Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 21084 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi huhu

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #210 vào: 08/04/2019, 16:53:58 »
(Image removed from quote.)

nduytai và anh Huhu có biết là đoàn hát nào hôn?
Nhìn hình thì đoán tên nghệ sĩ Bạch Tuyết, Út Trà Ôn;
chứ đoán trong tuồng gì thì khó, mà đoán Đoàn hát gì thì càng khó hơn !
 

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #211 vào: 08/04/2019, 19:20:52 »
đó là đoàn Thống Nhất đó anh Huhu.  Trước khi thành lập đoàn Thống Nhất, cậu 10 út Trà ôn từng thành lập đoàn Kim Thanh làm mưa làm gió đất Sài Thành 1 thời gian.
Hình trên, tuồng gì thì nguoixua không biết.  BẠch Tuyết cộng tác với Thống Nhất 1 thời gian, có đóng tuồng Tiếng HÁt Muồng Tênh, nhung khi thu dĩa thì vai chính dành cho NS Thanh Hương

Mời anh Huhu và các bạn nghe giọng ca úT Trà ôn và Bạch Tuyết nhe:

https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/hy-sinh-ut-tra-on-ft-bach-tuyet-ft-diu-hien.JQRTJjqjEG1B.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #212 vào: 09/04/2019, 20:12:20 »
Vì không có máy đèn đoàn Hương Mùa Thu gặp nạn

Sau 1975 Thu An – Ngọc Hương thành lập trở lại đoàn Hương Mùa Thu, và nhờ là đoàn hát có tiếng từ năm 1964 nên lưu diễn ở đâu cũng được khán giả ủng hộ. Lúc bấy giờ mỗi đêm hát có trên cả ngàn khán giả, nhưng không hiểu sao Thu An – Ngọc Hương lại không khá mà lại luôn mắc nợ. Có lẽ ở thời này gánh hát trình diễn ở sân bãi, tiền bán vé rất thấp, cũng như vé mời nhiều, và người coi cọp cũng đông, nên thấy vậy chớ tiền thu vô cũng chẳng bao nhiêu so với lúc trước hát ở rạp.

Các nghệ sĩ tiền phong: Ba Út, Phùng Há,
Cao Long Ngà, Văn Ngân, Hữu Phước

Khi thăng lúc trầm
            Do vậy mà đoàn Hương Mùa Thu cũng chẳng hơn gì ai, cũng khi thăng lúc trầm, chết đi sống lại mấy lần. Và câu chuyện “khổ vì điện” dưới đây của đoàn Hương Mùa Thu, thì người ta thấy rằng cái thế yếu của Thu An – Ngọc Hương, dù rằng đoàn Hương Mùa Thu rất nổi tiếng:
            Năm 1992 đoàn lưu diễn miền Trung và vùng Cao Nguyên, từ Kontum dọn xuống tỉnh Pleiku, Thu An hợp đồng với Nhà Văn Hóa trình diễn ba đêm. Cũng nên biết là thời này sân bãi hay rạp hát đều do cơ quan Văn Hóa Thông Tin quản lý, các đoàn hát tập thể như Hương Mùa Thu phải liên lạc hợp tác với cơ quan nầy mới được hát ở địa phương.
            Đêm đầu tiên, vé bán gần hết từ lúc chiều, đã cho thấy đoàn vẫn còn thu hút khán giả khá mạnh. Trước giờ mở màn người đi coi hát đã vào cửa đứng ngồi tràn ngập sân bãi của thị trấn. Thế nhưng, đèn đuốc thì lại lờ mờ quá yếu, và âm thanh thì do điện yếu nên không phát được, mà tiếng người đi coi hát nói chuyện thì vang rền.
            Người ta cứ tưởng tượng như vầy, nếu như một sân vận động có sức chứa vài ngàn khán giả, chỉ cần thiên hạ gặp mặt rồi hỏi thăm lẫn nhau thôi, mỗi người một tiếng, cũng tạo nên âm thanh hỗn tạp, lấn áp lời ca tiếng hát của đào kép trên sân khấu. Muốn át được tiếng ồn trò chuyện của khán giả thì phải có âm thanh thật lớn phát ra, mà nguồn cung cấp cho âm thanh lớn phải là điện mạnh, máy đèn công suất mạnh.
            Hơn 7 giờ rưỡi tối, đoàn vẫn chưa thấy Nhà Văn Hóa Pleiku chở máy điện tới, bởi theo hợp đồng thì Nhà Văn Hóa phải có máy điện lớn phục vụ âm thanh, ánh sáng cho đêm diễn. Gần 8 giờ mà cả một sân bãi rộng lại chỉ có vài bóng đèn lu mờ, và âm thanh ở loa thì chẳng phát ra được tiếng.
            Khán giả bắt đầu nhốn nháo, vài phía la hét, sự ầm ỉ bắt đầu lan rộng. Tiếng yêu cầu mở màn, yêu cầu trả vé vang lên gần như náo loạn. Trước tình thế đó, ban giám đốc đoàn có gặp ban chủ nhiệm Nhà Văn Hóa để yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng về điện. Rồi thì ban chủ nhiệm Nhà Văn Hóa loan báo đến khán giả là hủy bỏ đêm hát, đề nghị quý khán giả giữ vé để đêm mai đến xem.
            Nghe vậy khán giả bất mãn, một số la ầm lên, một số khác trèo lấn lên giàn đờn và sân khấu. Sau đó thì sự quậy phá đã xảy ra, nhiều phông màn bị xé, đèn sân khấu bị đập vỡ, bàn ghế cũng “xụm” luôn. Đào kép chỉ biết lo bảo vệ cái gì còn bảo vệ được và năn nỉ… Lúc đó, nhân viên Nhà Văn Hóa Pleiku đã “lặn” hết chẳng còn một ai, khiến cho anh em đoàn hát phải đối phó sự kiện rất là vất vả, đau xót… Cơ quan an ninh tức tốc đến can thiệp từ 8 giờ cho đến 12 giờ khuya mới vãn hồi được trật tự sân bãi.


Phượng Mai và Mộng Tuyền
chụp ảnh tại đoàn cải lương Dạ Lý Hương

Điện là vấn đề “sanh tử”
            Sáng hôm sau một buổi họp khẩn giữa sở Văn Hóa Thông Tin, Nhà Văn Hóa Pleiku và ban giám đốc đoàn để quy trách nhiệm… Theo lời Thu An thì Nhà Văn Hóa Pleiku có lỗi hoàn toàn, do không chịu thuê máy điện lớn, mà chỉ móc điện của bệnh viện gần đó, nên không đủ ánh sáng thực hiện được đêm hát. Nhà Văn Hóa có hứa là đền bù thiệt hại cho đoàn bằng cách không lấy tiền sân bãi trong 3 xuất hát.
            Đêm thứ hai buổi diễn có điện đầy đủ, số khán giả có vé hôm trước được vào xem, thậm chí ai mất vé mà cự nự với nhân viên gác cửa rằng mình có vé nhưng bị mất, rồi cũng được vào xem luôn. Số vé bán thêm đêm đó chỉ có một ít.
            Đêm thứ ba Nhà Văn Hóa bắt đầu đặt lại vấn đề “tiền sân bãi”.
            Đoàn không đồng ý, vì chưa hát đủ ba đêm. Hôm đó, nhân viên Nhà Văn Hóa có nhiệm vụ bảo vệ sân bãi, đã bỏ ngõ tứ phía, giúp cho người vào xem thả giàn không ít, bằng cách leo rào mà chẳng bị ai ngăn cản. Đêm thứ tư đoàn quyết định ngưng diễn, và chuyển đi bến khác, tạm biệt người anh em “Nhà Văn Hóa Pleiku”.
            Trước sự kiện trên có người nói rằng, Thu An gần nửa thế kỷ làm sân khấu, chẳng lẽ không biết điện là vấn đề “sanh tử” của đoàn cải lương hay sao, mà lại để cho tình trạng xấu như thế chứ!
            Hoạt động cải lương bắt buộc phải có chiếc máy đèn riêng, không thể trông cậy vào một nguồn điện nào hết, phải có máy đèn dự phòng thì mới an tâm hoạt động nghệ thuật. Trên đường lưu diễn phải mang theo chiếc máy đèn, dù rằng cả tháng máy để nằm không.
            Khi xưa ông Bầu Long là chủ nhân của sáu đoàn Kim Chung, và đoàn nào cũng được ông trang bị cho một chiếc máy phát điện, và cứ mỗi buổi chiều là cho máy chạy thử. Có nghĩa là chiếc máy luôn trong tình trạng tốt, và người chuyên viên trông coi máy đèn phải túc trực tại chỗ, để khi bị cúp điện thì cho máy chạy ngay liền.
            Riêng về Thu An thì có lẽ thời điểm 1992 nầy thực lực đã suy rồi, đã mang nợ nần nhiều rồi, thì đâu mua sắm nổi chiếc máy đèn để sẵn nên mới xảy ra tình trạng trên. Chớ nếu như thời vàng son thời thập niên 1960 tiền bạc dồi dào, thì chiếc máy đèn dự phòng là “chuyện nhỏ” thôi.
            Thưa quí vị nếu như Út Trà Ôn được người đời phong tặng “đệ nhứt danh ca vọng cổ”. Nghệ sĩ Minh Chí được mệnh danh “Vua Xang Xê” thì đào Ngọc Hương lại nổi tiếng ở bản Đảo Ngũ Cung. Và sau đây là một đoạn trong tuồng cải lương của đoàn Hương Mùa Thu, đào Ngọc Hương ca bài Đảo Ngũ Cung và làn hơi ca êm như ru của Út Hiền.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1107-nm-11072015072253.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #213 vào: 13/04/2019, 21:05:28 »
Tuồng chiến tranh thịnh hành thời đầu thập niên 1950

Không hiểu do nhận định thế nào về nhu cầu giải trí, mà khán giả cải lương những năm đầu của thập niên 1950 lại đổ xô đi coi tuồng chiến tranh, để thấy cảnh súng liên thinh nổ liên hồi, máy bay dội bom khói lửa mịt mù, tàu chiến, xe tăng bắn phá… và người coi hát tưởng tượng như là đang chiến tranh thực sự vậy.

Tờ programme của đoàn ca kịch Phát Thanh diễn tuồng “Tiếng Súng Lư Cầu Kiều”,
không thấy đề ngày và rạp hát. Có lẽ khoảng 1951,
bởi vì đến năm 1952 thì đoàn Phát Thanh đã không còn nữa


LÚC BẤY GIỜ đoàn ca kịch Phát Thanh của cô đào Nguyệt Yến, lúc mới ra đời khoảng cuối thập niên 1940 chỉ chuyên môn hát tuồng dựa theo truyện Tàu, với trang phục màu sắc, rườm rà giống như gánh Phụng Hảo của Má Bảy Phùng Há.
            Thế nhưng, đến năm 1951 thì loại tuồng này không còn ăn khách, khán giả thưa dần nhiều đêm không mở màn được, bởi vì khán giả quay sang đi coi tuồng chiến tranh của gánh hát Hậu Tấn. Do đó mà đoàn Phát Thanh phải chuyển hướng hoạt động, chạy theo thị hiếu của khán giả để sống còn.
            Thế là bà bầu gánh Nguyệt Yến kiêm đào chánh đoàn Phát Thanh lệnh cho soạn giả phải viết tuồng chiến tranh giống như gánh Hậu Tấn. Giờ đây thì ông thầy tuồng Văn Sinh dù không sở trường cũng ráng sức chạy đôn chạy đáo tìm đề tài viết tuồng cho hợp với thời thế, chớ không thôi thì “treo nồi gạo” bởi vì bà bầu gánh đã hăm he như vậy rồi. May mắn cho ông gặp được một nhà báo trao cho tài liệu chiến tranh Nhật-Trung, tường thuật trận chiến tại hải cảng Lư Cầu Kiều.
            Như bắt được vàng, ông soạn giả dựa theo chiến trận đó, và hư cấu vài nhân vật nam nữ, viết lên vở hát “Tiếng Súng Lư Cầu Kiều”, và khi tờ programme được xe ngựa mang đi quảng cáo (thời này ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định và các tỉnh miền Đông nếu di chuyển gần thì xe ngựa là chính). Mấy người biết chữ được bà con yêu cầu đọc cho nghe xem gánh hát diễn tuồng gì, hay dở thế nào?
            Vào thập niên 1940-1950 đa số người ở vùng thôn quê miền Nam họ không đọc được Quốc ngữ, số người biết đọc biết viết rất ít. Và khi đọc đến đoạn tàu lặn Nhật Bổn kịch chiến với tàu tuần Trung Hoa, thì thiên hạ vỗ tay rần rần, hẹn nhau đến tối sẽ cùng đi coi hát.
            Tình tiết câu chuyện éo le gay cấn: Chấn Thái Lang là gián điệp của Nhật Hoàng, được lệnh sang Nam Kinh bí mật hoạt động từ nhiều năm trước. Chàng lấy quốc tịch Trung Hoa và kết duyên với một phụ nữ Tàu tên Lan Hương, hai vợ chồng làm nghề thương mại ở Lư Cầu Kiều. Đến khi sinh đặng một trai vừa lên ba, thì trong một đêm nọ chiếc tiềm thủy đỉnh từ Đông Kinh vượt biển nổi lên cặp vào một vịnh gần Lư Cầu Kiều rước Chấn Thái Lang về Nhật.
            Câu chuyện tuồng khá hay, nhưng phần lớn khán giả thời này lại không chú ý nhiều đến diễn tiến câu chuyện, mà nhắm vào cảnh chiến trận trên mặt biển.
            Tóm lại là đoàn Phát Thanh chuyển sang diễn tuồng chiến tranh thì khán giả đông đảo trở lại. Đến lúc đoàn Hoa Sen của Bảy Cao khai trương thì tuồng chiến tranh được cải tiến, sân khấu trở nên sôi động hơn nhiều.
            Các kỳ tới chúng tôi sẽ nói nhiều về thiên tài Bảy Cao với tuồng chiến tranh làm chấn động làng sân khấu. Bảy Cao là người đưa phim ảnh lên sân khấu, mà giờ đây nhắc lại những người lớn tuổi khi xưa từng đi coi hát đã không khỏi nuối tiếc.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/tuong-chien-tranh-thinh-hanh-thoi-dau-thap-nien-1950/

 

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #214 vào: 14/04/2019, 19:22:30 »
nói tuồng hương xa màu sắc không còn ăn khách là không đúng, thấy đoàn Kim CHung hôn, từ BẮc vô Nam, chuyên trị tuồng kiếm hiệp, chưởng, bay trên sân khấu, hốt bạc ào ào, thành lập tới Kim CHung 6
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #215 vào: 21/04/2019, 17:32:00 »
Đoàn cải lương Ái Liên lưu diễn khắp Đông Dương

Hoạt động nghệ thuật sân khấu cải lương ở miền Nam phát triển từ thập niên 1920, với các đoàn hát danh tiếng như Hề Lập, Tiến Hóa, Mộng Vân, Đại Phước Cương… và đến năm 1940 thì ở miền Bắc nghệ sĩ Ái Liên vừa mới 20 tuổi ngoài, đã đứng ra thành lập đoàn cải lương Ái Liên, và mở cuộc lưu diễn khắp Đông Dương.

Từ trái sang: Nghệ sĩ Kim Xuân, Lan Phương, Ái Liên và Kim Chung

Thời kỳ huy hoàng của một gánh hát cải lương miền Bắc
            Trong buổi nói chuyện này tôi nhắc lại thời kỳ huy hoàng của một gánh hát cải lương miền Bắc, đồng thời cũng nói đến một cô đào thinh sắc vẹn toàn, một ngôi sao sáng trên vòm trời nghệ thuật sân khấu, vang bóng một thời, đó là nữ nghệ sĩ Ái Liên vang danh từ Bắc chí Nam. Thế nhưng những người ở miền Nam thuộc thế hệ lớn lên sau 1954 thì không hề biết, cũng chẳng hề nghe tên, do bởi sau ngày Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đất nước thì Ái Liên ở lại miền Bắc.
            Nói đến danh ca Ái Liên thì đa số khách mộ điệu bốn phương đều tỏ lòng ái mộ, cũng như như hầu hết các anh chị em đồng nghiệp có dịp sống gần cô đều chân thành cảm phục và mặc nhiên công nhận Ái Liên như một kỳ tài thiên bẩm. Có thể nói rằng trời sinh ra Ái Liên chính là hóa thân của “nàng nghệ thuật” để hiến vui cho đời, ngõ hầu làm tròn thiên chức tối thượng của người nghệ sĩ trong sự nghiệp cầm ca. Với bản năng thuần hậu, tư cách và hạnh kiểm đài trang đoan chính, với sắc lịch kiêu sa, diễm lệ, Ái Liên rất xứng đáng là một danh ca tài sắc vẹn toàn.
            So sánh với các bạn cùng nghề, Ái Liên tương đối có một trình độ học vấn khả quan, biết nhiều ngoại ngữ, xuất sắc nhất là bộ môn ca nhạc. Trong khi trình diễn trên sân khấu, mỗi lúc tạm nghỉ lớp tuồng, cô vào hậu trường là tiến đến dàn nhạc, bất cứ gặp thứ đờn gì, như kìm, cò, sến, độc huyền, thập lục, cô cũng cầm lấy sử dụng ngon lành như một người thiện nghệ, hoặc điều khiển giàn bát tấu, đánh trống, mõ, thanh la v.v… cô đều tinh thông. Hoặc khi nghỉ tuồng cô thường xuống chơi nhạc Tây phương tức dàn nhạc tiền trường (orchestre avant Scène) như dương cầm, vĩ cầm, tây ban cầm, hạ uy cầm, cho cả đến đánh trống Jazz cô cũng thông thạo. Cho nên anh chị em trong nghề cũng như khán giả đã mệnh danh Ái Liên là một thiên tài ca nhạc, hay là con chim họa mi bốn mùa của sân khấu kịch trường. Vậy trước khi đề cập đến đoàn hát, tôi cũng nói sơ qua vài nét về người nữ nghệ sĩ thiên tài miền Bắc.
            Danh ca Ái Liên tên thật là Lê Thị Liên, sinh năm 1918 tại Hải Phòng, nữ sinh của trường Đức Trí ở đường Cát Giải, Hải Phòng. Thân phụ làm nghề mại bản trên chiếc tàu chạy đường Hải Phòng – Hương Cảng, và đã đưa Ái Liên sang Hồng Kông học các lớp sinh ngữ, do đó cô nói thông thạo nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Trung Hoa, Nhật và dĩ nhiên tiếng Việt Nam.
            Năm 16 tuổi Ái Liên trở về Hải Phòng và chỉ qua một thời gian ngắn học ca hát là cô tham gia các đêm trình diễn từ thiện ở Hà Nội, Nam Định với danh nghĩa tài tử, và sau đó thì được “Hội Kịch Bắc Kỳ” mời cô làm đào chánh thức.
            Năm 1937 Ái Liên từng chiếm chức tại hội chợ tơ lụa Hà Đông, rồi cùng thân mẫu (Bà Hai) thành lập gánh hát “Liên Hiệp”. Lúc ấy ở Hà Nội có hai gánh hát lớn đóng đô vĩnh viễn rạp Quảng Lạc, chuyên diễn các vở tuồng Tàu cổ điển, và rạp Hiệp Thành sở trường về loại tuồng ca kịch xã hội. Còn ở Hải Phòng thì có gánh Ứng Lập Ban cũng đóng đô tại khu phố Tam Gian. Vì thế gánh Liên Hiệp của Ái Liên không có đất đứng, phải đi diễn khắp các tỉnh miền Bắc, rồi cũng do thiếu kinh nghiệm điều hành nên rã gánh.
            Đến cuối năm 1937 thì có gánh hát Đại Phước Cương từ Nam ra Bắc lần thứ hai với thành phần nghệ sĩ trứ danh như: Năm Châu, Từ Anh, Bảy Nhiêu, Năm Phỉ, Ba Vân, Kim Cúc, Kim Lan và Ái Liên xin gia nhập gánh hát này. Sau thời gian ba tháng trình diễn quanh các thành phố lớn ở Bắc Hà, đoàn Đại Phước Cương về Nam thì Ái Liên cũng cùng thân mẫu đi theo đoàn vô Nam.
            Nhờ thu thập được một số kinh nghiệm về cải lương, năm 1940 nghệ sĩ Ái Liên trở về Bắc thành lập đoàn Ái Liên, đoàn đã tập dượt thành thuộc sáu vở hát: Tiếng Chuông Chùa, Bóng Người Trong Sương, Ái Tình và Nghệ Thuật, Đời Cô Yến, Chân Ái Tình và Cô Gái Mường. Hầu hết là tuồng xã hội mà vào thời đó người ta gọi là “tuồng Tây” để phân biệt với “tuồng Tàu”, tức tuồng màu sắc lịch sử Trung Hoa như: Phụng Nghi Đình, Lưu Kim Đính, Phàn Lê Huê…


Nghệ sĩ Ái Liên cùng chồng – ông Hà Quang Định,
một doanh nhân giàu có nhưng nặng lòng với nghệ thuật thời bấy giờ

Nghệ sĩ Bắc ra mắt khán giả trong Nam
            Gánh hát Ái Liên bắt đầu vô Nam với chương trình lưu diễn khắp Đông Dương, đây là lần đầu tiên gánh hát cải lương với thành phần nghệ sĩ toàn là người Bắc ra mắt khán giả trong Nam. Tuy rằng trước đó đã có gánh đồng ấu “Nhật Tân Ban” vào Nam trình diễn rồi, nhưng chỉ với lối ca ngâm theo điệu Phước Châu, Hồ Quảng qua các vở tuồng Tàu cổ điển chớ không phải cải lương.
            Trên đường “Nam tiến” đặc biệt này, trước khi vào Sài Gòn, đoàn dừng lại hát ở các thành phố lớn như Nam Định, Thanh Hóa, Huế, Nha Trang, Phan Thiết… và khi gánh hát vào tới miền Nam đã gây nhiều luồng dư luận, nhứt là Hội Ái Hữu Bắc Kỳ đã không khỏi lo âu hồi hộp khi thấy người đồng hương đem chuông đi đánh “xứ người”. Thế nhưng, rất may đoàn Ái Liên trong suốt hai tuần trình diễn tại nhà hát lớn Sài Gòn đã thành công mỹ mãn.
            Sau đó theo chương trình ấn định, đoàn đi Lục Tỉnh trình diễn tại Cần Thơ 10 đêm, kế đến là Bạc Liêu và tuần tự đến các tỉnh khác, chỗ nào cũng thành công tương đối. Tiếp đó thì thuê tàu ngược dòng sông Cửu Long lên xứ Chùa Tháp Cao Miên, lúc ấy vào năm 1941.
            Gánh hát Ái Liên sang Nam Vang vừa hát được ba đêm tại rạp hát ở đường Boong, thì nhận được tin Hoàng Gia Cao Miên mời vô trình diễn trong Hoàng Cung để Quốc Vương ngự lãm. Buổi hát đặc biệt ấy được tổ chức tại dinh Dạ Lạc Đài (Palais de Fête), nơi đây với kiến trúc khá mỹ quan, hội trường có sân khấu cao, xung quanh toàn là cửa sổ lồng kiếng, đèn thắp sáng trưng, từ ngoài trông vào đúng là một buổi dạ hội hoa đăng tưng bừng, ngoạn mục.
            Buổi hát trọng thể đó, Thái Tử Norodom Sihanouk với viên đại úy Pháp tùy tùng (sĩ quan tùy viên) cùng các vị triều thần và hoàng thân quốc thích, song tuyệt nhiên không có bóng một phụ nữ. Đứng trên sân khấu trông ra phía ngoài rất đông người đứng coi tại hành lang các dãy nhà xung quanh.
            Hôm đó gánh Ái Liên trình diễn vỡ “Cô Gái Mường” được hoan nghinh nhiệt liệt. Khi vãn tuồng, viên đại úy Pháp (Capitaine Le Bon) mời ông giám đốc đoàn hát và năm tài tử chánh đi xuống khán đài yết kiến nhà vua, để lãnh hội những lời ca tụng của bậc Thiếu Quân xứ Chùa Tháp. Vua Sihanouk tặng danh ca Ái Liên tấm huy chương rồng vàng (Médaille Dragon d’or) và bốn tài tử chánh gồm: Anh Đệ, Huỳnh Thái, Lan Phương và Phong Trần Tiến thì được ban thưởng một tấm bằng khen danh dự. Một vị Thượng Thư lão thành chuyển giao tới ông giám đốc đoàn hát một phong bì, dù rằng đã hết sức từ chối, rốt cuộc ông giám đốc vẫn phải nhận số bạc 300 đồng Đông Dương coi như là khoản tiền thù lao nghệ sĩ (300 đồng thời đó mua được năm, sáu lượng vàng).
            Cũng cần nói thêm hồi Thái Tử Sihanouk vừa làm lễ đăng quang – nối ngôi Tiên Đế băng hà – bởi tình giao hảo lân bang, Vua Sihanouk qua thăm xã giao Vua Bảo Đại. Khi đó gánh Ái Liên đang ở Huế được mời vào diễn chào mừng tại cung nội, song buổi hát đặc biệt ấy bị hoãn bởi vua Cao Miên đang khi tang chế, không tiện hưởng vui nên có hứa hẹn sẽ mời gánh Ái Liên vào thành diễn khi đoàn qua xứ Chùa Tháp.
            Toàn ban Ái Liên ra về với sự hân hoan thích thú, nhất là ông giám đốc tỏ vẻ mãn nguyện với sự thành công của buổi hát được kết quả. Ông dành ra một trăm rưỡi tặng thưởng toàn thể anh chị em trong đoàn, còn lại một trăm rưỡi ông giao cả cho người quản lý tùy quyền chi dụng.
            Sau khi đã gặt hái thành công ở xứ Chùa Tháp, đoàn Ái Liên về nước bằng đường thủy qua ngã Châu Đốc và trình diễn vòng quanh các tỉnh Rạch Giá, Long Xuyên trước khi gặp lại khán giả ở Sài Gòn. Thời gian này Hòn Ngọc Viễn Đông đang tổ chức hội chợ tại vườn Bờ Rô, sẵn dịp đoàn Ái Liên hát trong hội chợ. (Vườn Bờ Rô cũng gọi là Vườn Ông Thượng, về sau có tên là Công Viên Tao Đàn).
            Lần này trở lại Sài Gòn gánh Ái Liên có thêm một tuồng màu sắc do soạn giả Bảy Muôn viết, dựa theo sử thời Nhà Trần, ấy là tuồng Huyền Trân Công Chúa. Khán giả Sài Gòn từng hiểu rõ kỹ thuật diễn xuất của đoàn Ái Liên chỉ sở trường loại tuồng Tây (tuồng xã hội), tất nhiên vở hát tuồng Tàu duy nhứt này sẽ được khách mộ điệu chú ý (khán giả lúc bấy giờ quen gọi tuồng màu sắc là tuồng Tàu, dù là tuồng viết theo sử Việt Nam).
            Buổi diễn tuồng màu sắc đầu tiên ấy Ái Liên đóng vai Huyền Trần Công Chúa, nghệ sĩ Huỳnh Thái vai Thượng Tướng Trần Khắc Chung đã thu hút quá đông khán giả. Có nhiều đào kép gánh hát ở miền Nam cũng tới coi, và vì do rạp chật ních nên mấy người này phải đứng coi tại hậu trường.
            Lần đi lưu diễn này, đoàn Ái Liên thành công trên mọi phương diện nên khi trở về Bắc Hà, hầu hết nam nữ nghệ sĩ của đoàn đều mãn nguyện mà còn mang theo nhiều cảm tưởng, kỷ niệm tốt đẹp.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1114-nm-11132015151203.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #216 vào: 25/04/2019, 21:56:46 »
Liên danh Hà Triều – Hoa Phượng tan rã do đâu?

Những ai theo dõi, am tường hoạt động sân khấu cải lương cũng đều biết hai soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng bắt đầu nổi tiếng qua vở hát “Khi Hoa Anh Đào Nở”, được ra mắt khán giả trên sân khấu Thúy Nga vào khoảng 1957.

Út Bạch Lan và Thành Được trong tuồng “Khi Hoa Anh Đào Nở”

“Khi Hoa Anh Đào Nở”
          Nhờ xuất hiện ở thời gian này nên Hà Triều – Hoa Phượng được hưởng quyền lợi năm phần trăm tổng số thu, có nghĩa tuồng được hát thì được lãnh phần trăm đều đều hằng đêm. Chẳng hạn như tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” hát liên tục cả tháng trời, mà đêm nào khán giả cũng nghẹt rạp, thì dĩ nhiên soạn giả vừa được lãnh tiền nhiều do con số khán giả quá cao, mà lại kéo dài suốt cả tháng, không khá sao được.
          Nếu như ngược thời gian trở về trước thì người ta sẽ thấy soạn giả cũng chẳng khá gì, dù rằng tuồng hay, khán giả đông đảo. Ngày xưa, ở mỗi gánh hát, đều có một ông “thầy tuồng” được ăn lương tháng. Thầy tuồng có nghĩa là vừa viết tuồng vừa làm đạo diễn, mà phần đông là bạn thân thiết của chủ gánh, và thời ấy chưa có lệ tiền bản quyền.
          Mãi đến khoảng 1925-1926, bầu gánh Tân Thinh là thầy Ba Thông mới bày ra chuyện mua một vở tuồng với giá là 80 đồng (tiền Đông Dương thời này khá lớn). Điều ấy có nghĩa là sau khi bán rồi thì soạn giả chẳng còn gì nữa, tuồng có hát bao nhiêu lâu cũng thế, bầu gánh hưởng trọn do bởi mua đứt rồi.
          Rồi đến khoảng năm 1928-1932, các gánh Thầy Năm Tú, Trần Đắc rất biệt đãi các soạn giả tài giỏi như: Tư Chơi, Năm Châu, Trần Hữu Trang nên trả tiền mỗi vở tuồng là 150 đồng, có làm giấy tờ mua bán đàng hoàng.
          Số tiền đó kể như khá cao, vào thời buổi ấy, bởi có nhiều gánh như Phụng Hảo chỉ trả 120 đồng cho một tuồng như vở hát Đời Cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Tư Trang. Và nếu tập luôn cho diễn viên sẽ được trả thêm 30 đồng, tức 150 đồng. Tuy vậy không một vở nào hoàn thành mà soạn giả khỏi thiếu nợ bầu gánh, mặc dù số tiền 150 đồng hồi ấy kể cũng nhiều lắm. Nhưng do viết một vở tuồng trên một tháng rưỡi, rồi nghỉ không có lương để tập dợt trên hai, ba tháng thì lấy tiền đâu mà ăn, không mượn nợ chủ gánh? Bởi vậy tiền nợ cứ chồng chất, dù tuồng hát đi hát lại nhiều lần, thầy tuồng vẫn thiếu hụt là chuyện thường…
          Tình trạng gánh Năm Phỉ lúc đó, chỉ đặc biệt soạn giả Tư Trang là được trả 120 đồng cho mỗi vở hát, như tuồng Mộng Hoa Vương, tuồng Lan và Điệp, do bởi mấy tuồng này ăn khách. Còn các soạn giả khác không được trả đồng đều, khi thì 80 đồng, lúc thì 60 đồng. Giá cả rất phức tạp, có thầy tuồng làm giao kèo viết mướn hằng năm, mỗi tháng một tuồng lãnh 60 đồng. Càng đi sâu vào vấn đề, càng thấy phức tạp vì soạn giả ta rất nhiều hạng, hoàn cảnh sinh sống khác nhau, rất ít soạn giả chuyên nghiệp.
          Có người phải lệ thuộc chủ gánh, bị bóc lột trắng trợn mà không dám nói ra. Có soạn giả ở ngoài, không thấu đáo rõ rệt phương tiện của mỗi sân khấu, nên phải bán giá thật rẻ, để cho chủ gánh toàn quyền sửa chữa tác phẩm của mình!
          Về sau soạn giả Năm Châu đề nghị với bầu gánh Tám Bang cho các soạn giả hưởng huê hồng năm phần trăm số thu cho 50 lần diễn đầu và từ đó trở đi thì ba phần trăm. Vấn đề chỉ được áp dụng chỉ một đoàn hát của Năm Châu cộng tác mà thôi, các đoàn khác không có, bầu gánh muốn trả bao nhiêu tùy ý.
          Mãi đến năm 1956 xã hội sang qua thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, các ngành nghề lao động được thành lập nghiệp đoàn, thuộc hệ thống Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam, và nghiệp đoàn nghệ sĩ sân khấu được thành lập. Sau đó thì phân bộ soạn giả trong nghiệp đoàn có nhiều phiên họp tại trụ sở Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu, để quy định mức tối thiểu về tiền bản quyền cho cho soạn giả của tất cả các đoàn hát đang hoạt động là năm phần trăm. Nhờ đó mà Hà Triều – Hoa Phượng mới được hưởng quyền lợi từ mỗi đêm hát, và bắt đầu làm ăn khá luôn song song với sự nổi tiếng. Chớ nếu như cặp soạn giả này mà xuất hiện trước vài ba năm thì quyền lợi được hưởng cũng chẳng là bao nhiêu.
          Cặp soạn giả tài danh Hà Triều – Hoa Phượng sau gần một thập niên viết chung, tên hai người luôn luôn đi đôi, do đó mà cũng có nhiều người tưởng đâu rằng hai người là một. Tuy vậy người ta cũng không thắc mắc làm chi, miễn tuồng hay là được, và thời ấy khán thính giả chỉ chú trọng đến các nhân vật trong tuồng mà thôi!
          Nhưng rồi, đến khoảng 1965 thì Hoa Phượng tách ra cùng với Ngọc Điệp viết tuồng Tuyệt Tình Ca, tức Ông Cò Quận Chín, và đến lúc nầy thì thiên hạ biết rõ Hà Triều – Hoa Phượng là hai người, chứ không phải một người như đã lầm tưởng trước kia.


Soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng

Tiểu sử
          Hà Triều tên thật là Đặng Ngươn Chúc, quê quán ở làng Vĩnh Tuy, quận Gò Quao, tỉnh Rạch Giá. Còn Hoa Phượng thì tên thật là Lương Kế Nghiệp, sinh trưởng ở vùng Núi Sập, An Giang, nơi có dòng kinh xáng Long Xuyên – Rạch Giá chảy ngang qua. Thời chiến tranh Việt-Pháp cả hai ông đều đi kháng chiến từ lúc còn thư sinh. Hà Triều gia nhập phong trào Thanh Niên Tiền Phong vào những năm đầu kháng chiến ở vùng U Minh Thượng và U Minh Hạ. Còn Hoa Phượng cũng đi kháng chiến ở đất Long Xuyên, Châu Đốc.
          Năm 1954 chiến tranh Việt-Pháp chấm dứt, hòa bình lập lại trên đất nước, sự đi lại dễ dàng, Hoa Phượng và Hà Triều rời khỏi bưng biền từ miền Tây lưu lạc lên Sài Gòn tìm sự sống. Hai cậu thanh niên hàn vi áo vải trước Sài Gòn huy hoàng tráng lệ, họ đã không chán nản mà cố gắng vượt qua mọi khó khăn trong buổi đầu để hòa nhập vào, và về sau trở thành soạn giả tên tuổi. Họ gặp nhau khi ở trọ nhà của thi sĩ Kiên Giang ở Chợ Quán, chớ trước đó hai người không hề biết nhau.
          Kiên Giang đùm bọc khuyến khích hai người viết tuồng cải lương, và kể từ đó cả hai có tiền bản quyền bỏ túi xài thoải mái hơn trước đó, bởi nếu không mỗi đêm thì cũng vài ba đêm tuồng được hát là có tiền. Thi sĩ Kiên Giang từng nói rằng Hà Triều – Hoa Phượng như hai dòng chảy hợp lưu thành con sông lớn.
          Nếu như sự đời trôi chảy bình thường thì liên danh Hà Triều – Hoa Phượng chắc còn tiếp tục cho ra đời thêm nhiều tuồng cải lương giá trị, mới lạ nữa. Nhưng đến khoảng 1964-1965 thì đã xảy ra sự bất đồng giữa hai người, để rồi kết cuộc đưa đến tan rã một liên danh soạn giả một thời làm mưa làm gió ở địa hạt cải lương.
          Thế nhưng, thiên hạ cũng không ai biết được cái nguyên nhân mà hai người không còn hợp soạn, do bởi hai ông chẳng hề chính thức tuyên bố lý do. Báo chí có hỏi thì hai anh chỉ cười nói rằng tại vì muốn như vậy thôi!
          Nếu như ngược thời gian trở về những năm giữa thập niên 1950 thì Hà Triều – Hoa Phượng còn nghèo, cả hai chưa thấy đam mê thứ gì cả. Nhưng từ lúc nổi tiếng, cộng thêm có nhiều tiền thì mỗi người lại có một tật riêng. Trong khi Hoa Phượng có nhiều vợ thì Hà Triều lại sống độc thân, anh ta không thích đàn bà con gái, mà lại thích ngựa đua, và thích nhậu nhẹt.
          Tuy rằng là dân Rạch Giá, Nam Kỳ rặt, nhưng Hà Triều lại rất thích “hạ cờ tây”. Quán cầy tơ ở đầu đường Bùi Chu gần ngã ba Bùi Chu – Hồng Thập Tự là nơi Hà Triều chiếu cố nhiều nhứt, ông thường rủ nghệ sĩ Kim Nguyên đến đây nhậu (nghệ sĩ Kim Nguyên hiện ở San Jose).
          Có lẽ do đó mà mà thiên hạ đồn đãi rằng do nhậu cầy tơ nên Hoa Phượng chia tay với Hà Triều chăng. Rồi người ta cũng nói thêm Hoa Phượng có thờ vị Thánh nào đó, mà đối với thánh thần thì rất kỵ nên Hoa Phượng không còn hợp tác soạn tuồng với Hà Triều. Đó là thiên hạ chỉ suy đoán rồi nói với nhau thôi, chớ chưa một ai dám bảo đảm rằng mình biết chính xác. Rồi cũng có người nói hay là do chia chác tiền bản quyền nhiều ít gì đó, hoặc là do một nguyên nhân sâu xa nào mà cả hai chẳng nói ra.
          Khoảng 1972 thời kỳ cải lương khủng hoảng trầm trọng, đa số đoàn hát đã rã gánh, thì người ta lại thấy Hà Triều – Hoa Phượng hợp tác làm ăn bằng cách điều động trông nom kỹ thuật cho một đoàn hát nhỏ ở ngoài Trung. Khán giả trông chờ cặp soạn giả nầy cho ra đời tuồng mới, nhưng chờ mãi vẫn không thấy tuồng mới nào của hai ông được ra mắt. Do bởi hai người chỉ hợp tác làm ăn chớ không hợp soạn như ngày nào. Nói rõ hơn là chỉ làm ăn với một hình thức khác, chớ không phải hợp soạn tuồng.
          Sau 1975 Hoa Phượng cộng tác với đoàn cải lương Tây Ninh, với chức vụ gì không rõ. Còn Hà Triều năm 1976 là cán bộ của Sở Văn Hóa Thông Tin, tham gia trại sáng tác Vũng Tàu.
          Những năm sau cùng của cuộc đời, Hà Triều sống đơn độc ở căn phòng tại chung cư Hưng Đạo. Hà Triều vĩnh viễn ra đi năm 2003, và Hoa Phượng thì qua đời 9 năm trước đó (1994).
          Tóm lại việc tan rã liên danh Hà Triều – Hoa Phượng, trong suốt nhiều năm sau người ta cũng không rõ được là do đâu. Hiện nay cả hai đã về với Tổ nghiệp, và mang theo luôn cái nguyên do chia tay của hai anh. Người đời, nhứt là giới mộ điệu cải lương có muốn rõ biết cũng đành chịu thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 12/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-121615-nm-12262015072441.html