Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 19221 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #165 vào: 24/01/2019, 18:54:44 »
Nhà thơ Hồ Ðình Phương và sự nghiệp âm nhạc Hoàng Trọng

Lịch sử tân nhạc Việt Nam ghi nhận: Thời tiền chiến, có một hiện tượng đặc biệt. Ðó là sự thành công rực rỡ của nhạc Ðoàn Chuẩn với ca từ của Từ Linh. Nếu trong toàn bộ sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Ðoàn Chuẩn, người ta đếm được 11 ca khúc do Từ Linh đặt lời thì, trong khoảng trên dưới 200 ca khúc mà, cố nhạc sĩ Hoàng Trọng để lại cho đời, người ta đếm được ít nhất cũng trên dưới 50 ca khúc do nhà thơ Hồ Ðình Phương đặt lời, hay từ thơ của ông.(1)

Ban nhạc Tiếng Tơ Ðồng

TƯỞNG CŨNG NÊN nói ngay rằng, nhạc sĩ Hoàng Trọng không chỉ hợp tác với một mình nhà thơ Hồ Ðình Phương trong phần ca từ mà, họ Hoàng cũng nhận được sự hợp tác của rất nhiều nhạc sĩ, nhà thơ, nghệ sĩ vốn có tình thân với ông. Trong số này, có nhiều tên tuổi quen thuộc, như Hoàng Dương, Quách Ðàm, Vĩnh Phúc, Thanh Nam, Quốc Bảo, Y Vân, Lan Ðình, Dạ Chung, Nguyễn Túc, v.v…

Nhà thơ Hồ Ðình Phương (mt9011.multiply.com)

            Tuy nhiên, cách gì thì số lượng những sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Trọng, có sự hợp tác của những tác giả kể trên, vẫn là những con số rất khiêm tốn, nếu so sánh với phần đóng góp của họ Hồ. Ðó là chưa kể gần như tất cả những sáng tác của nhạc sĩ Hoàng Trọng với ca từ của nhà thơ Hồ Ðình Phương đều là những ca khúc nổi tiếng như: “Mộng ban đầu”:

                       “Quê em miền thùy dương
                        Lúa ngọt ngào hoa mới
                        Gió mang mùa Xuân tới
                        Hôn liếp dừa lên hương
                        Hương thơm tràn muôn lối
                        (…)

                        Hôm qua buồn nhìn đâu
                        Thoáng mẹ già nom thấy
                        Hỏi: con chờ ai đấy?
                        Em níu lấy cành dâu
                        Che giấu mộng ban đầu
                        (…)

                        Nhớ về thăm em nhé!
                        Ðứng khinh mái lều tranh
                        Rau muối ấm tâm tình
                        Cơm ngô thắm no lòng
                        Anh nhớ về anh nhé!

                        Trông em mừng vườn cau
                        Trái mập tròn Xuân mới
                        Bỗng mẹ cười mẹ nói:
                        Con bé lớn thật mau,
                        Mai mốt mẹ ăn trầu…”

                        (Nhạc Hoàng Trọng. Lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)

            Hoặc:
                       “Bạn lòng thân mến
                        Ðây tôi hiến bài ca
                        Mong ai hát vui hòa
                        Bạn là xuân thắm
                        Cho tôi đón nhiều hoa
                        Gieo hương mái tranh nhà
                        Rồi ta chung ngắm
                        Ðôi chim lướt trời xa
                        Say sưa muôn tiếng ca…”

                        (Trích “Bạn Lòng”, nhạc Hoàng Trọng, lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)

            Hoặc nữa:
                       “Ánh Xuân về tràn dâng nắng mới
                        Tơ trời mừng say gió tới
                        Ngàn đóa hoa bừng chào đời
                        Từng bầy én trông đẹp mùa màng
                        Vờn cánh vui đùa nhịp nhàng
                        Hòa tiếng chung tình nồng nàn
                        Có riêng một mình ta với bóng
                        Không hẹn gần ai ấm cúng
                        Mà chẳng nghe lòng lạnh lùng
                        Vì người ấy luôn chờ một lời
                        Là hiến ta trọn cuộc đời
                        Thề ước đem tình sánh vai…”

                        (Trích “Mộng Lành”, nhạc Hoàng Trọng, lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)


Nhạc sĩ Hoàng Trọng (TranThiNguyetMai.com)

            Tôi không biết tình thân giữa nhạc sĩ Hoàng Trọng và họ Hồ ở mức độ nào. Tôi cũng không biết hai ông có bàn thảo trao đổi ý kiến chặt chẽ, kỹ lưỡng với nhau, trước khi hợp soạn một ca khúc hay không? Nhưng hiển nhiên, sự hòa quyện của tất cả những sáng tác mà họ là đồng tác giả, thật tuyệt vời.
            Trách nhiệm phần ca từ, nhà thơ Hồ Ðình Phương không chỉ cho thấy, ông rất đồng điệu, rất tâm lý với những giai điệu mang tính thơ mộng, lãng mạn viết về tuổi trẻ của nhạc sĩ Hoàng Trọng mà, ngay với những ca khúc nặng tình quê hương, đất nước, ông cũng cho thấy khả năng, tài hoa rất mực của mình, ứng hợp với dòng nhạc Hoàng Trọng:

                       “Thuyền trôi chờ ai nhấp nhô trên sông dài
                        Phải thuyền năm ấy hòa với lòng tôi
                        Cùng mơ hàn nối đôi phương cách xa vời
                        Ðể người sum vầy khỏi buồn đầy vơi?
                        Mẹ quê lần bước đưa tôi ra tận thuyền
                        Nhủ rằng: Luôn nhớ tình nước con ơi
                        Trời đang mờ tối, quê hương đang tơi bời
                        Chờ con về xóa ngàn mối u hoài
                        Mẹ già yêu mến, giờ này con đang thề
                        Ðấu tranh cùng muôn người:
                        Ðợi một ngày mai tràn đầy
                        Xuân mới về cố hương hòa vui…”

                        (Trích “Mộng ngày hồi hương”, nhạc Hoàng Trọng, lời Hồ Ðình Phương. Theo dactrung.com)

            Nhưng ca khúc viết về niềm tự hào dân tộc, thành công nhất, giá trị nhất, theo tôi là ca khúc “Bên bờ đại dương”, nhạc Hoàng Trọng. Lời Hồ Ðình Phương:
            “…Hôm nao, ai đã mơ mộng/ Chia mối tơ đồng của một khối non sông vinh quang/ Ai ơi, ai nhớ chăng rằng/ Gươm súng đâu diệt được nòi giống muôn năm hiên ngang// Anh với tôi còn sống bên bờ đại dương/ Tôi với em còn thắm trong lòng niềm thương/ Ðất nước tôi còn gió độc lập Trường Sơn/ Còn lúa tràn đồng phương Nam/ Còn xóa được hờn quê hương.” (Theo dactrung.com)
            Nói cách khác, tới nay, lịch sử tân nhạc Việt Nam chỉ ghi nhận được hai cuộc hôn phối mang tính đường trường. Ðó là cuộc hôn phối giữa Ðoàn Chuẩn-Từ Linh, thời tiền chiến. Và, Hoàng Trọng-Hồ Ðình Phương, hôm nay vậy.


DU TỬ LÊ
Tháng 04/2013

________________________________________________________
(1) Theo tác giả Lê Mộng Hòa trong tác phẩm “Thi Nhân Huế”, xuất bản năm 1960 thì, nhà thơ Hồ Ðình Phương Sinh ngày 1 Tháng Ba năm 1927 tại Huế. Tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh, năm 1958, nhà thơ Hồ Ðình Phương từng cộng tác với một số báo và tạp chí tại Saigon, như Thẩm Mỹ, Phụ Nữ, Văn Nghệ Tiền Phong… Những tác phẩm đã xuất bản của ông, gồm có: “Hai Cuộc Sống” (Thơ, xuất bản năm 1951). “Tình Thế Hệ” (Thơ, xuất bản năm 1952). “Sưởi Nắng” (Thơ, xuất bản năm 1953. Tái bản bản năm 1954). Ông cũng là tác giả của ít nhất hai tác phẩm có tính cách nghiên cứu, biên khảo về thi ca, chưa xuất bản như: “Thi Pháp Thực Hành” và “Thi Ca Với Thời Ðại”.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/Nha-tho-Ho-Dinh-Phuong-va-su-nghiep-am-nhac-Hoang-Trong-5804/

 
The following users thanked this post: dalanmai, Hoàng Mai Lưu

Ngủ rồi dalanmai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #166 vào: 25/01/2019, 10:49:10 »
Hồi nhỏ thích bài Con đường xưa em đi, chỉ nhớ nhạc sỹ Châu Kỳ, nhưng sau này tìm hiểu thêm thì lời là của Hồ Đình Phương.
 
The following users thanked this post: nduytai

Ngủ rồi Hoàng Mai Lưu

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #167 vào: 25/01/2019, 14:30:50 »
Con đường xưa em đi, người ta cắt dây chì, thế là em hết đi hả bác. Nhạc sĩ Châu Kỳ còn một bài phổ thơ của Hồ Đình Phương nữa là bài Xin làm người tình cô đơn.
Tình lúa duyên trăng, nhạc Hoài An, thơ Hồ Đình Phương.
 
The following users thanked this post: nduytai
Dục Phá Thành Sầu Duy Hữu Tửu

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #168 vào: 29/01/2019, 19:55:47 »
Nhân một cái phân ưu

Mới 2 Tháng Giêng, 2019, do dậy sớm nên tôi đọc báo trên mạng hơi lâu, đọc tới cả cáo phó, phân ưu, và thấy một cái phân ưu bên dưới kê tên tới gần một trăm danh tính, thoáng nhìn đã thấy tên nhiều bạn học thời trẻ, nhìn lại tên người quá cố, chính là bạn mình thời trung học. Thế ra Nguyễn Đức Nhuận không còn nữa.

Nhà thơ Nguyễn Bính

PHÂN ƯU chỉ có ba chữ Nguyễn Đức Nhuận, không ngày sinh hay nghề nghiệp, nên phải đọc vào thành phần những người chia buồn xem liên hệ mới biết chắc. Trong phân ưu không nói gì về Nhuận, với tôi anh còn là đồng nghiệp trong nhiều năm, anh nguyên là người chủ trương tạp chí Thứ Tư, có thời cùng nhà văn Vũ Bằng thực hiện tạp chí Văn Học của Phan Kim Thịnh nữa. Hai người bạn này Nhuận và Thịnh, không rời nhau từ hồi đó như tôi biết.
            Nửa cuối thập niên 1950 của thế kỷ trước, chúng tôi ở khoảng tuổi 15, 16, từ miền Bắc vượt vĩ tuyến 17 vào Nam, thảy đều gặp nhau không ở Chu Văn An thì Nguyễn Trãi, không ở Nguyễn Trãi thì không ở đâu khác ngoài Hồ Ngọc Cẩn, ba trường trung học công lập thời đó, mà Hồ Ngọc Cẩn, tên một ông tổng giám mục, đương nhiên là nhiều, rất nhiều, học trò Thiên Chúa giáo (bài này không đề cập các trường địa phương hiện hữu từ trước và vẫn đang hoạt động, cũng như các trường nữ).
            Giai đoạn hậu 1954 ở Sài Gòn sau này có thể coi là chỉ chấm dứt vào Tháng Tư, 1975, tách riêng ra các thứ, 1954-1975 là thời hoàng kim của văn học nghệ thuật miền Nam, vì có thời nào khác mà mọi bộ môn văn nghệ đều phát triển tối đa, sách được xuất bản hàng trăm cuốn trong một tháng, các kiosques sách báo băng nhạc ngoại quốc và thổ sản tràn ngập khắp nơi.
            Đã thế tôi còn muốn chú thích thêm, ngay cả bây giờ đây ở Arlington, Virginia, nhiều lần lên xe một người bạn chở đi đây đó, tôi đều nghe thấy tiếng hát từ xe anh vọng ra, trước khi anh vặn nhỏ lại để trò chuyện với tôi. Đó là những giọng ca quen thuộc từ nửa thế kỷ qua, hoặc là “Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương”, hoặc là “Nửa Đêm Ngoài Phố”, hoặc là Khánh Ly, hoặc là Thanh Thúy, Lệ Thu, hoặc là Tuấn Ngọc, hoặc là Sỹ Phú, Vũ Khanh… Chưa có một thời nào văn nghệ Việt Nam lại phong phú và kéo dài cả nửa thế kỷ sau nơi những người xuất thân từ thời kỳ đó, và sau cả thời kỳ đó.
            Rời Việt Nam năm 1975 tôi không rõ trực tiếp hiện tượng “nhạc vàng” sau đó như thế nào, song tổng thể mà nói, từ nhạc vàng tới thơ đen, thơ xám, từ sách báo tới tiểu thuyết 20 năm 1954-1975, đó là khoảng thời gian lạ kỳ của văn học nghệ thuật Việt Nam.


Gia đình nhà thơ Nguyễn Bính

            Bạn đọc Người Việt theo dõi loạt bài chân dung văn nghệ sĩ ký giả Việt Nam ký tên Viên Linh trên mặt báo Người Việt – khởi sự từ 2010, vào mỗi Thứ Năm – chắc chắn không phải Thứ Năm nào cũng đọc, nhưng giả dụ quý bạn đọc hết, thì số bài đã đăng trên tám năm qua (mỗi năm có 52 tuần lễ), 52 tuần x 8 năm ta có = 416 tuần lễ hay 416 bài (chỉ kể từ 2011 tới hết 2018). Trên thực tế, năm 2014 tác giả vào Cedar Sinai Hospital giải phẫu tim mạch, nghỉ ba tuần, vậy còn 416 – 3 = 413 bài.
            Theo cách viết của tác giả, Tháng Giêng chỉ viết về những văn nghệ sĩ trí thức ra đi trong Tháng Giêng (từ trần trong Tháng Giêng Dương Lịch, các ngày tháng âm lịch đều được chuyển ra dương lịch đúng cách). Trong cuốn I, nhan đề “Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam”, chúng tôi đã in lại và bổ sung bài viết của các vị ra đi vào Tháng Giêng (nhắc lại, tính theo dương lịch), như sau:
                1.– Viên Chiếu Thiền Sư (Viên Chiếu mất vào đời Lý, chúng tôi đã tìm ra ngày giỗ của ông tính theo âm lịch, và đổi ra dương lịch, nhằm ngày 28 Tháng Giêng, 1091).
                2.– Nguyễn Bính.
                3.– Tam Ích.
                4.– Tuệ Mai.
                5.– Mai Thảo.
                6.– Xuân Vũ.
            Và với dạng thức này, Tháng Giêng viết về những vị ra đi vào Tháng Giêng, cuốn II của bộ “Lịch Sách Chân Dung Nhà Văn Việt Nam” đang được thực hiện.
            Cuốn I dày gần 500 trang khổ lớn (6×9”), cuốn II cũng sẽ in cùng dạng thức, nghĩa là chương I của cuốn II (hay có thể của cả cuốn III), Tháng Giêng cũng là chương I.
            Cứ như thế, bài viết về những người ra đi vào Tháng Hai dương lịch sẽ được xếp vào chương II và tuần tự như thế cho tới chương XIII. Một năm chỉ có 12 tháng, sở dĩ có chương XIII là dành cho tháng nhuận, năm nhuận, tức là những trường hợp ngoại lệ nếu có.


VIÊN LINH
Tháng 01/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nhan-mot-cai-phan-uu/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #169 vào: 02/02/2019, 21:06:21 »
Một số phong tục độc đáo đón Năm Mới trên thế giới

Một năm mới may mắn, hạnh phúc, an khang, thịnh vượng là điều ước của người dân trên khắp thế giới. Dù vô thần hoặc theo bất kỳ tôn giáo nào, nhiều người vẫn giữ một số phong tục hoặc kiêng kị một số điều để tránh bị “giông” cả năm. Một bữa ăn thịnh soạn, trả hết nợ năm cũ, mừng tuổi, dầm mình trong nước lạnh, tặng bát đĩa vỡ… là một vài phong tục độc đáo đón năm mới.

Học sinh một trường học ở Ahmedabad, Ấn Độ, kết bóng chào đón năm 2019

Hôn nhau dưới bó ghi trắng (S’embrasser sous le gui)
            Người Pháp tin rằng hôn nhau dưới bó ghi trắng, một loại cây tầm gửi, vào đúng lúc chuông điểm giao thừa sẽ có một năm mới phồn thịnh. Theo giải thích của báo Le Figaro, nhiều người dân ở châu Âu còn tin rằng mọi bất đồng và xích mích đều được hóa giải khi hôn nhau dưới loài cây tầm gửi này.

            “Phong tục này có từ thời Gaulois. Thời đó, ghi trắng là loại cây duy nhất cho quả vào mùa đông và vẫn giữ sắc xanh nên các đạo sĩ Gaulois coi đó là loại cây linh thiêng, biểu tượng của sự phồn thịnh và khả năng sinh sản.
            Người Scandinavơ còn nghĩ rằng cây ghi trắng biểu tượng cho hòa bình. Tục truyền rằng hai kẻ thù vô tình đụng nhau trong rừng dưới một bụi cây ghi trắng thì sẽ tạm ngừng đánh nhau. Đôi vợ chồng có xích mích ôm hôn nhau dưới bó ghi trắng thì mọi vấn đề sẽ nguôi ngoai.
            Vào thế kỷ 18, người Anh treo kissing ball trên cửa nhà. Đây là một quả cầu được kết từ ghi trắng, gắn ruban và đồ trang trí. Còn theo truyền thống Hy Lạp, một người phụ nữ không được từ chối một nụ hôn nếu người đó đứng dưới một bó ghi trắng.
            Tóm lại, những tín ngưỡng này dần dẫn đến ý tưởng là ôm hôn nhau dưới bó ghi trắng sẽ mang lại giầu có cho cả năm đó”.


“Kiêng” và “không kiêng” món gì trong bữa tiệc?
            Một bữa ăn thịnh soạn và ấm cúng bên người thân và bạn bè vẫn là truyền thống của nhiều nước trên thế giới với niềm tin năm mới sẽ đầy đủ và hạnh phúc. Tại Pháp, bữa ăn vào dịp lễ cuối năm không thể thiếu món gan béo (foie gras) và cá hồi hun khói (saumon fumé). Nhiều đặc sản của một số vùng, như ốc sên Bourgogne, con hàu Marennes d’Oléron, thịt vịt vùng Tây Nam, trứng cá (caviar) Aquitaine, ngày càng phổ biến trên bàn tiệc. Khi chuông điểm đúng thời khắc giao thừa, sâm-banh sẽ được bật cùng với những lời chúc mừng năm mới.
            Người Nga cũng uống sâm-banh lúc giao thừa nhưng đặc biệt hơn, họ viết một điều ước lên giấy, sau đó đốt nó và đổ tro vào ly rượu. Khi uống hết ly rượu có tro, họ tin là điều ước sẽ thành hiện thực trong năm mới.
            Ngày đầu năm của người Estonia phải no đủ để chắc chắn có thức ăn dồi dào quanh năm. Vì thế, họ ăn đến bẩy bữa trong ngày đầu năm mới.
            Người Ý vẫn giữ thói quen ăn món cotechino e lenticchie truyền thống, được làm từ xúc xích và đậu lăng. Hình dạng tròn của những thức ăn này tượng trưng cho phồn thịnh và mang lại của cải.
            Cua và tôm hùm bị coi là mang lại điềm gở vì di chuyển ngược, nên người dân Croatia kiêng hai loại hải sản này trong ngày đầu năm. Tương tự, gà và các loại chim cũng bị loại khỏi bàn tiệc vì họ sợ chúng bay đi cùng với may mắn.
            Người dân Bỉ, đặc biệt là ở thành phố Liège, bắt đầu năm mới cùng với gia đình bằng món choucroute đầy dinh dưỡng, gồm dưa bắp cải nấu nhừ, các loại xúc xích, khoai tây, thịt ba chỉ. Khi ăn món này, họ thường nắm chặt trong tay một đồng tiền, hoặc để dưới đĩa, vì tin sẽ có một năm dồi dào về tài chính.
            Để mong được 12 tháng trong năm mới ấm no và hạnh phúc, người dân Tây Ban Nha ăn 12 hạt nho, từng hạt một, đúng với từng tiếng chuông nhà thờ điểm từ nửa đêm. Phong tục xuất hiện vào năm 1909 nhưng theo một số nhà trồng nho ở vùng Alicante (đông nam Tây Ban Nha), đây chỉ là chiêu marketing để bán hết lượng nho bội thu năm đó.


Một khu vực ở Matxcơva được trang trí lộng lẫy nhân dịp lễ cuối năm 2018

Xông đất, bùa chú, “mừng tuổi” bằng bát đĩa vỡ…
            Khá giống với phong tục xông đất ở Việt Nam, ngay lúc giao thừa, người dân Scotland bắt đầu “tản bộ” đầu năm (First footing). Người đầu tiên đặt chân vào nhà sẽ quyết định may mắn cho gia đình suốt năm đó. Nếu như người Việt thường chọn người hợp tuổi, hợp mệnh với chủ nhà, người Scotland thường để bạn bè và người nhà vào trước, nhưng với điều kiện phải bước bằng chân phải và luôn mang theo quà.
            Người Anh cũng có truyền thống ra khỏi nhà sau giao thừa, nhưng trong túi họ luôn có một đồng xu, một chút muối và một mẩu than, tượng trưng cho dồi dào tiền bạc, thức ăn và sự ấm cúng trong năm mới. Ngược lại, nếu xuất hành đầu năm mà không có gì trong túi, thì cả năm đó sẽ không gặp may.
            Người dân Ailen tiên đoán tương lai chính trị quốc gia qua chiều gió vào lúc giao thừa. Nếu gió đến từ hướng tây, sẽ là một năm tốt đẹp. Nhưng nếu gió thổi từ hướng đông, Ailen sẽ gặp vài sóng gió đến từ nước Anh láng giềng.
            Cũng vào đúng giao thừa, người dân Ecuador đốt một hình nộm bằng giấy, tượng trưng cho một điều gì đó của năm cũ mà họ muốn bỏ lại đằng sau, hoặc một người mà họ không thích và không muốn gặp lại người đó nữa.
            Tại Mêhicô, những người muốn đi du lịch trong năm mới, vào lúc chuông bắt đầu điểm 12 tiếng, sẽ chạy vòng quanh nhiều ngôi nhà, một tay cầm chiếc vali rỗng, tay kia cầm một xấp tiền.
            Người dân Đan Mạch có một truyền thống độc đáo đón năm mới. Họ đặt trước cửa nhà bạn bè bát đĩa, cốc chén cũ hoặc bị vỡ trong năm cũ. Chồng bát đĩa, cốc chén vỡ càng cao, càng chứng tỏ chủ nhà được bạn bè yêu quý đến chừng nào. Chỉ khổ cho gia chủ sau đó phải đi đổ rác!

Tắm trong ngày đầu năm
            Dầm mình trong nước lạnh trở thành truyền thống của nhiều nước châu Âu và Bắc Mỹ. Ở Mỹ, ngay đầu thế kỷ 20, phương pháp này được cho là có lợi cho sức khỏe và là cách vệ sinh nhất để bắt đầu một năm. Thực ra, đứng sau lời truyền này là ý tưởng của hai câu lạc bộ bơi lội đối thủ ở Mỹ để thu hút khách hàng vào mùa đông.
            Phong tục này lan sang cả Hà Lan từ những năm 1960, nhưng trong dòng nước biển lạnh, với niềm tin sẽ có nhiều ý tưởng minh mẫn trong năm mới. Hóa trang thành ông già Noel hoặc mặc trang phục đỏ cùng với chiếc mũ chóp nhọn rồi ùa xuống biển hoặc nhảy xuống sông trở thành truyền thống ở rất nhiều nước châu Âu khác, như ở Pháp, Scotland, Ý, Bồ Đào Nha, Croatia, Nga…
            Té nước trong ngày đầu năm mới cũng là tập tục của một số nước như Cuba, Cam Bốt, Thái Lan. Người dân Cuba thường hắt vài lít nước qua cửa sổ để ngừa nạn hạn hán. Đây cũng là phong tục của người dân Cam Bốt, theo giải thích của EANG Sokminh, một nhà báo đồng nghiệp RFI ban tiếng Khmer:

            “Ở nước chúng tôi, phải nói rằng chúng tôi không biết chính xác phong tục này có từ đâu. Nhưng theo một số nhà sử học, thuộc đại học Hoàng gia Phnom Penh, như sử gia Vong Sotheara, thường thì vào ngày thứ ba trong ba ngày đầu năm, các Phật tử lấy nước để tắm Phật, còn con cái mang nước để bố mẹ tắm nhằm thể hiện lòng hiếu thảo…
            Sau đó, phong tục này được lan sang Thái Lan và với nắng nóng, mọi người hắt nước vào nhau, rồi dần thành ngày hội. Những ngôi làng Cam Bốt gần biên giới với Thái Lan bắt chước lễ hội té nước này. Người ta cho rằng ngày lễ này bắt nguồn từ lễ tắm Phật ở Cam Bốt”.


            Còn rất nhiều phong tục độc đáo khác vẫn được duy trì trên thế giới. Dù dưới hình thức nào, người dân luôn mong một năm mới bình an, hạnh phúc. Đây cũng là lời chúc của RFI tiếng Việt gửi đến quý thính giả. Chúc quý thính giả Năm Mới 2019 an khang, thịnh vượng!


THU HẰNG
Tháng 12/2018


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20181231-mot-so-phong-tuc-doc-dao-don-nam-moi-tren-the-gioi

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #170 vào: 06/02/2019, 15:12:24 »
Mùa Xuân, nhìn lại hai mươi năm Tân nhạc miền Nam

Mùa xuân là mùa hồi sinh của vạn vật, trong đó có một sinh vật mang tên “Con Người”. Vì thế, đa phần nhân loại thường gắn, kết hy vọng tốt lành hơn cho mình, cho gia đình và người thân nhân dịp đổi mùa mỗi năm này.

Chợ hoa tết (Sơn dầu – 1994), tác phẩm của Nguyễn Văn Phương
được vẽ khi kết thúc chợ hoa Nguyễn Huệ

CŨNG VÌ tính hồi sinh vừa kể nên từ thi ca tới âm nhạc của bất cứ quốc gia nào, cũng là những con số không nhỏ. Nó không chỉ phản ảnh niềm hy vọng, lời cầu chúc tốt lành cho nguyên một năm dài trước mặt mà, nó cũng cho thấy những thực tế phũ phàng, bất hạnh… của một hay nhiều năm đã qua.
            Tuy nhiên, dù thi ca và âm nhạc có phản chiếu sinh hoạt tinh thần giữa hai mùa xuân của một dân tộc ở mặt tích cực là hy vọng, hay tiêu cực là những mất mát, bi quan thì, tôi vẫn thấy có dễ không một nơi chốn nào có nhiều ca khúc viết về mùa xuân đẹp đẽ, nhân bản như nền tân nhạc miền Nam hai mươi năm.
            Những người sinh trưởng ở miền Nam hẳn chưa quên, một nửa đất nước này chỉ có được yên bình trong ít năm khởi đầu! Sau đó, chiến tranh đem theo tai họa, chết chóc… đã từng bước xuất hiện khắp nơi: Từ nông thôn tới thành thị.
            Dù vậy, số ca khúc viết về mùa xuân của chúng ta không vì thế mà kém phong phú hay, nghiêng nặng về phía u ám, tuyệt vọng.
            Nếu phải tính sổ, ta vẫn thấy số những ca khúc về mùa xuân, tựa như lội ngược nhịp chuyển động mang tính hồi sinh, chúng ta có rất ít. Càng ít hơn nữa, số ca khúc viết về mùa xuân đứng từ phía bóng tối ảm đạm, tồn tại được đến hôm nay.
            Đại diện cho khuynh hướng này, ta có thể kể tới ca khúc “Phiên gác Đêm Xuân” của Nguyễn Văn Đông:

                       “Đón Giao Thừa một phiên gác đêm
                        Chào xuân đến súng xa vang rền
                        Xác hoa tàn rơi trên báng súng
                        Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi
 
                        Bấy nhiêu tình là bao nước sông
                        Trời thương nhớ cũng vương mây hồng
                        Trách chi người đem thân giúp nước
                        Đôi lần nhớ bâng khuâng, gượng cười hái hoa xuân…”


            Ngay tự những nốt nhạc và ca từ khởi nguồn của ca khúc, giới thưởng ngoạn đã không thấy, dù thấp thoáng tinh thần thù hận những kẻ gây nên tao loạn mà, chỉ thấy chút buồn dịu nhẹ. Như những cơn mưa bụi và heo may vừa đủ để lòng người bâng khuâng trước cảnh tình người lính giữa mùa xuân nơi biên trấn.
            Trước khi ra khỏi ca khúc, tác giả buông tiếng thở dài, là lời than thở với chính mình, hơn là với tha nhân:

                       “Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu
                        Vì mơ ước trắng như mây chiều
                        Tủi duyên người năm năm tháng tháng
                        Mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi

                        Chốn biên thùy này xuân tới chi?
                        Tình lính chiến khác chi bao người
                        Nếu xuân về tang thương khắp lối
                        Thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi!”


             “… Thì đừng đến xuân ơi!” cụm từ năm chữ mộc mạc, đơn sơ, như lời than vãn buột miệng của bất cứ ai trong chúng ta, theo tôi, không thể chân thật, thấm thía hơn! Nhưng tựu trung, toàn bộ ca khúc vẫn không hề lóe lên một tia lửa tuyên truyền dù yếu ớt.
            Một ca khúc cùng loại khác, đến nay vẫn còn được nhiều người hát cũng như chịu được sự nghe lại là ca khúc “Xuân Này Con Không Về” của Trịnh Lâm Ngân (bút hiệu chung của Trần Trịnh, Lâm Đệ và Nhật Ngân):

                      “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
                        khi thấy mai đào nở vàng bên nương
                        Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
                        nay én bay đầy trước ngõ
                        mà tin con vẫn xa ngàn xa
                        ôi nhớ xuân nào thuở trời yên vui
                        nghe pháo giao thừa rộn ràng nơi nơi
                        bên mái tranh nghèo ngồi quanh bếp hồng
                        trông bánh chưng ngồi chờ sáng
                        đỏ hây hây những đôi má đào…”


            Nếu đối tượng của ca khúc “Phiên Gác Đêm Xuân” là tâm cảnh người lính đóng đồn, trong vai trò người gác giặc nơi biên ải (hay tâm sự của chính tác giả?) thì, đối tượng của ca khúc “Xuân Này Con Không Về” lại là người mẹ, những đứa em và tình đồng đội.
            Người nghe không ghi nhận được một hình ảnh cụ thể nào của người lính nơi trận tiền mà, toàn thể ca khúc là lời trần tình của một đứa con chinh chiến nơi xa; cộng với sự nhớ lại hình ảnh tiêu biểu, đặc thù của những ngày giáp tết là hình ảnh truyền thống gia đình quây quần canh, ngó nồi bánh chưng. Cùng lúc, tác giả cũng cho thấy tấm lòng đau đáu thương mẹ, thương em của người lính trước nhu cầu cần đến sự có mặt của đứa con, người anh lớn:

                      “Nếu con không về chắc mẹ buồn lắm,
                        mái tranh nghèo không người sửa sang
                        Khu vườn thiếu hoa đào mừng xuân
                        Đàn trẻ thơ ngây chờ mong
                        anh trai sẽ đem về cho tà áo mới
                        ba ngày xuân đi khoe phố phường…”


            Và cũng tuyệt nhiên, tôi không thấy chút khói súng hận thù, tiếng gào thét cổ võ bạo lực nào… Ra khỏi ca khúc, vẫn chỉ là lời trần tình của người lính với mẹ già, với em thơ. Lời giải thích hay xin lỗi (nếu tôi được phép nói như vậy), rất hồn nhiên, nhân bản:

                       “Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
                        nhưng nếu con về bạn bè thương mong
                        bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
                        không lẽ riêng mình êm ấm
                        Mẹ ơi con xuân này vắng nhà
 
                        Mẹ thương con xin đợi ngày mai...”


            Sự kiện tất cả các nhạc sĩ của hai mươi năm văn học nghệ thuật miền Nam, không ai bảo ai, đồng khước từ việc phất cao ngọn cờ thù hận… có thể là một quan niệm hay, cách sống không mang lại cho người dân miền Nam một “chiến tích” nào! Nhưng trên tất cả mọi thứ, nền tân nhạc với những ca khúc mùa xuân ở phía u ám nhất, vẫn đứng ở phía con người phải sống và, được sống như một con người có trái tim, biết thương yêu đồng loại, luôn cả thiên nhiên, khi vạn vật được hồi sinh. Một vòng quay khác của trái đất bắt đầu chu kỳ mới. Chu kỳ khởi đi với niềm hy vọng, sự tử tế mà chỉ sinh vật mang tên “con người” mới có thể dành cho nhau. Đồng thời, cũng dành cho trái đất!




Những Xuân-Khúc tồn tại cùng vòng quay trái đất
            Như đã nói, số ca khúc mùa xuân lội ngược vòng quay trái đất, đập ngoài nhịp đập thiên nhiên, bốn mùa, của hai mươi năm tân nhạc miền Nam, chúng ta có rất ít. Mặt bên kia của sự rất ít này, là số xuân-khúc cực kỳ phong phú, giàu có… Như một may mắn, hạnh phúc cho giới thưởng ngoạn.
            Mùa Xuân đồng nghĩa với sự hồi sinh của tất cả mọi đọt, mầm. Từ đó, tin yêu, hy vọng lấp lánh khắp cùng trời đất. Tựa trong mỗi chúng ta, vốn tiềm ẩn một phần hay trọn vẹn trái tim thời tiết.
            Tôi nghĩ hầu như nhạc sĩ thành danh nào của sinh hoạt nghệ thuật miền Nam hai mươi năm, chí ít cũng có một vài ca khúc viết về mùa xuân. Dù cho chiến tranh, chết chóc vẫn là chiếc bóng thẫm đen, khổng lồ, ẩn hiện… Nó rình rập, chực chờ quấn lên đầu người dân trong vùng lửa đạn, những chiếc khăn tang oan nghiệt! Phải chăng thương yêu không có chỗ trong thần chiến tranh, nhưng nó lại quá dư thừa chia lìa, dư thừa chết chóc?
            Chỉ với một mình cố nhạc sĩ Phạm Duy thôi, đến nay, người ta đã đếm được trên dưới mười xuân-khúc. Mà, xuân-khúc nào của ông cũng thấp thoáng hay ngào ngạt hương hoa xuân.(1)
            Một trong những xuân-khúc của Phạm Duy tách thoát được sự mô tả một cách chung chung, phơn phớt ngoài da mùa xuân, cho thấy tài năng ngoại khổ của ông, theo tôi là “Xuân Ca”.
            “Xuân Ca” vẫn theo thiển ý của tôi, không chỉ là một bức tranh xuân tuyệt vời vẽ bằng giai điệu và ca từ, nó còn như một chuyện kể lớp lang về sự tượng hình, rồi ra đời của mỗi chúng ta trong hành tinh địa cầu này:

                       “Xuân trong tôi đã khơi trong một đêm vui
                        Một đêm, một đêm gối chăn phòng the đón cha mẹ về.
                        Xuân âm u lắt leo trong nguồn suối mơ
                        Bừng reo rồi theo nắng lên từ cha chói chan lòng mẹ…”

                        (Theo dactrung.com)

            Khổ đầu phần ca từ của “Xuân Ca”, bằng vào lòng biết ơn, tác giả đã minh thị rằng, khởi từ tình yêu của cha mẹ, thai nhi được tượng hình.
            Ở phần ca từ khổ hai, là giai đoạn thai nhi được cất tiếng khóc chào đời:

                       “Xuân tôi ra góp chung câu gào thiết tha
                        Là xinh, là tươi có Xuân thưở xưa ước mơ hiền hoà
                        Xuân xanh lơ, hắt hiu trong trời nắng mưa
                        Vườn Xuân là Xuân có hoa ngày mai hát Xuân thật dài…”

                        (Nguồn đd.)

            Như một vòng quay không điểm khởi, nên sẽ chẳng bao giờ có điểm kết thúc, những đứa con ra đời từ tình yêu của mẹ cha, một ngày kia sẽ trưởng thành. Vào đời. Kế thừa truyền thống đấng sinh thành (hay thuận theo biến chuyển tự nhiên của luật tạo hóa), chúng ta lại đi tìm cho mình tình yêu đôi lứa… Dù cho hoàn cảnh, điều kiện sống của chúng ta có khác biệt, có gập ghềnh buồn, vui:

                       “… Xuân tôi sang bến yêu tôi tìm gió trăng
                        Tình Xuân là Xuân có khi mừng vơi có khi sầu đầy
                        Xuân yêu đương muốn căng lên nhựa sống ngon
                        Tìm em gặp em đón Xuân nghìn năm bão Xuân ngập lòng…”

                        (Nguồn đd.)

            Tôi không biết có phải tác giả “Xuân Ca” muốn nhắc nhở chúng ta (cũng như chính ông) rằng, từ ngàn đời, bạo lực, thù hận vốn bị mùa xuân cự tuyệt. Nếu nhân loại có phải đối mặt với những mùa xuân gươm giáo, mùa xuân súng đạn, mùa xuân tai ương thì, đó là hậu quả của những thảm kịch do chính con người chủ xướng để gây cảnh nồi da xáo thịt cho nhau:

                       “… Xuân lên cao chóp Xuân buông nhịp xuống sâu
                        Hồn Xuân hồn thiêng ngút lên từ lâu cõi Xuân còn dài
                        Xuân trong ta đã muôn ngàn lần đã qua
                        Mặc cho, mặc bao những cơn buồn thương những cơn giận hờn…”

                        (Nguồn đd.)

            Từ đó, tác giả “Xuân Ca” khẳng định:

                       “… Xuân tôi ơi sức Xuân tôi còn khát khao
                        Dù nay, dù mai cũng như mọi ai chết trong địa cầu
                        Xuân muôn năm có ta Xuân còn hỡi Xuân
                        Thì xin, thì Xuân hãy cho tình nhân sống thêm vài lần.”

                        (Nguồn đd.)

            Một khẳng định đầy tình người. Rất nhân ái.
            Nếu “Xuân Ca” của Phạm Duy là bức tranh vẽ lại sự hình thành từ trứng nước của một con người trên phông nền chính là lẽ tử, sinh (đôi khi đậm sắc xám) thì, “Anh cho em mùa xuân”, thơ Kim Tuấn,(2) nhạc Nguyễn Hiền(3) lại được xây dựng trên tương quan đầy tính thơm thảo giữa mùa xuân trái đất và niềm hân hoan, lạc quan của con người.
            Trong xuân-khúc của Nguyễn Hiền và Kim Tuấn, giới thưởng ngoạn không chỉ cảm được nhựa xuân, mạch sống hồi sinh sung mãn, tuôn trào trên cây cỏ, đường phố, nhà cửa mà, người nghe còn cảm nhận được tiếng chim hót, tiếng cười trẻ thơ (kể cả tiếng cười của mùa xuân)… Khiến người nghe khó phân biệt được: Đâu là tiếng cười của Hoa Xuân? Đâu là tiếng cười của muôn loài:

           “Anh cho em mùa xuân / nụ hoa vàng mới nở / chiều đông nào nhung nhớ / Đường lao xao lá đầy / chân bước mòn vỉa phố / mắt buồn vin ngọn cây //
            Anh cho em mùa xuân / mùa xuân này tất cả / lộc non vừa trẩy lá / Lời thơ thương cõi đời / bầy chim lùa vạt nắng / trong khói chiều chơi vơi //
            Đất mẹ đầy cỏ lúa / đồng xanh xa mấy mùa / Ngoài đê diều căng gió / thoảng câu hò đôi lứa / Trong xóm vang chuông chùa / trăng sáng soi liếp dừa /Con sông dài mấy nhánh / cát trắng bờ quê xưa //
            Anh cho em mùa xuân / trẻ nô đùa khắp trời / Niềm yêu đời phơi phới / Bàn tay thơm sữa ngọt / giải đất hiền chim hót / mái nhà xinh kề nhau //
            Anh cho em mùa xuân / đường hoa vào phố nhỏ / nhạc chan hòa đây đó / Tình yêu non nước này / bài thơ còn xao xuyến / rung nắng vàng ban mai //
            Anh cho em mùa xuân / Nhạc thơ tràn muôn lối.”

            (Anh cho em mùa xuân. Nguồn đd.)

            Tuy là mặt khác của “Xuân Ca”, nhưng cả hai xuân-khúc này, theo tôi đã có được cho riêng chúng cái định-mệnh-xuân – Hiểu theo nghĩa chúng sẽ tồn tại mãi mãi cùng với vòng quay của trái đất. Dù cho Phạm Duy, Kim Tuấn, Nguyễn Hiền đã không còn nữa. Họ đã rời bỏ chúng ta, để an cư trong mùa xuân khác. Mùa xuân vĩnh cửu.




“Ly rượu mừng”, xuân-khúc “kinh điển” của tân nhạc Việt
            “Xuân Ca” của Phạm Duy và, “Anh cho em mùa xuân” của Kim Tuấn / Nguyễn Hiền là hai trong số những xuân-khúc tiêu biểu của nền tân nhạc miền Nam hai mươi năm. Nhưng nếu phải tìm một xuân-khúc đại diện cho mọi tầng lớp của xã hội Việt Nam, đồng thời phản ảnh tâm cảnh của mọi lứa tuổi thì, ứng hợp nhất với đòi hỏi này, theo tôi, là xuân-khúc “Ly rượu mừng” của cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương.(4)
            Tôi vẫn nghĩ chẳng phải ngẫu nhiên mà “Ly rượu mừng” không những đã trở thành “ly rượu” không thể thiếu trong mùa xuân của người Việt Nam mà, “ly rượu” ấy còn được nâng cao trong những họp mặt, lễ lạc ở bất cứ thời điểm nào của một năm. Nếu ta nhìn mỗi hội ngộ tự thân cũng là một mùa xuân tinh thần, ấm áp.
            Tôi muốn gọi “Ly rượu mừng” là xuân-khúc “kinh điển” nhất của nền tân nhạc Việt Nam. Tính chất “kinh điển” hiểu theo nghĩa không một thành phần nào của xã hội bị bỏ quên. Và, một cách ý thức, tác giả, đã sắp lại bậc thang giá trị của các thành phần xã hội, với lòng trân trọng, biết ơn của mình.(5)
            Thực vậy, ngay phần mở đầu của ca khúc, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã chọn ba thành phần nòng cốt là: Nông phu, thương gia, công nhân để gửi lời chúc mừng tới họ:

           “Ngày xuân nâng chén ta chúc nơi nơi / Mừng anh nông phu vui lúa thơm hơi / Người thương gia lợi tức / Người công nhân ấm no / Thoát ly đời gian lao nghèo khó //
            Á a a a / Nhấp chén đầy vơi / Chúc người người vui / Á a a a / Muôn lòng xao xuyến duyên đời…”


            Tầng lớp nông dân kể trên vốn không được coi trọng lắm, theo quan niệm cổ xưa, căn cứ vào khẩu truyền của dân gian: “Sĩ, nông, công, thương, binh”.
            Nhưng khi phải đối đầu với thực tế, cũng chính dân gian đã “sửa sai” bằng khẩu truyền: “Nhất sĩ, nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ!”
            Lại nữa, xã hội Việt Nam vốn là xã hội nông nghiệp, nên sự trả lại vị trí hàng đầu cho nông dân của họ Phạm là một trả lại hợp lý, xứng đáng.
Cũng vậy, tầng lớp binh sĩ, theo sắp xếp có tính cách biểu kiến, hời hợt thuở trước, vốn đứng hạng chót trong nấc thang gia trị xã hội – Nhưng, với “Ly rượu mừng,” tác giả đã dành nguyên khổ thứ hai của ca khúc, để chúc mừng họ, những người hy sinh mạng sống của mình cho ấm no, giầu có của dân tộc:

           “Rót thêm tràn đầy chén quan san / Chúc người binh sĩ lên đàng / Chiến đấu công thành / Sáng cuộc đời lành / Mừng người vì Nước quên thân mình…”

            Khi đề cập tới những hy sinh của người lính, họ Phạm cũng không quên những hy sinh thầm lặng, nhưng lớn lao không kém của những bà mẹ:

           “Kìa nơi xa xa có bà mẹ già / Từ lâu mong con mắt vương lệ nhòa / Chúc bà một sớm quê hương / Bước con về hòa nỗi yêu thương / Á a a a / Hát khúc hoan ca thắm tươi đời lính / Á a a a / Chúc mẹ hiền dứt u tình…”

            Kế tiếp, tác giả mới đề cập tới những đóng góp khác:

           “Rượu hân hoan mừng đôi uyên ương / Xây tổ ấm trên cành yêu đương / Nào cạn ly, mừng người nghệ sĩ / Tiếng thi ca nét chấm phá tô thêm đời mới…”

            Cuối cùng là chung khúc rực rỡ hy vọng, tin yêu nơi tương lai đất nước:

           “Bạn hỡi, vang lên / Lời ước thiêng liêng / Chúc non sông hoà bình, hoà bình / Ngày máu xương thôi tuôn rơi / Ngày ấy quê hương yên vui / đợi anh về trong chén tình đầy vơi //
            Nhấc cao ly này / Hãy chúc ngày mai sáng trời tự do / Nước non thanh bình / Muôn người hạnh phúc chan hoà // Ước mơ hạnh phúc nơi nơi / Hương thanh bình dâng phơi phới.”

            (Theo dactrung.com)

            Và, mỗi khi cùng nhau nâng “Ly rượu mừng” dù ở thời điểm nào của vòng quay trái đất, cũng chính là lúc chúng ta cùng với tác giả, hân hoan cầu chúc “… Nước non thanh bình / Muôn người hạnh phúc chan hoà…”
         Tôi nghĩ, đó là một cầu nguyện đời kiếp của dân tộc ta. Như sự hiện diện bất biến của tác giả ca khúc vậy.


DU TỬ LÊ
Tháng 02/2013

__________________________________________
(1) Nhạc sĩ Phạm Duy sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 tại Hà Nội. Ông mất ngày 27 tháng 1 năm 2013 tại Saigon. (Theo Wikipedia – Tiếng Việt).
(2) Nhà thơ Kim Tuấn sinh năm 1938 tại Hà Tĩnh (gốc Thừa Thiên / Huế). Ông mất ngày 11 tháng 9 năm 2003 tại Saigon. (Theo Wikipedia – Tiếng Việt).
(3) Nhạc sĩ Nguyễn Hiền sinh năm 1927 tại Hà Nội. Ông mất ngày 23 tháng 12 năm 2005 tại quận hạt Orange County, miền nam California. (Theo Wikipedia – Tiếng Việt).
(4) Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai, Hà Nội. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Xuất thân trong một gia đình truyền thống âm nhạc, cả hai thân sinh ra ông đều chơi nhạc cổ truyền. Thân phụ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương là ông Phạm Đình Phụng. Người vợ đầu của ông Phụng sinh được hai người con trai: Phạm Đình Sỹ và Phạm Đình Viêm. Phạm Đình Sỹ lập gia đình với nữ kịch sĩ Kiều Hạnh và có con gái là ca sĩ Mai Hương. Còn Phạm Đình Viêm là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.
       Người vợ sau của ông Phạm Đình Phụng có ba người con: trưởng nữ là Phạm Thị Quang Thái, tức ca sĩ Thái Hằng, vợ nhạc sĩ Phạm Duy. Con trai thứ là nhạc sĩ Phạm Đình Chương và cô con gái út Phạm Thị Băng Thanh, tức ca sĩ Thái Thanh.
       Ông được nhiều người chỉ dẫn nhạc lý nhưng phần lớn vẫn là tự học. Trong những năm đầu kháng chiến, Phạm Đình Chương cùng các anh em Phạm Đình Viêm, Phạm Thị Quang Thái và Phạm Thị Băng Thanh gia nhập ban văn nghệ Quân đội ở Liên Khu IV.
       Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác vào năm 1947, khi 18 tuổi, với tác phẩm đầu tay là ca khúc Ra đi khi trời vừa sáng. Năm 1951 ông và gia đình chuyển vào miền Nam. Với các anh em Hoài Trung, Thái Thanh, Thái Hằng ông thành lập ban hợp ca Thăng Long danh tiếng. Trong thập niên 50, ông đã viết những tác phẩm thành công và để đời như Ly Rượu Mừng, Xuân tha Hương, Thủa Ban Đầu, Tiếng Dân Chài v.v… Đáng kể nhất là trường ca bất hủ Hội Trùng Dương mà ông viết về đất nước Việt Nam hoa gấm, qua ba bài ca nói về con sông Hồng, sông Hương và sông Cửu Long. Theo như lời ông đã nói với gia đình, trường ca này đã phải tốn mất 4 năm để hoàn tất. (phamdinhchuong.com)
(5) Trước tháng 4-1975, khi cho in “Ly rượu mừng” hình thức một bản nhạc lẻ, cố nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã ghi chú nguyên văn như sau: “viết tại Sàigòn năm 1955 để đăng trên số báo Tết, Báo Đời Mới, thể theo lời yêu cầu của cụ Trần Văn Ân và nhà văn quá cố Nguyễn Đức Quỳnh, là hai người chủ trương tờ báo này.”


https://www.dutule.com/p124a4736/28/du-tu-le-mua-xuan-nhin-lai-20-nam-tan-nhac-mien-nam-
https://www.dutule.com/p124a4750/28/nhung-xuan-khuc-ton-tai-cung-vong-quay-trai-dat-
https://www.dutule.com/p124a4761/28/ly-ruou-mung-xuan-khuc-kinh-dien-cua-tan-nhac-viet-

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #171 vào: 08/02/2019, 19:37:55 »
Đọc thơ Xuân

Trong ngôn ngữ, có lẽ không có chữ nào gợi nên những điều tốt đẹp bằng chữ “xuân”: nắng xuân, mưa xuân, chiều xuân, đêm xuân, ngày xuân, hoa xuân, vườn xuân, sắc xuân, thanh xuân, tuổi xuân, hồi xuân, nghênh xuân, du xuân, tình xuân, đón xuân rồi những là bến xuân, phiên gác đêm xuân, nhớ một chiều xuân…

Sắc mai vàng đón Tết

XUÂN NÀO CŨNG gắn liền với hy vọng, với sự sáng sủa, với sự tươi vui, nồng ấm và sức sống.
            Tự điển Hán-Việt Thiều Chửu diễn tả chữ “xuân” như sau: “Xuân là đầu bốn mùa, muôn vật đều có cái cảnh tượng hớn hở tốt tươi, cho nên người ta mới ví người tuổi trẻ như mùa Xuân mà gọi thì tuổi trẻ là thanh xuân 青春 xuân xanh, ý thú hoạt bát gọi là xuân khí 春氣, thầy thuốc chữa khỏi bệnh gọi là diệu thủ hồi xuân 妙手回春. Xuân còn có nghĩa là rượu, cốc rượu đầu Xuân; thời nhà Chu bên Tàu, cứ đến tháng trọng Xuân 仲春 (Tháng Hai) thì cho cưới xin, vì thế mới gọi các con gái muốn lấy chồng là hoài xuân 懷春.”
            Chả thế mà nói đến “thơ Xuân” hay “nhạc Xuân,” dù chưa đọc, chưa nghe qua cũng đã cảm thấy vui vẻ, rộn ràng. Xuân, do đó, bao giờ cũng hàm nghĩa tích cực và lạc quan. Hãy nghe Nguyễn Du phác họa mấy nét mùa Xuân:

                       “Ngày xuân con én đưa thoi
                        Thiều quang chín chục đã ngoài sáu mươi
                        Cỏ non xanh tận chân trời
                        Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.


            Én bay, nắng rực rỡ, cỏ non xanh, cành hoa trắng, hình ảnh nào cũng tươi, đẹp, sáng sủa.
            Với Hồ Xuân Hương, xuân gắn liền với xanh, xuân là xanh: xuân xanh. Và cũng gắn liền với cái trong trắng, trinh nguyên của người thiếu nữ mới lớn: tờ giấy trắng. Chả thế mà thời gian còn son trẻ của các cô gái được gọi là “xuân thì”, “đương xuân.”

                       “Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình
                        Chị cũng xinh mà em cũng xinh
                        Ðôi lứa như in tờ giấy trắng
                        Ngàn năm còn mãi cái xuân xanh.


            Nguyễn Bính về sau này cũng cho là “xuân” thì đi với “xanh”:

                       “Mùa xuân là cả một mùa xanh
                        Giời ở trên cao, lá ở cành


            Với Đoàn Văn Cừ, đó là cảnh làm thơ và viết câu đối ngày Tết:

                       “Một thầy khóa gò lưng trên cánh phản
                        Tay mài nghiên hý hoáy viết thơ xuân
                        Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm
                        Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ


            Còn Anh Thơ, xuân là cảnh sống động ngoài đường làng:

                       “Ngoài đường ngõ bùn lầy theo nước chảy
                        Thằng cu con quần đỏ cưỡi lưng bà
                        Các cô gái đội vàng hương ôm váy
                        Miệng tươi cười mừng tuổi những người qua

                        (Ngày Tết)

            Hàn Mặc Tử ví von thời điểm đẹp nhất của mùa Xuân với trái cây chín tới qua cái tựa đề: “Mùa Xuân Chín”. “Chín” ở đây là viên mãn, tròn đầy:

                       “Trong làn nắng ửng khói mơ tan
                        Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
                        Sột soạt gió trêu tà áo biếc
                        Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang


            Chín ngoài trời mà cũng là chín ở trong lòng những cô thiếu nữ:

                       “Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời
                        Bao cô thôn nữ hát trên đồi;
                        – Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
                        Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi…


            Nguyên Sa lại thu gọn mùa Xuân vào một chỗ, đó là hình ảnh của “em”, người yêu.

                       “Mùa xuân em mặc áo vàng,
                        Ở trong thơ cổ chim hoàng hạc bay.
                        Em vừa xoay nhẹ vai gầy,
                        Nhìn coi vũ điệu vào đầy giấc mơ.
                        Nhìn coi chỗ cuối bài thơ,
                        Nụ hôn màu đỏ trời cho rượu đào.
                        Anh nhìn em mới bước vào,
                        Nhìn xuân, xuân cất tiếng chào đầu năm.

                        (Thơ Xuân Áo Vàng)

            Xuân là “em”. “Em” là xuân. Nói cách khác, chính tình yêu là mùa Xuân.
            Thanh Tâm Tuyền có một cách hình dung khác. Xuân là Tháng Giêng. Mà Tháng Giêng thì cây cỏ “hiện thành người”, là “cỏ non dại dột”, “cây leo yếu đuối”. Mùa Xuân gắn liền với cái non, tơ, yếu, mới chớm:

                       “Người ta bảo đêm tháng giêng cỏ cây hiện thành người
                        Anh bảo em chúng ta hãy là
                        Những cây leo yếu đuối
                        Những cỏ non dại dột
                        Mùa xuân đòi em trong quấn quít chờ đợi

                        (Đêm)

            Mùa Xuân cũng là con thỏ hồn nhiên chạy trên cỏ sắc. Xuân biến tóc thành miệng: chuỗi cười, biến đôi môi thành lá và biến nụ hôn thành thành sao: chòm hôn.

                       “Những bước chân thỏ rừng
                        Chạy trên cỏ sắc
                        Sợi tóc đen như một chuỗi cười
                        Trên chúm môi lá biếc
                        Những chòm hôn vội vàng
                        Làm những vì sao đổi ngôi
                        Anh muốn làm mới tình yêu

                        (Bài Thơ Của Tháng Giêng)


Mang Xuân đến mọi nhà

            Trong lúc đó, từ căn nhà rất đẹp của mình ở Bellevue, tiểu bang Washington, Trần Mộng Tú phác họa đôi nét chấm phá rất riêng về Xuân:

                       “Khi em nói cho anh nghe về con dốc cạnh nhà
                        con dốc nhìn xuống hồ Sammamish với dòng nước trong veo
                        những chiếc thuyền nhỏ đang căng lên những chiếc buồm
                        vải trắng
                        giải núi xanh như một nét mày thiếu nữ
                        vẽ một đường dài đến tận chân mây
                        làm cho trái tim em đập sai một nhịp
                        (…)
                        Em biết là mùa xuân đã dọn vào
                        ở hẳn với em

                        (Mùa Xuân và Thơ Thanh Tâm Tuyền)

             “Mùa xuân đã dọn vào ở hẳn với em”, nghe nhẹ nhàng nhưng đầy quyến rũ!


⋆ ⋆ ⋆

            Nhưng đừng tưởng mùa Xuân bao giờ cũng vui, cũng tươi sáng, cũng đầy hy vọng. Trong nhiều trường hợp, Xuân chẳng phải là Xuân: Xuân sầu.
            Chế Lan Viên, khi vẫn còn là nhà thơ tự do thời tiền chiến, đã từng nhìn mùa Xuân bằng một cái nhìn vô cùng tiêu cực:

                       “Tôi có chờ đâu có đợi đâu
                        Đem chi xuân lại gợi thêm sầu
                        Với tôi tất cả đều vô nghĩa
                        Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau…


            Buồn, bi quan, tuyệt vọng! Cả hơi thơ lẫn ý thơ như một phủ nhận, đúng hơn, một nghịch lý toàn diện với hai chữ “mùa Xuân!” Vì sao? Nghèo. “Có một người nghèo không biết tết/ Mang lì chiếc áo độ thu tàn!” Nó khiến ta nhớ đến những bài thơ Tết độc đáo của Trần Tú Xương:

                        “Anh em đừng nghĩ Tết tôi nghèo
                        Tiền bạc trong kho chửa lĩnh tiêu
                        Rượu cúc nhắn đem, hàng biếng quẩy
                        Trà sen mượn hỏi giá còn kiêu


            Một cách trào lộng chua chát về cái nghèo và mùa Xuân!
            Nếu cái nghèo đã đập nát đi hình ảnh mùa Xuân thì chiến tranh lại càng biến mùa Xuân thành bi kịch. Trịnh Công Sơn mô tả một buổi sáng mùa Xuân thời còn chiến tranh:

                       “Một buổi sáng mùa xuân
                        Một đứa bé ra đồng
                        Đạp trái mìn nổ chậm
                        Xác không còn đôi chân
                        Một buổi sáng mùa xuân
                        Ngực đứa bé tan tành
                        Ngàn hoa đồng cỏ nội
                        Cúi xuống nhìn con tim.


            Thật thảm thiết! Nhưng thảm thiết hơn nữa là cảnh xuân Mậu Thân ở Huế. Xuân Mậu Thân trở thành một mùa Xuân chết, qua lời ca cũng của Trịnh Công Sơn:

                       “Xác người nằm trôi sông
                        Phơi trên ruộng đồng
                        Trên nóc nhà thành phố
                        Trên những đường quanh co


            Chiến tranh chấm dứt, trong lúc người chiến thắng ồn ào ca ngợi mùa Xuân “đại thắng” thì hàng triệu người lại khăn gói vào tù. Xuân bây giờ là Xuân tù. Xin đọc vài đoạn trong bài thơ “Tháng Chạp Buồn”, một bài thơ tù của Tô Thùy Yên, được tác giả tìm thấy thời gian gần đây và đưa vào tuyển tập thơ mới vừa xuất bản của ông:

                       “Tết này con vẫn chưa về được
                        Chân mỏi còn lê nặng kiếp tù
                        Con nghĩ mà đau muôn nỗi nhớ
                        Chín năm lòng bạc những thiên thu
                        (…)
                        Trong ấy mùa xuân có đến không?
                        Mùa xuân hoa nở má em hồng
                        Mùa xuân áo mới như hy vọng
                        Nắng mật ngời lên ánh mắt trong
                        Ở đây có lẽ xuân không đến
                        Rừng núi chưa tan giấc não nề
                        Thương nhớ tràn như cơn lũ máu
                        Lòng anh đã vỡ những con đê.
                        (…)
                        Ôi cánh diều băng mùa hạ cũ
                        Xương tàn còn đọng ngọn tre cao
                        Ðến nay trời nổi bao lần gió
                        Con tưởng oan hồn vật vã đau
                        Tết này cha vẫn chưa về được
                        Ðành hẹn cùng con tết khác thôi
                        Con nhớ để dành cây pháo cũ
                        Ðể dành một chút tuổi thơ vui.


            Thật thấm thía cảnh mùa Xuân ở trong tù!


⋆ ⋆ ⋆

            Xin kết thúc bài viết bằng một thứ xuân khác, quen mà khá lạ, không vui cũng chẳng buồn của nhà thơ tình yêu Trần Mộng Tú.

                       “Đã lâu quá anh không về gõ cửa
                        lồng ngực em. Trái đỏ vẫn còn nguyên
                        (…)
                        Em mở áo cho xuân coi lồng ngực
                        trái tim em mảnh vườn cũ quê nhà
                        cành mai chiết tay ai còn in dấu
                        thiều quang ơi! Hoa nhớ đến xót xa
                        Em mở áo cho xuân coi lồng ngực
                        trái tim em như một ngọn hải đăng
                        lửa sinh diệt thắp hoài không dám tắt
                        bờ bến nào mà cá vẫn bặt tăm
                        Đã lâu quá anh không về gõ cửa
                        lồng ngực em. Trái đỏ vẫn còn nguyên


            Trong thơ ca xưa nay, ít khi ta thấy có nhà thơ nào trải lòng mình với “xuân” đến như thế.
            Bâng khuâng và đầy quyến rũ!


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 01/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/doc-tho-xuan/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #172 vào: 10/02/2019, 19:49:22 »
Đôi dòng tản mạn đầu Xuân

Đêm xuống trời hơi se lạnh, tôi trở dậy nhẹ nhàng kéo chiếc chăn mỏng đắp lên người, ánh đèn từ phòng bên vẫn le lói, hẳn tôi đã ngủ quên, nên không tắt đèn. Nhẹ nhàng nhoài người đến bên khung cửa sổ, mắt nhìn xuống phố, mưa rơi lất phất, đêm Paris thật yên bình và tĩnh lặng, nhất là trong khu đồi Montmartre, nơi tôi cư ngụ.


NHỮNG CON PHỐ nhỏ hẹp lát đá xanh từ thời vua Henri IV (cuối thế kỷ XVI), vẫn cứ bền bỉ ngoằn nghèo xen kẽ giữa những bậc thang đá đơn côi dẫn lên tới đỉnh đồi, nơi có ngôi nhà thờ Thánh Tâm trắng ngần (Sacré Cœur) tráng lệ tọa lạc.
            Đếm từng hạt mưa rơi… Có lẽ đây là những đêm cuối cùng của mùa đông Paris còn sót lại. Nhưng ngày mai, chỉ ngày mai thôi, bên kia Thái Bình Dương, Việt Nam xa xôi, sẽ là một mùa xuân ấm áp.
            Trái tim tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả. Tôi chợt lặng nhìn qua con phố vắng, để mặc cho gió đông thổi run run những cành cây khô. Tim tôi cảm nhận một khoảnh khắc giao mùa thiêng liêng kỳ diệu đang đến gần.
            Xuân chạm ngõ thật rồi, dường như nó đang chực sẵn ở bên kia bờ đại dương. Sáng sớm thức dậy, tôi thấy những tia nắng ấm áp len lỏi qua từng nhánh lá, vậy là đông đã qua rồi sao? Đông tan nhẹ quá, rất nhẹ và thật êm trong đêm. Vậy là đông đã theo mưa tan vào cỏ, còn cỏ lại hân hoan nở từng nụ cười xinh cảm ơn mùa xuân đã đánh thức sau một giấc ngủ say.
            Từng chồi non hé nở, những màu xanh cây lá với sắc xanh mơn mởn mà chỉ có ở mùa xuân, đang được hoà quyện với tiết trời ấm áp trong lành của thiên nhiên vạn vật. Đứng ngắm nhìn những chồi biếc đang nô đùa, tôi thấy lòng mình đột nhiên thanh thản kỳ lạ.
            Khúc hát đón xuân “Lắng Nghe Mùa Xuân Về”, một sáng tác của Dương Thụ, qua giọng ca của Bằng Kiều và Hồng Nhung thể hiện, chợt vang lên trong căn gác nhỏ. Ôi mùa xuân! Mùa xuân tươi mới, rạng ngời là thế, nên xin đời bao dung, và cứ để vài kỷ niệm ngủ vùi, đừng nhắc lại. Thả hồn theo khúc tự tình, tôi khẽ cười, chào mùa xuân mới.
            Chẳng phải ngẫu nhiên mà bất cứ danh từ, tính từ nào đi kèm chữ xuân cũng tràn trề sự sống, sự hồi sinh, nào là: xuân thì, xuân tình, xuân nồng, xuân ngời… Và dẫu cho “mỗi năm một tuổi, cái tuổi đuổi xuân đi” thế nhưng con người vẫn luôn trân trọng và luyến tiếc mùa xuân. Mong đợi xuân đến rồi cũng ngậm ngùi tiễn xuân đi, khi thấy một cánh hoa vô tình rơi rụng, tâm hồn ta cũng cảm thấy nuối tiếc, chạnh lòng.
            Đức Phật dạy rằng, tất thảy mọi sự xuất hiện trên thế gian này đều vô thường, đều nằm trong chu kỳ của Sinh, Trụ, Dị, Diệt, nôm na có nghĩa là xuất hiện và có mặt trong một khoảng thời gian, rồi thay đổi và biến mất. Bởi thế, cuộc sống luôn chứa ẩn nhiều điều bất trắc và chẳng có gì là vĩnh cửu, cứ luôn tuần hoàn, thay đổi. Ngay cả tình yêu cũng vậy, hôm nay thắm đượm, nhưng ngày mai ai dám chắc mình sẽ thuộc về nhau. Có chăng, tình cảm gia đình, tình yêu quê hương thì luôn đau đáu trong tim người tha hương viễn xứ.
            Mà quả thật, cuộc sống hôm nay dễ làm cho con người ta trở nên viễn xứ. Xa xứ vì phải đi lập nghiệp ở những vùng đất khác theo nhu cầu cuộc sống và cũng có thể xa xứ ngay khi đang sống trên mảnh đất của chính nơi mình sinh ra. Vì thế mà cần thiết biết bao phải có những ngày xuân để mọi người quay về với nguồn cội!
            Mỗi mùa trong năm đều có một nét đẹp riêng, nhưng có thể khẳng định một điều rằng, Xuân là mùa dường như được đất trời dành cho nhiều ưu ái nhất. Xuân ẩn bên trong mình nó những khô cằn, gai góc, khẳng khiu của muôn loài cỏ cây hoa lá… Bên trong cái quặn thắt ấy, vẫn luôn chứa đựng sắc xuân, mênh mông, vô cùng, vô tận. Rồi chỉ sau một đêm ngủ dậy, cũng cành cây ấy mới hôm qua thôi, nhìn vào thấy toàn gai góc, quặn thắt, xót xa…, thì nay đã biến thành những chồi non, lộc biếc, sắc hoa rực rỡ, phơi phới nao lòng, ngạt ngào đưa hương xuân lan tỏa khắp đất trời…
            Không biết từ Tết có tự bao giờ, mà mỗi khi nhắc đến làm con người ta bồi hồi, xao xuyến, rạo rực, xốn xang. Có thể nói, mùa Xuân gói Tết trong lòng, hay là Tết nở ra mùa Xuân? Tết và Xuân có ở trong nhau, bao bọc nhau, đẹp đẽ đến lạ kỳ, nhất là “Phút Giao Thừa”. Ôi…! Cái phút giây mà lòng người, tình người được trải ra, sâu lắng, mênh mông, chân thành nhất. Có thể nói, trong cả năm suốt ba trăm sáu mươi lăm ngày, không có phút giây nào đẹp hơn, vui hơn, trân trọng hơn phút giao thừa. Có lẽ vì thế mà người đời luôn mong mỏi, đợi chờ Xuân tới.
            Ngày xưa, trong cảnh nghèo khó bao trùm, người ta chỉ mong đến Tết để được ba ngày nghỉ ngơi, vui chơi, ăn uống no say, thoải mái, và hết ba ngày Tết lại làm lụng quần quật, lại nắng mưa giãi dầu, khốn khó triền miên… Trong những lúc mệt nhọc, đói khổ, người ta lại nhớ đến mùa Xuân… mong đến Tết.
            Xuân đến, Tết về. Trong tiết xuân sang, thoảng mùi hương của đất trời thiên nhiên rộng mở. Dẫu là người hờ hững đến đâu, nông nổi đến mấy cũng sẽ thấy lòng mình xao xuyến khi xuân về. Xuân sum họp, Tết đoàn viên. Có đi xa quê, chưa kịp trở về khi trời đất chuyển mùa, khi người người nô nức sắm tết mới hiểu được hết cái ‎nghĩa thiêng liêng của hai chữ sum họp – đoàn viên.
            Cứ mong ngóng mãi đến ngày trở về, trở về đúng dịp Tết, để quây quần bên mâm cơm tất niên, để được đón cái giây phút giao hòa thiêng liêng huyền diệu của năm cũ và năm mới, để được thắp lên bàn thờ tổ tiên nén hương thành kính, bên mâm cơm ngày tết ấm áp nghĩa tình, nồng nàn tình thân khiến những món ăn thêm hương vị độc đáo, khiến men rượu ngày xuân thêm ngây ngất nồng say…
            Thật hạnh phúc cho bất cứ ai cảm nhận đươc nhịp thở của mùa xuân. Vì mùa xuân như một cung đàn có thể gảy được tất cả những giai điệu yêu thương dành tặng cho cuộc đời. Năm nào xuân cũng đến và mỗi mùa xuân đều mang một dư vị riêng của yêu thương, của nồng ấm. Không mùa xuân nào giống mùa xuân nào, có chăng chỉ là sự giống nhau về bản chất, còn sự thật, xuân luôn khoác lên mình nhân sinh quan của thời thơ ấu, hay khi bạc mái đầu.
            Đón xuân rồi tiễn xuân… Nhưng khúc nhạc tình đời, tình người do mùa xuân ban tặng luôn ngự trị trong tâm thức của mỗi người. Bởi mùa xuân là vị sứ giả không đòi bổng lộc, không đợi nhắc nhở, cứ đến mùa lại nghêu ngao đi khắp nơi ban tặng cho mọi người một bản nhạc xuân tình – xuân đời đầy yêu thương, ấm áp, tràn đầy sinh khí trong cõi nhân gian.
            Mùa xuân đang về trên quê hương, tôi chạnh lòng nghĩ đến những mảnh đất đang loang lổ vì chiến tranh và thiên tai đại dịch, những bất công của bạo quyền, những gia đình vắng bóng người cha, người mẹ hay người con và bao kiếp người lưu lạc, bơ vơ không tìm được lối về. Làm sao họ có thể cảm nhận được vẻ đẹp và niềm hạnh phúc của đất trời vào xuân khi không gặp được mùa xuân của lòng mình! Vẻ đẹp tinh khôi và tươi mới của đất trời, làm nên mùa xuân của vũ trụ. Tình yêu và sự gặp gỡ sẽ làm nên mùa xuân của cuộc sống, mùa xuân nơi tâm hồn mỗi chúng ta.


ĐỨC BÌNH
Tháng 02/2013


http://vi.rfi.fr/van-hoa/20130209-doi-dong-tan-man-xuan-quy-ty

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #173 vào: 12/02/2019, 16:27:12 »
Những ngón tay bắt được của trời

Tạp chí Văn (trước 1975), ngoài là bệ phóng/bệ nâng của nhiều tên tuổi văn chương Việt, còn là một gallery thu nhỏ, một gallery chu đáo và ấn tượng nơi nhiều bìa báo (và cả những phụ bản) là những tác phẩm nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao của giàn họa sĩ thời danh – những con người với phước phần khi được ban cho “những ngón tay bắt được của trời” (từ của nhà văn Mai Thảo gọi họa sĩ Duy Thanh trong một bài viết trên tạp chí Sáng Tạo).

Bìa tạp chí Văn số đặc biệt viết về hội họa

NHỮNG VÓC DÁNG “em gầy như liễu trong thơ cổ”, nhưng gương mặt đẹp-đau-thương, những đường nét khêu gợi trí tưởng, những mảng màu siêu thực… trên bìa của Văn, khiến tạp chí này – ngoài giá trị nội dung không thể phủ nhận – còn bật lên với những giá trị thẩm mỹ và có thể được xem là một trong số ít những tạp chí văn chương được chăm chút nhất về mặt “mỹ thuật” của làng báo chí “ngàn hoa đua nở” trước 1975.
            Tính từ 1954 đến 1975, có thể chia “thế giới” hội họa – tạo hình thành ba làn sóng, trong đó có thể kể đến đợt đầu tiên gồm lứa của Nguyễn Gia Trí, Bùi Xuân Phái, Tô Ngọc Vân, Tạ Tỵ… đợt thứ hai là lứa Ngọc Dũng, Thái Tuấn, Duy Thanh… và Hội Họa Sĩ Trẻ có thể coi là đợt sóng thứ ba của hội họa Việt Nam.
            Những họa sĩ tài danh của ba đợt sóng này đều đã tung lên những triều cường về màu sắc, hình ảnh, bố cục… trên bìa của một tạp chí thuần văn chương như Văn.
            Riêng về Hội Họa Sĩ Trẻ, những tên tuổi nổi trội trong hội có thể kể đến: Ngy Cao Uyên, Hiếu Đệ, Cù Nguyễn, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyễn Phước, Nguyễn Lâm, Mai Chửng, Đinh Cường, Hồ Thành Đức, Trịnh Cung…
            Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam sở dĩ được thành lập, do “tham vọng” trước mắt là từ chính những cá nhân đứng ra thành lập hội, và từ những “nhận ra” – ví dụ như sự-nhận-ra được đề trên brochure ngày 10 Tháng Mười Một, 1973, cho cuộc triển lãm tại tại gallery La Dolce Vita thuộc khách sạn Continental.

            “Nhận thấy nghệ thuật Việt Nam, nói riêng là hội họa và điêu khắc, trong hơn nửa thế kỷ nay, kể từ ngày có trường Mỹ Thuật Đông Dương do người Pháp thành lập tại Hà Nội, vẫn chưa đáp ứng được với thực trạng Việt Nam. Cảm hứng nghệ thuật có thể nói là quá nghèo nàn vì chủ nghĩa buông thả, vì chủ nghĩa cá nhân chật hẹp không tương xứng với hoàn cảnh Việt Nam với những vấn đề vô cùng lớn lao và phong phú.
            “Những kiểu cách sai lầm từ trước tới nay vẫn chưa được mổ xẻ; hoặc dùng những đặc tính gọi là Á Đông để làm căn bản nghệ thuật mà thật ra chỉ là những hình thức lệ thuộc Tàu, Nhật… hoặc nhờ cậy vào nghệ thuật Âu châu, đặc biệt là trường phái Paris, lấy nó làm tiêu chuẩn để suy luận và làm việc, nhốt gọn nghệ thuật Việt Nam trong cái giỏ ‘thuộc địa’ nên những công trình thực hiện chỉ là cái gì thứ yếu đối với nghệ thuật Tây phương.”


            Hãy cùng nhìn lại từ điểm khởi đầu, từ chính lời tường thuật của một nhân chứng sống: họa sĩ Trịnh Cung (trao đổi điện tín với nhà văn Phan Nhiên Hạo năm 2009).

            “Có lẽ do sự xuất sắc của một số họa sĩ trẻ, tuổi từ 22 đến 30, từng đoạt những giải thưởng mỹ thuật quan trọng của quốc gia như Giải Hội Họa Mùa Xuân bắt đầu từ năm 1959, Giải Mỹ Thuật Quốc Tế Sài Gòn Lần Thứ Nhất vào năm 1962, và Giải Văn Học & Nghệ Thuật Tổng Thống vào năm 1966 (?) mà hai nhân vật, Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng (nay đang định cư ở Canada), và họa sĩ Ngy Cao Uyên (nay đang định cư ớ vùng Hoa Thịnh Đốn), đã khởi xướng việc quy tụ lại những tài năng trẻ và thành lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam.
            “Hai ông, Ngy Cao Uyên, sĩ quan Bộ Tư Lệnh Không Quân, và cũng là một họa sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ, cùng với ông Nguyễn Tấn Hồng, một trí thức yêu hội họa, bộ trưởng Bộ Thanh Niên, đóng vai mạnh thường quân của hội. Theo trí nhớ của họa sĩ Cù Nguyễn, cuộc họp ban đầu để bàn về việc lập hội gồm có Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng, các họa sĩ Ngy Cao Uyên, Vị Ý, Cù Nguyễn, Âu Như Thụy và nhạc sĩ Phạm Duy. Thế nhưng khi họp để chính thức thành lập hội tại nhà Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng trên đường Phan Thanh Giản, Quận 3, Sài Gòn, ngoài ông Nguyễn Tấn Hồng chỉ có chúng tôi, gồm các họa sĩ và điêu khắc gia Ngy Cao Uyên, Hiếu Đệ, Cù Nguyễn, Nguyễn Trung, Nghiêu Đề, Nguyễn Phước, Nguyễn Lâm, Mai Chửng, Đinh Cường, Hồ Thành Đức và tôi, Trịnh Cung. Lúc đó là Tháng Mười Một, 1966. Họa sĩ Ngy Cao Uyên được bầu làm chủ tịch lâm thời của hội, Nguyễn Trung và Mai Chửng giữ vai phó, tôi làm tổng thư ký, các anh còn lại là ủy viên ban chấp hành. Kể từ đó, tất cả chúng tôi đều là thành viên sáng lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, và những cuộc họp ban chấp hành thời kỳ chưa có trụ sở riêng đều diễn ra tại nhà Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng.
            “Nhớ lại những ngày đầu tiên ấy, trừ Bác Sĩ Nguyễn Tấn Hồng và họa sĩ Ngy Cao Uyên, cả hai đều đã khá già dặn và có sự nghiệp, họa sĩ Hiếu Đệ là lớp đàn anh, chúng tôi còn lại đều rất trẻ, trên dưới 25 tuổi. Trừ Ngy Cao Uyên và Cù Nguyễn là hai họa sĩ tự học, còn lại đều là sản phẩm một nửa hoặc toàn phần của hai trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định và Huế. Phần đông chúng tôi đều thích sống tự do dù có bấp bênh, sớm có xu hướng nghệ thuật hiện đại và đã gặt hái hầu hết các giải thưởng hội họa quốc gia quan trọng, nên tạo được sự chú ý của dư luận văn nghệ…”


            Riêng tôi, với những người họa sĩ chưa-bao-giờ-gặp-mặt nhưng đã tiếp xúc với các sáng tác của các ông… cũng mạo muội xin chia sẻ một số ấn tượng riêng với một vài tên tuổi:
            – Ngy Cao Uyên – người góp mặt trong tập nhạc/thơ/họa trứ danh (ngay khi xuất hiện, cũng là một phát kiến mới trong làng xuất bản sách vở) cùng với Phạm Duy, Cung Trầm Tưởng: tập Tình Ca – nơi đúng nghĩa thi ca nhạc họa cùng thăng hoa, Ngy Cao Uyên đã mang những “người yêu xóm học”, những “người em mắt nâu/tóc vàng sợi nhỏ” hiển bày trước mắt công chúng, làm dâng thêm nỗi khát khao “vàng tơ sợi nhỏ xin hầu kiếp sau”…
            – Mai Chửng – nổi tiếng với bức “Tượng đài Bông Lúa” – biểu tượng của nền văn minh nông nghiệp, là tác phẩm đồ sộ bằng đồng lá đã được dựng tại thị xã Long Xuyên (1970). Sau tượng đài Bông Lúa Con Gái (1970), không thể không nhắc tới một tác phẩm để đời khác của Mai Chửng, bức tượng Mầm (1973) cao 1,50 m, làm bằng cả ngàn vỏ đạn súng trường được hàn lại, biểu tượng cho sự sống vẫn vươn lên giữa tàn phá của chiến tranh và được Mai Chửng cho triển lãm năm 1974 tại gallery La Dolce Vita trong khách sạn Continental trên đường Tự Do Sài Gòn.
            – Nguyễn Trung – cũng có khá nhiều tranh xuất hiện trên bìa tạp chí Văn… Lúc còn là sinh viên trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định đã đạt được những giải thưởng hội họa quan trọng: huy chương bạc Triển Lãm Hội Họa Mùa Xuân 1961, huy chương vàng Triển Lãm Hội Họa Mùa Xuân 1963. Tranh của Nguyễn Trung “với những đường nét, bố cục vững chãi, chặt chẽ, với một kỹ thuật chững chạc để nhào trộn màu sắc, đơn giản mà vẫn táo bạo, rất cổ điển mà đầy tinh thần sáng tạo và tìm kiếm mới mẻ, nghĩa là với một màu sắc đặc biệt, một bút pháp cá biệt, anh luôn luôn chế ngự được thế giới mình tạo ra” (Huỳnh Hữu Ủy nói về Nguyễn Trung trong tập Nghệ Thuật Tạo Hình Việt Nam Hiện Đại, 2008).


Bìa tạp chí Văn số đặc biệt Giáng Sinh 1974

            – Nghiêu Đề – tôi ấn tượng với những bức tranh của ông dùng làm bìa của tạp chí Tình Thương (của Sinh viên Y Khoa), của các tác phẩm nhà văn Ngô Thế Vinh (trong tác phẩm Vòng Đai Xanh, Triết – nhân vật chính – nguyên gốc họa sĩ sau trở thành phóng viên chiến trường có bóng dáng Nghiêu Đề trộn lẫn với cái tôi của tác giả), và ngay cả phong vị không lẫn vào đâu tranh sơn dầu được vẽ vào những năm 1960-1970, như những bức: Đêm, Tỏ Tình, Vùng Thanh Thoát, và điển hình là bức Chân Dung đoạt huy chương bạc Hội Họa Mùa Xuân 1961. Ngoài ra, ông còn viết truyện ngắn – truyện của ông cũng thật nhiều đường nét, sắc màu… trong đó tôi thích nhất một truyện mang tên Vực Hồng. Ông cũng đã ra một tập sách mang tên Ngọn Tóc Trăm Năm (Sông Mã xuất bản 1965).
            – Trịnh Cung – tác giả của bài thơ phổ nhạc nổi tiếng “Cuối Cùng Cho Một Tình Yêu”, tác giả của nhiều hình bìa sách. Cuộc triển lãm chính thức đầu tiên của Trịnh Cung khai mạc tại Sài Gòn năm 1962, cùng với hai họa sĩ Tôn Nữ Kim Phượng và Đinh Cường, tại Phòng Thông Tin Đô Thành Sài Gòn. Tuy chỉ là một cuộc triển lãm chung nhưng đã mở màn cho nhiều cuộc triển lãm riêng và chung tại quốc nội lẫn hải ngoại: Paris (1963), Tunis (1964), Hoa Kỳ (1969). Trịnh Cung là hội viên sáng lập Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam, từng giữ chức vụ tổng thư ký của hội này. Ông được huy chương đồng trong cuộc triển lãm Hội Họa Mùa Xuân năm 1963 và huy chương bạc trong năm 1964. Họa phẩm “Mùa Thu Tuổi Nhỏ” của Trịnh Cung là tác phẩm đầu tiên được Việt Nam Cộng Hòa chọn gởi tham dự triển lãm quốc tế, và được trao bằng danh dự. Và với tôi, tính đến thời điểm hiện tại, Trịnh Cung một trong số ít những nhân chứng thuộc dòng “họa sĩ” trước 1975 còn chịu khó viết/kể/nhận định… để những lớp hậu bối sau này còn có thêm tư liệu và một điểm nhìn về tình hình sinh hoạt của giới họa sĩ – tạo hình miền Nam trước 1975/những trào lưu ảnh hưởng/những định hình, định hướng… của các trường phái hội hoạ, tạo hình… tuôn chảy trong lòng xã hội những năm cũ ấy.
            – Đinh Cường – Nhắc đến Đinh Cường, người yêu nghệ thuật nghĩ ngay đến dòng tranh thiếu phụ đài các, ẩn hiện bên thành quách rêu phong; trong cảnh có người và trong người có cảnh, rất mỹ miều và sang trọng… Ông tốt nghiệp trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Huế năm 1963, đến năm 1964 thì tốt nghiệp khoa hội họa trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định. Ngoài ra, ngay từ khi còn ở trong nước, Đinh Cường cũng đã sáng tác rất nhiều thơ và cũng xuất hiện khá nhiều trên Văn – tôi tạm gọi đó là dòng thơ-văn-xuôi-Đinh-Cường, nơi thủ pháp thơ đã thành một đinh danh cho ông: “thi sĩ của hoài niệm.”
            – Hồ Thành Đức – tác phẩm của ông xuất hiện khá nhiều trên bìa các tập nhạc và cả bìa sách. “Những đường viền của tóc hay của môi trên chân dung người nữ trong tranh ông thường được chăm chút cẩn thận với một dụng ý khá rõ là nhằm tăng thêm nữ tính trong từng vết cắt của màu sắc. Ít khi Hồ Thành Đức để cho người nữ của mình im lặng hay bị buộc phải im lặng. Ông đưa hơi thở của nét, của màu, của ánh sáng vào nhân vật khiến người nữ trong tranh ông chừng như muốn bước ra, tung tăng với gió ngàn hay bước ra chỉ trong một khoảnh khắc để đối thoại với người đang đối diện với mình” (Mặc Lâm viết về tác phẩm Hồ Thành Đức).
            Biết bao vật đổi sao dời, nhưng định (con đường) (chính) danh cho hội – như trong lời khai từ, xem như là Tuyên Ngôn – viết ở mục Nhận Định trong cuốn sách ra mắt Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam (năm 1967), bây giờ, nhìn lại, và rõ ràng hơn là nhìn vào chính những sáng tác của các tác giả trong hội, không ai có thể chối từ những giá trị còn để lại cho đất nước này hiện tại, đó là tinh thần “luôn luôn đổi mới để theo kịp đà tiến của những khuynh hướng đi đầu và nuôi tham vọng hình thành một hội họa tổng hợp đặc biệt giữa kỹ thuật Tây phương và tinh thần Đông phương” và cả “Theo đuổi khuynh hướng nghệ thuật tân kỳ nhất, ở gần chúng ta nhất: khuynh hướng đã có sẵn ngay trong lòng chúng ta, ngay trong lòng quần chúng Việt Nam” (Tuyên Ngôn lần thứ 2, năm 1973).
            Trong Vựng Tập của buổi triển lãm 1969 của hội, Nguyễn Trung phát biểu một ý tưởng đơn giản, về cái nhìn của ông với nghệ thuật, nhưng giờ đây, nhìn lại, chúng ta cũng có thể xem như là một bộc bạch của những người làm-nghệ-thuật nói chung và những-họa-sĩ mang đến những cái đẹp cho đời nói riêng: “Dường như chỉ nghệ thuật mới có thể mang tình yêu và sự bình an trở về với tâm hồn ta. Dường như chỉ có nó mới có thể mang đến ta sự cứu rỗi ấy trong khi càng ngày chúng ta càng dấn thân vào cuộc sống văn minh thiếu nhân cách, địa ngục của giận dữ, thù hằn và bạo động đến nỗi chúng ta quên dần những lời xin lỗi và thứ tha, những cử chỉ yêu thương và thông cảm.”
            Mong thay, sẽ có thêm những Hội Họa Sĩ, nhiều tâm hồn đẹp, thêm nhiều “ngón tay bắt được của trời” để cùng phất lên lá cờ sáng tạo, không chỉ riêng gì cho lãnh vực mỹ thuật-tạo hình của quê hương. Mặc dù biết rằng (như trong bài viết của Tô Thùy Yên): “Mọi thành tựu của người nghệ sĩ, cụ thể là một bức tranh hay một bài thơ, cùng lắm cũng chỉ là một thành tựu tạm bợ nhất thời để rồi vứt bỏ, quên đi, không luyến lưu, cũng như mọi trạm đến của người tu sĩ cũng chỉ là một chặng đường đang vượt qua, vượt qua nữa, không ngừng…” (Tô Thùy Yên viết trong brochure của Việt Art Gallery tại Houston tổ chức cuộc triển lãm tao phùng của bảy trong số những thành viên Hội Họa Sĩ Trẻ Việt Nam – năm 2013 tại Hoa Kỳ, gồm Nguyễn Trung, Trịnh Cung, Nguyễn Lâm, Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Phước, Nguyên Khai, Đinh Cường).


NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG HUY
Tháng 02/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nhung-ngon-tay-bat-duoc-cua-troi/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #174 vào: 16/02/2019, 21:55:40 »
Trang trong trang ngoài một tờ báo

Nói tới thơ văn trên các báo miền Nam Việt Nam cũng là nói tới các tác giả miền Nam trong làng báo. Trong thế giới nhật báo, trang trong trang ngoài là hai lãnh vực khác biệt, trang ngoài là thời sự chính trị, kinh tế quân sự, trang trong khác hẳn, trang xã hội tình cảm, chuyện gia đình và văn nghệ.

Bìa báo Sài Gòn Mới Xuân Tân Mão 1951 được họa sĩ Lê Trung vẽ

1.– Và một khi đã nói tới Kiên Giang, tác giả “Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím”, thường người ta cũng nói luôn tới Sơn Nam, tác giả “Hương Rừng Cà Mau”, kẻ thơ người văn; vốn thường ở địa vị tương xứng, bên này đối với bên kia.
            Không những hai người này sinh hoạt song hành trong làng nhật báo vào thập niên năm mươi sáu mươi, họ còn khởi sự trên những tuần báo miền Nam như Nhân Loại, Phụ Nữ Diễn Đàn, Thẩm Mỹ. Ngoài tiểu thuyết, truyện đồng quê, truyện võ hiệp kỳ tình, báo nào cũng có cả trang thơ truyện.
            Lúc ấy tôi đã nghe nói: ngoài Bắc không có như thế, nhưng không thấy nói rõ Hà Nội không thấy như thế, hay Nam Định không thấy như thế, Hải Phòng không thấy như thế, mà tổng quát đem cả ngoài Bắc để so sánh với chỉ một thành phố là Sài Gòn.
            Mà Sài Gòn ở đây như tôi biết có những tờ quen thuộc với độc giả bình dân như Sài Gòn Mới của ông bà Phú Đức – Bút Trà, Lẽ Sống của Ngô Công Minh, sâu hơn có Tiếng Dội của Trần Tấn Quốc, Tiếng Chuông của Đinh Văn Khai, và nhất là hai tờ thế giá kiểu cổ điển “Nam Kỳ” như Thần Chung, Đuốc Nhà Nam…

2.– Người viết bài này từng bước vào tòa soạn một tờ báo văn nghệ dòng báo chí Sài Gòn và gặp nhà văn Ngọc Linh ở đấy, khoảng năm 1957. Nếu kể từ chia cắt đất nước 1954 thì chỉ sau hai năm, báo chí Sài Gòn đã thay đổi. Nhiều thì chưa nhiều, nhưng ít ra cũng có khoảng năm tờ báo được nhắc nhở, như Tự Do, Dân Chủ, Ngôn Luận, Cách Mạng Quốc Gia, Văn Nghệ Tiền Phong… Đó là những tờ mới từ khi miền Nam có thêm khoảng 800.000 người di cư từ Bắc vào, trong khi báo cũ trước 1954 vẫn hiện diện…
            Sau này giữa thập niên 1960 tới chớm đầu 1970 nhà văn Ngọc Linh lúc ấy đã thân tình với tôi, cười nói: “Tao thấy mày đến tận tờ Nhân Loại gây sự với anh Lợi”. Tôi nói không quen anh Lợi nào hết, nghe nói thế Ngọc Linh gật đầu: “Thì đúng rồi vì hôm đó là lần đầu tiên mày tới tờ Nhân Loại, làm sao quen ảnh, nhưng đó là anh quản lý nắm tiền bạc tờ báo. Ảnh mập ù”.
            Tôi gật đầu với tác giả “Đôi Mắt Người Xưa”, cho biết là có những điều bạn nói đúng. Tòa soạn tờ Nhân Loại lúc ấy không có vẻ gì là văn phòng của một cơ quan báo chí, không có tủ sách, không có bàn viết, lại có một số bao tải chất đống bên bờ tường, và một ông quần quật làm việc khuân vác, người mà Ngọc Linh gọi là anh Lợi.


Báo Thần Chung Xuân 1951

            Khoảng sau 1963, không khí trong các tờ báo có khác, còn trước đó tôi từng thấy khi bước vào tòa soạn một tờ báo Nam, hầu như nhiều người ngừng tay làm việc, nhìn lên chờ đợi. Một lần ở báo Công Luận cũng thế, tôi phải nói: “Tôi tới kiếm Duyên Anh”. Dàn ký giả phóng viên của báo này cũng chặt chẽ với việc đối ngoại. Lúc ấy vừa qua tuổi thiếu niên vài năm, tôi không đủ chín chắn để quan sát hay nhận định, nhưng biết là trong đời sống hằng ngày có sự kỳ thị nơi có chung đụng dân cả ba miền Bắc Trung Nam. Phải nói Bắc Trung Nam cả ba kỳ, người ta hay nói kỳ thị Nam Bắc là không chính xác, là bỏ mất một thành phần ở giữa, thành phần nối kết va chạm cả hai đầu.
            Tự con người với con người miền này miền kia không có gì nặng nề, song môi trường chung thì có, và rõ ràng có sự chia rẽ, vận động từ chủ trương bên ngoài, còn tự nội tâm bản thể, tôi tin là không.
            Tôi có rất nhiều bạn thân người Nam, ngay từ giữa thập niên 1950, vì tôi khởi sự làm báo như một thông tín viên, rồi phóng viên, bị gửi ngay vào sinh hoạt xã hội chung đụng ấy để lấy tin.
            Để lấy tin, viết tin, nghĩa là tự mình chứng kiến tham dự sự việc bằng tai mắt của mình, đối đáp bằng lời nói ngôn ngữ của mình, trực tiếp, không bị ai thêm bớt sai lạc. Bạn đầu đời trong nghề báo của tôi ở Sài Gòn 1956 là những người sau này mãi mãi còn là bạn, họ còn lèo lái các tờ báo lớn nữa, đó là những Anh Quân, Trọng Viễn, Ngô Tỵ, Ngô Công Dư… những phóng viên cùng lớp tuổi 17, cũng như tôi. Hơn chục năm sau chúng tôi đều trở thành chủ báo ở miền Nam, và vẫn còn giữ những kỷ niệm đẹp.

3.– Trong thế giới nhật báo, trang trong trang ngoài là hai lãnh vực khác biệt, trang ngoài là thời sự chính trị, kinh tế quân sự, trang trong khác hẳn, trang xã hội tình cảm, chuyện gia đình và văn nghệ. Trong cơ cấu tổ chức một tờ nhật báo, không kể chủ nhiệm, chủ bút, người trông coi trang ngoài thường minh nhiên là tổng thư ký, trong khi người trông coi trang trong chỉ là thư ký tòa soạn.
            Tờ báo dù có chủ nhiệm, chủ bút thế nào đi nữa, sự phân chia trang trong trang ngoài vẫn rõ rệt. Ký giả trang ngoài khác hẳn ký giả trang trong. Bài cho trang ngoài là bài chạy. Bài cho trang trong là bài nằm. Chạy thì phải vội phải cấp kỳ, nằm thì nhà nhã thư thả. Bài nằm đưa trước cả vài ngày, bài chạy có khi đang viết người thợ sắp chữ đã đứng bên cạnh, nhiều khi viết được 10 hay 15 dòng đã phải lấy cái thước chặn ngang một đoạn, xé ra đoạn đó đưa cho thợ sắp chữ, cốt là để anh ta đi cho khuất.
            Cho anh ta một đoạn đem vào sắp chữ thì cả hai bên đều có việc làm, rồi tác giả mới lại viết tiếp. Không thiếu các nhà văn nhà báo miền Nam viết trong tình cảnh ấy. Suy rộng ra, trang trong trang ngoài của một tờ nhật báo khác hẳn nhau, ký giả trang trong ký giả trang ngoài cũng khác hẳn nhau. Một bên xô bồ, còn một bên tà tà.
            Độc giả không lưu tâm lắm tới sự khác biệt bài vở trong một tờ báo, thật sự là sự khác biệt rất lớn lao. Ít ai biết rõ những khác biệt ấy như thế nào, vì nếu không ở trong nghề thì cũng không có gì lý thú để đáng biết đến.
            Trước 1975, nhật báo phải đưa bản vỗ (bản in thử), thực tế là không phải in bằng máy, mà trải một tờ giấy báo lên khuôn chữ đã sắp xếp xong xuôi, dùng một cái bàn chải lớn quét mực in lên khuôn chữ. Trải một tờ giấy báo lên khuôn chữ đã quét mực, vỗ nhè nhẹ cái bàn chải lên tờ giấy báo, làm sao để chữ nghĩa hình ảnh thấm vào tờ giấy đã ướt mực, rồi bóc tờ giấy (tức tờ báo vì đã có chữ hiện ra rồi), tới khoảng 3 giờ phải đem hai trang báo chính lên Bộ Thông Tin xin kiểm duyệt. Lúc ấy gọi là Bộ Dân Vận, đọc theo giọng Nam là Bộ Dân Giận.
            Theo tôi biết, cả thế giới không ở đâu ký giả làm báo in báo như ở Sài Gòn. Chữ thì đúc bằng chì, mỗi con chứ cao 2 cm, ví dụ muốn sắp chữ Việt Nam người thợ sắp chứ phải dùng tay phải nhặt chữ V hoa, chữ i, chữ ệ với dấu ớ (^) và dấu nặng, rồi chữ t như thế là được chữ Việt, rồi kế tiếp một miếng chì trơn làm khoảng cách trước khi nhặt chữ N chữ a và chữ m để sắp liền nhau thành hai chữ Việt Nam.
            Tay phải nhón 10 miếng chì này sắp thành chữ Việt Nam vào một cái khuôn gỗ nhỏ cầm bên bàn tay trái. Khuôn gỗ này một khi đầy, tức là ấn công đã sắp được khoảng ba hay bốn câu văn.
            Một tờ nhật báo như tờ Tiền Tuyến do tôi làm thư ký tòa soạn chẳng hạn, một ngày ra tám trang, đã cần 30 ấn công làm việc 8 tiếng, một thì tới 5 hay 6 giờ chiều, khuôn báo tám trang được sẵn sàng trao cho guồng máy kế tiếp. Tới giai đoạn này thì ký giả khỏi lo nữa, việc in ấn tờ báo thuộc trách nhiệm những người khác.


VIÊN LINH
Tháng 01/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/trang-trong-trang-ngoai-mot-to-bao/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #175 vào: 21/02/2019, 18:26:08 »
Conciergerie: Chứng nhân lịch sử hàng đầu của kinh thành Paris

Conciergerie, một tòa nhà tọa lạc trên đảo Ile de la Cité, giữa lòng Paris, với tòa tháp đôi sừng sững bên bờ sông Seine, là một công trình nổi tiếng thuộc cung điện Palais de la Cité, cung điện đầu tiên của các nhà vua Pháp được xây dựng ở Paris và là cung điện lộng lẫy nhất châu Âu thời đó. Nhưng Conciergerie từng là một nhà tù khét tiếng, nơi giam giữ nhiều nhân vật lịch sử quan trọng dưới thời Cách Mạng Tư Sản Pháp 1789.
 
Conciergerie de Paris tọa lạc trên đảo Ile de la Cité, bên dòng sông Seine

KHÔNG CHỈ NỔI TIẾNG là tòa nhà không phải nhà thờ mà có các căn phòng với kiến trúc Trung Cổ, mái vòm gothic lớn nhất châu Âu. Conciergerie còn là một trong những kiệt tác kiến trúc thế kỷ XIV và là một chứng nhân lịch sử quan trọng bậc nhất ở kinh thành Paris, từng là nơi ghi dấu quyền lực nước Pháp.
            Tại sao tòa nhà lại mang tên Conciergerie? Bà Delphine Samsoen, quản lý tòa nhà giải thích: “Rất đơn giản, trước đây ở nơi này đã từng có một nhân vật rất quan trọng, người đó được gọi là “concierge”. Đó là người cai quản nhân sự của cung điện thời trung cổ. Vào thời đó, cung điện có khoảng 2.000 người làm việc, bao gồm cả lính canh, sen đầm. Người này cũng phụ trách quân nhu. Và người được gọi là “concierge” đặt tên tòa nhà này là Conciergerie”.
            Conciergerie từng là một phần của cung điện của hoàng gia. Sử sách truyền lại rằng vào thế kỷ VI, vua Clovis chọn đảo Ile de la Cité làm nơi ở của hoàng tộc. Năm thế kỷ sau, kể từ thời vua Hugues Capet, vị vua đầu tiên của dòng họ Capet, cung điện Palais de la Cité không chỉ là nơi ở mà còn là biểu tượng quyền lực của các triều đại hoàng tộc.
            Tới thế kỷ XIII, Saint Louis cho tiến hành tu bổ, làm đẹp cung điện. Sang thế kỷ XIV, vua Philippes Le Bel lại cho cách tân cung điện, biến Palais de la Cité thành biểu tượng nổi tiếng của chế độ quân chủ. Trụ sở Quốc Hội cũng được đặt tại đó.
            Cuối thế kỷ XIV là một bước ngoặt trong lịch sử cung điện Palais de la Cité nói chung và Conciergerie nói riêng. Vua Charles V chuyển nơi ở về tòa nhà Saint-Pol (gần Bastille), điện Louvre và lâu đài Vincennes. Conciergerie từ đó trở thành nơi đặt trụ sở của các cơ quan tư pháp, tòa án.
            Bà Delphine Samsoen, quản lý Conciergerie cho biết tiếp: “Khi các vua rời đi, đây là nơi diễn ra tất cả các hoạt động tư pháp, các hoạt động quản lý hành chính của đất nước. Dần dần, Conciergerie trở thành Cung Pháp Đình (Palais de la Justice) và sau đó là nhà ngục”.


Salle des Gens d’Armes từng căn phòng với mái vòm gothic lớn nhất châu Âu

Nhà ngục lớn nhất nước Pháp
            Vì vụ án được tòa xử ngày càng nhiều, người ta đặt ngay tại Conciergerie Tòa Án Cách Mạng để xử các vụ án chính trị và các phòng tạm giam nghi phạm trước khi đưa họ ra xét xử trước tòa và đẩy họ lên xe kéo, đưa tới pháp trường xử trảm. Cứ như thế, Conciergerie dần dần trở thành một nhà ngục. Trong giai đoạn Cách Mạng Tư Sản Pháp 1789, Conciergerie là một nhà ngục lớn nhất tại Paris, thậm chí là lớn nhất toàn nước Pháp.
            Lúc cao điểm nhất, có bao nhiều người bị giam ở ngục Conciergerie? Sử gia Guillaume Mazeau cho biết: “Rất khó để biết con số chính xác. Nhưng chúng tôi cho rằng có khoảng 500-600 người bị giam vào cùng một thời điểm khi tòa án Cách Mạng hoạt động mạnh nhất, tức là vào năm 1793 và nhất là mùa xuân 1794. Điều đó cũng có nghĩa là có quá đông người bị tạm giam ở đây so với sức chứa của tòa nhà”.
            Conciergerie đúng là một chứng nhân của cuộc nội chiến Pháp và giai đoạn La Terreur – Đại Khủng Bố/Kinh Hoàng cuối thế kỷ XVIII. Từ năm 1793 đến năm 1795, có hơn 4.000 người bị giam cầm trong ngục Conciergerie và bị tòa Cách Mạng xét xử. Họ bị xét xử vì những tội gì?
            Sử gia Guillaume Mazeau giải thích: “Trước hết, đó là những người ra nơi công cộng chửi bới, đe dọa nền Cộng Hòa, chỉ trích những người lãnh đạo của chế độ, nghiêm trọng hơn là những người trang bị khí giới để chống chế độ. Những người này có rất ít cơ hội sống sót sau các phiên tòa Cách Mạng”.
            Quả thực, chỉ có 1/3 số người được tòa án Cách Mạng trả tự do sau bị bị giam ở ngục Conciergerie. Số còn lại đều bị đưa lên đoạn đầu đài, trong số đó nhiều người là nông dân, thợ thủ công, các nhà quý tộc và các chính trị gia nổi tiếng.
            Điều trớ trêu là thậm chí cả Georges Danton, Maximilien Robespierre…, những lãnh đạo, nhân vật có sức ảnh hưởng lớn nhất trong cuộc Cách Mạng Tư Sản Pháp cũng bị giam tại đây và bị đưa ra pháp trường xử chém vào cuối giai đoạn Đại Khủng Bố/Kinh Hoàng.
            Bản thân công tố viên khét tiếng Fouquier-Tinville của tòa án Cách Mạng Paris, sau khi kết án hàng ngàn người, cuối cùng cũng chịu chung số phận với các nạn nhân đã bị ông đưa đến chỗ chết.
            Nhưng có lẽ tù nhân nổi tiếng nhất tại ngục Conciergerie là hoàng hậu Marie-Antoinette, vợ vua Louis XVI. Sau 40 ngày bị giam cầm và phiên xử kéo dài 2 ngày tại Tòa Cách Mạng, hoàng hậu Marie-Antoinette đã bị đưa ra xử trảm ngày 16/10/1793.
            Hiện nay, tại khu trưng bày ở Conciergerie, vẫn còn một phòng trưng bày riêng về hoàng hậu Marie-Antoinette. Một số bức tranh khắc họa số phận bi thảm, những ngày tháng trong ngục tù và một số di vật của hoàng hậu vẫn được gìn giữ cẩn thận: một chiếc váy trắng, một chiếc vò nước bằng sứ, thảm trải sàn, khăn trải bàn ăn, cây thánh giá…


Khoảnh sân vườn nhỏ Cour des dames là nơi dạo chơi, giặt giũ của các nữ tù nhân

Công trình lịch sử được xếp hạng
            Giai đoạn Đại Khủng Bố/Kinh Hoàng chấm dứt vào năm 1794-1795, nhưng Conciergerie vẫn tiếp tục được sử dụng như một nhà ngục. Trong thế kỷ XIX, tòa nhà này vẫn là nơi giam cầm nhiều nhân vật chính trị quan trọng, trong đó có cả Louis-Napoléon Bonaparte, người sau này là hoàng đế Napoléon III.
            Tới năm 1862, Conciergerie được xếp hạng công trình lịch sử của Pháp và bắt đầu mở cửa đón du khách tham quan từ năm 1914. Và chính thức kể từ năm 1934, Conciergerie không còn là một nhà ngục.
            Hiện nay, du khách chỉ được tham quan một phần tòa nhà, trong đó có khu vực từng là nơi giam cầm hoàng hậu Marie-Antoinette, lãnh đạo Cách Mạng Robespierre hay như Cour des Dames – tức khoảng sân vườn nhỏ ngoài trời dành cho các nữ tù nhân, với một đài nước nhỏ nơi họ giặt giũ quần áo; Toilette – căn phòng mà trước khi bị đưa ra pháp trường, các tù nhân được đưa tới đó để cắt tóc, gỡ bỏ đồ trang sức.
            Một khu vực khác cũng đáng được xem là căn phòng có tên Salle des Gens d’Armes mái vòm được vua Philippe Le Bel cho xây từ năm 1302. Đây được xem là mái vòm gothic lớn nhất và đẹp nhất châu Âu thời ấy. Gian phòng này có thể tiếp đón tới 2.000 người. Đây là khu vực dành cho đội ngũ phục vụ hoàng tộc. Ngoài ra, du khách còn được tham quan khu bếp được xây dưới thời vua Jean Le Bon (1350-1364), dành để nấu ăn cho những người trong đội ngũ nói trên.
            Nhìn từ bên ngoài, phía sát bờ sông Seine, Conciergerie nổi bật với bốn tòa tháp cao. Đầu tiên là tháp Đồng Hồ, cao 47m. Chiếc đồng hồ công cộng đầu tiên của Paris được treo tại đây vào năm 1370. Được phục chế, trùng tu nhiều lần, chiếc đồng hồ hiện vẫn còn hoạt động. Trên mặt chiếc đồng hồ tuyệt đẹp, nổi bật trên nền xanh thẫm biểu trưng cho hoàng tộc Pháp thời xưa là rất nhiều họa tiết trang trí mạ vàng óng ánh, cầu kỳ, tinh xảo, trong đó nổi bật là bức chạm nổi khắc họa hai vị thần: thần pháp luật – một tay cầm quyền trượng, một tay cầm tấm bảng giới luật và thần công lý – một tay cầm kiếm, một tay cầm chiếc cân.


Chiếc đồng hồ công cộng đầu tiên của Paris được lắp đặt vào năm 1370

            Hai tháp đôi ở giữa có tên gọi tháp Cesar và tháp Argent. Tòa tháp cuối cùng là tháp Bonbec. Bec có nghĩa thông tục là mồm, miệng. Tháp mang tên Bonbec vì trước kia đó là nơi có các phòng tra khảo, dùng nhục hình để lấy khẩu cung.
            Một điều đặc biệt là kể từ cuối năm 2016, Conciergerie được trang bị hơn 100 máy tính bảng có tên Histopad, với công nghệ hiện đại tái hiện lại quang cảnh trong Conciergerie theo dòng thời gian, cho phép khách tham quan chìm đắm trong lịch sử cả về không gian và thời gian.


THÙY DƯƠNG
Tháng 3/2018


http://vi.rfi.fr/phap/20180323-conciergerie-lich-su-paris-tc-vh

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #176 vào: 26/02/2019, 19:03:46 »
Thưởng thức một số “truyện thật ngắn”

Truyện thật ngắn, “Very short story”, xuất hiện thường xuyên trên văn đàn quốc tế chừng vài thập niên trở lại đây, còn được gọi một cách hình tượng là “flash fiction” (truyện hư cấu chớp), một nhóm từ do James Thomas, Denise Thomas và Tom Hazuka sáng chế ra qua một tuyển tập truyện mang cùng tên, xuất bản năm 1992.

Truyện “flash fiction”

TRONG VĂN HỌC Việt Nam hải ngoại, Tiền Vệ (Úc) là tạp chí mạng đầu tiên, năm 2003, thực hiện chuyên đề truyện thật ngắn với một số bài lý luận về loại truyện này cùng với những sáng tác của một số tác giả ngoại quốc và Việt Nam. Vài năm sau, năm 2006, tạp chí mạng Da Màu cũng thực hiện một chuyên đề về truyện thật ngắn, gọi là “truyện chớp”.
            Ngắn bao nhiêu thì được gọi là “truyện thật ngắn?” Nếu một truyện ngắn thông thường được ước tính khoảng từ 2,000 từ cho đến 20,000 từ, thì truyện thật ngắn phải dưới 2,000 từ. Ngắn nhất là bao nhiêu? Loại truyện “Drabble” đòi hỏi đúng 100 từ, kể cả tựa đề, và loại “55-fiction” đòi hỏi 55 từ. Trang mạng “Storybytes.com” đưa ra một số truyện chỉ có… hai từ.
            Mời độc giả thưởng thức một số truyện thật ngắn có độ ngắn vừa phải sau đây.

1.– Trước hết, hãy đọc qua vài truyện thật ngắn được sáng tác cách đây chừng vài ngàn năm:
            – “Lợi Mê Lòng Người”: “Nước Tống có kẻ mất cái áo thâm. Anh ta ra đường tìm. Thấy người đàn bà mặc áo thâm, níu lại đòi rằng: “Tôi vừa mất cái áo thâm, chị phải đền trả tôi cái này”. Rồi cứ giữ chặt cái áo không buông ra nữa. Người đàn bà cãi: “Ông mất áo thâm, tôi biết đấy là đâu? Áo tôi mặc đây là áo của tôi, chính tôi may ra”. Anh kia nói: “Chị cứ phải đền trả áo cho tôi. Cái áo thâm tôi mất dầy, cái áo thâm chị mặc mỏng. Lấy áo thâm mỏng của chị đền áo thâm dầy cho tôi, còn phải nói gì lôi thôi nữa!”
            – “Mất Búa”: “Có người đánh mất cái búa, ngờ cho đứa con nhà láng giềng lấy trộm. Anh ta trông dáng nó đi, rõ ra đứa ăn trộm búa, nhìn vẻ mặt nó, rõ ra đứa ăn trộm búa, thấy nó cất nhắc, hành động không một tí gì là không rõ ra một đứa ăn trộm búa cả. Được một lúc, người ấy bới trong hố, lại thấy cái búa. Thì hôm sau, trông đứa con nhà láng giềng ngôn ngữ cử chỉ không một tí gì giống đứa ăn trộm búa nữa”.
            Chuyện thì cổ nhưng nội dung chẳng cổ tí nào. Lại vô cùng sâu sắc! Nếu viết dài hơn, không chắc gì hay bằng mấy dòng ngắn ngủi như thế. Chúng vừa đủ. Những gì cần nói, đã nói hết. Cái gì chưa nói thì đã có độc giả tự nói giùm. Đó là những truyện trong “Cổ Học Tinh Hoa” mà tôi đã đọc từ hồi còn rất nhỏ. Chúng đeo đẳng mãi trong tôi tới bây giờ, không rứt ra được. Mãi về sau, tôi mới ngộ ra rằng chúng “đứng” lâu trong tôi là vì chúng ngắn, ngắn quá khiến tôi thấy thiêu thiếu y như khi ta ăn một món ăn gì khoái khẩu, nhưng chưa đã miệng, thì nó hết mất, nên cứ thèm thèm!

2.– Sau đây là một truyện thật ngắn trích ra từ một tạp chí phổ thông nổi tiếng của Hoa Kỳ, Reader’s Digest, có tựa đề: “Góa Phụ”.
            “Một bà lên tiếng trong rạp hát:
            – Tôi không hiểu tại sao giữa chúng ta lại có một ghế trống thế này nhỉ, như là chẳng có ai dám ngồi vậy!
            Bà kia đáp lại với vẻ mặt buồn bã:
            – Đấy là chỗ của chồng tôi đấy bà ạ. Chúng tôi đã giữ chỗ trước khi ông ấy chết!
            – Sao bà không mời người thân hoặc bạn bè ngồi vào đó?
            – Làm sao được. Bà góa thở dài. Họ còn đang bận đi dự đám tang của ông ấy!”

            Đúng ra, đó là một truyện cười. Nhưng rõ ràng nó không chỉ là truyện cười!

3.– Cuối cùng, xin thưởng thức một số truyện thật ngắn khác của các tác giả Việt Nam sáng tác trong thời gian gần đây.
            – “Thông Điệp” (Lê Khải): “Một mình tản bộ dọc bờ biển, tôi tình cờ phát hiện một cái chai thủy tinh bị sóng đánh vào bờ, nằm lẫn giữa đám vỏ hàu, vỏ sò và xác của những con sao biển. Trong chai chứa một cuộn giấy nhỏ đã ngả màu. Nó có lẽ đã được thả xuống biển nhiều năm về trước, từ những vùng đất phía bên kia thế giới, rồi theo những cơn gió mậu dịch và những dòng hải lưu trôi dạt về tận xứ sở này. Trong cơn phấn khích của trí tò mò khám phá, tôi đập vỡ chai và đọc. Nhưng bức thư không hề đề cập điều gì khác ngoại trừ hàng chữ biên rõ ngày tháng năm mất của chính bản thân tôi”.
            – “Đêm Giáng Sinh” (Lưu Diệu Vân): “Anh dựng cây thông xanh thơm mùi tuyết gần cửa sổ. Cô mắc lên nhánh lá kim những xâu chuông ánh bạc lóng lánh. Cô thắp lên một ngọn nến trắng. Anh bật sáng ngọn lửa ấm trong lò sưởi. Cô tỉ mỉ buộc ruy băng đỏ chung quanh chiếc hộp vuông. Anh loay hoay trưng bày những gói quà sặc sỡ. Cô trút cởi áo quần, ôm chiếc khăn bông vào phòng tắm. Anh để hơi nóng chảy tràn trong bồn nước. Cô choàng áo ngủ màu ngà có những đường viền đăng ten tím. Anh xỏ vội đôi bít tất bằng len. Cô bỏ đĩa hát Jim Brickman vào máy phát nhạc. Anh tràn ngập tiếng dương cầm trong tâm trí. Cô nằm nghiêng trên tấm thảm với cốc chocolate trước mặt. Anh trầm tĩnh nơi ghế sofa với ly rượu vang trong tay. Cô ôm chặt cuốn sách vào lồng ngực và nhắm mắt. Anh hôn lên đôi má thơm mùi sữa trẻ nhỏ. Cô nhấc ống điện thoại. Anh nhẹ nhàng bấm số. Âm thanh dội lại những tín hiệu bận bịu. Cô thở dài gác máy. Anh tiếc nuối buông dây. Họ cùng thì thầm lời chúc Giáng Sinh an lành cho nhau. Lúc ấy, đồng hồ điểm đúng mười hai giờ. Anh ở New York và cô ở Melbourne”.
            – “Con gấu” (Trần Mộng Tú): “Con gấu của tôi cũ lắm rồi, tôi không nhớ mình có nó từ năm nào? Tôi đi ngủ với nó hàng đêm như một thói quen. Tôi ôm nó vào lòng khi nằm nghiêng, lót nó xuống một bên đùi khi nằm thẳng. Nó nhỏ thôi, nhưng sao vững chãi thế. Chắc chỉ là một thói quen tin cẩn, không có nó thì chông chênh như nằm trên thuyền, khó ngủ lắm. Ôm nó như ôm giấc ngủ, như ôm cơn mơ, như ôm bài thơ của mình. Cả tôi và nó cùng cũ kỹ lắm rồi. Một hôm người đàn ông đó ghé qua thành phố, chỉ kịp uống chung một tuần trà, rồi đi. Con gấu của tôi bắt đầu trở chứng, nó vươn vai thành người đàn ông, hai mắt nó biết nhìn tôi trong giấc ngủ, hai tai nó biết nghe thơ. Tôi đọc cho nó nghe những câu thơ mới. Những câu thơ lơ mơ về tình yêu. Nó không cũ nữa và tôi bỗng mới”.
            – “Phượng” (Kinh Dương Vương): “Nguyễn ghé quán Trăng trong trạng thái hưng phấn. Anh gọi Phượng, cô gái tiếp viên có vẻ đẹp trầm mặc anh thầm yêu. Ánh sáng hồng mờ mờ. Nhạc êm dịu. Không khí đẫm hương hoa hồng.
            Nguyễn ghì đầu Phượng vào ngực, si mê thì thầm trong tóc nàng:
            – Anh yêu em. Phượng.
            Nàng tránh vòng tay Nguyễn, trỏ ngón tay vào trán chàng duyên dáng:
            – Chờ xin xăm à!
            Nguyễn kéo Phượng sát lại tha thiết:
            – Em có yêu anh không, Phượng?
            – Anh biết mà!
            – Anh không biết.
            Phượng vừa cắn hạt dưa vừa nghiêng đầu, hiếng mắt nhìn Nguyễn, cười cười:
            – Lấy tim em ra mà xem, nhá?
            Nguyễn vớ lấy con dao trong đĩa trái cây.
            – Thật không?
            Nàng cười:
            – Thật.
            Phượng kêu lên thất thanh. Lưỡi dao cắm sâu vào tim. Máu loang đẫm làn ngực thanh tân.
            Nàng ngã vào lòng Nguyễn, thì thào:
            – Anh… biết… Phượng… yêu anh mà. Phượng… yêu… anh…”

            Kinh Dương Vương nổi bật với phần đối thoại ngắn, gọn lồng trong một “sự kiện” rất ấn tượng: lưỡi dao đâm vào trái tim!
            Cho đến nay, truyện thật ngắn là một hình thức văn chương còn non trẻ nhất là đối với văn học Việt Nam và vẫn đang trong thời kỳ thử nghiệm. Nhưng, nói như Pamelyn Casto, truyện thật ngắn rất thích hợp với thời đại Internet.
            Theo nhà văn này: “Ngoài những đề tài hấp dẫn, kích thước của thể truyện này cũng rất thích hợp để đọc trên màn ảnh computer. Và tầm phổ biến toàn cầu của trang web cũng làm cho các tài liệu lưu hành trên thế giới dễ được tiếp cận hơn bao giờ hết. Cuộc hôn lễ giữa truyện chớp và Internet dường như có tất cả các điều kiện cần thiết cho một sự hòa hợp hạnh phúc và thịnh vượng”.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 12/2017
____________________________________________
Tài liệu tham khảo:
Cổ Học Tinh Hoa.
Trang mạng Da Màu và Tiền Vệ.
Tạp chí Reader’s Digest.

https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thuong-thuc-mot-truyen-ngan/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #177 vào: 02/03/2019, 19:14:06 »
Đêm Sài Gòn xưa, và ban hợp ca Thăng Long

Quá khứ, Sài Gòn từng có một chân dung, một nhan sắc. Đó là chân dung khác. Trái tim khác. Phiên bản khác với đêm. Sài Gòn. Xưa.

Từ trái, hàng đứng: Phạm Duy, Hoài Bắc-Phạm Đình Chương, Hoài Trung.
Hàng ngồi: Thái Hằng, Khánh Ngọc, Thái Thanh. (Hình: Website phamdinhchuong)

ĐÊM, Sài Gòn bây giờ, với phố đi bộ, con đường gấm hoa của hàng ngàn tuổi trẻ, và thỉnh thoảng, những sân khấu lớn được dựng giữa đất/trời, làm bệ phóng cho những tiếng hát như những phi tiễn, phóng vào vũ trụ, làm mờ cả những tinh tú sáng chói nhất: Đó là sự xuất hiện và thao diễn cuồng nhiệt của những… “siêu sao” âm nhạc. Những cật lực lao tới, bất kể bến bờ nhân gian nào, của những thần tượng giới trẻ, Sài Gòn hôm nay.
            Tôi muốn nói, nếu đấy là quảng trường của đêm bập bùng những ngọn lửa ngồn ngộn khát khao, hối hả hơi thở của sức sống hôm nay thì, đêm, Sài-Gòn-xưa, là sự thiếp ngủ, bằn bặt chiêm bao của những tiếng vỗ một bàn tay.
            Góc đêm, Sài Gòn xưa, với tôi, là những con đường vắng lặng, với những ngọn đèn đường lẻ loi, cúi xuống kiếm tìm linh hồn, hay ngắm nhìn chiếc bóng chơ vơ của chính nó.
            Thị dân đêm, Sài Gòn, xưa, nếu phải ra khỏi nhà trước 12 giờ khuya, sẽ nghe được tiếng giày mình bị hè phố ném trả lại, như một nhắc nhở cay nghiệt của hoang vắng.
            Nhưng, sự thực không phải thế. Đời sống tinh thần Sài Gòn, xưa, với tôi là những “địa đạo” văn hóa nghệ thuật, dưới tầng sâu. Những mái tóc-thề-âm-nhạc trên đôi vai sương khói của những cánh hạc vàng giữa đêm thơm hương hư ảo.
            Cách khác, với tôi, đấy là những góc khuất – hay những miểng ngà, ngọc mosaic hoặc, quý kim, khi ráp lại, thành những bức tranh, tựa được hoàn tất từ cổ tích.
            Những “địa đạo” văn hóa nghệ thuật của đêm, Sài Gòn xưa, dường được phân bổ đều cho từng góc phố. Tùy nhu cầu tinh thần, thời đó, bạn sẽ thoải mái tìm được cho mình chỗ ngồi thích hợp ở một phòng trà ca nhạc nào đấy.
            Nếu là người ái mộ tiếng hát “liêu trai” Thanh Thúy và, chuyện tình tuyệt vọng của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, thời ông mới chập chững bước vào cõi chấp chới những chùm đèn tiền trường sân khấu bất trắc, thì bạn sẽ phải lên lầu hai, phòng trà Đức Quỳnh, ở đường Cao Thắng – để nghe “Thương Một Người” do chính linh hồn của ca khúc ấy: Thanh Thúy, diễn tả.
            Nếu bạn là một trong những “fan” âm thầm nhưng quyết liệt của tài-hoa-bất-hạnh Trúc Phương, thì bạn sẽ phải tìm đến phòng trà hồ tắm Cộng Hòa nghe Minh Hiếu nghẹn ngào với “Tàu Đêm Năm Cũ”, hoặc “Buồn Trong Kỷ Niệm” với “Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn” mà dân Sài Gòn đã sớm đổi lời thành “Đường vào trường đua, có trăm lần thua, có một lần… huề”…
            Dĩ nhiên, bạn cũng sẽ có một chỗ ngồi kín đáo ở phòng trà Hòa Bình, khu chợ Bến Thành hoặc phòng trà Tự Do gần đấy; nếu bạn muốn nghe Băng Tâm hát “Tiễn Em”, hoặc “Ngậm Ngùi” với tiếng hát Lệ Thu…
            Cách gì, tôi cũng không thể quên phòng trà Khánh Ly trên đường Tự Do, những năm cuối thập niên 1960. Và cũng trên con đường này, là Đêm Màu Hồng, “địa đạo” của hợp ca Thăng Long. Cùng nhiều, nhiều nữa, những mạch ngầm văn hóa nghệ thuật khác.
            “Địa đạo” mang tên Đêm Màu Hồng, từ ngày khai trương tới lúc phải đóng cửa vì giông bão thời thế, được mô tả là… “không giống ai!” Nó vốn là nơi tập trung những người bạn văn nghệ (đôi khi nhiều hơn khách) của nhạc sĩ Hoài Bắc (Phạm Đình Chương).
            Đó cũng là cõi riêng của tiếng hát Thái Thanh – cánh “hạc vàng” của nền tân nhạc Việt Nam, khởi tự đầu nguồn…
            Ở góc Sài Gòn, xưa này, hầu như không đêm nào, vắng bóng nhà văn Mai Thảo. Đặc biệt, rất hiếm khi ông đi một mình. Nếu đêm trước tác giả “Mười Đêm Ngà Ngọc” đi với Thanh Tâm Tuyền, thì đêm sau, bạn đừng ngạc nhiên, khi thấy ông đi với “Thần Tháp Rùa” Vũ Khắc Khoan, hoặc “Thu Vàng” Cung Tiến… Cũng có khi ông đem theo nhiều hơn một người bạn! Thí dụ tiếng hát châng lâng lẫy lừng Anh Ngọc; cùng “những ngón tay bắt được của trời” mang tên Duy Thanh, Thái Tuấn, Ngọc Dũng…
            Từ “địa đạo” văn hóa nghệ thuật này, những đứa con tinh thần mới ra đời được tiếng hát Thái Thanh “giới thiệu”, hoặc do chính Hoài Bắc/Phạm Đình Chương, đắp đổi phần thịt da mới cho những sáng tác cũ, của ông. Những ca khúc, mà thời gian không đủ sức gạch bỏ; phải… ngả mũ chào thua…
            Nhưng dù mới hay cũ, người nghe cũng sẽ nhận ra những ca khúc ấy, đa phần, như một thứ bút ký, hoặc nhật-ký-âm-giai của họ Phạm trong đời thường. Đó là những ca khúc như “Người đi qua đời tôi/không nhớ gì sao người?” (Người Đi Qua Đời Tôi, thơ Trần Dạ Từ); “Nhắm mắt cho tôi tìm một thoáng hương xưa/cho tôi về đường cũ nên thơ/cho tôi gặp người xưa ước mơ…” (Nửa Hồn Thương Đau, ý thơ Thanh Tâm Tuyền); hoặc “Hãy mang đi hồn tôi/một hồn đầy bóng tối/một hồn đầy gió nổi/một hồn đầy hương phai…” (Khi Cuộc Tình Đã Chết, thơ Du Tử Lê)…
            Người nghe, cũng có thể bất ngờ chết lặng với “Kỷ Vật Cho Em” (thơ Linh Phương, nhạc Phạm Duy) qua tiếng hát Thái Thanh; hay “Xóm Đêm” do chính Hoài Bắc, gần sáng, chếnh choáng với ly rượu trên tay, lừng khừng bước tới sát giới hạn sân khấu, cất tiếng, theo yêu cầu của bằng hữu: “Đường về canh thâu/Đêm khuya ngõ sâu như không màu/Qua phên vênh có bao mái đầu/Hắt hiu vàng ánh điện câu…”
            Những góc đêm, Sài Gòn, xưa, như thế, cho tôi cảm tưởng ngay những người đang say cũng sẽ giật mình, tỉnh lại; khi những chùm dây dẫn điện của những khu bình dân, Sài Gòn, rối nùi khốn khó. Đó cũng là thời gian tác giả “Xóm Đêm” phải về tá túc nơi căn gác ngôi nhà thân mẫu của ông ở đường Cống Quỳnh, gần Chợ Thái Bình ở đường Phạm Ngũ Lão. Lúc bi kịch gia đình, thình lình chụp xuống, xô đổ mọi xây dựng những tưởng vĩnh cửu đời riêng, của con người tài năng ngoại khổ này!
            Tuy nhiên, với tôi, mặt khác của “vàng vọt” nơi những ngọn đèn được câu từ nhà này, tới nhà khác, lại là ghi nhận rực rỡ nhân bản. Tinh thần chia sẻ lần đầu và duy nhất của tân nhạc Việt Nam, với những khu bình dân, xóm nghèo, của họ Phạm…
            Cũng vậy, nếu bạn rời khỏi Đêm Màu Hồng vào một đêm hạ tuần, có trăng, tôi tin, tiếng hát Thái Thanh hay Hoài Bắc sẽ vẫn ở trong tâm hồn bạn cùng những vạt trăng lãng mạn tơ nõn: “Chưa gặp em, tôi đã nghĩ rằng/có nàng thiếu nữ đẹp như trăng…” (Mộng Dưới Hoa, Đinh Hùng/Phạm Đình Chương). Hoặc cảm thức bi lụy như những miểng chai gắn trên bờ tường ký ức đau đớn: “Đò trăng cắm giữa sông vắng/Gió đưa câu ca về đâu/Nhìn xuống đáy nước sông sâu/Thuyền anh đã chìm đâu…” Đó là “Trương Chi” của Văn Cao. Là vầng trăng của những “Đàn đêm thâu/trách ai khinh nghèo quên nhau/Đôi lứa bên giang đầu/người ra đi, với cuộc phân ly” (Khối Tình Trương Chi của Phạm Duy).
            Nếu một khuya khoắt nào, ra khỏi “địa đạo” Đêm Màu Hồng, gặp những hạt mưa không hẹn nhưng đã đợi bạn nơi hè đường từ rất sớm thì, bạn cũng đừng ngạc nhiên, khi cảm được thanh âm lóc cóc của những chuyến xe thổ mộ, Sài Gòn, ngoại ô, dằn xóc, tủi hờn vì khoảng cách địa dư trong “Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội” của Phạm Đình Chương/Hoàng Anh Tuấn, như những hồi tưởng, không đoạn kết.
            Tôi cũng đã từng thấy những đôi vai sát, khi chia tay Đêm Màu Hồng. Họ không nói với nhau một lời nào. Tự thân những khung cửa khép, gió sông Sài Gòn, từ bến đò Thủ Thiêm thay bạn thì thầm về niềm tin yêu, ngày mai, bình minh. An lành thế giới…
            Và, thưa bạn, đêm nay, giữa quê người, khi hợp ca Thăng Long, chỉ còn lại duy nhất Thái Thanh, “cánh hạc trong trăng” cũng đang trả lại nhân gian buồn/vui một kiếp, chuẩn bị đi xa theo Phạm Đình Chương, Hoài Trung, Thái Hằng, và người khách thường trực, Mai Thảo cùng các bạn của ông, tôi chợt thấy, dường tất cả chúng ta, không ai thực sự bỏ đi khỏi đất nước của mình.
            Mọi người vẫn ở đâu đó, trong những góc khuất, đêm. Sài Gòn. Xưa. Có thể mọi người đã chính là những đêm mưa, những vạt trăng, những miếng mosaic; những miểng thủy tinh vỡ, găm trên bờ tường đau thương, quá khứ… Thậm chí, có thể ai đó, cũng đã là những cột đèn lẻ loi, cúi xuống kiếm tìm hồn mình hay, chiếc bóng của chính họ giữa Sài Gòn, một thuở, dù đã lâu, không còn hiện hữu!
            Bởi vì, thưa bạn, tôi vẫn nghĩ: như đất nước, Sài Gòn không của riêng ai. Sài Gòn, cũng không của một thời kỳ, một giai đoạn mà Sài Gòn, là ký ức tập thể. Và cũng từng là một phần lộng lẫy của trái tim tổ quốc.


DU TỬ LÊ
Tháng 10/2018


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/dem-sai-gon-xua-va-ban-hop-ca-thang-long/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #178 vào: 12/03/2019, 20:53:05 »
Nguyễn Văn Sâm và dòng chảy văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh

Văn học Nam Bộ hay còn gọi là Văn Học Nam Kỳ Lục Tỉnh (địa danh Nam Kỳ Lục Tỉnh được vua Minh Mạng đặt tên từ năm 1834, sau đó chính quyền Pháp phân chia thành 21 tỉnh là vùng đất mới trải dài từ miền nam Phan Thiết đến mũi Cà Mau, được mang nhiều sắc thái đặc thù mà từ văn hóa đến tâm tình lẫn tâm tính có nhiều khác biệt với tổ tiên của họ ở Ðàng Ngoài), suốt một thời gian dài vẫn là mảnh đất màu mỡ mang nhiều bản sắc riêng của một vùng trời vùng đất chưa được quan tâm khai phá hết của nền văn học nước nhà do nhiều nguyên nhân, khách quan lẫn chủ quan. Trong các nguyên nhân đó, có những định kiến hẹp hòi cho là văn chương vùng đất mới không có giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ cao, chỉ nhằm phục vụ tầng lớp bình dân; hay sau này do nguyên nhân chính trị, xã hội trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt chi phối. Thậm chí, còn có quan niệm lệch lạc rằng Nam Bộ không có văn học và tiếng nói của người miền Nam chỉ là thổ ngữ v.v…

Nhà văn Nguyễn Văn Sâm

DẪU VẬY, trải qua hơn 300 năm hình thành và phát triển, mảnh đất phương Nam đã trở thành một vùng văn hóa có nhiều thành tựu rực rỡ và đặc sắc. Ðiều ấy có sự góp mặt đậm nét của văn học, báo chí, và ngôn ngữ ở Nam Bộ. Dòng chảy này trong thực tế vẫn chưa bao giờ khô cạn hay bị lãng quên. Rải rác, giai đoạn nào cũng có các thế hệ những nhà nghiên cứu tâm huyết nâng niu trân trọng bảo tồn và khai phá. Nhiều công trình giá trị đã lần lượt ra đời, góp phần khẳng định vị trí đặc biệt của bộ phận văn học này. Gần đây nhất, trường Ðại học Thủ Dầu Một, trường Ðại học KHXH&NV-ÐHQG-HCM và Viện Văn Học đã phối hợp tổ chức hội thảo khoa học cấp quốc gia “Những vấn đề văn học và ngôn ngữ Nam Bộ” nhằm công bố nhiều nghiên cứu mới và thảo luận về vấn đề ấy. Theo PGS. TS. Lê Giang-Trưởng Khoa NN&VH Trường Ðại học KHXH&NV-ÐHQG-HCM thì đây là hội thảo lớn nhất trong lịch sử về văn học và ngôn ngữ Nam Bộ, với 123 tham luận của các diễn giả từ Thái Nguyên, Kiên Giang, Huế, Ðà Nẵng, Ðà Lạt, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh v. v… Kỷ yếu của hội thảo cũng là kỷ yếu về ngữ văn Nam Bộ đồ sộ nhất từ trước đến nay, gồm 2 tập với hơn 1.300 trang khổ lớn.
            Như vậy, rõ ràng đây là một bộ phận văn học giá trị hình thành từ rất sớm và có nhiều thành tựu quan trọng cần được tìm hiểu nghiên cứu khách quan đầy đủ hơn mà nhiều năm nay tuy vấn đề có được đặt ra song vẫn chưa giải quyết thỏa đáng.
            Ðiều này có lẽ cũng là trăn trở ray rứt của không ít nhà nghiên cứu phê bình, nhà văn nhà thơ nói chung và Nam Bộ nói riêng. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi muốn góp thêm cái nhìn tổng quan giới thiệu sáng tác đa dạng của một trong những ngòi bút có uy tín và tâm huyết về văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh, một đời dạy học và viết văn, dẫu xa quê nhưng lúc nào cũng đau đáu gắn liền với mảnh đất Nam Bộ hiền hòa máu thịt qua từng trang viết ở nhiều lĩnh vực: biên khảo, phê bình, dịch thuật và sáng tác: Nhà văn, nhà giáo Nguyễn Văn Sâm, người nổi tiếng về nhiều công trình nghiên cứu văn học nhưng cũng là một nhà sáng tác văn học với giọng văn rất Nam Bộ trong kiểu riêng của ông. Ðặc biệt là ở công sưu tập, phiên âm, chú giải gìn giữ mảng truyện thơ và tuồng Nôm mà ngày nay đang dần mai một trong sự lãng quên của lịch sử lẫn học thuật.

Nguyễn Văn Sâm và những công trình biên khảo về văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh
            Tác giả Nguyễn Văn Sâm sanh ngày 21 Tháng Ba, năm 1940, tại Sài Gòn. Trước 1975 ông từng là giáo sư dạy môn Việt văn ở nhiều trường: Nguyễn Ðình Chiểu (Mỹ Tho), Pétrus Ký, Ðại Học Văn Khoa (Sài Gòn) và một số trường đại học khác như Ðại Học Vạn Hạnh, Cao Ðài, Hòa Hảo, Cần Thơ. Ông sang Mỹ từ năm 1979, tiếp tục sống bằng nghề dạy học và viết cho một số tạp chí Văn, Văn Học và các tạp chí Việt ngữ khác của người Việt ở Mỹ. Ông còn là thành viên Ban Biên Tập Tự Ðiển Chữ Nôm Trích Dẫn. Trưởng Ban Văn Chương, Viện Việt-Học tại Hoa Kỳ. Ngoài ra, với mong muốn gìn giữ di sản văn hóa và ngôn ngữ dân tộc trong hoàn cảnh phải ly hương sinh sống nhiều nơi ở hải ngoại của đồng bào Việt Nam, ông đã cùng một số nhà nghiên cứu phê bình văn học, giáo sư Việt văn khác chủ trương trang mạng Lục tỉnh Nam kỳ để chia sẻ cho người yêu mến tiếng Việt và văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh. Hiện nay chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy nhiều tư liệu văn chương từ website này.
            Những ngày tháng trên quê hương thứ hai ấy, ngoài biên khảo, nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Sâm còn viết khá nhiều truyện ngắn mà theo tác giả “vì những thôi thúc phải nói lên suy nghĩ của mình về quê hương và thân phận người Việt, ngay trên quê hương, hay lạc loài tha hương…”
            Trước 1975, ông đã khởi đầu sự nghiệp của mình với những công trình khảo cứu công phu có giá trị về văn học miền Nam. Công trình đầu tiên là Văn Chương Tranh Ðấu Miền Nam (NXB Kỷ Nguyên, 1969, 466 trang). Tập sách khá dày dặn, đi vào khảo sát 21 tác giả miền Nam và nhóm “Chân Trời Mới” gồm những nhận định sắc sảo về các cây bút: 1.– Triều Sơn, nhà luận lý học hướng về quần chúng; 2.– Nguyễn Bảo Hóa, sử gia với lập trường người dân bị áp bức; 3.– Phạm Thu Cảnh, nhà văn kháng chiến truyền thống Tự Lực Văn Ðoàn; 4.– Võ Hòa Khanh và sự tranh đấu trong lao tù; 5.– Sơn Khanh và vấn đề giai cấp; 6.– Liên Chớp và động lực thúc đẩy cách mạng; 7.– Nguyễn Xuân Mỹ và con đường nhập thế cứu nước; 8.– Hoàng Tấn và niềm khổ đau tranh đấu dở dang; 9.– Hoàng Mai, nhà thơ của sự xung đột giữa lý tưởng cứu nước và ý thức cá nhân; 10.– Việt Tha và triết lý của đời tù nhân; 11.– Thẩm Thệ Hà và diễn trình ý thức cách mạng; 12.– Bùi Nam Tử và sự trưởng thành tư tưởng của người phụ nữ Việt Nam; 13.– Vũ Xuân Tự và cái hại của tài xỉu; 14.– Dương Tử Giang và sự cởi lớp của người cách mạng; 15.– Nghiêm Lang, nhà thơ trào phúng thời sự; 16.– Vũ Anh Khanh và hai thế giới mâu thuẫn; 17.– Lý Văn Sâm và con người cố thoát ra khỏi sự vây hãm của thành thị u buồn; 18.– Quốc Ấn và những người đi tìm sự bình đẳng; 19.– Hợp Phố, tác giả của tình người và tình dân tộc; 20.– Phi Vân và sự trở mình của người dân quê; 21.– Hồ Hữu Tường và sứ mệnh giai đoạn của phụ nữ ý thức; 22.– Nhóm Chân Trời Mới với văn chương tả chân xã hội.
            Hai năm sau, ông xuất bản Văn Học Nam Hà: Văn học xứ Ðàng Trong (NXB Lửa Thiêng, 1971, tái bản 1973, 442 trang). Sau phần Tổng Quan Văn Học Nam Hà, công trình biên khảo đi vào 11 nhân vật lịch sử và điểm qua những sáng tác bất hủ của họ. Ðó là: Ðào Duy Từ – người quyết tâm phục vụ chế độ ở Nam Hà với “Ngọa Long cương ngâm”; Nguyễn Hữu Hào với Song Tinh Bất Dạ, Nguyễn Cư Trinh với Sãi Vãi, Hoàng Quang, Mạc Thiên Tích, Ngọc Hân Công Chúa, Võ Trường Toản, Ngô Thế Lân, Trịnh Hoài Ðức, Ðặng Ðức Siêu cũng được giới thiệu tỉ mỉ lai lịch, công đức, văn thơ, nhân vật cuối cùng là “Nguyễn Văn Thành với sự phối hợp kì ảo giữa lý trí và tình cảm” trong Văn tế nghĩa sĩ trận vong. Tuy chỉ là một công trình biên khảo chuyên biệt về một vùng, nhưng có vị trí quan trọng. “Văn Học Nam Hà đặc biệt về phương diện tư tưởng cũng như hình thức. Tư tưởng gắn với thời thế và tạo một ý thức mới cho người Ðàng Trong”.[1]
            Công trình thứ ba là luận án cao học Văn Chương Việt Nam của ông do Giáo Sư Thanh Lãng trực tiếp hướng dẫn: Văn Chương Nam Bộ và Cuộc Kháng Pháp (NXB Lửa Thiêng, 1972, 295 trang. Xuân Thu tái bản 1988) được đánh giá là một công trình nghiên cứu dồi dào văn bản, tài liệu và tham khảo. Thời điểm 45-50 là một mốc lịch sử đặc biệt của cuộc kháng chiến, bức tranh “máu lửa khắp nơi, người chết, nhà cháy, lòng người như một, cảm thấy yêu mến quê hương dân tộc hơn” đã tác động to lớn đến văn học kháng chiến và yêu nước ở miền Nam. “Văn chương Nam Bộ vì vậy được những người cầm bút coi như thể hiện sự đóng góp phần mình vào công cuộc chung của quốc gia”. Tác giả đã chọn lọc được những nét đặc trưng nhất của từng ngòi bút trong những năm nằm trong vòng kiềm tỏa của thực dân. Ðó là tiếng nói phẫn uất gào thét của lớp người bị áp bức, đó là tiếng thúc giục lên đường xóa tan những bất công (…). Văn chương bước chân ra ngoài đời để làm sứ mạng lịch sử… Tuy chỉ mới là những nét chấm phá ban đầu, song theo đánh giá của nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh đó là những đóng góp độc đáo. “Ông đã đi xa hơn hai cuốn Văn học Miền Nam của Phạm Việt Tuyền và Ðông Hồ và đã đưa văn học sử mảng văn học yêu nước và kháng chiến của miền Nam phần nào “chính danh” lại cho những văn nghệ sĩ miền Nam”.[2] Còn Mã Giang Lân trong Giáo Trình Văn Học Việt Nam 1945-1954 đã đánh giá là “quyển sách có nhiều tư liệu quý, hiếm và có những nhận định thỏa đáng” (trang142).[3] Phần cuối sách, Nguyễn Văn Sâm cũng không quên thận trọng nhấn mạnh chỉ tóm tắt rằng “Văn học miền Nam giai đoạn 45-50 rất phồn thịnh, và thấy rằng mình có bổn phận giới thiệu sự phồn thịnh đó, còn đặt giá trị của nền văn chương này trong vị trí văn học Việt Nam thì xin nhường quyền lại cho sự lựa lọc của thời gian”.
            Ông cũng bộc bạch nỗi niềm: “Cho đến ngày nay, có thể có người đã mất đi lòng tin tưởng nơi tiền đồ của dân tộc, nhưng chắc chắn ai cũng nhận ra những cớ chính để những người của giai đoạn 1945-1950 tin tưởng ở sự thành công của dân tộc Việt Nam là văn chương đã hỗ trợ tích cực cho công cuộc giải phóng và hỗ trợ với một nghệ thuật tinh tế”.[4]
            Sau 1975, tuy hoàn cảnh thay đổi, sống ở hải ngoại nhưng ông vẫn miệt mài với mảng biên khảo văn chương này với 46 bài viết thú vị giữa những chuyến đi-về giữa hai quê hương thứ nhất ngày xưa và quê hương hiện tại thứ hai, xoay quanh những nhà văn nhà thơ ít được biết đến nhưng đã sống và viết trên mảnh đất Nam Kỳ Lục Tỉnh với tất cả hơi thở của nó. Ông quan tâm tới thể loại tuồng xưa từng là những bài học đạo lý ở đời nơi vùng đất mới với một loạt bài giới thiệu “Hồi 1 tuồng hát bội Nôm đa hồi Tây Du Ký”, “Giới thiệu Thơ Hậu Trần Minh Khố Chuối”, “Chàng Nhái-Chằng Tinh: Tản mạn về truyện thơ ở đồng bằng sông Cửu Long”. Ông cũng kêu gọi “Giữ gìn quá khứ của cải lương” như hồi ức đẹp của một thiếu thời trong sáng. Ta thử nghe tác giả tái hiện cảnh tượng hồn nhiên hào hứng: Lúc đó ngày nào như ngày nấy, tôi và những đứa bạn cùng trang lứa sống trong khu gọi là Chợ Cháy của cái chợ lớn hơn là Cầu Ông Lãnh, mới qua tuổi mười, chui rúc trong những gian sạp nho nhỏ, tất cả sinh hoạt của đời sống đều diễn ra trong đó. Chừng khoảng chín giờ sáng thì đã bắt đầu chờ đợi chiếc xe Renault nhỏ và mấy chiếc xe ngựa của những đoàn cải lương chạy qua mà hai bên hông xe nào cũng có dựng hai tấm ban-nô lớn vẽ hình quảng cáo tuồng cải lương, bu theo để xin những tấm giấy “pồ-gam” (programe) nói về tuồng hát đêm hôm ấy. Trống trong xe đánh thùng thùng điếc tai nhức óc chen với tiếng phèng la, chập chõa chát chúa không làm chúng tôi ngại ngùng, trái lại càng bị kích thích hơn. Chạy, chạy. Bu bu. Níu níu. Kêu kêu. Cả chợ ai cũng ngó theo xe quảng cáo và lũ con nít ở trần chúng tôi. Nhiều bà nhiều cô cố bước mau tới kế bên để kịp nhận một tờ. Giấy in màu xanh đỏ có hình đào kép bận quần áo đẹp đẽ sang trọng, có sơ lược tuồng tích và có những câu rất kêu quảng bá sự hay ho của tuồng sắp được diễn đêm nay (Giữ gìn quá khứ của cải lương).
            Hình như những ai từng sống ở Sài Gòn và Nam Bộ những năm 60-70 ấy không xa lạ gì cảnh này. Một ký ức cứ đau nhói kéo ta về quá khứ, “kéo người đọc về một thời mà cải lương là sinh hoạt nghệ thuật đáng trân trọng của Miền Nam nay đã bị giết đi, giết tức tưởi vì nhiều nguyên nhân…”
            Nguyễn Văn Sâm còn chọn dành nhiều trang viết của ông cho những tác giả mà ông quý trọng như “Bài học từ người thi sĩ cô đơn Nguyễn Chí Thiện”, “Vài cảm nghĩ về Ðông Hồ”, “Cụ Phan Khắc Sửu – một nhân vật không thành công nhưng thành nhân”, “Nguyễn Ngọc Bích – con người đa tài tôi khâm phục”, “Nguyễn Xuân Hoàng – nhà văn lững thững trong đời”, “Tản mạn về Kiên Giang – nhà thơ Minh Hương Việt hóa”, về Phi Vân, Thanh Nam,… hầu hết vì cảm tài mến nghĩa mà trân trọng, mà luyến thương với giọng văn nồng ấm gợi nhiều cảm xúc cho người đọc. “U Tình lục, thí nghiệm về đất và trời phương Nam”, “Thơ bình dân của Trương Ngáo hay Người đi đòi nợ Phật” cũng là những bài viết có giá trị.
            Ngoài tuồng, cải lương, truyện thơ bình dân, truyện ngắn, giai đoạn sau này, thơ Nôm là một thể loại được ông quan tâm đặc biệt. Ông cho rằng chữ Nôm và những tác phẩm chữ Nôm là những gia tài cổ có một không hai của văn học Việt Nam, ra đời trong một bối cảnh đặc biệt của đất nước và có giá trị giáo dục rất cao song đang dần bị mai một. Ðó là các tuồng hát bội, truyện thơ viết bằng chữ Nôm chưa từng được phiên âm mà nguyên bản hiện còn đang nằm trong các thư viện lớn ở Âu Châu.
            Tam Quốc Diễn Nghĩa, Lôi Phong Tháp, Sơn Hậu Diễn Truyện, Trương Ngáo là những truyện Nôm đã được tác giả sưu tầm, phiên âm và được Viện Việt học in ấn xuất bản tại Hoa Kỳ. Về tác phẩm chữ Nôm tác giả Nguyễn Văn Sâm đã sưu tầm và phiên âm có thể kể thêm: 1. Bài ca răn cờ bạc – Phiên âm và giới thiệu theo bản Nôm Phước An (in năm 1921); 2. Khuyến nam độc thư (Khuyên con trai đọc sách) sưu tập, phiên âm, sơ chú và giới thiệu; 3. Kim Gia Ðịnh Phong cảnh vịnh – Hai Ðức tác giả bản văn lục bát xưa nhất (1882) nói về Sài Gòn sau khi người Pháp đến. Bản văn nầy do Trương Vĩnh Ký phiên âm từ chữ Nôm ra chữ quốc ngữ. Nay được Nguyễn Văn Sâm giới thiệu và chú thích; 4. Kinh Năm Ông: Bổn kinh chữ Nôm chép tay còn sót lại cổ động việc thờ Năm Ông, Phật Giáo Bửu Sơn Kỳ Hương (sưu tầm ở An Giang năm 2006); 5. Mỹ nữ cống Hồ; bản Nôm và bản Quốc ngữ do Nguyễn Văn Sâm phiên âm theo bản Nôm Phúc An Ðường khắc năm 1921.
            Gần 20 năm nay, tác giả đã lặng lẽ đi tìm ở các thư viện trên các nước Mỹ, Pháp, kết hợp với những chuyến về thăm quê, lùng tìm… Có khi ngẫu nhiên nhặt được trên bệ thờ một gia đình xứ Huế, có khi trên gác bếp một căn nhà nông thôn Nam Bộ do con cháu biết là của ông cha để lại nhưng không hiểu nội dung viết gì đành giữ đó như một di vật của tổ tiên… Có khi được tặng không, có khi phải mua cả mấy cây vàng… Công cuộc tìm kiếm tôn tạo giữ gìn vốn cổ ấy cho đến nay nhà văn của chúng ta vẫn chưa dừng bước.
            Ði sâu vào văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh, người đọc còn thú vị với những phát hiện mới mẻ của Nguyễn Văn Sâm về Trương Minh Ký. Lâu nay, tên tuổi Trương Minh Ký dường như bị nhầm lẫn với tên tuổi quá lớn của thầy ông: Trương Vĩnh Ký. Tìm được ở Thư Viện Trung Ương nước Pháp 5 tập sách của Trương Minh Ký, Nguyễn Văn Sâm đã thú vị với tập “Truyện Phan Sa diễn ra quốc ngữ” gồm 17 truyện ngụ ngôn dịch theo văn vần và 150 truyện dịch theo văn xuôi với lối văn nôm na thông dụng dễ hiểu. “Nhìn tổng quát có thể thấy Trương Minh Ký đã thêm thắt chi tiết, thay vài điều khó hiểu của nguyên thể bằng những điều dễ hiểu đối với người Việt. Gặp trường hợp ông còn dùng ca dao tục ngữ cho thấm thía hơn. Tác giả dùng chữ nôm na thông dụng của thời mình nên đây là tài liệu quý và sống động để hiểu cách nói của người thời cuối thế kỉ 19 mà tự điển, dẫu là tự điển của người đương thời cũng không thể cung cấp được”.[5] Phát hiện này đồng thời cũng cho thấy với 17 truyện thơ ngụ ngôn dịch từ 1884 này, chứng tỏ Trương Minh Ký đã đi trước người tiên phong dịch thơ ngụ ngôn phương Tây Nguyễn Văn Vĩnh hơn 30 năm. Như đã nói ở phần mở đầu, do định kiến vùng miền, do chiến tranh loạn lạc, chia cách… người ta chỉ biết người dịch đầu tiên là Nguyễn Văn Vĩnh mà thôi. Thiết nghĩ, đã đến lúc cũng cần phải trả lại cho văn chương Nam Kỳ Lục Tỉnh những gì vốn là của nó.

Nguyễn Văn Sâm và những truyện ngắn về đất và người Nam Kỳ Lục Tỉnh
            Sáng tác là một thế mạnh khác của ngòi bút Nguyễn Văn Sâm. Thể loại chính của ông là truyện ngắn. Không khó để tìm đọc hơn 50 tác phẩm của Nguyễn Văn Sâm trên các trang web quen thuộc: Viện Việt Học Hoa Kỳ, Nam Kỳ Lục Tỉnh, New Vietart… và một số trang mạng khác chủ yếu rút từ 4 tập truyện được Viện Việt học in và phát hành: 1.– Câu hò Vân Tiên (1985), 2.– Ngày tháng bồng bềnh (1987), 3.– Khói sóng trên sông (2000), 4.–Quê Hương Vụn Vỡ (2014). Và cũng không khó để nắm bắt thông điệp đạo đức và nhân văn tác phẩm của ông gửi gắm. Ðiều này cũng dễ hiểu có lẽ truyện của ông dung dị đi theo dòng chảy thời gian, tuyến nhân vật thường được tổ chức đơn tuyến ở chiều rộng hơn là chiều sâu, cũng không cầu kỳ quá nhiều kĩ thuật phức tạp. Theo TS Ðàm Trung Pháp, “truyện nào của anh cũng được xây dựng vững vàng, cũng có một cao điểm tức là lúc một sự thực – bất kể xấu hay tốt – được soi sáng, cũng đầy động tác trong lớp lang, cũng đầy những tình tiết lý thú, khiến người đọc không bị hụt hẫng hoặc nhàm chán. Anh Sâm không lập dị, không huyền bí, không làm dáng, không lãng mạn, nhưng ngòi bút tả chân của anh thì khủng khiếp lắm mỗi khi anh thấy cần thiết phải vung tay”. Trung thành với tôn chỉ “viết như nói” của Paulus Huỳnh Tịnh Của từ đầu thế kỉ, truyện của Nguyễn Văn Sâm đậm đặc ngôn ngữ bình dân Nam Bộ. Nhiều đoạn, nhiều chỗ tính chất khẩu ngữ còn khá nặng. Ðề tài chính của ông là những con người Bến Nghé và miệt vườn Nam Bộ lam lũ hiền hòa chân chất. Không gian sông nước miền Tây với những địa danh nghe thân thương gần gũi. Nguyễn Vy Khanh trong “Ðọc Khói Sóng Trên Sông” còn nhận ra hai không gian luân phiên trong sáng tác Nguyễn Văn Sâm đó là quê người và quê nhà: “Khi viết truyện ở xứ người, câu văn Nguyễn Văn Sâm thường ngắn gọn, ít vần và đối, nhưng trái lại, khi tả chuyện quê nhà với những nhân vật thật “lục tỉnh” gắn liền với quê hương, thì câu văn dài dòng như có thế mới nói hết được tâm sự, mới tả hết được dáng cách con người và góc cạnh của những khu phố, đường làng quê!…”[6]
            Nguyễn Thiên Thụ khi đọc “Quê Hương Vụn Vỡ” của Nguyễn Văn Sâm cũng nhận ra hai không gian khác biệt ấy và cụ thể chi tiết hơn: “Nguyễn Văn Sâm đưa ta về Việt Nam, một Việt Nam trước 1975 và một Việt Nam sau 1975. Trước 1975, miền Nam là một xã hội thanh bình. Ðịa danh của truyện là Sài Gòn, Ông Tạ, Cầu Ông Lãnh, Mỹ Tho, Tây Ninh, Bến Tre với các nhân vật bình dân như bà Hương giáo Hải, ông Hương giáo, bà ngoại, thằng Quang, con Nhàn, con Bông, với các đĩa hát Asia, các tiểu thuyết Gia Long Tẩu Quốc, Giọt Máu Chung Tình (156-176) và Câu hò Vân Tiên (188-207)”. Khoảng 1960, đa số thanh niên đều phải vào lính như Trịnh trong “Truyện ngắn đời dài” và điều không tránh khỏi, có người đã phải hy sinh một phần thân thể. Sau 1975, những thương binh này phải lăn mình ra đời kiếm sống như Tư Cụt hành nghề vá xe (Những Tấm Vé Số).[7] Rồi những chuyện cười ra nước mắt mà tính hiện thực ai cũng thấp thoáng gặp mình trong “Con đỉa Hai Vòi” con vượt biên gửi quà về hai vợ chồng người nông dân nghèo rớt mồng tơi tưởng được đổi đời đỡ cực ai dè phần thuế, phần chợ đen, phần địa phương vòi vĩnh… “Cái vuốt trán vô ngôn”, “Chúng tôi mất nước nhưng còn tự ái” vừa lên án thói bất nhân vừa xót xa cho kiếp đàn bà trong xã hội bạc ác, đồng thời ca ngợi bản chất tốt đẹp trong tâm thiện của con người, làm cho truyện của ông lấp lánh đa thanh đa sắc hơn và cũng đậm tính thời sự hơn.
            Nhân vật trong truyện Nguyễn Văn Sâm có kẻ ở trong nước, người ngoài nước, đa phần ở miệt vườn… nhưng, ở đâu, trên quê nhà đói nghèo rơm rạ hay nơi xứ người rực rỡ phồn hoa cũng không thoát nỗi ám ảnh cô đơn lạc loài của kẻ đánh mất thiên đường ảo mộng đã qua. Họ lạc lõng với chính mình để hội nhập. Hội nhập ở quê nhà. Hội nhập ở quê người.

                        Quê hương vụn vỡ lòng man mác,
                        Ðất nước tan hoang dạ ngậm ngùi.


            Song không thể phủ nhận, ở một góc độ khác, truyện của Nguyễn Văn Sâm lại nhẹ nhàng chuyển tải những thông điệp đạo đức, giáo dục con người hồi tâm làm lành lánh dữ. “Người Ðổi Chó” là một trong những truyện mang tính chất nhân quả nhỡn tiền của nhà Phật. Xót xa hơn là cuộc đời nhân vật Sáu Hấu trong “Người quét mộ cụ Phan”. Có hai cuộc đời lồng trong truyện: Cụ Phan và chén thuộc độc oan khiên. Sáu Hấu kẻ quét mộ cụ và tâm tình kẻ phản kháng muốn viết lại trang sử chính thống cho cụ Phan trong thời buổi anh hùng tiểu nhơn lẫn lộn… Thông điệp đạo đức ấy có khi Nguyễn Văn Sâm còn cho nhân vật trực tiếp phát biểu trong truyện, như nhân vật Ông Ðạo Chuối trong truyện ngắn cùng tên: “Ðời không dễ sống, muốn chuộc lỗi cũng không được. Thôi thì tạm dùng những trầy trật của đời mình làm phương tiện đưa mình lên khỏi những thấp hèn của cuộc sống, phải phấn đấu để bước qua những khổ đau nầy nọ” (Ông Ðạo Chuối). Hay nhân vật Tôi tự soi rọi lòng mình thương cho những kẻ u mê còn chìm nổi cuộc vô thường: “Ðiều làm tôi xiêu bồng là tiếc một lòng nhân hậu không được phát triển, cũng như cảm thấy bi thương cho người xưa cũ nay đắm chìm trong những tính toán lợi lộc lừa đảo nên sẽ chẳng bao giờ tìm thấy hạnh phúc, trong tâm hồn cũng như trong thực tế” (Ðường Về Quá Khứ).
            Ðây cũng là xu thế tất yếu kế thừa con đường “văn dĩ tải đạo” của nhiều cây bút Nam Kỳ Lục Tỉnh trước đó mà Nguyễn Ðình Chiểu, Hồ Biểu Chánh là những người mở lối…
            Giới hạn trong việc giới thiệu một tác giả có nhiều sưu tập, đóng góp cho vùng văn hóa văn học Nam Kỳ Lục Tỉnh hình thành từ những ngày tháng sơ khai của vùng đất mới đầy bản sắc độc đáo đáng trân trọng, giữ gìn và phát huy, chúng tôi đã cố gắng bước đầu khái quát toàn bộ những lĩnh vực sáng tác chính của nhà văn-nhà giáo Nguyễn Văn Sâm từ biên khảo, nhận định, dịch thuật và sáng tác. Mặc dù chỉ mới là những phác thảo sơ bộ song diện mạo văn chương Nam Bộ qua ngòi bút Nguyễn Văn Sâm thật sự cung cấp nhiều gợi ý cho những ai muốn đi sâu vào nghiên cứu bộ phận văn chương này. Nhiều tác phẩm chữ Nôm bị thất lạc, lãng quên đang dần được ông sưu tập, chú giải, phiên âm và xuất bản là một nguồn tư liệu quý hiếm cần được gìn giữ, trân trọng. Việc giới thiệu những tác phẩm này thiết nghĩ rất cần thiết cho việc nhìn nhận, đánh giá đúng đắn hơn những di sản Văn chương Nam Bộ hôm nay. Hy vọng trong những bài viết khác chúng tôi có thể đi sâu hơn phân tích xu hướng triết lý sáng tác theo đạo lý, đặc trưng phong cách ngôn ngữ Nam Bộ và cảm thức không gian văn hóa Nam Bộ trong truyện ngắn Nguyễn Văn Sâm mà hiện nay vẫn còn bỏ ngỏ.


HOÀNG KIM OANH
Tháng 06/2018

______________________________________________________
[1] Nguyễn Vy Khanh, 2016, Văn Học Miền Nam 1954-1975, Quyển Thượng, Troronto, Nguyễn Publishings, tr. 420.
[2] Nguyễn Vy Khanh, sách đã dẫn, trang 417.
[3] Mã Giang Lân, 2007, Giáo trình Văn học Việt Nam 1945-1954, Nxb Giáo dục, trang 142.
[4] Dẫn theo Nguyễn Vy Khanh, 2016, Văn học miền Nam 1954-1975, Quyển Thượng, Troronto, Nguyễn Publishings, tr. 420.
[5] Nguyễn Văn Sâm, Trương Minh Ký, Những bài thơ ngụ ngôn dịch trước Nguyễn Văn Vĩnh.
[6] Nguyễn Vy Khanh, Ðọc “Khói Sóng Trên Sông” của Nguyễn Văn Sâm.
[7] Nguyễn Thiên Thụ, Ðọc “Quê Hương Vụn Vỡ” của Nguyễn Văn Sâm.
Tài liệu tham khảo thêm
   – Lê Văn Nghệ, 2016, “Góc nhìn mới về văn học Nam Bộ, ” đăng ngày 30.10.2016,
   – Toàn bộ sáng tác của Nguyễn Văn Sâm trên trang Viện Việt Học và Nam Kỳ Lục Tỉnh.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/quan-van-nguyen-van-sam-va-dong-chay-van-chuong-nam-ky-luc-tinh/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #179 vào: 16/03/2019, 21:57:58 »
“Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím” của Kiên Giang

Nếu như có câu hỏi đồng nghiệp nào trong giới báo chí thời trẻ tôi gặp gỡ thường xuyên, câu trả lời có lẽ là Kiên Giang Hà Huy Hà, chỉ khác tôi không viết tuồng cải lương bao giờ, nhưng anh làm báo với tôi qua nhiều tờ khác nhau, và nhất là cùng gặp nhau hàng ngày từ những năm giữa thập niên 50, và cùng ra vào những quán cà phê bí-tất từ thời ấy.* Giản dị chúng tôi là dân làm “nhật trình”, báo hàng ngày, hồi 1955-56 anh đã có bài đăng báo cũng như tôi, dĩ nhiên là trên nhật trình trước hết, anh viết bài và phụ trách trang mục bên ngã báo Nam như Sài Gòn Mới, Lẽ Sống, tôi viết bài và phụ trách trang mục bên miệt báo Bắc như Ngôn Luận, Phổ Thông…

Hình bìa cuốn “Hoa Trắng Thôi cài Trên Áo Tím” của ký giả Kiên Giang Hà Huy Hà

TUẦN LỄ BẢY NGÀY nhưng nhật báo cũng nghỉ ngày cuối tuần, các ngày còn lại các nhật báo hồi giữa thập niên 50′ phần lớn có phụ trang, báo Nam chắc chắn có trang Màn Bạc Màn Nhung hay trang Sân Khấu, trang Thể Thao hay Thao Trường, là hai phụ trương chính (thường ra vào Thứ Năm hay Thứ Bảy). Trang sân khấu ca kịch ngoài bài viết về tuồng tích các vở mới, các tài tử diễn viên ngôi sao lên hay xuống, sự mua đào chuộc kép của các ông Bàu bà Bàu, còn có Tử Vi vận hạn cuộc đời tình ái của các tài danh sân khấu lên xuống ra sao,… Kiên Giang Hà Huy Hà là một trong những cây bút nổi danh của ngành này.
            Trong nghề báo, tôi vốn say mê phim ảnh ngay từ tuổi trẻ nên sớm trở thành người phụ trách điểm phim và viết bài cho tuần báo Điện Ảnh của ông Nguyễn Ngọc Nhạ, Màn Ảnh của ông bà Mai Châu, và nhất là Kịch Ảnh của ký giả Quốc Phong Nguyễn Văn Hanh. Ông Quốc Phong ngay lúc đó còn sản xuất phim, nếu tôi nhớ không lầm cuốn phim đầu tiên ông sản xuất nhan đề “Khi Mùa Mưa Tới” (?) truyện phim của Mai Thảo…
            Viết bài về phim ảnh đương nhiên phải xem phim mới cũ mỗi ngày, tìm tài liệu trên các báo ngoại quốc là điều tất yếu, do đó tôi đã đặt mua các tờ Ciné Monde hay Ciné Revue tại nhà sách Porteils (sau này đổi là Xuân Thu) tại đường Catinat, hay nhà sách Việt Bằng trên đường Lê Lợi, hai nhà sách có nhiều sách báo Âu Mỹ ở Sài Gòn. Hay tại kiosque đầy sách báo Pháp tại đường Lê Lợi không xa nhà sách Khai Trí của ông Trương. Thực tế, tòa báo phải cung cấp tài liệu cho các ký giả, nhân viên tòa soạn viết bài, song muốn viết hay hơn, chọn lựa bài vở theo ý mình, mang về nhà đọc và giữ trong kho tài liệu của riêng mình, tốt nhất vẫn là sử dụng báo của mình, nên phải mua lấy.
            Về Cải Lương không thể không nói tới ký giả Kiên Giang Hà Huy Hà, anh viết báo hàng ngày hàng tuần, làm thơ và soạn tuồng cải lương, nổi tiếng với Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím những năm cuối thập niên 50 và in thành sách năm 1962. Anh luôn luôn kẹp một mớ bài vở giấy tờ trong một cái bìa, và kẹp cái bìa này trong nách. Chỉ có thế. Và luôn luôn đội một cái mũ phớt. Như mọi ký giả làm công, Kiên Giang viết cho nhiều báo, ký nhiều tên khác nhau, dù thế nào, ký bao nhiêu bút hiệu cũng được, song vẫn phải có ít ra là một bài ký tên chính của mình, chính đó là cái tên khiến người ta mướn anh. Dù viết gì, ký tên gì, song tên tuổi Kiên Giang đã được “trước bạ” với bài thơ Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím dù anh còn là tác giả bốn, năm vở tuồng dài, diễn hơn hai tiếng mỗi vở, như Áo Cưới Trước Cổng Chùa, Trương Chi Mỵ Nương, Ngưu Lang Chúc Nữ.

                        Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím
                        Lâu quá không về thăm xóm đạo
                        Từ ngày binh lửa dậy quê hương
                        Khói bom che lấp chân trời cũ
                        Che cả người thương cả giáo đường.

                        Mười năm trước em còn đi học
                        Áo tím điểm tô thời nữ sinh
                        Hoa trắng cài duyên trên áo tím
                        Em là cô gái tuổi băng trinh.

                        Trường anh ngó mắt giáo đường
                        Gác chuông thương nhớ lầu chuông
                        U buồn thay! Chuông nhạc đạo
                        Ròn rã thay! Chuông nhà trường.
                        Lần lữa, anh ghiền nghe tiếng chuông
                        Làm thơ sầu mộng dệt tình thương
                        Để nghe khe khẽ lời em nguyện
                        Thơ thẩn chờ em trước thánh đường.

                        Mỗi lần tan lễ, chuông ngừng đổ
                        Hai bóng cùng chung một lối về
                        E lệ, em cầu kinh nho nhỏ
                        Thẹn thuồng, anh ngoảnh lại không đi.

                        Sau mười năm lẻ, anh thôi học
                        Nức nở chuông trường, buổi biệt ly
                        Ròn rã từng hồi chuông xóm đạo
                        Tiễn nàng áo tím bước vu quy.
                        Anh nhìn áo cưới mà anh ngỡ
                        Chiếc áo tang liệm khối tuyệt tình
                        Hoa trắng thôi cài trên áo tím
                        Thôi còn đâu nữa tuổi băng trinh.

                        (Kiên Giang)


VIÊN LINH
Tháng 12/2018

__________________________________
* Cà phê bí-tất là chữ tả thực, không bóng gió gì: như ở gần tòa soạn báo Phổ Thông của Nguyễn Vỹ ở trên đường Phạm Ngũ Lão, người ta không bỏ cà phê vào cái phin bằng nhôm hay bằng sắt, mà bỏ vào cái túi vải, nhúng cả cái túi vào trong siêu (nồi) nước đun sôi. Cái túi vải tiện lợi dày và xít xao hơn cả chính là một cái bí-tất vốn dùng để đi giầy!


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/hoa-trang-thoi-cai-tren-ao-tim-cua-kien-giang/