gian đàn bà” của tôi. Nhiều lúc, chính tôi cũng phải tự hỏi, không biết tại sao những người đàn ông lại chịu đựng nổi mình? Nhưng trong khi đó tôi lại luôn luôn có cảm giác là mình bị ngược đãi, hất hủi. Tôi đã hy sinh những hạnh phúc rất bình thường của con người. Tôi đã vắt kiệt tâm hồn và thể xác của tôi cho nghệ thuật, vậy thì tại sao tôi không có quyền đòi hỏi một người đàn ông cho riêng mình? Nếu tôi chỉ đòi hỏi một người đàn ông tầm thường, suốt đời chỉ biết xách cặp chạy theo tôi… thì chắc tình yêu của tôi đã không bị đổ vỡ nhiều đến thế.
            Khốn nỗi, tôi chỉ yêu được những người đàn ông có nghị lực và có lòng tự trọng. Chính vì vậy mà chúng tôi thường xung đột với nhau về nghề nghiệp của mỗi người và hạnh phúc gia đình. Nhiều năm nay, mỗi khi tôi bước chân ra đường là hàng chục, có khi hàng trăm người chạy đến xem mặt, xin chữ ký, muốn được làm quen với “nghệ sĩ Kim Cương”… ngay trong những lúc như vậy tôi vẫn rất xúc động. Nhưng đêm về, một mình ngồi đối diện với chính bản thân mình, liệu có danh vọng nào, tiền bạc nào có thể lấp đầy nỗi cô đơn, trống vắng trong lòng một người đàn bà? Có những xuất biểu diễn, từ trên sân khấu nhìn xuống hàng ngàn khán giả đang say mê xem Kim Cương, tôi đã muốn hét lên: tại sao, tại sao lại không có một người đàn ông nào dành cho Kim Cương?
            Có lần, sau đêm biểu diễn ngoài trời rất thành công ở một tỉnh lẻ xa thành phố, tôi ngồi một mình mãi đến ba giờ khuya trong cái lạnh tanh của phông màn, cảnh trí, mấy người công nhân sân khấu vắt chân lên nhau nằm ngủ trên những thùng đồ… Ngoài kia là con đường hun hút bóng đêm, không biết đi về đâu. Tự nhiên tôi thèm khát đến da diết có được một người đàn ông bên cạnh, để uống với mình một ly cà phê đen, nói với mình một câu tình cảm, nhưng những người đàn ông từng đến với tôi trong quá khứ đều đã rời xa tôi, không biết ở phương nào? Còn tôi thì cứ mãi lênh đênh theo đoàn hát, với một chút danh vọng không đủ để sưởi ấm chính bản thân mình…”


NGÀNH MAI
Tháng 02/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-022815-nm-02272015140219.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #122 vào: 12/07/2018, 23:40:48 »
Những thăng trầm của đoàn kịch nói Kim Cương

Từ sau 1975 thoại kịch, hay cải lương đều hoạt động trong chế độ bao cấp, thì dĩ nhiên đoàn kịch Kim Cương cũng thế thôi, chỉ có cái là đoàn Kim Cương được bao cấp đến đâu thì chỉ người trong cuộc quản lý điều hành và cơ quan văn hóa thì mới biết rõ. Tuy nhiên về nghệ thuật thì có lẽ do chính kỳ nữ trông coi.

Nghệ sĩ Kim Cương và Nghệ sĩ Bảy Nam,
cùng các nghệ sĩ Đoàn Kịch nói Kim Cương năm 2001

Hoạt động trong chế độ bao cấp
            Trong nhiều năm đoàn Kim Cương hoạt động vững mạnh, dù ở Sài Gòn hay đi lưu diễn ở các tỉnh, huyện, vẫn gặt hái khá quan về tài chánh. Nghệ sĩ, diễn viên đi đoàn Kim Cương lãnh cát-xê rất khá, có cuộc sống ổn định dù rằng mùa nắng hay mùa mưa…
            Theo như hằng năm thì ở miền Nam từ tháng Năm trở đi là bắt đầu có những trận mưa mùa, cứ chiều đến là trời đổ mưa, kéo dài đến tháng Bảy mưa ngâu ngập đường sá, cho đến tháng Tám trời vẫn mưa tầm tã. Trong khi đó thì ở ngoài Trung nắng ráo, do vậy mà rất nhiều đoàn cải lương di chuyển ra miền Trung tránh mưa trong vài tháng, và đến tháng Chín, tháng Mười miền Trung bắt đầu mưa thì mang đoàn hát về Nam. Và đoàn Kim Cương cũng theo kinh nghiệm này, tức cũng chạy trốn những trận mưa giông.
            Có lần lưu diễn miền Trung nếu như đoàn hát nào gặp tình huống này cũng chịu không thấu, nếu không rã gánh, thì cũng ngưng mở màn một thời gian dài, ngắn nào đó chờ nguồn tiền bỏ vô để khôi phục lại mọi mặt thì mới sống trở lại.
            Số là năm ấy đầu thập niên 1990, sau khi dàn dựng vở “Bông Hồng Cài Áo” và biểu diễn khá thành công ở Sài Gòn. Đến tháng Năm như thường lệ hằng năm, đoàn Kim Cương bắt đầu chuyến đi lưu diễn miền Trung để trốn những trận mưa giông, mưa tầm tã ở miền Nam. Thế nhưng không ngờ năm đó miền Trung mưa sớm, mưa ở đây thật lạ lùng cứ 6 giờ chiều thì mưa đột ngột đổ xuống, rả rích kéo dài đến gần nửa đêm.
            Tại Hội An, Phú Mỹ, các xuất hát của đoàn đã thu hút hàng ngàn khán giả. Xuất diễn bắt đầu từ 8 giờ 30 tối, chưa đến 7 giờ đã có hơn hai ngàn khán giả đến trước chờ đợi. Nhưng rồi trời đột nhiên cứ đổ những trận mưa ào ạt. Mưa như đuổi theo đoàn Kim Cương, hết ở Qui Nhơn đến Quảng Ngãi… Ở Năm Ô, đêm đầu hát, khán giả chưa biết nhiều nên không đông, nhưng đêm sau khán giả kéo đến đông đảo thì trời lại mưa. Sân khấu dựng ngoài trời, đoàn không diễn được đành phải trả vé. Đêm sau lại mưa, đoàn phải dời địa điểm. Trận bão ở Chu Lai năm đó làm bao ghe thuyền đánh cá bị đắm chìm, đoàn Kim Cương vừa đến Chu Lai ổn định để hát, nhưng chiều xuống, mưa bão nổi lên, cảnh trí, phông màn dựng ngoài trời, bay tứ tán, cũng may không ai bị chuyện gì nhưng đoàn cũng bị thiệt hại khá nặng: Cảnh trí, âm thanh bị hư hại phải nghỉ diễn ba, bốn ngày.
            Khốn khổ như vậy mà đoàn Kim Cương vấn sống, và mọi người trong đoàn đều tin tưởng ở một Kim Cương, người nghệ sĩ có quá nhiều kinh nghiệm và thành tích nghệ thuật. Giới mộ điệu nghệ thuật sân khấu hoặc trên truyền hình đều khen tặng ban kịch Kim Cương, đêm nào đài phát hình kịch Kim Cương là khán giả đông đảo không thua gì cải lương phát hình tuồng hay, tuồng của Dạ Lý Hương chẳng hạn.
            Vì thời cuộc, vì hoàn cảnh, Kim Cương có lúc xoay qua điện ảnh làm phim và cũng thành công hơn hẳn người ta trong lãnh vực này. Nhưng đối với Kim Cương vẫn là tạm bợ, mà sân khấu mới là chính.
            Kim Cương có khoảng gần ba năm ở Pháp vừa theo học nghệ thuật vừa đi làm. Ký giả Tô Yến Châu có lần đi Pháp gặp kỳ nữ ở Paris, thấy Kim Cương ngày ngày mang cặp sách đến rạp Opéra để học nghệ thuật, và mỗi đêm trình diễn một màn vũ điệu ở nhà hàng “Table des Mandarine”. Đồng lương tạm đủ sống, vì cô còn phải nuôi hai người em đang theo học đại học ở Pháp. Cuối năm 1966 Kim Cương về nước, được đông đảo nghệ sĩ ký giả đón tại phi trương: Ký giả kịch trường báo Hòa Bình hỏi:
            – Ở Pháp, khán giả Việt kiều ái mộ và yêu cầu Kim Cương ở lại sao Kim lại về.
            – Như vậy là anh hiểu lầm tôi quá nhiều. Tôi còn quê hương, nhà cửa, những người thân yêu. Tôi còn bao nhiêu khán giả, đồng bào thương mến ủng bộ tôi. Quên làm sao được. Xứ sở mình là núm ruột. Ở xứ người chẳng qua vì hoàn cảnh, vì một sự vạn bất đắc dĩ đó thôi. Vay mượn cái đẹp cái sang của người để khoác vào mình, cái đó có nghĩa gì.
            Đến lúc Việt Nam có truyền hình (1967) ban kịch Kim Cương ra đời, xuất hiện trên màn ảnh nhỏ được khán giả hoan nghinh nhiệt liệt. Ban kịch Kim Cương trên truyền hình nổi tiếng được mến mộ không ban kịch nào có thể sánh được, và mỗi khi đài phát hình kịch Kim Cương thì thiên hạ lũ lượt đi coi ở các máy truyền hình công cộng. Bởi thời gian đầu này máy TV chưa có bán rộng rãi ngoài thị trường cho người dân.
            Lúc ấy nguyện vọng của Kim Cương là một ngày nào đó không còn chiến tranh, tạo được chiếc xe với một đoàn hát nhỏ, với vài chục kịch sĩ di chuyển khắp toàn quốc để trình diễn cho khán giả từ thành thị đến thôn quê thưởng thức, đâu đâu cũng có người cần đến văn nghệ. Càng cần hơn nữa ở các vùng hẻo lánh xa xôi. Và đúng như nguyện vọng của nàng, sau 1975 đoàn kịch nói Kim Cương hình thành và đi lưu diễn khắp nơi.


Nghệ sĩ Kim Cương (trái) và nghệ sĩ Uyên Trinh
trong vở Đám cưới đầu Xuân

Nghệ thuật sân khấu bị khủng hoảng
            Thập niên 1980 hầu như ai cũng nghĩ rằng đoàn Kim Cương sẽ sống thọ lâu dài, có người còn nói chỉ trừ trường hợp kỳ nữ đau yếu bệnh tật, không còn khả năng đi đứng hoạt động thì đoàn Kim Cương mới nằm một chỗ, mới giải thể. Chớ như một Kim Cương mạnh cùi cụi, một người đẹp đang sáng chói trên sân khấu, thì đoàn kịch chỉ ngày một thêm vững mạnh hơn mà thôi.
            Nhưng rồi gặp lúc nghệ thuật sân khấu bị khủng hoảng, cùng với cơ chế thị trường được áp dụng, thì đoàn Kim Cương cũng điên đảo, cũng xuống dốc như bao nhiều đoàn cải lương khác. Kỳ nữ cố vùng vẫy đề ráng giữ đoàn Kim Cương khỏi bị rã gánh. Nhờ tài ngoại giao, kỳ nữ nghĩ ra phương cách phân phối vé. Kết hợp vừa bán vé tại rạp, vừa hợp đồng vé với các xí nghiệp, công ty, các cơ quan. Nhưng phương cách kết hợp này cũng chỉ cứu vãn đoàn hát một thời gian, bởi xí nghiệp, công ty nào cũng chỉ tiêu thụ vé qua một lần mà thôi, không còn mặn mà gì với sân khấu nữa.
            Kim Cương nói có ai biết những tủi nhục của Kim Cương, vì thương anh em, vì thương đoàn Kim Cương mà phải nhắm mắt đi làm… như đi rao bán cao đơn hoàn tán. Một người nghệ sĩ như mình mà phải khổ cực cầm từng cọc vé đi xuống từng hang cùng ngõ hẻm để rao bán, để nuôi sống một đoàn Kim Cương.
            Tâm sự với một nhà báo, Kim Cương nói:
            – Có lần tôi và nghệ sĩ Minh Hạnh xuống công ty Shell (mà lần đó lại là đi bán vé hát từ thiện). Vừa thấy mặt tôi và Minh Hạnh, một anh cán bộ thanh niên ra nhìn từ đầu đến chân, rồi hất hàm, hỏi “Bộ đói lắm sao mà phải mò tới đây bắt mua vé?!…” Lần đó, Minh Hạnh cứ ôm tôi, khóc và nói “Chị Kim ơi, thôi lần sau thà chịu đói, chớ đừng đi làm những chuyện thế này…” Nói chung phải có tiền. Bởi nếu không, ngay cả cái tên nghệ sĩ cũng trở thành thứ hàng hóa rao bán.
            Kỳ nữ than rằng:
            – Kim Cương không có sự chỉ đạo, không có một sư yểm trợ nào của Nhà nước. Trong khi đâu phải là không có tiền, người ta xài tiền theo cảm hứng của cơ chế nhiều hơn tính đến hiệu quả thiết thực. Nhiều lúc tôi đã phải nói với mấy ông có trách nhiệm “Lạ quá, sao mấy ông lãnh đạo cũng bảo ráng giữ đoàn Kim Cương, mấy ông di tản cũng gọi điện về bảo ráng giữ đoàn Kim Cương, nhưng chẳng ông nào cho Kim Cương đồng xu cắc bạc nào cả…”
            Thế rồi việc gì đến nó đã đến: Năm 1993 đoàn Kim Cương rã gánh, đào kép nghệ sĩ, công nhân mạnh ai nấy đi. Kỳ nữ “ngồi chơi xơi nước” nhớ lại quảng đời xả thân vì nghệ thuật mà thở dài. Và lâu lâu lại xuất hiện hát một hai sô từ thiện. Có nghĩa là hát giúp cho cơ sở từ thiện nào đó, nếu có thù lao thì cũng tượng trưng thôi.
            Hiện nay thì không nghe nói kỳ nữ hoạt động hát xướng gì hết. Vả lại tuổi đời cũng cao, sức khỏe đâu còn cho phép. Các thế hệ sau làm gì có được một người như kỳ nữ Kim Cương.


NGÀNH MAI
Tháng 03/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-030715-nm-03072015072255.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #123 vào: 14/07/2018, 22:15:44 »
Thơ Vân Tiên trong bài vọng cổ “Trái Khổ Qua”

Bài vọng cổ thật là đa dạng, các soạn giả tha hồ thay thế lời ca bằng những câu thơ, điệu hò làm bài ca thêm phong phú.

Hình bìa cuốn bài ca nhỏ “Trái Khổ Qua”
được rao bán ở các chợ miền quê thời thập niên 1960

NGƯỜI TA thường thấy trong bài vọng cổ có những điệu hò chứa chan tình cảm, và những vần thơ Vân Tiên của người dân thôn quê miền sông nước. Người soạn bài ca đã nắm lấy những câu hò mang ý nghĩa có liên hệ với tình huống câu chuyện là tự do đưa vào bài chẳng một ai thắc mắc, mà còn được tài tử giai nhân hoan nghênh.
            Soạn giả Viễn Châu đã đưa thơ vào bài vọng cổ. Thơ lục bát đưa vào thì dân tài tử rất dễ thuộc bài, dễ ca, dễ phân nhịp. Lúc nhạc sĩ gõ Song Lan báo hiệu còn tám nhịp chót dứt câu, tức thì bốn vần thơ Vân Tiên đưa vào để người ca dễ dàng dứt “hò” đúng nhịp.
            Bài vọng cổ xen lẫn thơ Vân Tiên rất thích hợp với người miền Nam. Khi xưa thơ Vân Tiên khá phổ biến ở xứ dừa Bến Tre, quê hương của cụ Ðồ Chiểu.
            Khoảng năm 1961-1962, Viễn Châu cho ra đời bài vọng cổ “Trái Khổ Qua” đã gieo vào lòng người mộ điệu niềm thương cảm xót xa, ngậm ngùi. Người ta nói bài ca của Viễn Châu rất hay, nhưng thường là “không có hậu” do bởi kết cuộc là tan vỡ, là đau thương…
            Bài ca nào của Viễn Châu cũng thấy dựng lên mối tình của đôi trai gái còn trẻ, yêu nhau tha thiết. Câu một và câu hai thường diễn tả mối tình thật đẹp, cô gái hứa hẹn thật dễ thương. Thế nhưng, đến câu ba hoặc câu tư thì tan vỡ bi thảm do cô gái phụ tình đi lấy chồng, khiến chàng trai đau khổ, than thở buồn rầu cho số kiếp không may mắn của mình, mà hầu hết là chàng trai nghèo nên sự đời mới ra nông nỗi.
            Sáu câu vọng cổ “Trái Khổ Qua” do Thanh Nhàn ca vô dĩa hát, và cuốn bài ca thì bán cùng khắp các chợ miền quê thời bấy giờ.
            Ðể giúp các tài tử giai nhân quên bài ca có dịp học lại, Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại xin đăng trọn bài “Trái Khổ Qua” của soạn giả Viễn Châu.

            Nói lối:
                        Tôi với em là hai người cùng một xóm
                        Nhà của em có trồng đám khổ qua
                        Mỗi bình minh còn nặng giọt sương sa
                        Anh nhìn mãi cánh tay ngà em tưới nước.


            Vọng cổ:
            1) Dây khổ qua nhụy vàng bông trắng, trái khổ qua tuy đắng nhưng đượm thắm hương… tình. Mẹ của anh thường khen em thùy mỵ dịu dàng, anh cúi đầu bẽn lẽn, nhưng gương mặt đỏ bừng và nở nụ cười duyên, vội vã chạy ra sân nhìn nước, nhìn mây, nhìn đất nhìn trời, tôi van vái cho năm nay sớm dứt trận mưa rào để cho đám khổ qua được đâm chồi nẩy lá.
            2) Tôi còn nhớ buổi chiều hôm ấy, khi ánh hoàng hôn vừa buông phủ thôn buồn, em trao anh mấy trái khổ qua và âu yếm bảo anh rằng:


            Thơ Vân Tiên:
                        Công em tưới nước vun phân,
                        Khổ qua có trái dành phần tặng anh,
                        Khổ qua bông trắng lá xanh,
                        Trái quê thêm đượm mối tình nhà quê,
                        Sang năm anh rước em về,
                        Vui câu loan phụng đẹp bề thất gia.

            3) Nhưng dòng nước Trường Giang có khi lớn, khi ròng thì lòng dạ người đàn bà cũng theo thời gian mà nay dời mai đổi. Cuối mùa Xuân năm ấy có người đem trầu cau dạm hỏi, cha mẹ em tham giàu đã nhận lễ gả em. Suốt đêm ấy anh nằm không ngủ đợi đến sáng ngày tìm em han hỏi coi việc vợ chồng em định liệu ra sao, thì trời ơi em chỉ nhìn theo con bướm chập chờn bay lượn, em trả lời chuyện này do lịnh mẹ cha, phận em là gái khó cải qua huyên đường.

                        Hò hơ… Ðèn nào cao bằng đèn ba vát,
                        Con gái nào bạc cho bằng gái chợ Giồng,
                        Ngày em làm lễ tơ hồng…
                        Là ngày em bẻ gãy…
                        Hò hơ…
                        Là ngày em bẻ gãy chữ đồng với tôi.

            4) Ðám cưới của em mời bà con lối xóm, nhưng chỉ có anh là chẳng thấy ai… mời. Anh nghe tiếng cười vui mà gan ruột tơi bời…


            Thơ:
                        Mưa rớt vườn cau theo gió lộng,
                        Hồn anh cũng lạnh tợ mưa xuân.


            Thơ Vân Tiên:
                        Em đi cạnh chén rượu mừng,
                        Anh về biết mấy đêm trường khổ đau.
                        Người ta vui vẻ làm sao,
                        Còn tôi mượn giấc chiêm bao gặp nàng.

            5) Lễ đưa dâu bà con đổ xô ra xem đông đảo mà lòng anh cũng nát tan theo xác pháo bên đàng. Em cười vui còn anh thì lệ đổ muôn hàng. Dầu anh nghèo tiền nghèo bạc nhưng không nghèo nhơn đạo thủy chung. Nhưng nhơn đạo thủy chung không đổi được ruộng vườn cơm áo, thì thủy chung làm chi nữa khi người mình thương chỉ say mê theo vật chất kim tiền.


            Thơ:
                        Năm nay trời lạnh sương nhiều quá,
                        Giàn khổ qua trái đã lớn rồi.

            Mẹ tôi nấu chín nồi canh khổ qua, một món mà con hằng ưa thích, người gọi tôi vào dùng bữa, tôi gật đầu không nói mà đôi dòng lệ rưng rưng, mẹ tôi biết tôi có điều chi đau khổ nên người mới nhìn tôi mà buông tiếng thở dài. Ngoài kia có đôi bướm trắng đuổi nhau trên giàn khổ qua sai trái, như trêu cợt kẻ si tình vì quá yêu người mà không được yêu.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2016


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/tho-van-tien-trong-bai-vong-co-trai-kho-qua/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #124 vào: 21/07/2018, 23:40:28 »
“Dạ Cổ Hoài Lang” với Thành Lộc, Hữu Châu trên sân khấu Quận Cam

Nội dung câu chuyện chỉ diễn ra trong một buổi trưa, tại một nơi gió tuyết đang thổi tứ bề, lạnh tê tái. Ông Tư trốn viện dưỡng lão về thăm nhà trong ngày giỗ vợ ông. Những tưởng con trai và đứa cháu nội duy nhất đang ở nhà chuẩn bị mâm cơm cúng người đã khuất, thế nhưng, ông ngỡ ngàng khi nhận ra mình lầm: bánh kem, thức ăn là do cô cháu gái chuẩn bị cho tiệc sinh nhật của bạn trai. Con trai ông thì vẫn phải đi làm trong ngày mà ông Tư cho là rất quan trọng đối với người nhà quê – ngày đám giỗ.

Ông Tư (Thành Lộc, phải) và ông Năm (Hữu Châu, trái)
cùng thắp nhang vái người đã khuất nhân ngày đám giỗ vợ ông Tư

NÉN SỰ THẬT HỤT HẪNG VÀO LÒNG, ông Tư gọi điện thoại mời ông Năm, người bạn thân thiết từ thuở ấu thơ, cũng đang sống đời tha hương như ông, sang chơi.
            Hai ông già Nam Bộ tổ chức đám giỗ theo cách của mình: nhắc kỷ niệm với người đã mất, cũng là ôn lại những vui buồn của ngày xưa, bên chiếc bàn thờ tạm bợ nhưng có đủ nhang, đèn, và… chiếc bánh kem lén mượn của đứa cháu.
            Xung đột kịch trong Dạ Cổ Hoài Lang chính là những xung đột giữa phong tục, tập quán, văn hóa ứng xử giữa hai thế hệ trẻ-già, giữa ông-cháu, giữa nếp nghĩ truyền thống và hiện đại. Nhưng trên hết, sự xung đột đó xảy ra chỉ bởi người con trai của ông Tư – chiếc cầu nối giữa hai thế hệ ông cháu – đã không làm tròn nhiệm vụ, vì mải lo cho cuộc mưu sinh.
            Phẫn uất trước cách hành xử của người cháu nội – cũng do những xung đột văn hóa mà mạnh ai nấy cất giữ trong lòng – ông Tư cùng người bạn già ra khỏi nhà trong cơn giá buốt, leo lên mái nhà ngồi để cùng hát cho nhau nghe bài “Dạ Cổ Hoài Lang”. Để rồi, ông Tư đã lặng lẽ ra đi trong khoảnh khắc đó, ngay lúc người cháu nội hiểu ra mọi chuyện, chạy lên xin lỗi ông.
            Bài hát “Dạ Cổ Hoài Lang” của tác giả Cao Văn Lầu được sáng tác năm 1919, tại Bạc Liêu. “Dạ Cổ Hoài Lang” được chọn làm chủ đề của vở kịch, vì bài hát là sự tượng trưng cho nỗi nhớ quê xưa, vì mỗi lần ông Tư cất giọng hát bài “Dạ Cổ Hoài Lang” là nhắc nhở lại kỷ niệm của tình yêu đầu đời của người con trai mới lớn trong làng.
            Bên cạnh sự mâu thuẫn gay gắt của những va chạm văn hóa, vở kịch “Dạ Cổ Hoài Lang” còn làm quyến luyến người xem bởi tính nhân văn thể hiện qua tình cảm chòm xóm giữa những người cùng quê ngày xưa, giờ nơi xứ người, ở tuổi khó hòa nhập vào đời sống mới, họ đã nương vào nhau, nâng đỡ tinh thần cho nhau.
            “Quê hương là gì?” – câu hỏi mà cô cháu nội nhắc đi, nhắc lại nhiều lần, trong vở kịch, để sau cùng khi cô nhận ra “Quê hương chính là ông nội” thì ông đã không còn.
            Còn với mỗi chúng ta, “Quê hương là gì?” Đó có thể không phải là chùm khế ngọt, chẳng phải là con sông có tiếng hò ai đó giữa ban trưa, hay lũy tre đầu làng nơi lũ trẻ chọn làm nơi đá dế… Mà quê hương, chính là tình máu mủ, ruột thịt của những người thân yêu biết đùm bọc nhau nơi đất khách quê người.
            Dù là kịch bản của 21 năm trước, thế nhưng hôm nay, trên sân khấu hải ngoại, “Dạ Cổ Hoài Lang” vẫn là bài ca xoáy vào đúng tâm tư của người xa xứ.
            Thành Lộc, Hữu Châu điêu luyện, xuất sắc trong từng động tác, từng tiếng thở, từng ánh mắt, từng cái nắm lấy bàn tay, đến cả những lời không thốt nên thành tiếng, để người xem cảm nhận được đến tận cùng nỗi tái tê của người già không tìm được chốn nào cho chính mình trên đất khách.
            Tường Vi, Lương Thế Thành cũng diễn rất tròn vai, bên cạnh những nghệ sĩ mà tên tuổi họ đã như đóng đanh cho sự thành công của nghệ thuật sân khấu kịch, thật khó để tìm ra được chỗ chê trách.

Ông Tư (Thành Lộc, phải) và ông Năm (Hữu Châu, trái) leo lên mái nhà trong ngày buốt giá
để thả lòng mình về quê hương qua bài hát “Dạ Cổ Hoài Lang”

Trò chuyện cùng Thành Lộc, “phù thủy của những vai diễn”
            Ngay trong giờ nghỉ giải lao giữa hai xuất diễn tại Little Saigon, phóng viên Người Việt đã có cuộc chuyện trò cùng nghệ sĩ Thành Lộc, người thủ vai ông Tư trong “Dạ Cổ Hoài Lang”, cũng là người được đồng nghiệp và khán giả gọi là “phù thủy của những vai diễn” như một lời khen ngợi cho tài năng đặc biệt của anh.

Người Việt: Ra đời cách đây hơn 20 năm, lý do vì sao đến thời điểm này vở “Dạ Cổ Hoài Lang” mới xuất hiện ở Mỹ?
Nghệ sĩ Thành Lộc: Thực ra lý do hết sức khách quan. Cách đây 21 năm, ngay từ khi chúng tôi dàn dựng và thấy kịch phẩm này thành công, được nhiều người yêu mến, chúng tôi đã nghĩ phải chi vở kịch này được diễn ở hải ngoại thì thật là có ý nghĩa. Nhưng lúc đó chỉ là ước mơ thôi, vì thời điểm vở kịch ra đời chưa có những mối quan hệ tốt giữa bầu show ở hải ngoại và các chương trình nghệ thuật trong nước.
            Chúng tôi mới dàn dựng lại vở này năm ngoái nhân dịp kịch bản này tròn tuổi 20 tuổi. Khi dàn dựng lại, chúng tôi cũng đã cắt gọn đi, bớt rất nhiều những chi tiết thừa thải, chỉnh sửa lại những câu thoại không còn phù hợp nữa để cho vấn đề còn lại trong kịch bản chỉ là những mối quan hệ tương quan giữa các thành viên trong gia đình Việt Nam khi sống ở hải ngoại, bởi các gia đình Việt Nam khi sống ở hải ngoại, không nhất thiết phải là Mỹ, thì đều khác trong nước. Có lẽ đó là lý do. Còn chuyện vở kịch này đến giờ mới sang được Mỹ thì là một điều may mắn mà đến giờ chúng tôi mới thực hiện được, khi anh Trương Minh Cường của công ty Sala trong một lần tình cờ về nước ghé xem Dạ Cổ Hoài Lang đã nghĩ nếu kịch bản này được đưa sang Mỹ thì quá tốt.

Người Việt: Sau 20 năm, khi diễn lại vở này, cảm xúc của anh có gì khác khi đứng trên sân khấu tại Sài Gòn và khi đứng trên sân khấu tại Hoa Kỳ?
Nghệ sĩ Thành Lộc: Khi diễn ở Sài Gòn, thì khán giả là những người mà mình đã trải nghiệm với họ gần cả cuộc đời rồi, cho nên nghệ sĩ có thể hiểu được cảm xúc của khán giả như trong lòng bàn tay, vì đó là nhà của mình.
            Còn diễn ở hải ngoại là một áp lực rất lớn. Vì không biết là khán giả hải ngoại có biết Thành Lộc là ai hay không, có biết hoạt động kịch nghệ ở nước nhà như thế nào hay không hay câu chuyện chúng tôi kể có phù hợp hay không? Hơn nữa, gu thẩm mỹ của khán giả ở mỗi nơi đôi khi cũng có khác nhau.
            Vì sống ở hải ngoại, khán giả hải ngoại bảo vệ, bảo tồn văn hóa Việt Nam một cách khép kín, trong khi sân khấu ở quê nhà đôi khi lại rất táo bạo. Khác nhau là vậy. Cho nên đôi khi mình làm những chuyện táo bạo, những cái táo bạo phù hợp với xu hướng sân khấu thế giới, nhưng chưa chắc với cộng đồng người Việt mình nơi hải ngoại sự táo bạo đó lại phù hợp.
            Cho nên chúng tôi rất thận trọng với từng chi tiết, từ ngữ không được phép sai, mà nếu có sai thì cũng trong chừng mực cho phép để người ta có thể nói “ồ, vì chúng tôi không ở bên này nên không biết”.
            Tuy nhiên, bản thân chúng tôi cũng có sự tự tin là vì nội dung câu chuyện chúng tôi không đề cập đến vấn đề dị biệt văn hóa giữa phương Đông và phương Tây, mà chúng tôi chỉ xoáy mạnh vào vấn đề quan hệ máu mủ giữa người thân trong gia đình. Đó là vấn đề mà trong bất kỳ hoàn cảnh nào người Việt Nam cũng muốn bảo tồn, thì điều đó hợp lý hơn.


Nghệ sĩ Thành Lộc thủ vai ông Tư trong “Dạ Cổ Hoài Lang”

Người Việt: Cách đây khoảng một tháng, trong một status trên Facebook của mình, anh đã bày tỏ thái độ chống Trung Quốc bằng cách từ chối diễn lại vai Chu Xung trong vở kịch Lôi Vũ của tác giả Tào Ngu, một người Trung Hoa. Anh cũng như kêu gọi sự thức tỉnh của những người Việt Nam đang thần tượng một số diễn viên Hồng Kông, Trung Quốc, mà đó lại là những người ủng hộ quan điểm cho rằng “Đường Lưỡi Bò” là của Trung Quốc, không chấp nhận phán quyết của tòa quốc tế về “Đường Lưỡi Bò”. Anh có thể giải thích rõ hơn về điều đó?
Nghệ sĩ Thành Lộc: Tôi không phủ nhận người Hoa là 1 trong số 50 dân tộc hình thành nên nền văn hóa, kinh tế cho Việt Nam, đặc biệt là Sài Gòn. Cho nên quan điểm tôi bày tỏ không phải là tôi “bài Hoa” mà là tôi bày tỏ để cho mọi người thức tỉnh là chúng ta không nên trở thành những “fan cuồng” một cách mù quáng.
            Bản thân tôi cũng là một trong những “fan cuồng” của những tài tử Hồng Kông như Châu Nhuận Phát, Lưu Đức Hoa, Lương Triều Vỹ… Nhưng rõ ràng mình ngưỡng mộ tài năng của họ, mình ngưỡng mộ luôn quan điểm chính trị của họ, là bởi vì mặc dù hiện giờ Hồng Kông thuộc Trung Hoa Lục Địa, nhưng họ vẫn có chính kiến của họ là ủng hộ chính nghĩa.
            Còn các nghệ sĩ ở Trung Hoa Lục Địa thì tôi cũng xin được mở ra một vấn đề nữa là có hai cách nghĩ. Một là họ cũng bị áp lực từ chính quyền Bắc Kinh lên những công ty biểu diễn, buộc họ phải làm điều mà họ không muốn. Thứ hai là thật sự họ nghĩ như vậy. Ở cả hai trường hợp thì về danh chánh ngôn thuận họ đã ủng hộ cho luận điểm vô cùng bất chính về “Đường Lưỡi Bò” rồi. Mặc dù nghệ thuật là nghệ thuật, chính trị là chính trị, nhưng với tư cách công dân, họ đã thừa nhận “Đường Lưỡi Bò” là của họ, họ xem tài nguyên lãnh thổ Việt Nam là của họ thì tại sao chúng ta lại ngưỡng mộ những người nghệ sĩ như vậy?
            Tài năng là một chuyện, nhưng chúng ta phải biết điểm dừng, như tôi đã nói trong status của mình, rằng, nghệ sĩ Việt trước hết phải là công dân Việt!
            Chúng ta có thể không cùng suy nghĩ về nhân sinh quan và thế giới quan nhưng khi đã đụng đến tổ quốc, đụng đến mảnh đất quê hương thì chúng ta phải biết đứng đúng vị trí của mình để lên tiếng. Vì sao? Vì mảnh đất này cưu mang chúng tôi, mảnh đất này cưu mang người nghệ sĩ thì không vì lý do gì mà khi mảnh đất mình bị xâm hại mình lại thờ ơ với điều đó được. Cả những bạn thanh niên trẻ cũng phải biết điều đó. Các bạn đừng quên khi chiến tranh nổ ra chính các bạn phải cầm súng ra chiến trường, chứ không phải ai khác. Cho nên chúng ta phải biết phân biệt chuyện ngưỡng mộ nghệ thuật và ý thức công dân của mình. Đó là điều ai cũng phải suy nghĩ đến, chứ không phải chỉ riêng tôi.
            …
            Tôi cũng mong là có nhiều người làm như tôi, vì một con én không thể làm được mùa Xuân, nhưng mà mình có làm thì mình cảm thấy lương tâm mình thanh thản hơn.


NGỌC LAN
Tháng 08/2016


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/da-co-hoai-lang-voi-thanh-loc-huu-chau-tren-san-khau-quan-cam/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #125 vào: 28/07/2018, 23:36:49 »
Nữ tài tử chiếu bóng Việt Nam đầu tiên là ai?

Nếu như lịch sử điện ảnh Việt Nam khởi đầu từ năm 1930, với các tài tử là đào kép cải lương ở rạp Quảng Lạc, Hà Nội, thì trước đó hai năm (1928) nữ tài tử chiếu bóng Việt Nam đầu tiên xuất hiện trong cuốn phim Pháp là cô Hoàng Thị Thế, con của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám, khởi nghĩa ở đất Yên Thế miền Bắc.

Hình Cô Hoàng Thị Thế, con của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám,
tức cụ Đề Thám, trong cuốn hồi ký của Cô

Người con gái Việt
            Và sau đây là câu chuyện kể của kỷ sư Nguyễn Bá Lãng, từng du học ở Pháp về (kỹ sư Nguyễn Bá Lãng là con của quan Tổng Đốc Nguyễn Bá Trác). Câu chuyện một người con gái Việt, từ là đứa con yêu quí của nhà cách mạng trên hai mươi năm vẫy vùng ở nước non Yên Thế, đến một cuộc đời điêu linh nơi đất Pháp, và rồi trở nên một tài tử màn ảnh. Tâm trạng của cô Hoàng Thị Thế là tất cả một sự quay cuồng của hoàn cảnh, mà ai nghe qua rồi cũng khó quên.
            Vào năm 1928, tại đất Pháp dư luận sôi nổi lên về cuốn phim “Một Bức Thơ”, mà lúc bấy giờ người Việt ở trong nước, hoặc ngay cả các người Việt đang du học ở Pháp, cũng không ngờ cuốn phim ấy có liên quan đến một cô gái Việt Nam. Dư luận sôi nổi không phải là vì cuốn phim ấy hay nhất của thời đó, mà sôi nổi ở chỗ cuốn phim đã được cái vinh hạnh một có công chúa Trung Hoa đóng tuồng. Họ quảng cáo vị công chúa Trung Hoa này rùm beng lên để gợi cho công chúng sự háo kỳ, để rồi thiên hạ đi coi cuốn phim ấy như đi xem một kỳ quan thứ tám của thế giới.
            Vào lúc ấy trong buổi thanh bình, mọi người Âu cũng như Á sống một cuộc đời bình thản, và rồi cái kỳ lạ ấy đã khơi lên trong lòng mọi người một sự nô nức, nhờ đó mà cuốn phim được hoan nghinh, hay nói rõ hơn là được nhiều người coi. Họ tranh nhau coi mặt một vị công chúa Tàu, nhưng có điều là báo chí ở Âu châu thời ấy lại mù tịch về việc đó, các báo đã không hề cải chánh mà lại còn loan tin thêm, cho nên hãng phim vẫn tiếp tục quảng cáo om sòm để hốt bạc. Ngay cả nhân vật ấy cũng làm thinh không biết là với ý định gì, hoặc là trong hợp đồng đóng phim có cam kết điều gì mà không được nói ra chăng?
            Nhưng rồi chẳng bao lâu thì người ta cũng được biết vị công chúa Trung Hoa ấy chính là cô Hoàng Thị Thế, con gái út của nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám. Trong thời gian nổi lên chống Pháp, sau những trận giao tranh gây thiệt hại nhiều cho quân Pháp, cuối cùng thì cụ Hoàng Hoa Thám đã anh dũng nằm xuống tại cứ địa đấu tranh, vùng đất Yên Thế, để các thế hệ sau ghi nhớ và noi gương bất khuất của cụ.
            Theo lời kỹ sư Lãng thì sau ngày cụ Hoàng Hoa Thám mất thì mẹ cô Thế bỏ trốn, cô trở thành đứa bé lưu lạc được người nào đó tạm nuôi. Thấy cô có nét mặt thông minh, khả ái nên được một viên sĩ quan cao cấp người Pháp xin đem về làm con nuôi, và để ở Hà Nội hơn một năm ngoài, rồi đem cô về Pháp cho đi học, cho ăn mặc theo Pháp.
            Cô Hoàng Thị Thế vốn dòng thông minh, đi học từ năm 12 tuổi và đến năm 21 tuổi thì đậu Tú Tài, cô đang thoải mái nhẹ bước trên đường học vấn thì thương ôi, ông già nuôi mãn phần, anh em người Pháp tranh giành gia tài chia xẻ nhau. Riêng cô Thế là đứa con nuôi mũi tẹt da vàng chỉ được may mắn cho ở, ăn báo hại nơi nhà của người con trưởng của ông già nuôi ấy mà thôi.
            Nhưng rồi, tình đời ghẻ lạnh với sự ăn nhờ ở cậy ấy không được bao lâu thì cô Thế chịu không nổi, mới từ giã nhà người anh nuôi mà ra giữa cuộc đời tự lập nơi xứ lạ quê người, với gió bụi và phong sương kiếm nghề thư ký và bán hàng nuôi sống. Tâm trạng của cô trong những ngày phiêu bạt ấy không cần phải nói lại, sự đau khổ đến thế nào…
            Tình cờ một ngày kia, vào cuối năm 1928 có một nhà đạo diễn phim vào mua hàng một tiệm buôn nọ, bỗng bất chợt thoáng thấy một cô gái Á Đông rất duyên dáng đang đứng tiếp khách. Nhà đạo diễn lúc bấy giờ đang băn khoăn tìm một người phụ nữ phương Đông đóng vai công chúa Tàu cho cuốn phim “Một Bức Thơ”. Sau khi ướm lời với chủ tiệm thì chủ tiệm bằng lòng nhường lại cô gái bán hàng ấy, và giới thiệu đó là một công chúa Trung Hoa, sau ngai vàng đổ nát của vua cha đã phải lưu vong qua đất địa nước Pháp.


Nhà cách mạng Hoàng Hoa Thám, tức cụ Đề Thám,
chụp ảnh bên các cháu của ông

Từ cô bán hàng đến tài tử chiếu bóng
            Thế rồi từ cô gái bán hàng với số lương 200 quan mỗi tháng, cô Thế đã nghiễm nhiên thành một tài tử chiếu bóng với số lương 2.000 quan mỗi tháng, từ đây với số lương gấp mười, cô sống một cuộc đời tạm gọi sung túc.
            Khi cuốn phim “Một Bức Thơ” ra đời, đi khắp các thành phố đều được thiên hạ đón xem, người ta cố tình xem mặt của vị công chúa Trung Hoa đã lưu vong và trở thành cô đào màn ảnh. Thấy cô đẹp, họ bàn tán xôn xao và một số đông đã yêu cô, vì tuy xem cô đóng vai tuồng giả công chúa Trung Hoa, mọi người nhận thấy ở cô một vì công chúa thật, nhất là với nét mặt u buồn. Trong phim họ đã xét thấy tâm trạng đau khổ của một nàng công chúa, từ bên cạnh một ngai vàng rơi vào trong bụi đời hải ngoại, họ ái ngại và thương yêu cô vì thế.
            Và cũng sau cuốn phim ấy thành hình, cô Hoàng Thị Thế đã phải tiếp đón hàng ngày hơn trăm người khách lạ, hoặc tới thăm viếng tặng hoa, hoặc tới phỏng vấn an ủi, hoặc tới mời cô đi dự tiệc, nhất là các công tử và phú gia đều cạnh tranh nhau để được cùng khoác tay đi chơi, hoặc dự tiệc với nàng công chúa ấy.
            Trong lúc này đến các du học sinh Việt Nam ở Pháp, mà về sau tốt nghiệp đã về nước như: Bác Sĩ Phạm Ngọc Thạch, kỹ sư Nguyễn Bá Lãng, kỹ sư Thái Thiện Nghĩa v.v… đều có hân hạnh lui tới tặng hoa, thăm viếng, và có khi những tấm chèque to tát được trịnh trọng đem dâng cho nàng để cầu nói chuyện trong giây lát.
            Nhưng rồi thì giữa cảnh tiếp đón tấp nập ấy, một thanh niên trí thức người Pháp có thế lực, đã lọt vào mắt xanh cô Hoàng Thị Thế, đôi nam nữ ấy yêu nhau và một đám cưới linh đình đã diễn ra trong năm 1931, giữa sự mến tiếc của những người “hỏng thi”.
            Tưởng đâu chiếc thân bèo dạt nhờ cơ hội ấy mà yên cửa nhà, không dè sau một thời gian ân ái, đức lang quân mới hỏi đến gia tài ngày trước. Cô Hoàng Thị Thế mới đem hoàn cảnh sự thật nói cho chồng biết rằng, vào năm 1909 sau khi ông Hoàng Hoa Thám nghị hòa với quân Pháp, thì toàn quyền Paul Doumer có cắt đất Yên Thế, gồm có lối năm ngàn cây số vuông, giao trọn cho nhà cách mạng, tức ông già vợ của chàng rể và là chủ nhân cô Thế nói trên. Chàng ta mới dùng thế lực của mình kiện chính phủ Đông Dương, lúc áy do toàn quyền Pasquier cầm đầu, để lấy lại đất đai của ông già vợ mình, đất đai thời đó trị giá những 100 triệu phật lăng! Vụ kiện đó kéo dài hai năm, bị bác bỏ.
            Không thấy được kết quả, thì bấy giờ cô Thế mới thấy được lòng dạ của chồng, là từ ấy trở đi cơm không lành canh không ngọt, mặc dầu với đức hạnh của một gái Đông phương biết chiều chồng nuôi con, vẫn không an ủi chồng được, và ngày ngày vẫn kiếm chuyện xích mích gây gổ, nào “trái ấu không tròn”, nào là “bồ hòn cũng méo”. Thì ra sau khi biết rõ rằng nàng không phải đúng một vị công chúa Tàu như người ta đồn, mà chỉ là con của một người “phiến loạn” của xứ “An Nam” thì không bao lâu cái gia đình Pháp-Việt ấy tan rã, chặt đứt oan tình.
            Thế rồi, cô Hoàng Thị Thế lại sống giữa cô đơn và bụi đời ở nước ngoài, tiền của dần dần cạn sạch, bấy giờ cô mới lục lại danh thiếp của bao kẻ hâm mộ nàng ngày xưa. Và ngày xưa họ đã tìm tới nhà nàng để cầu trịnh trọng được hôn bàn tay, thì lần này chính nàng lại phải kiếm gõ cửa nhà họ để nhắc lại mối cảm tình ngày trước, và cũng xem trong chuyến đò tình sang sông, còn có khách nào mến cây da cũ, con đò xưa chăng?
            Thì than ôi! Nàng đâu còn là một gái xuân sắc với cặp mắt huyền mơ của ngày xưa tươi đẹp nữa. Giữa tàn tạ nàng phải sống một cuộc đời tuy không đến nỗi dơ dáng dại hình, song cũng không được sáng lạn cho lắm.
            Kỹ sư Nguyễn Bá Lãng kết luận rằng: “Cuộc đời của nàng sau mối tình lang bạt kia nghe qua mà lòng se lại, tôi cũng rất tiếc cho con người tài hoa xinh đẹp ấy, nhiều khi vì sự sống còn ở nước người, đã phải đi gõ cửa từng nhà bạn quen, để giải quyết vấn đề bao tử của ngày ấy!
            "Từ sau trận đại chiến ở Âu châu, kiều bào ở Pháp không còn ai gặp lại cô Hoàng Thị Thế nữa, không biết trong loạn lạc lúc ấy nàng có phải làm con thiêu thân cho bom đạn chăng? Nhưng cái ngày chót mà các Việt kiều du học ở Pháp được gặp nàng là vào cuối năm 1939, và cô Thế có cho hay trên một chuyến tàu rằng, nàng sang nước Bỉ. Mấy tháng sau thì quân của Hitler ào ào tràn sang Bỉ mà tiến qua Pháp, đạo binh ấy có quét nàng đi như một hạt bụi, hay như một chiếc lá khô giữa đàng chăng?”


NGÀNH MAI
Tháng 03/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0313-nm-03132015231914.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #126 vào: 02/08/2018, 23:58:06 »
Ðờn ca tài tử và “bí ẩn” phía sau cuốn bài ca nhỏ

Trong buổi họp mặt đờn ca tài tử lần đầu tiên vừa qua tại Little Saigon, nghệ sĩ tài tử Quế Anh nói rằng, cô biết ca cổ nhạc là nhờ những cuốn bài ca nhỏ bán rất nhiều ở chợ.

Hình bìa cuốn bài ca nhỏ bán ở các chợ làng quê nông thôn thời thập niên 1960

THẬT VẬY, khi xưa nếu ai là người vốn yêu thích cổ nhạc thì khó thể bỏ qua những cuốn bài ca nhỏ, mà nội dung chỉ có sáu câu vọng cổ, hoặc nếu hơn thì có thêm một, hai tấm hình nghệ sĩ in nhòe nhoẹt, mà chữ đôi khi cũng in trật.
            Một khi đã có cuốn bài ca trong tay rồi thì chỉ vài ngày sau là cất tiếng ca lên ở các buổi sinh hoạt. Người ta có thể nói rằng đa số dân đờn ca tài tử đã “xuất thân” từ cuốn bài ca nhỏ được bán ở các chợ miền quê thời thập niên 1950-1960.
            Vào thời ấy hầu như các chợ ở làng quê miền Nam, và luôn cả một số tỉnh miền Trung cũng đều có những cuốn bài ca nhỏ được rao bán, để rồi thời gian sau đó thì người ta lại thấy có thêm số người biết ca vọng cổ phục vụ bà con ở thôn xóm.
            Vậy từ đâu mà cuốn bài ca được phổ biến rộng rãi để rồi nhiều người trở thành tài tử giai nhân ở khắp nơi, tham gia sinh hoạt giúp vui bà con mộ điệu?
            Số là những năm ấy khi một dĩa hát vọng cổ được ra đời, thì liền sau đó vô số cuốn bài ca nhỏ xuất hiện với nguyên văn lời ca của dĩa hát nói trên được tiêu thụ rất nhanh trong thời gian kỷ lục.
            Lúc bấy giờ hầu hết các chợ lớn, nhỏ ở miền Nam, chợ nào cũng thấy bán cuốn bài ca nhỏ. Hình ảnh một người vai mang chiếc bị (có nơi gọi là cái tụng) tay cầm xấp bài ca vừa đi vừa cất tiếng hát vọng cổ, đã trở nên quen thuộc với tất cả những ai mua bán ở các chợ làng quê nông thôn.
            Không chỉ riêng chợ xã, chợ quận mà luôn cả chợ xóm ấp cũng có, xa xôi hẻo lánh đến đâu cũng có người rao bán những cuốn bài ca này với giá bình dân, ai cũng có thể mua được.
            Về hình dáng thì cuốn bài ca khuôn khổ chỉ bằng phân nửa tờ giấy tập học trò, hoặc lớn hơn đôi chút và vỏn vẹn không đầy 20 trang, tính luôn bốn trang bìa. Thông thường bìa cuốn bài ca được vẽ một cảnh nào đó trong nội dung bài ca, kèm theo bức ảnh bán thân của ca sĩ đã ca trong dĩa hát.
            Tóm lại cuốn bài ca vừa ít trang, vừa trình bày đơn giản, màu sắc cũng rất sơ sài nhưng tầm phổ biến thì rất lớn, bởi bài ca bán ra thì chỉ vài tuần sau thì giới đờn ca tài tử khắp nơi đã đưa vào sinh hoạt, nhóm nào cũng có người ca, đi đâu cũng nghe ca.
            Cuốn bài ca nhỏ bán ở các chợ làng quê này thành phần mua nhiều nhất là các cô gái, vì một lẽ rất dễ hiểu các cô là người đi chợ, chớ giới thanh niên thì có mấy người vào chợ đâu. Còn các chị đàn bà đã có con thì cũng rất hiếm người mua, do bởi thành phần này họ đa đoan quá nhiều công việc. Cầm cuốn bài ca lên là sợ chồng la rầy, sợ mẹ chồng, chị em bên chồng trách mắng: “Tối ngày cứ lo ca hát thì còn làm ăn gì được!”
            Các cô gái mua cuốn bài ca về đợi lúc nào rảnh rỗi không có ai là các cô tập ca, nhiều cô có giọng ca rất hay, rất truyền cảm, đâu thua gì các nữ ca sĩ nổi tiếng, nhưng khổ nỗi là chỉ ca ở xó bếp, ở sau hè. Do bởi thành kiến “xướng ca vô loại” đã ăn sâu vào cội rễ của xã hội miền Nam, mà các cô đã không được xuất đầu lộ diện ở những địa điểm đờn ca tài tử. Thành kiến cổ hủ lỗi thời kia đã ngăn chặn hàng bao giọng ca hay của phái nữ, mà đáng lý ra được đem ra phục vụ cho nền cổ nhạc, phục vụ cho đời.
            Một số ít các cô may mắn hơn, lớn lên trong gia đình phóng khoáng, đã được gia nhập các nhóm đờn ca tài tử, để rồi một số sau này thành danh. Chớ còn đại đa số các cô thì không được rời khỏi nhà thì nói chi là tham gia học ca học hát. Thành thử ra, bao nhiêu giọng ca trời cho đã bị chôn vùi theo thời gian khi các cô về nhà chồng.
            Trong làng cổ nhạc có trên dưới 10 soạn giả viết bài ca vọng cổ, nhưng hai người soạn bài dễ ca nhất là thi sĩ kiêm soạn giả Kiên Giang-Hà Huy Hà, và nhạc sĩ Bảy Bá, tức soạn giả Viễn Châu. Hai ông đã dùng lời văn đi sát với đối thoại thực tế ở ngoài đời, nên rất được nhiều tài tử giai nhân hoan nghênh.
            Ngay cả chính tôi, người viết bài này, cũng đã học bài ca của hai ông và thuộc khá nhiều bài. Nhớ lại khoảng năm 1962 tôi làm việc trong địa điểm dinh điền cách thị xã Ban Mê Thuột hơn 10 cây số, nhưng đến Chủ Nhật là ngồi xe lam ra thị xã để đến trại mộc Tư Cần. Ðây là địa điểm sinh hoạt đờn ca tài tử thường xuyên, bởi phần lớn dân thợ mộc ở đây là người Long Xuyên, Chợ Mới, Mỹ Luông, rất nhiều người biết ca biết đờn.
            Ngày nọ vừa ra tới chợ Ban Mê Thuột bỗng thấy người bán bài ca, có một bài mới phát hành mang tên “Tử Lộ Ðội Gạo” của Kiên Giang, tôi mua ngay rồi đi thẳng đến trại mộc Tư Cần. Phân nhịp lời ca xong, tôi kêu một anh đờn cho tôi ca. Tức thì anh này ngưng công việc và lấy cây lục huyền cầm dạo lên… Tôi nhìn vô cuốn bài ca và ca luôn đến hết bài. Vài ngày sau thì đã thuộc lòng, rồi đưa “Tử Lộ Ðội Gạo” vào sinh hoạt đờn ca tài tử ở địa phương.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2016


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/don-ca-tai-tu-va-bi-phia-sau/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #127 vào: 04/08/2018, 23:53:48 »
Vân Tiên – Nguyệt Nga trên sân khấu và trên màn bạc

Danh phẩm Lục Vân Tiên của đại thi hào Nguyễn Đình Chiểu, được đưa lên sân khấu ca ra bộ, tức tiền thân của cải lương từ thời thập niên 1910 tại Vĩnh Long. Thời đó tại nhà ông Tống Hữu Định, cựu Phó Tổng Long Hồ (Vĩnh Long) là nơi quy tụ thân hào nhân sĩ, những nhà trí thức, họ thường tụ hợp tại đây, bởi ông Tống Hữu Định thường hay tổ chức tiệc tùng, đờn ca tài tử với các thân hữu và bạn tri âm tại nhà.

Một cảnh trong vở hát Kiều Nguyệt Nga,
kép Tấn Đạt vai Bùi Kiệm và đào Thanh Vy vai Nguyệt Nga

Sân khấu ca ra bộ
            Ông Tống Hữu Định là con thứ 12 của một gia đình danh gia vọng tộc ở Vĩnh Long, mà thiên hạ quanh vùng thường gọi ông là ông Phó Mười Hai, hay Thầy Phó.
            Ngày nọ ông Tống Hữu Định đi Sài Gòn, dừng chơn lại Mỹ Tho nghỉ đêm, chờ sáng mai lên xe lửa đi tiếp (thời ấy có xe lửa từ Sài Gòn đi Mỹ Tho và ngược lại mỗi ngày một chuyến). Đêm đó ông đi coi chiếu bóng có phụ diễn đờn ca tài tử của thầy Tư Triều. Nghe cô Ba Đắc ca bài tứ đại oán “Bùi Kiệm ghẹo Nguyệt Nga”; trong đó có ba nhân vật là Bùi Ông, Bùi Kiệm và Nguyệt Nga đối đáp với nhau; thì cô Ba đứng lên vừa ca, vừa làm điệu bộ của ba nhân vật nói trên. Lối diễn mới nầy đã tạo bầu không khí vui vẻ, sinh động cho buổi diễn, và dĩ nhiên nó đã được khán giả tán thưởng nhiệt liệt.
            Là người ưa thích đờn ca, nên ông Tống Hữu Định cố tìm tòi và thuộc nằm lòng bài tứ đại oán mà cô Ba Đắc đã ca:

                       “… Kiệm từ khi thi rớt trở về,
                        Bùi ông mắng nhiếc nhún trề:
                        Cũng tại mầy ham bề vui chơi”
.
                        Kiệm thưa: “Tài bất thắng thời…”

            Ông nhân thấy cô Ba Đắc ca hay quá, nhưng theo ông, nếu có thêm điệu bộ để diễn tả tình huống kịch thì chắc còn hay hơn nữa.
            Sau lần ghé Mỹ Tho đó, khi về Vĩnh Long ông tưởng tượng ra một sân khấu linh động hơn, sân khấu nhạc tài tử của thầy Tư Triều. Trong đó sẽ có các nhân vật cho các vai Bùi Kiệm và Bùi Ông đối đáp nhau. Ý nghĩ đó, ông Phó Mười Hai đã đem thực hiện trong các buổi đờn ca tại nhà, và bài tứ đại oán “Nguyệt Nga Bùi Kiệm” đã được ông dàn dựng thành một màn ca kịch.
            Thế là từ Mỹ Tho miền đất khai sinh ra nhạc tài tử, và bài tứ đại oán “Nguyệt Nga Bùi Kiệm” đưa về Vĩnh Long đã được trình bày trên sân khấu theo một phong cách mới, hấp dẫn hơn là nghệ sĩ vừa ca, vừa làm điệu bộ phù hợp theo từng tình huống của kịch tính, và lối hát ca ra bộ này ngày càng được phát triển ra các nơi khác.
            Dù vậy, ca ra bộ cũng chỉ là một lớp ca kịch, chớ chưa phải tuồng cải lương trọn vẹn, mà mãi cho đến cuối thập niên 1940 mới có một người viết tuồng cải lương Kiều Nguyệt Nga.


Vai diễn Kiều Nguyệt Nga trong Lục Vân Tiên của Thu Trang

Soạn giả Nguyễn Ngọc Cung
            Cách đây không lâu trên làn sóng phát thanh này, tôi có nói về câu chuyện “con chủ tiệm vàng ở Cà Mau lên Sài Gòn nhập cuộc hát với đờn ca ăn xin”. Người đó là soạn giả Nguyễn Ngọc Cung, người soạn vở tuồng Kiều Nguyệt Nga.
            Số là khoảng cuối năm 1947, Ngọc Cung từ Sài Gòn về miền Tây, thoát ly vào chiến khu Đồng Tháp Mười, cứ địa kháng chiến thời chiến tranh Việt-Pháp. Vô mật khu Ngọc Cung hoạt động văn nghệ, và soạn vở tuồng Kiều Nguyệt Nga, hát nhiều nơi trong chiến khu thời ấy.
            Sau Hiệp Định Genève 1954, soạn giả Ngọc Cung và các nghệ sĩ miền Nam trong chiến khu tập trung ở Cà Mau để tập kết ra Bắc, và chẳng bao lâu thì đoàn Cải Lương Nam Bộ được thành lập, với hầu hết diễn viên là các nghệ sĩ miền Nam tập kết. Sang đầu năm 1955 vở tuồng Kiều Nguyệt Nga được đạo diễn Lưu Chi Lăng dàn dựng, kép Hoàng Sa đóng vai Lục Vân Tiên, đào Thanh Hương vai Kiều Nguyệt Nga (đào Thanh Hương tập kết chớ không phải danh ca Thanh Hương vợ của hề Văn Chung, về sau Thanh Hương sang ngang với kép Hùng Minh). Đến năm 1973 cô đào trẻ Thanh Vy người miền Bắc gia nhập đoàn, đảm trách vai Kiều Nguyệt Nga rất được hoan nghinh.
            Do soạn giả Nguyễn Ngọc Cung là người ở trong chiến khu tập kết ra Bắc, nên ở ngoài thành suốt thời gian dài từ 1950 đến 1975 cải lương không hát tuồng Nguyệt Nga. Nhưng có một dạo thi phẩm Lục Vân Tiên của Cụ Nguyễn Đình Chiểu được đưa lên màn bạc.
            Thời thập niên 1950 ông Tống Ngọc Hạp làm ăn ở Pháp, trong những bước đầu tiên vào làng điện ảnh, ông đã hoạt động với nhiều nhà sản xuất phim, trong số có một hãng phim Việt Nam tức Mỹ Phương Film đang quay cuốn phim “Vì Đâu Nên Nỗi”, dựa theo tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Phim quay tại Pháp và mang về Việt Nam chiếu ở các rạp khoảng 1956-1957. Ông Tống Ngọc Hạp đã đóng một vai và làm nhạc đệm cho phim này, rồi lần đến chuyển âm các phim Mễ Tây Cơ, Mỹ v.v…
            Sau đó nhận thấy đi với làng điện ảnh Âu Mỹ, với những phim chuyển âm mãi thì khó làm cho nền kỹ nghệ điện ảnh nước nhà phát triển mạnh, ông bèn quay về Hương Cảng để nghiên cứu một chương trình hợp tác sản xuất.
            Tại đây, ông đã lân la khắp các phim trường và giao thiệp với ngành kỹ nghệ điện ảnh đang tiến triển của Hương Cảng. Nhưng chưa có đủ phương tiện để thực hiện chương trình hợp tác sản xuất, ông bèn sang Nhật. Tại đây Tống Ngọc Hạp đã bỏ nhiều thì giờ để học hỏi về ngành kỹ nghệ điện ảnh. Trong những chuyến viễn du ấy, ông đã vừa học vừa làm thương mại bằng cách chuyển âm nhiều phim Trung Hoa và Nhật như phim Công Chúa Mỹ Cơ, phim Đóa Hoa Hải Đường v.v… Đến năm 1957 thì ông Tống Ngọc Hạp chính thức làm phim.
            Lịch sử điện ảnh Việt Nam khởi đầu từ năm 1930 cho đến giữa thập niên 1950, tất cả cuốn phim được ra đời đều là phim đen trắng, và đến 1957 mới có cuốn phim màu đầu tiên được trình chiếu: Lục Vân Tiên, phim màu Eastman A Color do nhà sản xuất Tống Ngọc Hạp thực hiện, đồng thời giữ luôn vai chánh Lục Vân Tiên, đóng cặp với Thu Trang (hoa hậu hội chợ Thị Nghè) vai Nguyệt Nga.
            Tống Ngọc Hạp ngoài phần thủ vai chánh còn kiêm viết kịch bản, kiêm đạo diễn và soạn nhạc. Còn Thu Trang thì vai chánh kiêm hóa trang viên, kiêm thơ ký đạo diễn. Nguyễn Tấn Giàu quay phim kiêm nhiếp ảnh viên và kiêm phụ đạo diễn. Tóm lại việc thực hiện phim rất ít người, kể cả tài tử trong phim cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay.
            Việc sản xuất phát hành không do hãng phim nào hết, mà chỉ do một nhóm lấy tên “Viễn Đông” thực hiện gồm bộ ba: Tống Ngọc Hạp, Thu Trang và Nguyễn Tấn Giàu. Phim được trình chiếu vào thời ấy từng gây sôi nổi một dạo, báo chí phê bình khá nhiều, và sau vài tháng thì do nội bộ thế nào đó mà Tống Ngọc Hạp lẫn cuốn phim đều tuyệt tích giang hồ.
            Trở lại chuyện tuồng Kiều Nguyệt Nga trên sân khấu cải lương. Và như đã nói, tuồng Kiều Nguyệt Nga ra đời từ những năm 1948-1949, nhưng chỉ được hát trong chiến khu và ngoài Bắc. Đến tháng 5-1975 tuồng mới diễn ở Sài Gòn.
            Sau ngày 30-4-1975 trong khi tất cả đoàn hát miền Nam đều ngưng hoạt động, thì đoàn Cải Lương Nam Bộ từ miền Bắc vào Nam ra mắt khán giả vào tháng Năm 1975 tại rạp Quốc Thanh, với thành phần diễn viên gồm: Nghệ sĩ Thanh Tùng vai Lục Vân Tiên, Tấn Đạt vai Bùi Kiệm, kép lão Dương Ngọc Thạch vai Bùi Ông, và đào Thanh Vy vai Kiều Nguyệt Nga.
            Lần đầu tiên Thanh Vy, cô đào trẻ đẹp đất Thăng Long xuất hiện trước khán giả sành điệu cải lương miền Nam, nên cô rất lo lắng. Và khán giả cũng có cảm giác như đang coi cái gì đó mới lạ, nên ngồi im theo dõi đến mấy màn mà rạp hát vẫn im phăng phắc.
            Thế nhưng, đến lớp cuối Thanh Vy ca dứt bản Xàng Xê thì nhảy xuống sông. Khán giả vỗ tay thiếu điều vỡ rạp, Thanh Vy mừng quá đi thôi! Và buổi hát thành công. Đệ nhứt danh ca Út Trà Ôn, và đào Lệ Thủy lên sân khấu tặng hoa cho Thanh Vy.
            Như vậy với vai trò Kiều Nguyệt Nga, lần đầu tiên Thanh Vy ra mắt khán giả miền Nam. Và tuồng Kiều Nguyệt Nga của soạn giả Ngọc Cung cũng là vở hát cải lương đầu tiên sau ngày “đổi đời”.
            Có điều nói thêm là soạn giả Nguyễn Ngọc Cung đã không có mặt trong buổi hát mang tính cách lịch sử ấy, do bởi ông đã vĩnh viễn ra đi từ 9 năm về trước. Tháng 6 năm 1966 chiến tranh ác liệt, một trận mưa bom B.52 giội xuống căn cứ Ban Tuyên Huấn Nông Trường ở vùng Suối Cây, Tây Ninh, biên giới Campuchia, gây thương vong cho soạn giả Ngọc Cung, soạn giả Phạm Trần, soạn giả Phong Anh (soạn giả vở tuồng Thuyền Ra Cửa Biển), và nghệ sĩ Bảy Lương (trước là kép chánh đoàn Phước Chung). Chiến tranh đã cướp mất bốn tài hoa của sân khấu cải lương.
            Soạn giả Ngọc Cung vĩnh viễn ra đi, nhưng tuồng Kiều Nguyệt Nga vẫn còn thỉnh thoảng được hát. Những năm trước đây có phong trào nghệ sĩ ra hải ngoại, người ta vẫn thấy Kiều Nguyệt Nga xuất hiện qua các diễn viên Bạch Tuyết, Ngọc Giàu.


NGÀNH MAI
Tháng 03/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-032615-nm-03262015132518.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #128 vào: 11/08/2018, 23:58:19 »
Đàn tranh với nghệ sĩ Việt Nam

Cây đờn tranh cũng gọi là đờn thập lục (do bởi 16 dây), đặc tính là tiếng đờn tranh trong trẻo, ngọt ngào. Đờn tranh có tác dụng phục vụ cho nhiều bộ môn như nhạc tài tử, cải lương, dân ca và các điệu ngâm, hò lý. Nhưng tuyệt đối không áp dụng cho nhạc lễ, cũng không có trong hát bội vì môi trường không thích hợp cho loại đờn này.

Nghệ sĩ Võ Vân Ánh biểu diễn đàn tranh

KHÔNG BIẾT RÕ đờn tranh có từ thời nào, xuất xứ từ đâu, ở Trung Hoa hay ở quốc gia nào du nhập vào nước ta, mà hiện nay giới nữ rất nhiều người sử dụng cây đờn này rất thành thạo.
            Người ta không biết khi xưa Nhạc Cung Đình ở Huế có nữ nhạc sĩ đờn tranh hay không, chớ riêng về cải lương và đờn ca tài tử thì từ thập niên 1950 trở về trước, các tỉnh Nam Việt, từ miền Đông đến miền Tây, mà xưa kia gọi là Nam Kỳ Lục Tỉnh đã không thấy nữ nhạc sĩ đờn tranh ở những nơi sinh hoạt đình đám. Nếu có chăng thì cũng rất ít ở đâu đó mà thôi, không thấy xuất hiện sinh hoạt rộng rãi nên kể như không có vậy. Vì thế mà người ta hiểu rằng thời đó chỉ có nam nhân là nhạc sĩ đờn tranh mà thôi.
            Người được coi như đứng đầu sử dụng cây đờn tranh là nhạc trưởng Hai Biểu, ông từng có mặt trong các nhóm đờn ca tài tử từ thập niên 1930, được hãng dĩa Asia mời thu trong bộ dĩa Gươm Lục Yểm. Ai nghe qua bộ dĩa này cũng đều nhận thấy ngón đờn tranh tuyệt diệu của ông.
            Đáng phục nhứt là lúc Đắc Kỷ (danh ca Tư Bé đóng vai Đắc Kỷ) thất trận bị Dương Tiễn rượt đuổi nà. Đắc Kỷ thét lên “kìa kìa Dương Tiễn như mây bay gió cuốn...” Tức thì tiếng đờn tranh của Hai Biểu cũng réo rắc dồn dập giống như rượt đuổi theo vậy. Và bắt đầu Đắc Kỷ ca bài Kim Tiền Bản...
            Cũng như lúc Đắc Kỷ bị trói ở pháp trường, Dương Tiễn vâng lệnh Nguyên Soái Khương Tử Nha ra hành hình, thì Đắc Kỷ cất tiếng than. Lúc ấy tiếng đờn tranh chậm rãi dạo lên với âm điệu trầm lặng, não nề, ai nghe mà không xót xa ở cảnh này chớ. Dù cho ai đó có thù ghét Hồ Ly Tinh bao nhiêu chăng nữa, mà hiện thân là Đắc Kỷ, thì lúc đó cũng cảm thương nàng mà xóa bỏ tội cho nàng. Tóm lại theo giới đờn ca tài tử thời đó thì bộ dĩa Gươm Lục Yểm nếu không có tiếng đờn tranh của Hai Biểu thì không có hay đến thế. Và từ đó về sau chẳng nhạc sĩ đờn tranh nào sánh được với Hai Biểu, bất cứ buổi sinh hoạt đờn ca nào người ta cũng gọi Hai Biểu là nhạc trưởng.
            Đến đầu thập niên 1960 trường Quốc Gia Âm Nhạc có lớp dạy đờn tranh, nữ khóa sinh theo học rất nhiều, cứ hết lớp này ra trường, lại tiếp tục đào tạo lớp kế tiếp. Và từ đó trong nhân gian rất nhiều nữ nhạc sĩ đờn tranh xuất hiện.


Cô giáo Vương Hạnh trong một buổi biểu diễn đàn tranh

Những chuỗi âm thanh kỳ ảo
            Năm 1992 ở trong nước có mở cuộc thi dành riêng cho nữ nhạc sĩ đờn tranh, với gần 300 cô gái trẻ tham dự. Mười cô được vào chung kết, và kết quả sau cùng 3 cô trúng giải tính từ cao xuống thấp:
            Cô Nguyễn Hải Phượng ở Sài Gòn trúng giải nhất; cô Đặng Tố Như ở Hà Nội trúng giải nhì; cô Đặng Ngọc Tố Trinh ở Sài Gòn trúng giải ba. Cuộc thi khá lớn này, nữ nhạc sĩ đờn tranh tài hoa đất Thăng Long, cô Nguyễn Hòa Bình đã bỏ chuyến đi biểu diễn ở Thái Lan, cô vào Nam tham gia Hội Đồng Giám Khảo.
            Trong đêm khai mạc cuộc thi, cô giám khảo Nguyễn Hòa Bình trong chiếc áo dài màu đen thêu bông vàng, óng ánh kim tuyến. Với dáng vấp đài các, cô xuất hiện với cây đàn tranh trông đẹp như bức tranh Tố Nữ. Dưới bàn tay uyển chuyển bay bướm, lã lướt trên dây dàn, buông ra những chuỗi âm thanh kỳ ảo, làm xao xuyến người nghe. Và tiếp sau đây xin nói sơ qua về thành tích, sự nghiệp cầm ca của 3 nữ thí sinh trúng giải.
            Trước hết nói về nữ thí sinh đờn tranh trúng giải nhì là cô gái Hà Nội tên Đặng Tố Như. Cô theo học đàn tranh từ năm lên 9 tuổi, từ trước chưa từng tham gia bất cứ cuộc thi nào.
            Tố Như cũng thường theo mẹ dự lễ Hội Truyền Thống, và tham gia vào các giàn nhạc lễ Văn Miếu, Quốc Tử Giám, tại Hội Lim (hát quan họ); tại Đền Hùng. Từ đó tiếng đàn tranh của Tố Như có dịp xâm nhập vào thực tế. Trong cuộc thi tài năng trẻ, Tố Như lọt vào vòng chung kết, sau hai vòng thi khá hồi hộp. Đêm chung kết Tố Như đờn 3 bài: Điệu chèo cổ, điệu dân ca (rặng tre trước gió) và bài dân ca Hoa Anh Đào.
            Nữ thí sinh đờn tranh trúng giải ba Nguyễn Ngọc Tố Trinh. Tiếng đàn tuyệt vời của Tố Trinh như bay bổng, như thiết tha gợi nhớ. Tố Trinh từng tham gia vào Lễ Hội Việt Nam tổ chức tại Vương Quốc Thái Lan.
            Với tiếng đàn trong sáng vui tươi, hồn nhiên, có lúc trầm lắng miên man, đậm đà tình tự dân tộc. Tố Trinh luôn được sự tán thưởng nồng nhiệt. Báo chí Thái Lan đã dành cột báo lớn giới thiệu tài năng Tố Trinh.
            Với chiếc đàn tranh sở trường, Tố Trinh đã mang lại cho khán giả Thái Lan 10 buổi say sưa theo những khúc nhạc dân ca cổ truyền của 3 miền đất nước Việt Nam.
            Nhất là khúc nhạc biến tấu điệu Lý Ngựa Ô, một tác phẩm khí nhạc đầy sáng tạo của nhạc sĩ Ngọc Châu qua tài biểu diễn của Tố Trinh. Nhiều tràng pháo tay cổ võ nổ ra liên tục, khi tiếng nhạc ngựa dồn dập phát ra từ đôi tay mang vòng lục lạc, hài hòa với tiếng đàn chập chùng, vó câu muôn dặm, tạo ra bởi các thế đập dây, kéo dây khỏi thành đàn hết sức độc đáo, gây thú vị cho người xem.
            Và tiếp đây nói về nữ nhạc sĩ trúng giải nhứt Nguyễn Hải Phượng. Hơn một năm sau, được nhiều hội đoàn mời sang Pháp, phối hợp cùng Giáo Sư Trần Văn Khê biểu diễn nhạc truyền thống Việt Nam tại Paris và các tỉnh lớn.
            Sau phần giới thiệu nghệ sĩ đàn tranh Hải Phượng, Giáo Sư Trần Văn Khê nói qua về nguồn gốc, công dụng của nhạc khí dân tộc Việt Nam, đặc điểm một số làn điệu trong nhạc Việt.
            Mở đầu chương trình, Giáo Sư Trần Văn Khê và Hải Phượng, tuổi đời cách nhau nửa thế kỷ, một chững chạc hùng hồn, một e lệ khép nép đã chung dòng chảy âm thanh về nguồn cội truyền thống Việt Nam, song tấu đàn kìm và tranh các bài: Lưu Thủy Trường, Xang Xừ Líu, Ngũ Đối Hạ; liên khúc Nam Xuân, Nam Ai, Đảo Ngũ Cung và 3 câu Vọng Cổ.
            Tiếp đến, riêng phần Hải Phượng, với các ngón đờn độc đáo điêu luyện, đã mê hoặc người nghe vào âm thanh áo não của lớp đầu bài Tứ Đại Oán.
            Sau phần nhạc truyền thống là các sáng tác mang âm hưởng dân tộc dành cho đờn tranh mang tên “Tình Ca Quê Hương” của Phạm Thúy Hoan, đã được Hải Phượng thể hiện hết sức tinh tế, đậm đà bản sắc dân tộc. Sau đêm nhạc truyền thống Việt Nam, nhiều khán giả Pháp đã nói rằng họ không ngỡ ngàng xa lạ, mà rất thích thú khi nghe nhạc cổ điển Việt Nam. Số thính giả Việt Kiều sành điệu ca cầm, không ngớt ngợi khen. Bên cạnh đó, giới văn nghệ Pháp còn cho rằng Hải Phượng, với tuổi trẻ đó, tài nghệ đó, thực xứng đáng là “tiếng đờn” đại diện cho thế hệ tài năng trẻ Việt Nam.
            Riêng ở hải ngoại nhiều năm nay cũng có các lớp dạy đờn tranh liên tục. Miền Bắc California có lớp của Giáo Sư Ngọc Dung đào tạo khá nhiều nữ học viên, và ở miền Nam California cũng có lớp dạy của Giáo Sư Nguyễn Châu. Đồng thời cũng nghe nói các Tiểu Bang khác, Âu châu, Canada, Úc châu cũng có lớp đào tạo nhạc sĩ đờn tranh.
            Mặt khác các nữ nhạc sĩ tốt nghiệp ra trường lại mở lớp dạy tại nhà, mà học viên gần như hầu hết là nữ. Do vậy mà càng về sau nữ nhạc sĩ đờn tranh càng nhiều hơn. Có thể nói là quá nhiều, “hằng hà sa số” ở đâu cũng có vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 04/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-04110-nm-04102015221049.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #129 vào: 16/08/2018, 23:26:40 »
Bài vọng cổ “Dưới Bóng Thùy Dương”

Ðầu thập niên 1960 hãng dĩa hát Việt Hải thu thanh tiếng ca Minh Cảnh, phát hành dĩa vọng cổ sáu câu “Dưới Bóng Thùy Dương” của soạn giả Viễn Châu. Ðồng thời cuốn bài ca nhỏ cũng được in ấn phát hành phổ biến cùng khắp. Nhờ đó mà dân đờn ca tài tử có thêm một bài vọng cổ sáu câu đưa vào sinh hoạt.

Hình bìa cuốn bài ca nhỏ “Dưới Bóng Thùy Dương”

ÐÃ LÀ BÀI CA của Viễn Châu sáng tác là luôn nói về một chuyện tình, mà tình tiết câu chuyện “Dưới Bóng Thùy Dương” là do chàng trai kể lại chuyện năm nào đó ở Xóm Lưới, Cồn Ông (có lẽ là địa danh gần biển của tỉnh Trà Vinh), chàng ta và cô gái yêu nhau, ngồi bên cội thùy dương cùng nhìn chiếc cầu treo lắt lẻo, ngắm ánh trăng lên thề nguyền…
            Hai năm qua gót chân lãng tử rày đây mai đó, rồi giờ đây quay trở lại thì cảnh vật vẫn còn đó, mà cô gái đã đi lấy chồng tự bao giờ. Chàng ta hờn trách cô gái: “Trời đã ban cho em một nhan sắc yêu kiều lộng lẫy, sao không ban cho em tấm lòng son sắt thủy chung…”
            Bài này không như những bài ca khác, có cô gái xuất hiện nói lời dễ thương chung tình, rồi sau đó thì lại thốt lên câu phũ phàng, bội phản. Ðây cũng là lối viết bố cục cho một câu chuyện của bài vọng cổ để thu hút người nghe.
            Chung quy thì các bài đều giống nhau ở chỗ cô gái đóng vai tình phụ. Tuy vậy bài ca vẫn được hoan nghênh, vì bởi dân đờn ca tài tử chẳng quan tâm nhiều đến tình tiết câu chuyện, mà chỉ thích lời văn dễ ca, dễ xuống hò xuống xề cho đúng nhịp là chính yếu. Tâm lý chung của người tài tử là vậy.
            Tôi còn nhớ một lần đi ca đờn ca tài tử ở vùng Bà Ðiểm, Hóc Môn, địa danh được thiên hạ gọi “18 thôn vườn trầu” ở Sài Gòn, nơi nổi tiếng có nhiều trầu cau và nhiều cô gái đẹp, nhờ cả ngày ở trong bóng mát chăm sóc vườn trầu, nên các cô có làn da trắng trẻo nõn nà…
            Hôm bữa đó trong số khán giả ngồi nghe, có rất nhiều cô gái thôn vườn trầu. Thế rồi một anh tài tử ca lên bài “Dưới Bóng Thùy Dương”, giọng ca khá hay vừa dứt câu thứ sáu thì có một cô gái lên tiếng: “Ðáng đời! Ai biểu bỏ đi xa, đâu có cô nào chờ đợi lâu như vậy”. Cả nhóm cười rần lên, và có một cô khác yêu cầu chàng tài tử ca trở lại để thưởng thức thêm lần nữa, và chàng tài tử đã chiều ý.
            Bài của Viễn Châu thường là thế, cô gái có chồng, chàng trai than thở. Rập khuôn! Cái mà người ta thắc mắc là tại sao chỉ có cô gái phụ tình, chớ không có chàng trai nào phụ bạc, đây có phải là tâm trạng của người viết bài ca?
            Hiện nay tôi vẫn còn lưu giữ cuốn bài ca “Dưới Bóng Thùy Dương”, và xin đăng trọn bài giúp tài tử giai nhân học lại nếu như quên bài ca. Cũng như giúp giới trẻ có bài vọng cổ sáu câu học thuộc lòng.

            Nói lối:
                        Dưới bóng thùy dương nghe gió lộng,
                        Sóng cồn ồ ạt réo ngoài khơi,
                        Khi đầu non hé mảnh trăng côi,
                        Thấp thoáng bóng một người trên bãi vắng.

            1) Em ôi, anh trở lại Xóm Lưới Cồn Ông giữa mùa lá rụng, dãy thùy dương rũ bóng bên… gành, khi giọt sương khuya còn ướt động trên cành. Anh về đây lần cuối để cố tìm những kỷ niệm ngày xanh, lòng anh tê tái nghẹn ngào khi dừng bước trên bãi vắng cô liêu, sóng bạc đầu ngoài cửa biển nhấp nhô, khắp bốn bề ngàn lau điểm trắng.

            2) Gió bâng khuâng đưa hơi hoa ngàn cỏ dại anh tưởng mùi hương phấn em còn vương lại bên mình, em sang ngang hát khúc đoạn ly tình. (Thơ) Thiếp tâm chính tợ trường giang thủy, nhứt dạ trùng lang đáo phúc châu… ngày anh ra đi em đã thốt lên mấy lời thơ rồi đôi mắt nhung đen như bao la mối sầu diệu vợi, mà nay thì những tiếng thệ nguyền em đã gởi về đâu.


            3) Thơ
                        Ngày em đi lấy chồng sang,
                        Là ngày anh xé khăn tang cho đời,
                        Em đi pháo nổ ngập trời,
                        Anh về suốt mấy đêm dài nhớ nhung.

            Em ôi, sóng biển mênh mông, gió ngàn vi vút cũng chẳng rạt rào bằng sóng gió lòng anh, hỡi ôi cây da cũ còn đây mà người bạn tình chung năm nào gắn bó đã lìa quê cất bước theo chồng.


            4) Thơ
                        Ngập ngừng bước qua đường xưa lối cũ,
                        Một mình anh ủ rũ dưới trăng tà,
                        Mơ hồ như một bóng ma,
                        Về đây giữa tiếng canh gà gáy vang.

            Em ôi, không phải anh tiếc rẻ một mối cựu tình dang dở, nhưng về đến đây là để nhìn cho tận mặt kẻ vong… thề, đáng lẽ anh phải đi không hẹn ngày về. Nhưng sau những lúc mỏi mê dấu chân lãng tử một buổi chiều bỗng xúc động hồn quê: Anh mới tìm đến nơi đôi ta hò hẹn năm xưa, nhìn cây cỏ tiêu sơ, nhìn chiếc cầu tre lắt lẻo mà ta thường ngồi ngắm ánh trăng xanh sau đỉnh núi nay đã phủ lên mấy lớp rêu mờ.

            5) Ðóa hoa xưa đã về tay kẻ khác, bóng hình xưa đã gởi trọn cho người, anh biết tìm đâu cho thấy một nụ cười trên đôi môi của người em sầu mộng mà độ nào đã chiếm lấy hồn tôi. Em ôi trời đã ban cho em một nhan sắc yêu kiều lộng lẫy, sao không ban cho em một tấm lòng chung thủy để cho kẻ nam nhi khỏi lụy vì tình.

            6) Gió nhẹ thổi qua đêm tàn giá lạnh, chiếc áo phong trần đã ướt đẫm sương khuya, anh tưởng chừng như những giọt lệ của em năm nào khi tựa bên vai anh đã thốt lên những tiếng yêu đương qua mấy lời nức nở, nhưng buồn thay người yêu còn đâu nữa, họa chăng chỉ còn mấy dòng dư lệ của một chàng trai đã lỡ giấc mộng đầu. Giấc mộng năm xưa anh với em đã đắp xây dưới bóng thùy dương trong một đêm trăng rụng, nay em đã phụ mối duyên tình, anh đứng một mình biết than thở với ai đây.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2016


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/bai-vong-co-duoi-bong-thuy-duong/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #130 vào: 18/08/2018, 23:42:48 »
Chuyện quan trấn thủ Trấn Biên-Biên Hòa có liên quan đến hát bội

Trên con đường mở rộng bờ cõi, ông cha của ta di cư từ phương Bắc xuống tận bờ biển phía Nam, mang theo phong tục tập quán, lễ nghi, đạo đức về cách ăn nếp ở, nói chung là văn hóa dân tộc. Âm nhạc và sân khấu, hai bộ môn nghệ thuật gắn liền với những khai hoang, lập ấp từ ngày đầu định canh, định cư hầu mang lại nguồn vui, nguồn an ủi, nối tiếp từ đời nay sang đời khác.

Một cảnh Đặng Đại Độ tự mang gông cùm về Kinh Đô Phú Xuân chịu tội

KHÔNG CÓ sử sách nào ghi chép cụ thể nghệ thuật hát bội đã xuất hiện ở vùng phía Nam đất nước chúng ta vào thời điểm nào, cũng như cách sinh hoạt, biểu diễn tổ chức nhân sự ra sao. Sách sử xưa chép: Vào thời Chúa Nguyễn thứ tám, tức chúa Hiếu Vương, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1739-1765), người con trai thứ chín của chúa tên là Hiển bị bệnh chết. Chúa đau xót cực độ, bèn hạ lệnh cấm dân gian không được hát xướng trăm ngày. Hết thời gian buồn thảm ấy, chúa sai hai quan thị vệ vào đất Trấn Biên (tức Biên Hòa ngày nay), bắt “con hát” (hát bội) đem về kinh đô Phú Xuân, để biểu diễn cho chúa tiêu khiển. (Khi xưa người ta gọi đào kép là con hát.)
            Hình như cậy thế cậy quyền, hách dịch là thuộc tính của những kẻ máu mặt dựa kề chúa thượng, cho nên hai tên thị vệ này dùng quyền lực nhà vua áp bức con hát đến thậm tệ. Lúc bấy giờ Đặng Đại Độ làm quan trấn thủ Biên Hòa, nghe tin thị vệ áp bức dân chúng, trước hết là con hát với chứng cớ rành rành, ông căm tức, bèn ra lệnh bắt hai tên thị vệ ấy xử chém tại chợ Biên Hòa. Xử xong, ông bàn giao công việc cho các quan ở lại chăm lo việc nước việc dân. Còn phần ông mặc quần áo bà ba đeo gông cùm, đi chân đất từ Trấn Biên về Kinh Đô Phú Xuân chịu tội. Con ông can rằng:
            – Chừng nào về đến kinh đô sẽ hay, còn bây giờ cha nên lên võng mà đi, chuyện gì phải hành hạ mình như thế?
            Ông trả lời:
            – Nếu vậy sao gọi rằng có tội?
            Thế rồi ông thản nhiên làm theo ý mình. Từ Biên Hòa đến Kinh Đô Phú Xuân, ông phải đi suốt một tháng ròng với thân phận một tội nhân.
            May thay, lúc đến kinh đô gặp Chúa Nguyễn Phúc Khoát, ông được nghe chúa phán rằng:
            – Ông có tội gì đâu mà phải đày đọa mình đến khổ sở như vậy? Chỉ vì ta buồn phiền mệt nhọc, nên mới bảo chúng nó vào tìm đôi đứa con hát về kinh giúp ta tiêu khiển, không dè chúng lại lợi dụng mệnh lệnh của ta mà giở thói làm càn nên ông buộc phải giết chúng là phải.
            Chúa bèn hạ lệnh mở trói và mời Đặng Đại Độ hội triều cùng bàn việc dân việc nước. Câu chuyện nói lên dũng khí của người dám đương đầu với cái ác, kiên quyết xử tội những kẻ có tội dù kẻ ấy là hoàng thân quốc thích. Dũng khí ấy là dũng khí của một tôi trung, tự trói mình về kinh chịu tội khi biết mình có tội. Dũng khí ấy còn là dũng khí của bậc chính nhân quân tử, không lệ thuộc quyền cao chức trọng cũng không tham miếng đỉnh chung.
            Qua sự kiện trên, chúng ta thấy sân khấu hát bội truyền bá vào đất Trấn Biên khá sớm. Ngay từ đầu thế kỷ 18, nơi đây đã xuất hiện con hát tài năng, nổi tiếng đến mức chúa Nguyễn Phúc Khoát phải cho thị vệ kêu ra Kinh Đô Phú Xuân (trong lúc kinh kỳ không thiếu tài năng).
            Đến năm 1813, Tả Quân Lê Văn Duyệt là người sanh quán tại Định Tường, rất thích hát bội. Lãnh chức Tổng Trấn Gia Định Thành. Hát bội vốn đã đâm chồi nẩy lộc từ trước đó ít lâu, bây giờ như diều gặp gió, phát dương sinh sắc bởi bàn tay chăm sóc của chính quan tổng trấn. Chẳng những tổng trấn có riêng một đội hát bội, mà các quan xa gần thuộc trấn Gia Định đều tranh nhau lập đoàn hát bội, nuôi con hát trong hàng ngũ của quân đội. Thế là nghệ thuật hát bội đã lập cứ địa vững chắc tại Gia Định.
            Nghệ thuật hát bội ở đất này có dịp gần gũi với hí kịch Trung Quốc của người Minh Hương, và với nghệ thuật hát của người Cao Miên, lần lần lớn lên và trau chuốt cho mình cái thân ngày nay vậy!
            Thời thập niên 1940, dài cho đến những năm đầu của thập niên 1950 gánh hát bội Tấn Thành Ban, một trong những đoàn danh tiếng thời bấy giờ do ông Huyện Trần Khiêm Cung làm bầu gánh. Hằng năm cứ sau Tết Nguyên Đán từ Tháng hai Âm Lịch trở đi là gánh hát bội của ông Bầu Cung liên tục bán giàn, được mời đi hát cúng Kỳ Yên ở các đình làng quanh tỉnh Gia Định, và đôi khi cũng đi hát ở Biên Hòa, Thủ Dầu Một, hoặc quê hương của ông ở Cần Đước, Long An.
            Khi hết lễ cúng Kỳ Yên rồi thì gánh Bầu Cung đi hát quanh quẩn vùng Chợ Lớn, Tân Định, Bà Chiểu… và thường hay về nằm ở tại đình Cầu Muối ở đường Cô Giang. Tuy khán giả không đông đảo như hát ở đình làng, nhưng đêm nào cũng có số khán giả mua vé, nếu không lời thì cũng đủ sở hụi chi phí trả lương đào kép, công nhân.
            Thời điểm này khán giả đi coi hát bội còn nhiều, đào kép có thể sống với nghề được. Thế nhưng, đến gần cuối thập niên 1950 thì số người coi hát bội ngày một giảm sút. Và theo như nhận định của những người am tường vấn đề thì số khán giả lớn tuổi lần lượt trước sau qua đời, hoặc già yếu không đến rạp được. Còn khán giả trẻ thì phần lớn đã chuyển sang đi coi cải lương, để thưởng thức tuồng tích mới lạ, thay vì coi hát bội chỉ hát đi hát lại mãi những tuồng dựa theo truyện Tàu.
            Về các vở truyền thống trên sân khấu hát bội, các nhân vật nam ít được khán giả quan tâm hơn các nhân vật nữ. Từ hơn hai thập niên nay, người xem không chỉ có tầm nhìn khái quát về nghệ thuật hát bội, mà còn đặc biệt theo dõi diễn tiến của câu chuyện, tài diễn xuất của diễn viên, tính cách của từng vai, số phận của từng nhân vật. Nhân vật được nhiều người chú ý và đề cập đến phải kể là Hồ Nguyệt Cô (tuồng Tiết Giao đoạt ngọc). Một con chồn tu mấy trăm năm đắc đạo thành người (mà là một phụ nữ đẹp), kết duyên cùng tướng Võ Tam Tư. Trong một dịp thay chồng ra trận, nàng say mê một tướng trẻ đẹp trai (Tiết Giao), trao tình cùng hắn rồi bị Tiết Giao đoạt mất ngọc người.
            Không còn vật quí giá đó, nàng trở về dinh, vô cùng đau khổ và hối hận khi toàn thân đi vào thoái hóa, để trở về cốt chồn. Võ Tam Tư phát hiện con vật tanh hôi, vung gươm giết chết! Nền luân lý của thời xưa đã khe khắt như thế. Trong đạo phu thê, người vợ bị buộc phải tuyệt đối trung thành với chồng, nếu một phút lỗi lẫm, kể như đánh mất vật quí nhất của mình rồi sẽ bị coi như con vật, không ai thương tiếc. Hồ Nguyệt Cô là một nhân vật tà phái, một người có tội bị trừng phạt, nhưng không ít người xem (nhất là phụ nữ) đã âm thầm xót xa thương cảm cho số phận nàng. Xưa nay, bao nhiêu cô đào hát bội đã thành công qua vai này.


NGÀNH MAI
Tháng 04/2015


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/Chuyen-quan-tran-thu-Tran-Bien-Bien-Hoa-co-lien-quan-den-hat-boi-0056/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #131 vào: 25/08/2018, 23:20:10 »
Ngày Rằm Tháng Bảy ở chùa và nghĩa trang nghệ sĩ

Nếu như tính theo Âm Lịch thì ngày Rằm Tháng Bảy là một trong ba ngày lễ lớn trong năm, gồm Thượng Ngươn (Tháng Giêng), Trung Ngươn (Tháng Bảy) và Hạ Ngươn (Tháng Mười). Ðặc biệt Rằm Tháng Bảy lại kèm theo “ngày báo hiếu” dựa theo sự tích Mục Liên-Thanh Ðề, và cũng đồng thời là “tháng cúng cô hồn” được phổ biến rộng rãi trong nhân gian, hầu như ai cũng biết. Do nhiều sự kiện quan trọng ở Tháng Bảy trong lịch sử văn hóa dân tộc này, mà thiên hạ đi cúng chùa rất đông, và đây là tập tục đã có từ lâu đời trong xã hội Việt Nam.

Quang cảnh chùa Nghệ Sĩ trong một ngày Rằm Tháng Bảy


Ở ĐÂY tôi không nói về lịch sử ngày Rằm Tháng Bảy được ghi lại rất nhiều trong kinh sách của Phật giáo, có liên quan đến tiền thân Ðức Mục Kiền Liên Bồ Tát. Và cũng không đề cập đến câu chuyện 12 cửa ngục Âm Phủ, với hình ảnh ghê sợ mà người gây nên tội ở trần gian, khi thác xuống phải chịu hình phạt. Mà trong bài viết này tôi chỉ đề cập đến sự thể, hình ảnh diễn ra ở chùa và nghĩa trang nghệ sĩ Gò Vấp trong ngày Rằm Tháng Bảy hằng năm mà thôi!
            Từ 60 năm trước ở vùng Hạnh Thông Tây, Gò Vấp, có một miếng đất rộng khoảng tám ngàn thước vuông gần như bỏ hoang, không có nhà cửa người dân, bởi quanh đây là thành lính, căn cứ quân sự của quân đội viễn chinh Pháp. Mảnh đất được các nghệ sĩ tiền phong Phùng Há, Năm Châu đại diện Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu mua để xây cất ngôi chùa, và phần lớn đất đai còn lại thì làm nghĩa trang nghệ sĩ.
            Việc cúng kiếng ở chùa Nghệ Sĩ cũng giống như nhiều ngôi chùa khác ở trong vùng, nhưng có sự khác biệt là khách thập phương ngoài việc cúng chùa thắp hương lạy Phật, họ còn đi… tảo mộ ở nghĩa trang cạnh bên, đặc biệt ngày Rằm Tháng Bảy thì quá rõ, người đi thăm mồ mả quá đông đã vô tình tạo nên một nét đặc thù mà có lẽ chỉ ở đây mới có.
            Không riêng gì người nghệ sĩ đi cúng chùa, rồi sẵn đó tấp qua thăm mộ những người cùng tổ nghiệp, mà những người tuy không phải nghệ sĩ nhưng lại có liên quan đến các cô đào, anh kép quá cố đang nằm ở nghĩa trang, thì họ cũng nhân ngày Rằm Tháng Bảy vừa đi cúng chùa, vừa vào đây thăm mộ luôn. Lại có cả những khán giả cải lương sẵn dịp cũng vào thăm mộ thần tượng của họ lúc sinh tiền, như trường hợp nghệ sĩ Thanh Nga, rất nhiều người bao quanh ngôi mộ của cô nhân ngày Rằm Tháng Bảy này.
            Từ giữa thập niên 1960 trở về trước người đi cúng chùa không nhiều, và người viếng mộ nghệ sĩ cũng lưa thưa, nhưng dần dần về sau thì nghệ sĩ cải lương già yếu cứ nối tiếp nhau vào đây “nghỉ xả hơi dài hạn”, thì con số người đi cúng chùa đông đảo hơn nhiều, và số người đi viếng nghĩa trang cũng tăng theo.
            Rồi kể từ đầu thập niên 1990 trở về sau thì cảnh tượng ngày Rằm Tháng Bảy ở chùa nghệ sĩ vô cùng tấp nập, thiên hạ chen chúc nhau vào chùa lạy Phật cầu nguyện. Sau đó thì một số không ít đã kéo nhau ra nghĩa trang cạnh bên để thắp hương cho các ngôi mộ, với ước vọng gì đó không hiểu, mà người nằm ở đây có hiểu được chăng để chứng cho tấm lòng của họ? Rất khó mà có câu trả lời vậy!
            Khói hương nghi ngút trong ngày này, hình như ngôi mộ nào cũng được đốt nhang. Do bởi ngoài việc thắp hương ngôi mộ chính thức mà họ đi viếng, người ta cũng không tiếc gì bó nhang đang cháy còn lại, nên đã cắm luôn cho những ngôi mộ xung quanh.
            Tiếng chào nhau, tiếng hỏi thăm, kể cả tiếng mời gọi coi bói coi tay, hòa lẫn tiếng rao hàng inh ỏi của mấy bà mấy chị bán nhang, bán giấy tiền vàng bạc, mỗi người một tiếng đã tạo nên cảnh ồn ào náo nhiệt trong khu đất nghĩa trang này. “Mộ nghệ sĩ A ở đâu, mả nghệ sĩ B ở chỗ nào?” Ðó là các câu hỏi mà người chưa biết ngôi mộ mình muốn đi thăm nằm ở đâu. Các em nhỏ ở đây khá rành, các em biết rõ và sẵn sàng hướng dẫn. Dĩ nhiên khi khách xác định ngôi mộ thì các em được cho tiền, nhiều ít tùy theo sự hào hiệp của khách. Ngày Rằm Tháng Bảy cũng là dịp để các người bán nhang dạo quanh chùa kiếm khá nhiều tiền, bởi có ai đi thăm mộ mà không đốt nhang?
            Tóm lại cảnh tượng ngày Rằm Tháng Bảy ở chùa Nghệ Sĩ đã vô tình biến thành ngày “Lễ Thanh Minh” hằng năm của giới nghệ sĩ, cùng các thành phần liên hệ. Và trong câu thơ tuyệt tác của đại thi hào Nguyễn Du nếu như đem áp dụng ở đây thì sẽ là “Thanh Minh nhằm tiết Tháng… Bảy”.
            Hồi mấy chục năm trước đây, đâu có ai nghĩ đến việc sau này giới cải lương qua đời nhanh quá, đưa đến tình trạng quá tải, đất nghĩa trang nghệ sĩ ngày càng thu hẹp. Bởi vậy ban quản trị nghĩa trang Gò Vấp đã có quy trình lấy cốt những ngôi mộ lâu ngày, hỏa thiêu xong đặt vào trong cái am, để có đất trống chôn người khác.
            Thế nhưng, “con người tính không qua trời tính”, công việc đang tiến hành thì chính quyền ra lệnh cấm không cho chôn cất ở đây nữa, vì ô nhiễm môi trường, bởi vùng đất Gò Vấp không còn là đất hoang như hồi mới mua, mà đã trở thành đô thị.
            Như vậy coi như quy trình lấy cốt thiêu đốt đặt vô am đã đương nhiên dừng lại, bởi không cho chôn nữa thì lấy cốt lên làm chi cho tốn kém chớ!


NGÀNH MAI
Tháng 08/2015


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/Ngay-Ram-Thang-Bay-o-chua-va-nghia-trang-nghe-si-3833/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #132 vào: 30/08/2018, 22:56:09 »
Bài vọng cổ “Sương Khói Quê Nghèo” của soạn giả Viễn Châu

Năm 1961, Bộ Thông Tin cấp giấy phép cho phát hành dĩa hát và xuất bản cuốn bài ca mang tên “Sương Khói Quê Nghèo” của soạn giả Viễn Châu. Bài ca được phổ biến cùng khắp và giới đờn ca tài tử thời đó cũng có người ca.

Bìa cuốn bài ca “Sương Khói Quê Nghèo” xuất bản năm 1961

THEO LỜI soạn giả Viễn Châu thì ông viết bài vọng cổ sáu câu này từ khoảng năm 1949-1950 và do ở thời Pháp thuộc nên giấu đi không dám phổ biến.
            Mãi đến cuối năm 1954 chiến tranh chấm dứt, ông trao cho các hãng dĩa nhưng không hãng dĩa nào chịu thu thanh phát hành. Người ta nói lúc bấy giờ Viễn Châu còn là nhạc sĩ Bảy Bá chưa nổi tiếng thành ra không ai dám bỏ tiền ra làm, chưa biết có thành công hay lỗ vốn.
            Bài vọng cổ “Sương Khói Quê Nghèo” dựng lên bức tranh thời loạn lạc, với những cảnh khói lửa đao binh, làng quê xơ xác dưới gót giày của quân xâm lược, với cảnh người dân tản cư trên những chiếc thuyền rời quê hương đi lánh nạn.
            Lúc trò chuyện với nghệ sĩ Năm Châu, soạn giả Kiên Giang nói rằng bài vọng cổ sáu câu “Sương Khói Quê Nghèo” là tâm trạng của Viễn Châu, là người trong cuộc nên lời văn sống thực, gợi cho người nghe hình ảnh đất nước quê hương trong cuộc chiến, mà hầu như ai ai cũng biết.
            Lời văn của Viễn Châu rất dễ ca, sắp chữ của ông rất dễ xuống hò. Ðặc biệt những bài ca sau này ông thường sử dụng những vần thơ, dân đờn ca tài tử thích nhất là bốn câu thơ lục bát áp dụng cho tám nhịp chót, nên người ca dứt câu không bị rớt.
            Viễn Châu là người tỉnh Trà Vinh gần biển, thể hiện lên ở đầu câu nói lối: “Quê hương tôi ở miền nước mặn…” ông tản cư lên Sài Gòn và vào nghiệp cầm ca, nên câu thứ tư gần như nói rõ: “Năm tháng trôi đi giữa kinh kỳ hoa lệ…” sau đó trở thành thầy đờn với tên nhạc sĩ Bảy Bá, trước khi viết bài ca, viết tuồng cải lương để rồi nổi danh với cái tên “Viễn Châu”.
            Nhằm đem đến cho tài tử giai nhân những bài vọng cổ sáu câu, kỳ này chúng tôi xin đăng trọn bài “Sương Khói Quê Nghèo” của Viễn Châu.

            Nói lối:
                        Quê hương tôi ở miền nước mặn,
                        Tháng ngày quen mưa nắng giữa đồng xanh,
                        Bao năm qua vui sống yên lành,
                        Bỗng đổ nát tan tành vì chiến họa.


            1) Nhà nội tôi lấy lá làm phên, lấy tre bện cửa, phải oằn oại trong khói lửa mấy năm… dài, tôi nhớ một mùa Thu lá rụng mái hiên ngoài, giữa gian nhà cũ kỹ có tiếng thạch sùng chắt lưỡi thâu canh. Nằm bên cạnh bà nội tôi, lắng nghe tiếng súng nổ vang, tôi thì mới lên tám tuổi đầu, còn nội tôi thì mái tóc xanh đã lần hồi điểm trắng.

            2) Cha tôi một người trai hiền hậu đã thác đi sau trận đánh quân thù, nội tôi khi hay tin con đã đáp nợ sơn hà, hai tay già bỗng dưng run rẩy, đôi mắt hiền từ giọt lệ trào dâng. Người mới ôm chặt lấy tôi và khe khẽ nói rằng, cháu ôi cha cháu từ đây không còn về với nội, nỡ để cho tre già đành chịu khóc măng.

            3) Ðêm ấy khi trăng non vừa khuất bóng, tàu chuối xanh ướt đẫm giọt sương khuya, trên chiếc thuyền tản cư tôi ngồi co ro sau lái, mắt nhìn lên ngôi nhà cũ kỹ lòng bồi hồi mến tiếc nơi cắt rún chôn nhau. Nội tôi an ủi tôi rằng, nội già rồi có chết cũng không sao, cháu còn trẻ ráng làm nên sự nghiệp. Con thuyền từ từ tách bến, tiếng mái chèo khuấy nước nhặt khoan, trong ánh dương tôi còn nhìn thấy nội tôi đang run run trong làn áo mỏng, lệ sầu rơi trên đôi má khô gầy.

             Thơ:
                        Mười lăm năm đăng đẳng,
                        Ðầu xanh vướng nợ nần
                        Mười lăm năm bấy nhiều lần
                        Xuân qua mấy độ phong trần mấy nơi.


            4) Năm tháng trôi đi giữa kinh kỳ hoa lệ, tôi đã thành ra một kẻ giang… hồ, tôi đã mượn mấy vần thơ để gợi sự mong chờ, tôi đã phổ vào trong tiếng nhạc những cung đàn khóc gió than mây. Có biết đâu trong khi ấy quê nội tôi vẫn rền than dưới gót giày của quân xâm lược và hãi hùng trong súng trận kinh hoàng.

            5) Mười năm qua khi thanh bình đã trở lại tôi quay gót về đây để thăm viếng quê nghèo, gió thổi rung rinh trên mặt nước ao bèo, nhà nội tôi còn đâu nữa chỉ thấy trước thềm cỏ mọc rêu phong. Một nắm đất vàng quạnh quẽ đìu hiu nằm dưới tàn cây cổ thọ, đó là nơi yên nghỉ của nội tôi sau những năm vất vả cơ hàn.

            6) Hò… hơ trách ai gây cảnh đao binh để cho quê nội tan tành xác xơ… tiếng ai hò văng vẳng như nỗi cảm hoài người thất thổ ly gia, mười năm qua mấy cuộc biển dâu, cảnh tang tóc khiến quê nghèo thêm xơ xác, tôi lắng đếm từng chiếc lá rơi lạnh lùng trên mặt nước như những hồn oan của mấy vạn dân lành. Hỡi ôi những chiến sĩ vô danh, những tâm hồn yêu nước, đã ngã gục giữa sa trường để bảo tồn mảnh đất quê hương.


NGÀNH MAI
Tháng 12/2016


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/bai-vong-co-suong-khoi-que-ngheo-cua-soan-gia-vien-chau/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #133 vào: 01/09/2018, 22:59:30 »
“Làng Nghệ Sĩ” trong Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương

Từ mấy năm nay vẫn thường nghe nói ở tỉnh Bình Dương có một nghĩa trang khá rộng, rất đẹp, trông giống như công viên Tao Đàn, tức cũng có cây xanh bóng mát. Ngoài ra cũng được nghe kể lại rằng nghĩa trang Bình Dương còn làm từ thiện, xã hội giúp đỡ nghệ sĩ nghèo, hoàn cảnh đời sống bấp bênh. Cũng như Ban quản trị chủ trương tặng huyệt mộ cho các văn nhân, thi sĩ từng làm đẹp cho đời, đóng góp tài sản văn hóa quí giá cho văn học nghệ thuật nước nhà. Thế mà khi tuổi về chiều thì cuộc đời lại chẳng đẹp, hoàn cảnh lại khó khăn, chật vật, như nhà văn Sơn Nam, thi sĩ Kiên-Giang Hà Huy Hà, soạn giả Nhị Kiều…

Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương

Chủ trương tặng huyệt mộ cho các văn nhân
            Có thể nói rằng chỉ duy nhứt nghĩa trang Bình Dương là thực hiện vấn đề này. Do đó mà tôi cũng muốn một lần đi thăm để thấy tận mắt những gì mà mình đã nghe qua.
            Hiện nay nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp đã không còn được phép chôn cất nữa, nên nhiều nghệ sĩ tuổi xế chiều họ đã tìm cho mình một nơi nào đó để gởi thân xác, khi linh hồn về với Tổ nghiệp sân khấu. Và một địa điểm mà rất nhiều nghệ sĩ về già đã nhắm vào, đó là Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương, bởi nơi ấy đã có một số nghệ sĩ đang an nghỉ.
            Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương rộng 200 mẫu tây, tọa lạc tại vùng Lai Khê – Bến Cát, cạnh Quốc Lộ 13 đường đi Hớn Quản, Lộc Ninh, nơi mà trước đây vốn là vườn cao su ngút ngàn của tỉnh Thủ Dầu Một.
            Được sự gợi ý của giáo sư soạn giả Đinh Bằng Phi, nguyên giáo sư dạy môn hát bội trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ Sài Gòn, và sự hướng dẫn của cựu ký giả kịch trường Tần Nguyên, tôi đã có dịp đến Bình Dương (anh Tần Nguyên hiện đang là thành viên Ban Chấp Hành, Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc). Đó là một ngày của tháng Năm 2015, chúng tôi tất cả 7 người cùng đi trên chiếc xe nhỏ Suzuki bốn bánh, khởi hành sáng sớm từ chợ Bến Thành và đến nơi mới khoảng hơn 8 giờ sáng.
            Lúc mặt trời vừa lên khỏi đỉnh đầu những ngọn cây xanh mờ ở đằng xa, và những giọt sương đêm trên tàng cây cao su vừa ráo, thì chiếc xe chúng tôi đã dừng lại trước cổng chính. Trong lúc anh Tần Nguyên xuống xe hỏi thăm gì đó, thì tôi cũng rời xe quan sát một vòng cảnh quan nơi đây. Tôi đã có ấn tượng ngay từ lúc đầu đặt chân đến đây, bởi không có vẻ gì là một nghĩa địa, một nhị tì như thường thấy, mà trước mắt là một công viên cây lá xanh tươi rợp bóng mát, đúng như tên gọi “hoa viên nghĩa trang”.
            Hình ảnh đầu tiên trước tầm mắt tôi là những cây cột trụ hình tròn, đứng sừng sững cao ngất ở hai bên cổng chính. Những cột trụ có hình dáng trụ đồng vững chắc, được xây với ý nghĩa gì tôi không biết. Thế nhưng, tôi lại tưởng tượng là “Cổng Trời” được mô tả trong truyện trong sách. Có cảm tưởng như vậy, chớ ở thế gian có ai đâu rõ được cổng trời ra sao? Chỉ nội cổng chính đối với tôi là cả một sự uy nghiêm, ẩn chứa những gì thiêng liêng nơi ấy.
            Nhìn thẳng vào bên trong thấy hiện lên một hình tượng cánh sen cao ngất như những tượng đài dựng ở các công viên. Lúc đầu tôi cũng không biết hình tượng ấy mang ý nghĩa gì, nhưng sau đó thì được biết hình tượng cánh sen đứng phía trước công trình kiến trúc đồ sộ kia là “Vĩnh Hằng Đài”, biểu tượng chính của hoa viên nghĩa trang, mang ý nghĩa âm dương hòa hợp, hội tụ ngũ hành: Kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Thì ra cảm tưởng lúc đầu của tôi cũng chẳng sai mấy, bởi nếu như nói về vô vi, thì một khi ai đó đi về cõi vĩnh hằng ắt phải bước vô cổng trời.

Mộ phần soạn giả Nhị Kiều trong Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương

“Đường Nghệ Sĩ”
            Xe chạy vào trong, rẽ phải một đoạn là cơ sở điều hành, ban đại diện làm việc tại đây tiếp đón, và đưa chúng tôi đi thăm viếng từng khu trong hoa viên nghĩa trang bằng chiếc xe chạy điện êm ái. Xe dừng lại ngay đầu một con đường có phiến đá lớn dựng lên đề chữ “Đường Nghệ Sĩ”.
            Nhìn thấy trước tiên là mộ phần của nhà văn Sơn Nam, một nhà văn lừng danh tên tuổi đã để lại cho đời, cho kho tàng văn học nhiều tác phẩm quí giá nói về cảnh vật, cùng nếp sống con người miền Nam Việt Nam. Sinh thời nhà văn Sơn Nam rất nghèo, đời sống đạm bạc, cư ngụ trong mái nhà chật hẹp. Thế mà khi qua đời ông lại được nằm ở một vị trí đặc biệt, tốt nhất trong khu đất nghệ sĩ. Coi như Ban quản trị hoa viên nghĩa trang Bình Dương đã thay mặt nền văn học nước nhà, thay mặt người đời đãi ngộ Sơn Nam bằng cách dành cho ông một nơi an nghỉ cao quí, trang trọng.
            Kế bên mộ phần của nhà văn Sơn Nam là nơi yên giấc của thi sĩ Kiên-Giang Hà Huy Hà, tác giả bài thơ “Hoa tím thôi cài lên mái tóc”. Kiên Giang cũng đồng thời là soạn giả tuồng cải lương “Áo Cưới Trước Cổng Chùa”, vở hát dựng lên bối cảnh vùng đất Hà Tiên từ thời xa xưa với chùa Phù Dung, với bến Tô Châu…
            Nằm dọc theo đường nghệ sĩ là mộ phần của nữ soạn giả Nhị Kiều, soạn giả thường trực đoàn Thanh Minh Thanh Nga, mộ của nhạc sĩ Tư Còn… Nghệ sĩ Thanh Sang tuy chưa về với Tổ nghiệp cải lương, cũng đã chọn cho mình sinh phần trong khu đất nghệ sĩ.
            Theo tôi thì khu đất nghệ sĩ này về lâu về dài sẽ có nhiều văn nghệ sĩ được về an nghỉ nơi đây, nên tôi đề nghị tạm gọi là “Làng Nghệ Sĩ”, với ý muốn các văn nghệ sĩ khi đã chồn chơn mỏi gối thì nên chuẩn bị về hội ngộ với bạn bè, với đàn anh đàn chị đang nằm ở đây. Vả lại nếu đã có “đường nghệ sĩ” được đặt tên thì phải dẫn vào “làng nghệ sĩ” thì mới đúng, mới hợp tình và hợp cảnh.
            Vượt qua nhiều con đường, thăm viếng nhiều công trình, tôi nhận thấy cái đặc biệt của nghĩa trang là trừ mảnh đất đào huyệt mộ chôn cất, còn phần lớn cây cối thì vẫn giữ nguyên, khiến người ta khó thể hình dung được đây là nghĩa trang, nơi an nghỉ của những người lìa xa cõi thế. Đồng thời cũng đã vô tình giữ được môi trường trong sạch, không như nhiều nghĩa địa nắng cháy như thiêu như đốt vào buổi trưa.
            Sau hết đại diện ban điều hành mời chúng tôi vào phòng trưng bày kỷ vật văn nghệ sĩ, nơi đây cũng là phòng khách để thuyết trình thêm những vấn đề của nghĩa trang, đề án trong tương lai, và tiễn chúng tôi ra về lúc 11 giờ trưa.
            Tóm lại, Hoa Viên Nghĩa Trang Bình Dương là cả một công trình văn hóa đậm nét mỹ thuật, một cuốn sách cũng diễn tả chưa đủ, chưa hết. Trong buổi nói chuyện này chỉ mới đề cập đến khu đất đường nghệ sĩ mà thôi. Dĩ nhiên là còn rất nhiều sự kiện, hình ảnh khác cần nêu lên, như phần mộ của nhạc sĩ Phạm Duy, Sơn Nam có cả ruộng lúa tượng trưng đang thực hiện.
            Từ giữa thập niên 1950 đến nay, kể từ ngày Má Bảy Phùng Há và nghệ sĩ Năm Châu mua được mảnh đất ở Gò Vấp làm nghĩa trang nghệ sĩ, thì giới này ai cũng nghĩ rằng mai kia có về với Tổ nghiệp thì đã có nơi chôn cất không phải lo. Thật vậy, rất nhiều nghệ sĩ đã nằm ở nghĩa trang nghệ sĩ ở Gò Vấp, trong đó có Út Trà Ôn, Ba Khuê, Thanh Hương, Thanh Nga và chồng (ông Đổng Lân), cặp soạn giả tài danh Hà Triều – Hoa Phượng cũng “nhập cư” ở đây. Nói chung nếu ai ra đi trước cũng đều có chỗ nằm đàng hoàng.
            Thế nhưng, theo thời gian vật đổi sao dời, vùng Gò Vấp trở thành “đô thị hóa”, do vấn đề ô nhiễm môi trường, các nghĩa địa trong đô thành còn bị giải tỏa làm nơi sinh hoạt công cộng, thì đâu có vấn đề chôn cất ở đất đô thị. Giới nghệ sĩ đã không còn đất chôn, nên phải chạy lung tung tìm trước cho mình một chỗ an nghỉ như trường hợp nghệ sĩ Thanh Sang, còn sống sờ sờ đó mà vẫn phải lo trước cho mình một sinh phần ở nghĩa trang Bình Dương. Trường hợp soạn giả giáo sư Đinh Bằng Phi cũng thế, hiện ông cũng đang lo cho mình có chỗ nằm gần Thanh Sang.
            Có điều là đất nghĩa trang Gò Vấp là đất của nghệ sĩ do Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu đứng tên và quản lý, nên từ lâu nay việc chôn cất nghệ sĩ khá dễ dàng. Còn đất nghĩa trang Bình Dương là của công ty cổ phần đầu tư xây dựng Chánh Phú Hòa, có nghĩa đất tư, người ta chỉ dành một khu cho giới nghệ sĩ, và xét từng trường hợp mà cho. Dĩ nhiên người nghệ sĩ phải hội đủ điều kiện nào đó do công ty đặt ra thì mới được, chớ không hẳn nghệ sĩ là được chôn như cuộc đất ở Gò Vấp.
            Theo như tôi được biết thì nghĩa trang Bình Dương liên lạc chặt chẽ với Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu để nắm vững tình trạng của nghệ sĩ mới quyết định cho chôn mà không thu tiền đất. Đồng thời lại còn giúp cho việc ma chay làm đám, di chuyển an táng, xây mộ như trường hợp nhà văn Sơn Nam, thi sĩ Kiên Giang, soạn giả Nhị Kiều là các người nổi tiếng. Còn như nghệ sĩ không nổi tiếng thì chẳng biết có được như vậy không?
            Vấn đề tôi sẽ tìm hiểu thêm để phục vụ quý khán thính giả của đài.


NGÀNH MAI
Tháng 06/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0627-nm-06262015235946.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #134 vào: 08/09/2018, 22:51:25 »
Giàn nhạc tài tử cải lương hiếm thấy nữ nhạc sĩ đờn Kìm

Từ lâu lắm rồi, kể từ khi đờn ca tài tử xuất hiện mang lại giòng nhạc độc đáo cho người dân đi khẩn hoang lập ấp, thì cây đờn Kìm cũng đã hiện diện từ những buổi đờn ca đầu tiên ấy.

Nhạc sư Ba Tu

Đờn Kìm hay đờn nguyệt
            Theo như truyền khẩu trong giới đờn ca tài tử, thì từ thời xa xưa, sau một ngày vất vả cơ cực, mưa nắng giãi dầu với mảnh vườn thửa ruộng, mà thời gian qua họ đã đổ mồ hôi bỏ công khai phá.
            Rồi sau mỗi buổi cơm chiều, khi màn đêm buông xuống, hoặc những hôm mưa dầm gió bấc, tầm tả suốt ngày không thể ra nương rẫy được, thì những người đồng điệu ở các mái chòi tranh lân cận nhau, họ hội tụ lại bên chung rượu chén trà, giải sầu bằng tiếng đờn câu ca, và cây đờn Kìm luôn đồng hành sát cánh với họ từ lúc vùng đất còn hoang sơ dẫy đầy nguy hiểm ấy.
            Đờn Kìm còn gọi là đờn nguyệt, hay nguyệt cầm cũng thế, có lẽ do hình dáng tròn như mặt trăng. Trải qua bao nhiêu biến đổi thăng trầm, cây đờn Kìm vẫn được trọng dụng, vẫn đứng đầu trong dàn nhạc tài tử hay cải lương. Cây đờn Kìm được coi như là thầy của các loại đờn khác, nên nhạc sĩ thủ cây đờn Kìm luôn giữ song lang (có nơi gọi là song loan, không biết chữ nào đúng). Nó còn được đánh giá uy tín qua tuổi tác của người đờn, ví dụ như trong một cuộc chơi, có nhiều người biết đờn Kìm thì các người trẻ phải trân trọng trao cây Kìm cho người cao tuổi nhứt ở cuộc chơi đó.
            Vị trí của cây đờn Kìm quan trọng như thế nào trong giới đều đã rõ, thế nhưng, có một thời gian khá dài cây đờn Kìm bị lu mờ trước cây lục huyền cầm, tức cây đờn guitar phím lõm. Có lẽ đây là thời kỳ mà danh cầm Văn Vỹ, với ngón đờn lục huyền cầm quá bay bướm, tung hoành làng cổ nhạc, nên đa số người học đờn đã chạy theo cây lục huyền cầm, mà không nhìn thấy được âm điệu kỳ diệu tiềm ẩn của cây đờn Kìm. Người ta có thể nói trong suốt gần 5 thập niên, từ 1940 đến 1990 nếu như 10 người học đờn thì đã có đến 8, 9 người học cây lục huyền cầm. Số còn lại nếu tính tỷ lệ thì chưa được một người học đờn Kìm. Thành thử ra các danh cầm đờn Kìm lão luyện đã thua buồn, rút lui vào bóng tối, trừ một số ít vì cuộc sống nên bám lấy giàn nhạc cải lương, hoặc thỉnh thoảng mới có mặt trong các nhóm đờn ca tài tử do nể nang nào đó.
            Nhạc sĩ Ba Tu có lúc than rằng “không thấy tay đờn Kìm nào cho ngon hoặc trẻ có triển vọng, còn lại mấy ông già ngón cũng lụt rồi”! Và ông cũng lo cho tương lai, sự tồn tại của đờn Kìm: “Lâu rồi không ai chịu học đờn Kìm, bây giờ lớp trẻ cứ chạy theo nhạc trẻ, còn cổ nhạc thì cứ guitar phím lõm và sến, khi lớp tụi tôi qua đời rồi không biết ai là kế thừa”.
            Tuy vậy, từ hơn hai thập niên nay phong trào đờn ca tài tử dấy lên, nở rộ ở khắp các tỉnh từ miền Tây đến miền Đông, con số người trẻ tham gia nhiều hơn, thì cây đờn Kìm được chú trọng. Các câu lạc bộ, những nhóm đờn ca tài tử đã mời các nhạc sĩ đờn kìm “lão làng” từ lâu nay ẩn dật cùng tham gia.
            Được mời trịnh trọng, các vị cũng vui vẻ xuất hiện giữ song lang như truyền thống xưa giờ. Có nghĩa người thủ cây đờn Kìm luôn là nhạc trưởng, điều khiển giàn nhạc, dẫn dắt các nhạc sĩ khác tuân theo, vì đó là “luật bất thành văn”. Do đó có thêm nhiều người trẻ học đờn Kìm, mà lại có cả giới nữ gia nhập vào giòng nhạc với cây đờn Kìm.
            Nếu như nữ nhạc sĩ đờn Tranh “hằng hà sa số”, thì nữ nhạc sĩ đờn Kìm lại hiếm thấy! Tôi còn nhớ khi xưa khoảng 1960, ông Hai Can, nhạc sĩ đờn Kìm đã nói một câu rất đáng cho người ta suy nghĩ, ông nói: “Ai đó đốt đuốc đi tìm khắp nơi, khắp chốn, nếu như thấy cô gái nào, chị đàn bà nào ôm cây đờn Kìm trong giàn cổ nhạc, thì thua cái gì ông cũng chịu hết!” Câu nói của ông nếu không đúng hẳn thì cũng gần đúng vậy, bởi từ năm 1960 trở về trước đã không có nữ nhạc sĩ đờn Kìm nào xuất hiện.


Nghệ nhân Kiều My

Nữ nhạc sĩ đờn Kìm đầu tiên
            Nhưng rồi thì cũng có thôi! Giữa thập niên 1980 một cô gái trẻ ở miền Tây học đờn Kìm và đã thành công, có chỗ đứng trong hàng nhạc sĩ. Cô Ngọc Cầm ở Bạc Liêu, năm lên 9 tuổi đã biết ôm cây đờn Kìm so dây nắn phím theo sự chỉ dẫn của người cha, một nhạc sĩ đờn Kìm ở địa phương, và đến năm 15 tuổi thì cô đã rành rẽ 20 bài bản Tổ. Có lần liên hoan đờn ca tài tử Đồng Bằng Sông Cửu Long tổ chức tại Cần Thơ, Ngọc Cầm tham gia độc tấu cây đờn Kìm và đã đoạt giải.
            Tài năng được xác định, nữ nhạc sĩ Ngọc Cầm được đoàn cải lương Hương Tràm (Cà Mau) mời thủ cây đờn Kìm trong giàn nhạc của gánh hát. Vài năm sau cô về tỉnh nhà Bạc Liêu, xuất hiện trong giàn cổ nhạc đoàn cải lương Cao Văn Lầu. Điều ấy đã cho thấy tiếng đờn Kìm của người nữ cũng sánh với nam nhân, và thừa kế những danh cầm trong làng cổ nhạc dân tộc.
            Theo như người sành điệu thưởng thức làn điệu, âm thanh tiếng đờn, họ có nhận định ngón đờn Kìm của nữ có khác với nam. Thông thường nhạc sĩ nam đờn Kìm thì âm thanh phát ra như dồn dập, âm sắc có lúc như bay bổng, có lúc thì quá chìm sâu. Người nam nhạc sĩ đờn Kìm họ bấm phím mạnh, chắc chắn và nhanh, chữ đờn như liền nhau. Còn nhạc sĩ nữ đờn Kìm (cô Ngọc Cầm) thì chậm rãi, ngón tay lướt nhẹ trên hai sợi dây đàn một cách dịu dàng. Tiếng tơ phát ra âm điệu thâm trầm, sâu lắng, êm nhẹ truyền cảm như ru hồn người mộ điệu.
            Người nữ thứ hai đờn Kìm là cô Kiều My ở Bình Dương, miền Đông, có cha là nhạc sĩ Tư Thía, và ông ngoại là nhạc sĩ Tư Bộ, cả hai ông đều là nhạc sĩ đờn Kìm nổi tiếng ở vùng đất Bình Dương.
            Thuở nhỏ Kiều My đã lén lấy cây đờn Kìm của thân phụ và tự khảy theo những động tác mà cô đã nhìn thấy trên phím đàn của cha cô, vừa đờn vừa thả hồn theo tiếng tơ đồng trầm bổng nhặt khoan. Thấy con gái say mê và muốn học đờn, ông đã truyền đạt ngón đờn cho con, và ông ngoại cũng đã truyền những bí quyết cây đờn Kìm, cộng với sự cố công học tập và rèn luyện, nên thời gian vài năm thì Kiều My với tiếng đờn Kìm nỉ non réo rắt từng đêm, từng đêm… đã thực sự đi vào hồn người mộ điệu.
            Kiều My được chọn tham dự thi đờn ca tài tử, và đã danh dự nhận giải nhì toàn quốc, và đại diện giới nghệ sĩ Bình Dương đi biểu diễn ở Hà Nội.
            Thời gian sau Kiều My là nhạc sĩ đờn Kìm thường trực cho chương trình “Đêm Biển Hẹn” của đài phát thanh, đài truyền hình tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Nữ nhạc sĩ Kiều My đã thành công trên bước đường nghệ thuật vậy.
            Tóm lại theo sự tìm hiểu của tôi thì trong làng cổ nhạc miền Nam, tính chung vừa đờn ca tài tử, vừa giàn nhạc cải lương chỉ có hai nữ nhạc sĩ đờn Kìm: Cô Ngọc Cầm ở Bạc Liêu, miền Tây và cô Kiều My ở Bình Dương, miền Đông. Ngoài hai cô nói trên, không nghe thấy nữ nhạc sĩ đờn Kìm nào nữa xuất hiện.
            Trong giới “cầm kỳ thi họa” xưa nay không biết bao nhiêu là nữ sĩ nổi danh, nhưng riêng ở loại nhạc cụ tài tử cải lương, nữ mà chơi đờn Kìm thì quá hiếm. Cô Ngọc Cầm cũng như Kiều My đều mơ ước có nhiều bạn nữ biết đờn Kìm để các cô có bạn đồng hành, và sẵn sàng truyền nghề cho bất cứ bạn nữ nào yêu thích đờn Kìm.


NGÀNH MAI
Tháng 04/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-nm-04172015211550.html