Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 15926 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #150 vào: 20/11/2018, 20:09:31 »
Văn Nghệ, trong và ngoài tòa soạn

Trong các tạp chí văn chương ở miền Nam trước 1975, có một tờ hiện diện khá lâu, qui tụ một số tên tuổi, nhưng hầu như không ai nhắc đến, mặc dù có lúc nó được bày bán trên các sạp báo, trong các nhà sách cùng lúc với những Sáng Tạo, Hiện Ðại, Thế Kỷ Hai Mươi, là ba tờ tạp chí ăn khách hồi đó.

Một số bìa báo tạp chí Văn Nghệ những năm 1961, 62,
ngay cả tên tờ báo cũng không được dùng một kiểu chữ đồng nhất

CÁC TÁC GIẢ cộng tác với ba tờ tạp chí trên đồng thời cộng tác với nó, mà ít ai biết đến nó, đó là tờ Văn Nghệ của Lý Hoàng Phong. Sự hiện diện của nó, cũng như đời sống của nhà văn chủ nhiệm, tên khai sinh là Ðoàn Tường, anh ruột của thi sĩ mệnh yểu Quách Thoại, rất là chật vật, mặc dù ông được các đồng nghiệp có cảm tình. Cho dù thế nào, nhắc đến hai mươi năm văn học miền Nam mà không nhắc đến tờ Văn Nghệ là một thiếu sót, tờ báo ít nhất đã sống lâu ba bốn lần hơn tờ Hiện Ðại của Nguyên Sa (chỉ có 9 số), tờ Thế Kỷ Hai Mươi của Nguyễn Khắc Hoạch (chỉ có 6 số), như người viết bài này được biết, tờ Văn Nghệ sống ít nhất 22 số, khoảng hơn hai năm, trong khi hai tờ trên tờ được 9 tháng, tờ được có 6 tháng, sống không đầy một tuổi. Những tờ kia được nhắc tới luôn, tờ sau này bị quên lãng, hầu như hoàn toàn.
            Văn Nghệ có cùng khuôn khổ với Sáng Tạo, Hiện Ðại, nhưng ra sau hai tờ trên, số đầu của Văn Nghệ ra vào tháng 1 tháng 2, 1961, ra sau cả Thế Kỷ Hai Mươi; tờ ra sớm nhất là Sáng Tạo tháng 10, 1956 còn hai tờ kia đều ra trong năm 1960: Hiện Ðại tháng 4, Thế Kỷ Hai Mươi tháng 7, cùng tháng 7 tờ Sáng Tạo bộ mới tục bản số 1, sau hơn một năm đóng cửa. Ra chậm sau cả bốn tờ, đương nhiên là Văn Nghệ ở thế yếu, nhất là ông chủ nhiệm không phải là một nhà văn có tên tuổi.
            Tuy sinh sau đẻ muộn, Văn Nghệ vẫn mời được các nhà văn tương đối có tiếng cộng tác, như Lê Huy Oanh, Trần Lê Nguyễn, Doãn Quốc Sỹ, Kiêm Minh, riêng các nhà văn trẻ có đủ mặt, như ở trong cả ba tờ trên: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Ðức Sơn (Sao Trên Rừng), Nhã Ca, Ðỗ Quý Toàn, Trần Dạ Từ, Nguyễn Nghiệp Nhượng, và người viết bài này… Những bài hay trên Văn Nghệ không thiếu, nhiều phần là tỷ lệ tân kỳ còn lớn hơn cả Hiện Ðại, với sự có mặt của Nguyễn Ðức Sơn, Nguyễn Nghiệp Nhượng, và hai họa sĩ Ngọc Dũng, Nguyễn Trung.
            Nhà văn Lê Huy Oanh rất sung sức, sáng láng với loạt nghiên cứu về thơ Pháp, nhất là loạt bài “Lược khảo về phong trào thi ca siêu thực Pháp”. Trong ba bốn số báo liền ông đã giới thiệu và dịch ra thơ Việt những thi sĩ tiên phong của khuynh hướng này và những bài thơ mang tên chủ soái André Breton, Louis Aragon, Paul Eluard… hay viết rất kỹ, kèm với thơ và thơ dịch của Jacques Prevert, là thi sĩ đang được hâm mộ ở Việt Nam lúc ấy. Truyện dài của ông, Màu Hoa Dã Thú cũng đăng trên Văn Nghệ. Hai truyện dài – tân truyện hay truyện vừa thì đúng hơn, sau này nổi tiếng, đều đăng lần đầu trên Văn Nghệ trước hết: Gia Tài Của Người Mẹ của Dương Nghiễm Mậu và Thị Trấn Miền Ðông của Viên Linh.
            Hãy xem những bài thơ trên Văn Nghệ, trích từ số 6 trở đi, vì chúng tôi chỉ có từ số 6 và vài số sau đó: điều nổi bật là thơ Ngọc Dũng, thơ Vương Tân luôn luôn được đăng ở những trang đầu của mỗi số báo, và đăng rất nhiều. Ở số 6 thơ Ngọc Dũng đăng ở trang 11 (nhan đề Tiếng Hát Của Mặt Trời), thơ Vương Tân đăng ở trang 12 (nhan đề 1954-1961), và dài suốt ba trang báo:

                        Hãy gỡ đều cho sợi tóc dầy
                        Cùng một lần với tiếng hát nhìn thấp xuống
                        Với dòng sông nước cuốn chảy mòn
                        Nước chảy cuốn mòn xô tới chân em


            Bài thơ khoảng 20 câu, không có vần. Và thơ Vương Tân đăng kế tiếp:

                        Lịch sử bốn nghìn
                        Tôi cầm trên tay
                        Trang sách lật qua
                        Không lời huyền bí
                        Chúng nó cầm dao
                        Ðâm vào trái tim
                        Và nhìn máu chảy
                        Sự sống dâng lên
                        Trong nghìn huyết quản
                        Trên vạn cánh tay


            Cũng không có vần, dù là tứ tự (tức là thơ bốn chữ). [Thơ năm chữ gọi là ngũ ngôn, thơ bảy chữ gọi là thất ngôn, nhưng thơ bốn chữ lại gọi là tứ tự. Khi tên gọi khác nhau như thế, các cụ thời xưa hẳn có hàm ý nghĩa gì đó, hai thể thơ chỉ chênh lệch mỗi dòng một tiếng, mà thơ bốn tiếng gọi là tứ tự, thơ năm tiếng gọi là ngũ ngôn, vậy cái khác nhau là ở ý nghĩa của chữ tự và chữ ngôn. Ngôn là lời, tự là chữ. Lời là lời nói, chữ là chữ viết, hai thứ khác nhau xa lắm. Ðã là chữ viết thì phải hàm xúc sâu xa, không thể là nôm na phổi bò được.]
            Ở Văn Nghệ số Xuân 1961, thơ Ngọc Dũng cũng in ở đầu số báo như số trên (ba bài ở trang 10), thơ Vương Tân kế tiếp ở trang 16, thơ ông này chỉ chấm hết ở trang 29, nghĩa là dài tới 14 trang thơ của ông thôi, trên đầu lại có tranh minh họa riêng của Ngọc Dũng. Có vẻ hai nhà thơ này là thi sĩ nòng cốt của tờ báo, tất phải hay. Ta hãy đọc nguyên một bài của Ngọc Dũng: Bài Vết Chém:

                        Như đợt thủy triều rớt xuống
                        Bỏ lại cồn cát không
                        Như nước biển đầy dâng vĩnh viễn
                        Mà cánh tay vòng ôm suốt thân

                        (trang 10)

            Và thơ của thi sĩ nòng cốt thứ hai, dài tới 14 trang trong số Xuân chỉ dày 103 trang như đã nói: Giáo Ðầu:

                        lịch sử những hoang mang
                        với mối sầu chia cắt
                        loài chim di trốn rét
                        vỗ đôi cánh mùa xuân
                        thành phố ngọn đèn vàng
                        và mắt người ngái ngủ
                        hàng rào dây kẽm gai
                        với con tầu phạm xá


            Bài thơ chỉ có thế, không lên hoa chữ nào và không dấu chấm dấu phảy. Vài chục năm sau thơ hai vị đó không thấy ai truyền tụng, và người ta biết đến Ngọc Dũng nhờ ông là họa sĩ, chứ không phải vì ông là nhà thơ. Ðiều nòng cốt để tìm hiểu: họa sĩ Ngọc Dũng chính là thư ký tòa soạn của tờ Văn Nghệ.
            Nghề làm tạp chí văn học khác với nghề làm báo, nhất là nhật báo hay tuần báo, hoàn toàn khác. Báo sống bằng bài vở, bằng bộ mặt của nó khác với báo sống bằng tin tức, nhanh và chính xác và nóng hổi. Ðã sống bằng bài vở thì bài vở phải hay, phải có giá trị, và tạp chí 15 ngày hay một tháng mới ra một lần, thì bài vở phải được (hay bị) đọc lại là thường. Tờ nhật báo sau một ngày thì thường bị vất đi, hay được dùng làm giấy gói đồ. Ðời sống của nó là 24 tiếng đồng hồ, tới giờ thứ 25, có tờ khác thay thế. Tuần báo sống 7 ngày, báo ra Thứ Năm tuần này thì Thứ Năm tuần sau nó bị tờ khác thay thế. Nhưng tạp chí hàng tháng, tất cả bốn tờ nói trên đều ra hàng tháng, tờ tạp chí hàng tháng không những suốt tháng còn mới, người ta còn để trên bàn, mà khi nó lên tủ sách, người ta còn nắm gáy nó kéo xuống, đọc lại. Một bài thơ chỉ 4 câu thôi đăng trên một tạp chí, người ta đọc nó cả tháng, cả năm, mãi mãi, cho nên thơ hay là thơ phải chịu sự đọc lại, truyện hay là truyện phải chịu sự đọc lại, báo đã hay còn phải đẹp, vì người ta khó tính, không ai thấy cái gì xấu mà muốn nhìn lại. Một tờ tạp chí văn chương phải là một giai phẩm: giai là đẹp, phẩm là có tính chất gì đó có ích hay hữu dụng hay mỹ thuật. Vì thế, người ta thường nghe nói, phải hay phải đẹp, phải bền.
            Người trình bày tờ tạp chí Văn Nghệ đã không nắm vững tính cách một tạp chí: bìa một tờ báo không phải bìa một cuốn sách, vậy mà bìa báo Văn Nghệ hầu hết số này cái tên in một kiểu chữ, số sau cái tên Văn Nghệ lại dùng kiểu chữ khác. Cứ xem cái ảnh chụp người đọc cũng sẽ thấy ngay. Không phải một lần mà nhiều lần cái bìa báo Văn Nghệ chỉ in cái tranh vẽ của ông họa sĩ thư ký tòa soạn, không có chữ gì – tên bài hay tên các tác giả – khác nữa. Nội dung ở trong là thừa, chỉ cần cái tranh vẽ ngoài bìa thôi, chắc thế. Nhưng dĩ nhiên đã là thư ký tòa soạn, người ta có quyền đó, vấn đề là ông chủ nhiệm hay ông thường trực nào đó có trách nhiệm chọn bài vở phải biết trách nhiệm của mình quan trọng thế nào trong việc chọn lọc và sắp xếp bài vở. Tờ Văn Nghệ thiếu hẳn cái khâu này. Ðôi điều viết ở trên là những điều tôi nghe biết từ khi tờ tạp chí còn sống, ngày nay nhắc lại để đưa ra một giải thích vì sao tờ Văn Nghệ không gây được tiếng vang của một tạp chí văn chương. Có các tác giả tên tuổi là một chuyện, có làm cho tờ báo sống không là một chuyện khác. Cần mẫn chịu đựng là một chuyện, có tồn tại không cũng là chuyện khác. Hơn thế nữa, làm báo văn chương cần các văn hữu và các cây bút trẻ cộng tác, gửi bài về, cái khó khăn là trong 10 bài gửi tới, may ra được 3 bài có thể đăng, làm sao phải từ chối đăng mà người gửi không chán, không giận, vẫn tiếp tục gửi. Chỉ một câu trả lời vô duyên trong Hộp Thư Tòa Soạn là không những mất đi một độc giả, còn làm các văn hữu độc giả khác e ngại gửi bài cộng tác. Hộp thư của tạp chí Văn Nghệ đây:

            “Song Linh: Có nhận được bài gửi cho số Xuân, nhưng ‘không tiện đăng’.” (Văn Nghệ số xuân, trang 105). [Trong khi đó tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa đăng liên tiếp 4 hay 5 truyện ngắn của Song Linh, nhà văn, đại úy Thủy Quân Lục Chiến].
            “Thái Tú Hạp: Hình như chúng tôi đã có dịp đọc nhiều lá thư như ý bạn: ‘bỏ rơi bài vở của bạn đọc’, thật không có chuyện đó… Chúng tôi muốn tìm thấy ‘những tài năng thực’, không mị độc giả vì lợi. Xin bạn đọc thông cảm.” [Trả lời như thế có khác gì nói rằng bài không đăng được vì ông hay bà ‘không có tài năng thực?’ Không những chỉ trả lời nhà thơ Thái Tú Hạp không đăng được, câu đó là trả lời cho tất cả những người mà tờ Văn Nghệ viết là “chúng tôi đã có dịp đọc nhiều lá thư (giống) như ý lá thư của ông!]
            “Sương Biên Thùy: Hy vọng bạn còn nhiều cố gắng.”
            “Trường Dzạ: Ðã nhận được bài. ‘Hãy tìm một sắc thái cho riêng mình’.”


            Bốn đoạn trả lời trên cũng tìm thấy in trong Hộp Thư Tòa Soạn Văn Nghệ. Ðó là thái độ của tờ Văn Nghệ đối với các văn hữu muốn cộng tác khác. Ở số 14 còn những lời khuyên các nhà văn trẻ như “cần tránh ảnh hưởng”, (khuyên Nguyễn Dzạ Vũ), “mong sự cố gắng”, (khuyên Ðoàn Minh Hải), “…Hộp thư của tòa soạn Văn Nghệ đọc lên nghe như từ hộp thư của một tờ báo học sinh. Nó cho thấy người viết những dòng trả lời trên đã không biết độc giả của ông ta, tức là của tờ Văn Nghệ, là những ai. Anh làm tạp chí văn chương thì độc giả của anh là độc giả văn chương; trường hợp này tờ Văn Nghệ không cho thấy sự hiểu biết của tòa soạn về người đọc họ, hay tệ hơn nữa, đang làm ngự sử văn đàn với độc giả của mình, cũng là những nhà văn nhà thơ đang muốn đi vào thế giới cầm bút.
            Những điều trình bày trên hy vọng sẽ là những câu trả lời nêu ở đầu bài, là vì sao một tờ báo hiện diện khoảng hai năm ra được 22 số mà bị rơi vào lãng quên như tờ Văn Nghệ.


VIÊN LINH
Tháng 9/2015


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Van-Nghe-trong-va-ngoai-toa-soan-3909/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #151 vào: 27/11/2018, 19:53:13 »
Alain Robbe-Grillet, cha đẻ của trào lưu “tân tiểu thuyết” Pháp
“Tân tiểu thuyết”, dịch từ tiếng Pháp “nouveau roman” (tiếng Anh: new novel), là một trào lưu văn chương xuất hiện ở Pháp vào đầu thập niên 1950. Người được xem là “cha đẻ” của trào lưu này là Alain Robbe-Grillet.

Nhà văn Alain Robbe-Grillet (Hình: artsfuse.org)

ÔNG ROBBE-GRILLET sinh ngày 18 Tháng Tám, 1922, tại Saint-Pierre-Quilbion, gần Brest ở Brittany, Pháp, trong một gia đình có truyền thống khoa học kỹ thuật. Tác phẩm đầu tiên được xuất bản là “Les Gommes” (Những Cục Tẩy) vào năm 1953. Truyện kể về một tay thám tử đi điều tra kẻ sát nhân trong một vụ án chưa hề xảy ra, để cuối cùng khám phá ra rằng chính định mệnh đã khiến cho anh ta trở thành một kẻ sát nhân.
            Với một cách viết hoàn toàn mới, cả về cách hành văn lẫn bố cục và nhân vật, “Les Gommes” đánh dấu cho một cuộc cách mạng toàn diện trong tiểu thuyết, do đó, mà về sau mệnh danh là “Tân tiểu thuyết”. Tuy vậy, ông cho biết nó “không nhằm chỉ ra một trường phái nào” cả. Nó chỉ là “một cách gọi thuận tiện những người đang tìm kiếm những hình thức tiểu thuyết mới có thể diễn tả hay sáng tạo những tương quan mới giữa con người và thế giới”.
            Các “tân tiểu thuyết” của Robbe-Grillet và của những nhà văn thuộc trào lưu này như Nathalie Sarraute, Michel Butor, Claude Simon… xây dựng nhân vật với những chi tiết lý lịch sơ sài, thậm chí không có lý lịch, không có cá tính, không tên tuổi. Thời gian và không gian thì cực kỳ mơ hồ. Thay vào đó là sự tường thuật một cách dửng dưng, khách quan những cảm nghĩ, những cử chỉ, hành động của nhân vật và những sự vật bề bộn chung quanh. Nhân vật tiểu thuyết là một con người, thế thôi, không cần phải tra vấn gì thêm.
            Năm 1955, ông xuất bản cuốn thứ hai, “Le Voyeur” (Kẻ Nhìn Trộm). Truyện xoay quanh các chi tiết đáng ngờ của một vụ sát nhân. Truyện có rất ít đối thoại, không hề diễn tả trạng thái nội tâm cũng như tư tưởng của nhân vật và thời gian thì hoàn toàn mơ hồ. Tác phẩm này lôi cuốn được thêm sự tán thưởng của một số các nhà trí thức tiền phong khác. Tuy thế, cách xây dựng nhân vật lạnh lùng, vô cảm khiến cho người ta giật mình, hoảng sợ.
            Chính vì thế mà mặc dầu đoạt giải “Critiques”, có một sự kiện không mấy vui: Một trong các giám khảo của giải từ chức để phản đối. Mặt khác, những nhà phê bình và điểm sách bảo thủ nhất loạt đứng lên tấn công tác giả. Điều nghịch lý là, thay vì dìm Robbe-Grillet xuống, cuộc tấn công đó đã vô tình đưa tác phẩm của ông vào giòng chính của cuộc tranh cãi văn chương.
            Sau cuốn này, ông chính thức bỏ nghề nghiên cứu khoa học, và dành hết thời giờ cho việc viết lách. Ông phụ trách biên tập về văn chương cho nhà xuất bản Minuit. Đầu thập niên 1970, ông cộng tác với tạp chí văn chương “Tel Quel”, nơi tập trung những cây bút lừng lẫy một thời như Julia Kristeva, Jacques Derrida, Roland Barthes…
            Sau “Les Gommes” và “Le Voyeur”, trong vòng 20 năm, ông xuất bản thêm chừng một tá tác phẩm, trong đó có những cuốn nổi bật như “La Jalousie” (1957), “Souvenirs du Triangle d’Or” (1978), “La Reprise” (2001)… Trong số đó, “La Jalousie” được đánh giá rất cao. Truyện dựng trong khung cảnh một căn nhà thuộc địa trên một đồn điền chuối, liên hệ đến cuộc điều tra có tính khoa học về khả năng quan sát của con người. Được viết ở ngôi thứ nhất và phi-tuyến tính (non-linear), nó kể lại câu chuyện của một người chồng nghi ngờ vợ mình có quan hệ bất chính với một kẻ láng giềng, nhìn qua khe hở của bức mành mành để quan sát người tình của vợ.
            Mặc dù là người kể chuyện nhưng nhân vật (người chồng) không bao giờ sử dụng đại từ ngôi thứ nhất (tức là “tôi”). Hắn ta kể lại những biến cố trong đó hắn hiện diện mà y như thể hắn không hiện diện ở đó; sự hiện diện chỉ được suy đoán qua chỗ ngồi trong bàn ăn hay vị trí của các chiếc ghế đặt trong mái hiên. Hắn ta cũng diễn tả những hình ảnh mà người đọc tùy nghi, có thể xem chúng là thực cũng được hay là sản phẩm của tưởng tượng cũng được, đặc biệt là về những gì dính dáng đến vụ ngoại tình. Ngay cái tựa đề cũng có tính cách “chơi chữ”. Trong tiếng Pháp, “jalousie” vừa có nghĩa là “ghen” mà cũng vừa có nghĩa là “bức mành mành”.
            Tác phẩm sau cùng là “Un Roman Sentimental”, xuất bản chỉ vài tháng trước khi ông qua đời, Tháng Mười, 2007. Cuốn này gây nên chấn động trong giới chức Pháp vì chứa đựng nhiều đoạn diễn tả táo bạo các quan hệ tình dục loạn luân.
            Ngoài tiểu thuyết, Robbe-Grillet còn viết kịch bản phim và đạo diễn phim. Với tên tuổi lên cao trong văn giới, vào năm 1961, ông được mời viết kịch bản phim cho phim “L’année dernière à Marienbad” của Alain Resnais.
            Sau đó, ông chính thức nhảy hẳn vào ngành điện ảnh, không những để viết kịch bản phim mà còn làm đạo diễn. Trong số cả chục phim do ông đạo diễn, có những phim rất nổi tiếng và được đánh giá cao vào giữa thập niên 1970 như “Glissements Progressifs du Plaisir” (Những Cơn Trượt Dài Của Khoái Lạc), “L’homme qui Ment” (Người Nói Láo/1968), “La Belle Captive” (Người Nữ Tù Xinh Đẹp/1983), “Jeu Avec le Feu” (Đùa Với Lửa).
            Tuy viết nhiều, và là người tiên phong của một trào lưu tiểu thuyết, nhưng ngoài nước Pháp ra, Robbe-Grillet không được biết rộng rãi ở các nước khác ở Châu Âu. Trái lại, ông lại khá nổi tiếng ở Hoa Kỳ. Một số tác phẩm của ông được dịch sang tiếng Anh và phổ biến tại Hoa Kỳ. Ngoài ra, trong hơn hai thập niên, từ 1971 cho đến 1995, ông được mời giảng dạy tại các đại học New York và St Louise.



            Ngoài sự “nổi loạn” trong văn chương, đời sống cá nhân của Robbe-Grillet đầy những sự kiện “nghịch thường”. Nghịch thường đến độ kỳ cục. Chả thế mà ông được đặt cái biệt danh là “enfant terrible” (anh chàng lập dị) của nền văn chương Pháp.
            Là người vốn thích được nổi tiếng, ông rất khoái xuất hiện trong các diễn đàn quốc tế dù nói không sõi tiếng Anh. Lại ưa khoe khoang. Với một cá tính như thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi cuộc đời ông trải qua nhiều vụ tai tiếng.
            Một trong những vụ tai tiếng xảy ra trước khi ông chết, vào năm 2004, xuất phát từ những tiết lộ khá động trời từ chính bà vợ của ông, Catherine Rstakian, qua cuốn hồi ức về những năm chung sống đầu tiên với Robbe-Grillet có tựa đề “Jeune Mariée” (Cô Vợ Trẻ). Catherine diễn tả về chứng bất lực cũng như sự hoang tưởng về tình dục của chồng mình.
            “Anh ấy thích đánh đập, thích cắn, thích gây đau đớn một cách cuồng nhiệt”, bà viết. Bà cho biết hồi đó, hai người thường hay đi đến các câu lạc bộ tình dục hoặc quan hệ qua đêm với những người lạ tình cờ gặp nhau trên tàu điện. Theo bà, Robbe-Grillet chỉ bằng lòng cho hai người ngủ chung khi nào ông có thể đánh đập bà. Dẫu đời sống gia đình bất thường như thế, hai người vẫn sống chung cho đến khi Robbe-Grillet từ trần. Hai người lấy nhau vào năm 1957. Và không có con.
            Ông Robbe-Grillet qua đời hôm 18 Tháng Hai, 2008, tại bệnh viện đại học Caen, miền Tây nước Pháp, thọ 85 tuổi. Đánh giá toàn bộ sự nghiệp của Alain Robbe-Grillet, nhà phê bình John Fletcher phát biểu: “Robbe-Grillet là nhà văn quan trọng nhất – dù không hẳn là vĩ đại nhất – của Pháp, một người đã làm thay đổi bộ mặt của văn chương thế giới, cho dù là làm cho nó tốt hơn hay tệ hơn”.
            Cũng xin nói thêm: Trào lưu “tân tiểu thuyết” đã từng được giới thiệu tại Việt Nam vào những năm đầu thập niên 1970, do nhà văn Hoàng Ngọc Biên. Có dịp, tôi sẽ giới thiệu nhà văn Hoàng Ngọc Biên với độc giả Người Việt.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 06/2017


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/alain-robbe-grillet-cha-de-cua-trao-luu-tan-tieu-thuyet-phap/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #152 vào: 04/12/2018, 21:04:12 »
Chúng ta biết gì về nhạc sĩ Hoàng Trọng?

Dường như lịch sử văn học, nghệ thuật của quốc gia nào, thời kỳ nào cũng có những tài năng lớn, được nhiều người cùng giới đánh giá cao. Nhưng mức độ phổ cập trong quần chúng, lại không tương ứng với những cống hiến lớn lao của họ.

Từ trái qua: Hoàng Trọng, Duy Trác, Thanh Sơn, Kim Tước,
 Tuyết Anh, Ánh Tuyết, Mai Hương (Nguồn Cỏ Thơm)

TÔI TRỘM NGHĨ, cố nhạc sĩ Hoàng Trọng là một trong những trường hợp này.
            Tôi biết nhiều người thuộc lòng một số ca khúc của họ Hoàng. Vậy mà khi hỏi tên tác giả, thì họ lại không biết, hoặc không dám chắc đó là sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Trọng.
            Cụ thể như ca khúc “Hai Phương Trời Cách Biệt”, tôi nghĩ, đôi lần chúng ta đã nghe qua. Ðã rung động với giai điệu và, ca từ lãng mạn tới nao lòng của họ Hoàng:
            “Ánh nắng chiều thoáng phai rồi/ Hoàng hôn khơi thương nhớ tới xa xôi/ Nhớ mãi nhớ muôn đời/ Một chiều em khóc trong hồn tôi/ Góp hết lại những câu thề/ Trả lại cho nhau lúc chia ly/ Cố nuốt bao nhiêu lệ/ Nhìn theo duyên kiếp đi không về…” (Nhạc và lời Hoàng Trọng. Theo dactrung.com)
            Hoặc:
            “Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tím/ Ngày xưa vô tư em sống trong trìu mến/ Chiều xuống áo tím thường thướt tha/ Bước trên đường gấm hoa/ Ngắm mây chiều lướt xa/ Từ khi yêu anh anh bắt xa màu tím/ Sầu thương cho em mơ ước chưa kịp đến/ Trời đã rét mướt cùng gió mưa/ Khóc anh chiều tiễn đưa/ Thế thôi tàn giấc mơ (…) Từ khi xa anh em vẫn yêu và nhớ/ Mà sao anh đi đi mãi không về nữa/ Một bóng áo tím buồn ngẩn ngơ/ Khóc trong chiều gió mưa/ Khóc thương hình bóng xưa/ Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím/ Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím/ Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau/ Tháng năm càng lướt mau/ Biết bao giờ thấy nhau…” (Trích “Ngàn Thu Áo Tím” Nhạc Hoàng Trọng. Lời Vĩnh Phúc. Theo dactrung.com)
            Hoặc nữa:
            “Bạn lòng thân mến/ Ðây giây phút hồn tôi/ nghe chan chứa hương đời/ Nhạc lời êm ái/ tôi ca ấm vành môi/ mong sao đến bên người/ Bạn là trăng sáng/ Trong đêm tối hồn tôi/ Soi lên bao ánh tươi/ Bạn là hoa thắm/ trên hoang vắng tình tôi/ vun lên một mùa mới!…” (Trích “Bạn Lòng”. Lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)
            Ngay ca khúc nồng nàn tình yêu quê hương, tổ quốc mà những ai từng lớn lên ở miền Nam, chí ít cũng đã có một lần nghe tới hoặc hát theo với xúc động, hãnh diện là người dân Việt, ca khúc “Bên Bờ Ðại Dương” – Nhưng vẫn có nhiều người không hề biết đó là một sáng tác khác của họ Hoàng:
            “Ðất nước tôi màu thắm bên bờ đại dương/ Bắc với Nam, tình nối qua lòng miền Trung/ Ðất nước tôi từ mái tranh nghèo Bắc Giang/ Vượt núi rừng già Trường Sơn/ Vào tới ruộng ngọt phương Nam/ Dân nước tôi từng đấu tranh diệt ngoại xâm/ Trên máu xương từng hát ca bài thành công/ Dân nước tôi nòi giống hùng cường Lạc Long/ Làm gái toàn là Trưng Vương/ Làm trai rạng hồn Quang Trung…” (Nhạc Hoàng Trọng. Lời Hồ Ðình Phương. Trích. Theo dactrung.com)
            Cũng vậy, tôi nghĩ có dễ nhiều người hơn nữa, cũng không hề biết rằng nhạc sĩ Hoàng Trọng bước vào quảng trường tân nhạc Việt Nam rất sớm: Ngay tự những năm cuối thập niên (19)30.
            Trong bài nói chuyện về cố nhạc sĩ Hoàng Trọng, nhân buổi tưởng nhớ tác giả “Hai Phương Trời Cách Biệt”, ngày 20 Tháng Bảy, năm 2008, tại hí viện James Lee Theater, Virginia, Luật Sư Phạm Ðức Tiến cho biết, nhạc sĩ Hoàng Trọng là một trong những nhạc sĩ có công khai phá nền tân nhạc Việt Nam; cùng thời với những tên tuổi lớn thuộc giai đoạn đó, như Dương Thiệu Tước, Lê Thương, Nguyễn Xuân Khoát…
            Diễn giả Phạm Ðức Tiến nhấn mạnh:
            “… Bản nhạc đầu tay của ông (Hoàng Trọng) được sáng tác vào năm 1938 khi ông mới 16 tuổi, là bài “Ðêm Trăng”, còn có tên là “Vầng Trăng sáng”. Ngay từ những sáng tác đầu, nhạc của ông đã được sự chú ý. Phạm Duy sau này có kể lại là khi còn làm ca sĩ chính ông đã hát một trong những bài đầu tay của Hoàng Trọng là bài “Tiếng Ðàn Ai” và Phạm Duy thú nhận bài này đã gợi hứng cho ông viết nên bài “Tiếng Ðàn Tôi” sau này…” (Wikipedia – Tiếng Việt)
            Nhạc sĩ Hoàng Trọng không chỉ là một trong những nhạc sĩ tiên phong khai phá nền tân nhạc Việt, dựa trên thang âm thất cung mà, ông còn là người nâng điệu Tango tương đối còn xa lạ với giới thưởng ngoạn ở những thập niên (19)30, (19)40 lên tới đỉnh ngọn nghệ thuật của điệu này.
            Vì thế, những người cùng giới với họ Hoàng, đã không ngần ngại, đồng lòng phong tặng ông danh hiệu “Ông Hoàng Tango” tân nhạc Việt.
            Phong tặng này là một vinh dự to lớn cho một nhạc sĩ. Nhưng nếu vì danh hiệu đó mà, lầm tưởng rằng họ Hoàng chỉ thành công với thể điệu vừa kể thì, tôi cho lại là một lầm lẫn và một bất công khác đối với tài năng, và những cống hiến giá trị khác của nhạc sĩ Hoàng Trọng, cho kho tàng tân nhạc của chúng ta.
            Bằng cớ, bên cạnh những ca khúc được coi là tuyệt vời với điệu Tango, nhạc sĩ Hoàng Trọng cũng có những ca khúc còn lưu truyền tới hôm nay – Ðược ông viết với nhịp điệu chậm hơn Tango, như Slow, Bolero, Rumba. Hoặc những ca khúc được họ Hoàng viết với nhịp điệu nhanh hơn Tango như March, Fox, Paso…
            Ðừng quên tới nay, sinh hoạt tân nhạc của chúng ta, mỗi khi mùa Xuân về, vẫn âm vang giai điệu tươi vui, ca từ lấp lánh tin yêu của ca khúc “Gió Mùa Xuân tới”:
            “Gió mùa Xuân tới cánh hồng tươi thắm trong nắng vàng/ Muôn bướm tung bay mang sắc tươi phô cùng trời sáng/ Gió mùa Xuân tới bóng hồng tha thướt trong nắng đào/ Kiếp sống cô đơn mơ ước ôm trong lòng hoa tươi/ Xuân reo khắp nơi trời ngát hương trầm lòng mang vấn vương
            Hồn say mộng ước cùng những đóa hoa/ ấp ủ trái tim hướng những phút say mơ// Với mùa hoa thắm khắp trời xuân sáng vui tưng bừng/ Muôn sắc khoe tươi reo hát ca vang mừng trời Xuân…”
(Nhạc và lời Hoàng Trọng. Trích. Theo dactrung.com)
            Cũng với nhịp điệu nhanh hơn Tango rất nhiều, điệu Paso, họ Hoàng, còn cho chúng ta một ca khúc bất hủ khác: Ca khúc “Dừng Bước Giang Hồ”:
            “Chiều nay sương gió, lữ khách dừng bên quán xưa/ Mơ màng nghe tiếng chuông chiều,/ vương về bên quán tiêu điều/ Vầng trăng hoen úa, như lá vàng rơi cuối thu/ Lững lờ soi mấy hàng cây u sầu đang ngắm trời mây…” (Nhạc Hoàng Trọng. Lời Quang Khải. Trích. Theo dactrung.com)
            Chỉ mới là lược dẫn, chúng ta đã thấy dường như không một vạch phấn nào, giới hạn được đường bay nghệ thuật của tài hoa Hoàng Trọng. Chẳng qua, chúng ta biết được quá ít về ông. Phải chăng, chính sự biết được quá ít về tác giả “Dừng Bước Giang Hồ”, nên tấm lòng biết ơn của chúng ta, dành cho ông, đã không được đúng mức?


DU TỬ LÊ
Tháng 03/2013


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Chung-ta-biet-gi-ve-nhac-si-Hoang-Trong-5259/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #153 vào: 11/12/2018, 22:35:24 »
Tuần báo văn chương đầu tiên in offset ở miền Nam

Nhan đề bài viết như trên có thể gây ra thắc mắc: Miền Nam Việt Nam vốn là cái nôi báo chí văn hóa, tài liệu ở đâu và trí nhớ bao xa để hơn nửa thế kỷ sau có thể trình bày lại một sự việc bao la như thế?

Văn nghệ sĩ miền Nam họp mặt hằng tuần

Người viết xin tóm tắt cụ thể ngay: tuần báo nhiều vô kể, nhưng tuần báo văn chương thuần túy thì chỉ có một vài, còn lại là nguyệt san, bán nguyệt san, hay loại đặc san hai ba tháng mới ra một lần. Quả thật miền Nam năm 1965 có một tuần báo văn chương, bảy ngày ra một số mới, lại quy tụ những nhà văn nhà thơ họa sĩ danh tiếng, và đặc biệt lại in bằng kỹ thuật offset tối tân nhất, không có một vị tướng hào hoa thì không có tuần báo này, đó là trường hợp tuần báo Nghệ Thuật và mạnh thường quân Nguyễn Cao Kỳ.
            Ngay số 1, tờ báo đã có bài vở của Vũ Khắc Khoan, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Đỗ, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Viên Linh, Sơn Nam, Thanh Nam, Tạ Tỵ, Doãn Quốc Sỹ, Trần Lê Nguyễn… Là thư ký tòa soạn của tờ báo kiêm cả việc trình bày offset (kỹ thuật tân tiến nhất mới nhất lúc bấy giờ), từ lo bài vở tới việc trình bày bài vở, tờ báo (khuôn khổ, trang, cột, tựa bài, chữ đứng, chữ nghiêng…) tôi biết rõ báo in 5,000 tờ, và bán hết trong vòng một tuần.
            Trên nửa thế kỷ nay người ta đã viết nhiều về tờ Nghệ Thuật, song có lẽ chưa có bài viết nào nói rõ vì sao miền Nam có một tờ báo văn chương (là loại báo không nhiều độc giả do đó các thương gia không muốn in quảng cáo trong đó) lại in offset nhiều màu (là kỹ thuật tốn kém nhất). Tôi may mắn được biết từ đầu vì là người cùng với họa sĩ Đằng Giao trình bày tờ báo, nghĩa là sửa soạn làm tờ báo từ giây phút đầu tiên. Đây cũng là lần đầu tiên câu hỏi: “Ai bỏ tiền ra làm tờ báo văn chương lại in offset như thế?”
            Câu hỏi này lúc ấy là một bí mật. Nguồn gốc tài chánh của một cơ quan ngôn luận dù thế nào luôn luôn là một bí mật. Khi báo đang làm số 1 (1 Tháng Mười, 1965) tôi đang ở chung phòng với nhà văn Thanh Nam, tổng thư ký tòa soạn tờ Nghệ Thuật. Nơi chúng tôi cư ngụ quen gọi là building Cửu Long, một tòa nhà hai tầng trên đường Hai Bà Trưng thuộc Quận Nhì, Sài Gòn. Sài Gòn 1965 là khoảng thời gian phơi phới của tự do, hai năm tự do bát ngát sau khoảng 1954-1963, chín năm của nền Đệ Nhất Cộng Hòa – cơ cấu dàn dựng nặng phần Cơ Đốc Giáo – sụp đổ bằng một cuộc thảm sát, cái chết của hai vị lãnh tụ đảng Cần Lao.
            Sự xuất hiện của Nghệ Thuật làm rúng động làng báo văn chương: báo in offset “phải” là báo giàu. Kết luận như thế là hợp lý, song Chủ Nhiệm Mai Thảo và Tổng Thư Ký Thanh Nam hay ông quản lý Từ Ngọc Toản (ca sĩ Anh Ngọc) không phải là dân giàu có.
            Mai Thảo di chuyển bằng cách ngồi xích-lô đạp, Thanh Nam ở xa tòa báo (nhà in) hơn, đi taxi, còn tôi vốn được tặng cái Lambretta mới từ hồi nhận làm tổng thư ký một tờ nhật báo mới ra số đầu, nhật báo Dân Tiến (hậu thân Dân Ta của nhà thơ Nguyễn Vỹ), từ đó mà có xe mới.
            Nói chung giới làm báo Sài Gòn đều di chuyển bằng xe gắn máy là chính, khoảng hai phần mười có xe hơi, loại Simca hay Con Cóc. Dân Tiến thể thức báo Nam, trang nhất phải có 14 cái tin và hình (đếm số tựa trang nhất là một cách phê phán hồi đó, đếm số tiểu thuyết và thể loại bài vở tiết mục trang trong cũng vậy). Nửa thế kỷ sau một nhà thơ bạn tác giả Thắp Tình cho biết: người ta sắp hàng trước cửa tiệm sách chờ mua Nghệ Thuật ngày báo ra Trung nơi tỉnh anh.
            Bước chân vào làng báo từ vai trò thấp nhất: phóng viên một nhật báo, lại là phóng viên chiến trường, được “đặc cách” cử vào Rừng Sát theo Chiến Dịch Hoàng Diệu lùng bắt Bảy Viễn của Tướng Dương Văn Minh, và Chiến Dịch Thoại Ngọc Hầu (hay Trương Tấn Bửu cũng của ông này) – những năm đầu tiên vào nghề báo của tôi xét ra là những năm thử lửa. Tập sự mà thử lửa.
            Trong đám phóng viên tôi luôn luôn là người trẻ nhất, nếu không muốn nói là học trò nhất, măng sữa nhất. Đi tàu há mồm đâm thẳng vào bãi bùn lầy rồi nhảy vào bùn mà leo lên bờ ở Rừng Sát, cùng kháo nhau là “đi bắt Bảy Viễn và tịch thu hai thùng vàng và đô la” của ông ta, cuối cùng được trông thấy… bãi đất san bằng bên cạnh, và lời giải thích của một vị sĩ quan quân chính phủ: “Tiếc thay ta đến chậm, kia là bãi đất chúng san bằng cho phi cơ đáp xuống. Nó chở hai thùng vàng bạc bay qua Nam Vang rồi!” Hỏi “nó” là ai thì được trả lời: “Thì nó là thằng Paul, con Bảy Viễn chứ ai.” Một vị đàn anh trong nghề già đời nhìn tôi: “Biết rồi khổ lắm nói mãi! Mấy đứa gian manh lúc nào nó cũng lẹ không hà!” Rồi vị đồng nghiệp già nói nhỏ đủ cho tôi nghe: “Mấy đứa này lúc nào cũng có tay trong biết trước không hà!”
            Nhưng bây giờ nhìn lại, chưa biết chừng tôi đã may mắn bước vào nghề báo từ vai trò lấy tin, hồi 1955-56, ở tuổi 17, làm tin, làm phóng viên một nhật báo là thích hợp, nhất là chỉ làm buổi sáng, còn buổi chiều vẫn đi học. Làm nhật báo trước hết biết cách lấy tin tức. Trước hết phải nhanh. Biết nguồn tin, tìm nguồn tin. Tạo ra tin.
            Phụ trách lao động, mỗi sáng tôi phải tới các văn phòng Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam của ông Trần Quốc Bửu, Lực Lượng Thợ Thuyền Việt Nam của ông Bùi Lượng, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam (ông Cư), để xin những tin tức mới nhất về đình công, về tranh đấu, để viết tin, hay phỏng vấn, hay nếu đang có biểu tình lãn công ở đâu, thì tới chụp hình, lấy thông cáo, tiếp xúc, tìm phản ứng… Công việc này cực kỳ vất vả, khó khăn, không biết hỏi thì không ai nói, họ nói mà mình viết không thành bài, không nêu được sự việc hay vấn đề, thì không phải “bồ tèo”, không gây ra tiếng vang nào.
            May mắn thay, giai đoạn ấy qua mau, chỉ trong vòng chưa đầy một năm, tôi trở thành biên tập viên nhật báo Ngôn Luận, được một cái bàn viết nhỏ trong tòa soạn, đi đâu về ngồi vào bàn mình: trên đó hoặc là có những thiếp mời mình sẽ đi dự rồi về viết bài, hay những tài liệu ông chủ bút hay tổng thư ký muốn mình tùy tiện khai thác. Hay kèm theo lệnh: Đi họp, viết bài, phỏng vấn…
            Nhưng khoảng một năm sau, tức là khoảng 1957, quen rộng trong làng báo, đã được cử đi các chiến dịch ở miền Trung, và sáu tỉnh Nam Kỳ, được mời đi dự và… cộng tác ở mấy tờ báo khác, và cũng chỉ hai năm, tôi trở thành thư ký tòa soạn và tổng thư ký tòa soạn các nhật báo Dân Ta rồi Dân Tiến, sau nữa có thời gian làm quyền chủ nhiệm kiêm quyền chủ bút nhật báo Tiền Tuyến của Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị khi hai ông trung tá chủ nhiệm và thiếu tá chủ bút cùng đi công du Á Châu.
            Thời gian này trở thành hai nhiệm kỳ làm nghĩa vụ quân sự của một thanh niên thời chiến, hết hai nhiệm kỳ sáu năm tôi được giải ngũ năm 1972; được mời làm trưởng tiểu ban bình luận đài Mẹ Việt Nam, một đài phát thanh Việt Ngữ (song song với hai đài Miên Ngữ và Lào Thái) của tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Do công việc này, gia đình tôi gồm 10 người đã rời Sài Gòn sáng ngày 21 Tháng Tư, 1975, bay ra Phú Quốc bằng DC. 3 và 11 giờ 30 đêm 29 Tháng Tư lên tàu American Challenger. Ngày 2 Tháng Năm tàu tới Đảo Guam. Ngày 3 Tháng Tám tới bến xe buýt Washington, DC. Nhà thờ bảo trợ gia đình tôi là The Methodist Church tại đường số 9 East, Washington, DC., thủ đô Hoa Kỳ.
            Tôi không rõ sự tài trợ từ Tướng Nguyễn Cao Kỳ cho tờ Nghệ Thuật là bao nhiêu. Chỉ biết dồi dào lúc đầu, nhưng cạn kiệt trong khoảng 15 số, ngay đó Mai Thảo gặp nạn kim đao phải nằm nhà thương của Bác Sĩ Nguyễn Duy Tài – phải giao việc điều hành tờ báo cho tôi.


VIÊN LINH
Tháng 11/2018


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/tuan-bao-van-chuong-dau-tien-in-offset-o-mien-nam/