Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 25913 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #165 vào: 07/02/2019, 12:11:43 »
“Mỗi Ðộ Xuân Về”, bài vọng cổ nói về Tết của người lính

Tâm trạng của người lính chiến mỗi khi Tết đến mà không được về nhà cận kề bên người bạn lòng năm cũ, được soạn giả Viễn Châu diễn tả bằng sáu câu vọng cổ “Mỗi Ðộ Xuân Về”. Và khi một giai nhân tài tử nào đó cất lên tiếng hát đã không khỏi gây niềm cảm xúc, ngậm ngùi cho người nghe, ai không động lòng!

Bìa cuốn bài ca “Mỗi Ðộ Xuân Về” phát hành Tháng Tám, 1960

ÐÂY LÀ TÂM TRẠNG CHUNG của đa số người lính trong thời chiến tranh vừa qua, mà những ai đã từng có thời gian trải qua trong thời ấy cũng ít nhiều hình dung được. Bài ca “Mỗi Ðộ Xuân Về” lên báo chắc sẽ có nhiều người hoài niệm hình ảnh năm nào, đón Xuân nơi rừng sâu núi thẳm. Riêng đối với người lính trong câu chuyện này thì có đến bốn lần đón Xuân nơi chiến địa. Mỗi độ Xuân về anh ta ngồi dưới chòi canh lạnh lùng đón Xuân bằng tiếng súng thay cho tiếng pháo, và đọc mấy lá thư Xuân của người tình chung thủy gởi từ mái tranh ở quê nhà.
            Soạn giả đã đưa lên một nhân vật điển hình thay mặt cho hằng bao nhiêu người cùng chung cảnh ngộ. Cái khác biệt của bài vọng cổ “Mỗi Ðộ Xuân Về” là Viễn Châu đã cho người ca đọc lá thơ Xuân thay thế cho câu nói lối trước khi vô vọng cổ.
            Lúc bài ca mới xuất hiện (1960) dân đờn ca tài tử học thuộc lòng đưa vào sinh hoạt. Bà con đến thưởng thức có người đã thốt lên rằng, câu chuyện cũng không xa lạ gì, ở đâu cũng có, làng xã thôn ấp nào cũng có. Thế mà tình tiết câu chuyện được viết thành bài vọng cổ, giai nhân tài tử ca lên thì thật tuyệt vời, nghe thật thấm thía làm sao ấy!
            Và dưới đây là bài vọng cổ “Mỗi Ðộ Xuân Về:”

             Ðọc thơ: Em yêu dấu.
            Năm nay, em lại phải nghe tiếng súng đồng thay tiếng pháo mừng Xuân, vì gót xâm lăng hãy còn dày xéo trên quê hương đất nước. Hẹn ở năm sau, anh sẽ kề bên em nghe tiếng pháo giao thừa, chào đón một mùa Xuân thanh bình, hoan lạc.


            Ca vọng cổ:
            1) Thế rồi lần lượt đã bốn cánh thơ Xuân bay về tổ cũ mà gió bụi thời gian vẫn che phủ bước anh… về, tiếng hẹn năm xưa anh gởi theo tiếng súng dậy tư bề. Ngồi dưới chòi canh lạnh lùng nơi chiến địa anh đếm giọt sương buồn lay động lá vàng rơi. Tiếng súng đồng vang dậy khắp nơi như dư âm của tiếng pháo giao thừa, mà mỗi độ hoa đào hé nụ dưới gió Ðông anh đón Xuân bên bạn lòng năm cũ.

            2) Ngọn gió Xuân êm đềm lả lướt làm rụng rơi mấy cánh mai vàng, bá súng ghì tay anh bâng khuâng nhặt đóa hoa tàn. Hoa ôi hoa tả tơi tung bay theo chiều gió lộng và âm thầm giã biệt cành Xuân. Phải chăng hoa muốn nhắc nhở cho ta rằng đây là xác pháo hồng trong đêm Xuân mộng mà khi xa lìa chốn cũ, ta đón giao thừa trong tiếng súng dậy trời sương.

            3) Bốn năm qua với cuộc đời chinh khách, trong bỡ ngỡ đón Xuân về không một chút khói hương, để sưởi ấm lòng đơn chỉ có những cánh thơ Xuân từ mái tranh quê của người tình chung gởi đến, mà dư hương như còn vương lại trong lòng giấy trắng mực đen. Em ôi anh sẽ ấp ủ cánh thơ Xuân mà tâm tư đang quay về cố địa khi tiếng súng đồng vang lên trong sương lạnh, anh chỉ nghe tiếng gió thổi lộng giữa canh tàn.

            Ca Xuân Biên Cương
                        Chiều về biên cương,
                        Sương mờ phủ giăng anh không thấy đâu,
                        Lối mòn quê nhà,
                        Giờ đây thôn xưa một màu thê lương.
                        Bởi quân tham tàn gây niềm ly hờn.
                        Nơi xóm nghèo biết em có còn.
                        Ngồi bên mái tranh lặng nghe gió Xuân,
                        Còn anh chốn sa trường,
                        Trông vầng mây trôi anh nhớ cố hương.
                        Khi non nước qua hồi chiến chinh,
                        Anh về với em,
                        Vui sống đời nông thôn.


            Ca vọng cổ:
            4) Em ôi tiếng gió chiều Xuân hay là tiếng hờn chinh chiến của những người trai lấy máu xương tô điểm sơn… hà, mấy cánh hoa Xuân hé nụ dưới dương tà. Ngồi bấm đốt tay âm thầm tính lại anh cất bước xa nhà ngót bốn Xuân qua. Ðã bốn lượt anh chào Xuân tận chốn biên cương với cõi lòng người chinh lữ thì nơi cô thôn diệu vợi em cũng bốn phen mượn súng xâm lăng thay tiếng pháo giao thừa.

            5) Ngồi dưới chòi canh anh viết bức tâm thơ gởi về cho bạn lòng để làm quà trong lúc đón Xuân, anh tưởng tượng khi mấy dòng nầy vừa đến với em, hai tay em run lên xé vội phong thơ mà đôi mắt long lanh với nỗi mừng vô hạn, riêng anh giữa sa trường hoang vắng, áng mây trôi mà anh cứ tưởng đó là khói hương bay trong những mùa Xuân đượm ánh thanh bình. Xuân ôi, nếu mỗi độ Xuân về nhuộm vẻ tang thương thì chốn biên cương Xuân đừng tới nữa, để cho những kẻ xa nhà đỡ lạnh lùng trong mỗi độ Xuân qua.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2017


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/moi-xuan-ve-bai-vong-co-noi-ve-tet-cua-nguoi-linh/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #166 vào: 09/02/2019, 19:34:11 »
Đoàn Thanh Minh Thanh Nga hát Tết tại rạp Quốc Thanh Sài Gòn

Rạp Quốc Thanh ở đường Nguyễn Trãi Sài Gòn là rạp hát cải lương lớn, chỉ các đoàn hạng A đại ban mới dám về đây hát. Đây là rạp mới, kiến trúc tân kỳ, có nhiều ghế ngồi, vé bán lại cao giá, đoàn hát mới có lời. Ngày thường gánh hát về đây đã có khó khăn rồi, huống chi ngày Tết lại khó hơn gấp bội.

Tờ quảng cáo của đoàn Thanh Minh Thanh Nga
hát Tết Bính Ngọ 1966 tại rạp Quốc Thanh, Sài Gòn

THẾ MÀ cái Tết 1966 đoàn Thanh Minh Thanh Nga coi như dư điều kiện hát Tết tại rạp lớn này. Dĩ nhiên là hốt bạc, bởi vì ba ngày Tết, mỗi ngày diễn ba suất sáng, chiều, tối.
            Thời kỳ cải lương thịnh hành này, đoàn Thanh Minh Thanh Nga thực lực hùng hậu, với thành phần nghệ sĩ tên tuổi gạo cội, nên dù người coi hát có khó tính kén chọn thế mấy cũng chấp nhận mua vé vào xem thôi.
            Theo như tờ quảng cáo đăng trên tuần báo Xuân Phụ Nữ Ngày Mai của năm ấy, người ta thấy rõ ngoài chim đầu đàn Thanh Nga, còn các nghệ sĩ tên tuổi khác như Thành Được, đương nhiên nghệ sĩ có tiếng “chơi xe hơi” này sẽ thủ vai chánh đóng cặp với Thanh Nga.
            Trước đó vài tháng đoàn Út Bạch Lan-Thành Được rã gánh và rã luôn cuộc tình. Út Bạch Lan về đầu quân đoàn Kim Chung, chỉ một Út Bạch Lan về cộng tác, ông bầu Long đem một số đào kép đang ở các đoàn Kim Chung khác về là đủ đào kép thành lập đoàn Kim Chung 4.
            Riêng Thành Được thì về đoàn Thanh Minh Thanh Nga, kéo theo một số nghệ sĩ tên tuổi từng cộng tác với mình như Thanh Thanh Hoa, Nam Hùng. Lúc bấy giờ người ta tưởng đâu bà bầu Thơ sẽ thành lập đoàn 2: Đoàn Thanh Minh Bảo Quốc theo ý nguyện của cố nghệ sĩ Năm Nghĩa. Lúc ấy người trong giới đồn đãi rằng, bà bầu Thơ thành lập đoàn 2 để Hữu Phước có vai trò kép chánh, chớ Thành Được về thì coi như Hữu Phước bị “xuống cấp” rồi, hai con cọp không thể ở chung một rừng.
            Đoàn 1 đã có kép độc Hoàng Giang, thì Nam Hùng sẽ là kép độc đoàn 2, và Thanh Thanh Hoa sẽ đảm trách vai đào chánh. Như vậy Bảo Quốc sẽ lãnh vai trò gì? Chẳng lẽ đoàn hát mang tên mình, mà đóng vai phụ, kép nhì, kép ba… nhiều người đã thắc mắc như thế.
            Thế nhưng dự tính lập đoàn 2 đã không thành với nhiều lý do, và lúc đó người ta nghe nói do người cho vay tiền tiên đoán tình hình thời cuộc sao đó, nên đã không ra tiền, thành ra đoàn Thanh Minh Bảo Quốc chết từ trong trứng nước.
            Không thành lập được đoàn 2, thì bầu gánh phải “nuôi” luôn các nghệ sĩ gạo cội (theo như cam kết với Thành Được) như Thanh Thanh Hoa (huy chương vàng Giải Thanh Tâm 1961) từng là đào chánh của đoàn Thủ Đô; Ngọc Giàu (huy chương vàng Giải Thanh Tâm 1960) với giọng ca ăn khách của hãng dĩa và sân khấu; Phương Ánh, nữ nghệ sĩ xuất thân trường Quốc Gia Âm Nhạc, từng đóng vai gái bán ba trong tuồng “Gái Bán Bar”.
            Còn Bảo Quốc thì lúc này chưa làm hề mà làm kép mùi ca vọng cổ, vai trò dũng sĩ da đỏ trong tuồng đường rừng Mỹ Quốc.
            Thời vàng son của cải lương, mấy ngày Tết hát ba suất, không riêng gì bầu gánh nặng hầu bao, mà đào kép ai nấy cũng tiền vô đầy túi.


NGÀNH MAI
Tháng 02/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/doan-thanh-minh-thanh-nga-hat-tet-tai-rap-quoc-thanh-sai-gon/

 

Ngủ rồi huhu

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #167 vào: 09/02/2019, 19:41:05 »
Trong bài vọng cổ  “Mỗi Ðộ Xuân Về”,
hai câu được ghi là câu 4, câu 5 trong bài viết: theo huhu thì đó là câu 5 và câu 6 thì nó chính xác hơn ?
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #168 vào: 11/02/2019, 20:05:47 »
Soạn giả cải lương coi ngày “khai bút” trước khi viết tuồng

Những người đi coi hát cải lương có ai nghĩ đến vở kịch mà mình đang coi đã phải trải qua nhiều “ải” mà người trong cuộc đã bỏ ra bao nhiêu tiền bạc, công sức, thì giờ mới có. Khán giả chỉ bỏ ra một ít tiền mua vé, là có thể thưởng thức một vở hát với bao nhiêu công trình tập trung vào dựng lên, không phải chỉ công sức, trí tuệ, mà còn luôn cả về mặt tâm linh, tùy theo tôn giáo mà người trong cuộc vái van nguyện cầu, mà trong đó có việc coi ngày khai bút trước khi viết tuồng.


Đặt nặng việc coi ngày khai bút và tập tuồng
            Các người viết tuồng đã tin tưởng vào vô vi một cách mãnh liệt, bởi các soạn giả là người đầu tiên đặt nền tảng cho vở hát bằng niềm tin vào sự vô vi huyền hoặc nào đó mà họ tin tưởng.
            Khi xưa ông Mộng Vân là soạn giả kiêm bầu gánh Mộng Vân, từng viết mấy chục vở tuồng, ông là đàn anh của các soạn giả, là bậc thầy của nhiều nghệ sĩ tài danh như Bảy Cao, Năm Nghĩa, Út Trà Ôn…, ông là người thầy tuồng rất đặt nặng việc coi ngày khai bút và tập tuồng. Mỗi khi cho ra đời tuồng mới là bầu Mộng Vân cúng Tổ rất lớn, có cả heo quay, bánh trái nhiều mâm, và riêng ông thì áo dài khăn đóng chỉnh tề, quỳ lạy trước bàn thờ Tổ xong thì mới cho lệnh bắt đầu tập dượt.
            Làm nghệ thuật cải lương người ta nhắm vào tuồng hay, đào kép ca diễn giỏi, trang trí, y phục, phông màn đẹp mắt, là các yếu tố thu hút khán giả, mà người kinh doanh nghệ thuật đã bỏ ra khá nhiều tiền để thực hiện cho bằng được. Do công cuộc làm ăn nếu cần phải vay nợ nặng lãi để đạt được cái “mặt nổi” kể trên, để được đánh giá là đoàn hát lớn, và dĩ nhiên thu lợi nhiều hơn nếu như thành công.
            Ngoài cái “mặt nổi” trên cũng đã hao tốn nhiều, lại còn những thứ khác thuộc về “mặt chìm”, có nghĩa là bên trong hậu trường người ta đã âm thầm thực hiện nhiều sự việc để hỗ trợ cho cái mặt nổi kia, mà sự tốn kém nhiều hay ít rất khó mà biết được, do bởi người trong cuộc chẳng bao giờ tiết lộ. Người ta đã van vái từng khâu một, cúng kiếng nguyện cầu cho vở hát được đi thông suốt để được ra mắt khán giả. Nói rõ hơn khi một vở tuồng được ra mắt khán giả thì nó đã vượt qua rất nhiều khâu thuộc về tâm linh, vô vi huyền bí, khó mà giải thích cho cặn kẽ.


Út Bạch Lan và Thành Được trong vở Nửa Đời Hương Phấn

“Nửa Đời Hương Phấn” của Hà Triều – Hoa Phượng
            Tôi xin nêu lên một trường hợp soạn giả tên tuổi, mà trong quá trình hoạt động cải lương đã cho ra đời vở hát ăn sâu vào tiềm thức khán giả, mà cho đến nay hơn nửa thế kỷ rồi mà người ta vẫn nhớ tên từng nhân vật, từng lớp lang, đó là vở hát “Nửa Đời Hương Phấn” của hai soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng.
            Khán giả cải lương sành điệu hầu như ai cũng biết cái tên Hà Triều – Hoa Phượng là soạn giả của nhiều tuồng cải lương nổi tiếng, đặc biệt là vở hát “Nửa Đời Hương Phấn” được ra mắt khán giả trên sân khấu Thanh Minh – Thanh Nga đã gây chấn động trong làng cải lương một dạo. Và luôn cả dư luận bên ngoài cũng đề cập bàn tán, do bởi báo chí liên tục phê bình, phân tích nội dung của tuồng hát.
            Tình tiết của tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” rất dễ xảy ra trong bối cảnh xã hội của thời đó, cái thời mà gái quê do hoàn cảnh phải ra tỉnh hoặc lên Sài Gòn, để rồi sau đó một số phải chịu cảnh đắng cay tủi nhục, do đó người coi hát có cảm tưởng như là đã có thật vậy. Hơn nữa lời văn đối thoại của tuồng cũng được hai soạn giả chuyển đổi đưa thẳng vào trong bài bản ca cổ nhạc một cách linh hoạt, khiến người đi coi hát vừa hồi hộp, lại vừa giải tỏa được tình huống ngay trong một vài giây đồng hồ.
            Cái tài tình của Hà Triều – Hoa Phượng trong vở hát “Nửa Đời Hương Phấn” là đưa lên sân khấu các nhân vật điển hình trong một xã hội tuy an bình nhưng lại bon chen hỗn tạp, những hạng người xấu xuất hiện gây sóng gió. Sau đó tuồng còn được thu thanh vào dĩa hát phát hành khắp nước, được phổ biến rộng rãi đến đỗi đi đâu cũng nghe hát. Bản ca Phụng Hoàng trong tuồng được rất nhiều ca sĩ tài tử học thuộc lòng và ca trong những buổi sinh hoạt đình đám ở thôn quê, hoặc các quán tiệm có sinh hoạt đờn ca cổ nhạc.
            Tuồng hát liên tục mỗi đêm suốt cả tháng, cũng có nghĩa tiền lời hằng đêm thu vô nhiều giúp bà Bầu Thơ giải quyết nợ nần. Do vậy mà bà bầu rất ưu đãi cặp soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng, mời hai ông làm soạn giả thường trực, có nghĩa là được trả lương tháng. Như vậy ngoài tiền bản quyền năm phần trăm tổng số thu bán vé, hoặc bán giàn, hai soạn giả mỗi tháng còn được lãnh lương. Coi như không còn nghèo như lúc còn ở trọ nhà thi sĩ Kiên Giang và cũng kể từ đó tên tuổi hai soạn giả nổi như cồn (thời điểm này soạn giả được lãnh phần trăm tiền bản quyền, vài năm sau lên sáu phần trăm).
            Vở hát thành công lớn, nhưng những gì bao quanh vở hát ấy có mấy ai được biết nếu như không tìm hiểu một cách tường tận. Và câu chuyện soạn giả chọn ngày “khai bút” khi viết vở tuồng nói trên rất hiếm ai rõ được. Do bởi có bao giờ người trong cuộc lại tiết lộ bí mật, mà họ tin tưởng rằng đó là căn nguyên đưa đến sự thành công.
            Thế nhưng, giữa hai soạn giả lại có sự khác biệt về niềm tin, Hà Triều chẳng hề tin tưởng sự vô vi huyền hoặc nào, còn Hoa Phượng thì lại quá tin. Có lẽ vì là người được sinh trưởng ở vùng Núi Sập, là nơi hằng ngày khách thập phương đến cúng kiếng, lễ bái, xin xâm, cầu phước nên Hoa Phượng chịu ảnh hưởng nhiều, và rất tin vào sự thiêng liêng huyền bí.
            Theo lời kể lại của thi sĩ Kiên Giang thì trước ngày viết vở hát “Nửa Đời Hương Phấn”, Hoa Phượng đi về An Giang xin xâm, và khi xâm đã cho rồi thì nhờ một vị sư trụ trì tại một ngôi am tự ở Núi Sập coi ngày lập bàn hương án cho Hoa Phượng làm lễ cúng tế “khai bút”. Vào một đêm nọ khi trời vừa tối, vị sư đã đặt cuốn tập học trò 100 trang, một cây viết và bình mực tím lên bàn hương án (thời này ở thôn quê học trò còn xử dụng cây viết chấm mực). Vị sư lâm râm niệm xong, ông kêu Hoa Phượng lập lại theo ông mấy câu gì đó. Hoa Phượng tập trung hết thần lực và cầm bút lên viết mấy chữ đầu tiên trong bản thảo cuốn tập học trò. Những giòng chữ khai bút này đã được sắp đặt sẵn trong trí não của Hoa Phượng nhiều ngày qua, nhưng đợi đến bữa nay mới viết.
            Hoa Phượng mang cuốn tập học trò ấy lên Sài Gòn mời Hà Triều cùng viết với mình, và khi viết xong vở “Nửa Đời Hương Phấn” thì Hà Triều lãnh phần đánh máy để nộp Bộ Thông Tin xin kiểm duyệt. Lúc mới lên Sài Gòn, Hà Triều sống nương tựa với một thân hữu ở Phú Thọ Hòa, gần trường đua Phú Thọ. Người thân nầy đã lo giấy tờ hợp pháp và đồng thời chạy cho Hà Triều vào làm công chức một cơ quan thông tin ở Sài Gòn, nên biết đánh máy, còn Hoa Phượng thì không. Vả lại thời nầy máy đánh chữ rất hiếm, chỉ ở cơ quan chớ tư nhân không có. Khi đánh máy xong, trong lúc tuồng còn nằm ở Bộ Thông Tin chờ kiểm duyệt, thì Hoa Phượng một lần nữa lại về An Giang nói là về thăm quê hương, chớ thật ra là đến ngôi am tự ở Núi Sập cầu nguyện cho tuồng qua khâu kiểm duyệt.
            Không biết có phải nhờ van vái cầu nguyện rồi được cõi trên chứng giám chăng, mà tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” được cơ quan kiểm duyệt nhanh chóng chấp thuận, chớ không bị ngâm tôm nhiều ngày như các tuồng khác. Vấn đề này có lần thi sĩ Kiên Giang đàm đạo với nhà báo Trần Tấn Quốc, ông Quốc nói rằng sở dĩ tuồng được thông qua mau lẹ là do bởi nội dung không có câu ca hay đối thoại nào liên quan đến chính trị, mà là tuồng xã hội có lối hành văn đối thoại thông thường, đi thẳng vào thực tế ngoài đời. Hơn nữa nhân vật chánh trong tuồng lại là một cô gái giang hồ, chứ không phải là nhân vật chính quyền làng xã như tuồng của Năm Châu, Năm Nở, Trần Hữu Trang… Tóm lại tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” không có cảnh nào liên quan đến thời cuộc, không đả phá bên nào hết, mà chỉ nêu lên một hoàn cảnh xã hội thời bấy giờ. Tuồng kiểm duyệt xong có đóng dấu từng tờ của Bộ Thông Tin, coi như qua được một khâu quan trọng, và tiếp đến là đi chào hàng, cũng là một khâu quan trọng không kém. Bầu gánh có chấp nhận tập tuồng hay không chứ? Bởi khi nó còn trên giấy thì bầu gánh rất khó mà rõ được tuồng có ăn khách, soạn giả sợ nhứt là viết tuồng ra mà không tiêu thụ được.
            Giờ đây thì thi sĩ Kiên Giang vào cuộc, ông phải đứng ra giúp Hà Triều – Hoa Phượng đi chào hàng. Nhờ quen biết với bà Bầu Thơ, giám đốc đoàn Thanh Minh – Thanh Nga, một đại bang cải lương thời đó, nên vở tuồng được bà bầu gánh hát lớn nầy đón nhận. Tuy nhận tuồng, nhưng đâu có tập tuồng ngay, mà phải chờ thời gian ngắn dài tùy theo bà bầu đi xin xâm có được không. Thông lệ của cải lương, khi một vở tuồng đã xong mọi thủ tục thì bầu gánh đi nhờ thầy coi ngày, và khi đã có được “ngày tốt” hạp với tuổi thì mới khởi sự tập tuồng.
            Cũng may mắn cho cặp soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng bởi lá xâm bà Bầu Thơ xin cho vở hát “Nửa Đời Hương Phấn” rất tốt, nên ngay sau đó bà nhờ thầy ở Lăng Ông coi luôn ngày tập tuồng. Đây cũng là ngày quan trọng đối với cải lương và mọi người ai cũng tin tưởng. Và như mọi người đã biết vở hát “Nửa Đời Hương Phấn” ra đời được mọi từng lớp khán giả khen tặng, thiên hạ ùn ùn đi coi, có người đi coi đến hai, ba lần. Tuồng hát liên tục cả tháng tại rạp Nguyễn Văn Hảo vẫn còn đông đảo khán giả, và ngay cả bây giờ nếu tuồng nầy được trình diễn trở lại vẫn có khán giả như thường.
            Tóm lại vấn đề soạn giả cải lương coi ngày khai bút đã có từ lâu trong làng cải lương. Trừ một số không tin, chớ phần lớn thầy tuồng thì rất tin tưởng nhưng họ giữ bí mật không hề tiết lộ, im lặng thực hiện mà không lên tiếng gì hết. Thế nhưng, người ta vẫn biết và truyền miệng với nhau như trường hợp soạn giả Hoa Phượng vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 07/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-072515-nm-07232015090734.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #169 vào: 14/02/2019, 20:44:40 »
Đờn ca tài tử biến thành gánh hát nhỏ ở nông thôn

Thời những năm cuối của thập niên 1950, ở vùng thôn quê miền Nam các nhóm đờn ca tài tử mọc lên như nấm, và một số sau thời gian ca hát được bà con khuyến khích đã dần dần biến thành gánh hát bỏ túi.

Bìa cuốn bài ca “Mục Tử Ca Chiều”

ĐÀO KÉP các gánh hát nhỏ này là dân đờn ca tài tử ở ngay các xã ấp địa phương. Bầu gánh là một nhạc sĩ từng dạy cho họ ca vọng cổ và bài bản. Gánh hát nhỏ này chẳng có phông màn trang phục gì cả nhưng vẫn có vẽ mặt, son phấn. Khi hát họ chỉ mang một tấm choàng trên cổ thả che phần lưng dài tới nhượng chân.
            Thông thường thì diễn viên gồm bốn người: kép mùi, kép độc, một cô đào và một anh hề là đủ cho buổi diễn. Họ thường hay chọn bãi đất trống nào đó, có thể là trước sân chợ, sân banh,… và hát miễn phí chớ không có bán vé. Họ chỉ mong bà con thương tình mua giúp cho một vài chai thuốc, vài gói cao đơn hoàn tán mà thôi.
            Buổi chiều trước khi trời tối, việc trước tiên là đánh trống quy tụ bà con, và khi hai chiếc đèn măng xông được cháy sáng thì bắt đầu rao bán thuốc bằng cách ca các bài bản cổ nhạc. Lúc này thì ban đờn làm việc liên tục, đờn cho các nghệ sĩ vừa ca vừa cầm thuốc đi vòng vòng giới thiệu, lời ca cũng được sáng tác nói lên sự công hiệu của loại thuốc nào đó. Xong phần bán thuốc thì hát tuồng, tóm lại đối với gánh hát này dù khán giả có mua thuốc hay không, cũng được nghe ca, nghe đờn, và xem trình diễn cải lương.
            Về tuồng tích thì thường là lấy trong cuốn bài ca, hoặc sao chép lại của các gánh, rồi bỏ bớt đi để cho vừa với thời lượng 45 phút, hoặc nhiều hơn cũng một giờ đồng hồ là vãn hát. Thiên hạ gọi là gánh hát dạo bán thuốc, vì hình thức cùng hoạt động nghệ thuật chẳng khác gì mấy gánh hát Sơn Đông mãi võ của người Trung Quốc. Vậy mà đêm nào khán giả cũng đông đảo bao quanh địa điểm bán thuốc cũng là sân khấu luôn.
            Về phía gánh hát thì đêm nào bán được nhiều thuốc thì hầu hết đều vui vẻ, hăng say hát. Còn như đêm nào bán ế, thuốc còn chất đầy thì kể như đêm đó cả đoàn đều xuống tinh thần phải miễn cưỡng mà hát vậy.
            Dù sao thì các gánh hát bán thuốc này cũng tạo nguồn vui cho bà con nông thôn được một thời gian vài năm. Cho đến năm 1961 thì hầu hết các gánh tự nhiên biến mất, do chiến tranh bắt đầu nổi lên ở nông thôn. Từ đó bà con vùng quê kể như không còn được coi cải lương, mà trở lại thưởng thức đờn ca tài tử như trước.
            Kỳ này chúng tôi đăng bài vọng cổ “Mục Tử Ca Chiều” của soạn giả Hải Hà Thanh được thu thanh dĩa hát Tân Thanh, do Hữu Phước và Hương Lan ca.

            Tân nhạc:
                        Con trâu hỡi! Con trâu này!
                        Con trâu hỡi! Con trâu cày?
                        Trâu cùng với cày.
                        Trâu cày đi bình minh hay hoàng hôn.
                        Đem cơm về ấm no cho người.
                        Lúa ngát thơm lúa đặng hương tình.
                        Hò… lơ… ơ… Hò…
                        Trâu ơi hỡi! Ra công cày,
                        Cho bông lúa dâng hương đầy.
                        Đâu màng tháng ngày
                        Thương nhà nông mồ hôi tưới đồng sâu,
                        Thương trâu gầy nắng mưa chan hòa.
                        Hãy lắng nghe tiếng ca câu hò
                        Hò… lơ… ơ… Hò…


            Vọng cổ:
            1) Trâu ơi hãy bước nhanh trên luống cày sương rướm máu người dân rẫy bái, hòa cùng nhạc nhái hồn quê cho mục tử ca… chiều, để sương khói đồng xanh không đượm vẻ tiêu đìu. Khói trắng bay lên quyện hồn dân tộc, tù và cất tiếng quê hương khi bông bần lả tả gói chiều sương, ta và mi là đôi bạn đường, tha thiết yêu nhau qua tình cọng rơm, bó cỏ, qua hương đọt lúa, qua luống cày sâu từng thấm mồ hôi của ta và trâu, đất lành mới lên cây đơm trái.

            2) Nhạc nhái ơi! Hãy cùng ta hòa tiếng sáo diều ngợi ca đồng ruộng để nhớ đồng xanh luôn yêu chuộng thanh bình. Cố ấp yêu trong tim ta hình ảnh quê mình. Có núi, có sông, có bầy trâu xám, có đọt lúa vàng reo hát tình quê. Có khói lam chiều quyện theo dòng sông nhỏ, có người cha già quanh năm cặm cụi bên nương khoai rẫy lúa. Có người mẹ hiền xay gạo khi nắng tắt giữa đường sương…

            Nhạc:
                        Ta luôn nhớ dân quê mình.
                        Bao năm tháng, bao công trình,
                        Cánh đồng ngát tình.
                        Đem mồ hôi nhà nông tưới đồng sâu.
                        Trâu ơi cày đất khô lên màu,
                        Lúa trĩu bông chúng ta say lòng.
                        Hò… lơ… ơ… Hò.


            Vọng cổ:
            5) Giọt máu khai hoang thấm vào lòng đất mới, luống cày sâu vội trổ bông vàng. Hột cơm nồng vị người nông phu đổ lệ đôi hàng, khi dầm nắng đội sương đốt rừng phá rẫy cho đất lầy trổ đọt lúa thơm. Trâu nhỏ mồ hôi vàng kéo bừa thưa quần tan đồng cỏ, làm người phá rẫy ta chẳng phụ ơn đâu!

                        – Gạo là nước mắt của trâu,
                        Ăn cơm lại nhớ ơn sâu dân cày.


            6) Vóc dáng con trâu uy nghi hùng vĩ, vào lúc tơ nắng chiều in hình trên dệt mây xanh, trâu từ từ cất bước lê thân về nơi chuồng cũ. Đôi ba thiếu nữ gánh bàng thoát cuối chơn đê. Khói un theo gió thành mây trắng, dập dồn tiếng chó sủa, vẽ nên bức tranh trác tuyệt ruộng đồng.

                        Sương chiều vây quyện dòng sông,
                        Điệu hò kéo chỉ thong dong đều đều.
                        Đồng xanh mục tử ca chiều,
                        Ta yêu quê lắm đừng tiêu điều quê ơi.


NGÀNH MAI
Tháng 04/2017


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/don-ca-tai-tu-bien-thanh-ganh-hat-nho-o-nong-thon/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #170 vào: 19/02/2019, 17:19:34 »
Từ ngón đờn tranh lả lướt của người đẹp đến Vua Bảo Ðại là rể của Gò Công

Ở vùng Ðồng Sơn khi xưa thuộc quận Hòa Ðồng, tỉnh Gò Công, được người dân gọi là địa linh nhân kiệt, là nơi sinh ra cô nữ sinh Nguyễn Hữu Thị Lan, con của ông Nguyễn Hữu Hào, một nhà hào phú theo đạo Thiên Chúa và có quốc tịch Pháp.

Hoàng Đế Bảo Ðại, Hoàng Hậu Nam Phương, Hoàng Tử Bảo Long
và Công Chúa Phương Mai. Hình đăng trên tuần báo Dân Hiệp ngày 19 Tháng Bảy 1939

CÔ NỮ SINH Nguyễn Hữu Thị Lan – Mariette Jeanne được gởi đi du học trường nội trú Couvent des Oiseaux bên Pháp. Năm 18 tuổi, ngày nọ cô nữ sinh Lan đi trên chuyến tàu từ Pháp về Việt Nam thăm nhà, thăm quê hương. Lúc ấy do có sự sắp xếp sẵn của quan Toàn Quyền Pasquier nên Hoàng Tử Nguyễn Phúc Vĩnh Thụy đang học tại Pháp cũng về nước trên chuyến tàu này.
            Thời gian học ở Pháp cô nữ sinh Nguyễn Hữu Thị Lan rất thích thể thao và âm nhạc. Cô học đờn tranh với một nhạc sĩ tài tử người gốc ở Gò Công, và khi về nước có mang theo cây đờn.
            Lênh đênh trên biển hơn cả tháng trời, có những lúc cô nữ sinh Lan đem đờn tranh ra so dây nắn phím. Nhiều người đi trên tàu đã đứng xem đôi bàn tay nhỏ nhắn, dịu dàng lả lướt trên dây đàn thập lục, trong số người thưởng thức tiếng đờn có Hoàng Tử Vĩnh Thụy.
            Thế là hình ảnh cô nữ sinh tài sắc người Gò Công Nguyễn Hữu Thị Lan đã lọt vào mắt và ngự trị tâm hồn của vị hoàng tử, hai người quen nhau và đi đến chỗ thân tình.
            Vĩnh Thụy, người con duy nhứt đã được vua Khải Ðịnh phong làm Ðông Cung Thái Tử. Toàn Quyền Ðông Dương muốn người vợ tương lai của Hoàng Ðế Việt Nam sau này phải là người theo đạo Thiên Chúa và hấp thụ văn hóa Pháp. Do đó mà sau khi tàu cập bến chỉ thời gian ngắn thì viên toàn quyền mở tiệc tiếp tân ở khách sạn Palace Ðà Lạt. Trong số khách mời có cô nữ sinh Nguyễn Hữu Thị Lan cùng gia đình, và dĩ nhiên là có Hoàng Tử Vĩnh Thụy. Trong dịp này Toàn Quyền Pasquier mới chính thức giới thiệu cô nữ sinh trẻ đẹp Nguyễn Hữu Thị Lan với vị hoàng tử Nhà Nguyễn.
            Vua Khải Ðịnh băng hà, triều đình tôn Ðông Cung Thái Tử lên nối ngôi, lấy đế hiệu Bảo Ðại. Sau đó hôn lễ được cử hành, cô nữ sinh Nguyễn Hữu Thị Lan ở linh địa Ðồng Sơn, Gò Công được phong Nam Phương Hoàng Hậu ngay khi cưới. Cưới vợ quê quán ở Gò Công cũng có nghĩa Vua Bảo Ðại là rể của Gò Công vậy.
            Do người vợ biết đờn tranh, nên Vua Bảo Ðại cũng học đờn tranh, và nhạc quan triều đình đã dâng cho hoàng đế cặp đờn tranh quí giá, chạm trổ bằng ốc xa cừ, dựa theo truyền thuyết trong các bộ truyện vẽ tranh như: Nhị Thập Tứ Hiếu, Ngư Tiều Canh Mục, Mai Lan Cúc Trước… Ngoài ra các bộ phận chính đều bằng ngà. Cặp đờn được đặt tên cây “Phu” và cây “Thê”. Thời kỳ trước 1945, Vua Bảo Ðại du hành vào Sài Gòn, có mang theo hai cây đờn nói trên. Lúc ấy thì nhạc sĩ Sáu Hóa ở Cần Thơ rất giỏi đờn tranh, được thân hữu ở Sài Gòn mời lên sinh hoạt đờn ca tài tử.
            Sáu Hóa được anh em giới thiệu đến đàn phục vụ nhà vua bằng các điệu nhạc tài tử miền Nam. Nhà vua lấy làm thích thú, ban lời khen ngợi, và sau đó tặng cho nhạc sĩ một trong hai cây đờn quí báu nói trên. Cây đờn được tặng là cây “Thê”, nhà vua giữ cây “Phu” để sau khi luyện thêm ngón đờn sẽ cùng nhạc sĩ Sáu Hóa hòa nhạc, đồng thời cũng để cho hai cây đờn “Phu Thê” tái hợp.
            Nhưng rồi thời cuộc biến chuyển dồn dập, đến nỗi nhà vua không còn giữ được ngai vàng, phải đi lưu vong. Thời gian sau được Pháp đưa về làm quốc trưởng. Ðến năm 1954 do tình hình lúc bấy giờ, Quốc Trưởng Bảo Ðại mời ông Ngô Ðình Diệm làm thủ tướng với toàn quyền quân sự, dân sự.
            Năm sau 1955 ông Diệm mở cuộc trưng cầu dân ý truất phế Bảo Ðại. Kể từ ấy cựu hoàng ở luôn bên Pháp và hai cây đờn “Phu Thê” chắc không còn dịp tái hợp.


NGÀNH MAI
Tháng 03/2018


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/tu-ngon-don-tranh-la-luot-cua-nguoi-dep-den-vua-bao-dai-la-re-cua-go-cong/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #171 vào: 23/02/2019, 20:18:22 »
Bài vọng cổ đầu tiên của soạn giả Viễn Châu

Hôm trước Tết Nguyên Đán mấy ngày, nghe tin soạn giả Viễn Châu qua đời, nhưng do bài vở soạn sẵn cho bài báo ngày Tết, thành thử ra chúng tôi không kịp loan báo chia buồn. Hôm nay mục cổ nhạc thành thật chia buồn với gia quyến soạn giả Viễn Châu, với làng sân khấu và giới cổ nhạc. Cũng đồng thời nói sơ qua về sự nghiệp cầm ca, với thành quả cổ nhạc mà soạn giả Viễn Châu đã đóng góp cho đời.

Hình chụp bài vọng cổ “Tiếng Đàn Trên Bến Hán Dương”
của Viễn Châu có chữ ký của ông, đăng trên báo Xuân Dân Tộc Kỷ Hợi 1959

THẬT RA thì rất nhiều người đã biết Viễn Châu chuyên môn viết bài ca vọng cổ, là vua tân cổ giao duyên, tức vọng cổ pha tân nhạc. Cũng như lắm người đã biết qua Viễn Châu từng soạn một số tuồng cải lương và một vài tuồng cũng nổi tiếng như “Hoa Mộc Lan Tùng Chinh” chẳng hạn.
            Thế nhưng, có điều mà ít ai biết được Viễn Châu bắt đầu viết bài ca sáu câu vọng cổ từ lúc nào, năm nào, và bài vọng cổ đầu tiên do ông sáng tác mang tên gì?
            Cũng nên nói rõ khi xưa Viễn Châu là nhạc sĩ Bảy Bá, người gốc gác ở Trà Vinh, quận Trà Cú, đi theo gánh hát làm thầy đờn từ năm 1943 (lúc bấy giờ chưa có cái tên Viễn Châu). Suốt mười mấy năm dài chỉ chuyên đờn cho gánh hát, gánh nầy rã thì đi gánh khác với tiền thù lao chỉ đủ cà phê thuốc lá và sống qua ngày. Với tư cách là thầy đờn ông cũng giúp bầu gánh chỉnh sửa những bài ca cổ nhạc trong các tuồng cải lương, và cũng cùng các thầy tuồng viết kịch bản cải lương.
            Chợt đến khoảng cuối năm 1958 thấy soạn giả Quy Sắc viết sáu câu vọng cổ “Cô Bán Đèn Hoa Giấy” vô dĩa hát do cô Thanh Hương ca, được giới mộ điệu hoan nghinh, dĩa bán khá chạy. Từ đó Bảy Bá nảy sinh ra ý định viết sáu câu vọng cổ, và ông đã viết bài “Tiếng Đàn Trên Bến Hán Dương” tức sự tích Bá Nha Tử Kỳ, lấy bút hiệu là Viễn Châu. Nhưng khổ nỗi viết xong rồi để đó chớ lúc bấy giờ rất khó mà được hãng dĩa hát cho thu thanh.
            Sở dĩ soạn phẩm của Quy Sắc được vô dĩa hát là nhờ ông là thầy dạy học cho Thanh Nga, nên được Năm Nghĩa giới thiệu cho hãng dĩa, chớ còn Bảy Bá thì lúc ấy tên tuổi chưa ai biết nhiều, cũng chẳng quen lớn với ai, thành thử ra bài Bá Nha Tử Kỳ của ông chỉ gởi đăng trên tờ báo Xuân Dân Tộc Kỷ Hợi 1959, và để đó chờ dịp. Bài ca khá hay, dễ ca nên giới tài tử một số đã thuộc bài ca này, nhưng sự phổ biến rất là hạn chế.


TS Trần Văn Khê và soạn giả NSND Viễn Châu
đều đã trở thành những người thiên cổ

            Lúc bấy giờ ở giải trí trường Thị Nghè có quán Lệ Liễu, về đêm có đờn ca cổ nhạc, có sân khấu nhỏ, mỗi tối tài tử giai nhân thường đến đây ca hát, trong số có Văn Hường. Soạn giả Viễn Châu đến đây nghe Văn Hường ca, và ông khai thác giọng ca Văn Hường bằng cách viết bài vọng cổ “Tư Ếch Đi Sài Gòn” đem chào hàng với hãng dĩa Hồng Hoa và được cho thu thanh phát hành. Thừa thắng xông lên ông viết thêm vài bài vọng cổ hài hước khác và cũng được hãng dĩa mua luôn.
            Không lẽ chỉ viết vọng cổ hài hước cho mỗi một Văn Hường ca, Viễn Châu quay trở lại viết vọng cổ thông thường, tức sáu câu vọng cổ, vì lúc ấy các soạn giả Quy Sắc, Kiên Giang cho ra đời các bài vọng cổ rất được giới mộ điệu ưa chuộng như: Đội Gạo Đường Xa, Ông Giáo Già, Nắm Xương Tàn… Cũng nên biết rằng thời điểm này các soạn giả viết bài ca là viết đủ sáu câu vừa cho vô hai mặt dĩa đá.
            Soạn giả Viễn Châu đã viết các bài vọng cổ như: Người Đánh Đàn Trên Bắc Mỹ Thuận, Tình Anh Bán Chiếu, Gánh Nước Đêm Trăng, Tu Là Cõi Phúc… Nhờ đã có tên tuổi nên bài nào cũng được hãng dĩa mua bản quyền cho thu thanh.
            Tiếp đó thì các bản tân nhạc nổi tiếng được hãng dĩa mua bản quyền và thuê Viễn Châu viết thành bài ca tân cổ giao duyên, tung ra thị trường hốt bạc.
            Nhờ hãng dĩa đặt hàng liên tục nên Viễn Châu đã cho ra đời hàng loạt bài tân cổ giao duyên. Viễn Châu làm ăn khá nhứt là ở thời kỳ này: Tậu nhà cửa, đi xe hơi Peugeot 203, mua xe cam nhông, xích lô máy cho mướn…
            Nhưng có điều là bài vọng cổ đầu tiên của Viễn Châu “Tiếng Đàn Trên Bến Hán Dương” tức Bá Nha Tử Kỳ thì số phận lại hẩm hiu, chỉ được đăng báo một lần, chớ không có dịp được vô dĩa hát với nghệ sĩ tên tuổi trình bày. Buồn thật!


NGÀNH MAI
Tháng 02/2016


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/Bai-vong-co-dau-tien-cua-soan-gia-Vien-Chau-4952/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #172 vào: 28/02/2019, 18:44:56 »
Soạn giả Viễn Châu và bài ca “Tân Cổ Giao Duyên”

Từ mấy thập niên nay soạn giả Viễn Châu được mệnh danh “ông vua bài ca tân cổ giao duyên” và hầu như ai cũng nhìn nhận như vậy, do bởi ông là người đã cho ra đời hằng trăm bài ca tân cổ giao duyên được vô dĩa hát phổ biến cùng khắp.

Nữ nghệ sĩ Mỹ Châu, cô đào đã ca nhiều bài tân cổ giao duyên của Viễn Châu

BÀI CA tân cổ giao duyên nguyên thủy của nó là một bản nhạc nổi tiếng, được soạn giả viết thêm lời ca vọng cổ vào. Cũng có nghĩa là cốt truyện nằm trong bản tân nhạc, và phần vọng cổ thì dựa theo tình tiết câu chuyện của bản tân nhạc để viết thêm vô, và theo một quy luật nhứt định, vì đó là yêu cầu của hãng dĩa cho đi đúng với dĩa 45 tua của một mặt dĩa, tức một dĩa hát thu được 2 bài.
            Bài ca tân cổ giao duyên được rất nhiều người ưa chuộng, dù một phần lớn người thưởng thức là giới yêu thích cổ nhạc. Khi xưa mỗi khi có một bản tân nhạc nào đó ra đời, được nhiều thính giả đài phát thanh yêu cầu là yếu tố chính để bản nhạc trở thành bài ca tân cổ giao duyên.
            Thời hậu bán thập niên 1960, tức từ 1965 trở về sau, là thời kỳ mà các hãng dĩa hát lưu ý đến các bản nhạc hay, đồng thời liên hệ với tác giả thương lượng mua bản quyền để khai thác. Trong trường hợp này thì người nhạc sĩ sáng tác bản nhạc tự nhiên có tiền “từ trên trời rơi xuống”, kể như là trúng số nho nhỏ vậy.
            Tiếp đến là soạn giả cải lương (thường là soạn giả Viễn Châu) được hãng dĩa “đặt hàng” để viết lời ca vọng cổ dựa theo tình tiết của bản nhạc. Qua các giai đoạn trên thì dĩa tân cổ giao duyên được phát hành phổ biến rộng rãi. Thời này đa số bản tân nhạc được thiên hạ ưa thích đã trở thành bài ca tân cổ giao duyên với người hát là ca sĩ đương thời đang nổi tiếng. Chẳng hạn như Lệ Thủy, Mỹ Châu, Thanh Nga, Út Bạch Lan, Tấn Tài, Thành Ðược…
            Bài tân cổ giao duyên ra đời đã làm phong phú thêm cho kho tàng âm nhạc. Ðối với nghệ sĩ sau thời gian ca hát, có những người mà làn hơi ca bị sa sút kém đi, ca không nổi 6 câu vọng cổ, hoặc có những nghệ sĩ không có được làn hơi phong phú thì bài tân cổ đã giúp họ cân bằng được những khiếm khuyết đó, và lấy lại được tình cảm của khán giả. Còn đối với những người sáng tác, bài tân cổ là một sự phá vỡ bế tắc khi họ cạn đề tài. Thậm chí còn giúp họ nổi tiếng nếu may mắn chọn được một bản nhạc hay, nổi tiếng đang được nhiều người mến chuộng.
            Người ta cho rằng viết một bài tân cổ giao duyên dễ hơn nhiều so với viết một bài vọng cổ 6 câu, vì đề tài có sẵn trong bài tân nhạc, thậm chí có soạn giả còn đem hẳn lời nhạc lồng vào mấy câu vọng cổ.
            Từ lâu nay trong làng cổ nhạc đã nghe nói nhiều về bài ca tân cổ giao duyên, nhưng lại rất hiếm người rõ biết từ ngữ trên xuất phát từ đâu và ai là người đầu tiên gọi bài vọng cổ pha tân nhạc là bài tân cổ giao duyên? Ðây là vấn đề mà rất nhiều người muốn biết, và có lẽ rất hiếm có được câu trả lời xác đáng.
            Thật ra thì chữ “giao duyên” ở đây nghe cũng rất hay, trải qua thời gian khá dài gần nửa thế kỷ, mấy thế hệ rồi vẫn không có từ ngữ nào khác thay thế mà hay hơn, cho nên tới bây giờ người ta vẫn gọi là tân cổ giao duyên vậy.
            Thời gian nhiều năm thỉnh thoảng vẫn có người hỏi tôi rằng cái từ ngữ “tân cổ giao duyên” do ai đặt ra mà nghe rất hay? Nhờ theo dõi hoạt động cổ nhạc nên tôi biết rõ từ ngữ “giao duyên” xuất hiện từ năm 1965, chứ 1964 trở về trước thì không có cái từ ngữ khá đẹp này.
            Số là vào năm 1965 thời kỳ mà đài phát thanh quân đội, mỗi sáng từ 7 giờ có chương trình Gia Binh, dành cho gia đình binh sĩ. Xướng ngôn viên Ngọc Dung phụ trách chương trình, mỗi ngày đều cho phát thanh một bài vọng cổ có pha tân nhạc, và cô gọi là bài tân cổ giao duyên. Và cũng kể từ đó thì cái chữ “giao duyên” đi sau chữ tân cổ lan tràn sang các đài Ba Xuyên, đài Ban Mê Thuột và luôn cả đài phát thanh Sài Gòn và trở thành thông dụng luôn cho đến bây giờ.
            Tóm lại xướng ngôn viên Ngọc Dung là người đầu tiên đã gọi tân cổ giao duyên, nhưng không biết có phải cô là người đã “phát minh” ra cái từ ngữ “giao duyên” cho đứng đàng sau chữ tân cổ, hay là ai đó mà cô không có nói.


NGÀNH MAI
Tháng 02/2016


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/Soan-gia-Vien-Chau-va-bai-ca-Tan-Co-Giao-Duyen-0810/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #173 vào: 05/03/2019, 18:22:21 »
Từ ngữ “Tân Cổ Giao Duyên” có từ bao giờ, ai gọi đầu tiên?

Từ lâu nay trong làng cổ nhạc đã nghe nói nhiều về bài ca tân cổ giao duyên, nhưng lại rất hiếm người rõ biết từ ngữ trên xuất phát từ đâu và ai là người đầu tiên gọi bài vọng cổ pha tân nhạc là bài tân cổ giao duyên? Đây là vấn đề mà rất nhiều người muốn biết, và có lẽ rất hiếm có được câu trả lời xác đáng.

Bìa đĩa hát Tân Cổ Giao Duyên của Thanh Tuyền

THẬT RA thì chữ “giao duyên” ở đây nghe cũng rất hay, trải qua thời gian khá dài gần nửa thế kỷ, mấy thế hệ rồi vẫn không có từ ngữ nào khác thay thế mà hay hơn, cho nên tới bây giờ người ta vẫn gọi là tân cổ giao duyên vậy.
            Khi xưa chỉ có bài ca vọng cổ thuần túy 20 câu hoặc 6 câu, do đó mà thời Út Trà Ôn nổi tiếng, người ta đâu có nghe đệ nhứt danh ca hát tân nhạc, mà chỉ nghe ông ca vọng cổ và hát tuồng cải lương mà thôi. Kể cả lúc nghệ sĩ Minh Cảnh mới nổi tiếng vào đầu thập niên 1960, anh ta cũng hát rặc ròng 6 câu vọng cổ, đó là bài “Tu Là Cội Phúc”. Rồi thời gian khoảng một năm sau đó thì soạn giả Viễn Châu viết bài Võ Đông Sơ – Bạch Thu Hà và Lương Sơn Bá – Chúc Anh Đài thì ông viết thêm vài đoạn nhạc thay thế cho câu nói lối, hoặc thay cho bản vắn để vô vọng cổ (nhạc do ông tự sáng tác phù hợp với cốt truyện, bài ca). Nhưng lúc ấy người ta chưa gọi các bài ca có pha nhạc kia của Viễn Châu là tân cổ giao duyên, mà chỉ gọi đó là bài “tân cổ” mà thôi.
            Thời gian nhiều năm thỉnh thoảng vẫn có người hỏi tôi rằng cái từ ngữ “tân cổ giao duyên” do ai đặt ra mà nghe rất hay? Nhờ theo dõi hoạt động cổ nhạc nên tôi biết rõ từ ngữ “giao duyên” xuất hiện từ năm 1965, chứ 1964 trở về trước thì không có cái từ ngữ khá đẹp này.
            Số là vào năm 1965 thời kỳ mà đài phát thanh Quân Đội, mỗi sáng từ 7 giờ có chương trình Gia Binh, dành cho gia đình binh sĩ. Xướng ngôn viên Ngọc Dung phụ trách chương trình, mỗi ngày đều cho phát thanh một bài vọng cổ có pha tân nhạc, và cô gọi là bài tân cổ giao duyên. Và cũng kể từ đó thì cái chữ “giao duyên” đi sau chữ tân cổ lan tràn sang các đài Ba Xuyên, đài Ban Mê Thuột và luôn cả đài phát thanh Sài Gòn và trở thành thông dụng luôn cho đến bây giờ.

Xướng ngôn viên Ngọc Dung là người đầu tiên
            Tóm lại xướng ngôn viên Ngọc Dung là người đầu tiên đã gọi tân cổ giao duyên, nhưng không biết có phải cô là người đã “phát minh” ra cái từ ngữ “giao duyên” cho đứng đàng sau chữ tân cổ, hay là ai đó mà cô không có nói.
            Bài tân cổ giao duyên có nhiều người ưa thích ủng hộ, nhưng ngược lại cũng có người phản đối ra mặt nên soạn giả Viễn Châu đã nói rằng:

           “Lúc mới ra đời, bài tân cổ giao duyên cũng chịu lắm lời ra tiếng vào, thậm chí cho là lai căng mất gốc. Nhưng rồi dần dần nó lại được chấp nhận. Bởi một bài vọng cổ dài 6 câu, nếu viết không hay, ca không hay dễ làm cho người ta chán vì sự đơn điệu của nó. Còn tân cổ giao duyên nếu có sự kết hợp, giao duyên hợp lý giữa nhạc điệu và nội dung, sẽ làm người nghe thích thú hơn, đồng thời cũng làm bài vọng cổ phong phú hơn về phong cách.”

            Nhạc sĩ Nguyễn Thanh đại diện nhóm nhạc sĩ nông thôn đã gởi bài viết về tòa soạn báo Sân Khấu với lời lẽ phản đối khá nặng nề. Tôi xin trích vài đoạn như sau:

           “… Nhóm nhạc sĩ nông thôn chúng tôi trân trọng yêu cầu quí báo vui lòng cho đăng tải bài viết này, để nói lên sự đau lòng của chúng tôi, vì chúng tôi không bao giờ được đờn đủ sáu câu như xưa. Đa số bài ca bây giờ chỉ có bốn câu và xen lẫn một khúc tân nhạc, mà phần lớn chúng tôi không rành tân nhạc, nên rất lúng túng khi ca sĩ cất giọng ca tân nhạc.
            Các bậc đàn anh trong ngành, có sáng kiến là tổng hợp những tinh hoa của từng câu, từng lái, đúc kết lại còn 12 câu và đến nay chỉ còn lại sáu câu, gồm đủ những chữ đờn bay bướm, mùi mẫn. Quá trình trên là công sức và tâm huyết của các bậc đàn anh kỳ cựu của ngành cổ nhạc, nhưng thực tế cho thấy, công lao ấy đã bị hủy hoại bởi một phong cách “ngoại lai” là phong trào tân cổ giao duyên.
            Ta cứ thử hình dung:
            – Như một ngôi nhà, mà mặt tiền được trang trí, theo cấu trúc phương Tây và một nửa lại theo cấu trúc phương Đông?
            – Như một người vận Âu phục sang trọng, mà trên đầu lại đội khăn đóng và chân thì mang đôi guốc?
            – Do đó, tân cổ giao duyên, thực chất không đại diện cho một phong cách chính xác nào cả, mà nó là đứa con ngoại lai của ngành âm nhạc mà thôi.”


            Đó là lời phản đối của nhạc sĩ Nguyễn Thanh.
            Mời quí vị tiếp tục theo dõi trong phần âm thanh bài tân cổ giao duyên “Người Em Xứ Thượng”. Tân nhạc của Lê Dinh – vọng cổ của Viễn Châu với tiếng ca Minh Cảnh.


NGÀNH MAI
Tháng 02/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0227-nm-02262016134327.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #174 vào: 09/03/2019, 20:11:31 »
Giai thoại về việc thành lập đoàn hát Thủ Đô

Năm 1960 Út Trà Ôn bị thất thế ở gánh Thanh Minh – Thanh Nga, do một cuộc cải vả dữ dội với bà bầu Thơ nên không còn được trọng dụng với vai trò kép chánh, mà bị đưa xuống đóng kép lão.

Rạp Hưng Đạo xưa

Út Trà Ôn bị thất thế
            Cậu Mười Út nói:
            – Chị hạ tầng công tác tôi hả chị Năm?
            – Nhưng chú Út đã gần 50 tuổi rồi, đóng kép lão là hợp tình hợp lý.
            – Tôi không chịu vậy đâu, tôi quen đóng kép mùi, người ta còn muốn nghe tôi ca vọng cổ kia mà!
            – Tôi không cần biết! Nếu chú không nhận vai, căn cứ bản hợp đồng, trong một tuần chú trả lại tiền giao kèo, bằng không tôi đưa vấn đề ra pháp luật.
            Bà bầu Thơ kêu soạn giả Năm Châu viết tuồng xã hội, có vai trò ông già quản gia bị cậu công tử đá đít (kép Thành Được đóng vai công tử), do đó đệ nhứt danh ca mới phản ứng dữ dội, và một cuộc đấu khẩu đã diễn ra…
            Có phải bà bầu Thơ muốn hạ nhục Út Trà Ôn cho bõ ghét chăng?
            Trường hợp này cũng chẳng khác gì trưởng đoàn Văn Công thành phố cho kép mùi Thanh Hải đóng vai hề, nắm sợi dây dẫn heo nái đi động đực cho khán giả cười vậy.
            Suốt gần 20 năm Út Trà Ôn luôn là kép mùi, kép chánh, là mục tiêu mua vé của khán giả, nên được bầu gánh và người trong đoàn nể trọng. Do vậy mà lúc nào ông cũng cho rằng mình là cao hơn ai hết, mọi người phải tùng phục mình, và lại còn thêm cái tật làm khó, để cho người ta chiều mình nhiều hơn (ông Ba Bản nói như vậy).
            Khoảng cuối năm 1959, vì không chịu nổi cái tật làm khó của Út Trà Ôn, bà bầu Thơ quá bực tức, đã giáng cho Cậu Mười Út một đòn chí tử bằng cách giao cho vai trò chẳng đẹp trên.
            Nếu không nhận vai trò ông già thì Út Trà Ôn phải thối lại tiền ký giao kèo, chớ không thôi thì sẽ bị đưa ra tòa. Vậy thì tiền đâu để trả lại cho bầu gánh chớ? Bởi tuy làm rất nhiều tiền, mỗi lần hạ bút ký công tra là có hai triệu xài chơi, mà không phải trả lại, nếu như hát đủ thời gian. Còn lương mỗi đêm hát thì cao hơn người ta cả chục lần, nhưng khổ nỗi do cái máu mê cờ bạc, mà bao nhiêu tiền cũng nướng hết vô sòng bài. Giờ đây bí quá Út Trà Ôn chạy đến than vãn với ông Ba Bản, năn nỉ xin cứu giúp mình.
            Nghĩ tình Út Trà Ôn đã từng cộng tác thu thanh nhiều dĩa hát bán chạy, làm giàu cho hãng dĩa Hoành Sơn. Nhưng giúp bằng cách nào đây, không lẽ đưa tiền khơi khơi cho Út Trà Ôn trả nợ. Nhớ lại 8 năm trước từng cho Út Trà Ôn ký giao kèo để độc quyền thu thanh tiếng ca vô dĩa hát, thì bây giờ lập gánh hát cho Út Trà Ôn ca vọng cổ hằng đêm thì cũng thế thôi.
            Vả lại ông Ba Bản cũng là người ham thích cải lương, nên cũng muốn làm bầu gánh hát một phen, vừa giúp Út Trà Ôn, vừa làm theo sở thích. Suy nghĩ chỉ trong mười phút là ông Ba Bản quyết định thành lập gánh hát, cho đệ nhứt danh ca ký giao kèo lấy tiền trả cho bà bầu Thơ.
            Thế là đoàn Thủ Đô ra đời mở đầu cho thời kỳ hoàng kim của nghệ thuật cải lương. Sân khấu huy hoàng của đoàn Thủ Đô là nơi mà nhiều đào kép cải lương thành danh như: Ngọc Hương, Thanh Hải, Thanh Thanh Hoa, Tấn Tài, Trương Ánh Loan, Dũng Thanh Lâm v.v…
            Khởi sự vào việc, ông Ba Bản giao cho Thu An viết tuồng khai trương bảng hiệu (tuồng Tiếng Trống Sang Canh), đồng thời đưa Thu An lên chức vụ giám đốc kỹ thuật (giống như đạo diễn), mời chọn và phân vai đào kép. Lúc này thì cuộc đời Thu An lên hương thấy rõ, vừa có quyền lại vừa có tiền, “chú Sáu đờn cò” đã lột xác và đã “cua” được cô đào chánh trẻ đẹp Ngọc Hương. Dĩ nhiên hình bóng cô Thu thơ ký đã lui vào dĩ vãng, nếu so sánh thì đào trẻ Ngọc Hương vượt trội hơn nhiều.


Nghệ sĩ Ngọc Hương khi nhận giải Thanh Tâm vào năm 1962

Gánh hát Hương Mùa Thu
            Đoàn Thủ Đô hoạt động chưa đầy hai năm thì Thu An và Ngọc Hương bỏ đoàn Thủ Đô nhảy sang đoàn Kim Chưởng. Đào chánh bỏ đi thì kép chánh Thanh Hải cũng bỏ đi sang đoàn Kim Chưởng, để hát đóng cặp với Ngọc Hương. Đến giữa năm 1964 hết hợp đồng, cặp Thu An – Ngọc Hương đứng ra thành lập gánh hát Hương Mùa Thu.
            Trong số những gánh hát cải lương được xếp vào hàng đại ban của thời thập niên 1960, người ta phải kể đến đoàn Hương Mùa Thu, một đại ban oanh liệt vững vàng, nhờ tuồng tích chỉ một mình Thu An là đủ cung cấp cho đoàn, mà không phải cần thêm một soạn giả nào, và Ngọc Hương thì đảm trách vai đào chánh. Chỉ nội hai yếu tố đó thôi cũng hơn hẳn các đoàn khác rồi, do đó mà yên tâm làm ăn, ngày càng tạo nên thanh thế của một đại ban cải lương.
            Vở tuồng “Lá Của Rừng Xanh” của Thu An khai trương bảng hiệu Hương Mùa Thu được quảng cáo mạnh mẽ. Thời gian đoàn tập tuồng, Thu An cho thu dĩa hát và ngày khai trương cũng là ngày phát hành bộ dĩa “Lá Của Rừng Xanh”. Đồng thời mở cuộc xổ số, ai mua vé có trúng số thì được lãnh bộ dĩa. Sự nghiệp sân khấu cải lương của Thu An, Ngọc Hương lên cao nhứt là ở thời điểm này.
            Có điều kiện gánh hát nhà nên cuộc đời nghệ thuật của Ngọc Hương ngày một đi lên, và tuồng nào có Ngọc Hương hát trên sân khấu thì sau đó người ta lại thấy tuồng được thu dĩa hát để phổ biến rộng rãi hơn. Thời đó Hương Mùa Thu chỉ hát ở các rạp lớn Sài Gòn, coi như ngang hàng với các đại ban Thanh Minh – Thanh Nga, Kim Chung, Kim Chưởng.
            Lúc bấy giờ có người nói rằng khi còn ở đoàn Thủ Đô thì Ngọc Hương chuyên đóng các vai tiểu thơ đài các, vai công chúa như trong tuồng Cây Quạt Lụa Hồng, đào Ngọc Hương đóng vai công chúa Huyền Trân. Tới lúc lập gánh Hương Mùa Thu thì không hiểu sao Thu An lại viết tuồng dựng lên toàn bối cảnh nhà quê nghèo nàn, cho Ngọc Hương đóng vai cô gái quê nghèo. Cái đáng suy gẫm là trước ngày kỷ niệm đệ nhứt chu niên ngày thành lập gánh Hương Mùa Thu, soạn giả Thu An đã ráo riết cho tập dượt vở hát “Bà Chúa Ăn Mày”, dựng lên một đám ăn mày, đồng thời cho bà xã Ngọc Hương thủ vai bà chúa ăn mày. Thiên hạ nói làm bà chúa ăn mày thì khá cái nỗi gì chớ, sớm muộn gì cũng nghèo! Tại sao Thu An lại không kiêng cữ gì hết vậy?
            Hưng thịnh được vài năm, đến Tết Mậu Thân thì đoàn Hương Mùa Thu xuống dốc thê thảm. Trong hoạt động sân khấu cải lương nếu như một gánh hát ra đời, thì dù lớn dù nhỏ cũng khi thăng lúc trầm, khi thịnh lúc suy, hễ yếu thì thu hẹp hoạt động cầm chừng chờ cơ hội vươn lên trở lại như các gánh Hoa Sen, Thanh Minh, Kim Chưởng, Thúy Nga v.v… Tóm lại gánh hát nào đó nếu có xuống dốc thì cũng nhiều lần, hoặc đôi ba lần lên xuống, chớ không phải như đại ban Hương Mùa Thu, lúc mới khai trương bảng hiệu thì được liệt vào hạng “A”, nhưng sau một thời gian vài năm thì xuống hạng “B” rồi tới hạng “C” và tiếp tục xuống nữa, xuống nữa…
            Không còn hát ở Sài Gòn, đoàn phải đi hát đình hát chợ, người ta muốn biết đoàn đang hát ở đâu cũng khó kiếm. Vào thời điểm 1971 theo Quốc lộ 15 từ xa lộ Biên Hòa đi vào tỉnh này chừng ba, bốn cây số có một cái chợ nhỏ, người ta thấy tại chợ có treo cái bảng hiệu của đoàn “Hương Mùa Thu”. Chẳng rõ nghệ sĩ của đoàn trú ngụ tại đâu, bởi giờ này khoảng 9 giờ 30 sáng là giờ đào kép còn ngủ. Buổi chợ đang còn bán lưa thưa, nhìn sâu vào nhà lồng chợ bên kia thấy một số cây ván được xếp lại thành đống, có lẽ là đống ván làm sân khấu dẹp lại cho bạn hàng nhóm chợ.
            Ai nhìn thấy chắc cũng cùng một ý nghĩ: Cải lương đã đến hồi mạt vận rồi, những bảng hiệu đại ban mới ngày nào, nay phải hát chợ, hát đình, hát miễu không hơn gì mấy gánh hát bầu tèo chuyên sống vất vưởng ở mấy làng quê. Và cũng kể từ thời điểm này, gánh Hương Mùa Thu không còn dịp nào trở lại Đô Thành, do bởi phim Tàu chiếm hết rạp. Cặp vợ chồng Thu An, Ngọc Hương trôi nổi từ chợ này đến chợ khác.
            Lúc ấy khoảng 1972 người ta thấy tất cả nghệ sĩ gánh Hương Mùa Thu đều dồn xuống chiếc ghe máy nhỏ xíu, ngồi chật nứt chạy đến cù lao Rồng thuộc tỉnh Mỹ Tho, tới đây coi như không còn chỗ nào thấp hơn để mà xuống, và khi đoàn dọn đến Gò Công thì rã gánh tại một xã của tỉnh này.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-101015-nm-10082015144424.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #175 vào: 15/03/2019, 18:32:52 »
Sân khấu Hậu Tấn với tuồng chiến tranh hiện đại

Bài viết hôm nay tác giả hân hạnh đưa quý độc giả trở về thời kỳ xa xưa 1950 qua hình ảnh tờ programme (bây giờ gọi là poster) của đoàn ca kịch Hậu Tấn, mà lịch sử văn hóa dân tộc có thêm chứng liệu.

Tờ programme “Tiếng Còi Ngoài Mặt Trận” năm 1950

ĐOÀN HÁT HẬU TẤN ra đời đầu năm 1950 và khi gánh Hoa Sen hình thành khai trương bảng hiệu (1951) thì Hậu Tấn rã gánh. Do đó mà về sau phần lớn bà con mộ điệu, kể cả những người hoạt động nghệ thuật sân khấu đã không hề biết gánh Hậu Tấn ra sao, đào kép tên tuổi hay là gánh hát bầu tèo?
            Thật ra thì Hậu Tấn là đoàn hát lớn của thời bấy giờ, với danh ca tài tử Bảy Cao (thời này chưa có danh từ nghệ sĩ) làm kép chánh.
            Thư tịch cổ đờn ca tài tử và cải lương lưu giữ được một số tờ programme các tuồng hát của đoàn Hậu Tấn, và hôm nay xin trình bày tờ programme vở hát “Tiếng Còi Ngoài Mặt Trận”, diễn tại rạp Thuận Thành tối Chủ Nhật, 23 Tháng Bảy, 1950.
            Chỉ nội cái tên tựa là người ta đã hình dung được đây là tuồng thuộc loại chiến tranh, nội dung diễn tả cuộc chiến tranh Hoa-Nhật, lúc quân Nhật Bổn đánh lấy Mãn Kinh của Trung Hoa. Với một không gian nhỏ hẹp của sân khấu, thế mà những chiến cụ đại bác, cao xạ, liên thinh và cả chiến hạm khổng lồ của Tàu cũng được đưa lên sân khấu (xem tờ programme).
            Cách đây 70 năm mà nghệ thuật sân khấu đã trình diễn tuồng “kinh khủng” này, nếu như không có tờ programme trong thư tịch xưa được phổ biến thì nói chẳng ai tin. Người ta thử tưởng tượng có một khán giả (nam hay nữ) tối hôm bữa đó đi coi vở hát “Tiếng Còi Ngoài Mặt Trận”, thì giờ đây đã là cụ ông, cụ bà 90 tuổi rồi đó.
            Tuy vậy đoàn hát không được sống thọ này cũng để lại cho văn hóa dân tộc những tờ programme giới thiệu các tuồng hát, mà các thế hệ sau hiểu được nghệ thuật cổ xưa.

Bài ca Tây Thi (trích trong tuồng “Ngũ Vân Quá Giang”)
               Dạ khi ấy tiểu sinh trấn thủ ải Đồng Quan.
               Cho nên cả nhà lâm cảnh tai ương không thể giải nguy cứu trợ.
               Ngũ Vân này sống sót đến đây nhờ Ngũ Bảo trốn thoát đưa tin.
               Mới bàn cùng Ngũ Thượng anh tôi, nên kéo binh về giết lũ gian manh.
               Người khuyên tôi nên tị nạn, bằng lòng ở lại chịu cảnh thọ hình.
               Tôi nhiều lần can gián khuyên ngăn anh tôi quyết giữ ngay trọn đạo.
               Nếu chần chờ sợ khó thoát nguy đành cắn răng tị nạn một mình.
               Ra khỏi dinh thì sứ quan liền đến nghe chiếu chỉ anh tôi tự hủy mình.
               Chúng nó lục kiếm tôi cùng biết đã trốn tập nã khắp nơi.
               Khi thoát thân, tôi nhắm độc đạo ruổi dung.
               Nguy hiểm chẳng sờn gan, vì mối thù thâm tâm nặng trịu.
               Lòng tính rất kỹ càng chỉ có Ngô bang dễ gây thinh thế.
               Tới ải Biên quan kinh sợ, thấy quân sĩ rần rộ ngồi canh.
               Tưởng đâu việc bôn ba thất thủ nhưng may nhờ Phật độ người ngay.
               Khi tới chẳng biết tính sao để quá giang trốn đi cho lọt.
               May viên ngoại người động lòng thương tận tình giúp chẳng sợ ách tai.
               Ông sắp đặt với bực hùng anh, đặng dối gạt những lũ cầy lang.
               Người ấy họ Dương tên Bột bằng lòng chịu trá hình.
               Nên sắp bày ra cuộc đi săn dụ gian tặc lầm mưu độc.
               Tôi được dịp bèn vội thoát thân nên mới có mặt nơi này.
               Tường phân khúc nôi sự thật xin dùm thương hại kẻ lâm nàn.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/san-khau-hau-tan-voi-tuong-chien-tranh-hien-dai/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #176 vào: 19/03/2019, 20:39:26 »
Đào Nguyên lạc lối Từ Thức gặp tiên nữ Giáng Hương

Người ta không biết câu chuyện xảy ra từ bao giờ, ở đâu, mà ngay cả địa danh “Đào Nguyên” trong câu chuyện cũng chẳng rõ ở quốc gia nào, có hay không cũng chẳng biết, mà chỉ thấy trong truyện xưa tích cũ, và trong tuồng cải lương mà thôi.

Tranh tiên nữ Giáng Kiều ở Bích Câu Đạo quán
do Viện Viễn Đông bác cổ tặng

Chỉ gánh hát nhỏ đưa lên sân khấu
            Nghệ thuật cải lương đã viết thành kịch bản, dàn dựng đưa lên sân khấu cho người đời thưởng thức câu chuyện bằng cảnh trí, bằng lời ca tiếng hát. Vở hát “Đào Nguyên lạc lối Từ Thức gặp tiên nữ Giáng Hương” thì không thấy đoàn lớn trình diễn, mà chỉ thấy ở các gánh hát nhỏ ở thôn quê đã đưa lên sân khấu phục vụ bà con nông thôn.
            Khán giả miền quê rất ưa thích các tuồng có cốt truyện huyền hoặc, diễm tình, và cái đặc biệt là tuồng Từ Thức lạc vào Thiên Thai đã gây thắc mắc cho khán giả, khi vãn hát ra về rồi mà vẫn không có giải đáp. Không rõ thời điểm diễn ra câu chuyện ở thời kỳ nào, nhưng nếu căn cứ vào lúc đầu xảy ra cho đến khi kết cuộc cũng cả trăm năm. Tình tiết cũng khá hay, và câu chuyện bắt đầu như sau:
            Cô thôn nữ Yến Nhi xinh đẹp đảm đang, đã thầm thương trộm nhớ chàng nho sinh Từ Thức, kể từ ngày hai người gặp nhau ở lễ hội hoa Xuân. Từ đó, nàng sớm hôm tảo tần buôn gánh bán bưng để giúp chàng ăn học, mong Từ Thức có ngày vinh quy bái tổ. Đoạn khởi đầu là vậy, cũng tương tợ như nàng Châu Long trong tuồng “Người Đẹp Bán Tơ”, tức Lưu Bình Dương Lễ của soạn giả Kiên Giang Hà Huy Hà, từng được đoàn Việt Hùng Minh Chí, trình diễn thời giữa thập niên 1950. Hay là tuồng “Bên Cầu Dệt Lụa” của soạn giả Thế Châu, mà nhân vật nữ chính là Quỳnh Nga, dựng quán bán buôn nuôi Trần Minh ăn học, được hát trên sân khấu Thanh Minh Thanh Nga và chính Thanh Nga đảm trách vai Quỳnh Nga.
            Đoạn đầu thì vậy, nhưng đoạn sau thì khác hoàn toàn, bởi Từ Thức đã không trông đợi đến ngày đỗ đạt Khôi Nguyên, mà lại thích đi đó đi đây, du sơn du thủy. Ngày nọ trên bước đường phiêu bạt, Từ Thức gặp con suối trong vắt với phong cảnh hữu tình, cỏ cây hoa lá xinh tươi, từng cơn gió nhẹ thoảng thoảng mùi hương thơm ngào ngạt. Chàng nương theo giòng suối, đi mãi không biết chán, không biết mệt, càng đi xa thì phong cảnh càng đẹp, bước vào Thiên Thai lúc nào không hay. Bất giác nghe tiếng động, tiếng ồn của nước, hình như có ai đang tắm suối thì phải. Tò mò, chàng vạch cây lá bước thêm vài bước… thì ôi thôi! Trước mặt chàng, một cô gái đẹp tuyệt trần, đang vỗ bàn tay xinh xắn vào giòng nước chảy, phát ra tiếng “chát chát”. Cô không mặc áo quần gì cả, nên để lồ lộ tấm thân ngà ngọc, cân đối với những đường cong tuyệt mỹ tạo thành. Khuôn mặt nhìn nghiêng của cô cho thấy rõ một bên má đào đang ửng hồng dưới nắng. Cũng như suối tóc đen huyền buông xỏa, vô tình làm nổi bật làn da trắng ngần từ cổ đến chân. Tóm lại thân thể cô là cả một công trình điêu khắc của tạo hóa, mà hầu như người nữ nào ở thế gian cũng mong muốn cái đẹp kia rơi vào mình.
            Thấy thế, Từ Thức thẩn thờ, ngây ngất đứng bất động một lúc, chưa biết có phải lên tiếng xin lỗi hay là lánh mặt ngay. Dù vô tình nhưng chàng nho sinh cũng thấy rằng mình có lỗi “nhìn trộm” người ta. Chàng quơ mạnh tay vạch lá cây định bỏ đi, thì cô gái phát hiện có người nhìn mình, nên vội vã bước lên chỗ để xiêm y, mặc nhanh vào chạy theo níu kéo chàng lại.
            Giáng Hương tiên nữ (tên cô gái) nói:
            – Bớ chàng nho sinh kia, nhìn người ta rồi lại bỏ đi sao?
            Từ Thức chưa biết phải trả lời thế nào đây cho ổn, thì cô gái nói tiếp:
            – Đã “thấy” người ta rồi thì phải đi theo người ta mà thôi!
            Phân bua trao đổi với nhau một hồi, cô gái cho biết mình là tiên ở Đào Nguyên, và đây là giòng suối “Tương Tư” các tiên nữ thường hay xuống đây tắm suối. Nhưng hôm nay lại có mặt một nam nhân của trần gian nơi đây, là điều chưa từng có. Nàng cho biết do chàng đã thấy được thân thể của nàng rồi, thì bắt buộc phải đưa chàng lên cõi tiên, gặp bà Tây Vương Mẫu để bà quyết định.
            Thế là Từ Thức đi theo Giáng Hương, lần bước theo giòng suối Tương Tư để vào chốn Đào Nguyên. Khi gặp Thánh Mẫu thì bà biết rõ căn duyên của Giáng Hương và Từ Thức phải nặng nợ với nhau thời gian hai tháng. Hai tháng ở cõi tiên dài lắm, dài bằng cả trăm năm ở trần gian vậy.


Minh họa của Đinh Mão

Thánh Mẫu tác hợp
            Và Thánh Mẫu đã tác hợp cho hai người, đồng thời dành một vùng huê viên rộng lớn, cho cả hai ở đó mà vui hưởng hạnh phúc, không bị ai quấy rầy.
            Giáng Hương cung phụng cho chàng hết mực, và kể từ hôm ấy Từ Thức ngày đêm quấn quít bên người đẹp tiên nga, vô vàn hạnh phúc…
            Là tiên nữ nên Giáng Hương biết rõ trong ý tưởng chàng ta đang nghĩ gì. Có một buổi chiều trời đang mưa lất phất, chàng chợt thấy cánh hoa đẹp ngoài vườn, loại hoa tỏa mùi hương bát ngát, sợ rằng lát nữa đây mưa nhiều, mưa nặng hột thì cành hoa tơi tả. Chàng có ý nghĩ đi bẻ cành hoa mang vô phòng, nhưng vì trời đang mưa nên chưa thực hiện, tức thì Giáng Hương lấy cây dù trao cho, bởi nàng đọc được trong ý nghĩ Từ Thức.
            Có những lần chàng muốn nghe nhạc, chỉ muốn thôi chứ chưa nói ra gì hết, thì Giáng Hương lấy đàn dạo lên vài điệp khúc mà chàng ta ưa thích. Tóm lại Từ Thức tận hưởng cảnh thần tiên, non bồng nước nhược, bên cô vợ tiên nga hết dạ nuông chiều, mà người trần gian mấy ai có được như chàng nho sinh tốt số này. Lạc lối như Từ Thức thì đâu có chàng trai nào lại không mong muốn chớ!
            Ở chốn Đào Nguyên được hai tháng, cũng có nghĩa là đã trải qua một trăm năm ở dưới trần, thì ngày nọ Giáng Hương có lệnh của Thánh Mẫu gọi. Trước khi đi gặp Thánh Mẫu, nàng căn dặn chàng không được mở cánh cửa, ở bức tường phía sau hàng hoa kiểng kia.
            Không biết có phải duyên nợ của họ chỉ đến đây thôi hay sao, mà chính vì sự căn dặn của nàng đã gây ra sự tò mò của Từ Thức. Bóng nàng vừa khuất ngoài hoa viên, thì chàng ta đến mở cánh cửa. Thì ra đây là cánh cửa mở ra nhìn xuống trần gian, cảnh sinh hoạt chốn hồng trần hiện ra trước mắt, người qua kẻ lại, ngựa xe xuôi ngược dập dìu, chợ búa bán buôn nhộn nhịp, khiến cho chàng nho sinh nhớ nhà, nhớ quê hương, và nhớ cả người yêu Yến Nhi.
            Từ Thức còn mơ màng đứng bên cánh cửa đang mở, thì Giáng Hương đã về, nàng biết được ý định của chàng muốn về thăm quê hương.
            Nàng nói thầm:
            – Thôi rồi! Định mạng đã sắp bày!
            Từ Thức nói:
            – Anh muốn về thăm quê hương vài hôm và sẽ trở lại.
            Giáng Hương buồn rầu:
            – Không được đâu chàng, trần gian và thượng giới cách biệt, người ở đâu thì ở đó, không thể qua lại được.
            – Chớ sao anh là người hạ giới, mà lại lên đây chung sống với em, hai tháng qua cùng em vui hưởng hạnh phúc?
            – Đó chẳng qua là do căn số, chỉ duy nhứt có mỗi mình chàng là có được cái may mắn ấy.
            Giáng Hương nói tiếp:
            – Do chàng lạc lối vào Thiên Thai và vô tình gặp thiếp chớ không phải cố ý, nên Thánh Mẫu cảm thông, cho chàng sống cận kề bên thiếp.
            Giờ đây nếu chàng về trần gian thì không bao giờ lạc lối vào Đào Nguyên lần thứ hai. Dù rằng Giáng Hương cặn kẽ giải thích, can ngăn chàng ta đừng đi về trần gian mà không trở lại được, nhưng Từ Thức vẫn khăng khăng nhứt quyết phải trở về quê nhà một chuyến. Bây giờ thì tiên nữ tự trách mình, sao lại để cho Từ Thức trông thấy cảnh trần gian, chớ lâu nay chàng đã quên mất rồi.
            Câu chuyện Từ Thức lạc lối vào Thiên Thai gặp tiên nữ, rồi cùng người đẹp vầy duyên vui sống, tràn đầy hạnh phúc, thơ mộng. Nếu như câu chuyện được dừng lại tại đây, thì chắc chẳng có gì để cho người đời suy gẫm nhiều, mừng cho chàng ta mà thôi. Thế nhưng tình tiết câu chuyện lại diễn tiến bất ngờ, đưa đến sự hối tiếc cho nhân vật Từ Thức, khi chàng ta một mực muốn trở lại trần gian, với bao nhiêu là tranh đua hỗn tạp.
            Câu chuyện Từ Thức lạc lối vào Thiên Thai gặp tiên nữ Giáng Hương, đưa lên sân khấu đã thu hút mạnh mẽ số người đi coi cải lương. Do vậy mà phía bên địa hạt dĩa hát cũng mau lẹ nhảy vào khai thác, và cũng thành công luôn, mà còn làm giàu nhiều hơn gấp bội, do dĩa hát phát hành rộng rãi đi khắp miền đất nước, mà đặc biệt ở miền Lục Tỉnh tiêu thụ nhiều nhứt.
            Số là khoảng 1953 hãng dĩa Việt Nam đã cho ra đời bộ dĩa Đào Nguyên Lạc Lối với 20 câu vọng cổ do cô Ba Trà Vinh và danh ca Xuân Liễu thu thanh.
            Sau 1975 câu chuyện Từ Thức gặp tiên nữ lại được thu băng video, do nghệ sĩ Minh Phụng vai Từ Thức, nữ nghệ sĩ Thanh Thanh Tâm vai Yến Nhi, Tài Linh vai tiên nữ Giáng Hương, và một cô đào mụ xuất hiện với vai Yến Nhi khi về già. Nói chung, nếu như cốt truyện được bà con ưa thích, thì người làm nghệ thuật dù ở lãnh vực nào, cũng sẵn sàng bỏ vốn ra kinh doanh.
            Trở lại lúc Từ Thức đòi về trần gian để gặp lại người yêu cũ Yến Nhi, tiên nữ Giáng Hương có bằng lòng không? Tôi sẽ trình bày tiếp câu chuyện diễm tình ngồ ngộ này vào kỳ sau.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1017-nm-10172015075003.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #177 vào: 23/03/2019, 17:42:22 »
Trở về trần gian Từ Thức gặp lại “cụ bà” Yến Nhi

Kể từ lúc nhìn thấy trở lại cảnh trần gian với người người qua lại, với hình ảnh người nông dân bên cánh đồng bát ngát mênh mông với công việc ruộng nương đồng áng. Ôi sao mà đẹp quá! Thế là Từ Thức lúc nào cũng mặt ủ mày ê, buồn rầu khôn tả, chàng không tha thiết gì với Bồng Lai Tiên Cảnh nữa, mà tâm tư cứ suy nghĩ mãi chuyện hồng trần, mà mình vô tình quên mất thời gian qua.


Tìm đường về làng cũ
            Tiên nữ Giáng Hương đã không còn cách nào để khuyên giải nỗi u buồn của Từ Thức, can gián thế mấy cũng không được. Cuối cùng thì nàng đành phải đưa chàng ta ra cổng Trời, làm phép trong khoảnh khắc thì Từ Thức đã hiện diện ở mặt đất thế gian.
            Tìm đường về làng cũ, chàng đi thật nhanh về để sớm gặp người yêu cũ Yến Nhi, để bù lại cho nàng những ngày thương nhớ. Chẳng mấy chốc hình ảnh quen thuộc cổng làng hiện ra, vẫn con đường đất và chiếc cầu bắc qua con sông nhỏ, vẫn ao làng mà bên ven bờ có bụi tre lá rụng…
            Tóm lại là cảnh vật vẫn y nguyên chẳng thay đổi, chỉ có con người ta là hoàn toàn xa lạ, chẳng một ai quen để mà hỏi thăm. Chợt thấy một cô thôn nữ sắp bước vô cổng làng, chàng hỏi:
            – Cô là người ở làng này à?
            Người nữ gật đầu xác nhận:
            – Phải, tôi là người ở làng này, cậu hỏi có chuyện chi?
            – Vậy nhà của cô Yến Nhi ở đâu?
            – Cậu hỏi cô Yến Nhi nào?
            – Tôi muốn hỏi thăm cô Yến Nhi ở làng này.
            – Ở đây chỉ có bà cụ bán bánh tráng ở ngôi trường đằng kia là tên Yến Nhi mà thôi, bà ta gần một trăm tuổi rồi mà gọi bằng “cô” sao được. (Cũng có gánh cải lương nói cụ bà bán bánh ít, bánh tét.)
            Thấy chàng ta chau mày suy nghĩ, người thôn nữ nói tiếp:
            – Bà cụ Yến Nhi chỉ sống một mình không có chồng con gì hết. Nghe nói khi xưa một trăm năm trước, bà có người yêu là một nho sinh tên Từ Thức, rồi tự nhiên cái ông Từ Thức ấy bỏ đi đâu mất, bà trông chờ mãi vẫn không thấy về.
            Nghe người thôn nữ nói, Từ Thức lấy làm lạ không lẽ một trăm năm trước cũng có người nho sinh cùng tên với mình, và người yêu cũng tên Yến Nhi sao? Mà tại sao mình lại không nghe ai nói chuyện ấy chớ!
            Chàng hỏi:
            – Chuyện Từ Thức và Yến Nhi có nhiều biết không vậy cô?
            – Ai ở làng này mà không biết chuyện đó chớ! Giờ đây mỗi ngày bà cụ ngồi bán bánh tráng trước ngôi trường mà ông Từ Thức từng học, như là để nhớ một kỷ niệm nào đó vậy.
            Từ Thức lấy làm lạ, có lý nào mới hai tháng trời mà Yến Nhi lại già đi cả trăm tuổi sao? Chàng nhìn về phía ngôi trường cạnh bên đình làng thì vẫn không thay đổi, chỉ có cái là tại sao cả ngôi trường lẫn đình làng lại cũ kỹ đi rất nhiều, rêu xanh mọc đầy trên mái ngói.
            Muốn biết cho chắc, chàng hỏi:
            – Vậy chớ ở đây có ai là thân thuộc, hay bạn bè của Từ Thức mà cô vừa nói đó?
            – Những người thuộc lớp tuổi của ông cụ Từ Thức đã chết hết cả rồi, chỉ duy nhứt có bà cụ Yến Nhi mỗi ngày ngồi bán bánh tráng trước cổng trường là còn sống đó thôi, ông vào đó hỏi thăm đi.
            Từ Thức cám ơn rồi rời khỏi cổng làng, đi về phía ngôi trường, mà đối với chàng từng có kỷ niệm lúc mới gặp gỡ Yến Nhi. Khoảng cách thu ngắn dần, và giờ đây trước mắt chàng là một cụ bà đầu tóc bạc phơ, mắt mờ sờ sệt, da mặt nhăn nheo, răng rụng không còn một chiếc. Chàng hỏi:
            – Thưa cụ bà, cụ bà có biết cô Yến Nhi mà hai tháng trước đây là người thân của nho sinh Từ Thức, hôm nay cô ở đâu?
            Nghe nhắc đến tên Từ Thức, như gợi lại hình ảnh cũ, cụ bà xúc động rưng rưng nước mắt. Một lúc sau bà mới thốt lên câu nói:
            – Yến Nhi là tôi đây, và nho sinh Từ Thức là bạn tình chưa làm lễ thành hôn, thì ông bỏ đi biệt tích biệt tăm từ ấy đến nay luôn.
            Từ Thức nói:
            – Cụ bà có kỷ niệm nào đáng nhớ đối với nho sinh Từ Thức?
            – Khi còn trẻ, tôi ban ngày buôn bán, ban đêm ngồi quay tơ, nuôi ổng ăn học, chờ ngày đỗ đạt. Lúc đó tôi mới 17 tuổi và ông chưa đầy 20. Ngày nay tôi già trăm tuổi nhưng lòng vẫn hoài vọng chờ mong người xưa quay về. Bây giờ cậu gợi lại chuyện năm xưa, tôi buồn quá!
            Như nhớ lại điều gì, cụ bà Yến Nhi nói tiếp:
            – À! Mà cậu hỏi cô Yến Nhi nào, ở đây chỉ có tôi tên Yến Nhi mà thôi!
            Từ Thức suy nghĩ có lý nào như vậy chớ? Chàng chỉ lạc lối Đào Nguyên mới có hai tháng kia mà! Rồi bỗng chàng vụt nhớ đến trong sách sử có ghi rằng: Một ngày ở trên thượng giới dài bằng mấy năm ở trần thế, như vậy hai tháng chàng chung sống với Giáng Hương cũng ngang bằng cả trăm năm ở mặt đất thế gian rồi còn gì. Truyền khẩu nhân gian cũng từng nói thế! Đối với chàng thì sau hai tháng vẫn trẻ trung đâu có gì thay đổi, còn Yến Nhi một trăm năm trôi qua thành cụ bà thì cũng đúng thôi!
            Giờ đây điều khó xử cho chàng ta, là có nên nói rõ mình là Từ Thức của một trăm năm về trước, nhưng đối với cụ bà thì phải làm sao đây, bởi bà vừa nói vẫn hoài vọng người xưa quay về. Khi nãy vừa xuống trần gian, định bụng khi gặp Yến Nhi chàng sẽ ôm nàng vào lòng, tâm sự thật nhiều, rằng mình vẫn thương vẫn nhớ Yến Nhi. Nhưng thực tế trước mắt thì không thể tưởng tượng nổi, Yến Nhi đã là cụ bà, và chàng chỉ đáng cháu đáng chắt của bà cụ, mà nhìn là người yêu thì thế nào được chớ! Vậy thì đâu có cái chuyện Yến Nhi sẽ mừng rỡ gặp lại người yêu, ngã đầu vào ngực chàng thỏ thẻ những câu ân tình. Cũng đâu có cái chuyện gặp nhau rồi nàng mừng quá, xúc động rồi thổn thức khóc, nước mắt ràn rụa như chàng tưởng tượng lúc mới trở lại trần gian.
            Trước một thực tế quá chán chường, Từ Thức im lặng không nói gì thêm, cũng không chào từ giã “bà cụ” Yến Nhi trước khi rời khỏi. Thế rồi Từ Thức lại ra đi biệt dạng, mà người đời chẳng ai biết được chàng đi đâu. Đây là câu chuyện diễn tả vừa chuyện xưa tích cũ, vừa là kịch bản cải lương. Dĩ nhiên hai cái khác nhau, nếu như chỉ căn cứ vào chuyện xưa tích cũ thì thế hệ của Từ Thức đã chết hết chẳng còn ai, nhưng trong tuồng cải lương thì còn “cụ bà Yến Nhi”.



Cụ bà Yến Nhi bán bánh tráng
            Không biết vị soạn giả cho ra đời vở hát Đào Nguyên Lạc Lối, đã dựa theo sử sách nào, căn cứ vào đâu để dựng lên một cụ bà Yến Nhi bán bánh tráng. Hay là soạn giả đã tưởng tượng ra một nhân vật cũng có lý phần nào, rồi viết vào làm phong phú thêm câu chuyện, lại vừa làm cho lớp tuồng trở nên vui nhộn. Đó là lúc Từ Thức nhìn chăm chăm cụ bà Yến Nhi một lúc rồi thối lui, thối lui… thiếu điều đụng cánh gà sân khấu, khiến cho khán giả cười rần lên.
            Đóng vai Yến Nhi phải hai nữ nghệ sĩ thì mới coi được, chớ không thể một người. Màn đầu thì một cô đào trẻ đóng vai Yến Nhi (mới 17 tuổi). Màn sau thì cô đào mụ, hóa trang cho già thêm để đóng vai cụ bà Yến Nhi bán bánh tráng. Tuồng cải lương cảnh cuối Từ Thức thất thểu bước đi, và màn nhung từ từ khép lại. Vãn hát khán giả thắc mắc hỏi nhau: Chàng ta đi đâu, có trở về với Giáng Hương? Khán giả khác lên tiếng: Về sao được mà về, tiên nữ nói rồi, nếu xuống trần gian thì không được trở lại Đào Nguyên lần thứ hai…
            Và cũng có người trách Từ Thức sao lại bạc tình với Giáng Hương, nói rằng ở cõi tiên không muốn, về trần gian làm chi để rồi chứng kiến nỗi ê chề không thể tưởng tượng được, khiến chàng ta lạc lõng giữa chợ đời nhân thế, đến đỗi phải bỏ làng ra đi biệt tích biệt dạng…
            Nghệ thuật cải lương đã đánh trúng tâm lý khán giả, đã tìm ra câu chuyện nhân gian tuy huyền hoặc, nhưng lại là động lực cho khán giả bỏ tiền ra mua vé. Câu chuyện khó có thể tin nhưng lại rất hay, và lại càng hay hơn, khi nó được chuyển thể thành kịch bản cải lương sân khấu, đưa người ta vào sự suy tưởng phong phú vậy.
            Đào Nguyên Lạc Lối là vở hát mà ai xem cũng thắc mắc ở phần kết cuộc, là Từ Thức đi đâu? Hầu như đại đa số đều muốn Từ Thức về lại với tiên nữ Giáng Hương. Thế nhưng, trước đó Thánh Mẫu có nói rằng, căn duyên của hai người nặng nợ với nhau hai tháng, nên mới khiến cho Từ Thức mở cánh cửa nhìn xuống trần gian.
            Và trong số khán giả được hỏi có người nói rằng, như thế cũng đầy đủ quá rồi, hai tháng ở Bồng Lai Tiên Cảnh dài ngang bằng 100 năm ở trần gian. Như vậy Từ Thức hưởng hạnh phúc còn dài lâu hơn người ở trần thế, thì con đòi gì nữa chớ! Mất tích hay chết luôn cũng vừa thôi. “Trăm năm trong cõi người ta…” Cụ Nguyễn Du đã nói thế kia mà!
            Cái khổ ở đây là bà cụ Yến Nhi, suốt đời hoài vọng người xưa trở lại, gặp mặt làm chi để rồi chàng quay gót không một lời từ giã. Ai cũng thương xót cho hoàn cảnh của bà. Phận gái mười hai bến nước. Gặp phải bến này có cũng như không.


NGÀNH MAI
Tháng 10/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-10242015-ml-10232015141604.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #178 vào: 28/03/2019, 19:59:08 »
Bài vọng cổ “Dưới Cổng Trường Làng” của Quy Sắc

Bài vọng cổ “Dưới Cổng Trường Làng” của soạn giả Quy Sắc ra đời vào khoảng năm 1961-1962, là bài ca có lời văn tả cảnh trường làng, đề cập đến hàng cây điệp trổ bông đỏ, mà trong văn học gọi là hoa phượng, có cả tiếng ê a của học trò, tiếng gõ thước trên bàn của thầy giáo.

Nghệ sĩ Hữu Phước thời trẻ

ÐÂY LÀ BÀI vọng cổ trữ tình, vừa tả cảnh vừa nói lên tình tự dân tộc, đồng thời cũng gợi lại trong tiềm thức của người nghe một câu chuyện tình đẹp ở làng quê miền Nam xưa kia, khiến cho người ta cảm xúc nhớ lại các hình ảnh cũ mà ở mỗi làng, mỗi thôn xóm tuy có khác nhau về tình tiết câu chuyện, nhưng lại tương tợ với nhau về cảnh sắc thiên nhiên, cùng với sự vật và tâm sự của con người.
            Những người từng sinh sống ở miền Nam từ thời thập niên 1960 trở về trước, chắc ai cũng hình dung được cái hình ảnh thân thương quen thuộc của thời còn trẻ, mỗi khi đi qua một mái trường làng nào đó, mà bài ca “Dưới Cổng Trường Làng” đã vô tình khơi lại. Ðặc biệt là những người đã từng làm nghề dạy học ở vùng quê mà người ta thường gọi là “Thầy Giáo Làng”, thì khi nghe bài ca này lại càng thấm thía, càng gợi nhớ nhiều hơn.
            Soạn giả Quy Sắc nguyên là thầy giáo làng, nhưng có lẽ có căn nợ với cổ nhạc cải lương nên ông nghỉ nghề dạy học, bước vào lãnh vực cải lương chuyên viết tuồng và sáng tác bài ca vọng cổ. Người ta không biết bài vọng cổ “Dưới Cổng Trường Làng” có gởi gắm tâm sự của soạn giả Quy Sắc hay không, nhưng có một số các vị làm nghề gõ đầu trẻ nghe ca bài này rồi tự khóc thầm, do bởi kỷ niệm xa xưa nào đó hiện về trong tâm não.
            Hãng dĩa hát Hồng Hoa thu thanh phát hành bài vọng cổ “Dưới Cổng Trường Làng” với giọng ca cà giựt, cà giựt của Hữu Phước đã làm say mê hàng vạn người nghe dĩa hát vào thời điểm đó. Dĩa hát ra đời, các ca sĩ tài tử đã học từ trong dĩa rồi đi ca ở các buổi đình đám địa phương, và ở đâu ca bài này cũng được hoan nghinh, có đôi khi dĩa vừa hát xong, hoặc ca sĩ tài tử vừa ca dứt bản thì có người lên tiếng: “Sao mà giống tâm sự của tôi quá!”
            Có điều nghệ sĩ Hữu Phước sau khi ca thu thanh dĩa hát “Dưới Cổng Trường Làng” nổi tiếng quá, thì một số người cũng gọi anh ta là thầy giáo, do đó mà đã không ít khán giả tưởng đâu khi xưa Hữu Phước làm thầy giáo.
            Anh cũng không cải chính nên thiên hạ mới lầm tưởng như vậy, chứ thật ra Hữu Phước có đi dạy học bao giờ, mà xuất thân từ một anh chạy bàn trong quán nhậu “Họa Mi” của cô Năm Cần Thơ trong khuôn viên Ðại Thế Giới.
            Lúc bấy giờ Tướng Bảy Viễn nắm quyền ở sòng bạc Ðại Thế Giới, ông nghe Hữu Phước có giọng ca hay nên viết giấy giới thiệu với ông Ba Bản chủ hãng dĩa hát Hoành Sơn, và tại đây Hữu Phước có cơ hội ca thu dĩa và nổi danh luôn.
            Dưới đây là bài vọng cổ “Dưới Cổng Trường Làng”.

            Thơ:
                        Bên cổng trường làng quê,
                        Cô nàng đứng chờ ai,
                        Nơi cuối đường xa xa,
                        Ong bướm đang đùa hoa,
                        Hai tâm hồn một ngả,
                        cùng chơi vơi vào miền tiên cảnh giao hòa.


            1) Thực trạng ấy kéo đến mấy mùa điệp tàn rồi điệp nở, cũng vẫn kẻ trong lớp ngó ra, người ngoài cổng liếc mắt trông vào… nhưng không ai nói lên được tiếng nói nào. Có những đêm hiu quạnh chàng trai sắp đặt muôn ngàn câu tha thiết, gặp nàng thố lộ tâm can, nhưng khi gặp mặt, tim đập mạnh như trống liên hồi tan học, những câu sắp đặt theo hơi thở ngập ngừng bay theo làn mây gió.

            2) Có một buổi sáng mai nhà giáo đang nhìn đôi bồ câu rỉa lông ân ái, bỗng cô gái hiện ra, tay cắp rổ, miệng nở nụ cười tình.

            Thơ:
                        Sáng nay em đến chợ kinh,
                        Gởi chi thầy nói em xin mua giùm.

            Thầy mới buông lời ý nhị:
                        Chợ kinh có bán tơ vàng,
                        Quả hồng đỏ ối xin nàng giùm mua.


            3) Thế rồi hôm sau dưới lũy tre làng, đôi tim rộn rã ngập tràn yêu đương. Dù thuyền tình đã đến bến mơ nhưng chưa cặp được là vì lễ giáo tôn nghiêm của những bậc sanh thành… Cha mẹ chàng từ khước cô dâu không đợi ly rượu mâm trầu. Song thân nàng tự ái quyết chẳng gả con cho một gia đình tự đại tự cao. Hai trẻ vì hiếu phải chịu xa nhau, nàng gạt nước mắt vâng lời mẹ dày duyên cùng kẻ khác. Còn chàng mượn gót chân lãng tử, rày đây mai đó, mượn cỏ cây mây nước để xóa bỏ vết thương lòng.

            4) Từ đây mái trường vắng bóng chàng giáo viên tận tụy, cổng trường vắng chiếc nón lá đợi trống tan trường. Hàng điệp chẳng trổ hoa đứng lặng lẽ bơ phờ. Bướm chẳng nhởn nhơ, chim không buồn ca hót, tiếng ê a của học trò như chìm lặng trong không gian, tiếng gõ thước trên bàn như lui về dĩ vãng. Chỉ dưới lũy tre làng những chiếc lá vàng thi nhau rơi lả tả, như khóc như than cho một kiếp duyên tình.

            5) Hai mươi năm sau sương gió phủ trắng mái đầu người phiêu bạt, bỗng tình quê rào rạt, nhà giáo trở về làng tiếp tục lại nghề xưa. Sáng nay có một thiếu phụ dẫn con vào học, nhà giáo gỡ kiếng ra nhìn thì rõ ràng là người đẹp thuở trước. Thiếu phụ bỡ ngỡ thưa rằng: Dạ thưa thầy! Ðây là đứa trẻ mất cha, xin thầy dạy dỗ và ban cho nó chút tình phụ tử. Như suy nghĩ, rồi thủng thỉnh thầy lại gật đầu.
            Ngoài cổng trường ánh nắng vàng nhảy múa trên hàng điệp đơm hoa, như mừng cho đôi quả tim già, cùng hòa điệu lại như thời hoa niên.


NGÀNH MAI
Tháng 04/2017


https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/bai-vong-co-duoi-cong-truong-lang-cua-quy-sac/

 

Ngủ rồi huhu

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #179 vào: 31/03/2019, 19:27:24 »
Bài vọng cổ “Dưới Cổng Trường Làng” của Quy Sắc
Bài vọng cổ “Dưới Cổng Trường Làng” của soạn giả Quy Sắc ra đời vào khoảng năm 1961-1962, là bài ca có lời văn tả cảnh trường làng, đề cập đến hàng cây điệp trổ bông đỏ, mà trong văn học gọi là hoa phượng, có cả tiếng ê a của học trò, tiếng gõ thước trên bàn của thầy giáo.

(Image removed from quote.)
Nghệ sĩ Hữu Phước thời trẻ
ÐÂY LÀ BÀI vọng cổ trữ tình, vừa tả cảnh vừa nói lên tình tự dân tộc, đồng thời cũng gợi lại trong tiềm thức của người nghe một câu chuyện tình đẹp ở làng quê miền Nam xưa kia, khiến cho người ta cảm xúc nhớ lại các hình ảnh cũ mà ở mỗi làng, mỗi thôn xóm tuy có khác nhau về tình tiết câu chuyện, nhưng lại tương tợ với nhau về cảnh sắc thiên nhiên, cùng với sự vật và tâm sự của con người.
            Những người từng sinh sống ở miền Nam từ thời thập niên 1960 trở về trước, chắc ai cũng hình dung được cái hình ảnh thân thương quen thuộc của thời còn trẻ, mỗi khi đi qua một mái trường làng nào đó, mà bài ca “Dưới Cổng Trường Làng” đã vô tình khơi lại. Ðặc biệt là những người đã từng làm nghề dạy học ở vùng quê mà người ta thường gọi là “Thầy Giáo Làng”, thì khi nghe bài ca này lại càng thấm thía, càng gợi nhớ nhiều hơn.
            Soạn giả Quy Sắc nguyên là thầy giáo làng, nhưng có lẽ có căn nợ với cổ nhạc cải lương nên ông nghỉ nghề dạy học, bước vào lãnh vực cải lương chuyên viết tuồng và sáng tác bài ca vọng cổ. Người ta không biết bài vọng cổ “Dưới Cổng Trường Làng” có gởi gắm tâm sự của soạn giả Quy Sắc hay không, nhưng có một số các vị làm nghề gõ đầu trẻ nghe ca bài này rồi tự khóc thầm, do bởi kỷ niệm xa xưa nào đó hiện về trong tâm não.
            Hãng dĩa hát Hồng Hoa thu thanh phát hành bài vọng cổ “Dưới Cổng Trường Làng” với giọng ca cà giựt, cà giựt của Hữu Phước đã làm say mê hàng vạn người nghe dĩa hát vào thời điểm đó. Dĩa hát ra đời, các ca sĩ tài tử đã học từ trong dĩa rồi đi ca ở các buổi đình đám địa phương, và ở đâu ca bài này cũng được hoan nghinh, có đôi khi dĩa vừa hát xong, hoặc ca sĩ tài tử vừa ca dứt bản thì có người lên tiếng: “Sao mà giống tâm sự của tôi quá!”
            Có điều nghệ sĩ Hữu Phước sau khi ca thu thanh dĩa hát “Dưới Cổng Trường Làng” nổi tiếng quá, thì một số người cũng gọi anh ta là thầy giáo, do đó mà đã không ít khán giả tưởng đâu khi xưa Hữu Phước làm thầy giáo.
            Anh cũng không cải chính nên thiên hạ mới lầm tưởng như vậy, chứ thật ra Hữu Phước có đi dạy học bao giờ, mà xuất thân từ một anh chạy bàn trong quán nhậu “Họa Mi” của cô Năm Cần Thơ trong khuôn viên Ðại Thế Giới.
            Lúc bấy giờ Tướng Bảy Viễn nắm quyền ở sòng bạc Ðại Thế Giới, ông nghe Hữu Phước có giọng ca hay nên viết giấy giới thiệu với ông Ba Bản chủ hãng dĩa hát Hoành Sơn, và tại đây Hữu Phước có cơ hội ca thu dĩa và nổi danh luôn.
            Dưới đây là bài vọng cổ “Dưới Cổng Trường Làng”.

            Thơ:
                        Bên cổng trường làng quê,
                        Cô nàng đứng chờ ai,
                        Nơi cuối đường xa xa,
                        Ong bướm đang đùa hoa,
                        Hai tâm hồn một ngả,
                        cùng chơi vơi vào miền tiên cảnh giao hòa.


            1) Thực trạng ấy kéo đến mấy mùa điệp tàn rồi điệp nở, cũng vẫn kẻ trong lớp ngó ra, người ngoài cổng liếc mắt trông vào… nhưng không ai nói lên được tiếng nói nào. Có những đêm hiu quạnh chàng trai sắp đặt muôn ngàn câu tha thiết, gặp nàng thố lộ tâm can, nhưng khi gặp mặt, tim đập mạnh như trống liên hồi tan học, những câu sắp đặt theo hơi thở ngập ngừng bay theo làn mây gió.

            2) Có một buổi sáng mai nhà giáo đang nhìn đôi bồ câu rỉa lông ân ái, bỗng cô gái hiện ra, tay cắp rổ, miệng nở nụ cười tình.

            Thơ:
                        Sáng nay em đến chợ kinh,
                        Gởi chi thầy nói em xin mua giùm.

            Thầy mới buông lời ý nhị:
                        Chợ kinh có bán tơ vàng,
                        Quả hồng đỏ ối xin nàng giùm mua.


            3) Thế rồi hôm sau dưới lũy tre làng, đôi tim rộn rã ngập tràn yêu đương. Dù thuyền tình đã đến bến mơ nhưng chưa cặp được là vì lễ giáo tôn nghiêm của những bậc sanh thành… Cha mẹ chàng từ khước cô dâu không đợi ly rượu mâm trầu. Song thân nàng tự ái quyết chẳng gả con cho một gia đình tự đại tự cao. Hai trẻ vì hiếu phải chịu xa nhau, nàng gạt nước mắt vâng lời mẹ dày duyên cùng kẻ khác. Còn chàng mượn gót chân lãng tử, rày đây mai đó, mượn cỏ cây mây nước để xóa bỏ vết thương lòng.

            4) Từ đây mái trường vắng bóng chàng giáo viên tận tụy, cổng trường vắng chiếc nón lá đợi trống tan trường. Hàng điệp chẳng trổ hoa đứng lặng lẽ bơ phờ. Bướm chẳng nhởn nhơ, chim không buồn ca hót, tiếng ê a của học trò như chìm lặng trong không gian, tiếng gõ thước trên bàn như lui về dĩ vãng. Chỉ dưới lũy tre làng những chiếc lá vàng thi nhau rơi lả tả, như khóc như than cho một kiếp duyên tình.

            5) Hai mươi năm sau sương gió phủ trắng mái đầu người phiêu bạt, bỗng tình quê rào rạt, nhà giáo trở về làng tiếp tục lại nghề xưa. Sáng nay có một thiếu phụ dẫn con vào học, nhà giáo gỡ kiếng ra nhìn thì rõ ràng là người đẹp thuở trước. Thiếu phụ bỡ ngỡ thưa rằng: Dạ thưa thầy! Ðây là đứa trẻ mất cha, xin thầy dạy dỗ và ban cho nó chút tình phụ tử. Như suy nghĩ, rồi thủng thỉnh thầy lại gật đầu.
            Ngoài cổng trường ánh nắng vàng nhảy múa trên hàng điệp đơm hoa, như mừng cho đôi quả tim già, cùng hòa điệu lại như thời hoa niên.

NGÀNH MAI
Tháng 04/2017

https://www.nguoi-viet.com/giai-tri/bai-vong-co-duoi-cong-truong-lang-cua-quy-sac/

Lời ca của bài vọng cổ trong bài viết này, nếu giữ y theo cách đánh số câu vọng cổ, theo tôi thì không thể ca được theo bản đờn. Cụ thể:
- Lời viết ở câu 2 : không đủ chữ để ca cho đủ các khuôn đờn trong câu 2; cụ thể là thiếu lời ca cho 2 khuôn đờn.
- Lời viết của Câu 3 và câu 5: không thể ca theo bản đờn của câu 3, câu 5; cụ thể, chữ cuối của 1 vài đoạn là âm có dấu huyền, nên không thể ca với chữ Xang của khuôn đờn đó.
Như vậy việc đánh số cho câu vọng cổ như thế này là không chính xác.

Bác nduytai có thể giải thích được việc này không ? Hoặc nếu không, thì bác có thể liên hệ với địa chỉ nơi trích dẫn để làm rõ vấn đề này ?
« Sửa lần cuối: 31/03/2019, 19:30:01 gửi bởi huhu »