Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 13911 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #135 vào: 13/09/2018, 22:55:36 »
Bài vọng cổ “Phận Làm Dâu” của soạn giả Quy Sắc

Năm 1962 hãng dĩa hát Hồng Hoa được Bộ Thông Tin cấp giấy phép cho phát hành dĩa vọng cổ và cuốn bài ca “Phận Làm Dâu” của soạn giả Quy Sắc, do đào thương Út Bạch Lan ca thu thanh.

Bìa cuốn bài ca “Phận Làm Dâu”

ĐÂY LÀ BÀI vọng cổ nói lên bối cảnh xã hội của thời xưa, cái thời mà người phụ nữ phải chịu áp chế, vô vàn cay đắng khi về làm dâu cho nhà chồng. Một số giai nhân tài tử đã học thuộc lòng và đưa vào sinh hoạt, gây ngậm ngùi cho bà con thưởng thức.
            Một nhóm đờn ca tài tử nọ có một cô ca lên bài “Phận Làm Dâu”, khi ca đến câu 4: “… Có lần lỡ dại phân bua, canh đâu có mặn cơm nào có khô…” tức thì bà mẹ chồng hất chiếc mâm xuống đất, và còn ném chiếc dĩa vào đầu tuôn máu.
            Khán giả hôm bữa ấy rất đông, có một cô lên tiếng: “Gặp tôi mà chê thì tôi cho chiếc mâm bay đi, khỏi ăn luôn. Còn ném dĩa hả, tôi lấy dĩa liệng trở lại, liệng luôn ba cái cho biết tay”.
            Thế là mọi người cùng cười rần lên.
            Dưới đây là bài vọng cổ “Phận Làm Dâu”.

            Nhạc:
                        Phận làm dâu,
                        Đi lên đường đắng cay,
                        Qua nhịp cầu cay đắng,
                        Có ai may mắn,
                        Được mẹ chồng thương yêu,
                        Phận làm dâu,
                        Bao nhiêu niềm đớn đau,
                        Bao nhiêu niềm đau đớn,
                        Bắc thang lên hỏi Ngọc Hoàng,
                        Xem có bao nhiêu mẹ chồng,
                        Trên thế gian hết lòng thương mến con dâu.


            1) Thân làm đò ngang phải ngửa nghiêng bởi sóng triều bão tố, thân làm dâu phải khổ bởi thương… chồng, vì thương chồng nên nhịn nhục cả với em chồng.
                        Em chồng xéo xắc chị dâu,
                        Dầu rằng cũng phận má đào như em.
            Mẹ chồng em vô cùng khe khắt không bao giờ rộng lượng với con dâu. Tội cho em tuổi hãy còn son, vì thương mà phải chịu biết bao nhiêu điều cay đắng.


            2) Mỗi lần mẹ em vào bếp, là mỗi lần em bấn loạn cả tâm hồn, giọng nói của mẹ em nặng nề đay nghiến mãi không ngừng. Quá run sợ phách hồn như tiêu tán, mẹ bảo trao vật này em mang đến vật kia. Vì thế sóng gió lại tràn ngập lên đầu dâu trẻ, cha mẹ ruột em bị mắng nhiếc lây.
                        Sanh con để gả cho người,
                        Bị người mắng nhiếc, trời già thấm chăng.


            Nói lối:
                        Khổ sở nhứt là giờ dâng cơm nước,
                        Em phập phồng từ miếng nuốt của mẹ và em chồng,
                        Không bao giờ được khen tiếng ngọt ngon,
                        Chỉ nghe cá mặn, cơm khô, canh lạt.


            4) Em lặng thinh nghe mẹ giằng mâm xán bát mặc cho nước mắt tuôn… trào, em cố nuốt mà sao chẳng hạ nghẹn ngào.
                        Có lần lỡ dại phân bua,
                        Canh đâu có mặn, cơm nào có khô…
                        Câu phân bua của em chưa dứt,
                        Thì mâm cơm đã xuống đất rồi,
                        Em khum nhặt mảnh bát rơi,
                        Như nhặt những mảnh tả tơi của đời.


            5) Em chồng đốt thêm lời tức giận, mẹ ném vào đầu em chiếc dĩa máu tuôn dòng… Máu lệ ôm nhau thông cảm, lăn vào miệng chất mặn nồng.
                        Ước chi lúc ấy có chồng,
                        Băng giùm vết máu, cho lòng bớt đau,
                        Nhớ hồi thuở ở chung cha mẹ rầy,
                        Giận lấy chẳng thèm cơm,
                        Đợi cha mẹ dỗ mới dùng,
                        Bây giờ chỉ biết cắn răng lệ tràn.


            6) Chồng em chẳng buồn han hỏi, dù thấy vết máu trên lằn băng.
                        Con em khóc, em vội bồng cho nó bú,
                        Miệng thơm tho nút sữa thấy mà thương,
                        Mắt ngây thơ đen nhánh ngó mắt em,
                        Tay búp măng quơ quơ cằm, má mẹ,
                        Như nó lau giùm em tủi nhục cay nồng,
                        Con như thế không thương sao được,
                        Vậy mà họ bảo rằng em chẳng thương con,
                        Mỗi lần con té, cả nhà,
                        Xúm nhau nguyền rủa em là sát nhân.


NGÀNH MAI
Tháng 12/2016


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/bai-vong-co-phan-lam-dau-cua-soan-gia-quy-sac/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #136 vào: 15/09/2018, 23:03:29 »
Tiết Giao đoạt Ngọc hay là Hồ Nguyệt Cô hóa cáo

Trong bộ truyện Đường Chinh Tây của Trung Hoa, có nhiều đoạn khá hay được đưa lên sân khấu ca kịch, đã từng làm say mê khán giả mộ điệu cải lương, đến nỗi khi nói đến thì tình tiết câu chuyện hầu như ai cũng biết. Và mỗi một đoạn hay ấy lại là một huyền thoại, đậm nét tình cảm gây ấn tượng mạnh mẽ lâu dài cho những ai từng xem qua.

Đĩa tuồng Tiết Giao đoạt Ngọc

“Hồ Nguyệt Cô hóa chồn cáo”
            Nếu là khán giả sành điệu cải lương, chắc ai cũng ít ra một lần được xem vở hát Phan Lê Huê giả chết, hay là Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê, hoặc là Thần Nữ dâng Ngũ Linh Kỳ. Và cũng trong Đường Chinh Tây lại còn có thêm câu chuyện “Hồ Nguyệt Cô hóa chồn cáo” đầy tính chất hoang đường, huyền thoại, cũng đồng thời là câu chuyện diễm tình đưa đến sự đớn đau, hối tiếc.
            Nếu nói về tình tiết câu chuyện thì quá dài, nên ở đây xin tóm tắt những cái hay, cái mới lạ mà sân khấu ca kịch đã dựng lên, diễn tả những cái hay, cái lạ ấy.
            Hồ Nguyệt Cô nguyên là một con chồn cáo, bởi dày công ngàn năm tu luyện nên được trở thành tiên. Thành tiên rồi Hồ Nguyệt Cô lại có khát vọng làm người, được thành một cô gái đẹp tuyệt trần, tài phép vô song.
            Vừa lột xác thành người còn ngơ ngác trước bao điều mới lạ của loài người, trong đó hấp dẫn nhất là sự mới lạ của yêu đương hạnh phúc. Gặp Võ Tam Tư đang chinh chiến bị bại trận, và sau vài câu trao đổi nàng đã vướng ngay vào vòng phu thê, lấy Võ Tam Tư làm chồng, để rồi thay thế Võ Tam Tư chống lại đạo binh của quan quân Nhà Đường.
            Lúc bấy giờ tướng của Nhà Đường là Tiết Giao ra trận, giao chiến với Hồ Nguyệt Cô. Vừa thấy chàng trai dũng cảm, trẻ đẹp thì Nguyệt Cô mê mệt, say đắm ngay chàng tướng trẻ Tiết Giao đối thủ của nàng, quên rằng mình đang có chồng là Võ Tam Tư.
            Trên đường đời quả thật trớ trêu, thay vì giao chiến, nàng chỉ đỡ ngọn thương của Tiết Giao, vừa đỡ vừa trêu ghẹo, cố tình đưa chàng ta vào con đường tình ái. Nhưng tướng giặc trai trẻ chẳng hề xúc động trước sắc đẹp của Nguyệt Cô, nên cứ đánh mãi liền tay mà không nói năng tiếng nào, để đáp trả những lời trêu ghẹo.
            Về phần Nguyệt Cô thì phép thuật cao cường, nếu nàng ra tay thật sự thì Tiết Giao không thể chịu nổi, phải bỏ mạng sa trường. Nhưng khốn nỗi, Nguyệt Cô đã say mê đắm đuối viên tướng giặc trẻ này. Nàng đánh đỡ lại một cách vừa phải, để chàng ta chạy đi mà thôi, và nàng đuổi theo.
            Tiết Giao chạy đến cánh rừng nọ, Nguyệt Cô bay ra phía trước ngăn lại và chủ động trêu ghẹo. Rồi thì Tiết Giao không thể nào cưỡng lại sự thèm muốn của Nguyệt Cô.
            Như đã nói, Nguyệt Cô nguyên là con chồn cáo tu luyện thành tiên, rồi thành người, do đó trong tình ái nàng vô cùng mãnh liệt. Sau cuộc giao hoan từ trưa đến chiều tối, Nguyệt Cô thu hút hết tinh túy nam nhi của Tiết Giao, chàng ta chỉ còn cái xác không hồn, nằm bất động như một thây ma. Nguyệt Cô về dinh báo cáo với chồng rằng Tiết Giao đã chết, và Võ Tam Tư mở tiệc mừng chiến thắng.
            Trong lúc Hồ Nguyệt Cô và Võ Tam Tư vui say yến tiệc, thì ngoài cánh rừng Tiết Giao được cứu sống. Số là sư phụ của Tiết Giao là Tiên ông Lý Tịnh đang ở tận non cao, nhìn trời mây rõ biết Tiết Giao lâm nạn nên đằng vân xuống cứu, bỏ viên linh đơn vào miệng Tiết Giao. Linh đơn quả thật thần dược, vừa cứu sống, lại vừa bồi bổ tráng dương cho Tiết Giao sung sức gấp trăm lần. Tiên ông căn dặn Tiết Giao nên làm như vầy, như vầy…
            Căn dặn xong tiên ông đằng vân về núi. Thế là sáng hôm sau Tiết Giao ra trận đến khiêu chiến. Quân vào báo, Võ Tam Tư và Hồ Nguyệt Cô lên mặt thành thấy rõ Tiết Giao chưa chết. Võ Tam Tư mới day qua hỏi Nguyệt Cô rằng:
            – Vậy chớ tướng nào đang ở ngoài thành, hôm qua nàng nói rằng nó chết rồi mà!
            Nguyệt Cô chẳng biết trả lời thế nào đây với chồng, bởi chiều hôm qua chính mắt nàng thấy Tiết Giao đã là cái xác chết rồi nên mới bỏ ra về.
            Khó trả lời sao cho xuôi, nàng xin ra trận tiếp tục, và hứa với Võ Tam Tư hôm nay sẽ mang đầu Tiết Giao về nạp cho chồng.
            Ra trận hai bên gặp nhau, Nguyệt Cô sắp sửa dùng phép thuật để nhanh chóng hạ thủ Tiết Giao thì chàng ta kêu lên:
            – Bớ Nguyệt Cô! Sao em đành dứt tơ tình…
            Và rồi thì Nguyệt Cô bị sa vào lưới tình ngay, nghĩ rằng tướng trẻ đã yêu nàng thật sự.
            Lúc ấy Nguyệt Cô thấy Võ Tam Tư đang ở trên mặt thành theo dõi trận chiến, nàng nói:
            – Để thiếp giả bại, và chàng hãy rượt theo…
            Nói xong Nguyệt Cô bỏ chạy và Tiết Giao đuổi theo, chạy đến cánh rừng hôm qua, và cánh rừng này thêm một lần nữa chứng kiến cuộc giao hoan tái diễn…
            Nhờ uống linh đơn của Tiên nên hôm nay Tiết Giao dõng mãnh trong hoan lạc, chàng ta sung sức lạ thường, lên yên từ sáng đến xế chiều vẫn chưa xuống ngựa.
            Hồ Nguyệt Cô tu luyện ngàn năm, có được viên ngọc, nhờ ngọc nầy giữ được kiếp người, nếu như để mất viên ngọc thì phải trở lại kiếp chồn cáo. Ở đây có một tình tiết còn chưa rõ lắm, viên ngọc đã rơi vào tay Tiết Giao như thế nào? Phải chăng trong lúc ăn nằm với nhau, Tiết Giao giả vờ đau bụng, lăn lộn kêu la, rên xiết thảm thiết. Nguyệt Cô cuống quít lên thì Tiết Giao nói rằng trước đây chàng ta cũng có một lần lâm vướng căn bệnh nguy này, nhưng may nhờ có một vị Tiên cô nhả viên ngọc người ra thoa vào bụng nên khỏi bệnh.
            Nguyệt Cô quá yêu thương sợ rằng Tiết Giao chết mất, nên nhả viên ngọc ra đưa cho chàng ta trị bệnh. Tiết Giao giựt lấy viên ngọc và bỏ chạy…
            Thứ hai là trong cơn ân ái đê mê, má kề má, môi kề môi Tiết Giao đã làm cho Nguyệt Cô phải “lè” ngọc ra, và chàng ta ngậm ngay viên ngọc nuốt vào bụng.
            Mất viên ngọc, Nguyệt Cô coi như mất hết phép thuật, uể oải chạy theo kêu trong tuyệt vọng:
            – Tiết Giao trả ngọc cho ta! Trả ngọc cho ta…
            Nếu như ngày nay hãng bào chế dược phẩm nào lấy được công thức viên thuốc linh đơn của Tiên Ông Lý Tịnh cho Tiết Giao uống. Sản xuất tung ra thị trường thì chắc chắn hốt bạc.



Lỗi lầm gì?
            Nhân vật Hồ Nguyệt Cô trong tấn bi kịch hóa thành chồn cáo ấy, đã mắc những lỗi lầm gì? Ít nhất là hai cái lỗi lầm: Thứ nhất, nàng đã đi lấy một người mà mình không yêu, không thích. Nhưng rồi sau này trên đường đời trớ trêu, nàng mới vỡ nhẽ ra rằng, có nhiều anh chàng còn hay hơn chồng mình, ít nhất là về sự đẹp trai mà Tiết Giao là một thí dụ. Không thỏa mãn trong yêu đương với Võ Tam Tư, thì Nguyệt Cô càng yêu Tiết Giao. Yêu đến mê si thèm muốn. Thứ nhì là sự nhẹ dạ cả tin, một chỗ yếu của phái đẹp mà những anh đàn ông hèn thường nhè vào đó mà lừa họ.
            Cái hèn của Tiết Giao là ở chỗ đánh không nổi một phụ nữ thì quay ra lừa, mà lại lừa vào cái giờ phút êm đẹp nhất, thiêng liêng nhất, là giờ phút ân ái.
            Hồ Nguyệt Cô đã bị mất ngọc, trên đường trở về nhà, đau đớn thấy mình sắp hóa thành cáo. Hồ Nguyệt Cô trách gọi Tiết Giao: “Tiết Giao, trả ngọc! Tiết Giao, trả ngọc cho ta!”
            Đi coi hát thấy lúc này sân khấu trống không. Chỉ có âm nhạc và diễn xuất của diễn viên, diễn tả những giây phút lạ lùng, kinh khiếp: giây phút con người hóa thành con cáo.
            Hồ Nguyệt Cô luyến tiếc cõi người, cái cõi người mà mình đang phải từ giã. Nỗi đau đớn tinh thần hòa lẫn với sự biến đổi bắt đầu bồn chồn diễn ra trong thân xác. Hồ Nguyệt Cô kêu lên những lời ai oán, có ai nghe mà không cảm thương nàng.
            Những bước chân của nàng không phải là bước đi trở về nhà, bước đi trên đường đất cụ thể, mà là bước đi về cõi âm u thăm thẳm cho kiếp chồn cáo, một nỗi hoang vắng ghê rợn dâng lên trong tâm trí Hồ Nguyệt Cô.
            Hồ Nguyệt Cô đau đớn nhìn lại cái thân trước, hình sau, cái thân người đã sắp hóa thành hình cáo của mình. Hồ Nguyệt Cô xót xa nhìn lại quang cảnh cũ, cái quang cảnh đã in dấu kỷ niệm làm người của mình, cái quang cảnh chỉ có ý nghĩa khi mình được làm người, với cuộc sống con người.
            Và tiếp đó là một đoạn diễn xuất ghê gớm và kỳ ảo, xúc động và khủng khiếp. Cái khó nhất của diễn viên đóng đoạn này là phải diễn tả được một Hồ Nguyệt Cô chập chờn giữa người và cáo, giữa tính người và tính thú. Nguyệt Cô không hẳn là người nữa, nhưng cũng chưa hẳn là thú, cái thân thể quằn quại chờn vờn, vừa vẫn gượng đứng thẳng làm người, vừa tự nhoài xuống làm thú. Tới đây, lớp diễn không còn một lời hát nào nữa, Hồ Nguyệt Cô đã từ giã cả tiếng nói của con người. Những đám lông cáo bắt đầu mọc chồi lên che lấp da thịt, Nguyệt Cô đi lại bờ suối nhìn bóng mình, nàng kinh hoàng lùi lại, thấy mặt mũi và thân thể mình đã biến dạng.


Đĩa nhựa Tiết Giao đoạt ngọc, kịch trào phúng, đĩa 7 inch, 45 vòng

Đau đớn xen lẫn giận dữ
            Giờ đây những đám lông thú đã mọc lên ở bàn tay, Hồ Nguyệt Cô cuống quít dứt đi, thì lông cáo lại mọc trên cánh tay. Nguyệt Cô điên cuồng khiếp đảm, cố dứt một cách tuyệt vọng những đám lông tiếp tục mọc đầy trên vai, trên khắp người mình. Lúc này thì nàng vẫn còn hao hao hình dáng con người, nhưng con thú đã hiện rõ lắm rồi! Nỗi đau đớn bi thảm của người đã xen lẫn nỗi giận dữ man rợ của thú. Đôi mắt đảo đi đảo lại đã là mắt thú, những chiếc răng mọc dài đẩy môi trên hếch lên, những móng vuốt xé thịt xuyên ra, đôi chân chun lại…
            Người nữ nghệ sĩ điêu luyện đã diễn tả được tất cả sự biến đổi đau đớn, ghê sợ ấy. Hồ Nguyệt Cô kêu lên, nhưng chỉ là tiếng “ngao ngao” của chồn cáo. Sợ hãi cả cái tiếng của mình, sợ hãi cả hình dáng của mình, Hồ Nguyệt Cô lăn lộn trên đất, cố níu kéo lại chút “con người” trong mình, cố chống đỡ lại cái thân phận thú đang mỗi lúc một hiện rõ, nhưng vô ích, lốt thú, chất thú đã thắng thế, con thú đã hoàn toàn thành con thú. Hồ Nguyệt Cô đã hoàn toàn thành con cáo. Tiếng “ngao ngao” kia đã đúng là tiếng kêu vô nhân tính của thú vật. Trong cái con thú đi bằng bốn chân ấy, vẫn còn phảng phất chút người mà nó vừa từ giã, vẫn còn ngơ ngác với kiếp cáo mà nó vừa trở lại, nhưng đã tối tăm, đã hoang dã, đã hung tợn lắm rồi…
            Khán giả lặng đi như tê dại trong một niềm xúc động dữ dội. Có sân khấu nào có được một lớp diễn tương tự như lớp diễn trên? Lớp diễn ít lời chỉ dành cho diễn xuất, trình bày một cảnh tượng ghê gớm bằng những phong cách giản dị mà khác thường.
            Sau nỗi xúc động lớn, người xem nhận từ sân khấu sức ám ảnh của những hình tượng mãnh liệt mà sâu sắc.
            Câu chuyện về nàng Hồ Nguyệt Cô đầy màu sắc huyền thoại – xuất thân từ kiếp hồ ly chồn cáo, nhưng Nguyệt Cô lại có khát vọng làm người. Nguyệt Cô dày công tu luyện hàng ngàn năm mới có được viên ngọc làm người, trở thành người. Ấy thế mà chỉ một phút sa ngả vào tay Tiết Giao để hắn đoạt mất viên ngọc, nàng đã phãi vĩnh viễn giã từ kiếp người để hóa thành loài cáo.
            Về phần Võ Tam Tư thì khi sáng thấy Nguyệt Cô thua chạy, Tiết Giao đuổi theo… chờ đến tối vẫn không thấy Nguyệt Cô trở về.
            Mỏi mòn trong chờ đợi, Võ Tam Tư vào phòng mệt tâm quá nên ngủ thiếp đi…
            Hồ Nguyệt Cô nghẹn ngào xấu hổ với chồng, người chồng mình đã trót quên đi khi gần gũi Tiết Giao, nàng trở về dinh với lốt chồn cáo. Về đến dinh Nguyệt Cô vào phòng thấy Võ Tam Tư đang ngủ, nàng nhảy phóc lên nằm cạnh. Võ Tam Tư giựt mình tỉnh giấc nghe thấy mùi hôi tanh, phát hiện ra chồn cáo, vung gươm giết chết.
            Dù thế này hay thế kia thì vẫn là một sự hèn hạ của Tiết Giao. Và cái mức độ hèn hạ ấy ngang bằng với mức độ lỗi lầm của Nguyệt Cô, một lỗi lầm phải trả giá. Mất ngọc, Nguyệt Cô đã đánh mất cái quý giá nhất trên đời này là được làm người, Hồ Nguyệt Cô hóa cáo là sự huyền thoại hóa một chân lý hiện thực?


NGÀNH MAI
Tháng 04/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0425-nm-04242015223255.html
https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/vnm-05022015-05022015092722.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #137 vào: 23/09/2018, 21:39:46 »
Năm Châu có tiếng mà không có miếng

Trong hoạt động kịch nghệ sân khấu, tên tuổi nghệ sĩ tiền phong Năm Châu đã đi vào lịch sử văn hóa nước nhà, sự nghiệp nghệ thuật của ông khó ai sánh được. Là người có trình độ, là cựu học sinh trường Nguyễn Đình Chiểu, Mỹ Tho, ông thi đậu bằng Thành Chung nhưng không làm công chức ở các cơ sở chính quyền, mà đi… hát cải lương.

Phùng Há – Thanh Nga – Năm Châu trong vở “Vợ và tình”

Đoàn Việt Kịch Năm Châu
            Từ cuối thập niên 1930 cho đến những năm đầu thập niên 1940, gánh hát Năm Châu chuyên hát ở vùng Sài Gòn, Chợ Lớn, Bà Chiểu, Gia Định. Hằng đêm khán giả nếu không đầy rạp thì cũng trên dưới nửa rạp, coi như lúc nào cũng có khán giả. Nhờ vậy mà đào kép công nhân sống được, thì đâu có đi lưu diễn chi xa cho tốn kém.
            Thế nhưng, từ lúc Nhựt Bổn đóng quân ở Sài Gòn, máy bay Đồng Minh dội bom, tình hình lúc đó rất lộn xộn, khó làm ăn, đoàn Việt Kịch Năm Châu đang diễn ở rạp Hòa Bình (Xóm Củi) đành phải nghỉ, đào kép ai ở đâu thì về đó.
            Đến Tháng 5-1946, thấy có thể bắt đầu gầy dựng lại sân khấu cải lương, nên Năm Châu đứng ra tập hợp anh chị em phân tán các nơi về. Vợ chồng Năm Nở từ Sa Đéc lên Sài Gòn; vợ chồng Ba Vân khi Tây chiếm Bến Tre, bèn chạy sang Mỹ Tho để gặp cô Bảy Phùng Há. Đến đây Ba Vân được tin Năm Châu gọi về, rồi lần lượt anh chị em nghệ sĩ khác cũng về quy tụ, thành lập đoàn cải lương “Con Tằm”. Bảng hiệu có vẽ thêm chữ “Con Tằm đến thác vẫn còn vương tơ”.
            Năm Châu phụ trách đoàn hát, có thể nói từ trước cho đến lúc đó (và có lẽ về cả sau này) chưa có một đoàn hát nào có số lượng đông đảo các nghệ sĩ tài danh như vậy. Kép có Năm Châu, Năm Nở, Bảy Nhiêu, Ba Vân, Tư Út, Từ Anh, Duy Lân, Mười Bửu…, Phía đào có Năm Phỉ, Phùng Há, Ngọc Sương, Bảy Nam, Thanh Loan, Kim Thoa, Kim Lan, Kim Cúc…
            Đoàn Con Tằm có bốn vở tuồng: Hai vở “Vó Ngựa Truy Phong” và “Hội Yêu Chồng” của Lê Hoài Nở; hai vở của Trần Hữu Trang là “Hoa Cuối Mùa” và “Chị Chồng Tôi”. Tuồng hay, đào kép nổi tiếng, đêm nào cũng chật rạp, hiện tượng hiếm có của sân khấu cải lương. Cứ theo cái đà này chẳng mấy chốc “Con Tằm” nhả tơ ngọc quý!
            Nhưng ở một gánh hát mà nhiều nghệ sĩ tài hoa quá, nhiều đào kép chánh quá, nhiều ông bà có khả năng làm bầu gánh quá, nên chẳng bao lâu đã đến lúc họ chia tay! Cô Bảy Phùng Há về lại Mỹ Tho dựng đoàn “Phùng Há”, kéo theo mình những Mười Bửu, Ba Vân, Tư Út, Từ Anh, Duy Lân. Nghệ sĩ Bảy Nhiêu về Long Xuyên lập gánh Nam Phương; cô Năm Phỉ lập gánh “Năm Phỉ” và Năm Nở thì về lại quê nhà.
            Thế là “Con Tằm” đã hết… lá dâu.
            Lá dâu mà hết còn đâu… “Con Tằm”!
            Coi như “Con Tằm” rã gánh, Năm Châu tiếp tục gầy dựng lại với bảng hiệu cũ “Đoàn Việt Kịch Năm Châu”.
            Năm Châu cũng đồng thời là soạn giả của nhiều tuồng cải lương nổi tiếng, các tuồng Sân Khấu Về Khuya, tuồng Vợ Và Tình mang nhiều kịch tính xã hội, được hãng dĩa hát thu thanh phát hành bán cùng khắp Đông Dương, làm giàu cho hãng dĩa.


Nghệ sĩ Bảy Nhiêu và hai cô con gái Kim Cúc, Kim Lan. Ðào Kim Cúc là vợ của nghệ sĩ Năm Châu,
và đào Kim Lan từng đóng vai Thị Kính trong cuốn phim Quan Âm Thị Kính,
do Năm Châu hợp tác với hãng phim Mỹ Vân thực hiện năm 1956

“Năm Châu có lúc nào giàu đâu”
            Thế nhưng, Năm Châu thì vẫn nghèo, trên đường sự nghiệp lận đận, cái thời mà các nghệ sĩ thuộc thế hệ đàn em như Thành Được, Hữu Phước, Hùng Cường, Dũng Thanh Lâm… họ đi xe hơi thay đổi liên miên, tiền xài như nước. Trong khi đó thì Năm Châu chỉ lạch cạch với chiếc Mobylette hoặc Vespa, Lambretta. Cũng có lúc ông đi xe hơi nhưng lại là xe cũ kỹ, nằm đường không biết bao nhiêu lần, rốt cuộc rồi cũng phải tống khứ nó đi cho rảnh nợ.
            Làm bầu gánh hát suốt 15 năm, soạn giả Năm Châu vẫn không khá, ngày nào còn làm bầu gánh là ngày ấy còn mang nợ. Có lần tôi đi San Diego miền Nam California gặp ông Ba Bản, chủ nhân hãng dĩa hát Hoành Sơn, cũng đồng thời là bầu gánh Thủ Đô. Tiếp xúc trò chuyện với ông khi đề cập đến Năm Châu thì ông Ba Bản có nói rằng: “Năm Châu có lúc nào giàu đâu”! Như vậy cho thấy rằng cuộc đời nghệ thuật của Năm Châu thì cao vòi vọi, sáng như vì sao, tiếng tăm lẫy lừng, từ Nam chí Bắc thiên hạ biết tên ông. Thế mà đời sống vật chất thì chật vật, thiếu trước hụt sau. Các ký giả kịch trường vào thời đó, trong những lúc trà dư tửu hậu tán gẫu, họ hay đem câu nói của người xưa ra nói rằng: “Năm Châu có tiếng mà không có miếng”!
            Từ giữa thập niên 1950 Ban Việt Kịch Năm Châu xuống dốc thê thảm, loại tuồng xã hội của ông viết rất hay, mang nhiều ý nghĩa xây dựng, nhưng lại không ăn khách, khán giả hằng đêm lưa thưa, ghế ngồi bỏ trống hơn hai phần ba là thường, hễ mở màn hát là nắm chắc phần lỗ lã. Cũng đồng thời trong thời gian đó thì gánh Thanh Minh của Năm Nghĩa hát tuồng có đánh kiếm, có bay vòng trên sân khấu, mà cốt truyện thì đâu đâu, chẳng nói lên ý nghĩa gì hết, thế mà lại ăn khách. Cũng như gánh Hoa Sen của Bảy Cao đưa lên sân khấu tuồng chiến tranh, có xe tăng, xe lửa, máy bay, có bắn súng, tập trận thì khán giả lại chịu đi coi.
            Trước hiện tình coi như không có thời kia, nếu kéo dài thì càng chết sâu hơn, Năm Châu quyết định cho đoàn hát ngưng hoạt động, đem về nằm ở trại cưa bên kia Cầu Bông, để cho nghệ sĩ công nhân tạm ngụ đi tìm việc sinh sống chờ thời. Riêng ông và gia đình ông thì lãnh chuyển âm tiếng Việt cho các phim Nhựt Bổn, phim Phi Luật Tân, phim Ấn Độ…
            Lúc bấy giờ khán giả cải lương rất thích đi coi các phim nào có ban Năm Châu chuyển âm, vì người ta rất quen thuộc với tiếng nói của những Kim Lan, Kim Cúc, Từ Anh, Bảy Nhiêu và dĩ nhiên là của Năm Châu. Những phim Nhựt Bổn do Ban Năm Châu chuyển âm gồm có phim Áo Người Trinh Nữ, Những Kẻ Khát Tình (tức Nữ Hoàng Trên Hoang Đảo), Người Đi Trong Mưa Gió… và phim Phi Luật Tân nhập vào thì có phim Chồng Người Vợ Cá, phim Cô Gái Bay, phim Hòn Đảo Rắn Ma…
            Thời gian chuyển âm phim, tiếp xúc với giới điện ảnh, học được nghề này, Năm Châu nhận thấy bên lãnh vực phim ảnh coi vậy mà khá hơn cải lương nhiều, lại khỏi bị cái cảnh đào kép làm eo, làm khó dễ, nên ông nảy sinh ý định chuyển hướng nghệ thuật, chuyển hướng làm ăn cho đào kép cải lương vốn là người nhà trở thành tài tử đóng phim, và lấy tuồng cải lương mới, củ loại bỏ bài ca ra, viết trở lại thành kịch bản phim. Đồng thời hợp tác với hãng Mỹ Vân Film cho ra đời cuốn phim Quan Âm Thị Kính, mà trước đó là tuồng cải lương được thu thanh dĩa hát.


Giọng ca vàng Hữu Phước

Và tiếp đây nói về “nghệ sĩ đi xe hơi” Hữu Phước
            Nghệ sĩ Hữu Phước, một diễn viên rường cột của đoàn Thanh Minh Thanh Nga, và là một nghệ sĩ kỳ cựu nhứt của đoàn này suốt 10 năm cộng tác. Trải qua bao “biến cố”, từ bầu Năm Nghĩa từ trần, Út Trà Ôn ra đi, rồi đến Hoàng Giang trở lại. Đoàn Thanh Minh Thanh Nga lên xuống không biết bao lần, kép Hữu Phước vẫn trung thành với bảng hiệu này, và ảnh chỉ ra đi khi có Thành Được về.
            Hữu Phước là “nghệ sĩ đi xe hơi” từ thập niên 1950, chỉ sau Út Trà Ôn, Thanh Tao. Suốt hơn cả chục năm sống vàng son, cho đến thời kỳ mà cây cải lương bị cơn bão Mậu Thân thổi cho lung lay, kế tiếp thì bị lưỡi tầm sét thiên lôi của truyền hình đốn cho tê liệt luôn, thì không những đào kép hạng thường, chạy đôn chạy đáo kiếm nghề khác để sống, mà kép chánh từng ký giao kèo bạc triệu như Hữu Phước cũng phải làm việc khác, dù rằng không thích hợp với sở trường của anh ta.
            Lúc đang hát cho đoàn Thanh Minh ở ngoài Trung, rồi nghe đoàn Dạ Lý Hương hứa sao đó nên bỏ về Sài Gòn, thì lại chẳng thấy Bầu Xuân giám đốc đoàn nói năng gì thêm. Nản quá, Hữu Phước bèn quay sang đoàn Thái Dương, thì được bầu Mười Thi kêu chạy vốn bỏ vô hùn hạp làm ăn với đoàn Thái Dương 2. Vậy là tin lời, Hữu Phước chạy đi vay nợ, nhưng sau đó thì Mười Thi làm lơ luôn, khiến cho Hữu Phước tức mình nói rằng bị người ta cho… leo cây khế (lúc mới vào nghề Hữu Phước đóng vai con quạ ăn khế).
            Thế là thay vì lấy tiền đó mà hùn hạp làm bầu cải lương, Hữu Phước lại xuất ra làm bầu sô đại nhạc hội, bị lỗ là cái chắc. Các tay chuyên môn tổ chức đại nhạc hội như Tùng Lâm mà còn chạy dài ở thời điểm đó, hà huống gì Hữu Phước là tay mơ thì làm sao kiếm ăn nổi chớ!
            Làm bầu sô không xong, đến lúc đoàn văn nghệ Việt Nam đi Lào trình diễn tại hội chợ That Luang. Hữu Phước không có tên trong đoàn, nhưng cũng nổi hứng đi du lịch với tư cách riêng. Do đó, khi đến nơi ai nấy cũng được trưởng ban lo chỗ ăn chốn ở, riêng Hữu Phước mặc nhiên anh phải tự lo lấy. Tuy nhiên vì muốn tiết kiệm tối đa, anh ta đến nhờ Thanh Việt cho ngủ chung. Thanh Việt đồng ý, vãn hát Hữu Phước đến bên Thanh Việt định cùng về với anh này. Nhưng khi thấy Hữu Phước thì Hề Râu làm như quên lời hứa ban chiều nên hỏi:
            – Hữu Phước tối ngủ đâu?
            Hữu Phước đáp liền không do dự:
            – Thì tao ngủ ví mày.
            Thanh Việt ra bộ giẫy nẩy:
            – Ý đâu được na, từ thuở giờ tui hổng chịu ngủ chung ví ai hết. Hổng được đâu, anh đi kiếm chỗ khác ngủ đi.
            Hữu Phước tức mình nhắc lại lời hứa của Thanh Việt ban chiều, Hề Râu nói tỉnh bơ:
            – Ai biết đâu, tui tưởng anh hỏi chơi.
            Sau đó Thanh Việt bỏ đi luôn một nước về phòng trọ, Hữu Phước nhìn theo bậm môi khiến miệng anh đã móm lại càng móm thêm, và đêm đó anh đành khoanh tròn trên sân khấu Odéon Rama làm bạn với muỗi.


NGÀNH MAI
Tháng 05/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0509-nm-05082015134047.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #138 vào: 27/09/2018, 23:29:48 »
Bài vọng cổ “Người Về Trong Mưa” của Thu An

Năm Mậu Thân 1968, bài vọng cổ “Người Về Trong Mưa” của soạn giả Thu An được vô dĩa hát và in ấn phát hành cuốn bài ca.

Bìa cuốn bài ca “Người Về Trong Mưa”

THEO GIỚI CẢI LƯƠNG và báo chí lúc bấy giờ thì chính soạn giả Thu An đã bỏ vốn ra thực hiện, và hãng dĩa Việt Nam chỉ làm với tính cách được thuê mướn đủ mọi thứ, chứ không bỏ tiền ra mua như thời soạn giả Viễn Châu được trả tiền. Còn về phần nghệ sĩ ca thu thanh thì Ngọc Hương là người nhà không phải trả tiền, chỉ lo tiền trả cho Hùng Cường mà thôi.
            Tại sao hãng dĩa không mặn mà với bài vọng cổ của Thu An? Giới mộ điệu cải lương đều hiểu rằng Thu An chuyên môn viết tuồng cải lương, nhiều năm đã không viết bài vọng cổ nào. Rồi chợt đến năm Mậu Thân cải lương tê liệt, tuồng tích dù hay thế mấy cũng không còn bao nhiêu khán giả.
            Thời điểm này khán giả cải lương đã chuyển sang nghe chương trình cổ nhạc của đài phát thanh Sài Gòn. Những dĩa hát vọng cổ sáu câu với tiếng ca Lệ Thủy, Mỹ Châu, Ngọc Giàu, Thanh Nga, Út Bạch Lan… thường được đài cho phát thanh vào buổi trưa. Trong khi đó thì nữ nghệ sĩ Ngọc Hương vì không có thu thanh dĩa hát sáu câu vọng cổ nên vắng tiếng trên làn sóng phát thanh.
            Hát trên sân khấu không được mà đài phát thanh cũng không, nàng Ngọc Hương quá bực tức ông xã Thu An, trước đây cứ cắm cúi viết tuồng cải lương thu dĩa, mà không có dĩa sáu câu vọng cổ nào nên giờ đây cô mới chịu thiệt thòi, do bởi nghệ sĩ mà vắng tiếng ca thì sẽ bị lu mờ tên tuổi.
            Bị bà xã cự nự quá xá nên Thu An mới bắt đầu viết vọng cổ sáu câu với hy vọng tiếng ca Ngọc Hương sẽ được truyền đi trên làn sóng phát thanh đài Sài Gòn. Nhưng khổ nỗi viết xong bài ca rồi đi chào hàng thì không hãng dĩa nào chịu mua. Cuối cùng Thu An đành bỏ tiền ra làm, kêu kép Hùng Cường song ca với Ngọc Hương.
            Những năm đầu thập niên 1950 soạn giả Thu An từng viết bài ca vọng cổ và tuồng ngắn thu thanh dĩa hát Hoành Sơn. Lúc ấy ông lấy biệt hiệu “Nguyễn Thu” đã cho ra đời các bài “Ly Rượu Thọ” do Minh Chí và cô Tư Bé ca; bài vọng cổ 20 câu “Tấm Lòng Hiếu Tử” do Út Trà Ôn ca; tuồng ngắn “Tình Yêu Thôn Dã” do Bạch Huệ, Lệ Liễu, Út Trà Ôn, Bửu Tài.
            Lúc Út Trà Ôn đến hãng dĩa Hoành Sơn thu thanh, Cậu Mười đề nghị Thu An nên viết tuồng cải lương sân khấu thì có nhiều tiền hơn, bởi nếu có trình diễn là có tiền bản quyền, còn viết bài ca thu thanh dĩa hát thì chỉ nhận tiền có một lần thôi. Nghe theo lời Út Trà Ôn, Thu An cùng với soạn giả Hoàng Khâm viết vở tuồng “Lỡ Bước Sang Ngang” trao cho gánh Thanh Minh đưa lên sân khấu năm 1959. Tuồng khá hay đã đưa Thu An vào vị thế soạn giả lớn.
            Đến khi ông Ba Bản chủ nhân hãng dĩa Hoành Sơn thành lập đoàn Thủ Đô, thì Thu An đảm nhận vai trò giám đốc kỹ thuật kiêm soạn giả thường trực. Cuộc đời cải lương của Thu An lên như diều…
            Dưới đây là bài vọng cổ “Người Về Trong Mưa”:

            Nhạc:
                        Kép: Mưa rơi!
                        Đào: Mưa rơi!
                        Kép: Mưa rơi!

            Thơ:
                        Đào: Phố vắng đêm buồn giăng tứ hướng,
                        Mưa sầu đổ xuống, lạnh dâng lên,
                        Chờ ai, thao thức mong chờ sáng,
                        Nghe gió theo về với bóng đêm.


            Nhạc:
                        Kép: Mưa rơi!
                        Đào: Mưa rơi!
                        Kép: Mưa rơi!

            1) Đào: Ai nói? Ai đi? Có phải anh về thăm phố lạnh, hay gió mưa làm xao động bóng đêm… trường, anh đã về đây từ chiến trận hãi hùng. Mang hoa gấm làm đẹp nhà đẹp cửa hay anh về từ khóe mắt làn môi. Hồi anh đi chỉ nói một câu, em hãy chờ đợi cho hết mùa mưa gió, khi nắng lên hoa xuân nở rộ thì duyên mình sẽ tươi như hoa bướm.

            2) Thơ:
                        Kép: Mưa rơi ngoài phố mưa còn mãi,
                        Gió đã vầy duyên gió với mưa,
                        Người đi ước hẹn ngày xưa ấy,
                        Còn ở ngoài xa trong gió mưa.

            Mưa ở ngoài xa, mưa về hè phố mưa đến lòng em qua hơi thở lạnh lùng. Mơ ước cô đơn bên gối mộng u buồn. Em sợ lắm nghe lá khuya xào xạc, nối với giọt buồn của tiếng mưa khuya.


            Thơ:
                        Kép: Biết rằng chưa hết mùa mưa gió,
                        Anh chẳng về đâu trong gió mưa,
                        Chỉ còn cầu nguyện sớm trưa,
                        Cho mưa gió tạnh anh về với em.


                        Kép: Mưa rơi!
                        Đào: Mưa rơi!
                        Kép: Mưa rơi!
                        Người chờ trong mưa gió,
                        Người chờ trong mưa gió,
                        Em ơi em có hay chăng anh về.

                        Đào: Anh đã về.

            4) Kép: Em ơi, anh đã về đây trong mưa gió lạnh lẽo đếm bước cô đơn tìm thăm người bạn cũ… chung tình, nhưng anh không đem lại mùa Xuân và mộng đẹp duyên lành. Vì kẻ hứa hẹn ra đi ngày trước nay trở về là một thương binh. Anh không còn toàn vẹn đôi chân, nhưng hãnh diện đã làm xong bổn phận, vậy em đừng yêu anh như buổi đầu kỳ vọng, mà hãy xót thương trong tình nghĩa đồng bào.

            Thơ Tao Đàn:
                        Đào: Dầu bước chân anh đi khập khễnh,
                        Nhưng lòng vững chắc tợ trường sơn,
                        Đội gió dầm mưa về lối cũ,
                        Yêu rồi tình đẹp đẹp nhiều hơn.


            5) Kép: Thao thức thâu đêm nghe đất đai rên xiết anh đã ra đi trong tiếng khóc của muôn… người, mưa gió chưa tan mà anh không toàn vẹn nụ cười. Ngày trở lại lệ lòng đứt nối khi bước vào ngưỡng cửa thăm em. Ngỡ rằng em sẽ phụ rẫy miệt khinh, không ngờ thốt nên lời châu ngọc, anh mừng quá đến tuôn rơi nước mắt, nhìn thấy em cao đẹp nhứt trên đời.

            Thơ Tao Đàn:
                        Đào: Anh đẹp hơn châu báu,
                        Sá gì khóe mắt xanh,
                        Mưa gió lạnh nhiều anh ướt áo,
                        Tình em sưởi ấm trái tim anh.


            6) Đào: Anh đã về đây không thấy lạnh dầu gió mưa tàn bạo đổ lên vai, vì lửa chiến binh tiếp với lửa tình yêu đang bốc ngọn không bao giờ lịm tắt, em hãy cho anh cầm tay giây lát, để tỏ lòng trìu mến tri ơn. Ở ngoài kia còn ào ạt mưa tuôn, đem băng giá vào tận cùng da thịt, nhưng tình yêu thương trên đôi tay nắm chặt sẽ không ngại chi mưa gió lạnh đêm trường.

                        Mắt em bằng với đại dương,
                        Chứa chan nghĩa nặng tình nồng bao la,
                        Mặt mùa Xuân đẹp còn xa,
                        Bàn tay em đón người về trong mưa.


NGÀNH MAI
Tháng 12/2016


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/bai-vong-co-nguoi-ve-trong-mua-cua-thu/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #139 vào: 29/09/2018, 22:21:37 »
Thành Được đi hát từ lúc nhỏ

Nghệ sĩ Thành Được từ năm 14 tuổi đã đi theo gánh hát Thanh Cần của người chú, và do còn nhỏ được giao đóng vai Quách Hải Thọ trong tuồng Bao Công Xử Án Quách Hòe.

Nghệ si Út Bạch Lan và Thành Được

Không được lãnh lương
            Tuy rằng có vai trò, nhưng vì là cháu của bầu gánh nên Thành Được không được lãnh lương như bao nhiêu đào kép khác, mà chỉ có tiền cà phê cà pháo và tiền của khán giả cho. Nhờ vai trò “đi ăn xin” được khán giả thương tình cho tiền (có lẽ nhập vai giống ăn xin quá).
            Thời đó gánh hát di chuyển bằng ghe, có đò máy vòng và ông Hai Sang chủ đò máy cũng đồng thời là người bán vé hát, ông đã giúp Thành Được bằng cách chen lẫn trong hàng khán giả, tới màn Quách Hải Thọ đi xin ăn, đờn rao buồn, Thành Được ca bản Hoài Tình thì ông làm “cò mồi” quăng một cắc bạc lên sân khấu. Thấy vậy mấy bà già cũng bắt chước quăng lên và mỗi đêm ít nhứt cũng được 15 đồng.
            Thời còn xài tiền xu tiền cắc mà được 15 đồng thì thật là quý, hèn gì không được lãnh lương cũng đúng thôi! Lúc đó Thành Được ca vọng cổ chẳng ai khen, mà được hoan nghinh nhờ bản Hoài Tình, bản này mà dùng cho đi ăn xin thì tuyệt, với câu mở đầu thường là: “Ba con cô bác làm ơn, bố thí cho tôi một chén cơm thừa…”
            Nghệ sĩ Thành Được có một kỷ niệm cũng rất vui, ai nghe qua cũng tức cười, và anh rất khó quên mỗi khi đoàn về hát ở xứ dừa Bến Tre.
            Số là thời Đại tá Tây lai Le Roy còn làm chúa tể ở Bến Tre thì Thành Được đang đi hát cho đoàn Thanh Cần, một gánh hát nghèo nàn mỗi khi di chuyển phải dùng xuồng dùng ghe.
            Năm ấy gánh hát Thanh Cần đến một vùng thuộc quận Bình Đại, Bến Tre và hát ở một nhà chợ nhỏ. Thành Được thủ vai vua Tống Nhân Tôn, áo mão chỉnh tề.
            Trống, chiêng, đờn ca đang đến lúc xôm tụ bà con cô bác cũng đang say sưa theo dõi, thi bỗng nghe tiếng nổ: Ầm! Ầm! Đèn tắt tối thui, nhưng lại sáng rực ánh lửa vì nhà chợ bị bốc cháy. Mấy ổng (tiếng “ổng” ở đây là Việt Minh) về bắn phá, khán giả chạy bán mạng, nghệ sĩ thì cũng mạnh ai nấy chạy. Thành Được quýnh quá, bận nguyên áo mão nhà vua, nhảy tõm xuống sông và loi ngoi lội qua bên kia sông. Bỗng nghe có tiếng quát:
            – Tóm cổ mấy thằng kép hát cho tao hỏi thăm chút coi!
            Thành Được ớn xương sống, vội cởi áo mão nhà vua chôn xuống sình, rồi bốc mớ sình đen thui trét khắp mặt.
            Vậy mà chàng ta mới leo lên bờ đã nghe có tiếng la:
            – Nó đó! Nó đó!
            Không biết kẻ kia thấy chàng thật, hay la hoảng, nhưng Thành Được cũng chạy như điên. Cuối cùng, quýnh quá, chàng chui tọt vô một bụi xương rồng. Gai nhọn cào rách da, xể mặt mà chàng cũng không thấy đau vì sợ quá. Khi ấy toàn thân chỉ còn một cái quần xà lỏn mà gai xương rồng cũng đã cào tét.
            Đến khi mấy “ổng” đã đi rồi, anh em đổ ra kiếm nhau, họ kêu:
            – Được ơi! Được ơi!
            Thành Được nghe rõ, nhưng chun ra không được! Lúc quá sợ, chui vào bụi gai thì được, nhưng khi cơn sợ đã qua mới cảm thấy ớn cái bụi gai. Thành Được kêu vang:
            – Tui bị kẹt! Cứu tui với!
            Anh em đổ xô đến, cười ngất, và khi lôi Thành Được ra khỏi bụi xương rồng thì chàng tét da chảy máu cùng mình.
            Trên đường lưu diễn suốt quãng đời nghệ sĩ đã qua, tuy Thành Được có nhiều kỷ niệm, nhưng chàng nhớ nhứt là cái kỷ niệm một năm bị kẹt trong bụi xương rồng.


Nghệ sĩ Út Bạch Lan – Thanh Nga – Thành Được trong vở Đoạn Tuyệt

Nhiều kỷ niệm
            Và sau đây là thêm một câu chuyện kỷ niệm khác của nghệ sĩ Thành Được:
            Vào tháng 2, 1975 tức chỉ còn hai tháng nữa là 30-4-75. Lúc ấy tình hình chiến sự chưa thấy gì nặng nề, nên đoàn cải lương Việt Nam của kép Minh Vương đi lưu diễn miền Trung (có Thanh Nga tăng cường) và tỉnh nào cũng khả quan về tài chánh. Cũng thời điểm đó, đoàn Tiếng Hát Dân Tộc được nhóm người chuyên khai thác văn nghệ ở miền Trung, mua giàn 12 đêm để diễn qua các nơi: Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế… Đào kép ai nấy có vẻ lên tinh thần, vì mỗi người đều được giám đốc đoàn cho mượn trước chút ít. Riêng Thành Được, Mộng Tuyền vì chủ giàn mời tăng cường nên cũng được ứng trước vài chục xấp.
            Thành Được là dân chơi xe hơi có tiếng, nhưng mấy năm qua hát xướng ế ẩm, nên xe cộ gì cũng bay hết, và dịp này thì có một người đẹp cho mượn xe nên anh tự lái đi hát miền Trung.
            Tất cả đều ra đến Qui Nhơn đúng với chương trình dự định của chủ giàn. Hát tại Qui Nhơn xong, đoàn dọn ra Đà Nẵng, kế đến là Huế. Lượt về đoàn sẽ ghé Quảng Ngãi, nhưng xe chở đào kép vừa qua khỏi đèo Hải Vân đã phải dừng lại vì lửa đạn đã nổ rền, hỏa tiễn nổ chát chúa bên tai, mạnh ai nấy chạy tìm chỗ nấp.
            Chiến sự miền Trung bắt đầu sôi động, đường sá mất an ninh, Quốc Lộ 1 bị cắt đứt nhiều nơi đâu có xe nào dám chạy. Bên đoàn Việt Nam thì Thanh Nga và ông Đổng Lân đi máy bay về Sài Gòn an toàn. Lẽ ra thì Thành Được đã về Sài Gòn cùng một lượt với Hoàng Long, nhưng anh này còn kẹt cái xe hơi của người đẹp nên phải ở lại tử thủ. Chiếc xe hơi lúc này là một gánh nặng, giờ đây chỉ lo cho tánh mạng mà thôi, và Thành Được đã gởi xe lại cho người nào đó ở Qui Nhơn. Nhưng rồi Qui Nhơn cũng di tản, mọi người đều lo chạy hết nên có ai đâu giữ xe cho anh, coi như bỏ xe hơi chạy lấy người vậy.
            Người ta không rõ Thành Được về Sài Gòn bằng cách nào, cũng không biết tình trạng chiếc xe hơi mượn của người đẹp ra sao khi chiến sự tới Qui Nhơn. Nhưng đây có lẽ là lần đi xe hơi riêng cuối cùng của Thành Được ở trong nước, bởi hai tháng sau là 30 tháng 4, 1975 đâu có đào kép nào lái xe riêng đi hát như thời kỳ vàng son của cải lương trước đó.


NGÀNH MAI
Tháng 05/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-051615-nm-05142015083051.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #140 vào: 06/10/2018, 23:44:58 »
Câu chuyện tình Út Bạch Lan – Thành Được

Cách đây hơn nửa thể kỷ, câu chuyện tình Lan và Điệp trong tác phẩm “Tắt Lửa Lòng” của Nguyễn Công Hoan, được soạn giả Trần Hữu Trang phóng tác tuồng cải lương đưa lên sân khấu, làm say mê mọi từng lớp khán giả, hết thế hệ này sang thế hệ khác, và cho đến nay soạn phẩm vẫn còn giá trị.

Hình ảnh tươi trẻ của cô Út khi chụp ảnh bìa báo cho tờ Màn Ảnh

Chuyện tình Lan và Được
            Rồi 20 năm sau câu chuyện tình Lan và Được (xin đừng lầm Lan và Điệp) cũng đã làm cho những người hâm mộ cải lương chăm chú theo dõi, mỗi khi báo chí đề cập đến vấn đề. Đồng thời cũng tốn khá nhiều giấy mực của báo chí suốt gần hai thập niên.
            Thời gian nhiều năm qua thỉnh thoảng lại có người đề nghị, khuyến khích tôi nên viết cuốn sách nói về chuyện tình, chuyện đời, chuyện nghệ thuật cải lương của đôi nghệ sĩ Út Bạch Lan – Thành Được. Bởi khi đề cập đến cặp tài danh sân khấu, từng được giới mộ điệu mến mộ này thì chắc chắn sách sẽ có nhiều người đọc.
            Thật ra thì tôi hiện đang lưu giữ rất nhiều tài liệu, hình ảnh có liên quan đến đôi vợ chồng nghệ sĩ Thành Được, Út Bạch Lan mà mình đã thu thập được trong quá trình theo dõi hoạt động cải lương.
            Theo như cái nhìn của tôi, thì chuyện tình Út Bạch Lan và Thành Được viết thành tiểu thuyết không khó. Do bởi chuyện của cặp đào kép Lan Được là chuyện thật, có nhiều kịch tính, là yếu tố để viết thành tiểu thuyết, soạn thành tuồng cải lương, và cũng có thể thực hiện phim chiếu trên màn bạc.
            Tóm lại là “câu chuyện Lan và Được” tôi cũng đã viết thành bản thảo, và có thể in thành sách ngay trong lúc này. Nhưng có điều mà tôi phân vân là nên cho quyển sách ra đời theo dạng “sách tiểu thuyết”, hay theo dạng “sách cải lương”.
            Nếu như theo dạng tiểu thuyết thì tác phẩm sẽ có nhiều người đọc hơn và hy vọng thành phim. Còn như theo sách cải lương thì lại có giá trị về mặt lịch sử của nghệ thuật độc đáo của dân tộc, nhưng rất khó lên phim. Trong những ngày sắp tới đây tôi sẽ có quyết định vấn đề.
            Giờ đây xin trích ra một câu chuyện trong bản thảo cuốn sách Lan và Được trong tương lai.


Nghệ sĩ Út Bạch Lan và Thành Được trong vở Nửa Đời Hương Phấn

Chiếc Đại Hồng Chung
            Câu chuyện tình Út Bạch Lan – Thành Được có liên quan đến chiếc Đại Hồng Chung ở một ngôi chùa tỉnh Biên Hòa, mà tôi đã ghi vào bản thảo.
            Phật tử đi lễ chùa hầu như ai cũng biết Đại Hồng Chung là cái chuông lớn, đặt ở một góc trong Chánh Điện, bên trái hoặc bên phải ở cửa ra vào. Mỗi khi có lễ cúng thì người ta thấy một ni cô hay chú tiểu ngồi đó, thỉnh thoảng dộng lên tiếng chuông, hòa lẫn với tiếng tụng kinh của vị sư, cùng phật tử tụng niệm trước bàn Phật.
            Âm thanh tiếng chuông chùa đã gợi nên niềm cảm xúc, khiến cho ai đó đang có tâm sự buồn đau lại càng buồn thêm, chán ngán sự đời, và đưa đến chuyện gởi thân nơi cửa Phật, như trường hợp cô đào thương Út Bạch Lan.
            Chỉ nội cái chuyện Út Bạch Lan buồn tình bỏ đi tu ở ngôi chùa trên Biên Hòa, rồi thì Thành Được đánh xe lên rước nàng về, cũng đã tô điểm thêm nét diễm tình trong câu chuyện. Hoặc là Út Bạch Lan vào chùa rồi, ăn chay niệm Phật rồi, mà vẫn nhớ thương Thành Được đến nỗi nàng mượn bút mực của nhà chùa, nhờ người viết tên Thành Được bằng chữ Nôm, rồi gắn lên Đại Hồng Chung, để mỗi lần dộng chuông là “động đến tâm tư Thành Được” khiến chàng ta chịu không nổi, phải lái xe lên rước cô về nhà.
            Nếu đi tu mà vứt bỏ được chuyện đời thì Út Bạch Lan sẽ trở thành ni cô luôn. Đằng này vô chùa rồi, mỗi ngày tụng kinh gõ mõ rồi, mà nàng Út lại thương nhớ Thành Được nhiều hơn. Trước đó đã có nhiều người trong gia đình lên rước mà nàng không muốn về, nhứt quyết ở lại tu. Nhưng tới khi Thành Được đến rước thì nàng tự nhiên bương bả ra về, chẳng cần suy nghĩ gì thêm. Hồng trần còn nặng nợ quá, thì đi tu thế nào được chớ!
            Không biết có phải Út Bạch Lan đi tu ở ngôi chùa cổ trên núi Bửu Long, Biên Hòa hay ngôi chùa nào khác ở tỉnh này. Chớ sau đó vài năm nàng làm tài tử đóng phim kiếm hiệp, đạo diễn dựng cảnh tại núi Bửu Long, trong một xen lửa đốt cháy mái nhà tranh. Theo hướng gió xuôi, Út Bạch Lan nhảy vào cứu người yêu (do kép Hoàng Long đóng) thì bất ngờ ngọn gió đổi hướng thổi ngược lại tấn công nàng Út, làm cháy xiêm y và phỏng ở tay, coi như xém chết cháy! Có người nói do đi tu rồi mà bỏ về nhà, giờ đây trở lại chùa cũ nên bị Thần Hộ Pháp trừng phạt. Chẳng biết có đúng vậy hay không.


NGÀNH MAI
Tháng 05/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-052315-nm-05232015071257.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #141 vào: 11/10/2018, 22:34:36 »
Ðịa danh “Cầu Bến Lức” được đưa vào bài ca vọng cổ

Năm 1963 bài vọng cổ “Sầu Vương Ý Nhạc” của Viễn Châu ra đời không những đã gieo niềm cảm xúc cho giới cổ nhạc đờn ca tài tử, mà còn lan rộng ngoài xã hội nhân gian, nhất là những người mua bán ngược xuôi miền Tây và hành khách đi xe đò có dịp ngang qua cầu Bến Lức.

Bìa cuốn bài ca nhỏ “Sầu Vương Ý Nhạc”

NGƯỜI TA hình dung lại cảnh một em bé dắt ông lão tật nguyền đi đờn ca ăn xin, một hình ảnh rất thường thấy ở bến xe, bến đò. Em bé cất tiếng hát nghe buồn thảm não, và ai cũng lặng im lắng nghe.
            Ðiều mà chúng tôi muốn nói ở đây là hầu như bài vọng cổ nào, tuồng cải lương nào mà soạn giả dựa vào địa danh có thật ở các địa phương miền Nam là được khán giả mến chuộng và nổi tiếng với thời gian. Chẳng hạn như sáu câu vọng cổ “Tình Anh Bán Chiếu” nổi tiếng một phần là nhờ địa danh sông Phụng Hiệp, vàm kinh Ngã Bảy, Cần Thơ được đề cập trong lời ca.
            Người ta còn nhớ đầu thập niên 1960 khi vở tuồng “Áo Cưới Trước Cổng Chùa” của soạn giả Kiên-Giang Hà Huy Hà được trực tiếp truyền thanh buổi tối Thứ Bảy trên làn sóng phát thanh đài Sài Gòn, thì sáng ra Chủ Nhật ở các chợ miền Tây thiên hạ xôn xao bàn tán.
            Ðặc biệt là ở Hà Tiên, nơi có ngôi chùa cổ Phù Dung Tự được dựng lên trong tuồng hát. Bà con đổ xô đến chùa suốt ngày để hỏi thăm về tình tiết câu chuyện. Các câu hỏi nhiều nhất là “chiếc áo cưới trước cổng chùa năm nọ các thầy còn giữ ở đây không?” Hoặc là “chiếc lu nhốt nàng Xuân Tự ở đâu thầy dẫn tôi đi coi…”
            Dĩ nhiên là các thầy ở chùa Phù Dung thuộc thế hệ sau này mù tịt chẳng biết gì cả, vị sư trụ trì đã trả lời rằng chuyện lâu quá mấy trăm năm nên giờ đây không còn thấy vết tích gì.
            Dưới đây là bài vọng cổ “Sầu Vương Ý Nhạc” của soạn giả Viễn Châu:

            Thơ:
                        Em ở nơi nào em ở đâu,
                        Lời ca tức tưởi giữa cung sầu.
                        Quê nghèo áo nhuộm màu sương gió,
                        Một kiếp phong trần mấy biển dâu.


            Nói lối:
                        Xe dừng lại bên kia cầu Bến Lức,
                        Nhạc ai làm ray rứt cõi lòng ta,
                        Họ không là những nhạc sĩ tài hoa,
                        Nhưng đời gian khổ là bài ca đầy nước mắt.


            Vọng cổ:
            1) Mỗi khi có dịp xuống Hậu Giang và đi ngang cầu Bến Lức, tôi còn nhớ mãi những lời ca não nuột của em bé thơ ngây hát dạo ở ven… đường, nắm chiếc gậy tre em dắt theo một ông lão tật nguyền. Em cất lên tiếng ca buồn rười rượi. “Mưa rừng ơi mưa rừng, hạt mưa nhớ ai mưa triền miên, phải chăng mưa buồn vì tình đời, mưa sầu vì lòng người duyên kiếp không lâu”, ôi buồn làm sao tiếng ca đầy thảm não.

            2) Không ai bảo ai nhưng cả xe đều im lặng và nghe đâu đây như có tiếng thở dài, gió lạnh từ xa như họa theo tiếng nhạc u hoài. Ông lão sửa dây đờn, em bé cũng trở sang điệu khác: “Ai đang đi, trên đường đê, ai có nghe vang câu hò đê mê, vô đây em dù trời khuya anh vẫn đưa em về…” giữa mưa buồn nghe não nuột lòng ơi.

            Nói lối:
                        Mưa lành lạnh buồn bay theo ngọn gió,
                        Gió trở chiều thổi nhẹ hạt mưa sa,
                        Buồn làm sao những tiếng nhạc lời ca,
                        Tình nhân loại chan hòa tình đất nước.


            4) Những đường tơ như chùng theo mấy ngón tay gầy guộc đang run run bấm nhẹ mấy cung… đàn, chiếc đàn long phím tang thương như một kiếp cơ hàn. Ðôi hồ mắt sâu thăm thẳm như chứa đựng một nỗi niềm dĩ vãng xa xăm. Xe đến rồi đi, kẻ xuống Hậu Giang người về đô thị, ai không nghe cõi lòng bâng khuâng với lời ca ngây thơ vụng dại vang vang trong tiếng nhạc thâm trầm.

            5) Cầm chiếc lon rỉ sét đưa lên, vài bàn tay bỏ vào đấy đôi tờ giấy bạc, ông lão run run để lộ nét vui mừng, cô bé cũng hân hoan cất tiếng ca rằng: “Qua thiên san kìa ai tiễn rượu vừa tàn, vui ca xang rồi đi tiến binh ngoài ngàn, người đi về vạn lý quan san, người mong chờ trong bóng cô đơn” hỡi ôi buồn làm sao như người đi kẻ ở, buồn làm sao như rạn vỡ tâm hồn.

            6) Bảng trắng đã lên rồi! Ðoàn xe từ từ chuyển bánh, tôi nhìn lần cười cùng hình ảnh của cha con người ca hát dạo, lòng bỗng dâng tràn ngập một niềm thương. Người ly hương, ta cũng ly hương, họ nhạc sĩ ta cũng là nhạc sĩ, đời của ai rày đây mai đó thì đời của ta cũng sương gió lâu rồi. “Mưa rừng ơi mưa rừng, hạt mưa nhớ ai mưa triền miên, phải chăng mưa buồn vì tình đời, mưa sầu vì lòng người duyên kiếp không lâu”.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2017


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/dia-danh-cau-ben-luc-duoc-dua-vao-bai-ca-vong-co/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #142 vào: 13/10/2018, 22:50:37 »
Giai thoại về kép cải lương Hùng Cường bước sang điện ảnh

Trước đây, thời thập niên 1960 thỉnh thoảng người ta vẫn thấy các tuồng cải lương được quay thành phim như: Đôi Mắt Người Xưa – Lỡ Bước Sang Ngang – Con Gái Chị Hằng… Những tuồng cải lương nói trên được chuyển thể thành phim, được bỏ đi bài bản ca cổ nhạc, đồng thời thêm bớt chút ít lời đối thoại là coi như xong. Tài tử đóng phim cũng thế, các đào kép chánh như Thanh Nga, Hữu Phước, Thành Được vẫn đảm nhận các vai trò nòng cốt, có nghĩa là ở sân khấu nghệ sĩ đóng vai nào thì lúc quay phim vẫn giữ vai trò của mình trong tuồng đó. Toàn bộ như vậy, coi như là tuồng cải lương được điện ảnh hóa, mà khi đi xem phim thì cảm tưởng của khán giả chẳng khác gì coi cải lương.

Hùng Cường và Thanh Nga trong phim Nắng chiều

Cuộc “cách mạng điện ảnh”
            Thế nhưng, đến năm 1969 thì đạo diễn Bùi Sơn Duân đã làm một cuộc “cách mạng điện ảnh” bằng cách sắp đặt tất cả tài tử diễn viên là người của điện ảnh (mới hoặc cũ), chỉ đặc biệt vai chánh là chọn một kép hát cải lương đương thời là Thanh Tú, đóng vai chánh trong phim “Ba Cô Gái Suối Châu” của Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh.
            Thấy đường lối trên làm ăn khá, khán giả cải lương hoan nghinh đạt kết quả tốt đẹp về tài chánh nên nhiều hãng phim khác đã bắt chước.
            Vào khoảng cuối năm 1969 hãng phim Liên Ảnh công ty do ông Quốc Phong làm giám đốc, đã quyết định mời kép cải lương Hùng Cường đảm trách vai chánh trong cuốn phim “Chân Trời Tím”, tình tiết chuyện phim phóng tác theo tác phẩm tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Văn Quang. Sự kiện đã gây chấn động xôn xao trong làng điện ảnh lẫn cải lương, và đây là thời điểm mà thời vận tốt đưa đến cho một số nam nữ nghệ sĩ cải lương tên tuổi như Thanh Nga, Thanh Tú, Bạch Tuyết, Hùng Cường…
            Số nghệ sĩ cải lương được may mắn đã gia nhập làng điện ảnh mà còn lại chiếm ngôi vị độc tôn ở lãnh vực này, nắm giữ hầu hết các vai trò quan trọng của phim mà họ có mặt. Sự thể trên là một bất lợi ngó thấy cho một số tài tử điện ảnh chuyên nghiệp, và sự bất mãn khiến cho mấy tay này “quậy” tùm lum, châm chích đủ thứ, mà cái đáng trách hơn hết là dùng từ ngữ “cải lương” để bôi bác, nói xấu. Lúc bấy giờ thiên hạ nhiều giới nghe qua là biết rõ những tay này do mất chỗ đứng, bị ra rìa nên phản ứng bằng cách chê bai cho đỡ tức tối, chứ chẳng làm gì được để ngăn cản sự xâm nhập của đào kép cải lương.
            Từ những thập niên trước cho đến lúc bấy giờ, người ta luôn nghĩ cải lương và điện ảnh là hai nghệ thuật khác nhau, việc ai nấy làm, chớ không có vấn đề người cải lương đi làm phim ảnh, hay là người điện ảnh đi làm cải lương, trừ vài trường hợp ngoại lệ đặc biệt sẽ đề cập ở phần dưới đây. Người ta cũng thừa biết rằng khán giả cải lương thuần túy họ hiếm khi đi coi hát bóng; ngược lại khán giả xi nê thì cũng chẳng mấy thích vào rạp coi cải lương, nói rằng cải lương là rên rỉ, than khóc… Chẳng những thế mà một số người còn khi dễ cho rằng cải lương chỉ dành cho hạng khán giả bình dân, thậm chí còn nhạo báng rằng cải lương trước khi chết phải ca xong 6 câu vọng cổ rồi mới chết!



Chọn đào kép cải lương giao vai chánh
            Tóm lại là có hai dạng khán giả khác nhau, do đó mà nghệ thuật nào cũng cố gắng trau dồi nghề nghiệp để làm vừa lòng khán giả của lãnh vực mình phục vụ. Riêng các tài tử chiếu bóng thì luôn thăm dò nghe ngóng xem các hãng phim có sắp sửa thực hiện cuốn phim nào chăng, và luôn hy vọng mình sẽ được mời, để có một vai trò càng cao càng tốt. Cũng như trong tâm tư họ đã không hề nghĩ tới cái việc có một ngày nào đó các hãng phim đã không cần tài tử chuyên nghiệp như họ nữa, mà lại chọn đào kép hát cải lương để giao cho vai chánh.
            Thật vậy, trong lúc ông Quốc Phong, giám đốc Liên Ảnh công ty tiếp xúc với nhà văn Văn Quang để tương lượng về bản quyền tác phẩm “Chân Trời Tím” mà thời gian trước đó đăng hằng tuần trên tạp chí tuần báo Phụ Nữ Diễn Đàn rất được nhiều người đọc. Nghe rục rịch như vậy thì số tài tử quá nhiều hy vọng mình sẽ được mời, và đang tính đến chuyện “làm giá” như đã từng làm. Một vài tài tử gạo cội từng đóng nhiều phim đã ngồi chờ, nhưng chờ mãi chẳng thấy ai mời, kế đó lại hay tin Liên Ảnh mời Hùng Cường bên cải lương và đang nói chuyện giá cả cũng như vai trò sẽ giao cho.
            Thật là một tin như sét đánh cho người tài tử điện ảnh! Lúc đầu thì mấy tay này không tin đây là chuyện có thật, nhưng sau đó thấy báo chí tường thuật kết quả cuộc thương lượng giữa Hùng Cường và Liên Ảnh công ty thì mấy tài tử chuyên nghiệp mới thật sự tin là có, và họ bắt đầu lo lắng cho thân phận “bị ngó lơ” của mình. Bởi một khi kép cải lương Hùng Cương “lọt” được vào nghệ thuật màn ảnh, thì những đào kép cải lương khác bước vào chỉ là còn thời gian ngắn hay dài thôi! Sự lo ngại kia cũng đúng thôi, bởi khi vừa đóng xong phim “Chân Trời Tím” thì kép cải lương Hùng Cường được nhiều hãng phim mời cộng tác, và họ cũng nhắm vào đào kép cải lương khác để mời thêm.
            Ông giám đốc Quốc Phong được coi như là người làm thương mại, ông đã nhắm vào con số đông đảo khán giả cải lương, nên đã mời Hùng Cường cộng tác và phim đã thành công như nhiều người biết.
            Lúc mới bước sang lãnh vực điện ảnh, kép cải lương Hùng Cường bị những người trong giới này châm chích quá mạng, họ đã dùng từ ngữ “cải lương” để chê bai. Thế nhưng, sau khi thành công với phim đầu tiên “Chân Trời Tím” thì Hùng Cường mạnh dạn đứng trên sàn quay, nhiều hãng phim đã mời Hùng Cường cộng tác và phim nào có tên anh cũng ăn khách. Hãng phim Kim Thân đã trả tiền thù lao khá cao để mời Hùng Cường và Mai Lệ Huyền đóng cặp trong phim “Mãnh Lực Đồng Tiền”. Đào Thanh Nga cũng có mặt trong phim với vai trò “đào thương” kể như vai chánh (phim này Thanh Nga chỉ thu hình, tiếng nói do người khác thu tiếng).
            Và sau việc Hùng Cường bị châm chích thì người ta tự hỏi, phải chăng nghệ thuật điện ảnh chỉ dành riêng cho một số người mà thôi sao, những ai đang làm nghề nghiệp khác nếu bước vào thì cũng bị “tai họa” như Hùng Cường!
            Lúc đầu thì các nữ tài tử điện ảnh rất ngại đóng cặp với kép hát cải lương, nghe nói thì hình như Liên Ảnh công ty trước khi mời Kim Vui đã có ngỏ ý mời Thẩm Thúy Hằng đóng cặp với Hùng Cường nhưng cô từ chối (có lẽ do vấn đề “cải lương” trên). Rồi sau đó thấy Kim Vui nổi bật trong phim Chân Trời Tím và phim lại được giải của tổng thống, nên người đẹp Bình Dương mới tiếc rẻ.
            Càng về sau thấy Hùng Cường tiếp tục thành công, trở thành tài tử “gạo cội” thì các nữ tài tử điện ảnh tên tuổi đã không còn e ngại đóng phim với Hùng Cường, và trong đó có nữ tài tử Kiều Chinh.
            Tháng 9, 1971 hãng Trùng Dương Film, đạo diễn Lưu Bạch Đàn đưa nhóm tài tử ra Nha Trang khởi sự quay phim “Bão Tình” và người ta thấy Kiều Chinh – Hùng Cường có mặt cùng đóng phim.
            Trung Tá Ôn Văn Tài (chồng của ca sĩ Thanh Thúy) cũng giữ một vai trò trong phim, nhưng ít xuất hiện. Đặc biệt cuốn phim “Bão Tình” này có quay cảnh mãn khóa 22 Sĩ Quan Hải Quân tại Nha Trang, và phim đã ra mắt khán giả khoảng cuối 1971.
            Trước đây, thỉnh thoảng vẫn có người cải lương đứng ra làm phim, như trường hợp đoàn Kim Chung ở ngoài Bắc, năm 1953 đã từng đưa đào kép của đoàn sang Hồng Kông quay cuốn phim “Kiếp Hoa”. Ba năm sau (1956) ở trong Nam nghệ sĩ Năm Châu cộng tác với hãng phim Mỹ Vân thực hiện cuốn phim “Quan Âm Thị Kính” với toàn bộ đào kép cải lương của Ban Việt Kịch Năm Châu làm tài tử đóng phim. Cả hai phim Kiếp Hoa và Quan Âm Thị Kính đều thành công rực rỡ về tài chánh, dù rằng kỹ thuật hình ảnh, âm thanh lúc đó quá kém.
            Tóm lại nếu ham thích và có đầu óc thương mại, cộng thêm vốn liếng thì người làm cải lương cũng có thể đi vào khai thác điện ảnh dễ dàng. Trường hợp Liên Ảnh công ty đã dẹp bỏ mọi dư luận, mọi thành kiến và cả sự công kích của một số người.
            Thời điểm đó nhiều cuốn phim Việt trình chiếu, khán giả có dịp thưởng thức món ăn tinh thần cây nhà lá vườn, thay vì cứ ăn mãi cái món ngoại quốc nhập vào, không hạp với khẩu vị của nhiều người, nhất là giới khán giả bình dân họ ít khi nào đi xem phim Âu Mỹ, mà có chăng là phim Nhựt, phim Ấn Độ được chuyển âm tiếng Việt.
            Phong trào phim Việt làm sinh khí sôi động làng điện ảnh, nhiều người chưa từng ở trong nghề, không có một kinh nghiệm nào hết cũng nhập cuộc nhảy vào kinh doanh nghệ thuật, vừa thỏa nguyện ước mơ làm chủ hãng phim lại vừa làm thương mãi, ở một địa hạt mà nếu may mắn gặp thời, phim ăn khách thì “vốn một mười lời” như trường hợp phim “Biển Động” của hãng Kim Cương Film. Lúc ấy ở mấy quán cà phê gần rạp hát thiên hạ bàn tán khá nhiều, và cứ mỗi xuất chiếu thấy người ta chen chân mua vé là có người nói: “Như thế này thì bạc tiền Kim Cương để đâu cho hết, kỳ nữ chưa có chồng mà!”


NGÀNH MAI
Tháng 05/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-05302015-nm-05302015071700.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #143 vào: 20/10/2018, 23:45:49 »
Chuyện tình Lan và Điệp từ cải lương bước sang tân nhạc

Từ hơn bảy thập niên qua, kể từ ngày vở hát Lan và Điệp của soạn giả Trần Hữu Trang, tức Tư Trang được trình diễn trên sân khấu Năm Phỉ thì phần lớn khán giả cải lương sành điệu, đã biết qua tình tiết lớp lang câu chuyện diễn tiến từ đầu tới cuối.

Nghệ sĩ Thành Được và Thanh Nga trong vở Lan và Điệp

Bất tử với thời gian
            Buổi trình diễn khi vở hát mới ra đời ấy, do cô đào Năm Phỉ đóng vai Lan, kép Tư Út đóng vai Điệp, đôi nghệ sĩ tiền phong thượng thặng này đã mở đầu cho hai nhân vật chính Lan – Điệp trở thành bất tử với thời gian. Bởi trong lịch sử nghệ thuật sân khấu chưa có vở hát nào được giới mộ điệu ưa thích, đến đỗi càng về sau câu chuyện càng mở rộng xâm lấn sang các lãnh vực văn nghệ khác.
            Trước tiên Lan và Điệp được hãng dĩa hát Asia thâu thanh với tên tựa “Hoa Rơi Cửa Phật” phát hành cùng khắp từ Nam chí Bắc. Dĩa hát cũng được bán qua Miên, và theo theo như nhà phát hành lúc ấy cho biết, thì kiều bào xứ Chùa Tháp họ tiêu thụ dĩa hát này nhiều gấp ba, bốn lần đại lý dĩa hát ở Cần Thơ. Do ở đất Miên dễ làm ăn, người ta dám mua sắm, vả lại số người sang đây lập nghiệp đại đa số là người Nam Kỳ Lục Tỉnh, mà cổ nhạc cải lương đã gắn liền với đời sống tinh thần của họ.
            Dĩa “Hoa Rơi Cửa Phật” cũng được đưa sang Lèo và cả ở bên trời Tây, do vậy mà kiều bào ở Pháp vẫn còn những người lưu giữ các dĩa hát xưa ấy. Song song đó cuốn bài ca “Hoa Rơi Cửa Phật cũng được ra đời bán ở các chợ miền quê, chợ nhỏ, lớn nào cũng có người bán. Rồi cũng từ đó các gánh hát bầu tèo (gánh hát nhỏ) ở thôn quê đã sao chép lời ca, lời đối thoại, rồi thêm thắt vào dựng lên tuồng cải lương Lan và Điệp phục vụ bà con ở thôn quê và cũng được hoan nghinh.


Đĩa Hoa Rơi Cửa Phật – Cô Tư Sạng; Tám Thưa; Năm Nghĩa; Hồng Châu

Tân nhạc chào đón Lan và Điệp
            Từ khi vở hát Lan và Điệp ra đời hiện diện trên sân khấu suốt hai thập niên, hầu như không ai nghĩ đến chuyện sẽ có ngày Lan và Điệp lại có thể chen chân vào lãnh vực tân nhạc. Bởi tân nhạc có một lối sinh hoạt khác xa với cải lương, có người còn nói tân nhạc và cổ nhạc hình như không thích nhau. Thế mà đến giữa thập niên 1960 tân nhạc đã mở rộng cánh cửa thân tình, chào đón Lan và Điệp, đó là năm 1965 người ta bất ngờ nghe xướng ngôn viên Đài phát thanh Sài Gòn giới thiệu nhạc bản “Chuyện Tình Lan và Điệp” của Mạc Phong Linh và Mai Thiết Lỉnh. Bản nhạc có lời ca điệu nhạc truyền cảm ấy được thính giả lúc bấy giờ ưa thích, gởi thơ yêu cầu nhiều nên Đài phát thanh Sài Gòn và đài Ba Xuyên đã cho phát đi phát lại bản nhạc này nhiều lần, đến đỗi có người nghe riết rồi thuộc lòng và hát luôn.
            Có điều lạ là đa số thính giả yêu cầu đài phát bản “Chuyện Tình Lan và Điệp” lại là thính giả thường nghe chương trình cổ nhạc cải lương, và họ cũng nói phải chi bản nhạc này mà có Út Bạch Lan, Thanh Nga, Thành Được ca thêm vài câu vọng cổ thì hay biết mấy.
            Thế là hãng dĩa hát Hồng Hoa đã “bắt mạch” được, họ thương lượng với tác giả bản nhạc mua bản quyền và “đặt hàng” cho soạn giả Viễn Châu viết thêm lời ca vào, đồng thời chọn các ca sĩ tân cổ nhạc đang nổi tiếng lúc bấy giờ là Thanh Tuyền, Hồng Phúc, Thanh Nga, Thành Được, Tấn Tài. Còn đệm tân nhạc thì hãng chọn ban nhạc Huỳnh Anh, về cổ nhạc thì nhạc sĩ Năm Cơ đờn kìm, Bảy Bá đờn tranh và lục huyền cầm, Tư Huyện đờn vĩ cầm. Với thanh phần ca nhạc sĩ khá hùng hậu này mà hãng chỉ thu thanh có một dĩa nhựa 45 tua, thì phải nói rằng hãng dĩa Hồng Hoa đã chịu bỏ tiền đầu tư một số vốn khá lớn vậy.

Vọng cổ có pha tân nhạc
            Dĩa hát tân cổ giao duyên “Truyện Tình Lan và Điệp” phát hành đã bán khá chạy, bởi đa số những người có máy hát dĩa thời đó đã không bỏ qua dĩa hát trữ tình này. Đồng thời đã không ít những người yêu thích tân nhạc họ cũng khen hay, do đó là động lực cho hãng dĩa Hồng Hoa tiếp tục cho phát hành dĩa vọng cổ có pha tân nhạc, với những bản nhạc đang được ưa chuộng.
            Tiếp theo đó thì lại thêm những hãng dĩa khác ra đời, xuất hiện với nhiều nhãn hiệu mới, mà hầu như hãng nào cũng nhắm vào khai thác bài tân cổ giao duyên. Lúc bấy giờ do vấn đề thương mại, các hãng dĩa đã không còn sản xuất dĩa hát rặc ròng 6 câu vọng cổ nữa, mà hầu hết đã tìm các bản nhạc từng nổi tiếng nhiều năm trước, để biến thành bài tân cổ giao duyên.
            Theo lập luận của hãng dĩa, tức những người làm thương mại họ tính toán khá kỹ, thì tuy rằng bài tân cổ giao duyên có làm “trái tai” với một số người vốn bảo thủ bài vọng cổ thuần túy, nhưng nó lại thích hợp với một số đông đảo hơn, với những người thưởng thức cổ nhạc thời ấy. Do vậy mà số thính giả bảo thủ dù muốn dù không cũng “bị” nghe tân nhạc xen vô vọng cổ.


Phim Lan và Điệp với Thanh Tú & Thanh Nga (hãng phim Dạ Lý Hương, 1972)

Bài vọng cổ chỉ còn 4 câu
            Người ta nhớ lại từ đầu thập niên 1950 cho đến năm 1965, soạn giả viết bài ca luôn đầy đủ 6 câu vọng cổ, mà thông thường nói lối xong xuống hò vô câu 1. Khi dứt câu 3 nói lối trở lại và xuống hò vô vọng cổ câu 4.
            Thời đó các soạn giả viết bài ca vọng cổ đã theo quy luật này, và những bài vọng cổ đủ 6 câu cũng thịnh hành một thời như Xâu Gùi Bến Cát, Đội Gạo Đường Xa, Mồ Em Phượng, Tình Anh Bán Chiếu, Gánh Nước Đêm Trăng, Lòng Dạ Đàn Bà, Tu Là Cội Phúc, Tiếng Đàn Trên Bắc Mỹ Thuận, Bá Nha Tử Kỳ...
            Cũng có trường hợp soạn giả đã thay thế nói lối bằng mấy câu thơ lục bát. Soạn giả Kiên Giang vốn là thi sĩ nên bài vọng cổ của ông ngoài việc cho thơ thay thế nói lối, mà còn đem thơ vào luôn câu ca vọng cổ, thường là 8 nhịp dứt câu. Nhưng dù cho thơ vào, thì bài vọng cổ vẫn đủ 6 câu chớ không cắt bớt.
            Thời điểm ấy đờn ca tài tử khi nhập cuộc thì ca đủ 6 câu vọng cổ, kể cả các bài vọng cổ hài hước do Hề Minh và Hề Văn Hường ca. Thế nhưng, từ ngày bài tân cổ giao duyên “Truyện Tình Lan và Điệp” ra đời đã dẫn theo hàng loạt bài tân cổ giao duyên khác, do vậy mà bài vọng cổ chỉ còn bốn câu. Câu thứ 4 bị mất trước tiên, rồi thì câu 3 cũng bị bỏ đi, cho dù cắt bỏ câu nào cũng được, riêng câu 6 thì giữ nguyên phần xuống “xê” và 8 nhịp chấm dứt bài ca.
            Do yêu cầu của nhà sản xuất dĩa hát, nên soạn giả bắt buộc phải bỏ bớt hai câu để xen tân nhạc vào cho hợp với kỹ thuật thu dĩa, mỗi bài tân cổ giao duyên vô một mặt dĩa, không thể dư được.
            Lúc bấy giờ có người thắc mắc với soạn giả Viễn Châu, rằng tại sao không viết trọn bài vọng cổ 6 câu, mà viết toàn vọng cổ pha tân nhạc, làm vọng cổ mất đi hai câu, như vậy dân đờn ca tài tử đâu có ca được. Soạn giả Viễn Châu đã trả lời: Nếu viết cho đủ 6 câu, tức là không có chen tân nhạc thì ai trả tiền? Hãng dĩa chỉ mướn mình viết vọng cổ dựa theo bài tân nhạc, chớ còn viết đủ 6 câu thì phải đi chào hàng khó ăn hơn nhiều, mà chắc gì hãng dĩa chịu mua. Thôi thì viết bài ca được “đặt hàng” đôi khi còn nhận tiền trước.
            Do vậy mà từ khi tân cổ giao duyên ra đời, dân đờn ca tài tử chỉ ca các bài bản cũ 1965 trở về trước, mà bài được ca nhiều nhứt phải nói là bài “Tình Anh Bán Chiếu ” của soạn giả Viễn Châu.


NGÀNH MAI
Tháng 06/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0606-06052015224843.html
https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-061115-nm-06112015083142.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #144 vào: 27/10/2018, 11:39:53 »
Viễn Châu và bài vọng cổ “Chiếc Áo Thiên Thanh”

Năm 1959, Bộ Thông Tin cấp giấy phép cho hãng dĩa Việt Hải thu thanh phát hành bài vọng cổ “Chiếc Áo Thiên Thanh” của soạn giả Viễn Châu. Song song đó cuốn bài ca cũng được in ấn phổ biến cùng khắp, nên thời bấy giờ dân đờn ca tài tử có thêm một bài ca mới, đưa vào sinh hoạt mà ai nghe qua cũng ngậm ngùi, thương cảm.

Bìa cuốn bài ca “Chiếc Áo Thiên Thanh

THEO NHƯ LỜI soạn giả Viễn Châu kể lại thì bài vọng cổ này ông viết từ nhiều năm trước đó, từ thời quân đội viễn chinh Pháp đi ruồng bố ở vùng nông thôn quê hương của ông, và câu chuyện bố cục cho bài ca này là chuyện thương tâm có thật.
            Tuy rằng chỉ sáu câu vọng cổ, nhưng soạn giả Viễn Châu đã vẽ lên bức tranh ở miền quê sông nước, với con thuyền tách bến đưa chàng trai từ làng quê ra tỉnh học, và cô em gái đứng bên gốc dừa vẫy tay. Ðồng thời cũng diễn tả nỗi đau thương mất mát của người dân thời loạn lạc, và đưa người nghe trở về bối cảnh xã hội của miền Nam thời xa xưa, cái thời mà các chàng trai đã học qua bậc tiểu học ở trường làng, rồi sau đó đi ra tỉnh học tiếp tục, được nói rất nhiều trong các tác phẩm xã hội của cụ Hồ Biểu Chánh.
            Riêng trong câu chuyện viết lên bài ca “Chiếc Áo Thiên Thanh” thì một người anh đi ra tỉnh học, đã mang theo lời nhắn nhủ của cô em gái quê mùa mộc mạc. Cô em mới 15 tuổi đầu, cô rất thích chiếc áo mới màu thiên thanh, bởi chiếc áo độc nhất của cô đã rách hai vai sau những ngày chiều sông sớm chợ để nuôi anh nuôi mẹ.
            Cũng theo Viễn Châu thì khi người anh mang chiếc áo thiên thanh về quê thì cô em gái đã lìa bỏ cõi đời, trong cuộc ruồng bố của quân viễn chinh, cô cùng với bà con chạy loạn và gục ngã dưới lằn đạn của giặc.
            Tuy bài ca viết xong nhưng do thời cuộc (thời Pháp) đã không phổ biến được, mà phải cất giấu và xé bỏ đi đến mấy lần. Ðến khi hòa bình lập lại trên đất nước, ông mới dám phổ biến và đi chào hàng ở các hãng dĩa hát.
            Dưới đây là bài vọng cổ “Chiếc Áo Thiên Thanh”.

            Thơ:
                        Anh còn nhớ khi anh ra tỉnh học,
                        Em chạy theo và căn dặn anh rằng,
                        Mua cho em chiếc áo thiên thanh,
                        Em may sẵn đó để dành đón Xuân.


            Ca vọng cổ:
            1) Anh lẳng lặng nhìn em với vẻ mặt ngây thơ nhưng ửng hồng vì sạm nắng bởi đã hầu quen trong cảnh sống cơ… bần, mười mấy tuổi xuân đã lắm nỗi phong trần. Dầm mưa dãi nắng chân lấm tay bùn chở mạ gánh rơm. Có những đêm Thu bầu trời vằng vặc còn giã gạo dưới trăng, tiếng chày đôi gõ nhịp cầm canh, mái tóc mơ buồn tung bay trước gió.

            2) Thơ Vân Tiên:
                        Em tôi cô gái mười lăm,
                        Biết lo dệt lụa chăn tằm sớm trưa,
                        Áo dài rách tự năm xưa,
                        Muốn may để mặc nhưng chưa sẵn tiền.

            Em của tôi là một đứa em hiền, một mình em tần tảo để nuôi mẹ già dưới mái lều tranh. Lại còn lo lắng cho anh theo đuổi bút nghiên sách đèn ăn học, ngày đêm âm thầm cầu nguyện với Phật trời cho sớm được thành danh.


            3) Khi con thuyền từ từ tách bến anh thấy em còn đứng dưới bóng dừa râm mát, đưa tay vẫy theo anh và một lần nữa ân cần căn dặn: Anh mua cho em nhớ lựa màu thiên thanh có bông hoa lý, để sang năm thi đỗ em sẽ mặc áo mới ra tận cổng làng hãnh diện đón anh. Anh ôi chiếc áo độc nhất của em đã rách cả hai vai sau những ngày chiều sông sớm chợ để nuôi anh nuôi mẹ trong những năm khói lửa tưng bừng.

            Ca nhạc rừng khuya:
                        Ngày về năm xưa,
                        Anh tìm khắp nơi nhưng không thấy đâu,
                        Bóng hình em hiền,
                        Nhìn lại quê xưa, u buồn thê lương,
                        Mái tranh bơ phờ, một màu điêu tàn,
                        Nơi cổng làng, cố đưa mắt nhìn,
                        Nào đâu thấy em hẹn ra đón anh,
                        Cầm tay chiếc áo xanh dài,
                        Ðây màu thiên thanh, em vẫn ước ao,
                        Ôi vắng em anh buồn ngẩn ngơ,
                        Ngày về cố hương,
                        Ðôi mắt lệ trào dâng…


            5) Trời ôi! Khi hỏi lại người thân mới hay em gái tôi đã chết vì tay giặc, trong buổi hành quân đã hủy hoại kiếp xuân thời. Cầm chiếc áo trong tay anh thốt chẳng nên lời. Em ôi áo mới mua về em chẳng mặc, thân vùi đất lạnh biệt trần gian, cả một bầu trời như nhuộm vẻ tóc tang, cả vũ trụ như quay cuồng trước mắt, suối lệ đầy vơi gan bào ruột thắt bởi ngàn năm đã vắng bóng em hiền.

            6) Hò… hơ… chiếc áo thiên thanh gởi anh cất lấy, ráng lo cày cấy nuôi dưỡng mẹ già, từ đây đôi ngả cách xa, núi sông đẫm lệ cửa nhà quạnh hiu… Trời ôi ai cất tiếng hò xa đưa một điệu buồn thê thảm, nhớ em tôi tuổi vừa đôi tám phải thác oan bởi giặc Pháp tham tàn. Em ôi ước vọng của em không bao giờ thành tựu, bởi em đã mang xuống đáy mồ một ảnh hình của một chiếc áo thiên thanh.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2017


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/vien-chau-va-bai-vong-co-chiec-ao-thien-thanh/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #145 vào: 03/11/2018, 21:37:33 »
Soạn giả Hà Triều và Bầu Long thích ngựa đua

Người xưa nói, con người ta ở trên đời ai cũng có cái đam mê riêng, người mê thứ này, kẻ mê thứ nọ, chẳng ai mà không có, chỉ nhiều hay ít hoặc là có hại hay không mà thôi. Và ở đây chúng tôi không nêu lên nhiều thứ tệ hại, đã gây nên khổ sở điêu đứng cho giới cải lương, mà chỉ nói riêng về vấn đề đua ngựa ở trường đua Phú Thọ.

Soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng

Căn nợ với trường đua Phú Thọ
            Đua ngựa là môn nghệ thuật giải trí lành mạnh, hào hứng ở sự hơn thua bằng cách “cá độ”, nhưng hình thức cá độ nầy dần dần đã biến thành cờ bạc hợp pháp, mà hậu quả đã làm tán gia bại sản, mang nợ, đói nghèo cho một số người. Cá độ đã thành thói quen, để rồi mỗi tuần phải có mặt ở trường đua Phú Thọ, và trong số những người có thói quen ấy có cả giới cải lương.
            Giới cải lương đã không ít người có căn nợ với trường đua Phú Thọ, và cứ sau mỗi chiều Chủ Nhật khi độ ngựa đua cuối cùng về mức ăn thua, thì người ta lại thấy một số nghệ sĩ mặt mày như bánh bao chiều, mà tiếng lóng gọi là bị “ngựa đá”. Không phải chỉ những đào kép nghèo lương ít, họ mới đi trường đua để mong thắng độ kiếm tiền, mà luôn cả soạn giả Hà Triều và ông Bầu Long, giám đốc các đoàn Kim Chung cũng là thân chủ của trường đua Phú Thọ.
            Một trong những soạn giả tài danh của làng ca kịch, mà hầu như phần lớn khán giả sân khấu đã biết tên, đó là soạn giả Hà Triều, người từng đứng chung với Hoa Phượng, cho ra đời nhiều tuồng cải lương nổi tiếng như: Nửa Đời Dương Phấn, Con Gái Chị Hằng, Nỗi Buồn Con Gái, Tấm Lòng Của Biển…
            Tuy cùng viết tuồng chung, cũng có nghĩa là chung ý tưởng, nhưng cuộc sống ngoài đời thì hai soạn giả này lại có những khác biệt. Trong khi Hoa Phượng có nhiều vợ thì Hà Triều lại sống độc thân, và người trong giới cải lương thường nói soạn giả tài danh như Hà Triều, nếu muốn kiếm vợ đào hát đâu khó (nghe nói rất nhiều cô đào hát để ý ông), nhưng chàng ta lại không thích đàn bà, mà thích đua ngựa. Soạn giả nhà ta từng có con ngựa mang tên Tô Điền Sơn, chàng kiếm sĩ đất Phù Tang, nhân vật chính trong tuồng Khi Hoa Anh Đào Nở, là vở hát đưa cặp soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng và kép Thành Được lên đài danh vọng.
            Người ta từng thấy có những buổi chiều Chủ Nhựt mãn cuộc đua, Hà Triều rời trường đua Phú Thọ mà mặt mày buồn xo, vì bị ngựa đá văng túi. Lúc ấy giới cải lương thấy Hà Triều làm ra tiền không thua đào kép chánh, lại không vợ con, mà luôn phải vay nợ nên đã thắc mắc. Và họ đi đến kết luận có lẽ tiền bản quyền tuồng, đem “nạp” cho trường đua nhiều quá, nên Hà Triều vướng phải bệnh thần kinh chăng?
            Sau những năm tách rời với soạn giả Hoa Phượng, và đến năm 1972 thì Hà Triều lại bắt tay với Hoa Phượng lèo lái đoàn Tân Thái Dương hoạt động ở miền Trung. Trong lúc đoàn đang hát ở Đà Nẵng thì Hà Triều cấp tốc bay về Sài Gòn, vào nhà thương Chợ Quán nằm an dưỡng, vì có dấu hiệu cho thấy bệnh thần kinh sắp tái phát. Bởi Hà Triều vốn là thân chủ cũ của bệnh viện này (không biết từ hồi nào), và đó có thể là nguyên nhân khiến soạn giả nhà ta không muốn lập gia đình.
            Còn ông bầu Long, chồng của đào Kim Chung thì lại có biệt tài nhìn ngựa (xin đừng hiểu theo nghĩa đen), giới đi trường đua rất thường thấy ông đánh cá ngựa trúng độ vài chục ghim là thường. Theo các giới thân cận với Bầu Long thì vào khoảng 1965, nhân một chuyến đi Nhựt Bổn, Bầu Long gặp một dị nhân đã ban cho ông ta một quyển sách “Thần mã” trong đó ghi rõ tất cả các bí quyết về nuôi ngựa đua. Có hay không chẳng ai biết rõ, chỉ nghe đồn vậy thôi, có người hỏi thì ông chỉ trả lời bằng cách cười mà thôi.
            Người ta không rõ biết Bầu Long mê ngựa đua đến cỡ nào, nhưng có lần đúng ngày cúng Tổ cải lương tại trụ sở Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu ở đường Cô Bắc. Ông Bầu Long là hội trưởng, nhưng ngày cúng Tổ lại không có mặt, mà ông lại hiện diện ở trường đua Phú Thọ.

Vở Con gái chị Hằng của soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng,
với Út Bạch Lan, Thanh Nga...

Tiểu sử ông Bầu Long
            Sẵn đây cũng nói thêm về tiểu sử ông Bầu Long, tên thật của ông là Trần Viết Long, sinh năm 1922 tại Hà Nội trong một gia đình giàu có. Bầu Long từng đi du học ở Pháp, Đức nghiên cứu rất nhiều về điện ảnh. Về nước ông Long không làm cho cơ quan nào cả, mà lại rất ái mộ cải lương, và phải lòng cô đào Kim Chung, và để rồi cùng đứng ra thành lập đoàn Kim Chung “Tiếng chuông vàng Bắc Việt”. Thời gian sau đó Bầu Long góp tay với ông Phạm Thọ Minh thành lập thêm đoàn Kim Chung “Tiếng chuông vàng Hải Cảng – Hải Phòng”.
            Hiệp Định Genève 1954 ra đời, chiến tranh Pháp-Việt kết thúc, ông Long mang đoàn Kim Chung vào Nam, để rồi từ đó cơ sở Kim Chung lần lượt phát triển có đến sáu đoàn Kim Chung. Tôi không là ông bầu! Ông Long thường nói thế, bởi vì người ta hay gọi hai tiếng “bầu bì” liền nhau. Bì đây có nghĩa là cái vỏ, các ông bà bầu trong Nam trước nay hay vay nợ lập gánh, nên chỉ có cái vỏ đó thôi. Còn tôi, tôi là chủ nhân sáng lập với vốn liếng sẵn có của tôi, gánh hát khá được phần lớn cũng nhờ vốn nhà.
            Có thể Bầu Long nói đúng, bởi cuốn phim “Kiếp Hoa” của đoàn Kim Chung quay chiếu khắp nước, nghe nói lời trên mười triệu (năm 1953-1954 mười triệu tiền Đông Dương quá lớn). Nhằm vào thời kỳ Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu đang khủng hoảng trầm trọng (1964) và nữ nghệ sĩ Phùng Há bận đi Tây, người ta đã bầu ông Trần Viết Long lên làm hội trưởng, bởi trong tay ông lúc đó đang có những bốn đoàn Kim Chung, và ông Bầu Long vui vẻ nhận lấy trách nhiệm. Ông Long liền bỏ tiền túi ra triệu tập đại hội nghệ sĩ toàn quốc, phô trương thanh thế của hội, làm rùm beng cho nghệ sĩ hứng khởi một lúc.
            Nhưng rồi sau đó ông bị chính nạn kỳ thị Nam-Bắc đã không làm cho ông yên lòng, mà còn đâm ra chán nản là khác. Ông Long cũng ngấm ngầm hiểu vậy, cho nên suốt thời gian ông làm hội trưởng 5 nhiệm kỳ (nhiệm kỳ một năm) ông phải luôn luôn giữ soạn giả Duy Lân làm tổng thơ ký, để điều hành mọi việc của hội. Như vậy mà khi hội gặp một sơ xuất nào đó, là người ta lại đổ tội vào ông Long, chỉ vì ông ta là chủ gánh Kim Chung. Chí đến trong những phiên giỗ Tổ, có những miếng thịt quay nào quá mặn, anh em nghệ sĩ cũng cười ào được rằng: Đây là heo của Kim Chung rồi!
            Mặc dù suốt thời gian ông Long làm hội trưởng, mọi chi phí cho hội đều do chính ông Long đài thọ bằng tiền túi của ông. Có hội hè thì ông cho xe nhà của ông đi rước từng người trong ban quản trị, nhưng rốt cuộc người ta đã không hài lòng. Và vì lẽ đó, một người dầu có thiện chí bao nhiêu với hội cũng phải đành đưa tay đầu hàng, chịu chớ sao nữa bây giờ!
            Bầu Long đã đóng góp rất lớn cho nên nghệ thuật nước nhà. Ông mất vào năm 2003 tại Sài Gòn.


NGÀNH MAI
Tháng 06/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0620-nm-06202015112319.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #146 vào: 08/11/2018, 18:34:37 »
Trong làng sân khấu có đến ba nàng Thanh Lan

Nếu như ngoài xã hội có hai người trùng tên nhau cũng đã khó cho thiên hạ xác định mỗi khi đề cập đến một trong hai người, thì trong văn nghệ cũng vậy thôi, có đến những ba nàng Thanh Lan thì sự nhầm lẫn đối với khán giả làm sao tránh khỏi. Cách đây không lâu, viết báo tôi đã có lần nói về Thanh Lan này, lại kèm hình của Thanh Lan kia gởi đăng báo. Cũng may mà tòa soạn phát hiện kịp thời, chớ không thôi thì cũng phải một phen đính chánh, cáo lỗi…


Khán giả dễ nhầm lẫn
            Khi nói về một buổi trình diễn ở sân khấu, hoặc ai đó đang nói về người nghệ sĩ mà nghe họ đề cập đến hai chữ Thanh Lan, thì chắc rằng người nghe phải nghĩ ngợi trong vài giây và tự đánh dấu hỏi xem người ta muốn nói đến Thanh Lan nào đây.
            Thật vậy, trong làng sân khấu, ca nhạc có đến ba nàng Thanh Lan xuất hiện ở ba thời kỳ: Thanh Lan thời Đệ Nhứt Cộng Hòa; sang thời Đệ Nhị Cộng Hòa lại có nàng Thanh Lan khác xuất hiện, và sau 1975 lại có thêm một nàng Thanh Lan nữa. Do đó mà khán giả, thiên hạ rất dễ nhầm lẫn, người ta có thể hiểu ca sĩ này sang nghệ sĩ kia… Cái đặc biệt là cả ba nàng đều có nét đẹp riêng, và nổi tiếng mỗi người một cách.
            Ở ngoài xã hội nếu có sự trùng tên thì người ta đặt thêm biệt hiệu kèm theo tên gọi, chẳng hạn như dùng cái “họ” kèm theo tên. Cũng có khi dùng màu da đen hay trắng, cao hay lùn để phân biệt, hoặc người ta dùng tên cha hay tên mẹ người đó đi kèm với tên để chỉ cho đúng. Ngoài ra còn rất nhiều biệt hiệu mà do ở hoàn cảnh, tình huống, nghề nghiệp… mà người đời dùng để phân biệt những trường hợp trùng tên.
            Trước đây làng sân khấu có hai nàng Kim Loan (một tân nhạc và một cải lương). Dù rằng hai lãnh vực khác nhau, thế mà cũng vẫn có rắc rối, nên Kim Loan cải lương đổi tên Mộng Tuyền.
            Khoảng hơn một năm trước đây, cũng trên làn sóng phát thanh này, tôi có đề cập đến câu chuyện “Hai nàng Kim Loan”. Sau đó có người thắc mắc gởi về đài, cho biết Mộng Tuyền, tức nàng “Kim Loan cải lương” đã ở Úc châu. Nhưng theo sự tìm hiểu của tôi thì khác, và tôi sẽ trở lại câu chuyện Mộng Tuyền ở kỳ sau với nhiều chi tiết hơn.
            Trở lại vấn đề ba nàng Thanh Lan, trong buổi nói chuyện này, để tránh nhầm lẫn cho quí thính giả, chúng tôi tạm thời gọi ba nàng Thanh Lan bằng số 1, 2, 3 theo thứ tự thời gian trước sau mà các nàng ta xuất hiện ở mỗi thời kỳ.


Ca sĩ Thanh Lan – Hoa Hậu Nghệ Sĩ Năm 1962

Nàng Thanh Lan 1
            Trước hết nói về Thanh Lan 1 thì nàng này xuất hiện trước nhất, đã tạo được tên tuổi cùng thời với Thanh Thúy ở những nhà hàng Văn Cảnh, Hòa Bình, Bồng Lai, phòng trà Anh Vũ và các sân khấu đại nhạc hội. Nếu như Thanh Thúy quyến rũ khán giả bằng giọng ca truyền cảm và nét đẹp dịu hiền, thì Thanh Lan 1 đã thu hút được người xem bằng sắc vóc và nét bạo dạn khi trình diễn. Thanh Lan đi vào tâm hồn khán giả do cái “duyên”, cái “bạo” chớ không phải do sự tạo rung động khó quên bằng giọng ca như Thanh Thúy hoặc Hoàng Oanh.
            Thanh Lan 1 còn một lợi điểm nữa là rất ăn ảnh. Vì thế, nàng bước qua địa hạt phim ảnh thật dễ dàng. Trên màn bạc, Thanh Lan đã xuất hiện trong các phim “Đò Chiều”, “Bẽ Bàng”, “Cảnh Đẹp Miền Nam”, và thủ một vai chánh trong phim “Ảo Ảnh”.
            Con đường nghệ thuật đã đưa Thanh Lan 1 đến nếp sống trưởng giả, từ một nữ vũ sinh trong đoàn Kim Chung vào khoảng năm 1958, nàng bắt đầu bước qua tân nhạc năm 1959. Người hướng dẫn về tân nhạc đầu tiên cho Thanh Lan là nhạc sĩ Phó Quốc Thăng. Nét đẹp của Thanh Lan được công nhận năm 1962, khi người ta tôn phong nàng làm “hoa hậu nghệ sĩ” và long trọng trao vương miện cho nàng trên sân khấu Anh Vũ. Phòng trà Anh Vũ ở Sài Gòn là nơi mà những nhân vật tai to mặt lớn thời Đệ Nhất Cộng Hòa thường lui tới. Tên tuổi và sự giao thiệp đã đưa Thanh Lan lên địa vị một “phu nhân” giàu sang đến mức triệu phú hồi chế độ Ngô Đình Diệm.
            Thế nhưng, nếp sống trưởng giả không làm Thanh Lan quên nghệ thuật, vì vậy thỉnh thoảng vẫn phải tìm tới một nơi có nhạc để hát, hoặc theo lời mời. Hát không còn là sinh kế, nhưng hát cho… đỡ nhớ. Thanh Lan bảo vậy đó. Thanh Lan cũng không quên mình là một nữ nghệ sĩ có ít nhiều nguồn gốc từ giới cải lương. Vì vậy nàng vẫn yêu sân khấu bộ môn nầy và vẫn thường đi coi cải lương, ngồi ở hàng ghế đầu theo dõi mà say mê thích thú. Do xuất thân từ đoàn cải lương Kim Chung, nên khi nghe tin Thanh Lan được bầu làm hoa hậu, thì cả đoàn Kim Chung đã cười rần lên không biết cười vấn đề gì.
            Có lần một ký giả kịch trường phỏng vấn:
            – Thanh Lan bây giờ muốn những gì?
            Nàng đáp:
            – Chẳng muốn gì nữa, chỉ ngủ trong hạnh phúc sẵn có, và niềm vui hiện tại là thích nhứt. Mỗi ngày Thanh Lan ở nhà cưng cậu con trai hoặc lái xe đi dạo phố.
            Bấy giờ nàng đã làm chủ những chiếc xe hơi, những ngôi biệt thự trị giá bạc triệu. Từ sau 1975 người ta không nghe thấy nàng ca sĩ Thanh Lan 1 này ca hát gì cả, đã giải nghệ, và có lẽ đã ra hải ngoại nhưng không xuất hiện.
            Cách đây không lâu ở miền Nam California, có đám tang ông Cao Xuân Vỹ, một nhân vật đầy quyền thế thời Đệ Nhứt Cộng Hòa. Đám tang được vị thượng tọa làm đám theo nghi thức Phật Giáo. Tôi nghe vị thượng tọa kể lại là có tiếp xúc với bà ca sĩ Thanh Lan mặc tang chế. Không biết có phải Thanh Lan 1 là bà Cao Xuân Vỹ, bởi cũng có nghe nói?


Ca sĩ Thanh Lan thời trẻ

Nàng Thanh Lan 2
            Tiếp đây là đề cập đến Thanh Lan 2, nàng này xuất hiện khoảng sau năm Mậu Thân và nổi tiếng như cồn vào những năm cuối của thời Đệ Nhị Cộng Hòa. Thanh Lan 2 “lừng danh” nhiều hơn so với Thanh Lan 1, không những ở lãnh vực nghệ thuật mà luôn cả ngoài xã hội. Báo chí tốn khá nhiều giấy mực với nàng Thanh Lan 2 này, từ chuyện Dũng Long Biên (chồng của cô) đến chuyện đóng phim “Tiếng Hát Học Trò”, đóng phim “Tình Khúc Thứ Mười” với tài tử Nhật Bổn trên sông Hương…
            Không biết tại sao mà mỗi lần có việc gì đó xảy ra liên quan đến Thanh Lan 2 thì báo chí tập trung vào để nói, nếu như ghi lại hết những gì báo chí thời ấy đề cập, chắc phải nói trong nhiều buổi phát thanh. Người ta không hiểu vì sao mà khi Thanh Lan bước vô lãnh vực nào, từ ca nhạc đến điện ảnh thì ít hay nhiều cũng có vấn đề nào đó khiến cho báo chí làm rùm beng lên, ngay cả lúc Thanh Lan vừa đến Hoa Kỳ thì cũng nổi đình nổi đám lên một dạo.
            Thanh Lan chào đời ở thành phố Vinh, Nghệ An, là tỉnh tiếp giáp với Hà Tỉnh ở phía Nam, mà trong dân gian thiên hạ cho rằng: Nghệ-Tĩnh là “địa linh nhân kiệt”. Phải chăng do đó mà dù chỉ ở lãnh vực văn nghệ thôi, Thanh Lan cũng là “nhân kiệt” nên mới nổi tiếng nhiều hơn các đồng nghiệp cùng thời, dù rằng chưa biết ai đã tài nghệ hơn ai.
            Là cựu hoa khôi làng tân nhạc, Thanh Lan được liệt vào hạng ca sĩ khá ăn khách, của các phòng trà ca nhạc thủ đô Sài Gòn thời bấy giờ.
            Khán giả mộ điệu đã cho rằng tiếng hát Thanh Lan là tiếng hát của những người vẫn tìm thấy ở cuộc đời những hy vọng tràn đầy, của những kẻ đương sống ngỡ ngàng, nhưng cuồng nhiệt trước ngưỡng cửa của tình yêu. Đi hát từ lúc 12 tuổi, Thanh Lan thường hát nhạc Pháp, và nhờ thông thạo hai sinh ngữ Pháp, Anh nên Thanh Lan đã diễn tả lời ca tiếng hát gần giống như một có đầm nào đó đang hát nhạc ngoại quốc vậy. Thời gian còn học ở trường Marie Curie và Đại Học Văn Khoa ở Sài Gòn, Thanh Lan thường cùng bạn bè đóng kịch, ca hát. Đến khoảng 1971 thì tham gia nhóm kịch đài truyền hình, và chỉ trong thời gian rất ngắn thì bước vào làng điện ảnh đóng các phim “Tiếng Hát Học Trò”, phim “Ngọc Lan”, nếu tính chung thì Thanh Lan đóng tất cả khoảng 25 cuốn phim. Và ở lãnh vực nghệ thuật này, Thanh Lan nổi tiếng cũng nhiều mà tai tiếng cũng không ít, nhứt là trong thời gian phối hợp với tài tử Nhựt Bổn đóng cuốn phim “Tình Khúc Thứ Mười”.
            Tóm lại là Thanh Lan 2 nổi tiếng khá nhiều do những xi căng đan, mà báo chí thời bấy giờ đã triệt để khai thác, mà báo nói nhiều là thiên hạ bàn tán nhiều vậy. Thật ra, nếu nói hết về Thanh Lan trong quá trình tham gia văn nghệ, tình cảm lẫn cuộc đời thì cả một cuốn sách mới có thể gọi là tạm đủ. Nhưng ở đây chúng tôi chỉ đề cập một cách khái quát về tiểu sử, cũng như tóm lượt sơ qua về hoạt động nghệ thuật của người nữ ca sĩ này mà thôi.
            Hiện nay Thanh Lan 2 đã ở hải ngoại gần 20 năm, từ ngày định cư ở Mỹ cô ít khi xuất hiện, nhưng thỉnh thoảng vẫn tham gia vài sô hát. Thế nhưng, thời gian thì cái gì cũng qua thôi, Thanh Lan vẫn luôn được cảm tình của khán giả. Ngoài ra Thanh Lan cũng từng được người đời mệnh danh là người ca sĩ… trẻ mãi không già. Chẳng biết có đúng như vậy không?


Thanh Lan trong vai cô hàng hoa trong phim hài Xóm Tôi (1974)

Thanh Lan 3
            Nói về nàng Thanh Lan 3, thì nàng này xuất hiện sau 1975, không có những “dậy sóng” như hai nàng kia, được khán giả biết đến là nhờ ca hát, và từng làm bầu gánh cải lương nhưng bị rã gánh. Thanh Lan 3 sinh quán ở Vĩnh Long, trong gia đình truyền thống cổ nhạc, và là em chú bác với nghệ sĩ Thành Tôn (hát bội). Nàng từng theo học lớp tân nhạc với Duy Khánh, và cũng từng học lớp cổ nhạc ở lò Út Trong. Sau đó thì chính thức đi vào nghề qua việc gia nhập đoàn cải lương tuồng cổ Phước Thành. Kế đến thì đi đoàn Đất Mũi và điều kiện thuận lợi đưa đẩy nàng nhảy lên làm bầu gánh hát Sân Khấu Mới Đồng Nai.
            Thanh Lan có dịp kinh nghiệm được nỗi đắng cay của nghiệp làm bầu. Đào kép eo sách, làm khó đủ thứ, đòi mượn tiền trước giao kèo rồi lại bỏ đi… Đoàn hát kiệt quệ, Thanh Lan cho đoàn rã gánh và đi hát chầu trở lại cho mấy đoàn khác. Thanh Lan 3 vừa mới nổi tiếng, được báo chí nói đến, đăng hình, nhưng rồi do “ngành cải lương cúc rũ thu tàn” nên hiện nay người ta chẳng biết Thanh Lan này ra sao, ở đâu?


NGÀNH MAI
Tháng 07/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-070415-nm-07042015080755.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #147 vào: 10/11/2018, 23:16:53 »
Hãng dĩa hát Continental phải chạy theo tân cổ giao duyên để sống còn

Hãng dĩa hát Continental từ lúc thành lập, suốt mấy năm chuyên môn sản xuất dĩa hát tân nhạc, những ai mang bài vọng cổ đến nhờ sản xuất với hình thức hợp tác, hoặc trả tiền cũng đều bị từ chối ngay. Nghe nói hãng dĩa này là của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, hoặc là ông có phần hùn trong đó nên rất có quyền trong việc điều hành.

Bìa cuốn bài ca tân cổ giao duyên “Người Đến Rồi Đi

THẾ NHƯNG đến khoảng năm 1966 thì hãng dĩa này yếu thế thấy rõ, thỉnh thoảng mới ra dĩa mà lại tiêu thụ chậm, các nhà buôn chỉ cho gởi bán và trả tiền sau. Trong khi đó, dĩa tân cổ giao duyên bán chạy ào ào, các hãng dĩa Hồng Hoa, Việt Hải nhờ thu thanh tân cổ giao duyên đã làm ăn khá, khi mang dĩa đến thì các nhà buôn trả tiền ngay, tiền vô đều đều.
            Trước tình hình đó, hãng Continental bắt buộc phải thay đổi đường lối hoạt động để sống còn, nếu không thì sập tiệm đến nơi. Hãng dẹp tự ái sang một bên, bắt đầu thu thanh dĩa tân cổ giao duyên, và bài “Người Đến Rồi Đi” của soạn giả Nguyễn Liêu và nhạc sĩ Vĩnh Phúc đã ra đời.
            Trước đây có lần nhạc sĩ Nguyễn Hiền, nguyên chủ tịch Hội Đồng Kiểm Duyệt Liên Bộ, đã nói: Lúc nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông mang bài tân cổ giao duyên “Người Đến Rồi Đi” đến Bộ Thông Tin kiểm duyệt thì ông cười nói rằng: “Hôm nay chơi với cải lương rồi chứ!”
            Thông thường ra dĩa hát tân cổ giao duyên thì các hãng dĩa đã chọn một ca sĩ nổi tiếng của tân nhạc, và một nghệ sĩ cải lương cũng nổi danh thì dĩa sẽ bán chạy cả hai lãnh vực. Đồng thời bản tân nhạc cũng đang thịnh hành ở các phòng trà, ở đài phát thanh được thính giả yêu cầu nhiều, cũng như nhạc sĩ tên tuổi.
            Thế nhưng, hãng Continental đã không làm như vậy, mà mục tiêu lại nhắm vào đôi nam nữ nghệ sĩ cải lương nổi tiếng vào bậc nhất thời bấy giờ, và hãng dĩa đã mời Thanh Nga-Thành Được đến thu thanh với thù lao ưu đãi.
            Cũng cần biết thêm thời điểm năm 1966 Việt Nam chưa có truyền hình nên khán giả muốn xem tuồng cải lương chỉ có vào rạp cải lương mà thôi, và cặp đào kép đang ăn khách lúc bấy giờ là Thanh Nga-Thành Được hầu như đêm nào cặp này cũng có vai trò trên sân khấu đoàn Thanh Minh Thanh Nga.
            Giới mộ điệu ai cũng biết Thanh Nga-Thành Được ca vọng cổ rất hay, nhưng về tân nhạc thì hình như ai cũng phê bình là ca không hấp dẫn. Tuy vậy người ta vẫn mua dĩa hát để nghe phần vọng cổ, do vậy mà khi dĩa tung ra thị trường vẫn bán chạy, tài chánh thu vô nhiều, và hãng Continental tiếp tục tiến lên con đường… tân cổ giao duyên.
            Dưới đây là bài tân cổ giao duyên “Người Đến Rồi Đi”.

            Nhạc:
                        Đào: Em đứng bên thềm trông bóng anh,
                        Dồn bước trên đường dài,
                        Mưa làm anh tê tái như bám chặt vào bờ vai.
                        Xin dừng chân tới đây, cho lòng vơi băng giá.

                        Kép: Anh đón em vào đôi cánh tay,
                        Gởi đến tâm tình này,
                        Tuy rằng không chăn ấm không gối nệm cùng giường cao,
                        Nhưng bằng câu thiết tha, vui buồn ta với ta.


            Vọng cổ:
            Đào: 1) Anh đi về đâu mà vai còn mang áo chiến giữa một mùa Đông chưa lắng tiếng mưa… chiều, mưa tuôn rơi trên xác lá tiêu điều. Anh hãy vào đây cho lòng bớt lạnh, đợi mưa tàn rồi sẽ nối gót chinh nhân. Vào đây anh, vào đây để em được nhóm bếp than hồng sưởi ấm cho anh, phủi bụi đường trên vai áo phong sương, rồi sẽ đăng trình khi bình minh rạng ánh.
            Kép: 2) Nàng là gái hậu phương có tâm hồn cao quý, biết thương xót người trai ngoài vạn lý xa vời, nhưng áo chinh nhân đã quen lắm bụi đời. Chiếc áo phong sương đã vương nhiều khói súng, gót giang hồ từng vượt lắm chông gai. Thì đối với mưa chiều nay đâu có gì gọi là thắm lạnh, xin cô yên tâm chớ bận lòng lo nghĩ, tôi núp dưới quân kỳ như trọ mái lầu cao.

            Tao Đàn:
                        Kép: Nhà tôi là sông dài biển rộng.
                        Có muôn hoa hồng vương gió lộng ngàn sao.
                        Mượn trăng khuya làm ánh đèn màu,
                        Mượn gió núi làm quạt người chiến sĩ.

                        Đào: Ôi cao quý thay lòng người trai vạn lý,
                        Nặng sơn hà không nghĩ đến thân sanh,
                        Anh rất xứng đáng để cho em ghi nhớ,
                        Ghi nhớ một bóng hình vạn thuở trong tim.


            Kép: 5) Nhưng tim của kẻ chiến binh trót đã ghi sâu một mối tình quê hương xứ sở, tôi chỉ mong ước một trời mơ có vạn ánh thanh… bình, tôi chưa nghĩ đến tình yêu hạnh phúc riêng mình. Vì gót giầy xâm lăng còn dẫm bừa trên quốc thổ, máu căm hờn sôi sục trong tim. Tôi thành thật cảm ơn cô đã có lòng nghĩ đến kẻ chiến binh mà ban cho một mối tình chân thật, nhưng cô cho tôi hẹn lại ngày non nước vinh quang tôi sẽ về đây kết mộng duyên lành.

            Nhạc:
                        Đào: Sương gió anh về theo gió sương,
                        Đời cuốn trên bụi đường,
                        Vó ngựa đi muôn hướng,
                        Em có tìm lại được đâu,
                        Xin dặn theo mấy câu,
                        Mong đừng lãng quên nhau.
                        Đừng quên lãng nhau một mối tình chung thủy,
                        Em sẽ chờ anh khi non nước thanh bình.


            Thơ:
                        Kép: Một lời hẹn ước đã ghi,
                        Làm thân nam tử quản gì gió sương,
                        Vai mang súng trận lên đường,
                        Hẹn ngày chiến thắng tương phùng cùng em.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2017


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/hang-dia-hat-continental-phai-chay-theo-tan-co-giao-duyen-de-song-con/