Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănnghệ...  (Đã xem 24584 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #225 vào: 29/05/2019, 18:59:44 »
https://www.youtube.com/watch?v=zNZuVuRLyuc

mời bà con nghe Nắm XƯơng Tàn nhen
 
The following users thanked this post: huhu

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #226 vào: 29/05/2019, 19:01:20 »
năm 72, bà bầu Kim CHưởng có thành lập Hoa Anh Đào Kim CHưởng và mời ÁNh Hồng về đóng chánh cùng ĐỨC Lợi tuồng Lệnh Hồ Xung
 
The following users thanked this post: huhu

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #227 vào: 29/05/2019, 19:02:34 »
năm 85, đoàn Tây Ninh dự hội diễn Người Trong Cõi Nhớ xuất sắc, NS áNh Hồng vai bà ngoại đã mất về trong mơ...Mình chỉ nhớ mang máng vậy á
 
The following users thanked this post: huhu

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #228 vào: 30/05/2019, 09:15:22 »
Làm sao mình tải hình lên đây anh Huhu hay anh Tài ui?
 

Ngủ rồi huhu

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #229 vào: 30/05/2019, 09:43:46 »
Làm sao mình tải hình lên đây anh Huhu hay anh Tài ui?
Cách úp hình vẫn như mọi lần mà ?
 

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #230 vào: 31/05/2019, 18:57:50 »
« Sửa lần cuối: 31/05/2019, 19:00:19 gửi bởi nguoixua »
 
The following users thanked this post: huhu

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #231 vào: 31/05/2019, 19:01:41 »
Cách úp hình vẫn như mọi lần mà ?

dạ, em không còn dùng photobucket, không biết có trang nào up lên không? không biết có đi từ thẳng máy tính lên không?
Em mới search link trên, ok, hihi
 

Ngủ rồi huhu

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #232 vào: 03/06/2019, 14:28:26 »
 author=nguoixua link=topic=26238.msg901488#msg901488 date=1559303834]

 
 Nghệ sĩ trong ảnh hình như là Tấn Tài thì phải ?
« Sửa lần cuối: 03/06/2019, 18:14:53 gửi bởi huhu »
 

Ngủ rồi nguoixua

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #233 vào: 04/06/2019, 03:24:03 »
là Đức Lợi và ÁNh Hồng đóng cho sân khấu Kim CHưởng Hoa Anh Đào năm 72-73 đó anh Huhu
 
The following users thanked this post: huhu

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #234 vào: 06/06/2019, 17:18:42 »

Lương bổng của Thanh Nga ra sao?

Xưa giờ báo chí kịch trường thường hay đề cập đến lương bổng của các đào kép chánh như Út Trà Ôn, Hữu Phước, Thành Được, Út Bạch Lan, Ngọc Giàu, Bạch Tuyết, Lệ Thủy v.v… nhưng không hề nói đến lương bổng của Vương Hậu Thanh Nga, thành thử ra trong suốt thập niên 1960 khán thính giả, độc giả các báo có trang kịch trường đã không thể biết được lương bổng thần tượng của họ ra sao, có xứng đáng với vai trò của người được mệnh danh nữ hoàng nghệ thuật?

Ns Thanh Nga, Ns Phùng Há và Ns Hữu Phước
trong vở Đời cô Lựu (ảnh Huỳnh Công Minh)

Vương Hậu Thanh Nga
            Đây cũng là vấn đề mà thiên hạ muốn tìm hiểu thêm về Thanh Nga, và hôm nay trong buổi nói chuyện này chúng tôi hy vọng giải đáp được nỗi thắc mắc của những ai hằng theo dõi cuộc đời và sự nghiệp nghệ thuật của nữ nghệ sĩ Thanh Nga.
            Trong hoạt động cải lương, thông thường đào kép chánh cộng tác với đoàn hát nào cũng đều được ký giao kèo (hai năm) lấy trên cả triệu, và lương mỗi đêm từ một ngàn trở lên (tùy theo đoàn và tùy theo người). Nếu như hát hết thời gian hai năm thì số tiền giao kèo được cho luôn, có quyền đi hát cho đoàn khác. Còn nếu như ở lại đoàn tiếp tục cộng tác thì ký công tra lấy tiền lần nữa, mà đôi khi tiền còn nhiều hơn lần trước (trường hợp đào kép đang ăn khách).
            Người ta từng biết thời thập niên 1950 Út Trà Ôn ký giao kèo với bầu Năm Nghĩa gánh Thanh Minh lấy khơi khơi hai triệu, và tiền lương đêm hai ngàn cũng được tăng dần từng năm, cứ mỗi lần mãn giao kèo thì ký trở lại.
            Do cái tánh ưa làm khó nên Cậu Mười Út bị bà Bầu Thơ hạ tầng công tác cho xuống đóng kép lão. Thấy mình không còn được nể nang trọng dụng nên Út Trà Ôn cầu cứu với ông Ba Bản, và nhà tư bản này nghĩ tình Út Trà Ôn từng cộng tác ca thu thanh dĩa hát Hoành Sơn nổi tiếng một thời. Do vậy nên ông thành lập đoàn Thủ Đô cho Út Trà Ôn ký giao kèo ba triệu và lương đêm thì năm ngàn, coi như hai thứ tiền đều cao hơn lúc còn ở gánh Thanh Minh.
            Còn kép Thành Được và Út Bạch Lan sau ngày rã gánh, Thành Được về đầu quân cho đoàn Thanh Minh Thanh Nga ký giao kèo hai triệu và lương đêm ba ngàn. Út Bạch Lan về đầu quân cho Kim Chung ký giao kèo một triệu (do ký có một năm thay vì hai năm), và lương đêm cũng lối hai ngàn.
            Các cô đào tên tuổi như Lệ Thủy, Ngọc Hương, Mộng Tuyền, Bạch Tuyết thì quyền lợi cũng tương tự như kép chánh. Còn kép Hùng Cường ký công tra với đoàn Dạ Lý Hương ba triệu, khi mãn hạn Hùng Cường đòi năm triệu để ký trở lại, nhưng ông Bầu Xuân không chấp nhận và Hùng Cường rời khỏi đoàn, khiến cho Bạch Tuyết không có kép đóng cặp vừa ý nên nghệ thuật đi xuống, và Hùng Cường cũng không đoàn nào trả cho với giá cao quá đó.


Nữ nghệ sĩ Thanh Nga và chồng Phạm Duy Lân

Không ký giao kèo?
            Chỉ riêng Vương Hậu Thanh Nga thì khó có ai rõ được, do bởi cô chẳng nói với ai tiền lương của mình, và Bà Bầu Thơ có ai hỏi vấn đề thì cũng cười trừ, hoặc nói gì đó có tính cách vui đùa thành ra chẳng ai biết. Từ năm 1956 Thanh Nga đã có vai trò người lớn trong tuồng “Đứa Con Hai Dòng Máu” của soạn giả Lê Khanh. Nếu tính từ thời điểm đó cho đến hết thập niên 1960 thì Thanh Nga luôn là đào chánh và chỉ đứng trên sân khấu nhà, do mẹ cô là bà Bầu Thơ làm bầu gánh. Tuy vậy không có nghĩa Thanh Nga không có lương, cả chục năm hát “chùa” hay sao?
            Thật ra thì Thanh Nga vẫn lãnh lương hằng đêm như bao nhiêu đào kép chánh khác, có điều là vãn hát cô không phải đến chiếc bàn quản lý để nhận tiền như hầu hết đào kép công nhân trong đoàn, mà mỗi ngày quản lý của đoàn đều gởi vô trương mục ngân hàng của cô, chỉ có cái là không có ký giao kèo. Thanh Nga không xài phí như nhiều nam nữ nghệ sĩ khác, thành ra tiền trong ngân hàng cứ tăng lên mãi.
            Trong hồi ký của nghệ sĩ Thành Được viết vào năm 1967 có đoạn như sau:
            “… Nếu nghe ai khen xe hơi nghệ sĩ nào coi sáng đẹp hơn xe tôi, tuy không nói ra ngoài miệng, chứ lòng tôi nghe thắc mắc lắm. Trong trường hợp ấy, hễ nghe ai điềm chỉ chiếc xe nào đẹp hơn, mắc hơn xe tôi đang đi, nhứt là “ngon” hơn chiếc xe được thiên hạ đem so sánh với xe cũ của tôi, tôi bèn tính tới việc đổi ngay xe tức khắc. Nhưng lần nào đổi xe tôi cũng lỗ chớ không lời, lời chăng chỉ có lời về phương diện tự ái nhứt thời. Tật thứ nhì của tôi là tật mê đá banh. Bạn bè đá banh của tôi nếu phải thống kê thì khó mà nhớ sao cho hết. Tật tốn bạc của tôi, kế đó là tật… “quánh” bi da. Nhưng tôi không nổi tiếng hơn anh Mười Út (Út Trà Ôn) về phương diện nầy, tựu trung bạn bè tôi quá đông. Tôi làm thiệt nhiều tiền, nhưng khó mà giữ cho trọn tình bè bạn, nếu không “chịu chơi” với anh em.
            Vì vậy, tiền bạc của tôi không còn nổi… Bây giờ lương tôi tại Thanh Minh Thanh Nga cũng to lắm! Nhưng trong thực tế, mỗi đêm tôi không còn bao nhiêu. Tôi phải góp tiền góp ngàn ngoài, đó là tiền nợ mà gánh cũ còn để lại cho tôi gánh.
            Số lương còn lại đâu có đủ, nếu so với sức xài “quá xá mấu” của tôi. Nghệ sĩ mà dư tiền như cô Thanh Nga… là số dách. Ăn, ở, xài phí lặt vặt đã có gia đình. Còn lương mỗi đêm của cô là hai ghim. Dù mưa gió, dù giới nghiêm, dù thời cuộc thế nào, cô Thanh Nga cũng “lãnh đủ”, nói theo nghĩa đen của nó.
            Ông quản lý phải gởi vô băng cho cô đủ số. Tính tới ngày nay cô dư cả chục triệu trong “công”. Ngon lành chưa? Kiến tha lâu đầy tổ là thế. Cô Thanh Nga chưa lần nào ký công tra với đoàn hát nào, chưa lãnh một phát bạc triệu, nhưng chính cô mới là người dư bạc triệu…”

            Mời quí vị tiếp tục theo dõi trong phần âm thanh tiếng hát Thanh Nga với bài tân cổ giao duyên “Vĩnh Biệt Đồi Thông”. Tân nhạc của Hồng Vân. Vọng cổ của Yên Sơn.


NGÀNH MAI
Tháng 04/2016



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #235 vào: 11/06/2019, 11:20:07 »

Diễn tuồng “Mưa Rừng” kép Thanh Tú lọt vào mắt của đạo diễn Bùi Sơn Duân

Giữa thập niên 1960 đài truyền hình Việt Nam cho chiếu vở tuồng cải lương “Mưa Rừng” do kép Thanh Tú và Thanh Nga đóng vai chánh. Lúc ấy đạo diễn Bùi Sơn Duân theo dõi vở hát và kép Thanh Tú đã lọt vào cặp mắt nhà nghề của đạo diễn Bùi Sơn Duân. Nếu như gặp thời gặp vận thì đào kép hát cải lương rất dễ trở thành tài tử điện ảnh, sự nghiệp lên như diều, được người đời trọng vọng và đặc biệt là những lúc có dịp trở lại thăm đoàn hát cũ, thì được mọi người trong giới nhìn mình với cặp mắt thán phục, thèm thuồng…

Nghệ sĩ Thanh Tú (phải) và Nghệ sĩ Thanh Sang

Gặp thời gặp vận
            Nghệ sĩ Thanh Tú, một kép hát cải lương của gánh Thanh Minh Thanh Nga, gặp lúc đoàn này đang khủng hoảng, do bởi Thanh Nga bỏ đi đóng phim, tức thì Thanh Tú về với đoàn Dạ Lý Hương nhận vai kép nhì (bởi kép chánh do Hùng Cường đảm trách). Nhân lúc Thanh Tú về Dạ Lý Hương chịu lép vế đứng sau Hùng Cường thì đạo diễn Bùi Sơn Duân, đã mời anh đóng vai chánh trong phim “Ba Cô Gái Suối Châu” do Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh thực hiện vào năm 1969.
            Đây là lần đầu tiên Thanh Tú đóng phim, và vai nữ thì đạo diễn Bùi Sơn Duân chọn ba cô gái cô khuôn mặt hiền hòa trẻ đẹp tên Diễm Chinh – Sương – Phượng Liên (không phải đào cải lương Phượng Liên) cho đảm trách vai ba nữ cán bộ xây dựng nông thôn tên Loan, Thúy và Hoa (ba vai trò gần như ngang nhau).
            Tình tiết câu chuyện, Loan là nữ sinh ở Sài Gòn về quê chịu tang cha rồi bị kẹt lại quê nhà vì chiến cuộc, nàng đã thấy tận mắt những thống khổ, cơ cực của người dân quê, và đã thực sự thấm thía, sống gần như vô vọng trong một thôn ấp kém an ninh. Tại đây nàng đã gặp Hùng, một phi công lái khu trục, bị nạn phi cơ đang tìm về đơn vị, và cảnh này nghe nói đạo diễn Bùi Sơn Duân đã tốn nhiều mồ hôi với Thanh Tú, lúc diễn với nữ tài tử Diễm Chinh, cũng là cô gái lần đầu tiên đóng phim. Đạo diễn Duân đã thay đổi cách diễn của Thanh Tú cho khác với lúc diễn tuồng cải lương “Mưa Rừng” đóng cặp với Thanh Nga được chiếu trên TV trước đó chẳng bao lâu.
            Vai nữ thứ hai tên Thúy, là con gái lớn trong gia đình người miền Bắc di cư, định cư ở Gia Kiệm, vùng Hố Nai tỉnh Biên Hòa. Cô phải bỏ dở dang sự học hành để đi làm kiếm tiền giúp cha mẹ, sau khi người cha đi làm rừng bị chết vì chiến tranh.
            Vai thứ ba tên Hoa là vợ của Tuấn, một chiến sĩ Nghĩa Quân trong bán tiểu đội canh giữ một chiếc cầu lẻ loi giữa cánh đồng mênh mông trên trục lộ Long Xuyên – Tri Tôn (Châu Đốc). Ba hoàn cảnh, ba cuộc đời khác biệt nhưng họ đã gặp nhau và đã cùng chiến đấu chung cho một mục đích: Hàn gắn những đổ vỡ, đau thương do chiến tranh gây nên cho thôn ấp. Hết thôn này đến thôn khác, họ đã ra đi trong sự luyến tiếc mến thương của người dân.
            Xuyên qua đời sống của ba nhân vật chính trong phim – ba cô gái tuổi chưa quá hai mươi – người ta có thấy phần nào tình trạng đau thương của đất nước trong cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn. Nội dung câu chuyện phim nói lên những đóng góp, những hy sinh âm thầm của các cán bộ Xây Dựng Nông Thôn qua những hình ảnh sống động, có thật đã từng xảy ra trên các nẻo đường đất nước.
            Đặc biệt đây là cuốn phim mà lần đầu tiên đời sống người dân trong vùng xôi đậu, đời sống thanh đạm và sự chiến đấu âm thầm nhưng anh dũng của các chiến sĩ Nghĩa Quân, gương hy sinh can đảm của phụ nữ được trung thực đưa lên màn ảnh. Biết rằng “Ba Cô Gái Suối Châu” là phim tuyên truyền, nhưng tình tiết nội dung câu chuyện rất hay, nếu đặt vấn đề chính trị sang một bên thì đây là một phim đề cao tinh thần bất khuất của người phụ nữ Việt Nam đã đóng góp vào cuộc chiến.


Thanh Tú và Phượng Liên trong vở tuồng Cầu Gỗ Hoàng Mai Thôn

Món ăn tinh thần thuần túy Việt Nam
            Vào thời điểm 1969 có khoảng 140 cuốn phim đen trắng 16 ly của Trung Tâm Quốc Gia Điện Ảnh sản xuất, tức phim của nhà nước đang được trình chiếu khắp mọi nơi trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa. Thế nhưng, giới thường xuyên theo dõi ngành điện ảnh nước nhà đã ghi nhận phim “Ba Cô Gái Suối Châu” là món ăn tinh thần thuần túy Việt Nam, không có chất “bơ sữa hay phó mát” trong đó. Và cũng phải nói rằng đạo diễn Bùi Sơn Duân rất “bạo” đã đem toàn những khuôn mặt mới vào phim, sử dụng người địa phương vào các vai phụ.
            Riêng về Thanh Tú từ một kép cải lương, được đạo diễn Bùi Sơn Duân khám phá đưa sang đóng phim, gặt hái được những diễn xuất trọn vẹn, từ đó Thanh Tú thực sự bước qua điện ảnh, mà trước hết là hãng Việt Nam Film của Thẩm Thúy Hằng mời về đóng vai chánh, và nhờ đóng cặp với người đẹp Bình Dương nên Thanh Tú nổi tiếng còn hơn lúc ở bên cải lương.
            Về kỹ thuật phim trường thì đạo diễn Bùi Sơn Duân đã tận dụng địa hình thiên nhiên và nhân tạo có sẵn như: Sông rạch, đường sá, vườn tược, nhà cửa, đồn trại nghĩa quân tất cả đều phong cảnh sống thực. Về ánh sáng thì cũng không phải sử dụng nhiều đèn nặng watt rườm rà, mà tận dụng ánh sáng tự nhiên của mặt trời, cùng những đêm trăng sáng. Còn súng đạn quay cảnh chiến tranh cũng của lính Nghĩa Quân, cùng trang phục cho ba cô diễn viên chánh là ba bộ đồ bà ba đen cán bộ, và luôn cả mấy căn chòi cũng do cán bộ Xây Dựng Nông Thôn thực hiện chẳng mất đồng nào. Tóm lại chi phí chẳng là bao, mà phim thì rất hay, người coi rất hài lòng vậy.
            Mời quí vị tiếp tục theo dõi trong phần âm thanh tiếng hát Thanh Nga với bản “Mưa Rừng” được nhạc sĩ Quỳnh Anh sáng tác cho vở hát nói trên.


NGÀNH MAI
Tháng 04/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-0422-nm-04222016143013.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #236 vào: 15/06/2019, 18:15:24 »

Đoàn Hoa Sen hát rạp Thuận Thành Đa Kao

Những năm đầu thập niên 1950, hầu hết các gánh hát cải lương đều mong muốn về rạp Thuận Thành ở Đa Kao để chắc chắn hốt bạc, thì đoàn Hoa Sen của Bảy Cao cũng không tránh khỏi chen chân để được treo bảng hiệu ở rạp Thuận Thành.


TRONG TỜ CHƯƠNG TRÌNH của đoàn ca kịch Hoa Sen diễn tại rạp Thuận Thành vào tối Thứ Bảy, 23 tháng Hai, 1952, người ta thấy trình bày bốn bức hình gồm: Bảy Cao, Ba Túy, Phi Yến, và Việt Hùng.
            Căn cứ vào bức hình thì thời điểm 1952 này Việt Hùng còn rất trẻ chưa đầy 30, không biết lúc này có bà Ngọc Nuôi hát chung hay chưa, chứ sang năm 1953 khi đoàn Hương Hoa của bầu Sinh khai trương thì Việt Hùng, Ngọc Nuôi là đào kép chánh của đoàn.
            Bảy Cao là bầu gánh kiêm kép chánh, vì không thấy hình Kim Luông (vợ Bảy Cao) nên có thể Phi Yến là đào chánh. Còn Ba Túy là kép độc, về sau hát ở đoàn Thanh Minh của bầu Năm Nghĩa.

Bài vọng cổ tài tử “Trụ Vương Thiêu Mình”
            Khoảng 1937, bài vọng cổ “Trụ Vương Thiêu Mình” ra đời, do tài tử Tám Thưa ca thu thanh dĩa hát Asia.
            Thời bấy giờ “tài tử” là người ca cổ nhạc, chớ không có danh từ nghệ sĩ hay ca sĩ gì hết. Trong thư tịch cổ đờn ca tài tử có nhiều tài liệu về danh từ “tài tử” này.
            Mãi đến khoảng 1957 khi cuốn phim “Người Đẹp Bình Dương” xuất hiện thì điện ảnh bắt đầu lấy danh từ “tài tử” áp dụng cho mình, rồi xài luôn cho tới bây giờ.
            Sai khi dĩa hát “Trụ Vương Thiêu Mình” phát hành thì hầu như khắp miền Lục Tỉnh và miền Đông Nam Việt, nhóm đờn ca tài tử nào cũng có người ca.
            Tám Thưa có lời ca ngân thật dài và có biệt tài sử dụng dây “hò ba” nghĩa là hơi ca lòn lúc ca chung với nữ tài tử.
            Tám Thưa đã làm nên tên tuổi qua bài vọng cổ “Trụ Vương Thiêu Mình”.

            1.– Muôn tâu với lịnh thánh hoàng, nơi môn quan, Khương Thượng, nó truyền cho chúng tướng phải bắt cho được bệ hạ đem về đặng có đền lại những cuộc đời dẫy đầy tội ác.
            2.– Trên thì Cơ Phát xưng vương, dưới thì Khương Thượng mưu sâu, tựu các chư hầu phân binh bốn phía, chủ động những thành kiến cao xa, rơi thơ khắp cả hoàng thành để hài tội lỗi của bệ hạ, mà làm cho rúng động lòng dân.
            3.– Cái chủ tâm của Khương Thượng trước khi muốn đả đảo lòng tín ngưỡng tôn thờ của bệ hạ, sau mua chuộng lòng dân, nhìn thấy cảnh tang thương, có ảnh hưởng lớn lao sẽ dẹp sau màu cờ đắc thắng khải hoàn thì cơ nghiệp Thành Thang nầy đây phải hóa ra bãi sa trường.
            4.– Lời nói của Võ Vương có mòi kết quả, cho nên khắp chư hầu, mới hàng phục dưới lá cờ Châu, quân binh tướng sĩ thảy thảy hàng đầu, mong cho đến ngày mà tấm lòng nhiệt huyết ái ưu, sẽ kết thành bông tuội, của màu cờ rực rỡ, trở lại Tây Kỳ thì bệ hạ còn trông mong gì bảo thủ lấy thành trì.


NGÀNH MAI
Tháng 02/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/doan-hoa-sen-hat-rap-thuan-thanh-da-kao/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #237 vào: 20/06/2019, 19:13:26 »

Hề “râu” Thanh Việt với thoại kịch, cải lương và điện ảnh

Trong số các danh hề làm vui nhộn sân khấu, người ta phải nhìn nhận hề râu Thanh Việt là đa tài, ở lãnh vực nào cũng “ăn tiền” hết. Trong quá trình chọc cười thiên hạ, hề Thanh Việt sau thời gian dài nổi danh nhờ thoại kịch, đã bước sang địa hạt cải lương vào khoảng năm Mậu Thân, cộng tác với đoàn Dạ Lý Hương và tại đây ông đã thành công còn nhiều hơn bên kịch.

Hề râu Thanh Việt (trái)

Khai thác tài nghệ đúng mức
            Ông bầu Xuân giám đốc đoàn Dạ Lý Hương đã khai thác tài nghệ Thanh Việt đúng mức, cho xuất hiện hằng đêm và mỗi lần hề râu bước ra sân khấu (chưa nói tiếng nào) là khán giả cười rần lên vậy, do đó mà các hề cải lương thuần túy khác phải đành chịu lép vế trước một hề thoại kịch tự nhiên nhảy vào chiếm chỗ. Chẳng hạn như hề Kim Quang hơn hai thập niên làm hề ở gánh Thanh Minh Thanh Nga với ngôi vị được coi như khó có người thay thế, vậy mà lúc đoàn Thanh Minh suy sụp, Kim Quang về Dạ Lý Hương gặp hề râu Thanh Việt là đành phải nhường bước. Người ta nói cái hề của Thanh Việt là “hề thanh tao” khác với hề mà phát ngôn làm khán giả hết sức bực mình, dù rằng cũng có năng khiếu chọc cười thiên hạ.
            Hiện diện trên sân khấu cải lương khoảng một năm thì Thanh Việt lại được làng điện ảnh chiếu cố, hãng phim Liên Ảnh Công Ty do ông Quốc Phong làm giám đốc đã cho người đi thương lượng với Thanh Việt mời về cộng tác. Thế là hề râu lại bước thêm một bước gia nhập làng điện ảnh làm tài tử đóng phim, nhận một vai trò trong phim “Năm Chàng Hiệp Sĩ Bất Đắc Dĩ”, đóng chung với Tùng Lâm, Xuân Phát, Văn Chung, Thanh Hoài. Phim do Lê Hoàng Hoa đạo diễn trình chiếu một thời gian, thì phim được đưa đi tham dự Giải Điện Ảnh 1971. Thế nhưng, trong số 9 phim dự tranh thì phim “Năm Chàng Hiệp Sĩ Bất Đắc Dĩ” chẳng được “giải” gì hết. Buồn thật!
            Mãnh lực của ái tình coi vậy mà cũng nặng ký lắm, chẳng thế mà có một dạo thiên hạ lại có đề tài để bàn tán. Số là để cứu vãn chuyện tình khỏi bị sụp đổ, hề râu Thanh Việt đành phải hy sinh cả bộ râu độc đáo lẫn mái tóc đẹp của anh, khiến cho nhiều người phải ngạc nhiên một cách thích thú. Và sau đây là câu chuyện xảy ra vào tháng 3 năm 1975.
            Theo như những thân hữu của Thanh Việt thường có mặt với anh em ở nhà hàng Thanh Thế thì cho biết, Hề Râu xuống tóc cạo râu chẳng qua vì muốn “để tang” cho một người tình vừa mất tích ở vùng Ban Mê Thuột lửa đạn. Nguồn tin mô tả, đây là một người tình mà theo Thanh Việt thường tâm sự với bạn bè, đó là người anh chọn “để đời” trong cuộc sống tình cảm của anh.
            Tưởng cũng nên biết. Thanh Việt là một nghệ sĩ hài hước được kể là nổi tiếng và ăn khách nhất vào thời điểm đó, và bộ râu của anh cũng chính là một thứ phụ tùng trang điểm để tăng thêm phần duyên dáng ăn khách. Và sự xuống tóc râu, người ta tin là Thanh Việt lại rắc rối tơ tình gì đó. Dầu vậy, cũng lúc ấy theo tin tức sinh hoạt điện ảnh cho biết, nhờ cái vụ xuống tóc cạo râu mà Thanh Việt lại vớ phải một mẻ tiền ngon lành, khi nhận một vai trong cuốn phim “Nghệ Sĩ Bất Đắc Dĩ” của hãng Mỹ Vân và Liên Ảnh. Trong phim này, Thanh Việt đóng vai người tình của Thanh Nga.
            Thanh Việt đóng vai một nghệ sĩ đa tài, nhưng lại nghèo mạt rệp. Anh và người đẹp Thanh Nga yêu nhau tha thiết, nhưng chuyện tình của họ gặp phải bức tường ngăn trở của gia đình nàng. Và để cứu vãn tình yêu, hạnh phúc, cuối cùng Thanh Việt phải hóa trang thành một gã phu khiêng quan tài, còn nàng thì giả vờ biến thành người chết để cùng nhau đi trốn…
            Phim này quay chưa xong thì chiến sự tới tấp, miền Trung di tản từ tỉnh này đến tỉnh khác, và đến 30 tháng 4 năm 1975 kể như “xù” luôn! Sau 1975 người ta chỉ thỉnh thoảng thấy Thanh Việt xuất hiện trong băng video nào đó, và nghe nói anh đã qua đời do chứng bịnh sơ gan, coi như cả ba lãnh vực thoại kịch, cải lương và điện ảnh cùng mất một danh tài.


Nghệ sĩ Hề râu Thanh Việt (Hình của Soạn giả Nguyễn Phương)

Cải lương “nếm mùi” giới nghiêm từ lúc nào?
            Hai tiếng “giới nghiêm” hầu như luôn ám ảnh giới hoạt động cải lương, và những ai có liên hệ làm ăn đến bộ môn nghệ thuật này cũng đều ngán ngẩm không kém. Bởi khi lệnh giới nghiêm được ban hành thì tất cả những người hoạt động làm ăn ban đêm đều bị ảnh hưởng, mà khốn đốn, thiệt hại nặng nề nhứt phải nói là giới cải lương.
            Một đoàn hát đang hoạt động mà nghe loan báo rằng bữa nay giới nghiêm thì ai nấy mặt mày méo xẹo, than vắn thở dài, không khí buồn thảm bao trùm hết cả rạp hát. Khi nghe lệnh giới nghiêm thì từ bầu gánh, đào kép, công nhân, họa sĩ, nhạc sĩ… đều than trời cho cái nồi gạo. Và luôn cả chủ nợ, cho vay, tiền góp cũng rầu thúi ruột, bởi không có hát thì đào kép công nhân đâu có ai được phát lương thì lấy gì đóng tiền lãi, tiền góp…
            Người ta đặt giả thử, nếu giới nghiêm sớm từ 9 giờ tối, tức giờ cải lương mở màn thì coi như toàn bộ giới hoạt động sân khấu lãnh đủ trăm phần trăm. Còn như giới nghiêm rộng rãi nhứt từ 12 giờ đêm, thì cải lương hát được, nhưng số người đi coi cũng giảm sút không ít, bởi phải mở màn sớm lúc 8 giờ để vãn hát kịp lúc 11 giờ đêm.
            Thông thường thiên hạ muốn đi coi hát, họ phải hoàn tất mọi công việc nhà và xong bữa cơm chiều rồi mới tới rạp, mà mở màn 8 giờ thì những người bình dân lao động khó thể hoàn tất mọi công việc thường ngày. Đó là chưa nói đến vấn đề vãn hát lúc 11 giờ đêm, vừa ra khỏi rạp là phải mau lẹ lên xe về nhà ngay, nếu trễ là bị khép tội “đi trong giờ giới nghiêm”, chắc chắn sẽ bị lôi thôi, có khi còn bị bắt ngủ bót tới sáng mới được cho về. Lại còn thêm cái nạn tắc xi, xích lô “chém” đẹp, vì biết chắc rằng ai cũng cần về nhà, do đó mà số người đi coi hát giảm sút thấy rõ.
            Thế nhưng, trên đất nước chúng ta giới nghiêm có từ bao giờ? Do đâu, và ai là người đầu tiên ra lệnh giới nghiêm? Câu hỏi bất ngờ này rất khó mà trả lời, nếu người ta không bị ảnh hưởng trực tiếp, bị khốn khổ vì giới nghiêm. Và sau đây là chúng ta cùng nghe nghệ sĩ Năm Châu giải đáp thắc mắc:
            Vào năm Mậu Thân, tức thời kỳ lệnh giới nghiêm triền miên kéo dài ngày này sang tháng khác, thì một bữa nọ trong tiệm nước ở Ngã Tư Quốc Tế, nghệ sĩ Năm Châu ngồi nhâm nhi ly trà, phì phà điếu thuốc lá, buồn cho tình trạng cải lương lúc bấy giờ. Có người hỏi ông rằng đi hát mấy chục năm có khi nào bị giới nghiêm nghỉ hát dài dài như thế này không?
            Năm Châu lắc đầu: “Một ngày cũng không có, chỉ bắt đầu kể từ ngày…”
            Năm Châu nói rằng lịch sử cải lương khởi đầu từ lúc gánh hát thầy Năm Tú hình thành ở Mỹ Tho năm 1924. Đây là thời kỳ người Pháp cai trị xứ mình, thái bình thạnh trị họ đâu có ra lệnh giới nghiêm làm chi, kể cả những lúc lộn xộn, bất ổn cũng không có giới nghiêm. Tháng 3 năm 1945 Nhựt Bổn đảo chánh, tình hình căng thẳng khắp nơi cũng không có giới nghiêm. Rồi đám tang trò Trần Văn Ơn, khí thế người dân bừng bừng, sinh viên học sinh biểu tình rần rần cũng thời gian rồi hết, không thấy ai ra lệnh giới nghiêm. Thời kỳ chiến tranh Việt Minh và Pháp suốt 9 năm (1945-1954) dù các mặt trận đang đánh lớn, đường giao thông đi các tỉnh bị gián đoạn nhiều nơi, vậy mà ở Sài Gòn cũng không có giới nghiêm.
            Tóm lại chiến tranh bất ổn thì dân chúng lánh nạn, yên trở lại thì về nhà, tiếng súng hết nổ thì trở lại bình thường, cải lương thấy tình hình lộn xộn thì tự đông nghỉ hát, yên ổn thì hát trở lại chớ không ai bắt buộc phải giới nghiêm.
            Năm Châu kể dòng do Tam Quốc như vậy, khiến người nghe sốt ruột, có người lên tiếng:
            – Vậy chớ giới nghiêm từ lúc nào hả chú Năm nói mau đi?
            Người nghệ sĩ tiền phong suốt mấy chục năm trong nghề ca kịch, giờ đây mới đi thẳng vào câu hỏi:
            – Lệnh giới nhiêm bắt đầu có trên đất nước ta kể từ đêm 20 tháng 8 năm 1963, cái đêm mà chùa Xá Lợi, chùa Ấn Quang ở Sài Gòn bị tấn công đó!
            Năm Châu nói tiếp là buổi chiều gần tối ngày hôm ấy đài phát thanh Sài Gòn loan báo lệnh giới nghiêm từ 9 giờ đêm, và người ra lệnh là Thiếu Tướng Tôn Thất Đính, Tư Lệnh Quân Đoàn III Vùng III Chiến Thuật, vừa được bổ nhiệm chức vụ Tổng Trấn Sài Gòn – Gia Định. Đây là một chức vụ mới mà từ ngày có chính quyền Quốc Gia không hề có chức vụ “Tổng Trấn” này.
            Và từ đó về sau hễ tình hình có hơi lộn xộn là có giới nghiêm, cái gì cũng giới nghiêm hết, không có gì cũng giới nghiêm từ 12 giờ đêm. Do vậy cải lương mệt cầm canh, sống dở chết dở, có kêu ca cho nhiều cũng thế thôi!


NGÀNH MAI
Tháng 04/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/vnm258-04282016074148.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #238 vào: 25/06/2019, 18:36:32 »

Mặt trái của sân khấu cải lương

Sau phần phỏng vấn Má Bảy Phùng Há về những công trình văn hóa xã hội đã thực hiện được, cùng những vấn đề nghệ thuật sân khấu cải lương khi thăng lúc trầm, cũng như các sự kiện liên quan đến tinh thần phục vụ của người nghệ sĩ, đời sống của họ khi tuổi trở về chiều ra sao? Đồng thời ước vọng trong tương lai của người nghệ sĩ tuổi gần 100 tuổi là gì, bà còn muốn thực hiện công trình nào nữa cho thế hệ nghệ sĩ mai sau? Đó là những sự việc mà trong các bài cổ nhạc trước đây tôi trình bày và quí vị đã theo dõi qua.

Má Bảy Phùng Há (bìa phải) là một trong những người phụ nữ
hiện đại đầu tiên tại Việt Nam biết lái xe ôtô
(ảnh tư liệu gia đình cố NSND Phùng Há)

Hát cải lương và hút á phiện
            Phần sau là những câu hỏi liên quan đến cuộc đời tình cảm của người nghệ sĩ “nổi danh tài sắc một thời”, mà có lẽ rất nhiều quý vị muốn biết nghệ sĩ Phùng Há thời còn trẻ vấn đề tình cảm như thế nào, “hồng nhan bạc phận” có hay không?
            Nổi danh rất sớm, đi tới đâu cũng được người người ái mộ, tài sắc nghệ sĩ Phùng Há đã chinh phục hàng triệu con tim của khán giả, đã không biết bao nhiêu chàng công tử chạy theo ngày đêm cầu cạnh, hằng bao nhà trí thức khổ công đeo đuổi, và hằng bao chức quyền cao trọng săn đón mời chào, nhưng rồi cũng chẳng đi đến đâu cả, và khi về già Má Bảy cô độc, vui với sinh hoạt của Chùa Nghệ Sĩ.
            Cũng trong cuộc gặp gỡ này, Má Bảy kể cho tôi nghe mặt trái của sân khấu cải lương mà mới nghe qua người ta không thể tưởng tượng nổi.
            Đi hát từ thời thập niên 1930, tức thời kỳ Pháp thuộc, tệ đoan xã hội lan tràn, ngay trong rạp hát khán giả coi cải lương nhìn lên sân khấu thấy những cái hay cái đẹp của nghệ thuật, nhưng đàng sau bức màn nhung thì lại không tốt đẹp gì hết. Phía trong cánh gà, sát bên vách là mâm đèn hút á phiện, lúc nào cũng có vài người nằm đi mây về gió, giới nghệ sĩ cải lương nhiều người mang bệnh nghiện cũng là do đó. Có những anh kép vừa hát xong một cảnh là nhào vô kéo ro ro, mấy ông thầy đờn cũng vậy, màn vừa bỏ xuống thay cảnh là buông đờn chạy vô làm một cặp (tiếng lóng của hút á phiện) rồi trở ra đờn tiếp. Mấy bữa hút nhiều mùi khét nghẹt bay ra ngoài khán giả chịu không nổi, người ta la lên phải quạt cho khói bay phía sau rạp.

Cờ bạc
Ngành Mai: Má Bảy là bầu gánh mà lại cho đặt cái thứ đó ở ngay trong hậu trường, sao không bảo họ đem đi chỗ khác?
Má Bảy: Đâu phải quyền của mình, mà của chủ rạp hát, hút bao nhiêu cũng được miễn là trả tiền đủ cho họ mà thôi, rạp nào cũng vậy nếu mình không chấp nhận thì đừng mướn, mà thời đó rạp nào cũng có cái thứ đó hết. Mà đâu phải chỉ mâm đèn á phiện thôi sao, lại còn thêm đánh bài, hát ở trên đánh bài ở dưới, chủ rạp lấy xâu, đào kép vừa hát xong lãnh lương là họ ngồi tại đó thu tiền liền, chạy đâu cho khỏi.
            Má Bảy nói: Thời đó sân khấu nào cũng vậy, ở trên treo màn treo cảnh, còn ở dưới là chỗ ở của đào kép công nhân, chỉ một số ít ở nhà ngoài, đào kép chánh lương nhiều họ mướn nhà, mua nhà nên không ở rạp, chớ phần đông thì ở dưới cái sân khấu, tức hậu trường rạp hát. Rạp nào phía trong cũng có chừa khoảng trống nền lót gạch tàu, chỗ đó là sòng bài hoạt động suốt ngày đêm, chửi thề nói tục không ngớt. Đào kép tới vai trò thì lên hát, mà chưa tới thì chạy xuống đặt vài tụ, để nguyên râu ria áo mão dài thượt ngồi vô chia bài, Quan Công, Lưu Bị cũng đánh bài, cha con Tiết Nhơn Quý, Tiết Đinh San cũng ăn thua nhau cãi vã rùm beng.
            Bà nói tiếp: Có một hôm gánh Năm Châu hát tuồng Lan và Điệp, vừa hết cảnh Lan cắt đứt dây chuông rồi ngất xỉu, và Điệp thì khổ sầu, người coi hát ai cũng cảm thương, vậy mà màn vừa bỏ xuống thì cả Lan lẫn Điệp chạy xuống sòng bài kéo dà dách. Lúc ông hòa thượng đang hát ở trên thì ở dưới Điệp kéo bài ăn gian sao đó, sẵn cái dĩa kéo dà dách Lan đập cho Điệp xụi tay. Chừng tới vai trò ra sân khấu trở lại, ông hòa thượng đưa áo cà sa cho mặc để vào hậu liêu cho Lan trao gởi nỗi niềm tâm sự thì đưa tay lên không được, ông hòa thượng phải mặc giúp cho. Rồi tới lúc Lan sắp chết, lúc này phải cởi áo cà sa thật mau để chạy tới ôm Lan thì tay đau quá cởi áo không được, phải làm bộ lui trở vô tấm cánh gà nhờ chú tiểu Huệ Thông kéo ra giùm.

Ngành Mai: Rồi khán giả có phản ứng gì không, họ có biết lý do tại sao không?
Má Bảy: Người ta nói chắc kép hát bữa nay say rượu nên quên tuồng, hát quờ quạng chớ đâu có biết do đánh bài kèo dà dách, bởi vậy nên lúc nào cũng mắc nợ, hát bữa nào xào bữa nấy.

            Mời quí vị tiếp tục theo dõi trong phần âm thanh dĩa hát Lan và Điệp, với tình tiết câu chuyện đầy tình cảm, đậm đà chớ đâu có đánh bài ăn gian rồi Lan đập cho Điệp xụi tay. Dĩa hát được trình bày với các danh ca Năm Nghĩa, cô Tư Sạng, Tám Thưa và Hồng Châu, thâu thanh dĩa hát Asia thời thập niên 1940.


NGÀNH MAI
Tháng 05/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/traditional-music-260-nm-05122016152556.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănnghệ...
« Trả lời #239 vào: 29/06/2019, 19:32:05 »

Cuộc đời tình cảm của Má Bảy Phùng Há

Nếu như cuộc đời tình cảm của Nữ Hoàng sân khấu Thanh Nga đã tách rời với nghệ thuật, còn Má Bảy thì cuộc đời tình cảm lại đi đôi với nghệ thuật. Trong trái tim Thanh Nga không có hình bóng nào của người trong giới cải lương, kể cả kép hát, soạn giả, nhạc sĩ bầu gánh, chủ rạp hát đều rơi đài, thì ngược lại các mối tình chính thức của Má Bảy lại là những người liên quan mật thiết với nghệ thuật cải lương.

Má Bảy Phùng Há lúc còn trẻ

Cuộc đời tình cảm đi đôi với nghệ thuật
            Người chồng đầu tiên của má Bảy là nghệ sĩ Tư Chơi, tức soạn giả Huỳnh Thủ Trung, một nhà Nho học lẫn Tây học, ông từng dịch những kịch bản Pháp văn, Hán văn sang lời Việt trình diễn trên sân khấu cải lương thời thập niên 1930. Ngoài ra ông cũng là một nhạc sĩ đờn kìm với ngón đờn độc đáo như chim kêu, và từng là bầu gánh của nhiều gánh hát lớn.
            Cuộc tình của Má Bảy với nghệ sĩ Tư Chơi, kết quả bà hạ sinh một người con gái: Cô Lý Bửu Trân, tức Bửu Chánh, và người ta thắc mắc tại sao Má Bảy tên là Trương Phụng Hảo, chồng bà tên Huỳnh Thủ Trung mà con gái lại tên là Lý Bửu Trân, đây là điều mà nếu như không có sự giải thích rõ ràng cặn kẽ của Má Bảy thì khó có ai mà đoán được.
            Thật ra thì Bửu Chánh có tên là Trương Phụng Huê (mang họ mẹ), và có lẽ do uẩn khúc nào đó, có thể không phải là vợ chính thức có hôn thú chăng, hoặc cuộc tình chấm dứt từ lúc Bửu Chánh chưa ra đời. Vấn đề Má Bảy không nói rõ, chớ sau ngày Bửu Chánh ra đời thì mối tình của bà với soạn giả Huỳnh Thủ Trang đã không còn.
            Nhưng về sau không biết do đâu mà soạn giả Huỳnh Thủ Trung trở thành đệ tử lưu linh hạng nặng ngày nầy qua tháng nọ suốt năm chẳng bữa nào mà không nhậu. Lúc bấy giờ nhiều người đã nói, trung bình mỗi ngày ông ngủ chỉ bốn tiếng đồng hồ thôi, 20 tiếng còn lại là say với ngà ngà.

Hơn mười năm mẹ con xa cách
            Số là do nghề đi hát rày đây mai đó, nên lúc Bửu Chánh mới vừa bập bẹ học nói, đi chập chững thì được gởi cho người dì thứ Ba, tức chị của Má Bảy tên là Trương Ngân Hảo đem Bửu Chánh về Huyện Hạc Sơn bên Trung Quốc, tỉnh Quảng Châu. Bà Trương Ngân Hảo làm dâu nhà họ Lý (ông Lý Huy) một vọng tộc ở Hạc Sơn, đã lập khai sanh cho Bửu Chánh với cái tên Lý Bửu Trân để đi học, do đó mà Bửu Chánh mang họ Lý trên giấy tờ.
            Sống với người dì ở Hạc Sơn bên Trung Quốc, cô Bửu Chánh học đến gần hết Trung Học thì trở về Việt Nam, và đó là ý nguyện từ lâu của người con vì hoàn cảnh phải xa mẹ. Hơn mười năm xa cách mẹ con trùng phùng, niềm vui khôn tả, chớ trước đó đêm nào Má Bảy cũng khóc thầm vì nhớ con, người nghê sĩ mà trên sân khấu làm rơi lệ khán giả, và khi tấm màn nhung buông xuống thì Má Bảy tự khóc cho mình.
            Thế nhưng, có một điều mà chúng tôi cũng như nhiều người thắc mắc từ lâu, là tại sao một nghệ sĩ nổi danh như Má Bảy Phùng Há, đam mê ca hát đến đỗi khi còn nhỏ bị đuổi học, mà nghe nói người con của bà là cô Bửu Chánh lại không có học ca hát gì hết. Sẵn dịp tiếp xúc với Má Bảy, tôi hỏi vấn đề này:

Ngành Mai: Thưa Má Bảy, nghe nói chị Bửu Chánh chỉ lo học hành mà thôi, chớ không được dạy ca hát gì hết, có phải vậy hay không?
Má Bảy: Rất đúng, lúc Bửu Chánh, mới từ bên Trung Quốc về, tôi cũng tính dạy cho nó nghề hát để nối nghiệp tôi sau này, nhưng thấy nó học giỏi quá, thông minh quá, nói thông thạo bốn thứ tiếng Anh, Pháp, Tàu và Tây Ban Nha, nên tôi tiếp tục cho nó ăn học rồi thủng thẳng sẽ tính.

Ngành Mai: Trong nghệ thuật cải lương, Năm Nghĩa là dưỡng phụ của Thanh Nga, là bầu gánh hát Thanh Minh, ông đã đào luyện Thanh Nga từ lúc nhỏ, 15 tuổi đã nhận vai trò đứa con hai dòng máu, coi như vai chánh và từ đó đã trở thành đào hát nổi tiếng luôn. Còn Má Bảy cũng là nghệ sĩ nổi danh còn hơn cả Năm Nghĩa, lại là bầu gánh hát Phụng Hảo, thế sao Má Bảy không uyển chuyển vừa cho chị Bửu Chánh đi học, vừa cho học hát cải lương, biết đâu chị cũng nổi tiếng như Thanh Nga?
Má Bảy: Mỗi thời kỳ mỗi khác, Bửu Chánh lớn lên trong thời kỳ Pháp thuộc, tệ đoan xã hội lan tràn. Do cảnh sa đọa như vậy nên tôi đâu dám cho con Bửu Chánh tới hậu trường rạp hát, sợ bị nhiễm những thứ đó thì tiêu đời.

Ngành Mai: Chớ còn Thanh Nga thì thế nào, tại sao cô không bị nhiễm tệ nạn đó, Má Bảy có biết không?
Má Bảy: Như tôi đã nói hồi nãy đó, Bửu Chánh lớn lên nhằm thời Tây, còn Thanh Nga nó lớn lên nhằm thời ông Ngô Đình Diệm, tứ đổ tường bị cấm, sòng bạc Kim Chung, Đại Thế Giới bị đóng cửa, tiệm hút cũng dẹp luôn, mâm đèn ống hút bị đem ra đốt ở bùng binh chợ Sài Gòn, làm dân đi mây về gió, tiên ông, tiên bà tiếc hùi hụi. Nhờ rạp hát không còn cái tệ đoan của thời trước nên Năm Nghĩa mới dám cho Thanh Nga đến rạp hát tập luyện, chính tôi cũng từng rèn luyện cho Thanh Nga tập diễn ở rạp.

            Lời giải thích của Má Bảy thật là chí lý, chúng tôi rất khâm phục bà, đã không bị ảnh hưởng câu nói “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” hay là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, đối với Má Bảy phải nói rằng “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” vậy!
            Mời quí vị tiếp tục theo dõi trong phần âm thanh bộ dĩa hát Lan và Điệp, với các danh ca Năm Nghĩa, cô Tư Sạng, Tám Thưa và Hồng Châu, thâu thanh dĩa hát Asia thời thập niên 1940.


NGÀNH MAI
Tháng 05/2016


https://www.rfa.org/vietnamese/news/programs/TraditionalMusic/vnm261-05202016221413.html