Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 18485 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #135 vào: 07/08/2018, 23:56:10 »
Trần Lê Nguyễn, thơ kịch và phim

Trần Lê Nguyễn là một kịch tác gia nổi tiếng không thua gì Vũ Khắc Khoan, Vi Huyền Ðắc, ngay thập niên ’50 những vở kịch của ông như Bão Thời Ðại, Quán Nửa Khuya hay Ðêm Ba Mươi đã được nhắc nhở, được trao Giải Văn Chương Toàn Quốc bộ môn kịch, tuy rằng những vở này chỉ mới đăng trên các tạp chí, hay trình diễn trên làn sóng điện các đài phát thanh, mà chưa từng được dựng trên sân khấu.

Từ trái sang: Duy Thanh, Trần Lê Nguyễn, Thanh Tâm Tuyền, Ngọc Dũng, hình chụp năm 1960

THÍNH GIẢ nghe thoại kịch dù nghe ngang ở khúc giữa cũng có thể đoán đó là kịch Trần Lê Nguyễn bởi đối thoạt rất chọn lọc, lúc nào cũng đầy xung đột, mâu thuẫn, giọng nữ phải là gái Hà Nội, giọng nam phải là một trí thức nghệ sĩ, vai chính thường là đạo diễn hay họa sĩ, và âm thanh bố trí tới hai ba tầng, tiếng ly tách lanh canh va chạm cùng tiếng cười, hay hơi thở, và một điệu nhạc hòa âm xen vào đúng lúc, chúng tôi nghe và biết đó là kịch của “anh ba họ” (Trần Lê Nguyễn). Ngoài đời đạo diễn không là ai khác, chính tác giả Trần Lê Nguyễn, và họa sĩ không là ai khác, chính là Ngọc Dũng người bạn thân của anh, mặc dù trong chỗ bạn bè, chúng tôi gọi Ngọc Dũng là “công tử Chí Hòa”.
            Song song với kịch ông còn có thơ, thơ mới hay thơ tự do, đặc biệt thơ ông có địa vị trên các tạp chí văn học lớn như Sáng Tạo, Thế Kỷ Hai Mươi, Văn Nghệ.

                                    Saigon Mưa
                        Ðế giày tôi lủng hai bên
                        Những chiều Saigon mùa mưa như chiều nay
                        tôi đi bằng gót qua nhiều lề đường đọng nước
                        Ðĩa nhạc quay tròn quay tròn
                        âm thanh nổi
                        Tờ báo buổi chiều loan tin chiến sự xứ Lào
                        Mưa lại rơi
                        như tháng bảy mưa rơi ngoài Bắc
                        Hà Nội không còn

                        Sáng qua tôi gặp cô gái phố Hàng Ngang
                        Ngoài kia đâu còn Hà Nội
                        Có những người chết đi mất xác bên Cầu Kiệu
                        Con đường hành quân thủa trước vắt qua Dốc Mơ gặp mộ người nữ cứu thương Thái
                        – mortier Tây bắn ở Tuy Hòa chết không hay đâu còn Hà Nội

                        Tôi trú mưa đầu phố
                        Giày tôi vào nước từ lâu
                        Gió tạt quán rượu góc đường Charner thủa trước
                        Ly rượu anh thủy thủ trên đất liền

                        Người đàn bà Pháp chờ taxi cô độc
                        Ðây không là Paris
                        Sao tin chiến sự Vientiane làm nhớ thương Hà Nội
                        Sao Hà Nội nhắc những người chết đi
                        Tôi đi nhận lá thư không đến chiều nay
                        Sao lại gặp Sài gòn mưa như trời mưa xứ Bắc.

                        (Trần Lê Nguyễn, Thế Kỷ Hai Mươi, 1960)(1)

            Khoảng 1955 người viết bài này đã được đọc tạp chí Mùa Lúa Mới xuất bản tại miền Trung, tờ báo dầy dặn, bài vở chọn lọc đậm màu sắc kháng chiến, bởi các tác giả góp mặt phần lớn là những người cựu kháng chiến: Nguyễn Văn Xuân, Trần Lê Nguyễn, Võ Thu Tịnh… sau này cũng đã được gặp hay nói chuyện với họ, và đọc họ nhiều hơn.(2) Hôm 18 tháng 4, 2015, tình cờ tôi lại nhìn thấy tên một trong những tay cựu kháng chiến này – Trần Lê Nguyễn – trong phim Ðất Khổ do Hà Thúc Cần đạo diễn dựa trên phân cảnh truyện phim cùng nhan đề của Hà Thúc Như Hỷ, trình chiếu lúc 3 giờ tại rạp Ultraluxe thuộc thành phố Garden Grove, trong khuôn khổ Viet Film Fest. Thấy lại mấy khuôn mặt bạn bè khác trong phim: nhà thơ Kiên Giang Hà Huy Hà, nhà văn Sơn Nam và chiếc xích lô máy. Trần Lê Nguyễn chỉ góp phần trong sở trường của nhà viết kịch. Người viết bài này có kể cho tác giả Như Hỷ nghe, tháng 10, 1975, tôi có gặp người phi công Mỹ mua cuốn phim Ðất Khổ của Hà Thúc Cần, và làm việc ba ngày tại căn nhà của người phi công trên đường Lee Hiway gần khu Rosslyn, Virginia. Ông là thành viên của nhà thờ Mount Vernon tại thủ đô Washington, D.C., là nhà thờ đã bảo trợ gia đình tôi ra khỏi trại tạm cư Indiantown Gap ở Pennsylvania. Họ nhờ tôi chuyển ngữ những câu đối thoại tiếng Việt ra ngoại ngữ, trả 10 Mỹ kim một giờ, cốt giúp tôi qua thời gian buồn chán, khủng hoảng những ngày đầu lưu vong, hơn là nhằm mục đích gì khác. Làm ba ngày thì xong việc, nhờ đó tôi có tiền ngay mấy ngày sau đi New Jersey thăm Thanh Nam, và mua cho bạn chai whiskey. (Tháng 11/1975 mới có việc làm thường xuyên, vào học nghề ấn loát $3.75 Mỹ kim một giờ.) Một chi tiết chuyên môn mà người phi công Mỹ thắc mắc là vụ chiếc xe Jeep bị phục kích, sao giữa trận tiền một vài giây trước khi bị phục kích mà các quân nhân trên xe nói nhiều thế, lại còn biết mà chỉ trỏ vào bụi cây có quân địch nằm phục kích!
            Những kẻ vô tâm hay có tâm địa riêng viết ra rằng Trần Lê Nguyễn ham sống, ham ăn chơi… bằng nghề cờ bạc;(3) đành rằng thơ anh có nói đến Ðại Thế Giới, và thế giới ban đêm của Hòn Ngọc Viễn Ðông trước 1954 (anh vào Nam khoảng 1953); đành rằng thơ anh ra vào những tay anh chị thuở Bình Xuyên, tay búa tay rìu, đành rằng bạn hữu tìm anh khắp nơi không thấy, mà tới sòng bài Kim Chung có nhiều hy vọng gặp anh hơn cả, song rêu rao một đạo diễn không thành công bao nhiêu vì cây thẻ cỗ bài là đem chuyện đời tư viết thành chuyện văn sử.


Vở kịch cuối cùng của Trần Lê Nguyễn trên bìa báo Thời Tập số 14, tháng 11, 1974

            Trần Lê Nguyễn sống trong một ngõ hẻm ngoằn ngoèo ở Bến Chương Dương. Có cố nhớ cũng không nhớ nổi căn nhà ấy. Cầu thang nhỏ hẹp, ọp ẹp, nhưng vào lọt bên trong rồi thì thật thích: một căn phòng dài nhiều cửa, cửa nào nhìn ra cũng thấy những mái nhà. Cả chục mái nhà phía trước. Trên tường treo một hai tấm tranh thật đẹp, của Ngọc Dũng, kể cả tranh lõa thể của Modigliani.

                                    Giao Duyên
                        Từng kiếp sống bồng bềnh
                        Bước chân lầy lối ngõ
                        Tiếng gọi đò hối hả
                        Giữa khuya
                        Ngọn đèn ai còn đỏ lửa
                        Mười năm trời không làm thơ
                        Ðêm nay bút cầy luống chữ.
                        …
                        Ngoại ô trời đen khói bụi
                        Mái nghèo
                        Ðồng ruộng mông mênh
                        Lạc lõng vào đây vài ổ đĩ
                        Ðèn khuya cửa ngỏ
                        – Ðêm qua Sáu Nhỏ không về!
                        Trôi dạt vào đây vài anh chị
                        Búa rìu bằm nát tay trai
                        Có tiếng la trời ơi ới.

                        (Trần Lê Nguyễn, Sáng Tạo, 1958)

            Khung cảnh của bài thơ là khung cảnh con ngõ của anh. Sau này tôi được biết, đó là khu nhà của ông tỷ phú Nguyễn Ðình Quát cho anh ở nhờ, hay thuê với giá rẻ. (Ông Quát này sau có ra tranh cử tổng thống Việt Nam Cộng Hòa.) Ðám cưới của anh, tôi vô tình trở thành người “mừng cúng” nhiều nhất. Anh báo tin lấy vợ tuần tới, người khác giúp thế nào cũng được, riêng tôi chỉ cần cho anh mượn vài vở kịch. Nguyên là những năm làm trong bộ biên tập Ðài Tự Do, một đài đen do người Mỹ tài trợ, anh Phan Tùng Mai (con trai nhà cách mạng Phan Văn Hùm) và tôi thay nhau cung cấp cho đài những vở kịch 30 phút, khoảng 5 nhân vật, cứ hai tuần đến lượt phải cung cấp một vở mới. Trước sau trong mấy năm tôi viết được 27 vở.(4) Anh nói tôi có mừng đám cưới anh thì viết cái giấy cho anh quyền bán lại vài vở kịch tôi đã bán cho VOF để anh lấy bán lại cho một đài nào đó, không còn nhớ đài nào. Nhuận bút tùy theo đài, riêng Ðài Tự Do (thời Ðại Úy Vũ Quang Ninh làm trưởng ban chương trình) trả 5 nghìn một vở. Sau tôi nghe nói làm sao không biết, anh bán được tới 7 vở của tôi cho một đài khác. Tôi có hỏi anh, anh chỉ cười hề hề, nói rằng quà cưới của tôi lớn nhất, nhưng chỉ anh bán lại được thôi, chính tôi có bán cũng không chắc được, đừng tiếc.
            Tôi có nhiều dịp đăng bài của Trần Lê Nguyễn. Anh tên thật Nguyễn Huy Tạo, người Sơn Tây, sinh năm 1923 (có nơi viết 1924). Các nhà văn miền Nam có năm bảy người viết kịch, như Nghiêm Xuân Hồng, Nhật Tiến, Dương Kiền, Phan Tùng Mai, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh, song sống kịch chỉ nên kể Vũ Khắc Khoan và Trần Lê Nguyễn.
            Tháng 10, 1974, Trần Lê Nguyễn ghé tạp chí Thời Tập do tôi làm chủ nhiệm, trao cho tôi vở kịch mới nhất của anh: “Ngôi Nhà Trên Ðồi Thông”. Vở kịch ghi rõ: Thời gian: một năm gần hết cuộc chiến này.
            Hãy thưởng thức đoạn kết của vở kịch, xảy ra tại một đô thị trên vùng cao nguyên (nên hiểu là Ðà Lạt, địa danh thường thấy trong thơ Trần Lê Nguyễn).

                        Ngôi Nhà Trên Ðồi Thông
            – Bường (người con gái ngoài 30 tuổi): Sao lại nhà hoang? Nhà này là nhà riêng của ba tôi để lại cho tôi mà?
            – Liên (người nữ diễn viên độ 25, 26 tuổi): Nhưng cô không chịu nhận lấy mà bỏ đi hoang nên mọi người coi đấy là nhà chung. Cô phải đuổi hết những người chiếm ngụ vô quyền đi về đây mà ở thì nó mới hết là nhà hoang được.
            – Bường: Cô này nói nghe cũng được đấy. Mà cô là ai mà biết rõ về ngôi nhà này quá vậy? Là nữ diễn viên phải không?
            – Liên (giận dỗi): Không là nữ diễn viên gì hết. Tôi là vợ của anh Ðiềm.
            – Ðiềm (hơn 40 tuổi, viết kịch – bàng hoàng): Sao Liên lại nói vậy?
            – Liên (xúc động): Anh quên là đã có lần anh hỏi Liên làm vợ rồi ư? (xa, chậm). Ðấy là buổi sáng mùa Thu đúng ngày anh vào Nam. Anh đến thăm lần cuối cùng ngôi nhà đường Quan Thánh ở chỗ tầu điện tránh nhau.(5) (Vui sướng): Em đưa anh đi chơi ngoài vườn hoa, và nhớ rõ buổi sáng ấy em đẹp tuyệt vời. Không hiểu vì đâu ở tuổi 11 em bỗng nói với anh ý nghĩ ngộ nghĩnh muốn lấy chồng. Nghe thế, anh cười nhấc bổng em lên cao: Thật không? Vậy anh hỏi em làm vợ. Anh sắp đi xa. Ngày về anh sẽ cưới em. (Dịu nhẹ): Có phải đúng như thế không anh?
            – Ðiềm (thấp): Anh không ngờ là Liên còn nhớ.
            – Liên (hân hoan): Làm sao mà em quên được… Khi được sang du học Ðông Ðức, em đã trốn sang Tây Ðức tìm về miền Nam (buồn). Em hỏi tên những người về hồi chánh không thấy tên anh Hạo em… Cho nên lúc này, ở đây, em không có ai là thân thích.
            …Màn hạ…

            (Trần Lê Nguyễn, Thời Tập số 14, tháng 11.1974)(6)


VIÊN LINH
Tháng 5/2015

_____________________________________________
(1) Thế Kỷ Hai Mươi, “Tập san sáng tác khảo luận phê bình văn nghệ”, số 1 ra vào tháng 7, 1960, do Nguyễn Cao Hách làm giám đốc, Nguyễn Khắc Hoạch (nhà thơ Trần Hồng Châu) chủ trương biên tập, họa sĩ Ngọc Dũng thư ký tòa soạn, in tại Tín Ðức Thư Xã, đường Tạ Thu Thâu, Saigon. Báo khổ 7”x10”, giá bán 15 đồng một số.
(2) Khoảng 2005, tác giả Võ Thu Tịnh qua thăm Quận Cam, song tiếc thay ông phải trở về Paris gấp, cơn bệnh đột phát mà bảo hiểm sức khỏe của ông vô dụng ở Hoa Kỳ.
(3) Xem chương Trần Lê Nguyễn trong Văn Học Miền Nam, kịch-tùy bút, Võ Phiến, Văn Nghệ xuất bản, Calif., 1999, trang 2633-34: “Giá ông Trần [Lê Nguyễn] không vướng vào các thú vui, ông tha hồ viết khỏe.”
(4) Vở “Con Ðường Ngựa Chạy” được Giải Văn Chương Toàn Quốc, bộ môn kịch nói, 1972.
(5) “Ngôi nhà đường Quan Thánh” như một biểu tượng của trụ sở Quốc Dân Ðảng, và cả đảng Ðại Việt. Tại đường này có tòa soạn vài tờ báo, có báo Ngày Nay, nơi nhà văn Khái Hưng làm việc khi còn sống.
(6) Thời Tập, Viên Linh và Nguyễn Hữu Hiệu, Lê Tài Ðiển, chủ trương, số 1 xuất bản năm 1973, số chót ra ngày 15 tháng 4, 1975.


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Tran-Le-Nguyen-tho-kich-va-phim-4451/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #136 vào: 14/08/2018, 23:34:51 »
Bảo tàng Orsay: từ nhà ga xe lửa tới “kho báu” nghệ thuật

Paris nổi tiếng là xứ sở nghệ thuật, thiên đường của các bảo tàng, trong đó không thể không nhắc tới bảo tàng Orsay. Musée d’Orsay sở hữu “kho báu” các tác phẩm nghệ thuật nối tiếng của phương Tây giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đặc biệt bảo tàng Orsay sở hữu bộ sưu tập danh tiếng nhất của các nghệ sĩ ấn tượng và hậu ấn tượng như Claude Monet, Van Gogh, Edouard Manet, Paul Cézanne, Pierre-Auguste Renoir, Gauguin… Kho báu nghệ thuật đó đã giúp musée d’Orsay trở thành một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn nhất kinh đô Ánh Sáng. Nhưng bảo tàng không chỉ nổi tiếng về bộ sưu tập mà lịch sử hình thành, phát triển cũng như phong cách kiến trúc của Orsay cũng có nhiều điều đáng nói.

Bảo tàng Orsay, Paris

Lâu đài Orsay
            Bảo tàng Orsay nằm ở một khu phố sang trọng quận 7, trung tâm Paris, bên bờ sông Seine, đối diện vườn hoa Tuileries. Ngược dòng lịch sử, ở vị trí của bảo tàng Orsay hiện nay, vào năm 1810, chính quyền bắt đầu cho xây dựng một tòa nhà gọi là Palais d’Orsay (điện Orsay) cho bộ Ngoại Giao Pháp, nhưng đến khi khánh thành vào năm 1838 thì điện Orsay lại thành trụ sở bộ Thương Mại. Vài năm sau, Palais d’Orsay lại thành trụ sở của Thẩm Kế Viện và Tham Chính Viện.
            Tới thời Công Xã Paris, điện Palais bị thiêu rụi vào ngày 24/05/1871. Suốt nhiều năm sau đó, chính quyền đã tính tới chuyện xây lại Palais d’Orsay hoặc phá hẳn đống đổ nát đi để xây một trường học hay một bảo tàng nghệ thuật trang trí, nhưng tất cả các dự án đều thất bại. Đống đổ nát hoang tàn trên nền điện Orsay trở thành nơi là nơi sinh sôi phát triển của nhiều loại thực vật mới được các nhà sinh học rất quan tâm, các nhà thơ cũng thường lui tới tìm cảm hứng sáng tác.
            27 năm trôi qua, vào năm 1897, khi chỉ còn ba năm nữa là tới ngày Paris tổ chức Triển Lãm Hoàn cầu 1900, Công ty đường sắt Orléan được chính phủ cho phép xây một nhà ga và một khách sạn tại vị trí của Palais d’Orsay để các khách ngoại tỉnh được đi tàu vào đến tận trung tâm Paris thay vì chỉ dừng ở ga Austerlitz xa trung tâm như vào thời đó, đồng thời cũng để đón du khách và các phái đoàn quốc tế tới dự Triển Lãm Hoàn Cầu 1900. Nhiều người tỏ ra lo ngại nhà ga sẽ phá vỡ cảnh quan, làm hỏng diện mạo của khu phố sang trọng bên bờ sông Seine. Nhưng đa phần công chúng vẫn ủng hộ dự án.

Bảo tàng Orsay, Paris

Ga xe lửa Orsay
            Ga Orsay được khởi công xây dựng vào năm 1898 theo bản thiết kế của kiến trúc sư danh tiếng Victor Laloux và được khánh thành đúng ngày Quốc Khánh Pháp 14/07/1900. Đội ngũ kỹ sư, công nhân xây dựng tự hào là trong thời gian kỷ lục hai năm đã hoàn thành nhà ga Orsay. Mang phong cách kiến trúc công nghiệp táo bạo với vật liệu xây dựng chính là sắt, với cấu trúc khổng lồ nặng gấp rưỡi tháp Eiffel, nhưng lại có vô vàn họa tiết trang trí trên mặt đá, ga Orsay là một ví dụ điển hình cho sự đối lập trong kiến trúc hồi đầu thế kỷ XX.
            Mặt ngoài nhà ga được xây dựng bằng đá với nhiều họa tiết trang trí theo phong cách chiết trung. Còn nội thất nhà ga được thiết kế theo trường phái hiện đại, với mái vòm bằng kính khung sắt. Nhà ga có 16 đường tàu ở tầng hầm, nhiều dây chuyền vận chuyển, nâng hành lý, cầu thang máy cho hành khách… Sảnh chính ở tầng trệt cao 32m, rộng 40m và dài 138m. Ngoài ra, phải kể tới một khách sạn hiện đại hạng sang nằm ở cuối nhà ga, về phía tây, với 370 phòng, một nhà hàng hạng sang và một phòng đại tiệc vô cùng sang trọng.
            Một điểm khác biệt là nhà ga Orsay đón cả các con tàu hiện đại chạy bằng điện chứ không chỉ tàu hơi nước như ở ga Austerlitz. Nhà ga tấp nập trong suốt 30 năm. Các chuyến tàu chở lãnh đạo nước ngoài đến thăm Paris đều dừng tại ga Orsay. Rồi kỹ thuật ngày càng tân tiến, đầu máy xe lửa ngày càng có tốc lực cao nên các đoàn tàu được kéo dài hơn, nhiều kè tàu ngày càng trở nên quá ngắn so với đoàn tàu, việc kéo dài kè tàu lại không đơn giản. Thêm vào đó, thói quen đi lại của người dân dần thay đổi, xe hơi phát triển, dân cư tập trung ngày càng đông ở khu phố có nhà ga Austerlitz. Chính vì thế, hoạt động của ga Orsay giảm dần.
            Từ năm 1939, tại nhà ga Orsay, chỉ có các tuyến tàu nối Paris với vùng phụ cận, còn các tàu liên tỉnh thì chuyển về ga Austerlitz. Năm 1945, vào cuối Thế Chiến Đệ Nhị, nhà ga trở thành trung tâm chuyển phát bưu phẩm cho tù nhân chiến tranh, rồi thành trung tâm đón tiếp tù nhân chiến tranh và những người còn sống sót và trở về từ các trại tập trung ở Đức. Từ năm 1950, chỉ còn một vài đường tàu hoạt động. Và hoạt động đường sắt của nhà ga chính thức chấm dứt vào năm 1958.
            Trong những năm 1960, nhà ga thành phim trường của nhiều bộ phim, một nhà hát cũng được đưa vào hoạt động… Khách sạn trong nhà ga cũng dừng hoạt động. Lãnh đạo ngành du lịch Paris muốn xin phép chính phủ phá dỡ nhà ga để xây một khách sạn quốc tế sang trọng, quy mô lớn. Nhiều kiến trúc sư nổi tiếng thời đó đã gửi bản thiết kế dự thi. Cuối cùng, thiết kế của hai kiến trúc sư René Coulon và Gillet được lựa chọn. Theo thiết kế đó, khách sạn gồm 800 phòng, cao 8 tầng, với các phòng hội nghị chứa được 1.250 người, hai nhà hàng, nhiều cửa hiệu và một bãi đậu xe 700 chỗ.
            Năm 1970, giấy phép phá dỡ nhà ga Orsay đã được cấp nhưng ông Jacques Duhamel, bộ trưởng Văn Hóa dưới thời tổng thống Georges Pompidou, có ý kiến phản đối dự án xây dựng khách sạn của hai kiến trúc sư Coulon và Gillet. Năm 1973, nhà ga Orsay được ghi vào danh sách bổ sung các công trình lịch sử, và chính thức được xếp hạng công trình lịch sử của Pháp vào năm 1978.

Bảo tàng Orsay, Paris

Bảo tàng Orsay
            Ban giám đốc cơ quan phụ trách bảo tàng của Pháp đề xuất cải tạo nhà ga thành một bảo tàng nhằm giới thiệu toàn bộ các tác phẩm nghệ thuật giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, với mong muốn bảo tàng mới sẽ làm “cầu nối” cho bộ sưu tập của bảo tàng Louvre với các tác phẩm trưng bày trong bảo tàng quốc gia về nghệ thuật hiện đại (Centre Georges Pompidou). Dự án trên đã được tổng thống đương nhiệm Georges Pompidou chấp thuận. Sau này, các tổng thống kế tiếp là Valéry Giscard d’Estaing và François Mitterand cũng ủng hộ dự án cải tạo nhà ga Orsay thành bảo tàng nghệ thuật.
            Năm 1978, Nhà nước Pháp tổ chức một cuộc thi thiết kế và nhóm Kiến Trúc ACT gồm ba kiến trúc sư trẻ đã thắng cuộc. Theo ý tưởng của ba kiến trúc sư Pierre Colboc, Renaud Bardon và Jean-Paul Philippon, cửa vào ở phố Bellchasse được giữ nguyên, các phòng mái vòm của nhà ga Orsay cũ được cải tạo thành lối đi chính còn sảnh chính dài, rộng và thông thoáng của nhà ga trở thành phòng trưng bày chính. Sườn mái trên nóc cao của nhà ga cũng được cải tạo thành phòng trưng bày trải dài. Còn các cột trụ, thanh xà bằng kim loại (tổng trọng lượng 12.000 tấn) và kiểu trang trí bằng đá giả hoa vẫn được giữ nguyên. Nhìn một cách tổng thể, cấu trúc của công trình cũ vẫn được bảo toàn với mái vòm kính, khung sắt, cao, dài, rộng.
            Nghe thì đơn giản vậy nhưng cải tạo một nhà ga, một công trình chuyên phục vụ việc đi lại với nhiều tiếng ồn ào, chuyển động thành một bảo tàng, một nơi cần sự yên tĩnh, kín đáo để các du khách thả hồn chiêm ngưỡng nghệ thuật lại không hề đơn giản chút nào. Nếu chỉ cần có hai năm để xây dựng nhà ga thì các kỹ sư phải mất tới gần 10 năm mới hoàn thành công tác cải tạo nhà ga thành bảo tàng.

“Điện Panthéon” của ngành nghệ thuật
            Tháng 06/1986, khi nhà ga Orsay đã được cải tạo xong, các tác phẩm nghệ thuật bắt đầu được vận chuyển đến. Phải cần 6 tháng mới có thể xắp xếp, treo 2.000 bức tranh, trưng bày 600 tác phẩm điêu khắc, các maquette kiến trúc, tranh vẽ chì, ảnh…
            Ngày 01/12/1986, tổng thống François Mitterand khai trương bảo tàng Orsay. Cũng giống như nhiều công trình khác như tháp Eiffel, bảo tàng Pompidou…, khi mới đi vào hoạt động, musée d’Orsay đã chịu nhiều chỉ trích dữ dội từ giới chuyên môn và công chúng, không chỉ về kiến trúc mà còn về việc lựa chọn các tác phẩm nghệ thuật để trưng bày. Nhưng bảo tàng Orsay đã nhanh chóng vươn lên thành “điện Panthéon của nghệ thuật” giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Sau 30 năm hoạt động, với hơn 6.000 tác phẩm nghệ thuật, Orsay hiện là một trong những bảo tàng có giá trị nhất, nổi tiếng nhất Paris và là một trong những bảo tàng thu hút đông khách tham quan nhất thế giới.


THÙY DƯƠNG
Tháng 9/2017



http://vi.rfi.fr/phap/20170908-bao-tang-orsay-tu-nha-ga-xe-lua-toi-%C2%AB-kho-bau-%C2%BB-nghe-thuat

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #137 vào: 21/08/2018, 23:13:39 »
Tháng Bảy, nhớ Nguyễn Mộng Giác

Với một số lượng sáng tác dồi dào, đa dạng, phong phú bao gồm hai trường thiên tiểu thuyết, một số truyện dài, rất nhiều truyện ngắn, Nguyễn Mộng Giác đã tạo ra một số lượng nhân vật đủ hạng đủ loại, từ trí thức, vua quan, cho đến người bình dân, từ phe bên kia phe cho đến bên này, và cả người nước ngoài. Các nhân vật của anh thường là những “nhân vật tâm lý” với những biến chuyển tâm lý phức tạp, nhưng không vượt quá những giới hạn thông thường.

Nguyễn Mộng Giác và Trần Doãn Nho (2010)

Ðọc lại truyện ngắn “Ngày Về Không Nắng”
            Nguyễn Mộng Giác mất ngày 2 Tháng Bảy, 2012. Đã sáu năm!
            Nhớ Nguyễn Mộng Giác, tôi đọc lại một trong những truyện ngắn hay mà tôi thích của anh: “Ngày Về Không Nắng”, từ trong tập truyện “Xuôi Dòng”.
            Truyện kể về cuộc hội ngộ của hai vợ chồng sau một thời gian dài xa cách, diễn ra trong một buổi chiều tại căn nhà cũ của hai vợ chồng. Người chồng vừa trở về từ trại “cải tạo” sau sáu năm “học tập”. Người vợ, hiện đang sống với tình nhân ở một nơi khác trong cùng thành phố, được bà mẹ chồng báo tin và cho phép đến thăm chồng cũng như thăm đứa con của hai người hiện do bà nội nuôi dưỡng. Ngoài hai vợ chồng, còn có thêm bốn nhân vật khác, mỗi người đóng một vai trò riêng, gia thêm mùi vị cho một cuộc đoàn tụ éo le. Mẹ chồng, thương con, do đó, trong thâm tâm, dù không nói ra, nhưng mong hai vợ chồng có ngày tái hợp. Đứa con thì ngây thơ, hồn nhiên, thấy mẹ là sa vào lòng, không hề biết rằng mẹ minh đã “mất quyền làm mẹ”. Một người bạn tình cờ tới thăm lại càng vô tình hơn, vì chẳng biết mô tê gì về hoàn cảnh ngang trái của cặp vợ chồng này, cứ vui vẻ kể chuyện gia đình đoàn tụ. Chỉ có cô em chồng là thái độ dứt khoát, không chấp nhận người chị dâu “lăng loàn”, bỏ chồng theo trai.
            Chả thế mà buổi gặp gỡ diễn ra đầy kịch tính.
            Sau một thời gian hồi hộp chờ đợi, người chồng nhìn thấy vợ mình đi vào.

            “Vợ chàng vào sân xong, em gái chàng dập thật mạnh cánh cổng sắt. Hình như vợ chàng có nói cảm ơn, nhưng chỉ có tiếng chân bước thình thịch của Bích ở hẻm phụ đáp lại. Không thể trốn tránh được nữa, chàng đứng dậy. Tiếng guốc ngập ngừng, rồi dừng lại ở cửa lớn. Chàng tiến thêm hai bước. Vợ chàng gầy ốm hơn chàng tưởng. Đôi vai so trong chiếc áo dài mầu hoa cà có in hoa trắng trang nhã, quà chàng tặng vợ sau một chuyến đi xa. Da mặt nàng tái xanh, hai bên má phơn phớt hồng. Vợ chàng có thói quen dùng sáp môi xoa một lớp mỏng lên hai bên má thay cho phấn, và ngay từ ban đầu, chàng nhận thấy nàng vẫn còn giữ thói quen cũ.
            Có lẽ trước khi đến gặp chàng, nàng điểm trang vội nên một vệt son còn rõ ở má phía trái. Chàng chú ý nhất đến đôi mắt vợ. Đôi mắt hớt hãi, ngượng ngùng, chới với, giống y đôi mắt Sonia trong tranh bìa cuốn tiểu thuyết Crime et Chatiment của nhà xuất bản Marabout nàng mua tặng chàng hồi còn học ở Văn Khoa. Chàng cảm thấy thương hại, chứ không thù hận nàng, như chàng đã chuẩn bị để thù hận từ buổi sáng”.


            Lạ chưa! Một người chồng đi ở tù về, bị vợ bỏ; một người vợ bỏ chồng đi lấy trai trong khi chồng đang ở tù, mà trông như hai người đang gặp nhau ở chỗ hẹn đầu đời. Thay vì chứng kiến cảnh một người chồng giận dỗi, sẵn sàng mắng nhiếc người vợ phản bội, và một người vợ tới thăm chồng với thái độ lì lợm, trâng tráo, chua ngoa sẵn sàng đối phó với bất kỳ lời kết án nào, ở đây, ta thấy nàng “ngập ngừng”, “đôi mắt hớt hãi, chới với” còn chàng thì “cảm thấy thương hại, chứ không thù hận” nàng.
            Sau đó,

            “Vợ chàng dừng lại ở chỗ ngạch cửa, chờ chàng tiến đến. Chàng bước thêm hai bước nữa, chỉ còn cách nàng không đầy một thước. Nàng liếc nhanh nhìn chàng, rồi cúi xuống nhìn chiếc guốc phải đang dí dí trên nền xi măng loang lở, nói nhỏ trong hơi thở:
            – Em xin đến thăm con!”


            “Em xin đến thăm con”, tội nghiệp! Như thế thì đã rõ. Người đàn bà này, do hoàn cảnh nào đó xui đẩy, đã phải bỏ chồng, nhưng cảm thấy mình có tội, nên bày tỏ thái độ của một người biết mình có tội.
            Còn đứa con thì sao?

            “Vừa lúc đó, con chàng chạy về. Nó trố mắt nhìn mẹ, rồi phóng đến ôm chầm lấy nàng. Giọng thằng bé thảng thốt:
            – Má, má! Má về luôn hở má?
             (…)
            Chàng liếc nhìn mẹ, e ngại. Vợ chàng tận dụng cơ hội, ôm lấy con hôn lấy hôn để. Vừa hôn, nàng vừa khóc.
             (…)
             Thằng bé đi rồi, vợ chàng chới với không biết phải làm gì, như vừa mất chỗ tựa cuối cùng khiến cuộc đời trở nên chênh vênh”.


            Người chồng, sau cảm giác thương hại lúc đầu, bỗng hoàn toàn thay đổi thái độ:

            “Chàng ngước lên, và lần đầu tiên, thấy trong cách nàng mỉm cười, có cái gì đĩ thõa, tráo trở. Lòng chàng sôi lên hận thù. Phải, nàng đã nhìn hắn hàng trăm lần, hàng nghìn lần một cách mơn trớn vuốt ve như thế, có thể còn mơn trớn vuốt ve hơn lúc này nữa. Bây giờ, chàng thấy lối trang điểm vội vàng qua loa là dấu hiệu sự chểnh mảng, xem thường. Đi với hắn, nàng có dám trang điểm cẩu thả thế đâu! Nàng còn cả gan mặc chiếc áo tím hoa cà ngày xưa! Thêm thái độ tự tung tự tác của người chủ nhà nữa chứ! (…) Nàng nắm đàng cán. Nắm vận mệnh của đời ta. Không có chữ ký của nàng, chàng thành kẻ vô sở trú, không nhà cửa, không nghề nghiệp, làng thang đầu đường xó chợ. Càng nghĩ, hận thù càng dâng trào”.

            Có thế chứ! Giận là đúng. Căm thù là đúng. Tạo sao lại phải thương xót một người vợ đã nhẫn tâm bỏ chồng trong cơn hoạn nạn?
            Ấy thế mà, chỉ một lát sau, tâm trạng anh ta lại thay đổi một lần nữa:

            “… khi thấy vợ chàng nhìn theo mẹ chồng nước mắt đoanh tròng, chàng bùi ngùi thương hại. Chàng không nỡ. (…) … chàng không thể tàn nhẫn. Hận thù lại tan dần, thay thế bằng lòng thương hại”.

            Rồi sau đó, chàng “chua chát”, chàng “nghẹn lời”. Tóm lại, chàng vẫn còn thương vợ. Chàng bày tỏ tình thương đó bằng một cử chỉ đơn giản: đẩy tách nước đến mời vợ uống. Vợ cảm động, thút thít khóc. Và chàng cảm thấy khó xử, không biết phải làm gì. Thấy chồng không giận, nàng van xin chồng cho nàng được đến thăm con thường xuyên. Thấy vợ xuống nước, chàng lại nói, “… cần gì cô phải xin. Cô là chủ hộ. Cô muốn làm gì trong nhà này chẳng được”,
            Trước câu nói tuy thành thực, nhưng chứa đầy nét hờn dỗi đó, người vợ phản ứng ra sao?

            “Nàng mím môi lại. Không nói năng, nàng chụp lấy cây bút bi, ký vào phần ý kiến của chủ hộ. Cây bút bi để lâu ngày không ra mực, nàng phải di di đầu bút lên lòng bàn tay nhiều lần. Chữ ký của nàng run rẩy. Nét gạch bên dưới không được ngay, trông giống như một chữ ký giả mạo.
            Chàng lấy giọng khách sáo:
            – Nhờ cô mà tôi được tạm trú trong nhà mình. Cảm ơn cô.
            Phần nàng, nàng trở lại van lơn:
            – Em van anh, cho em được ở tạm đây với con đến sáng mai. Em ao ước được ôm con ngủ trọn một đêm. Em van anh!
            Nàng khóc nức nở. Chàng đâm hối hận, muốn ôm lấy vai nàng, muốn nói điều gì đấy để an ủi. Nhưng cổ họng chàng nghẹn. Rụt rè do dự mãi, đến lúc không thể dằn được, chàng run run đưa lưng bàn tay lên gạt nước mắt trên má nàng. Ban đầu, hình như nàng chìm đắm trong nỗi thống khổ da diết, không hay biết gì. Về sau, nàng hiểu thiện chí của chàng. Nàng càng nghẹn ngào hơn, đưa hai bàn tay ôm bàn tay chàng, gượng nhẹ, như e sợ nắm phải một điều gì không thực”.


            Một cảnh sum họp ngang trái, rốt cuộc, diễn ra y như một cuộc trùng phùng.
            Rồi sao nữa? Đúng lúc hai người nắm tay nhau, thì bà mẹ chồng xuất hiện, “ngơ ngác nhìn hai người”. Và tấm sáo trúc dùng làm màn ngăn phòng “bị rẽ đôi, đôi vành khuyên đang rỉa lông cho nhau xao động biến dạng không còn hình thù gì nữa…”
            Rồi sao nữa? Tác giả để cho người đọc tự thêm vào. Nhưng trong phạm vi của một truyện ngắn, đó là một “happy ending”. Thực ra, theo tôi, cái “happy ending” này chỉ là bắt đầu cho một bi kịch trải dài về sau. Độc giả có thể tìm đọc truyện ngắn này ở đường nối sau: https://nguyenmonggiac.com/truyen-ngan/xuoi-dong/492-ngay-ve-khong-nang.html
            Nguyễn Mộng Giác, sinh năm 1940 tại Quy Nhơn, là tác giả của hai bộ trường thiên nổi tiếng: “Sông Côn Mùa Lũ” và “Mùa Biển Động”.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 07/2018


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/vhnt-thang-bay-nho-nguyen-mong-giac/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #138 vào: 28/08/2018, 23:16:19 »
Tháng Chín, nhớ Françoise Sagan: Tiểu yêu nữ khả ái

“Bonjour Tristesse” (Buồn Ơi Chào Mi), ngay sau khi tác phẩm được phát hành vào Tháng Ba, 1954, Françoise Mauriac, một trong những nhà văn được kính trọng nhất thời bấy giờ của Pháp, trong một bài báo viết trên trang đầu của tờ “Le Figaro”, không nhắc đến tên tác phẩm mà cũng không nêu tên tác giả, gọi Françoise Sagan là một “tiểu yêu nữ khả ái” (charmant petit monstre). Nhóm từ này, về sau, trở thành một biệt hiệu khác dành riêng cho Sagan.

Tác phẩm “Bonjour Tristesse” của nhà văn Françoise Sagan

CÁI TÊN, CÁI TỰA ĐỀ, cả Pháp lẫn Việt, không chỉ là tên và tựa đề mà – với tôi – là biểu trưng cho cả một thời kỳ.
            Cuối thập niên 1950 và đầu thập niên 1960, thế hệ chúng tôi, đặc biệt những người sống ở các thành phố lớn như Huế, Sài Gòn, Ðà Nẵng, Ðà Lạt, người thì vừa bắt đầu vào Trung Học Đệ Nhị Cấp (đệ tam, đệ nhị, đệ nhất), kẻ thì vừa bước chân lên ngưỡng cửa đại học, thế hệ chúng tôi được chứng kiến và sống trọn với nhiều chuyển biến đã để lại những ảnh hưởng sâu đậm đến nền văn học nghệ thuật miền Nam.
            Từ những “Hồn Bướm Mơ Tiên”, “Đoạn Tuyệt”, “Nửa Chừng Xuân”… của Tự Lực Văn Đoàn, chúng tôi bước vào “Cũng Đành”, “Chuyến Tàu Trên Sông Hồng”… Từ Nhất Linh, Khái Hưng, Xuân Diệu, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, chúng tôi hào hứng đến với Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Tô Thùy Yên, Dương Nghiễm Mậu, Mai Thảo, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, và rất nhiều khuôn mặt mới toanh khác, thuộc đủ mọi ngành nghệ thuật.
            Về văn học nước ngoài, tuy người Pháp đã ra đi, nhưng ảnh hưởng của văn hóa Pháp vẫn còn mạnh mẽ. Chúng tôi vẫn thích nói về Paris, về viện bảo tàng Louvre, về sông Seine, về khu Saint-Germain-des-prés, về công viên Luxembourg, những địa danh xa xôi nào đó ở Paris mà chúng tôi chưa hề đặt chân tới.
            Chúng tôi đọc sách báo Pháp, nghe nhạc Pháp, xem phim Pháp, chuộng phong thái “parisien”. Chúng tôi vẫn thường lui tới các phòng thông tin văn hóa Pháp để đọc sách, mượn sách và theo học các lớp Pháp ngữ. Ở đó, chúng tôi bắt đầu “quen biết” những khuôn mặt văn chương hiện đại Pháp: những Jean-Paul Sartre, Albert Camus, Jacques Prévert…
            Chả thế mà, khi ra đường hay tới quán cà phê, sau yên chiếc xe đạp hay trên tay, có chàng lúc nào cũng kè kè một cuốn “Livre de Poche” gọn, nhỏ mà chữ nghĩa và tên tuổi rất “nặng ký”, chẳng hạn như “La Condition humaine” hay “Le Mur”, “La Nausée”, “Le Malentendu”… Để đọc thì ít nhưng để “làm le”, để “trộ” bạn bè hay làm dáng thì nhiều.
            Rồi xem phim của Brigitte Bardot đóng, rồi nghe Sylvie Vartan, Johnny Hallyday hay Francoise Hardy hát. Vân vân và vân vân. Đó là “mốt” thời thượng của thế hệ chúng tôi.
            Trong không khí đó, Françoise Sagan với “Bonjour Tristesse” xuất hiện. Cuốn truyện, ấn bản “Le Livre de Poche” nhỏ, gọn, chỉ khoảng 170-180 trang, chữ khổ trung bình. So với Sartre, Camus hay Malraux, văn của “Bonjour Tristesse” viết gọn ghẽ, dễ hiểu hơn nhiều. Tư tưởng tuy mới, nhưng tương đối gần gũi, không có gì cao siêu, khó hiểu, chỉ cần trình độ Pháp văn trung bình là có thể đọc hết nguyên con trong một thời gian tương đối ngắn. Với “Bonjour Tristesse”, một cánh cửa vốn đóng im ỉm bỗng nhiên mở toang trước mặt chúng tôi. Thế giới đột nhiên mênh mông hẳn ra. Cuộc sống bỗng nhiên trở thành lạ mặt. Thành phố, người thân, người yêu, bạn bè, trường học, gia đình… bỗng xuất hiện trong một dáng dấp hoàn toàn đổi khác.
            “Bonjour Tristesse” kể một câu chuyện rất lạ và rất mới.
            Cô gái tên là Cécile, 17 tuổi cùng cha là Raymond, trong độ tuổi 40, góa vợ và bà Elsa, tình nhân của cha, đi nghỉ Hè ở bờ biển Côte d’azur. Sau, cha cô mời thêm một người bạn cũ của mẹ cô là Anne cùng đến đó. Trên bãi biển, cô quen một sinh viên, cũng đi nghỉ Hè, tên là Cyril, và cùng nhau đi chơi, đi bơi, đi khiêu vũ. Rồi hôn nhau và… làm tình với nhau.
            Anne là một người đàn bà cỡ tuổi 40, chăm sóc cô như một người mẹ và khá nghiêm khắc. Bà ta tỏ ra không ưa Cyril và muốn Cécile bỏ anh ta và học để thi lại cái bằng tú tài mà cô hỏng năm rồi. Ðiều này khiến Cécile vô cùng bực bội và đâm ra ghét Anne.
            Ðã thế, sau một thời gian ngắn, cha cô yêu Anne, bỏ rơi Elsa và dự tính kết hôn cùng bà ta, khiến cô lại càng tức giận hơn. Thế là cô cùng anh chàng tình nhân vừa quen sắp đặt một kế hoạch để ly gián hai người. Ðược sự đồng ý của Elsa (bà này cũng đang buồn vì bị tình phụ), hai người dàn một cảnh trong đó có vẻ như Cyril và Anne yêu nhau và để cho cha cô trông thấy.
            Ông giận dữ vì thấy tình nhân của mình lại bị một tay trai trẻ bằng tuổi con mình chiếm đoạt, nên hối hận, quay về với Elsa. Anne bắt gặp hai người âu yếm, buồn tình bỏ đi, và bị tai nạn, chết. Mọi người hối hận, nhưng chuyện đã rồi. Cha cô và cô trở về lại Paris, sống lại đời sống bình thường cũ. Nhưng cô gái trẻ bây giờ không còn vô tư như trước mà phát sinh ra một trạng thái tình cảm mới: nỗi buồn.
            Văn chương cũng lạ và mới. Nụ hôn đầu đời giữa anh chàng và nàng: “Chàng ôm chặt lấy tôi, nâng tôi lên, đầu dựa vào vai chàng. Lúc đó, tôi yêu chàng. Trong thứ ánh sáng của buổi sáng, chàng cũng rực rỡ, cũng dễ thương, cũng dịu dàng như tôi, chàng bảo bọc tôi. Khi môi chàng tìm môi tôi, tôi bắt đầu run rẩy vì khoái cảm y như chàng và chúng tôi hôn nhau mà không một chút hối hận, không một chút hổ thẹn mà chỉ là một kiếm tìm rướn sâu, ngắt quãng bởi những tiếng thì thầm”.
            Cảnh làm tình được diễn tả ngắn gọn, cô đọng: “Chàng nắm lấy cánh tay tôi, vừa giữ tôi lại vừa cười. Tôi quay về phía chàng và nhìn chàng; mặt chàng tái đi như tôi và buông tay tôi ra. Nhưng rồi chàng lại vội vàng ôm lấy tôi và kéo tôi lại. Tôi mơ hồ cảm nhận: cái đó sắp tới rồi, cái đó sắp tới rồi. Sau đó là liên khúc tình yêu: nỗi sợ hãi tiếp sức cho cơn ham muốn, sự dịu dàng và cuồng nhiệt và rồi nỗi đau buốt nối tiếp với cơn hả hê khoái cảm. Ngày ấy, tôi sung sướng – còn Cyril hết sức dịu dàng – khám phá cơn khoái cảm đó”.
            Sau giây phút “ghê gớm” đó, cô gái trở về phòng với một cung cách trông rất bình thường, thậm chí rất thản nhiên y như chẳng hề có gì xảy ra: “Tôi lấy điếu thuốc trên bàn, quẹt một que diêm trên hộp quẹt. Diêm tắt. Tôi cẩn thận đốt một que khác, không có gió thế mà bàn tay tôi run rẩy. Diêm tắt ngay khi chạm điếu thuốc. Tôi lầm bầm bực bội và lấy thêm một que nữa. Lúc này không hiểu tại sao, que diêm này lại mang sự quan trọng sống còn đối với tôi đến như vậy”.
            Thực ra, cái cách hút thuốc này chỉ để khỏa lấp sự bối rối một cách vô thức. Ấy thế mà, cuối cùng, cô gái từ giã người tình đầu, dửng dưng, tỉnh bơ y như một chuyện thường ngày, không có gì quan trọng cả: “Cyril bước về phía tôi và đặt tay trên vai tôi. Tôi nhìn chàng: tôi không hề yêu chàng. Tôi thấy chàng tốt và hấp dẫn; tôi mê cái khoái cảm mà chàng đã cho tôi; nhưng tôi không hề cần chàng. Tôi sắp ra đi, rời ngôi nhà này, rời người con trai này và rời mùa Hè này”.
            Ðơn giản và thẳng thắn và sòng phẳng đến thế thì thôi!
            Và đây là đoạn văn cuối cùng trong tập truyện: “Chỉ khi tôi lên giường nằm ngủ vào lúc rạng đông, với tiếng động duy nhất là xe cộ chạy trong thành phố Paris, thì trí nhớ phản bội tôi: (tôi tưởng) mùa Hè trở lại với tất cả những kỷ niệm (êm đềm) của nó. Anne, Anne! Tôi gọi thầm tên Anne nhiều lần, gọi rất lâu trong bóng tối. Có điều gì dâng lên trong lòng khi tôi đón nhận cái tên này, mắt tôi khép lại: Buồn ơi, chào mi!
            Đấy, văn chương của “Bonjour Tristesse”. Đọc lại, ta vẫn cảm thấy có chút gì gần gũi, thú vị, thiết tha. Và đọc lại để nhớ “tiểu yêu nữ khả ái” Françoise Sagan.
            Nàng đã vĩnh viễn ra đi. Chao ơi, mới đó mà 13 năm rồi!


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 10/2017


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thang-chin-nho-francoise-sagan-tieu-yeu-nu-kha-ai/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #139 vào: 04/09/2018, 22:57:09 »
Ý Lan: Tiếng hát đam mê đến từ cảm xúc

Một trong những giọng ca nữ hải ngoại thành danh là Ý Lan, cô được giới thưởng ngoạn hâm mộ nhờ chất giọng nhẹ nhàng, đẹp, sang và đầy quyến rũ. Cô không chỉ nổi tiếng bởi là trưởng nữ của nghệ sĩ Thái Thanh mà còn được biết đến bởi nghị lực vượt qua căn bệnh hiểm nghèo với tâm nguyện mang tiếng hát đến cống hiến cho đời và cho người.

Ca sĩ Ý Lan trong một lần biểu diễn ở Hoa Thịnh đốn

TRƯỚC KHI nghe cuộc trò chuyện với người nghệ sĩ tài năng này, chúng tôi xin được đọc thủ bút của danh ca Thái Thanh viết cho cô khi bà nằm trên giường bệnh nhân kỷ niệm 10 năm ca hát của Ý Lan năm 2000:

            Ý Lan! Con cho bố mẹ tiếng khóc đầu đời, rồi định mệnh đã an bài, tiếng khóc trở thành tiếng hát của quê hương tôi.

Vũ Hoàng: Trước hết Vũ Hoàng thay mặt thính giả đài RFA cám ơn ca sĩ Ý Lan đã dành thời gian cho chương trình âm nhạc. Thưa chị, báo giới đã viết về tiếng hát của chị rất là nhiều rằng tiếng hát và kỹ thuật thừa hưởng từ mẹ, kỹ thuật trình diễn thừa hưởng từ cha. Một tác động tổng hòa như vậy tạo nên một Ý Lan, hôm nay qua làn sóng của đài, chị có thể chia sẻ những gì đã đến với Ý Lan của ngày hôm nay được không thưa chị?
Ca sĩ Ý Lan: Trước tiên, Ý Lan phải xin gửi lời để cảm tạ tất cả các quý khán thính giả về những nhận xét đặc biệt dễ yêu như thế này, cho Ý Lan trở thành Ý Lan của ngày hôm nay. Thực ra, tất cả những điều Vũ Hoàng đang nói không sai ở điểm là tự nhiên trong dòng máu của Ý Lan đã phải có những điều đặc biệt mà bố mẹ lưu lại cho Ý Lan. Ngày bé, bố đặt tên cho Ý Lan và nói với mẹ Thái Thanh em bé của mình mai sau này bố muốn đặt một cái tên mà tất cả mọi người và mọi giới trên thế giới đều gọi tên con gái của mình mà không bị ngượng ngập bởi tất cả các dấu là bởi vì con gái của mình là người Việt Nam, không để dấu chỉ là Y Lan, nhưng vì là người Việt Nam phải có dấu, nên đặc biệt có chữ “Ý”. Thành ra kỷ niệm này ở mãi trong Ý Lan, hôm nay được chia sẻ với tất cả các quý vị là bố Lê Quỳnh đã có những ao ước Ý Lan sẽ trở thành một minh tinh màn bạc để làm sao cả thế giới được biết đến, mộng của bố Ý Lan to đến thế!

Vũ Hoàng: Vũ Hoàng thì tin chắc chắn là những ước vọng của ông cách đây hơn nửa thế kỷ thì đã trở thành hiện thực từ rất lâu vì ai cũng nhắc đến tên của chị khi nói đến dòng tình ca của Việt Nam mình. Thưa quí vị và thưa ca sĩ Ý Lan, khi nghe tiếng hát của chị người ta thấy có gì đó thoang thoảng chất giọng nghệ sĩ Thái Thanh vì con gái phải được thừa hưởng chút gì của mẹ rồi. Vũ Hoàng muốn hỏi là làm thế nào để chị có thể thoát được bóng của bà để có một Ý Lan của ngày hôm nay, thưa chị?
Ca sĩ Ý Lan: Vâng, thực sự ra Ý Lan chẳng muốn thoát khỏi cái bóng của mẹ đâu vì bóng của mẹ quá đẹp và quá bao la trong âm nhạc Việt Nam. Cho đến ngày hôm nay, mọi người chấp nhận Ý Lan là Ý Lan thì đây là một hạnh phúc vô cùng, Ý Lan phải mang ơn mẹ Thái Thanh là đã trải thảm đỏ cho Ý Lan bước mà không bị ảnh hưởng bởi tiếng hát của mẹ. Làm sao mà không ảnh hưởng được vì Ý Lan yêu mẹ quá, (tiếng hát mẹ) có thoang thoảng đâu đấy nhưng thực sự mẹ đã làm đúng điều này là bởi vì ngày xưa Ý Lan đã từng trách mẹ là mẹ ơi vì sao ngày xưa mẹ mở lớp dạy cho bao nhiêu học trò của mẹ mà mẹ nhất định chẳng dạy con, thì mẹ trả lời Ý Lan thế này: Con ơi, mẹ có nhiều kinh nghiệm trong vấn đề ca hát, khi mẹ nghe tiếng hát của con mẹ hiểu rằng mẹ phải để cho con một mình lớn mạnh, trong tiếng hát của con có những điểm đặc biệt mà mẹ không muốn dạy con để rồi xóa đi những đặc điểm đặc biệt đó của con, mẹ chỉ muốn yên lặng ngồi nhìn thấy con trưởng thành là mẹ thấy hãnh diện, vì con là con chứ con không phải là một người học trò của Thái Thanh.

Vũ Hoàng: Vâng, rất là đặc biệt đúng không ạ! Vũ Hoàng cũng đọc ở đâu đó nói là nghệ sĩ Thái Thanh không bao giờ dạy ca sĩ Ý Lan, ca sĩ Ý Lan tiết lộ là bà không dạy cho chị và Vũ Hoàng nghĩ đấy cũng là một câu hỏi định hỏi chị, nhưng thôi chị đã giúp Vũ Hoàng trả lời rồi, nên bây giờ Vũ Hoàng có câu hỏi khác mà chắc chắn nhiều người cũng đặt câu hỏi là tiếng hát của chị được nhiều người biết đến khi chị đã ngoài 30, chị đi hát khá muộn. Có bao giờ chị cảm thấy tiếc nuối là mình đã không được thỏa sức vẫy vùng khi tuổi thanh xuân không ạ?
Ca sĩ Ý Lan: Khi Ý Lan mới bắt đầu đi hát thì điều này đã từng đến với Ý Lan là bởi vì rất nhanh chóng chỉ trong vòng 6 tháng là Ý Lan được book show đầy, cứ bay như là chim bay, Ý Lan từng hỏi mình ồ phải chi mình được đi hát sớm hơn chắc thời gian khi mình còn trẻ chắc vui lắm mà mình không được hiểu nó như thế nào. Nhưng rồi, ngày càng bước đi trong lĩnh vực ca nhạc tại hải ngoại thì càng làm cho Ý Lan có những suy nghĩ khác đi và cảm thấy mang ơn hơn với cuộc đời, bởi càng hát Ý Lan càng cảm nhận được rằng giây phút đến với mình như một sự chín muồi hơn. Cho đến giờ phút này Ý Lan nghĩ rằng điều suy nghĩ về sau này của mình có lẽ đúng hơn là những sự ham muốn khi thời tuổi trẻ của mình.

Vũ Hoàng: Vũ Hoàng cám ơn ca sĩ Ý Lan chia sẻ để mọi người hiểu hơn về tâm tư, hoài bão hay những trải nghiệm của chị với tiếng hát, với cuộc đời. Nhưng bây giờ xin quay lại một chút với chất giọng rất đặc biệt của chị nhẹ, mượt, nồng say, được biết là ca sĩ Ý Lan không qua trường lớp chính quy nào, nhưng làm thế nào để chị có thể thổi một cái hồn rất riêng của chị vào một ca khúc, khi chị cất tiếng hát lên mọi người biết ngay đây chính là tiếng hát của Ý Lan mà không phải của một nữ ca sĩ nào khác?
Ca sĩ Ý Lan: Ý Lan nghĩ rằng mỗi một người ca sĩ có một sự cảm nhận và chuyển tải dòng nhạc đến với khán giả riêng của mình, nếu người ca sĩ ấy hoàn toàn dùng hồn của chính mình, cảm xúc của riêng mình để đưa dòng nhạc đó đến tâm hồn của mình trước tiên, rồi từ đó, tiếng hát ấy tung bay để đến với khán thính giả. Ý Lan thực sự sống với âm nhạc, mỗi khi Ý Lan hát là như Vũ Hoàng nói trong say mê. Thực sự, sự đam mê và say mê đó hoàn toàn đến từ cảm xúc riêng của mình. Khi Ý Lan hát không còn để ý đến những gì xung quanh mình chỉ sống với âm nhạc ngay trong thời điểm ấy. Vũ Hoàng biết không có nhiều lúc khán thính giả đã chia sẻ với Ý Lan thế này họ đã đến với Ý Lan rất nhiều show, có nhiều lúc họ nghe lại những bài hát đây nhiều lần mà không bao giờ họ cảm nhận giống nhau, và đó là lý do họ nói họ không chán. Hôm nay Ý Lan chia sẻ được điều này với Vũ Hoàng và thính giả đang nghe đài thì Ý Lan thấy rất đặc biệt là Vũ Hoàng đã cho Ý Lan cơ hội bày tỏ những điểm mà Ý Lan không thường chia sẻ những điều này đến với khán giả.

Vũ Hoàng: Dạ, và cũng hi vọng là qua cuộc trò chuyện này đã giải đáp một phần nào đó những fan hâm mộ giọng hát của Ý Lan phải không. Vũ Hoàng dành thời gian của chị nhiều rồi, trước khi chia tay, chị có điều gì muốn nói với thính giả đang nghe đài không ạ?
Ca sĩ Ý Lan: Khi mà Ý Lan hát, Ý Lan quên tất cả mọi sự, tuy nhiên phải có những năng lượng (energy) của khán giả đã mang đến cho Ý Lan, bơm cả sức và hồn để cho Ý Lan có thể hát tròn trịa, khán giả hiểu rằng họ đã góp công sức trong âm nhạc của Việt Nam và với Ý Lan.

Vũ Hoàng: Xin cám ơn ca sĩ Ý Lan rất nhiều.


VŨ HOÀNG
Tháng 8/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/y-lan-singer-08302014100904.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #140 vào: 12/09/2018, 01:10:40 »
Nàng Marianne, biểu tượng của dân tộc Pháp

Cùng với lá cờ ba màu xanh-trắng-đỏ, khẩu hiệu “Tự do – Bình đẳng – Bác ái”, hài hát La Marseillaise và chú gà trống Gaulois, nàng Marianne là một trong những biểu tượng mang nhiều ý nghĩa của nước Pháp. Tượng nàng Marianne được đặt trang trọng tại các tòa thị chính, cơ quan hành chính, trường học…, hình ảnh nàng Marianne xuất hiện trên mọi tài liệu, văn bản chính thức của chính phủ Pháp, trên tem thư và các đồng tiền xu.

Tượng Marianne có thể thấy hầu như khắp cơ quan công quyền Pháp

NHƯNG MARIANNE là ai? Do đâu mà nàng Marianne trở thành một biểu tượng hàng đầu của nước Pháp? Lần giở những trang sử, nàng Marianne trở thành biểu tượng từ thời Cách Mạng Tư Sản Pháp 1789. Và vào thời đó, việc chọn một phụ nữ làm biểu tượng có nguồn gốc từ thời La Mã cổ đại, với chiếc mũ phrygien màu đỏ của những người nô lệ sau khi được người chủ giải phóng, tượng trưng cho tự do.
            Về nguồn gốc tên Marianne, theo nhiều tư liệu, vào thế kỷ XVIII, Marie và Anne là hai tên gọi rất phổ biến của phụ nữ Pháp thuộc tầng lớp bình dân, và Marianne là tên ghép lại từ hai tên gọi bình dân Marie và Anne. Cái tên Marianne cũng được xuất hiện trong lời bài hát “La Guérison de Marianne”. Bài hát được sáng tác năm 1792, chỉ mươi ngày sau khi thành lập Nền Cộng Hòa. Chuyên gia về lịch sử, phóng viên Frank Ferrand giải thích trên kênh Europe 1: “Bài hát này kể rằng một người bệnh tên là Marianne đã được chữa khỏi bệnh. Một cách ẩn dụ, người ta nói tới nền cộng hòa non trẻ có từ năm 1792 và đang bị công kích, tấn công từ mọi phía. Và ở miền nam, người ta cũng quen với câu hỏi: “Marianne thế nào rồi?”, có nghĩa là “Chế độ chính trị mới tiến triển thế nào rồi?
            Đó là lần đầu tiên tên Marianne mang tính tượng trưng cho sự thay đổi chế độ. Từ biểu tượng cho tự do mà Cách Mạng Tư Sản Pháp 1789 đạt được, nàng Marianne trở thành biểu tượng cho nền Cộng Hòa. Các nhà cách mạng cũng lấy Marianne làm biểu tượng cho “mẹ Tổ quốc”, hình ảnh người mẹ chở che, nuôi dưỡng những người con của nền Cộng Hòa Pháp non trẻ.
            Hình ảnh nàng Marianne ban đầu được chọn dựa theo hình ảnh người thiếu nữ ngực trần, một tay phất lá cờ ba màu xanh-trắng-đỏ, một tay cầm binh khí, đầu đội chiếc mũ frygien, trong bức tranh nổi tiếng “Tự do dẫn đường cho nhân dân” của danh họa Eugène Delacroix. Hình ảnh người thiếu nữ đó tượng trưng cho sự vùng lên tranh đấu, dẫn dắt dân tộc hướng tới tự do. Bức tranh được lấy cảm hứng từ một sự kiện lịch sử có thật: vào ba ngày 27-28-29/07/1830, người dân Pháp nổi dậy lật đổ vị vua Charles X – vốn không được lòng dân và đưa Louis Philippes d’Orléan lên ngôi vua.
            Từ năm 1848, ở thời Đệ Nhị Cộng Hòa, người ta còn thấy xuất hiện hình ảnh nàng Marianne được khắc họa với một cái cân tượng trưng cho sự bình đẳng, hai bàn tay đan vào nhau ngụ ý nới tới tình đoàn kết, lòng bác ái. Và như vậy, hình ảnh nàng Marianne bao hàm cả các giá trị cơ bản của nước Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái.
            Theo dòng lịch sử, khi thì nàng Marianne mang dáng vẻ nghiêm trang, hiền dịu, đầu đội vòng nguyệt quế (theo ý nguyện của những người cộng hòa bảo thủ), khi thì nàng Marianne để ngực trần, đội mũ frygien đỏ, mang dáng vẻ của một thủ lĩnh tranh đấu (theo ý nguyện của những người cộng hòa chủ trương cách mạng).
            Mang ý nghĩa tượng trưng cho Cách Mạng, vào thời các hoàng đế Napoléon, nàng Marianne không còn được coi là biểu tượng. Các bức tượng nàng Marianne được thay thế bằng tượng của hoàng đế Napoléon. Tới năm 1852, hoàng đế Napoléon III còn cho thay hình nàng Marianne trên đồng xu và tem thư bằng hình của mình.
            Tới thời Đệ Tam Cộng Hòa 1870, việc sử dụng biểu tượng Marianne được chính thức hóa. Tượng nàng Marianne bắt đầu được đặt trong các tòa thị chính trên khắp nước Pháp, thay thế cho tượng của Hoàng đế Napoléon III. Điều này thể hiện sự cắt đứt với Đệ Nhị Đế Chế và sự hòa giải của những người cộng hòa sau những biến cố thời Công Xã Paris. Tòa thị chính Paris đặt tượng nàng Marianne đội mũ phrygien vào năm 1880. Các bức tượng Marianne, dù là tượng bán thân hay toàn thân, dù không có khuôn mẫu nhất định nhưng thường gợi nhắc về những thời khắc Cách Mạng quan trọng trong lịch sử Pháp: 1789, 1830, 1848.
            Sang thế kỷ XX, dưới chế độ Vichy trong Đệ Nhị Thế Chiến, nàng Marianne đại diện cho nền Cộng Hòa chống lại chế độ Vichy và đại diện cho cuộc chiến chống phát xít Đức, nên bị chính phủ Vichy cấm hoàn toàn. Hình nàng Marianne trên tem thư bị thay bằng hình thống chế Philippe Pétain.
            Từ năm 1944, sau khi nước Pháp được giải phóng khỏi ách thống trị của phát xít Đức, hình ảnh nàng Marianne mới xuất hiện trở lại. Theo ý tưởng của Hiệp hội các tòa thị chính của Pháp, tượng nàng Marianne mang dáng vẻ một phụ nữ đương thời. Nguyên mẫu của tượng nàng Marianne thường là các ngôi sao màn bạc hoặc danh ca có tên tuổi của Pháp, như cô đào Brigitte Bardot (1968), diễn viên Michèle Morgan (1972), ca sĩ Mireille Mathieu (1978), nữ diễn viên huyền thoại Catherine Deneuve (1985) vốn nối tiếng ở Việt Nam với diễn xuất xuất sắc trong bộ phim Dông Dương, diễn viên Sophie Marceau (2012)…
            Vào năm 1989, nhân kỷ niệm 200 năm nàng Marianne, 200 năm Cách Mạng Tư Sản Pháp, lần đầu tiên gương mặt một người mẫu được chọn để khắc họa nàng Marianne. Đó là người mẫu Inès de la Fressange. Tới năm 2000, vinh dự trên lại thuộc về người mẫu Laetitia Casta.


Marianne trên các con tem

Những gương mặt nàng Marianne trên tem thư của Pháp
            Vào năm 1849, giai đoạn Đệ Nhị Cộng Hòa, lần đầu tiên con tem thư in hình nàng Marianne được bưu điện Pháp phát hành. Nước Pháp khi đó vẫn là nước nông nghiệp và nàng Marianne đầu tiên trên tem thư được khắc họa qua hình ảnh Céres, nữ thần mùa màng trong thần thoại Hy Lạp.
            Trong những năm qua, bưu điện Pháp đã phát hành vài chục phiên bản tem thư Marianne khác nhau, khi thì tem thư nàng Marianne mang ý nghĩa “thương mại và hòa bình hợp nhất và ngự trị trên thế giới” (cuối thế kỷ XIX), khi lại mang hình ảnh của “người gieo hạt” khi mặt trời đang lên với ngụ ý nước Pháp đang tiến bước và gieo mầm ý tưởng (1903).
            Năm 1982, bưu điện Pháp cho phát hành một con tem mới với tên gọi “Nouvelle Marianne”, tạm dịch là “nàng Marianne mới”. Con tem “nàng Marianne mới” là do tân tổng tổng Pháp năm đó, ông Francois Mitterand, lựa chọn. Cho phát hành một con tem mới là truyền thống của các tổng thống thuộc nền Đệ Ngũ Cộng Hòa Pháp vốn có từ trước đó. Cũng giống người tiền nhiệm là tổng thống Giscard d’Estaing, tổng thống Francois Mitterand rất chú ý tới việc lựa chọn một hình ảnh đại diện cho nhiệm kỳ 7 năm lãnh đạo đất nước.
            Tổng thống Giscard d’Estaing (nhiệm kỳ 1974-1981) đã chọn hình ảnh nàng Marianne dựa theo hình ảnh trong bức họa của thiếu nữ Sabine trong một bức tranh nổi tiếng của họa sĩ Jacques-Louis David được vẽ vào năm 1799 và được lưu giữ tại bảo tàng Louvre, Paris. Bức tranh có tên gọi – tạm dịch là “Những thiếu nữ Sabin ngăn cản cuộc chiến giữa người La Mã và người Sabin”, tượng trưng cho hòa giải quốc gia và tinh thần đoàn kết dân tộc.
            Tổng thống Francois Mitterand, khi đó muốn một nàng Marianne khác hẳn nàng Marianne dưới thời người tiền nhiệm Giscard d’Estaing, đã chọn dựa theo hình ảnh người thiếu nữ trong bức tranh nổi tiếng “Tự do dẫn đường cho nhân dân” của danh họa Eugène Delacroix, làm hình ảnh đại diện cho nhiệm kỳ tổng thống 1982-1989, với hàm ý dân tộc Pháp kiên cường bất khuất hoặc nổi dậy, hoặc dùng lá phiếu lật đổ lãnh đạo không được lòng dân và lựa chọn người xứng đáng hơn lên nắm quyền.
            Tháng 12/2003, lần đầu tiên trong lịch sử, Bưu Điện Pháp tổ chức cuộc thi quốc gia về thiết kế tem thư Marianne dành cho mọi người dân Pháp trong độ tuổi 4-94 với chủ đề “nàng Marianne vì môi trường và các giá trị cơ bản của nước Pháp”. Tổng thống là người chọn con tem thắng cuộc. Hơn 50.000 bức vẽ dự thi đã được gửi tới ban tổ chức. Năm 2008, tổng thống Nicolas Sarkozy lựa chọn tem thư với đề tài nàng Marianne và Liên Hiệp Châu Âu.
            Năm 2013, nhân ngày Quốc Khánh Pháp 14/07, con tem thư với hình ảnh một nàng Marianne mới đại diện cho nhiệm kỳ 5 năm của tổng thống François Hollande được công bố. Khác với các tổng thống tiền nhiệm, François Hollande không tự chọn hình ảnh nàng Marianne mới mà trao quyền lựa chọn cho học sinh các trường học trung học của Pháp thông qua một cuộc thi bình chọn với chủ đề “Marianne của giới trẻ”. Vượt qua khoảng 60 đối thủ dự thi, họa sĩ Olivier Ciappa, một nhà tranh đấu ủng hộ hôn nhân đồng giới đã được chọn với hình ảnh nàng Marianne với nguyên tác là Inna Shevchenko, lãnh đạo phong trào nữ quyền FEMEN. Đó là phong trào phái nữ để ngực trần phản kháng trước các vấn đề của xã hội hiện đại. FEMEN khởi phát từ quốc gia Đông Âu Ukraina.
            Tại Pháp, FEMEN gây nhiều tranh cãi trong dư luận sau những hành vi phản kháng gây sốc ở những nơi uy nghiêm, linh thiêng, chẳng hạn vào tháng 02/2013, 8 phụ nữ theo phong trào FEMEN đã cởi áo khoe ngực trần trong nhà thờ Đức Bà Paris để “ăn mừng” sự kiện giáo hoàng Benedicto XVI thoái vị và việc Pháp thông qua luật hôn nhân đồng giới. Việc chọn tác phẩm của nhà đấu tranh cho hôn nhân đồng giới, hơn nữa gương mặt đại diện cho nàng Marianne lại là nhân vật tiêu biểu của FEMEN đã khiến nhiều người dân Pháp và đối thủ chính trị của tổng thống François Hollande phẫn nộ và kêu gọi tẩy chay.
            Theo dòng thời gian, với những đổi thay của thời cuộc, ý nghĩa biểu tượng của nàng cũng có nhiều thay đổi, từ tượng trưng cho các giá trị cốt lõi của nước Pháp, hoặc là biểu tượng của cách mạng, tự do, của nền Cộng Hòa, là hiện thân của những người tranh đấu hay người mẹ chở che bao bọc những người con của dân tộc Pháp…, nàng Marianne đã trở thành một biểu tượng mang tính khái quát cao, như ông Jean-François Kahn, sử gia, nhà văn, nhà báo, người sáng lập tuần báo Marianne nhận xét: “Marianne tượng trưng cho quốc gia, Marianne tượng trưng cho dân tộc, cho nền Cộng Hòa, cho nước Pháp. Đó là một biểu tượng mang nhiều ý nghĩa. Và tôi nghĩ rằng chính sự không rõ ràng đó khiến những người có xuất thân, tư tưởng, thái độ chính trị-xã hội khác nhau cùng quy tụ về quanh biểu tượng nàng Marianne”.
            Với những ý nghĩa quan trọng đó, trải qua qua bao thăng trầm kể từ thế kỷ XVIII, nàng Marianne hiện vẫn là một trong năm biểu tượng chính thức của của dân tộc Pháp và hiện diện nhiều nơi trong cuộc sống hàng ngày của người dân Pháp.


THÙY DƯƠNG
Tháng 2/2018



http://vi.rfi.fr/phap/20180209-nang-marianne-bieu-tuong-cua-dan-toc-phap

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #141 vào: 18/09/2018, 22:52:17 »
Tháng Chín nhớ Nguyễn Xuân Hoàng

Quả là chưa bao giờ đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại lại quạnh quẽ như ba năm trở lại đây.

Nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng tại San Jose năm 2012

SAU KHI chúng ta vắng bóng lần lượt những Nguyễn Xuân Hoàng 2014, rồi Mặc Ðỗ và Võ Phiến, 2015, xa hơn một chút là Quỳnh Giao, Băng Ðình, Nguyễn Ngọc Bích, Bùi Bảo Trúc; và gần nhất là Lâm Tường Dũ. Không kể Quỳnh Giao, những nhà văn nhà báo kia đều đã hiện diện cả chục năm trên văn đàn, cả ở trong nước trước cả thời chia cắt, như Mặc Ðỗ. Ðành rằng phần lớn đã ngưng viết, song sự khuất bóng của họ nay hoàn toàn như một tấm màn đã kéo xuống, một sân khấu đã tắt đèn, một diễn trường đã đóng cửa, vĩnh viễn. Mấy năm vừa qua cả hải ngoại đã chỉ còn một tờ báo Xuân, trong khi trước đó, ta có cả chục tờ đón Tết.
            Chỉ ba năm, bắt đầu bằng Nguyễn Xuân Hoàng, ra đi ngày 13 Tháng Chín 2014.
            Người viết bài này có nhiều kỷ niệm với “người đi trên mây”: lúc làm bài thơ năm 20 tuổi, năm 1960, ký tên Hoang Vu, một cách tình cờ bài thơ đã đăng cùng trang với “bài phượng liên” của tôi trên tờ Hiện Ðại;(*) cả hai bài đều không viết hoa, không có dấu chấm phẩy, ngoại trừ một chữ đầu trên nhan đề:


                        mang mang
                        từ xa phố chợ đến giờ
                        chân quen bỏ lệ gõ bờ lộ quen
                        hoang vu chín đến độ thèm
                        lạnh tàn nhẫn rót vào đêm lê đường
                        mùa sương phố núi mù sương
                        nhịp buồn hút gió hồn nương sao rừng
                        chuyện linh hồn với bản thân
                        bàn tay thượng đế mộ phần chiêm bao
                        đồi thông xanh tóc nghẹn ngào
                        ngập ngừng lạnh xuống từ bao lâu rồi
                        còn tôi, còn chỉ mình tôi
                        mây bay đầu núi kéo trời lên xa
                        bàn tay thoáng nổi da gà
                        thẳm sâu lòng đất nhà ga luân hồi

                                                    Hoang Vu(1)


                                    phượng liên
                                    anh đi hồn tiếc thương nhiều
                                    ngọn soan thưa lấp bóng chiều cuối sân
                                    nẻo sầu đôi dạ phân vân
                                    nửa thân yên ngựa nửa thân tay mình
                                    có hoài tuổi dại không em
                                    trời thôi dáng đỏ thu phiền không gian
                                    mắt em đầy mộng điêu tàn
                                    yên nghe ván ấy trông tràng giang xa
                                    thôi cồn với tháp bao la
                                    ngựa đi bước nhỏ mây là cửa ô
                                    mai quen với dạ bơ thờ
                                    đã nghe lãng đãng sương mờ nhớ nhau
                                    thôi còn giấc ngủ đêm thâu
                                    một hành lang rộng vây sầu phượng liên.

                                                                      Viên Linh(2)


VIÊN LINH
Tháng 08/2017

_______________________________________________
(*) Hiện Ðại số 2, trang 102-103, tháng 5-1960, Nguyên Sa chủ trương biên tập.
(1) Hoang Vu là một bút hiệu của Giáo Sư Nguyễn Xuân Hoàng (7.7.1940-13.9.2014 – thật sự ông sinh năm 1937, như từng nói với chúng tôi). Sinh tại Nha Trang nhưng gốc Xuân Trường, Nam Ðịnh, người con thứ 12 trong một gia đình có 13 anh chị em. Trung học tại Võ Tánh rồi Petrus Ký Sài Gòn, tốt nghiệp Ðại Học Sư Phạm và Văn Khoa. Dạy Triết tại Petrus Ký từ 1962 tới 1975. Từ 1972-74 thư ký tòa soạn tạp chí Văn. Năm 1985, được cô em út bảo lãnh qua Hoa Kỳ. Từ 1986-1997: Tổng thư ký tòa soạn nhật báo Người Việt tại California. 1998-2005: làm báo Việt Mercury, San Jose, giảng viên Việt văn Ðại Học Berkeley – California. Mất ngày 13 Tháng Chín 2014 tại San Jose. Tác phẩm để lại: Mù Sương 1966, Sinh Nhật 1968. Khu Rừng Hực Lửa 1972. Kẻ Tà Ðạo 1973. Người Ði Trên Mây 1987. Sa Mạc 1989. Bụi và Rác 1996.
(2) Viên Linh là bút hiệu chính của nhà báo Nguyễn Nam (20.1.1938 – ) sinh tại ga Ðồng Văn Hà Nam, học Chu Văn An Hà Nội 1951-1954, di cư vào Nam đi học tiếp ở Hồ Ngọc Cẩn; năm 1956 làm phóng viên rồi biên tập viên nhật báo Ngôn Luận, 1963 thư ký tòa soạn nhật báo Dân Ta của Nguyễn Vỹ, 1966 thư ký tòa soạn tuần báo Nghệ Thuật của Mai Thảo. Tháng Năm 1969 thư ký tòa soạn tuần báo Khởi Hành của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Ðội; và thư ký tòa soạn – có lúc là quyền chủ nhiệm chủ bút – nhật báo Tiền Tuyến của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị – 1972 giải ngũ. Giải nhất Giải Văn Chương Toàn Quốc 1974 với tác phẩm Gió Thấp. Tháng Hai 1976 dự tuyển và được học bổng The Ford Foundation ở New York, hoàn tất luận án “The Tendencies of the South Vietnam Literature, 1954-1975”. Hiện là chủ nhiệm chủ bút nguyệt san Khởi Hành, từ 1996-2017 đang tiếp tục xuất bản tới năm thứ 21. Cuốn biên khảo hồi ký mới nhất xuất bản 2017: Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam (viết về 60 tác giả Việt Nam).


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thang-chin-nho-nguyen-xuan-hoang/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #142 vào: 25/09/2018, 23:22:59 »
Tháng Chín, nhớ Françoise Sagan: Một cuộc đời ngoại hạng

Ngày mai, 24 Tháng Chín, đúng 13 năm trước đây, nước Pháp mất đi một trong những khuôn mặt văn chương quan trọng của thời hiện đại: Françoise Sagan.

Nhà văn Françoise Sagan

FRANÇOISE QUOIREZ, tên thật, tục danh là Kiki, sinh vào ngày 21 Tháng Sáu, 1935, ở Cajarc, một ngôi làng ở miền Tây Nam Pháp, là người con thứ ba của Paul Quoirez, một thương gia giàu có.
            Khi lên 15, gia đình dời về sống ở Paris, ở đó, Françoise theo học trường dòng “Couvent des Oiseaux” trước khi vào Sorbonne. Hai năm ở Sorbonne, cô học trò này chẳng học hành gì nhiều, phần lớn thời gian dành cho đi chơi và uống cà phê và đọc truyện và tập tành viết lách.
            Năm 12 tuổi, cô viết truyện và làm thơ; 13 tuổi, đọc “Nourritures Terrestres” của André Gide; 14 tuổi, đọc “L’Homme Révolté” của Albert Camus; 16 tuổi, đọc “Marcel Proust, Rimbaud”. Biết uống rượu vào năm 15 tuổi. Kết quả là thi hỏng tú tài. Gia đình phiền muộn, la rầy.
            Ðể xoa dịu nỗi buồn bực, cô học trò cảm thấy phải “làm một cái gì”, bèn ngồi xuống và bắt đầu viết. Chỉ trong vòng 32 ngày (có báo nói là bảy tuần), một truyện dài hoàn tất với cái tựa đề nghe khá khác thường: “Bonjour Tristesse” (Buồn Ơi Chào Mi).
            Viết xong, cô gửi ngay cho nhiều nhà xuất bản. Một trong số đó, nhà xuất bản René Julliard, nhận xuất bản nhưng với một điều kiện duy nhất: phải có phép của cha mẹ, vì Francoise mới 18, vẫn còn trong tuổi vị thành niên (lúc đó, phải 21 tuổi mới thành niên).
            Hỏi ý kiến cha, được đồng ý ngay nhưng không cho Françoise dùng họ thật mà phải dùng bút hiệu. Dễ thôi! Cô bèn lấy tác phẩm yêu thích nhất của mình “À la recherche du temps perdu” của Marcel Proust, giở ra một trang, thấy đoạn tả quận công Sagan đi ngang trên chiếc xe ngựa, thế là chọn ngay tên Sagan. Và bắt đầu từ đó, Françoise Quoirez trở thành Françoise Sagan.
            Tháng Ba, 1954, “Bonjour Tristesse” chào đời. Như một cơn địa chấn! Françoise Sagan, lúc đó, 18 tuổi. Và không còn là cô học trò nữa.
            Năm sau, một bản dịch tiếng Anh được phát hành và lập tức nằm đầu trên danh sách “bestseller” của tờ New York Times. Năm 1958, sách bán đạt con số kỷ lục là 810.000 ấn bản ở Pháp và hơn một triệu ấn bản ở Hoa Kỳ. Sau đó, nó được dịch ra 20 thứ tiếng.
            Tác phẩm tạo nên một sự thành công lạ thường. Nó chiếm được giải “Prix des Critiques”, mang lại cho Sagan 500.000 bảng Anh, nhưng bị vị Giáo hoàng La Mã thời bấy giờ là Pius XII lên án mạnh mẽ, khiến cho một linh mục Công giáo đã phải từ chối làm phép hôn phối trong lễ cưới lần đầu tiên của bà.
            Sau này, Sagan gọi đó là một “thành công đầy tai tiếng” (succès de scandale). Ba thập niên sau, nhớ lại, bà hiểu ra rằng sự giận dữ xuất phát từ mối quan hệ giữa nhân vật nữ, Cécile, và anh bồ của cô ta. Người ta không thể chấp nhận được chuyện một cô gái 17 hoặc 18 tuổi lại làm tình với một đứa con trai trạc tuổi mình mà chẳng hề bị la mắng hay trừng phạt gì cả. Ðã thế, cô gái lại còn biết thảo luận chuyện tình ái lăng nhăng của cha mình, đề cập đến những đề tài lúc đó vẫn còn là điều cấm kỵ giữa cha mẹ và con cái.
           “Ðối với đại đa số độc giả, tai tiếng của tác phẩm là do chỗ một nhân vật thiếu nữ trẻ lại ngủ với trai mà không có thai, lại chẳng cần cưới nhau. Riêng đối với tôi, tai tiếng của câu chuyện là một nhân vật lại có thể – do vô thức, do ích kỷ – đưa đến cái chết của một người khác”, Sagan nói.
            Thành công bước đầu tạo động lực cho Sagan hăng hái cầm bút tiếp. Trung bình cứ hai năm bà cho ra đời một tác phẩm. Những tựa sách của Sagan chất đầy trong thư viện, trên các kệ sách gia đình và nằm trong trí nhớ mọi người. Hơn 30 triệu ấn bản các tác phẩm của bà đã được bán ra. Nhiều luận án về bà và tác phẩm đã được viết tại nhiều đại học trên thế giới, nhất là tại Hoa Kỳ. Hầu hết trong số hơn 40 tác phẩm của bà, dù hay hoặc dở, đều được dịch ra tiếng Anh và nếu không nằm ở danh sách “bestseller” thì cũng được tiêu thụ nhanh chóng.
            Nhà văn nổi tiếng Hoa Kỳ John Updike, viết trong tờ The New Yorker 20 năm sau khi “Bonjour Tristesse” xuất hiện, ca ngợi tác phẩm là “sôi động như biển cả” (sparkling sea), “hẻo lánh như rừng hoang” (secluding woods), “nhanh nhảu theo bản năng tự nhiên” (animal quickness), cốt truyện thì rất hiệu quả (academically efficient), các nhân vật nam, nữ được xây dựng một cách hoàn hảo. Theo ông thì tác phẩm được viết bởi niềm tin hồn nhiên của tác giả trẻ vào tính chất khêu gợi của các sự kiện.
            Với một khuôn mặt gầy, nhỏ, đôi mắt tinh quái nhô ra từ một mớ tóc cắt ngắn, hút thuốc lá hiệu Gauloises, tay bưng cốc cà phê, Sagan trở thành một dáng dấp cấp tiến của Paris trong hai thập niên 1950 và 1960. Cùng bạn bè lập ra nhóm tiền phong “La Bande Sagan”, trong đó có cả ca sĩ Juliette Greco, bà thường xuyên xuất hiện ở các quán cà phê, hộp đêm, các quán ăn với những nhân vật nổi tiếng trong văn giới như Jean-Paul Sartre, Ernest Hemingway, Henry Miller và cả trong chính giới như chính trị gia trẻ tuổi tả phái Francoise Mitterand, sau là tổng thống Pháp.
            Một trong những mốt của Sagan là đi vào hộp đêm với một người bảo vệ và đi ra với một người bảo vệ khác, luôn luôn đậu xe thể thao ngay trước cửa nhà hàng bất chấp luật lệ giao thông. Ðể minh họa cho rõ hơn hình ảnh độc đáo của Sagan, hình bìa của một trong những tác phẩm in hình bà cỡ tuổi 19, 20 khoác trên người chiếc áo da dài đứng cạnh cửa của chiếc xe hơi hiệu Jaguar, với đôi mắt viền đậm.
            Xuất phát từ quan niệm riêng mà cũng do tiền bạc và tiếng tăm thúc đẩy, bà lăn xả vào một cuộc sống ồn ào, sôi động ngay lúc chưa tới tuổi 20: uống rượu thâu đêm suốt sáng, say mê bài bạc, khoái lái xe thể thao với tốc độ cao. Táo tợn hơn, Sagan yêu đương bừa bãi, buông thả mình trong sinh hoạt tình dục gần như vô độ với nhiều bạn tình khác nhau. Hậu quả của những năm tháng đó là về cuối đời, Sagan không còn là Sagan nữa. Bị tai nạn, bà trải qua nhiều lần giải phẫu, phải ngồi xe lăn, chống nạng. Đã thế, nợ nần chồng chất, bà phải bán căn nhà ở Normandie, và sống qua ngày ở nhà những người bạn. Cuối cùng, bệnh nặng quá, bạn bè đưa vào nhà thương.
            Vào lúc 7 giờ 35 phút tối 24 Tháng Chín, 2004, tại bệnh viện Honfleur, miền Nam nước Pháp, Françoise Sagan trút hơi thở cuối cùng, vì bị máu nghẹt ở phổi. Thọ 69 tuổi. Sagan được an táng tại ngôi làng Seuzac, gần Cajarc nơi bà chào đời, vào ngày 28 Tháng Chín, 2004.
            Cả nước Pháp xúc động.
            Tổng thống Pháp Jacques Chirac bày tỏ nỗi thương tiếc ngay sau khi nghe tin bà chết qua một bản tuyên bố trong đó, ông cho rằng: “Bà chết đi, nước Pháp đã mất đi một trong những tác giả độc đáo nhất và nhạy cảm nhất, một khuôn mặt sáng giá trong sinh hoạt văn chương của chúng ta. Với sự sắc sảo, trí tuệ và tinh tế, Françoise Sagan đã thăm dò những nguyên động lực và những đam mê của tâm hồn con người (…) Bà đã góp phần vào sự tiến bộ của vị trí người phụ nữ trong xã hội chúng ta”.
            Thủ tướng Pháp Jean-Pierre Raffarin phát biểu: “Françoise Sagan, đó là một nụ cười, sầu muộn, khó hiểu, xa cách nhưng mà vui”.
            Báo chí Âu châu cũng như báo chí Pháp thương tiếc bà qua nhiều hàng tít lớn lấy từ tựa đề những tác phẩm nổi tiếng nhất của bà. Dưới tựa đề “Tristesse”, tờ Liberation nói Sagan, mà những hình ảnh thời tuổi trẻ tràn đầy các trang đầu báo Pháp, không bao giờ làm cái gì nửa chừng.
            “Ðời bà y như một cơn gió xoáy… Rộng lượng, đầy cảm hứng, nhanh nhảu, nổi loạn, không thể phân loại, không thể bắt chước. Chúng ta yêu mến Sagan, ngay cả nếu chúng ta chưa hề đọc sách của bà hay không còn đọc sách của bà nữa. Sagan là một cái gì còn hơn cả chính Sagan, còn hơn là một hiện tượng viết văn: một nhà văn, một phụ nữ, một kỷ nguyên. Bà vội vã đi hết tốc lực xuyên suốt cuộc đời và tác phẩm của mình, chẳng thèm quan tâm đến bản thân”.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 09/2017


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thang-chin-nho-francoise-sagan-mot-cuoc-doi-ngoai-hang/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #143 vào: 02/10/2018, 21:25:02 »
Trần Quảng Nam: nhạc kịch Truyện Kiều

Nhạc sĩ Trần Quảng Nam đã dành hơn 20 năm để nuôi dưỡng, ấp ủ, tìm tòi và tạo dựng để chuyển thể Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du sang nhạc kịch. Tính cho đến thời điểm này, mặc dù nhạc kịch truyện Kiều mới công diễn được 3 buổi vì còn nhiều khó khăn về mặt kinh phí nhưng chắc chắn trong tương lai, người yêu âm nhạc Việt Nam sẽ còn có cơ hội được thưởng thức nhiều hơn sự kết hợp độc đáo giữa chất liệu nhạc kịch phương Tây hiện đại với chất cổ đại thi ca trong tác phẩm bất hủ truyện Kiều.

Tử hải và Thúy Kiều trong vở nhạc kịch Truyện Kiều của nhạc sĩ Trần Quảng Nam

CHIA SẺ với chúng tôi về những ý tưởng nung nấu hình thành nên nhạc kịch truyện Kiều, nhạc sĩ Trần Quang Nam cho biết:

            Chào Vũ Hoàng và chào quý thính giả của đài RFA, ý tưởng bắt nguồn làm nhạc kịch này bắt nguồn từ nhiều nguyên do. Từ nhỏ tôi vẫn thích nhạc kịch opera, nhạc kịch musical mới và mình bị hấp dẫn bởi sự sáng tạo trong âm nhạc mà đi ngoài khỏi ca khúc. Quý vị biết là ca khúc cấu trúc đơn giản lắm, khi mình làm một ca khúc thì chỉ thỏa mãn được phần nào ý thích của mình thôi. Nhưng nhạc kịch cho mình một không khí khác, một cái sân rộng hơn để mình vui chơi trong đó.
            Nhưng bởi vì tôi không được huấn luyện về ngành sáng tác chính thống, do đó, tôi trải qua thời gian rất lâu để nghiên cứu cấu trúc của âm nhạc, của nhạc kịch. Khi mình viết nhạc kịch thì mình lại phải có khả năng viết luôn cả phối khí những bài hát của mình nữa. Tôi trải qua khoảng chừng 9 năm để nghiên cứu lấy.
            Từ nhỏ đến lớn, tôi vẫn thích truyện Kiều, không phải bởi vì tôi được học ở trường mà bởi vì mẹ của tôi một người không được học nhiều nhưng lại thuộc hết truyện Kiều, rồi về sau, tôi đọc nguyên bản thì mình lại càng thích hơn nữa. Thứ hai, là trong câu chuyện của truyện Kiều có kịch tính rất nhiều. Rồi tôi bị mê hoặc bởi lời thơ của Nguyễn Du với những triết lý và ý nghĩa trong đó.
            Điều này thôi thúc tôi mãi, đến năm 1992 tôi mới đặt bút xuống và viết. Trong lúc đó, tôi hoàn toàn sống bằng nghề nhạc thôi, tôi có một phòng thu băng, tôi dạy nhạc, tôi có dụng cụ thu băng, âm thanh nữa… thành ra có đầy đủ cơ duyên để mình thực hiện việc này. Tôi thực hiện việc này khoảng hơn một năm, gần hai năm thì xong, từ đó hoàn chỉnh và mãi đến năm 2000, tôi mới có cơ hội đầu tiên để mang ra trình diễn phân đoạn đầu tiên, gọi là “Tiết Thanh Minh”.
            Mỗi một lần cho trình diễn thì mình lại phải chỉnh sửa bản gốc để cho nó có tính chất cô đọng trên sân khấu và cứ tiếp tục như thế đến năm 2004 tôi cho trình diễn lần thứ hai phân đoạn hai “Kiều Vào Lầu Xanh” và đến vừa rồi là năm 2014 thì tôi cho trình diễn phần thứ ba là phần “Từ Hải Gặp Thúy Kiều”
            Thực ra toàn bộ nhạc kịch có 5 phân đoạn, có thể thành 6 phân đoạn và có 3 màn. Cho đến thời điểm này, tôi mới chỉ làm được 3 phân đoạn thôi, tôi có ước vọng tiếp tục sẽ làm những phân đoạn sau.
            Xin thưa là, ai mà nghe thấy làm nhạc kịch của người Việt trên sân khấu đều nghĩ là chuyện không tưởng cả. Lúc tôi làm, đầu óc lãng mạn của mình chỉ nghĩ đó là việc mình sẽ làm. Năm 1992-1993, tôi nỗ lực để đưa lên sân khấu, lúc đó tôi có một người bạn gái và cô ta nói với tôi rằng chắc anh điên rồi, tôi không nói gì cả và tôi vẫn tiếp tục làm thôi. Vì tôi thích thú với âm nhạc của Kiều lắm, thành thử khi có cơ hội khoe với ai đó thì đem ra mở cho họ xem và nghe. Khi họ nghe xong, tôi nói nếu bạn có thể trong tương lai mà trợ giúp được việc này thành thì tôi rất cám ơn. Gặp ai tôi cũng nói vậy, lúc tôi có người bạn gái thứ hai chê tôi, cô nói rằng gặp ai anh cũng đi xin sự giúp đỡ vậy mà không tự làm được.
            Năm 2000 tôi nhất định sẽ làm bởi lúc đó tôi có một số học trò và một số anh em thân hữu cũng là ca sĩ địa phương ở San Jose, tôi trình bày cho họ thì ai cũng sợ vì nghe thấy nhạc kịch là họ sợ rồi. Nhưng khi nghe hoài thì họ thích và một vài ca sĩ thu vào trong băng cho tôi nữa, bắt đầu tôi có cả nhạc lẫn lời và tôi lấy đó làm mẫu để đưa cho các diễn viên khác. Rất may mắn, trong thời gian đó, tài chính của tôi rất eo hẹp nhưng có phần đóng góp nhiều nhất là của cô em ruột tôi ở bên Úc. Khi tôi về Việt Nam may những y phục của tuồng đầu tiên thì cô là người bỏ ra một nửa chi phí đó.
            Trong thời gian đó, tôi gặp Tú Minh, đây là một cái duyên rất lớn. Thực ra Tú Minh không vội vàng khen ngợi tác phẩm của tôi, nhưng cô ta là người duy nhất không cản trở mà trợ giúp rất nhiều trong việc giới thiệu cũng như những vận động để mà thực hiện việc này, từ đó mới có show năm 2000. Tú Minh giúp những phần chẳng hạn như liên lạc, những phần bên ngoài rất nhiều, nhưng quan trọng nhất là hỗ trợ về mặt tinh thần, từ đó mới có nhạc kịch lên sân khấu lần đầu tiên. Đó là sự đóng góp của hầu như tất cả những anh em thân hữu, nghệ sĩ cũng như học trò của tôi ở vùng San Jose này, rồi các nhà bảo trợ chung góp vào thì mới dựng lên được một sân khấu lồng trong một chương trình ca nhạc để có trích đoạn nhạc kịch số 1 vào năm 2000, từ đó, tôi bắt đầu công việc cho đến ngày hôm nay.


Từ Hải chia tay Thúy Kiều ra trận

Chia sẻ tiếp với chúng tôi về những gì trong tương lai của nhạc kịch Truyện Kiều, nhạc sĩ Trần Quảng Nam cho biết thêm:

            Như tôi vừa trình bày thì trong vòng 14 năm qua tôi mời trình diễn được ba lần thôi, trong đó lần thứ ba vừa rồi là lần được gọi là thành công nhất. Vì sự thành công này mà có rất nhiều thân hữu và các khán giả khuyến khích tôi tiếp tục làm nữa.
            Thực sự càng về sau, tôi càng phó cho số mệnh nhiều hơn, mình đừng cố gắng nhiều quá vì sẽ trở thành hoang tưởng, không làm được, thành thử ra, tôi dựa vào cơ duyên nhiều hơn. Tôi được lời mời ở bên Úc sang đó biểu diễn, lời mời ở dưới miền nam California hay ở Washington DC. Sau lần trình diễn thứ ba thì các anh em diễn viên, ca sĩ ở trong đoàn Kiều rất náo nức muốn đi biểu diễn ở nơi khác.
            Nếu nói về kế hoạch thì tôi chưa chắc có một kế hoạch nào rõ rệt vì hiện còn phụ thuộc vào quá nhiều điều kiện, điều kiện lớn nhất là chi phí để di chuyển cho cả đoàn này đi sẽ phải cần ngân khoản trên dưới 15 ngàn, như vậy hoàn toàn bị lệ thuộc vào vấn đề tài chính 100%. Lệ thuộc này chỉ có thể giải quyết được bằng có các mạnh thường quân. Nếu trình diễn tác phẩm này ở Việt Nam thì cũng sẽ y hệt như ở đây vì vẫn cần phải có người tài trợ hoặc nhiều người tài trợ thì mới giải quyết được phần căn bản là phần cho diễn viên để di chuyển đi lại.

Hi vọng là với niềm đam mê theo đuổi nghệ thuật của nhạc sĩ Trần Quảng Nam cộng với sự giúp đỡ từ các thân hữu và các mạnh thường quân mà nhạc kịch Truyện Kiều sẽ tiếp tục có cơ hội đến với khán thính giả gần xa cả hải ngoại và trong nước. Chắc chắn những nỗ lực của nhạc sĩ sẽ được đền đáp xứng đáng, xin chúc ông thành công và may mắn.


VŨ HOÀNG
Tháng 9/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/MusicForWeekend/tran-q-nam-kieu-opera-09052014110131.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #144 vào: 09/10/2018, 23:12:11 »
Nhà hát opéra Garnier và “phong cách của hoàng đế Napoléon III”

Là một kiệt tác kiến trúc, một biểu tượng của Paris theo phong cách Haussmann, nhà hát Opéra Garnier (Palais Garnier) – sau gần 150 năm tồn tại – vẫn là một trong những công trình lộng lẫy, xa hoa nhất “Kinh Đô Ánh Sáng”.

Một cảnh bên trong nhà hát opera Garnier, Paris

NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ, vào năm 1858, hoàng đế Napoléon III thoát chết trong một vụ tấn công bằng bom nhắm vào nhà hát opéra Le Peletier tại Paris do ba kẻ vô chính phủ người Ý thực hiện. Sau đó, hoàng đế Napoléon III nảy ra ý định cho xây dựng một nhà hát an toàn và lộng lẫy. Dự án được giao cho nam tước Georges Eugène Haussmann, tỉnh trưởng Paris. Nam tước Haussmann chính là người phụ trách dự án tái quy hoạch và hiện đại hóa kinh đô Paris dưới thời Napoléon III. Và mảnh đất được chọn để xây nhà hát mới rộng 12.000m2, nằm giữa đại lộ Capucines và phố Chaussée-d’Antin.
            Cuộc thi thiết kế nhà hát được nam tước Haussmann tổ chức vào năm 1860. Và đây cũng là một trong những cuộc thi thiết kế kiến trúc đầu tiên thời đó. Tổng cộng, có 171 kiến trúc sư gửi bản thiết kế dự thi, trong đó có nhiều kiến trúc sư tài ba, danh tiếng và có quan hệ mật thiết với chính quyền, đặc biệt phải kể tới Eugène Viollet-le-Duc, một bậc thầy về trùng tu, tôn tạo các công trình Trung Cổ nổi tiếng (pháo đài Carcassonne ở miền tây nam nước Pháp, nhà thờ Đức Bà Notre-Dame de Paris, lâu đài Pierrefonds…) Ban giám khảo phải mất gần một năm để xem xét các bản thiết kế.
            Kết quả cuối cùng vô cùng bất ngờ: chiến thắng thuộc về một kiến trúc sư trẻ tuổi người Paris, chưa có tiếng tăm, tên là Charles Garnier. Garnier chính là học trò của kiến trúc sư tài ba Viollet-le-Duc. Ở tuổi 35, mới thiết kế được một công trình, nhưng kỹ sư Charles Garnier lại có rất nhiều hiểu biết về kiến trúc sau những chuyến đi tới Ý và Hy Lạp. Nhà hát mới theo bản vẽ của Garnier dài 173m, rộng 125m, nổi bật ở sự cân xứng tuyệt hảo và được đánh giá là có bố cục chặt chẽ và vô cùng hợp lý: từ sảnh vào, khu vực lễ tân, cầu thang lớn, các phòng hòa nhạc, sân khấu, cho tới khu vực hành chính…


Nhà hát Opéra Garnier, Paris, biểu tượng của Đệ Nhị Đế Chế

            Một điểm độc đáo của nhà hát Garnier nằm ở sự cách tân, nói cách khác, đó là sự pha trộn giữa nhiều phong cách kiến trúc, sự sáng tạo trong cách thể hiện nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc thiết kế. Tuy nhiên, cũng giống như nhiều công trình nổi tiếng khác tại Pháp, chẳng hạn tháp Eiffel, bảo tàng Orsay…, nhà hát opéra Garnier không được tất cả mọi người đánh giá cao. Hoàng hậu Eugénie, vợ của hoàng đế Napoléon III, đã từng “vặn vẹo” Garnier: “Phong cách này là gì vậy? Đây chẳng phải phong cách Hy Lạp, cũng không phải phong cách của vua Louis XV hay XVI!” Kiến trúc sư Garnier đã trả lời bằng một câu ngắn gọn “để đời”: “Đây là phong cách của hoàng đế Napoléon III”.
            Nhà hát opéra được khởi công xây dựng năm 1861. Ngay khi thi công phần móng, một vấn đề phát sinh: địa hình đất sình lầy đã khiến Garnier phải mất 8 tháng khắc phục. Ông Mattias Auclair, giám đốc thư viện-bảo tàng Opéra thuộc nhà hát Opéra Garnier giải thích nếu mọi chuyện diễn ra bình thường, Garnier khi đó sẽ cho thi công phần móng công trình. Thế nhưng, mọi chuyện lại không diễn ra như theo thiết kế ban đầu của Garnier:

             “Mảnh đất nơi xây dựng nhà hát thực ra nằm trên địa hình đất sình lầy. Garnier hiểu rằng áp suất của nước mạnh tới mức ông không dám mạo hiểm xây dựng công trình trên nền đất đó mà không có biện pháp chống thấm hiệu quả. Và biện pháp bảo vệ mà ông tìm ra được chính là xây dựng một bể chứa. Thế nhưng, một bể chứa đơn thuần thì chưa đủ. Và Garnier quyết định bơm đầy nước vào bể chứa. Chức năng đầu tiên của bể là chống thấm. Và cũng là cách để giữ cho nền đất bên dưới được ổn định”.

            Bể nước xây bằng bê tông chống thấm, chống rò rỉ hiện vẫn còn tồn tại dưới tầng hầm sâu của nhà hát và tạo ra nhiều truyền thuyết về một hồ nước ngầm bí mật. Hiện tại, bể nước được dùng để phục vụ công tác cứu hỏa.
            Trở lại lịch sử xây dựng nhà hát, năm 1870, chiến tranh Pháp-Phổ nổ ra, rồi hoàng đế Napoléon III đầu hàng, bị giam lỏng. Vì thế, việc thi công công trình bị đình lại. Nhà hát trở thành kho chứa lương thực, thực phẩm cho quân đội. Tới năm 1873, nhà hát Le Peletier bị hỏa hoạn. Người dân Paris vô cùng thất vọng vì thành phố không còn nhà hát opéra, vì thế chính quyền Paris đã khẩn trương cho hoàn thiện nhà hát mới.
            Sau 15 năm kể từ ngày khởi công, nhà hát chính thức được khánh thành vào ngày 05/01/1875, dưới thời tổng thống Mac-Mahon, thuộc nền Đệ Tam Cộng Hòa Pháp. Qua đời vào năm 1873, hoàng đế Napoléon Bonaparte đã không có dịp được chiêm ngưỡng công trình kiến trúc mà ông hằng mong ước.


Khán phòng lớn trong nhà hát opéra Garnier, Paris

            Khi khánh thành, nhà hát được gọi là “Opéra de Paris”. Chi phí xây dựng nhà hát là 36 triệu đồng franc-vàng: số tiền vô cùng lớn đã làm tốn nhiều giấy mực của báo chí và giới chính trị. Lễ khánh thành Opéra de Paris là một sự kiện trọng đại thời đó, với sự tham dự của nhà vua và thái hậu Tây Ban Nha, đô trưởng Luân Đôn, khoảng 2.000 khách mời cao cấp tới từ khắp châu Âu. Tuy nhiên, kiến trúc sư Charles Garnier lại không được mời, ông đã phải tự bỏ tiền mua vé hạng hai tới dự. Quả là một điều đáng tiếc và vô cùng khó hiểu! Trong buổi lễ, “cha đẻ” của Opéra de Paris đã được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt.
            Năm 1923, 48 năm sau khi ra đời, Opéra de Paris được xếp hạng công trình lịch sử của Pháp. Năm 1989, Opéra Bastille, nhà hát thứ hai tại Paris được khánh thành. Opéra de Paris được đổi tên thành Opéra Garnier để vinh danh nhà thiết kế Charles Garnier.
            Ngay sau khi được khánh thành, Opéra Garnier đã trở thành một biểu tượng của sự xa hoa, lộng lẫy, đế vương cũng như biểu tượng của các hoạt động vui chơi giải trí ở “Kinh Đô Ánh Sáng”. Và trên hết, Opéra Garnier được coi là biểu tượng của Paris thời Đệ nhị Đế chế.
            Sân khấu tại khán phòng lớn của nhà hát Garnier được thiết kế theo phong cách sân khấu của Ý. Khi được khánh thành, đó là sân khấu lớn nhất thế giới: dài 49m, sâu 26m, cao 72m, với tổng diện tích 1.350m2 và có chỗ cho 450 nghệ sĩ biểu diễn cùng lúc. Khán phòng gồm 5 tầng, có sức chứa hơn 2.200 khán giả, nổi bật với sắc đỏ và vàng, hai gam màu đặc trưng thời hoàng đế Napoléon III.
            Mái vòm của khán phòng lớn được trang trí bằng bức bích họa do danh họa Marc Chagall vẽ trong suốt hai năm (1963-1964), lấy cảm hứng từ các vở balet và nhạc kịch nổi tiếng như Cây sáo thần của Mozart, Roméo và Juliette của Berlioz, Hồ Thiên Nga của Tchaikovski, Chim lửa của Stravinski… Ở giữa mái vòm có treo một chùm đèn khổng lồ bằng đồng và pha lê với trọng lượng ước tính là 8 tấn, cao 8m, tương đương độ cao của tòa nhà hai tầng.


Phòng nghỉ giải lao dành cho khán giả cũng được trang hoàng lộng lẫy

            Phòng giải lao cho khán giả cũng là một không gian tráng lệ, trải dài, được trang trí bằng nhiều tác phẩm điêu khắc, tranh vẽ, bích họa, tác phẩm trang trí mạ vàng và dãy đèn chùm tỏa sáng rực rỡ. Xưa kia, phòng giải lao là nơi dành cho khán giả là nam chuyện trò, giao lưu, thăm thú, còn các nữ khán giả thường phải ngồi chờ tại chỗ trong khán phòng.
            Một trong những điểm nhấn khác bên trong nhà hát là cầu thang lớn dài 30m bằng đá cẩm thạch trắng và tay vịn nhiều màu. Không chỉ đẹp kiêu sa, nhà hát Garnier còn được trang bị rất hiện đại với nhiều phòng tập rộng, thư viện và bảo tàng…
            Là một trong hai nhà hát opéra nổi tiếng nhất Paris, Opéra Garnier cũng là một trong những công trình thu hút nhiều du khách nhất tại Paris. Chẳng hạn, vào năm 2013, Opéra Garnier đã đón hơn 720.000 khách tham quan. Không chỉ là một trong những nhà hát lớn và danh tiếng nhất châu Âu, nơi công diễn các vở balet, nhạc kịch xuất sắc, nơi mà nhiều nghệ sĩ từng ao ước được trình diễn trên sân khấu, ngay bản thân nhà hát Garnier cũng là một tác phẩm nghệ thuật vĩ đại của nước Pháp, một điểm đến mà bao người mơ ước được tận mắt chiêm ngưỡng ít nhất một lần trong đời!


THÙY DƯƠNG
Tháng 2/2018



http://vi.rfi.fr/phap/20180201-nha-hat-opera-garnier-va-phong-cach-cua-hoang-de-napoleon-iii

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #145 vào: 16/10/2018, 22:49:59 »
Nhóm, tạp chí, và nhà thơ Song Hồ

Viết về 20 năm văn học miền Nam Việt Nam, khởi từ năm 1954, có nghĩa là khi trên các mặt báo, trong các tủ sách có thơ văn của chia cắt đất nước, của “chúng ta đi mang theo quê hương”, với những tên báo, tên nhóm, tên các nhà xuất bản riêng biệt, những báo những nhóm có mặt sớm nhất, chậm nhất là từ 1954 trở đi.

Nhà thơ Song Hồ (phải) tại tòa soạn với Viên Linh, 2003

TRONG KHI ẤY, trước 1954, Sài Gòn đã có những nhóm, những tờ báo hiện diện và tiếp tục hiện diện một thời gian trước khi văn học miền Nam chuyển biến và lan rộng rực rỡ, để tồn tại cho tới mấy chục năm sau 1975, và nền văn học ấy vẫn tồn tại khi những dòng này được in ra.
            Còn nhớ khoảng sau 1950 tại Hà Nội, mỗi ngày đi học từ bờ hồ Thiền Cương tới trường ở trung tâm thành phố, tôi đều đi qua một tòa báo và hai tiệm sách, tòa báo tên là Hồ Gươm gần nhà tôi cùng trên phố Goussard với một hiệu sách và một hiệu sách nữa trên phố Huế, tên Bình Minh, khi tôi rẽ trái để tới trường tiểu học Ngô Sĩ Liên.
            Trước báo Hồ Gươm có một chàng mặc quần áo trắng lốp, đi giầy vải Bata trắng, ấy là chàng Song Hồ sau này 1960-63 chúng tôi làm việc chung với nhau trong Đài Tự Do ở Sài Gòn (khi đài còn ở Gia Định), và gặp nhau lần chót ở Little Saigon, miền Nam California, trước khi anh ra đi vĩnh viễn.
            Khi ở trong báo Hồ Gươm của ông Bùi Cẩm Chương, anh đã là một thanh niên, tôi mới là thiếu nhi. Ngoài tờ tuần báo ấy, khoảng 1953 còn những tờ như Giác Ngộ, hay tạp chí Phổ Thông của Hội Cựu Sinh Viên Luật Khoa với Lê Quang Luật, Mặc Đỗ, Nghiêm Xuân Hồng, Vũ Khắc Khoan, Nguyễn Sỹ Tế, Nguyễn Thiệu Lâu, Duy Thanh, một hai lần có thấy tên Bùi Giáng hay Cung Trầm Tưởng.
            Đọc thơ văn từ hồi nhỏ, trong đầu cậu thiếu nhi vô tình theo dõi tên tác giả mỗi khi chợt thấy cái tên quen thuộc, hay chợt bồi hồi khi nghe khi thấy một nhan đề từng biết, những dòng chữ từng đọc, để rồi có những trường hợp trí nhớ phôi thai ấy đã đóng góp vào hiểu biết sau này. Để ghi lại vài nét sinh hoạt của một tác giả, từ lúc lên đường, tờ báo hay tác phẩm sớm nhất lúc đầu, cho tới lúc tất cả sẽ xa xăm, người viết bài này cũng sẽ giới hạn thơ văn các tác giả được nói đến trong phạm vi ấy.
            Nhà thơ Song Hồ tên khai sinh là Nguyễn Thanh Đạm, sinh ngày 8 Tháng Tám, 1932, tại Bắc Ninh, và mất năm 2009.
            Năm 1949 đã sáng tác bài “Thư Gửi Người Em Hà Nội” khi sống ở núi rừng Việt Bắc.
            Năm 1952 về thành (hay gọi là vào Tề) và bắt đầu có thơ đăng báo khi cộng tác với các nhật báo Tia Sáng của ông Ngô Quân, báo Giang Sơn với Thy Thy Tống Ngọc ở ngay Hà Nội hay gửi bài cho các báo Đời Mới và Nguồn Sống Mới ở Sài Gòn.
            Chúng tôi quen biết nhau từ 1953 khi ở cùng phố, cách nhau khoảng chục căn nhà. Năm 1954 di cư vào Nam, do nhà thơ Đại Tá Cao Đài Hồ Hán Sơn hỗ trợ, Song Hồ vào làm báo Quyết Thắng và Đài Phát Thanh Long Hoa sau khi được giới thiệu với ông Hộ Pháp Phạm Công Tắc của giáo phái này.
            Sau đó anh vào làm trong Văn Hóa Vụ và Bộ Thông Tin của Bộ Trưởng Trần Chánh Thành, năm 1958 được cử đi Nam Vang trông coi tờ báo Việt Ngữ Hồn Việt dành riêng cho Việt kiều ở Cao Mên. Năm 1960 về Sài Gòn, xuất bản tập thơ đầu tay “Hai Cánh Hoa Tim”, do đó mất việc vì bị phê bình xuyên tạc là thiên tả qua bài thơ “Những Nỗi Buồn Nhỏ Nhặt”.
            Năm 1960 gặp lại nhau tình cờ ở Gia Định vì cùng được nhận vào ban biên tập Đài Tự Do. Anh cũng đi dạy học tư. Năm 1963 Khai Trí xuất bản “Thơ Song Hồ”, tập thơ thứ hai. Các năm 1969-1972 anh cộng tác với tạp chí Khởi Hành, cũng là thời gian phục vụ nghĩa vụ quân sự tại Bình Định, Kon Tum.
            Song Hồ có vài bài thơ nổi tiếng đã thành ca khúc: bài “Kim Kim” do Gene Brooks phổ nhạc dưới nhan đề “Sunday Morning”, bài “Tôi Viết Tên Anh Trên Đá Trên Hoa” nhạc sĩ phổ nhạc đã không ghi tên thi sĩ bài thơ. Nhà thơ Đinh Hùng, cùng làm trong đài phát thanh, sẵn sàng làm chứng để anh đi kiện, song anh bỏ qua.
            Dường như không ai còn nhớ tới có một thi sĩ là Song Hồ, thế mà anh đã có hai ba tập thơ xuất bản, hai ba bài thơ được phổ nhạc. Hơn thế, trước 1954 anh cộng tác với vài ba tuần báo văn nghệ rồi mới vào Nam.
            Song Hồ được dành riêng một chương trong cuốn “Những Nhà Thơ Hôm Nay” của Nguyễn Đình Tuyến do Khai Trí xuất bản từ 1967. Có lẽ có mặt quá sớm trong buổi giao thời thường cũng phải trải qua những cảnh không thuận lợi, chẳng hạn cảnh tranh tối tranh sáng của hỗn độn và giao động?

                        Kim Kim (Tình Ngọt)
                        Thơ Song Hồ

                        Bây giờ tháng mấy rồi Kim nhỉ?
                        Em mặc áo màu hay áo hoa?
                        Bây giờ tháng mấy rồi Kim nhỉ?
                        Tình yêu chúng mình như hôm qua.

                        Chúng mình yêu nhau trong ngày Phục Sinh
                        Khi những con chiên về nhà thờ
                        Và chuông giáo đường đang ngân tiếng
                        Kim ơi! Kim ơi! Kim nhớ không?

                        Em đã hôn anh như anh đã hôn em
                        Khi hai đứa chúng mình mới gặp nhau
                        Anh đưa em về trời vừa đổ tối
                        Chúng ta hẹn nhau ở ngày mai.

                        Ngày mai anh đón em ở Phú Nhuận Chi Lăng?
                        Chúng mình sẽ đi trên con đường Gia Định
                        Những con đường đầy bóng cây xanh
                        Hay những con đường Sài Gòn đầy màu áo?
                        Anh đưa em về anh không quên hôn em.

                        Nhưng buổi tối. Trời mưa
                        Hai đứa. Đi chung một áo
                        Lòng em sưởi ấm lòng anh
                        Chúng mình vừa đi vừa hôn
                        Ngoài trời vẫn mưa, vẫn mưa tuôn.

                        Vai em tròn như chiếc bình sứ
                        Môi em ngọt hơn nước mưa rơi
                        Kim ơi! Kim ơi! Kim ơi!
                        Những sáng Chủ Nhật Kim còn nhớ?

                        Anh cướp con Chiên của Chúa rồi!
                        Và môi em nở nụ cười
                        Anh nguyện là người tình chung thủy
                        Đưa em về Thiên-Đường-Hoa-Cỏ-Tình-Yêu.

                                                ***

                        Chúng mình yêu nhau trong ngày Phục Sinh
                        Khi những con chiên về nhà thờ
                        Và chuông giáo đường đang ngân tiếng
                        Kim ơi! Kim ơi! Kim nhớ không?

                                                             1958


VIÊN LINH
Tháng 5/2017


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nhom-tap-chi-va-nha-tho-song-ho/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #146 vào: 24/10/2018, 20:38:10 »
Norman Mailer, nhà văn “đa sự” của văn chương Hoa Kỳ

Mailer là người có nhiều “tật xấu”. Từ lúc còn nhỏ, ông đã thích chưng diện, thích “show up”, thích được mọi người chú ý. Bạn bè cùng lớp ở Harvard nhớ về Mailer như một anh chàng ăn to nói lớn và thường trâng tráo kể chuyện tục tĩu.

Nhà văn Norman Mailer

NORMAN MAILER, một trong những khuôn mặt văn chương quan trọng của Hoa Kỳ trong thế kỷ 20, sinh ở Long Branch, tiểu bang New Jersey, vào ngày 31 Tháng Giêng, 1923.
            Cha, Isaac Barnett, là một di dân Nam Phi gốc Do Thái, kinh doanh tạp hóa. Mẹ, Fanny Schneider, thuộc một dòng họ nổi tiếng cư ngụ ở Long Branch. Cuộc đời cũng như sự nghiệp văn chương của Norman Mailer rất “đa sự”. Con người ông chẳng khác gì một nhân vật tiểu thuyết.
            Mailer là người có nhiều “tật xấu”. Từ lúc còn nhỏ, ông đã thích chưng diện, thích “show up”, thích được mọi người chú ý. Bạn bè cùng lớp ở Harvard nhớ về Mailer như một anh chàng ăn to nói lớn và thường trâng tráo kể chuyện tục tĩu.
            Ra đời, về sau, ông là một tay ăn chơi phóng đãng, thay nhân tình như thay áo, nghiện rượu và nghiện thuốc phiện nặng. Là một người có thân hình to, cao, ngoại khổ và một cá tính mạnh mẽ, ông là một người hiếu động, tính tình nóng nảy, đôi khi thô lỗ, ưa gây gổ. Ông không ngại đấu đá, bằng lời, bằng chữ hay bằng sức.
            Mailer đi mọi nơi và thử mọi thứ. Ông ít khi từ nan làm bất cứ điều gì mà ông thích. Ngoài chuyện viết lách, ông còn tham gia nhiều hoạt động khác, kể cả chính trị.
            Năm 1969, ông ứng cử thị trưởng New York với chủ trương “ly khai” (secessionist), muốn New York trở thành tiểu bang thứ 51 của Mỹ, nhưng thất cử. Có lúc, ông làm cố vấn cho tổng thống Mỹ. Ông tham dự hàng chục cuộc hội thảo, xuất hiện và tham gia tranh luận hàng trăm lần trong các diễn đàn đại học về nhiều đề tài khác nhau.
            Năm 1989, Mailer tích cực vận động hỗ trợ cho nhà văn Salman Rushdie khi ông này bị giáo chủ Hồi Giáo Iran kết án tử hình vì đã viết tác phẩm “The Satanic Verses”.
            Trong những hoạt động khác của ông, có một chuyện “cười ra nước mắt”. Số là có một tù nhân tên là Jack Henry Abbott chịu án tù dài hạn vì tội giết người. Sau khi đọc được tác phẩm “The Executioner’s Song” của Mailer, anh ta viết thư cho Mailer kể về cuộc sống tồi tệ của tù nhân.
            Chịu ấn tượng mạnh mẽ của những lá thư, Mailer giúp Jack in một cuốn sách, có tựa đề “In the Belly of the Beast”. Năm 1981, do sự vận động hết mình của Mailer, Jack được tạm phóng thích. Nhưng chỉ sáu tuần lễ sau, trong một cuộc cãi vả, Jack rút dao đâm chết anh chàng bồi bàn trẻ tuổi tại một quán ăn, để rồi sau đó, phải trở lại nhà tù với một bản án mới.
            Riêng Mailer, ông ngậm ngùi nhận thêm một vết đen không cách gì tẩy rửa nổi vào bản tiểu sử của mình. Nghĩ cho cùng, tất cả cũng chỉ vì cái tội “đành hanh” và “đa sự!”
            Tính nết bất thường của Mailer còn biểu hiện qua một sự kiện khác, cái nhà. Đầu năm 1960, ông mua một căn nhà ở Brooklyn Heights, New York, nơi mà ông sống hầu hết cuộc đời, kể cả trong những ngày tháng cuối cùng. Căn nhà nhìn ra khu Manhattan. Phòng khách được thiết kế theo một kiểu kỳ lạ được buộc chặt bằng dây nhợ và lưới của một chiếc tàu thủy. Lối tiếp cận duy nhất với phòng làm việc của ông là bằng sợi dây. Khi có tiệc tùng, ông khuyến khích khách khứa tham gia vào một cuộc thi, leo lên leo xuống dây như là một cách giải trí.
            Mailer có sáu vợ và chín đứa con. Tuy lăng nhăng và gặp nhiều rối rắm trong tình trường, nhưng ông là một đàn ông rất tận tụy với gia đình. Từ đầu thập niên 1960, do gánh nặng tài chánh vì nuôi con ăn học và các trợ cấp gia đình khác, ông phải viết vội viết vàng hai cuốn truyện theo đơn đặt hàng để có tiền chi trả, trong đó có “An American Dream” (1965), là tác phẩm sau này được tờ tạp chí Time ca ngợi là một tác phẩm hay, báo hiệu sự trở lại của tài năng Mailer. Cũng lạ! Thế mới hay, cái hay và cái dở trong văn chương đôi khi không dễ nghĩ, bàn.
            Giống như con người, sự nghiệp văn chương của Mailer cũng “đa sự” không kém. Theo nhận xét của những nhà nghiên cứu văn học Hoa Kỳ, thì không có một nhà văn nào mà đời sống cũng như sự nghiệp văn chương vừa rực rỡ, vừa đa dạng lại vừa gây nên tranh cãi và bị hiểu lầm đến thế.
            Tác phẩm cũng như đời sống của ông vừa “được” vừa “bị” công chúng soi mói, mổ xẻ trong một thời gian dài. Ngoại trừ nhà văn Edgar Allan Poe, chưa nhà văn nào đồng thời vừa được ca ngợi và vừa bị chưởi rủa như ông.
            Tùy lúc, tùy cách nhìn, Mailer được gọi bằng nhiều danh xưng khác nhau. Lúc đầu, khi cuốn truyện đầu tay được xuất bản, Mailer được gọi là “một tài năng khác thường”. Sau này, đã thành danh, khi thì ông được gọi là “nhà viết báo xuất sắc”, khi thì là “ông hoàng đực rựa của nền văn chương Mỹ”, khi thì là “ông hoàng ưa gây gổ của văn chương Mỹ”, khi thì là “nhà văn lớn hơn cuộc đời”…
            Khen là thế, nhưng đồng thời nhiều lần, ông bị tấn công và đôi lúc bị tấn công nặng nề đến nỗi (khoảng giữa thập niên 1970), một số nhà phê bình văn chương còn tìm cách loại ông ra khỏi hàng ngũ các nhà văn Mỹ. Nói cho đúng ra, hầu hết những cuộc tấn công đều xuất phát từ sự trả đũa các bài viết và thái độ khiêu khích cố hữu của chính ông.
            Mailer thuộc loại nhà văn xem viết lách là một công việc cao cả, chỉ có thể do những người tài ba mới làm được. Mailer viết nhiều, viết khỏe qua nhiều thể loại khác nhau: truyện dài, truyện ngắn, hồi ký, tiểu sử, tiểu luận đủ loại (chính trị, xã hội, văn chương, thể thao…), bút chiến, phóng sự, thơ, kịch, kịch bản phim. Ngoài ra, có lúc, ông còn làm đạo diễn phim và ngay cả đóng phim.
            Thành tích lớn lao về nhiều mặt đã giúp ông đoạt nhiều nhiều giải văn chương từ nhỏ đến lớn trong đó có hai giải Pulitzer – với “The Armies of the Night” và “The Executioner’s Song” – và đặc biệt, được trao tặng giải National Book Award để vinh danh toàn bộ sự nghiệp viết lách của ông.
            Nhìn chung, sự nghiệp của Mailer lên, xuống bất thường. Ông viết nhiều, nhưng không đều tay, có cuốn hay thì thật hay, mà cuốn thì lại khá dở hoặc không dở thì “có vấn đề” đến nỗi có tác phẩm như “The Deer Park” bị đến sáu nhà xuất bản từ chối trước khi nhà xuất bản Putnam nhận in.
            Ngoài truyện hư cấu, ông viết nhiều tác phẩm phi-hư cấu (non-fiction) khác nhau. Nổi tiếng nhất là “The White Negro” (1957), “Marilyn: a Biography” (1973) viết về nữ tài tử Marilyn Monroe, “Portrait of Picasso as a Young Man: An Interpretative Biography” (1995) viết về danh họa Picasso, “Oswald’s Tale” (1996) viết về người đã giết Tổng Thống Kennedy.
            Mailer có loại hành văn chắc, khỏe, gân guốc, sắc cạnh. Đặc biệt, cách viết rất riêng ông đã tạo ra một phong cách viết báo kiểu mới, về sau được mệnh danh là “literary journalism”.
            Đó là một cách viết tổng hợp các biến cố có thật kết hợp với tự truyện, bình luận chính trị và hư cấu tiểu thuyết hay nói cách khác, là một loại phi hư cấu nhưng mang hơi văn, ngôn ngữ và cách diễn đạt của truyện hư cấu. Đây là điểm mạnh nhưng cũng là điểm yếu của Mailer.
            Theo nhận định của James Campbell trên tờ Guardian thì, “Ông thiếu sự cô đơn cần thiết để suy tưởng và sáng tạo”. Do đó, nó có thể đã góp phần cản trở ông trở thành một nhà văn vĩ đại, người có thể viết một “Đại Thư” (Big Book) vượt qua bóng dáng của Hemingway như ước mơ của ông lúc sinh thời.
            Nhà văn Norman Mailer mất ngày 10 Tháng Mười Một, 2007.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 05/2017

_________________________________________
Tài liệu tham khảo:
– Charles Mcgrath, “Norman Mailer, Outspoken Novelist, Dies at 84” (New York Times 10/11).
– American Writers, Norman Mailer: Autocrat of the Remainder Table.
– Norman Mailer, Wikipedia.
– Le Monde, CNN, AP, Boston Globe.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/vhnt-norman-mailer-nha-van-da-su-cua-van-chuong-hoa-ky/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #147 vào: 30/10/2018, 21:58:02 »
Tài hoa và nhân cách nhạc sĩ Anh Việt Thu

Trong số những nhạc sĩ sinh trưởng ở miền Nam, thuộc thế hệ (19)40, chẳng những thành danh sớm mà, từ giai điệu tới ca từ cũng mượt mà, giầu có, là cố nhạc sĩ Anh Việt Thu.

Nhạc sĩ Anh Việt Thu

ÔNG LÀ TÁC GIẢ nhiều ca khúc nổi tiếng khi còn rất trẻ. Nhưng dường như định mệnh ngỗ ngược đã chỉ dành cho ông nửa miệng cười! Tôi muốn nói, cùng thời với ông, có những nhạc sĩ được dư luận, báo chí nhắc nhở tới như những tài hoa trẻ của nền tân nhạc Việt, dù số lượng sáng tác của họ được quần chúng biết đến ít hơn, hoặc giá trị thực hữu của những ca khúc đó là điều cần phải xét lại!
            Trả lời câu hỏi điều gì dẫn tới sự bất công này? Một bằng hữu cùng giới với nhạc sĩ Anh Việt Thu cho rằng, vì ông mất quá sớm! Khi ông chưa bước tới tuổi 37 (theo cách tính phương Tây).(1)
            Tôi không đồng ý lắm với lý giải này. Tuy nhạc sĩ Anh Việt Thu từ trần có phần sớm sủa hơn các bạn đồng nghiệp của ông – Nhưng chúng ta đừng quên, ngay tự năm 1956, ở tuổi 17, Anh Việt Thu đã nổi tiếng với ca khúc “Giòng An Giang”. Và, chỉ ít năm sau, khi vừa bước qua tuổi hai mươi, ông đã khiến không ít nhạc sĩ của miền Nam thời đó, phải nghiêng người, bất ngờ trước độ chín tới của tài hoa ông, qua ca khúc “Tám điệp khúc”. Ðể rồi sau đấy, hàng loạt sáng tác khác mang tên Anh Việt Thu, liên tiếp ra đời. Chúng ta có thể kể những ca khúc như “Chân dung”, “Ða tạ”, “Người ngoài phố”, “Hai vì sao lạc”, hay các bài “Nhớ nhau hoài”, “Gió về miền xuôi”, “Xa dấu ngựa hồng” phổ thơ Thiên Hà, v.v…
            Nói cách khác, ngay tự những bậc thềm thứ nhất của 20 năm văn học nghệ thuật miền Nam, nhạc sĩ Anh Việt Thu đã có mặt, định hình như một tên tuổi đáng kể.
            Lại nữa, khác hơn nhiều nhạc sĩ cùng trang lứa với mình, Anh Việt Thu được ghi nhận là một trong rất ít nhạc sĩ được đào luyện chính quy từ trường ốc. Theo tiểu sử được phổ biến gần đây, trên trang mạng Wikipedia/Bách khoa toàn thư mở thì, nhạc sĩ Anh Việt Thu, tên thật Huỳnh Hữu Kim Sang tốt nghiệp thủ khoa khóa 1 trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon. Cũng trong năm 1963, ông đã đệ trình luận án “Không có tiếng động trong âm nhạc” tại nhạc viện Tokyo. Ðồng thời ông cũng là chủ tịch Hội Sinh Viên trường Quốc Gia Âm Nhạc Saigon. Cùng với nhà thơ Thiên Hà, Anh Việt Thu chủ trương chương trình Phù Sa, tuần báo Văn Nghệ Truyền Thanh cho đài phát thanh Saigon; và Giờ Âm Nhạc Anh Việt Thu trên đài truyền hình Việt Nam đầu thập niên (19)70…


Nhạc sĩ Anh Việt Thu (Tranh Tạ Tỵ)

            Ðề cập tới hiện tượng “bất công” thường thấy trong văn học nghệ thuật, cố nhà văn Mai Thảo gọi đó là “cái duyên trong văn nghệ”. Nhiều người có thực tài nhưng bị lãng quên. Và, ngược lại. Tôi nghĩ nhạc sĩ Anh Việt Thu, ở trường hợp thứ nhất. Trường hợp “định mệnh ngỗ ngược chỉ dành cho ông nửa miệng cười!” Nhưng trường hợp nào thì, giá trị tự thân nhiều sáng tác của cố nhạc sĩ Anh Việt Thu, cũng vẫn là những hạt ngọc sẽ mãi còn lấp lánh trong kho tàng tân nhạc Việt.
            Ðiển hình như ngay tự sáng tác đầu tay, ca khúc “Giòng An Giang”, Anh Việt Thu đã rất sớm cho thấy tính chất cá biệt trong sáng tác của mình.
            Nhìn lại hơn nửa thế kỷ tân nhạc Việt, chúng ta có rất nhiều những ca khúc mang tên hoặc, nói về một dòng sông. Nhưng chúng ta không có bao nhiêu ca khúc được tác giả cho dòng nhạc của họ theo chân dòng sông, tới những nơi chốn dòng sông ấy đi qua, ở cùng. Như:
            “Giòng An Giang sông sâu sóng biếc/Giòng An Giang cây xanh lá thắm… Lả lướt về qua Thất Sơn/Châu Ðốc giòng sông uốn quanh/soi bóng Tiền Giang Cửu Long…”(2)
            Ngay đoạn mở đầu của “Giòng An Giang”, tác giả đã đem vào được ca khúc của mình hai địa danh nổi tiếng của miền Nam là Thất Sơn, Châu Ðốc và, Tiền Giang (một trong chín nhánh sông của Cửu Long giang).
            Nếu ca từ của ca khúc vừa kể, là thứ ngôn ngữ dung dị thích hợp với dòng chảy êm đềm, ngọt ngào của dòng An Giang thì, qua tới “Tám điệp khúc” ca từ lại được tác giả mặc cho chúng một chiếc áo khác. Chiếc áo có nhiều game màu lênh đênh những gập ghềnh vận mệnh đất nước:
            “Trời làm cho mưa bay giăng giăng mây tím dệt thành sầu/Bàn tay năm ngón mưa sa/Dìu anh trong tiếng thở/Ðưa tiễn anh đi vào đời/Mẹ Việt Nam ơi! Hai mươi năm ngăn lối rẽ đường về…”(3)
            Cụm từ “Mẹ Việt Nam” khá phổ biến trong nhiều ca khúc nói về tình yêu quê hương. Nhưng, theo tôi, có lẽ giai điệu và ca từ “Tám điệp khúc” của Anh Việt Thu tha thiết, chân thành nhất, khiến người nghe dễ đồng cảm với tác giả. Nó không có tính cách kêu gào, thét gọi khiến “Mẹ Việt Nam” (nếu nghe được) tôi sợ, đôi khi cũng phải… giật mình!?
            Cũng trong ca khúc “Tám điệp khúc”, dù được Anh Việt Thu viết cách đây đã trên dưới nửa thế kỷ, nhưng khi ông dùng tính từ “thiêng” để rọi sáng nghĩa ngữ cho danh từ “sóng”, trong câu “Ôi sóng thiêng em về trời” – Rồi tính từ ấy đã được lại nhiều lần ở đoạn kết:
            “…Rừng thiêng lá đổ âm u/Rừng thiêng vang tiếng gọi/Ôi núi thiêng em về nguồn/Mẹ Việt Nam ơi! Con xin ghi xin khắc nguyện lời thề” – Thì ngay hiện tại, tôi e cũng khó có một nhạc sĩ trẻ tuổi nào, có được!
            Song song với việc sáng tác nhạc, đầu thập niên (19)70, nhạc sĩ Anh Việt Thu còn hợp tác với một người bạn có nhà in là nhà thơ Nguyễn Vương, thành lập nhà xuất bản Ngạn Ngữ. Mục đích của nhà Ngạn Ngữ không phải để in nhạc của Anh Việt Thu. Ông chủ trương in truyện, thơ của một số tác giả quen thuộc.
            Tôi không biết tính tới ngày từ trần, tác giả “Tám điệp khúc” đã xuất bản được bao nhiêu tác phẩm. Chỉ biết, một trong những cuốn sách cuối cùng mang tên nhà Ngạn Ngữ là truyện dài “Với nhau, một ngày nào” của Du Tử Lê, phát hành tháng 11 năm 1974.


Bìa sách của nhà xuất bản Ngạn Ngữ

            Tôi muốn nhấn mạnh khi làm xuất bản, nhạc sĩ Anh Việt Thu không chỉ trả hết tiền tác quyền một lần cho tác giả mà, ông còn cho tác giả được chọn họa sĩ trình bày bìa, cũng như thỏa mãn mọi đòi hỏi khác của tác giả, nếu có.
            Sự kiện này cho thấy, nhạc sĩ Anh Việt Thu không chỉ là một nhạc sĩ tài hoa; ông còn là người có một nhân cách đáng quý trọng trong đời thường nữa.


DU TỬ LÊ
Calif. tháng 08/2012

_____________________________________________
(1) Theo tư liệu của nhà thơ Thiên Hà thì Nhạc sĩ Anh Việt Thu tên thật Huỳnh Hữu Kim Sang, sinh năm 1939 tại Cao Miên. Một năm sau, gia đình trở về Việt Nam, mới làm khai sinh cho ông – Ghi sinh ngày 24 tháng 8 năm 1940, tại Cái Bè, Mỹ Tho. Ông mất ngày 15 tháng 3 năm 1975, tại Saigon, để lại vợ và hai con. Một người bạn khác của Anh Việt Thu, nhà thơ Vũ Anh Sương cho biết, họ Huỳnh có người em ruột tên là Việt Thu. Ðể nhớ đến trách nhiệm làm anh của mình, ông chọn bút hiệu Anh Việt Thu.
(2) & (3): Theo Wikipedia, Bách khoa toàn thư mở.


https://www.nguoi-viet.com/newarticle/Tai-hoa-va-nhan-cach-nhac-si-Anh-Viet-Thu-1551/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #148 vào: 06/11/2018, 22:43:04 »


Giới thiệu sách mới của Giáo sư Trần Ngọc Ninh

________________
Ngữ Vựng Tiếng Việt
2017/688 trang/$40
Cơ sở xuất bản: Viện Việt Học
Ðiện thoại liên lạc: 714-775-2050
________________

Hai lãnh vực cơ bản trong tiến trình thủ đắc một ngoại ngữ là ngữ pháp và ngữ vựng. Nhưng nếu được hỏi lãnh vực nào hữu dụng hơn khi phải dùng một ngôn ngữ chưa thông thạo để giao dịch với người bản xứ thì có lẽ chẳng ai chọn ngữ pháp làm câu trả lời. Ðã đành các luật lệ ngữ pháp là cần thiết để viết hay nói thứ tiếng đó cho chỉnh và làm người bản xứ hiểu ta rõ hơn, nhưng nếu chỉ thuộc lòng các quy luật ngữ pháp mà lại yếu kém về ngữ vựng thì nỗ lực giao dịch ấy khó lòng thành tựu được.

Giáo Sư Trần Ngọc Ninh ký sách “Ngữ Vựng Tiếng Việt”
trong buổi ra mắt sách tại Viện Việt Học

THẬT VẬY, câu nói “Vì tiếng Anh không khá, bạn tôi đã ba lần rớt bài thi vào quốc tịch Mỹ rồi” trong tiếng Anh (đúng ngữ pháp) là “Because his English is poor, my friend has failed the American citizenship test three times already”, nhưng câu (sai bét ngữ pháp và chính tả, với mức ngữ vựng tàm tạm – một thứ “broken English”) “He english no gut, my frend he no pass already three time test for become citizen of american” cũng có thể làm người dân Mỹ bản xứ cố gắng hiểu được, mặc dù họ thấy nó ngộ nghĩnh lạ thường. Lại cũng có lúc người ta chỉ cần phát ngôn một hai chữ “đắc địa” cho hoàn cảnh cũng đủ làm cho người bản xứ hiểu mình. Nhớ lại trong dịp thăm viếng Tây Ðức năm 1973, vì mải miết mua quà cho gia đình vào ngày chót chuyến đi nên tôi quên cả giờ giấc, suýt nữa thì lỡ chuyến bay về Saigon! Vội vàng leo lên một taxi, tôi quen miệng nói tiếng Anh với người tài xế yêu cầu ông đưa tôi ra phi trường, nhưng ông ta có vẻ không hiểu. Mừng thay, khi tôi chỉ nói lên hai chữ tiếng Ðức rất phổ thông cho “phi trường” và “làm ơn” là “Flughafen, bitte!” thì ông ta hiểu liền!
            “Nhập tâm” ngữ vựng một ngoại ngữ là một thử thách lớn đòi hỏi học trò nhiều cố gắng kiên cường. Nhưng đền bù lại, khả năng đọc và viết sẽ thăng tiến theo tỷ lệ thuận với số lượng từ ngữ mà họ làm chủ được. Quan yếu như thế mà từ biết bao đời nay ngữ vựng thường được “dạy” bằng một lề lối cũ kỹ vừa làm học trò chán nản vừa chẳng mấy thành công. Lề lối lỗi thời ấy khuyến cáo học trò phải cố gắng học thuộc lòng nghĩa (meanings) cũng như chính tả (spellings) các chữ mới, nhưng không đả động gì tới thể loại (lexical categories), chức vụ ngữ pháp (syntactical functions), ngữ cảnh (contexts), cũng như kết hợp từ (collocations) là những đặc thù tối quan trọng của chúng. Những yếu tố này đáng lý ra thì phải được gây chú ý trong các thí dụ, các lời giải thích, các định nghĩa cho những chữ mới.
            Công trình giáo khoa đồ sộ tựa đề “Ngữ Vựng Tiếng Việt” của Giáo Sư Trần Ngọc Ninh vừa được Viện Việt Học xuất bản năm nay (2017) đã mang đến cho tôi một ngạc nhiên sảng khoái. Triết lý giảng huấn căn cứ trên phát kiến của khoa ngôn ngữ học đương đại và nội dung phong phú vui tươi được trình bày một cách tân kỳ của tác phẩm đã lấy được thiện cảm của tôi ngay từ những trang đầu tiên của nó. Thực vậy, trong ngót nửa thế kỷ chuyên nghiên cứu và giảng dạy educational linguistics (môn ngữ học dành cho các chương trình đào tạo giáo chức ngôn ngữ) tại Ðại Học Sài Gòn và một số đại học tại Texas, tôi chưa thấy một tài liệu giáo khoa giảng dạy ngữ vựng tiếng Việt (hay ngữ vựng một ngôn ngữ nào khác) được soạn thảo và trình bày một cách khoa học, nhất quán, vui tươi, và thấm nhuần văn hóa dân tộc như tác phẩm giáo khoa “Ngữ Vựng Tiếng Việt” của Giáo Sư Trần Ngọc Ninh.
            Nhận định đầu tiên của tôi về công trình giáo khoa này là thấy tác giả rất uyên bác của nó đã dựa vào những phát kiến của ngữ học và tâm lý học hiện đại hữu ích cho lãnh vực giáo dục ngôn ngữ. Quan trọng nhất là phát kiến về sự hiện hữu tiên thiên (innate existence) của cơ quan ngôn ngữ (language organ) và ngữ pháp hoàn vũ (universal grammar) trong não bộ loài người, do Noam Chomsky đề xướng vào năm 1965. Cái phát kiến làm sửng sốt học giới một thời của Chomsky đã được Stephen Krashen khai triển kỹ lưỡng, khoảng hai thập niên sau đó, để thành cốt lõi cho phương hướng tự nhiên (the natural approach) để giảng dạy ngôn ngữ. Nhấn mạnh sự khác biệt đáng kể giữa thủ đắc ngôn ngữ (language acquisition) và học tập ngôn ngữ (language learning) cùng với những đề nghị thực tiễn vui tươi cần thiết cho mục tiêu “thủ đắc”, công trình của Krashen đã được tán thưởng và áp dụng từ đó đến nay. Phát kiến ấy của Chomsky cũng được Ken Goodman dùng làm kim chỉ nam cho phương hướng ngôn-ngữ-vẹn-toàn (the whole-language approach) mang lại thành công hàn lâm đáng kể cho Goodman, vào cùng thời gian với thành tựu của Krashen.
            “Ngữ Vựng Tiếng Việt” là một tin mừng cho các thầy cô và các em học sinh các lớp Việt ngữ đủ trình độ, trong hạn tuổi từ 5 đến 15. Công trình giáo khoa giảng dạy ngữ vựng Việt Nam quý vị đang có trong tay vừa được hoàn tất sau khá nhiều năm khổ công do lòng nhân ái thúc đẩy – labor of love trong Anh ngữ – của tác giả là một luồng sinh khí mới đầy hứa hẹn cho nỗ lực giảng dạy tiếng Việt ở hải ngoại, đặc biệt là tại các quốc gia sử dụng Anh ngữ.
            Mặc dù tác giả đã khiêm tốn xác định công trình tâm huyết của ông “chỉ là một cái kho nhặt nhạnh, tồn trữ và sắp xếp, chứ không điển chế ngôn ngữ hay văn tự” (trang 2), công trình này đã hiến cho giáo giới chúng ta một kho tài liệu khổng lồ để giúp phần thăng hoa cách giảng dạy ngữ vựng tiếng Việt cho tuổi trẻ thành một phương pháp nhân bản hấp dẫn với nhiều tiềm năng thành công rực rỡ.
            Triết lý giáo dục ngày nay tại Hoa Kỳ nhắc nhở giáo giới rằng vai trò lý tưởng cho người đi học là vai trò của những nhà thám hiểm. Vì vậy các nhà giáo cũng như các tài liệu giảng huấn phải cung cấp những phương tiện, những cơ hội tối ưu để thúc đẩy các nhà thám hiểm trẻ tuổi tự khám phá thêm ra những điều mới lạ trong cuộc hành trình học hỏi với nhiều lý thú và hưng phấn. Kinh nghiệm dạy học của bao thế hệ cũng xác nhận rằng tài liệu giáo huấn chỉ trở thành tuyệt hảo khi nó tổng hợp được tri thức của các bộ môn khác nhau nhưng cùng chuyên tâm vào một chủ đề (theme), vì sự hiểu biết phát triển mạnh nhất là khi nó được tiếp cận các kết nối tri thức (cognitive connections). Vì những lý do vừa kể, một bài học hữu hiệu mang lại lý thú cho học sinh phải là một đơn vị có chủ đề (thematic unit) được khai phá từ nhiều khía cạnh như văn học, toán học, khoa học, xã hội học, chính trị học, nếp sống đa văn hóa trong xã hội ngày nay, vân vân.



             “Những tâm trí vĩ đại gặp nhau chăng”, tôi tự hỏi, vì những ưu điểm nêu trên hiện hữu đều đặn trong công trình của tác giả “Ngữ Vựng Tiếng Việt”. Rất nhiều mục từ (mà tác giả gọi là “từ khóa” hay “key words”) sắp xếp theo thứ tự a/b/c trong sách là những đơn vị có chủ đề, trong đó các yếu tố văn cảnh, kết hợp từ, từ đồng nghĩa, các câu giải thích chủ đề qua các lãnh vực tri thức khác nhau, các ca dao tục ngữ, các câu trích dẫn từ đệ nhất thi phẩm Truyện Kiều và từ các tác phẩm văn chương Việt khác đã biến các mục từ ấy thành những bài học nho nhỏ với chủ đề hấp dẫn, giảng giải qua thứ tiếng Việt tự nhiên (natural, authentic Vietnamese). Những bài học nho nhỏ đó có mục tiêu gia tăng tri thức học trò qua môi giới “thủ đắc” (acquisition) tự nhiên và lý thú hơn là qua môi giới “học tập” (learning) buồn nản của lề lối cũ.
            Văn cảnh (contexts, mà tác giả gọi là “đồng văn” trong sách) là những cơ hội thuận tiện cho “ngữ vựng chưa biết” xuất hiện trong các câu mà học sinh đã hiểu được gần hết ý nghĩa; trong những hoàn cảnh ngôn ngữ này, các cháu có thể suy đoán ra ý nghĩa đích thực của ngữ vựng chưa biết ấy. Chẳng hạn, trang 29 có liệt kê từ khóa ăn ảnh mà ý nghĩa có thể suy đoán dễ dàng (và lại được xác nhận bởi từ Anh ngữ tương đương viết kế bên là “photogenic”) qua câu thí dụ “Chị Lan ăn ảnh lắm: ở ngoài, chị cũng đẹp mà chụp ảnh thì hết xẩy”. Trang 306 có liệt kê từ khóa kêu (to shout, scream, cry out) được dùng trong bốn ngữ cảnh khác nhau để giúp học sinh hiểu nghĩa dễ dàng; một trong bốn ngữ cảnh ấy là câu giải thích gọn gàng “Người ta kêu to tiếng là để cho người khác biết và để ý đến”.
            Kết hợp từ (collocations) là những nhóm chữ thường đi với nhau theo một thứ tự nhất định, như “trời ơi/lớn như thổi/nước đổ lá khoai/chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng”. Dùng kết hợp từ thông thạo sẽ giúp chúng ta nói và viết ngôn ngữ đang học giống như người bản xứ. Vì thế chúng ta cần thuộc chúng để sử dụng trong những ngữ cảnh phù hợp. Hồi còn là một học sinh trung học, tôi đã bỏ nhiều thì giờ để nhập tâm những kết hợp của những động từ và tĩnh từ “đi với” các giới từ trong tiếng Anh như look up to/look down on/proud of/angry with, và trong tiếng Pháp như commencer à/dépendre de/fier de/prêt à.
            Tôi mở cuốn sách ra và lựa “cầu may” được từ khóa khang kiện/healthy và sự khang kiện/health (trang 316-317) để làm sáng tỏ thêm những nhận định của tôi ở trên về nó. Từ khóa này là một trong vô số “đơn vị có chủ đề” trong sách. Nó chứa đựng kiến thức của các lãnh vực khác nhau để có thể trở thành một bài học súc tích về sức khỏe rất bổ ích và thích thú, giúp cho những “nhà thám hiểm” trẻ tuổi gốc Việt gia tăng kiến thức tổng quát đồng thời thăng hoa khả năng tiếng mẹ đẻ. Từ lãnh vực y học và sinh lý học là văn cảnh “Người bình thường, khỏe mạnh được coi là khang kiện” và văn cảnh “Sự khang kiện là trạng thái (state) dễ chịu (well being) bình thường về mặt tinh thần và sinh lý của một cá nhân”. Từ lãnh vực văn hóa là văn cảnh “Cha bảo từ xưa đến nay, khi ta chúc nhau thì hay nói chúng tôi xin chúc anh chị (ông bà/hai bác) khang kiện (mạnh khỏe/bình an khang cát)” và văn cảnh “Trong nền văn hóa của ta, đó là những ước mong chân thành có ý nghĩa nhất”. Và từ lãnh vực khoa học xã hội (social studies) là văn cảnh “Danh từ sự khang kiện được đề nghị để dịch chữ health, và cơ quan WHO (World Health Organization) được dịch là Tổ Chức Thế Giới về Sự Khang Kiện. Sau cùng, cũng đáng kể là các kết hợp từ phổ thông “từ trước đến nay/xin kính chúc/được đề nghị/được coi là” đã được dùng trong các ngữ cảnh phù hợp nhất.
            Tuy chủ đích là để dạy ngữ vựng, cuốn sách không quên nhấn mạnh mối liên hệ giữa ngữ vựng và ngữ pháp, khiến tôi nhớ lại phương hướng ngôn-ngữ-vẹn-toàn (whole-language approach) do Ken Goodman khởi xướng với thành quả thuận lợi, để giúp học trò tiến bộ, trong cùng một bài học, bốn khả năng có liên hệ mật thiết là (1) nghe hiểu (listening comprehension), (2) nói (speaking), (3) đọc (reading), và (4) viết (writing). Rất nhiều từ khóa trong sách chứa đựng đủ tài liệu để các thầy cô sẵn sàng dạy học trò cùng một lúc bốn khả năng nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt, như khuyến cáo sư phạm hữu hiệu (đã được thời gian chứng tỏ) của Goodman.
            Sau hết, tôi xin ghi nhận thêm rằng ngữ pháp Việt truyền bá trong công trình này cũng tuyệt đối từ bỏ lối dạy quá lạc hậu là lấy cấu trúc tiếng Pháp làm khuôn mẫu để “ép” cấu trúc tiếng Việt vào trong đó một cách tức tưởi. Trong thời Pháp thuộc, một vài cá nhân quá ái mộ văn học Pháp đứng ra làm công việc phi lý này hẳn đã quên mất rằng trong khi tiếng Pháp thuộc ngữ hệ Ấn-Âu (Indo-European) và là một ngôn ngữ tổng hợp (synthetic) thì tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam-Á (Austro-Asiatic) và là một ngôn ngữ phân tích (analytic). Ngữ pháp Việt trong sách “Ngữ Vựng Tiếng Việt” được giảng dạy qua khuôn khổ ngữ pháp hoàn vũ (universal grammar) đang được áp dụng trong nền giáo dục các nước tiền tiến nhất trên thế giới. Ngữ pháp hoàn vũ là cái lõi chung (common core) cho tất cả tiếng nói loài người, dựa vào các nguyên lý (principles) và bàng kế (parameters). Các nguyên lý chung (thí dụ như “Câu nào cũng phải có chủ từ”) thường được thể hiện qua các hình thức khác nhau gọi là bàng kế (thí dụ như bàng kế “tiếng Pháp bắt buộc câu nào cũng phải có chủ từ rõ rệt” so với bàng kế “tiếng Việt thường cho phép chủ từ vắng mặt hoặc hiểu ngầm”). Do đó, người nào thông thạo một ngoại ngữ tất nhiên phải hiểu thấu sự khác biệt giữa bàng kế tiếng mẹ đẻ và bàng kế ngoại ngữ đó. Giáo Sư Trần Ngọc Ninh đã phát hiện ra nhiều bàng kế đặc trưng (nhưng đôi khi cũng khá rắc rối) của ngôn ngữ chúng ta. Và ông đã rộng lượng chia xẻ những kiến thức khả tín mới nhất, nhờ vào đó mà chúng ta sẽ có ngày theo kịp những bước nhảy vọt ngoạn mục trong nỗ lực tìm hiểu những bàng kế đặc thù của mọi ngôn ngữ thế giới, qua khuôn khổ đáng tin cậy nhất của ngữ pháp hoàn vũ đương đại.
            Tôi vô cùng hân hạnh và cảm kích được giới thiệu một công trình giáo dục ngôn ngữ thượng đẳng của Giáo Sư Trần Ngọc Ninh, một học giả kiệt xuất mà tôi đã ngưỡng mộ từ lâu.


Giáo Sư ÐÀM TRUNG PHÁP
Tháng 5/2017


http://www.nguoi-viet.com/dien-dan/diendan-gioi-thieu-sach-moi-cua-gs-tran-ngoc-ninh/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #149 vào: 13/11/2018, 20:14:54 »
Paris phong cách Haussmann: Dấu ấn thời hoàng đế Napoléon III

Paris mang dáng dấp hiện đại như ngày nay, với những đại lộ trải dài, rộng thênh thang, những công trình kiến trúc hoành tráng, không gian xanh rải rác khắp nơi… là thành quả 17 năm quy hoạch của nam tước Haussmann, từ năm 1853 đến năm 1870, dưới triều hoàng đế Napoléon III, thời Đệ Nhị Đế Chế Pháp. Haussmann đã tạo cho Paris một dấn ấn riêng hiếm có. “Paris Haussmannien”, tạm dịch là “Paris theo phong cách Haussmann” đã góp phần không nhỏ đưa Paris lên tầm thành phố tráng lệ nhất thế giới.

Paris phong cách Haussman

NHÌN LẠI LỊCH SỬ, cho tới thế kỷ XIX, kinh thành Paris vẫn giữ cấu trúc cũ từ thời Trung Cổ, với các con phố nhỏ hẹp, ngoằn ngoèo, các tòa nhà chen chúc, chật chội, nhiều khu phố ngột ngạt, xấu xí. Cơ sở hạ tầng dần xuống cấp nghiêm trọng, toàn thành phố chỉ có 100km cống thoát nước, đường phố bẩn thỉu, dân cư nhiều nơi sống trong cảnh bần cùng. Thêm vào đó, nhiều người từ nông thôn đổ về Paris kiếm kế sinh nhai, khiến dân số Paris tăng nhanh, cơ sở hạ tầng không đáp ứng được nhu cầu của dân cư. Điều kiện vệ sinh tồi tệ đã góp phần không nhỏ khiến đại dịch hạch thế kỷ XIX (1832-1834) tàn phá Paris.
            Vào năm 1848, nước Pháp bước sang Đệ Nhị Đế Chế, Louis-Napoléon Bonaparte lên ngôi hoàng đế. Đã từng trải qua một thời gian tại Luân Đôn, bị mê hoặc bởi các khu vườn và sự thoáng đãng trong các khu phố của thành phố này, hoàng đế Napoléon III thấy Paris thực sự cũ kỹ, tối tăm và không đảm bảo vệ sinh, nhất là sau dịch hạch 1849.
            Napoélon III đã nghĩ tới một dự án quy hoạch lại Paris cho sạch đẹp, sáng sủa, nhằm cải thiện điều kiện sinh sống cho người dân thành phố, mở nhiều trục lộ giao thông mới, thúc đẩy giao thương phát triển, tạo nhiều công ăn việc làm và giúp người dân đi lại được thuận tiện. Ngoài ra, xây dựng một Paris hiện đại, đẹp bậc nhất châu Âu cũng nhằm góp phần khẳng định, minh chứng uy lực của hoàng đế.
            Thực ra, hoàng đế Napoélon III không phải người đầu tiên tính đến việc cải tạo bộ mặt của Paris. Hoàng đế Napoléon I đã từng có một dự án lớn quy hoạch lại Paris, nhưng chưa có thời gian và chưa hội tụ đủ điều kiện thực hiện mong muốn đó. Trong giai đoạn 1815-1830, khi chế độ quân chủ được tái lập và dưới nền Quân Chủ tháng Bảy – giai đoạn 1830-1848, chính quyền cũng đã đầu tư cải tạo Paris: lắp đặt nhiều đài nước ở nơi công cộng, cải thiện hệ thống chiếu sáng đường phố…
            Nhưng phải đến thời Napoélon III, công cuộc tái quy hoạch thực sự Paris mới được tiến hành. Vào năm 1853, hoàng đế bổ nhiệm nam tước, luật sư George-Eugène Haussmann, 44 tuổi, người vùng Alsace, làm tỉnh trưởng tỉnh Seine (nay là Paris) và giao cho Haussmann nhiệm vụ mở rộng, cải tạo kinh thành Paris, đưa Paris trở thành một trong những đô thành đẹp nhất châu Âu.
            Trong bối cảnh hòa bình, kinh tế phát triển khả quan, hoàng đế Pháp nắm nhiều thực quyền, thêm vào đó, với lòng trung thành tuyệt đối, nam tước Haussman đã được sự ủng hộ vô điều kiện của hoàng đế Napoléon III, khiến công cuộc tái quy hoạch Paris tiến triển thuận lợi.
            Các dự án cải tạo của Haussmann phải được Nhà nước thông qua và điều hành, nhưng công việc thực hiện được giao cho các công ty tư nhân, với nguồn vốn vay khổng lồ. Vào năm 1860, khoảng 8.000 doanh nghiệp tham gia dự án Haussmann sử dụng tới 31.000 thợ nề, 6.000 thợ đúc sắt, 3.500 thợ lợp mái nhà, 8.000 thợ mộc, 600 thợ sơn… Tổng cộng, 55.000 lao động tham gia công trường khổng lồ ở Paris.

Paris thay đổi bộ mặt
            Xét về tổng thể, 60% bộ mặt Paris đã thay đổi hoàn toàn sau 17 năm quy hoạch dưới thời Napoléon III. Tính tới năm 1868, 18.000 ngôi nhà (hơn 50% số nhà ở của người dân) đã bị phá hủy để xây dựng đường sá mới và các khu nhà mới. Haussman mở rộng Paris bằng cách cho sáp nhập một số làng mạc ở ngoại ô, chẳng hạn Passy, Auteuil, Monceau, Monmartre, Charonnne, Bercy… Từ 12 quận, Paris được mở rộng thành 20 quận. Ngoài tòa thị chính thành phố, mỗi quận đều có tòa chính riêng của mình. Diện tích Paris tăng từ 3.000 ha lên thành 6.000 ha, dân số tăng từ 800.000 người lên thành 2 triệu người.
            Một trong những thay đổi lớn đầu tiên là về giao thông. Haussman đã cho phá nhiều công trình cũ để mở những tuyến đường mới, những đại lộ dài rộng, thẳng tắp, thông thoáng theo hai trục bắc-nam, đông-tây (boulevard Sébastopol, de Strasbourg, Magenta, Voltaire, Diderot, Saint Germain, Malesherbes, Saint Michel, avenue Kléber, Foch, Victor Hugo, Carnot, Niel, Iéna…) và những con phố khang trang (rue de Rivoli, Soufllot, Réamur, rue du Quatre-Septembre, de Rennes, des Ecoles…) Tổng cộng, 175.000 km đường lộ mới được hình thành.
            Thêm vào đó, Haussmann cho xây dựng các ga xe lửa lớn: Gare de Lyon (1855), Gare du Nord (1865) và Gare Saint Lazare (1885). Kiến trúc sư Pierre Rinon giải thích: “Napoléon III có một câu nói rất hay về các ga xe lửa. Ông nói rằng nhà ga là cánh cửa mới của thành phố. Hoàng đế nói rằng giao thông đường bộ cơ bản sẽ biến mất. Con người sẽ đi lại và vận chuyển hàng hóa chủ yếu bằng đường sắt và đến Paris tại các ga xe lửa”. Cho đến nay, các ga này vẫn là các ga lớn với lưu lượng tàu xe rất cao. Gare du Nord và Gare Saint Lazare hiện là hai ga có số hành khách đi lại hàng ngày nhiều nhất châu Âu.
            Các không gian xanh bao quanh thành phố được phân bố đều: rừng Boulogne nằm ở phía tây và rừng Vincennes ở phía đông, ngoài ra còn có hai công viên lớn là Buttes-Chaumont ở phía bắc và Montsouris ở phía nam. Trong trung tâm thành phố có công viên Monceau… Ngoài ra, còn có rất nhiều vườn hoa công cộng, công viên nhỏ trong các khu dân cư.
            Để khắc phục tình trạng vệ sinh yếu kém của thành phố, Haussmann cho cải tạo và xây dựng mới hệ thống cấp và thoát nước. Nước sạch được dẫn đến từng tòa nhà. Từ năm 1865 đến năm 1900, Paris có thêm 600 km đường ống dẫn nước sạch, nhiều đường ống quy mô lớn gọi là aqueduc, dẫn nước từ những nguồn nước từ các nơi xa về thành phố. Haussmann còn cho xây bể chứa nước lớn nhất thế giới vào thời đó ở nội thành, gần công viên Montsouris, phía nam Paris, để trữ nước sạch dẫn từ vùng ngoại ô Vannes về.
            Song song với hệ thống cấp nước sạch, 500 km cống thoát nước cũng được lắp đặt. Dưới mỗi con phố, đều có hệ thống cống ngầm. Các ống cống ngầm đều có kích cỡ đủ lớn để công nhân dễ dàng di chuyển và bảo dưỡng, nạo vét lòng cống. Nước đã qua sử dụng từ các tòa nhà phải được dẫn vào hệ thống cống ngầm chứ không được đổ ra cống lộ thiên trên phố như trước đó. Cả hai hệ thống cấp và thoát nước trên sau Đệ Nhị Đế Chế đều được tiếp tục mở rộng và hiện vẫn duy trì hoạt động.
            Kỹ sư về cấp thoát nước, ông Olivier Jacques, giải thích: “Trong những năm đầu thế kỷ XIX, các vấn đề vệ sinh ngày càng nghiêm trọng. Dân số lại tăng đáng kể, nên thường xảy ra dịch bệnh. Hàng trăm ngàn người đã chết vì bệnh dịch trong nửa đầu thế kỷ XIX. Với quy hoạch của Haussmann, Paris mới thực sự có một hệ thống thoát nước hoàn chỉnh. Một mục tiêu khác là cung cấp nước sạch tới mọi tòa nhà ở Paris”.



Phong cách kiến trúc Haussmann
            Dấu ấn Haussmann còn hiện hữu rõ nhất cho đến bây giờ qua kiến trúc nổi bật của các tòa nhà được gọi là “immeubles haussmanniens”. Hàng chục ngàn tòa nhà kiến trúc Haussmann đã được xây dựng, kể cả sau khi Đệ Nhị Đế Chế sụp đổ. Hiện nay, 60% số tòa nhà trong Paris có kiến trúc Haussmann. Đặc trưng kiến trúc Haussmann thể hiện rõ nhất ở mặt tiền tòa nhà. Các tòa nhà trong cùng một tuyến phố phải có chiều cao bằng nhau, gồm tối đa 6 tầng, cùng phong cách trang trí mặt tiền, tạo sự thống nhất về tổng thể kiến trúc. Độ cao của các tòa nhà tỉ lệ thuận với bề rộng của con phố.
            Quy định thiết kế mặt tiền phải được tuân thủ chặt chẽ, chỉ nhà ở tầng hai và tầng năm (tầng ba và tầng sáu nếu tính theo kiểu Việt Nam) là có balcon. Mái nhà thường dốc 45o. Tường phía mặt tiền tòa nhà thường được xây bằng đá đẽo chất lượng cao, lấy từ các mỏ đá Saint-Maximin, vùng Oise và mỏ Petit-Montrouge ngay tại Paris. Tường đầu hồi và tường phía mặt hậu cũng được cũng được xây bằng đá đẽo nhưng chất lượng kém hơn.
            Kiến trúc sư Pierre Rinon giải thích: “Mặt tiền tòa nhà bắt buộc phải được xây bằng đá khối. Đó là một điều khoản bắt buộc được ghi trong hợp đồng chuyển nhượng đất. Đó là điều Haussmann làm. Vào thời kỳ đó, chưa có giấy phép xây dựng. Khi một người mua một mảnh đất để xây khu nhà, người ta ghi rõ loại đá khối và cả khu khai thác đá. Người ta cũng nói rõ các tòa nhà phải ngay hàng thẳng lối, tạo thành sự hài hòa, thống nhất. Một số người không thích phong cách này thì coi sự đồng nhất đó là nhàm chán, tẻ nhạt. Ý định của Haussmann là tòa nhà đầu tiên được xây dựng trong khu phố trở thành hình mẫu cho các tòa nhà kế tiếp. Thiết kế các tòa nhà được lặp lại và tạo sự đồng nhất”.
            Tầng trệt thường dành cho việc buôn bán, trừ tại các tòa nhà được gọi là “de haute bourgeoisie”, có nghĩa là dành cho giới quý tộc giàu sang, chẳng hạn ở khu phố Monceau. Thời đó, do chưa có thang máy, tầng hai (tầng ba theo cách tính của người Việt Nam) là tầng “có giá nhất”, dành cho các gia đình giàu có, vì không cao quá nên việc trèo thang bộ không quá bất tiện, nhưng tầng hai lại đủ cao để ngắm được quang cảnh xung quanh. Các căn hộ ở tầng này cũng có độ cao lớn nhất so với các tầng còn lại, ô cửa sổ cũng được trang trí cầu kỳ hơn. Tầng áp sát mái thường dành cho người nghèo. Như vậy là giữa các tầng nhà đã có sự phân hóa xã hội lớn.
            Suốt một thời gian dài, các tòa nhà Haussman được coi là hình mẫu nhà ở lý tưởng, tiện ích, với không gian thông thoáng, sáng sủa nhờ các ô cửa sổ lớn. Cho đến nay, sau 150 năm xây dựng, các căn hộ này vẫn được ưa chuộng và có giá cao.

Chi phí khổng lồ
            Công cuộc quy hoạch tiến triển thuận lợi cho đến năm 1867, khi ngày càng có nhiều lời than phiền về chi phí quá tốn kém cho dự án. Quốc Hội Pháp quyết định tái thiết việc giám sát công việc của tỉnh trưởng Haussmann, điều nam tước không hề mong muốn. Quả thực, tổng số tiền chi cho sự án của Haussmann lên tới 2,5 tỉ franc, tăng 2,27 lần so với số tiền 1,1 tỉ franc dự kiến ban đầu.
            Việc bội chi đặc biệt nghiêm trọng đã khiến tiền thuế người dân Paris phải đóng cũng tăng chóng mặt. Chẳng hạn, vào năm 1852, trước khi có quy hoạch, chính quyền Paris thu 52 triệu franc tiền thuế. Con số này là 232 triệu franc vào năm 1869 (tăng gần bốn, năm lần), nhưng một phần cũng do dân số Paris đã tăng hơn 2,5 lần.
            Quy hoạch cũng khiến nạn đầu cơ ngày càng nghiêm trọng, giá bất động sản ở Paris tăng chóng mặt khiến sự phân tách về không gian sống giữa các tầng lớp xã hội ngày càng lớn. Tới năm 1870, chỉ vài tháng trước khi Đệ Nhị Đế Chế sụp đổ, Haussmann vẫn hy vọng được bổ nhiệm làm bộ trưởng để có thể mở rộng quy hoạch tầm quốc gia, nhưng cuối cùng ông bị cách chức vào ngày 05/01/1870 và để lại một món nợ lớn cho ngân sách Nhà nước.
            Vào những tháng ngày cuối của Đệ Nhị Đế Chế, nam tước Haussmann là nhân vật bị công chúng chế giễu, đả kích nhiều nhất. Thậm chí, Jules Ferry còn viết một bài văn đả kích nối tiếng có tiêu đề “Sự chi tiêu quái dị của Haussmann”.
            Giờ đây, sau gần 150 năm, khi nhìn lại lịch sử, bất chấp những mặt trái trong quá trình mở rộng, cải tạo Paris, không ai có thể phủ nhận giá trị lớn lao của công cuộc cải tạo kinh đô Paris của “bộ đôi” Napoléon III–Haussmann. Nếu không có 17 năm quy hoạch đó, liệu Paris có được sự hiện đại, tráng lệ như bây giờ? Chẳng ai dám chắc là nếu không có “bộ đôi” lừng danh đó, Paris có trở thành một trong những thành phố lộng lẫy nhất thế giới, một điểm đến mơ ước của du khách quốc tế.


THÙY DƯƠNG
Tháng 2/2018



http://vi.rfi.fr/phap/20180223-paris-phong-cach-haussmann-dau-an-thoi-hoang-de-napoleon-iii