Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 24495 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi huhu

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #210 vào: 08/04/2019, 16:53:58 »
(Image removed from quote.)

nduytai và anh Huhu có biết là đoàn hát nào hôn?
Nhìn hình thì đoán tên nghệ sĩ Bạch Tuyết, Út Trà Ôn;
chứ đoán trong tuồng gì thì khó, mà đoán Đoàn hát gì thì càng khó hơn !
 

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #211 vào: 08/04/2019, 19:20:52 »
đó là đoàn Thống Nhất đó anh Huhu.  Trước khi thành lập đoàn Thống Nhất, cậu 10 út Trà ôn từng thành lập đoàn Kim Thanh làm mưa làm gió đất Sài Thành 1 thời gian.
Hình trên, tuồng gì thì nguoixua không biết.  BẠch Tuyết cộng tác với Thống Nhất 1 thời gian, có đóng tuồng Tiếng HÁt Muồng Tênh, nhung khi thu dĩa thì vai chính dành cho NS Thanh Hương

Mời anh Huhu và các bạn nghe giọng ca úT Trà ôn và Bạch Tuyết nhe:

https://www.nhaccuatui.com/bai-hat/hy-sinh-ut-tra-on-ft-bach-tuyet-ft-diu-hien.JQRTJjqjEG1B.html
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #212 vào: 09/04/2019, 20:12:20 »
Vì không có máy đèn đoàn Hương Mùa Thu gặp nạn

Sau 1975 Thu An – Ngọc Hương thành lập trở lại đoàn Hương Mùa Thu, và nhờ là đoàn hát có tiếng từ năm 1964 nên lưu diễn ở đâu cũng được khán giả ủng hộ. Lúc bấy giờ mỗi đêm hát có trên cả ngàn khán giả, nhưng không hiểu sao Thu An – Ngọc Hương lại không khá mà lại luôn mắc nợ. Có lẽ ở thời này gánh hát trình diễn ở sân bãi, tiền bán vé rất thấp, cũng như vé mời nhiều, và người coi cọp cũng đông, nên thấy vậy chớ tiền thu vô cũng chẳng bao nhiêu so với lúc trước hát ở rạp.

Các nghệ sĩ tiền phong: Ba Út, Phùng Há,
Cao Long Ngà, Văn Ngân, Hữu Phước

Khi thăng lúc trầm
            Do vậy mà đoàn Hương Mùa Thu cũng chẳng hơn gì ai, cũng khi thăng lúc trầm, chết đi sống lại mấy lần. Và câu chuyện “khổ vì điện” dưới đây của đoàn Hương Mùa Thu, thì người ta thấy rằng cái thế yếu của Thu An – Ngọc Hương, dù rằng đoàn Hương Mùa Thu rất nổi tiếng:
            Năm 1992 đoàn lưu diễn miền Trung và vùng Cao Nguyên, từ Kontum dọn xuống tỉnh Pleiku, Thu An hợp đồng với Nhà Văn Hóa trình diễn ba đêm. Cũng nên biết là thời này sân bãi hay rạp hát đều do cơ quan Văn Hóa Thông Tin quản lý, các đoàn hát tập thể như Hương Mùa Thu phải liên lạc hợp tác với cơ quan nầy mới được hát ở địa phương.
            Đêm đầu tiên, vé bán gần hết từ lúc chiều, đã cho thấy đoàn vẫn còn thu hút khán giả khá mạnh. Trước giờ mở màn người đi coi hát đã vào cửa đứng ngồi tràn ngập sân bãi của thị trấn. Thế nhưng, đèn đuốc thì lại lờ mờ quá yếu, và âm thanh thì do điện yếu nên không phát được, mà tiếng người đi coi hát nói chuyện thì vang rền.
            Người ta cứ tưởng tượng như vầy, nếu như một sân vận động có sức chứa vài ngàn khán giả, chỉ cần thiên hạ gặp mặt rồi hỏi thăm lẫn nhau thôi, mỗi người một tiếng, cũng tạo nên âm thanh hỗn tạp, lấn áp lời ca tiếng hát của đào kép trên sân khấu. Muốn át được tiếng ồn trò chuyện của khán giả thì phải có âm thanh thật lớn phát ra, mà nguồn cung cấp cho âm thanh lớn phải là điện mạnh, máy đèn công suất mạnh.
            Hơn 7 giờ rưỡi tối, đoàn vẫn chưa thấy Nhà Văn Hóa Pleiku chở máy điện tới, bởi theo hợp đồng thì Nhà Văn Hóa phải có máy điện lớn phục vụ âm thanh, ánh sáng cho đêm diễn. Gần 8 giờ mà cả một sân bãi rộng lại chỉ có vài bóng đèn lu mờ, và âm thanh ở loa thì chẳng phát ra được tiếng.
            Khán giả bắt đầu nhốn nháo, vài phía la hét, sự ầm ỉ bắt đầu lan rộng. Tiếng yêu cầu mở màn, yêu cầu trả vé vang lên gần như náo loạn. Trước tình thế đó, ban giám đốc đoàn có gặp ban chủ nhiệm Nhà Văn Hóa để yêu cầu thực hiện đúng hợp đồng về điện. Rồi thì ban chủ nhiệm Nhà Văn Hóa loan báo đến khán giả là hủy bỏ đêm hát, đề nghị quý khán giả giữ vé để đêm mai đến xem.
            Nghe vậy khán giả bất mãn, một số la ầm lên, một số khác trèo lấn lên giàn đờn và sân khấu. Sau đó thì sự quậy phá đã xảy ra, nhiều phông màn bị xé, đèn sân khấu bị đập vỡ, bàn ghế cũng “xụm” luôn. Đào kép chỉ biết lo bảo vệ cái gì còn bảo vệ được và năn nỉ… Lúc đó, nhân viên Nhà Văn Hóa Pleiku đã “lặn” hết chẳng còn một ai, khiến cho anh em đoàn hát phải đối phó sự kiện rất là vất vả, đau xót… Cơ quan an ninh tức tốc đến can thiệp từ 8 giờ cho đến 12 giờ khuya mới vãn hồi được trật tự sân bãi.


Phượng Mai và Mộng Tuyền
chụp ảnh tại đoàn cải lương Dạ Lý Hương

Điện là vấn đề “sanh tử”
            Sáng hôm sau một buổi họp khẩn giữa sở Văn Hóa Thông Tin, Nhà Văn Hóa Pleiku và ban giám đốc đoàn để quy trách nhiệm… Theo lời Thu An thì Nhà Văn Hóa Pleiku có lỗi hoàn toàn, do không chịu thuê máy điện lớn, mà chỉ móc điện của bệnh viện gần đó, nên không đủ ánh sáng thực hiện được đêm hát. Nhà Văn Hóa có hứa là đền bù thiệt hại cho đoàn bằng cách không lấy tiền sân bãi trong 3 xuất hát.
            Đêm thứ hai buổi diễn có điện đầy đủ, số khán giả có vé hôm trước được vào xem, thậm chí ai mất vé mà cự nự với nhân viên gác cửa rằng mình có vé nhưng bị mất, rồi cũng được vào xem luôn. Số vé bán thêm đêm đó chỉ có một ít.
            Đêm thứ ba Nhà Văn Hóa bắt đầu đặt lại vấn đề “tiền sân bãi”.
            Đoàn không đồng ý, vì chưa hát đủ ba đêm. Hôm đó, nhân viên Nhà Văn Hóa có nhiệm vụ bảo vệ sân bãi, đã bỏ ngõ tứ phía, giúp cho người vào xem thả giàn không ít, bằng cách leo rào mà chẳng bị ai ngăn cản. Đêm thứ tư đoàn quyết định ngưng diễn, và chuyển đi bến khác, tạm biệt người anh em “Nhà Văn Hóa Pleiku”.
            Trước sự kiện trên có người nói rằng, Thu An gần nửa thế kỷ làm sân khấu, chẳng lẽ không biết điện là vấn đề “sanh tử” của đoàn cải lương hay sao, mà lại để cho tình trạng xấu như thế chứ!
            Hoạt động cải lương bắt buộc phải có chiếc máy đèn riêng, không thể trông cậy vào một nguồn điện nào hết, phải có máy đèn dự phòng thì mới an tâm hoạt động nghệ thuật. Trên đường lưu diễn phải mang theo chiếc máy đèn, dù rằng cả tháng máy để nằm không.
            Khi xưa ông Bầu Long là chủ nhân của sáu đoàn Kim Chung, và đoàn nào cũng được ông trang bị cho một chiếc máy phát điện, và cứ mỗi buổi chiều là cho máy chạy thử. Có nghĩa là chiếc máy luôn trong tình trạng tốt, và người chuyên viên trông coi máy đèn phải túc trực tại chỗ, để khi bị cúp điện thì cho máy chạy ngay liền.
            Riêng về Thu An thì có lẽ thời điểm 1992 nầy thực lực đã suy rồi, đã mang nợ nần nhiều rồi, thì đâu mua sắm nổi chiếc máy đèn để sẵn nên mới xảy ra tình trạng trên. Chớ nếu như thời vàng son thời thập niên 1960 tiền bạc dồi dào, thì chiếc máy đèn dự phòng là “chuyện nhỏ” thôi.
            Thưa quí vị nếu như Út Trà Ôn được người đời phong tặng “đệ nhứt danh ca vọng cổ”. Nghệ sĩ Minh Chí được mệnh danh “Vua Xang Xê” thì đào Ngọc Hương lại nổi tiếng ở bản Đảo Ngũ Cung. Và sau đây là một đoạn trong tuồng cải lương của đoàn Hương Mùa Thu, đào Ngọc Hương ca bài Đảo Ngũ Cung và làn hơi ca êm như ru của Út Hiền.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1107-nm-11072015072253.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #213 vào: 13/04/2019, 21:05:28 »
Tuồng chiến tranh thịnh hành thời đầu thập niên 1950

Không hiểu do nhận định thế nào về nhu cầu giải trí, mà khán giả cải lương những năm đầu của thập niên 1950 lại đổ xô đi coi tuồng chiến tranh, để thấy cảnh súng liên thinh nổ liên hồi, máy bay dội bom khói lửa mịt mù, tàu chiến, xe tăng bắn phá… và người coi hát tưởng tượng như là đang chiến tranh thực sự vậy.

Tờ programme của đoàn ca kịch Phát Thanh diễn tuồng “Tiếng Súng Lư Cầu Kiều”,
không thấy đề ngày và rạp hát. Có lẽ khoảng 1951,
bởi vì đến năm 1952 thì đoàn Phát Thanh đã không còn nữa


LÚC BẤY GIỜ đoàn ca kịch Phát Thanh của cô đào Nguyệt Yến, lúc mới ra đời khoảng cuối thập niên 1940 chỉ chuyên môn hát tuồng dựa theo truyện Tàu, với trang phục màu sắc, rườm rà giống như gánh Phụng Hảo của Má Bảy Phùng Há.
            Thế nhưng, đến năm 1951 thì loại tuồng này không còn ăn khách, khán giả thưa dần nhiều đêm không mở màn được, bởi vì khán giả quay sang đi coi tuồng chiến tranh của gánh hát Hậu Tấn. Do đó mà đoàn Phát Thanh phải chuyển hướng hoạt động, chạy theo thị hiếu của khán giả để sống còn.
            Thế là bà bầu gánh Nguyệt Yến kiêm đào chánh đoàn Phát Thanh lệnh cho soạn giả phải viết tuồng chiến tranh giống như gánh Hậu Tấn. Giờ đây thì ông thầy tuồng Văn Sinh dù không sở trường cũng ráng sức chạy đôn chạy đáo tìm đề tài viết tuồng cho hợp với thời thế, chớ không thôi thì “treo nồi gạo” bởi vì bà bầu gánh đã hăm he như vậy rồi. May mắn cho ông gặp được một nhà báo trao cho tài liệu chiến tranh Nhật-Trung, tường thuật trận chiến tại hải cảng Lư Cầu Kiều.
            Như bắt được vàng, ông soạn giả dựa theo chiến trận đó, và hư cấu vài nhân vật nam nữ, viết lên vở hát “Tiếng Súng Lư Cầu Kiều”, và khi tờ programme được xe ngựa mang đi quảng cáo (thời này ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định và các tỉnh miền Đông nếu di chuyển gần thì xe ngựa là chính). Mấy người biết chữ được bà con yêu cầu đọc cho nghe xem gánh hát diễn tuồng gì, hay dở thế nào?
            Vào thập niên 1940-1950 đa số người ở vùng thôn quê miền Nam họ không đọc được Quốc ngữ, số người biết đọc biết viết rất ít. Và khi đọc đến đoạn tàu lặn Nhật Bổn kịch chiến với tàu tuần Trung Hoa, thì thiên hạ vỗ tay rần rần, hẹn nhau đến tối sẽ cùng đi coi hát.
            Tình tiết câu chuyện éo le gay cấn: Chấn Thái Lang là gián điệp của Nhật Hoàng, được lệnh sang Nam Kinh bí mật hoạt động từ nhiều năm trước. Chàng lấy quốc tịch Trung Hoa và kết duyên với một phụ nữ Tàu tên Lan Hương, hai vợ chồng làm nghề thương mại ở Lư Cầu Kiều. Đến khi sinh đặng một trai vừa lên ba, thì trong một đêm nọ chiếc tiềm thủy đỉnh từ Đông Kinh vượt biển nổi lên cặp vào một vịnh gần Lư Cầu Kiều rước Chấn Thái Lang về Nhật.
            Câu chuyện tuồng khá hay, nhưng phần lớn khán giả thời này lại không chú ý nhiều đến diễn tiến câu chuyện, mà nhắm vào cảnh chiến trận trên mặt biển.
            Tóm lại là đoàn Phát Thanh chuyển sang diễn tuồng chiến tranh thì khán giả đông đảo trở lại. Đến lúc đoàn Hoa Sen của Bảy Cao khai trương thì tuồng chiến tranh được cải tiến, sân khấu trở nên sôi động hơn nhiều.
            Các kỳ tới chúng tôi sẽ nói nhiều về thiên tài Bảy Cao với tuồng chiến tranh làm chấn động làng sân khấu. Bảy Cao là người đưa phim ảnh lên sân khấu, mà giờ đây nhắc lại những người lớn tuổi khi xưa từng đi coi hát đã không khỏi nuối tiếc.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/tuong-chien-tranh-thinh-hanh-thoi-dau-thap-nien-1950/

 

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #214 vào: 14/04/2019, 19:22:30 »
nói tuồng hương xa màu sắc không còn ăn khách là không đúng, thấy đoàn Kim CHung hôn, từ BẮc vô Nam, chuyên trị tuồng kiếm hiệp, chưởng, bay trên sân khấu, hốt bạc ào ào, thành lập tới Kim CHung 6
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #215 vào: 21/04/2019, 17:32:00 »
Đoàn cải lương Ái Liên lưu diễn khắp Đông Dương

Hoạt động nghệ thuật sân khấu cải lương ở miền Nam phát triển từ thập niên 1920, với các đoàn hát danh tiếng như Hề Lập, Tiến Hóa, Mộng Vân, Đại Phước Cương… và đến năm 1940 thì ở miền Bắc nghệ sĩ Ái Liên vừa mới 20 tuổi ngoài, đã đứng ra thành lập đoàn cải lương Ái Liên, và mở cuộc lưu diễn khắp Đông Dương.

Từ trái sang: Nghệ sĩ Kim Xuân, Lan Phương, Ái Liên và Kim Chung

Thời kỳ huy hoàng của một gánh hát cải lương miền Bắc
            Trong buổi nói chuyện này tôi nhắc lại thời kỳ huy hoàng của một gánh hát cải lương miền Bắc, đồng thời cũng nói đến một cô đào thinh sắc vẹn toàn, một ngôi sao sáng trên vòm trời nghệ thuật sân khấu, vang bóng một thời, đó là nữ nghệ sĩ Ái Liên vang danh từ Bắc chí Nam. Thế nhưng những người ở miền Nam thuộc thế hệ lớn lên sau 1954 thì không hề biết, cũng chẳng hề nghe tên, do bởi sau ngày Hiệp Định Genève 1954 chia đôi đất nước thì Ái Liên ở lại miền Bắc.
            Nói đến danh ca Ái Liên thì đa số khách mộ điệu bốn phương đều tỏ lòng ái mộ, cũng như như hầu hết các anh chị em đồng nghiệp có dịp sống gần cô đều chân thành cảm phục và mặc nhiên công nhận Ái Liên như một kỳ tài thiên bẩm. Có thể nói rằng trời sinh ra Ái Liên chính là hóa thân của “nàng nghệ thuật” để hiến vui cho đời, ngõ hầu làm tròn thiên chức tối thượng của người nghệ sĩ trong sự nghiệp cầm ca. Với bản năng thuần hậu, tư cách và hạnh kiểm đài trang đoan chính, với sắc lịch kiêu sa, diễm lệ, Ái Liên rất xứng đáng là một danh ca tài sắc vẹn toàn.
            So sánh với các bạn cùng nghề, Ái Liên tương đối có một trình độ học vấn khả quan, biết nhiều ngoại ngữ, xuất sắc nhất là bộ môn ca nhạc. Trong khi trình diễn trên sân khấu, mỗi lúc tạm nghỉ lớp tuồng, cô vào hậu trường là tiến đến dàn nhạc, bất cứ gặp thứ đờn gì, như kìm, cò, sến, độc huyền, thập lục, cô cũng cầm lấy sử dụng ngon lành như một người thiện nghệ, hoặc điều khiển giàn bát tấu, đánh trống, mõ, thanh la v.v… cô đều tinh thông. Hoặc khi nghỉ tuồng cô thường xuống chơi nhạc Tây phương tức dàn nhạc tiền trường (orchestre avant Scène) như dương cầm, vĩ cầm, tây ban cầm, hạ uy cầm, cho cả đến đánh trống Jazz cô cũng thông thạo. Cho nên anh chị em trong nghề cũng như khán giả đã mệnh danh Ái Liên là một thiên tài ca nhạc, hay là con chim họa mi bốn mùa của sân khấu kịch trường. Vậy trước khi đề cập đến đoàn hát, tôi cũng nói sơ qua vài nét về người nữ nghệ sĩ thiên tài miền Bắc.
            Danh ca Ái Liên tên thật là Lê Thị Liên, sinh năm 1918 tại Hải Phòng, nữ sinh của trường Đức Trí ở đường Cát Giải, Hải Phòng. Thân phụ làm nghề mại bản trên chiếc tàu chạy đường Hải Phòng – Hương Cảng, và đã đưa Ái Liên sang Hồng Kông học các lớp sinh ngữ, do đó cô nói thông thạo nhiều thứ tiếng: Anh, Pháp, Trung Hoa, Nhật và dĩ nhiên tiếng Việt Nam.
            Năm 16 tuổi Ái Liên trở về Hải Phòng và chỉ qua một thời gian ngắn học ca hát là cô tham gia các đêm trình diễn từ thiện ở Hà Nội, Nam Định với danh nghĩa tài tử, và sau đó thì được “Hội Kịch Bắc Kỳ” mời cô làm đào chánh thức.
            Năm 1937 Ái Liên từng chiếm chức tại hội chợ tơ lụa Hà Đông, rồi cùng thân mẫu (Bà Hai) thành lập gánh hát “Liên Hiệp”. Lúc ấy ở Hà Nội có hai gánh hát lớn đóng đô vĩnh viễn rạp Quảng Lạc, chuyên diễn các vở tuồng Tàu cổ điển, và rạp Hiệp Thành sở trường về loại tuồng ca kịch xã hội. Còn ở Hải Phòng thì có gánh Ứng Lập Ban cũng đóng đô tại khu phố Tam Gian. Vì thế gánh Liên Hiệp của Ái Liên không có đất đứng, phải đi diễn khắp các tỉnh miền Bắc, rồi cũng do thiếu kinh nghiệm điều hành nên rã gánh.
            Đến cuối năm 1937 thì có gánh hát Đại Phước Cương từ Nam ra Bắc lần thứ hai với thành phần nghệ sĩ trứ danh như: Năm Châu, Từ Anh, Bảy Nhiêu, Năm Phỉ, Ba Vân, Kim Cúc, Kim Lan và Ái Liên xin gia nhập gánh hát này. Sau thời gian ba tháng trình diễn quanh các thành phố lớn ở Bắc Hà, đoàn Đại Phước Cương về Nam thì Ái Liên cũng cùng thân mẫu đi theo đoàn vô Nam.
            Nhờ thu thập được một số kinh nghiệm về cải lương, năm 1940 nghệ sĩ Ái Liên trở về Bắc thành lập đoàn Ái Liên, đoàn đã tập dượt thành thuộc sáu vở hát: Tiếng Chuông Chùa, Bóng Người Trong Sương, Ái Tình và Nghệ Thuật, Đời Cô Yến, Chân Ái Tình và Cô Gái Mường. Hầu hết là tuồng xã hội mà vào thời đó người ta gọi là “tuồng Tây” để phân biệt với “tuồng Tàu”, tức tuồng màu sắc lịch sử Trung Hoa như: Phụng Nghi Đình, Lưu Kim Đính, Phàn Lê Huê…


Nghệ sĩ Ái Liên cùng chồng – ông Hà Quang Định,
một doanh nhân giàu có nhưng nặng lòng với nghệ thuật thời bấy giờ

Nghệ sĩ Bắc ra mắt khán giả trong Nam
            Gánh hát Ái Liên bắt đầu vô Nam với chương trình lưu diễn khắp Đông Dương, đây là lần đầu tiên gánh hát cải lương với thành phần nghệ sĩ toàn là người Bắc ra mắt khán giả trong Nam. Tuy rằng trước đó đã có gánh đồng ấu “Nhật Tân Ban” vào Nam trình diễn rồi, nhưng chỉ với lối ca ngâm theo điệu Phước Châu, Hồ Quảng qua các vở tuồng Tàu cổ điển chớ không phải cải lương.
            Trên đường “Nam tiến” đặc biệt này, trước khi vào Sài Gòn, đoàn dừng lại hát ở các thành phố lớn như Nam Định, Thanh Hóa, Huế, Nha Trang, Phan Thiết… và khi gánh hát vào tới miền Nam đã gây nhiều luồng dư luận, nhứt là Hội Ái Hữu Bắc Kỳ đã không khỏi lo âu hồi hộp khi thấy người đồng hương đem chuông đi đánh “xứ người”. Thế nhưng, rất may đoàn Ái Liên trong suốt hai tuần trình diễn tại nhà hát lớn Sài Gòn đã thành công mỹ mãn.
            Sau đó theo chương trình ấn định, đoàn đi Lục Tỉnh trình diễn tại Cần Thơ 10 đêm, kế đến là Bạc Liêu và tuần tự đến các tỉnh khác, chỗ nào cũng thành công tương đối. Tiếp đó thì thuê tàu ngược dòng sông Cửu Long lên xứ Chùa Tháp Cao Miên, lúc ấy vào năm 1941.
            Gánh hát Ái Liên sang Nam Vang vừa hát được ba đêm tại rạp hát ở đường Boong, thì nhận được tin Hoàng Gia Cao Miên mời vô trình diễn trong Hoàng Cung để Quốc Vương ngự lãm. Buổi hát đặc biệt ấy được tổ chức tại dinh Dạ Lạc Đài (Palais de Fête), nơi đây với kiến trúc khá mỹ quan, hội trường có sân khấu cao, xung quanh toàn là cửa sổ lồng kiếng, đèn thắp sáng trưng, từ ngoài trông vào đúng là một buổi dạ hội hoa đăng tưng bừng, ngoạn mục.
            Buổi hát trọng thể đó, Thái Tử Norodom Sihanouk với viên đại úy Pháp tùy tùng (sĩ quan tùy viên) cùng các vị triều thần và hoàng thân quốc thích, song tuyệt nhiên không có bóng một phụ nữ. Đứng trên sân khấu trông ra phía ngoài rất đông người đứng coi tại hành lang các dãy nhà xung quanh.
            Hôm đó gánh Ái Liên trình diễn vỡ “Cô Gái Mường” được hoan nghinh nhiệt liệt. Khi vãn tuồng, viên đại úy Pháp (Capitaine Le Bon) mời ông giám đốc đoàn hát và năm tài tử chánh đi xuống khán đài yết kiến nhà vua, để lãnh hội những lời ca tụng của bậc Thiếu Quân xứ Chùa Tháp. Vua Sihanouk tặng danh ca Ái Liên tấm huy chương rồng vàng (Médaille Dragon d’or) và bốn tài tử chánh gồm: Anh Đệ, Huỳnh Thái, Lan Phương và Phong Trần Tiến thì được ban thưởng một tấm bằng khen danh dự. Một vị Thượng Thư lão thành chuyển giao tới ông giám đốc đoàn hát một phong bì, dù rằng đã hết sức từ chối, rốt cuộc ông giám đốc vẫn phải nhận số bạc 300 đồng Đông Dương coi như là khoản tiền thù lao nghệ sĩ (300 đồng thời đó mua được năm, sáu lượng vàng).
            Cũng cần nói thêm hồi Thái Tử Sihanouk vừa làm lễ đăng quang – nối ngôi Tiên Đế băng hà – bởi tình giao hảo lân bang, Vua Sihanouk qua thăm xã giao Vua Bảo Đại. Khi đó gánh Ái Liên đang ở Huế được mời vào diễn chào mừng tại cung nội, song buổi hát đặc biệt ấy bị hoãn bởi vua Cao Miên đang khi tang chế, không tiện hưởng vui nên có hứa hẹn sẽ mời gánh Ái Liên vào thành diễn khi đoàn qua xứ Chùa Tháp.
            Toàn ban Ái Liên ra về với sự hân hoan thích thú, nhất là ông giám đốc tỏ vẻ mãn nguyện với sự thành công của buổi hát được kết quả. Ông dành ra một trăm rưỡi tặng thưởng toàn thể anh chị em trong đoàn, còn lại một trăm rưỡi ông giao cả cho người quản lý tùy quyền chi dụng.
            Sau khi đã gặt hái thành công ở xứ Chùa Tháp, đoàn Ái Liên về nước bằng đường thủy qua ngã Châu Đốc và trình diễn vòng quanh các tỉnh Rạch Giá, Long Xuyên trước khi gặp lại khán giả ở Sài Gòn. Thời gian này Hòn Ngọc Viễn Đông đang tổ chức hội chợ tại vườn Bờ Rô, sẵn dịp đoàn Ái Liên hát trong hội chợ. (Vườn Bờ Rô cũng gọi là Vườn Ông Thượng, về sau có tên là Công Viên Tao Đàn).
            Lần này trở lại Sài Gòn gánh Ái Liên có thêm một tuồng màu sắc do soạn giả Bảy Muôn viết, dựa theo sử thời Nhà Trần, ấy là tuồng Huyền Trân Công Chúa. Khán giả Sài Gòn từng hiểu rõ kỹ thuật diễn xuất của đoàn Ái Liên chỉ sở trường loại tuồng Tây (tuồng xã hội), tất nhiên vở hát tuồng Tàu duy nhứt này sẽ được khách mộ điệu chú ý (khán giả lúc bấy giờ quen gọi tuồng màu sắc là tuồng Tàu, dù là tuồng viết theo sử Việt Nam).
            Buổi diễn tuồng màu sắc đầu tiên ấy Ái Liên đóng vai Huyền Trần Công Chúa, nghệ sĩ Huỳnh Thái vai Thượng Tướng Trần Khắc Chung đã thu hút quá đông khán giả. Có nhiều đào kép gánh hát ở miền Nam cũng tới coi, và vì do rạp chật ních nên mấy người này phải đứng coi tại hậu trường.
            Lần đi lưu diễn này, đoàn Ái Liên thành công trên mọi phương diện nên khi trở về Bắc Hà, hầu hết nam nữ nghệ sĩ của đoàn đều mãn nguyện mà còn mang theo nhiều cảm tưởng, kỷ niệm tốt đẹp.


NGÀNH MAI
Tháng 11/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-1114-nm-11132015151203.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #216 vào: 25/04/2019, 21:56:46 »
Liên danh Hà Triều – Hoa Phượng tan rã do đâu?

Những ai theo dõi, am tường hoạt động sân khấu cải lương cũng đều biết hai soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng bắt đầu nổi tiếng qua vở hát “Khi Hoa Anh Đào Nở”, được ra mắt khán giả trên sân khấu Thúy Nga vào khoảng 1957.

Út Bạch Lan và Thành Được trong tuồng “Khi Hoa Anh Đào Nở”

“Khi Hoa Anh Đào Nở”
          Nhờ xuất hiện ở thời gian này nên Hà Triều – Hoa Phượng được hưởng quyền lợi năm phần trăm tổng số thu, có nghĩa tuồng được hát thì được lãnh phần trăm đều đều hằng đêm. Chẳng hạn như tuồng “Nửa Đời Hương Phấn” hát liên tục cả tháng trời, mà đêm nào khán giả cũng nghẹt rạp, thì dĩ nhiên soạn giả vừa được lãnh tiền nhiều do con số khán giả quá cao, mà lại kéo dài suốt cả tháng, không khá sao được.
          Nếu như ngược thời gian trở về trước thì người ta sẽ thấy soạn giả cũng chẳng khá gì, dù rằng tuồng hay, khán giả đông đảo. Ngày xưa, ở mỗi gánh hát, đều có một ông “thầy tuồng” được ăn lương tháng. Thầy tuồng có nghĩa là vừa viết tuồng vừa làm đạo diễn, mà phần đông là bạn thân thiết của chủ gánh, và thời ấy chưa có lệ tiền bản quyền.
          Mãi đến khoảng 1925-1926, bầu gánh Tân Thinh là thầy Ba Thông mới bày ra chuyện mua một vở tuồng với giá là 80 đồng (tiền Đông Dương thời này khá lớn). Điều ấy có nghĩa là sau khi bán rồi thì soạn giả chẳng còn gì nữa, tuồng có hát bao nhiêu lâu cũng thế, bầu gánh hưởng trọn do bởi mua đứt rồi.
          Rồi đến khoảng năm 1928-1932, các gánh Thầy Năm Tú, Trần Đắc rất biệt đãi các soạn giả tài giỏi như: Tư Chơi, Năm Châu, Trần Hữu Trang nên trả tiền mỗi vở tuồng là 150 đồng, có làm giấy tờ mua bán đàng hoàng.
          Số tiền đó kể như khá cao, vào thời buổi ấy, bởi có nhiều gánh như Phụng Hảo chỉ trả 120 đồng cho một tuồng như vở hát Đời Cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Tư Trang. Và nếu tập luôn cho diễn viên sẽ được trả thêm 30 đồng, tức 150 đồng. Tuy vậy không một vở nào hoàn thành mà soạn giả khỏi thiếu nợ bầu gánh, mặc dù số tiền 150 đồng hồi ấy kể cũng nhiều lắm. Nhưng do viết một vở tuồng trên một tháng rưỡi, rồi nghỉ không có lương để tập dợt trên hai, ba tháng thì lấy tiền đâu mà ăn, không mượn nợ chủ gánh? Bởi vậy tiền nợ cứ chồng chất, dù tuồng hát đi hát lại nhiều lần, thầy tuồng vẫn thiếu hụt là chuyện thường…
          Tình trạng gánh Năm Phỉ lúc đó, chỉ đặc biệt soạn giả Tư Trang là được trả 120 đồng cho mỗi vở hát, như tuồng Mộng Hoa Vương, tuồng Lan và Điệp, do bởi mấy tuồng này ăn khách. Còn các soạn giả khác không được trả đồng đều, khi thì 80 đồng, lúc thì 60 đồng. Giá cả rất phức tạp, có thầy tuồng làm giao kèo viết mướn hằng năm, mỗi tháng một tuồng lãnh 60 đồng. Càng đi sâu vào vấn đề, càng thấy phức tạp vì soạn giả ta rất nhiều hạng, hoàn cảnh sinh sống khác nhau, rất ít soạn giả chuyên nghiệp.
          Có người phải lệ thuộc chủ gánh, bị bóc lột trắng trợn mà không dám nói ra. Có soạn giả ở ngoài, không thấu đáo rõ rệt phương tiện của mỗi sân khấu, nên phải bán giá thật rẻ, để cho chủ gánh toàn quyền sửa chữa tác phẩm của mình!
          Về sau soạn giả Năm Châu đề nghị với bầu gánh Tám Bang cho các soạn giả hưởng huê hồng năm phần trăm số thu cho 50 lần diễn đầu và từ đó trở đi thì ba phần trăm. Vấn đề chỉ được áp dụng chỉ một đoàn hát của Năm Châu cộng tác mà thôi, các đoàn khác không có, bầu gánh muốn trả bao nhiêu tùy ý.
          Mãi đến năm 1956 xã hội sang qua thời Đệ Nhứt Cộng Hòa, các ngành nghề lao động được thành lập nghiệp đoàn, thuộc hệ thống Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam, và nghiệp đoàn nghệ sĩ sân khấu được thành lập. Sau đó thì phân bộ soạn giả trong nghiệp đoàn có nhiều phiên họp tại trụ sở Hội Nghệ Sĩ Ái Hữu, để quy định mức tối thiểu về tiền bản quyền cho cho soạn giả của tất cả các đoàn hát đang hoạt động là năm phần trăm. Nhờ đó mà Hà Triều – Hoa Phượng mới được hưởng quyền lợi từ mỗi đêm hát, và bắt đầu làm ăn khá luôn song song với sự nổi tiếng. Chớ nếu như cặp soạn giả này mà xuất hiện trước vài ba năm thì quyền lợi được hưởng cũng chẳng là bao nhiêu.
          Cặp soạn giả tài danh Hà Triều – Hoa Phượng sau gần một thập niên viết chung, tên hai người luôn luôn đi đôi, do đó mà cũng có nhiều người tưởng đâu rằng hai người là một. Tuy vậy người ta cũng không thắc mắc làm chi, miễn tuồng hay là được, và thời ấy khán thính giả chỉ chú trọng đến các nhân vật trong tuồng mà thôi!
          Nhưng rồi, đến khoảng 1965 thì Hoa Phượng tách ra cùng với Ngọc Điệp viết tuồng Tuyệt Tình Ca, tức Ông Cò Quận Chín, và đến lúc nầy thì thiên hạ biết rõ Hà Triều – Hoa Phượng là hai người, chứ không phải một người như đã lầm tưởng trước kia.


Soạn giả Hà Triều – Hoa Phượng

Tiểu sử
          Hà Triều tên thật là Đặng Ngươn Chúc, quê quán ở làng Vĩnh Tuy, quận Gò Quao, tỉnh Rạch Giá. Còn Hoa Phượng thì tên thật là Lương Kế Nghiệp, sinh trưởng ở vùng Núi Sập, An Giang, nơi có dòng kinh xáng Long Xuyên – Rạch Giá chảy ngang qua. Thời chiến tranh Việt-Pháp cả hai ông đều đi kháng chiến từ lúc còn thư sinh. Hà Triều gia nhập phong trào Thanh Niên Tiền Phong vào những năm đầu kháng chiến ở vùng U Minh Thượng và U Minh Hạ. Còn Hoa Phượng cũng đi kháng chiến ở đất Long Xuyên, Châu Đốc.
          Năm 1954 chiến tranh Việt-Pháp chấm dứt, hòa bình lập lại trên đất nước, sự đi lại dễ dàng, Hoa Phượng và Hà Triều rời khỏi bưng biền từ miền Tây lưu lạc lên Sài Gòn tìm sự sống. Hai cậu thanh niên hàn vi áo vải trước Sài Gòn huy hoàng tráng lệ, họ đã không chán nản mà cố gắng vượt qua mọi khó khăn trong buổi đầu để hòa nhập vào, và về sau trở thành soạn giả tên tuổi. Họ gặp nhau khi ở trọ nhà của thi sĩ Kiên Giang ở Chợ Quán, chớ trước đó hai người không hề biết nhau.
          Kiên Giang đùm bọc khuyến khích hai người viết tuồng cải lương, và kể từ đó cả hai có tiền bản quyền bỏ túi xài thoải mái hơn trước đó, bởi nếu không mỗi đêm thì cũng vài ba đêm tuồng được hát là có tiền. Thi sĩ Kiên Giang từng nói rằng Hà Triều – Hoa Phượng như hai dòng chảy hợp lưu thành con sông lớn.
          Nếu như sự đời trôi chảy bình thường thì liên danh Hà Triều – Hoa Phượng chắc còn tiếp tục cho ra đời thêm nhiều tuồng cải lương giá trị, mới lạ nữa. Nhưng đến khoảng 1964-1965 thì đã xảy ra sự bất đồng giữa hai người, để rồi kết cuộc đưa đến tan rã một liên danh soạn giả một thời làm mưa làm gió ở địa hạt cải lương.
          Thế nhưng, thiên hạ cũng không ai biết được cái nguyên nhân mà hai người không còn hợp soạn, do bởi hai ông chẳng hề chính thức tuyên bố lý do. Báo chí có hỏi thì hai anh chỉ cười nói rằng tại vì muốn như vậy thôi!
          Nếu như ngược thời gian trở về những năm giữa thập niên 1950 thì Hà Triều – Hoa Phượng còn nghèo, cả hai chưa thấy đam mê thứ gì cả. Nhưng từ lúc nổi tiếng, cộng thêm có nhiều tiền thì mỗi người lại có một tật riêng. Trong khi Hoa Phượng có nhiều vợ thì Hà Triều lại sống độc thân, anh ta không thích đàn bà con gái, mà lại thích ngựa đua, và thích nhậu nhẹt.
          Tuy rằng là dân Rạch Giá, Nam Kỳ rặt, nhưng Hà Triều lại rất thích “hạ cờ tây”. Quán cầy tơ ở đầu đường Bùi Chu gần ngã ba Bùi Chu – Hồng Thập Tự là nơi Hà Triều chiếu cố nhiều nhứt, ông thường rủ nghệ sĩ Kim Nguyên đến đây nhậu (nghệ sĩ Kim Nguyên hiện ở San Jose).
          Có lẽ do đó mà mà thiên hạ đồn đãi rằng do nhậu cầy tơ nên Hoa Phượng chia tay với Hà Triều chăng. Rồi người ta cũng nói thêm Hoa Phượng có thờ vị Thánh nào đó, mà đối với thánh thần thì rất kỵ nên Hoa Phượng không còn hợp tác soạn tuồng với Hà Triều. Đó là thiên hạ chỉ suy đoán rồi nói với nhau thôi, chớ chưa một ai dám bảo đảm rằng mình biết chính xác. Rồi cũng có người nói hay là do chia chác tiền bản quyền nhiều ít gì đó, hoặc là do một nguyên nhân sâu xa nào mà cả hai chẳng nói ra.
          Khoảng 1972 thời kỳ cải lương khủng hoảng trầm trọng, đa số đoàn hát đã rã gánh, thì người ta lại thấy Hà Triều – Hoa Phượng hợp tác làm ăn bằng cách điều động trông nom kỹ thuật cho một đoàn hát nhỏ ở ngoài Trung. Khán giả trông chờ cặp soạn giả nầy cho ra đời tuồng mới, nhưng chờ mãi vẫn không thấy tuồng mới nào của hai ông được ra mắt. Do bởi hai người chỉ hợp tác làm ăn chớ không hợp soạn như ngày nào. Nói rõ hơn là chỉ làm ăn với một hình thức khác, chớ không phải hợp soạn tuồng.
          Sau 1975 Hoa Phượng cộng tác với đoàn cải lương Tây Ninh, với chức vụ gì không rõ. Còn Hà Triều năm 1976 là cán bộ của Sở Văn Hóa Thông Tin, tham gia trại sáng tác Vũng Tàu.
          Những năm sau cùng của cuộc đời, Hà Triều sống đơn độc ở căn phòng tại chung cư Hưng Đạo. Hà Triều vĩnh viễn ra đi năm 2003, và Hoa Phượng thì qua đời 9 năm trước đó (1994).
          Tóm lại việc tan rã liên danh Hà Triều – Hoa Phượng, trong suốt nhiều năm sau người ta cũng không rõ được là do đâu. Hiện nay cả hai đã về với Tổ nghiệp, và mang theo luôn cái nguyên do chia tay của hai anh. Người đời, nhứt là giới mộ điệu cải lương có muốn rõ biết cũng đành chịu thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 12/2015


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-121615-nm-12262015072441.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #217 vào: 30/04/2019, 17:17:42 »
Bài tân cổ giao duyên “Hận Tha La” kết hợp hai giọng ca Thành Được, Thanh Thúy

Những người yêu thích cổ nhạc ở thời thập niên 1960, nếu không tự mình mua được máy hát dĩa để tha hồ thưởng thức những bài ca vọng cổ tự chọn, đồng thời với các giọng ca mình ưa chuộng, thì thỉnh thoảng vẫn được nghe ca từ những nhà bên cạnh hoặc gần đó có máy hát dĩa phát ra. Trường hợp thứ hai này chiếm đại đa số, nhưng phải chấp nhận người ta hát dĩa nào thì nghe dĩa nấy, có còn hơn không, dù rằng rất thích nghe vọng cổ không thua gì người có máy. Trong số những dĩa hát được phát hành phổ biến rộng rãi thời bấy giờ được thiên hạ mua nhiều, đi đâu cũng nghe hát, người ta phải kể đến dĩa “Hận Tha La” do nghệ sĩ Thành Được và danh ca tân nhạc Thanh Thúy trình bày.


“Giọng ca liêu trai”
            Đây là thời kỳ mà giọng ca của nghệ sĩ Thành Được, Hữu Phước là hai làn hơi ca hái ra tiền, được người đời trọng vọng và các hãng dĩa ân cần mời gọi. Cả hai đứng vào hàng “nghệ sĩ đi xe hơi”, là thành phần rất hiếm hoi chỉ đếm trên đầu ngón tay thôi!
            Song song đó thì bên phía tân nhạc, ca sĩ Thanh Thúy cũng nổi danh không kém, giọng ca Thanh Thúy cũng được thiên hạ tặng là “giọng ca liêu trai”. Chủ hãng dĩa hát là người làm thương mại, có cái nhìn thực tế, đã kết hợp giọng ca Thành Được và Thanh Thúy để cho ra đời dĩa tân cổ giao duyên “Hận Tha La”. Nhờ vậy mà nhạc sĩ Sơn Thảo, người sáng tác bản nhạc, tự dưng có tiền từ trên trời rơi xuống, và soạn giả Viễn Châu cũng kiếm được tiền nhờ hãng dĩa “đặt hàng” viết theo câu chuyện bản nhạc Hận Tha La. Thế nhưng hai ông này chỉ kiếm tiền có một, còn hãng dĩa Hồng Hoa thì họ kiếm tiền nhiều hơn cả chục lần, bởi vì bán hết đợt dĩa này họ lại cho in ra đợt khác vì dĩa bán quá chạy. Nói tóm lại là hãng dĩa kiếm tiền nhiều hơn gấp bội vậy.
            Nghe nói thời đó hãng dĩa phải chi tiền khá nhiều thì mới thu thanh được tiếng hát của Thành Được và Thanh Thúy, bởi hai giọng ca tân nhạc và cổ nhạc nói trên được coi như giới mộ điệu ưa thích nhứt vào thời những năm đầu thập niên 1960 này.
            Thanh Thúy thì người ta không biết rõ hãng dĩa đãi ngộ bao nhiêu, bởi vấn đề này hãng dĩa và ca sĩ không bao giờ tiết lộ. Còn riêng Thành Được thì người ta dù không biết rõ con số, nhưng đoán chừng là mỗi lần thu thanh vô dĩa hát, nếu không xài phí thì nghệ sĩ có thể sống cả tháng.
            Thế nhưng, đối với Thành Được lúc bấy giờ thì xài vài ngày là hết, hoặc chỉ một ngày hôm ấy là tiêu hết rồi. Như vậy thì bảo sao nghệ sĩ tên tuổi phần lớn đã không mang nợ tứ giăng! Thành Được nổi tiếng “chơi xe hơi”, vào tháng 2, 1975 tình hình chiến sự chưa thấy gì nặng nề, nên đoàn cải lương Việt Nam của kép Minh Vương đi lưu diễn miền Trung (có Thanh Nga tăng cường) và tỉnh nào cũng khả quan về tài chánh. Cũng thời điểm đó, đoàn Tiếng Hát Dân Tộc được nhóm người chuyên khai thác văn nghệ ở miền Trung, mua giàn 12 đêm để diễn qua các nơi: Qui Nhơn, Đà Nẵng, Huế… Đào kép ai nấy có vẻ lên tinh thần, vì mỗi người đều được giám đốc đoàn cho mượn trước chút ít. Riêng Thành Được, Mộng Tuyền vì chủ giàn mời tăng cường nên cũng được ứng trước vài chục xấp.
            Thành Được là dân chơi xe hơi có tiếng, nhưng mấy năm qua hát xướng ế ẩm, nên xe cộ gì cũng bay hết, và dịp này thì có một người đẹp cho mượn xe nên anh tự lái đi hát miền Trung. Tất cả đều ra đến Qui Nhơn đúng với chương trình dự định của chủ giàn. Hát tại Qui Nhơn xong, đoàn dọn ra Đà Nẵng, kế đến là Huế. Lượt về đoàn sẽ ghé Quảng Ngãi, nhưng xe chở đào kép vừa qua khỏi đèo Hải Vân đã phải dừng lại vì lửa đạn đã nổ rền, hỏa tiễn nổ chát chúa bên tai, mạnh ai nấy chạy tìm chỗ nấp.
            Chiến sự miền Trung bắt đầu sôi động, đường sá mất an ninh, quốc lộ I bị cắt đứt nhiều nơi đâu có xe nào dám chạy. Bên đoàn Việt Nam thì Thanh Nga và ông Đổng Lân đi máy bay về Sài Gòn an toàn. Lẽ ra thì Thành Được đã về Sài Gòn cùng một lượt với Hoàng Long, nhưng anh này còn kẹt cái chiếc xe hơi của người đẹp nên phải ở lại tử thủ. Chiếc xe hơi lúc này là một gánh nặng, giờ đây chỉ lo cho tánh mạng mà thôi, và Thành Được đã gởi xe lại cho người nào đó ở Qui Nhơn. Nhưng rồi Qui Nhơn cũng di tản, mọi người đều lo chạy hết nên có ai đâu giữ xe cho anh, coi như bỏ xe hơi chạy lấy người vậy.
            Người ta không rõ Thành Được về Sài Gòn bằng cách nào, cũng không biết tình trạng chiếc xe hơi mượn của người đẹp ra sao khi chiến sự tới Qui Nhơn. Nhưng đây có lẽ là lần đi xe hơi riêng cuối cùng của Thành Được ở trong nước, bởi hai tháng sau là 30 tháng 4, 1975 đâu có đào kép nào lái xe riêng đi hát như thời kỳ vàng son của cải lương trước đó.
            Và bây giờ mời quí vị theo dõi trong phần âm thanh bài tân cổ giao duyên “Hận Tha La” với tiếng hát Thành Được và danh ca tân nhạc Thanh Thúy.


NGÀNH MAI
Tháng 03/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0311-nm-03112016210437.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #218 vào: 04/05/2019, 21:52:48 »
Khán giả cải lương thích coi phim Việt Nam

Nếu như nói rằng khán giả cải lương không thích xem hát bóng, và ngược lại khán giả xi nê không thích vào rạp coi cải lương, thì nhận xét đó có thể đúng hoặc không. Tại sao vậy chớ! Do bởi cái đúng ở đây là đối với khán giả thích coi loại phim Âu Mỹ có phụ đề Việt ngữ. Còn không đúng là đối với khán giả coi phim Việt Nam, và phim ngoại quốc được chuyển âm tiếng Việt.

Kiều Chinh và Hùng Cường trong phim Chiếc Bóng Bên Ðường

Ủng hộ phim Việt Nam
            Trong quá khứ, thời thập niên 1950 khán giả cải lương là thành phần ủng hộ phim Việt Nam nhiều nhứt, phim “lô canh” rẻ tiền thì lại thu tiền nhiều nhờ dạng khán giả này. Chỉ có phim Âu Mỹ nói tiếng ngoại quốc là không bán vé được ở dạng khán giả trên, chớ như phim Nhựt, Phi Luật Tân, Ấn Độ có chuyển âm tiếng Việt thì vẫn đông đảo khán giả cải lương mua vé vào xem.
            Ngược giòng thời gian trở về những năm đầu thập niên 1950 thì ai cũng nhìn nhận phim “Kiếp Hoa” chiếu ở rạp Thanh Bình, khán giả bình dân đi coi quá đông, không xuất hát nào còn ghế trống. Phim mang đi các tỉnh miền Tây từ Mỹ Tho đến Cần Thơ, Long Xuyên, Rạch Giá ở đâu cũng luôn treo bảng “hết vé”. Theo lời ông Bầu Long thì phim “Kiếp Hoa” lời trên 10 triệu tiền Đông Dương, chính nhờ tiền lời của phim “Kiếp Hoa” mà về sau ông nuôi được các gánh Kim Chung.
            Đến năm 1956 nghệ sĩ Năm Châu hợp tác với hãng Mỹ Vân cho ra đời cuốn phim “Quan Âm Thị Kính”. Thời đó ai đi coi phim cũng đều nhận thấy rất nhiều chị đàn bà ẵm con đứng đầy trước rạp chờ mua vé, nhiều bà già tay xách giỏ trầu cũng theo dòng người lũ lượt vào rạp. Các chị, các cô buôn bán trong chợ cũng thu xếp công việc sớm để đi coi phim. Những thành phần này là khán giả cải lương đó! Họ chẳng bao giờ đến rạp Eden hay rạp Casino Sài Gòn để coi phim Tây, phim Mỹ.
            Chúng ta thử hình dung lại những phim “lô canh” của nước nhà được khán giả cải lương đi coi đông đảo, mà tiếc cho thời kỳ vàng son của phim Việt, đồng thời tiếc cho những người làm phim, khai thác điện ảnh thời đó, đã không “thừa thắng xông lên” mà để cho ngày một yếu dần.
            Ngoài phim “Kiếp Hoa” và “Quan Âm Thị Kính”, trước hết phải nói đến phim “Vì Đâu Nên Nỗi” của hãng Mỹ Phương, phóng tác theo tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh. Phim được thực hiện tại Pháp, kỹ thuật cũng của Pháp, được quay cùng thời kỳ với phim “Kiếp Hoa” nhưng phát hành sau khá lâu. Phim thu hái rực rỡ về tài chánh, bởi lúc ấy thuế điện ảnh không cao, và rạp cũng thuê mướn dễ dàng theo tỷ lệ chia chác phải chăng. Nhờ tiền lời của phim “Vì Đâu Nên Nỗi” mà về sau hãng Mỹ Phương thực hiện được nhiều phim khác, trong đó có phim “Tiếng Súng Đêm Mưa” phóng tác theo tiểu thuyết võ hiệp của nhà văn Phú Đức.
            Thấy sự thành công của phim Việt lúc đó, dù là kỹ thuật kém cỏi vẫn hốt bạc, nên giới người Tàu ở Chợ Lớn chen vào bỏ tiền ra quay phim, họ làm cho lấy có những chuyện cổ tích Việt Nam như: Thạch Sanh Lý Thông, Chàng Nhái Kiển Tiên, Ngọc Cam Ngọc Khổ, Trương Chi Mỵ Nương tung ra thị trường đãi ngộ giới bình dân và kiếm lời mau chóng. Sự thể khiến cho những tay sản xuất cũ của ta cũng nổi máu anh hùng, cũng làm mau, làm nhiều như họ, trong số phải kể đến hãng Mai Kha với phim “Bè Thị Hương”; hãng Mỹ Vân với phim “Người Đẹp Bình Dương”; hãng Alpha Film với “Dẹp Loạn Miền Tây” đưa cả hình ảnh những Năm Lửa, Ba Cụt lên màn ảnh.
            Hãng Mỹ Phương sau khi cố gắng với phim “Tiếng Súng Đêm Mưa” lại rơi xuống lối làm phim dễ dãi, đã thực hiện những “Huyền Trân Công Chúa” rồi đến “Phụng Nghi Đình” và “Quan Âm Diệu Thiện”. Thật đáng chán cho phim Việt lúc ấy, và đó là nguyên nhân phim Việt làm mất khán giả, giới bình dân không còn muốn đi coi chiếu bóng.
            Thực trạng này có lần đạo diễn Bùi Sơn Duân đã nói rằng: “Giới làm phim đã phụ lòng khán giả, chớ khán giả thì luôn ủng hộ phim Việt Nam”. Thời gian khá lâu không thấy một phim Việt nào được trình chiếu, và các hãng thì xoay sang chuyển âm phim ngoại quốc rẻ tiền ra tiếng Việt để sống, chắc ăn hơn là làm phim vậy.


Nghệ sĩ Mộng Tuyền

Đào kép cải lương đóng phim
            Mãi cho đến năm 1969 phim Việt Nam sống trở lại, vùng lên mạnh mẽ, và thời này đa số khán giả coi phim cũng vẫn là khán giả cải lương. Do bởi tài tử đóng phim là đào kép cải lương như Thanh Nga, Thanh Tú, Hùng Cường, Bạch Tuyết, Mộng Tuyền… Thực trạng trên đã gây bất mãn cho một số tài tử điện ảnh chuyên nghiệp, và trong lúc cuốn phim còn đang quay thì họ tung tin rằng đào kép cải lương đóng phim “rất ư là cải lương”, hoặc loan truyền rằng ai đó cho biết cải lương bị chết đứng rồi, giờ đây chạy sang điện ảnh làm sao khá nổi.
            Thẩm Thúy Hằng trong lúc đang quay cuốn phim “Chiều Kỷ Niệm”, kịch bản của Năm Châu và tài tử chánh là kép Thanh Tú, thì có người hỏi ngay rằng:
            – Tại sao lại chọn kép cải lương cho đóng phim mà lại là vai chánh nữa, bộ không sợ mất tiếng hãng phim hay sao?
            Người đẹp Bình Dương trả lời gọn:
            – Lấy tiếng cũng phải lấy tiền chớ!
            Thẩm Thúy Hằng là chủ hãng Việt Nam Film, đã mời kép Thanh Tú đóng cặp với cô trong cuốn phim “Chiều Kỷ Niệm”. Cô còn nói thêm rằng đào kép cải lương tên tuổi đương nhiên họ có một số khán giả, giờ đây họ đóng phim, tức nhiên số khán giả từng ái mộ hộ sẽ mua vé đi coi. Sản xuất phim là làm thương mại rồi, cái tiếng rất cần nhưng tiền cần hơn. Thế là người hỏi đành chịu thua thôi!
            Đào kép bên cải lương ào ạt nhảy vào lãnh vực điện ảnh, thao túng sàn quay, khiến cho một số tài tử bên điện ảnh chịu thất nghiệp, bởi các vai nòng cốt bị cải lương nắm hết. Những người bỏ tiền ra làm phim như Thẩm Thúy Hằng mời Thanh Tú cộng tác, cũng như Cosunam mời Thanh Nga, là họ đã nhắm vào con số khán giả cải lương đông đảo, từng ủng hộ thần tượng của họ.
            Người ta nói làm nghệ thuật điện ảnh không nên lầm lẫn với cải lương, ai mà không đồng ý như vậy chớ, nhưng đâu có ai bỏ tiền ra làm nghệ thuật mà lại chẳng muốn có lợi vào. Lấy tiếng đã đành nhưng cũng phải lấy tiền nữa, vì lẽ đó nên Thẩm Thúy Hằng không thể bỏ qua được Thanh Tú, Phùng Há, Năm Châu, Kim Cúc, dầu những người này lên màn ảnh sự thật như người ta đã xem qua phim “Chiều Kỷ Niệm”. Ấy thế mà phim này Thẩm Thúy Hằng đã lời trên 10 triệu bạc trong vòng tuần lễ đầu trình chiếu tại hai rạp ở Thủ Đô Sài Gòn. Tại sao? Vì phim “lô canh” mà không được khán giả bình dân ủng hộ thì chết đi một cửa tứ. Phim của Thẩm Thúy Hằng mà lời được là do phần lớn khán giả cải lương ào tới xem coi thần tượng sân khấu của họ lên màn ảnh ra sao. Họ chẳng cần biết tên của Huy Cường, của Tony Hiếu là ai cả!
            Và đến Kim Cương cũng thế, quay cuốn phim “Mưa Trong Bình Minh” kỳ nữ đã mời cải lương chi bảo Bạch Tuyết về giao vai chánh, và hãng phim thì lấy tên Kim Cương, như vậy khán giả thoại kịch, cải lương, truyền hình và điện ảnh cùng đi coi phim chớ không hề phân biệt là bên nào, phía nào. Kỳ nữ xuất thân từ cải lương nên biết rõ khán giả của môn nghệ thuật này đông đảo hơn bất cứ môn nào, do đó mà làm ăn khá, tậu khách sạn ở Vĩnh Long, mua xe hơi, biệt thự…
            Nhờ các đào kép cải lương thủ vai trò chánh mà các phim hốt bạc, một cuốn phim chỉ chiếu vài tuần là lời trên cả chục triệu, đó là các phim Chân Trời Tím (với Hùng Cường – Kim Vui), phim Loan Mắt Nhung (với Thanh Nga – Huỳnh Thanh Trà), phim Chiều Kỷ Niệm (với Thanh Tú – Thẩm Thúy Hằng), phim Như Hạt Mưa Sa (với Bạch Tuyết – Trần Quang), phim Biển Động và Mưa Trong Bình Minh (với Kim Cương – Bạch Tuyết – Thanh Thúy). Tóm lại các phim trên, khán giả thuần túy cải lương, họ đã đi coi hát bóng còn nhiều hơn khán giả xi nê “thứ thiệt”.
            Thời này chỉ có phim “Người Tình Không Chân Dung” của Kiều Chinh là chẳng có mấy khán giả cải lương đi coi. Chuyện đó rất dễ hiểu, bởi phim “Người Tình Không Chân Dung”, tài tử đóng phim không có ai là đào kép cải lương. Người ta nói do Kiều Chinh có “mặc cảm” với kép cải lương nên chẳng mời, thành thử ra cuốn phim dù rằng đoạt giải Điện Ảnh ở Đài Loan nhưng bị lỗ vốn, thị trường trong nước không thành công về tài chánh.
            Thẩm Thúy Hằng thành lập hãng Việt Nam Film, còn hãng phim của Kiều Chinh lấy tên Giao Chỉ Film. Việt Nam và Giao Chỉ có khác chi nào? Nhưng cái khác ở đây là Thẩm cô nương có cái nhìn chiến lược của nhà làm thương mại, đã mời đào kép cải lương tham gia. Khán giả cải lương ủng hộ nên Thẩm Thúy Hằng làm giàu, có điều kiện hợp tác với các hãng phim ngoại quốc, làm ăn lớn hơn.
            Còn Kiều Chinh thì không “chơi” với cải lương nên cuốn phim “Người Tình Không Chân Dung”, mất số đông khán giả của bộ môn nghệ thuật này. Nghe nói bị lỗ lã và không thể tiếp tục ra thêm cuốn phim nào nữa. Kiều Chinh đành đi đóng phim cho hãng Trùng Dương của đạo diễn Lưu Bạch Đàn, quay cuốn phim Bão Tình. Trớ trêu thay phim này lại cũng có kép cải lương Hùng Cường vai chánh. Vậy là nàng Kiều chạy trời cũng không khỏi… cải lương vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-010216-nm-12312015120054.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #219 vào: 09/05/2019, 17:23:48 »
Đào Mỹ Châu 11 tuổi đi hát, 15 tuổi mua xe hơi

Thời giữa thập niên 1960 trở về sau, các đoàn Kim Chung có hai cô đào trẻ: Lệ Thủy, Mỹ Châu được khán giả ái mộ, nhứt là khán giả truyền hình, họ đã reo ầm lên khi nghe đài giới thiệu tuồng hát hôm ấy có Lệ Thủy hoặc Mỹ Châu. Bài viết hôm nay chỉ nói về Mỹ Châu, các kỳ sau sẽ đề cập đến Lệ Thủy, bởi vào thời ấy cả hai đều trẻ đẹp, ca hay, diễn giỏi. Thế nhưng, mỗi người một nét nghệ thuật, và hoàn cảnh gia nhập làng cải lương cũng khác xa nhau.

Bìa đĩa hát Cánh Hoa Yêu của Nghệ sĩ Mỹ Châu

“Trẻ đẹp, ca hay, diễn giỏi”
            Người ta từng biết Mỹ Châu quê quán ở Thủ Thừa, Long An, thời đang học bậc tiểu học, 6, 7 tuổi đã tham gia văn nghệ của trường hát tân nhạc. Năm 7, 8 tuổi dự thi ca nhạc thiếu nhi các tỉnh miền Tây tổ chức tại Long An, Mỹ Châu hát bài “Chia Tay Mùa Hoa Phượng” được giải ưu hạng.
            Lúc bấy giờ Mỹ Châu rất ghét vọng cổ, nhưng bị người anh bắt buộc phải học vì biết giọng ca của cô sẽ hay hơn, có thể về sau sẽ thành danh ở lãnh vực cổ nhạc. Do vậy mà Mỹ Châu đã thuộc lòng bài “Cô Bán Đèn Hoa Giấy” và bị đưa đi ca ở các đám cưới, ca ở ban văn nghệ Thủ Thừa.
            Ngày nọ ông bầu Cang đoàn Tiếng Chuông tình cờ vào xem văn nghệ, nghe giọng ca Mỹ Châu, tức thì mấy ngày sau cho người đến nhà mời mọc đầy hứa hẹn. Thế là mới 11 tuổi Mỹ Châu đi gánh hát, đóng vai đào con, và mẹ của cô cũng đi theo chăm sóc cô đào nhí. Kế đó thì Mỹ Châu về đoàn Kim Chưởng, đoàn hát lớn này đang có Út Bạch Lan, Thành Được, nhưng cặp tài danh tách ra thành lập đoàn hát lấy tên hai người trên bảng hiệu, và Mỹ Châu đi theo gia nhập đoàn Út Bạch Lan – Thành Được. Do đào kép rất đông nên cả năm trời nàng chỉ ngâm thơ ở hậu trường, không được bước ra sân khấu.
            Buồn quá, đêm nào Mỹ Châu cũng đứng chắp tay trước bàn thờ tổ, van vái tổ nghiệp cho có một vai để hát. Tổ nghiệp cũng không phụ lòng một người nặng nợ với cải lương, nên bữa nọ soạn giả Quy Sắc ngồi dưới khán giả, nghe giọng ngâm thơ nên vào hậu trường thăm hỏi và ông “đo ni đóng giày” viết vai vua con cho Mỹ Châu trong vở hát “Khi Rừng Mới Sang Thu”. Vở tuồng này, khi đoàn Út Bạch Lan – Thành Được đi lưu diễn tại Huế, vai vua con của Mỹ Châu được tán thưởng hết sức nồng nhiệt, khán giả quăng tiền rào rào lên sân khấu… Và cũng bắt đầu từ đó được báo chí quan tâm và khán giả mới để ý nhiều hơn…


Nữ nghệ sĩ Mỹ Châu. Hình do soạn giả Nguyễn Phương cung cấp

            Tiếp đó Mỹ Châu đi đoàn Thủ Đô hát nửa năm cũng với vai trò đào con chứ chưa lên đào nhì hay đào ba. Nhờ thu dĩa hát, tiếng ca được phát đi trên đài phát thanh Sài Gòn. Thế là ông Phạm Thọ Minh người của Kim Chung tìm đến nói chuyện với bà mẹ của Mỹ Châu mời ký công tra bốn trăm ngàn đồng, và tiền lương mười sáu ngàn năm trăm đồng một tháng. Mỹ Châu nói: “Với số tiền trên, má con tôi mừng không sao nói hết, má tôi cứ nói đùa giống như đêm ngủ nằm mơ thấy vàng… Nhưng cái mừng lớn hơn đối với má tôi và tôi khi đó là người ta đã chú ý đến tôi, người ta đã xem trọng tài năng của tôi. Lúc đó, tôi đâu có hiểu rằng, một người nghệ sĩ muốn có chỗ đứng vững chắc trên sân khấu thì trước hết phải có một lớp khán giả thương mình. Và má con tôi cũng đâu có ngờ, đàng sau những con số tiền bạc kia còn là sự giành giựt, mua đào bán kép trong giới bầu cải lương. Bởi khi tôi về đoàn Kim Chung 1, thì đào kép chánh của đoàn lúc đó là Kim Chung – Bích Hợp – Hùng Cường… Với những nghệ sĩ nổi danh như vậy thì hỏi còn chỗ trống nào cho một Mỹ Châu bé con? Tôi cảm thấy buồn và thất vọng vô cùng, vì tôi từ vị trí đào nhì sắp được làm đào chánh ở đoàn Thủ Đô, thì nay về Kim Chung 1 tôi chỉ được đóng vai đào con. Vậy là sau bao năm vất vưởng, cay cực, với những trò bán mua, thăng trầm của đồng tiền, tôi từ một vai đào con lại trở về với vai… đào con”.
            Thật ra thì đối với một nhà kinh doanh nghệ thuật tầm cỡ như ông bầu Long đã có cái nhìn chiến lược, biết chắc giọng ca Mỹ Châu sẽ là cái máy in bạc sau này nên nắm giữ trước, không để bầu gánh khác khai thác. Tóm lại mọi chuyện đều đã có tính toán kỹ càng, chớ đâu ai lại bỏ ra khơi khơi 400 ngàn. (Thời điểm này một lượng vàng y khoảng 10 ngàn) mỗi tháng lại phải trả lương, mà chẳng có vai trò gì hết. Vấn đề gần một năm sau người ta mới thấy: Ông Bầu Long thành lập đoàn Kim Chung 2 cho Mỹ Châu hát chung với Minh Cảnh cũng nổi tiếng ca vọng cổ.
            Với hai giọng ca Minh Cảnh và Mỹ Châu được thu dĩa hát, đài phát thanh thường hát vào buổi trưa, nên đêm nào Kim Chung 2 khán giả cũng đầy rạp, và Bầu Long cứ hốt bạc đều đều. Từ Kim Chung 1 được đưa qua Kim Chung 2 đóng vai đào nhì, hát cùng sân khấu với Minh Cảnh. Khi đó nàng vừa tròn mười lăm tuổi. Ở Kim Chung 2 được nghệ sĩ Minh Cảnh và Diệu Hiền nâng đỡ, chỉ dạy rất nhiều và tên tuổi của Mỹ Châu bắt đầu thực sự được công chúng ái mộ qua những vở tuồng diễn chung với Minh Cảnh. Sau đó lại được các hãng dĩa tới tấp đến mời và nàng bắt đầu nổi tiếng trên mặt dĩa. Dĩa hát lúc bấy giờ đang thịnh hành, được giới mộ điệu ưa chuộng, nên một phần cũng nhờ việc thâu dĩa, Mỹ Châu đã có một chỗ đứng vững vàng trên sân khấu.
            Và Mỹ Châu đã thật sự được đổi đời khi mãn giao kèo, bởi được ký trở lại với số lương cao nhất mà ông Bầu Long trả cho: hợp đồng hai triệu năm trăm ngàn đồng một năm, và hưởng lương năm ngàn đồng một đêm diễn. Mỹ Châu đã có tiền để tìm mua một căn nhà không lớn lắm và đã sắm được một chiếc xe hơi riêng để đi hát…
            Mỹ Châu là ca sĩ đã ca bài tân cổ giao duyên “Nửa Đêm Sầu Hận” của soạn giả Viễn Châu, ông đã cho bản vọng cổ của mình giao duyên cùng bản tân nhạc “Duyên Kiếp” của Lam Phương. Có thể đây là bài tân cô giao duyên đầu tiên, và Mỹ Châu cũng là người đầu tiên hát loại bài ca nầy vậy.
            Mời quí vị tiếp tục theo dõi trong phần âm thanh bài tân cổ giao duyên “Nửa Đêm Sầu Hận” do Mỹ Châu trình bày.


NGÀNH MAI
Tháng 03/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/vnm253-032516-03252016141527.html

 

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #220 vào: 10/05/2019, 18:08:11 »
NỬa Đêm Sầu Hận thu năm 64, trong khi Lệ Thủy thu nhiều bài năm 63 như CHiều Làng Em, Anh Nhớ về Thăm Em thì ai là người ca tân cổ giao duyên đàu tiên hen nhà báo Ngành Mai?
NS Thanh SƠn ca Cô Láng Giềng năm 60 nữa kìa, hihi
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #221 vào: 14/05/2019, 10:31:53 »
Vở hát “Cạnh Biên Cương” 1951 và rạp Thuận Thành-Đa Kao

Theo như tờ programme lưu trữ trong thư tịch đờn ca tài tử và cải lương, thì vở hát “Cạnh Biên Cương” (không thấy đề tên soạn giả) được đoàn ca kịch Phát Thanh trình diễn mở màn lúc 8 giờ 30 phút tối Thứ Bảy, 14 Tháng Bảy, 1951, tại rạp Thuận Thành, Đa Kao, Sài Gòn.

Tờ programme của đoàn Phát Thanh
giới thiệu tuồng chiến tranh “Cạnh Biên Cương” năm 1951

TÌNH TIẾT CÂU CHUYỆN lồng trong bối cảnh cuộc chiến tranh Trung Hoa-Nhật Bổn, lúc quân đội Nhật đem ba sư đoàn hải, lục, không quân đổ bộ vào miền Bắc nước Tàu.
            Nhân vật nam chính là Diệp Hán Minh, sĩ quan cao cấp quân đội Trung Hoa, và nhân vật nữ chính là Huyền Châu Ánh Nữ, nữ cứu thương Sư Đoàn 307 Nhật (vai nữ chính do cô đào Nguyệt Yến đảm trách).
            Trong cuộc họp quan trọng của Bộ Tham Mưu quân đội viễn chinh, Huyền Châu Ánh Nữ tình nguyện sang Tàu làm gián điệp lấy cho được bản đồ căn cứ địch quân. Trước sắc đẹp yêu kiều và sự khôn ngoan của cô gái đất Phù Tang, viên sĩ quan tư lệnh Tàu sa vào “mê hồn trận” mà không hay. Diệp Hán Minh chính thức thành hôn với Huyền Châu Ánh Nữ, ăn ở nhau sinh đặng một gái.
            Khi đã hoàn thành nhiệm vụ (lấy được bức địa đồ) vì tiếng gọi thiêng liêng, nàng đã bỏ chồng bỏ con về nước, đem thắng lợi về cho tổ quốc. Hơn mười năm sau quân đội Thiên Hoàng kiểm soát gần hết nước Tàu.
            Tóm lại vở hát “Cạnh Biên Cương” gay cấn, éo le, khán giả ngậm ngùi trước cảnh cô gái Nhật quyến luyến đứa con thơ, rồi cũng đành gạt lệ xa rời cất bước ra đi. Rồi lại thêm cảnh viên đại tá Nhật đang say men chiến thắng, lại say men tình với một cô gái hương sắc Trung Hoa, để sau đó căn cứ đóng quân bị tấn công bất ngờ, lực lượng viễn chinh tại Hoa Nam bị tan rã.
            Đây là vở hát được thiên hạ thời bấy giờ đánh giá là “tuồng hay”, đạt sự thành công lớn tại rạp Thuận Thành, Đa Kao, và dĩ nhiên tiền vô đầy hầu bao cho bầu gánh. Không riêng gì đoàn Phát Thanh, mà gánh hát nào dọn đến rạp Thuận Thành ở thời điểm này phần lớn là thành công. Bởi vì hầu như hằng đêm khán giả đều đầy rạp, kể cả những đêm mưa gió người đi coi hát lại càng nhiều hơn. Do vậy mà đoàn này vừa dọn đi thì gánh khác lại dọn đến ngay, không đêm nào rạp bỏ trống. Cũng có nghĩa chủ nhân rạp Thuận Thành ngày càng làm giàu thêm. Trong khi đó thì các rạp khác ở đô thành thời này lại ít có gánh hát dọn đến, phải chiếu phim cầm chừng. Vậy do đâu rạp Thuận Thành lại có được sự tốt đẹp đó?
            Tìm hiểu vấn đề chúng tôi được người am tường giải thích một cách khoa học, dựa trên thực tế, rằng rạp Thuận Thành được nhiều khán giả đi coi, nhờ ba yếu tố: “Thiên thời, địa lợi, nhân hòa”. Rạp tọa lạc tại Đa Kao, còn gọi là Đất Hộ, mặt trước là đường Paulbert (về sau đổi tên Trần Quang Khải). Mặt sau là con sông Cầu Bông chảy ra sông Sài Gòn.
            Thời kỳ đầu thập niên 1950 đất nước đang trong tình trạng chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh. Tuy rằng ở Sài Gòn rất yên ổn, nhưng con đường từ Long Thành đi Bà Rịa, Vũng Tàu, Long Hải bị cắt đứt hoàn toàn, người dân ở Bà Rịa, Long Hải, Long Điền muốn đi Sài Gòn phải dùng tàu ghe chạy dọc theo mé biển, đến cửa biển Cần Giờ thì rẽ vào sông Sài Gòn.
            Nông sản, cá tôm, muối cũng đi bằng con đường thủy này, và đậu tại bến sông Cầu Bông, phía sau rạp Thuận Thành. Lái buôn khi bán xong nông sản cá tôm và mọi thứ hàng hóa, đến chiều tối thì hội tụ tập trung tại khu vực Đa Kao chờ ghe tàu. Thời gian chờ đợi này họ thường mua vé đi coi hát, sau khi vãn hát cũng là lúc ghe tàu chuẩn bị về Bà Rịa.
            Rạp Thuận Thành tiếp đón khán giả ở Bà Rịa, Long Điền, Long Hải khá đông. Ngoài ra còn số khán giả vùng Tân Định, Phú Nhuận, Bà Chiểu cũng thường đi coi hát ở rạp Thuận Thành, bởi chẳng xa nhà bao nhiêu, đi bộ cũng tới nơi.
            Đến năm 1953 rạp Thuận Thành không còn được ưu điểm kia nữa, do con đường Sài Gòn đi Bà Rịa, Vũng Tàu đã được lực lượng quân đội Bình Xuyên giải tỏa khai thông, và đồn bót mọc lên bảo vệ quốc lộ 15. Giờ đây thì xe đò, xe hàng vận chuyển hàng hóa đi lại dễ dàng, trong đó có hãng xe đò Nghĩa Hiệp của Bảy Viễn.


NGÀNH MAI
Tháng 01/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/vo-hat-canh-bien-cuong-1951-va-rap-thuan-thanh-da-kao/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #222 vào: 18/05/2019, 17:28:11 »
Bích Sơn, nữ nghệ sĩ miền Bắc, trưởng thành trên sân khấu miền Nam

Có tên trong danh sách tuyển chọn nghệ sĩ triển vọng giải Thanh Tâm 1959, Bích Sơn từng thua nữ nghệ sĩ Lan Chi, đào chánh của đoàn Phước Chung trong đường tơ kẽ tóc. Như buồn phiền vì số chẳng may, nữ nghệ sĩ khả ái Bích Sơn bắt chước Kim Cương tạm từ giã giới cải lương ra làm bà bầu tân nhạc. Đây là một bà bầu trẻ đẹp nhất trong làng tân nhạc thời ấy vậy.

Nữ nghệ sĩ Bích Sơn đóng vai Phương Thành
trong tuồng Áo Cưới Trước Cổng Chùa

Hoàn cảnh đưa nàng kiều vào ngõ bí
            Sang năm sau giải Thanh Tâm 1960 Bích Sơn cùng với Ngọc Giàu vinh dự chiếm giải, coi như đạt được ý nguyện. Đáng lẽ sau khi lãnh huy chương vàng, Bích Sơn còn sáng chói hơn, nhưng vì hoàn cảnh thế nào đó mà đã đưa nàng kiều vào ngõ bí. Bởi khi lãnh giải Thanh Tâm 1960 rồi thì Bích Sơn không tiếp tục lên sân khấu, mà suốt thời gian dài bốn, năm năm hầu như chẳng thấy hát xướng gì hết. Có chăng là chỉ thỉnh thoảng lên đài truyền hình trong chương trình Bích Thuận (dì của nàng).
            Bích Sơn tên thật là Trần Bích Sơn – còn có tên riêng Vĩnh San hay Dung, sanh năm 1939 tại Hà Nội. Cuối năm 1952, nữ nghệ sĩ Bích Thuận đi hát trong Nam đã đem theo hai cháu gái là Bích Sơn và Bích Thủy. Lúc đó Bích Sơn còn là cô gái thơ ngây tóc xõa bờ vai.
            Vào đến Hòn Ngọc Viễn Đông, Bích Sơn được gửi gắm vào trường Saint Marie Tân Định. Sau ba năm học trường đạo, nhờ sẵn có khiếu về tân nhạc, Bích Sơn được nữ nghệ sĩ Bích Thuận tập ca hát. Năm 1955, Bích Sơn gia nhập Ban Xuân Thu của nhạc sĩ Lê Thương, và cuối năm này, nữ nghệ sĩ Bích Thuận thành lập đoàn Bích Thuận, thì Bích Sơn về hát cho gánh nhà, và đây là bước đầu dọ dẫm, nàng chỉ đóng vai nàng tiên nữ phụ Thùy Vân.
            Trong thời gian này cô bé Bích Sơn chỉ được chú ý qua giọng ngâm thơ trong trẻo và cốt cách kiều mị còn bị che phủ trong dáng điệu e dè. Lúc bấy giờ thi sĩ Kiên Giang là soạn giả, cũng đồng thời là ký giả kịch trường. Kiên Giang về cộng tác đoàn Bích Thuận, chàng ta đã mê mệt nàng Bích Sơn.
            Năm 1957 khán giả bắt đầu chú ý Bích Sơn qua hình ảnh công chúa Phù Tang trong vở “Khi Hoa Anh Đào Nở” của Hà Triều Hoa Phượng trên sân khấu Thúy Nga.
            Đầu năm 1958, Bích Sơn được giới thiệu với ban giám đốc để thành lập kịch đoàn Bích Sơn – Ngọc An. Trên sân khấu Bích Sơn được khán giả Đà Lạt tưởng thưởng qua vai sơn nữ Phà Ca trong vở “Bao Giờ Mùa Sim Chín” (người vợ không bao giờ cưới) của Kiên Giang – Phúc Quyên.
            Cũng năm này Bích Sơn được đại nhạc hội Giao Duyên giới thiệu lần đầu bài thơ “Hoa Trắng Thôi Cái Trên Áo Tím” qua giọng ngâm u buồn như tiếng chuông giáo đường. Bích Sơn đã thu hút được nghệ cảm của sức học sinh trí thức. Trên sân khấu Thủ Đô, cũng như dưới ánh đèn của các dạ hội qua các tỉnh miền Trung, Bích Sơn đã gieo sâu vào tâm khảm thính giả dư âm của một nghệ cảm thâm trầm.
            Lúc đoàn diễn tại Cần Thơ, cũng là lúc Kiên Giang viết vở tuồng Ngưu Lang Chức Nữ, cho Bích Sơn thay thế cô Bích Thuận đóng vai nàng tiên xuống trần tắm suối bỏ quên cặp cánh không về Bồng Lai tiên cảnh được, rồi ở lại lấy chồng luôn. Qua vai nầy Bích Sơn đã bước một bước tiến dài từ vai phụ đến vai chánh.
            Trở về Sài Gòn, thi sĩ Kiên Giang viết bài đăng trên tờ Tiếng Chuông kịch trường, hết lời ca tụng nàng Bích Sơn. Thấy Bích Sơn duyên dáng, thanh tao đẹp như tiên… thật, thi sĩ Kiên Giang bèn tự viết báo ca tụng nàng là “kiều nữ”. Hình ảnh kiều nữ đã hiện lên hầu hết ý thơ của Kiên Giang, và đã trở nên một giai thoại trong làng sân khấu.


Nữ nghệ sĩ Bích Sơn (bìa phải) tại Lễ nhận giải Thanh Tâm

Nhờ rèn luyện kỹ thuật ca vọng cổ
            Trên giai phẩm giải Thanh Tâm 1960 Kiên Giang đã đưa Bích Sơn lên tuyệt đỉnh trong cuộc đời làm nghệ thuật. Chúng tôi xin trích vài đoạn như sau:
             “… Năm 1959, khán giả thủ đô được dịp thưởng thức tài nghệ Bích Sơn qua vai Phương Thành trong soạn phẩm cổ tích “Áo Cưới Trước Cổng Chùa”. Nghệ thuật diễn xuất của Bích Sơn được khơi dậy đến cao độ từ vai trò ấy.
            Tài nghệ được kết tạo qua nhiều sân khấu để rồi nở chín trên sân khấu Thanh Minh, Bích Sơn nghiễm nhiên trở thành một nữ diễn viên gần như một kịch sĩ gần đủ hai yếu tố cần thiết: diễn và ca ngâm.
            Với suối tóc dài cốt cách cân đối, gương mặt sáng, đôi mắt mơ huyền, giọng ngâm thơ thánh thót đi sâu vào tâm cảm người nghe, Bích Sơn có đủ điều kiều mang mỹ danh kiều nữ. Nhất là với chiếc áo cài hoa trắng và suối tóc huyền, Bích Sơn được xem là kiều nữ áo tím trên sân khấu cũng như ngoài đời.
            Với phong thái của một kiều nữ, Bích Sơn đủ điều kiện đóng các vai chánh trong loại tuồng đường rừng, hương xa cũng như xã hội. Đặc biệt trong loại tuồng hương xa (Nhựt Bổn) Bích Sơn thể hiện trung thực nhứt hình ảnh cô gái Phù Tang, Bích Sơn càng trở nên huyền ảo, trong các vai sơn nữ. Người ta có thể nhận thấy Bích Sơn yếu kém về phương diện ca vọng cổ, nhược điểm ấy có thể được đền bù khỏa lấp chăng?
            Bích Sơn là người sinh ở đất Bắc, tất nhiên giọng nói cũng ảnh hưởng ở âm điệu của thổ ngữ miền Bắc. Như thế, Bích Sơn làm sao ca vọng cổ bằng Út Bạch Lan, Thanh Nga, Thanh Hương… Nhưng với quyết tâm học nói giọng Nam, rèn luyện kỹ thuật ca vọng cổ, Bích Sơn đã tiến bộ đến cao độ trên phương diện ca. Trong vở “Bếp Lửa Chiều Ly Biệt” của Yến Lang và “Bốn Cánh Hoa Đào” của Lê Khanh, Bích Sơn vẫn được báo chí và khán giả khích lệ và khen ngợi ở kỹ thuật ca vọng cổ. Như thế nhược điểm ấy có thể được đền bù bằng giọng ngâm thơ, khả năng ca nhạc mới, và nghệ thuật diễn xuất sống động và trung thực…
            Bích Sơn là một nữ nghệ sĩ Bắc duy nhứt sống gần gũi và tha thiết với các sân khấu ca kịch miền Nam. Trước kia sự dung hợp nghệ sĩ Bắc Nam trên một sân khấu là cả việc khó khăn… Lần đầu tiên Bích Sơn vào sân khấu Thúy Nga với tất cả sự ngỡ ngàng mặc dù chủ nhân, soạn giả và nghệ sĩ miền Nam mở rộng cửa để sẵn đón. Dần dần Bích Sơn từ bóng tối hậu trường xuất hiện giữa tiền trường… tiếp nhận được sự tán thưởng của khán giả miền Nam, ở Lục Tỉnh, ở miền Đông… tự nhiên mặc cảm ấy tiêu tan…
            Bích Sơn càng bước sâu vào sân khấu miền Nam càng tìm thấy hơi ấm và không khí kịch nghệ để trở thành đứa con ruột của sân khấu ca kịch miền Nam. Bích Sơn là gạch nối liền giữa nghệ sĩ Bắc Nam. Bích Sơn hãy cảm tạ nghệ thuật, trước khi nhận lãnh “huy chương vàng 60” của giải Thanh Tâm…”

            Trên đây là lời tán thưởng của Kiên Giang dành cho Bích Sơn đăng trên giai phẩm giải Thanh Tâm 1960. Coi như mỹ danh “kiều nữ” của Bích Sơn là do Kiên Giang đặt trong bài báo ấy và mang danh luôn cho tới bây giờ.
            Thế nhưng, kiều nữ là người theo đạo Thiên Chúa, còn thi sĩ thì không, vậy mà chàng đã thành khẩn đề thơ: “Lạy Chúa, con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên trời”. Nhưng rồi kiều nữ đã không đáp lại tình của chàng ta. Dù không đi đến đâu hết (kiều nữ Bích Sơn có chồng là sĩ quan quân cụ) nhưng cái mỹ danh “kiều nữ” của Bích Sơn coi như do thi sĩ Kiên Giang mà có. Cũng tội cho thi sĩ nhà ta vậy!
            Thời ấy những người rõ biết sự thể đã nói rằng, nếu như kiều nữ chưa có chồng, chắc là còn cả “lố” bài thơ ca tụng người đẹp. Là cô đào được kể là đẹp với mái tóc dài tới nhượng chân. Sau 1975 chồng của Bích Sơn đi học tập cải tạo và Bích Sơn thì đi Pháp theo diện nào đó. Về sau họ đoàn tụ với nhau và sang định cư Hoa Kỳ.
            Khoảng 1992 tôi, người viết bài này có gặp Bích Sơn một lần tại trụ sở Hội Tù Nhân Chính Trị của ông Nguyễn Hậu ở miền Nam California. Nhưng rồi không thấy kiều nữ tham gia văn nghệ như những nghệ sĩ khác. Bẵng đi một thời gian khá lâu, đến năm 2001 nữ nghệ sĩ Kiều Mỹ Loan trao cho tôi số điện thoại của Bích Sơn. Lúc ấy, tôi với tư cách Hội trưởng Hội Cổ Nhạc Miền Nam Việt Nam Hải Ngoại kiêm nhiệm trưởng ban tổ chức giải Phụng Hoàng, tôi mời Bích Sơn tham gia ban giám khảo, nhưng kiều nữ từ chối. Lúc ấy nhạc sĩ Nguyễn Hiền, cố vấn của hội nói rằng giờ đây Bích Sơn đã ngoài 60 rồi, không còn là kiều nữ nữa mà đã là “già nữ” nên cô không muốn xuất hiện chăng? Cũng có thể lắm, kiều nữ muốn giữ hình ảnh đẹp của mình trong lòng khán giả vậy.


NGÀNH MAI
Tháng 04/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-040216-nm-03312016233353.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #223 vào: 23/05/2019, 13:24:54 »
Nữ nghệ sĩ Ánh Hồng chiếm giải Thanh Tâm 1962

Ban tuyển chọn giải Thanh Tâm 1962 đã quyết định chọn hai cô đào trẻ của đoàn Kim Chưởng trao giải triển vọng. Đào Ngọc Hương thì chiếm giải nhờ hát vở tuồng Ảo Ảnh Châu Bích Lệ, và đào Ánh Hồng thì nhờ vở tuồng Nhặt Lá Rừng Thu, cả hai vở hát đều là của soạn giả Thu An đang là giám đốc kỹ thuật cho đoàn Kim Chưởng. Năm đó Ánh Hồng 17 tuổi và Ngọc Hương 20.

Hình nữ nghệ sĩ Ánh Hồng
trên bìa tuần báo Phụ Nữ Diễn Ðàn năm 1964

Ánh Hồng với vở tuồng Nhặt Lá Rừng Thu
            Đào Ánh Hồng tên thật là Lê Thị Kim Hồng sanh năm 1945 ở tận miền Cà Mau, vốn sinh trưởng trong một gia đình nghệ sĩ, thân phụ Ánh Hồng là ông Bảy Vinh, một cây đờn tranh nổi tiếng trong giới cổ nhạc. Khoảng 1960 lúc đoàn “Ngọc Kiều Mới” ra đời, khán giả đã phải chú ý đến một đóa hoa đầy hương sắc đang nở dưới ánh đèn sân khấu.
            Là nữ sinh Gia Long, nhưng học hết lớp đệ ngũ thì Ánh Hồng chính thức bước chân vào cuộc đời nghệ sĩ. Xuất thân trên sân khấu “Ngọc Kiều Mới”, nhưng nổi bật khi qua sân khấu Thúy Nga. Ánh Hồng đã tiến những bước vững vàng qua đoàn “Hoa Sen” khi đoàn nầy cần một vai đào trẻ thay thế Diệu Hiền.
            Thế nhưng, khi nhận giải rồi thì Ánh Hồng rời đoàn Kim Chưởng, sang cộng tác với đoàn Kim Chung. Thời gian sau thì lại nghỉ hát đoàn này, mà không thấy hát ở đâu hết. Ánh Hồng đã có chồng nên nghỉ hát chăng? Khán giả thắc mắc nhiều, có người hỏi người chồng lý tưởng của Ánh Hồng, thì cô thì cô nói mình thích lựa một người chồng ngoài giới nghệ sĩ, và nàng đã lựa được người ấy. Chàng là một quân nhân có ba bông mai vàng nở trên vai áo. Đó là những đóa hoa hạnh phúc đến với Ánh Hồng. Tình yêu và sự nghiệp đều hoàn toàn, Ánh Hồng quả là một thiếu nữ được Thượng Đế trọng đãi vậy.
            Người ta tưởng đâu nghề nghiệp ca hát của Ánh Hồng dừng lại tại đây. Không ngờ đến khoảng 1970 thì Ánh Hồng có mặt trong đoàn văn nghệ Trường Quốc Gia Âm Nhạc và Kịch Nghệ đi trình diễn nhiều nước: Anh, Pháp, Thụy Sĩ, Đức, Bỉ, Thái Lan, Nhựt Bổn, Hồng Kông. Sau đó thì Ánh Hồng lặng lẽ rời sân khấu, không biết đi đâu.
            Chia tay với ông nhà binh ba bông mai lúc nào không biết, nhưng sau 1975 Ánh Hồng về đoàn Tây Ninh và thành bạn đời với nghệ sĩ Hữu Lộc (trưởng đoàn). Cộng tác với đoàn Tây Ninh đến những 13 năm thì Ánh Hồng, Hữu Lộc về đoàn cải lương tỉnh Long An thời gian gần 10 năm.


Nghệ sĩ Ánh Hồng và huy chương vàng giải Thanh Tâm 1962

            Ánh Hồng có khả năng đảm nhiệm nhiều vai trò khác nhau, nhưng các loại tuồng nàng thích nhứt là Dã sử Việt Nam và La Mã. Sở trường của Ánh Hồng là các vai “đào lẳng, mùi”. Từ Tây Ninh đến Long An suốt hơn hai thập niên hoạt động xa Sài Gòn, kế tiếp Ánh Hồng lại về đoàn Trà Vinh trông coi nghệ thuật của đoàn này. Giờ đây nàng luôn quan tâm đến lớp diễn viên trẻ của đoàn và sẵn sàng truyền lại các ngón nghề và những hiểu biết của mình để các em nắm bắt, học hỏi. Nàng luôn chuyển vai trò “phụ” của mình trong một vở diễn, thoát khỏi hiệu quả phụ, đưa hình tượng nhân vật trở thành gần gũi và đáng nhớ không kém các nhân vật quan trọng? Và đòi hỏi gì hơn khi mà với tư cách là một diễn viên, nàng không chỉ băn khoăn về vai diễn mà còn trăn trở nhiều về những điều kiện bảo đảm cho sự phát triển của sân khấu.
            Thời gian và công việc một nghệ sĩ ở tỉnh luôn trông chờ là lên đường lưu diễn, phục vụ khán giả vùng sâu ở nông thôn. Theo Ánh Hồng đó là những giây phút thiêng liêng và hạnh phúc nhất của người nghệ sĩ sân khấu. Bởi ở đó mình có được niềm vui nghề nghiệp bên cạnh đồng nghiệp và khán giả. Chính vì thế nàng đã vượt qua bao cực nhọc, vất vả và có khi bệnh nặng cũng vẫn đến với sân khấu để cùng đồng nghiệp mang niềm vui cho bà con khán giả khắp nơi. Đồng nghiệp có người cứ tưởng Ánh Hồng “tha phương” chỉ vì “cầu thực”.
            Đoàn Ánh Hồng thường xuyên đi biểu diễn ở nông thôn để phục vụ bà con, khán giả vùng sâu. Dù trong hoàn cảnh nào, đoàn vẫn giữ được lịch diễn thường xuyên và đã đặt chân đến hầu hết các địa danh, kể cả những nơi xa xôi, hẻo lánh nhứt của tỉnh Trà Vinh, với những đêm diễn ngoài trời, trên những sân khấu dựng tạm. Anh chị em dù trong những đêm mưa với mức doanh thu thấp nhứt, vẫn không ngừng tiếng ca, tiếng hát.
            Ánh Hồng có một sở thích khác lạ là ưa xem đá banh, có thể nói là say mê xem môn thể thao nầy. Một kỷ niệm vui trong đời học sinh mà Ánh Hồng còn nhớ là khi đoàn cầu Pérou qua Sài Gòn. Lúc ấy Ánh Hồng còn đang theo học trường Gia Long. Nàng đã “cúp cua” trốn đi xem đá banh để hôm sau vào lớp lãnh phạt! Khi xem, thấy cầu thủ nhà bị chèn ép trái luật thể thao, Ánh Hồng đã hăng hái đứng lên gào to những lời phản đối đoàn cầu khách. Lẽ dĩ nhiên “người đẹp nổi giận” thì khán giả chung quanh hưởng ứng ghê lắm. Có một lần Ánh Hồng say mê theo dõi cuộc tranh giải Túc Cầu Á Châu qua máy truyền thanh đến nỗi trễ cả giờ làm tuồng.
            Bây giờ mời quý vị tiếp tục theo dõi trong phần âm thanh Vở vọng cổ Hằng Nga – Hậu Nghệ của Viễn Châu. Ánh Hồng – Thanh Hải trình bày.


NGÀNH MAI
Tháng 04/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-040916-nm-04092016073646.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #224 vào: 28/05/2019, 18:20:22 »
Bài vọng cổ “Nắm Xương Tàn” do Hữu Phước ca dây đờn Ngân Giang

Khoảng giữa năm 1959 chương trình cổ nhạc Nam Phần của đài phát thanh Sài Gòn vào buổi trưa, đã cho phát thanh dĩa vọng cổ 6 câu “Nắm Xương Tàn” do nghệ sĩ Hữu Phước ca. Và cũng do thính giả yêu cầu nhiều nên cứ cách một tuần thì đài cho phát trở lại. Lúc bấy giờ phần lớn thính giả đón nghe chương trình này đã lấy làm lạ, rằng nhạc sĩ nào đờn cho Hữu Phước ca mà nghe rất lạ tai, không giống như bao nhiêu tiếng đờn từ trước đến giờ.

Ns Hữu Phước và Ns Chí Hiếu trong vở Nát cánh hoa rừng

Không giống những tiếng đờn từ trước đến giờ
            Sau nhiều ngày tìm hiểu thì giới mộ điệu đã biết rằng Hữu Phước ca dây Ngân Giang do nhạc sĩ Tư Còn đờn. Không như dây Rạch Giá xuất phát từ miền Tây, cũng như bản Dạ Cổ Hoài Lang của nhạc sư Sáu Lầu ra đời ở tỉnh Bạc Liêu, nói chung nhiều vấn đề liên quan đến cổ nhạc đã khởi nguồn từ Miền Tây Nam Việt. Thế nhưng, riêng dây Ngân Giang góp phần tô điểm nét độc đáo cho cổ nhạc thì lại xuất phát từ Biên Hòa, một tỉnh thuộc Miền Đông nổi tiếng với đặc sản bưởi ngọt Biên Hòa.
            Theo lời kể của nhạc sĩ Văn Còn quê quán ở Dĩ An, Thủ Dầu Một thì vào năm 1952 thời kỳ chiến tranh loạn lạc, ông và cả xóm cùng đi lánh nạn chiến tranh, mà vào thời đó thiên hạ gọi là đi “chạy giặc”. Từ Dĩ An lên Trảng Bom cư ngụ gần ga Bảo Chánh, Biên Hòa lánh nạn, ông không quên mang theo cây đàn lục huyền cầm, và nhờ đó mà sau này kho tàng cổ nhạc mới có được dây Ngân Giang, mỗi lần nhạc sĩ dạo đờn là như oán như than nghe buồn não nuột.
            Số là trong một buổi tối nọ tại nhà gần ga xe lửa Bảo Chánh, Biên Hòa nhạc sĩ Văn Còn ngồi buồn ôm đàn so dây nắn phím, dây bị lạc, bỗng bất chợt nghe được tiếng đàn rất hay, ông vô tình khám phá ra tiếng đờn lạ, và từ đó bắt đầu hoàn chỉnh chữ đờn và đặt tên là “dây Bảo Chánh” dành riêng cho giọng nam ca bài vọng cổ.
            Dây đờn mới tìm ra này mỗi ngày được hoàn chỉnh hơn, ông đờn cho nhiều ca sĩ tài tử trình bày rất hay, rất mùi và bảy năm sau thì tiếng đờn do dây Bảo Chánh lần đầu tiên được vô dĩa hát: Năm 1959 nhạc sĩ Văn Còn đờn cho Hữu Phước ca bài vọng cổ “Nắm Xương Tàn” của soạn giả Quy Sắc, được thâu thanh vô dĩa hát Hồng Hoa, phát hành cùng khắp.
            Năm 1956, nhạc sĩ Văn Vỹ và nhạc sĩ Bảy Bá đã lên Dĩ An tìm gặp nhạc sĩ Văn Còn trao đổi, đề nghị đổi tên “Bảo Chánh” thành “Ngân Giang”. Vì ông Bảy Bá cho rằng lúc nghe đờn dây Bảo Chánh, ông có cảm giác như lâng lâng bay bổng, âm thanh hòa quyện nhau, bàng bạc như những đám mây, sáng lên tợ dãy Ngân Hà. Ông muốn gọi đó là “dây Ngân Giang”, thay cho tên “dây Bảo Chánh”, vốn chỉ là tên địa phương. Nhạc sĩ Văn Còn nhận thấy dây Bảo Chánh có những nét ngân vang buồn buồn lúc đờn, nên cũng thuận theo ý đó. Thế là “dây Ngân Giang” đã thành danh vĩnh viễn.
            Khi tuổi về chiều, nhạc sĩ Văn Còn lui về quê hương ở Dĩ An, Bình Dương mở lớp dạy đờn tại nhà ở gần ngã ba Cây Điệp, ông sống trong cảnh nghèo nàn túng thiếu chạy gạo từng bữa, lại thêm cơn bịnh suyễn hoành hành, ông qua đời vào năm 2002. Nhạc sĩ Văn Còn ra đi năm 76 tuổi đời mà thời gian ôm đàn của ông ngót hơn 50 năm, để lại cho nền cổ nhạc nước nhà dây Ngân Giang.
            Các thế hệ sau này khi thưởng thức có mấy người biết được xuất xứ, cũng như người nhạc sĩ nào đã tìm ra dây Ngân Giang vậy! Cũng cần nói thêm dây Ngân Giang chỉ có dây kép, không có dây đào, vì vậy mà người nữ phải ca dây lòn.
            Mời quí vị theo dõi tiếp trong phần âm thanh bài vọng cổ “Nắm Xương Tàn” của soạn giả Quy Sắc thu thanh dĩa hát năm 1959 do nghệ sĩ Hữu Phước ca. Vào thời này bài vọng cổ đủ 6 câu.


NGÀNH MAI
Tháng 03/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/vnm250-03042016140108.html