Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 18236 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #165 vào: 24/01/2019, 18:54:44 »
Nhà thơ Hồ Ðình Phương và sự nghiệp âm nhạc Hoàng Trọng

Lịch sử tân nhạc Việt Nam ghi nhận: Thời tiền chiến, có một hiện tượng đặc biệt. Ðó là sự thành công rực rỡ của nhạc Ðoàn Chuẩn với ca từ của Từ Linh. Nếu trong toàn bộ sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn, người ta đếm được 11 ca khúc do Từ Linh đặt lời thì, trong khoảng trên dưới 200 ca khúc mà, cố nhạc sĩ Hoàng Trọng để lại cho đời, người ta đếm được ít nhất cũng trên dưới 50 ca khúc do nhà thơ Hồ Ðình Phương đặt lời, hay từ thơ của ông.(1)

Ban nhạc Tiếng Tơ Ðồng

TƯỞNG CŨNG NÊN nói ngay rằng, nhạc sĩ Hoàng Trọng không chỉ hợp tác với một mình nhà thơ Hồ Ðình Phương trong phần ca từ mà, họ Hoàng cũng nhận được sự hợp tác của rất nhiều nhạc sĩ, nhà thơ, nghệ sĩ vốn có tình thân với ông. Trong số này, có nhiều tên tuổi quen thuộc, như Hoàng Dương, Quách Ðàm, Vĩnh Phúc, Thanh Nam, Quốc Bảo, Y Vân, Lan Ðình, Dạ Chung, Nguyễn Túc, v.v…

Nhà thơ Hồ Ðình Phương (mt9011.multiply.com)

            Tuy nhiên, cách gì thì số lượng những sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Trọng, có sự hợp tác của những tác giả kể trên, vẫn là những con số rất khiêm tốn, nếu so sánh với phần đóng góp của họ Hồ. Ðó là chưa kể gần như tất cả những sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Trọng với ca từ của nhà thơ Hồ Ðình Phương đều là những ca khúc nổi tiếng như: “Mộng ban đầu”:

                       “Quê em miền thùy dương
                        Lúa ngọt ngào hoa mới
                        Gió mang mùa Xuân tới
                        Hôn liếp dừa lên hương
                        Hương thơm tràn muôn lối
                        (…)

                        Hôm qua buồn nhìn đâu
                        Thoáng mẹ già nom thấy
                        Hỏi: con chờ ai đấy?
                        Em níu lấy cành dâu
                        Che giấu mộng ban đầu
                        (…)

                        Nhớ về thăm em nhé!
                        Ðứng khinh mái lều tranh
                        Rau muối ấm tâm tình
                        Cơm ngô thắm no lòng
                        Anh nhớ về anh nhé!

                        Trông em mừng vườn cau
                        Trái mập tròn Xuân mới
                        Bỗng mẹ cười mẹ nói:
                        Con bé lớn thật mau,
                        Mai mốt mẹ ăn trầu…”

                        (Nhạc Hoàng Trọng. Lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)

            Hoặc:
                       “Bạn lòng thân mến
                        Ðây tôi hiến bài ca
                        Mong ai hát vui hòa
                        Bạn là xuân thắm
                        Cho tôi đón nhiều hoa
                        Gieo hương mái tranh nhà
                        Rồi ta chung ngắm
                        Ðôi chim lướt trời xa
                        Say sưa muôn tiếng ca…”

                        (Trích “Bạn Lòng”, nhạc Hoàng Trọng, lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)

            Hoặc nữa:
                       “Ánh Xuân về tràn dâng nắng mới
                        Tơ trời mừng say gió tới
                        Ngàn đóa hoa bừng chào đời
                        Từng bầy én trông đẹp mùa màng
                        Vờn cánh vui đùa nhịp nhàng
                        Hòa tiếng chung tình nồng nàn
                        Có riêng một mình ta với bóng
                        Không hẹn gần ai ấm cúng
                        Mà chẳng nghe lòng lạnh lùng
                        Vì người ấy luôn chờ một lời
                        Là hiến ta trọn cuộc đời
                        Thề ước đem tình sánh vai…”

                        (Trích “Mộng Lành”, nhạc Hoàng Trọng, lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)


Nhạc sĩ Hoàng Trọng (TranThiNguyetMai.com)

            Tôi không biết tình thân giữa nhạc sĩ Hoàng Trọng và họ Hồ ở mức độ nào. Tôi cũng không biết hai ông có bàn thảo trao đổi ý kiến chặt chẽ, kỹ lưỡng với nhau, trước khi hợp soạn một ca khúc hay không? Nhưng hiển nhiên, sự hòa quyện của tất cả những sáng tác mà họ là đồng tác giả, thật tuyệt vời.
            Trách nhiệm phần ca từ, nhà thơ Hồ Ðình Phương không chỉ cho thấy, ông rất đồng điệu, rất tâm lý với những giai điệu mang tính thơ mộng, lãng mạn viết về tuổi trẻ của nhạc sĩ Hoàng Trọng mà, ngay với những ca khúc nặng tình quê hương, đất nước, ông cũng cho thấy khả năng, tài hoa rất mực của mình, ứng hợp với dòng nhạc Hoàng Trọng:

                       “Thuyền trôi chờ ai nhấp nhô trên sông dài
                        Phải thuyền năm ấy hòa với lòng tôi
                        Cùng mơ hàn nối đôi phương cách xa vời
                        Ðể người sum vầy khỏi buồn đầy vơi?
                        Mẹ quê lần bước đưa tôi ra tận thuyền
                        Nhủ rằng: Luôn nhớ tình nước con ơi
                        Trời đang mờ tối, quê hương đang tơi bời
                        Chờ con về xóa ngàn mối u hoài
                        Mẹ già yêu mến, giờ này con đang thề
                        Ðấu tranh cùng muôn người:
                        Ðợi một ngày mai tràn đầy
                        Xuân mới về cố hương hòa vui…”

                        (Trích “Mộng ngày hồi hương”, nhạc Hoàng Trọng, lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)

            Nhưng ca khúc viết về niềm tự hào dân tộc, thành công nhất, giá trị nhất, theo tôi là ca khúc “Bên bờ đại dương”, nhạc Hoàng Trọng. Lời Hồ Ðình Phương:
            “…Hôm nao, ai đã mơ mộng/ Chia mối tơ đồng của một khối non sông vinh quang/ Ai ơi, ai nhớ chăng rằng/ Gươm súng đâu diệt được nòi giống muôn năm hiên ngang// Anh với tôi còn sống bên bờ đại dương/ Tôi với em còn thắm trong lòng niềm thương/ Ðất nước tôi còn gió độc lập Trường Sơn/ Còn lúa tràn đồng phương Nam/ Còn xóa được hờn quê hương.” (Theo dactrung.com)
            Nói cách khác, tới nay, lịch sử tân nhạc Việt Nam chỉ ghi nhận được hai cuộc hôn phối mang tính đường trường. Ðó là cuộc hôn phối giữa Ðoàn Chuẩn-Từ Linh, thời tiền chiến. Và, Hoàng Trọng-Hồ Ðình Phương, hôm nay vậy.


DU TỬ LÊ
Tháng 04/2013

________________________________________________________
(1) Theo tác giả Lê Mộng Hòa trong tác phẩm “Thi Nhân Huế”, xuất bản năm 1960 thì, nhà thơ Hồ Ðình Phương Sinh ngày 1 Tháng Ba năm 1927 tại Huế. Tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, năm 1958, nhà thơ Hồ Ðình Phương từng cộng tác với một số báo và tạp chí tại Saigon, như Thẩm Mỹ, Phụ Nữ, Văn Nghệ Tiền Phong… Những tác phẩm đã xuất bản của ông, gồm có: “Hai Cuộc Sống” (Thơ, xuất bản năm 1951). “Tình Thế Hệ” (Thơ, xuất bản năm 1952). “Sưởi Nắng” (Thơ, xuất bản năm 1953. Tái bản bản năm 1954). Ông cũng là tác giả của ít nhất hai tác phẩm có tính cách nghiên cứu, biên khảo về thi ca, chưa xuất bản như: “Thi Pháp Thực Hành” và “Thi Ca Với Thời Ðại”.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Nha-tho-Ho-Dinh-Phuong-va-su-nghiep-am-nhac-Hoang-Trong-5804/

 
The following users thanked this post: dalanmai, Hoàng Mai Lưu

Ngủ rồi dalanmai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #166 vào: 25/01/2019, 10:49:10 »
Hồi nhỏ thích bài Con đường xưa em đi, chỉ nhớ nhạc sỹ Châu Kỳ, nhưng sau này tìm hiểu thêm thì lời là của Hồ Đình Phương.
 
The following users thanked this post: nduytai

Ngủ rồi Hoàng Mai Lưu

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #167 vào: 25/01/2019, 14:30:50 »
Con đường xưa em đi, người ta cắt dây chì, thế là em hết đi hả bác. Nhạc sĩ Châu Kỳ còn một bài phổ thơ của Hồ Đình Phương nữa là bài Xin làm người tình cô đơn.
Tình lúa duyên trăng, nhạc Hoài An, thơ Hồ Đình Phương.
 
The following users thanked this post: nduytai
Dục Phá Thành Sầu Duy Hữu Tửu

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #168 vào: 29/01/2019, 19:55:47 »
Nhân một cái phân ưu

Mới 2 Tháng Giêng, 2019, do dậy sớm nên tôi đọc báo trên mạng hơi lâu, đọc tới cả cáo phó, phân ưu, và thấy một cái phân ưu bên dưới kê tên tới gần một trăm danh tính, thoáng nhìn đã thấy tên nhiều bạn học thời trẻ, nhìn lại tên người quá cố, chính là bạn mình thời trung học. Thế ra Nguyễn Đức Nhuận không còn nữa.

Nhà thơ Nguyễn Bính

PHÂN ƯU chỉ có ba chữ Nguyễn Đức Nhuận, không ngày sinh hay nghề nghiệp, nên phải đọc vào thành phần những người chia buồn xem liên hệ mới biết chắc. Trong phân ưu không nói gì về Nhuận, với tôi anh còn là đồng nghiệp trong nhiều năm, anh nguyên là người chủ trương tạp chí Thứ Tư, có thời cùng nhà văn Vũ Bằng thực hiện tạp chí Văn Học của Phan Kim Thịnh nữa. Hai người bạn này Nhuận và Thịnh, không rời nhau từ hồi đó như tôi biết.
            Nửa cuối thập niên 1950 của thế kỷ trước, chúng tôi ở khoảng tuổi 15, 16, từ miền Bắc vượt vĩ tuyến 17 vào Nam, thảy đều gặp nhau không ở Chu Văn An thì Nguyễn Trãi, không ở Nguyễn Trãi thì không ở đâu khác ngoài Hồ Ngọc Cẩn, ba trường trung học công lập thời đó, mà Hồ Ngọc Cẩn, tên một ông tổng giám mục, đương nhiên là nhiều, rất nhiều, học trò Thiên Chúa giáo (bài này không đề cập các trường địa phương hiện hữu từ trước và vẫn đang hoạt động, cũng như các trường nữ).
            Giai đoạn hậu 1954 ở Sài Gòn sau này có thể coi là chỉ chấm dứt vào Tháng Tư, 1975, tách riêng ra các thứ, 1954-1975 là thời hoàng kim của văn học nghệ thuật miền Nam, vì có thời nào khác mà mọi bộ môn văn nghệ đều phát triển tối đa, sách được xuất bản hàng trăm cuốn trong một tháng, các kiosques sách báo băng nhạc ngoại quốc và thổ sản tràn ngập khắp nơi.
            Đã thế tôi còn muốn chú thích thêm, ngay cả bây giờ đây ở Arlington, Virginia, nhiều lần lên xe một người bạn chở đi đây đó, tôi đều nghe thấy tiếng hát từ xe anh vọng ra, trước khi anh vặn nhỏ lại để trò chuyện với tôi. Đó là những giọng ca quen thuộc từ nửa thế kỷ qua, hoặc là “Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương”, hoặc là “Nửa Đêm Ngoài Phố”, hoặc là Khánh Ly, hoặc là Thanh Thúy, Lệ Thu, hoặc là Tuấn Ngọc, hoặc là Sỹ Phú, Vũ Khanh… Chưa có một thời nào văn nghệ Việt Nam lại phong phú và kéo dài cả nửa thế kỷ sau nơi những người xuất thân từ thời kỳ đó, và sau cả thời kỳ đó.
            Rời Việt Nam năm 1975 tôi không rõ trực tiếp hiện tượng “nhạc vàng” sau đó như thế nào, song tổng thể mà nói, từ nhạc vàng tới thơ đen, thơ xám, từ sách báo tới tiểu thuyết 20 năm 1954-1975, đó là khoảng thời gian lạ kỳ của văn học nghệ thuật Việt Nam.


Gia đình nhà thơ Nguyễn Bính

            Bạn đọc Người Việt theo dõi loạt bài chân dung văn nghệ sĩ ký giả Việt Nam ký tên Viên Linh trên mặt báo Người Việt – khởi sự từ 2010, vào mỗi Thứ Năm – chắc chắn không phải Thứ Năm nào cũng đọc, nhưng giả dụ quý bạn đọc hết, thì số bài đã đăng trên tám năm qua (mỗi năm có 52 tuần lễ), 52 tuần x 8 năm ta có = 416 tuần lễ hay 416 bài (chỉ kể từ 2011 tới hết 2018). Trên thực tế, năm 2014 tác giả vào Cedar Sinai Hospital giải phẫu tim mạch, nghỉ ba tuần, vậy còn 416 – 3 = 413 bài.
            Theo cách viết của tác giả, Tháng Giêng chỉ viết về những văn nghệ sĩ trí thức ra đi trong Tháng Giêng (từ trần trong Tháng Giêng Dương Lịch, các ngày tháng âm lịch đều được chuyển ra dương lịch đúng cách). Trong cuốn I, nhan đề “Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam”, chúng tôi đã in lại và bổ sung bài viết của các vị ra đi vào Tháng Giêng (nhắc lại, tính theo dương lịch), như sau:
                1.– Viên Chiếu Thiền Sư (Viên Chiếu mất vào đời Lý, chúng tôi đã tìm ra ngày giỗ của ông tính theo âm lịch, và đổi ra dương lịch, nhằm ngày 28 Tháng Giêng, 1091).
                2.– Nguyễn Bính.
                3.– Tam Ích.
                4.– Tuệ Mai.
                5.– Mai Thảo.
                6.– Xuân Vũ.
            Và với dạng thức này, Tháng Giêng viết về những vị ra đi vào Tháng Giêng, cuốn II của bộ “Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam” đang được thực hiện.
            Cuốn I dày gần 500 trang khổ lớn (6×9”), cuốn II cũng sẽ in cùng dạng thức, nghĩa là chương I của cuốn II (hay có thể của cả cuốn III), Tháng Giêng cũng là chương I.
            Cứ như thế, bài viết về những người ra đi vào Tháng Hai dương lịch sẽ được xếp vào chương II và tuần tự như thế cho tới chương XIII. Một năm chỉ có 12 tháng, sở dĩ có chương XIII là dành cho tháng nhuận, năm nhuận, tức là những trường hợp ngoại lệ nếu có.


VIÊN LINH
Tháng 01/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nhan-mot-cai-phan-uu/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #169 vào: 02/02/2019, 21:06:21 »
Một số phong tục độc đáo đón Năm Mới trên thế giới

Một năm mới may mắn, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng là điều ước của người dân trên khắp thế giới. Dù vô thần hoặc theo bất kỳ tôn giáo nào, nhiều người vẫn giữ một số phong tục hoặc kiêng kị một số điều để tránh bị “giông” cả năm. Một bữa ăn thịnh soạn, trả hết nợ năm cũ, mừng tuổi, dầm mình trong nước lạnh, tặng bát đĩa vỡ… là một vài phong tục độc đáo đón năm mới.

Học sinh một trường học ở Ahmedabad, Ấn Độ, kết bóng chào đón năm 2019

Hôn nhau dưới bó ghi trắng (S’embrasser sous le gui)
            Người Pháp tin rằng hôn nhau dưới bó ghi trắng, một loại cây tầm gửi, vào đúng lúc chuông điểm giao thừa sẽ có một năm mới phồn thịnh. Theo giải thích của báo Le Figaro, nhiều người dân ở châu Âu còn tin rằng mọi bất đồng và xích mích đều được hóa giải khi hôn nhau dưới loài cây tầm gửi này.

            “Phong tục này có từ thời Gaulois. Thời đó, ghi trắng là loại cây duy nhất cho quả vào mùa đông và vẫn giữ sắc xanh nên các đạo sĩ Gaulois coi đó là loại cây linh thiêng, biểu tượng của sự phồn thịnh và khả năng sinh sản.
            Người Scandinavơ còn nghĩ rằng cây ghi trắng biểu tượng cho hòa bình. Tục truyền rằng hai kẻ thù vô tình đụng nhau trong rừng dưới một bụi cây ghi trắng thì sẽ tạm ngừng đánh nhau. Đôi vợ chồng có xích mích ôm hôn nhau dưới bó ghi trắng thì mọi vấn đề sẽ nguôi ngoai.
            Vào thế kỷ 18, người Anh treo kissing ball trên cửa nhà. Đây là một quả cầu được kết từ ghi trắng, gắn ruban và đồ trang trí. Còn theo truyền thống Hy Lạp, một người phụ nữ không được từ chối một nụ hôn nếu người đó đứng dưới một bó ghi trắng.
            Tóm lại, những tín ngưỡng này dần dẫn đến ý tưởng là ôm hôn nhau dưới bó ghi trắng sẽ mang lại giầu có cho cả năm đó”.


“Kiêng” và “không kiêng” món gì trong bữa tiệc?
            Một bữa ăn thịnh soạn và ấm cúng bên người thân và bạn bè vẫn là truyền thống của nhiều nước trên thế giới với niềm tin năm mới sẽ đầy đủ và hạnh phúc. Tại Pháp, bữa ăn vào dịp lễ cuối năm không thể thiếu món gan béo (foie gras) và cá hồi hun khói (saumon fumé). Nhiều đặc sản của một số vùng, như ốc sên Bourgogne, con hàu Marennes d’Oléron, thịt vịt vùng Tây Nam, trứng cá (caviar) Aquitaine, ngày càng phổ biến trên bàn tiệc. Khi chuông điểm đúng thời khắc giao thừa, sâm-banh sẽ được bật cùng với những lời chúc mừng năm mới.
            Người Nga cũng uống sâm-banh lúc giao thừa nhưng đặc biệt hơn, họ viết một điều ước lên giấy, sau đó đốt nó và đổ tro vào ly rượu. Khi uống hết ly rượu có tro, họ tin là điều ước sẽ thành hiện thực trong năm mới.
            Ngày đầu năm của người Estonia phải no đủ để chắc chắn có thức ăn dồi dào quanh năm. Vì thế, họ ăn đến bẩy bữa trong ngày đầu năm mới.
            Người Ý vẫn giữ thói quen ăn món cotechino e lenticchie truyền thống, được làm từ xúc xích và đậu lăng. Hình dạng tròn của những thức ăn này tượng trưng cho phồn thịnh và mang lại của cải.
            Cua và tôm hùm bị coi là mang lại điềm gở vì di chuyển ngược, nên người dân Croatia kiêng hai loại hải sản này trong ngày đầu năm. Tương tự, gà và các loại chim cũng bị loại khỏi bàn tiệc vì họ sợ chúng bay đi cùng với may mắn.
            Người dân Bỉ, đặc biệt là ở thành phố Liège, bắt đầu năm mới cùng với gia đình bằng món choucroute đầy dinh dưỡng, gồm dưa bắp cải nấu nhừ, các loại xúc xích, khoai tây, thịt ba chỉ. Khi ăn món này, họ thường nắm chặt trong tay một đồng tiền, hoặc để dưới đĩa, vì tin sẽ có một năm dồi dào về tài chính.
            Để mong được 12 tháng trong năm mới ấm no và hạnh phúc, người dân Tây Ban Nha ăn 12 hạt nho, từng hạt một, đúng với từng tiếng chuông nhà thờ điểm từ nửa đêm. Phong tục xuất hiện vào năm 1909 nhưng theo một số nhà trồng nho ở vùng Alicante (đông nam Tây Ban Nha), đây chỉ là chiêu marketing để bán hết lượng nho bội thu năm đó.


Một khu vực ở Matxcơva được trang trí lộng lẫy nhân dịp lễ cuối năm 2018

Xông đất, bùa chú, “mừng tuổi” bằng bát đĩa vỡ…
            Khá giống với phong tục xông đất ở Việt Nam, ngay lúc giao thừa, người dân Scotland bắt đầu “tản bộ” đầu năm (First footing). Người đầu tiên đặt chân vào nhà sẽ quyết định may mắn cho gia đình suốt năm đó. Nếu như người Việt thường chọn người hợp tuổi, hợp mệnh với chủ nhà, người Scotland thường để bạn bè và người nhà vào trước, nhưng với điều kiện phải bước bằng chân phải và luôn mang theo quà.
            Người Anh cũng có truyền thống ra khỏi nhà sau giao thừa, nhưng trong túi họ luôn có một đồng xu, một chút muối và một mẩu than, tượng trưng cho dồi dào tiền bạc, thức ăn và sự ấm cúng trong năm mới. Ngược lại, nếu xuất hành đầu năm mà không có gì trong túi, thì cả năm đó sẽ không gặp may.
            Người dân Ailen tiên đoán tương lai chính trị quốc gia qua chiều gió vào lúc giao thừa. Nếu gió đến từ hướng tây, sẽ là một năm tốt đẹp. Nhưng nếu gió thổi từ hướng đông, Ailen sẽ gặp vài sóng gió đến từ nước Anh láng giềng.
            Cũng vào đúng giao thừa, người dân Ecuador đốt một hình nộm bằng giấy, tượng trưng cho một điều gì đó của năm cũ mà họ muốn bỏ lại đằng sau, hoặc một người mà họ không thích và không muốn gặp lại người đó nữa.
            Tại Mêhicô, những người muốn đi du lịch trong năm mới, vào lúc chuông bắt đầu điểm 12 tiếng, sẽ chạy vòng quanh nhiều ngôi nhà, một tay cầm chiếc vali rỗng, tay kia cầm một xấp tiền.
            Người dân Đan Mạch có một truyền thống độc đáo đón năm mới. Họ đặt trước cửa nhà bạn bè bát đĩa, cốc chén cũ hoặc bị vỡ trong năm cũ. Chồng bát đĩa, cốc chén vỡ càng cao, càng chứng tỏ chủ nhà được bạn bè yêu quý đến chừng nào. Chỉ khổ cho gia chủ sau đó phải đi đổ rác!

Tắm trong ngày đầu năm
            Dầm mình trong nước lạnh trở thành truyền thống của nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹ. Ở Mỹ, ngay đầu thế kỷ 20, phương pháp này được cho là có lợi cho sức khỏe và là cách vệ sinh nhất để bắt đầu một năm. Thực ra, đứng sau lời truyền này là ý tưởng của hai câu lạc bộ bơi lội đối thủ ở Mỹ để thu hút khách hàng vào mùa đông.
            Phong tục này lan sang cả Hà Lan từ những năm 1960, nhưng trong dòng nước biển lạnh, với niềm tin sẽ có nhiều ý tưởng minh mẫn trong năm mới. Hóa trang thành ông già Noel hoặc mặc trang phục đỏ cùng với chiếc mũ chóp nhọn rồi ùa xuống biển hoặc nhảy xuống sông trở thành truyền thống ở rất nhiều nước châu Âu khác, như ở Pháp, Scotland, Ý, Bồ Đào Nha, Croatia, Nga…
            Té nước trong ngày đầu năm mới cũng là tập tục của một số nước như Cuba, Cam Bốt, Thái Lan. Người dân Cuba thường hắt vài lít nước qua cửa sổ để ngừa nạn hạn hán. Đây cũng là phong tục của người dân Cam Bốt, theo giải thích của EANG Sokminh, một nhà báo đồng nghiệp RFI ban tiếng Khmer:

            “Ở nước chúng tôi, phải nói rằng chúng tôi không biết chính xác phong tục này có từ đâu. Nhưng theo một số nhà sử học, thuộc đại học Hoàng gia Phnom Penh, như sử gia Vong Sotheara, thường thì vào ngày thứ ba trong ba ngày đầu năm, các Phật tử lấy nước để tắm Phật, còn con cái mang nước để bố mẹ tắm nhằm thể hiện lòng hiếu thảo…
            Sau đó, phong tục này được lan sang Thái Lan và với nắng nóng, mọi người hắt nước vào nhau, rồi dần thành ngày hội. Những ngôi làng Cam Bốt gần biên giới với Thái Lan bắt chước lễ hội té nước này. Người ta cho rằng ngày lễ này bắt nguồn từ lễ tắm Phật ở Cam Bốt”.


            Còn rất nhiều phong tục độc đáo khác vẫn được duy trì trên thế giới. Dù dưới hình thức nào, người dân luôn mong một năm mới bình an, hạnh phúc. Đây cũng là lời chúc của RFI tiếng Việt gửi đến quý thính giả. Chúc quý thính giả Năm Mới 2019 an khang, thịnh vượng!


THU HẰNG
Tháng 12/2018


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20181231-mot-so-phong-tuc-doc-dao-don-nam-moi-tren-the-gioi

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #170 vào: 06/02/2019, 15:12:24 »
Mùa Xuân, nhìn lại hai mươi năm Tân nhạc miền Nam

Mùa xuân là mùa hồi sinh của vạn vật, trong đó có một sinh vật mang tên “Con Người”. Vì thế, đa phần nhân loại thường gắn, kết hy vọng tốt lành hơn cho mình, cho gia đình và người thân nhân dịp đổi mùa mỗi năm này.

Chợ hoa tết (Sơn dầu – 1994), tác phẩm của Nguyễn Văn Phương
được vẽ khi kết thúc chợ hoa Nguyễn Huệ

CŨNG VÌ tính hồi sinh vừa kể nên từ thi ca tới âm nhạc của bất cứ quốc gia nào, cũng là những con số không nhỏ. Nó không chỉ phản ảnh niềm hy vọng, lời cầu chúc tốt lành cho nguyên một năm dài trước mặt mà, nó cũng cho thấy những thực tế phũ phàng, bất hạnh… của một hay nhiều năm đã qua.
            Tuy nhiên, dù thi ca và âm nhạc có phản chiếu sinh hoạt tinh thần giữa hai mùa xuân của một dân tộc ở mặt tích cực là hy vọng, hay tiêu cực là những mất mát, bi quan thì, tôi vẫn thấy có dễ không một nơi chốn nào có nhiều ca khúc viết về mùa xuân đẹp đẽ, nhân bản như nền tân nhạc miền Nam hai mươi năm.
            Những người sinh trưởng ở miền Nam hẳn chưa quên, một nửa đất nước này chỉ có được yên bình trong ít năm khởi đầu! Sau đó, chiến tranh đem theo tai họa, chết chóc… đã từng bước xuất hiện khắp nơi: Từ nông thôn tới thành thị.
            Dù vậy, số ca khúc viết về mùa xuân của chúng ta không vì thế mà kém phong phú hay, nghiêng nặng về phía u ám, tuyệt vọng.
            Nếu phải tính sổ, ta vẫn thấy số những ca khúc về mùa xuân, tựa như lội ngược nhịp chuyển động mang tính hồi sinh, chúng ta có rất ít. Càng ít hơn nữa, số ca khúc viết về mùa xuân đứng từ phía bóng tối ảm đạm, tồn tại được đến hôm nay.
            Đại diện cho khuynh hướng này, ta có thể kể tới ca khúc “Phiên gác Đêm Xuân” của Nguyễn Văn Đông:

                       “Đón Giao Thừa một phiên gác đêm
                        Chào xuân đến súng xa vang rền
                        Xác hoa tàn rơi trên báng súng
                        Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi
 
                        Bấy nhiêu tình là bao nước sông
                        Trời thương nhớ cũng vương mây hồng
                        Trách chi người đem thân giúp nước
                        Đôi lần nhớ bâng khuâng, gượng cười hái hoa xuân…”


            Ngay tự những nốt nhạc và ca từ khởi nguồn của ca khúc, giới thưởng ngoạn đã không thấy, dù thấp thoáng tinh thần thù hận những kẻ gây nên tao loạn mà, chỉ thấy chút buồn dịu nhẹ. Như những cơn mưa bụi và heo may vừa đủ để lòng người bâng khuâng trước cảnh tình người lính giữa mùa xuân nơi biên trấn.
            Trước khi ra khỏi ca khúc, tác giả buông tiếng thở dài, là lời than thở với chính mình, hơn là với tha nhân:

                       “Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu
                        Vì mơ ước trắng như mây chiều
                        Tủi duyên người năm năm tháng tháng
                        Mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi

                        Chốn biên thùy này xuân tới chi?
                        Tình lính chiến khác chi bao người
                        Nếu xuân về tang thương khắp lối
                        Thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi!”


             “… Thì đừng đến xuân ơi!” cụm từ năm chữ mộc mạc, đơn sơ, như lời than vãn buột miệng của bất cứ ai trong chúng ta, theo tôi, không thể chân thật, thấm thía hơn! Nhưng tựu trung, toàn bộ ca khúc vẫn không hề lóe lên một tia lửa tuyên truyền dù yếu ớt.
            Một ca khúc cùng loại khác, đến nay vẫn còn được nhiều người hát cũng như chịu được sự nghe lại là ca khúc “Xuân Này Con Không Về” của Trịnh Lâm Ngân (bút hiệu chung của Trần Trịnh, Lâm Đệ và Nhật Ngân):

                      “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
                        khi thấy mai đào nở vàng bên nương
                        Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
                        nay én bay đầy trước ngõ
                        mà tin con vẫn xa ngàn xa
                        ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui
                        nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi
                        bên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng
                        trông bánh chưng ngồi chờ sáng
                        đỏ hây hây những đôi má đào…”


            Nếu đối tượng của ca khúc “Phiên Gác Đêm Xuân” là tâm cảnh người lính đóng đồn, trong vai trò người gác giặc nơi biên ải (hay tâm sự của chính tác giả?) thì, đối tượng của ca khúc “Xuân Này Con Không Về” lại là người mẹ, những đứa em và tình đồng đội.
            Người nghe không ghi nhận được một hình ảnh cụ thể nào của người lính nơi trận tiền mà, toàn thể ca khúc là lời trần tình của một đứa con chinh chiến nơi xa; cộng với sự nhớ lại hình ảnh tiêu biểu, đặc thù của những ngày giáp tết là hình ảnh truyền thống gia đình quây quần canh, ngó nồi bánh chưng. Cùng lúc, tác giả cũng cho thấy tấm lòng đau đáu thương mẹ, thương em của người lính trước nhu cầu cần đến sự có mặt của đứa con, người anh lớn:

                      “Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm,
                        mái tranh nghèo không người sửa sang
                        Khu vườn thiếu hoa đào mừng xuân
                        Đàn trẻ thơ ngây chờ mong
                        anh trai sẽ đem về cho tà áo mới
                        ba ngày xuân đi khoe phố phường…”


            Và cũng tuyệt nhiên, tôi không thấy chút khói súng hận thù, tiếng gào thét cổ võ bạo lực nào… Ra khỏi ca khúc, vẫn chỉ là lời trần tình của người lính với mẹ già, với em thơ. Lời giải thích hay xin lỗi (nếu tôi được phép nói như vậy), rất hồn nhiên, nhân bản:

                       “Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
                        nhưng nếu con về bạn bè thương mong
                        bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
                        không lẽ riêng mình êm ấm
                        Mẹ ơi con xuân này vắng nhà
 
                        Mẹ thương con xin đợi ngày mai...”


            Sự kiện tất cả các nhạc sĩ của hai mươi năm văn học nghệ thuật miền Nam, không ai bảo ai, đồng khước từ việc phất cao ngọn cờ thù hận… có thể là một quan niệm hay, cách sống không mang lại cho người dân miền Nam một “chiến tích” nào! Nhưng trên tất cả mọi thứ, nền tân nhạc với những ca khúc mùa xuân ở phía u ám nhất, vẫn đứng ở phía con người phải sống và, được sống như một con người có trái tim, biết thương yêu đồng loại, luôn cả thiên nhiên, khi vạn vật được hồi sinh. Một vòng quay khác của trái đất bắt đầu chu kỳ mới. Chu kỳ khởi đi với niềm hy vọng, sự tử tế mà chỉ sinh vật mang tên “con người” mới có thể dành cho nhau. Đồng thời, cũng dành cho trái đất!




Những Xuân-Khúc tồn tại cùng vòng quay trái đất
            Như đã nói, số ca khúc mùa xuân lội ngược vòng quay trái đất, đập ngoài nhịp đập thiên nhiên, bốn mùa, của hai mươi năm tân nhạc miền Nam, chúng ta có rất ít. Mặt bên kia của sự rất ít này, là số xuân-khúc cực kỳ phong phú, giàu có… Như một may mắn, hạnh phúc cho giới thưởng ngoạn.
            Mùa Xuân đồng nghĩa với sự hồi sinh của tất cả mọi đọt, mầm. Từ đó, tin yêu, hy vọng lấp lánh khắp cùng trời đất. Tựa trong mỗi chúng ta, vốn tiềm ẩn một phần hay trọn vẹn trái tim thời tiết.
            Tôi nghĩ hầu như nhạc sĩ thành danh nào của sinh hoạt nghệ thuật miền Nam hai mươi năm, chí ít cũng có một vài ca khúc viết về mùa xuân. Dù cho chiến tranh, chết chóc vẫn là chiếc bóng thẫm đen, khổng lồ, ẩn hiện… Nó rình rập, chực chờ quấn lên đầu người dân trong vùng lửa đạn, những chiếc khăn tang oan nghiệt! Phải chăng thương yêu không có chỗ trong thần chiến tranh, nhưng nó lại quá dư thừa chia lìa, dư thừa chết chóc?
            Chỉ với một mình cố nhạc sĩ Phạm Duy thôi, đến nay, người ta đã đếm được trên dưới mười xuân-khúc. Mà, xuân-khúc nào của ông cũng thấp thoáng hay ngào ngạt hương hoa xuân.(1)
            Một trong những xuân-khúc của Phạm Duy tách thoát được sự mô tả một cách chung chung, phơn phớt ngoài da mùa xuân, cho thấy tài năng ngoại khổ của ông, theo tôi là “Xuân Ca”.
            “Xuân Ca” vẫn theo thiển ý của tôi, không chỉ là một bức tranh xuân tuyệt vời vẽ bằng giai điệu và ca từ, nó còn như một chuyện kể lớp lang về sự tượng hình, rồi ra đời của mỗi chúng ta trong hành tinh địa cầu này:

                       “Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
                        Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về.
                        Xuân âm u lắt leo trong nguồn suối mơ
                        Bừng reo rồi theo nắng lên từ cha chói chan lòng mẹ…”

                        (Theo dactrung.com)

            Khổ đầu phần ca từ của “Xuân Ca”, bằng vào lòng biết ơn, tác giả đã minh thị rằng, khởi từ tình yêu của cha mẹ, thai nhi được tượng hình.
            Ở phần ca từ khổ hai, là giai đoạn thai nhi được cất tiếng khóc chào đời:

                       “Xuân tôi ra góp chung câu gào thiết tha
                        Là xinh, là tươi có Xuân thưở xưa ước mơ hiền hoà
                        Xuân xanh lơ, hắt hiu trong trời nắng mưa
                        Vườn Xuân là Xuân có hoa ngày mai hát Xuân thật dài…”

                        (Nguồn đd.)

            Như một vòng quay không điểm khởi, nên sẽ chẳng bao giờ có điểm kết thúc, những đứa con ra đời từ tình yêu của mẹ cha, một ngày kia sẽ trưởng thành. Vào đời. Kế thừa truyền thống đấng sinh thành (hay thuận theo biến chuyển tự nhiên của luật tạo hóa), chúng ta lại đi tìm cho mình tình yêu đôi lứa… Dù cho hoàn cảnh, điều kiện sống của chúng ta có khác biệt, có gập ghềnh buồn, vui:

                       “… Xuân tôi sang bến yêu tôi tìm gió trăng
                        Tình Xuân là Xuân có khi mừng vơi có khi sầu đầy
                        Xuân yêu đương muốn căng lên nhựa sống ngon
                        Tìm em gặp em đón Xuân nghìn năm bão Xuân ngập lòng…”

                        (Nguồn đd.)

            Tôi không biết có phải tác giả “Xuân Ca” muốn nhắc nhở chúng ta (cũng như chính ông) rằng, từ ngàn đời, bạo lực, thù hận vốn bị mùa xuân cự tuyệt. Nếu nhân loại có phải đối mặt với những mùa xuân gươm giáo, mùa xuân súng đạn, mùa xuân tai ương thì, đó là hậu quả của những thảm kịch do chính con người chủ xướng để gây cảnh nồi da xáo thịt cho nhau:

                       “… Xuân lên cao chóp Xuân buông nhịp xuống sâu
                        Hồn Xuân hồn thiêng ngút lên từ lâu cõi Xuân còn dài
                        Xuân trong ta đã muôn ngàn lần đã qua
                        Mặc cho, mặc bao những cơn buồn thương những cơn giận hờn…”

                        (Nguồn đd.)

            Từ đó, tác giả “Xuân Ca” khẳng định:

                       “… Xuân tôi ơi sức Xuân tôi còn khát khao
                        Dù nay, dù mai cũng như mọi ai chết trong địa cầu
                        Xuân muôn năm có ta Xuân còn hỡi Xuân
                        Thì xin, thì Xuân hãy cho tình nhân sống thêm vài lần.”

                        (Nguồn đd.)

            Một khẳng định đầy tình người. Rất nhân ái.
            Nếu “Xuân Ca” của Phạm Duy là bức tranh vẽ lại sự hình thành từ trứng nước của một con người trên phông nền chính là lẽ tử, sinh (đôi khi đậm sắc xám) thì, “Anh cho em mùa xuân”, thơ Kim Tuấn,(2) nhạc Nguyễn Hiền(3) lại được xây dựng trên tương quan đầy tính thơm thảo giữa mùa xuân trái đất và niềm hân hoan, lạc quan của con người.
            Trong xuân-khúc của Nguyễn Hiền và Kim Tuấn, giới thưởng ngoạn không chỉ cảm được nhựa xuân, mạch sống hồi sinh sung mãn, tuôn trào trên cây cỏ, đường phố, nhà cửa mà, người nghe còn cảm nhận được tiếng chim hót, tiếng cười trẻ thơ (kể cả tiếng cười của mùa xuân)… Khiến người nghe khó phân biệt được: Đâu là tiếng cười của Hoa Xuân? Đâu là tiếng cười của muôn loài:

           “Anh cho em mùa xuân / nụ hoa vàng mới nở / chiều đông nào nhung nhớ / Đường lao xao lá đầy / chân bước mòn vỉa phố / mắt buồn vin ngọn cây //
            Anh cho em mùa xuân / mùa xuân này tất cả / lộc non vừa trẩy lá / Lời thơ thương cõi đời / bầy chim lùa vạt nắng / trong khói chiều chơi vơi //
            Đất mẹ đầy cỏ lúa / đồng xanh xa mấy mùa / Ngoài đê diều căng gió / thoảng câu hò đôi lứa / Trong xóm vang chuông chùa / trăng sáng soi liếp dừa /Con sông dài mấy nhánh / cát trắng bờ quê xưa //
            Anh cho em mùa xuân / trẻ nô đùa khắp trời / Niềm yêu đời phơi phới / Bàn tay thơm sữa ngọt / giải đất hiền chim hót / mái nhà xinh kề nhau //
            Anh cho em mùa xuân / đường hoa vào phố nhỏ / nhạc chan hòa đây đó / Tình yêu non nước này / bài thơ còn xao xuyến / rung nắng vàng ban mai //
            Anh cho em mùa xuân / Nhạc thơ tràn muôn lối.”

            (Anh cho em mùa xuân. Nguồn đd.)

            Tuy là mặt khác của “Xuân Ca”, nhưng cả hai xuân-khúc này, theo tôi đã có được cho riêng chúng cái định-mệnh-xuân – Hiểu theo nghĩa chúng sẽ tồn tại mãi mãi cùng với vòng quay của trái đất. Dù cho Phạm Duy, Kim Tuấn, Nguyễn Hiền đã không còn nữa. Họ đã rời bỏ chúng ta, để an cư trong mùa xuân khác. Mùa xuân vĩnh cửu.




“Ly rượu mừng”, xuân-khúc “kinh điển” của tân nhạc Việt
            “Xuân Ca” của Phạm Duy và, “Anh cho em mùa xuân” của Kim Tuấn / Nguyễn Hiền là hai trong số những xuân-khúc tiêu biểu của nền tân nhạc miền Nam hai mươi năm. Nhưng nếu phải tìm một xuân-khúc đại diện cho mọi tầng lớp của xã hội Việt Nam, đồng thời phản ảnh tâm cảnh của mọi lứa tuổi thì, ứng hợp nhất với đòi hỏi này, theo tôi, là xuân-khúc “Ly rượu mừng” của cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương.(4)
            Tôi vẫn nghĩ chẳng phải ngẫu nhiên mà “Ly rượu mừng” không những đã trở thành “ly rượu” không thể thiếu trong mùa xuân của người Việt Nam mà, “ly rượu” ấy còn được nâng cao trong những họp mặt, lễ lạc ở bất cứ thời điểm nào của một năm. Nếu ta nhìn mỗi hội ngộ tự thân cũng là một mùa xuân tinh thần, ấm áp.
            Tôi muốn gọi “Ly rượu mừng” là xuân-khúc “kinh điển” nhất của nền tân nhạc Việt Nam. Tính chất “kinh điển” hiểu theo nghĩa không một thành phần nào của xã hội bị bỏ quên. Và, một cách ý thức, tác giả, đã sắp lại bậc thang giá trị của các thành phần xã hội, với lòng trân trọng, biết ơn của mình.(5)
            Thực vậy, ngay phần mở đầu của ca khúc, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã chọn ba thành phần nòng cốt là: Nông phu, thương gia, công nhân để gửi lời chúc mừng tới họ:

           “Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi / Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi / Người thương gia lợi tức / Người công nhân ấm no / Thoát ly đời gian lao nghèo khó //
            Á a a a / Nhấp chén đầy vơi / Chúc người người vui / Á a a a / Muôn lòng xao xuyến duyên đời…”


            Tầng lớp nông dân kể trên vốn không được coi trọng lắm, theo quan niệm cổ xưa, căn cứ vào khẩu truyền của dân gian: “Sĩ, nông, công, thương, binh”.
            Nhưng khi phải đối đầu với thực tế, cũng chính dân gian đã “sửa sai” bằng khẩu truyền: “Nhất sĩ, nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ!”
            Lại nữa, xã hội Việt Nam vốn là xã hội nông nghiệp, nên sự trả lại vị trí hàng đầu cho nông dân của họ Phạm là một trả lại hợp lý, xứng đáng.
Cũng vậy, tầng lớp binh sĩ, theo sắp xếp có tính cách biểu kiến, hời hợt thuở trước, vốn đứng hạng chót trong nấc thang gia trị xã hội – Nhưng, với “Ly rượu mừng,” tác giả đã dành nguyên khổ thứ hai của ca khúc, để chúc mừng họ, những người hy sinh mạng sống của mình cho ấm no, giầu có của dân tộc:

           “Rót thêm tràn đầy chén quan san / Chúc người binh sĩ lên đàng / Chiến đấu công thành / Sáng cuộc đời lành / Mừng người vì Nước quên thân mình…”

            Khi đề cập tới những hy sinh của người lính, họ Phạm cũng không quên những hy sinh thầm lặng, nhưng lớn lao không kém của những bà mẹ:

           “Kìa nơi xa xa có bà mẹ già / Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa / Chúc bà một sớm quê hương / Bước con về hòa nỗi yêu thương / Á a a a / Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính / Á a a a / Chúc mẹ hiền dứt u tình…”

            Kế tiếp, tác giả mới đề cập tới những đóng góp khác:

           “Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương / Xây tổ ấm trên cành yêu đương / Nào cạn ly, mừng người nghệ sĩ / Tiếng thi ca nét chấm phá tô thêm đời mới…”

            Cuối cùng là chung khúc rực rỡ hy vọng, tin yêu nơi tương lai đất nước:

           “Bạn hỡi, vang lên / Lời ước thiêng liêng / Chúc non sông hoà bình, hoà bình / Ngày máu xương thôi tuôn rơi / Ngày ấy quê hương yên vui / đợi anh về trong chén tình đầy vơi //
            Nhấc cao ly này / Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do / Nước non thanh bình / Muôn người hạnh phúc chan hoà // Ước mơ hạnh phúc nơi nơi / Hương thanh bình dâng phơi phới.”

            (Theo dactrung.com)

            Và, mỗi khi cùng nhau nâng “Ly rượu mừng” dù ở thời điểm nào của vòng quay trái đất, cũng chính là lúc chúng ta cùng với tác giả, hân hoan cầu chúc “… Nước non thanh bình / Muôn người hạnh phúc chan hoà…”
         Tôi nghĩ, đó là một cầu nguyện đời kiếp của dân tộc ta. Như sự hiện diện bất biến của tác giả ca khúc vậy.


DU TỬ LÊ
Tháng 02/2013

__________________________________________
(1) Nhạc sĩ Phạm Duy sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 tại Hà Nội. Ông mất ngày 27 tháng 1 năm 2013 tại Saigon. (Theo Wikipedia – Tiếng Việt).
(2) Nhà thơ Kim Tuấn sinh năm 1938 tại Hà Tĩnh (gốc Thừa Thiên / Huế). Ông mất ngày 11 tháng 9 năm 2003 tại Saigon. (Theo Wikipedia – Tiếng Việt).
(3) Nhạc sĩ Nguyễn Hiền sinh năm 1927 tại Hà Nội. Ông mất ngày 23 tháng 12 năm 2005 tại quận hạt Orange County, miền nam California. (Theo Wikipedia – Tiếng Việt).
(4) Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, cả hai thân sinh ra ông đều chơi nhạc cổ truyền. Thân phụ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được hai người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.
       Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có ba người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.
       Ông được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn vẫn là tự học. Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng các anh em Phạm Đình Viêm, Phạm Thị Quang Thái và Phạm Thị Băng Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV.
       Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947, khi 18 tuổi, với tác phẩm đầu tay là ca khúc Ra đi khi trời vừa sáng. Năm 1951 ông và gia đình chuyển vào miền Nam. Với các anh em Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng ông thành lập ban hợp ca Thăng Long danh tiếng. Trong thập niên 50, ông đã viết những tác phẩm thành công và để đời như Ly Rượu Mừng, Xuân tha Hương, Thủa Ban Đầu, Tiếng Dân Chài v.v… Đáng kể nhất là trường ca bất hủ Hội Trùng Dương mà ông viết về đất nước Việt Nam hoa gấm, qua ba bài ca nói về con sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long. Theo như lời ông đã nói với gia đình, trường ca này đã phải tốn mất 4 năm để hoàn tất. (phamdinhchuong.com)
(5) Trước tháng 4-1975, khi cho in “Ly rượu mừng” hình thức một bản nhạc lẻ, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã ghi chú nguyên văn như sau: “viết tại Sàigòn năm 1955 để đăng trên số báo Tết, Báo Đời Mới, thể theo lời yêu cầu của cụ Trần Văn Ân và nhà văn quá cố Nguyễn Đức Quỳnh, là hai người chủ trương tờ báo này.”


https://www.dutule.com/p124a4736/28/du-tu-le-mua-xuan-nhin-lai-20-nam-tan-nhac-mien-nam-
https://www.dutule.com/p124a4750/28/nhung-xuan-khuc-ton-tai-cung-vong-quay-trai-dat-
https://www.dutule.com/p124a4761/28/ly-ruou-mung-xuan-khuc-kinh-dien-cua-tan-nhac-viet-

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #171 vào: 08/02/2019, 19:37:55 »
Đọc thơ Xuân

Trong ngôn ngữ, có lẽ không có chữ nào gợi nên những điều tốt đẹp bằng chữ “xuân”: nắng xuân, mưa xuân, chiều xuân, đêm xuân, ngày xuân, hoa xuân, vườn xuân, sắc xuân, thanh xuân, tuổi xuân, hồi xuân, nghênh xuân, du xuân, tình xuân, đón xuân rồi những là bến xuân, phiên gác đêm xuân, nhớ một chiều xuân…

Sắc mai vàng đón Tết

XUÂN NÀO CŨNG gắn liền với hy vọng, với sự sáng sủa, với sự tươi vui, nồng ấm và sức sống.
            Tự điển Hán-Việt Thiều Chửu diễn tả chữ “xuân” như sau: “Xuân là đầu bốn mùa, muôn vật đều có cái cảnh tượng hớn hở tốt tươi, cho nên người ta mới ví người tuổi trẻ như mùa Xuân mà gọi thì tuổi trẻ là thanh xuân 青春 xuân xanh, ý thú hoạt bát gọi là xuân khí 春氣, thầy thuốc chữa khỏi bệnh gọi là diệu thủ hồi xuân 妙手回春. Xuân còn có nghĩa là rượu, cốc rượu đầu Xuân; thời nhà Chu bên Tàu, cứ đến tháng trọng Xuân 仲春 (Tháng Hai) thì cho cưới xin, vì thế mới gọi các con gái muốn lấy chồng là hoài xuân 懷春.”
            Chả thế mà nói đến “thơ Xuân” hay “nhạc Xuân,” dù chưa đọc, chưa nghe qua cũng đã cảm thấy vui vẻ, rộn ràng. Xuân, do đó, bao giờ cũng hàm nghĩa tích cực và lạc quan. Hãy nghe Nguyễn Du phác họa mấy nét mùa Xuân:

                       “Ngày xuân con én đưa thoi
                        Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
                        Cỏ non xanh tận chân trời
                        Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.


            Én bay, nắng rực rỡ, cỏ non xanh, cành hoa trắng, hình ảnh nào cũng tươi, đẹp, sáng sủa.
            Với Hồ Xuân Hương, xuân gắn liền với xanh, xuân là xanh: xuân xanh. Và cũng gắn liền với cái trong trắng, trinh nguyên của người thiếu nữ mới lớn: tờ giấy trắng. Chả thế mà thời gian còn son trẻ của các cô gái được gọi là “xuân thì”, “đương xuân.”

                       “Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
                        Chị cũng xinh mà em cũng xinh
                        Ðôi lứa như in tờ giấy trắng
                        Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh.


            Nguyễn Bính về sau này cũng cho là “xuân” thì đi với “xanh”:

                       “Mùa xuân là cả một mùa xanh
                        Giời ở trên cao, lá ở cành


            Với Đoàn Văn Cừ, đó là cảnh làm thơ và viết câu đối ngày Tết:

                       “Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản
                        Tay mài nghiên hý hoáy viết thơ xuân
                        Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
                        Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ


            Còn Anh Thơ, xuân là cảnh sống động ngoài đường làng:

                       “Ngoài đường ngõ bùn lầy theo nước chảy
                        Thằng cu con quần đỏ cưỡi lưng bà
                        Các cô gái đội vàng hương ôm váy
                        Miệng tươi cười mừng tuổi những người qua

                        (Ngày Tết)

            Hàn Mặc Tử ví von thời điểm đẹp nhất của mùa Xuân với trái cây chín tới qua cái tựa đề: “Mùa Xuân Chín”. “Chín” ở đây là viên mãn, tròn đầy:

                       “Trong làn nắng ửng khói mơ tan
                        Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
                        Sột soạt gió trêu tà áo biếc
                        Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang


            Chín ngoài trời mà cũng là chín ở trong lòng những cô thiếu nữ:

                       “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
                        Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
                        – Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
                        Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…


            Nguyên Sa lại thu gọn mùa Xuân vào một chỗ, đó là hình ảnh của “em”, người yêu.

                       “Mùa xuân em mặc áo vàng,
                        Ở trong thơ cổ chim hoàng hạc bay.
                        Em vừa xoay nhẹ vai gầy,
                        Nhìn coi vũ điệu vào đầy giấc mơ.
                        Nhìn coi chỗ cuối bài thơ,
                        Nụ hôn màu đỏ trời cho rượu đào.
                        Anh nhìn em mới bước vào,
                        Nhìn xuân, xuân cất tiếng chào đầu năm.

                        (Thơ Xuân Áo Vàng)

            Xuân là “em”. “Em” là xuân. Nói cách khác, chính tình yêu là mùa Xuân.
            Thanh Tâm Tuyền có một cách hình dung khác. Xuân là Tháng Giêng. Mà Tháng Giêng thì cây cỏ “hiện thành người”, là “cỏ non dại dột”, “cây leo yếu đuối”. Mùa Xuân gắn liền với cái non, tơ, yếu, mới chớm:

                       “Người ta bảo đêm tháng giêng cỏ cây hiện thành người
                        Anh bảo em chúng ta hãy là
                        Những cây leo yếu đuối
                        Những cỏ non dại dột
                        Mùa xuân đòi em trong quấn quít chờ đợi

                        (Đêm)

            Mùa Xuân cũng là con thỏ hồn nhiên chạy trên cỏ sắc. Xuân biến tóc thành miệng: chuỗi cười, biến đôi môi thành lá và biến nụ hôn thành thành sao: chòm hôn.

                       “Những bước chân thỏ rừng
                        Chạy trên cỏ sắc
                        Sợi tóc đen như một chuỗi cười
                        Trên chúm môi lá biếc
                        Những chòm hôn vội vàng
                        Làm những vì sao đổi ngôi
                        Anh muốn làm mới tình yêu

                        (Bài Thơ Của Tháng Giêng)


Mang Xuân đến mọi nhà

            Trong lúc đó, từ căn nhà rất đẹp của mình ở Bellevue, tiểu bang Washington, Trần Mộng Tú phác họa đôi nét chấm phá rất riêng về Xuân:

                       “Khi em nói cho anh nghe về con dốc cạnh nhà
                        con dốc nhìn xuống hồ Sammamish với dòng nước trong veo
                        những chiếc thuyền nhỏ đang căng lên những chiếc buồm
                        vải trắng
                        giải núi xanh như một nét mày thiếu nữ
                        vẽ một đường dài đến tận chân mây
                        làm cho trái tim em đập sai một nhịp
                        (…)
                        Em biết là mùa xuân đã dọn vào
                        ở hẳn với em

                        (Mùa Xuân và Thơ Thanh Tâm Tuyền)

             “Mùa xuân đã dọn vào ở hẳn với em”, nghe nhẹ nhàng nhưng đầy quyến rũ!


⋆ ⋆ ⋆

            Nhưng đừng tưởng mùa Xuân bao giờ cũng vui, cũng tươi sáng, cũng đầy hy vọng. Trong nhiều trường hợp, Xuân chẳng phải là Xuân: Xuân sầu.
            Chế Lan Viên, khi vẫn còn là nhà thơ tự do thời tiền chiến, đã từng nhìn mùa Xuân bằng một cái nhìn vô cùng tiêu cực:

                       “Tôi có chờ đâu có đợi đâu
                        Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
                        Với tôi tất cả đều vô nghĩa
                        Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…


            Buồn, bi quan, tuyệt vọng! Cả hơi thơ lẫn ý thơ như một phủ nhận, đúng hơn, một nghịch lý toàn diện với hai chữ “mùa Xuân!” Vì sao? Nghèo. “Có một người nghèo không biết tết/ Mang lì chiếc áo độ thu tàn!” Nó khiến ta nhớ đến những bài thơ Tết độc đáo của Trần Tú Xương:

                        “Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo
                        Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
                        Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy
                        Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu


            Một cách trào lộng chua chát về cái nghèo và mùa Xuân!
            Nếu cái nghèo đã đập nát đi hình ảnh mùa Xuân thì chiến tranh lại càng biến mùa Xuân thành bi kịch. Trịnh Công Sơn mô tả một buổi sáng mùa Xuân thời còn chiến tranh:

                       “Một buổi sáng mùa xuân
                        Một đứa bé ra đồng
                        Đạp trái mìn nổ chậm
                        Xác không còn đôi chân
                        Một buổi sáng mùa xuân
                        Ngực đứa bé tan tành
                        Ngàn hoa đồng cỏ nội
                        Cúi xuống nhìn con tim.


            Thật thảm thiết! Nhưng thảm thiết hơn nữa là cảnh xuân Mậu Thân ở Huế. Xuân Mậu Thân trở thành một mùa Xuân chết, qua lời ca cũng của Trịnh Công Sơn:

                       “Xác người nằm trôi sông
                        Phơi trên ruộng đồng
                        Trên nóc nhà thành phố
                        Trên những đường quanh co


            Chiến tranh chấm dứt, trong lúc người chiến thắng ồn ào ca ngợi mùa Xuân “đại thắng” thì hàng triệu người lại khăn gói vào tù. Xuân bây giờ là Xuân tù. Xin đọc vài đoạn trong bài thơ “Tháng Chạp Buồn”, một bài thơ tù của Tô Thùy Yên, được tác giả tìm thấy thời gian gần đây và đưa vào tuyển tập thơ mới vừa xuất bản của ông:

                       “Tết này con vẫn chưa về được
                        Chân mỏi còn lê nặng kiếp tù
                        Con nghĩ mà đau muôn nỗi nhớ
                        Chín năm lòng bạc những thiên thu
                        (…)
                        Trong ấy mùa xuân có đến không?
                        Mùa xuân hoa nở má em hồng
                        Mùa xuân áo mới như hy vọng
                        Nắng mật ngời lên ánh mắt trong
                        Ở đây có lẽ xuân không đến
                        Rừng núi chưa tan giấc não nề
                        Thương nhớ tràn như cơn lũ máu
                        Lòng anh đã vỡ những con đê.
                        (…)
                        Ôi cánh diều băng mùa hạ cũ
                        Xương tàn còn đọng ngọn tre cao
                        Ðến nay trời nổi bao lần gió
                        Con tưởng oan hồn vật vã đau
                        Tết này cha vẫn chưa về được
                        Ðành hẹn cùng con tết khác thôi
                        Con nhớ để dành cây pháo cũ
                        Ðể dành một chút tuổi thơ vui.


            Thật thấm thía cảnh mùa Xuân ở trong tù!


⋆ ⋆ ⋆

            Xin kết thúc bài viết bằng một thứ xuân khác, quen mà khá lạ, không vui cũng chẳng buồn của nhà thơ tình yêu Trần Mộng Tú.

                       “Đã lâu quá anh không về gõ cửa
                        lồng ngực em. Trái đỏ vẫn còn nguyên
                        (…)
                        Em mở áo cho xuân coi lồng ngực
                        trái tim em mảnh vườn cũ quê nhà
                        cành mai chiết tay ai còn in dấu
                        thiều quang ơi! Hoa nhớ đến xót xa
                        Em mở áo cho xuân coi lồng ngực
                        trái tim em như một ngọn hải đăng
                        lửa sinh diệt thắp hoài không dám tắt
                        bờ bến nào mà cá vẫn bặt tăm
                        Đã lâu quá anh không về gõ cửa
                        lồng ngực em. Trái đỏ vẫn còn nguyên


            Trong thơ ca xưa nay, ít khi ta thấy có nhà thơ nào trải lòng mình với “xuân” đến như thế.
            Bâng khuâng và đầy quyến rũ!


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 01/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/doc-tho-xuan/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #172 vào: 10/02/2019, 19:49:22 »
Đôi dòng tản mạn đầu Xuân

Đêm xuống trời hơi se lạnh, tôi trở dậy nhẹ nhàng kéo chiếc chăn mỏng đắp lên người, ánh đèn từ phòng bên vẫn le lói, hẳn tôi đã ngủ quên, nên không tắt đèn. Nhẹ nhàng nhoài người đến bên khung cửa sổ, mắt nhìn xuống phố, mưa rơi lất phất, đêm Paris thật yên bình và tĩnh lặng, nhất là trong khu đồi Montmartre, nơi tôi cư ngụ.


NHỮNG CON PHỐ nhỏ hẹp lát đá xanh từ thời vua Henri IV (cuối thế kỷ XVI), vẫn cứ bền bỉ ngoằn nghèo xen kẽ giữa những bậc thang đá đơn côi dẫn lên tới đỉnh đồi, nơi có ngôi nhà thờ Thánh Tâm trắng ngần (Sacré Cœur) tráng lệ tọa lạc.
            Đếm từng hạt mưa rơi… Có lẽ đây là những đêm cuối cùng của mùa đông Paris còn sót lại. Nhưng ngày mai, chỉ ngày mai thôi, bên kia Thái Bình Dương, Việt Nam xa xôi, sẽ là một mùa xuân ấm áp.
            Trái tim tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả. Tôi chợt lặng nhìn qua con phố vắng, để mặc cho gió đông thổi run run những cành cây khô. Tim tôi cảm nhận một khoảnh khắc giao mùa thiêng liêng kỳ diệu đang đến gần.
            Xuân chạm ngõ thật rồi, dường như nó đang chực sẵn ở bên kia bờ đại dương. Sáng sớm thức dậy, tôi thấy những tia nắng ấm áp len lỏi qua từng nhánh lá, vậy là đông đã qua rồi sao? Đông tan nhẹ quá, rất nhẹ và thật êm trong đêm. Vậy là đông đã theo mưa tan vào cỏ, còn cỏ lại hân hoan nở từng nụ cười xinh cảm ơn mùa xuân đã đánh thức sau một giấc ngủ say.
            Từng chồi non hé nở, những màu xanh cây lá với sắc xanh mơn mởn mà chỉ có ở mùa xuân, đang được hoà quyện với tiết trời ấm áp trong lành của thiên nhiên vạn vật. Đứng ngắm nhìn những chồi biếc đang nô đùa, tôi thấy lòng mình đột nhiên thanh thản kỳ lạ.
            Khúc hát đón xuân “Lắng Nghe Mùa Xuân Về”, một sáng tác của Dương Thụ, qua giọng ca của Bằng Kiều và Hồng Nhung thể hiện, chợt vang lên trong căn gác nhỏ. Ôi mùa xuân! Mùa xuân tươi mới, rạng ngời là thế, nên xin đời bao dung, và cứ để vài kỷ niệm ngủ vùi, đừng nhắc lại. Thả hồn theo khúc tự tình, tôi khẽ cười, chào mùa xuân mới.
            Chẳng phải ngẫu nhiên mà bất cứ danh từ, tính từ nào đi kèm chữ xuân cũng tràn trề sự sống, sự hồi sinh, nào là: xuân thì, xuân tình, xuân nồng, xuân ngời… Và dẫu cho “mỗi năm một tuổi, cái tuổi đuổi xuân đi” thế nhưng con người vẫn luôn trân trọng và luyến tiếc mùa xuân. Mong đợi xuân đến rồi cũng ngậm ngùi tiễn xuân đi, khi thấy một cánh hoa vô tình rơi rụng, tâm hồn ta cũng cảm thấy nuối tiếc, chạnh lòng.
            Đức Phật dạy rằng, tất thảy mọi sự xuất hiện trên thế gian này đều vô thường, đều nằm trong chu kỳ của Sinh, Trụ, Dị, Diệt, nôm na có nghĩa là xuất hiện và có mặt trong một khoảng thời gian, rồi thay đổi và biến mất. Bởi thế, cuộc sống luôn chứa ẩn nhiều điều bất trắc và chẳng có gì là vĩnh cửu, cứ luôn tuần hoàn, thay đổi. Ngay cả tình yêu cũng vậy, hôm nay thắm đượm, nhưng ngày mai ai dám chắc mình sẽ thuộc về nhau. Có chăng, tình cảm gia đình, tình yêu quê hương thì luôn đau đáu trong tim người tha hương viễn xứ.
            Mà quả thật, cuộc sống hôm nay dễ làm cho con người ta trở nên viễn xứ. Xa xứ vì phải đi lập nghiệp ở những vùng đất khác theo nhu cầu cuộc sống và cũng có thể xa xứ ngay khi đang sống trên mảnh đất của chính nơi mình sinh ra. Vì thế mà cần thiết biết bao phải có những ngày xuân để mọi người quay về với nguồn cội!
            Mỗi mùa trong năm đều có một nét đẹp riêng, nhưng có thể khẳng định một điều rằng, Xuân là mùa dường như được đất trời dành cho nhiều ưu ái nhất. Xuân ẩn bên trong mình nó những khô cằn, gai góc, khẳng khiu của muôn loài cỏ cây hoa lá… Bên trong cái quặn thắt ấy, vẫn luôn chứa đựng sắc xuân, mênh mông, vô cùng, vô tận. Rồi chỉ sau một đêm ngủ dậy, cũng cành cây ấy mới hôm qua thôi, nhìn vào thấy toàn gai góc, quặn thắt, xót xa…, thì nay đã biến thành những chồi non, lộc biếc, sắc hoa rực rỡ, phơi phới nao lòng, ngạt ngào đưa hương xuân lan tỏa khắp đất trời…
            Không biết từ Tết có tự bao giờ, mà mỗi khi nhắc đến làm con người ta bồi hồi, xao xuyến, rạo rực, xốn xang. Có thể nói, mùa Xuân gói Tết trong lòng, hay là Tết nở ra mùa Xuân? Tết và Xuân có ở trong nhau, bao bọc nhau, đẹp đẽ đến lạ kỳ, nhất là “Phút Giao Thừa”. Ôi…! Cái phút giây mà lòng người, tình người được trải ra, sâu lắng, mênh mông, chân thành nhất. Có thể nói, trong cả năm suốt ba trăm sáu mươi lăm ngày, không có phút giây nào đẹp hơn, vui hơn, trân trọng hơn phút giao thừa. Có lẽ vì thế mà người đời luôn mong mỏi, đợi chờ Xuân tới.
            Ngày xưa, trong cảnh nghèo khó bao trùm, người ta chỉ mong đến Tết để được ba ngày nghỉ ngơi, vui chơi, ăn uống no say, thoải mái, và hết ba ngày Tết lại làm lụng quần quật, lại nắng mưa giãi dầu, khốn khó triền miên… Trong những lúc mệt nhọc, đói khổ, người ta lại nhớ đến mùa Xuân… mong đến Tết.
            Xuân đến, Tết về. Trong tiết xuân sang, thoảng mùi hương của đất trời thiên nhiên rộng mở. Dẫu là người hờ hững đến đâu, nông nổi đến mấy cũng sẽ thấy lòng mình xao xuyến khi xuân về. Xuân sum họp, Tết đoàn viên. Có đi xa quê, chưa kịp trở về khi trời đất chuyển mùa, khi người người nô nức sắm tết mới hiểu được hết cái ‎nghĩa thiêng liêng của hai chữ sum họp – đoàn viên.
            Cứ mong ngóng mãi đến ngày trở về, trở về đúng dịp Tết, để quây quần bên mâm cơm tất niên, để được đón cái giây phút giao hòa thiêng liêng huyền diệu của năm cũ và năm mới, để được thắp lên bàn thờ tổ tiên nén hương thành kính, bên mâm cơm ngày tết ấm áp nghĩa tình, nồng nàn tình thân khiến những món ăn thêm hương vị độc đáo, khiến men rượu ngày xuân thêm ngây ngất nồng say…
            Thật hạnh phúc cho bất cứ ai cảm nhận đươc nhịp thở của mùa xuân. Vì mùa xuân như một cung đàn có thể gảy được tất cả những giai điệu yêu thương dành tặng cho cuộc đời. Năm nào xuân cũng đến và mỗi mùa xuân đều mang một dư vị riêng của yêu thương, của nồng ấm. Không mùa xuân nào giống mùa xuân nào, có chăng chỉ là sự giống nhau về bản chất, còn sự thật, xuân luôn khoác lên mình nhân sinh quan của thời thơ ấu, hay khi bạc mái đầu.
            Đón xuân rồi tiễn xuân… Nhưng khúc nhạc tình đời, tình người do mùa xuân ban tặng luôn ngự trị trong tâm thức của mỗi người. Bởi mùa xuân là vị sứ giả không đòi bổng lộc, không đợi nhắc nhở, cứ đến mùa lại nghêu ngao đi khắp nơi ban tặng cho mọi người một bản nhạc xuân tình – xuân đời đầy yêu thương, ấm áp, tràn đầy sinh khí trong cõi nhân gian.
            Mùa xuân đang về trên quê hương, tôi chạnh lòng nghĩ đến những mảnh đất đang loang lổ vì chiến tranh và thiên tai đại dịch, những bất công của bạo quyền, những gia đình vắng bóng người cha, người mẹ hay người con và bao kiếp người lưu lạc, bơ vơ không tìm được lối về. Làm sao họ có thể cảm nhận được vẻ đẹp và niềm hạnh phúc của đất trời vào xuân khi không gặp được mùa xuân của lòng mình! Vẻ đẹp tinh khôi và tươi mới của đất trời, làm nên mùa xuân của vũ trụ. Tình yêu và sự gặp gỡ sẽ làm nên mùa xuân của cuộc sống, mùa xuân nơi tâm hồn mỗi chúng ta.


ĐỨC BÌNH
Tháng 02/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130209-doi-dong-tan-man-xuan-quy-ty

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #173 vào: 12/02/2019, 16:27:12 »
Những ngón tay bắt được của trời

Tạp chí Văn (trước 1975), ngoài là bệ phóng/bệ nâng của nhiều tên tuổi văn chương Việt, còn là một gallery thu nhỏ, một gallery chu đáo và ấn tượng nơi nhiều bìa báo (và cả những phụ bản) là những tác phẩm nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao của giàn họa sĩ thời danh – những con người với phước phần khi được ban cho “những ngón tay bắt được của trời” (từ của nhà văn Mai Thảo gọi họa sĩ Duy Thanh trong một bài viết trên tạp chí Sáng Tạo).

Bìa tạp chí Văn số đặc biệt viết về hội họa

NHỮNG VÓC DÁNG “em gầy như liễu trong thơ cổ”, nhưng gương mặt đẹp-đau-thương, những đường nét khêu gợi trí tưởng, những mảng màu siêu thực… trên bìa của Văn, khiến tạp chí này – ngoài giá trị nội dung không thể phủ nhận – còn bật lên với những giá trị thẩm mỹ và có thể được xem là một trong số ít những tạp chí văn chương được chăm chút nhất về mặt “mỹ thuật” của làng báo chí “ngàn hoa đua nở” trước 1975.
            Tính từ 1954 đến 1975, có thể chia “thế giới” hội họa – tạo hình thành ba làn sóng, trong đó có thể kể đến đợt đầu tiên gồm lứa của Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, Tạ Tỵ… đợt thứ hai là lứa Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Duy Thanh… và Hội Họa Sĩ Trẻ có thể coi là đợt sóng thứ ba của hội họa Việt Nam.
            Những họa sĩ tài danh của ba đợt sóng này đều đã tung lên những triều cường về màu sắc, hình ảnh, bố cục… trên bìa của một tạp chí thuần văn chương như Văn.
            Riêng về Hội Họa Sĩ Trẻ, những tên tuổi nổi trội trong hội có thể kể đến: Ngy Cao Uyên, Hiếu Đệ, Cù Nguyễn, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyễn Phước, Nguyễn Lâm, Mai Chửng, Đinh Cường, Hồ Thành Đức, Trịnh Cung…
            Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam sở dĩ được thành lập, do “tham vọng” trước mắt là từ chính những cá nhân đứng ra thành lập hội, và từ những “nhận ra” – ví dụ như sự-nhận-ra được đề trên brochure ngày 10 Tháng Mười Một, 1973, cho cuộc triển lãm tại tại gallery La Dolce Vita thuộc khách sạn Continental.

            “Nhận thấy nghệ thuật Việt Nam, nói riêng là hội họa và điêu khắc, trong hơn nửa thế kỷ nay, kể từ ngày có trường Mỹ Thuật Đông Dương do người Pháp thành lập tại Hà Nội, vẫn chưa đáp ứng được với thực trạng Việt Nam. Cảm hứng nghệ thuật có thể nói là quá nghèo nàn vì chủ nghĩa buông thả, vì chủ nghĩa cá nhân chật hẹp không tương xứng với hoàn cảnh Việt Nam với những vấn đề vô cùng lớn lao và phong phú.
            “Những kiểu cách sai lầm từ trước tới nay vẫn chưa được mổ xẻ; hoặc dùng những đặc tính gọi là Á Đông để làm căn bản nghệ thuật mà thật ra chỉ là những hình thức lệ thuộc Tàu, Nhật… hoặc nhờ cậy vào nghệ thuật Âu châu, đặc biệt là trường phái Paris, lấy nó làm tiêu chuẩn để suy luận và làm việc, nhốt gọn nghệ thuật Việt Nam trong cái giỏ ‘thuộc địa’ nên những công trình thực hiện chỉ là cái gì thứ yếu đối với nghệ thuật Tây phương.”


            Hãy cùng nhìn lại từ điểm khởi đầu, từ chính lời tường thuật của một nhân chứng sống: họa sĩ Trịnh Cung (trao đổi điện tín với nhà văn Phan Nhiên Hạo năm 2009).

            “Có lẽ do sự xuất sắc của một số họa sĩ trẻ, tuổi từ 22 đến 30, từng đoạt những giải thưởng mỹ thuật quan trọng của quốc gia như Giải Hội Họa Mùa Xuân bắt đầu từ năm 1959, Giải Mỹ Thuật Quốc Tế Sài Gòn Lần Thứ Nhất vào năm 1962, và Giải Văn Học & Nghệ Thuật Tổng Thống vào năm 1966 (?) mà hai nhân vật, Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng (nay đang định cư ở Canada), và họa sĩ Ngy Cao Uyên (nay đang định cư ớ vùng Hoa Thịnh Đốn), đã khởi xướng việc quy tụ lại những tài năng trẻ và thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam.
            “Hai ông, Ngy Cao Uyên, sĩ quan Bộ Tư Lệnh Không Quân, và cũng là một họa sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ, cùng với ông Nguyễn Tấn Hồng, một trí thức yêu hội họa, bộ trưởng Bộ Thanh Niên, đóng vai mạnh thường quân của hội. Theo trí nhớ của họa sĩ Cù Nguyễn, cuộc họp ban đầu để bàn về việc lập hội gồm có Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng, các họa sĩ Ngy Cao Uyên, Vị Ý, Cù Nguyễn, Âu Như Thụy và nhạc sĩ Phạm Duy. Thế nhưng khi họp để chính thức thành lập hội tại nhà Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng trên đường Phan Thanh Giản, Quận 3, Sài Gòn, ngoài ông Nguyễn Tấn Hồng chỉ có chúng tôi, gồm các họa sĩ và điêu khắc gia Ngy Cao Uyên, Hiếu Đệ, Cù Nguyễn, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyễn Phước, Nguyễn Lâm, Mai Chửng, Đinh Cường, Hồ Thành Đức và tôi, Trịnh Cung. Lúc đó là Tháng Mười Một, 1966. Họa sĩ Ngy Cao Uyên được bầu làm chủ tịch lâm thời của hội, Nguyễn Trung và Mai Chửng giữ vai phó, tôi làm tổng thư ký, các anh còn lại là ủy viên ban chấp hành. Kể từ đó, tất cả chúng tôi đều là thành viên sáng lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, và những cuộc họp ban chấp hành thời kỳ chưa có trụ sở riêng đều diễn ra tại nhà Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng.
            “Nhớ lại những ngày đầu tiên ấy, trừ Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng và họa sĩ Ngy Cao Uyên, cả hai đều đã khá già dặn và có sự nghiệp, họa sĩ Hiếu Đệ là lớp đàn anh, chúng tôi còn lại đều rất trẻ, trên dưới 25 tuổi. Trừ Ngy Cao Uyên và Cù Nguyễn là hai họa sĩ tự học, còn lại đều là sản phẩm một nửa hoặc toàn phần của hai trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định và Huế. Phần đông chúng tôi đều thích sống tự do dù có bấp bênh, sớm có xu hướng nghệ thuật hiện đại và đã gặt hái hầu hết các giải thưởng hội họa quốc gia quan trọng, nên tạo được sự chú ý của dư luận văn nghệ…”


            Riêng tôi, với những người họa sĩ chưa-bao-giờ-gặp-mặt nhưng đã tiếp xúc với các sáng tác của các ông… cũng mạo muội xin chia sẻ một số ấn tượng riêng với một vài tên tuổi:
            – Ngy Cao Uyên – người góp mặt trong tập nhạc/thơ/họa trứ danh (ngay khi xuất hiện, cũng là một phát kiến mới trong làng xuất bản sách vở) cùng với Phạm Duy, Cung Trầm Tưởng: tập Tình Ca – nơi đúng nghĩa thi ca nhạc họa cùng thăng hoa, Ngy Cao Uyên đã mang những “người yêu xóm học”, những “người em mắt nâu/tóc vàng sợi nhỏ” hiển bày trước mắt công chúng, làm dâng thêm nỗi khát khao “vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau”…
            – Mai Chửng – nổi tiếng với bức “Tượng đài Bông Lúa” – biểu tượng của nền văn minh nông nghiệp, là tác phẩm đồ sộ bằng đồng lá đã được dựng tại thị xã Long Xuyên (1970). Sau tượng đài Bông Lúa Con Gái (1970), không thể không nhắc tới một tác phẩm để đời khác của Mai Chửng, bức tượng Mầm (1973) cao 1,50 m, làm bằng cả ngàn vỏ đạn súng trường được hàn lại, biểu tượng cho sự sống vẫn vươn lên giữa tàn phá của chiến tranh và được Mai Chửng cho triển lãm năm 1974 tại gallery La Dolce Vita trong khách sạn Continental trên đường Tự Do Sài Gòn.
            – Nguyễn Trung – cũng có khá nhiều tranh xuất hiện trên bìa tạp chí Văn… Lúc còn là sinh viên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định đã đạt được những giải thưởng hội họa quan trọng: huy chương bạc Triển Lãm Hội Họa Mùa Xuân 1961, huy chương vàng Triển Lãm Hội Họa Mùa Xuân 1963. Tranh của Nguyễn Trung “với những đường nét, bố cục vững chãi, chặt chẽ, với một kỹ thuật chững chạc để nhào trộn màu sắc, đơn giản mà vẫn táo bạo, rất cổ điển mà đầy tinh thần sáng tạo và tìm kiếm mới mẻ, nghĩa là với một màu sắc đặc biệt, một bút pháp cá biệt, anh luôn luôn chế ngự được thế giới mình tạo ra” (Huỳnh Hữu Ủy nói về Nguyễn Trung trong tập Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại, 2008).


Bìa tạp chí Văn số đặc biệt Giáng Sinh 1974

            – Nghiêu Đề – tôi ấn tượng với những bức tranh của ông dùng làm bìa của tạp chí Tình Thương (của Sinh viên Y Khoa), của các tác phẩm nhà văn Ngô Thế Vinh (trong tác phẩm Vòng Đai Xanh, Triết – nhân vật chính – nguyên gốc họa sĩ sau trở thành phóng viên chiến trường có bóng dáng Nghiêu Đề trộn lẫn với cái tôi của tác giả), và ngay cả phong vị không lẫn vào đâu tranh sơn dầu được vẽ vào những năm 1960-1970, như những bức: Đêm, Tỏ Tình, Vùng Thanh Thoát, và điển hình là bức Chân Dung đoạt huy chương bạc Hội Họa Mùa Xuân 1961. Ngoài ra, ông còn viết truyện ngắn – truyện của ông cũng thật nhiều đường nét, sắc màu… trong đó tôi thích nhất một truyện mang tên Vực Hồng. Ông cũng đã ra một tập sách mang tên Ngọn Tóc Trăm Năm (Sông Mã xuất bản 1965).
            – Trịnh Cung – tác giả của bài thơ phổ nhạc nổi tiếng “Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu”, tác giả của nhiều hình bìa sách. Cuộc triển lãm chính thức đầu tiên của Trịnh Cung khai mạc tại Sài Gòn năm 1962, cùng với hai họa sĩ Tôn Nữ Kim Phượng và Đinh Cường, tại Phòng Thông Tin Đô Thành Sài Gòn. Tuy chỉ là một cuộc triển lãm chung nhưng đã mở màn cho nhiều cuộc triển lãm riêng và chung tại quốc nội lẫn hải ngoại: Paris (1963), Tunis (1964), Hoa Kỳ (1969). Trịnh Cung là hội viên sáng lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, từng giữ chức vụ tổng thư ký của hội này. Ông được huy chương đồng trong cuộc triển lãm Hội Họa Mùa Xuân năm 1963 và huy chương bạc trong năm 1964. Họa phẩm “Mùa Thu Tuổi Nhỏ” của Trịnh Cung là tác phẩm đầu tiên được Việt Nam Cộng Hòa chọn gởi tham dự triển lãm quốc tế, và được trao bằng danh dự. Và với tôi, tính đến thời điểm hiện tại, Trịnh Cung một trong số ít những nhân chứng thuộc dòng “họa sĩ” trước 1975 còn chịu khó viết/kể/nhận định… để những lớp hậu bối sau này còn có thêm tư liệu và một điểm nhìn về tình hình sinh hoạt của giới họa sĩ – tạo hình miền Nam trước 1975/những trào lưu ảnh hưởng/những định hình, định hướng… của các trường phái hội hoạ, tạo hình… tuôn chảy trong lòng xã hội những năm cũ ấy.
            – Đinh Cường – Nhắc đến Đinh Cường, người yêu nghệ thuật nghĩ ngay đến dòng tranh thiếu phụ đài các, ẩn hiện bên thành quách rêu phong; trong cảnh có người và trong người có cảnh, rất mỹ miều và sang trọng… Ông tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế năm 1963, đến năm 1964 thì tốt nghiệp khoa hội họa trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định. Ngoài ra, ngay từ khi còn ở trong nước, Đinh Cường cũng đã sáng tác rất nhiều thơ và cũng xuất hiện khá nhiều trên Văn – tôi tạm gọi đó là dòng thơ-văn-xuôi-Đinh-Cường, nơi thủ pháp thơ đã thành một đinh danh cho ông: “thi sĩ của hoài niệm.”
            – Hồ Thành Đức – tác phẩm của ông xuất hiện khá nhiều trên bìa các tập nhạc và cả bìa sách. “Những đường viền của tóc hay của môi trên chân dung người nữ trong tranh ông thường được chăm chút cẩn thận với một dụng ý khá rõ là nhằm tăng thêm nữ tính trong từng vết cắt của màu sắc. Ít khi Hồ Thành Đức để cho người nữ của mình im lặng hay bị buộc phải im lặng. Ông đưa hơi thở của nét, của màu, của ánh sáng vào nhân vật khiến người nữ trong tranh ông chừng như muốn bước ra, tung tăng với gió ngàn hay bước ra chỉ trong một khoảnh khắc để đối thoại với người đang đối diện với mình” (Mặc Lâm viết về tác phẩm Hồ Thành Đức).
            Biết bao vật đổi sao dời, nhưng định (con đường) (chính) danh cho hội – như trong lời khai từ, xem như là Tuyên Ngôn – viết ở mục Nhận Định trong cuốn sách ra mắt Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam (năm 1967), bây giờ, nhìn lại, và rõ ràng hơn là nhìn vào chính những sáng tác của các tác giả trong hội, không ai có thể chối từ những giá trị còn để lại cho đất nước này hiện tại, đó là tinh thần “luôn luôn đổi mới để theo kịp đà tiến của những khuynh hướng đi đầu và nuôi tham vọng hình thành một hội họa tổng hợp đặc biệt giữa kỹ thuật Tây phương và tinh thần Đông phương” và cả “Theo đuổi khuynh hướng nghệ thuật tân kỳ nhất, ở gần chúng ta nhất: khuynh hướng đã có sẵn ngay trong lòng chúng ta, ngay trong lòng quần chúng Việt Nam” (Tuyên Ngôn lần thứ 2, năm 1973).
            Trong Vựng Tập của buổi triển lãm 1969 của hội, Nguyễn Trung phát biểu một ý tưởng đơn giản, về cái nhìn của ông với nghệ thuật, nhưng giờ đây, nhìn lại, chúng ta cũng có thể xem như là một bộc bạch của những người làm-nghệ-thuật nói chung và những-họa-sĩ mang đến những cái đẹp cho đời nói riêng: “Dường như chỉ nghệ thuật mới có thể mang tình yêu và sự bình an trở về với tâm hồn ta. Dường như chỉ có nó mới có thể mang đến ta sự cứu rỗi ấy trong khi càng ngày chúng ta càng dấn thân vào cuộc sống văn minh thiếu nhân cách, địa ngục của giận dữ, thù hằn và bạo động đến nỗi chúng ta quên dần những lời xin lỗi và thứ tha, những cử chỉ yêu thương và thông cảm.”
            Mong thay, sẽ có thêm những Hội Họa Sĩ, nhiều tâm hồn đẹp, thêm nhiều “ngón tay bắt được của trời” để cùng phất lên lá cờ sáng tạo, không chỉ riêng gì cho lãnh vực mỹ thuật-tạo hình của quê hương. Mặc dù biết rằng (như trong bài viết của Tô Thùy Yên): “Mọi thành tựu của người nghệ sĩ, cụ thể là một bức tranh hay một bài thơ, cùng lắm cũng chỉ là một thành tựu tạm bợ nhất thời để rồi vứt bỏ, quên đi, không luyến lưu, cũng như mọi trạm đến của người tu sĩ cũng chỉ là một chặng đường đang vượt qua, vượt qua nữa, không ngừng…” (Tô Thùy Yên viết trong brochure của Việt Art Gallery tại Houston tổ chức cuộc triển lãm tao phùng của bảy trong số những thành viên Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam – năm 2013 tại Hoa Kỳ, gồm Nguyễn Trung, Trịnh Cung, Nguyễn Lâm, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Phước, Nguyên Khai, Đinh Cường).


NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG HUY
Tháng 02/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nhung-ngon-tay-bat-duoc-cua-troi/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #174 vào: 16/02/2019, 21:55:40 »
Trang trong trang ngoài một tờ báo

Nói tới thơ văn trên các báo miền Nam Việt Nam cũng là nói tới các tác giả miền Nam trong làng báo. Trong thế giới nhật báo, trang trong trang ngoài là hai lãnh vực khác biệt, trang ngoài là thời sự chính trị, kinh tế quân sự, trang trong khác hẳn, trang xã hội tình cảm, chuyện gia đình và văn nghệ.

Bìa báo Sài Gòn Mới Xuân Tân Mão 1951 được họa sĩ Lê Trung vẽ

1.– Và một khi đã nói tới Kiên Giang, tác giả “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím”, thường người ta cũng nói luôn tới Sơn Nam, tác giả “Hương Rừng Cà Mau”, kẻ thơ người văn; vốn thường ở địa vị tương xứng, bên này đối với bên kia.
            Không những hai người này sinh hoạt song hành trong làng nhật báo vào thập niên năm mươi sáu mươi, họ còn khởi sự trên những tuần báo miền Nam như Nhân Loại, Phụ Nữ Diễn Đàn, Thẩm Mỹ. Ngoài tiểu thuyết, truyện đồng quê, truyện võ hiệp kỳ tình, báo nào cũng có cả trang thơ truyện.
            Lúc ấy tôi đã nghe nói: ngoài Bắc không có như thế, nhưng không thấy nói rõ Hà Nội không thấy như thế, hay Nam Định không thấy như thế, Hải Phòng không thấy như thế, mà tổng quát đem cả ngoài Bắc để so sánh với chỉ một thành phố là Sài Gòn.
            Mà Sài Gòn ở đây như tôi biết có những tờ quen thuộc với độc giả bình dân như Sài Gòn Mới của ông bà Phú Đức – Bút Trà, Lẽ Sống của Ngô Công Minh, sâu hơn có Tiếng Dội của Trần Tấn Quốc, Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai, và nhất là hai tờ thế giá kiểu cổ điển “Nam Kỳ” như Thần Chung, Đuốc Nhà Nam…

2.– Người viết bài này từng bước vào tòa soạn một tờ báo văn nghệ dòng báo chí Sài Gòn và gặp nhà văn Ngọc Linh ở đấy, khoảng năm 1957. Nếu kể từ chia cắt đất nước 1954 thì chỉ sau hai năm, báo chí Sài Gòn đã thay đổi. Nhiều thì chưa nhiều, nhưng ít ra cũng có khoảng năm tờ báo được nhắc nhở, như Tự Do, Dân Chủ, Ngôn Luận, Cách Mạng Quốc Gia, Văn Nghệ Tiền Phong… Đó là những tờ mới từ khi miền Nam có thêm khoảng 800.000 người di cư từ Bắc vào, trong khi báo cũ trước 1954 vẫn hiện diện…
            Sau này giữa thập niên 1960 tới chớm đầu 1970 nhà văn Ngọc Linh lúc ấy đã thân tình với tôi, cười nói: “Tao thấy mày đến tận tờ Nhân Loại gây sự với anh Lợi”. Tôi nói không quen anh Lợi nào hết, nghe nói thế Ngọc Linh gật đầu: “Thì đúng rồi vì hôm đó là lần đầu tiên mày tới tờ Nhân Loại, làm sao quen ảnh, nhưng đó là anh quản lý nắm tiền bạc tờ báo. Ảnh mập ù”.
            Tôi gật đầu với tác giả “Đôi Mắt Người Xưa”, cho biết là có những điều bạn nói đúng. Tòa soạn tờ Nhân Loại lúc ấy không có vẻ gì là văn phòng của một cơ quan báo chí, không có tủ sách, không có bàn viết, lại có một số bao tải chất đống bên bờ tường, và một ông quần quật làm việc khuân vác, người mà Ngọc Linh gọi là anh Lợi.


Báo Thần Chung Xuân 1951

            Khoảng sau 1963, không khí trong các tờ báo có khác, còn trước đó tôi từng thấy khi bước vào tòa soạn một tờ báo Nam, hầu như nhiều người ngừng tay làm việc, nhìn lên chờ đợi. Một lần ở báo Công Luận cũng thế, tôi phải nói: “Tôi tới kiếm Duyên Anh”. Dàn ký giả phóng viên của báo này cũng chặt chẽ với việc đối ngoại. Lúc ấy vừa qua tuổi thiếu niên vài năm, tôi không đủ chín chắn để quan sát hay nhận định, nhưng biết là trong đời sống hằng ngày có sự kỳ thị nơi có chung đụng dân cả ba miền Bắc Trung Nam. Phải nói Bắc Trung Nam cả ba kỳ, người ta hay nói kỳ thị Nam Bắc là không chính xác, là bỏ mất một thành phần ở giữa, thành phần nối kết va chạm cả hai đầu.
            Tự con người với con người miền này miền kia không có gì nặng nề, song môi trường chung thì có, và rõ ràng có sự chia rẽ, vận động từ chủ trương bên ngoài, còn tự nội tâm bản thể, tôi tin là không.
            Tôi có rất nhiều bạn thân người Nam, ngay từ giữa thập niên 1950, vì tôi khởi sự làm báo như một thông tín viên, rồi phóng viên, bị gửi ngay vào sinh hoạt xã hội chung đụng ấy để lấy tin.
            Để lấy tin, viết tin, nghĩa là tự mình chứng kiến tham dự sự việc bằng tai mắt của mình, đối đáp bằng lời nói ngôn ngữ của mình, trực tiếp, không bị ai thêm bớt sai lạc. Bạn đầu đời trong nghề báo của tôi ở Sài Gòn 1956 là những người sau này mãi mãi còn là bạn, họ còn lèo lái các tờ báo lớn nữa, đó là những Anh Quân, Trọng Viễn, Ngô Tỵ, Ngô Công Dư… những phóng viên cùng lớp tuổi 17, cũng như tôi. Hơn chục năm sau chúng tôi đều trở thành chủ báo ở miền Nam, và vẫn còn giữ những kỷ niệm đẹp.

3.– Trong thế giới nhật báo, trang trong trang ngoài là hai lãnh vực khác biệt, trang ngoài là thời sự chính trị, kinh tế quân sự, trang trong khác hẳn, trang xã hội tình cảm, chuyện gia đình và văn nghệ. Trong cơ cấu tổ chức một tờ nhật báo, không kể chủ nhiệm, chủ bút, người trông coi trang ngoài thường minh nhiên là tổng thư ký, trong khi người trông coi trang trong chỉ là thư ký tòa soạn.
            Tờ báo dù có chủ nhiệm, chủ bút thế nào đi nữa, sự phân chia trang trong trang ngoài vẫn rõ rệt. Ký giả trang ngoài khác hẳn ký giả trang trong. Bài cho trang ngoài là bài chạy. Bài cho trang trong là bài nằm. Chạy thì phải vội phải cấp kỳ, nằm thì nhà nhã thư thả. Bài nằm đưa trước cả vài ngày, bài chạy có khi đang viết người thợ sắp chữ đã đứng bên cạnh, nhiều khi viết được 10 hay 15 dòng đã phải lấy cái thước chặn ngang một đoạn, xé ra đoạn đó đưa cho thợ sắp chữ, cốt là để anh ta đi cho khuất.
            Cho anh ta một đoạn đem vào sắp chữ thì cả hai bên đều có việc làm, rồi tác giả mới lại viết tiếp. Không thiếu các nhà văn nhà báo miền Nam viết trong tình cảnh ấy. Suy rộng ra, trang trong trang ngoài của một tờ nhật báo khác hẳn nhau, ký giả trang trong ký giả trang ngoài cũng khác hẳn nhau. Một bên xô bồ, còn một bên tà tà.
            Độc giả không lưu tâm lắm tới sự khác biệt bài vở trong một tờ báo, thật sự là sự khác biệt rất lớn lao. Ít ai biết rõ những khác biệt ấy như thế nào, vì nếu không ở trong nghề thì cũng không có gì lý thú để đáng biết đến.
            Trước 1975, nhật báo phải đưa bản vỗ (bản in thử), thực tế là không phải in bằng máy, mà trải một tờ giấy báo lên khuôn chữ đã sắp xếp xong xuôi, dùng một cái bàn chải lớn quét mực in lên khuôn chữ. Trải một tờ giấy báo lên khuôn chữ đã quét mực, vỗ nhè nhẹ cái bàn chải lên tờ giấy báo, làm sao để chữ nghĩa hình ảnh thấm vào tờ giấy đã ướt mực, rồi bóc tờ giấy (tức tờ báo vì đã có chữ hiện ra rồi), tới khoảng 3 giờ phải đem hai trang báo chính lên Bộ Thông Tin xin kiểm duyệt. Lúc ấy gọi là Bộ Dân Vận, đọc theo giọng Nam là Bộ Dân Giận.
            Theo tôi biết, cả thế giới không ở đâu ký giả làm báo in báo như ở Sài Gòn. Chữ thì đúc bằng chì, mỗi con chứ cao 2 cm, ví dụ muốn sắp chữ Việt Nam người thợ sắp chứ phải dùng tay phải nhặt chữ V hoa, chữ i, chữ ệ với dấu ớ (^) và dấu nặng, rồi chữ t như thế là được chữ Việt, rồi kế tiếp một miếng chì trơn làm khoảng cách trước khi nhặt chữ N chữ a và chữ m để sắp liền nhau thành hai chữ Việt Nam.
            Tay phải nhón 10 miếng chì này sắp thành chữ Việt Nam vào một cái khuôn gỗ nhỏ cầm bên bàn tay trái. Khuôn gỗ này một khi đầy, tức là ấn công đã sắp được khoảng ba hay bốn câu văn.
            Một tờ nhật báo như tờ Tiền Tuyến do tôi làm thư ký tòa soạn chẳng hạn, một ngày ra tám trang, đã cần 30 ấn công làm việc 8 tiếng, một thì tới 5 hay 6 giờ chiều, khuôn báo tám trang được sẵn sàng trao cho guồng máy kế tiếp. Tới giai đoạn này thì ký giả khỏi lo nữa, việc in ấn tờ báo thuộc trách nhiệm những người khác.


VIÊN LINH
Tháng 01/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/trang-trong-trang-ngoai-mot-to-bao/