Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 24626 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #150 vào: 20/11/2018, 20:09:31 »
Văn Nghệ, trong và ngoài tòa soạn

Trong các tạp chí văn chương ở miền Nam trước 1975, có một tờ hiện diện khá lâu, qui tụ một số tên tuổi, nhưng hầu như không ai nhắc đến, mặc dù có lúc nó được bày bán trên các sạp báo, trong các nhà sách cùng lúc với những Sáng Tạo, Hiện Ðại, Thế Kỷ Hai Mươi, là ba tờ tạp chí ăn khách hồi đó.

Một số bìa báo tạp chí Văn Nghệ những năm 1961, 62,
ngay cả tên tờ báo cũng không được dùng một kiểu chữ đồng nhất

CÁC TÁC GIẢ cộng tác với ba tờ tạp chí trên đồng thời cộng tác với nó, mà ít ai biết đến nó, đó là tờ Văn Nghệ của Lý Hoàng Phong. Sự hiện diện của nó, cũng như đời sống của nhà văn chủ nhiệm, tên khai sinh là Ðoàn Tường, anh ruột của thi sĩ mệnh yểu Quách Thoại, rất là chật vật, mặc dù ông được các đồng nghiệp có cảm tình. Cho dù thế nào, nhắc đến hai mươi năm văn học miền Nam mà không nhắc đến tờ Văn Nghệ là một thiếu sót, tờ báo ít nhất đã sống lâu ba bốn lần hơn tờ Hiện Ðại của Nguyên Sa (chỉ có 9 số), tờ Thế Kỷ Hai Mươi của Nguyễn Khắc Hoạch (chỉ có 6 số), như người viết bài này được biết, tờ Văn Nghệ sống ít nhất 22 số, khoảng hơn hai năm, trong khi hai tờ trên tờ được 9 tháng, tờ được có 6 tháng, sống không đầy một tuổi. Những tờ kia được nhắc tới luôn, tờ sau này bị quên lãng, hầu như hoàn toàn.
            Văn Nghệ có cùng khuôn khổ với Sáng Tạo, Hiện Ðại, nhưng ra sau hai tờ trên, số đầu của Văn Nghệ ra vào tháng 1 tháng 2, 1961, ra sau cả Thế Kỷ Hai Mươi; tờ ra sớm nhất là Sáng Tạo tháng 10, 1956 còn hai tờ kia đều ra trong năm 1960: Hiện Ðại tháng 4, Thế Kỷ Hai Mươi tháng 7, cùng tháng 7 tờ Sáng Tạo bộ mới tục bản số 1, sau hơn một năm đóng cửa. Ra chậm sau cả bốn tờ, đương nhiên là Văn Nghệ ở thế yếu, nhất là ông chủ nhiệm không phải là một nhà văn có tên tuổi.
            Tuy sinh sau đẻ muộn, Văn Nghệ vẫn mời được các nhà văn tương đối có tiếng cộng tác, như Lê Huy Oanh, Trần Lê Nguyễn, Doãn Quốc Sỹ, Kiêm Minh, riêng các nhà văn trẻ có đủ mặt, như ở trong cả ba tờ trên: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Ðức Sơn (Sao Trên Rừng), Nhã Ca, Ðỗ Quý Toàn, Trần Dạ Từ, Nguyễn Nghiệp Nhượng, và người viết bài này… Những bài hay trên Văn Nghệ không thiếu, nhiều phần là tỷ lệ tân kỳ còn lớn hơn cả Hiện Ðại, với sự có mặt của Nguyễn Ðức Sơn, Nguyễn Nghiệp Nhượng, và hai họa sĩ Ngọc Dũng, Nguyễn Trung.
            Nhà văn Lê Huy Oanh rất sung sức, sáng láng với loạt nghiên cứu về thơ Pháp, nhất là loạt bài “Lược khảo về phong trào thi ca siêu thực Pháp”. Trong ba bốn số báo liền ông đã giới thiệu và dịch ra thơ Việt những thi sĩ tiên phong của khuynh hướng này và những bài thơ mang tên chủ soái André Breton, Louis Aragon, Paul Eluard… hay viết rất kỹ, kèm với thơ và thơ dịch của Jacques Prevert, là thi sĩ đang được hâm mộ ở Việt Nam lúc ấy. Truyện dài của ông, Màu Hoa Dã Thú cũng đăng trên Văn Nghệ. Hai truyện dài – tân truyện hay truyện vừa thì đúng hơn, sau này nổi tiếng, đều đăng lần đầu trên Văn Nghệ trước hết: Gia Tài Của Người Mẹ của Dương Nghiễm Mậu và Thị Trấn Miền Ðông của Viên Linh.
            Hãy xem những bài thơ trên Văn Nghệ, trích từ số 6 trở đi, vì chúng tôi chỉ có từ số 6 và vài số sau đó: điều nổi bật là thơ Ngọc Dũng, thơ Vương Tân luôn luôn được đăng ở những trang đầu của mỗi số báo, và đăng rất nhiều. Ở số 6 thơ Ngọc Dũng đăng ở trang 11 (nhan đề Tiếng Hát Của Mặt Trời), thơ Vương Tân đăng ở trang 12 (nhan đề 1954-1961), và dài suốt ba trang báo:

                        Hãy gỡ đều cho sợi tóc dầy
                        Cùng một lần với tiếng hát nhìn thấp xuống
                        Với dòng sông nước cuốn chảy mòn
                        Nước chảy cuốn mòn xô tới chân em


            Bài thơ khoảng 20 câu, không có vần. Và thơ Vương Tân đăng kế tiếp:

                        Lịch sử bốn nghìn
                        Tôi cầm trên tay
                        Trang sách lật qua
                        Không lời huyền bí
                        Chúng nó cầm dao
                        Ðâm vào trái tim
                        Và nhìn máu chảy
                        Sự sống dâng lên
                        Trong nghìn huyết quản
                        Trên vạn cánh tay


            Cũng không có vần, dù là tứ tự (tức là thơ bốn chữ). [Thơ năm chữ gọi là ngũ ngôn, thơ bảy chữ gọi là thất ngôn, nhưng thơ bốn chữ lại gọi là tứ tự. Khi tên gọi khác nhau như thế, các cụ thời xưa hẳn có hàm ý nghĩa gì đó, hai thể thơ chỉ chênh lệch mỗi dòng một tiếng, mà thơ bốn tiếng gọi là tứ tự, thơ năm tiếng gọi là ngũ ngôn, vậy cái khác nhau là ở ý nghĩa của chữ tự và chữ ngôn. Ngôn là lời, tự là chữ. Lời là lời nói, chữ là chữ viết, hai thứ khác nhau xa lắm. Ðã là chữ viết thì phải hàm xúc sâu xa, không thể là nôm na phổi bò được.]
            Ở Văn Nghệ số Xuân 1961, thơ Ngọc Dũng cũng in ở đầu số báo như số trên (ba bài ở trang 10), thơ Vương Tân kế tiếp ở trang 16, thơ ông này chỉ chấm hết ở trang 29, nghĩa là dài tới 14 trang thơ của ông thôi, trên đầu lại có tranh minh họa riêng của Ngọc Dũng. Có vẻ hai nhà thơ này là thi sĩ nòng cốt của tờ báo, tất phải hay. Ta hãy đọc nguyên một bài của Ngọc Dũng: Bài Vết Chém:

                        Như đợt thủy triều rớt xuống
                        Bỏ lại cồn cát không
                        Như nước biển đầy dâng vĩnh viễn
                        Mà cánh tay vòng ôm suốt thân

                        (trang 10)

            Và thơ của thi sĩ nòng cốt thứ hai, dài tới 14 trang trong số Xuân chỉ dày 103 trang như đã nói: Giáo Ðầu:

                        lịch sử những hoang mang
                        với mối sầu chia cắt
                        loài chim di trốn rét
                        vỗ đôi cánh mùa xuân
                        thành phố ngọn đèn vàng
                        và mắt người ngái ngủ
                        hàng rào dây kẽm gai
                        với con tầu phạm xá


            Bài thơ chỉ có thế, không lên hoa chữ nào và không dấu chấm dấu phảy. Vài chục năm sau thơ hai vị đó không thấy ai truyền tụng, và người ta biết đến Ngọc Dũng nhờ ông là họa sĩ, chứ không phải vì ông là nhà thơ. Ðiều nòng cốt để tìm hiểu: họa sĩ Ngọc Dũng chính là thư ký tòa soạn của tờ Văn Nghệ.
            Nghề làm tạp chí văn học khác với nghề làm báo, nhất là nhật báo hay tuần báo, hoàn toàn khác. Báo sống bằng bài vở, bằng bộ mặt của nó khác với báo sống bằng tin tức, nhanh và chính xác và nóng hổi. Ðã sống bằng bài vở thì bài vở phải hay, phải có giá trị, và tạp chí 15 ngày hay một tháng mới ra một lần, thì bài vở phải được (hay bị) đọc lại là thường. Tờ nhật báo sau một ngày thì thường bị vất đi, hay được dùng làm giấy gói đồ. Ðời sống của nó là 24 tiếng đồng hồ, tới giờ thứ 25, có tờ khác thay thế. Tuần báo sống 7 ngày, báo ra Thứ Năm tuần này thì Thứ Năm tuần sau nó bị tờ khác thay thế. Nhưng tạp chí hàng tháng, tất cả bốn tờ nói trên đều ra hàng tháng, tờ tạp chí hàng tháng không những suốt tháng còn mới, người ta còn để trên bàn, mà khi nó lên tủ sách, người ta còn nắm gáy nó kéo xuống, đọc lại. Một bài thơ chỉ 4 câu thôi đăng trên một tạp chí, người ta đọc nó cả tháng, cả năm, mãi mãi, cho nên thơ hay là thơ phải chịu sự đọc lại, truyện hay là truyện phải chịu sự đọc lại, báo đã hay còn phải đẹp, vì người ta khó tính, không ai thấy cái gì xấu mà muốn nhìn lại. Một tờ tạp chí văn chương phải là một giai phẩm: giai là đẹp, phẩm là có tính chất gì đó có ích hay hữu dụng hay mỹ thuật. Vì thế, người ta thường nghe nói, phải hay phải đẹp, phải bền.
            Người trình bày tờ tạp chí Văn Nghệ đã không nắm vững tính cách một tạp chí: bìa một tờ báo không phải bìa một cuốn sách, vậy mà bìa báo Văn Nghệ hầu hết số này cái tên in một kiểu chữ, số sau cái tên Văn Nghệ lại dùng kiểu chữ khác. Cứ xem cái ảnh chụp người đọc cũng sẽ thấy ngay. Không phải một lần mà nhiều lần cái bìa báo Văn Nghệ chỉ in cái tranh vẽ của ông họa sĩ thư ký tòa soạn, không có chữ gì – tên bài hay tên các tác giả – khác nữa. Nội dung ở trong là thừa, chỉ cần cái tranh vẽ ngoài bìa thôi, chắc thế. Nhưng dĩ nhiên đã là thư ký tòa soạn, người ta có quyền đó, vấn đề là ông chủ nhiệm hay ông thường trực nào đó có trách nhiệm chọn bài vở phải biết trách nhiệm của mình quan trọng thế nào trong việc chọn lọc và sắp xếp bài vở. Tờ Văn Nghệ thiếu hẳn cái khâu này. Ðôi điều viết ở trên là những điều tôi nghe biết từ khi tờ tạp chí còn sống, ngày nay nhắc lại để đưa ra một giải thích vì sao tờ Văn Nghệ không gây được tiếng vang của một tạp chí văn chương. Có các tác giả tên tuổi là một chuyện, có làm cho tờ báo sống không là một chuyện khác. Cần mẫn chịu đựng là một chuyện, có tồn tại không cũng là chuyện khác. Hơn thế nữa, làm báo văn chương cần các văn hữu và các cây bút trẻ cộng tác, gửi bài về, cái khó khăn là trong 10 bài gửi tới, may ra được 3 bài có thể đăng, làm sao phải từ chối đăng mà người gửi không chán, không giận, vẫn tiếp tục gửi. Chỉ một câu trả lời vô duyên trong Hộp Thư Tòa Soạn là không những mất đi một độc giả, còn làm các văn hữu độc giả khác e ngại gửi bài cộng tác. Hộp thư của tạp chí Văn Nghệ đây:

            “Song Linh: Có nhận được bài gửi cho số Xuân, nhưng ‘không tiện đăng’.” (Văn Nghệ số xuân, trang 105). [Trong khi đó tạp chí Hiện Đại của Nguyên Sa đăng liên tiếp 4 hay 5 truyện ngắn của Song Linh, nhà văn, đại úy Thủy Quân Lục Chiến].
            “Thái Tú Hạp: Hình như chúng tôi đã có dịp đọc nhiều lá thư như ý bạn: ‘bỏ rơi bài vở của bạn đọc’, thật không có chuyện đó… Chúng tôi muốn tìm thấy ‘những tài năng thực’, không mị độc giả vì lợi. Xin bạn đọc thông cảm.” [Trả lời như thế có khác gì nói rằng bài không đăng được vì ông hay bà ‘không có tài năng thực?’ Không những chỉ trả lời nhà thơ Thái Tú Hạp không đăng được, câu đó là trả lời cho tất cả những người mà tờ Văn Nghệ viết là “chúng tôi đã có dịp đọc nhiều lá thư (giống) như ý lá thư của ông!]
            “Sương Biên Thùy: Hy vọng bạn còn nhiều cố gắng.”
            “Trường Dzạ: Ðã nhận được bài. ‘Hãy tìm một sắc thái cho riêng mình’.”


            Bốn đoạn trả lời trên cũng tìm thấy in trong Hộp Thư Tòa Soạn Văn Nghệ. Ðó là thái độ của tờ Văn Nghệ đối với các văn hữu muốn cộng tác khác. Ở số 14 còn những lời khuyên các nhà văn trẻ như “cần tránh ảnh hưởng”, (khuyên Nguyễn Dzạ Vũ), “mong sự cố gắng”, (khuyên Ðoàn Minh Hải), “…Hộp thư của tòa soạn Văn Nghệ đọc lên nghe như từ hộp thư của một tờ báo học sinh. Nó cho thấy người viết những dòng trả lời trên đã không biết độc giả của ông ta, tức là của tờ Văn Nghệ, là những ai. Anh làm tạp chí văn chương thì độc giả của anh là độc giả văn chương; trường hợp này tờ Văn Nghệ không cho thấy sự hiểu biết của tòa soạn về người đọc họ, hay tệ hơn nữa, đang làm ngự sử văn đàn với độc giả của mình, cũng là những nhà văn nhà thơ đang muốn đi vào thế giới cầm bút.
            Những điều trình bày trên hy vọng sẽ là những câu trả lời nêu ở đầu bài, là vì sao một tờ báo hiện diện khoảng hai năm ra được 22 số mà bị rơi vào lãng quên như tờ Văn Nghệ.


VIÊN LINH
Tháng 9/2015


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Van-Nghe-trong-va-ngoai-toa-soan-3909/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #151 vào: 27/11/2018, 19:53:13 »
Alain Robbe-Grillet, cha đẻ của trào lưu “tân tiểu thuyết” Pháp
“Tân tiểu thuyết”, dịch từ tiếng Pháp “nouveau roman” (tiếng Anh: new novel), là một trào lưu văn chương xuất hiện ở Pháp vào đầu thập niên 1950. Người được xem là “cha đẻ” của trào lưu này là Alain Robbe-Grillet.

Nhà văn Alain Robbe-Grillet (Hình: artsfuse.org)

ÔNG ROBBE-GRILLET sinh ngày 18 Tháng Tám, 1922, tại Saint-Pierre-Quilbion, gần Brest ở Brittany, Pháp, trong một gia đình có truyền thống khoa học kỹ thuật. Tác phẩm đầu tiên được xuất bản là “Les Gommes” (Những Cục Tẩy) vào năm 1953. Truyện kể về một tay thám tử đi điều tra kẻ sát nhân trong một vụ án chưa hề xảy ra, để cuối cùng khám phá ra rằng chính định mệnh đã khiến cho anh ta trở thành một kẻ sát nhân.
            Với một cách viết hoàn toàn mới, cả về cách hành văn lẫn bố cục và nhân vật, “Les Gommes” đánh dấu cho một cuộc cách mạng toàn diện trong tiểu thuyết, do đó, mà về sau mệnh danh là “Tân tiểu thuyết”. Tuy vậy, ông cho biết nó “không nhằm chỉ ra một trường phái nào” cả. Nó chỉ là “một cách gọi thuận tiện những người đang tìm kiếm những hình thức tiểu thuyết mới có thể diễn tả hay sáng tạo những tương quan mới giữa con người và thế giới”.
            Các “tân tiểu thuyết” của Robbe-Grillet và của những nhà văn thuộc trào lưu này như Nathalie Sarraute, Michel Butor, Claude Simon… xây dựng nhân vật với những chi tiết lý lịch sơ sài, thậm chí không có lý lịch, không có cá tính, không tên tuổi. Thời gian và không gian thì cực kỳ mơ hồ. Thay vào đó là sự tường thuật một cách dửng dưng, khách quan những cảm nghĩ, những cử chỉ, hành động của nhân vật và những sự vật bề bộn chung quanh. Nhân vật tiểu thuyết là một con người, thế thôi, không cần phải tra vấn gì thêm.
            Năm 1955, ông xuất bản cuốn thứ hai, “Le Voyeur” (Kẻ Nhìn Trộm). Truyện xoay quanh các chi tiết đáng ngờ của một vụ sát nhân. Truyện có rất ít đối thoại, không hề diễn tả trạng thái nội tâm cũng như tư tưởng của nhân vật và thời gian thì hoàn toàn mơ hồ. Tác phẩm này lôi cuốn được thêm sự tán thưởng của một số các nhà trí thức tiền phong khác. Tuy thế, cách xây dựng nhân vật lạnh lùng, vô cảm khiến cho người ta giật mình, hoảng sợ.
            Chính vì thế mà mặc dầu đoạt giải “Critiques”, có một sự kiện không mấy vui: Một trong các giám khảo của giải từ chức để phản đối. Mặt khác, những nhà phê bình và điểm sách bảo thủ nhất loạt đứng lên tấn công tác giả. Điều nghịch lý là, thay vì dìm Robbe-Grillet xuống, cuộc tấn công đó đã vô tình đưa tác phẩm của ông vào giòng chính của cuộc tranh cãi văn chương.
            Sau cuốn này, ông chính thức bỏ nghề nghiên cứu khoa học, và dành hết thời giờ cho việc viết lách. Ông phụ trách biên tập về văn chương cho nhà xuất bản Minuit. Đầu thập niên 1970, ông cộng tác với tạp chí văn chương “Tel Quel”, nơi tập trung những cây bút lừng lẫy một thời như Julia Kristeva, Jacques Derrida, Roland Barthes…
            Sau “Les Gommes” và “Le Voyeur”, trong vòng 20 năm, ông xuất bản thêm chừng một tá tác phẩm, trong đó có những cuốn nổi bật như “La Jalousie” (1957), “Souvenirs du Triangle d’Or” (1978), “La Reprise” (2001)… Trong số đó, “La Jalousie” được đánh giá rất cao. Truyện dựng trong khung cảnh một căn nhà thuộc địa trên một đồn điền chuối, liên hệ đến cuộc điều tra có tính khoa học về khả năng quan sát của con người. Được viết ở ngôi thứ nhất và phi-tuyến tính (non-linear), nó kể lại câu chuyện của một người chồng nghi ngờ vợ mình có quan hệ bất chính với một kẻ láng giềng, nhìn qua khe hở của bức mành mành để quan sát người tình của vợ.
            Mặc dù là người kể chuyện nhưng nhân vật (người chồng) không bao giờ sử dụng đại từ ngôi thứ nhất (tức là “tôi”). Hắn ta kể lại những biến cố trong đó hắn hiện diện mà y như thể hắn không hiện diện ở đó; sự hiện diện chỉ được suy đoán qua chỗ ngồi trong bàn ăn hay vị trí của các chiếc ghế đặt trong mái hiên. Hắn ta cũng diễn tả những hình ảnh mà người đọc tùy nghi, có thể xem chúng là thực cũng được hay là sản phẩm của tưởng tượng cũng được, đặc biệt là về những gì dính dáng đến vụ ngoại tình. Ngay cái tựa đề cũng có tính cách “chơi chữ”. Trong tiếng Pháp, “jalousie” vừa có nghĩa là “ghen” mà cũng vừa có nghĩa là “bức mành mành”.
            Tác phẩm sau cùng là “Un Roman Sentimental”, xuất bản chỉ vài tháng trước khi ông qua đời, Tháng Mười, 2007. Cuốn này gây nên chấn động trong giới chức Pháp vì chứa đựng nhiều đoạn diễn tả táo bạo các quan hệ tình dục loạn luân.
            Ngoài tiểu thuyết, Robbe-Grillet còn viết kịch bản phim và đạo diễn phim. Với tên tuổi lên cao trong văn giới, vào năm 1961, ông được mời viết kịch bản phim cho phim “L’année dernière à Marienbad” của Alain Resnais.
            Sau đó, ông chính thức nhảy hẳn vào ngành điện ảnh, không những để viết kịch bản phim mà còn làm đạo diễn. Trong số cả chục phim do ông đạo diễn, có những phim rất nổi tiếng và được đánh giá cao vào giữa thập niên 1970 như “Glissements Progressifs du Plaisir” (Những Cơn Trượt Dài Của Khoái Lạc), “L’homme qui Ment” (Người Nói Láo/1968), “La Belle Captive” (Người Nữ Tù Xinh Đẹp/1983), “Jeu Avec le Feu” (Đùa Với Lửa).
            Tuy viết nhiều, và là người tiên phong của một trào lưu tiểu thuyết, nhưng ngoài nước Pháp ra, Robbe-Grillet không được biết rộng rãi ở các nước khác ở Châu Âu. Trái lại, ông lại khá nổi tiếng ở Hoa Kỳ. Một số tác phẩm của ông được dịch sang tiếng Anh và phổ biến tại Hoa Kỳ. Ngoài ra, trong hơn hai thập niên, từ 1971 cho đến 1995, ông được mời giảng dạy tại các đại học New York và St Louise.



            Ngoài sự “nổi loạn” trong văn chương, đời sống cá nhân của Robbe-Grillet đầy những sự kiện “nghịch thường”. Nghịch thường đến độ kỳ cục. Chả thế mà ông được đặt cái biệt danh là “enfant terrible” (anh chàng lập dị) của nền văn chương Pháp.
            Là người vốn thích được nổi tiếng, ông rất khoái xuất hiện trong các diễn đàn quốc tế dù nói không sõi tiếng Anh. Lại ưa khoe khoang. Với một cá tính như thế, chẳng có gì ngạc nhiên khi cuộc đời ông trải qua nhiều vụ tai tiếng.
            Một trong những vụ tai tiếng xảy ra trước khi ông chết, vào năm 2004, xuất phát từ những tiết lộ khá động trời từ chính bà vợ của ông, Catherine Rstakian, qua cuốn hồi ức về những năm chung sống đầu tiên với Robbe-Grillet có tựa đề “Jeune Mariée” (Cô Vợ Trẻ). Catherine diễn tả về chứng bất lực cũng như sự hoang tưởng về tình dục của chồng mình.
            “Anh ấy thích đánh đập, thích cắn, thích gây đau đớn một cách cuồng nhiệt”, bà viết. Bà cho biết hồi đó, hai người thường hay đi đến các câu lạc bộ tình dục hoặc quan hệ qua đêm với những người lạ tình cờ gặp nhau trên tàu điện. Theo bà, Robbe-Grillet chỉ bằng lòng cho hai người ngủ chung khi nào ông có thể đánh đập bà. Dẫu đời sống gia đình bất thường như thế, hai người vẫn sống chung cho đến khi Robbe-Grillet từ trần. Hai người lấy nhau vào năm 1957. Và không có con.
            Ông Robbe-Grillet qua đời hôm 18 Tháng Hai, 2008, tại bệnh viện đại học Caen, miền Tây nước Pháp, thọ 85 tuổi. Đánh giá toàn bộ sự nghiệp của Alain Robbe-Grillet, nhà phê bình John Fletcher phát biểu: “Robbe-Grillet là nhà văn quan trọng nhất – dù không hẳn là vĩ đại nhất – của Pháp, một người đã làm thay đổi bộ mặt của văn chương thế giới, cho dù là làm cho nó tốt hơn hay tệ hơn”.
            Cũng xin nói thêm: Trào lưu “tân tiểu thuyết” đã từng được giới thiệu tại Việt Nam vào những năm đầu thập niên 1970, do nhà văn Hoàng Ngọc Biên. Có dịp, tôi sẽ giới thiệu nhà văn Hoàng Ngọc Biên với độc giả Người Việt.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 06/2017


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/alain-robbe-grillet-cha-de-cua-trao-luu-tan-tieu-thuyet-phap/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #152 vào: 04/12/2018, 21:04:12 »
Chúng ta biết gì về nhạc sĩ Hoàng Trọng?

Dường như lịch sử văn học, nghệ thuật của quốc gia nào, thời kỳ nào cũng có những tài năng lớn, được nhiều người cùng giới đánh giá cao. Nhưng mức độ phổ cập trong quần chúng, lại không tương ứng với những cống hiến lớn lao của họ.

Từ trái qua: Hoàng Trọng, Duy Trác, Thanh Sơn, Kim Tước,
 Tuyết Anh, Ánh Tuyết, Mai Hương (Nguồn Cỏ Thơm)

TÔI TRỘM NGHĨ, cố nhạc sĩ Hoàng Trọng là một trong những trường hợp này.
            Tôi biết nhiều người thuộc lòng một số ca khúc của họ Hoàng. Vậy mà khi hỏi tên tác giả, thì họ lại không biết, hoặc không dám chắc đó là sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Trọng.
            Cụ thể như ca khúc “Hai Phương Trời Cách Biệt”, tôi nghĩ, đôi lần chúng ta đã nghe qua. Ðã rung động với giai điệu và, ca từ lãng mạn tới nao lòng của họ Hoàng:
            “Ánh nắng chiều thoáng phai rồi/ Hoàng hôn khơi thương nhớ tới xa xôi/ Nhớ mãi nhớ muôn đời/ Một chiều em khóc trong hồn tôi/ Góp hết lại những câu thề/ Trả lại cho nhau lúc chia ly/ Cố nuốt bao nhiêu lệ/ Nhìn theo duyên kiếp đi không về…” (Nhạc và lời Hoàng Trọng. Theo dactrung.com)
            Hoặc:
            “Ngày xưa xa xôi em rất yêu màu tím/ Ngày xưa vô tư em sống trong trìu mến/ Chiều xuống áo tím thường thướt tha/ Bước trên đường gấm hoa/ Ngắm mây chiều lướt xa/ Từ khi yêu anh anh bắt xa màu tím/ Sầu thương cho em mơ ước chưa kịp đến/ Trời đã rét mướt cùng gió mưa/ Khóc anh chiều tiễn đưa/ Thế thôi tàn giấc mơ (…) Từ khi xa anh em vẫn yêu và nhớ/ Mà sao anh đi đi mãi không về nữa/ Một bóng áo tím buồn ngẩn ngơ/ Khóc trong chiều gió mưa/ Khóc thương hình bóng xưa/ Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím/ Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím/ Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau/ Tháng năm càng lướt mau/ Biết bao giờ thấy nhau…” (Trích “Ngàn Thu Áo Tím” Nhạc Hoàng Trọng. Lời Vĩnh Phúc. Theo dactrung.com)
            Hoặc nữa:
            “Bạn lòng thân mến/ Ðây giây phút hồn tôi/ nghe chan chứa hương đời/ Nhạc lời êm ái/ tôi ca ấm vành môi/ mong sao đến bên người/ Bạn là trăng sáng/ Trong đêm tối hồn tôi/ Soi lên bao ánh tươi/ Bạn là hoa thắm/ trên hoang vắng tình tôi/ vun lên một mùa mới!…” (Trích “Bạn Lòng”. Lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)
            Ngay ca khúc nồng nàn tình yêu quê hương, tổ quốc mà những ai từng lớn lên ở miền Nam, chí ít cũng đã có một lần nghe tới hoặc hát theo với xúc động, hãnh diện là người dân Việt, ca khúc “Bên Bờ Ðại Dương” – Nhưng vẫn có nhiều người không hề biết đó là một sáng tác khác của họ Hoàng:
            “Ðất nước tôi màu thắm bên bờ đại dương/ Bắc với Nam, tình nối qua lòng miền Trung/ Ðất nước tôi từ mái tranh nghèo Bắc Giang/ Vượt núi rừng già Trường Sơn/ Vào tới ruộng ngọt phương Nam/ Dân nước tôi từng đấu tranh diệt ngoại xâm/ Trên máu xương từng hát ca bài thành công/ Dân nước tôi nòi giống hùng cường Lạc Long/ Làm gái toàn là Trưng Vương/ Làm trai rạng hồn Quang Trung…” (Nhạc Hoàng Trọng. Lời Hồ Ðình Phương. Trích. Theo dactrung.com)
            Cũng vậy, tôi nghĩ có dễ nhiều người hơn nữa, cũng không hề biết rằng nhạc sĩ Hoàng Trọng bước vào quảng trường tân nhạc Việt Nam rất sớm: Ngay tự những năm cuối thập niên (19)30.
            Trong bài nói chuyện về cố nhạc sĩ Hoàng Trọng, nhân buổi tưởng nhớ tác giả “Hai Phương Trời Cách Biệt”, ngày 20 Tháng Bảy, năm 2008, tại hí viện James Lee Theater, Virginia, Luật Sư Phạm Ðức Tiến cho biết, nhạc sĩ Hoàng Trọng là một trong những nhạc sĩ có công khai phá nền tân nhạc Việt Nam; cùng thời với những tên tuổi lớn thuộc giai đoạn đó, như Dương Thiệu Tước, Lê Thương, Nguyễn Xuân Khoát…
            Diễn giả Phạm Ðức Tiến nhấn mạnh:
            “… Bản nhạc đầu tay của ông (Hoàng Trọng) được sáng tác vào năm 1938 khi ông mới 16 tuổi, là bài “Ðêm Trăng”, còn có tên là “Vầng Trăng sáng”. Ngay từ những sáng tác đầu, nhạc của ông đã được sự chú ý. Phạm Duy sau này có kể lại là khi còn làm ca sĩ chính ông đã hát một trong những bài đầu tay của Hoàng Trọng là bài “Tiếng Ðàn Ai” và Phạm Duy thú nhận bài này đã gợi hứng cho ông viết nên bài “Tiếng Ðàn Tôi” sau này…” (Wikipedia – Tiếng Việt)
            Nhạc sĩ Hoàng Trọng không chỉ là một trong những nhạc sĩ tiên phong khai phá nền tân nhạc Việt, dựa trên thang âm thất cung mà, ông còn là người nâng điệu Tango tương đối còn xa lạ với giới thưởng ngoạn ở những thập niên (19)30, (19)40 lên tới đỉnh ngọn nghệ thuật của điệu này.
            Vì thế, những người cùng giới với họ Hoàng, đã không ngần ngại, đồng lòng phong tặng ông danh hiệu “Ông Hoàng Tango” tân nhạc Việt.
            Phong tặng này là một vinh dự to lớn cho một nhạc sĩ. Nhưng nếu vì danh hiệu đó mà, lầm tưởng rằng họ Hoàng chỉ thành công với thể điệu vừa kể thì, tôi cho lại là một lầm lẫn và một bất công khác đối với tài năng, và những cống hiến giá trị khác của nhạc sĩ Hoàng Trọng, cho kho tàng tân nhạc của chúng ta.
            Bằng cớ, bên cạnh những ca khúc được coi là tuyệt vời với điệu Tango, nhạc sĩ Hoàng Trọng cũng có những ca khúc còn lưu truyền tới hôm nay – Ðược ông viết với nhịp điệu chậm hơn Tango, như Slow, Bolero, Rumba. Hoặc những ca khúc được họ Hoàng viết với nhịp điệu nhanh hơn Tango như March, Fox, Paso…
            Ðừng quên tới nay, sinh hoạt tân nhạc của chúng ta, mỗi khi mùa Xuân về, vẫn âm vang giai điệu tươi vui, ca từ lấp lánh tin yêu của ca khúc “Gió Mùa Xuân tới”:
            “Gió mùa Xuân tới cánh hồng tươi thắm trong nắng vàng/ Muôn bướm tung bay mang sắc tươi phô cùng trời sáng/ Gió mùa Xuân tới bóng hồng tha thướt trong nắng đào/ Kiếp sống cô đơn mơ ước ôm trong lòng hoa tươi/ Xuân reo khắp nơi trời ngát hương trầm lòng mang vấn vương
            Hồn say mộng ước cùng những đóa hoa/ ấp ủ trái tim hướng những phút say mơ// Với mùa hoa thắm khắp trời xuân sáng vui tưng bừng/ Muôn sắc khoe tươi reo hát ca vang mừng trời Xuân…”
(Nhạc và lời Hoàng Trọng. Trích. Theo dactrung.com)
            Cũng với nhịp điệu nhanh hơn Tango rất nhiều, điệu Paso, họ Hoàng, còn cho chúng ta một ca khúc bất hủ khác: Ca khúc “Dừng Bước Giang Hồ”:
            “Chiều nay sương gió, lữ khách dừng bên quán xưa/ Mơ màng nghe tiếng chuông chiều,/ vương về bên quán tiêu điều/ Vầng trăng hoen úa, như lá vàng rơi cuối thu/ Lững lờ soi mấy hàng cây u sầu đang ngắm trời mây…” (Nhạc Hoàng Trọng. Lời Quang Khải. Trích. Theo dactrung.com)
            Chỉ mới là lược dẫn, chúng ta đã thấy dường như không một vạch phấn nào, giới hạn được đường bay nghệ thuật của tài hoa Hoàng Trọng. Chẳng qua, chúng ta biết được quá ít về ông. Phải chăng, chính sự biết được quá ít về tác giả “Dừng Bước Giang Hồ”, nên tấm lòng biết ơn của chúng ta, dành cho ông, đã không được đúng mức?


DU TỬ LÊ
Tháng 03/2013


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Chung-ta-biet-gi-ve-nhac-si-Hoang-Trong-5259/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #153 vào: 11/12/2018, 22:35:24 »
Tuần báo văn chương đầu tiên in offset ở miền Nam

Nhan đề bài viết như trên có thể gây ra thắc mắc: Miền Nam Việt Nam vốn là cái nôi báo chí văn hóa, tài liệu ở đâu và trí nhớ bao xa để hơn nửa thế kỷ sau có thể trình bày lại một sự việc bao la như thế?

Văn nghệ sĩ miền Nam họp mặt hằng tuần

Người viết xin tóm tắt cụ thể ngay: tuần báo nhiều vô kể, nhưng tuần báo văn chương thuần túy thì chỉ có một vài, còn lại là nguyệt san, bán nguyệt san, hay loại đặc san hai ba tháng mới ra một lần. Quả thật miền Nam năm 1965 có một tuần báo văn chương, bảy ngày ra một số mới, lại quy tụ những nhà văn nhà thơ họa sĩ danh tiếng, và đặc biệt lại in bằng kỹ thuật offset tối tân nhất, không có một vị tướng hào hoa thì không có tuần báo này, đó là trường hợp tuần báo Nghệ Thuật và mạnh thường quân Nguyễn Cao Kỳ.
            Ngay số 1, tờ báo đã có bài vở của Vũ Khắc Khoan, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Mặc Đỗ, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Viên Linh, Sơn Nam, Thanh Nam, Tạ Tỵ, Doãn Quốc Sỹ, Trần Lê Nguyễn… Là thư ký tòa soạn của tờ báo kiêm cả việc trình bày offset (kỹ thuật tân tiến nhất mới nhất lúc bấy giờ), từ lo bài vở tới việc trình bày bài vở, tờ báo (khuôn khổ, trang, cột, tựa bài, chữ đứng, chữ nghiêng…) tôi biết rõ báo in 5,000 tờ, và bán hết trong vòng một tuần.
            Trên nửa thế kỷ nay người ta đã viết nhiều về tờ Nghệ Thuật, song có lẽ chưa có bài viết nào nói rõ vì sao miền Nam có một tờ báo văn chương (là loại báo không nhiều độc giả do đó các thương gia không muốn in quảng cáo trong đó) lại in offset nhiều màu (là kỹ thuật tốn kém nhất). Tôi may mắn được biết từ đầu vì là người cùng với họa sĩ Đằng Giao trình bày tờ báo, nghĩa là sửa soạn làm tờ báo từ giây phút đầu tiên. Đây cũng là lần đầu tiên câu hỏi: “Ai bỏ tiền ra làm tờ báo văn chương lại in offset như thế?”
            Câu hỏi này lúc ấy là một bí mật. Nguồn gốc tài chánh của một cơ quan ngôn luận dù thế nào luôn luôn là một bí mật. Khi báo đang làm số 1 (1 Tháng Mười, 1965) tôi đang ở chung phòng với nhà văn Thanh Nam, tổng thư ký tòa soạn tờ Nghệ Thuật. Nơi chúng tôi cư ngụ quen gọi là building Cửu Long, một tòa nhà hai tầng trên đường Hai Bà Trưng thuộc Quận Nhì, Sài Gòn. Sài Gòn 1965 là khoảng thời gian phơi phới của tự do, hai năm tự do bát ngát sau khoảng 1954-1963, chín năm của nền Đệ Nhất Cộng Hòa – cơ cấu dàn dựng nặng phần Cơ Đốc Giáo – sụp đổ bằng một cuộc thảm sát, cái chết của hai vị lãnh tụ đảng Cần Lao.
            Sự xuất hiện của Nghệ Thuật làm rúng động làng báo văn chương: báo in offset “phải” là báo giàu. Kết luận như thế là hợp lý, song Chủ Nhiệm Mai Thảo và Tổng Thư Ký Thanh Nam hay ông quản lý Từ Ngọc Toản (ca sĩ Anh Ngọc) không phải là dân giàu có.
            Mai Thảo di chuyển bằng cách ngồi xích-lô đạp, Thanh Nam ở xa tòa báo (nhà in) hơn, đi taxi, còn tôi vốn được tặng cái Lambretta mới từ hồi nhận làm tổng thư ký một tờ nhật báo mới ra số đầu, nhật báo Dân Tiến (hậu thân Dân Ta của nhà thơ Nguyễn Vỹ), từ đó mà có xe mới.
            Nói chung giới làm báo Sài Gòn đều di chuyển bằng xe gắn máy là chính, khoảng hai phần mười có xe hơi, loại Simca hay Con Cóc. Dân Tiến thể thức báo Nam, trang nhất phải có 14 cái tin và hình (đếm số tựa trang nhất là một cách phê phán hồi đó, đếm số tiểu thuyết và thể loại bài vở tiết mục trang trong cũng vậy). Nửa thế kỷ sau một nhà thơ bạn tác giả Thắp Tình cho biết: người ta sắp hàng trước cửa tiệm sách chờ mua Nghệ Thuật ngày báo ra Trung nơi tỉnh anh.
            Bước chân vào làng báo từ vai trò thấp nhất: phóng viên một nhật báo, lại là phóng viên chiến trường, được “đặc cách” cử vào Rừng Sát theo Chiến Dịch Hoàng Diệu lùng bắt Bảy Viễn của Tướng Dương Văn Minh, và Chiến Dịch Thoại Ngọc Hầu (hay Trương Tấn Bửu cũng của ông này) – những năm đầu tiên vào nghề báo của tôi xét ra là những năm thử lửa. Tập sự mà thử lửa.
            Trong đám phóng viên tôi luôn luôn là người trẻ nhất, nếu không muốn nói là học trò nhất, măng sữa nhất. Đi tàu há mồm đâm thẳng vào bãi bùn lầy rồi nhảy vào bùn mà leo lên bờ ở Rừng Sát, cùng kháo nhau là “đi bắt Bảy Viễn và tịch thu hai thùng vàng và đô la” của ông ta, cuối cùng được trông thấy… bãi đất san bằng bên cạnh, và lời giải thích của một vị sĩ quan quân chính phủ: “Tiếc thay ta đến chậm, kia là bãi đất chúng san bằng cho phi cơ đáp xuống. Nó chở hai thùng vàng bạc bay qua Nam Vang rồi!” Hỏi “nó” là ai thì được trả lời: “Thì nó là thằng Paul, con Bảy Viễn chứ ai.” Một vị đàn anh trong nghề già đời nhìn tôi: “Biết rồi khổ lắm nói mãi! Mấy đứa gian manh lúc nào nó cũng lẹ không hà!” Rồi vị đồng nghiệp già nói nhỏ đủ cho tôi nghe: “Mấy đứa này lúc nào cũng có tay trong biết trước không hà!”
            Nhưng bây giờ nhìn lại, chưa biết chừng tôi đã may mắn bước vào nghề báo từ vai trò lấy tin, hồi 1955-56, ở tuổi 17, làm tin, làm phóng viên một nhật báo là thích hợp, nhất là chỉ làm buổi sáng, còn buổi chiều vẫn đi học. Làm nhật báo trước hết biết cách lấy tin tức. Trước hết phải nhanh. Biết nguồn tin, tìm nguồn tin. Tạo ra tin.
            Phụ trách lao động, mỗi sáng tôi phải tới các văn phòng Tổng Liên Đoàn Lao Công Việt Nam của ông Trần Quốc Bửu, Lực Lượng Thợ Thuyền Việt Nam của ông Bùi Lượng, Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam (ông Cư), để xin những tin tức mới nhất về đình công, về tranh đấu, để viết tin, hay phỏng vấn, hay nếu đang có biểu tình lãn công ở đâu, thì tới chụp hình, lấy thông cáo, tiếp xúc, tìm phản ứng… Công việc này cực kỳ vất vả, khó khăn, không biết hỏi thì không ai nói, họ nói mà mình viết không thành bài, không nêu được sự việc hay vấn đề, thì không phải “bồ tèo”, không gây ra tiếng vang nào.
            May mắn thay, giai đoạn ấy qua mau, chỉ trong vòng chưa đầy một năm, tôi trở thành biên tập viên nhật báo Ngôn Luận, được một cái bàn viết nhỏ trong tòa soạn, đi đâu về ngồi vào bàn mình: trên đó hoặc là có những thiếp mời mình sẽ đi dự rồi về viết bài, hay những tài liệu ông chủ bút hay tổng thư ký muốn mình tùy tiện khai thác. Hay kèm theo lệnh: Đi họp, viết bài, phỏng vấn…
            Nhưng khoảng một năm sau, tức là khoảng 1957, quen rộng trong làng báo, đã được cử đi các chiến dịch ở miền Trung, và sáu tỉnh Nam Kỳ, được mời đi dự và… cộng tác ở mấy tờ báo khác, và cũng chỉ hai năm, tôi trở thành thư ký tòa soạn và tổng thư ký tòa soạn các nhật báo Dân Ta rồi Dân Tiến, sau nữa có thời gian làm quyền chủ nhiệm kiêm quyền chủ bút nhật báo Tiền Tuyến của Cục Tâm Lý Chiến thuộc Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị khi hai ông trung tá chủ nhiệm và thiếu tá chủ bút cùng đi công du Á Châu.
            Thời gian này trở thành hai nhiệm kỳ làm nghĩa vụ quân sự của một thanh niên thời chiến, hết hai nhiệm kỳ sáu năm tôi được giải ngũ năm 1972; được mời làm trưởng tiểu ban bình luận đài Mẹ Việt Nam, một đài phát thanh Việt Ngữ (song song với hai đài Miên Ngữ và Lào Thái) của tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn. Do công việc này, gia đình tôi gồm 10 người đã rời Sài Gòn sáng ngày 21 Tháng Tư, 1975, bay ra Phú Quốc bằng DC. 3 và 11 giờ 30 đêm 29 Tháng Tư lên tàu American Challenger. Ngày 2 Tháng Năm tàu tới Đảo Guam. Ngày 3 Tháng Tám tới bến xe buýt Washington, DC. Nhà thờ bảo trợ gia đình tôi là The Methodist Church tại đường số 9 East, Washington, DC., thủ đô Hoa Kỳ.
            Tôi không rõ sự tài trợ từ Tướng Nguyễn Cao Kỳ cho tờ Nghệ Thuật là bao nhiêu. Chỉ biết dồi dào lúc đầu, nhưng cạn kiệt trong khoảng 15 số, ngay đó Mai Thảo gặp nạn kim đao phải nằm nhà thương của Bác Sĩ Nguyễn Duy Tài – phải giao việc điều hành tờ báo cho tôi.


VIÊN LINH
Tháng 11/2018


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/tuan-bao-van-chuong-dau-tien-in-offset-o-mien-nam/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #154 vào: 14/12/2018, 21:44:27 »
Nhà thờ Đức Bà Paris – “báu vật” kêu cứu

Nhắc tới nước Pháp và kinh đô Paris, không mấy ai không biết đến Nhà thờ Đức Bà Notre-Dame de Paris theo phong cách gothique, một di sản thế giới được UNESCO xếp hạng. Nhà thờ Đức Bà Notre-Dame de Paris cũng đã đi vào lịch sử với nhân vật nàng Esmeralda và thằng gù Quasimodo trong tác phẩm văn học kinh điển Notre-Dame de Paris của đại văn hào Victor Hugo.

Nhà thờ Đức Bà Paris, Notre-Dame de Paris, 02/2013

NOTRE-DAME DE PARIS là một trong những công trình kiến trúc lịch sử mang tính biểu tượng của Kinh Đô Ánh Sáng và cũng là công trình lịch sử được tham quan nhiều nhất châu Âu. Mỗi năm, có 12-14 triệu du khách tới tham quan công trình từng được coi là “báu vật” trong ba thế kỷ XII-XIV. Nhưng sau 850 năm chống chọi với thời gian, mưa nắng và ô nhiễm môi trường, Nhà thờ Đức Bà Paris đã xuống cấp nghiêm trọng.

Tín hiệu S.O.S từ Đức Bà Paris
            Nhiều du khách từng tới thăm Nhà Thờ Đức Bà Paris hay chiêm ngưỡng công trình qua những bức ảnh rất ấn tượng trước tượng những con thú nằm ngang, nhô ra ngoài mái nhà thờ. Các bức tượng thú này có ý nghĩa tượng trưng xua đuổi ma quỷ và răn đe, nhắc nhở con người về địa ngục. Nhưng thực chất, đó là các máng dẫn nước mưa. Miệng con thú chính là miệng ống máng qua đó nước mưa chảy xuống đất. Đầu con thú khá dài, để nước chảy được đủ xa, giúp công trình khô ráo, chắc chắn.
            Thế nhưng, nhiều máng nước hình thú đã nứt vỡ, thậm chí rơi xuống từ mái nhà thờ. Trong một phóng sự, ông André Finot, phụ trách truyền thông của Nhà Thờ Đức Bà Paris, chỉ cho chúng ta thấy: “Như quý vị có thể thấy ở chỗ này, chúng tôi có hai máng nước. Cái thứ nhất đã rơi mất đầu vào một ngày đẹp trời mùa hè. Đầu máng nước ngay bên cạnh cũng đã rơi mất hẳn rồi, và sau đó đã được thay bằng… một ống nhựa PVC”.
            Vào giữa thế kỷ XIX, nhà thờ Đức Bà Paris đã được tu bổ trong suốt 20 năm, từ năm 1844 tới năm 1864 dưới sự chỉ đạo của hai kiến trúc sư Viollet-Leduc và Lassus. Năm 1967, các cửa kính ghép màu ở gian chính nhà thờ đã được thay mới. Trong những năm 1990, mặt ngoài nhà thờ cũng đã được sửa sang, một phần mặt tiền đã được cọ rửa cho sáng màu. Năm 2003, các quả chuông của nhà thờ cũng được thay mới. Thế nhưng, phần còn lại của Notre-Dame de Paris đều đã quá cũ kỹ và tình trạng ngày càng trầm trọng.
            Nhiều bức tường đá bị mủn, vỡ. Nhiều bức tượng sứt mẻ, biến dạng. Hàng lan can bằng đá đã biến mất và phải thay bằng chấn song bao lơn bằng gỗ, nhiều kết cấu bằng đá khác cũng bung ra. Một số cửa ghép kính màu bị vỡ. Nghiêm trọng nhất là các vòm chống có nguy cơ đổ sụp. Một phần nóc cũng đang sập dần…


Chóp nhọn hình mũi tên trên nóc nhà thờ Đức Bà Paris

            Chóp nhọn hình mũi tên trên mái Nhà Thờ Đức Bà cũng cần được thay mới và dự trù tốn tới 10 triệu euro. Chóp nhọn hình mũi tên hiện nay vươn cao 93m, được dựng trong giai đoạn cải tạo hồi giữa thế kỷ XIX (1844-1864), được làm bằng gỗ sồi bọc chì, nặng 750 tấn (500 tấn gỗ sồi và 250 tấn chì), bao quanh là bốn dãy tượng các tông đồ tạc bằng đồng. Bà Marie-Hélène Didier, chuyên gia bảo tồn di sản, cho biết phần vỏ ngoài của chóp nhọn mũi tên đang bị bào mòn, axit trong nước mưa có thể làm hỏng phần khung bên trong.
            Tòa tổng giám mục Paris thông báo trên website là đã tới giai đoạn mà nhà thờ sắp đến lúc không thể trụ được nữa vì kết cấu của công trình không còn ổn định, nhiều tác phẩm điêu khắc trang trí nhà thờ cũng hỏng nát và sắp biến mất vĩnh viễn.
            Mỗi năm Nhà Thờ Đức Bà được nhà nước Pháp cấp 2 triệu euro cho công tác bảo trì, nhưng dự án trùng tu tới đây, hoặc kéo dài 20 năm và tốn 100 triệu euro, hoặc kéo dài đến 30 năm và tốn tới 150 triệu euro. Đại diện ban quản lý nhà thờ cho biết số tiền các nhà hảo tâm đóng góp hàng năm là 5 triệu đô la.
            Theo lời ông André Finot, phụ trách truyền thông của Nhà Thờ Đức Bà Paris, mặc dù “tình hình hiện tại đã rất nguy cấp”, nhưng ban quản lý Nhà Thờ Đức Bà vẫn kiên quyết không thu tiền vé vào cửa của du khách. Cha Patrick Chauvet, quản lý Nhà Thờ Đức Bà, giải thích: “Tôi đặc biệt không muốn các con chiên hay người nước ngoài, khách du lịch, những người không thường lui tới và người không theo đạo Thiên Chúa phải trả tiền vé vào thăm nơi này. Chính vì thế, phải tìm nguồn tài chính từ nơi khác”.

Lòng hảo tâm của người Mỹ
             “Nơi khác” mà cha Patrick Chauvet vừa nhắc tới ở trên chính là nước Mỹ, bên kia bờ Đại Tây Dương. “Chúng tôi có rất nhiều du khách tới từ Mỹ. Họ hỏi chúng tôi liệu họ có thể đóng góp tiền để tu bổ nhà thờ không. Để đáp ứng nguyện vọng của họ, chúng tôi đã thành lập một quỹ tại Mỹ”.
            Quả thật, Nhà Thờ Đức Bà Paris thu hút rất nhiều du khách Mỹ. Một khách tham quan người Mỹ đang chiêm ngưỡng Nhà Thờ Đức Bà từ bên ngoài chia sẻ: “Đây là một trong những biểu tượng lớn nhất của nước Pháp. Chúng tôi đã muốn đến thăm Nhà Thờ Đức Bà Paris từ lâu lắm rồi”.
            Nhiều ngôi sao giải trí lớn của Hoa Kỳ, chẳng hạn như diva nhạc pop Beyoncé và chồng là ca sĩ Jay Z, khi có dịp tới Paris đều không bỏ lỡ cơ hội tới thăm Nhà Thờ Đức Bà Paris. Ngày 13/07/2017, tổng thống Mỹ và đệ nhất phu nhân Melania Trump đã có chuyến thăm chính thức nước Pháp theo lời mời của tân tổng thống Pháp Emmanuel Macron và tham dự lễ diễu binh của binh lính Pháp và Mỹ trên đại lộ Champs-Elysées nhân dịp Quốc Khánh Pháp 14/07 và kỷ niệm 100 năm Mỹ tham gia Thế Chiến Đệ Nhất. Ngay buổi chiều 13/07, đệ phất phu nhân Pháp Brigitte Macron và đệ nhất phu nhân Mỹ Melania Trump đã tới thăm Nhà Thờ Đức Bà Paris.


Nhà thờ Đức Bà Notre-Dame de Paris

            Quỹ Friends of Notre-Dame de Paris (Những Người Bạn Của Nhà Thờ Đức Bà Paris) hướng tới nhóm người Mỹ “có truyền thống quyên góp và rất yêu thích Nhà Thờ Đức Bà Paris”. Qua các bộ phim và nhạc kịch về Nhà Thờ, người dân Mỹ rất yêu thích thằng gù Quasimodo và các nhân vật khác trong tiểu thuyết Nhà Thờ Đức Bà Paris của đại thi hào Victor Hugo. Chính nhờ thế, việc quyên góp tiền tu bổ nhà thờ sẽ thuận lợi hơn rất nhiều. Chiến dịch quyên góp tiền ở Mỹ để cứu Notre-Dame de Paris sẽ chính thức được bắt đầu vào năm 2018. Mục tiêu của quỹ Những Người Bạn Của Nhà Thờ Đức Bà Paris là cùng với quỹ Avenir du Patrimoine de Paris (Tương Lai Di sản Paris) ngay tại nước Pháp quyên được 100 triệu euro.
            Quỹ Tương Lai Di Sản Paris muốn người Pháp ý thức được rằng họ đang sở hữu một di sản hiếm có và nhấn mạnh rằng mặc dù ban đầu, nhà thờ được xây cho các tín đồ Thiên Chúa nhưng giờ đây, Notre-Dame de Paris mở cửa đón chào tất cả mọi người. Nhiều người chia sẻ: “Tôi không theo đạo, nhưng tôi yêu thích nơi này”. Hồi đầu tháng 05/2017, phủ tổng thống Pháp cũng cam kết là Quỹ Tương Lai Di Sản Paris cứ quyên góp được một euro thì nhà nước sẽ hỗ trợ thêm cho Nhà Thờ Đức Bà Paris một euro, nhưng số tiền hỗ trợ thêm tối đa cũng sẽ chỉ là 4 triệu euro/năm.
            Vì thế, muốn cứu Nhà Thờ Đức Bà Paris, công trình kiến trúc lịch sử vốn được coi là một trong những biểu tượng lớn nhất của nước Pháp, giờ không còn con đường nào khác là kêu gọi sự đóng góp của tư nhân, đặc biệt là lòng hảo tâm của người Mỹ.


THÙY DƯƠNG
Tháng 7/2017


http://vi.rfi.fr/phap/20170728-nha-tho-duc-ba-paris-%C2%AB-bau-vat-%C2%BB-keu-cuu

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #155 vào: 18/12/2018, 20:06:21 »
Nguồn gốc của tập tục “trao quà” ngày lễ Giáng sinh

Ngày lễ Noel ở các nước phương Tây là thời khắc quan trọng nhất và được trông đợi nhất trong năm. Trẻ con háo hức trông đợi ông già Noel mang đến các món đồ chơi ưa thích. Người lớn thì trao cho nhau những món quà bất ngờ. Le Monde (19/12/2015) đặt câu hỏi “Vì sao người ta phải tặng quà ngày lễ Noel?” và “Tập tục đó có từ bao giờ?” Theo nghiên cứu của nhiều nhà nhân chủng học, tục lệ trao quà chỉ mới xuất hiện vào thế kỷ XIX, và bắt nguồn từ giới tư sản. Đây cũng là một hình thức thêu dệt mối liên hệ xã hội và gia đình.

Quà Giáng sinh

VÀO NĂM 1946, khi lần đầu tiên ca bản nhạc nổi tiếng “Petit Papa Noel”, ca sĩ Tino Rossi hứa với các em nhỏ nhiều món đồ chơi đẹp (“beaux joujoux”) và hàng triệu món quà cho các gia đình. Ở thời kỳ hậu chiến đầy khó khăn, người ca sĩ ấy có lẽ đã không ngờ rằng có một ngày lời hứa đó sẽ được thực hiện trên cả mọi sự mong đợi.
            Bởi vì, ngày nay, gần đến ngày lễ truyền thống, cơn sốt mua sắm tăng vọt khiến các chuyên gia nghiên cứu về tiêu thụ đôi khi cảm thấy phải chóng mặt. Bất chấp cuộc sống kinh tế khó khăn hơn những năm trước, thất nghiệp tăng cao, kinh tế trì trệ và nhất là cuộc khủng bố đánh vào Paris cách đây hơn một tháng, người dân Pháp vẫn dành ra một khoản ngân sách 350 euro để mua quà Noel cho năm 2015.

“Trao quà Giáng sinh”: một “sáng kiến” của giới tư sản thế kỷ XIX
            Theo giải thích của nhà nghiên cứu nhân chủng-xã hội học, bà Martyne Perrot: “Cùng với bữa tiệc, trao đổi quà tặng đã trở thành một thời khắc quan trọng nhất trong tập tục lễ Giáng sinh. Nhưng trong quá khứ thì không có như vậy: quà Noel là một sáng kiến chỉ mới có từ thế kỷ XIX”.
            Ngày lễ truyền thống Noel, được tổ chức hàng năm vào ngày 25/12, đã có từ xa xưa, từ thời Constantinus Đại đế thế kỷ I, mừng Chúa giáng sinh. Đấy cũng là thời điểm trong năm con người mừng sắp hết mùa đông, sự hồi sinh của thiên nhiên và sự trở về của ánh sáng. Những mùa lễ Noel quay cuồng của thời Trung Cổ chẳng có gì giống với những buổi dạ tiệc trang trọng thời Victoria, với thức uống và các màn vũ hội như mô tả của Charles Dickens. Vào thời ấy, người ta ăn uống và nhảy múa thâu đêm suốt sáng, những trò vui lễ hội mừng ngày đông chí có từ thời La Mã.
            Vào thời kỳ Trung Cổ, quà Noel không hẳn là vắng bóng hoàn toàn. Bởi vì, ngay trong tháng 12 đó, con người vừa mừng lễ Giáng sinh vừa mừng kết thúc những ngày tối nhất trong năm. Họ trao nhau những hạt quả phỉ, các loại bánh và bánh mật. “Đây cũng là thời điểm sung túc nhất ngay giữa mùa đông” theo như nhận xét của nhà nghiên cứu Martyne Perrot.
            Một bản thảo chép tay của nhà tế bần tại Strasbourg năm 1412 còn ghi rất rõ là: “Trong ngày lễ Noel, nên tặng cho mỗi người bị bệnh cùi một hay hai lát bánh mật lớn”. Còn theo mô tả của nhà nghiên cứu nhân chủng học Claude Lévi-Strauss:

             “Vào thời Trung Cổ, không có chuyện trẻ em kiên nhẫn ngồi đợi đồ chơi rớt xuống từ ống khói. Mà trẻ nhỏ thường hóa trang và đi thành từng nhóm, đến gõ cửa từng nhà, hát một bài và có những lời chúc, đổi lại các em sẽ được nhận bánh hay trái cây”.

            Theo Le Monde, phải đợi mãi đến tận thế kỷ XIX, người ta mới có được một “phát minh” thật sự về ngày lễ gia đình này, có ông già Noel, cây thông và những món quà được gói bằng những tờ giấy hoa có đính dải nơ. Bà Martyne Perrot, trong tác phẩm nghiên cứu “Dân tộc học về ngày lễ Noel, một ngày lễ nghịch lý” có kể như sau:

             “Chính nhờ ở tại nước Anh, thời nữ hoàng Victoria, rồi đến Hoa Kỳ, thời Tổng thống Roosevelt, mà chúng ta có hình thức mừng lễ Noel cùng gia đình như ngày nay. Giới tư sản, rất tôn sùng các giá trị gia đình, đồng thời cũng bị thành công kinh tế và xã hội của họ lôi cuốn đã dùng đến hình thức lễ mới này để tôn vinh và tượng trưng những giá trị mới của họ. Giới tư sản đem đến cho ngày lễ này một vị trí đặc biệt trong chuỗi lễ hội hằng năm mà cho đến thời điểm ấy vẫn chưa được biết đến”.

            Làm phước, yêu thương, độ lượng và chia sẻ cũng là những gì nhà văn người Anh Charles Dickens trong câu truyện cổ tích về Noel mang tên là Christmas Carol (tạm dịch là Ca khúc mùa Giáng sinh) đã ca ngợi về một lễ Noel thắm đượm luân lý Kitô giáo và cũng từ đó người ta bắt đầu thực hiện cử chỉ trao đổi quà cho nhau.



Trao quà cũng phải có quy tắc
            Đây cũng là thời khắc mạnh mẽ nhất trong dịp lễ Noel cùng gia đình. Nhưng Le Monde lưu ý là trao quà cũng phải đúng cách. Tập tục trao quà cũng có những quy tắc riêng của nó. Mà bằng chứng là cuốn cẩm nang cách sống của nữ nam tước Staff xuất bản vào năm 1891. Với tựa đề “Những tập tục của thế giới”, tập sách đã trình bày kỹ những quy tắc lề lối của tập tục trao đổi quà.
            Theo đó, khi tặng quà cho người nghèo, nên tặng “một món đồ hữu ích giúp họ tiết kiệm chi tiêu”, cho người giàu là những món “vô ích hay, chí ít, một thứ gì đó mà họ có thể bỏ qua”. Chính vì thế mà, trong những năm 1860, các thương xá lớn như Le Bon Marché, BHV (Bazar de l’Hotel de Ville) hay như Printemps đã nắm bắt được trào lưu đó, đề xuất hàng núi quà cho những ông hoàng “nhí” mới của dịp lễ. Và cũng từ đó mà dần xuất hiện những tủ kính trang trí Noel đầu tiên, vào đầu thế kỷ XX.
            Sở thích sắm quà vì vậy cũng đã lan rộng ra trong giai đoạn giữa hai cuộc đại chiến thế giới, và sau ngày giải phóng. Rồi sự xuất hiện của nhân vật Santa Claus đến từ Hoa Kỳ, sự đăng quang của xã hội tiêu thụ, quà Noel trong suốt “30 năm vàng son” đã ngự trị trong lòng lễ Noel truyền thống.
            Cứ đến gần ngày 25/12, các món quà tràn ngập các gian hàng siêu thị, các trang báo dành cho nữ giới và trong tâm trí của bao đứa trẻ. Trong những năm 1950, tuần san Elle lần đầu tiên có đề cập đến “cơn thủy triều mua sắm Noel dâng cao mỗi ngày”. Ở cùng thời điểm đó, Robert Doisneau và Willy Ronis đã chụp được những đứa trẻ khuôn mặt sáng ngời trước những tủ kính trang trí Noel tại các thương xá lớn lúc bấy giờ.

Vì sao phải trao quà?
            Nhìn về góc độ nhân chủng-xã hội học, các nhà nghiên cứu đều có chung nhận định cho rằng “trao đổi quà là một hiện tượng hoàn toàn mang tính xã hội”, mà ở đó các yếu tố tôn giáo, luân lý, mầu nhiệm và xã hội hòa lẫn vào nhau. Cho để rồi được người khác cho lại đã tạo ra một mối liên hệ giữa người với người bền chặt.
            Đối với nhà nhân chủng-xã hội học, Martyne Perrot, khi thực hiện hành vi trao đổi quà là ta thực hiện một “công việc thêu dệt và duy trì các mối liên hệ gia đình cực kỳ to lớn”. Bà giải thích:

             “Lễ Giáng sinh Noel là một ngày lễ hồi phục lại các mối liên hệ: hằng năm, mỗi người ở vị trí của mình và món quà sẽ tượng trưng cho vị trí đó. Ông bà là người cho quà đầu tiên và trẻ nhỏ được ví như là những thiên thần bé nhỏ. Tập tục về sự qua lại này cho phép chúng ta gắn kết mối liên hệ gia đình.
            Những món quà đó tái xác nhận giá trị mối liên kết đó kết hợp chúng ta với những người thân. Cùng với thời gian, mỗi người chúng ta sẽ phải luân chuyển từ vị trí này sang vị trí khác, xoay vòng thực hiện, ban đầu là từ vị trí trẻ con, rồi là cha mẹ, sau đến ông bà
”.

            Với những tập quán bất di bất dịch đó và lịch trình được áp đặt, Noel trên thực tế giống như là một sân khấu kịch trong con mắt các nhà nghiên cứu nhân chủng học. Một sân khấu ở đó hằng năm đều dàn cảnh các mối liên kết gia đình, như lời giải thích của bà Anne Monjaret, chuyên nghiên cứu về sắc tộc học tại Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia CNRS.


MINH ANH
Tháng 12/2015


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20151222-noel-qt-vh-xh

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #156 vào: 24/12/2018, 19:50:34 »
Nguồn gốc ngày lễ Giáng sinh

Hôm nay, 25/12, hơn một tỷ tín đồ Công giáo trên thế giới mừng lễ Giáng sinh, vì đây được cho là ngày mà Chúa Giêsu Hài đồng đã sinh ra nghèo hèn trong máng cỏ hang lừa ở Bêlem, xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại. Nhưng có lẻ ít ai biết đến nguồn gốc của lễ Giáng sinh, hay đúng hơn là ít ai biết ngày lễ này có từ bao giờ.


TRƯỚC KHI nói về nguồn gốc của lễ Giáng sinh, thì chúng ta hãy thử giải đáp câu hỏi: Chúa Giêsu thật ra đã sinh ra vào ngày nào? Hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu, kể cả Giáo hoàng Benedicto XVI, đã xác định thật ra Đấng Cứu Thế không phải là đã sinh ngày 25/12 cách đây 2014 năm.

Chúa Giêsu sinh ngày nào?
            Đọc lại các sách Phúc Âm thì ta sẽ thấy là kinh thánh không hề đưa ra ngày sinh cụ thể nào, thậm chí không nói rõ là Chúa Hài đồng đã mở mắt chào đời vào mùa nào. Phúc âm theo Thánh Máccô và Phúc âm theo Thánh Gioan không hề đề cập đến sự kiện này, còn Phúc âm theo thánh Mátthêu chỉ nói là Chúa sinh ra “vào thời Vua Hêrôđê”. Theo lịch sử, Vua Hêrôđê trị vì hơn 30 năm, từ năm 37 đến năm 4 trước Công Nguyên.
            Còn theo Phúc âm thánh Luca, Mẹ Maria, lúc ấy đang mang thai, phải đi đến Bêlem, nơi mà Giuse chồng bà phải có mặt để được kiểm tra dân số “trong khắp cả thiên hạ”, theo lệnh của Hoàng đế Augúttô, được thực hiện thời ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria.
            Nhưng làm sao Chúa Giêsu có thể sinh ra vào thời Vua Hêrôđê, chết vào năm 4 trước CN, mà lại có thể được kiểm tra dân số dưới thời “ông Quiriniô làm tổng trấn xứ Xyria”, vào năm 6 sau CN, tức là 10 năm sau? Như vậy, theo Thánh Luca, Chúa Giêsu sinh ra vào thời điểm mà theo thánh Mátthêu lẽ ra Ngài đã được 10 tuổi.
            Cũng theo Phúc âm theo Thánh Luca, khi Ðức Giêsu khởi sự rao giảng, “Người trạc ba mươi tuổi”, vào một thời điểm được xác định là cuối năm 27 hoặc đầu năm 28 sau CN.
            Cho đến khoảng năm 200 sau Công nguyên, mới có một nhà thần học nêu lên các giả thuyết về ngày sinh của Chúa, đó là các tháng 3, tháng 4 hoặc tháng 5, nhưng không hề có ai nói đến ngày 25/12.
            Trong một thời gian dài, Ngày Chúa Giáng Sinh được ghi lúc này lúc khác. Tổ phụ Clément d’Alexandrie đề nghị mừng lễ Noel ngày 19/4, nhưng cũng có nhiều người chủ trương ngày 18/4 hoặc 24/3 hoặc 29/5. Nhân đây cũng xin nói rằng các Giáo hội Phương Đông mừng Chúa ra đời ngày 6/1.
            Bây giờ chính Cựu Giáo hoàng Benedicto XVI, nguyên là một giáo sư thần học, cũng nhìn nhận rằng Chúa Giêsu không phải hạ sinh ngày 25/12. Trong cuốn sách thứ ba viết về cuộc đời của Chúa Giêsu, xuất bản năm 2012, Ngài đã nêu ra những sai lầm trong việc xác định ngày và năm sinh của Đấng Cứu Thế và theo Giáo hoàng Benedicto XVI, đúng hơn là Chúa Giêsu đã xuống thế làm người từ cách đó 6 hoặc 7 năm, chứ không phải cách đây 2014 năm.

Vì sao chọn ngày 25/12?
            Xem lại lịch sử tôn giáo ta sẽ thấy là thật ra đến thế kỷ thứ 4, Giáo hội mới chính thức ấn định ngày sinh của Chúa Hài đồng. Cụ thể là sau nhiều tranh cãi gay gắt, mãi đến cuối triều đại Hoàng đế Constantin (qua đời năm 337), Giáo hội Công giáo La Mã mới dứt khoát chọn ngày 25/12 là ngày Chúa Giáng sinh, thay thế cho ngày lễ thần Mặt trời, Mythra, của dân La Mã thời Cổ Đại.
            Giải thích thường được đưa ra nhất đó là Giáo hội muốn ngày lễ Giáng sinh trùng với một những ngày lễ đã có của những người thờ đa thần thời ấy, mà những ngày lễ thường tập trung vào mùa Đông. Mục đích là để thúc đẩy sự bành trướng của Thiên Chúa giáo thuở ban đầu. Nhưng một số nhà sử học thì vẫn bác bỏ giải thích ấy, cho rằng nó không có cơ sở lịch sử.
            Dầu sao thì ngày Chúa Giáng sinh là khởi đầu của Công nguyên, lịch mà nay được áp dụng ở tuyệt đại đa số quốc gia trên thế giới, là dấu mốc để các nhà sử học xác định thời điểm của các sự kiện (trước Công nguyên hay sau Công nguyên). Và cho dù Chúa Giêsu có sinh ra trước Công nguyên vài năm hay vài chục năm thì bây giờ cũng chẳng có ai nghĩ đến chuyện sửa lại Dương lịch.



Truyền thống hang đá có từ bao giờ?
            Ngoài truyền thuyết ông già Noel phát quà cho trẻ con, gắn liền với ngày Lễ Giáng sinh là truyền thống làm hang đá. Nhưng truyền thống này có tự bao giờ? Cho tới nay chưa có câu trả lời chắc chắn, nhưng theo truyền thuyết thì người “sáng chế” ra hang đá Noel chính là thánh Phanxicô thành Sissi bên Ý (1181-1226).
            Thánh Phanxicô thành Sissi dường như đã dựng hang đá đầu tiên vào năm 1233, tại nhà thờ của Ngài nằm trong một động ở Grecchio, Ý, và có lẽ vì không có thời giờ đúc tượng, cho nên thánh Phanxicô đã giao cho các dân làng “thủ vai chính” của ngày Giáng sinh (Chúa Giêsu Hài đồng, thánh cả Giuse, Đức mẹ Maria, Ba vua, mục đồng, nông dân). Các con thú như bò, lừa… cũng là những con thú thật.
            Dần dần truyền thống làm hang đá được phổ biến sang những nơi khác và những nhân vật bằng xương, bằng thịt cũng dần dần được thay thế bởi các tượng làm bằng sáp, bằng đất nung, bằng sứ, hay bằng thạch cao.
            Những hang đá đầu tiên có hình dạng gần giống như hiện nay chỉ xuất hiện vào khoảng thế kỷ 16 trong các nhà thờ. Chính các tu sĩ dòng Tên là những người đã làm ra các hang đá đầu tiên dưới dạng thu nhỏ.
            Mãi đến thế kỷ 17, truyền thống làm hang đá trong gia đình mới xuất hiện và dần dần được phổ biến rộng rãi trong thế kỷ kế tiếp, nhất là trong các gia đình quý tộc vùng Napoli, Ý. Tại Pháp, do Cách mạng cấm dựng hang đá nơi công cộng, nên truyền thống hang đá gia đình càng phát triển mạnh.
            Ở vùng Provence thời đó, người dân làm các hang đá rất thô sơ, chứ không tinh tế như của giới quý tộc vùng Napoli. Nhưng hang đá vùng Provence độc đáo ở chỗ là người dân địa phương dùng đất đúc những tượng thánh tượng trưng cho các nghề truyền thống, để trong hang đá như một hình thức dâng cúng những thành quả lao động khó nhọc của họ cho Chúa Giêsu Hài đồng.
            Từ đó đến nay, hang đá Giáng sinh được dựng lên tùy theo tập tục của mỗi quốc gia và mỗi vùng. Nhưng dù có dáng vẻ thế nào thì hang đá vẫn mang lại cho chúng ta một cái gì đó vừa thiêng liêng, vừa ấm cúng, khiến tâm hồn chúng ta trở nên thanh thản hơn trong những ngày cuối năm.


THANH PHƯƠNG
Tháng 12/2014


http://vi.rfi.fr/xa-hoi/20141225-nguon-goc-ngay-le-giang-sinh
http://vi.rfi.fr/quoc-te/20141225-truyen-thong-hang-da-co-tu-bao-gio

 

Ngủ rồi wind99

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #157 vào: 24/12/2018, 19:58:20 »
Liên quan đến Công nguyên. Trước có nghe ô thầy bảo theo lịch có giai đoạn trước Công nguyên (Before Christ) thì cần có giai đoạn Công nguyên (là hiện tại bây giờ), rồi mới có giai đoạn sau Công nguyên (Anno Domini). Chẳng rõ nói thế đúng hay sai nữa. :D
The way to learn is to forget
 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi lenhale

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #158 vào: 24/12/2018, 20:16:19 »
Liên quan đến Công nguyên. Trước có nghe ô thầy bảo theo lịch có giai đoạn trước Công nguyên (Before Christ) thì cần có giai đoạn Công nguyên (là hiện tại bây giờ), rồi mới có giai đoạn sau Công nguyên (Anno Domini). Chẳng rõ nói thế đúng hay sai nữa. :D
Kiểu như trục số mà không có số 0 ấy nhỉ :)
VCB: 0601000453503
CTK: Lê Đức Dũng
ĐT: 0918280119
 
The following users thanked this post: wind99

Ngủ rồi Nguyên Thánh

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #159 vào: 25/12/2018, 15:32:52 »
"hậu hiện đại" là sau hiện đại đấy =))
Văn phi sơn thủy vô kỳ khí,
Nhân bất phong sương vị lão tài.
 
The following users thanked this post: lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #160 vào: 01/01/2019, 12:33:24 »
Hành trình âm nhạc của tài hoa Hoàng Trọng

Ðược biết, ngay sau khi người nhạc sĩ tài hoa Hoàng Trọng từ trần, truyền thông, báo chí ở quê người đã có rất nhiều bài viết về ông, với tất cả trân trọng và, thương quý.

Ban Hoàng Trọng, đài phát thanh Sài Gòn năm 1958.
Từ trái: Nghiêm Phú Phi, Ðan Thọ, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Xuân Tiên,
Hoàng Vinh, Hoàng An. Phía sau: Hoàng Lang, Vũ Chấn. (Hình: DienDanHaiDuong.com)


TRONG SỐ NHỮNG cảm nghĩ, ghi nhận ấy, có bài viết của một người trong giới và, cũng là giáo sư dương cầm, nữ ca sĩ Quỳnh Giao. Bài viết nhan đề “Hoàng Trọng: Người Nhạc Sĩ Chân Thành” đề Tháng Bảy năm 1998 – Ghi lại những kỷ niệm với cố nhạc sĩ Hoàng Trọng, khi tác giả còn rất nhỏ, được tham gia trong chương trình “Tiếng Tơ Ðồng” của họ Hoàng, trên đài phát thanh Saigon, trước 1975:

            “Người nhạc trưởng đang điều khiển dàn nhạc. Hai hàng lệ làm nhòe mắt ông khiến ông không nhìn rõ được dòng nhạc. Nhưng ông có cần nhìn rõ đâu, bởi nó – dòng nhạc – có trong ông đã lâu lắm rồi, nó là xương là máu của ông mà!… Những người nhạc sĩ đang cắm cúi đàn, đều là những người đã làm việc với ông từ hơn hai thập niên trước, có người là bạn của ông từ nửa thế kỷ qua. Người ngồi dương cầm là nhạc sư Nghiêm Phú Phi, cộng tác với Hoàng Trọng từ bao lâu rồi nhỉ, có lẽ là từ khi mới du học bên Pháp về, vào đầu thập niên 50. Nơi hàng ghế đầu của dàn violons có Ðan Thọ, bạn của ông từ ngày ở ngoài Bắc, trong ban nhạc Bảo An, người đã trình tấu những đoạn ad-lib có phong điệu tzigane bất hủ cho nhưng bài tango trác tuyệt của Hoàng Trọng. Tiếng đàn Ðan Thọ vẫn như xưa: lả lướt mềm mại, nhưng khuôn mặt ông, cũng như của nhạc sĩ Hoàng Trọng, đã đầy nếp nhăn (…).
            “Hai người ca sĩ nhìn về phía khán giả, tức là quay lưng về phía dàn nhạc đang trình bày song ca bản Lạnh Lùng, bài hát ông viết từ mùa Ðông 1946. Ðó là bài song ca ông soạn cho một nam và một nữ. Người nữ ca sĩ đang hát, nhìn về phía khán giả, nhưng không nhìn thấy gì trước mắt cả, mà chỉ thấy lại khung cảnh cũ, đã mấy chục năm qua. Nàng thấy lại phòng thu thanh nóng bức, đầy khói thuốc lá. Nàng nghe lại tiếng cười nói vui nhộn và thân mật của những người ca sĩ xung quanh, mà nàng gọi họ bằng cô, bằng chú. Ngày ấy nàng mới 16, 17 thôi. Cô bé vừa chạy thục mạng gọi xích lô đến đài cho kịp giờ thu, trên áo dài trắng còn mang huy hiệu trường Gia Long. Cuốn sách nhạc nàng viết tay những bài hát mình yêu thích còn nằm trong cặp, để trên bàn (…).
            “… ngay trang đầu tiên của tập nhạc là bài hát do người trưởng ban đề tặng: “Tặng cháu bài chú viết từ mùa Ðông năm cháu vừa chào đời”. Nàng thích làm sao lời đề tặng! Vì nó cho thấy rõ sự ý nhị kín đáo mà lại đầy tình cảm của ông. Ông mà đề năm 1946, thì cũng thường thôi, có phải không? Bài hát đó mang tên Lạnh Lùng (…).
             “Không cần phải kể thêm, chắc độc giả đã đoán cô học trò đó chính là kẻ viết bài này…”
(Quỳnh Giao, Theo dactrung.com)

            Dù vậy, đối với quần chúng thưởng ngoạn, có thể có nhiều người không biết gì về nhân thân của tác giả “Lạnh Lùng”, cũng như nhiều người không hề biết một số ca khúc họ từng yêu thích, là của nhạc sĩ Hoàng Trọng.
            Theo trang mạng Wikipedia-Tiếng Việt thì, nhạc sĩ Hoàng Trọng, người được mệnh danh là “Ông Hoàng Tango Việt Nam”, tên thật là Hoàng Trung Trọng. Ông sinh năm 1922 tại tỉnh Hải Dương, Bắc phần. Năm 1927, khi lên 5, gia đình ông chuyển về sống tại thành phố Nam Ðịnh, một nơi chốn được coi là chiếc nôi lớn của văn học, nghệ thuật miền Bắc.
            Năm 11 tuổi, cố nhạc sĩ Hoàng Trọng đã được học về âm nhạc từ người anh trai tên là Hoàng Trung Quý. Bốn năm sau tức năm 1937, ông được học âm nhạc tại trường Thầy Dòng Saint Thomas Nam Ðịnh…
            Về lãnh vực sáng tác ca khúc, vẫn theo tài liệu của Wikipedia thì, năm 1938, khi mới 16 tuổi, cố nhạc sĩ Hoàng Trọng đã có ca khúc đầu tay, nhan đề “Tiếng Ðàn Ai”. Ca khúc này còn được biết dưới hai tên khác nhau nữa là “Ðêm Trăng” hay “Ðêm Trăng Sáng”. Một số sáng tác kế tiếp của họ Hoàng, viết theo thể điệu Tango cũng được dư luận những người cùng giới đánh giá cao.
            Khi chiến tranh xẩy ra, cố nhạc sĩ Hoàng Trọng di chuyển khỏi Nam Ðịnh. Ông đi qua nhiều nơi trước khi chọn định cư tại Hà Nội. Ðó là năm 1947. Thời gian này, ông sáng tác ca khúc “Phút Chia Ly”, một nhạc phẩm tango giá trị, do nhạc sĩ Nguyễn Túc, bạn ông đặt lời. Cũng trong thời gian ở Hà Nội, nhạc sĩ Hoàng Trọng đã sớm có liên hệ tốt đẹp với những ca, nhạc sĩ của đài phát thanh như: Mộc Lan, Minh Diệu, Mạnh Phát, Châu Kỳ… Nhờ đó các nhạc phẩm của ông được phổ biến.
            Những năm đầu thập niên (19)50, họ Hoàng có nhiều sáng tác rất mau chóng trở thành nổi tiếng, được phổ biến cùng khắp… Ðó là những ca khúc: “Gió Mùa Xuân Tới”, “Nhạc Sầu Tương Tư”, “Dừng bước giang hồ”…
            Năm 1954 nhạc sĩ Hoàng Trọng di cư vào miền Nam. Tại Saigon, ông thành lập những ban nhạc trình diễn trên các đài phát thanh và truyền hình như đài phát thanh Saigon. Ðài Quân Ðội. Ðài Tiếng Nói Tự Do và Ðài Truyền Hình Việt Nam.
            Những năm tháng ở Saigon của nhạc sĩ Hoàng Trọng được ghi nhận là khoảng thời gian mà, sức sáng tác của ông sung mãn nhất. Rất nhiều ca khúc giá trị, nổi tiếng mang tên Hoàng Trọng, ra đời trong thời điểm này. Trong số đó, có những ca khúc tới hôm nay, vẫn còn được nhiều ca sĩ chọn để trình bày… Có thể kể như các ca khúc: Ngàn Thu Áo Tím, Hai Phương Trời Cách Biệt, Tìm Một Ánh Sao, Lạnh Lùng, Bạn Lòng, Mộng Lành, Nhạc Sầu Tương Tư, Gió Mùa Xuân Tới, Dừng Bước Giang Hồ, Người Tình Không Chân Dung, v.v…
            Thời gian từ tới 1975, nhạc sĩ Hoàng Trọng cũng được nhiều hãng phim mời ông viết nhạc cho phim của họ. Những ca khúc nổi tiếng của họ Hoàng ở lãnh vực này, có thể kể như “Xin nhận nơi này làm quê hương”, “Người tình không chân dung”… Riêng ca khúc ông viết cho phim “Triệu Phú Bất Ðắc Dĩ”, đã được trao giải Văn Học Nghệ Thuật 1972-1973.
            Từ 1975 tới 1991, nhạc sĩ Hoàng Trọng bị kẹt lại ở Saigon. Ðây là khoảng thời gian chẳng những ông sáng tác rất ít mà, cũng không cho phổ biến một ca khúc nào. Bản nhạc cuối cùng của họ Hoàng ở thời điểm này là ca khúc “Chiều Rơi Ðó Em”. Năm 1992, nhạc sĩ Hoàng Trọng cùng gia đình được định cư tại Hoa Kỳ.
            Ông qua đời ngày 16 Tháng Bảy năm 1998 tại miền Bắc tiểu bang California, hưởng thọ 76 tuổi.


DU TỬ LÊ
Tháng 04/2013


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Hanh-trinh-am-nhac-cua-tai-hoa-Hoang-Trong-5801/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #161 vào: 05/01/2019, 22:31:40 »
Tết Tây nói chuyện ngày đầu năm

Hôm nay là ngày 01/01, ngày Tết Dương lịch, hay còn được gọi là Tết Tây, để phân biệt với Tết Âm lịch hay Tết Ta. Nhưng từ khi nào mà thế giới mới chọn ngày 01/01 là ngày đầu năm?

Khu trung tâm Matxcơva trang hoàng lộng lẫy để đón chào năm mới

TỪ NĂM 46 TRƯỚC CÔNG NGUYÊN, hoàng đế La Mã Julius Caesar đã quyết định ngày 1 tháng 1 là ngày đầu năm. Thời đó, người La Mã dành ngày này cho thần Janus. Trong tôn giáo và thần thoại La Mã, Janus là vị thần của sự khởi đầu và quá trình chuyển đổi, và do đó là của các cổng, cửa, ô cửa, lối đi… Thần Janus thường được mô tả là có hai khuôn mặt, một nhìn tới tương lai và một nhìn về quá khứ. Đó cũng chính là điều mà chúng ta vẫn làm vào đêm giao thừa: vừa nhìn lại một năm đã qua, vừa hướng về năm mới. Tên của tháng Giêng (tiếng Pháp là Janvier, tiếng Anh là January) là xuất phát từ chữ Janus.
            Sau nhiều thế kỷ thay đổi liên tục, mãi đến năm 1622, ngày đầu năm mới được ấn định trở lại là ngày 01/01. Giáo hoàng thời đó đã quyết định như vậy chẳng qua là để cho việc xếp lịch các ngày lễ tôn giáo được đơn giản hơn.

Nhưng tùy theo từng nước, lịch sử của ngày đầu năm chắc là rắc rối hơn nhiều, đâu có đơn giản như thế?
            Đúng vậy, theo các nhà sử học thì những người đầu tiên ăn mừng năm mới là dân vùng Babylone vào khoảng thời gian năm 4000 trước Công Nguyên. Cụ thể là vào cuối tháng 3, họ tổ chức các lễ hội và các nghi thức thanh tẩy, kéo dài tổng cộng đến 10 ngày, để tôn vinh thần Mardouk, thần bảo vệ mùa màng. Vào thời cổ đại, Mặt trời là vị thần tối thượng, nên các lễ hội mừng năm mới thường là nhằm tôn vinh vị thần này. Người Ba Tư thì đã bắt đầu mừng năm mới từ năm 3000 trước Công Nguyên. Tết của họ có tên là Norouz, có nghĩa là “Ngày mới”. Thật ra đây là một ngày lễ tôn giáo.
            Đến thời Ai Cập cổ đại, ngày đầu năm là ngày đầu tiên của tháng đầu tiên của mùa lũ sông Nil, khi nước sông Nil tràn ngập các cánh đồng. Đây là một ngày biểu tượng của sự đổi mới tốt đẹp, vì nước lũ sông Nil mang phù sa mầu mỡ cho mùa màng, tức là đóng vai trò tối quan trọng đối với nền nông nghiệp nước này. Dĩ nhiên là vì dựa vào mùa lũ sông Nil, cho nên không có ngày đầu năm nào là cố định cả. Vào thời đó, ngày đầu năm cũng là dịp để người ta cúng các vật phẩm cho người quá cố và cho các vị thần, nhất là thần Rê, thần Mặt Trời, vị thần mà người ta cho là sinh đúng vào ngày đầu năm.
            Còn tại Pháp, mãi đến năm 1564, theo quyết định của vua Charles IX, ngày đầu năm mới được chọn là ngày 01/01. Còn trước đó, ngày đầu năm là cả một mớ bòng bong, mỗi sắc dân, mỗi Giáo hội, mỗi thời, mỗi xứ chọn một ngày khác nhau. Vào thế kỷ 6 và 7, tại nhiều tỉnh của Pháp, người dân ăn Tết vào ngày 01/03. Thế nhưng, sang đến thời vua Charlemagne, ngày khởi đầu của năm lại là ngày Noel 25/12, rồi sang đến thời các vị vua dòng dõi Capériens (Kapetinger), năm mới lại bắt đầu vào… ngày Lễ Phục Sinh!
            Trong khi đó tại Ý, với sự ra đời của nền Cộng Hòa, người La Mã có thói quen phân biệt các năm dựa theo tên của các vị quan chấp chính (consul), vì nhiệm kỳ của các vị quan này là một năm. Vào năm 153 trước Công Nguyên, ngày nhậm chức của các quan chấp chính, trước đó được ấn định là ngày 01/03, được chuyển thành ngày 01/01. Thành ra vào năm 45 trước Công Nguyên, khi Julius Caesar bắt đầu nhiệm kỳ thứ tư, ông mới quyết định giữ luôn ngày 01/01 là ngày đầu năm và từ đó hình thành lịch Julius. Lịch này được duy trì cho đến tận thế kỷ 20 ở một số quốc gia và hiện vẫn còn được một số nhà thờ Chính thống giáo Nga và Serbia sử dụng.
            Ở nước Nga, lịch sử của ngày đầu năm cũng rắc rối không kém. Người Nga thời cổ xưa ăn Tết suốt từ ngày 25/12 đến ngày 6/1. Đến khi đạo Thiên Chúa được du nhập vào Nga vào năm 988, nước này mới ăn Tết theo lịch Julius, nhưng chọn ngày đầu năm là 01/03. Rồi đến khoảng cuối thế kỷ 14, Giáo hội Chính Thống Giáo Nga dời ngày Tết từ tháng 3 sang… tháng 9. Nước Nga chỉ ăn Tết vào tháng Giêng kể từ năm 1699, vì Sa hoàng Piotr Đại đế muốn theo lịch của châu Âu. Nhưng lúc đó châu Âu đã chuyển từ lịch Julius sang lịch Gregorius (lịch do Giáo hoàng Gregorio XIII đưa ra từ năm 1852 để sửa chữa những sai lệch của lịch Julius). Cho nên, nước Nga ăn Tết trễ hơn khoảng 2 tuần so với châu Âu. Chỉ đến năm 1919, nước Nga mới dứt khoát theo lịch mới của châu Âu. Nhưng ngày nay, một số dân Nga vẫn ăn Tết hai lần: ngày 01/01 và 13 ngày sau đó.

Ngày Giao thừa theo Dương lịch thường được gọi là ngày Saint-Sylvestre (tiếng Anh là Saint Sylvester). Nhưng Thánh Sylvestre là ai?
            Thánh Sylvestre, tức là giáo hoàng Sylvestrô I, là vị giáo hoàng thứ 33 của giáo hội Công giáo. Năm sinh của ông không được xác định, nhưng người ta biết là ông mất vào ngày 31 tháng 12 năm 335 và ngày 31/12 cũng là lễ Thánh Sylvestrô. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định triều đại của ông kéo dài từ ngày 31 tháng 1 năm 314 đến ngày 31 tháng 12 năm 335.
            Trong thời giáo hoàng Sylvestrô I, các vương cung thánh đường như Ðền Thánh Gioan Lateran, Ðền Thánh Phêrô trên đồi Vatican, thánh đường Santa Croce ở Jesusalem đã được xây dựng. Trước đây có văn bản viết rằng hoàng đế Constantinius đã trao thế quyền cho giáo hoàng Sylvestrô I, nhưng sau này Giáo hội Công Giáo nhìn nhận văn bản này không có thật. Một điều chắc chắn: chính là dưới thời giáo hoàng Sylvestrô I, mà quyền của Giáo hội được thết lập trên toàn đế quốc La Mã.
            Có một truyền thuyết cho rằng Constantinus đã bị một bệnh hủi không thể chữa khỏi và chính khi giáo hoàng Sylvestrô I rửa tội ông bằng cách dìm vào trong một bể bơi mà ông đã được chữa khỏi bệnh hủi và vị hoàng đế này hiểu rằng ông phải bảo vệ đức tin Kytô giáo. Sylvestrô I là một trong những vị giáo hoàng đầu tiên được phong thánh mà không tử vì đạo.

Vào ngày đầu năm thì người ta thường gởi thiệp chúc mừng năm mới cho nhau. Vậy tục lệ này có từ bao giờ?
            Theo các nhà nghiên cứu thì thiệp chúc mừng năm mới có nguồn gốc từ vùng Viễn Đông. Thời xưa, người ta dùng những tờ giấy lớn làm từ gạo để làm thiệp chúc mừng năm mới và kích thước của tờ thiệp này tùy thuộc vào tầm quan trọng của người nhận thiệp.
            Tục lệ gởi thiệp mừng năm mới xuất hiện khá trễ tại Pháp. Cho tới tận thế kỷ 17, người ta vẫn đến tận nơi để chúc Tết nhau. Nhưng đường xá xa xôi, đi lại khó khăn, làm sao mà đi chúc Tết hết mọi người được? Thấy vậy, một số người mới lập ra những dịch vụ. Tức là trả cho họ một món tiền nhỏ, họ sẽ cử một ông, áo quần bảnh bao, mặt mày nghiêm chỉnh, thay mặt ta đến tận nhà để chuyển lời chúc Tết, và nếu chủ vắng nhà thì ghi tên người gởi lên cửa. Dần dần những ông “áo quần bảnh bao” này mới được thay thế bằng thiệp chúc Tết như ngày nay.

Đầu năm thì người ta thường hạ quyết tâm là năm nay sẽ bỏ thuốc lá, bớt uống rượu, ăn kiêng, sẽ chú tâm học hành… Nhưng nguồn gốc thói quen này là từ đâu?
            Cũng chính là dân thành Babylone thời cổ đại là những người đầu tiên đưa ra những cam kết đầu năm. Sau đó, dân La Mã bắt chước theo, đưa ra những lời hứa với thần Janus. Và truyền thống này kéo dài cho đến ngày nay.

Nếu tìm hiểu thì ta sẽ thấy là tại một số nước vào ngày đầu năm, người ta cũng có những tục lệ tương tự như ở Việt Nam vào ngày Tết Ta. Cụ thể đó là những tục lệ nào?
            Chẳng hạn tại vùng Savoie của Pháp, vào ngày Tết Tây và trong những ngày tháng Giêng, người ta cũng “lì xì” bánh kẹo và tiền cho trẻ em mỗi khi đi chúc Tết những người trong gia đình. Ngày đầu năm người ta cũng đi chúc Tết bạn bè. Cũng chính vào những ngày này mà người chủ cũng lì xì tiền cho người làm, cho người gác dan để thưởng công cho họ đã làm lụng vất vả cả năm.
            Ở Việt Nam vào những ngày Tết, dù có nghèo cách mấy thì người ta cũng ăn uống “linh đình” với những món truyền thống như thịt kho, bánh chưng, dưa hành, với một niềm ước mong là quanh năm suốt tháng lương thực lúc nào cũng sung túc như vậy. Ở Ý cũng thế, vào ngày Tết Tây, người ta cũng ăn những món đặc biệt, được cho là sẽ mang lại sự giàu có, sung túc, đó là những món được làm bằng các hạt ngũ cốc hoặc những cái bánh mà bên ngoài có phủ mật ong.
            Ở Việt Nam, trước khi có lệnh cấm, có phong tục đốt pháo trong những ngày Tết. Hà Lan cũng vậy, vào ngày 31/12, người ta đốt pháo bông từ sáng sớm đến tận đêm khuya. Đây là ngày duy nhất mà người dân được phép đốt pháo bông thoải mái và pháo bông chỉ được bán trong 3 ngày trước đó.
            Cũng giống như ở Việt Nam, tại vùng Canada thuộc Pháp, người dân cũng ăn Tết Tây trong gia đình, những người cùng gia đình, dòng họ tập hợp lại trong những căn nhà cũ của gia đình để đón năm mới.
            Người Việt Nam trước ngày Tết bằng mọi giá phải trả hết nợ nần, nếu không thì xui xẻo cả năm. Người Ba Lan cũng vậy. Trước ngày 31/12, họ cũng cố thanh toán hết các món nợ.
            Còn dân Nhật thì không ăn Tết Âm lịch mà chỉ ăn Tết Dương lịch và họ cũng giống như Việt Nam, năm hết Tết đến phải lo trả hết nợ nần và giải quyết hết những việc tồn động trong năm.

Người Tây phương cũng mê tín không thua gì dân Việt Nam, nhất là trong ngày Tết Tây?
            Người Tây phương tin rằng khi chuông đồng hồ gõ 12 tiếng thì phải rất cẩn thận với cái “đầu tiên”: Vào thời điểm đó thì phải cố tỏ ra vui vẻ (để suốt năm lúc nào cũng vui vẻ), và nhất là đừng nói gở. Trong cuốn “Sách về những điều mê tín”, tác giả Eloise Mozzani cảnh báo rằng để năm mới được tốt đẹp, người đầu tiên nên gặp là một người khác phái (Trong khi Việt Nam thì rất sợ ra ngõ gặp gái!) Nhưng ngược lại, nếu “bị” một bà chúc năm mới thì xui cả năm! Cũng vậy, nếu ra đường mà gặp ngay người đầu tiên là một kẻ thù của gia đình thì năm đó coi như tiêu tùng!


THANH PHƯƠNG
Tháng 01/2019


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20180101-tet-tay-noi-chuyen-ngay-dau-nam

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #162 vào: 10/01/2019, 20:22:53 »
Sài Gòn trong thơ văn

Rất tự nhiên mà thôi thúc, mấy câu thơ lục bát xa xăm bỗng hiện lên trong tâm tưởng một buổi chiều có chút hơi nước thổi về, như tự một cơn mưa xa, như tự một luồng sóng gần, khiến tôi nhớ tới thành phố thân yêu một thuở.

Kinh rạch miền Tây. (Hình: Trần Cao Linh)

                        “Ngồi đây trong quán Sài Gòn
                        Lòng không muốn ở, chân còn chưa đi.
                        Giữa đời tôi kẻ phân ly
                        Dửng dưng lúc được, ù lỳ hồi thua.

                        Ngồi đây đối cảnh tiêu sơ
                        Quỷ tôi về đỉnh nhà thờ đầu thai
                        Kiếp tôi lướt thướt hình hài
                        Da căng thập tự, xương mài mộ bia.

                        Xa em, chuông gióng tin về
                        Ầm vang biển nhớ lê thê phố sầu.
                        Xa em, để tóc nuôi râu
                        Làm chim xếp cánh trong lầu mộng hư…

                        (Viên Linh, Ngồi Quán; Hóa Thân, 1964)

            Bài thơ này làm trong một lúc xa Sài Gòn, nhưng nhớ lúc ngồi quán ở Sài Gòn. Hay cũng có thể hiểu còn đang ngồi trong quán ở Sài Gòn mà đã nghĩ tới lúc xa Sài Gòn thì nó như thế! May thay bài thơ có ghi ở dưới: 1969-1970, thời gian ấy tôi vừa tình nguyện nhập ngũ, nhưng khi nhập ngũ đã biết mình chỉ phải xa Sài Gòn một thời gian ngắn, chỉ đủ để thụ huấn quân sự cho phải phép rồi về lại trở về Sài Gòn để tiếp tục phục vụ cho trọn vẹn ba năm nghĩa vụ quân sự của một thanh niên thời chiến. Nói thế thôi, thời gian ấy đã nhân lên gấp đôi, hơn gấp đôi, là bảy năm.
            Mỗi người yêu thủ đô một cách, tôi yêu Sài Gòn cách nào mà hôm sinh nhật ngoài 30, sau gần 20 năm ở Sài Gòn, tôi thấy mình già cỗi:

                       “Hôm nay năm tận, Sài Gòn
                        Tôi nghe khiếp hãi tâm hồn già nua.
                        Giật mình con quỷ ban trưa
                        Tiếc mùa hoan lạc còn chưa đủ hời”

                        (Như thế là chưa yêu Sài Gòn hết cỡ, yêu còn thiếu, còn ít)

                       “Hôm nay trời đất có tôi
                        Trên ba mươi tuổi làm người lãng quên
                        Xuân hồng, một góc thiếu niên
                        Năm năm mê mải những miền hoài nghi.

                        Trên ba mươi tuổi ù lỳ
                        Đêm về kéo cửa ngày đi kiếm mình
                        Cảnh đời một cõi u minh
                        Cảnh tôi thấp thoáng bóng hình những ai?”


            Như thế là đang mất mình, hay sắp mất mình trong một Sài Gòn u minh, thấy niềm tin mình hao hụt và dường như cho rằng mình chưa yêu Sài Gòn cho thật xác đáng lẽ yêu và sự yêu:

                       “U mê hết tháng năm dài
                        Chân trong lối kiệt, hồn ngoài bến không
                        Hôm nay năm tận, bàng hoàng
                        Giục thêm tiệc rượu nhồm nhoàm đĩa vơi.

                        Nhìn ra cảnh cỗi, riêng tôi
                        Trong hiên viễn phố thấy đời buồn lây”

                        (Viên Linh, Sinh Nhật: Thủy Mộ Quan, 1982)

            Yêu Sài Gòn đến mấy đi nữa trong cuộc đời, thế nào cũng có lúc người ta phải xa Sài Gòn. Tôi đã xa thành phố ấy nhiều lần, có lần xa vài năm rồi được trở lại. Sự việc được tìm thấy trong đoạn thơ xuôi sau đây:

           “Sài Gòn, Sài Gòn, mưa năm năm rào rào tiếng vọng, mưa âm thầm ngõ hẻm ngoài ô.
            Ôi Chí Hòa, Chí Hòa, ôi khu rừng cao su đã cháy, ôi ụ đất đã san, ôi tôi rời rã.
            Chí Hòa, Chí Hòa, mưa sân nhà em rì rào tiếng hát. Con ngựa nào qua, cỗ xe nào đỗ, âm thanh nào lẩn xuống bàn chân?
            Ôi em thân yêu ôi nước mắt ngọt ngào, ôi tình yêu đã lủi, ôi con dế mèn lớp cát nhà xưa.
            Giọt nước rơi mưa đổ rạt rào…”

            (Viên Linh, Tháng Năm ở Sài Gòn, Hóa Thân)

            Sài Gòn không phải của riêng ai, Sài Gòn của tất cả mọi người vì đó là thủ đô của một nước; ít nhất là thủ đô của một nửa đất nước, nhưng tôi vẫn tin tưởng, với đất đai sông rạch phì nhiêu, với bến cảng mở ra Thái Bình Dương bao la độ lượng cho cả triệu triệu con người, với tâm hồn bản địa và sông rạch hòa hài cỏ cây tươi mát bao dung, Sài Gòn dù thế nào vẫn là của tất cả Việt Nam, dù Việt Nam đi hay Việt Nam ở. Nói đến Sài Gòn là nói đến đất nước.
            Người Sài Gòn không nhất thiết phải sinh ra ở Sài Gòn, họ có thể là người Miên, người Hoa, người Bắc, người Trung, nhưng đương nhiên người Sài Gòn là người Bến Nghé Đồng Nai.
            Người Sài Gòn có thể chết giống như mọi loại chết của con người, nhưng không bao giờ chết đói, chết khát hay chết rét.


VIÊN LINH
Tháng 6/2017


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/sai-gon-trong-tho-van/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #163 vào: 15/01/2019, 20:58:22 »
Tháng Giêng, nhớ Y Uyên

Nhà văn Y Uyên tử trận Tháng Giêng 1969. Ðã 50 năm kể từ ngày đó. Suốt bao nhiêu năm, sau 1975, tôi cố đi tìm cho được tạp chí Văn (Sài Gòn) số 129 với bìa trước có hình Y Uyên, nhưng vô vọng. Ngoài chuyện tìm lại nhân dáng và sự nghiệp của một nhà văn mà mình yêu thích, còn có một lý do riêng: trong số này, có một bài của tôi, “Khuôn mặt chiến tranh trong tác phẩm Y Uyên”. May làm sao, nhà văn Nguyễn Lệ Uyên (hiện còn ở trong nước) đã cất công đi tìm và tìm ra. Anh copy và gửi qua cho tôi số Văn này, nguyên vẹn và đẹp không khác gì bản gốc.

Chân dung Y Uyên trên tạp chí Văn

TÔI KHÔNG QUEN Y Uyên, chỉ biết anh qua các sáng tác trên Bách Khoa, Văn… và là một trong những người mến mộ nhà văn này. Anh có một phong cách viết rất riêng: điềm đạm, đôi khi như dửng dưng, nhưng đọc kỹ lại đậm đà, chua xót. Ðược xếp vào loại những “cây bút trẻ” của thời thập niên 1960, anh là cây bút cưng của Bách Khoa và Văn mà cũng là cây bút cưng của Võ Phiến và Trần Phong Giao.
            Ðây là số Văn tưởng niệm Y Uyên, phát hành vào Tháng Năm 1969, được thực hiện chỉ 4 tháng sau ngày anh tử trận. Theo lời “Thư tòa soạn”, dù đã tăng thêm 32 trang so với thường lệ, nhưng vẫn không đủ chứa hết bài vở của bạn bè, văn hữu gửi đến. Nội dung gồm có hai phần, phần một dành cho những bài tiểu luận viết về các tác phẩm của Y Uyên, trong đó, có sự góp mặt của Thanh Tâm Tuyền, Trần Hữu Thục, Trùng Dương, Lâm Hảo Dũng, Nguyễn Mạnh Côn, Châu Hải Kỳ, Thu Thủy. Phần hai dành cho các văn hữu và bạn bè viết về tác giả và những kỷ niệm. Phần này có sự góp mặt của Mường Mán, Cao Thoại Châu, Võ Hồng, Huỳnh Phan Anh, Trần Phong Giao, Mang Viên Long, Lê Bá Lăng, Trần Huiền Ân… “Thư tòa soạn” còn cho biết, được sự đồng ý của các tác giả có bài, “anh em trong tòa soạn Văn cũng đóng góp thêm phần mình và trao tổng số nhuận bút của số Văn 129 tới gia đình Y Uyên gọi là góp một phần nhỏ trong việc xây cho Y Uyên một nấm mồ”.
            Một trong những bài viết cảm động nhất là của Lê Bá Lăng, bạn văn mà cũng bạn cùng khóa Thủ Ðức và bạn chiến đấu của Y Uyên. Xin trích đoạn cuối:

            “Y Uyên! Y Uyên! Tôi viết những dòng này trên bãi chiến. Không phải bãi tập trên những đồi Tăng-Nhơn-Phú, nơi mà chúng ta đã chung sống ít tháng ngày ngắn ngủi. Nơi đây là một khu rừng thưa, lúc này là lúc thần kinh căng thẳng vì đợi chờ những viên đạn địch hung hãn, những tiếng reo hò man rợ. Lòng tôi trũng xuống. Tôi gọi tên anh và tôi thầm hỏi: tôi còn mùa hoa nào chờ anh cưới vợ? chờ anh lập nhà xuất bản? chờ anh ra báo? chờ anh cất tiếng gọi anh em? Có còn mùa hoa nào, hỡi anh, hỡi Y Uyên…” (LBL/Còn Mùa Hoa Nào…)

            Cao Thoại Châu cũng có một bài thơ rất cảm động; xin trích đoạn đầu:

                         sao xuất ngũ sớm và kỳ cục vậy Uyên
                        có phải vì những người còn sống
                        đều đớn đau nên tìm đi vội vàng
                        như vì sao lẩn trốn bình minh
                        của một ngày nổi bão

                        (CTC/Trong Nấm Mồ Ký Ức)

            Nhưng nhiều kỷ niệm nhất về con người và về quá trình hình thành sự nghiệp văn chương của Y Uyên là từ Trần Phong Giao, thư ký tòa soạn Văn giai đoạn đó. Ðáng nhớ nhất là đoạn nói về cái trớ trêu trong số mạng của Y Uyên.

            “Lộ xỉ, lộ hầu, tướng đi không chắc bước… tay này chết yểu”, một nhà văn lão thành đã nói bâng quơ như thế, khi cụ nhìn theo Y Uyên lúc đó mới vừa bước ra khỏi cửa tòa soạn. Nghe lời vị túc nho cao niên nọ nói mà tôi bỗng rùng mình. Lúc đó Y Uyên đang thụ huấn trong quân trường. Tôi có nói với một vài chỗ quen biết nhờ lưu ý kéo cho hắn đi ngành. Tôi được trả lời là cứ yên chí. (…) Ít lâu sau, chúng tôi được biết quân đội đã chiếu cố tới hắn. Một bưu điệp đã được gửi ra tiểu khu nơi hắn trú đóng, cho hắn nộp đơn xin thuyên chuyển về Sài Gòn. Chờ lâu chưa thấy hắn về, một nhà văn bạn lại xin với thượng cấp cho hắn được đặc cách thuyên chuyển về Sài Gòn.
            Tôi được tin văn hữu nọ đã lo xong mọi thủ tục cần thiết (việc gọi Y Uyên về Sài Gòn chỉ còn là việc thu xếp trong vòng vài ngày), ngay sau lúc một cú điện thoại khác báo tin Y Uyên đã từ trần, chiều hôm trước, tại Phan Thiết. Trả lời anh bạn văn tôi cố lấy giọng bình tĩnh: “Cám ơn anh. Có điều muộn mất rồi vì Y Uyên đã tử trận”. (…) Như mọi người, anh bạn không tin là Y Uyên đã chết. Anh chỉ tin điều đó vào buổi sáng hôm sau, khi anh, mặc quân phục vào, cùng mấy quân nhân khác đặt tay vào sợi dây chão, từ từ thả chiếc quan tài bọc xác Uy xuống sâu trong lòng đất lạnh.
(TPG)

            Một trong những đặc điểm – và là đặc điểm nổi bật nhất của văn Y Uyên – là cách viết của anh về chiến tranh. Ðặc điểm này đã từng được Viên Linh (qua một bút hiệu khác, Hồ Tùng Nghiệp) đề cập đến rất sớm từ năm 1966 khi nhà thơ này điểm tập truyện đầu tay “Tượng Ðá Sườn Non” của Y Uyên:

            “Trong cả tập “Tượng Ðá Sườn Non” có lẽ chỉ tìm thấy vài danh từ chiến tranh. Có cả truyện không nhắc đến nó một tiếng, nhưng theo tôi Y Uyên là nhà văn viết về chiến tranh hay nhất trong những người gần đây đã viết về chiến tranh”. (Viên Linh/Y Uyên, văn chương của một cuộc chiến/Tuần báo Nghệ Thuật 66, 1966)

            Trong bài viết của tôi (ký tên thật Trần Hữu Thục), tôi có cùng một nhận định. Xin trích một đoạn:

            “Khuôn mặt chiến tranh Y Uyên dựng nên thật thầm lặng, thầm lặng lạ lùng. Thầm lặng, nhưng thật phức tạp, thật bi thảm. Những dáng vẻ, những động tác, những cảm giác, những ý nghĩ của các nhân vật trong tác phẩm Y Uyên, cũng như những khung cảnh mà – Uyên mô tả, mang lại cho người đọc những cảm tưởng bùi ngùi, những xúc động sâu xa, ngây ngất. (…) Cũng chính vì thế mà khuôn mặt chiến tranh của Y Uyên rất sống, rất thực. Nó không mang vẻ giả trá của một mớ lý luận rất kêu về chiến tranh được đặt vào ý nghĩ hay lời nói của nhân vật của một số nhà văn. Y Uyên không vẽ lên rõ ràng một khung cảnh thật hãi hùng, thảm thương của chiến cuộc. Những khung cảnh như thế dễ kích thích cảm giác người đọc, nhưng cảm giác chóng qua. Thực ra, chiến tranh đâu chỉ bi thảm ở những hình ảnh chiến địa máu me, ở súng nổ đạn bay, ở hỏa châu, ở tiếng hô xung phong, ở những thân người gục xuống… Cái bi thảm của nó kéo dài bàng bạc, dai dẳng sau những trận chiến và kéo lê thê ở bất cứ đâu, dù ở đó chưa một lần thành bãi chiến trường. Chiến tranh có mặt ở cả những lúc im lặng, ở những cử chỉ sợ hãi vu vơ, ở cái nôn nả, phờ phạc của một người đàn bà, ở một lớp học chợt có một đứa học trò nghỉ học, ở sự vội vã, hấp tấp của một giáo viên ở trường làng”. (THT)

            Y Uyên, tên thật Nguyễn Văn Uy, sinh năm 1943 ở Phúc Yên, theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, ngụ tại Gò Vấp. Tốt nghiệp sư phạm, dạy học tại Tuy Hòa. Nhập ngũ khóa 27 trường Sĩ Quan Thủ Ðức, chuyển về đóng quân tại đồn Nora, Phan Thiết. Ngày 8 Tháng Giêng 1969, bị địch phục kích, tử trận ngay dưới chân núi Tà Lơn, bên một dòng suối.
            Bây giờ là Tháng Giêng. Nhớ đến anh, nhắc lại đôi điều, tuy đã quá lâu, nhưng không cũ. Xin trích một trong những câu ám ảnh tôi nhất trong văn Y Uyên khi anh đề cập đến – mà cũng là một cách định nghĩa của anh – về chiến tranh đối với người lính ngoài trận mạc:

            “Không nỗi ngây ngất nào rực rỡ như nỗi ngây ngất chiến tranh, phía sau có lửa, phía trước có máu của mình”. (trong truyện ngắn Mùa Xuân Qua Ðèo)


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 02/2017


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thang-gieng-nho-y-uyen/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #164 vào: 19/01/2019, 23:01:49 »
Paris: Hòa âm ánh sáng-pháo hoa đón Năm 2019 trên đại lộ Champs-Elysées

Paris đón năm mới 2019 với màn hòa âm ánh sáng và pháo hoa trên đại lộ Champs-Elysées; Con hàu tam bội trên bàn tiệc cuối năm; Người Pháp làm gì khi thất vọng với quà Noël? Ông già Noël được đào tạo bài bản ở Brazil là những chủ đề chính của tạp chí Thế Giới Đó Đây, số cuối năm 2018.

Đoàn người tham gia “Carabalade” hóa trang thành ông già Noël
đi qua đại lộ Champs-Elysées, Paris, ngày 20/12/2018

Paris: Hòa âm ánh sáng-pháo hoa đón Năm 2019 trên đại lộ Champs-Elysées
            Tạm gác qua một bên những chia rẽ, rối loạn trong những ngày cuối năm 2018 vì phong trào Áo Vàng, Paris trở lại làm trung tâm của những ngày hội, đặc biệt trên đại lộ Champs-Elysées và Khải Hoàn Môn (Arc de Triomphe).
            Paris không muốn im hơi lặng tiếng so với hoạt động sôi nổi đón năm mới được tổ chức ở một số thành phố lớn trên thế giới như thời khắc đếm ngược thời gian trên Quảng Trường Thời đại (Times Square) ở New York hay màn pháo hoa rực rỡ ở Sydney… Từ 5 năm nay, Kinh đô Ánh Sáng tổ chức màn hòa âm ánh sáng mà nhân vật chính là Khải Hoàn Môn và bắn pháo hoa đúng thời khắc chuyển sang năm mới.
            Chương trình tối giao thừa 31/12/2018 mang chủ đề “Fraternité” (Bác ái) với hy vọng an bình và tình yêu đến với người dân Pháp, với mọi người. Từ 23h20 đến 23h40, một chiếc đồng hồ đèn néon chiếu trên Khải Hoàn Môn sẽ nhịp theo thời gian trôi và mở màn cho buổi hòa âm ánh sáng đầu tiên, kéo dài 20 phút, điểm lại những cột mốc chính liên quan đến hai sự kiện quan trọng: Tuyên ngôn Nhân Quyền và Dân quyền của Pháp tròn 230 năm (1789) và Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền tròn 70 năm (được 58 thành viên Liên Hiệp Quốc thông qua ngày 10/12/1948).
            Màn chiếu thứ hai về “Bác ái”, bắt đầu lúc 23h40, lần lượt với các chủ đề: Paris – thành phố đa sắc tộc, cởi mở với bên ngoài, chung sống, tôn trọng môi trường, đoàn kết, cuộc chiến chống kỳ thị, thể thao, hội hè và 2019 – Một Paris Bác ái. Cuối cùng là màn đếm ngược thời gian và pháo hoa đón chào năm mới. Dù không quen biết, nhưng những người có mặt trên đại lộ có thể ôm hôn nhau, mời nhau ly sâm banh vào thời khắc đầu năm.
            Không khí Giáng Sinh vẫn trùm trên đại lộ đẹp nhất thế giới với hai hàng cây dọc đại lộ được giăng đèn từ ngày 22/11/2018 đến hết ngày 09/01/2019. Đây là năm đầu tiên, hệ thống đèn mới “Flamboyance” (Rực rỡ) thay thế cho hệ thống đèn “Scintillance” (Lấp lánh) có từ năm 2014.

Hàu tam bội trên bàn tiệc cuối năm
            Con hàu là món ăn không thể thiếu trên bàn tiệc những ngày lễ cuối năm vì theo truyền thống Pháp, những tháng kết thúc bằng “re” (septembre, octobre, novembre, décembre, lần lượt là tháng 09, 10, 11, 12) là thời điểm lý tưởng để ăn hàu và con vẹm (moule). Tuy nhiên, tại Pháp, gần một nửa lượng hàu bán ra trong dịp cuối năm là hàu được nhân giống trong phòng thí nghiệm, nhờ công nghệ tứ bội.
            Tại sao hàu nhân tạo ngày càng được tiêu thụ nhiều? Phóng sự ngày 26/12/2018 của đài truyền hình LCI giải thích:

            “Loài hàu tam bội không có khả năng sinh sản và điều này tạo hai lợi ích quan trọng: Có thể ăn hàu quanh năm vì chúng không sinh sản; Vì chúng không tiêu tốn năng lượng để sinh sản nên chúng lớn nhanh hơn rất nhiều.
            Một nhà nuôi hàu ở vùng Arcachon (tây nam Pháp) cho biết: “Nuôi giống hàu bình thường cần đến ba năm để đạt cỡ 3 – mức trung bình, trong khi giống hàu tam bội chỉ cần hai năm”.
            Hàu tam bội kín đáo len vào mâm hải sản của khách hàng, thậm chí ngay cả nhiều người làm trong nghề cũng khó nhận ra sự khác nhau giữa hai loại. Nhà nuôi hàu ở Arcachon giải thích: “Tôi chỉ có thể nhận ra được một chút vì loài hàu tam bội to hơn nhiều và có vị ngọt hơn, ngoài ra, tôi không thấy sự khác biệt nào khác”.
            Vậy hàu tam bội này được sản xuất thế nào? Giống hàu này có được nhờ công nghệ tứ bội nhằm tạo ra một con hàu đực có 4 cặp nhiễm sắc thể, thay vì hai cặp, sau đó cho thụ tinh với trứng đơn bội của hàu lưỡng bội tự nhiên. Nhờ đó, người ta tạo ra được giống hàu có ba cặp nhiễm sắc thể, được gọi là hàu tam bội và không có khả năng sinh sản. Mỗi một con đực tứ bội giống có khả năng sinh sản hàng triệu con hàu khác”.


            Giá bán mỗi một con hàu đực giống vào khoảng 1.000 euro, thậm chí chúng được cài thêm một con chíp theo dõi trên vỏ trước khi đưa đến trại nuôi cấy. Theo các nhà khoa học, hàu tam bội không phải là một sản phẩm biến đổi gen vì con người chỉ thay đổi số lượng nhiễm sắc thể, còn bản chất gen không bị biến đổi.
            Tổng cục Cạnh tranh, Tiêu dùng và Trấn áp gian lận Pháp (DGCCRF) khẳng định loài hàu nhân tạo không gây nguy hiểm cho sức khỏe của con người. Tuy nhiên, giới nuôi hàu truyền thống vẫn nghi ngờ và yêu cầu ghi rõ nguồn gốc của hàu vì cả hai loại, nhân tạo và tự nhiên, được bán trộn lẫn trên thị trường. Vì vậy, Luật mới của Pháp về an toàn thực phẩm quy định kể từ năm 2023, nguồn gốc những con hàu nhân tạo sẽ phải được ghi trên bao bì.

Người Pháp làm gì khi thất vọng với quà Noël?
            Quan trọng như bữa tiệc dịp lễ cuối năm là những món quà, thế nhưng, 61% người Pháp thất vọng vì món quà Noël được tặng. Từ quần áo, sách-truyện đến đồ chơi, vừa mở quà, họ đã nghĩ ngay đến việc đăng bán trên internet. Hơn 300 triệu tiền quà Noël sẽ được giao dịch trên các trang bán hàng trực tuyến. Riêng trang Ebay đã nhận khoảng 800.000 quảng cáo mới chỉ trong hai ngày 25-26/12, cao hơn 13% so với năm 2017, và khoảng 3 triệu sản phẩm sẽ được giao bán từ giờ đến ngày 03/01/2019.
            Vậy tại sao lại có nhiều người muốn bán lại quà đến như vậy? Nhà báo Anaïs Bouïtcha của đài truyền hình BFM TV giải thích:

            “Ngày nay, một món quà không còn mang ý nghĩa biểu tượng nữa, niềm vui tặng và nhận quà bị quên lãng. Chúng ta muốn những món đồ có ích dưới gốc cây thông. Hơn một nửa người dân Pháp bán lại quà cho biết là họ không cần đến những món quà đó.
            Dù bán lại quà trở nên phổ biến và hàng năm người ta nói đến nhiều hơn, nhưng cách này vẫn khó được chấp nhận. Hơn 1/3 người dân Pháp sẽ phật lòng hoặc buồn vì món quà mà họ tặng cuối cùng nằm trên trang bán hàng trực tuyến”.


            Để bớt bị cắn rứt lương tâm vì bán lại quà trên internet, một số người thích trao đổi để có được món đồ họ cần.

             “Đổi một món đồ có cùng giá trị cũng là cách để tránh lãng phí. Ví dụ họ có thể đổi đồ trang trí, quần áo, sách-truyện lấy những món đồ có cùng giá trị mà họ cần. Hoạt động trao đổi quà đã nhộn nhịp ngay từ ngày 25/12 ở nhiều thành phố, như Paris, hoặc trên internet. Ngoài ra, một số quán bar cũng đứng ra làm trung gian trao đổi những món quà không cần đến”.

            Cho thuê đồ dùng không cần thiết là cách ưa chuộng của một số người không nỡ bán hay đổi quà được tặng. Ngay chiều 25/12 đã có hơn 10.000 quảng cáo cho thuê đồ trên trang E-loue Express. Theo ông Alexandre Woog, giám đốc của website này, “con số trên tăng gần gấp ba lần so với cùng thời điểm năm 2017. Rất nhiều người Pháp cho thuê quà Giáng Sinh, và đây cũng là giải pháp đơn giản giúp họ tăng thêm chút thu nhập”.


Ded Moroz, ông già Noel của Nga, chúc mừng một thành viên của Cryophile,
CLB tắm trong nước lạnh mùa đông, bên bờ sông Yenisei, ở Krasnoyarsk

Brazil: Trường đào tạo làm Ông già Noël
            Dưới cái nóng gần 40°C ở Rio de Janeiro (Brazil), nhiều ông già Noël vẫn xúng xính trong bộ trang phục đỏ đi phát quà. Rất nhiều người trong số họ được đào tạo bài bản ở một cơ sở hoạt động từ 20 năm nay. Từ khi được thành lập, trường đã đào tạo hơn 700 người chuyên nhận thư xin quà của trẻ em tại các trung tâm thương mại và sau đó là chuyển quà cho các em vào tối Giáng Sinh.
            Theo thông tín viên RFI Sarah Cozzolino, nhờ công việc này, nhiều người nghỉ hưu vẫn tiếp tục làm việc, được tiếp xúc với trẻ nhỏ, và là một giải pháp cho cuộc khủng hoảng kinh tế.

            “Bộ râu trắng xóa, trang phục hai mầu đỏ-trắng, có khoảng 40 ông già Noël đang tập lại những ca khúc Giáng Sinh trong một lớp học nhỏ. Trong số họ có ông Carlos Paes, 84 tuổi, có thâm niên 7 năm làm ông già Noël:
           “Tôi yêu ông già Noël và bị thu hút từ hồi bé. Vì thế, tôi biết rằng một ngày nào đó tôi sẽ trở thành ông già Noël và hiện giờ tôi đang làm việc này. Tôi thấy rất hạnh phúc, tôi thích truyền lại cho trẻ nhỏ tâm trạng này, tặng những món quà cho các cháu. Đây là một món quà đối với tôi”.
            Để được tuyển làm ông già Noël trong các trung tâm thương mại của thành phố, học viên được tham gia các buổi học hát, cách ứng khẩu, chăm sóc cho bộ râu… Tất cả đều hoàn toàn miễn phí.
            Ông Limachem Cherem, 62 tuổi, là người thành lập ngôi trường này cách đây hơn 20 năm, cho biết: “Ngoài việc tạo việc làm cho những người này, chúng tôi tìm cách giúp họ thoát khỏi những lo âu bộn bề. Ở đây, mọi người thường gần đến tuổi nghỉ hưu, tầm 55, 60 tuổi, và họ ở nhà, chẳng làm gì cả. Vì vậy, với ngôi trường này, họ trở lại thị trường lao động và có thêm chút thu nhập”.
            Trong khi lương hưu hàng tháng ở Brazil chỉ vào khoảng 950 reais (khoảng 220 euro), các ông già Noël có thể kiếm được gấp 5 đến 15 lần khoản tiền trên tùy theo trung tâm thương mại nơi họ làm việc. Nhờ đó, họ có thể dễ thở hơn một chút và mua quà Giáng Sinh cho con cháu”.


THU HẰNG
Tháng 12/2018


http://vi.rfi.fr/phap/20181229-paris-hoa-am-anh-sang-phao-hoa-don-nam-2019-tren-dai-lo-champs-elysees