Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 24553 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #180 vào: 21/03/2019, 17:18:14 »
Kim tự tháp bảo tàng Louvre: “viên kim cương” trong lòng Paris

Ngày 30/03/2018 là kỷ niệm 30 năm khánh thành kim tự tháp kính bảo tàng Louvre, một viên kim cương trong lòng Paris, tác phẩm thu hút đông khách thăm quan bảo tàng, chỉ sau bức tranh Nàng Mona Lisa của danh họa Léonard De Vinci và tượng thần vệ nữ Milo trứ danh. Nhưng có mấy ai biết “viên kim cương” đó đã từng là một đề tài gây tranh cãi khiến báo chí “tốn biết bao giấy mực”, thể hiện sự đối đầu giữa phe bảo thủ và những người theo khuynh hướng hiện đại, thậm chí là một đề tài “đấu đá chính trị” giữa cánh tả và cánh hữu Pháp trong những năm 1980, dưới thời tổng thống François Mitterrand.

Kim Tự Tháp Louvre, Paris

FRANÇOIS MITTERRAND nhậm chức tổng thống Pháp vào năm 1981. Ông là tổng thống cánh tả đầu tiên của nền Đệ Ngũ Cộng Hòa. Vốn là người đam mê văn hóa, chỉ ít lâu sau trở thành ông chủ điện Elysée, François Mitterrand đã yêu cầu bộ trưởng Văn Hóa Jack Lang thực hiện hai việc: Trình ngay lập tức danh sách các dự án lớn về cải tạo Paris và vùng phụ cận, trong đó kiến trúc phải đi đôi với nghệ thuật; xây dựng trên toàn nước Pháp các “puits de vie”, tạm dịch là “giếng khơi cuộc đời”, có nghĩa là các trung tâm nghệ thuật và sáng tạo.
            Trong số các đề xuất của bộ trưởng Jack Lang, dự án gây nhiều chú ý nhất là hiện đại hóa và mở rộng diện tích bảo tàng Louvre bằng cách di dời trụ sở bộ Tài Chính khỏi tòa nhà cánh Rivoli sang khu phố Bercy và giải tỏa sân Napoléon, vốn thời đó được dùng làm bãi đậu xe.
            Ngày 27/07/1981, trong tờ trình gửi tổng thống François Mitterrand, bộ trưởng Văn Hóa Jack Lang viết “Louvre sẽ trở thành bảo tàng lớn nhất thế giới”. Tổng thống Mitterrand trả lời ngắn gọn bằng vài từ ghi bên ngoài lề tờ giấy, theo như thói quen vốn có của ông: “Ý tưởng hay nhưng khó thực hiện (cũng giống như mọi ý tưởng tốt đẹp khác).” Điều này có nghĩa là “Hãy bắt tay vào việc đi nào!” Sau này, tờ trình của Jack Lang được coi như hòn đá đầu tiên đặt nền móng cho dự án Grand Louvre.
            Kiến trúc sư được tổng thống Pháp đích thân mời phụ trách thiết kế là ông Ioeh Ming Pei. Ông François Mitterrand, vào năm 1978, trên cương vị chủ tịch đảng Xã Hội Pháp, trong chuyến thăm Mỹ và làm việc với tổng thống Mỹ Ronald Reagan, đã có dịp chiêm ngưỡng Bảo tàng nghệ thuật quốc gia ở Washington (National Gallery of Art), công trình có phần đóng góp của kiến trúc sư Ming Pei. Ngay lập tức, ông Mitterrand thấy ngưỡng mộ tài năng của vị kiến trúc sư người Mỹ gốc Hoa. Ming Pei cũng là nhà thiết kế nhiều công trình lớn nổi tiếng trên thế giới như John Hancok Tower, John F. Kennedy Library ở Boston, Bank of China Tower ở Hồng Kông…
            Nhận được lời mời của tổng thống Pháp, kiến trúc sư Ming Pei sau bốn tháng nghiền ngẫm cẩn trọng, cuối cùng đã nhận lời thiết kế công trình. Điểm nhấn trong bản thiết kế của ông Pei để hiện đại hóa điện Louvre là xây dựng ngay tại sân Napoléon một kim tự tháp bằng kính trong suốt, cao 21,64m, mỗi cạnh có kích thước 35,24m, theo tỉ lệ thu nhỏ từ kim tự tháp nổi tiếng Kheops của Ai Cập. Cửa vào kim tự tháp là cửa chính dẫn xuống khu đón tiếp, bán vé để từ đó du khách bắt đầu hành trình tham quan bảo tàng.


Kim tự tháp kính thu hút rất đông khách thăm quan bảo tàng,
chỉ sau bức tranh Nàng Monalisa của danh họa Léonard De Vinci và tượng thần vệ nữ Milo

Trận chiến Kim Tự Tháp
            Thiết kế của Ming Pei được tổng thống Pháp François Mitterrand đánh giá là “hợp lý nhất, tốt nhất và đẹp nhất”. Nhưng cũng giống một số công trình lớn khác ở Paris như tháp Eiffel, trung tâm văn hóa Pompidou, dự án kim tự tháp kính tại điện Louvre khi mới ra đời đã vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của công luận.
            Nếu như tháp Eiffel bị ví như “một ống khói nhà máy khổng lồ”, “vô ích” và “nực cười”, trung tâm văn hóa Pompidou bị bêu riếu là “cái mụn cóc xấu xí”, “con quái vật gớm ghiếc”, “một sai lầm thế kỷ”, thì kim tự tháp Louvre lại bị coi là một tác phẩm chỉ đạt điểm 0 về kiến trúc, thô kệch, từ hình dáng đến chất liệu thiết kế đều phá vỡ cảnh quan, phong cách kiến trúc cổ điển vốn có và làm hỏng cái hồn của điện Louvre, thậm chí kim tự tháp Louvre còn bị gọi là “ngôi nhà của người chết”…
            Bộ trưởng Văn Hóa Pháp thời đó, ông Jack Lang, sau này trong cuốn sách “Những trận chiến về Grand Louvre” (2010) về lịch sử dự án mở rộng bảo tàng Louvre – đã nói rằng ông “rất ngạc nhiên trước phản ứng dữ dội, kịch liệt của những người phản đối” kế hoạch xây kim tự tháp kính. Thậm chí, kim tự tháp Louvre còn bị phản đối dữ dội hơn nhiều so với dự án xây trung tâm văn hóa Pompidou dưới thời tổng thống Pháp Georges Pompidou trước đó.
            Còn đối với kiến trúc sư Ieoh Ming Pei, thời điểm khó khăn nhất với ông là tháng 01/1984, khi ông phải trình dự án trước Ủy ban cao cấp phụ trách các công trình lịch sử của Pháp, trong tiếng phản đối la ó, thậm chí cả sự kỳ thị nhắm vào gốc gác Trung Quốc của ông. Ieoh Ming Pei hồi tưởng: “Đó là một phiên họp kinh khủng!” thậm chí ông còn không thể nào giới thiệu được bản thiết kế như đã định. Khi Ủy ban bỏ phiếu, thiết kế của Ieoh Ming Pei chỉ được thông qua với số phiếu sít sao.


Sự giao hòa giữa kiến trúc hiện đại và phong cách cổ điển

            Ngay ngày hôm sau, bản phác họa kim tự tháp Louvre được giới thiệu trên trang nhất nhật báo France-Soir, nhà văn Jean Dutourd, viện sĩ Viện Hàn Lâm Pháp có bài xã luận với tiêu đề “Nước Pháp khốn khổ”. “Trận chiến kim tự tháp” chính thức bắt đầu… Nhiều khiếu nại, kiến nghị, thư ngỏ phản đối kim tự tháp Louvre được gửi đi tới tấp. 7 hiệp hội bảo tồn di sản Pháp đã gửi thư phản đối tới bộ trưởng Văn hóa Jack Lang.
            Nhiều tờ báo như Le Figaro, Le Quotidien de Paris… và nhiều chính trị gia, nghệ sĩ cũng lên tiếng phản đối dự án của kiến trúc sư Ming Pei. Thậm chí, vào năm 1984, ca sĩ nổi tiếng Yves Montand của Pháp đã thu âm một ca khúc bông lơn về dự án của Ming Pei. Bài hát “Lettre anonyme à monsieur du musée du Louvre” (Bức thư vô danh gửi ông quản đốc bảo tàng Louvre) mở đầu bằng câu “Có những điều quái đản đang xảy ra ở bảo tàng Louvre…
            Tuy nhiên, theo các thăm dò ý kiến người dân, phần thắng lại nghiêng về Ming Pei, tổng thống Mitterrand cũng rất kiên định trong việc cho triển khai dự án. Thêm vào đó, bộ trưởng Văn Hóa Jack Lang đã khôn khéo tránh để thị trưởng Paris Jacques Chirac phật ý mà phản đối kế hoạch xây kim tự tháp. Vì thế, dự án vẫn được tiếp tục. Sau này, ông Jacques Chirac đắc cử kỳ bầu cử tổng thống Pháp 1995, trở thành người kế nhiệm tổng thống François Mitterrand. Nhân 10 năm kỷ niệm ngày khánh thành kim tự tháp điện Louvre, Jack Lang tiết lộ ông đã thuyết phục thị trưởng Chirac như thế nào:

             “Khi mọi người đều biết về dự án xây kim tự tháp, tôi đã tự nhủ: “Phải tránh việc ông Chirac nhảy dựng lên như một con bò tót nhìn thấy chiếc khăn màu đỏ và phải cố gắng né tránh để ông ấy không gây trở ngại. Và tôi đã cố gắng huy động bạn bè, những người được ông ấy đánh giá cao. Chẳng hạn, Jean Prouvé, chủ tịch hội đồng giám khảo cuộc thi thiết kế Trung tâm văn hóa Pompidou, phu nhân cố tổng thống tiền nhiệm Georges Pompidou, và vài người khác nữa, để họ nói với ông Chirac rằng “Thưa thị trưởng, ông đừng quyết định quá nhanh, hãy đón tiếp và trao đổi với kiến trúc sư Pei, hãy xem bản mẫu maket rồi từ từ quyết định”.


Ngoài kim tự tháp chính, còn có ba kim tự tháp nhỏ và
một kim tự tháp treo ngược nằm dưới lòng trung tâm thương mại Carrousel de Louvre

Thủy tinh kim cương – Thách thức kỹ thuật
            Công cuộc xây dựng kim tự tháp kính của Ioeh ming Pei là một cuộc chạy đua với thời gian, trên một công trường khổng lồ, với nhiều thách thức về kỹ thuật. Thủy tinh làm kính phải là loại “thủy tinh kim cương” trong suốt gần như tuyệt đối và không mầu để kim tự tháp không ngả màu xanh dưới ánh mặt trời và dù đứng từ sân nhìn xuống hay đứng từ dưới nhìn lên thì lớp kính đều phải phản chiếu đúng màu vàng óng như mật của các bức tường điện Louvre. Thêm vào đó, phải là kính hai lớp đủ dày nhưng nhẹ và có độ bền, đảm bảo an toàn lâu dài, mặt kính cũng phải được mài phẳng đến tuyệt đối.
            Bộ khung kim tự tháp làm bằng 95 tấn thép và 105 tấn nhôm phải thanh mảnh, nhẹ nhàng, nhưng đủ chắc chắn để gánh đỡ 95 tấn kính. Nhiều lời đồn đại cho rằng có tổng cộng 666 miếng kính, và con số 666 là con số của quỷ Satan, nhưng thực ra kim tự tháp được ghép từ 673 tấm kính hai lớp (603 miếng kính hình thoi và 70 miếng kính hình tam giác).
            Mặc dù người ta hay gọi là kim tự tháp điện Louvre, nhưng thực ra có tổng cộng 5 kim tự tháp, ngoài kim tự tháp chính, còn có 3 kim tự tháp nhỏ cao 4.92m nằm ở ba phía bao lấy kim tự tháp lớn và một kim tự tháp nhỏ treo ngược, có chóp nằm dưới lòng trung tâm thương mại Carrousel de Louvre. Tất cả đều bằng “kính kim cương”.
            Với loại cát trắng mịn chỉ có trong rừng Fontainebleau ở ngoại ô phía nam Paris, với công nghệ sản xuất ít thấy, những lò nung thủy tinh đặc biệt, kiến trúc sư Ming Pei và hãng sản xuất kính Saint-Gobain hàng đầu của Pháp đã hợp tác tạo ra một loại kính đặc biệt, hoàn hảo và chưa từng xuất hiện trên trị trường.
            Trong những năm 1990, loại “kính kim cương” cao cấp dùng để xây kim tự tháp Louvre đã trở thành loại kính hạng nhất được các cửa hiệu thời trang, kim hoàn xa hoa săn lùng để làm cửa kính trưng bày hàng. Bên cạnh kim tự tháp là 7 bồn nước để phản chiếu bầu trời và bóng hình những tòa kim tự tháp trong suốt, tăng thêm vẻ lung linh, huyền ảo cho điện Louvre, nhất là khi màn đêm buông xuống.


Kim tự tháp trong suốt, không màu,
phản chiếu đúng màu vàng óng như mật của các bức tường điện Louvre

“Viên kim cương hoàn hảo” của điện Louvre và thành phố Paris
            Kim tự tháp điện Louvre được khánh thành năm 1989 và gây tiếng vang lớn, tạo một bước ngoặt cho lịch sử bảo tàng Louvre. Vào năm 1999, nhân kỷ niệm 10 năm khánh thành kim tự tháp Louvre, kiến trúc sư Ming Pei, có mặt trước công trình nổi tiếng của mình, đã tự hào phát biểu: “Hôm nay là một ngày rất trọng đại đối với tôi. Tôi vô cùng hạnh phúc khi thấy kim tự tháp đã trở thành một nơi sống động”.
            10 năm sau khi ra đời, kim tự tháp vẫn nhận được những nhận xét trái chiều từ các du khách, có người thích thú, tán dương, có người chê bai: “Đâu phải là không hợp lý. Nó không hề làm ảnh hưởng tới vẻ đẹp của công trình xung quanh. Kim tự tháp trong suốt mà”; “Theo tôi, kim tự tháp bị đặt nhầm chỗ, nó không hợp với các tòa nhà quanh đây”; “Bảo tàng Louvre thì không thể thiếu kim tự tháp được”; “Mọi người cần làm quen với nó, tôi cũng sẽ quen thôi”.
            Sau 20 năm, kim tự tháp đã góp phần đưa số du khách tới thăm Louvre tăng gần gấp ba lần, từ 3 triệu lượt khách/năm lên thành 8,5 triệu lượt khách/năm. Giờ đây, sau gần 30 năm tồn tại, kim tự tháp bằng kính tại sân điện Louvre vẫn được coi là một trong những biểu tượng không thể thiếu của Paris, bên cạnh tháp Eiffel, nhà thờ Đức Bà Notre Dame de Paris… Viên kim cương đó là một minh chứng cho thấy sự kết hợp giữa kiến trúc hiện đại và phong cách cổ điển không phải là điều không thể tồn tại giữa lòng Paris.


THÙY DƯƠNG
Tháng 3/2018



http://vi.rfi.fr/phap/20180330-kim-tu-thap-bao-tang-louvre-%E2%80%9Cvien-kim-cuong%E2%80%9D-trong-long-paris

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #181 vào: 26/03/2019, 19:10:55 »
Một tác phẩm của George Orwell đột ngột trở thành “bestseller” của Amazon

George Orwell mất năm 1950, tức là cách đây 67 năm. Ấy thế mà một trong những tác phẩm của ông mới đây, Tháng Giêng 2017, đột ngột nằm ở hàng đầu trong danh sách “bestsellers” của Amazon.

“1984” nằm ở hàng đầu trong danh sách “bestsellers” của Amazon

GEORGE ORWELL LÀ AI? Ông là tác giả của tập truyện hư cấu nổi tiếng toàn thế giới: Trại Súc Vật (Animal Farm). Tác phẩm này đã từng được đài BBC dịch ra tiếng Việt và đọc vào chương trình phát thanh hàng đêm khoảng thập niên 1980. Nó cũng đã được xuất bản ở trong nước nhưng dưới một cái tựa đề rất “vô duyên”, “Chuyện ở Nông Trại”.
            Tác phẩm “bestseller” này là gì? Là Nineteen Eighty-Four, sau này được đổi thành “1984” cho gọn, được Amazon đặt in lại 75 ngàn ấn bản. Xin lưu ý: Con số 1984 ở đây chỉ là cách nói ngược với năm 1948, năm hoàn tất tác phẩm, nhằm mục đích đưa ra một khái niệm về tương lai. Tác phẩm này chưa hề được dịch ra tiếng Việt. Truyện mô tả một thế giới bị chi phối bởi ba siêu cường quốc: Eurasia, Eastasia và Oceania. Oceania luôn luôn sống trong tình trạng chiến tranh với hai siêu cường kia, đẩy toàn thế giới ở trong một tình trạng thù hận, cô lập và sợ hãi. Xứ sở này được cai trị bởi nhà lãnh tụ nắm giữ quyền hành tuyệt đối có tên là “Big Brother” (Ðại Ca), mà khuôn mặt của ông ta hiện diện khắp nơi trên các tấm pa-nô tuyên truyền lớn với dòng chữ “Big Brother Is Watching You” (Big Brother Ðang Theo Dõi Bạn). Người dân không có bất cứ một thứ quyền riêng tư nào, “ngoại trừ một ít phân khối nằm bên trong cái sọ của anh”, theo cách mô tả trong truyện.
            “Ðại Ca” kiểm soát đất nước bằng bốn bộ: Hòa Bình, Tình Yêu, Thịnh Vượng và Sự Thật. Chức năng của bốn bộ này là một nghịch lý: Bộ Hòa Bình thì đảm nhiệm chiến tranh, Bộ Tình Yêu thì phụ trách chuyện hành hạ, Bộ Thịnh Vượng thì chuyên lo về bỏ đói, chuyên môn công bố những bản thống kê hoang đường và Bộ Sự Thật thì đảm trách chuyện nói láo. Nhân vật chính là Winston Smith, 39 tuổi, một nhân viên làm việc cho Bộ Sự Thật. Tất cả những gì lưu trữ trong bộ này đều không mảy may liên hệ gì đến thực tại bên ngoài. Chúng được hoàn toàn dựng nên, nghĩa là bằng sự dối trá. Bộ Sự Thật không những chỉ lo thay đổi hiện tại mà còn tiêu hủy cả quá khứ.
            Một trong những phương cách thống trị quần chúng hữu hiệu là sáng tạo ra một hệ thống ngôn ngữ mới gọi là “Newspeak”, bắt buộc tất cả mọi người đều phải sử dụng. Rất nhiều từ sẽ không còn hiện hữu như “tự do”, “dân chủ”, “công bằng”, “tôn giáo”, “danh dự”, vân vân… Mục đích của việc tạo ra thứ chữ mới là giới hạn “tầm tư tưởng” (range of thought) của con người và đồng thời nhằm mục đích xóa bỏ tất cả ký ức về những gì đã xảy ra trong quá khứ. Xin nêu một vài từ điển hình trong tự điển này:
            – duckspeak/nói như vẹt: nói mà không suy nghĩ; nói như con vịt kêu quạc quạc.
            – blackwhite/đen-trắng: cùng một vật mà nói đen cũng được, trắng cũng được.
            Không chịu đựng nổi một nhà nước như thế, Winston âm thầm chống đối. Anh liên kết với một người tên là Charrington và O’Brien, người làm cùng sở với anh. Ngoài ra, anh còn lôi kéo cô tình nhân Julia. Họ gặp nhau và thảo luận về việc gia nhập tổ chức bí mật “Brotherhood” có mục đích lật đổ nhà độc tài. Chưa làm được gì thì anh đã bị bắt. Hóa ra, Charrington là một cảnh sát tư tưởng còn O’brien là thành viên cao cấp. Winston và Julia bị bắt. Nàng thú nhận rằng nàng cũng đã phản bội anh. Sau khi bị tra tấn và tẩy não, Winston hoàn toàn bị khuất phục.
            Cốt truyện không có gì gay cấn. Tác giả chỉ muốn đẩy ý niệm về một nhà nước toàn trị đến chỗ tuyệt đối của nó. Trong ý niệm đó, nhà nước toàn trị là một xã hội hoàn toàn mới, trong đó, là Thượng Ðế. Xã hội đó sẽ như thế nào? Ðó là một xã hội, “Sẽ không còn sự trung thành nào khác ngoài trung thành với Big Brother. Sẽ không còn tình yêu nào ngoài tình yêu đối với Big Brother. Sẽ không còn nụ cười nào ngoài nụ cười mừng chiến thắng khi kẻ thù bại trận. Sẽ không còn nghệ thuật, không còn văn chương, không còn khoa học. Khi chúng ta có quyền năng vô biên thì chúng ta đâu có cần gì đến khoa học. Sẽ không còn phân biệt giữa đẹp và xấu. Sẽ không còn sự tò mò, không còn cái thú hưởng thụ cuộc sống. Tất cả những lạc thú sẽ bị hủy diệt. (…) Nếu anh muốn có một hình ảnh về tương lai thì hãy tưởng tượng đó là một chiếc giày ống đạp lên trên một khuôn mặt người – mãi mãi”.
            Khác với “Trại Súc Vật” đề cập đến một cuộc cách mạng và sự phá sản của nó, 1984 mô tả một thế giới trong đó hình thức nhà nước toàn trị đã đạt đến giai đoạn ổn định và đang trên đường hoàn chỉnh lý tưởng mà nó đã đặt ra. Ðó là một nhà nước mà quyền lực đạt mức cao nhất đến độ trở thành vô chính phủ. Xã hội đó hầu như vô luật pháp, vì không có gì còn được gọi là bất hợp pháp nữa. Một xã hội nghịch đảo.


▪ ▪ ▪

            Tại sao “1984” lại trở thành “bestseller” lúc này? Theo nhận định của Peter Stansky, người viết tiểu sử Orwell, thì sự gia tăng số lượng sách bán ra xuất hiện từ sau khi nữ cố vấn của Trump, Kellyanne Conway, sử dụng từ “alternative facts” để biện hộ cho phát ngôn viên tòa Bạch Ốc Sean Spicer khi ông này nhất quyết cho rằng số lượng người tham dự buổi lễ nhậm chức của Tổng Thống Trump nhiều hơn Obama trước đây, mặc dù các hình ảnh và số thống kê cho thấy điều ngược lại. “Alternative facts” có nghĩa là “những sự kiện chọn lựa”. Nghĩa là, theo ý Conway, Spicer vẫn đúng dù không phù hợp với những gì diễn ra trong thực tế. Ðiều đó nhắc người ta nhớ đến loại từ vựng trong tự điển “Newspeak” mà Orwell nêu ra trong 1984, “whiteblack”, “duckpeak”, nghĩa là nói sao cũng được miễn phù hợp với ý định của nhà cầm quyền. Ý kiến này được dư luận trên mạng xã hội và nhiều cơ quan truyền thông như CNN, New York Times, USA Today, Quarzt, vân vân – cái mà ông Trump cho là chuyên môn đưa tin giả (fake news) và nặng nề hơn, bị ông kết án là “kẻ thù của nhân dân Mỹ” (Media is the enemy of the American People) – chia sẻ.
            Thực ra, “1984” đã bắt đầu bán chạy kể từ khi Trump đắc cử tổng thống Hoa Kỳ, 8 Tháng Mười Một 2016 và đạt đến cao điểm sau khi bà Conway phát biểu từ “alternative facts”. Ðây là một phản ứng với một Trump trở thành tổng thống Hoa Kỳ. Cách vận động tranh cử bất thường cũng như các sử dụng ngôn ngữ không nhất quán (flip-flop) để hạ bệ và vượt thắng các đối thủ cũng như để tấn công và bôi nhọ truyền thông của Trump khiến người ta lo sợ một Trump-tổng-thống sẽ thao túng sự kiện và ngôn ngữ và do đó, có nguy cơ đưa Hoa Kỳ đến một sự khủng hoảng chính trị tệ hại. Hiện tượng “bestseller” của “1984” có vẻ như là một lời cảnh cáo của công luận về một chế độ độc tài toàn trị có thể thoát thai từ cơ chế dân chủ. Ðây không phải là lần đầu tiên, 1984 gia tăng số lượng bán. Thời Tổng Thống Reagan mới lên cầm quyền năm 1981, sách cũng bán chạy vì người ta sợ rằng Reagan có thể trở thành độc tài. Và gần đây nhất vào năm 2013, lúc Edward Snowden, nhân viên hợp đồng của của cơ quan National Security Agency, tiết lộ chương trình dò thám cá nhân quy mô của chính phủ Hoa Kỳ, sách cũng bán rất chạy.
            Nhưng Stansky đồng thời cũng cho rằng, chính Internet cũng đã góp phần khiến cho các sự kiện bị bóp méo. Ðó là nơi chồng chất thông tin, đúng lẫn sai vì là nơi “cha chung không ai khóc”, người ta có thể điều chỉnh, sửa đổi, ngụy tạo tin tức và sự kiện một cách dễ dàng để ảnh hưởng đến công luận.
            Tóm lại, một lần nữa, “1984” của George Orwell lại xuất hiện đúng lúc như một lời cảnh báo đến các nước dân chủ về nguy cơ của một chế độ toàn trị được khởi đầu bằng những lời lẽ mỵ dân và gây xúc động.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 04/2017

____________________________________________________________________
Tham khảo:
– “Nineteen Eighty-Four”, George Orwell, nxb Hatcourt, Brace and Company, New York, 1949
– USA Today, CNN, New York Times, Quarzt… các ngày 25, 26/1/2017

https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/mot-tac-pham-cua-george-orwelldot-ngot-tro-thanh-bestseller-cua-amazon/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #182 vào: 30/03/2019, 11:56:30 »
Nhạc sĩ Ngọc Chánh, từ soạn sách nhạc tới phát hiện ca sĩ Minh Hiếu

 Trong sinh hoạt âm nhạc suốt 20 năm (1954-1975) tại miền Nam Việt Nam, rất nhiều người biết tên tuổi nhạc sĩ Ngọc Chánh. Ông không chỉ là tác giả của hai trong số nhiều ca khúc nổi tiếng là “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” và “Bao Giờ Biết Tương Tư”;(1) mà ông còn là người điều hành trung tâm sản xuất băng nhạc uy tín Shotguns nữa.

Nhạc sĩ Ngọc Chánh

NHƯNG, TÔI NGHĨ, nhiều người (ngay cả những nhân vật trong giới âm nhạc cùng một thời với nhạc sĩ Ngọc Chánh) cũng không hề biết rằng năm 1952, khi mới 15 tuổi, nhạc sĩ Ngọc Chánh đã soạn bộ sách “Tự Học Tây Ban Cầm”, bán cho ông Mỹ Tín, chủ tiệm đàn Mỹ Tín ở Sài Gòn, với giá 24.500 đồng.
            Bản chất nhã nhặn, ân cần với tất cả mọi người, lại thêm tính khiêm cung, lần đầu tiên tác giả ca khúc “Bao Giờ Biết Tương Tư” cho biết, ông yêu nhạc từ tấm bé. Khi mới lên 9, ông đã theo học guitar với một ông thầy người Phi Luật Tân. Cùng lúc ông cũng học thêm piano, từ chiếc đàn piano ở nhà người chị dâu của ông.
            Sáu năm sau, cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh đã soạn bộ sách “Tự Học Tây Ban Cầm”, mang đến cho ông Mỹ Tín, đề nghị ông chủ tiệm đàn Mỹ Tín xuất bản thành sách.(2)
            Tôi nghĩ, nhiều phần ông Mỹ Tín bị ngỡ ngàng, không tin tưởng bao nhiêu về khả năng cũng như kiến thức chuyên môn của cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh kia… Nhưng là người quý trọng tài năng của bất cứ ai, nhất là những người trẻ, nên ông Mỹ Tín trả lời cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh rằng, cho ông hai ngày để đọc trước khi quyết định có nhận xuất bản hay không.
            Tác giả ca khúc “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” (sau này), thú nhận, trong hai ngày chờ đợi đó, ông rơi vào tình trạng thấp thỏm, hồi hộp cực kỳ: Không biết ông Mỹ Tín đánh giá tác phẩm của mình ra sao, thế nào?
            Đúng hai ngày sau, trở lại gặp ông Mỹ Tín, cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh đã không thể hân hoan, mừng rỡ hơn, khi được ông Mỹ Tín cho hay nhận xuất bản tác phẩm âm nhạc đầu tay này. Ông Mỹ Tín cũng cho biết sẽ chia cuốn sách của Nguyễn Ngọc Chánh thành hai phần. Phần một: Hướng dẫn cách chơi Tây Ban Cầm. Phần hai: Các hợp âm của Tây Ban Cầm…
            Khi được hỏi tiền bản quyền của cuốn sách là bao nhiêu, thì cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh nói, cậu muốn bán với giá 24.500 đồng.
            Ông Mỹ Tín đồng ý, không trả giá, không kỳ kèo thêm bớt gì hết. Khi đó, ông Mỹ Tín chỉ nói, ông không đủ tiền mặt để trả một lần cho tác giả. Nếu bằng lòng, ông sẽ trả làm nhiều kỳ.
            Cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh kể, mặc dù tiệm đàn Mỹ Tín nổi tiếng là tiệm chuyên sản xuất đàn Tây Ban Cầm; nhưng ông cũng thấy trong tiệm có trưng một số đàn piano cũ – mà piano vốn là mơ ước thầm kín từ nhiều năm tháng trước của Nguyễn Ngọc Chánh. Cậu bèn đề nghị với ông Mỹ Tín cho cậu được mua một chiếc đàn piano cũ, bằng vào tiền bản quyền của cuốn sách nhạc.
            Cuộc “thương lượng” kết thúc một cách chóng vánh với giá 22.000 đồng cho cây đàn piano mà cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh chọn được. Phần còn lại 2.500 đồng ông Mỹ Tín trả ngay cho cậu.


Ca sĩ Minh Hiếu

            Cậu bé Nguyễn Ngọc Chánh kể, cậu đã trích ngay một khoản trong số tiền này, biếu mẹ cậu. Phần còn lại đãi bạn, ăn mừng bán được sách.
            Nhưng “vấn nạn” lớn nhất của tác giả bộ sách “Tự Học Tây Ban Cầm” sau đó là khi đã có piano rồi, cậu lại không biết tìm đâu ra tiền để đóng tiền học dương cầm?
            Nhạc sĩ nói, thời đó, Sài Gòn chưa có trường Quốc Gia Âm Nhạc. Lớp dạy piano tư cũng rất hiếm…
            “Tôi biết mình là con nhà nghèo, mẹ tôi sẽ không thể đài thọ tiền học đàn cho tôi. Nên tôi phải nói dối mẹ tôi rằng, tôi muốn đi học thêm Anh Văn. Nghe tôi nói muốn đi học tiếng Anh, mẹ tôi thích lắm, cho rằng con mình hiếu học, nên đã đồng ý cho tôi tiền để đi học thêm…”, nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Chánh, trong một buổi sáng ở cà phê Tài Bửu, đường Westminster, thuật lại.
            Ông nói, với số tiền mẹ cho, ông ghi tên học piano với thầy Dung – thầy Nguyễn Văn Dung – ở Sài Gòn.
            Bốn năm sau, năm 19 tuổi, nhạc sĩ Ngọc Chánh bị gọi động viên Thủ Đức, cùng một lượt với người bạn thân của ông thời đó, tên là Cổ Tấn Tinh Châu.(3)
            Nhưng, có dễ số của tác giả “Bao Giờ Biết Tương Tư” không thuận hợp với đời binh nghiệp, cho nên, một ngày trước khi phải nhập ngũ, thì ông được Bộ Công Dân Vụ (thời ông Kiều Công Cung) tuyển dụng vào Ban Văn Nghệ của bộ này. Vì vậy, ông được hoãn dịch.
            Nhạc sĩ Ngọc Chánh nhớ lại, thời gian phục vụ trong Ban Văn Nghệ của Bộ Công Dân Vụ, ông đã gặp một vài người bạn đặc biệt, như ông Nguyễn Văn Cảnh, trong Ban Kịch. Ông Cảnh sau này là chủ tiệm phở Nguyễn Huệ nổi tiếng, ở Orange County, và kịch sĩ Thanh Việt, trước khi nổi tiếng là hề Thanh Việt.
            Một trong những kỷ niệm đáng nhớ nhất của nhạc sĩ Ngọc Chánh khi còn là thành viên của Ban Văn Nghệ Công Dân Vụ, là một trong những chuyến lưu diễn tới Ban Mê Thuột của ông, đã rơi đúng vào ngày cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị ám sát hụt… Sự kiện ấy, là một ấn tượng quá dữ dội, khiến ông không thể quên!
            Rời Ban Văn Nghệ Công Dân Vụ sau ít tháng phục vụ, nhạc sĩ Ngọc Chánh nhận làm trưởng ban nhạc cho phòng trà ca nhạc Hồ Tắm Cộng Hòa, ở đường Lê Văn Duyệt cũ. Tại đây, do sự giới thiệu, gửi gấm của một người bạn tên Tư, nhạc sĩ Ngọc Chánh đã nhận lời tuyển dụng một thiếu nữ tham gia ban nhạc của ông. Đó là ca sĩ Minh Hiếu. Thời gian đó, gia đình ca sĩ Minh Hiếu còn ở Bình Long. Cô lên Sài Gòn, ở nhà người quen để học may…
            Có hai mẩu chuyện mà nhạc sĩ Ngọc Chánh vẫn nhớ mãi, đó là khi ông Hoành (chủ phòng trà ca nhạc Hồ Tắm Cộng Hòa), được thông báo nhạc sĩ Ngọc Chánh đã tuyển thêm một nữ ca sĩ mới… Thay vì phải hỏi người đó hát được không? Thì, vì là người Tàu, nên ông Hoành chỉ hỏi: “Nó có đẹp không?” Câu trả lời của nhạc sĩ, đương nhiên là… “đẹp lắm”.
            Và mẩu chuyện thứ hai: Khi nhạc sĩ Ngọc Chánh đưa cho ca sĩ Minh Hiếu danh sách các ca khúc mà ban nhạc của ông thường trình diễn hàng đêm, thì Minh Hiếu cho biết, cô chỉ biết hát có hai ca khúc: Bài “Nỗi Lòng” của Nguyễn Văn Khánh, và “Gợi Giấc Mơ Xưa” của Lê Hoàng Long.
            “Tuy nhiên chỉ vài tháng sau, Minh Hiếu đã thuộc thêm rất nhiều ca khúc mới và nổi tiếng ngay chỉ trong vòng nửa năm thôi”, nhạc sĩ Ngọc Chánh nhấn mạnh.
            Một sự kiện cũng đáng ghi nhận nữa vẫn theo tác giả ca khúc “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” là: “Ở hải ngoại, trong một dịp gặp lại nữ ca sĩ Thanh Lan (dân trong nghề, gọi là Thanh Lan/Cao Xuân Vỹ) đã rất chân thật khi kể lại rằng, thời còn cộng tác với phòng trà Hồ Tắm Cộng Hòa, cô rất ghét nhạc sĩ Ngọc Chánh. Cô thú thật rằng, cô đã mách ông Hoành về việc nhạc sĩ Ngọc Chánh cho “con nhỏ” Minh Hiếu hát một số ca khúc trước đó, vẫn được coi là của riêng Thanh Lan/Cao Xuân Vỹ.(4)


DU TỬ LÊ
Tháng 05/2018

_____________________________________________
(1) Cả hai ca khúc này đều có sự tiếp tay, đóng góp vào phần ca từ của cố nhạc sĩ Phạm Duy (1921-2013). Riêng ca khúc “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” vốn là nhạc phim của bộ phim cùng tên, dựa theo truyện dài của cố nhà văn Duyên Anh (1935-1997). Phim do Lê Hoàng Hoa đạo diễn. Hãng Mỹ Vân Phim sản xuất. Chính đạo diễn Lê Hoàng Hoa đã tìm đến nhạc sĩ Ngọc Chánh để nhờ ông soạn một ca khúc riêng cho cuốn phim ấy.
(2) Đó là năm 1952.
(3) Cựu Đại Tá Thủy Quân Lục Chiến Cổ Tấn Tinh Châu thời trẻ nổi tiếng với ngón đàn guitar classic. Và nhạc sĩ Ngọc Chánh từng có thời gian học thêm Tây Ban Cầm cổ điển, từ người bạn này, của ông.
(4) Khoảng đầu thập niên 1970, trong sinh hoạt tân nhạc miền Nam, xuất hiện thêm một ca sĩ cũng có tên là Thanh Lan. Để phân biệt, dân trong nghề gọi Thanh Lan nổi tiếng từ những năm đầu thập niên 1960 là “Thanh Lan/Cao Xuân Vỹ” – vì phu quân của ca sĩ Thanh Lan này là một nhân vật được rất nhiều người biết tới, ông là tổng giám đốc Thanh Niên Đệ Nhất Cộng Hòa. Ở hải ngoại giữa thập niên 1980, ca sĩ Thanh Lan/Cao Xuân Vỹ lại nổi tiếng một lần nữa với trung tâm sản xuất băng nhạc Thanh Lan…


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nhac-si-ngoc-chanh-tu-soan-sach-nhac-toi-phat-hien-ca-si-minh-hieu/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #183 vào: 04/04/2019, 22:43:14 »
Nhà thơ Nguyên Sa và sự thay đổi cảm nhận thi ca Việt Nam

Những câu thơ mà Nguyên Sa đem từ Pháp về Việt Nam năm 1956 đã thay đổi rộng khắp cảm nhận thi ca của đa số thanh niên Việt Nam. Giống như một nhạc cụ mới, có âm hưởng sâu và đánh thức giác quan thẩm mỹ của thời đại, thơ Nguyên Sa đã góp phần làm bản hòa tấu đa âm của thi ca Việt Nam thêm những rung động lạ lẫm cuốn hút người đọc mà Thơ Mới tỏ ra không còn đủ sức hấp dẫn như lúc khởi đầu.

Nhà thơ Nguyên Sa và Vợ ở Paris năm 1954

                         Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
                        Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông
                        Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
                        Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng
                        Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn
                        Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
                        Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
                        Bày vội vã vào trong hồn mở cửa
                        . . . . . .
                        Em ở đâu, hỡi mùa thu tóc ngắn
                        Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
                        Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng
                        Giữ hộ anh bài thơ tình lụa trắng


            Thơ Nguyên Sa nhanh chóng tràn vào từng lớp học, nơi trái tim học trò đập những nhịp điệu đầu tiên của tình yêu. Nguyên Sa yêu và chia sẻ cách yêu của mình qua kinh nghiệm một chàng trai có những thời khắc tuyệt vời tại Pháp, thủ đô của tình yêu trai gái, thủ đô của những giòng thơ trác tuyệt từng một thời là bệ phóng cho hàng trăm thi tài thế giới.
            Nguyên Sa đem cái hồn phách của châu Âu tái sinh sau khi thế chiến thứ II chấm dứt về Sài Gòn và nhanh chóng chiếm trọn sự cổ vũ nồng nhiệt của sinh viên học sinh. Ông đem ánh đèn vàng Paris nơi có những nhà ga là nguồn cảm hứng vô tận cho những cuộc chia tay. Ông mang theo hơi hám của sông Seine của nhà thờ Notre Dame về lại Sài Gòn nơi mà nhiều thế hệ thanh niên chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Pháp.
            Về tới Sài Gòn ông lại hỏi thăm Paris. “Paris có gì lạ không em?” Hỏi nhưng ông biết Paris vẫn thế, vẫn những quán café nho nhỏ xinh xinh trên đường phố Montmartre thuộc quận 18 của Paris. Vẫn giòng sông Seine cuốn hút gợi tình. Câu hỏi của Nguyên Sa về Paris đã làm thanh niên học sinh Sài Gòn thổn thức như chính họ đã từng ở Paris nay về lại quê hương mà lòng không tránh được nhớ nhung một thuở.
            Thanh niên Sài Gòn nhớ cái mà họ chưa từng trải nghiệm qua thơ Nguyên Sa. Bắt đầu từ đây ông bước vào lãnh thổ khép kín của nhiều người. Ông cùng với họ thở hơi thở thi ca bằng những ngôn từ mới, rất mới, cho tới bây giờ sau hơn nửa thế kỷ vẫn còn mới tinh. Paris có gì lạ không em?

                                    Paris có gì lạ không em?
                       “Paris có gì lạ không em?
                        Mai anh về em có còn ngoan
                        Mùa xuân hoa lá vương đầy ngõ
                        Em có tìm anh trong cánh chim

                        Paris có gì lạ không em?
                        Mai anh về giữa bến sông Seine
                        Anh về giữa một giòng sông trắng
                        Là áo sương mù hay áo em?
                        . . . . . .
                        Anh sẽ chép thơ trên thời gian
                        Lời thơ toàn những chuyện hờn ghen
                        Vì em hay một vừng trăng sáng
                        Đã đắm trong lòng cặp mắt em?


Nhà thơ Nguyên Sa và Vợ tại Pháp

            Paris không những là kinh đô của ánh sáng mà nó còn là thủ phủ của tình yêu. Có lẽ yếu tố tình yêu của Paris dính liền với lứa tuổi học trò Việt Nam thời đó. Thời của những trang lưu bút, những cánh hoa ép vào trong vở học, những hò hẹn ngây thơ và đầy tiếng ve, xác phượng là khoảng thời gian đẹp nhất trong một đời người. Trong lứa tuổi ấy tình yêu bắt đầu với những giai điệu mong manh và huyền ảo nhất.
            Nguyên Sa nói đó là sự cần thiết, là điều không thể thiếu của con người. Xác quyết ấy của Nguyên Sa nhanh chóng được giới trẻ gật đầu thừa nhận, và vì thế, thơ ông từ đó có mặt trong lưu bút, trong sân trường thời trẻ dại và ngay cả sau này khi họ đã thành gia thất.

                                    Cần thiết
                       “Không có anh lấy ai đưa em đi học về
                        Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
                        Ai lau mắt cho em ngồi khóc
                        Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa
                        Những lúc em cười trong đêm khuya
                        Lấy ai nhìn những đường răng em trắng
                        Đôi mắt sáng là hành tinh lóng lánh
                        Lúc sương mờ ai thở để sương tan
                        Ai cầm tay cho đỏ má hồng em
                        Ai thở nhẹ cho mây vào trong tóc…


            Thơ Nguyên Sa không những trau chuốt về ngôn ngữ nó còn lấn sâu tới một vùng khác đầy hấp dẫn nhưng cũng rất nguy hiểm đối với thể loại văn học dễ làm nhưng khó hay và nhất là khó nổi tiếng: thơ tự do.
            Trước đây hơn nửa thế kỷ, một câu thơ đẹp sẽ bị quay lưng khi nó thể hiện hình ảnh, ý tưởng có vẻ “nhạy cảm” đối với người yêu thơ. Trong mỗi cá nhân có thể không giống nhau cách chia sẻ một bài thơ hay nhưng rất giống nhau khi nhìn thấy một câu thơ kỳ khôi, vượt lên trên cảm nhận bình thường của thi ca.
            Cảm giác đó vẫn còn đầy đối với người đọc thơ đương đại vậy mà Nguyên Sa làm cho người đọc thơ ông cách đây hơn nửa thế kỷ phải mỉm cười, dù cách so sánh của ông lập dị đến nỗi không ai có thể nghĩ tới. Trong một bài thơ có tên người yêu và cũng là vợ ông sau này, ông viết:

                                    Nga
                       “Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm
                        Như con mèo ngái ngủ trên tay anh
                        Ðôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình
                        Ðể anh giận sao chả là nước biển!…


            Hình ảnh đôi mắt cá ươn thật sự gây thích thú cho sinh viên học sinh Việt Nam ngay cả cái mùi không dễ chịu của nó cũng làm họ ngây ngất. Ẩn dụ của Nguyên Sa làm học trò tròn mắt và người lớn mỉm cười. Từ đôi mắt cá ươn, đỏ lên sự nhớ nhung, cho tới cách mà hai con chó ốm quấn quýt nhau đã nâng Nguyên Sa lên bệ của thần tượng trong lòng họ:

                       “Em nhớ không, anh đã van em đừng buồn
                        Anh đã van em đừng để những nụ cười chắp nối
                        Mắt anh sẽ mờ vì những vết kim khâu
                        Và anh buồn, rồi lấy ai mà dỗ nhau
                        Lấy ai mà dỗ hai con chó ốm!…
                        . . . . . .
                        Em đã khóc, anh đã khóc và chúng mình đã khóc
                        Bước chân lê trên những hè phố không quen
                        Chúng mình đã khóc vì không được gần nhau như hai con chim
                        Chúng mình đã khóc vì không có tiền làm lễ cưới, lễ xin
                        Và em nhớ không, chúng mình đã hỏi nhau:
                        Tại sao phải làm lễ tơ hồng
                        Tại sao phải nhờ người ta buộc chỉ vào chân
                        Khi tay em đã vòng ra đằng sau lưng anh
                        Khi tay anh đã vòng ra đằng sau lưng em
                        Người ta làm thế nào cắt được
                        Bốn bàn tay chim khuyên!…


             “Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc, áo nàng xanh tôi mến lá sân trường” Có lẽ là hai câu thơ làm thành tên tuổi Nguyên Sa. Cảm xúc ngây ngô của chàng thanh niên trong lứa tuổi 16 nói với em, một cô học trò 13 tuổi. Những lời lẽ nếu xuất hiện hôm nay có lẽ cuộc đời sẽ giảm bớt biết bao nhiêu bụi bặm của thời đại.
            Em Mười ba tuổi của thời Nguyên Sa rất nguyên sơ và thánh thiện. Chàng thư sinh Nguyên Sa không hề dám tơ tưởng vóc hình em mà chỉ dám chạm đến nhè nhẹ một màu áo, một sân cỏ nơi em bước qua. Đẹp và lãng mạn đến thế là cùng.

                                    Tuổi 13
                       “Trời hôm ấy mười lăm hay mười tám?
                        Tuổi của nàng tôi nhớ chỉ mười ba
                        Tôi phải van lơn ngoan nhé, đừng ngờ…
                        Tôi phải dỗ như là… tôi đã nhớn
                        . . . . . .
                        Và đôi mắt nhìn tôi ngập ngừng chim sẻ
                        Đôi mắt nhìn trời nhè nhẹ mây nghiêng
                        Tôi biết nói gì? Cả trăm phút đều thiêng
                        Hay muốn nói nhưng lòng mình ngường ngượng
                        Chân díu bước và mắt nhìn vương vướng
                        Nàng đến gần tôi chỉ dám… quay đi
                        Cả những giờ bên lớp học, trường thi
                        Tà áo khuất thì thầm: “chưa phải lúc…”

                        Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc
                        Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường
                        Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương
                        Tôi thay mực cho vừa màu áo tím…


            Trở về Việt Nam trong hoàn cảnh miền Nam đang hít thở bầu không khí chính trị mới, Nguyên Sa đóng góp vào nền văn học Việt Nam trên nhiều lãnh vực. Ngoài thơ, ông còn là một nhà báo, một cây viết phê bình văn học, một nhà lý luận và còn là một nhà giáo dục.
            Là Hiệu trưởng trường Văn Học, dạy môn Triết tại trường Chu Văn An cũng như đại học Văn Khoa và nhiều trường trung học nổi tiếng khác tại Sài Gòn như Văn Lang, Hưng Đạo, Thủ Khoa, Thượng Hiền, Nguyễn Bá Tòng… ông có cơ hội tiếp cận với học sinh, sinh viên và để lại trong lòng nhiều lớp người ký ức đẹp đẽ khi theo học thầy Trần Bích Lan, tức nhà thơ Nguyên Sa.
            Nguyên Sa, Hạt cát nguyên sơ ấy đã theo chân học trò và người yêu thơ ông góp vào hành trang của họ những luận lý Tây phương cũng như cảm nhận cái đẹp với ý thức hoàn toàn vượt ra khỏi sự cũ kỹ nhàm chán của một nền Hán học vẫn đậm đặc trong xã hội. Thầy Trần Bích Lan không giảng bài mà ông thầm thì với học trò của ông những vần thơ tuyệt đẹp để từ đó nhiều người nhận ra rằng thơ có khả năng mở sáng trí tuệ chứ không chỉ là giai điệu hay những nỗi buồn, niềm vui bình thường của con người.
            Giống như hầu hết văn thi sĩ miền Nam, thơ Nguyên Sa trong những năm chiến tranh có thay đổi tuy không lớn và máu lửa như nhiều nhà thơ khác. Trong những bài thơ mang tính thời cuộc ấy vẫn thoang thoảng cá tính Nguyên Sa, một thiên sứ tình yêu, một cung bậc mới trong cảm nhận văn học.
            Nguyên Sa đốt lên ngọn lửa trong “Bài hát Cửu Long” nhưng không phải là lửa chống quân thù mà là lửa soi đường cho thanh niên, lửa tin yêu của những chàng trai cô gái hội tụ bên nhau trước vận mệnh mới của dân tộc.

                                    Bài hát Cửu Long
                       “Có gì đâu em: có một đoàn người
                        Có một đoàn người góp sức góp vai
                        Cùng rủ nhau về góp một thành hai
                        Những bước chân góp đi làm đến!
                        Họ không dại khờ: góp trăng làm nến!
                        Chỉ những miệng cười góp lạ thành quen
                        Góp những giọng hò làm trống ngũ liên
                        Góp những bàn tay dựng thành đại hội
                        Cánh tay chắp cánh tay cho dài thêm nửa với
                        Gạo quanh nồi góp lại bữa cơm chung
                        Họ cùng đi cùng góp tháng, góp năm…
                        Để sáng ngày mai làm sông làm biển
                        Có gì đâu, có một đoàn người
                        Bên bờ Cửu Long gõ nhịp
                        Cả giòng sông gõ nhịp vịn bờ sông
                        Họ rủ nhau về sương gió vui chung
                        Dù có phút nước mắt chạy quanh
                        Hay miệng cười hớn hở
                        Vẫn bát gạo Hậu Giang, vẫn nụ cười huynh đệ
                        Mắt nghẹn ngào sáng tỏ nắng phương Nam
                        Màu nắng vàng không màu nhiệm hào quang
                        Nhưng dù má bừng lửa cháy
                        Trán đổ mồ hôi
                        Họ cùng không đóng cửa mừng vui
                        Những bàn tay ngượng ngập díu môi cười
                        Không phải khóc
                        Một đời người tầm gửi


            Thủy chung Nguyên Sa vẫn yêu tận tình con người, yêu như trai gái yêu nhau, như những cặp tình nhân bất tử. Có lần ông giật mình khi nhìn lại chung quanh và chính bản thân để rồi thở dài cho đời người sao quá nhiều cay đắng, đặc biệt những con người trong thế hệ bị bộ máy chiến tranh bào mòn, nghiến nát:

                                    Bây giờ
                       “Thế kỷ chúng tôi chót buồn trong mắt
                        Dăm bảy nụ cười không đủ xóa ưu tư
                        Tay quờ quạng cầm tay vài tiếng hát
                        Lúc xòe ra chẳng có một âm thừa

                        Cửa địa ngục ở hai bên lồng ngực
                        Phải vác theo trăm tuổi đường dài
                        Nên có gửi cho ai vài giọng nói
                        Cũng nghe buồn da diết chạy trên môi

                        Hai mắt rỗng phải che bằng khói thuốc
                        Chúng tôi nằm run sợ cả chiêm bao
                        Mỗi buổi sáng mặt trời làm sấm sét
                        Nên nhìn đêm mở cửa chẳng đi vào


            Nhà thơ của chúng ta cuối cùng rồi cũng không ra khỏi chiếc vòng tròn tự vấn. Trong bài thơ Sám hối, cái tựa trước tiên gây cảm giác tê tái và lạnh căm, nhưng qua bài thơ này Nguyên Sa phủ trùm lên nó thứ ánh sáng tái sinh của sự tận hiến. Chàng trai xưng tội với một người đàn bà, biểu tượng lòng thành mà một đời chàng trân trọng.
            Chàng không sám hối điều chàng đã làm cho nàng. Những điều mà chàng thốt ra thật khó hình dung, diễn đạt lại vì thế cái cảm giác ăn năn, tự trách vẫn bồng bềnh trong bài thơ khiến chúng ta không thể hiểu tại sao.
            Bài thơ này có lẽ mang tính triết học đậm đặc nhất trong toàn bộ cuộc đời làm thơ của ông. Sám hối, trở về với nguyên ủy sự sống. Vòng quay bất tận của tái sinh hay sự trở về gục đầu vào lòng người nữ vẫn luôn là đớn đau bất tận của nhân loại.

                                    Sám hối
                       “Khi nắng mở cửa một bầu trời nạm bạc,
                        anh sẽ trở về trên con đường không có mùi cỏ ải
                        mà chỉ có nắng vàng hanh.

                        Anh sẽ trở lại bên em – mà cúi đầu – mà quỳ gối –
                        mà nghe rụng trong lòng ánh sáng hành tinh.

                        Anh sẽ quỳ gối bên em nhưng không dám nói chuyện trần gian.

                        Anh không dám kể lể dài dòng như một người giang hồ
                        nói với người giang hồ về những chuyện quê hương.

                        Anh chỉ dám dâng em chút ít đớn đau với nỗi niềm sám hối.

                        Nỗi niềm của một kiếp người đã nhiều tháng ngày ngồi trong ngõ tối.
                        . . . . . .
                        Anh không dám nhắc đến cuộc đời xa cũ.
                        E sợ rằng lời lẽ chua cay sẽ biến thành bốn con ngựa già
                        kéo linh hồn anh chạy về bốn phía chân trời
                        trong những ngày giá lạnh.

                        Anh cũng không dám khóc. Nước mắt em ơi, đã đóng đinh
                        vào lòng bàn tay anh và linh hồn dớm máu…

                        Anh chỉ ngồi nhìn sao khuya rung động.
                        Nghe bờ môi tát cạn nhưng hơi thở yếu dần.


            Nhắc đến Nguyên Sa người yêu thơ ông vẫn tưởng nhà thơ đang rong chơi đâu đó vì ngôn ngữ vẫn sát với khung cảnh thường nhật hôm nay. Mặc dù nhà thơ đã từ trần vào ngày 8 tháng Tư năm 1998, cách đây đã mười sáu năm, nhưng thơ ông vẫn được nhiều người nhắc tới như xưa, đặc biệt trong hoàn cảnh tình yêu tuổi học trò ngày một biến mất để thay vào đó là những trò chơi tình cảm nhục dục của thanh niên trong thời đại mới.
            Mỗi tiếng thở dài tiếc nuối quá khứ là một câu thơ của Nguyên Sa. Mỗi câu thơ của ông có khả năng làm mới tâm hồn để biết rằng trong bất cứ thời đại nào nhịp đập tình yêu vẫn là suối nguồn sự sống.


MẶC LÂM
Tháng 8/2014


http://www.rfa.org/vietnamese/programs/LiteratureAndArts/nguyen-sa-a-legendary-poet-ml-08012014145524.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #184 vào: 11/04/2019, 21:43:26 »
Tản mạn về chữ nghĩa

Còn nhớ thời 20 năm ở miền Nam Việt Nam, năm nào cũng cứ đến khoảng cuối năm là trong quán xá văn nghệ người ta gặp nhau, đề tài được bàn tán là các giải thưởng văn nghệ. Như các câu hỏi năm nay ai sẽ được giải Thanh Tâm? Ai có hy vọng lãnh 400 ngàn giải Văn Chương Toàn Quốc?…

Văn Miếu ở Hà Nội, nơi có cả ngàn tấm bia tiến sĩ nước Nam

1.– Ðã lâu lắm không nghe thấy hay không trông thấy một tác phẩm thơ văn nào gây sôi nổi trong dư luận, không hiểu vì sao? Chỉ biết trước hết là không nghe không thấy.
            Tại vì các tác giả (nhà văn, nhà thơ, nhà biên khảo…) không một ai còn in sách nữa? Hay họ vẫn viết mà không in thành sách, không in ra giấy, mà viết rồi đem lên trời? Lên mạng lưới không gian?
            Trong cuộc sống ở đâu người viết bài này không biết, song ở nơi đây, ở Little Saigon “thủ đô văn nghệ” như khoảng mươi mười năm, hay hai ba mươi năm trước báo chí nói đến, không hề thấy một sinh hoạt văn chương tập thể nào tạo được một tiếng vang.
            Nhưng có phải lỗi ở các nhà văn nhà thơ, các tác giả, hay nguyên do là ở những chỗ khác? Ở các ông chủ bút, không có một ông chủ bút lớn nào làm chủ được ngọn bút của mình, biết nghề của mình, và do đó, không có một tờ báo nào làm được cái vai trò ta thường nghe nói: “hướng dẫn dư luận?” Hay lỗi ở các tờ báo, nơi phản ảnh dư luận: không có cơ quan ngôn luận nào gây được một dư luận trong sinh hoạt văn hóa? (Xin miễn nói đến sinh hoạt của các ngành khác.)
            Từ lâu lắm người viết bài này từng biết chỉ khi nào có một giải thưởng văn chương, hay một đối tác xứng đáng (như từ đối tượng hay môi trường), thì mới có thi đua, xúc động, sáng tác. Mà cả chục năm nay không có một giải văn chương nào!
            Còn nhớ thời 20 năm ở miền Nam Việt Nam, năm nào cũng cứ đến khoảng cuối năm là trong quán xá văn nghệ người ta gặp nhau, đề tài được bàn tán là các giải thưởng văn nghệ. Như các câu hỏi năm nay ai sẽ được giải Thanh Tâm? Ai có hy vọng lãnh 400 ngàn giải Văn Chương Toàn Quốc?…
            Nhưng trước hết, sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam ở hải ngoại còn không, hay đã chết rồi? Ở hải ngoại bây giờ còn các độc giả Việt Ngữ không? Hay các độc giả Việt Ngữ đã lãng đãng cả rồi? Câu hỏi liên hệ là còn tờ báo Việt Ngữ nào hướng dẫn được dư luận không, hay làm gì còn dư luận nữa mà hướng dẫn?
            Liên hệ hồi xưa giữa người viết-người đọc gắn bó là thế, báo nào cũng có “hộp thư tòa soạn”, nay đọc báo không hề thấy hộp thư tòa soạn đâu, thế là vì sao, tại sao? (Câu hỏi có nghĩa là độc giả không phản ứng trước tác phẩm hay độc giả có phản ứng mà báo chí không tường thuật, hay không biết đến…)
            Ðoạn trên nói đến các nhà văn, các chủ bút, là con người, song nếu lỗi không ở con người, thì vì sao có sự trầm đọng ấy? Vì độc giả, độc giả cũng là con người, vậy con người độc giả vẫn còn, nhưng họ không đọc báo giấy nữa, mà đọc báo không gian.
            Ðó có phải là nguyên do khiến cho sinh hoạt người viết-người đọc không còn nữa, vì người đọc báo mạng và người viết báo mạng không có cái gắn bó đầm ấm như thuở xa xưa nữa? Ðiều này hình như có thể là một trong những nguyên do: sự tha hóa bao la và mênh mông, không còn gắn bó gì nữa.
            Và trước hết: quên chữ tị nạn đi. Bốn mươi năm rồi sau 30 Tháng Tư, 1975, tị nạn không còn ý nghĩa gì nữa. Người đọc, người viết bây giờ nếu còn một liên hệ nào, thì đó là ở nội dung nội tại của các bài viết và ngoại cảnh của cộng đồng của người đọc: Người viết bây giờ và người đọc bây giờ ở những chân trời xa lạ cách biệt. Một thời kỳ đã qua. Nhiều giai đoạn đã chấm dứt.
             “Ta là ai giữa mùa thay đổi ấy?” (thơ Thế Lữ). Vậy vấn đề đặt ra là phải tìm câu trả lời để tìm lối giải quyết. Ai tìm?
            – Chính các tác giả phải tìm câu trả lời? Tại tác phẩm của mình? Tại độc giả không có?
            – Các nhà xuất bản phải tìm câu trả lời? Trước hết, nhà xuất bản là những ông bà nào, nghề xuất bản có thích hợp tương xứng không? Người in sách có nhằm đúng đối tượng độc giả là người đọc không?
            – Vấn đề sản xuất và vấn đề phát hành. Ai sản xuất? Ai phát hành?

2.– Tần Thủy Hoàng đã có lý khi nghe theo ý kiến của thừa tướng Lý Tư ra lệnh nổi lửa đốt sách.
             Tần Thủy Hoàng là con của Trang Tương Vương nước Tần. Trang Tương Vương làm con tin của Tần ở nước Triệu, lấy người thiếp của Lã Bất Vi (lúc bấy giờ đã mang thai). Sau người thiếp này sinh ra Thủy Hoàng ở Hàm Ðan, đặt tên là Chính họ Triệu. Vậy thật ra Thủy Hoàng là con của Lã Bất Vi. Trang Tương Vương mất, ông được lập làm Tần Vương, lúc đó mới 13 tuổi (247 Trước Công Nguyên). Lã Bất Vi được làm thừa tướng.
            Thủy Hoàng là người có hùng tài, thôn tính sáu nước, thống nhất thiên hạ, phía Bắc đuổi Hung Nô ra khỏi nước, phía Nam thâu Mân, Việt, tứ phương quy phục, cương thổ mở rộng. Phế bỏ chế độ phong kiến, lập ra quận huyện, xây trường thành, thống nhất đo lường, pháp luật, chữ viết, các trục xe đều dài bằng nhau (trước kia xe trận trục dài ngắn khác nhau, và mỗi nước làm đường vừa đủ cho xe của mình chạy, xe nước khác trục dài hơn, không dùng được).
            Theo đề nghị của Lý Tư cho đốt tất cả sách sử, trừ sách sử của nhà Tần. Ai cất giấu “Kinh Thư, Kinh Thi” hoặc sách của Bách-Giả chư tử thì phải đem nộp cho các quan địa phương để được đốt đi (phần thư). Ai trái lệnh, hoặc dám bàn với nhau về “Kinh Thư, Kinh Thi” hoặc các sách đạo Nho, thì bị đem ra chém giữa chợ.
            Lệnh ban ra, trong 30 ngày mà chưa thi hành, thì viên quan chịu trách nhiệm bị khắc vào mặt, cho đi xây cất Trường Thành. Riêng các sách thuốc, bói, trồng cây thì được giữ lại. Tự cho mình có công bao trùm cả Tam Hoàng, đức thì vượt cả Ngũ Ðế, vì vậy tự xưng là Hoàng Ðế. Bỏ thụy danh, cho mình là Thủy Hoàng Ðế, các đời sau cứ theo số mà tính: Nhị Thế, Tam Thế…
            Không những đốt sách Nho, ông còn cho lệnh chôn sống các nho sĩ nào tỏ ý chống đối. Sợ thiên hạ làm phản, ông ra lệnh cho các nước phải nộp binh khí tại Hàm Dương rồi đúc thành chuông. Phái bọn Từ Phúc đi tìm thuốc trường sinh, tốn công quỹ rất nhiều mà chẳng được kết quả gì là lẽ dĩ nhiên. Trong một cuộc tuần tra, ông mắc bệnh và tạ thế ở Sa Khâu, ở ngôi vị được 37 năm.

                        Thai nghén trong khi ở nước người
                        Nhờ tay họ Lã khéo tìm moi.
                        Ðem vàng muôn lạng buôn vua chúa
                        Vận óc đa mưu chuyển thế thời
                        Sáu nước gồm thâu chung một mối
                        Ngôi vua chiếm đoạt, chép muôn đời
                        Ngăn hổ, chôn sĩ lưu truyền mãi
                        Nhưng diệt Tần xong, ai đoạt ngôi?

                        Thái Cuồng (Từ điển BS. Hoàng Xuân Chỉnh)

3.– Trên đây là hai đoạn ghi chép nhằm bày tỏ cùng bạn đọc về một thời khắc bất định trước trang giấy trắng. Không phải lúc nào ngồi trước bàn viết người ta cũng viết ra được những điều ưng ý. Mà cho dù văn hay chữ tốt đến đâu, chữ nghĩa cũng có định mệnh của nó, nhất là trong một cuộc hỏa thiêu từ một tâm trí cực đoan, hay dẫu từ một ngọn lửa vô tình.


VIÊN LINH
Tháng 5/2017


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/vhnt-tan-man-ve-chu-nghia/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #185 vào: 16/04/2019, 20:28:03 »
Tháp Eiffel – “bà đầm sắt” 130 tuổi và những điều ít được nói tới

“Bà Đầm Sắt” năm nay tròn 130 tuổi, nhưng không hề có một nếp nhăn nào. Người Pháp hài nước nói với nhau như vậy. Nhưng “Bà Đầm Sắt”là ai? Đó chính là tháp Eiffel, khánh thành vào năm 1889, nhân Triển Lãm Hoàn Cầu lần thứ 10 được tổ chức tại kinh đô Paris. “Bà Đầm Sắt” Eiffel, một thời là công trình cao nhất thế giới, được tôn vinh thành biểu tượng không chỉ của Paris phồn hoa đô hội mà còn là biểu tượng của cả nước Pháp, với những con số ấn tượng, những hình ảnh đẹp lung linh trên các tấm bưu thiếp, những bức hình được chia sẻ nhiều vô kể trên các mạng xã hội.

Tháp Eiffel khi hoàng hôn buông xuống

Khởi đầu với những lời miệt thị
            Cũng như nhiều công trình nổi tiếng sau này tại Paris, vào buổi ban đầu, cách nay 130 năm, ngay từ khi còn nằm trên bản vẽ, tháp Eiffel đã vấp phải thái độ phản đối kịch liệt, những lời chỉ trích nặng nề từ công chúng, đặc biệt là giới văn nghệ sĩ, từ các họa sĩ, thi sĩ, cho tới nhà văn, nhà thơ, kiến trúc sư nổi tiếng nhất như Guy de Maupassant, Charles Garnier, Emile Zola, Alexandre Dumas con, Paul Verlaine…, vốn si mê nét yêu kiều, cổ kính và vẻ đẹp văn hóa lịch sử của kinh thành Paris.
            Nếu như sau này Trung tâm văn hóa Pompidou bị gọi là “cái mụn cóc xấu xí”, “con quái vật gớm ghiếc”, “một sai lầm thế kỷ”; Kim tự tháp kính bảo tàng Louvre bị chế giễu là “nhà xác”, “hầm mộ”, thì tháp Eiffel lại bị miệt thị là “giấc mộng kinh hoàng”, “cột đèn đường dị dạng”, “ống khói nhà máy khổng lồ đen sì”, “bộ xương gớm ghiếc”, là điều sỉ nhục đối với các công trình và kiến trúc của Paris.
            Ông Savin Yeatman-Eiffel, cháu ba đời của Gustave Eiffel giải thích: “Đó gần như là một cú sốc về văn hóa và thị giác. Gustave Eiffel không phải là kiến trúc sư mà là kỹ sư. Vì thế, tòa tháp không được thiết kế theo phong cách gothic hiện đại. Hình dáng của tháp phải tuân theo các quy tắc toán học. Và người ta cho rằng là ống khói nhà máy khổng lồ đen sì sẽ phá hủy các di sản văn hóa ngàn năm tuổi của Paris”.
            Không những vậy, người ta còn lo sợ là tòa tháp sẽ không chống chịu được sức gió. Nhưng vốn là một kỹ sư tài ba, Eiffel tự tin là các đường cong của bộ khung được thiết kế theo các phép toán sẽ tạo ấn tượng về độ chắc chắn và vẻ đẹp cho công trình.

Ban đầu, tháp Eiffel được sơn màu đỏ.
Rồi sau này chuyển sang màu nâu đỏ và bây giờ tháp có màu đồng

Công trường thế kỷ
            Bất chấp sự phản đối ồ ạt của giới văn nghệ sĩ, tòa tháp cao 312m bằng sắt nguyên chất được xây dựng với tốc độ nhanh kỷ lục – 2 năm, 2 tháng và 5 ngày – và được khánh thành vào ngày 31/03/1889. Thành tựu này có được còn nhờ quyết tâm sắt đá của Eiffel. Ông đã đặt cược tài sản cá nhân của mình vào công trình. Ba tháng trước ngày khai trương Triển Lãm Hoàn Cầu, phong trào đình công của công nhân trên công trường nổ ra. Ông chủ Gustave Eiffel gây áp lực cho công nhân bằng câu nói: “Những ai không muốn làm việc vào ngày mai sẽ không bao giờ được phép đặt chân trở lại tháp Eiffel, còn những ai quay lại làm việc vào ngày mai sẽ có thưởng”. Bị đánh vào lòng kiêu hãnh, 99% công nhân quay trở làm việc trên “công trường thế kỷ”.
            Nhiều chuyên gia đánh giá ngay cả vào thời buổi bây giờ, với công nghệ hiện đại, chưa chắc một công trình đồ sộ như tháp Eiffel có thể được hoàn tất trong một khoảng thời gian ngắn đến như vậy. Một điều đáng nể khác là thời đó các điều kiện đảm bảo an toàn cho người lao động không hề có, nhưng không có một tai nạn lao động nào xảy ra trên công trường.
            Hôm khánh thành tháp, đích thân Gustave Eiffel, ông chủ công ty xây dựng Eiffel trèo bộ 1.789 bậc thang lên cắm quốc kỳ Pháp trên đỉnh công trình cao nhất thế giới thời đó. Con số bậc thang bộ đó tượng trưng cho năm ra đời nền Cộng Hòa Pháp 1789. Cũng chính trên đỉnh tháp, Eiffel được trao Bắc Đẩu Bội Tinh, huân chương danh giá nhất nước Pháp.
            Cũng cần nói thêm là tòa tháp mang tên Eiffel nhưng thực ra Gustave Eiffel không phải công trình do chính ông người trực tiếp thiết kế mà là thành quả của hai kỹ sư Emile Nouguier và Maurice Koechlin làm việc cho công ty của ông và kiến trúc sư Stephen Sauvestre. Nhà sử học Pascal Vareijka, chuyên gia về lịch sử Paris giải thích trên đài France 24 ngày 01/04/2019: “Đây là dự án của ba người và Eiffel đã mua thiết kế của họ. Chính vì thế mà công trình được gọi là tháp Eiffel. Ông ấy đã mua thiết kế và nó là của ông ấy. Theo các điều khoản hợp đồng, ông ấy có quyền khai thác tháp Eiffel”.

Tháp Eiffel là công trình thu hút du khách toàn thế giới đến Paris

Thành công ngoài sức tưởng tượng
            Gustave Eiffel từng quả quyết rằng tháp sẽ có một nét đẹp quyến rũ riêng mà các thuyết về nghệ thuật thông thường không thể áp dụng để đo lường. Quả đúng như vậy, ngay ngày đầu mở cửa đón khách ngày 15/05/1889, nhân khai mạc Triển Lãm Hoàn Cầu, tháp Eiffel đã thu hút rất đông du khách đổ về từ khắp nơi trên thế giới, trở thành tâm điểm trong suốt sáu tháng triển lãm. Mỗi ngày có gần 12.000 người trèo lên tháp. Ngay trong tuần đầu tiên, dù thang máy chưa hoạt động, đã có tới gần 300.000 người trèo bộ hơn 1.700 bậc thang lên đỉnh kiệt tác kiến trúc. Từ đỉnh tháp, du khách có thể ngắm không chỉ toàn cảnh Paris mà tầm nhìn có thể xa tới 60km.
            Một trong những yếu tố đưa tháp Eiffel thành niềm tự hào của ngành công nghiệp, kiến trúc và vật liệu cuối thế kỷ XIX là độ chính xác tính đến 1/10mm của hơn 18.000 tấm sắt có độ dài trung bình 5m/tấm và 2,5 triệu chiếc đinh tán. Tổng cộng 7.300 tấn sắt nguyên chất đã được sử dụng để chế tạo tháp.
            Một điều lạ là tháp Eiffel biết “cử động” theo thời tiết. Ông Eric, thợ máy phụ trách thang máy trên tháp, giải thích trên đài France 3 ngày 29/03/2019: “Tất cả các thiết bị được gắn vào cấu trúc của tháp Eiffel đều chịu sự thay đổi, độ giãn nở của sắt và chúng tôi phải lựa để thích nghi với hiện tượng này. Gustave Eiffel đã lựa chọn vật liệu sắt chứ không phải thép. Sắt có độ mềm dẻo hơn thép, nhưng hệ số giãn nở nhiệt của sắt lại khá cao. Vì thế, khi nhiệt độ thay đổi nhiều, tháp lại “nhúc nhích”. (…) Trên đỉnh tháp, chóp tháp “chạy trốn” ánh mặt trời. Có nghĩa là độ giãn nở nhiệt của sắt khiến tháp nở ra và tháp ngả về phía ngược hướng mặt trời. Khi mặt trời chuyển hướng theo thời gian trong ngày, thì hướng ngả của tháp cũng thay đổi. Như vậy, tháp ngả trong ngày theo đường tròn có đường kính 18cm. Và chúng ta không thể cảm nhận được điều đó khi đứng trên tháp”.
            Ban đầu, tháp Eiffel được sơn màu đỏ. Rồi sau này chuyển sang màu nâu đỏ và bây giờ tháp có màu đồng. Mỗi lần sơn cần tới 60 tấn sơn. Cứ bảy năm một lần, các thợ sơn mất một năm rưỡi để sơn lại 250.000m2 bề mặt tháp.

Tháp Eiffel – Paris trong tuyết trắng, ảnh chụp ngày 07/02/2018

Eiffel “dấn thân” phục vụ khoa học và quân đội
            Bà Đầm Sắt là thành quả nổi bật nhất giúp Gustave Eiffel được “lưu danh sử sách”, nhưng đây cũng là công trình cuối cùng trong sự nghiệp chủ doanh nghiệp của ông. Chính trong năm 1889, Gustave Eiffel dính vào một vụ bê bối liên quan đến dự án kênh đào Panama, khiến ông mất một phần tài sản. Cho dù đã được tuyên vô tội, nhưng Eiffel cảm thấy cả uy tín và nhân phẩm đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, nên ông quyết định rút lui khỏi giới làm ăn và dành 30 năm cuối đời cho sự nghiệp khoa học, đặc biệt là các thử nghiệm về khả năng chống đỡ của các công trình xây dựng trước sức gió.
            Phòng thí nghiệm của Gustave Eiffel nằm trên tầng 3 của tòa tháp mang tên ông và cho đến nay vẫn còn hoạt động. Eiffel cũng cho lắp đặt dưới chân tháp một máy tạo gió lớn nhất thế giới để thử nghiệm về lực cản của gió, phục vụ nghiên cứu về khí động học. Còn trên đỉnh tháp, Eiffel cho đặt một đài quan sát khí tượng và một dàn ăng ten làm trạm thu phát điện tín không dây phục vụ quân đội. Và như vậy, thay vì chỉ để tháp Eiffel tồn tại 20 năm rồi tháo dỡ như kế hoạch ban đầu, kỹ sư Gustave Eiffel đã khiến tòa tháp trở nên có ý nghĩa khoa học và có lý do để tồn tại lâu dài.
            Ông Bertrand Lemoine, kiến trúc sư, kỹ sư và cũng là nhà văn, sử gia, giám đốc nghiên cứu Viện Nghiên Cứu Quốc Gia Pháp CNRS, tác giả nhiều cuốn sách về tháp Eiffel và kỹ sư Gustave Eiffel, giải thích cụ thể trên đài France 24: “Đó là một công trình được xây dựng phục vụ Triển lãm Hoàn Cầu 1889, sự kiện đánh dấu 100 năm Cách Mạng Tư Sản Pháp 1789, vì thế mà người ta muốn có một công trình đồ sộ, một tòa tháp cao nhất thế giới, đơn giản là với 300m chiều cao. Eiffel là một tòa tháp được dựng tạm thời và dự kiến chỉ tồn tại 20 năm. Sau 20 năm đó, người ta không biết số phận ngọn tháp sẽ ra sao, nếu Eiffel không muốn tòa tháp tiếp tục sống mãi.
            Ông ấy đã tiến hành nhiều thí nghiệm khoa học, các phép đo lường, nhất là về lực cản của không khí, thông qua việc cho các vật thể rơi dọc theo những sợi dây cáp ở trên tháp. Gustave Eiffel cũng thiết kế một máy tạo gió ở chân tháp, và đặc biệt là các thử nghiệm về phát thanh. Tòa tháp được dùng làm trụ đỡ cột ăng ten đài radio. Độ cao 300m cho phép thu phát tín hiệu từ khoảng cách rất xa, nhất là cho quân đội Pháp. Nhờ thế, tháp có giá trị chiến lược quân sự. Điều đó cho phép tháp Eiffel được bảo tồn”.

            Là nơi đặt trạm thu phát điện tín không dây cho quân đội Pháp, tháp Eiffel có công lớn với nước Pháp trong Đệ Nhất Thế Chiến. Ông Savin Yeatman-Eiffel, cháu đời thứ ba của kỹ sư Gustave Eiffel tự hào giải thích: “Nhờ có ăng ten khổng lồ tỏa từ đỉnh tháp tới tận Champs de Mars, tướng Ferrié bắt được tín hiệu của quân Đức theo đó binh lính Đức sẽ tạm dừng chân nghỉ ở Champs de Mars. Nhờ thế, tướng Ferrié đã điều quân đến bao vây mặt trận Champs de Mars. Không có tháp Eiffel, quân Đức đã tiến vào Paris trong những năm 1914-1918”.
            130 năm sau khi ra đời, dù không còn là công trình cao nhất thế giới, thậm chí cũng phải nhường danh hiệu công trình cao nhất của nước Pháp cho cây cầu Millau, nhưng tháp Eiffel vẫn có sức hút mãnh liệt. Người dân khắp nơi trên thế giới vẫn không ngớt đổ về Paris chiêm ngưỡng kiệt tác kiến trúc có từ cuối thế kỷ XIX. Tháp Eiffel là công trình tham quan phải trả tiền được du khách tới thăm nhiều nhất trên Trái đất. Trung bình, mỗi ngày có 25.000 khách, mỗi năm có 7 triệu người có may mắn được lên thăm tòa tháp, trong đó 80% là người nước ngoài. Năm 2017, trên trang mạng Instagram, Bà Đầm Sắt là một trong những “siêu sao” được yêu thích nhất.


THÙY DƯƠNG
Tháng 4/2019


http://vi.rfi.fr/phap/20190412-thap-eiffel-130-nam-va-nhung-dieu-it-duoc-noi-toi

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #186 vào: 23/04/2019, 21:41:42 »
Vài kỷ niệm về Trần Phong Giao

Ngoài việc trông coi tờ Văn, Trần Phong Giao còn là chủ biên của một tập san khác: Tân Văn, nguyệt san nghiên cứu, phê bình và sáng tác, phát hành đồng thời với tờ Văn, chủ yếu nghiêng về biên khảo. Biết tôi cũng thích viết tiểu luận, anh mời tôi viết bài thường xuyên cho tập san này.

Trần Phong Giao. (Hình: Lê Phương Chi)

TRƯỚC HẾT, xin đọc một đoạn văn, trích từ tiểu thuyết “Mùa Biển Động” của Nguyễn Mộng Giác:

            Giữa hai đống giấy cao ngất cạnh lối hẹp đi ra sau là cái bàn gỗ nhỏ. Một người đàn ông tóc cắt ngắn mặc sơ mi trắng cụt tay đang chăm chú đánh máy. Ông đánh chậm bằng hai ngón trỏ, mắt đăm đăm nhìn vào từng chữ một. Ngữ đến trước bàn mà người đàn ông chăm chỉ vẫn không hay biết. Chàng lúng túng, gắng chờ cho ông ta đánh máy xong một hàng, đẩy cần máy chữ sang hàng khác, mới lên tiếng:
            – Anh cho tôi hỏi thăm, ông chủ bút đã tới chưa?
            Người đàn ông nghe được câu Ngữ hỏi, nhưng vẫn chăm chú tiếp tục công việc. Ngữ không thể đoán được ông ta có khó chịu vì bị quấy rầy hay không. Chỉ thấy ông hỏi:
            – Có việc gì gấp không? Bài vở hay trị sự quản lý?
            – Cũng không có việc gì gấp. Tôi vừa ở Pleiku xuống. Ông chủ bút có viết thư nhắn là có dịp về Sài Gòn, nhớ ghé chơi. Thế thôi!
            Người đàn ông ngừng đánh máy, ngửng lên. Đôi mắt ông nhìn thẳng cố làm ra vẻ nghiêm trọng, nhưng Ngữ lại nhìn thấy ở đó sự mệt mỏi, thờ ơ. Ông hỏi:
            – Anh tên gì?
            Ngữ khó chịu như đang bị tra vấn. Chàng đáp cộc lốc:
            – Ngữ.
            – Cái gì Ngữ?
            Ngữ không chịu đựng thêm được nữa. Giọng chàng run lên vì giận:
            – Anh cho tôi gặp ông chủ bút!
            – Tôi là chủ bút đây!
            Ngữ bị bất ngờ, khựng lại.

            (“Mùa Biển Động”, tập 4, trang 859-860)

            Nhân vật “người đàn ông” trong đoạn văn trên, tuy là hoàn toàn hư cấu, nhưng qua đó, tôi lại nhìn thấy phản ảnh một nét khá điển hình của nhà văn Trần Phong Giao. Chả là vì, tôi cũng đã từng có cùng một kinh nghiệm khi lần đầu tiên gặp người tổng thư ký tòa soạn này của tờ tạp chí Văn ngày nào.
            Đó là năm 1969. Tôi từ Huế vào đi học và đi làm ở Sài Gòn, trọ ở đường Phát Diệm, cách tòa soạn Văn khoảng chừng hơn cây số. Hôm đó, lần đầu tiên đến tòa soạn báo Văn – thực ra, chỉ là một cái phòng nhỏ nằm sát lề đường Phạm Ngũ Lão, bề bộn giấy tờ, sách báo – trong tâm trạng hồi hộp, tôi gặp một người đàn ông đang chăm chú nhìn lên cái bàn máy chữ nhỏ, gõ lọc cọc.
            Nghe tiếng tôi chào, người đàn ông vẫn cắm cúi làm việc, dường như chẳng hề biết có người đang đứng sát bên. Khi nghe tôi hỏi xin được gặp ông thư ký tòa soạn, thì người đàn ông đáp, trong lúc vẫn không rời bàn máy chữ, “Cậu cần gặp có việc gì?” Tôi nói tên, tưởng là ông sẽ ngừng đánh máy, quay đầu lui, chào hỏi, nhưng không, ông chỉ nói: “Thế à!” một cách dửng dưng và… vẫn tiếp tục làm việc.
            Chán nản và bối rối, tôi chào ra về. Lúc này, ông ta mới ngẩng mặt lên nói: “Khi nào rảnh, nhớ ghé chơi”. Tôi rời tòa soạn báo Văn và người chủ bút Trần Phong Giao trong một cảm giác hụt hẫng đến gần như tuyệt vọng.
            Bực thì bực, nhưng vẫn ghé, vì tòa soạn nằm trên đường đi về hằng ngày. Dần dà rồi cũng quen thân. Biết tính anh, tôi chỉ ghé khi nào thật cần và thường là vào buổi chiều khi anh sắp nghỉ việc. Thỉnh thoảng, ít việc, anh rủ tôi ra chợ Thái Bình nằm ngày trước tòa soạn, uống nước, chuyện gẫu.
            Có lần anh rủ tôi về căn nhà nhỏ ở dưới chân cầu Kiệu, đường Hai Bà Trưng để uống rượu. Tóm lại, tôi được gặp một Trần Phong Giao hoàn toàn khác, thân tình, chu đáo, và đầy thiện chí. Chính Trần Phong Giao này là người đã tạo cơ hội cho tôi bước vào làng văn.
            Tôi thích viết từ nhỏ. Gửi hết báo này đến báo nọ, chẳng ai thèm đăng. Cho đến lần đó, khoảng giữa năm 1968, tôi được toại nguyện… hụt. Số là trong một số báo Văn, phần nhắn tin cho tôi, tòa soạn cho biết: Ban Tuyển Đọc đã chọn truyện “Dấu Tích Đời” để đăng, nhưng đáng tiếc là truyện có nhiều chi tiết không thể lọt qua được lưỡi kéo kiểm duyệt, những chi tiết mà nếu bỏ đi thì truyện sẽ không còn đứng vững, tòa soạn mong bạn gửi cho sáng tác khác.
            Một lời nhắn tin rất ngắn, nhưng rất dài đối với tôi. Tôi vừa cảm thấy sung sướng vừa thất vọng và ấm ức. Trong lúc tôi cặm cụi cố viết một truyện khác, thì bất ngờ làm sao, chừng hai tuần sau đó, tôi nhận được thư từ tòa soạn Văn, một lá thư đánh máy rất cẩn thận với cái “logo” báo Văn ở đầu trang. Thư ký tòa soạn Trần Phong Giao “vui mừng” báo cho biết là, bằng một cố gắng riêng, ông đã được sở kiểm duyệt cho “đi” truyện ngắn “Dấu Tích Đời”.
            Không lâu sau đó, “Dấu Tích Đời” – kể chuyện một bà mẹ tưởng con gái mình đi làm ăn lương thiện để nuôi mình, cuối cùng khám phá ra là cô dối mẹ, hành nghề mại dâm với lính Mỹ – xuất hiện trên Văn 121, số kỷ niệm Đệ Ngũ Chu Niên, phát hành vào đầu năm 1969.
            Với truyện ngắn đó, tôi bắt đầu được anh xếp vào hàng ngũ “những cây bút trẻ”, nhóm từ mà cho đến bây giờ nghe lại, vẫn cảm thấy nao lòng, vì nó nhắc nhở đến những buồn vui thời tuổi trẻ. Nếu không có sự quan tâm của anh, có lẽ nó sẽ không được đăng. Và nếu không được đăng, không biết tôi còn đủ tự tin tiếp tục viết và gửi để chỉ thấy tên mình nằm dài dài trong hộp thư tòa soạn! Sau đó, thì hầu như truyện nào tôi gửi cho Văn cũng được “qua cầu”. Và (tôi nghĩ, biết đâu) nhờ có mặt trên Văn, truyện và các bài viết khác của tôi cũng đã dễ dàng xuất hiện trên một số báo văn học khác như Vấn Đề, Bách Khoa, Khởi Hành và cả tạp chí Đối Diện. Tóm lại, “Dấu Tích Đời”, hiểu theo một nghĩa nào đó, thì như một cái vé vào cửa “văn giới” đối với tôi.
            Như Trần Hoài Thư nhận xét, ít có tờ báo văn học nào ở Sài Gòn thời đó mà quan tâm nhiều đến những cây bút trẻ đang cầm súng chiến đấu trên các chiến trường như Trần Phong Giao.
            Tôi còn nhớ, có lần anh cho biết là đã nhờ người quen trong Tổng Tham Mưu kéo Y Uyên – lúc đó đang ở một đơn vị chiến đấu ngoài mặt trận ở Tuy Hòa – về Sài Gòn hay về một hậu cứ an toàn nào đó. Nhưng đáng tiếc là, một thời gian ngắn trước khi nhận được giấy thuyên chuyển, Y Uyên đã tử trận đầu năm 1969.
            Để tưởng niệm nhà văn tài hoa bạc mệnh này, Trần Phong Giáo thực hiện ngay một số tưởng niệm Y Uyên, số 129, ấn hành vào Tháng Ba, 1969. Đó là một số báo khá dày, với sự đóng góp của nhiều bạn văn và nhà biên khảo. Với sự động viên của Trần Phong Giao, tôi viết bài “Khuôn mặt chiến tranh trong tác phẩm Y Uyên”, phân tích cách mô tả chiến tranh trong các truyện ngắn của anh. Tất cả tiền nhuận bút của số báo này đều được các tác giả đồng ý gửi về cho gia đình Y Uyên để làm tấm bia mộ cho anh, gọi là chút tấm lòng của những bạn văn đối với người quá cố.
            Ngoài việc trông coi tờ Văn, Trần Phong Giao còn là chủ biên của một tập san khác: Tân Văn, nguyệt san nghiên cứu, phê bình và sáng tác, phát hành đồng thời với tờ Văn, chủ yếu nghiêng về biên khảo. Biết tôi cũng thích viết tiểu luận, anh mời tôi viết bài thường xuyên cho tập san này.
            Tôi cảm thấy vinh hạnh vì được tin cậy, nên nhận lời. Và viết ngay bài điểm sách “Một Cách Buồn Phiền”, tác phẩm đầu tay của Lê Văn Thiện, (bút hiệu là Văn Lệ Thiên), in trên Tân Văn số 13, Tháng Năm, 1969. Văn Lệ Thiên là một cây bút trẻ (cũng là lính) thường xuất hiện trên Văn, do tạp chí Văn vừa xuất bản lúc đó. Anh giục tôi viết thêm, nhưng tôi ham sáng tác, lại bận bịu việc học, việc làm nên hứa hoài hứa mãi mà không có thêm bài nào. Sau đó, tôi phải trở về Huế dạy học, rồi nhập ngũ. Đến năm 1971, Trần Phong Giao chia tay với nhà xuất bản Nguyễn Đình Vượng, tờ Văn chuyển qua Nguyễn Xuân Hoàng và Tân Văn thì đình bản. Đành thôi!
            Từ đó, tôi không gặp lại Trần Phong Giao cho đến năm 1985. Vào thời gian này, sau khi đi ở tù về, tôi thường hay ra vào Sài Gòn chạy vạy kiếm sống. Hôm đó, trong khi đi lang thang trong khu chợ trời Huỳnh Thúc Kháng, tôi tình cờ gặp anh ở một quán cà phê vỉa hè. Cùng đi với anh là ông Lê Ngộ Châu của tạp chí Bách Khoa. Trông anh buồn bã và chán nản. Chúng tôi chỉ trao đổi dăm ba chuyện mưa nắng thời tiết, rồi thôi.
            Đó là lần cuối tôi gặp Trần Phong Giao. Theo lời anh Nguyễn Khiêm, trong một bài báo trên Người Việt, “Tưởng nhớ Trần Phong Giao”, anh mất Tháng Tư, 2005, ở Sài Gòn vì ung thư đại tràng.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 08/2018
________________________________________________________________________________
Tham khảo: Nguyễn Khiêm, “Tưởng nhớ Trần Phong Giao”, Người Việt, ngày 3 Tháng Tư, 2017.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/vai-ky-niem-ve-tran-phong-giao/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #187 vào: 27/04/2019, 17:32:23 »
Elvis Phương và ban nhạc Shotguns

Năm 19 tuổi, nhạc sĩ Ngọc Chánh bị gọi động viên Thủ Đức. Tuy nhiên, tác giả “Bao Giờ Biết Tương Tư” không thuận hợp với đời binh nghiệp, cho nên một ngày trước khi phải nhập ngũ, ông được Bộ Công Dân Vụ tuyển dụng vào Ban Văn Nghệ của bộ này. Vì vậy, ông được hoãn dịch.

Ban nhạc Shotguns. (Hình: Trần Quốc Bảo)

TUY NHIÊN, sau ít tháng phục vụ thì ông rời Ban Văn Nghệ Công Dân Vụ. Nhạc sĩ Ngọc Chánh nhận làm trưởng ban nhạc cho phòng trà ca nhạc Hồ Tắm Cộng Hòa, ở đường Lê Văn Duyệt cũ. Tại đây, do sự giới thiệu, gửi gắm của một người bạn tên Tư, nhạc sĩ Ngọc Chánh đã nhận lời tuyển dụng một thiếu nữ tham gia ban nhạc của ông. Đó là ca sĩ Minh Hiếu.
            Thời gian đó, gia đình ca sĩ Minh Hiếu còn ở Bình Long. Cô lên Sài Gòn, ở nhà người quen để học may… “Tuy nhiên chỉ vài tháng sau, Minh Hiếu đã thuộc thêm rất nhiều ca khúc mới và nổi tiếng ngay chỉ trong vòng nửa năm thôi”, nhạc sĩ Ngọc Chánh nhấn mạnh.
            Do nổi tiếng quá nhanh, như con chim sớm đủ lông cánh, với sự thuộc lòng hàng chục tình ca nổi tiếng nhất của nền tân nhạc Việt Nam thời đó, nữ ca sĩ Minh Hiếu lập tức được nhiều khiêu vũ trường mời cộng tác.
            Một trong những phòng trà ca nhạc mà ca sĩ Minh Hiếu nhận lời cộng tác là khiêu vũ trường Mỹ Phụng. Nhưng cũng chính tại nơi này, những người yêu tiếng hát Minh Hiếu suýt vĩnh viễn mất đi giọng ca và nhan sắc đặc biệt đó.
            Nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Chánh kể, ngay từ những ngày đầu, được ông tuyển dụng năm 1961 ở phòng trà Hồ Tắm Cộng Hòa, có lẽ vì nhan sắc lộng lẫy trẻ thơ của Minh Hiếu đã khiến nhiều người trong nam giới, mang bệnh… tương tư. Một trong những vị “nam nhi” này là đại úy trẻ tuổi, tên Bằng (dư luận đồn đãi ông là con nuôi của Tổng Thống Ngô Đình Diệm).
            Chỉ là một trong hàng chục người theo đuổi mơ ước, xin Minh Hiếu cho… “bàn tay” nhưng Đại Úy Bằng kiên trì và “nổi trội” hơn cả. Khi Minh Hiếu về hát ở khiêu vũ trường Mỹ Phụng, gần bến sông Bạch Đằng, Sài Gòn, tất nhiên, Đại Úy Bằng cũng là một trong những “cây si” có mặt ngay tự buổi đầu ở nơi chốn mới này.
            Tác giả ca khúc “Bao Giờ Biết Tương Tư” kể, không biết Đại Úy Bằng tỏ bày tình yêu si mê của ông dành cho Minh Hiếu ở mức độ nào mà, một đêm, trong giờ trình diễn của mình, nữ ca sĩ Minh Hiếu đã cắn lưỡi tự tử. Cô được ban giám đốc vũ trường Văn Phụng, đưa gấp vào nhà thương. May mắn thoát chết…
            Vẫn theo nhạc sĩ Ngọc Chánh thì sau scandal này, Đại Úy Bằng đã không còn là “thảm kịch” đeo đẳng ca sĩ Minh Hiếu nữa.
            Trong tinh thần sống lại một thời tận hiến tài năng, tâm trí của mình, cho nền tân nhạc miền Nam Việt Nam, nhạc sĩ Ngọc Chánh nhớ rằng năm 1968, chính quyền Sài Gòn ra lệnh đóng cửa tất cả các phòng trà, khiêu vũ trường… Chính vì thế mà số ca, nhạc sĩ yêu nghề, đã phải chọn giải pháp trình diễn tại những Club Mỹ, phục vụ cho số binh sĩ Hoa Kỳ thời đó, có mặt tại miền Nam.
            Ở tình cảnh bất ngờ, ngoài ý muốn này, nhạc sĩ Ngọc Chánh đã chọn quy tụ một số ca nhạc sĩ trẻ như Elvis Phương, Pat Lam (thường được gọi là Pat Lâm), Ngọc Mỹ, Hoàng Liêm… thành hình ban nhạc lấy tên Mỹ là Shotguns, để cùng một số ban nhạc Việt khác, trình diễn cho các Club Mỹ…
            Đầu năm 1969, người trưởng ban nhạc Shotguns thấy rằng đã đến lúc phải quay trở lại với nhạc Việt, ông bèn lấy ý kiến của một số cộng tác viên nòng cốt của ông ở ban nhạc Shotguns. Trong số những người thân tín nhất, được nhạc sĩ Ngọc Chánh thăm dò, có ca sĩ Elvis Phương và nữ ca sĩ Ngọc Mỹ. Đó cũng là hai cộng tác viên cật ruột đầu tiên của trung tâm băng nhạc Shotguns. Nhưng tình trạng thực tế phải nói là không đơn giản!
            Về Elvis Phương, tác giả ca khúc nổi tiếng “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” cho biết: “Tiếng hát cũng như kỹ thuật trình diễn của Elvis gần như hoàn hảo. Không ai có thể kiếm ra lỗi, để chê bai… Nhưng ngặt thay, Elvis lại không hát được nhạc Việt, ngoài nhạc Pháp và Mỹ. Lý do, từ nhỏ Elvis Phương đã sớm theo học trường Pháp”.(1)
            Khởi thủy khi tìm về nhạc Việt, Elvis Phương chỉ biết một bài duy nhất là ca khúc “Mộng Dưới Hoa”, thơ Đinh Hùng, nhạc Phạm Đình Chương!
            Trước khi cho ra đời trung tâm băng nhạc Shotguns, nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Chánh thấy không thể thiếu tiếng hát Elvis Phương… Để xóa đi trở ngại này, ông đã nhờ nhạc sĩ Hoàng Liêm (một thành viên trong ban nhạc Shotguns), bỏ thì giờ và công sức kèm cho Elvis Phương hát nhạc Việt…(2)
            Còn ca sĩ Ngọc Mỹ là một trong những tiếng hát hàng đầu của nền tân nhạc Việt, thuở đó. Nhưng: “Rất tiếc, không lâu sau khi trở về với nhạc Việt, Ngọc Mỹ đã theo chồng về Mỹ. Cô bỏ hát, cho đến ngày hôm nay”, nhạc sĩ Ngọc Chánh nói.
            Dù là người rất cẩn trọng từ chuyện lớn, tới chuyện nhỏ, làm việc gì cũng bàn bạc với anh chị em đồng chí hướng, nhưng sự ra đời của trung tâm băng nhạc Shotguns đã bất ngờ gặp phải trở ngại rất lớn: Làm sao phát hành? Mà trong thời gian say sưa với dự tính, tất cả mọi người đều không nghĩ tới!
            Thuở mới trình làng, trung tâm băng nhạc Shotguns, vốn là một trung tâm “vô danh”, so với những trung tâm băng nhạc khác như Asia của nhóm Lê Minh Bằng(3) hay hãng đĩa Sóng Nhạc của cố nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông…(4)
            Khi đã lỡ leo lên lưng cọp, đối đầu với thực tế, nhạc sĩ Ngọc Chánh mới ngỡ ngàng vì không biết làm cách nào để có thể gửi băng đi các tỉnh miền Nam cũng như miền Trung!
            Cuối cùng, con chim đầu đàn của trung tâm Shotguns nhớ tới một số người quen ở cơ sở phát hành báo Nam Cường. Ông liền tìm tới và được cơ sở này nhận giúp, bằng cách gửi kèm băng nhạc Shotguns theo chuyến gửi sách, báo đi các đại lý.
            Tuy nhiên, sau khi giải quyết được khâu phát hành, thì Shotguns lại đụng phải một rào cản tâm lý cũng bất ngờ, mạnh mẽ không kém. Đó là sự tẩy chay, quay lưng của khán giả tại các tỉnh: Các tỉnh đồng loạt không chấp nhận ca khúc “Một Trăm Phần Trăm Em Ơi”, sáng tác của Ngọc Sơn-Tuấn Hải trong trong băng nhạc Shotguns #1. Các đại lý đã gửi trả về cho Shotguns tất cả số băng nhạc nhận được…(5)
            Tới hôm nay, nhìn lại, những người sản xuất băng nhạc thời đó, vẫn không thể có được một kết luận rõ ràng, dứt khoát về câu hỏi tại sao ca khúc kể trên lại đưa tới bước khởi đầu thất bại nặng nề cho Shotguns? Khi nội dung của ca khúc, chỉ có tính cách giải trí, mua vui một cách dễ dãi mà thôi: “Một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm/ Một trăm em ơi chiều nay một trăm phần trăm/ Người yêu anh ơi giờ đây lại cấm trại rồi/ Nào đâu nàng biết tâm tư người lính/ Lòng anh nao nao mỗi khi ta hẹn nhau/ với em tâm tình/ Xin em nhớ cho rằng lính hay đa tình/ nhưng mãi mãi vẫn yêu chỉ yêu một người/ một người mà thôi và yêu trọn đời…”


DU TỬ LÊ
Tháng 06/2018

________________________________________________________________
(1) Đầu thập niên, 1990, khi gặp lại nữ danh ca Thái Thanh ở Orange County, chúng tôi hỏi bà, theo đánh giá của bà thì trong số những ca sĩ lớp sau của Sài Gòn thuở trước 1975, bà có “chấm” được ai không? Người nữ danh ca được mệnh danh là “Tiếng Hát Vượt Thời Gian”, không ngập ngừng, trả lời ngay rằng, theo đánh giá chung của toàn Ban Thăng Long thì bên nam giới, Thăng Long “chấm” Elvis Phương và, nữ giới lớp sau, Thăng Long chọn Carol Kim.
(2) Nhạc sĩ Ngọc Chánh cho biết, thời trước Tháng Tư, 1975, ở Sài Gòn, nhạc sĩ Hoàng Liêm là một trong những người chơi guitar hay nhất. Vì họ Hoàng chỉ chơi trong ban nhạc mà, không sáng tác ca khúc, nên ngoài giới hầu như rất ít biết tên tuổi ông.
(3) Lê Minh Bằng là tên tắt, ghép lại của ba nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng.
(4) Thời đó, hãng đĩa Sóng Nhạc nghiêng về cổ nhạc nhiều hơn tân nhạc. Nhưng thị trường của Sóng Nhạc rất lớn. Nhất là ở các tỉnh miền Nam.
(5) Tới hôm nay, tự điển bách khoa toàn thư Wikipedia-mở, vẫn còn ghi theo chú thích của một số trang nhà hay bloger rằng, đó là sáng tác của Vũ Chương! Ngoài ra giai đoạn cuối thập niên 1960, vì chưa có hiện tượng Mai Lệ Huyền, nên ca khúc “Một Trăm Phần Trăm Em Ơi”, do một mình Hùng Cường đơn ca, nhạc sĩ Ngọc Chánh nhấn mạnh.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/elvis-phuong-va-ban-nhac-shotguns/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #188 vào: 02/05/2019, 23:10:50 »
Đọc lại Truyện Kiều, yêu thêm tiếng Việt

Thi hào Nguyễn Du ra đời trong hậu bán thế kỷ 18. Bút giả thường tự hỏi có phải trong thời điểm ấy Thượng Đế đã nổi hứng rộng lượng và công bình mà ban cho nhân loại những thiên tài văn chương xuất chúng chăng? Như Johann Wolfgang Goethe sinh năm 1749 tại Đức quốc, Nguyễn Du sinh năm 1765 tại đất nước chúng ta, Francois-René Chateaubriand sinh năm 1768 tại Pháp quốc, và William Wordsworth sinh năm 1770 tại Anh quốc.


GOETHE, đệ nhất văn hào dân tộc Đức, năm mới 25 tuổi đã viết cuốn truyện tình bi đát mang tên Die Leiden des jungen Werthers (Những nỗi ưu sầu của chàng trai trẻ Werther) để nói về mối ưu sầu thực sự của chính ông: Goethe đã gặp và yêu say đắm trong tuyệt vọng một phụ nữ đã đính hôn với người khác. Câu chuyện lãng mạn và bi thảm ấy khiến ông lẫy lừng danh tiếng khắp Âu châu và cũng làm cho một vài giai nhân đa sầu đa cảm đang thất tình giống người trong truyện nhảy xuống hồ tự tử mà trong tay còn nắm chặt cuốn tiểu thuyết kia! Chateaubriand có thể được coi là nhà văn tiên khởi của trào lưu văn chương lãng mạn nước Pháp qua cuốn tiểu thuyết Atala, một câu chuyện vừa buồn vừa mãnh liệt đam mê trong khung cảnh thiên nhiên rực rỡ của rừng núi Bắc Mỹ, một nơi mà Chateaubriand chưa từng thăm viếng và chỉ được làm quen với các sắc dân da đỏ qua sách vở. Và Wordsworth, đệ nhất thi nhân bên trời Anh quốc, năm chưa đến 30 tuổi đã cùng Coleridge xuất bản tập thơ Lyrical Ballads, mở đầu cho thời đại thi ca lãng mạn trong nền văn học quốc gia ấy.
            Thế còn Nguyễn Du của chúng ta thì sao? Hãy nghe lời người ngoại quốc ca ngợi thi hào họ Nguyễn trước đã. Thi sĩ lẫy lừng người Ấn Độ chuyên làm thơ bằng tiếng Anh mang tên Rabindranath Tagore (giải Nobel văn chương 1913) khi viếng thăm Việt Nam năm 1929 đã coi Nguyễn Du là vị thi sĩ đứng thứ ba trong hàng ngũ những thi sĩ muôn thuở, chỉ sau Lý Bạch và Victor Hugo (theo học giả Thái Văn Kiểm). Văn sĩ Pháp René Crayssac đã dịch Truyện Kiều sang tiếng Pháp và cho rằng áng văn kiệt tác của Nguyễn Du có thể so sánh mà không sợ kém các văn chương kiệt tác, vô luận ở thời nào và ở xứ nào (theo học giả Đào Duy Anh). Như vậy thì thiên tài thi ca họ Nguyễn của chúng ta khi đứng cạnh những đại danh văn chương của nhân loại cũng ngang ngửa với họ, cũng đều “mười phân vẹn mười” cả, nhưng riêng đối với bút giả thì đọc thơ Nguyễn Du thích thú gấp bội phần đọc các tác phẩm của các vị ngoại quốc kia, vì bút giả là người cùng một ngôn ngữ và văn hóa với Nguyễn Du.
            Nguyễn Du sinh năm 1765 trong một danh gia vọng tộc. Cha là hoàng giáp Nguyễn Nghiễm, người Hà Tĩnh, làm thủ tướng triều Lê. Mẹ là Trần Thị Tần, người Bắc Ninh, kém chồng 32 tuổi. Nguyễn Du mồ côi cha năm 11 tuổi và mồ côi mẹ năm 13 tuổi. Anh cả là tiến sĩ Nguyễn Khản, thượng thư bộ Lại, anh thứ hai là Nguyễn Điều từng làm trấn thủ Sơn Tây. Năm 1783, lúc 18 tuổi, Nguyễn Du đậu tam trường (tú tài); cùng năm này, một người anh tên là Nguyễn Đề đậu thủ khoa kỳ thi hương (cử nhân). Tình hình chính trị lúc ấy thực bất ổn. Năm 1788 Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh; Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế ở Huế. Năm 1789 Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh. Năm 1802 Gia Long diệt Tây Sơn, bắt đầu triều Nguyễn; Nguyễn Du làm tri huyện Phù Dung (thuộc Hưng Yên ngày nay), mấy tháng sau thăng tri phủ Thường Tín (thuộc Hà Tây ngày nay). Năm 1809 Nguyễn Du làm cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813 Nguyễn Du thăng cần chánh điện học sĩ, chánh sứ sang nhà Thanh. Năm sau đi sứ về, thăng tham tri bộ Lễ. Năm 1820 Gia Long mất, Minh Mệnh nối ngôi. Nguyễn Du được cử chánh sứ sang Tàu báo tang và cầu phong, nhưng chưa kịp lên đường thì bị bệnh và qua đời, thọ 56 tuổi.
            Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa biết rõ là khi nào Nguyễn Du viết Truyện Kiều, trước hay sau khi đi sứ sang Trung Quốc năm 1813? Theo Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim thì Truyện Kiều bắt nguồn từ một tiểu thuyết Tàu của tác giả Thanh Tâm Tài Nhân, văn chương tầm thường, về một người đàn bà tài sắc, có lòng trung, hiếu, tiết nghĩa, mà đời bị bèo giạt hoa trôi. Nguyễn Du bỏ bớt những chỗ rườm rà, thô lỗ, dơ bẩn. So với tiểu thuyết Tàu thì Truyện Kiều của Nguyễn Du thanh nhã và văn vẻ hơn nhiều. Hà Như Chi, khi so sánh Truyện Kiều với tiểu thuyết Tàu nguyên thủy, nhận định Truyện Kiều là một công trình nghệ thuật cân đối hoàn hảo, kết cấu chặt chẽ, tình ý đậm đà khéo léo, văn chương tươi đẹp, thắm đượm màu sắc Việt Nam và dẫy đầy thi vị.
            Vẫn theo Hà Như Chi, một nàng Kiều tài hoa duyên dáng như thế lại là nạn nhân của một số mệnh vô cùng khắt khe đã đánh mạnh vào tâm hồn Nguyễn Du và thúc giục cụ viết nên Truyện Kiều để hả hê những mối cảm tình đối với một người đã được cụ xem như đồng hội đồng thuyền với mình: Nguyễn Du phải quên nhà Lê mà ra làm quan với nhà Nguyễn thì có khác chi, vì chữ “mệnh” oái oăm, nàng Kiều phải bỏ Kim Trọng mà chịu bước giang hồ? Đúng là:

                        Vui là vui gượng kẻo là,
                        Ai tri âm đó mặn mà với ai?


            Nội dung Truyện Kiều gồm 3.254 câu thơ lục bát có thể chia làm ba phần: (1) Thúy Kiều và Kim Trọng gặp gỡ và gắn bó với nhau; (2) Những nỗi khổ của Thúy Kiều trên bước đường luân lạc; và (3) Kim-Kiều tái ngộ. Truyện Kiều còn là một tác phẩm chứng minh cho định luật “tài mệnh tương đố”: Kiều là kẻ tài hoa nên phải mệnh bạc. Trong phần kết, may thay, Nguyễn Du cũng cho chúng ta tin tưởng rằng thiện tâm có thể cải hóa được số mệnh:

                        Thiện căn ở tại lòng ta
                        Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài


            Những phân đoạn chính trong Truyện Kiều như sau: Phần (1): (a) Xác định thuyết tài mệnh tương đố, (b) Kiều gặp Kim Trọng, (c) Kiều và Kim Trọng thề thốt gắn bó. Phần (2): (a) Gia biến nàng Kiều, (b) Mã Giám Sinh mua Kiều, (c) Kiều phó thác tâm sự cho em, (d) Mắc tay Tú Bà, (e) Đi trốn với Sở Khanh, (f) Kiều tiếp khách trong lầu xanh, (g) Kiều được Thúc Sinh chuộc ra, (h) Mắc tay Hoạn Thư, (i) Đi trốn, (j) Giác Duyên sợ liên lụy, gửi Kiều cho Bạc Bà, (k) Bạc Bà lừa dối, Kiều lại bị bán vào lầu xanh, (l) Được Từ Hải chuộc ra, (m) Kiều báo ân báo oán, (n) Mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải bị giết, (o) Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường, (p) Giác Duyên vớt Kiều. Phần (3): (a) Kim Trọng trở lại vườn Thúy, (b) Lấy Thúy Vân, (c) Làm quan ở Lâm Tri, (d) Tìm Kiều ở Hàng Châu, (e) Giác Duyên đưa đến gặp Kiều, (f) Kim-Kiều xem nhau như bạn, (g) Kiều đánh đàn kết liễu đời bạc mệnh, (h) Kết thúc: Thiện tâm sửa được số mệnh.
            Chúng ta đã nghe người ngoại quốc ca tụng Truyện Kiều trên đây, và bây giờ chúng ta tìm hiểu xem các nhà phê bình văn chương người Việt nghĩ gì về tuyệt tác phẩm này của Nguyễn Du. Bút giả xin đóng góp trong phần này này bằng cách tóm lược một số nhận định về giá trị Truyện Kiều của các nhà phê bình tên tuổi từ trước đến nay để chúng ta có một cái nhìn bao quát.




            PHẠM QUỲNH: Sau khi cho rằng Truyện Kiều của Nguyễn Du hay hơn cả văn chương của Khuất Nguyên bên Tàu và văn chương của Racine và Bossuet bên Tây, Phạm Quỳnh trong ngày giỗ Nguyễn Du năm 1924 tại Hà Nội đã thề trước anh linh thi hào họ Nguyễn rằng “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn, còn non còn nước còn dài, chúng tôi là kẻ hậu sinh xin dầu lòng dốc chí cố gia công trau chuốt lấy tiếng quốc âm nhà, cho quốc hoa ngày một rực rỡ, quốc hồn ngày một tỉnh táo, quốc vận ngày một vẻ vang, ngõ hầu khỏi phụ cái chí hoài bão của tiên sinh, ngậm cười chín suối cũng còn thơm lây” (Tạp chí Nam Phong, tháng 8, 1924). Vì những lời này mà Phạm Quỳnh bị hai cụ nghè Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng xỉ vả thậm tệ (bút giả sẽ nói tiếp về vụ lên án quá nặng tay này ở một đoạn sau).
            NGUYỄN TƯỜNG TAM: Nhà văn thủ lãnh của Tự Lực Văn Đoàn viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924: “Cái làn sóng thơ Kiều hình như lai láng khắp cõi Nam. Trừ những câu ca dao ra, thật không có quyển truyện nào phổ thông trong đám dân gian bằng Truyện Kiều. Vì văn Kiều hay quá, nên những người nhà quê không có học thức cũng thích xem và thích ngâm nga. Nhưng nói đến cái hay của văn Kiều thì chưa biết thế nào mà kể được… Tôi xin nói quyết một lời rằng: Mong được một quyển truyện nào hay hơn Truyện Kiều là mộng tưởng. Cái trình độ thơ quốc ngữ đến như thế là tuyệt đích rồi”. Nhận định về câu thơ thuộc loại văn hữu dư ba là câu “Lơ thơ tơ liễu buông mành”, Nguyễn Tường Tam thấy ba chữ “lơ thơ tơ” nghe rất êm tai, hay về phần tưởng tượng ít mà hay về phần âm điệu êm ái nhiều hơn. Và câu “Nách tường bông liễu bay ngang trước mành” ông thấy rất hay về cảnh sắc. Ông cũng thấy trong Truyện Kiều nhiều chỗ cảnh và người có liên lạc, đúng như:

                        Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
                        Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ


            Như lúc Thúc Sinh trở về với Kiều, trông ra cảnh vật cũng hình như chia vui với mình:

                        Long lanh đáy nước in trời
                        Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng


            Và khi Kiều và Kim gặp nhau lần đầu, lúc từ giã, cô Kiều còn trông theo, nhưng nào thấy gì đâu, chỉ thấy:

                        Dưới cầu nước chảy trong veo
                        Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha


            Hai câu đệm ấy vào thật là tả rõ được cái buồn, cái nhớ của cô Kiều mà hình như cảnh vật cũng âu sầu!




            VŨ ĐÌNH LONG: Lấy âm nhạc làm ẩn dụ để lượng giá Truyện Kiều, phê bình gia Vũ Đình Long viết trong Tạp chí Nam Phong năm 1924 rằng “Truyện Kiều thực là một cây đàn tuyệt quý không phím không dây. Tác giả lấy đầu lưỡi mà nẩy lên tiếng, mỗi đoạn văn là một cung, mỗi câu văn là một điệu, mỗi chữ là một tay nỉ non thánh thót, réo rắt tiêu tao, đêm khuya canh tĩnh mà nghe người tốt giọng ngâm Kiều thì còn đàn nào hay bằng nữa… Cụ Nguyễn Du không phải là nhà thi sĩ, cụ chính là Thần Thơ vậy!” Theo Vũ Đình Long, những câu Kiều nói với chàng Kim thật hay thật tình, như:

                        Thưa rằng đừng lấy làm chơi
                        Rẽ cho thưa hết một lời đã nao


            Chữ “rẽ” dùng có thần tình không? Ta thấy hình như nàng Kiều lấy tay gạt chàng Kim ra vậy! Năm lần láy chữ “còn” trong hai câu thơ sau đây là một tuyệt chiêu, như thể một lời thề nguyền vĩnh cửu:

                        Còn non, còn nước, còn dài
                        Còn về còn nhớ đến người hôm nay


            Tình nhân tương tư nhau là những cảnh não nùng mà Nguyễn Du tả rất khéo. Chàng Kim nỗi lòng canh cánh luôn nghĩ đến người đẹp đã gặp trong ngày hội Đạp Thanh:

                        Sầu đong càng lắc càng đầy
                        Ba thu dọn lại một ngày dài ghê!


            Đêm không ngủ được, vẩn vơ ngọn đèn tàn:

                        Tuần trăng khuyết, đĩa dầu hao
                        Mặt mơ tưởng mặt, lòng ngao ngán lòng


            Cậu đồ đã mang nặng gánh tương tư thì còn thiết gì đến sách, đến bút, đến đàn:

                        Phòng văn hơi giá như đồng
                        Trúc xe ngọn thỏ, tơ chùng phím loan


            Ngồi nghe tiếng gió đập vào mành cũng nhớ đến ai – vì nhớ nhung mà trà mất ngon, mùi hương kém ngát:

                        Mành tương phân phất gió đàn
                        Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình
.

            LƯU TRỌNG LƯ: Để đáp lễ lời cụ nghè Ngô Đức Kế cho rằng Truyện Kiều “chỉ là một thứ văn chương ngâm vịnh chơi bời, để lúc thanh nhàn mà đọc đôi câu cho tiêu khiển, chứ không phải là một thứ văn chương chính đại theo đường chính học, mà đem ra dạy đời được đâu” (báo Hữu Thanh, tháng 9 năm 1924) và nhất là lời kết tội gay gắt của cụ nghè Huỳnh Thúc Kháng rằng “Truyện Kiều là một thứ dâm thư, rõ không ích mà có hại… Hiện xã hội ta ngày nay mà diễn ra những tuồng thương phong, bại tục kia, cái giống độc con đĩ Kiều gieo vào trong cõi tư tưởng không phải là ít…” (báo Tiếng Dân, tháng 9 năm 1930), Lưu Trọng Lư viết trong tuần báo Phụ Nữ Thời Đàm vào cuối năm 1933: “Ai muốn làm thánh hiền thì đi đọc Ngũ Kinh, Tứ Thư. Hãy để Truyện Kiều lại cho bọn chúng tôi là hạng người trong những phút mệt nhọc, buồn rầu, chán nản, cần phải ngâm nga những câu như:

                        Dưới cầu nước chảy trong veo
                        Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha




            ĐÀO DUY ANH: Để kết luận tập “Khảo Luận về Kim Vân Kiều” xuất bản năm 1943, học giả Đào Duy Anh khẳng định “Nguyễn Du đã gieo trong lòng ta một mối tin chắc chắn, một mối hy vọng dồi dào với tiếng nói của ta”. Cũng theo ông, ở thời Lê mạt, ta đã thấy có những tác phẩm có giá trị như Cung Oán Ngâm Khúc, Chinh Phụ Ngâm, Phan Trần Truyện, Hoa Tiên Ký… viết bằng quốc âm, nhưng lời văn điêu trác, hay dùng điển cố, cho nên chỉ được các hạng thượng lưu trí thức thưởng lãm, mà không phổ cập trong dân gian. Duy Truyện Kiều văn chương đủ tính nghiêm trang, đường hoàng, điêu luyện, đủ khiến cho kẻ học thức phải khâm phục và yêu mến, mà lại đủ cả tính giản dị, phổ thông để khiến cho bình dân hiểu được mà thưởng thức.
            TRẦN TRỌNG KIM: Trong cuốn “Truyện Thúy Kiều” do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo xuất bản năm 1925, học giả Trần Trọng Kim viết: “Nguyễn Du khéo dùng lối hoạt họa, chọn cái hình dáng nào rõ thật nổi, rồi tìm một vài chữ thật đúng mà tả ra, hễ đọc qua là nhận ngay được chân tướng:

            Kim Trọng:
                        Phong tư tài mạo tuyệt vời
                        Vào trong phong nhã, ra ngoài hào hoa


            Mã Giám Sinh:
                        Quá niên trạc ngoại tứ tuần
                        Mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao


            Tú Bà:
                        Thoắt trông nhờn nhợt màu da
                        Ăn gì cao lớn đẫy đà làm sao


            Sở Khanh:
                        Một chàng vừa trạc thanh xuân
                        Hình dong chải chuốt, áo khăn dịu dàng


            Từ Hải:
                        Râu hùm hàm én mày ngài
                        Vai năm tấc rộng thân mười thước cao
”.

            HOÀI THANH: Theo bài viết “Quyền Sống Của Con Người Trong Truyện Kiều” của nhà phê bình Hoài Thanh năm 1949, nếu nói về mức độ say Truyện Kiều thì không ai bằng ông nghè Chu Mạnh Trinh (một con người hào hoa phong nhã kiểu Kim Trọng). Ông nghè lãng mạn này không phải chỉ say văn chương Truyện Kiều mà lại còn say luôn cả nàng Kiều như say một giai nhân có thực, đến nỗi đã nói đến những chuyện si tình như thêu tên Kiều vào tay áo, mơ tưởng dựng một ngôi nhà vàng cho Kiều ở, mượn cỏ thơm gọi hồn Kiều về, và thấy như Kiều về thật! Chuyện lạ đời này cũng có thể hiểu được, vì theo Hoài Thanh, “Nguyễn Du có thể dạy cho ta biết ghét, biết yêu. Ghét những cái bất lương trong xã hội. Yêu những cảnh sống đáng yêu và nhân đó tránh cuộc sống tẻ nhạt, hiu hắt, cuộc sống của cỏ cây… Những cử chỉ uể oải, những câu nói thiếu lòng tin, những cái nhìn hời hợt, những tâm tư mệt nhọc hình như đương chờ đợi một cơn gió nào… Truyện Kiều ngay giờ đây vẫn còn khả năng cải tử hoàn sinh, vẫn có thể gieo chất nồng say vào cuộc sống…”




            NGUYỄN LỘC: Trong cuốn sách “Văn Học Việt Nam Nửa Cuối Thế Kỷ 18” xuất bản năm 1997 tại Hà Nội, nhà biên khảo Nguyễn Lộc có những nhận xét tinh tế về cách sử dụng ca dao, tục ngữ trong Truyện Kiều, mà bút giả xin tóm lược trong những đoạn dưới đây.
            Có thể nói trong Truyện Kiều có hàng mấy chục câu thơ Nguyễn Du trực tiếp rút ra từ ca dao. Rất có thể hai câu:

                        Vầng trăng ai xẻ làm đôi
                        Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường


là rút ra từ câu ca dao:

                        Tiễn đưa một chén rượu nồng
                        Vầng trăng xẻ nửa tơ lòng đứt đôi


            Ca dao trong Truyện Kiều được Nguyễn Du sử dụng như một thứ chất liệu nghệ thuật, chứ không như những trích dẫn. Không có câu nào Nguyễn Du dùng lại nguyên vẹn, mà tất cả đều nhào nặn lại cho phù hợp với phong cách chung của nhà thơ trong tác phẩm. Truyện Kiều có những câu thơ không thấy dấu vết cụ thể của ca dao, mà ai cũng nhận ra ảnh hưởng của ca dao, như:

                        Xót thay huyên cỗi xuân già
                        Tấm lòng thương nhớ biết là có nguôi
                        Chốc đà mười mấy năm trời
                        Còn ra khi đã da mồi tóc sương


            Nguyễn Du cũng dùng rất nhiều tục ngữ, như:

                        Ra tuồng mèo mả gà đồng
                        Ra tuồng lúng túng chẳng xong bề nào


            hoặc:

                        Bề ngoài thơn thớt nói cười
                        Mà trong nham hiểm giết người không dao


            Ngôn ngữ Truyện Kiều vừa súc tích chính xác, đồng thời lại vừa giàu hình ảnh, giàu nhạc điệu. Nguyễn Du có thể bằng một vài câu thơ khắc họa lên sắc nét chân dung ngoại hình của một nhân vật, hay miêu tả một biến cố, một cảnh ngộ. Một học trò giỏi đi thi bị rớt có thể tự an ủi bằng cách lẩy hai câu thơ súc tích, hợp tình hợp cảnh của Truyện Kiều:

                        Có tài mà cậy chi tài
                        Chữ tài liền với chữ tai một vần


            Tả một chàng đẹp trai hào hoa phong nhã thì ta có thể mượn ngay hai câu Nguyễn Du tả Kim Trọng:

                        Phong tư tài mạo tuyệt vời
                        Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa


            Hai câu:

                        Gìn vàng giữ ngọc cho hay
                        Cho đành lòng kẻ chân mây cuối trời


thực tuyệt đẹp và chí tình để một chàng trai thiết tha căn dặn người yêu khi giã từ. Và khi giấc mơ ấp ủ từ lâu nay mới thành sự thực, ta vội kêu lên:

                        Đến bây giờ mới thấy đây
                        Mà lòng đã chắc những ngày một hai


            Qua những nhận định kể trên của các văn nhân lỗi lạc ngoại quốc và Việt Nam về tuyệt tác phẩm Truyện Kiều thì thiên tài Nguyễn Du đã chứng minh một cách hùng hồn rằng tiếng Việt là một ngôn ngữ tuyệt vời cho thi ca. Còn đợi chờ gì nữa mà chúng ta không sốt sắng đọc lại Truyện Kiều để càng yêu thêm tiếng Việt của chúng ta?


ĐÀM TRUNG PHÁP
Tháng 9/2016


https://www.diendantheky.net/2016/09/am-trung-phap-oc-lai-truyen-kieu-yeu.html#more

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #189 vào: 07/05/2019, 10:12:14 »
Đi tìm 100 truyện ngắn hay nhất?

Không một ai có thể lập được một danh sách 100 truyện ngắn hay, nhất là 100 truyện ngắn Việt Nam. Song, nếu một người không làm được, tôi tin nhiều người có thể làm được.

Bìa các tuyển tập truyện ngắn

CÂU HỎI trên không phải mới đây có người đặt ra, mà từ hồi 20 năm văn học miền Nam Việt Nam (1954-1975), đã có người đặt ra rồi. Có một cách để trả lời gần với sự thật nhất là hãy kiểm điểm những tuyển tập truyện ngắn từ trước đến nay.
            Nhìn tổng lược, rồi chọn lọc lại một lần nữa, ta sẽ có một danh sách chọn lọc của các cuộc chọn lọc.
            Trước hết hãy đi từ xa tới gần.

– 1962, “Hai Mươi Nhà Văn Hai Mươi Truyện Ngắn” nhà xuất bản Phù Sa.
            Đây là tuyển tập truyện ngắn sớm nhất tại miền Nam, hình thành chỉ mới bảy năm sau ngày 20 Tháng Bảy, 1954. Chỉ mới bảy năm sau chia cắt đất nước người ta đã xuất bản được một tuyển tập gần 300 trang. Nhóm thực hiện phải là những người có sẵn cơ sở, và đã hoạt động từ trước với những liên hệ báo chí hay sinh hoạt chữ nghĩa khác.
            Phù Sa như người ta biết là nhóm nhà văn miền Nam, mà người trẻ nhất và hoạt động mạnh là nhà văn Ngọc Linh. Nhóm Ngọc Linh còn có người chủ trương một tờ tuần báo nổi tiếng, là tờ Nhân Loại.
            Các tác giả có truyện đóng góp trong tuyển tập này là Bình Nguyên Lộc, Cao Hữu Huấn, Kiêm Minh, Lê Vĩnh Hòa, Lưu Nghi, Sơn Nam, Thanh Nam, Trang Thế Hy, Tiêu Kim Thủy, Tuyết Hương… Họ cũng mời tham dự một số nhà văn khác cho đủ ba miền như Vĩnh Lộc, Võ Phiến, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Mặc Đỗ. Nơi liên lạc của nhà xuất bản Phù Sa là nhà sách Việt Hương tại đường Lê Lợi, Sài Gòn.
            Những truyện ngắn điển hình là “Con Muỗi” của Mặc Đỗ, “Tư” của Thanh Tâm Tuyền.

– 1963, “Tuyển Tập Truyện Ngắn Việt Nam”, nhà xuất bản Văn Hữu Á Châu.
            Một năm sau tuyển tập truyện ngắn thứ hai xuất hiện, lại chỉ có 12 tác giả và 12 truyện, lại dùng sáng tác của vài nhà văn tiền chiến như Nguyễn Tuân, Khái Hưng, Nam Cao. Sự có mặt của những người này cho thấy ban tuyển chọn có một tham vọng nhiều tính toán hơn là văn nghệ, và nhất là những Nam Cao, Khái Hưng không còn nữa. Có ba truyện ngắn mang điển hình khả dĩ là “Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều” của Doãn Quốc Sỹ, “Truyện Một Người Đòi Trả Nợ Cho Dân Tộc” của Nguyễn Mạnh Côn và “Ả Hẩu” của Đỗ Tốn.

– “Tuyển Truyện 12 Tác Giả”, nhà xuất bản Hoàng Đông Phương (Nguyễn Thị Hoàng). Không rõ năm, nhiều tác giả không phải là nhà văn mà là họa sĩ hay nhà viết tham luận tùy bút.

– 1969, “Tuyển Tập Truyện Ngắn Tiền Chiến” của Hoa Tiên Sài Gòn xuất bản. Chỉ có hai ba người lúc ấy ở miền Nam và thỉnh thoảng có sáng tác là Phan Du, Nguyễn Văn Xuân. Chỉ nên lưu ý hai tác giả này.

– “Tuyển Tập Truyện Tình”, báo Văn xuất bản.

– “Tuyển Tập Truyện Thời Chiến”, báo Văn xuất bản.

– “Tuyển Truyện Sáng Tạo”, Mai Thảo xuất bản.

– 1973, “Những Truyện Ngắn Hay Nhất của Quê Hương Chúng Ta” Sóng (Nguyễn Đông Ngạc xuất bản). Dày 790 trang, 45 nhà văn 45 truyện ngắn. Đây là tác phẩm công phu nhất, trong số vừa kể.

            Cộng lại các truyện ngắn từ những cuốn trên, ta có trên 100 truyện ngắn. Chúng tôi rất tiếc không có “Tuyển Tập Truyện Tình”, “Tuyển Tập Truyện Thời Chiến” do báo Văn xuất bản, và “Tuyển Truyện Sáng Tạo”, cả ba cuốn này gồm khoảng 30 truyện mà thôi.
            Người viết bài này chỉ đưa ra gợi ý, mà như đã nói, chỉ một người không thể làm nổi “Tuyển Tập Những Truyện Ngắn Việt Nam Hay Nhất”. Sự lựa chọn cũng cần một phối hợp các quan điểm, không thể là một quan điểm duy nhất.
            Dưới đây là những quan điểm khác nhau của một số tác giả khi bàn về truyện ngắn. Xin dùng để gợi ý:

Nhà văn Mặc Đỗ:
             “Hồi mới tập viết văn tôi được khuyên nên bắt đầu tập viết truyện ngắn vì truyện ngắn đòi hỏi công phu gạn lọc rất lợi cho sự tập tành.
             “Sau nay đã tập tành nhiều tôi nhận thấy lời khuyên đó đúng, giống như những người con khi đã trở thành cha mẹ hiểu tâm trạng của cha mẹ mình khi ngày xưa mắng con “rát cổ bỏng họng”.
             “Bây giờ tôi nghĩ thêm rằng khởi sự tập viết truyện ngắn, tới khi viết nhiều, quen với thể truyện dài, thường quay về tập tành lại với truyện ngắn có cái thú ghê lắm. Truyện ngắn viết theo lối bây giờ lại càng khó hơn nữa, khó vì thoạt nhìn tưởng rằng dễ.
             “Nói chung về chuyện viết, lúc nào tôi cũng nghĩ rằng kỹ thuật là vấn đề quan trọng. Không có tư tưởng hay không muốn gởi gấm một tư tưởng gì tất nhiên không có sự cần thiết phải viết…”


Nhà văn Sơn Nam:
             “Độc giả ít khi nào chịu theo dõi một truyện ngắn mà năm mười hàng đầu không có gì hấp dẫn. Truyện ngắn muốn có tác dụng phải chứa đựng một triết lý, triết lý to hay triết lý vụn. Có chút ít triết lý, độc giả mới nhớ tới truyện ngắn. Nhưng không khéo lại trở thành cái bịnh triết lý ba xu.
             “Nhập đề truyện ngắn đã khó, kết luận lại càng khó hơn, vì tác giả chỉ kết thúc truyện ngắn với đôi ba hàng chữ, hoặc không có hàng chữ nào cả”
.

Nhà văn Mai Thảo:
             “Truyện dài là ý thức của sáng tác. Truyện ngắn là tình cảm của sáng tác… Không đúng hẳn. Nhưng gần như thế. Bằng trường hợp riêng của mình suy nghĩ ra, tôi tìm thấy tại sao truyện ngắn là thể thịnh hành nhất sáng tác chúng ta hiện nay… Trong truyện ngắn người viết không cần thiết phải biểu hiện nhận thức toàn vẹn và cuối cùng của mình trước toàn thể. Cho nên có những đối tượng sáng tác chỉ tới được truyện ngắn, không đủ cho truyện dài. Điều tôi muốn nói: truyện ngắn là một thể hiện không điều kiện. Anh muốn viết gì được tất”.

Nhà văn Võ Phiến:
             “Có người nói chuyện (Võ Phiến dùng “ch”) ngắn khuôn khổ chật hẹp, khó xoay trở, lại dễ lộ nhũng tì vết nhỏ nhặt, thành ra người viết phải mất nhiều công phu ý tứ. Nhưng mỗi loại có những đòi hỏi riêng về kỹ thuật, đã sử dụng nó thì hãy chịu khó thỏa mãn, hơi đâu than van. Điều đáng phàn nàn là cho dù toàn hảo đi nữa, một truyện ngắn cũng có vẻ xinh xắn, nhỏ nhắn, có vẻ “tác phẩm mỹ thuật” quá; nó để lộ bàn tay trau chuốt, và nhất là thường để lộ cái dụng ý của người sáng tác. Trong khi ấy thì cuộc sống lại mênh mông, lại hỗn tạp, không sắp đặt, cuộc sống lại không hề có dụng ý”.


VIÊN LINH
Tháng 6/2017


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/di-tim-100-truyen-ngan-hay-nhat/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #190 vào: 11/05/2019, 17:21:15 »
50 năm huyền thoại máy bay siêu thanh Concorde

Ngày 02/03/1969, cách nay tròn 50 năm, máy bay siêu thanh Concorde bay thử nghiệm chuyến đầu tiên, cất cánh từ sân bay Toulouse-Blagnac, Pháp, sang Rio de Janeiro, Brazil, với một chặng nghỉ ở Dakar. “Chim trắng” Concorde bước vào lịch sử ngành hàng không dân dụng như một máy bay khác thường, độc nhất vô nhị, “chiếc máy bay của mọi kỷ lục”, đánh dấu cuộc phiêu lưu mới của nhân loại.

Máy bay Concorde của hãng British Airways
cất cánh từ Luân Đôn, Anh Quốc trong chuyến bay cuối cùng, ngày 26/11/2003

DÀI 62,10m, CAO 12,19m, với chiều rộng sải cánh 25,25m, Concorde là máy bay siêu thanh dân dụng đầu tiên trên thế giới, là thành quả của chương trình hợp tác giữa Pháp và Anh. Về phía Pháp, công ty phát triển Concorde là Sud-Aviation, sau này đổi tên thành Aérospatiale, EADS và cuối cùng thành tập đoàn Airbus vào năm 2014. Concorde có nghĩa là sự hòa hợp, nhằm đề cao tinh thần hòa hợp của hai nước láng giềng. Concorde sở hữu nhiều nét hoàn toàn mới lạ so với các máy bay dân dụng truyền thống, chẳng hạn cánh máy bay hình tam giác, chiếc mũi nhọn có thể hạ thấp xuống khi máy bay hạ cánh.
            Trong phóng sự ngày 04/03/2019 của báo Le Figaro, bà Catherine Maurouny, giám đốc Bảo tàng Hàng không và Không gian Le Bourget, ngoại ô Paris, người từng có may mắn trải nghiệm một chuyến bay với “chim trắng” Concorde, nhận xét: “Tôi tin đó là có một điều hoàn toàn mới mẻ và khác thường đã diễn ra trong thế giới hàng không. Hầu như là ở mức ngang bằng với việc con người đặt chân lên mặt trăng. (…) Thật là khác thường, và gần như là phi lý. Cuộc phiêu lưu đó của con người đã mang lại rất nhiều điều!”

“Chim trắng” bay nhanh hơn tốc độ âm thanh
            Có điều đáng lưu ý là trong chuyến bay đầu tiên ngày 02/03/1969, Concorde chưa đạt tốc độ âm thanh (1.224 km/h). Tốc độ này chỉ đạt được trong chuyến bay thử nghiệm thứ 45 vào ngày 01/10/1969. Một năm sau đó, vào ngày 04/11/1970, sau 102 chuyến bay thử nghiệm, Concorde mới đạt tốc độ Mach 2,02, tức là nhanh gấp đôi tốc độ âm thanh, trong vòng một giờ. Chỉ khi máy bay lướt qua rồi, người ta mới nghe thấy âm thanh. Vận tốc cao nhất của Concorde là gần 2.500 km/h, ở độ cao từ 16.000-18.000m. Concorde như vậy cũng bay cao hơn gấp đôi so với các loại máy bay thông thường.
            Trên đài France 3, ngày 02/03/2019, ông Daniel Costes, một cựu phi công lái máy bay Concorde hồi tưởng: ”Vào lúc máy bay cất cánh, vận tốc cao khác thường so với một chiếc máy bay thông thường. Nếu mọi chuyện diễn ra bình thường, việc điều khiển máy bay khá dễ dàng. Được lái máy bay Concorde là điều tuyệt vời!”
            Còn hành khách cảm nhận thế nào về tốc độ Mach 2,02? Giám đốc Bảo tàng Hàng không và Không gian Le Bourget giải thích: ”Concorde bay nhanh gấp hai lần vận tốc âm thanh nhưng ở bên trong máy bay, không gian nhỏ, chứ không lớn lắm. Đúng là hành khách thấy có ghi là Mach, nhưng không cảm nhận thấy có sự khác biệt gì. Hành khách bay trên cao hơn mọi máy bay khác, nhanh hơn mọi máy bay khác, hành khách biết là như vậy nhưng trên thực tế, họ không hề cảm thấy có sự khác biệt. Đó chính là điều tuyệt vời.”
            Với máy bay Concorde, hành khách chỉ mất 3 giờ 30 phút cho hành trình Paris-New York, thay vì hơn 7 tiếng như với máy bay truyền thống. Vì lệch giờ, thời gian bay lại ngắn nên khi máy bay hạ cánh ở New York, đồng hồ vẫn chỉ giờ sớm hơn so với giờ máy bay cất cánh ở Paris. Vì thế, người ta còn gọi đó là chuyến bay “thách thức mặt trời”. Kỷ lục là vào dịp Giáng Sinh năm 1989, hành trình Paris-New York trên “chim trắng” Concorde chỉ mất 2 giờ 59 phút và 40 giây.
            Ông Jean-François Louis, từng là hành khách trên máy bay Concorde thích thú nhớ lại: “Khi nghiêng người và nhìn qua cửa sổ máy bay, chúng tôi nhìn thấy hình tròn của Trái đất. Đây không phải là phi tuyền con thoi, nhưng cũng không khác nhiều lắm. Concorde là máy bay duy nhất cho hành khách một trải nghiệm khác thường như vậy.”

Chuyến bay trong mơ
            Nhiều người gọi chuyến bay trên “chim trắng” Concorde tuyệt đẹp là “chuyến bay trong mơ”. Đương nhiên, giá vé để “được bay như trong mơ” không hề rẻ. Trung bình, để mua vé khứ hồi Paris-New York, hành khách phải chi khoản tiền tương đương 8.100 euro. Với giá “trên trời” như vậy, khách hàng đương nhiên được hưởng những dịch vụ cao cấp, uống rượu sâm banh hảo hạng. Món ăn xa xỉ trứng cá muối caviar thì lúc nào cũng có, luôn luôn là như vậy trên máy bay Concorde.
            Vậy hành khách đi máy bay siêu thanh Concorde, họ là ai? Giám đốc Bảo tàng Hàng không và Không gian Le Bourget nhớ lại: “Vào thời đó, trên máy bay Concorde, hành khách thực ra chỉ là những người thuộc giới tinh hoa, bởi vì vé máy bay quá đắt. (…) Concorde có chất lượng phi thường, nhưng cũng có một số điểm hạn chế, chẳng hạn giá vé quá cao”
            Bà Caroline Cadier, từng là tiếp viên rồi tiếp viên trưởng trên các chuyến bay bằng máy bay Concorde. Đối với bà, đó là một vinh dự, một đặc quyền. Bà tự hào: “Đó là đặc quyền được tiếp đón những nhân vật nổi tiếng trên thế giới. Họ là các hoàng tử, ngôi sao, chẳng hạn Paul Newman. Nếu quý vị được bắt gặp ánh nhìn từ đôi mắt xanh của Paul Newman, quý vị sẽ không thể quên được. Ông ấy có đôi mắt màu xanh như màu trời, những hôm trời rất đẹp.”

Giấc mơ lụi tàn
            31 năm sau chuyến bay đầu tiên, vào ngày 25/07/2000, Concorde gặp tai nạn kinh hoàng ở Gonesse, ngoại ô Paris. Máy bay bốc cháy chỉ chưa đầy 2 phút sau khi cất cánh từ sân bay Roissy để bay sang New York. Theo các cuộc điều tra kỹ thuật và tư pháp, tai nạn xảy ra vì một mảnh titan nhỏ rơi xuống đường băng từ phi cơ DC.10 của hãng hàng không Continental cất cánh trước Concorde.
            Chuyến bay định mệnh khiến 113 người thiệt mạng đã báo hiệu giấc mơ Concorde sắp lụi tàn. Vào năm 2003, hãng Air France ngừng khai thác Concorde vào ngày 31/03, hãng British Airway cũng ngưng các chuyến bay Concorde vào tháng 11. Concorde ngừng tung cánh trên bầu trời sau 5.500 chuyến bay.
            Công bằng mà nói, vụ tai nạn thảm khốc nói trên chỉ là “giọt nước làm tràn ly”  khiến giấc mơ Concorde lụi tàn. Trên thực tế, trong suốt 27 năm được khai thác thương mại, không như nhiều người nghĩ, máy bay siêu thanh Concorde không hề mang lại lợi nhuận cho nước Pháp. Paris chấp nhận bù lỗ để duy trì các chuyến bay Concorde chỉ vì uy tín và niềm tự hào công nghệ.

Nguyên nhân thất bại
            Concorde thất bại vì nhiều lý do: máy bay “ngốn” rất, rất nhiều nhiên liệu. Có thể nói, Concorde là loại máy bay tiêu thụ nhiều nhiên liệu nhất. Vì tốn nhiều nhiên liệu nên mỗi chuyến bay của Concorde chỉ kéo dài tối đa 4 tiếng đồng hồ, đạt khoảng 6.000 km. Điểm hạn chế khác là công tác bảo dưỡng máy bay cũng rất phức tạp, đòi hỏi nhiều nhân lực và chi phí. Mỗi lần bảo dưỡng Concorde cần tới 120 kỹ thuật viên, trong khi một chiếc Boing 777 chỉ cần khoảng mười nhân viên bảo dưỡng.
            Ngoài ra, Concorde còn bị chỉ trích là gây quá nhiều tiếng ồn. Máy bay cất cánh tạo ra tiếng ồn lên tới mức 119,5 décibel, so với mức 88 décibel của máy bay A 380. Chuyến bay thương mại đầu tiên của Concorde là từ Paris qua Rio de Janeiro, Brazil ngày 21/01/1976. Còn Mỹ, viện lý do Concorde gây quá nhiều tiếng ồn, Mỹ ra lệnh cấm Concorde hạ cánh tại sân bay New York. Chính điều này đã khiến nhiều hãng hàng không không mặn mà với Concorde.
            Trong khi chờ đợi lệnh cấm trên được dỡ bỏ, hãng hàng không Pháp Air France chỉ khai thác Concorde cho chuyến bay sang Rio de Janeiro-Brazil và Caracas-Venezuela, còn hãng British Airway của Anh có chuyến bay hàng ngày sang Bahrein. Phải đến cuối năm 1977, Mỹ mới dỡ bỏ lệnh cấm máy bay Concorde.
            Tuy nhiên, Concorde thất bại phần nhiều cũng do cuộc khủng hoảng dầu lửa 1973. Trong quá trình thử nghiệm, nhà sản xuất đã nhận được 60-70 đơn đặt hàng từ nhiều nước. Người ta từng nghĩ rằng Concorde sẽ bán rất chạy. Thế nhưng, khủng hoảng nổ ra, đa số các đơn đặt hàng bị hủy.
            Hướng dẫn viên Jean-Xavier Naillet ở bảo tàng Aéroscopia tại Toulouse-Blagnac giải thích chi tiết: “Nhiều hãng hàng không đã đặt mua máy bay Concorde sau này đều phá sản (…) do giá dầu tăng quá cao. Chính vì thế mà vào các năm 1972, 1973, tất cả các đơn đặt hàng Concorde đều lần lượt bị hủy. Đến cuối năm 1973, đầu năm 1974, nhà sản xuất chỉ bán được tổng cộng 14 chiếc: 7 máy bay cho hãng British Airways, bảy chiếc cho hãng Air France. Đây cũng là hai hãng hàng không của hai nước chế tạo Concorde: Pháp và Anh.”
            Vậy sau khi ngừng khai thác, số phận của Concorde ra sao? Giám đốc Bảo tàng Hàng không và Không gian Bourget giải thích: “Có nhiều máy bay được trưng bày trong các bảo tàng. Ở đây chúng tôi có hai máy bay Concorde. Có hai chiếc trong bảo tàng ở Toulouse, một chiếc ở sân bay Roissy. Các bảo tàng ở Mỹ cũng có, chẳng hạn ở bảo tàng Washington. Concorde cũng được trưng bày ở Anh Quốc. Quý vị biết đấy, người Anh cũng có đam mê như chúng ta. Rõ ràng là, cũng như Pháp, Anh Quốc là một trong hai “đấng sinh thành” ra máy bay Concorde. Một số máy bay đã bị tháo dỡ. Một chiếc Concorde bị tháo rời ở sân bay Roissy. Ở nhiều nơi khác nữa, ở New York, Washington cũng có thể có.”
            Cho dù Concorde đã ngừng bay cách nay 16 năm, nhưng cho tới giờ, 50 năm sau chuyến bay đầu tiên năm 1969, Concorde vẫn còn được nhắc tới với lòng ngưỡng mộ. Bà Catherine Maurouny, giám đốc Bảo tàng Hàng không và Không gian Le Bourget tự hào: “Đó là loại máy bay độc nhất vô nhị trong lịch sử ngành hàng không, với bước phát triển đột phá về công nghệ, với vẻ đẹp đặc biệt… Concorde đã để lại một hình ảnh không thể thay thế.” Điều đáng tiếc nhất là đỉnh cao công nghệ đã thất bại về mặt kinh tế!


THÙY DƯƠNG
Tháng 3/2019


http://vi.rfi.fr/phap/20190403-50-nam-huyen-thoai-may-bay-sieu-thanh-concorde

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #191 vào: 16/05/2019, 10:12:15 »
Phúc đức tại mẫu

Ngày còn bé con cứ thắc mắc, tại sao trên đất nước này cái gì cũng mang dấu ấn sự tôn vinh người Mẹ. Dòng sông lớn nhất ở phía Bắc đất nước ta quen gọi sông Hồng cũng còn có tên khác là sông Cái. Con đường nào lớn gọi là “đường cái.” Thứ tiếng ta nói hàng ngày cũng gọi là tiếng “Mẹ đẻ”.


TỔ QUỐC thiêng liêng cũng được gọi với giọng tha thiết là “đất Mẹ”. Trên dải đất nhỏ hẹp mang hình chữ S ấy đâu đâu cũng có những đền thờ Mẫu. Bài học đầu tiên con trẻ được học cũng là từ trường mẫu giáo và do các cô bảo mẫu truyền dạy. Đến cái đũa lớn nhất để xới cơm ở quê mình cũng gọi là “đũa cái”, “đũa cả”.

NHỚ LỜI MẸ DẶN: Mẹ không được học chữ, vậy mà khi con học xa nhà, có một lần mẹ đã cố gắng viết cho con mấy dòng ngắn ngủi, nét chữ run rẩy và to như trẻ con học mẫu giáo tập viết. Mẹ viết: “Mẹ ít học hơn con nên mẹ tin con hiểu đời nhiều hơn mẹ. Mẹ chỉ muốn dặn con một điều rằng con đi xa hãy nhớ: Ăn một miếng của người con tạc ân vào dạ; Học một chữ ở đời con xem nặng nhẹ bao nhiêu”.
            Lời dặn của mẹ đã làm con khóc. Và con tâm niệm điều đó suốt cả cuộc đời và nó đã trở thành lẽ sống của con.
            Hôm con phỏng vấn xin việc vào công ty của Nhật cùng với ba chục người khác. Con không giỏi vi tính và ngoại ngữ như họ, song người được lựa chọn lại là con. Mẹ có biết họ hỏi con câu gì không? Họ hỏi con câu nói nào và của ai gây ấn tượng và có tác động mạnh đến cuộc sống của con, con đã nói lại lời mẹ dặn.
            Họ bảo: “Vi tính và ngoại ngữ cần, nhưng bạn có thể học trong vài tháng. Chúng tôi cần hợp tác với một người nặng lòng biết ơn và biết chắt lọc trong học hỏi.” Mẹ ơi, chính mẹ đã để phúc đức cho con!

NHỮNG LÁ THƯ CŨ: Con và chồng con có xích mích lớn vì con nghi anh ấy vẫn gặp gỡ với người bạn gái cũ. Con bực mình bỏ nhà chồng về khóc lóc với mẹ. Tối ấy mẹ mang từ trong chiếc hòm cũ ra một tập thư đã ố vàng. Đó là những lá thư của người yêu cũ gửi cho bố con trước đây.
            Mẹ bảo khi bố quyết định lấy mẹ, bố định đem hết đám thư và ảnh của người yêu cũ ra đốt đi để chứng minh sự “một lòng một dạ với mẹ”. Mẹ đã ngăn lại và bảo: “Thư anh đốt mà lòng anh còn nhớ cũng chẳng ích gì. Hãy cứ để em giữ lại làm kỉ niệm. Thỉnh thoảng anh đọc lại cũng thấy vui. Dù sao đấy cũng là những kỉ niệm gắn bó với anh một thời, sao lại cạn tàu ráo máng như vậy”. Bố sững sờ và ôm chầm lấy mẹ cảm động lắm. Thỉnh thoảng bố mẹ còn đọc lại những lá thư ấy, nhưng bố cả đời thủy chung với mẹ.
            Hôm ấy con đã khóc thật nhiều và con tự tìm về nhà làm lành với chồng. Mẹ nói ít nhưng mẹ dạy nhiều. Chính mẹ đã lấy lại cho con hạnh phúc!

HAI VÙNG SÁNG TỐI: Khi em trai con đưa người yêu về ra mắt, con không ưng ý lắm. Mẹ im lặng không nói gì. Sau hôm gặp mẹ cô ấy, mẹ nhận xét: Mẹ cô ấy hiền hậu, phúc đức lắm. Người mẹ như thế chắc chắn cô con gái sẽ là đứa con ngoan, dâu hiền.
            Mẹ đã không lầm. Hôm mẹ chồng tương lai của con sang chơi với mẹ, cụ cũng nhận xét về con y như thế. Hóa ra nhiều người nhìn nết mẹ mà đoán tính cách của con.
            Năm trước con đọc báo thấy có chuyện một cô gái đang tâm đẩy con chồng xuống sông Hồng. Một thời gian sau thấy có bà dì ghẻ bắt con chồng tự khâu miệng mình lại. Con nhận xét rằng phụ nữ nhiều người ác quá. Mẹ lại bảo “phúc đức tại mẫu, những người như thế rồi lại ác giả ác báo thôi”.
            Mẹ nói với con rằng những người ác chỉ là số ít, đừng vì thế mà vơ đũa cả nắm. Mẹ chỉ cho con thấy bao nhiêu người mẹ đã hy sinh hết lòng vì con, không ít người phụ nữ đã nhận nuôi hàng mấy chục trẻ mồ côi mặc dù bản thân mình còn khó khăn, vất vả. Trong đời có hai vùng sáng tối, mẹ bảo con nhìn ánh sáng mà đi!

BÀI HỌC LÀM GƯƠNG: Thấy con phàn nàn về sự chểnh mảng học tập của các cháu, mẹ bảo: “Con nhắc các cháu đi học bài, mà vợ chồng con cứ ngồi xem vô tuyến. Con chê các cháu lười học tiếng Anh mà bản thân con là cán bộ cũng không thông tỏ ngoại ngữ thì dạy bảo chúng nó thế nào?”
            Ngẫm kĩ lời mẹ nói, con đã quyết định đi học lớp tiếng Anh buổi tối cùng cháu. Tối về mẹ con trao đổi bài rôm rả. Đúng như mẹ nói, khi thấy cả bố và mẹ đều miệt mài làm việc, các cháu cũng tự động lấy sách ra làm bài.
            Đến nay chúng con rất yên tâm về việc học hành của các cháu. Sao có mỗi bài học đơn giản rằng “muốn con chăm thì mẹ phải siêng, muốn con hiền thì mẹ phải thảo” mà con không nhớ, phải để mẹ nhắc nhở!
            Mẹ nghèo không có tiền bạc cho con, nhưng mẹ đã cho con hiểu giá trị của sự tần tảo, lòng bao dung, đức hy sinh. Mẹ không đi học, nhưng mẹ dạy con biết sống đúng mực, trọng ân tình.
            Cuộc đời con lúc nào cũng có mẹ ở bên. Con có cuộc sống hạnh phúc hôm nay là do bàn tay mẹ tạo dựng. Đến bây giờ con đã hiểu rằng công sinh thành dưỡng dục do cả mẹ cả cha chung sức, nhưng không phải vô tình người ta mới chỉ phong danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” và trong nhạc, trong thơ, nơi đâu cũng thấy vang lên những “Huyền Thoại Mẹ”, “Tình mẹ”, “Lòng mẹ”…


ĐINH THỦY
Tháng 6/2017


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/qv-phuc-duc-tai-mau/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #192 vào: 21/05/2019, 17:20:05 »
Thanh Thúy, hiện tượng khó giải thích

Ngay từ thời đầu của nền Đệ Nhất Cộng Hòa miền Nam Việt Nam, trước sự phát triển đồng đều tất cả mọi bộ môn văn học, nghệ thuật, chỉ trong một thời gian rất ngắn, khiến hôm nay nhìn lại, nhiều người còn ngạc nhiên. Người ta ghi nhận được sự thăng hoa từ lãnh vực thi ca qua tới hội họa, kịch nghệ, điện ảnh và, nhất là ở lãnh vực trình diễn âm nhạc.

Nữ danh ca Thanh Thúy. (Hình: thanhthuy.me)

Ở LÃNH VỰC NÀY, cuối thập niên 1950 đã mang đến cho giới thưởng ngoạn nhiều tiếng hát lẫy lừng, như những vì sao rực rỡ trong bầu trời tân nhạc. Đó là thời gian lên ngôi hay đăng quang của những tiếng hát nữ; như Thái Thanh, Bích Chiêu, Hà Thanh, Kim Tước, Mai Hương, Quỳnh Giao, Lệ Thanh, Bạch Yến, Lệ Thu… Rồi tới lớp trẻ hơn một chút, người ta thấy có Thanh Lan, Giao Linh, Phương Hồng Quế, Khánh Ly…
            Nhưng có dễ không có một sự xuất hiện nào, như sự có mặt của tiếng hát Thanh Thúy, một sớm, một chiều, đã được ghi nhận là một hiện tượng khó giải thích: Cô được nhiều nhạc sĩ tên tuổi như Trúc Phương, Trịnh Công Sơn sáng tác những ca khúc nổi tiếng dành tặng, hay ngợi ca tiếng hát cũng như con người của cô. Điển hình là các ca khúc “Ướt Mi”, “Thương Một Người” của Trịnh Công Sơn; hoặc “Nửa Đêm Ngoài Phố”, “Phố Đêm”… của Trúc Phương.
            Tài tử Nguyễn Long cũng đã thực hiện nguyên một cuốn phim về cô, tựa đề “Thúy Đã Đi Rồi”, khi người nữ danh ca không đáp ứng tình yêu cuồng nhiệt của ông. Nguyễn Long cũng là tác giả bài “Thôi” do Y Vân phổ nhạc.
            Không chỉ có thế! Cùng lúc dư luận cũng ghi nhận sự ngợi ca của Giáo sư Nguyễn Văn Trung, đại học Văn Khoa Sài Gòn, trước 1975, và thi sĩ Nguyên Sa (cũng từng là giáo sư đại học Văn Khoa) dành cho Thanh Thúy sau thời điểm 30 Tháng Tư, 1975, ở hải ngoại.
            Rất nhiều người vẫn còn nhớ bốn câu thơ tuyệt tác của nhà thơ Hoàng Trúc Ly, viết tặng Thanh Thúy, ngay khi cô vừa trở thành người của quần chúng:

                       “Từ em tiếng hát lên trời
                        Tay xao dòng tóc tay vời âm thanh
                        Sợi buồn chẻ xuống lòng anh
                        Lắng nghe da thịt tan thành hư vô”
(1)

            Tất nhiên, nhiều người cũng không quên một bài viết khá dài của nhà văn Mai Thảo, đăng trên tuần báo Kịch Ảnh hồi Tháng Tư, 1962, mệnh danh Thanh Thúy là “Tiếng hát không giờ”; bên cạnh “Tiếng hát liêu trai” của Giáo sư Nguyễn Văn Trung chọn đặt cho Thanh Thúy. Hay “Tiếng sầu ru khuya” của nhà văn Tuấn Huy cũng dành cho tiếng hát hiếm, quý ấy.


Ca sĩ Thanh Thúy khi còn trẻ. (Hình: thanhthuy.me)

            Để giải thích hiện tượng đặc biệt về một ca sĩ, ở lãnh vực nghệ thuật, tại sao lại được giới trí thức, văn nghệ sĩ thuộc lãnh vực văn học như thế khen ngợi, có người nhấn mạnh tới sự kiện: Vì, gia đình gặp khó khăn tài chánh, để nuôi mẹ và các em, Thanh Thúy phải xin đi hát từ năm 16 tuổi…
            Nhưng, đó không phải là trường hợp duy nhất; nếu người ta chưa quên, nữ danh ca Minh Hiếu từng bỏ Bình Long, lên Sài Gòn, khi mới 16 tuổi, với dự định đi học may vì hoàn cảnh gia đình cũng đang trong thời kỳ khó khăn. Bất đồ, cô được một người quen giới thiệu với nhạc sĩ Ngọc Chánh, khi đó là trưởng ban nhạc phòng trà Hồ Tắm Cộng Hòa, đường Lê Văn Duyệt, và được tác giả “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” nhận cho hát.
            Nhạc sĩ Ngọc Chánh kể, khởi đầu, Minh Hiếu chỉ biết có hai ca khúc là “Nỗi Lòng” của Nguyễn Văn Khánh và, “Gợi Giấc Mơ Xưa” của Lê Hoàng Long. Vậy mà cũng rất mau chóng, Minh Hiếu trở thành danh ca. Cuối cùng, cô còn trở thành phu nhân của một ông tướng trong QLVNCH.
            Ngoài ra, trong sinh hoạt trình diễn của hai mươi năm tân nhạc miền Nam, theo một số người trong giới, thì chúng ta cũng có khá nhiều nữ ca sĩ có chung một hoàn cảnh như Thanh Thúy hoặc Minh Hiếu…
            Tuy nhiên, các sự thật đó, không hề dẫn tới những vinh dự tương tự như những vinh dự mà nữ danh ca Thanh Thúy đã nhận được.
            Cũng có người nhấn mạnh tới yếu tố nữ ca sĩ Thanh Thúy đã có một nhân cách cũng hiếm, quý như tiếng hát của cô. Đó là sự kiện cô không bị mang tiếng hay vướng vào bất cứ một “scandal” lớn nhỏ nào, trong suốt thời gian đứng trên sân khấu, dưới ánh đèn chói lọi của danh vọng. Mặc dù cô được rất nhiều nhân vật tên tuổi, quyền thế, giàu có say mê, theo đuổi hằng đêm…
            Giải thích này theo tôi, cũng không có tính thuyết phục. Bởi vì tất cả những vòng nguyệt quế vinh quang, Thanh Thúy nhận được đều xảy ra ở thời gian Thanh Thúy mới khởi nghiệp. Mọi thứ chấm dứt sau khi Thanh Thúy lập gia đình với ông Ôn Văn Tài, khi ông này còn là một sĩ quan Không quân cấp nhỏ.
            Tôi trộm nghĩ sẽ rất khó cho ai có ý định giải mã một cách rốt ráo trường hợp ngoại lệ của tiếng hát này.
            Với một người như Giáo sư Nguyễn Văn Trung, khi viết về Thanh Thúy, ông cũng đã chọn một tựa đề với từ ẩn ý rất phiếm định là “Ảo ảnh Thanh Thúy/ Tiếng hát liêu trai”.(2) Nó đã sớm cho thấy, không thể có được một giải thích dứt khoát về việc tại sao tiếng hát đó lại nhận được quá nhiều ngợi ca, trong khi những tiếng hát nữ khác cũng tài hoa, chẳng những không kém, mà có phần còn trội hơn Thanh Thúy nữa.
            Giáo sư Nguyễn Văn Trung viết:
           “… Thường một ca sĩ ra hát, bao giờ cũng cố gắng làm sao cho người khác để ý đến mình, không những chỉ bằng sự hiện diện trước mặt họ mà còn bằng những cử động, những cái nhìn, nụ cười chiếu thẳng vào khán giả mong làm hài lòng khán giả như mời gọi, quyến rũ. Đứng trước máy vi âm, ca sĩ chú ý đến khán giả mong làm hài lòng khán giả bằng sự phô trương tất cả con người của mình. Trái lại Thanh Thúy ra hát, dĩ nhiên cũng là hát cho khán giả, nhưng làm ra vẻ không chú ý tới khán giả, không tự giới thiệu, đi đến với khán giả bằng cử chỉ nụ cười, cái nhìn Thanh Thúy e lệ, kín đáo, bước ra rụt rè như con cò, tiến đến gần máy vi âm mà không đưa mắt nhìn vào khán giả.
           “Lúc hát không làm một cử động nào, hai tay luôn nắm lấy cây sắt của máy vi âm, mắt nhìn xuống đất hoặc nhìn ngang, thỉnh thoảng mới nhìn lên liếc qua rất nhanh khán giả mà không cố ý nhìn một ai. Thanh Thúy không nhìn ai, để trở thành vật được nhìn của tất cả. Hình như đôi lúc Thanh Thúy lại nhắm mắt hay chỉ mở lim dim… Thái độ của Thanh Thúy là đi tới người khác không phải bằng cách cởi mở, đón tiếp, mời gọi với những cái nhìn, nụ cười cử chỉ mà bằng cách khép mình lại, thu mình vào bên trong không xét đến người khác đang nhìn mình. Thỉnh thoảng cô mỉm cười khi lời ý buồn cười, nhưng cũng như cười với mình thôi. Do đó, ra trình diễn mà lại như không muốn cho người xem thấy mình vì Thanh Thúy che giấu mặt đến quá nửa bằng mái tóc bỏ xõa… Hát xong một ca khúc, đi vào trong ngay, không đứng lại bên máy, bên dàn nhạc để hát tiếp ca khúc sau…”


DU TỬ LÊ
Tháng 08/2018

________________________________________________________
(1) Có bản chép “Lắng nghe da thịt tan tành xưa sau”.
(2) Theo tư liệu và được sự cho phép của tuần báo “Thế Giới Nghệ Sĩ” số 43, đề ngày 4 Tháng Mười Hai, 2015, chủ đề “Nữ danh ca Thanh Thúy”.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thanh-thuy-hien-tuong-kho-giai-thich/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #193 vào: 25/05/2019, 17:27:32 »
Nhớ Tô Thùy Yên

Sau nhà văn Hoàng Ngọc Biên, đến lượt nhà thơ Tô Thùy Yên đã vĩnh viễn giã từ chúng ta vào lúc 9 giờ 15 phút tối Thứ Ba, 21 Tháng Năm, 2019. Đúng ba tháng trước đây, vào ngày 22 Tháng Hai, sau khi nghe tin Tô Thùy Yên đột quỵ, tôi đã lái xe gần năm tiếng đồng hồ, từ Dallas về Houston thăm anh. Lúc đó, anh đã tương đối khỏe và được chuyển từ bệnh viện về tĩnh dưỡng tại “Nursing and Rahabilitation Center” trên đường Woodland Park Dr, Houston, Texas.

Từ trái, Trần Doãn Nho, Lê Hữu Dinh, chị Diệu Bích, Tô Thùy Yên
(Hình: Trần Doãn Nho)

ANH NGỒI xe lăn, rất tỉnh táo. Thấy tôi vào, anh nhận ra ngay. Có mặt trong phòng, ngoài anh và tôi, còn có chị Diệu Bích, vợ anh, cùng đứa con trai út, cháu Đinh Kinh Hiệt và một người bạn cùng đi với tôi, anh Lê Hữu Dinh, một độc giả rất ái mộ thơ anh.
            Chúng tôi cùng nhắc nhở những kỷ niệm cũ, mới và bàn về tập thơ mới in của anh. Trong lúc đó, anh Trịnh Cung từ California, bất ngờ gọi điện thoại, hai người hỏi thăm nhau, trò chuyện vui vẻ. Trước khi ra về, chị Diệu Bích mang ra mười mấy tập “Tuyển Tập Tô Thùy Yên”, bảo anh ký tên. Dù tay cầm bút khá khó khăn, lại mệt, nhưng anh vẫn kiên nhẫn, cố gắng ký từng tập một để nhờ tôi chuyển tặng một số thân hữu như Nguyễn Trọng Khôi, Chân Phương, Trần Trung Đạo, Hoàng Hưng, Trịnh Cung, Trần Văn Thành, Lâm Chương…
            Tô Thùy Yên làm thơ từ hồi còn rất nhỏ. Bài thơ đầu tiên đưa đăng báo được in ở tạp chí Ðời Mới do nhà văn Nguyễn Ðức Quỳnh chủ trương, vào lúc ông 16 tuổi. Năm 1956, một bài thơ khác in ở trên Sáng Tạo, tạp chí mở ra một thời kỳ mới của văn học nghệ thuật Việt Nam: Cánh đồng, con ngựa, chuyến tàu. Ðó là một bài thơ mà những ai yêu mến văn học nghệ thuật không thể quên. Nó đánh dấu một chuyển biến sâu xa trong nền văn học miền Nam, mà cũng là trong nền văn học Việt Nam.
            Lúc đó, tôi đang học lớp Nhất (lớp 5 bây giờ).
            Khi tôi lên đại học thì Tô Thùy Yên đã trở thành khuôn mặt lớn của văn học miền Nam. Cùng với Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Nguyên Sa, Dương Nghiễm Mậu… Tô Thùy Yên đã góp phần làm nên một diện mạo hoàn toàn mới cho văn học miền Nam, mà cũng là cho văn học Việt Nam. Và thế hệ của tôi sống dưới ảnh hưởng của trào lưu mới này.
            Năm 1998, lần đầu tiên, tôi được gặp anh tại Boston, Hoa Kỳ. Sau đó, tôi bắt đầu viết về anh. Viết xong, tôi gửi cho anh đọc trước. Tôi còn nhớ, đọc xong, anh bảo: tôi định góp vài ý kiến, nhưng nếu làm như vậy là không tôn trọng người viết về mình, anh hiểu thơ Tô Thùy Yên theo cách nhìn của anh, và đó là thẩm quyền của anh, một người đọc.
            Tô Thùy Yên làm nhiều thể loại thơ: thơ năm chữ, thơ bảy chữ, thơ xuôi, thơ tự do, thơ lục bát, thơ phá thể. Có bài rất ngắn, “Tặng Phẩm”, chỉ có 14 chữ; có bài rất dài, “Mùa Hạn”, gồm đến 188 câu, 1.326 chữ.
            Một trong những đặc điểm của thơ Tô Thùy Yên là sự pha trộn giữa truyền thống và cách tân. Bên cạnh những từ ngữ và nhóm từ ngữ có tính chất hiện đại như hư vô, ý thức, Thượng Ðế, sự can trường của hiện hữu, thám hiểm tương lai… ông tận dụng các từ ngữ với ý nghĩa rất cổ điển như vạn cổ, bí lục, thiên thu, phù du, quan san, kinh thiên, dương thế, gậy trúc, tào khê, trăm họ, thánh đế, sấm truyền.
            Đồng thời ông sử dụng các đặc ngữ dân gian như chớp bể mưa nguồn, hạc vàng thương nhớ, chờ anh như biển vẫn chờ sông, vàng đá nhắn quan san, ngựa đá đã qua sông, nước non ngàn dặm, núi lở sông bồi, đá nát vàng phai, chút phận long đong, bóng xế đường dài…
            Ông cũng sáng tạo nhiều nhóm từ ngữ rất lạ: ngổn ngang câm, bất an già, khoảng cách đặc, án tử hình treo, nhớ không tới, lãng quên xanh, nỗi sầu vô dạng, u hoài mốc, gió hao đuối, rợp hải hà, rớt nắng, nắm níu, nhớ hư hoặc, một phía mê tưởng, lưu cữu gió, vũng vướng mắc, ráo gió, úng máu, thiu hồn, muối muộn, đuối kiệt, ngất tạnh khuya, réo đuối…
            Ở điểm này, ta có thể so sánh thơ Tô Thùy Yên với lời nhạc Trịnh Công Sơn. Cả hai đều là những người “đẻ” ra nhiều từ mới hoặc sử dụng từ cũ với một ý nghĩa mới.
            Thường thì trước đây, người ta chỉ biết một số bài như “Chiều Trên Phá Tam Giang” (Trần Thiện Thanh phổ nhạc), “Anh Hùng Tận”, “Qua Sông” hay về sau này, “Ta Về”. Thực ra, Tô Thùy Yên có nhiều bài thơ rất hay khác, nhưng vì lý do này hay lý do khác, chưa được công chúng biết đến nhiều. Chẳng hạn như “Mòn Gót Chân Sương Nắng Tháng Năm”, “Hề, Ta Trở Lại Gian Nhà Cỏ”, “Em Nhỏ, Làm Chi Chim Biến Bắc”…
            Trong số trên trăm bài thơ, Tô Thùy Yên có ba bài thơ xuôi khá dài, mỗi bài đặt ra một vấn đề lớn:

            ― “Bất Tận Nỗi Đời Hung Hãn Đó” (1972), nhà thơ đặt vấn đề về nền văn minh.
            Chạy theo tiến bộ và văn minh, hết khu rừng này đến khu rừng khác sẽ bị chặt phá và biến mất để phục vụ cho nhu cầu đô thị hóa, công nghiệp hóa trong tương lai. Rồi ra tất cả những ngôi thiền viện thâm u sẽ được biến thành những căn nhà điện sáng trưng cùng với “toàn bộ giáo lý sắc không” sẽ được viết lại; những ngôi mộ đá lâu đời sẽ được sắp xếp thành “một nghĩa trang tân thời”, không còn cây xanh, không còn thiên nhiên nguyên thủy. Nhà thơ than thở:

                       “Ôi giác mê vọng nào toan mở mang Hữu Hạn,
                        Thèm chinh phục Tương Lai.
                        Những cánh cửa lớn sập tung.”


            Và đau đớn la lên: “Ôi những rặng cây mang án tử hình treo!”

            ― “Chiều Trên Phá Tam Giang” (1972), đặt vấn đề về chiến tranh, tình yêu và thân phận con người trong giòng trôi nghiệt ngã của lịch sử.
            Đề cập đến thân phận người lính trong cuộc chiến tranh:

                       “Chúng ta khác nào cánh quạt phi cơ
                        Phải quạt, phải quạt
                        Ta thương ta yếu hèn
                        Ta thương người khờ khạo
                        Nên cả hai cùng cam phận quay cuồng
                        Nên cả hai cùng mắc đường Lịch Sử”


            Bài thơ kết thúc khá bất ngờ:

                       “Chiều trên Phá Tam Giang
                        Có gã hề cuồng buông tiếng cười lạnh rợn
                        Khiến bầy ác thú mà lịch sử sanh cầm cũng chợt hãi hùng
                        Dớn dác ngó.”


            Dớn dác ngó. Có lẽ chưa có bài thơ nào kết thúc một cách lạ lùng như thế: ba từ trắc, rất nôm na, rất không thơ tí nào! Nghe hụt hẫng. Thì thế, chiến tranh và lịch sử làm sao mà thơ cho được! Chiến tranh là bước hụt hẫng của con người. Bước vào chỗ vô nghĩa.

            ― “Thức Giấc Trong Phòng Biệt Giam” (1991) đặt vấn đề về khổ nạn lịch sử mà con người phải chịu đựng qua hình ảnh một tù nhân (là chính tác giả) trong một nhà tù biệt giam. Đó là một kinh nghiệm khủng khiếp về không gian:

                       “Cánh cửa sắt nặng nề sừng sững
                        Sáu diện tích xi măng khuôn ép hãm đè”


            Và thời gian:

                       “Ước lượng thời gian
                        Như mò tìm một khe hở bất ngờ
                        Trên trường thành dằng dặc những thiên thu.”


            Con người, trong điều kiện đó, trở thành một hồn ma, “hồn ma ổ đại”, theo ông.
            Cả ba đều là những bài thơ tự do tràn đầy hiện thực và nặng những suy gẫm siêu hình. Với một giọng thơ hết sức đặc thù, khi thì xôn xao, sôi động với thứ ngôn ngữ (có vẻ) rất chính luận, khi thì lắng xuống thâm trầm, khi lại nhuốm đầy vẻ “u mặc”, trửng giỡn, trào lộng, chúng là biểu hiệu cao nhất của tài năng Tô Thùy Yên.
            Ngoài ba bài trên, một trong những bài tôi rất thích là “Góa Phụ”. Bài thơ là một cố gắng diễn đạt khoảng trống mênh mông giữa cái chết và cái sống, giữa thực tế phũ phàng và nỗi khát khao vô cùng tận của người phụ nữ vừa mất chồng trong lúc tuổi còn hoa niên. Bài thơ bắt đầu bằng một hình ảnh đột ngột, đầy ấn tượng về cái chết:

                       “Con chim nhào chết khô trên cửa
                        Cửa đóng tự ngàn năm bặt âm”


            Trong nỗi sững sờ, người góa phụ bắt đầu một tìm kiếm vô vọng:

                       “Em chạy tìm anh ngoài cõi gió
                        (…) Cát loạn muôn trùng xóa dấu chôn.”

            Ðêm đầu tiên người góa phụ ở nhà một mình sau khi chôn chồng cho ta một hình ảnh bi thiết. Tâm và cảnh đan xen lẫn nhau tạo nên một nỗi đau mênh mông, sâu thẳm. Nàng ngẩn ngơ đứng trước bàn thờ, thức cho đến lúc trăng lu, khuya mỏi nén nhang tàn với ngọn đèn hư ảo thắp trắng mái tóc.

                       “Em độc thoại lời kinh ánh xanh
                        Trăng lu, khuya mỏi, nén nhang tàn
                        Chó tru thăm thẳm ngây thiên địa
                        Mái ngói nghiêng triền trái rụng lăn

                        (…) Ngọn đèn hư ảo chong linh vị
                        Thắp trắng thời gian mái tóc em
                        Tim đập duỗi ngoài thân nỗi lạnh
                        Hồn xa con đóm lạc sâu đêm”


            Cách dùng chữ nghĩa của Tô Thùy Yên rất tinh xảo: cõi gió, dấu chôn, ngây thiên địa, duỗi ngoài thân, lạc sâu đêm (không phải thâu đêm)… Nhà thơ ghi lại những hình ảnh rất hiện thực, nhưng cách kết cấu từ ngữ khiến cho hiện thực như được đẩy đến chỗ siêu hình.
            Hiện thực pha trộn siêu hình, đấy là phong cách độc đáo của Tô Thùy Yên.

⋆ ⋆ ⋆

            Rất nhớ Tô Thùy Yên, nhà thơ yêu quý cûa chúng ta!

TRẦN DOÃN NHO
Tháng 05/2019

____________________________________________________________
Tham khảo:
– Thơ Tô Thùy Yên, chênh vênh siêu hình-hiện thực (Trần Hữu Thục).
– Tô Thùy Yên, tuyển tập Thơ.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nho-to-thuy-yen/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #194 vào: 30/05/2019, 18:24:20 »
Phan Kế Bính và các nhân vật nước Nam

Một trong những nhà Nho đỗ đạt mà không ra làm quan, sống bằng nghề dạy học tư và viết văn làm báo như là nghề nghiệp sinh nhai là Phan Kế Bính, tác giả nhiều danh phẩm trong văn học sử Việt Nam, trong có những cuốn trở thành kinh điển từ đầu thế kỷ XX như Nam Hải Dị Nhân (Những người kỳ tuyệt ở nước Nam). Cuốn sách này in năm 1909, (nhưng ở dưới bài tựa lại ghi 9 April 1912) có lẽ là tác phẩm đầu tay của ông được in thành sách, còn đăng báo thì năm 1907 ông đã phụ trách mục Hán văn trên tờ Ðăng Cổ Tùng Báo, rồi tiếp theo, viết cho những tờ báo thế giá của thời chữ quốc ngữ còn phôi thai: Ðông Dương Tạp Chí, Trung Bắc Tân Văn.

Bìa tác phẩm đầu tay của Phan Kế Bính

NAM HẢI DỊ NHÂN là một nhan đề giản dị, trong khi chữ Dị Nhân của ông đã được dùng cho Trưng Nữ Vương, Lý Thái Tổ, Trần Hưng Ðạo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quí Ðôn, Tản Viên sơn thần, Liễu Hạnh tiên chúa, Từ Thức, Tả Ao, Nguyễn [Ðoàn] Thị Ðiểm, dịch giả Chinh Phụ Ngâm; như thế, chữ Dị Nhân nên hiểu là những nhân vật khác thường, siêu việt.
            Phan Kế Bính quan niệm như thế nào về những con người đó, và vì sao ông chọn họ về viết trong những bài viết những năm ông khoảng xấp xỉ 30 tuổi?
            Bài Tựa của ông sẽ giải thích hai câu hỏi đó, và hơn thế nhiều, sẽ cho ta thấy tâm tư của một nhà văn Việt Nam mấy chục năm cuối thế kỷ XIX và hai chục năm đầu của thế kỷ XX. Nét chính trong bài Tựa của ông là câu hỏi này:

             “…mình là người nước Nam, mà sự tích các bậc danh giá trong nước Nam mình không biết, chẳng hóa ra kiến thức của mình kém lắm dư?”
             “Hào kiệt anh tài là khí tinh anh của một nước: cho nên nước nào cũng có, mà thời nào cũng có. Lớn thì gây dựng nên thời thế, tô điểm cho non sông; nhỏ thì lập nên công nghiệp, để danh tiếng về sau; cũng là làm gương cho đời cả”.
             “Nước Nam ta từ xưa đến nay, trải hơn 4000 năm, chẳng thiếu gì người tài đức, người danh tiếng…”

            Trong cuốn Nam Hải Dị Nhân, Phan Kế Bính viết về từng nhân vật một, dài ngắn tùy theo, và đã phân loại các dị nhân anh kiệt tài đức của đất nước ra làm 8 lãnh vực:
            – Các bậc đại anh kiệt, 7 người, dẫn đầu là Trưng Vương.
            – Các bậc danh thần, 9 người, dẫn đầu là Lý Thường Kiệt.
            – Các bậc danh hiền, 4 người, dẫn đầu là Mạc Ðĩnh Chi.
            – Các bậc văn tài, 8 người, dẫn đầu là Nguyễn Hiền.
            – Các bậc mãnh tướng, 9 người, dẫn đầu là Lê Phụng Hiểu.
            – Các vị thần linh ứng, 8 vị, dẫn đầu là Sử [Chử] Ðồng Tử.
            – Các vị tiên tích, 6 vị, dẫn đầu là Từ Thức.
            – Các người có danh tiếng, 4 người, dẫn đầu là Ngô Soạn.
            Tổng cộng là 55 vị. Trong 55 vị ấy, khoảng 45 người là những anh hùng hào kiệt, danh sĩ, thánh hiền, vương tướng, số còn lại là tiên thánh (Liễu Hạnh tiên chúa ở Vụ Bản Nam Ðịnh, thơ từ ca nhạc hiển linh; Từ Thức người Thanh Hóa, từ quan lên thiên thai, từ cõi trần vào thiên quốc; Phù Ðổng Thiên Vương ở Bắc Ninh, dùng lửa dẹp giặc phương Bắc, người ở nhà trời; Tản Viên sơn thần trên núi cao ở Sơn Tây, và những kẻ đối nghịch nơi thủy phủ – Sơn Tinh Thủy Tinh; Thần bạch mã thành Thăng Long, phá vụ xây thành của giặc Bắc; Phạm Viên người Nghệ An có phép tiên chỉ biết có hai chữ mà được trọng vọng; Chử Ðồng Tử ở Hưng Yên, có gậy vạch sông dẫn thủy nhập điền nuôi dân no ấm…)


Nhà văn Phan Kế Bính (1875-30 Tháng Năm, 1921)

            Phan Kế Bính người làng Thụy Khuê huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Ðông, sinh năm 1875 trong một gia đinh Nho học, năm 1906 thi đỗ cử nhân song không theo đường công sự, ở nhà dạy học tư và viết văn làm báo. Theo nhà văn Nguiễn Ngu Í, Phan Kế Bính “học cổ, nhưng lúc viết theo phương pháp mới” nên văn ông sáng sủa, là “một trong số ít người cựu học gia nhập làng báo sớm nhất. Ông giữ một vai trò quan trọng trong các báo Ðông Cổ Tùng Báo, 1907; Ðông Dương Tạp Chí, 1913; Trung Bắc Tân Văn, 1915; Học báo, 1919”. Ông từ trần ngày 30 Tháng Năm 1921, mới 46 tuổi.
            Tác phẩm: Nam Hải Dị Nhân liệt truyện (1912), Hưng Ðạo Vương truyện (1912), Việt Nam Phong Tục (1915), Việt Hán Văn Khảo (1918). Truyện dịch có: Tam Quốc Chí (1907), Ðại Nam điển lệ toát yếu (1915), Ðại Nam nhất thống chí (1916), Việt Nam khai quốc chí (1917). Ngoài tên thật ông còn ký vài bút hiệu như Bưu Văn, Liên Hồ Tử.
            Trong Nhà Văn Hiện Ðại, ông Vũ Ngọc Phan viết: “Trong các nhà Nho viết văn hồi bấy giờ, văn Phan Kế Bính đáng coi là những áng văn xuất sắc hơn hết. Văn ông đã sáng suốt, lời lại đanh, nhiều câu đọc chắc nịch”. Văn thơ dịch của ông rất hay. Bài thơ dưới đây trích lại theo Vũ Ngọc Phan:

                        Núi Bàn Cốc nhà ngươi ở đấy
                        Ðất trong hang cầy cấy dễ sao?
                        Suối kia tắm rửa ào ào
                        Ấy nơi xa vắng ai nào muốn tranh.

                        Hang sâu thẳm thanh thanh rộng rãi
                        Ðường quanh co qua lại trập trùng
                        Cảnh hang vui thú lạ lùng
                        Hùm beo lánh vết, rắn rồng náu thân.

                        Sự quái gở quỉ thần giúp hộ
                        Vui ăn chơi cho độ tuổi già
                        Ta về sắm ngựa xe ta
                        Theo vào hang đó la cà cùng ngươi.

                        (Phan Kế Bính dịch Cổ văn Hàn Xương Lê,
                        Ðông Dương tạp chí, số 173, tr. 768)


VIÊN LINH
Tháng 5/2017


http://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/phan-ke-binh-va-cac-nhan-vat-nuoc-nam/