Tác giả Chủ đề: Tảnmạn... Vănhóa...  (Đã xem 24821 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #195 vào: 04/06/2019, 17:50:42 »

Khi xã hội Mỹ đầu thế kỷ XX thay đổi mạnh mẽ chỉ vì một chiếc máy!

Năng suất lao động tăng; làn sóng di dân từ nam lên bắc đổi chiều; tỷ lệ sinh nở tăng, tỷ lệ tử vong giảm; vùng Sun Belt không còn là những thành phố chết; và nhất là diễn viên điện ảnh Ronald Reagan đắc cử tổng thống thứ 40 của Mỹ… Tất cả những điều này đều có một điểm giống nhau: Đó là nhờ vào chiếc máy điều hòa nhiệt độ, do kỹ sư Mỹ, Willis Carrier phát minh năm 1902.

Trung tâm thành phố Miami, Hoa Kỳ

Hai báu vật
            Sau khoảng bốn trăm ngàn năm phát triển, loài người đã “làm chủ” được hai “báu vật”. Đầu tiên hết là “lửa”, xuất hiện vào thuở sơ khai. Một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử tiến hóa nhân loại. Với khả năng tạo ra lửa, cách sống của con người được thay đổi hoàn toàn: Từ cách chế biến thức ăn, sản xuất ra của cải, cải thiện cách ăn mặc… Rồi rất lâu, rất lâu sau đó, gần 4.000 thế kỷ sau, con người đã làm được chủ điều ngược lại: Chế tạo ra hơi lạnh.
            Thế nhưng, ít có ai biết rằng điều khám phá thứ hai cũng đã làm thay đổi toàn bộ xã hội Mỹ và thế giới đến dường nào. Có ai từng dám nghĩ rằng tại một xứ nóng, nhiệt độ có thể lên 40°C như ở Dubai chẳng hạn, người ta vẫn có thể chơi môn trượt tuyết? Đương nhiên là ở trong nhà có mái che!
            Con người ngày nay có được điều kỳ diệu này đó là nhờ vào “chiếc máy điều hòa nhiệt độ”. Tháng 7/1960, khi những chiếc “máy lạnh” đầu tiên được lắp đặt cho các hộ gia đình Mỹ, một nhà báo của tờ Saturday Evening Post đã thán phục thốt lên rằng “một cuộc cách mạng về điều hòa không khí”. Nhưng tờ nguyệt san Le Monde Diplomatique của Pháp khiêm tốn hơn cho rằng đây là một cuộc chinh phục chậm rãi, tiến dần, có phương pháp hơn là một cuộc “cách mạng”.

Vì lợi ích kinh tế hơn tiện ích con người
            Cuộc trường chinh này khởi hành vào đầu thế kỷ XX với mục đích ban đầu là để bảo quản hàng hóa chứ không vì sự tiện ích của con người. Mọi việc bắt nguồn từ một xưởng in ở New York năm 1902. Vị giám đốc của hãng phải đối mặt với một vấn đề nan giải: Độ ẩm trong nhà xưởng cao làm biến dạng giấy trong quá trình in ấn. Và thành phẩm in ra cho kết quả xấu không thể nào tả được.
            Xưởng in này đã đề nghị một kỹ sư trẻ vừa mới ra trường, Willis Carrier, thiết kế một thiết bị có khả năng kiểm soát độ ẩm và duy trì một nhiệt độ vừa phải. Và thế là chiếc máy điều hòa đầu tiên ra đời năm 1902. Bằng cách thay đổi độ ẩm, cỗ máy to lớn này làm mát không khí nhờ vào hệ thống các ống dẫn khí có chứa chất làm lạnh.
            Một thành công ngoài sức tưởng tượng. Trong vòng có mười năm, dệt may, thuốc lá, bột bánh thực phẩm, chewing-gums, bột, chocolat… tất cả những ngành công nghiệp nào mà chu trình sản xuất phải hứng chịu sự dao động nhiệt kế đều lao vào lắp chiếc “máy lạnh” thần kỳ đó.


Máy điều hòa Carrier

Cuộc đua khởi động
            Tại các nhà xưởng, không khí cũng nóng hừng hực. Chuyện bình thường thôi! Người ta nói rằng những ai làm việc đổ nhiều mồ hôi thì đó là một công nhân làm việc rất cật lực và chăm chỉ. Để thuyết phục các nhà xưởng trang bị “máy lạnh”, các nhà sản xuất máy điều hòa công bố một nghiên cứu, cho thấy là năng suất lao động của các công chức tăng thêm 24% nếu như văn phòng của họ có trang bị máy điều hòa.
            Có thể nói rằng mục đích ban đầu của việc điều hòa không khí là mang tính kinh tế và chính điều này đã tạo thuận lợi cho sự phát triển của ngành sản xuất máy điều hòa nhiệt độ.
            Lúc ban đầu, máy điều hòa nhiệt độ rất đắt. Nhưng cỗ máy này cũng bắt đầu được các hãng chiếu bóng để ý tới. Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, rạp chiếu bóng chỉ thu hút khách vào mùa đông. Vào mùa hè, những điểm giải trí này chẳng khác gì những kho hàng, nhiều người bị chết ngạt vì nóng trong bóng tối, và vì vậy trở nên hoang vắng.
            Trước tình cảnh này, chuỗi rạp chiếu bóng Balaban & Katz quyết định làm mát các phòng chiếu của mình tại Chicago kể từ năm 1917. Một sự đánh cược thành công. Chi phí lắp đặt đắt đỏ đã kịp thu hồi trong một mùa hè. Các chuỗi rạp khác lần lượt nối gót theo ngay. Người ta có thể thấy các tấm biển ghi “Rạp có trang bị máy điều hòa không khí”, “Ở trong rạp lạnh”, “Nhiệt độ luôn ở mức 20°C”.
            Tại New York, Houston hay Los Angeles, lối vào các rạp có các tấm biển hình con gấu bắc cực, viên nước đá hay những hạt bông tuyết. Mùa hè không còn là “mùa chết chóc”, mà sẽ là mùa bội thu cho các điểm giải trí.

Tăng sinh, giảm tử
            Rồi kích cỡ của máy điều hòa nhiệt độ nhỏ dần, giá thành giảm xuống. “Nó chẳng xấu tý nào. Trông khá xinh nữa là!” “Người ta có thể đi khắp mọi nơi. Nhưng có một yếu tố đặc biệt đáng chú ý của chiếc xe này chính là bộ phận điều hòa nhiệt độ”. Đó là những lời quảng cáo mà người ta có thể nghe thấy trên đài truyền hình thời ấy. Chiếc “máy lạnh” cho các nhà xưởng công nghiệp bắt đầu chuyển sang chinh phục các hộ gia đình, xe ô tô…
            Theo thống kê, trong những năm 1960, tại Mỹ chỉ có khoảng 10% hộ gia đình trang bị máy điều hòa không khí, nhưng đến năm 2000 tỷ lệ này tăng vọt lên đến 90%. Máy điều hòa nhiệt độ trở thành một vật dụng không thể thiếu. Sự lệ thuộc này để lại một hệ quả khá lớn: Với máy điều hòa nhiệt độ, người dân Mỹ thích ở nhà hơn, tạo đà phát triển ngành vô tuyến truyền hình. Ngược lại, người ta ít ra sân vận động để xem các trận bóng chày.
            Nhưng đáng ngạc nhiên nhất là sự ra đời của máy điều hòa có một tác động to lớn đến dân số Mỹ. Trước khi có chiếc “máy lạnh”, người ta quan sát thấy tỷ lệ sinh nở giảm mạnh chín tháng sau những giai đoạn nóng nhất. Vào những thời điểm này, không thể nào nói đến chuyện sinh con! Sự xuất hiện của máy điều hòa nhiệt độ trong nhà đã thu ngắn khoảng cách dao động sinh sản theo mùa. Số trẻ sơ sinh tăng, số người chết giảm. Chiếc máy điều hòa đã làm giảm mạnh tỷ lệ tử vong trong các đợt nắng nóng gay gắt.


Ngài Ronald Reagan tự tin tuyên thệ trong lễ nhậm chức năm 1981

Những thành phố chết hồi sinh và những hệ quả chính trị
            Hơn thế nữa, máy điều hòa còn làm thay đổi cả diện mạo nước Mỹ, nhất là tại vùng Sun Belt, miền nam nước Mỹ. Cho đến tận những năm 1960, người Mỹ có xu hướng đến phía bắc để kiếm việc làm. Nhưng chiếc “máy lạnh” ra đời đã giúp cho vùng Sun Belt (Vành đai Mặt trời) ở miền Tây và Tây Nam nước Mỹ trở nên năng động và dễ sống hơn.
            Không có chiếc máy làm mát không khí, những thành phố như Miami hay Las Vegas có lẽ sẽ không thể nào phát triển được. “Nằm tại một nơi mà tình trạng trước đây được cho là không thể nào chịu đựng nổi, ngay giữa lòng sa mạc Nevada, thành phố này trước hết hiện hữu cho khách làng chơi và du khách”. Le Monde nhắc lại một lời bình luận đến trên đài về sự hồi sinh một thành phố sau khi có máy điều hòa nhiệt độ.
            Không chỉ tác động đến dân số, cách sống và hưởng thụ của người dân Mỹ, máy điều hòa không khí cũng có những hệ quả chính trị. Chiếc máy làm mát này đã góp phần mang lại chiến thắng cho ông Ronald Reagan, ứng viên đảng Cộng Hòa trong kỳ bầu cử tổng thống Mỹ năm 1980.
            Đối với ông Nelson Polsby (1934-2007), nhà chính trị học người Mỹ, một bộ phận lớn người dân Mỹ di cư từ bắc xuống nam nhờ vào máy điều hòa là những người lớn tuổi, mong muốn có một cuộc sống hưu trí dưới ánh nắng mặt trời. Nhưng những người lớn tuổi, có cuộc sống khá sung túc đó thường có xu hướng bỏ phiếu cho phe Cộng Hòa.
            Và những bang chủ chốt như Arizona, Texas hay Florida, phần đông theo đảng Dân Chủ cho đến tận giữa thế kỷ XX đã dần trở thành cứ địa của đảng Cộng Hòa. “Ước mơ của quý vị, niềm hy vọng của quý vị, những mục tiêu của quý vị, sẽ là niềm mơ ước, nỗi hy vọng, và mục tiêu của chính phủ này. Vì thế xin Chúa hãy giúp con”. Ông Ronald Reagan đã phát biểu như trên trong buổi lễ tuyên thệ nhậm chức.

Kiến trúc đô thị thay đổi và vấn nạn ô nhiễm môi trường
            Các thành phố ở Mỹ cũng dần dần thay đổi theo nhịp phát triển của chiếc “máy lạnh”. Để nơi ở được mát, nhà trước kia được xây theo kiểu nền nhà nâng cao, cổng tam quan che bóng, phòng liền kề để thông khí. Giờ đây, nhờ có máy điều hòa, người ta có thể xây những tòa nhà chọc trời, dưới ánh nắng chói chang ở những nơi mà trước đây người ta từng nghĩ rằng chỉ thích hợp để trồng cà chua!
            Tuy nhiên, mỗi một sự tiện ích đều có cái giá phải trả. Máy điều hòa không khí bị cáo buộc là “kẻ gây ô nhiễm” không khí nguy hiểm. Ông Benoit Hartmann, đại diện cho hiệp hội France Nature Environnement, trên kênh truyền hình France 2 giải thích:

            “Vấn đề ở đây là chiếc máy điều hòa không khí cũng giống như một chiếc tủ lạnh, bên trong có sử dụng khí ga làm lạnh. Nếu bị rò rỉ, đây sẽ là một khí ga cực kỳ độc hại cho môi trường. Loại khí này nóng hơn rất nhiều so với khí CO2, đôi khi cao gấp hơn 800 lần loại khí ga dùng làm khí đốt. Do vậy, một cách tiềm tàng, đây là một thiết bị có hại cho môi trường”.

            Tại Phonenix, một nghiên cứu cho thấy ban đêm nhiệt độ bên ngoài đã bị tăng thêm từ 1-2°C, hệ quả là ở trong nhà, người ta còn cho chạy máy điều hòa nhiệt độ nhiều hơn. Điểm cuối cùng, máy điều hòa nhiệt độ tiêu tốn rất nhiều năng lượng. Theo ghi nhận: Năng lượng tiêu thụ cho máy điều hòa nhiệt độ ở Mỹ tương đương với mức tiêu thụ của toàn châu Phi.
            Nhưng điều đó không ngăn cản được chiếc máy điều hòa thương hiệu Carrier tiếp tục chinh phục thế giới trong vòng một thế kỷ qua. Lượng máy điều hòa bán ra bùng nổ tại nhiều nước mới trỗi dậy như Ấn Độ, Trung Quốc hay Indonesia. Cứ mỗi một giây có mười chiếc máy điều hòa nhiệt độ được bán ra trên thế giới. Đến năm 2050, người ta ước tính thế giới sẽ có khoảng sáu tỷ chiếc máy điều hòa. Một thảm họa tiềm tàng cho môi trường chăng?


MINH ANH
Tháng 4/2019


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20190410-xa-hoi-my-the-ky-xx-thay-doi-may

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #196 vào: 08/06/2019, 17:40:17 »

Ai là người đầu tiên xuất bản sách cách đây 40 năm?

Cách đây 40 năm, khi lớp người Việt tỵ nạn đầu tiên, như những chiếc lá lìa cành bị vung vãi khắp cùng nước Mỹ thì, bên cạnh nhu cầu âm nhạc, lớp người này cũng còn có nhu cầu đọc, thấy tiếng mẹ đẻ trên những trang sách – Nhất là khi tập thể đó, chưa có một tờ báo nào, được phát hành rộng rãi như hiện tại.

Ông Đỗ Ngọc Tùng (phải) và nhà báo Ngọc Hoài Phương (Hình NHP)

TRƯỚC KHAO KHÁT tinh thần cháy bỏng này, người đầu tiên có sáng kiến in lại tất cả những đầu sách đủ loại – Từ ưu tiên tự điển hay sách học tiếng Anh, các loại sách phổ thông, giải trí như truyện chưởng, truyện dịch Quỳnh Giao, truyện của các tác giả miền Nam, không phân biệt giá trị, tên tuổi, tới những cuốn sách dạy về gia chánh, nấu ăn v.v… cũng đã được khẩn cấp in lại, như một nỗ lực đáp ứng khoảng trống quá lớn trong đời sống tinh thần của người tỵ nạn hồi tháng 4-1975.
            Người đầu tiên hăm hở xắn tay áo, bước vào lãnh vực xuất bản, giai đoạn sơ khai, là ông Đỗ Ngọc Tùng, nhà Đại Nam, ở thành phố Glendale, miền nam California. Người kế tiếp là ông Danh, với bảng hiệu Xuân Thu mà trong giới gọi là “Danh-Xuân-Thu”.
            Theo Đào Tự Tín, của nhà sách Tự Lực trên đường Brookhurst, ở thành phố Garden Gorve, thì, khởi nghiệp, ông Danh-Xuân-Thu cư ngụ tại thành phố Houston, Texas, trước khi di chuyển về thành phố Cerritos ở miền nam Cali – Nơi thích hợp nhất cho sự bành trướng lãnh vực xuất bản sách.
            Cũng phải ít năm sau, người ta mới thấy sự xuất hiện của nhà Ziên Hồng, ở Saigon trước tháng 4-1975; do chính chủ nhân là giáo sư Lê Bá Kông, cho sống lại tại Houston, Texas.
            Nếu không kể nhà Ziên Hồng của giáo sư Lê Bá Kông, chỉ tái bản những bộ sách thuộc bản quyền của nhà Ziên Hồng (đa số là sách do giáo sư Lê Bá Kông biên soạn) thì, tất cả các đầu sách của hai nhà Đại Nam và Xuân Thu đều có một số mẫu số chung là:
            – Thứ nhất, không cần biết tác giả của những cuốn sách được họ in lại thời đó, là ai? Ở đâu?
            – Thứ nhì, sự kiện này đồng nghĩa với việc bản quyền tác giả không hề được đặt ra, ngay cả với những tác giả có mặt trong đợt tỵ nạn đầu tiên tại Mỹ…
            Ở thời điểm này, các nhà xuất bản nêu trên đã viện cớ nghe rất… có lý là: “Tình hình rối ren, phức tạp, không thể biết các tác giả đó ở đâu? Việt Nam? Trong hay ngoài nước Mỹ?”
            – Thứ ba, ngay cả khi biển đông đem lại cho chúng ta những nhà văn vượt biển đến được bến bờ tự do thì bản quyền tác giả cũng không được… “xét lại”! Dù cho họ có liên lạc với các nhà xuất bản hay không. (Sau nhiều vụ kiện cáo, tình trạng này kéo dài thêm nhiều năm nữa, mới chấm dứt!)
            – Thứ tư, cả hai nhà xuất bản Đại Nam và Xuân Thu, khi có được một cuốn sách cũ trong tay, họ chỉ việc chụp lại nguyên bản – Hiểu theo nghĩa để nguyên tên nhà xuất bản cũ, cùng ngày tháng, nơi chốn xuất bản… Và chỉ in thêm một trang đầu hay trang cuối với tên nhà xuất bản, cùng địa chỉ mới mà thôi. Họ không cần phải thuê người sắp chữ hoặc đánh máy lại…
            Bởi thế, những cuốn sách được in lại thời đó cũng đã “cõng” theo nó cả những lỗi chính tả, hay những lỗi to lớn hơn là mất trang, hoặc số trang nhẩy lộn xộn…
            Dù vậy, người đọc vẫn hân hoan đón những những cuốn sách ấy, với không một lời thắc mắc, than phiền…
            Những người trong giới xuất bản sau này (khi tình hình sinh hoạt của người Việt tỵ nạn, ở mọi lãnh vực, đã tạm thời ổn định), cho biết, hai ông Tùng-Đại-Nam và Danh-Xuân-Thu trở thành hai đại gia giàu có, nhờ là những người đầu tiên khai thác lãnh vực sách cũ của miền Nam một cách quy mô, “đại trà”!
            Sinh thời, khi được hỏi đâu là nguồn cung cấp để Đại Nam có sách mà in lại? – Thì ông Đỗ Ngọc Tùng tiết lộ rằng, có ba nguồn cung cấp chính:
            – Nguồn cung cấp thứ nhất là những cá nhân khi di tản tình cờ mang theo được những cuốn sách mà họ yêu thích.
            – Nguồn cung cấp thứ hai, là những sinh viên du học tại Hoa Kỳ, trước tháng 4-1975. Để giảm bớt phần nào nhớ nhà, gia đình đã gửi cho họ những đầu sách đủ các loại họ muốn có. Từ thơ văn, tới triết lý, biên khảo, tôn giáo… Luôn cả các tạp chí nữa.
            – Và, nguồn thứ ba là những thư viện hay kho sách trên những chiến hạm của Hải quân/VNCH. Trước khi phải rời tầu, chuyển sang tàu Mỹ để vào vịnh Subic Bay thuộc Phi Luật Tân, hồi tháng 4-1975, một số quân nhân Hải Quân thời đó đã nhanh tay chọn lấy cho mình, những sách, báo thích hợp với họ.
            “Tuy nhiên, đầu sách mà chúng tôi có nhiều nhất vẫn là từ những cá nhân; khi chúng tôi có lời rao muốn mua lại, hoặc hỏi mượn những cuốn sách cũ thời trước 1975, ở Saigon”, ông Đỗ Ngọc Tùng nhấn mạnh.
            Được biết sau khi thành công ở lãnh vực xuất bản, ông Tùng-Đại-Nam còn vói tay qua lãnh vực báo chí. Đến năm 1981, khi ông sang lại tờ báo Hồn Việt của cố nhà báo Nguyễn Hoàng Đoan.
            Nhà báo Ngọc Hoài Phương cho biết, ông Tùng sang lại tờ Hồn Việt với điều kiện, nhà báo Ngọc Hoài Phương phải ở lại Hồn Việt trong vai trò điều hành tổng quát. Sau đấy, ông Tùng mời nhà văn Mai Thảo về làm chủ bút. Nhà báo Long Ân tiếp tục ở lại vai trò Tổng thư ký…
            Lý do của sự kiện “làm báo” của ông Đỗ Ngọc Tùng, được ông giải thích là, ông cần làm chủ một phương tiện quảng cáo cho hàng nghìn đầu sách ông có trong tay.
            Tuy nhiên, sau một thời gian tung hoành ngang dọc từ xuất bản tới làm chủ báo, năm 1989, ông Đỗ Ngọc Tùng đã trao quyền sở hữu Hồn Việt cho nhà báo Ngọc Hoài Phương. Được biết, việc “trao ấn tín” từ tay ông Tùng, qua nhà báo Ngọc Hoài Phương, cũng là thời gian ông Tùng chuẩn bị… phong kiếm quy ẩn, “giã từ chiến trường sách, báo”…
            Có người cho rằng, cùng với sự ổn định của sinh họat người Việt tỵ nạn ở tất cả mọi lãnh vực, thì đó cũng thời gian thay đổi hoàn toàn cung cách xuất bản, nhất là sự tương tác giữa tác giả và tác phẩm ở hải ngoại…
            Phải chăng vì thế mà hai đại gia đầu tiên ở lãnh vực này đã sớm rút lui, nhường sân chơi cho những nhà xuất bản khác?
            Và, 40 năm qua, lãnh vực này trải qua nhiều thời kỳ thịnh, suy như ta đã thấy hôm nay!


DU TỬ LÊ
Tháng 02/2015


https://www.dutule.com/p124a6568/19/ai-la-nguoi-dau-tien-xuat-ban-sach-cach-day-40-nam-

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #197 vào: 13/06/2019, 18:40:34 »

Thanh Thúy và ca khúc “Ướt Mi” của Trịnh Công Sơn

Trịnh Công Sơn không phải là người đầu tiên gieo cầu nhắm vào Thanh Thúy, mà mối tình đơn phương này còn có nhiều nghệ sĩ khác nữa…

Ca sĩ Thanh Thúy. (Hình: thanhthuy.me)

TIẾP TỤC phân tích thêm về tiếng hát, cũng như con người của nữ ca sĩ Thanh Thúy, Giáo Sư Nguyễn Văn Trung qua bài viết của ông, đã ghi nhận thêm rằng, Thanh Thúy hát những bài hát buồn bằng một giọng trầm, với gương mặt xa vắng, khiến khán giả cảm thấy như họ bị lôi kéo về một dĩ vãng xa xôi, nhưng cũng rất quen thuộc, gần gũi với họ.
            Đó là hình ảnh dễ dẫn tới những rung động, cảm nghĩ gắn liền với đất nước, ruộng đồng; với sông Hương, núi Ngự, tiêu biểu cho những gì được gọi là dân tộc, đặc tính địa phương về mặt tiêu cực: Một nỗi buồn man mác, cô tịch, trầm lặng, vô định.(1)
            Do đấy, có thể coi Thanh Thúy là hiện thân của nỗi buồn ấy. Cho nên khi hát, Thanh Thúy không chú ý phát âm rõ, và người nghe hình như cũng không đòi hỏi hiểu được lời ca vì cốt yếu là truyền cảm được nỗi buồn, bằng một giọng buồn và thông cảm được điệu buồn, nỗi buồn không nội dung rõ rệt, không nguyên cớ sâu xa.
            Cuối cùng, Giáo Sư Trung đi tới kết luận… “mở”, rất… phiếm định, rằng: “Có lẽ khán giả thích Thanh Thúy là thích vì vậy, không phải giải thích như một thân xác, nhưng như một người đàn bà, một thiếu nữ Việt, một cô gái Huế qua những cái rất “đàn bà”, rất “Việt Nam” và rất “Huế” của Thanh Thúy”.
            Sau thời gian bài viết của Giáo sư Trung được phổ biến, người dân Sài Gòn cũng được đọc bài viết khá “ấn tượng” của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, xác nhận mối tình một chiều, ông dành cho Thanh Thúy, và quan niệm của ông về lẽ thành, bại, được, mất… của ông.
            Mở đầu bài viết có tính cách “tâm sự đời tôi”, Trịnh Công Sơn nhắc tới một câu ngạn ngữ của người Pháp, cho rằng: “Cái gì khởi đầu tốt thì sẽ kết thúc tốt”. Tuy nhiên, theo tác giả ca khúc “Thương Một Người” (một trong những ca khúc ông viết cho Thanh Thúy) thì ở địa hạt văn học, nghệ thuật, đôi khi câu ngạn ngữ kia, chẳng những không đúng mà có khi còn ngược lại. Ông viết: “Có những trường hợp người nghệ sĩ đã khởi đầu rất hay, nhưng kết thúc lại rất tệ”.
            Về trường hợp cá nhân mình, Trịnh Công Sơn cho biết, ông bước vào lãnh vực âm nhạc tương đối sớm. Ông nói: “Từ tuổi mười ba, mười bốn, tôi đã làm những lưỡi sóng liếm láp mạn thuyền văn nghệ. Trong huyết quản tôi có thể thời ấy đã luân lưu những lượng máu bất bình thường…”
            Giải thích thêm, ông kể, sau một vài biến cố lớn của gia đình, ông đã bắt đầu một cuộc sống riêng tư, không phẳng lặng. Đời sống mới, từ đó, xô đẩy ông vào sâu mộng mị triền miên. Cũng ngay tự thời đó, có một câu hỏi đã thường trực ám ảnh ông. Câu hỏi: “Bài hát đầu tiên của anh là bài gì?”
            Sau những suy gẫm có tính triết lý như những sợi thừng được tung ra tuồng tự cột, trói mình, nhạc sĩ Trịnh nhắc tới ca khúc đầu tiên của ông. Ca khúc “Ướt Mi” viết cho Thanh Thúy.


Thanh Thúy trình diễn tại trại tị nạn Pendleton,
California, vào năm 1985. (Hình: thanhthuy.me)

            Đây là một phần lai lịch của bài hát ấy: “Bài hát “Ướt Mi” được nhà xuất bản An Phú ấn hành tại Sài Gòn năm 1959. Thuở ấy, hình như Nguyễn Ánh 9 đã có lúc đệm đàn piano cho Thanh Thúy hát. Thanh Thúy trở thành giọng hát liêu trai. Anh Nguyễn Văn Trung, giáo sư triết thời ấy ở Văn Khoa cũng đã từng có bài viết về một tiếng hát liêu trai Thanh Thúy…”
            Trịnh Công Sơn nói, ông cố nhớ lại vào năm 1958, ở một phòng trà Sài Gòn, ông thấy Thanh Thúy hát “Giọt Mưa Thu” của Đặng Thế Phong và cô đã khóc.(2) Hồi đó, Trịnh Công Sơn đã sớm biết chuyện thân mẫu của Thanh Thúy bị bệnh lao phổi. Hằng đêm bà hát “Giọt Mưa Thu”, nằm chờ con gái về lại nhà. Những giọt nước mắt ấy, với nhạc sĩ này, như một cơn mưa nhỏ, rơi khắp tâm hồn quá mức mong manh, nhạy cảm của ông. Ông thấy như cơn mưa nhỏ kia, đã đưa ông về một quá khứ xa xôi. Một cõi đời mịt mù nào đó, khiến ông cũng phải nhỏ lệ.
            Từ những hạt lệ thương xót cho mẹ của Thanh Thúy, tới hạt lệ “tiền kiếp” chính mình, Trịnh Công Sơn thấy dường như có chung một định mệnh giữa hai tiếng khóc. Ông nói, chúng tìm đến nhau, để làm thành dan díu khởi đầu. Làm thành một thứ tài sản tinh thần riêng của Trịnh Công Sơn. Ông cũng tiết lộ rằng: “Rất nhiều bài hát đã được viết trước bài “Ướt Mi”, nhưng bài “Ướt Mi” thì tồn tại như một số phận của nó và của tôi. Hình như người Nhật rất thích nó vì dàn nhạc giao hưởng Nhật đã thu bài hát này. Riêng tôi không thích lắm. Dù sao thì những năm 1959-1960 trong thành phố này nhiều người đã thích và hát”.
            Trở lại với một câu ngạn ngữ của Tây phương, tác giả “Ướt Mi” vẫn không quên tự hỏi “Thế thì bài hát cuối cùng của anh là bài gì? Sẽ như thế nào?” Theo ông, sự kết thúc mọi chuyện trong đời sống đều không giống nhau. Ông vẫn có xu hướng muốn đắm mình trong cái lẽ vô thủy vô chung. Dù cho: “… Người đời cứ thích kéo tôi về trong cái lề thói hữu hạn”.
            Vẫn theo tác giả “Ướt Mi” thì trong mỗi cuộc lên đường, luôn có cái đích để chạm tới. Nhưng trong lãnh vực nghệ thuật lại khác. Cái cuối cùng có thể là cái vô hạn, và biết đâu, có khi nó đã có trước thời hạn mà mình không ngờ tới. Ông cũng quan niệm, sự bất tử không có trước có sau. Thường khi nó nằm ở điểm mọi cơ duyên cùng tụ lại…
            Có dễ vì thế mà Trịnh Công Sơn đã, không hề có ý định viết bài cuối cùng bởi vì ông cho rằng, thời điểm cuối cùng, là thời điểm mình không thể nào bắt gặp được. Nếu vì một lý do nào đó, ông bị bắt buộc phải lên đường, để viết về những ý nghĩ cuối cùng thì ông tin rằng, đó là lúc ông sẽ cố gắng cởi trói ông thoát khỏi mọi hệ lụy của đời, để sống chứ không cần phải nói thêm một điều gì nữa.
            Bài hát cuối cùng của ông, sẽ chỉ mãi mãi là một giấc mơ. Một giấc mơ buồn thảm mà, ông nghĩ rằng cần phải quên đi để mọi thứ biên giới trong cuộc đời trở thành vô nghĩa. Để nó sẽ không còn tồn tại như một lời thách thức nữa.
            Kết thúc bài viết của mình, ông nhấn mạnh: “Bài hát đầu tiên và bài hát cuối cùng, ngẫm ra cũng chỉ là những bèo bọt vô hình tướng. Chúng ta vui chơi với nó và chúng ta quên đi. Có kẻ gieo cầu, có người nhặt được. Kẻ nhặt được không chắc là vui mãi. Kẻ không được cũng chẳng nên lấy đó làm điều. Hơn ba mươi năm trước có một bài hát đầu tiên, như một trái cầu gieo, có chắc gì hạnh phúc. Không chắc gì hạnh phúc thì tại sao lại cần phải có bài hát cuối cùng?”


⋆ ⋆ ⋆

            Nhiều người nói, Trịnh Công Sơn không phải là người đầu tiên gieo cầu nhắm vào Thanh Thúy. Ngoài ông, với mối tình đơn phương, còn có nhiều nghệ sĩ khác nữa. Trong số ấy, ồn ào, sôi nổi và cũng bền bỉ nhất là tài tử Nguyễn Long, tự Long Đất…
            Tôi không biết Giáo sư Nguyễn Văn Trung có chia sẻ quan niệm không cần phải có thêm cuộc gieo cầu… cuối cùng, như minh xác của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn?


DU TỬ LÊ
Tháng 09/2018

_____________________________________________________________
(1) Thanh Thúy sinh năm 1943 tại Huế. Đi hát từ năm 1959. Năm 1961, cô được chọn là “Hoa hậu nghệ sĩ”, do Bác Sĩ Trương Quang Hớn tổ chức ở phòng trà Anh Vũ. Đồng thời cô cũng được coi là nữ ca sĩ ăn khách nhất trong ba năm liên tiếp.
(2) Đặng Thế Phong sinh năm 1918, mất năm 1942. Ca khúc “Giọt Mưa Thu” là sáng tác cuối cùng của ông, viết vào những ngày cuối đời trên giường bệnh năm 1942. Ban đầu bản nhạc mang tên “Vạn Cổ Sầu”, nhưng theo ý một vài người bạn, ông đặt lại là “Giọt Mưa Thu” cho bớt sầu thảm. Một số tài liệu xưa từng ghi, ca khúc này có sự tham gia viết lời của cố nhạc sĩ Bùi Công Kỳ (1919-1985) (theo Bách Khoa Toàn Thư).


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thanh-thuy-va-ca-khuc-uot-mi-cua-trinh-cong-son/

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #198 vào: 18/06/2019, 10:27:16 »

Nhân ngày Father’s Day: Thầy cũng như cha

Cuộc chiến Việt-Pháp khốc liệt kéo dài trong chín năm, đến lúc hai bên phải ngồi chung bàn. Đối mặt nhau. Nghị hòa. Hòa. Nhưng đau lắm. Đất nước bị chia làm hai.

Trường Diên Hồng tại Hội An cuối thập niên 1950.
Từ trái, anh Hứa Xin (nhân viên văn phòng); các giáo sư Phan Văn Mùi, giáo sư Lợi,
Nguyễn Ánh Anh, Trương Duy Hy, Phạm Phú Hưu, Nguyễn Đình Thống (hiệu trưởng),
Phan Thiệp, Phan Khôi, Lê Thị Hồng Mận, Nguyễn Thị Thanh, Phan Biển

VỚI MIỀN NAM, trời tự do bừng sáng, đây là lúc cho hàng triệu số phận con người được ân phúc đổi đời. Từ rừng núi trở lại, tôi là một thằng bé xác xơ trong số ấy.
            “Xác xơ trong ngơ ngác tương phùng”.


• ⦁ •

             Những năm giữa, về sau, của thập kỷ 1950 thế kỷ trước, tôi là một học sinh trung học trường Diên Hồng, Faifo. Do cách gọi quen từ thời bị Pháp đô hộ lưu lại, thuở ấy, cái tên Faifo (Phe-phô) vẫn được dùng nhiều hơn Hội An. Hôm nay, phố cổ Hội An đã nổi danh trên thế giới là một di sản của nhân loại, kín đầy đường phố đêm ngày, nắng mưa, là ông tây bà đầm, du lịch xem chơi cho biết xứ người. Từng là một thương cảng sầm uất với thương thuyền vãng lai từ Bồ Đào Nha, Hòa Lan, Tây Ban Nha, Nhật… từ thế kỷ 15, lại là tỉnh lỵ của Quảng Nam, nhưng hơn 60 năm trước, thuở tôi còn là cậu học trò, Hội An vẫn là một thành phố rêu phong và tịnh vắng; hiền hòa với một vẻ đẹp cổ kính.
            Trường Diên Hồng là một trường tư thục, rất nổi tiếng. Một phần, là do đa phần học trò từ vùng Việt Minh trở về, đã quá tuổi vào trường công lập, đời sống rất kham khổ lại từ bé rất thiếu trường học. Nay được đi học lại, họ chịu khó học hành, rất giỏi. Có khóa thi trung học (1958) toàn vùng Quảng Nam – Đà Nẵng, ba trong bốn hạng đầu bảng toàn là học trò trường Diên Hồng (thủ khoa, á khoa, và hạng tư). Phần quan trọng khác, là Diên Hồng quy tụ nhiều giáo sư tầm cỡ. Dạy giỏi, tận tâm, đã đành; mà vì cái danh tiếng, phẩm hạnh nơi quý thầy. Trong đó, thầy Phạm Phú Hưu là một vị tiêu biểu.
            Tác phong nghiêm minh, nhân từ; phong thái đĩnh đạc một thái độ trí thức đã qua thử thách với thăng trầm thời thế; sự uyên bác nơi một giáo sư giảng dạy môn văn chương và sử ký; cách đối xử với học trò rộng lòng đầy tha thứ; tất cả là được nhận rõ, trung thực, và thường trực, qua thầy Phạm Phú Hưu.


• ⦁ •

             Thầy là cháu nội Tiến Sĩ Phạm Phú Thứ, một đại thần, từng là phó sứ của Sứ Bộ Phan Thanh Giản, được triều đình nhà Nguyễn, thời vua Tự Đức, cử đi nghị hòa tại Paris, năm 1863.
            Thầy chào đời vào năm 1903, tại phủ Điện Bàn, một vùng địa linh nhân kiệt, với các danh nhân Phạm Phú Thứ, Hoàng Diệu, Nguyễn Duy Hiệu, Trần Quý Cáp, Trần Cao Vân, Phan Thành Tài, Nhất Linh, Hoàng Đạo. Thạch Lam, Phan Khôi… và nhiều, rất nhiều các nhà trí thức, khoa bảng khác.
            Vào buổi nền Nho học (Hán tự) đã suy tàn, thầy theo học chương trình mới (Pháp ngữ), ngay từ thiếu thời. Đậu Diplôme vào năm 19 tuổi (1922). Được bổ vào ngành giáo dục.
            Năm 1922, dạy học ở Phan Thiết, rồi sau đó, Bình Định. Về sau, được chuyển đến làm hiệu trưởng trường tiểu học phủ Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, một thời gian khá dài.
            Năm 1945 khi chính phủ Trần Trọng Kim được thành lập, thủ tướng bấy giờ bổ nhiệm thầy vào chức tri phủ, phủ Bình Sơn.
            Theo lời kể của nhà văn Phạm Phú Minh, con trai của thầy, về việc thầy rời chức quan tri phủ, cũng đáng cho chúng ta lưu tâm một tình thế buổi giao thời, cũng là những ngày cuối cùng của các triều vua nhà Nguyễn:

             “Đến khoảng đầu Tháng Tám, 1945, tình hình rất căng thẳng vì sự lớn mạnh của phong trào Việt Minh, chính quyền hầu như bị cô lập, một buổi tối ông rời phủ đường Bình Sơn, lẳng lặng đạp xe một mạch về quê Quảng Nam”.

            Sau ngày 2 Tháng Chín, 1945, thầy tham gia vào Ty Giáo Dục ở Hội An.
            Cuối năm 1946, chiến tranh Pháp-Việt bùng nổ, thầy cùng gia đình tản cư lên vùng núi Tiên Phước, Quảng Nam, cùng tham gia kháng chiến chống Pháp buổi ban đầu như bao nhà trí thức yêu nước khác. Chức vụ, trưởng ty giáo dục.
            Năm 1954, thầy về lại Hội An rồi dạy học tại trường Diên Hồng.


• ⦁ •

             Sống với buổi giao thời, và suốt một thời gian nguy của đất nước, thầy rất am tường thời cuộc. Rõ là gương soi, thời thế buổi sơ khai của một dân tộc vừa thoát khỏi thảm cảnh nô lệ, lại tới cuộc thanh trừng những đảng phái khác hệ tư tưởng chính trị; hoang mơ và khiếp hãi, hèn hạ và tối tăm, đầy tội ác trước ngôi đền tổ tiên, để tranh nhau quyền lực.
            Thầy Phạm là một người trầm lặng, khá kín đáo, nhưng tôi có cái may mắn, ngoài cái học ở trường lớp như mọi học sinh khác, và cả sau này mỗi lần gặp gỡ nhau, tôi được thầy luôn rót lòng chia sẻ. Thầy cho rằng tôi một cậu học trò khá đặc biệt, nên càng dụng tâm chăm sóc. Đó là những kinh nghiệm “xương máu” để sống đời. Là cuộc từng trải của thầy, từ “những điều đã thấy”, từ “bao kinh nghiệm đã qua”. Kia kìa, những tư tưởng lấp lánh sắc màu như giấy vàng mã, chỉ là để đốt trước áo quan, vành mộ. Thầy dạy, “uy vũ bất năng khuất”, nhưng không chỉ để bảo toàn danh tiết cho riêng mình, mà phải vì cái chung. Chỉ đáng lưu tồn nơi những con người “làm nên việc”.
            Nhờ ân huệ của tiền nhân, như một tín đồ chịu phép, mấy mươi năm qua tôi biết ẩn nhẫn, âm thầm trong cái đau riêng, để thực hiện “việc riêng mình”. Lách mình qua được bao vực đèo hiểm nguy của bỉ cực; một hiện tiền của xứ sở luôn bày biện điêu linh, và mãi mãi nan nguy. Những “hấp lực đẹp đẽ”, để kẻ đến với “lý tưởng”, khi tàn đời mới hiểu ra mình nhầm đường lạc nẻo. Sự tự đánh phá, tự-làm-ung-thư-trong-nhau, là thường trực.
            Thân phụ tôi dạy tôi lấy đạo mà sống với đời. Thầy Phạm dạy tôi luôn giữ cái đạo, nhưng phải dụng cái thế để còn lại giữa đời.
            Bao năm nay, trong suy nghĩ và hành động, trước bàn viết, luôn hiển hiện trong tôi hai hình ảnh. Thân phụ tôi, và thầy Phạm. Hai người cha. Một, của tâm linh nhắc nhở. Một, hoằng viễn là cảnh báo soi đường.


• ⦁ •

             Năm dạy chúng tôi, thầy đã tuổi ngũ tuần. Bước đi chậm rãi, giọng nói ấm, nhẹ, nụ cười thân thiện, là thầy. Đặc biệt cái nhìn tinh tế hiền hòa, nhưng có một tác động khen ngợi hay khiển trách, qua ánh mắt, là rất hiệu ứng đối với đám học trò.
            Nhiều năm, chưa bao giờ thấy thầy giận dỗi, nặng lời với một học sinh nào. Con gái làm bài sai, hoặc một thằng nhãi đùa nghịch trong lúc thầy giảng bài, thầy bước tới, tay trở đầu quạt, gõ nhẹ một cái lên đầu. Con trai, thầy gõ đầu có nan tre. Con gái, thấy gõ cái phần quạt có giấy bồi mềm mại, lên mái tóc. Cái gõ nhẹ nhàng, như một cách đùa, nhưng cái dấu ấn đi xa, cái sự vâng lời thầy là có ngay/thực. Và, giật mình tự nhủ, cố làm sao để khỏi phiền lòng thầy lần nữa.
            Mùa hè, lẫn mùa đông, thầy luôn cầm một cây quạt giấy. Có một cách cầm quạt khá lạ. Rất ung dung, thanh thản. Quạt năm ba cái, thầy xếp quạt. Hai tay cầm hai đầu quạt. Đặt ngang tà áo dài. Phía trước, hoặc cắp sau lưng. Hai cánh tay song song, thòng xuống. Ngoài bộ đồ vét màu nâu sậm, thầy thường mặc áo dài đen. Cái nhân dạng khiêm cung ấy, là của một nho sĩ. Cái khí thái bảng lảng ấy, một trời trong nắng, mây thưa và gió rất nhẹ, là của một tâm hồn đã phần nào bước ra ngoài Cõi tục lụy.
            Hình ảnh thầy, đẹp nhất là lúc đám học trò cắm cúi làm bài. Phòng học im vắng, chỉ tiếng thì thào. Nhỏ/vụn. Với quạt sau lưng, thầy đứng thanh thản nhìn trời mây ngoài kia, qua khung cửa sổ. Với thuyền lác đác. Nước trôi dòng. Với cây đổ bóng. Hội An thuở ấy, một tỉnh lỵ nhỏ bé. Đường phố hẹp. Hàng hàng những mái nhà tường vàng ngói cũ. Rêu phong còn mãi. Cuối Đông này sang đầu Hè kia. Làm như, cái thường trực dãi dầu, mái ngói cũ, màu rêu xưa, là phần hồn xanh biếc của phố thị Hội An.
            Từ khung cửa sổ, thầy mông lung nhìn ra. Nắng tịch mịch. Qua một bãi cỏ rộng, một ít hoa vàng cỏ dại, là con sông Hoài – một nhánh của con sông Thu Bồn bạo liệt – hiền hòa hiện ra bên kia.
            Thầy của tôi, gởi nỗi nhớ đến Hoài? Nước sông Hoài chảy chậm lắm. Như một người đi lơ đãng, mỗi bước mỗi buồn lòng muốn quay lại. Nhưng, chậm tha hồ chậm, một hồi nữa thôi, chừng bốn cây số là Hoài về tới biển Đông. Chỗ cửa biển mang tên cửa Đại. Một vòm sông nước cũ Chiêm Thành. Để, Buồn trông cửa bể chiều hôm/thuyền ai thấp thoảng cánh buồm xa xa. Thầy ở đó. Một cõi trầm tư. Người xứ Quảng gọi Đại là Đợi. Sông Hoài! cửa Đợi! Đợi ai? Nhớ gì? Thuở ấy, chúng tôi thật lòng không thể hiểu.
            Không hề là bầu trời vô tâm đám học trò chúng tôi đang nhìn. Đó có thể là nơi chôn cất một viễn mộng trong quá khứ, đã không thành. Mãi về sau, khi tôi lưu lạc, xa xôi xứ lạ, với thời gian đánh mất, mỗi khi nhớ/nghĩ đến thầy, tôi mới hiểu ra phần nào cái tâm cảm khói sương, cõi hồn đầy giông bão ấy. Từ miền hư hao, thời Tây thuộc, những dặm đường kháng chiến, những ngày Cộng Hòa, giọt sương mai còn mất, cái chân trời xám ngắt với vân cẩu thoát ẩn thoát hiện chiều hôm, có thể, đã luôn trở lại trong cõi lòng của thầy, dù trí nhớ luôn muốn khước từ.


• ⦁ •

             Các con thầy đi học xa, về sau rất thành đạt. Thuở ấy thầy gần như sống mỗi mình.
            Sinh hoạt thường ngày rất thanh đạm. Phòng học trên lầu rất rộng, trường chừa ra một phần làm phòng riêng cho thầy. Phòng nhìn ra một sân trường rộng, một cây phượng vĩ to lớn. Mùa Hè vắng học trò, hoa phượng bay đầy, lác đác những chấm đỏ ngay trong phòng. Ấy là thời gian tốt nhất tôi được hưởng cái ân huệ là đọc sách, và trò chuyện với thầy. Một kệ sách tuy nhỏ, nhưng quý giá, nhờ đó, tôi đọc được rất nhiều cho cái trí não vừa bé nhỏ vừa thiếu thốn mọi bề. Từ đây tôi đọc được những Đường Thi, tạp san văn chương, tiểu thuyết tây tàu, sách triết học.
            Phòng của thầy một căn phòng nhỏ. Một bàn làm việc không rộng lắm. Một giường ngủ với giường gối, mền mùng không hoa màu sặc sỡ gì. Toàn cảnh căn phòng là một không gian điềm đạm, khiêm tốn. Nhưng thư nhàn, tiên cách.
            Nền nhà, một đôi guốc mộc, một đôi giày tây dùng khi mặc bộ đồ vét, một đôi giày hạ, loại các quan văn dùng đi lại bình thường thời xưa. Dù khi trong phòng mỗi mình, thầy vẫn luôn bận bộ bà ba màu trắng. Không bao giờ quần đùi, áo thun, dù ngày hè nóng bức.
            Thầy uống trà đơn giản. Không bình khay chén sang trọng, cách pha trà không rườm rà dành cho độc ẩm, quần ẩm. Chỉ một bình trà lớn, ủ trong bình bông vải giữ ấm. Tách, đĩa loại sứ Biên Hòa tầm thường.
            Ngày hai lần, người nấu cơm tháng mang tới. Bữa ăn ba món bình thường, món mặn, món xào, món canh. Như thực đơn của lính tráng ăn. Mấy năm trời chưa thấy thầy “nhậu nhẹt”, thậm chí chưa thấy thầy ngồi quán xá lần nào.
            Ngoài đôi bữa được ăn cơm chung với thầy, trong phòng, một lần tôi cùng thầy ăn mỗi người một ly chè, ở quán. Thầy trả tiền. Ấy là lúc tôi họa một bài thơ theo thể Đường Luật, bài xướng là của thầy. Thầy khen hay. Thưởng cho trò chén chè.
            Quán buổi tối. Đèn điện Hội An yếu lắm. Bóng đèn tròn 50 watt, treo lủng lẳng sợi dây. Gió lay nhấp nhô như đèn thuyền câu mực đêm ngoài biển khơi. Quán chè gần Chùa Cầu. Đêm Hội An mơ màng như mộng. Một lần quán xá trong đời thầy trò. Cái duy nhất là cái nhớ đời.


• ⦁ •

             Tháng Tư, 1975. Một cái hố nhục nhằn không chỉ ngăn con đường đi tới. Mà là hố thẳm máu lệ, mênh mông bốn bề, đối với miền Nam. Tôi lại gặp thầy. Tất cả đã trở về tay không. Một thoáng buồn nơi thầy tôi. Mái tóc tuổi đã quá thất thập, trắng màu. Thầy ít nói. Thỉnh thoảng thở dài vài cái, như chặn lại một nỗi lòng.
            Tôi hiểu, dù là “Lạc Thiên An Mệnh” dù cõi lòng đã “Ra ngoài nhân thế”, cũng chẳng thể bình an khi bốn hướng của đồng loại đã đúng nghĩa lầm than.
            Ngày thầy qua đời, rất đông đảo học trò đến đưa tiễn. Một ngậm ngùi, ở rất lâu trong mỗi học trò được thầy hằng thương yêu và dạy bảo.


• ⦁ •

             Kính thưa thầy, hôm nay con đã 80 tuổi. Dù đầu đen đầu bạc, con vẫn là một đứa học trò nhỏ bé, bao năm thơ dại đi lạc từ chốn hoang mang trở về; được ngồi dưới mái trường, có bạn bè thân yêu, có cái chữ mở đường, được thầy dạy dỗ. Vì tình đời, chỗ nghĩa ân, chẳng đành, con viết đôi điều kỷ niệm. Có gì thất thố kính mong thầy tha thứ cho.

CUNG TÍCH BIỀN
Tháng 6/2017


http://www.nguoi-viet.com/dien-dan/thay-cung-nhu-cha/

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #199 vào: 22/06/2019, 18:30:04 »

“Câu Chuyện Văn Chương”

Trong tủ sách của tôi có cuốn “Câu Chuyện Văn Chương” đóng bìa da màu đen, mạ chữ vàng sắc nét và tuyệt đẹp, vì tôi áng chừng đó là da thật và vàng thật, nhìn thoáng qua cũng nhận thấy, chắc chắn do một người bạn quý của tạp chí Khởi Hành gửi tặng.

Thi sĩ Vũ Hoàng Chương

CUỐN NÀY dường như là một trong khoảng hai ba trăm cuốn do người quý sách và quý Khởi Hành là anh Nguyễn Công Thuần đã tự động vì yêu quý tờ tạp chí văn học do tôi chủ trương mà gửi tặng, trong thùng sách gửi qua bưu điện cho tôi nhiều năm về trước.
            Lý do thứ hai không phải là sách tôi mua vì “Câu Chuyện Văn Chương” là tác phẩm in lại 16 bài diễn thuyết tại Trung Tâm Bút Việt, tức Văn Bút Việt Nam, mà tôi không phải hội viên hội đó và chưa bao giờ tới dự một cuộc sinh hoạt hay diễn thuyết nào của Hội Bút Việt, ngoại trừ một lần có hai bạn tôi cùng được giải thưởng, nghĩa là cũng là diễn giả sẽ lên sân khấu, là Tuệ Mai và Dương Nghiễm Mậu. Tôi thân Tuệ Mai vì quý chị, và tôi thân với anh Trần Việt Hoài anh ruột của chị (chị và anh Hoài đều là con của nhà thơ cách mạng Trần Tuấn Khải).
            Nhưng đó là chuyện ngoài lề, chủ yếu của bài này là nhằm viết về 16 bài diễn văn kia, trong 16 cuộc diễn thuyết trong quá khứ, thật là những tài liệu quý giúp tôi nhìn lại quá khứ sinh hoạt của văn học miền Nam Việt Nam nay đã mất tăm không còn thấy ở đâu nhắc nhở…
            Ngay ở trang 2 cuốn sách chín dòng chữ in kiểu chữ hoa như sau: “Câu Chuyện Văn Chương tập 1 gồm 16 bài diễn thuyết của 16 tác giả trong Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, bìa của Nghiêu Đề do Phổ Đức trình bày, Khai Trí xuất bản lần thứ nhất. Ngoài những bản thường còn in 100 bản đặc biệt trên giấy trắng 100 bản dành Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, 100 bản dành nhà xuất bản. Ấn quán Chinh Nguyên, 384/12T Lý Thái Tổ thực hiện xong ngày 12-12-1969 tại Sài Gòn.”
            Trang 3 có in “Khai Trí – 1969”, trang 5 in: 16 bài diễn thuyết của 16 tác giả: Vi huyền Đắc, Vũ Hoàng Chương, Bàng Bá Lân, Nhật Tiến, Nguyễn Thị Vinh, Nguiễn Ngu Í, Đông Hồ, Phạm Việt Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, Hoàng Xuân Việt, Trần Đồng Vọng, Nguyễn Duy Diễn, Châm Vũ, Hoàng Hương Trang, Tuệ Mai, Thanh Lãng.
            Ngay trang 5 là bài thứ nhất, “Vở kịch hay nhất” của Vi huyền Đắc. Cứ thế cho đến trang cuối cùng, in dòng chữ sau cùng của bài Thanh Lãng, trang 512.
            Nửa thế kỷ sau, tức là thời điểm khi tôi viết bài này, Tháng Ba, 2019, so với ngày cuốn “Câu Chuyện Văn Chương” được giấy phép xuất bản, 3 Tháng Mười Hai, 1969, vừa đúng 50 năm, vừa nửa thế kỷ. Nửa thế kỷ khởi sự viết về 16 bài diễn thuyết này, cũng là một kỳ hạn đáng kể. Do đó người viết sẽ phải trân trọng hơn, tìm hiểu sâu xa hơn về cuốn sách.
            Trước khi bắt đầu, không gì hay hơn là xin chép lại dưới đây bài thơ thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã ngâm tại diễn đàn Bút Việt khi ông diễn thuyết về người bạn mệnh yểu Đinh Hùng.


                                Tiếng đó người đâu?
                                              Vũ Hoàng Chương

                        “Tiếng nói thi ca miền Tự Do”
                        Mười hai năm trước, giữa thành đô
                        Cất lên cao vút, nghe đồng vọng
                        Cả khối băng kia, đáy ngọc hồ.

                        Chắc cũng nao nao dòng Bến Hải
                        Cùng ba mươi sáu phố phường xưa
                        Đêm nay vẫn tiếng ai sang sảng
                        Trời hỡi mà sao nghẹn gió mưa?
                        Vĩ tuyến nào đây nghe đứt phựt
                        Lâu rồi căng thẳng với dây thơ
                       “Đây Tao Đàn”… sóng truyền thanh nổi
                        Ai có nghe chăng lọt đáy mồ?
                        Ai có thấy chăng hồn nước réo?
                        Cửa Hàn sương quyện khói sông Lô?
                        Người mê hơi đất nay về đất
                        Hiểu nghĩa vầng trăng huyết dụ chưa?

                        Hai mươi tám giọt sao mờ
                        Tàn canh lửa quỷ bất ngờ hài tiên.
                        Ở đây mới thực người quen
                        Khói thơ là ảo, hoa đèn là thân



VIÊN LINH
Tháng 3/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/cau-chuyen-van-chuong/

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #200 vào: 27/06/2019, 18:03:31 »

Đổ bộ Normandie: “Đến giờ chót, Eisenhower vẫn lo toát mồ hôi”

Ngày 06/06/2019 kỷ niệm đúng 75 năm chiến dịch đổ bộ quân sự ồ ạt tại Normandie, mở đường cho việc đánh bại quân đội Đức, chấm dứt Đệ Nhị Thế Chiến. Nhân sự kiện này, tạp chí Thế giới Đó đây tuần này xin dành số đặc biệt để nói về những khía cạnh chưa được biết đến trong chiến dịch quân sự có quy mô lớn nhất trong lịch sử.

Ngày 06/06/1944, khoảng 130.000 binh sĩ Anh, Mỹ và Canada
 đổ bộ lên các vùng bờ biển Normandie. STF/AFP

NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ, ngày 06/06/1944, trời vừa hừng sáng, một đại hạm đội hùng hậu xuất hiện phía bờ biển Normandie. Trên hàng tầu chiến là hơn 130.000 binh sĩ, chủ yếu là Anh, Mỹ và Canada sẵn sàng đổ bộ tại các bờ biển Omaha, Utah, Juno, Sword và Gold. Trong đêm, khoảng 23.000 lính dù đã đổ xuống những vùng xung quanh để bảo đảm an toàn cho việc tiến quân. Và thế là chiến dịch Overlord đã mở màn, đây là một trong những chiến dịch quân sự lớn nhất thế kỷ XX.
            Việc mở mặt trận thứ hai chống quân phát xít, phối hợp cùng với sự tiến quân của quân đội Xô Viết ở phía đông đã dẫn đến sự bại trận của quân đội Đức Quốc Xã mười một tháng sau đó. Nhưng đằng sau một chiến dịch quy mô rầm rộ chưa từng có là cả một giai đoạn tranh cãi, cạnh tranh về tư tưởng và chiến lược giữa những nhà cầm quân; nỗi lo lắng và sợ hãi của những người lính yếu ớt.
            Đây cũng chính là những khía cạnh chưa từng được biết đến mà sử gia Olivier Wieviorka, chuyên nghiên cứu về Lịch sử Đệ Nhị Thế Chiến, có dịp trao đổi cùng với nhà báo François-Damien Bourgery đài RFI. Ban Tiếng Việt xin giới thiệu cùng quý thính giả.

RFI: Trong tập sách “Lịch sử cuộc đổ bộ Normandie – Nguồn gốc của việc giải phóng Paris”, ông có viết rằng giữa năm 1942 và 1943, ý tưởng về một cuộc đổ bộ Normandie là chủ đề “tranh luận chiến lược gay gắt” giữa Mỹ, Liên Xô và Anh Quốc do những cách tiếp cận địa chính trị khác nhau. Vậy đó những cách tiếp cận nào?
Olivier Wieviorka: Với Churchill (thủ tướng Anh), việc kiểm soát Địa Trung Hải là điều căn bản. Địa Trung Hải là nơi chỉ huy liên lạc với đế chế thông qua kênh đào Suez. Đức Quốc Xã cũng có nhiều lợi ích to lớn tại Ai Cập và Hy Lạp. Thêm vào đó, với Churchill, chiến lược đánh vào Địa Trung Hải sẽ ít tốn kém nhân lực hơn chiến lược tấn công vào phía tây bắc châu Âu. Ông cố gắng thực hiện chiến lược tiêu hao, đánh vào điểm yếu của đối phương, với một đội quân Anh tương đối ít ỏi, khoảng 4,5 triệu quân: làm tiêu hao lực lượng Đức ở những nơi chúng yếu kém nhất và kết liễu đối phương khi chúng kiệt quệ.
            Ngược lại, tổng thống Roosevelt và Hoa Kỳ thì lại có quan điểm hoàn toàn khác hẳn. Theo họ – và đó là một sự kế thừa chiến lược từ cuộc nội chiến và Đệ Nhất Thế Chiến – nên tấn công quân Đức ở những nơi nào chúng mạnh nhất. Đây chính là cách họ đưa ra quyết định và chính vì lý do này mà họ tuyên bố mở thêm mặt trận thứ hai ở Normandie.

Nếu như cuộc đổ bộ bị chậm lại, đó cũng là do phía Mỹ thiếu chuẩn bị. Trong suốt những năm đầu cuộc chiến, quân đội Mỹ vẫn chỉ là “một lực lượng nhỏ và trang bị yếu kém” như ông đã viết. Vì những lý do gì mà nỗ lực quân sự đã không được cung cấp sớm hơn?
― Quả thật vào năm 1939, quân đội Mỹ chẳng đáng kể về mặt quân số cũng như thiết bị. Đơn giản chỉ vì trong một chừng mực nào đó, người Mỹ đã đánh giá thấp mối nguy hiểm của cuộc chiến tại châu Á và châu Âu. Và bởi vì ông Roosevelt, người sáng suốt hơn cả, có nguy cơ đối mặt với sự phản đối của những người chủ trương biệt lập, tức là những người không chấp nhận Hoa Kỳ bị lôi cuốn vào trong một cuộc chiến mới. Điều đó đã cản trở ông chuẩn bị cho chiến tranh, như áp đặt chế độ nghĩa vụ quân sự – chế độ này chỉ được áp dụng từ năm 1949 – cũng như chuẩn bị phương tiện quân sự. Do vậy, có thể nói, Roosevelt buộc phải hành động trái với công luận và một bộ phận chính giới.

Vậy công luận Anh và Mỹ nghĩ gì về kế hoạch đổ bộ này?
― Dĩ nhiên là người dân Anh và Mỹ không hề được thông tin về những bí mật của thời điểm đổ bộ, ngày N. Đổi lại, người ta biết được cảm nhận chung của công luận về chiến tranh và nhất là các chiến dịch quân sự tại châu Âu.
            Tại Mỹ, chiến tranh không mấy gì được lòng dân. Trong giai đoạn 1939-1940, công luận Mỹ thiên về tư tưởng biệt lập, bởi vì Đệ Nhất Thế Chiến đã để lại nhiều ký ức tồi tệ. Và nếu như sự dè dặt này bị xóa bỏ vào ngày 07/12/1941 với vụ tấn công Trân Châu Cảng, thì công luận lại ủng hộ can thiệp chống quân đội Nhật Hoàng hơn là chống quân Đức.
            Lập luận của Roosevelt muốn tấn công nước Đức trước tiên không được lòng dân. Người Đức là một sắc dân thiểu số lớn nhất ở Mỹ. Đó là một cộng đồng đã hội nhập vào xã hội Mỹ. Ngược lại, cộng đồng người Nhật Bản lại bị khai trừ, bài xích, dẫn đến việc tổng thống Roosevelt phải ra lệnh giam giữ họ. Công luận dường như ủng hộ khả năng “hòa bình phục hồi nguyên trạng” với Đức, nhưng lại không sẵn sàng chấp nhận điều này với Nhật Bản.
            Còn người Anh, họ rất căm thù Đức Quốc Xã. Nhưng công luận và quân đội thì lại quá mệt mỏi. Chiến tranh kéo dài từ năm 1939, đã quá sức chịu đựng đối với Vương Quốc Anh. Người dân đôi khi nghĩ đến thời kỳ hậu chiến hơn là chiến tranh. Quân đội Anh đổ bộ lên Normandie lại thiếu sự hăng hái. Họ chiến đấu với cả lòng quả cảm nhưng cực kỳ cẩn trọng, vì mục tiêu là làm thế nào trở về nhà bình an vô sự.

Phải chăng còn có một vấn đề khác: Sự yếu ớt về mặt tinh thần, thể lực và tâm lý của bộ binh, mà lẽ ra họ phải đóng một vai trò chủ đạo trong cuộc đổ bộ này…?
― Sự yếu đuối của bộ binh có liên quan đến cả quân Anh và Mỹ. Người ta hiếm khi nào chọn vào bộ binh, vốn dĩ là đạo quân hứng mũi chịu sào – họ chết rất nhiều – và ít có tiếng tăm nữa. Một người trẻ tuổi trai tráng và quả quyết sẽ chọn tham gia đội quân tinh nhuệ, như lính đặc công hay lính dù chẳng hạn.
            Ngược lại, ai muốn ít rủi ro thì sẽ chọn ngồi văn phòng. Do vậy, bộ binh chỉ thu hút những tân binh nào yếu kém về trí tuệ và thể lực. Đây là cả một vấn đề vì trong một chừng mực nào đó quân Đồng Minh sẽ phải tiến hành một “cuộc chiến rừng rậm”, nghĩa là dựa hoàn toàn vào bộ binh trong suốt chiến dịch Normandie, nhất là trong quãng thời gian từ ngày 06/06 đến ngày 31/07/1944.
            Do lính bộ binh ít được “trang bị” nhất và phần lớn gánh nặng công việc đè lên vai họ, những binh sĩ này rất dễ bị tổn thương, nhất là về mặt tâm thần. Vào tháng 6 và 7/1944, một trận dịch rối loạn tâm thần thật sự đã xảy ra, nhiều người không còn khả năng chiến đấu, đó là điều mà bộ tham mưu không lường trước được. Tình trạng này là do tính chất khốc liệt của cuộc chiến và thời tiết xấu – trời hầu như mưa không dứt.

Chiến dịch Overlord chỉ được thông qua trong hội nghị Teheran, diễn ra từ ngày 28/11 đến 01/12/1943. Phải chăng chiến dịch này sau đó đã bị xét lại trong suốt năm tháng trước ngày 06/06?
― Kể từ hội nghị Teheran, những cam kết tham chiến trở nên mạnh mẽ hơn so với Liên Xô. Và kể từ lúc tướng Eisenhower được bổ nhiệm chỉ huy chiến dịch, bộ máy chiến tranh đã được khởi động và người ta không thể ngăn chận lại được nữa. Cho dù Churchill khi ấy đóng vai trò lực hãm hơn là lực đẩy. Ông ấy không ngừng quấy rối Eisenhower, người đã yêu cầu tiến hành một chiến dịch vùng duyên hải Provence – mà sau này là chiến dịch Dragoon ngày 15/08/1944. Churchill không ngừng nhắc nhở Eisenhower rằng đây sẽ là một ý tưởng tồi và nhất thiết phải trì hoãn chiến dịch này.

Một khi chiến dịch được chấp thuận, chỉ còn lại có năm tháng để huấn huyện binh sĩ và tập hợp trang thiết bị thích hợp…
― Người ta có cảm giác là Hoa Kỳ – “công xưởng của các nền dân chủ”– như câu nói của Roosevelt – là một cỗ máy chiến tranh hùng mạnh, một nguồn cung ứng dồi dào và quân Đồng Minh chỉ việc khai thác. Trên thực tế, việc chuẩn bị hậu cần cho cuộc đổ bộ rất phức tạp.
            Đầu tiên là do thiếu tầu bè chuyển quân. Điều đó buộc Eisenhower phải đẩy lùi chiến dịch được dự kiến lúc ban đầu là đầu tháng Năm, để có thêm một tháng chế tạo tàu bè. Cho đến tận phút chót, Eisenhower vẫn còn lo đến toát mồ hôi.
            Một yếu tố khác, chính là quân Đồng Minh không biết là kiểu chiến tranh mà họ sẽ phải tiến hành. Đầu tiên họ tính tới một cuộc tấn công chớp nhoáng, cần nhiều xăng và ít đạn dược hơn cần thiết, đến mức áp dụng “khẩu phần” đạn dược. Mọi việc diễn ra ngược lại, kể từ ngày 25/07, khi quân Mỹ tiến đánh về hướng Avranches. Từ lúc đó, xăng lại thiếu.
            Về mặt kỹ thuật, có một số lo ngại về tình trạng thiếu kinh nghiệm của binh sĩ tham gia chiến dịch vào ngày N. Về hệ tư tưởng, tất cả các báo cáo của Mỹ và Anh cho thấy sự yếu kém, thiếu hụt trong việc chuẩn bị tinh thần, giáo dục cho các binh sĩ. Điều mà những người lính này muốn, đó là làm xong bổn phận, trở về an toàn và bảo vệ các chiến hữu của họ. Họ rất ít thấm nhuần ý tưởng tiến hành một “cuộc đại thập tự chinh chống lại chủ nghĩa phát xít” như bộ máy tuyên truyền cố gắng loan tải.

Tình trạng mối quan hệ ngay giữa lòng bộ tham mưu quân Đồng Minh thì sao?
― Các mối quan hệ đó lại khá tốt, nhờ có tướng Eisenhower, người đã biết cách châm dầu cho cỗ máy vận hành và tỏ ra ngoại giao. Ông có nhiều công trạng vì đa phần những người cấp dưới của ông đều là những kẻ gây rắc rối, tệ hại nhất là tướng Anh, Montgomery, người chỉ huy đội quân trên bộ. Mối quan hệ này đã trở nên tồi tệ hơn khi Montgomery không tài nào chiếm được thành phố Caen.
            Thất bại này dẫn đến việc Eisenhower trao thêm nhiều quyền hành cho tướng Bradley, khiến đồng nhiệm Anh thất vọng. Mối quan hệ này còn thêm phần phức tạp hơn khi mà báo chí của từng nước lại xía vô.

Nhìn lại tất cả những khó khăn mà chiến dịch Overlord phải đối mặt, cuối cùng rồi người ta cũng có thể cho rằng thành công của chiến dịch là một sự mầu nhiệm…
― Giả như không có một sự chuẩn bị kỹ lưỡng, thì thành công của cuộc đổ bộ và trận đánh Normandie là một phép mầu. Chiến tranh theo kiểu Mỹ là một cuộc chiến mà ở đó mọi thứ đã phải sẵn sàng. Điều này giải thích vì sao cho dù có một số thất bại như quân Đức kháng cự mạnh mẽ ở Caen, những điều không ngờ tới, thời tiết xấu, nhưng quân Đồng Minh vẫn chiến thắng.
            Thắng lợi này không phải là do may mắn, mà nhờ vào một sự chuẩn bị kỹ lưỡng và tài năng của một số tướng lĩnh, nhất là tướng Bradley.


RFI
Tháng 6/2019


http://vi.rfi.fr/phap/20190608-chien-dich-do-bo-normandie-eisenhower-toat-mo-hoi

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #201 vào: 02/07/2019, 16:19:11 »

Căn nhà của Ernest Hemingway ở Cuba

Những độc giả yêu mến nhà văn Hoa Kỳ Ernest Hemingway, Nobel văn chương năm 1954, có lẽ ít người biết rằng, một phần ba trong 62 năm cuộc đời mình, ông sống ở Cuba khoảng thời gian lâu nhất so với tất cả các nơi khác: 21 năm.

Nhà văn Ernest Hemingway viết tác phẩm trên máy đánh chữ

TỪ ĐẦU NĂM 1939, ông đã chuyển sang ở Cuba và năm sau, mua một ngôi nhà ở vùng quê có tên là Finca Vigia, cách thủ đô Havana chừng 10 dặm. Căn nhà nằm trong một trang trại rộng 13 mẫu xây vào năm 1886 trên một ngọn đồi, được mua với giá $12.500.
            Chính từ ngôi nhà này, nhà văn đã viết những tác phẩm quan trọng trong sự nghiệp văn chương của mình như “The Old Man and The Sea” (Ông Già và Biển Cả), “For Whom The Bell Tolls” (Chuông Gọi Hồn Ai), “Across the River and Into the Trees” (Qua Sông và Vào Trong Rừng), “A Moveable Feast” (Hội Hè Miên Man), “Islands in the Stream” (Những Hòn Ðảo Giữa Hải Lưu) cùng rất nhiều truyện ngắn và tiểu luận khác.
            Hemingway rất yêu mến Finca Vigia và qua đó, yêu mến đất nước Cuba. Khi đoạt giải Nobel văn chương, ông tuyên bố, “Tôi là người Cuba đầu tiên đoạt giải Nobel”, và không ngần ngại mang tặng tấm huy chương cho thánh địa mang tên thánh bổn mạng của đất nước Cuba, Virgen de Cobre. Có lẽ vì thế mà hiện nay, vẫn còn rất nhiều người Cuba không hề biết rằng, nhà văn đoạt giải Nobel này vốn là người Mỹ.
            Sau khi Fidel Castro lật đổ chế độ độc tài Batista năm 1959 và tiến hành cuộc cách mạng Cộng Sản, Hemingway phải rời bỏ căn nhà, về định cư ở Idaho, Hoa Kỳ, vào Tháng Năm, 1960. Một thời gian ngắn sau vụ đổ bộ Vịnh Con Heo (Bay of Pigs invasion) do những người Cuba lưu vong chống Cộng thất bại Tháng Tư, 1961, và sau khi Hemingway dùng súng tự sát ở nhà riêng vào Tháng Bảy, 1961, Finca Vigia bị tịch thu.
            Người vợ thứ tư của ông cưới vào năm 1945, bà Mary Welsh, thương lượng với chính quyền Cuba, mang đi được một số rất ít các vật dụng và tài liệu cá nhân cần thiết như tranh ảnh, sách vở, bản thảo… còn tất cả đành phải để lại. Từ đó, tuy được xem là viện bảo tàng và được chính quyền mới cho bảo vệ cẩn mật, nhưng căn nhà trở thành một nơi bỏ hoang, hoàn toàn bị đóng kín, cấm vào, kể cả những người có phận sự canh gác. Dẫu vậy, đây là một địa điểm thu hút du khách khắp nơi trên thế giới. Khách tham quan đi vòng vòng bên ngoài, được phép nhìn qua cửa sổ, chỉ để thấy một vài chai, lọ và một bàn máy đánh chữ bám đầy bụi.
            Mãi đến 40 năm sau.
            Vào đầu năm 2002, nhờ sự vận động của những người yêu mến Hemingway, trong đó có Scott Berg là người viết tiểu sử của nhà văn, và với sự giúp đỡ của Jim McGovern – một dân biểu Dân Chủ thuộc tiểu bang Massachusetts từ lâu vẫn ủng hộ nối lại bang giao với chính phủ Cuba, cuối cùng chính phủ Cuba đồng ý cho các học giả Hoa Kỳ sử dụng các tài liệu ở đó với điều kiện: bản gốc phải được lưu giữ tại Cuba.
            Thế là, ngôi nhà Finca Vigia được mở cửa cho những người thân và những nhà chuyên môn đến viếng, chấm dứt một thời gian dài bế tắc đã từng làm những nhà nghiên cứu văn học Hoa Kỳ vô cùng tức giận.
            Sau một thời gian dài không ai chăm sóc, tất cả những gì còn lại trong căn nhà, nhất là ở tầng hầm, đều ẩm mốc, bẩn thỉu. Sách vở, giấy tờ bị mối mọt gặm, rách nát, bạc màu. Tuy vậy, theo những nhà chuyên môn, căn nhà vẫn là một kho tài liệu quý giá giúp tìm hiểu cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hemingway.
            Nằm lẫn lộn giữa đủ thứ linh tinh chẳng hạn những cây súng trường đi săn và những đầu thú Phi Châu nhồi bông, người ta tìm thấy rải rác đây đó trong nhà ước chừng có đến 3.000 lá thư, 3.000 hình ảnh và 9.000 cuốn sách, trong đó rất nhiều cuốn có những ghi chú bên lề do Hemingway viết. Những ghi chú này, vốn chẳng có ý nghĩa gì đối với độc giả, nhưng đối với những nhà chuyên môn viết tiểu sử nhà văn thì chúng cung cấp một “nội soi cao cấp vào bộ óc sáng tạo” của Hemingway.
            Theo họ, chỉ mới nhìn sơ qua một ít tài liệu, người ta tìm thấy ngay chúng sẽ giúp làm sáng tỏ hoạt động sáng tạo của Hemingway. Ðó là những đoạn viết thảo trên giấy, trên bìa sách, bản thảo đầu tiên của những tác phẩm chính, một tuyển tập thơ… Có cả bản sao kịch bản phim “The Old Man and The Sea” (Ông Già và Biển Cả) với những ghi chú của ông.
            Một mảnh giấy vụn trên đó có ghi nhanh những mẩu đối thoại ghi lại từ hồi Thế Chiến thứ II định dùng trong câu chuyện, nhưng sau bỏ đi. Một đoạn “lời bạt” dùng cho truyện dài “For Whom The Bell Tolls” (Chuông Gọi Hồn Ai), sau bị bỏ.
            Những bức ảnh chụp trong cuộc chiến tranh Tây Ban Nha. Hai mươi sáu bức thư của nữ bá tước trẻ người Ý Andriana Ivancich, người mà Hemingway mê say và dựng thành nhân vật chính trong tiểu thuyết “Across the River and Into the Trees” (Qua Sông và Vào Trong Rừng).
            Lại còn có thư của nhà thơ Ezra Pound hay thư của người vợ cũ của ông, bà Martha Gellhorn, và danh sách những thức ăn cùng nhiều thứ linh tinh khác.
            Trong một hồ sơ, người ta tìm thấy những bài báo đề cập đến tai nạn máy bay khiến nhà văn suýt chết năm 1954 ở Phi châu và các bài điểm sách xuất bản năm 1925 do nhà văn cắt ra từ báo. Các tài liệu còn tiết lộ những chi tiết về cuộc sống cá nhân của Hemingway, chẳng hạn số đo trọng lượng và áp huyết được ghi trên bìa trong bản in của tác phẩm “Ðồi Gió Hú” (Wuthering Heights). Trong một đoạn độc thoại đề ngày 1 Tháng Sáu, 1953, ông khắc khoải lo âu với những cảm giác lẫn lộn về bà vợ thứ tư, Mary Welsh. Có những mảnh giấy ghi lại những dặn dò người giúp việc về việc sửa soạn cho ông những món ăn ông thích như thế nào. Một ghi chú khác dặn họ đừng làm phiền ông khi ông đang viết.
            Theo Sandra Spanier, một học giả được chọn làm người biên tập lại các sưu tập mớ thư từ của Hemingway, “Ðây là biên giới cuối cùng. Trước đây, chúng tôi chẳng biết gì nhiều về thời gian ông ở Cuba, chỉ biết rằng đó là một đoạn đời rất quan trọng”.
            Người viết tiểu sử Hemingway Scott Berg nhận xét: “Tôi nghĩ là tôi đã đọc tất cả những tác phẩm viết về tiểu sử Hemingway, nhưng tôi chẳng bao giờ có cảm giác thỏa mãn cho đến khi tôi đến được căn nhà này và tận mắt thấy những tài liệu này. Ðó chính là những thứ mà chúng tôi thiếu về ông và những thứ đó đã làm cho ông ấy sống lại. (…) Tìm thấy những chi tiết liên quan đến cuộc sống hàng ngày của những khuôn mặt quan trọng là những thứ mà các nhà viết tiểu sử danh nhân mơ ước”. Và theo ông, một trong những cái đáng kể nhất là những tài liệu liên quan đến mối xung đột giữa nhà văn và người vợ sau cùng, bà Mary Welsh.
            Công việc quan trọng nhất sau khi đạt thỏa thuận với chính quyền Cuba năm 2002, theo các nhà chuyên môn, là bảo quản ngôi nhà và bảo quản tất cả các tài liệu còn lại. “Rockefeller Foundation” tặng ngay $75.000 và Dân Biểu McGovern quyên góp thêm $25.000 nữa dành cho công tác này.
            Và từ đó, những người bảo trì Hoa Kỳ bắt đầu sửa chữa và bảo tồn những vật liệu, đồng thời, nội soi và chụp vi phim. Bản chính vẫn lưu giữ ở Cuba, nhưng các sưu tập điện tử sẽ cất giữ ở Hoa Kỳ tại thư viện J. F. Kennedy và viện bảo tàng Boston, nơi vốn đã là kho lưu trữ hồ sơ về Hemingway từ bao nhiêu năm nay. Bản liệt kê các tài liệu sẽ được đưa lên mạng Internet sau này.
            Sau khi chính phủ Obama nới lỏng chính sách cấm vận đối với Cuba, và sau đó, thiết lập bang giao chính thức giữa hai nước, mới đây Finca Vigia Foundation đã gửi thêm bốn kiện hàng lớn chứa vật liệu xây dựng trị giá $900.000 sang Cuba để sửa chữa và tân trang ngôi nhà.
            Ngôi nhà, bây giờ là viện bảo tàng Hemingway, mở cửa hàng tuần, kể cả Chúa Nhật, cho du khách đến thăm viếng.


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 08/2017

___________________________________________
Tài liệu: Wikipedia và các tài liệu khác trên Internet.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/can-nha-cua-ernest-hemingway-o-cuba/

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #202 vào: 06/07/2019, 15:37:06 »

Nguyễn Long và mối tình một chiều với Thanh Thúy

Trong số hàng chục nghệ sĩ từng bày tỏ tình yêu một chiều với Thanh Thúy, dư luận ghi nhận một người “can đảm” đi hết “con đường tình… một chiều” dài thăm thẳm của mình, mà không hề có khoảnh khắc ngập ngừng nào, đó là tài tử Nguyễn Long.

Ca sĩ Thanh Thúy

NGUYỄN LONG,(1) trong một hồi ký được tuần báo Thế Giới Nghệ Sĩ, bộ cũ, số 36, đề Tháng Sáu, 1995, đăng lại, Nguyễn Long cho biết, trước khi thực hiện phim “Thúy Đã Đi Rồi” vào cuối năm 1961, ông đã có tất cả ba vở kịch, mà Thanh Thúy là linh hồn chính…
            Đó là các vở kịch “Ghen”, được diễn tại rạp Cathay và sân khấu Anh Vũ – với Xuân Dung đóng vai Thanh Thúy, hợp cùng các diễn viên Ba Bé, Linh Sơn, Nguyễn Long… vào đầu năm 1960.
            Vở kịch thứ hai, tựa đề “Khi Người Ta Yêu Nhau”, diễn tại rạp Hưng Đạo, cũng trong năm 1960 – với Kim Cương nhập vai Thanh Thúy, cùng Túy Hoa, Bảy Xê, Ngọc Phu, Ba Bé và Nguyễn Long.
            Vở kịch thứ ba, có tên “Tan Tác”, cũng vẫn Kim Cương vai Thanh Thúy, cùng với Vũ Đức Duy, Vân Hùng, Túy Hoa, và Nguyễn Long…
            Không biết có phải vì thấy rằng, ba vở kịch viết riêng cho “tiếng hát liêu trai” vẫn chưa đủ “nặng ký”, để Thanh Thúy chú ý tới tình yêu cuồng nhiệt của mình, nên Tháng Mười Một, 1961, Nguyễn Long viết, và quay cuốn phim “Thúy Đã Đi Rồi”; với Minh Hiếu vai Thanh Thúy, Yến Vĩ vai Thanh Mỹ (em ruột Thanh Thúy?); và Mai Trường, Trần Văn Trạch, Ánh Hoa cùng rất nhiều nghệ sĩ khác, như Hùng Cường, Minh Chí, Ngọc Hương, Hề Minh…
            Được biết, nội dung cuốn phim mô tả một ông đạo diễn yêu say mê một ca sĩ, nhưng không được đáp lại. Ông bị ám ảnh tới mức thấy thiếu nữ nào, ông cũng liên tưởng tới người ca sĩ mà ông đã đem lòng tương tư đêm, ngày. Cuối cùng, trong một phút bốc đồng, mất kiểm soát, người đạo diễn kia đã bắt cóc và giết chết cô ca sĩ. Tuy nhiên, không nhờ thế mà ông ta xóa nhòa được hình ảnh cô ca sĩ trong tâm tưởng. Cuối cùng, đạo diễn nọ, đã chọn khung cảnh trước nhà thờ Đức Bà Sài Gòn, để tự vẫn.
            Phải chăng vì tính bi thảm quá dữ dội của nội dung phim, nên phim “Thúy Đã Đi Rồi” bị cấm tới năm 1964, mới được phép công chiếu(?) Khi đó, Nguyễn Long đã lập gia đình. Do đấy, vì tế nhị, Nguyễn Long kể rằng: “… Phim chỉ được chiếu một lần ở Sài Gòn và một lần ở Huế! Nhưng dù sao thì cuốn phim cũng đã được biết đến một cách rộng rãi trong quần chúng.”
            Vẫn theo Nguyễn Long thì sự phổ cập của cuốn phim, sớm trở thành một “cách nói” mới. Đó là khi tìm bạn, không gặp, người tìm đã để lại lời nhắn rằng “Thúy đã đi rồi!”
            Tài tử Nguyễn Long cũng ghi thêm, thời gian kể trên là thời gian Thanh Thúy nghỉ hát để lo chuyện gia đình: Cô thành hôn với Đại Úy Không Quân Ôn Văn Tài, năm 1963…


Thanh Thúy và tài tử Nguyễn Long

            Năm 1967, “tiếng hát liêu trai” trở lại với không khí phòng trà Ritz ở đường Trần Hưng Đạo, không thành công. Nửa chừng, Thanh Thúy trở lại Cần Thơ, là căn cứ không quân, Ôn Văn Tài phục vụ, thời đó.
            Tới cuối năm 1972, một lần nữa, Thanh Thúy trở lại Sài Gòn, hát cho phòng trà Quốc Tế, đường Lê Lợi, với ban nhạc Ngọc Chánh. Lần này, “tiếng hát lúc không giờ” được mô tả là thành công, ngoại lệ.
            Nguyễn Long kể: “Sự kỳ diệu hiếm hoi đã xảy đến cho Thanh Thúy khi tiếng hát của Thúy lại vang xa, vang xa hơn, và vẫn thu hút, vẫn quyến rũ như ngày nào…”
            Trong hồi ký của mình, Nguyễn Long cũng kể chuyện đầu năm 1963, ca sĩ Duy Khánh (một trong những nghệ sĩ cũng từng âm thầm theo đuổi Thanh Thúy nhiều năm trước), tổ chức một chương trình đại nhạc hội ở ba nơi: Huế, Đà Nẵng và, Quảng Trị…(2)
            Phần kịch, Duy Khánh chọn diễn mấy vở của Nguyễn Long cùng với ban nhạc Thăng Long, Thanh Thúy, Mai Vi, Khánh Băng và, Nguyễn Long.
            Sau đêm hát cuối cùng ở Quảng Trị, hôm sau, mọi người trở lại Đà Nẵng, để lên máy bay về Sài Gòn. Theo sắp xếp thì trên chiếc citroen từ Quảng Trị về Đà Nẵng, sẽ có vợ chồng Nguyễn Long, Hoài Bắc, Thanh Thúy và Duy Khánh. Tuy nhiên, để bày tỏ tình yêu cũng như cho thấy sự… can đảm vì tình yêu, Duy Khánh nhất định không đi xe hơi mà, một mình chạy chiếc vespa về thấu Đà Nẵng.
            Đường xa có tới hàng trăm cây số, theo Nguyễn Long đường đi có nhiều đoạn khúc khuỷu, ngoằn nghèo, lên, xuống đèo rất nguy hiểm… Nhưng Duy Khánh vẫn lái chiếc vespa như bay trước mũi xe citroen…
            Nguyễn Long viết: “Nhiều khi anh lại cố tình lái sát bờ đèo để tỏ cho người ngồi trong xe biết là anh đang rất buồn và sẵn sàng… được chết. Những trường hợp như thế hay với bất cứ trường hợp nào khác, Thanh Thúy cũng chỉ mỉm cười…”
            Sự việc diễn ra ngay trước mắt này, khiến Nguyễn Long chợt nhìn lại mình. Họ Nguyễn nhớ, ông từng có 400 đêm ngủ trước cửa nhà Thanh Thúy. Ông cũng có chín lần lái xe đâm thẳng vào quán Anh Vũ, lúc Thanh Thúy, có mặt, trình diễn. Ngoài ra, trong thời gian quay phim “Thúy Đã Đi Rồi” ở Huế, thình lình nhận được điện thoại của “tiếng hát liêu trai”, Nguyễn Long đã lái xe từ lúc 5 giờ sáng ở Huế, để có mặt tại Sài Gòn 9 giờ tối ở phòng trà Tự Do…
            Ông tâm sự: “Rất nhiều lần tôi tỏ ra là một cây si… “nặng ký”, nhưng cũng chỉ nhận được nụ cười, như nụ cười Thanh Thúy đã dành cho Duy Khánh mà thôi.”


⋆ ⋆ ⋆

            Sau biến cố 1975, mãi tới Tháng Năm, 1981, người thực hiện, và đóng vai chính trong cuốn phim “Thúy Đã Đi Rồi”, mới gặp lại Thanh Thúy ở San Francisco (sau hơn 10 tháng ở trại đảo). Nguyễn Long viết: “Gặp lại dĩ vãng thần tiên của mình và thấy Thanh Thúy hát trên sân khấu San Francisco, tôi thấy Thúy muôn đời không thay đổi. Thúy là người ca sĩ, bạn hiền nhất của nền tân nhạc Việt Nam. Giọng hát của Thúy vẫn như xưa. Có phần chắc hơn, già dặn và rung cảm hơn. Thúy là một trong số ít ca sĩ vẫn giữ được giọng hát của mình, không sút giảm dù qua biết bao thăng trầm của đất nước và cá nhân…”

DU TỬ LÊ
Tháng 09/2018

____________________________________________________
(1) Tài tử Nguyễn Long tên thật Nguyễn Ngọc Long, sinh ngày 2 Tháng Ba, 1934, tại Hải Phòng. Ông mất ngày 2 Tháng Mười Một, 2009, ở thành phố Seattle, Washington. (Nguồn Bách Khoa Toàn Thư)
(2) Ca sĩ kiêm nhạc sĩ Duy Khánh sinh năm 1936 tại Quảng Trị; mất năm 2003 ở miền Nam California. Ông được coi là một trong tứ trụ của nhạc vàng thời kỳ đầu. Ba người kia là Nhật Trường, Hùng Cường và Chế Linh. (Nguồn Bách Khoa Toàn Thư)


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nguyen-long-va-moi-tinh-mot-chieu-voi-thanh-thuy/

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #203 vào: 11/07/2019, 15:53:39 »

Độc giả và những người làm một tạp chí văn chương

Mở đầu cho sự hợp tác với diễn đàn văn nghệ này từ năm thứ hai của nó, anh Trần Phong Giao gửi cho Thời Tập một bài viết xoay quanh việc làm một tạp chí văn chương – mà anh đã có đầy đủ kinh nghiệm sau gần mười năm điều khiển bán nguyệt san Văn. Bài của anh Trần Phong Giao dưới hình thức một lá thư ngỏ gửi cho người chủ trương diễn đàn này – nói về rất nhiều việc, từ độc giả một tờ báo văn chương qua những người cộng tác là các nhà văn nhà thơ, cho đến người làm tờ báo đó, và các đồng nghiệp. Chính vì những điều này – được chia thành các đề mục I, II, III… do chúng tôi đặt – bài viết sẽ được đăng trọn. Nó liên hệ đối với những người yêu chuộng báo văn chương, tuy trong đó có những điều riêng tư của người viết – và của những người được nói đến – và hẳn đó là những điều hy vọng sẽ được coi là thường tình nếu bạn đọc chấp phân đọc một lá thư ngỏ: Thư Ngỏ của Trần Phong Giao gửi Viên Linh.


SỞ DĨ có thư này vì trong Thời Tập số trước (17), trả lời ông bạn Vũ Phan L. ở Bình Định, bạn Viên Linh đã gọi đích danh tôi ra mà cho rằng “người tổ chức một tạp chí văn nghệ có tài phải là anh Trần Phong Giao”. Tôi tin là ông bạn họ Vũ ở Bình Định sẽ không tin điều bạn khẳng định. Thư này sẽ nói rõ vì sao.

I.– Độc giả miền Trung và một tạp chí văn chương
            Nhớ lại cách đây không lâu, anh Võ Phiến, từ Bình Định về có cho tôi biết là anh em văn nghệ ngoài nớ có nhắc tới tôi và khen tôi là “khôn”. Khôn vì tôi đã thôi không làm báo. Và vì không làm báo nữa nên tôi còn giữ được “cái huyền thoại là người làm báo giỏi”. Anh em ở Bình Định đã có lý. Không cứ gì người cầm bút, ngay các độc giả trung bình ở miền Trung đã rất tinh tường.
            Tôi nói thế không phải để “nịnh” độc giả của một miền mà chỉ là nói lên một sự thực: Tập san văn chương nào không được độc giả miền Trung – cái miền Trung khô cằn sỏi đá nhưng ham đọc nhất nước – ủng hộ, thì sẽ có cơ duyên mất đi chừng phân nửa độc giả tính chung trong nước. Điều đó đã xảy đến với tạp chí mà ta tạm gọi tên là Pb. Một cây bút trẻ ở Tuy Hòa, nhân vui câu chuyện, cho biết ông già của ảnh mua tạp chí Pb trong nhiều năm liên tiếp. Thế rồi, đột ngột, ông cụ “chê”, không mua tiếp nữa, vì “nó đã sút kém đến trở thành vô bổ” (những chữ trong dấu ngoặc kép là dẫn nguyên văn lời anh bạn nọ). Một dữ kiện cần nêu rõ: ông cụ thuộc thành phần khá giả, không chịu ảnh hưởng gì của các biện pháp kinh tế mùa thu, mùa đông, v.v… Gần đây, tôi được biết là số bán của tạp chí Pb so với năm trước khi ông cụ ngoài Tuy Hòa ngừng mua chỉ còn chừng phân nửa. Trong lúc các tạp chí bạn không những không giảm số bán mà lại có phần tăng lên chút đỉnh, con số phân nửa độc giả cũ của Pb tản mác đi đâu? Vấn nạn đặt ra, chung cho những ai muốn làm báo văn chương. Giải được vấn nạn này là coi như bắt được yếu tố “nắm được độc giả”, – yếu tố cần và đủ thứ nhì sau khi “tìm được độc giả”.
            Khởi đi một cách khiêm nhường thầm lặng, Thời Tập đã tìm được độc giả. Nhà phát hành cho tôi biết báo bạn tăng dần dần, không tăng nhiều nhưng mỗi số đều nhích lên chút đỉnh. Như vậy là bạn đã tìm được độc giả. Vấn đề đặt ra cho bạn bây giờ phải chăng là “nắm lấy độc giả”. Tôi tin là bạn biết cách cần làm. Ở đây cần tới cái tài ngửi (nhà phê bình Vũ Ngọc Phan dịch chữ flair, tôi dùng theo) của tay làm báo: biết độc giả cần gì, muốn gì. Rán lên bạn nhé. Mất đi một độc giả, buồn lắm. Mà không chỉ buồn. Con số “mất đi” thường không chỉ bỏ đi một cách đơn độc. Nó rủ rê, nó la lối, nó gây ảnh hưởng khó ngờ. Kinh nghiệm cố văn sĩ Nguyễn Vỹ và tạp chí Phổ Thông năm nào, hẳn bạn còn nhớ đấy.

II.– Tạp chí: không ai làm nổi một mình
            Cách đây khá lâu rồi, một anh bạn có lòng thương loan tin trên báo (mà ta tạm gọi là báo Pa) rằng tôi sẽ đảm trách những số báo đặc biệt. Trước khi loan tin, gặp tôi anh có bảo tôi làm. Nhưng ảnh chỉ bảo vậy thôi nên tôi cũng nghĩ là ảnh chỉ nói thế cho vui, chứ báo Pa của ảnh chẳng cần gì tới một tay “hết thời” như tôi. Có tôi chợ thêm đông và không có tôi thì chợ vẫn tưng bừng tấp nập. Phần khác, tôi còn một mối lo lớn khác: lo kiếm miếng ăn độ nhật. Thành ra, cho tới nay, nhiều năm tháng đã trôi qua, tôi vẫn chưa có hân hạnh đáp lại mỹ ý của anh bạn có lòng nọ.
            Bạn Viên Linh, bạn đưa đề nghị với tôi bằng miệng, còn tay bạn thì nhét vào túi tôi một khoản tiền. Hiện nay tôi không đến nỗi “chạy ăn từng bữa” và cũng không có khoản gì cần tiêu cách đặc biệt. Khoản tiền bạn đưa ra không lớn, nhưng đủ để tôi mua cho mấy đứa con mỗi đứa một đôi dép. Trẻ thơ, ngày Tết, được đi dép mới cũng là niềm vui. Con được vui, chẳng lẽ bố không lo làm trả nợ.
            Không một ai có thế làm nổi tạp chí một mình. Một người cộng tác không tới, một người bỏ đi, phải coi là một thiệt thòi chung cho tờ báo. Thiệt thòi lớn hay nhỏ không quan hệ. Chỗ quan hệ là sự thiệt thòi, tout court.
            Nhờ ai việc gì, mời ai làm gì, chẳng nên nhờ hay mời cách khơi khơi. Đồng tiền trả công không quan hệ bằng cách trả. Tôi đã nói điều đó với những bạn tìm đến tôi để hỏi về “kinh nghiệm làm báo”.
            Một gói trà ngon, mấy dòng chữ viết khéo gởi cùng tập báo biếu, riêng đối với một số tác giả, lại quý hơn tiền bạc.
            Cái khó là phải cư xử với người hợp tác sao cho thuận tình hợp lý. Người chủ trương của một tập san văn chương cần phải khéo léo. Sự khéo léo đó chẳng ai dạy cho mình, ngoài kinh nghiệm sống của chính bản thân và tuổi nghề…

III.– Dư luận của đồng nghiệp
            Hai chữ “hết thời” viết ở đoạn trên cũng là chuyện xưa tích cũ. Cách đây hơn hai năm, một nhà thơ cho biết là nếu tôi không cố làm một tạp chí thì tôi sẽ bị “họ” coi như là tên “hết thời”. Tôi đã trả lời: “Tao có cái thời nào đâu mà còn hay hết!” Anh bạn có vẻ không chịu hiểu câu nói của tôi mà phá lên cười hô hố.
            Nhớ lại Thời Tập mới ra, một ông chủ báo danh tiếng lẫy lừng (một trong những “họ” mà bạn tôi định nói) đã chê “Thời Tập là báo con nít, văn nghệ ai mà thèm đọc, sống giỏi lắm được vài ba số…” Lời ông chủ báo, người đã có danh có tiếng, có dưới tay cả một “bộ biên tập chủ lực hùng hậu”, hỏi tôi không tin sao được! Ấy vậy mà tới nay Thời Tập đã ra được gần hai chục số; số độc giả tìm đến Thời Tập cũng gần bằng số độc giả mua báo của ông chủ nọ.
            Bạn Viên Linh,
            Xem thế mới biết bạn là tay làm báo văn chương giỏi. Bạn làm việc một mình, không có ngay đến một thầy cò giúp việc (có người bảo tôi bạn đi làm 8 tiếng, tan sở về thẳng nhà tư ngồi cặm cụi sửa bài). Làm việc một mình cần phải kiên nhẫn nhiều. Cứ làm mà không nói. Làm được đến đâu hay đến đó, cách giản dị và khiêm cung.
            Không có gì dễ bằng nói. Càng nói lớn lối càng dễ. Nhưng không có gì khó bằng làm, cứ làm và chỉ làm. Chỗ quan hệ là làm. Việc làm sẽ biện minh cho sự im lặng của ta, đó là câu trả lời hùng hồn nhất cho chúng bỏ công kích ta.
            Từ lâu tôi xa lánh nơi ân oán giang hồ. Nhưng tôi có linh cảm là làm Thời Tập bạn bị công kích nhiều lắm. Do đố kỵ, do bè phái, do bực bội… Nín đi, bạn ta. Ngay cả vài dòng viết trên bìa đầu tờ báo cũng chẳng dám viết làm gì. Điều nên viết nhất là viết cho bạn đọc, viết vì bạn đọc. Hay nói theo ngôn ngữ của văn chương hiện thực “hôm nay”: viết cho ai chứ không viết cho chính mình.

IV.– Vì sao tôi đóng góp cho tờ Thời Tập
            Giễu “hôm nay” như vậy mình già rồi, già thật sự rồi. Người già thường hay lẩm cẩm. Có vẻ vì lẩm cẩm nên đã hơn một năm nay tôi thường liên tiếp từ chối lời mời làm tạp chí văn chương của nhiều vị có lòng thương tưởng tới. Nghĩ cho kỹ, sự lẩm cẩm của tôi có nhiều nguyên do sâu xa và thường là thầm kín. Đem giãi bầy ra giấy trắng mực đen, e không tránh khỏi làm buồn lòng vị này vị nọ, kẻ còn sống người đã khuất.
            Tôi xin lạm dụng những trang báo này để minh định đôi điều:
            – Từ tay trắng, với rất nhiều công khó, tôi đã dựng nên một tạp chí văn chương, tự lực mà sống lâu hơn cả trong quá trình sinh hoạt báo chí nước ta. Tôi không có tài, chỉ có chút công. Hơn hai năm nay tôi không viết báo, không làm báo, vì tuân theo một nguyên tắc do chính tôi đặt để cho cuộc sống.
            – Từ nay, nếu thỉnh thoảng tôi có giúp cho Thời Tập một đóng góp nho nhỏ, ấy là vì tôi biết rõ anh bạn Viên Linh đã và đang làm báo một mình, cô đơn và thiếu thốn.
            Rất có thể, rồi ra tôi cũng sẽ làm báo trở lại. Nhưng đó là chuyện về sau. Chuyện chỉ xảy ra trong trường hợp nếu tôi bị đói quá, nếu tôi thấy cần đền đáp tình người tri kỷ, nếu tôi, tự làm lấy báo của riêng mình hoặc nếu gặp được người biết cách đãi ngộ tốt với các cộng tác viên… Ngoài mấy trường hợp trên, tôi xin được nhận chữ “khôn” của anh em ngoài Bình Định đã âu yếm tặng cho. Rất vui và nhận.

V.– Không phải là những tuyển tập đều đều
            Tôi vừa lo xong cuốn sách đã làm tôi mất nhiều thì giờ hơn cả từ nhiều năm nay. Bạn nghe thấy chăng tiếng tôi thở dài, nhẹ nhõm!
            Hi vọng là sang năm mới đây, tôi sẽ đỡ bạn được một vài công việc, nho nhỏ thôi, nhưng – tôi mong muốn thế – sẽ làm cho bạn đọc Thời Tập được bằng lòng.
            Sau ngày ban bố sắc luật 007/12, tôi ngưng làm tờ Chính Văn, quay về nghề cũ, nghề thủ thư. Cái nghề hít bụi này có được lợi điểm là có nhiều tài liệu. Lục chồng sách cũ, tôi kiếm được ít nhiều tài liệu xưa. Khởi đầu, tôi sẽ sao chép, sắp xếp lại và sẽ gởi bạn một số tài liệu về Nhuợng Tống, cây bút tài hoa danh tiếng thời tiền chiến.
            Đương nhiên là rồi tôi sẽ chỉ giúp bạn được về phần tài liệu thôi (cái mà bạn từng gọi là “ưu điểm đầu tiên”). Còn việc làm cho một tạp chí, được đông đảo người biết và tìm đọc nhiều hơn, sẽ là do chính người chủ trương. Tôi nghĩ, không gì bằng trích dẫn ngay lời của bạn, phát biểu với tư cách một độc giả (cái nầy mới là quan trọng) khi được tập san Văn tham khảo ý kiến hồi đầu năm 1972:
            “… Tôi muốn Văn trở nên một tờ bán nguyệt san đúng nghĩa: nửa tháng không đọc nó là phải thấy mình kém sinh hoạt. Một tờ báo nửa tháng có thể khai thác sinh hoạt nhiều hơn một tờ báo tuần, và dĩ nhiên, lẹ hơn tờ báo tháng. Để không là những tuyển tập đều đặn”.
            Hai năm trước, bạn đã “dạy khôn” thiên hạ. Bây giờ, bạn hãy làm đi! Làm để khỏi mang tiếng là “chỉ biết nói”.
            Tránh không làm những tuyển tập đều đặn. Được bấy nhiêu đó, tôi tin là bạn sẽ được độc giả ủng hộ. Mà khi đã được độc giả ủng hộ rồi thì lo gì giấy lên giá, điện lên giá, gạo lên giá. Có độc giả, nói theo ngôn ngữ thời thượng, là bạn có tất cả.
            Bạn Viên Linh,
            Ngày hai bữa cơm rau, nếu không được “vỗ bụng no bình bịch” thì cũng đỡ chạy xuôi chạy ngược, lo đôn lo đáo, thì giờ rảnh rang, học thêm ít chữ nghĩa thánh hiền cho mình bớt ngu. Đêm đêm chong đèn, dịch văn. Dịch xong, cuốn nào in được thì cho in. Gặp khó, đem cất kỹ vào ngăn tủ… chờ thời. Được làm những việc mà mình ưa thích há chẳng đủ là niềm hạnh phúc của kiếp nhân sinh, chao ôi, cái kiếp nhân sinh dẫy đầy hệ lụy!
            Nói quanh nói quẩn rồi cũng quay lại chữ “thời”.
            Gặp thời thì dễ. Tạo ra thời mới khó.
            Bạn là người không chịu ẩn nhẫn, lại chịu thương chịu khó; kinh nghiệm không giàu nhưng cũng đủ để làm hành trang. Con đường đi tới còn dài. Tôi là một trong những người tin là bạn sẽ đi được xa trong tương lai gần.
            Vì tin như thế nên thư này không được chấm hết bằng những lời chúc tụng thường tình. Mà nó gởi đi, tới bốn phương, sự ước mong sẽ được anh em bằng hữu khắp nơi chia xẻ với tôi niềm tin tưởng đó.


TRẦN PHONG GIAO
Sàigòn, ngày 1.1.1975


Thời Tập số 21

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #204 vào: 15/07/2019, 16:21:22 »

Cuộc phỏng vấn tìm truyện ngắn hay nhất Việt Nam

… Vài anh em chúng tôi nhân đây mới bàn với nhau: ví phỏng có người ngoại quốc nào nhờ mình giới thiệu một số truyện ngắn mình cho là hay, là tiêu biểu của nước Việt mình, thì chắc là mình phải lúng túng lắm. Vì thế mà chúng tôi nảy ý thử chọn, lựa, để mong có dịp, làm cho thế giới hiểu dân tộc Việt mình rõ hơn, đúng hơn: phong tục, nếp sống, tâm hồn, tư tưởng, nỗi khổ, niềm vui, băn khoăn, ước nguyện… – Nguiễn Ngu Í


NĂM 2004 ông Huỳnh Văn Lang, nguyên chủ nhiệm chủ bút Tạp chí Bách Khoa cho xuất bản cuốn sách “Có Những Sự Kiện Lịch Sử cần phải xem lại”, một nhan đề hứa hẹn những thảo luận, phản ứng của dư luận, bản thân tôi hoàn toàn đồng ý; nhưng dường như đã không thấy những hứa hẹn ấy xảy ra. Trong phần “ghi nhận” ở đầu sách – trang 3, coi như một bài tựa – tác giả nêu ra ý kiến của ba độc giả đầu tiên đã đọc cuốn sách từ dạng bản thảo là nhà văn Xuân Vũ, nhà ngoại giao Trần Kim Phượng và nhà biên khảo Đoàn Thêm, những phản ứng chân thành và thuận lợi, nhưng về phần quần chúng sau đó, người viết bài này không thấy một kết quả rõ ràng nào? Mà những vấn đề ông Huỳnh đưa ra thảo luận toàn là những vấn đề cực kỳ lớn:
            – Năm 2195 Xứ Giao Chỉ (Người Giao Chỉ). – Năm 0000 dân tộc Việt Nam (Thuộc chủng tộc nào?) – Năm 707 Nước Văn Lang. – Năm 257 Nước Âu Lạc. – Năm 207 Nước Nam Việt. – Năm 40 Trưng Nữ Vương (Nước Giao Chỉ). – Năm 544 Nước Vạn Xuân. – Năm 939 Nước Nam Việt.
            Đó là những vấn đề quá tầm thảo luận của một cộng đồng di dân, lưu vong. Những đề tài quá bao quát cho một thiểu số người quá hỗn tạp. Tôi lẽ ra sẽ không nêu ý kiến gì về cuốn sách, nhưng là người đã đứng ra tổ chức cuộc xuất hiện ra mắt sách của ông Huỳnh tại Little Saigon lần đầu tiên và phần giới thiệu tiểu sử Huỳnh Văn Lang do tôi viết trên Khởi Hành đã được ông in lại trên mép bìa nhất của cuốn sách này, (Huỳnh Văn Lang theo Viên Linh Báo Khởi Hành), nên nhân đó, tôi viết ra ý kiến của mình, và cũng nhân đó, làm một việc tương tự, thu nhỏ.
            Trong phạm vi sinh hoạt của một người viết văn làm báo, nhan đề cuốn sách nói trên sẽ giới hạn với tôi: “có những vấn đề báo chí văn học cần phải xét lại”. Nhân đang nói về tạp chí Bách Khoa, hãy chọn một vài nét trong tờ báo này, mà trên kỳ trước viết về “Nguiễn Ngu Í và báo Bách Khoa”, có một câu vài bạn văn đã viết thư hay nói trực tiếp với ý tán thưởng, đó là câu này: “Nhà văn Nguiễn Ngu Í là người khiến tờ Bách Khoa mạnh nhất về mặt văn học trong mười năm đầu (1957-1967), phát triển ngành phỏng vấn tới chỗ cao nhất trong làng báo văn học miền Nam”.
            Nguiễn Ngu Í đã phỏng vấn những ai và phỏng vấn ra sao?
            Cuộc phỏng vấn qui mô lớn nhất và lâu nhất của Nguiễn Ngu í đã được ông “bắt đầu thực hiện trong sáu tháng, nhưng chúng tôi đã nghĩ trên sáu năm” (Bách Khoa 58, trang 49) “đã nhắm vào tất cả các tên tuổi từ thật già tới thật trẻ, từ những bậc đàn anh nổi tiếng dạo Nam Phong (1917-1934)… đến những bạn mới trước bạ tên mình… khi một tờ giấy cắt hai tình Sông Núi (1954-1965)”, nhằm một mục đích lớn: “chọn lựa một số truyện ngắn hay nhất, tiêu biểu của nước Việt mình, làm cho thế giới hiểu dân tộc mình rõ hơn, đúng hơn: phong tục, nếp sống, tâm hồn, tư tưởng, nỗi khổ, niềm vui, băn khoăn, ước nguyện…”
            Để hiểu trực tiếp về cung cách phỏng vấn văn học của Nguiễn Ngu Í, khiến ông nổi bật và vượt lên trên những ký giả văn học khác của Việt Nam, người viết lần lượt dẫn giải và tóm tắt và trích dẫn ông như dưới đây.
            1. Đề tài, câu hỏi gửi tới người được phỏng vấn.
            2. Trình đăng bài phỏng vấn với hình ảnh và tiểu sử.
            3. Chú thích câu trả lời, dẫn giải.
            4. Nhận xét sau khi bài đã đăng, tìm ra kết luận.
            Cuộc “Phỏng vấn Văn nghệ” đầu tiên được mệnh danh “Truyện ngắn Việt và ngoại quốc bạn cho là hay nhất hoặc ưa thích nhất từ xưa đến nay” do Nguiễn Ngu Í phụ trách:
            1. Từ xưa đến nay, trong những truyện ngắn Việt bạn đã đọc, truyện ngắn nào bạn cho là hay nhất, hoặc ưa thích nhất?
            2. Lý do chọn lựa?
            3. Từ trước đến nay, trong những truyện ngắn ngoại quốc bạn đã đọc truyện ngắn nào bạn cho là hay nhất, hoặc ưa thích nhất?
            4. Lý do chọn lựa?
            Lời nói đầu – “Những câu phỏng vấn trên đây, chúng tôi đã lần lượt gởi hoặc trao từ lúc Bách Khoa dự bị ra số kỷ niệm đệ nhị chu niên – nghĩa là có trên sáu tháng. Bắt đầu thực hiện trên sáu tháng, nhưng chúng tôi đã nghĩ đến trên sáu năm.
            “Nguyên năm 1952, do sáng kiến báo New York Herald Tribune, hai mươi ba tờ báo của hai mươi ba nước chung nhau tổ chức một giải thưởng văn chương quốc tế, lấy tên là “Giải tân truyện(1) hay nhất thế giới. Qua năm sau, lại tổ chức giải truyện ngắn;(2) có 18 nước dự, đặc biệt là kỳ này có nước Việt chúng ta, do tuần báo Mới đứng ra đảm nhiệm việc tổ chức. Ban giám khảo(3) không chọn được truyện ngắn nào xứng đáng đại diện cho nước Việt.(4)
            “Vài anh em chúng tôi nhân đây mới bàn với nhau: ví phỏng có người ngoại quốc nào nhờ mình giới thiệu một số truyện ngắn mình cho là hay, là tiêu biểu của nước Việt mình, thì chắc là mình phải lúng túng lắm. Vì thế mà chúng tôi nảy ý thử chọn, lựa, để mong có dịp, làm cho thế giới hiểu dân tộc Việt mình rõ hơn, đúng hơn: phong tục, nếp sống, tâm hồn, tư tưởng, nỗi khổ, niềm vui, băn khoăn, ước nguyện…”
            Một ban giám khảo có mặt tới 15 nhà văn tên tuổi mà không chọn được một truyện ngắn nào gọi là hay, hoặc khiêm tốn hơn, chỉ ưa thích thôi, mà cũng không có, cho toàn một nước Việt Nam lúc chưa chia cắt? Sự chia rẽ hoặc mặc cảm đã lộ ra ở đây. Hay nhìn từ khía cạnh khác, sự tổ chức yếu kém cũng đã lộ ra ở đây. Làm sao có được một đồng thuận giữa một ban giám khảo đông đến thế? Dưới bảy người, không nên hơn. Chín người là lý tưởng (như con số của Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ). Trong chín người, tìm được một đa số năm người đã là hãn hữu, đã đầy những nhân nhượng và thỏa hiệp.
            Những đoạn văn trên cho người viết kết luận: Nguiễn Ngu Í chính là cây bút đã phát triển thể loại phỏng vấn lên tới mức cao nhất trong sinh hoạt báo chí văn học Việt Nam. Được thế là nhờ trước hết ông yêu văn học, yêu người có văn tài kể cả người có văn tài khác mình và hơn mình, không cắt bỏ ý người nhất là ý người khác mình, nhất là yêu sự thật dù sự thật ấy mình không đồng ý, phỏng vấn và phổ biến nhà văn mình không thích thay vì có những “sử gia văn học” chỉ viết văn học sử về những người mình thích.
            Bài học Nguiễn Ngu Í là bài học bắt buộc cho những người muốn thành công khi bước vào lãnh vực báo chí văn học.


VIÊN LINH
Tháng 08/2016

_________________________________________________________________
Chú thích của Nguiễn Ngu Í:
(1) Tiếng Pháp là nouvelle, người Tầu dịch là trung thiên tiểu thuyết. Người Việt ta có người dịch là truyện vừa vừa, có người dịch: truyện lỡ, có người dịch tân truyện. Bạn Bình-Nguyên Lộc sẽ có bài nói về thể và tên loại truyện này.
(2) Tiếng Pháp là conte.
(3) Gồm có 15 người: Đông Hồ, Đỗ Đức Thu, Lê Văn Siêu, Mộng Sơn, Ngọc Giao, Nguyễn Duy Cần, Nhất Linh, Nguyễn Hiến Lê, Tam Ích, Thê Húc, Thiên Giang, Thụy An, Triều Sơn, Trọng Miên, Vũ Bằng. [Lưu ý bạn đọc: Chuyện xảy ra trước 1954 nên mới có tên những nhà văn ở ngoài Bắc (hay Paris) như Triều Sơn, Mộng Sơn, Thụy An, Ngọc Giao, và nhóm Đệ Tứ như Thiên Giang, Thê Húc…]
(4) Nhưng sau này vì ban tổ chức quốc tế tha thiết yêu cầu nên vào giờ chót “Con thằn lằn chọn nghiệp” của Hồ Hữu Tường và “Chiếc cầu khỉ” của Thụy An Hoàng Dân đã được lựa chọn và gởi đi. Hai truyện ngắn này không được giải nhưng được ban chấm thi quốc tế chú ý và được nhà Gallimard Pháp xuất bản năm 1955 trong loại “L’Air du Temps” (Không khí của thời đại) chung với các truyện ngắn được chú ý và được thưởng, dưới cái nhan “Les 54 meilleurs contes du monde” (Những truyện ngắn hay nhất thế giới).
      Bốn chú thích trên của Nguiễn Ngu Í. Theo một chú thích khác sau này, trên một số báo sau, không rõ của Tam Ích hay của người phỏng vấn, truyện ngắn của Hồ Hữu Tường đã đăng vào tháng 3, 1953 trên báo Mới, báo Phương Đông tháng 8, 1954. Truyện “Con thằn lằn chọn nghiệp” bản tiếng tiếng Pháp đăng ở báo France Asie ở Sài Gòn và một tờ ở Thụy Sĩ rồi một tờ ở Paris. Có hai bản Pháp dịch. Một dịp khác chúng tôi sẽ viết rõ hơn về truyện trên, dịch giả hai bản Pháp dịch, và phân tích của Tam Ích. Truyện trên cũng mới đăng lại trên tạp chí Khởi Hành số 219-220 tháng 5, 2015 trong chủ đề Phong thổ miền Nam.
      Cáo lỗi: Trong kỳ trước, người bạn quí đã cho tôi những tài liệu hiếm về nhà văn Nguiễn Ngu Í là người em kết nghĩa của ông, chứ không phải người “gọi ông bằng cậu” như tôi đã ghi lầm. Trân trọng cáo lỗi. VL: tapchikhoihanh@gmail.com.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/cuoc-phong-van-tim-truyen-ngan-hay-nhat-viet-nam/

« Sửa lần cuối: 15/07/2019, 16:47:29 gửi bởi nduytai »
 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #205 vào: 20/07/2019, 22:54:21 »

Apollo 11: Bước tiến nhân loại hay bước ngoặt “Tin giả”?

Ngày 21/07/2019, nhân loại mừng 50 năm ngày con người lần đầu đặt chân lên Mặt trăng, một trong những cuộc chinh phục không gian lớn trong lịch sử loài người. Nhưng nửa thế kỷ sau, hàng triệu người vẫn tin rằng: Con người chưa bao giờ đi trên Mặt Trăng. Sự kiện “Apollo 11” là một bước ngoặt lịch sử “tin giả” hay là bước tiến nhân loại?

Buzz Aldrin đặt chân trên Mặt trăng bên cạnh module Eagle
trong chuyến bay Apollo 11, ngày 21/07/1969

Apollo 11: Sản phẩm kiểu Hollywood của NASA?
            Ngược dòng thời gian, ngày 21/07/1969, chính xác là vào lúc 2 giờ 56, giờ quốc tế, phi hành gia người Mỹ, Neil Armstrong đã đặt chân lên Mặt trăng. Người ta còn nghe được thông điệp của Amrstrong gởi về Trái Đất: “Một bước đi nhỏ của một người, nhưng một bước nhảy vọt cho nhân loại”.
            Câu nói này trở nên bất hủ. Nhưng cũng trong vòng 50 năm đó, nhiều người vẫn tin rằng “Người Mỹ chưa bao giờ đặt chân lên Mặt trăng” và đó chỉ là “tin giả”. Từ những năm 1970, thuyết về “tin giả” tiếp tục lan truyền. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ tin học còn giúp lời đồn đại này lan rộng nhanh chóng.
            Trên nhiều trang mạng, người ta có thể tìm thấy các thông tin cho rằng chương trình Apollo 11 chỉ là chuyện viễn tưởng được Hoa Kỳ dàn dựng hoàn toàn để “thắng” cuộc đua không gian với Liên Xô. Người ta không tin rằng NASA thời kỳ ấy có đủ khả năng thực hiện một kỳ tích công nghệ như thế.
            Năm 1974, hai năm sau khi chương trình Mặt trăng của Mỹ kết thúc, nhà văn Bill Kaysing phát hành tập sách “Chúng ta chưa bao giờ đi trên Mặt trăng: Cú lừa đảo trị giá 30 tỷ đô la của Mỹ”. Trong tập sách, tác giả cho rằng có nhiều “điểm không rõ ràng” trong các bức ảnh của NASA. Cờ Mỹ bay phấp phới trong gió trong khi Mặt trăng không có khí quyển, thiếu ánh sao trời hay như các thiết bị không gian đáp xuống Mặt trăng nhưng không tạo thành hố đất…
            Từ những quan sát đơn giản này, ông Bill Kaysing đi đến kết luận rằng những hình ảnh về Apollo 11 đã được quay tại một căn cứ quân sự bí mật, nằm trong vùng sa mạc Nevada, với những hiệu quả đặc biệt của Hollywood, tương tự như trong phim “2001: A Space Odyssey” của đạo diễn Stanley Kubrick, phát hành năm 1968. Bản thân ông Kubrick cũng bị nghi ngờ đã hợp tác với NASA. Nhất là những người tin vào thuyết đồng mưu luôn tự hỏi: Vì sao từ đó đến nay không có người nào trở lại Mặt trăng?

Bước ngoặt của “Fake News”
            Giải thích với AFP, ông Didier Desormeaux, đồng tác giả tập sách “Thuyết âm mưu, giải mã và hành động” (nhà xuất bản Reseau Canope, năm 2017) cho rằng sự kiện thu hút sự quan tâm của những người nghi ngờ là do tầm mức quan trọng của sự kiện: “Giai đoạn này của quá trình chinh phục không gian là một trong những sự kiện trọng đại cho nhân loại. Thái độ nghi ngờ sự việc làm lung lay các nền tảng cơ bản của ngành khoa học và quá trình chinh phục thiên nhiên của con người”.
            Trên thực tế, “Apollo 11” chưa phải là nạn nhân đầu tiên của thuyết âm mưu. Vụ ám sát J. F. Kennedy năm 1963 hay các câu chuyện về các vật thể bay không xác định đã là đối tượng của nhiều thuyết âm mưu khác. Nhưng theo ông Didier Desormeaux, điều mới và đáng chú ý làm cho sự kiện “Apollo 11” trở thành một “bước ngoặt” trong lịch sử “fake news” nằm ở điểm “tin đồn này dựa trên việc giải mã kỹ lưỡng mọi chỉ dấu điện ảnh xác định được trên các bức ảnh do NASA cung cấp”.
            Luc Mary, sử gia về các ngành khoa học, trả lời RFI, lưu ý thêm: chính bối cảnh Chiến Tranh Lạnh là cội nguồn của mọi sự tranh cãi “hư thực” về cuộc đổ bộ không gian lịch sử này:
            “Bước đi trên Mặt trăng còn là bước đi của một người Mỹ trên Mặt trăng. Sự kiện thừa nhận thành công của một quốc gia này đối với một quốc gia khác, của một hệ tư tưởng này với một hệ tư tưởng khác. Một cách chính xác, đây là một thắng lợi của Hoa Kỳ trước Liên Xô.
            Nước Mỹ đã phục thù sau 12 năm đối đầu với Liên Xô. Từ năm 1957, Liên Xô là quốc gia đầu tiên đưa vệ tinh và người lên quỹ đạo. Liên Xô cũng là quốc gia đầu tiên tiến hành các hoạt động không gian ngoài phi thuyền.
            Đấy thật sự là một cuộc đọ sức gay gắt. Và đó còn là một chiến thắng của phe Tư bản đối với phe Cộng sản. Một thắng lợi của những người theo Cơ đốc giáo, tức niềm tin Công giáo – đừng quên là người Mỹ tuyên thệ trên kinh thánh – với chủ nghĩa duy vật vô thần”.

            Việc chọn Mặt trăng là một đối tượng để chinh phục cho thấy rõ thiện chí chính trị của chính quyền Washington thời bấy giờ. Quyết định chiến lược này của Mỹ đã được thể hiện rõ trong bài diễn văn ấn tượng của ông J. F. Kennedy, tổng thống thứ 35 của Hoa Kỳ, năm 1961:
            “Tại sao người ta nói nhiều về Mặt trăng? Tại sao lại chọn Mặt trăng như là mục tiêu của chúng ta? Họ còn có thể hỏi rằng tại sao phải leo lên những đỉnh cao nhất? Chúng ta chọn đi đến Mặt trăng. Chúng ta chọn lên Mặt trăng trong thập niên này và hoàn thành nhiều mục tiêu khác nữa, không phải vì đó là điều dễ thực hiện, mà chính bởi vì chúng khó. Bởi vì mục đích này sẽ giúp tổ chức và huy động những nguồn lực và công nghệ tốt nhất của chúng ta”.


Mặt trắng trên bầu trời Luân Đôn, Anh Quốc

Phản biện “Fake news”
            Bất chấp các nỗ lực của giới khoa học, những hoài nghi và những lời đồn đại vẫn sống mãi theo thời gian. Vào thời điểm phi thuyền đáp xuống Mặt trăng, tại Mỹ, gần 5% số người được hỏi không tin sự việc. Tỷ lệ này giờ tăng lên là 6%.
            Tại Pháp, theo một thăm dò mới nhất do Quỹ Jean-Jaures thực hiện cách đây vài tháng, có đến 16% số người được hỏi tin rằng NASA đã ngụy tạo bằng chứng và các hình ảnh phi thuyền “Apollo 11” đáp xuống Mặt trăng, cũng như những bước đi đầu tiên của Neil Armstrong ngày 21/07/1969.
            Còn tại Anh, trong một thăm dò năm 2009, tỷ lệ này là 25%.Và không phải ngẫu nhiên người Nga là những người hoài nghi nhiều nhất. Thăm dò thực hiện trong năm 2018 cho biết có đến 57% số người Nga được hỏi không tin vào sự kiện này. Vào thời điểm diễn ra sự kiện, tờ báo Nga Pravda đã không tường thuật trung thực sự việc.
            Trên thực tế, từ năm 1969 đến 1972, NASA đã thực hiện sáu chuyến thám hiểm Mặt trăng, thu thập hơn 380 kg mẫu đá để phân tích. Năm 2002, NASA đã đặt viết quyển sách nhằm phản bác từng luận điểm một của những người đưa ra thuyết âm mưu. Tuy nhiên, NASA đã từ bỏ ý định này vì không muốn tạo cho họ nhiều cơ hội tấn công. Cơ quan Không gian của Mỹ khi ấy chỉ tập trung giải đáp một số điểm cụ thể.
            Trong số này, việc trưng ra các bằng chứng vật chất nhằm xác nhận sự hiện diện của người Mỹ trên Mặt trăng năm đó cũng là điều hiển nhiên, như giải thích của ông Luc Mary:
            “Còn có những thiết bị như máy đo địa chấn, các tấm phản chiếu laser để đo khoảng cách giữa bề mặt Trái Đất và Mặt trăng. Đương nhiên còn có cả phần bệ đỡ của phi thuyền. Người ta ước tính có khoảng 180 tấn các vật dụng, các thiết bị nghiên cứu do con người chế tạo được để lại trên Mặt trăng”.
            Để thực hiện thành công nhiệm vụ Apollo 11, NASA đã tuyển dụng đến hàng trăm nghìn nhân viên và tiêu tốn của chính phủ đến 150 tỷ đô la. Một chi tiết quan trọng đối với nhiều nhà toán học nhằm phản bác lại các lập luận của những người tin vào thuyết âm mưu.
            Anh David Robert Grimes, tiến sĩ Vật lý học trường đại học Oxford, giải thích với Le Monde, nhờ vào quy luật “Con Cá” (La loi de Poisson) trong xác suất thống kê, anh có thể khẳng định người ta không thể giữ được bí mật lâu quá 4 năm với giả định thuyết âm mưu này là đúng.
            “Tôi tính số nhân sự làm việc tại NASA vào thời điểm phi thuyền hạ cánh xuống Mặt trăng. Họ có khoảng 425 nghìn nhân viên. Thế nên, cứ giả định từ nguyên tắc rằng tất cả đều muốn giữ bí mật và họ bảo vệ bí mật còn tốt hơn cả các cơ quan tình báo Mỹ, dù là trong điều kiện này đi chăng nữa, trong vòng khoảng 4 năm cũng sẽ có một ai đó hữu ý hay vô tình tiết lộ tầm mức của sự ngụy tạo này.
            Do vậy, theo tôi, thời gian 4 năm là một ước tính khách quan. Vấn đề ở chỗ chính vì tất cả mọi người tham gia vào cùng một dự án, do vậy khó mà bảo mật mọi thứ. Đôi khi, những âm mưu này bị những người báo động hay một kẻ phản bội nào đó tiết lộ. Có khi bạn gởi thư điện tử nhầm địa chỉ. Có khi bạn gởi một SMS nhầm người. Và bất thình lình mọi người đều biết chuyện.
            Do vậy, nếu như bạn tìm cách tung ra những thuyết âm mưu có quy mô lớn, cho dù là có liên quan đến Mặt trăng, biến đổi khí hậu hay chủng ngừa… chắc chắn là ít có khả năng những âm mưu này thành công. Bởi vì bạn sẽ phải cần đến rất đông người hợp tác để bảo vệ bí mật. Mà về điểm này, thì con người không mấy gì tài giỏi cho lắm”.


Sau “Hằng Nga” là anh “Cả Đỏ”
            Dẫu sao thì cuộc chinh phục không gian trong những năm 1960 cho thấy rõ đỉnh điểm của cuộc Chiến Tranh Lạnh giữa Mỹ và Liên Xô. Ngày nay, bối cảnh quốc tế đã có những thay đổi, nhưng không gian một lần nữa lại là một bàn cờ địa chính trị. Trung Quốc mới đây trở thành quốc gia đầu tiên đưa thành công một phi thuyền lên phần khuất của Mặt trăng.
            Tổng thống Mỹ Donald Trump tuyên bố Hoa Kỳ sẽ lại gởi người lên định cư trên Mặt trăng từ đây đến năm 2024. Với Hoa Kỳ, đây là châu lục thứ 8 cần chinh phục. Để thực hiện mục tiêu này, Hoa Kỳ phải tái khởi động một chương trình không gian quy mô lớn, đòi hỏi nhiều nguồn tài chính tốn kém đáng kể.
            Để giảm nhẹ gánh nặng ngân sách, NASA đã quyết định nhờ đến các doanh nghiệp tư nhân: SpaceX, của Elon Musk, Blue Origin của Jeff Bezos nhằm phát triển ngành du lịch không gian dành cho các khách hàng tỷ phú. Hay như nhiều doanh nghiệp nhỏ khác để đưa các thiết bị lên Mặt trăng cho Cơ quan Không gian Hoa Kỳ.
            Hơn bao giờ hết, trước sự trỗi dậy của Trung Quốc, Hoa Kỳ quyết tâm lấy lại vị thế thống trị trong việc thám hiểm không gian. Nhưng với ông Jim Bridenstine, lãnh đạo NASA, mục tiêu cuối cùng là đi xa hơn nữa. Đến thăm Cung Trăng là một bước đệm để con người vươn tới sao Hỏa, hành tinh đỏ.


MINH ANH
Tháng 7/2019


http://vi.rfi.fr/quoc-te/20190717-50-nam-apollo-mat-trang-lich-su-tin-gia-nhan-loai

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #206 vào: 25/07/2019, 13:58:39 »

Đọc “Văn Sử Y Dược trong Truyện Chưởng Kim Dung” của Trần Văn Tích

Kim Dung, nhà văn nổi tiếng Trung Hoa với 15 bộ truyện kiếm hiệp, đã từ trần vào ngày 30 Tháng Mười, 2018, tại Hồng Kông, thọ 94 tuổi.

Bác Sĩ Trần Văn Tích (Hình: talawas.org)

CÁI CHẾT của nhà văn này thúc đẩy tôi trở lại với thời kỳ mà cả thế hệ tuổi trẻ chúng tôi ở miền Nam mê đắm truyện chưởng Kim Dung, cách đây gần sáu thập niên. Tôi tìm đọc lại một vài bộ yêu thích như “Lục Mạch Thần Kiếm”, “Tiếu Ngạo Giang Hồ” và “Lộc Đỉnh Ký” cũng như một số bài nghiên cứu và phân tích về nhà văn độc đáo này, trong số đó, có “Văn Sử Y Dược trong Truyện Chưởng Kim Dung” của Trần Văn Tích, do anh giám đốc nhà xuất bản Thanh Văn tặng, cách đây… 24 năm.
            Tác giả Trần Văn Tích là một bác sĩ y khoa, nhưng đồng thời cũng là một nhà nghiên cứu văn học. Trước 1975, một số bài viết của ông về văn học và y học thường xuất hiện trên nguyệt san Bách Khoa.
            Khác với “Vô Kỵ Giữa Chúng Ta”, một tiểu luận của Đỗ Long Vân, sử dụng quan điểm cơ cấu học để khảo sát văn chương Kim Dung, “Văn Sử Y Dược trong Truyện Chưởng Kim Dung” tuy không dày lắm, chỉ hơn 200 trang khổ chữ nhỏ, nhưng là một công trình biên khảo công phu, kết hợp giữa văn học, sử học với y và dược học.
            Ông cho biết: “Trong tập sách này, chúng tôi sẽ cố gắng tập hợp và bình giải các chi tiết thuộc những lãnh vực văn học, sử học, y học và dược học được Kim Dung đề cập đến qua những bộ truyện kiếm hiệp.”
            Chính vì thế mà cái thú vị khi đọc tập sách này là chúng ta vừa có dịp được thả mình vào trong không khí hư cấu của truyện Kim Dung, lại vừa được đọc những tài liệu chính xác về văn học, sử học cũng như y và dược học.
            Ngoài lời mở đầu, sách gồm có 10 chương:
            – Các vấn đề văn học tổng quát.
            – Sầu Đỗ Mục
            – Thi loại từ.
            – Bài Hành Hiệp Khách.
            – Khúc ca Viên Viên.
            – Bản nhạc tiếu ngạo giang hồ.
            – Họ Đoàn nước Đại Lý.
            – Y dược và chưởng kiếm.
            – Nghệ thuật biểu hiện.
            – Nhà viết sử và nhà tiểu thuyết.


Cuốn “Văn Sử Y Dược trong Truyện Chưởng Kim Dung” của Trần Văn Tích

            Về mặt văn học tổng quát, Trần Văn Tích cho rằng Kim Dung “luôn luôn xây dựng cốt truyện các bộ kiếm hiệp trên cơ sở hành trạng của những nhân vật hư cấu”. Những nhân vật này, dưới ngòi bút tài hoa của Kim Dung, “đã để lại những dấu ấn sâu sắc lên những giai đoạn lịch sử nòi Hán”.
            Tác giả so sánh Kim Dung với một trong những nhà văn tài hoa của Pháp, Alexandre Dumas. Cả hai đều viết tiểu thuyết lịch sử và viết rất nhiều. Nhưng Kim Dung khác Dumas, ở chỗ, những nhân vật chính của Dumas dựa trên những nhân vật có thật, và những nhận vật này, tự họ, “đã có một cuộc sống khác thường” như d’Artagnan trong “Ba người lính ngự lâm pháo thủ” chẳng hạn, nên “nâng họ lên thành những con người ngoại khổ trong tác phẩm văn chương” thuận lợi hơn. Trong lúc đó, Kim Dung xây dựng nhân vật, dù dựa trên bối cảnh lịch sử, nhưng hành trạng của những nhân vật này hoàn toàn xuất phát từ óc tưởng tượng của Kim Dung: từ Vô Kỵ, Quách Tỉnh, Hoàng Dung đến Vi Tiểu Bảo, vân vân, nhân vật nào cũng lôi cuốn, lạ lùng, thú vị.
            Theo Trần Văn Tích, tính cách nhân vật Kim Dung “được khai thác trên nhiều bình diện, về nội tâm cũng như ngoại hình, xuyên qua hành động, suy nghĩ; dựa vào cảm xúc, số phận; và cung cách mô tả đó không chỉ diễn biến trong hiện tại, ở đương đại mà cả trong xu thế phát triển. Trong những bối cảnh miêu tả rộng lớn, trải qua những khung thời gian nhiều thế kỷ và những vùng không gian bao la, tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung đưa ra hàng trăm nhân vật cùng hoạt động, tạo nên một khí quyển sử thi quyến rũ. Nhân vật Kim Dung đa dạng, phong phú, phát triển có quá trình, tham gia nhiều tình huống với nhiều hành trạng khác nhau, nên có sức sống nội tại linh hoạt, lôi cuốn, mang bản sắc và tính cách rõ nét. Tuy nhiên mỗi nhân vật lại có một môi trường tung hoành, một hoàn cảnh sinh hoạt, một cảnh ngộ độc đáo để dựa vào hay theo đó mà phát triển qua thời gian và trong không gian”.
            So sánh giữa tính cách lịch sử và tính cách tiểu thuyết trong truyện Kim Dung, tác giả cho biết: “Viết tiểu thuyết lịch sử, Kim Dung phải tìm trong thư tịch cũ hoặc từ những dấu vết còn lại của quá khứ để phục chế nên. Và thông qua tài năng sáng tạo, dựa vào tưởng tượng hư cấu, nhà văn Hương Cảng thường tạo được cho người đọc cảm giác của sự thật, thường dẫn dắt được độc giả đến chỗ công nhận những điều mình mô tả là hợp lý. Sự thành công của cây bút viết truyện chưởng nằm ở điểm đó. Kim Dung thấy hết quyền hạn và tin tưởng vào khả năng hư cấu của mình. Để khi cần thì thêm thắt, cải biến. Bởi truyện chưởng đâu phải chỉ thuần là cóp nhặt tư liệu lịch sử, tổng hợp dữ kiện quá khứ, hệ thống hóa tri thức thư tịch. Ở Kim Dung, thông thường tính chân thực nghệ thuật phần nào bao hàm được cả những yếu tố của tính chính xác sử học.”
            Từ những nhận xét tổng quát đó, Trần Văn Tích, qua chín chương kế tiếp, lần lượt nhặt ra những chi tiết và sự kiện từ trong truyện và đối chiếu chúng với những tài liệu văn học, lịch sử cũng như y và dược học. Văn học và văn học sử, theo ông, “có thể là đối tượng ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả trong truyện Kim Dung”. Từ một sự kiện, một nhân vật hay một chi tiết lịch sử nào đó đặc biệt, tác giả trưng dẫn ra tài liệu tìm thấy trong kho tàng lịch sử hay hoàn cảnh gia tộc liên hệ.
            Không những thế, ông còn đối chiếu với các tác giả, tác phẩm Tây phương, hay các bản dịch Tây phương của những bài thơ hay bài từ nổi tiếng của Trung Hoa được Kim Dung đưa vào truyện. Chẳng hạn, về lịch sử, tác giả nghiên cứu về họ Đoàn nước Đại Lý, nêu ra và so sánh những nét thực, hư giữa lịch sử và hư cấu. Về văn chương, tác giả trích ra những bài từ hay nhạc trong Kim Dung và từ đó, đi tìm ra nguồn gốc và giá trị văn học của những tác phẩm đó.
            Đọc “Văn Sử Y Dược trong Truyện Chưởng Kim Dung” ta mới thấy rằng, truyện chưởng Kim Dung không chỉ là truyện chưởng, mà là một kho tài liệu văn học, sử học, y học và dược học. Và để viết được, Kim Dung phải khổ công tìm tòi, nghiên cứu, chứ không phải chỉ là ngồi nặn óc ra để chỉ bịa chuyện mua vui cho người đời.
            Trần Văn Tích tốt nghiệp bác sĩ y khoa, Đại Học Y Khoa Sài Gòn. Từ 1984 định cư ở Cộng Hòa Liên Bang Đức. Từng góp bài viết thường xuyên cho hai tạp chí Văn Học (California) và Làng Văn (Toronto). Sách đã xuất bản: Tư Tưởng Lão Trang Trong Y Thuật Đông Phương (An Tiêm 1972, Xuân Thu 1990), Đông Y Xybécnêtíc (Câu Lạc Bộ Y Học Dân Tộc 1981), Sự Muôn Năm Cũ (Làng Văn 1992), Nho Y Nguyễn Đình Chiểu (An Tiêm 1993), Văn Sử Y Dược trong Truyện Chưởng Kim Dung (Thanh Văn 1995).


TRẦN DOÃN NHO
Tháng 03/2019


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/doc-van-su-y-duoc-trong-truyen-chuong-kim-dung-cua-tran-van-tich/

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #207 vào: 30/07/2019, 16:00:19 »

Thanh Thúy, tiếng hát khói sương

Ở một góc độ khác, góc độ thi sĩ và đồng thời là giáo sư triết, nhà thơ Nguyên Sa cũng đã có bài nhận định về trường hợp ngoại lệ của tiếng hát Thanh Thúy.

Tiếng hát Thanh Thúy. (Hình: thanhthuy.me)

MỞ ĐẦU BÀI VIẾT, nhà thơ Nguyên Sa nhắc tới bốn câu thơ tuyệt tác của Hoàng Trúc Ly, dành cho Thanh Thúy. Kế tiếp, ông thuật lại cuộc đối thoại giữa ông và tác giả bài “Thanh Thúy, tiếng hát lúc không giờ” của nhà văn Mai Thảo:

                “… Tôi hỏi Mai Thảo:
                 ― Tại sao tiếng hát lúc không giờ?
                 Mai Thảo trả lời bằng những tiếng ngắn:
                 ― Vì muộn.
                 Tôi biết ngôn ngữ với Mai Thảo, là mật ngữ, lặng im là siêu ngữ, phối hợp mật ngữ với siêu ngữ mới làm mở tung ra được cánh cửa lớn của kỳ ngữ.
                 Bạn tôi đã cất tiếng:
                 ― Là muộn màng…”


            Tác giả “Tuổi Mười Ba” viết, ông hiểu “tiếng hát khói sương” trong ngôn ngữ ẩn và hiện của tác giả “Tháng Giêng Cỏ Non”, có mong manh, có mờ khuất, có âm thanh thực tại bao phủ trong âm thanh phi thực, có nữ ca sĩ và cánh bướm bay chập chờn trong đêm.
            Không thể phân định Thanh Thúy đang bằng giọng hát, đang bay đi trong đêm, trở mình, chiếc áo đã thành cánh bướm trong khói, trong sương, hay chính cánh bướm, từ khói, từ sương, đang lần theo hơi thở trở về làm thành tiếng hát tuyệt vời, người nữ ca sĩ tuyệt vời đang lãng đãng trôi.
            Một tiếng hát chuyên chở được trọn vẹn cả mộng và thực như thế, tất yếu phải có một thời điểm của nó. Có thời điểm của mặt trời mọc, có thời điểm của mặt trăng lên, có thời điểm của hoa quỳnh, có thời điểm của dạ lan.
            Không phải giờ nào ngắm trăng cũng được, không phải giờ nào xem hoa quỳnh cũng được, không phải giờ nào nghe Thanh Thúy cũng được. Phải nghe vào lúc đó, lúc khuya, lúc muộn, lúc thời điểm của “tiếng hát lúc không giờ”, lúc thời gian và không gian gồm thâu trong tà áo và hơi thở của “tiếng hát khói sương”.
            Tác giả của “Áo Lụa Hà Đông” kể lại thời ông làm băng nhạc ở xứ người, những năm thuộc thập niên 1980, 1990, với nhạc sĩ Lê Văn Thiện, phụ trách phần hòa âm. Ông nói với họ Lê rằng, ông muốn tiếng hát Thanh Thúy mở đầu cho cuốn băng có nhiều tiếng hát. Mặc dù ông biết, bình thường nhà sản xuất luôn đợi tới khi mọi tiếng hát đã thu xong, đã được nghe đi, nghe lại nhiều lần rồi mới chọn tiếng hát mở đầu cho cả cuộn băng. Ông kể, ông không ngờ, nhạc sĩ Lê Văn Thiện, đồng ý ngay, không chút thắc mắc.


Danh ca Thanh Thúy. (Hình: thanhthuy.me)

            Với tác giả “Tháng Sáu Trời Mưa” tiếng hát Thanh Thúy là tiếng hát tổng hợp được khói và sương, thực và phi thực, cuộc đời và mộng ảo, hiện tại và sự trôi chảy của thời gian, có và không, còn gì phải nghi ngờ, có gì phải thắc mắc!
            Người thi sĩ của chúng ta viết: “Thực mà phi thực. Như khói, như sương. Mong manh như con chim nhạn bay trong dòng sông sương mù, Thanh Thúy mỏng manh, đôi mắt to đen sâu thẳm, mái tóc đen chảy xuống, hai bờ vai chao đảo, giọng hát cất lên mà như nói, ca mà như tâm sự, âm thanh mà như ve vuốt, điệu láy, như đầu đã tựa vào vai, tiếng ngân làm thành sợi tóc lùa vào trên ngực. Chính trong tất cả những ý nghĩa đó, có thêm sự hiện diện của dòng sông đam mê, có cộng với ý thức định mệnh, Nguyễn Văn Trung gọi tiếng hát Thanh Thúy là “tiếng hát liêu trai” Tuấn Huy gọi là “tiếng sầu ru khuya”…”
            Tiếp tục dòng cảm xúc cực tả, giáo sư triết Nguyên Sa/Trần Bích Lan thấy mái tóc đen, dài, đổ xuống một bên vai như dòng thác lũ. Một đôi mắt mở to hồn nhiên. Một khóe môi cười… Hai bàn tay nâng niu tà áo. Thanh Thúy đó. Người con gái hai mươi mốt mùa xuân đó. Nàng ngồi kia. Lọ hoa cẩm chướng ngăn đôi giữa thi sĩ và ca sĩ. Mùi hoa phảng phất thơm. Không khí mơ màng như có hương trầm…
            Thi sĩ ngước lên tấm hình thân mẫu Thanh Thúy. Vòng nhang cuộn tròn… Ông nhớ nhà văn Tuấn Huy, người cũng có ấn tượng mạnh mẽ về vòng nhang cuộn tròn, thắp lên, tưởng nhớ thân mẫu Thanh Thúy qua đời một tháng trước đấy. Cơn đau của bà mẹ hiền đã làm thành động lực đẩy Thanh Thúy ra trước tiền trường sân khấu.
            Thanh Thúy nói với thi sĩ rất đơn giản, chân tình: “Em bắt đầu hát ở phòng trà Văn Hoa, trước là Việt Long, cũng gọi là phòng trà Đức Quỳnh, chủ là bà Việt Long, đường Cao Thắng, năm 1959.”
            Thi sĩ hỏi: “Năm ấy em bao nhiêu tuổi?”
            Cô nói: “Em mười lăm tuổi, anh. Em muốn kiếm tiền để nuôi và lo thuốc thang cho mẹ em… Văn Hoa hồi ấy có Lưu Bình, trống. (Sau Lưu Bình lấy con gái bà Việt Long). Ở đó còn có Lê Đô, trompette, có Chấn, piano. Bài hát đầu tiên em hát là bài Nhạt Nắng của Xuân Lôi. Một bài tango…”
            Với nhà thơ Nguyên Sa thì, tango hay rumba, bolero, boston hay valse, paso hoặc nhạc khúc miền Trung đều biến giọng hát Thanh Thúy thành “giọng hát ma túy”. Nghe là phải thích. Thích là phải mê, phải ghiền. Ông không biết giữa hai chữ “Ghiền” và “Mê” chữ nào mãnh liệt hơn.
            Nhưng, theo giáo sư triết này thì “mê” nhiều phần tâm lý hơn sinh lý, thuộc về tinh thần nhiều hơn phần thân xác. “Ghiền” thuộc về sinh lý nhiều hơn tâm lý, nó nghiêng về thân xác nhiều hơn tâm hồn. Nhiều ràng buộc, nhiều xiềng xích hơn.
            Giáo Sư Nguyễn Văn Trung cũng nghĩ đến xiềng xích, ràng buộc, rõ ràng có định mệnh, chắc chắn không thể vượt thoát, lại còn có cả Đông phương huyền hoặc và, siêu nhiên với “tiếng hát liêu trai”.
            Thi sĩ của chúng ta cất tiếng hỏi: “Người thanh niên nào không muốn lạc vào thiên đường ấy, thiên đường đột nhiên hiện ra, ghì chặt lấy thân thể, cuốn chặt tứ chi, hút lấy trong rạo rực cả tinh túy của thân xác và linh hồn, cho mà dâng hiến, hân hoan, mộng thôi mà điên cuồng, mà thực không còn thực. Liêu trai. Thiên đường. Thiên đường đó: Tiếng hát liêu trai”.
            Trước khi chấm dứt bài viết, nhà thơ Nguyên Sa đã làm một sơ kết về những bài viết, những ngợi ca chưa từng đến với bất cứ một tiếng hát nào khác, ngoài Thanh Thúy. Như Nguyễn Văn Trung, Mai Thảo, Tuấn Huy, Nguyễn Long (không kể các nhạc sĩ)… Vẫn theo ông, hiện tượng này cho thấy Thanh Thúy chính là người yêu trong mộng của cả một thế hệ, cảm xúc của cả một thời đại, phản ảnh cái khách quan mênh mông, trong cái chủ quan riêng lẻ sống thực và, chân thành.
            Tác giả bài thơ nổi tiếng “Nga” xác nhận: “Hẳn nhiên những ca khúc viết tặng cho “tiếng hát lên trời” còn nhiều hơn nữa. Trịnh Công Sơn trước những ngày Văn Khoa, trước những ngày Huế, Sài Gòn, Hà Nội, Trịnh Công Sơn những ngày tháng đầu đời, đã viết “Ướt Mi” cho Thanh Thúy. Trịnh Công Sơn nói với Thanh Thúy sẽ tặng Thanh Thúy trước sau hai ca khúc, “Ướt Mi” ca khúc đầu tay của người nhạc sĩ lừng lẫy và ca khúc cuối cùng của đời anh. Tình cảm vời vợi. Tình cảm vời vợi bao phủ cả một thế hệ khi tiếng hát liêu trai, tiếng hát ma túy, tiếng hát khói sương cất lên. Làm sao không vời vợi? Làm sao không yêu?” (Trích Nguyên Sa, “Nghệ Sĩ Việt Nam ở Hải Ngoại”, tập 1)


⋆ ⋆ ⋆

            Câu hỏi trước khi ra khỏi bài viết của thi sĩ Nguyên Sa, tới hôm nay, vẫn còn được một số người nhắc tới, về Thanh Thúy, như một hiện tượng gom được cả thực và phi thực. Cả có và không trong một tiếng hát. Một con người…


DU TỬ LÊ
Tháng 9/2018


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/thanh-thuy-tieng-hat-khoi-suong/

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #208 vào: 08/08/2019, 13:48:54 »

Phạm Cao Hoàng, tiếng thơ tách thoát khỏi mọi trào lưu thời thượng

Ngay tự đầu thập niên 1970, tiếng thơ Phạm Cao Hoàng xuất hiện trên nhiều tạp chí văn học ở miền Nam, như Văn, Văn Học, Bách Khoa, Vấn Đề… đã tạo được sự chú ý đặc biệt từ văn giới.

Tác phẩm “Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương”
của Phạm Cao Hoàng do Thư Ấn Quán xuất bản

VỚI HAI THI PHẨM xuất bản lần lượt các năm 1972, là “Đời Như Một Khúc Nhạc Buồn”, rồi “Tạ Ơn Những Giọt Sương” năm 1974, tên tuổi Phạm Cao Hoàng trở thành một trong những thi sĩ được đông đảo độc giả thời đó, yêu thích.
            Không chạy theo xu hướng thời thượng ở thời điểm kể trên; thí dụ xu hướng chống chiến tranh, hay khuynh hướng mang “buồn nôn” (ảnh hưởng triết lý hiện sinh của Jean Paul Sartre) vào văn chương. Ông cũng không cho thấy có chút ý hướng biểu diễn chữ, nghĩa một cách khinh bạc (trong khi đời thường mưu cầu chức tước), với những ý niệm triết lý xào nấu, mang đầy tính khoe khoang… “đe dọa!”
            Họ Phạm lặng lẽ đem mình ra khỏi trào lưu, xốc nổi thời thế. Ông tự tin, thanh thản với những đường bay thi ca bình thường mà sâu sắc, giản dị mà cảm động, qua những chủ đề, tưởng như tầm thường mà, rất gần nhân thế; rất gần tình yêu con người và; đất nước của ông.
            Với tôi, đó là chủ tâm đem vào thơ những địa danh họ Phạm đã sống, như đã từng chết trong chúng.
            Với tôi. Đó là hình ảnh không thể thân thiết hơn với đấng sinh thành, với người yêu (cũng là người bạn đời “Cúc Hoa”) và, với rất nhiều bằng hữu gần, xa trong đời thường của người thi sĩ, vẫn nâng niu, chữ, nghĩa, dù ở nơi chốn nào nơi xứ người…
            Ở phần “Phụ Lục” cuối tuyển tập thơ mới nhất, tựa đề “Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương” do Thư Ấn Quán, in lần thứ ba, tại Hoa Kỳ, 2018, nhà thơ Phạm Văn Nhàn, trong bài “Đất và Người”, viết:

            “Gần đây, đọc được bài thơ ‘Cha Tôi’ của Phạm Cao Hoàng, viết về người cha đã qua đời cách đây 40 năm, tôi vô cùng xúc động.
                        …
                        ông qua đời khi chiến tranh kết thúc
                        để lại trần gian nỗi nhớ khôn nguôi
                        để lại đàn con trên quê hương tan tác
                        để lại trong trong tôi vết thương mang theo suốt đời.
                        …
                        bốn mươi năm rồi con vẫn nhớ, cha ơi!
                        ngày mùa đông cha mặc áo tơi ra ruộng
                        ngày nắng lửa cha gò mình đạp lúa
                        những sớm tinh mơ cùng đàn bò lầm lũi đi về phía bờ mương”

                        (Cha Tôi, 2015)

            Cũng từ quá khứ thơm nồng tình bằng hữu, tác giả Phạm Văn Nhàn viết tiếp:

           Dạo ấy, mỗi lần ghé Tuy Hòa, tôi ở lại cùng Phạm Cao Hoàng trong căn nhà nhỏ của gia đình Hoàng. Đọc bài thơ ‘Cha Tôi’, tôi nhớ đến ngôi nhà và hình ảnh bác trai. Bác cao, hơi gầy và da ngăm đen. Cái đen của nắng và gió, của một người nông dân thuần chất. Hiền và độ lượng. Ngôi nhà có cái chái bếp nấu ăn bằng những thanh củi. Ngôi nhà có bộ ván ngựa mà tôi và Trần Hoài Thư thường nằm ngủ…
            (…)
            Và khi đọc bài thơ ‘Mây Khói Quê Nhà’, tôi muốn viết một chút về Phú Thứ, quê hương của Phạm Cao Hoàng(*)
                        …
                        mùi hương của đất làm con nhớ
                        những giọt mồ hôi những nhọc nhằn
                        cha đã vì con mà nhỏ xuống
                        cho giấc mơ đời con thêm xanh
                        mùi hương của đất làm con tiếc
                        những ngày hoa mộng thuở bình yên
                        nồi cá rô thơm mùi lúa mới
                        và tiếng cười vui của mẹ hiền

                        (Mây Khói Quê Nhà, 1999)

            Bài thơ làm tôi nhớ đến con đường dọc theo mương dẫn thủy nhập điền từ đập Đồng Cam về tưới tiêu cho những cánh đồng rộng lớn. Tôi đã từng đi trên con đường này. Tôi lại nhớ đến năm tháng ở trại A.30 và ngày được thả cho về trên chuyến xe lam chạy trên con đường ấy dọc theo những cánh đồng xanh màu xanh của lúa… (Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 103, 104, 105).
            Về tình yêu nơi chốn, ngoài sinh quán Phú Thứ, thì, Đà Lạt là nơi được Phạm Cao Hoàng nhắc tới nhiều nhất. Tựa đó là tình yêu đầu tiên và cũng là cuối cùng của ông, bên cạnh tình yêu ông dành cho những nơi chốn khác:
            … Tôi yêu Đà Lạt bởi có Cúc Hoa trong đó. Dường như ta nghe Phạm Cao Hoàng thì thầm như vậy. Ít người có được cái tình và những lời như tác giả “Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương” nói với người bạn đời của mình. Cảm động nhất là những lúc gian nan, hoạn nạn. Như cách đây mấy năm khi Cúc Hoa phải vào nhà thương cấp cứu vì bị đụng xe, lúc trở về phải ngồi xe lăn:
                        … em đi xe lăn mà vui
                        lăn đi em nhé cho vơi nỗi buồn
                        đưa em về phía con đường
                        có con sóc nhỏ vẫn thường chào em
                        hát em nghe bài Je t’aime
                        kể em nghe lại chuyện tình Cúc Hoa
                        em đi xe lăn về nhà
                        mùa xuân nhè nhẹ bước qua bậc thềm

                        (Đã Qua Rồi Một Mùa Đông, 2012)
                        (Trích “Bạt” Nguyễn Xuân Thiệp, Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 10, 11)

            Như đã nói, tình yêu nơi chốn, tựa bất cứ một thứ tình cảm nào, luôn là những ngọn lửa thương yêu bập bùng trong tâm-thức-thương-tích của một Phạm Cao Hoàng, thi sĩ.
            Với tôi, nó không chỉ là vết son đậm trên dung nhan thi ca họ Phạm, mà hiểu rộng ra, đó còn là tình yêu gắn bó, bất biến giữa thi sĩ và đất nước của ông:

                        … đi không phải là đi biệt xứ
                        thương quê nhà còn lại phía sau lưng
                        lại cùng em lang thang bên hồ Thạch Thảo
                        nói với em về một đoạn đời buồn
                        nói với em về những dòng sông lưu lạc
                        trôi về đâu rồi cũng muốn trở về nguồn.

                        (Trích “Chia Tay Đà Lạt”, Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 37)

            Hoặc:

                        ngồi bên nhau giọt rượu cay trong mắt
                        ngồi bên nhau cùng nhớ một quê nhà
                        quê nhà thì xa mây thì bay qua
                        đời phiêu bạc như những đám mây trôi giạt
                        nhớ Ngựa Ô là nhớ những bàn tay ấm áp
                        tôi thương Ngựa Ô và thương bạn bè tôi.

                        (Trích “Thương Nhớ Ngựa Ô”, Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 52)

            Hoặc nữa:

                        … bây giờ bốn mươi năm sau
                        tôi về, mây trắng trên đầu bay ngang
                        vẫn cùng em đi lang thang
                        vẫn yêu em đến vô vàn, biết không?
                        vẫn yêu Đà Lạt vô cùng.

                        (Trích “Chiều Đi Ngang Qua Thung Lũng Fox”, Đất Còn Thơm Mãi Mùi Hương, trang 86)

            Tới đây tôi xin tạm ra khỏi cõi-giới thi ca Phạm Cao Hoàng, bằng mấy câu thơ đẹp của ông, trích từ bài “Đà Lạt và Câu Chuyện về Khu Vườn Thi Sĩ”:

                        em mặc chiếc áo dài màu xanh của miền đồi núi
                        đôi mắt hồn nhiên như một bài thơ tình

                        (…)
                        tôi gọi đó là vườn thi sĩ
                        em gật đầu cười rất nhẹ:
                       “em sẽ ở cùng anh trong khu vườn đó”
                        và bàn tay tôi vừa chạm tim em.


DU TỬ LÊ
Tháng 12/2018

________________________________________________________________
(*) Nhà thơ Phạm Cao Hoàng, nguyên quán: Phú Thứ, Tuy Hòa, Phú Yên. Hiện sống và làm việc tại Virgnia, Hoa Kỳ. Ông đã cho xuất bản tất cả 5 tác phẩm. Hầu hết là thơ. Chỉ có một tập truyện: “Mơ Cùng Tôi Giấc Mơ Đà Lạt”.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/pham-cao-hoang-tieng-tho-tach-thoat-khoi-moi-trao-luu-thoi-thuong/

 

Đang duyệt nduytai

Re: Tảnmạn... Vănhóa...
« Trả lời #209 vào: 13/08/2019, 12:43:05 »

Một dòng thơ văn khác của Thế Kỷ

Chữ Thế Kỷ trong bài này vừa có nghĩa đen vừa có nghĩa bóng: đó là bán nguyệt san Thế Kỷ xuất bản ở Hà Nội vào năm 1950, coi như ngưng hẳn vào năm 1954, và đó là thế kỷ XX đã qua, ngoài dòng thơ văn Tiền chiến trong hai thập niên ’30 và ’40, ta còn một dòng thơ “hiện chiến” lúc ấy, vì cuộc chiến tranh Việt-Pháp bùng nổ vào cuối năm 1946 đang diễn ra xung quanh vài thành phố lớn của Việt Nam, nó cũng sẽ chỉ chấm dứt vào tháng 7, 1954. Dòng thơ văn này còn để lại những bài thơ đặc sắc cả về thể cách lẫn âm điệu, những tác phẩm văn xuôi mà ngôn ngữ, đương nhiên cả nội dung, sẽ không thể lẫn với thơ văn giai đoạn trước đó hay sau đó. Đó là những bài thơ, những áng văn thời thế súc tích, những nội tâm đổ vỡ ngổn ngang, mang vóc dáng của những kẻ sĩ bất phùng thời.

Tác phẩm Kẽm Trống của Trúc Sĩ, bản in lần thứ nhất,
Thế Kỷ Hà Nội, 1952.
(hình Nhị Linh)

TẠP CHÍ Thế Kỷ xuất bản số đầu tiên năm 1950 ở Hà Nội, ra một tháng hai kỳ, chủ nhiệm chủ bút là nhà giáo, nhà văn Hi-Di Bùi Xuân Uyên. Các cây bút nòng cốt gồm có bà Xuân Nhã vợ ông, cùng trông coi tờ báo, và các nhà văn nhà thơ Triều Đẩu, Trúc Sĩ, Thạch Trung Giả, Tạ Tỵ, Phan Phong Linh… Trong những tên tuổi trên, gần hai mươi năm sau, tôi được gặp và cùng làm việc trong một cơ quan, trong một tờ báo với hai người là Thạch Trung Giả và Trúc Sĩ; đó là khoảng đầu thập niên ’70 ở Sài Gòn. Những gì ghi nhận được về họ hình như không hề phai mờ trong tôi mặc dù trong cùng một thời gian, còn biết bao khuôn mặt xung quanh, kể cả những cây bút nhà nghề – những người sống hoàn toàn bằng ngòi bút. – Họ khác hẳn những cây bút nhà nghề ấy. Bài này chỉ nói về mấy tác giả của tờ Thế Kỷ, trong thời gian trên và mấy năm còn lại của họ ở miền Nam, trừ với Trúc Sĩ là người đã cùng tôi đi một chuyến tầu vượt Thái Bình Dương và rồi lại gặp nhau ở đảo Guam, tháng 5, 1975. Anh người đậm đà, khi nói hay nghiêng tai nghe ngóng.
            Hãy nghe thơ Trúc Sĩ:

                        Còn gì cho cả nhất nguyên
                        Bơ vơ vạn thế triền miên một người
                        Tim sôi nóng, lệ trào rơi
                        Thông reo ngàn thuở một lời nào đây?

                        (Lặng thính tùng phong, Thời Tập 18-19, 1-2/1975, Sài Gòn)

            Khi còn ở Hà Nội, tôi đã nghe danh tiếng nhóm Thế Kỷ, nhất là Triều Đẩu với tác phẩm Trên Vỉa Hè Hà Nội và Trúc Sĩ với những truyện thần kỳ như “Kẽm Trống, nấm mồ vô định” hay Hầu Tinh. Truyện “Kẽm Trống, nấm mồ vô định” viết từng kỳ, đăng từng kỳ, đã được độc giả Hà Nội theo dõi tán thưởng, tạo tiếng vang lớn. Khi truyện in thành sách vào năm 1952, có bài Tựa của nhà văn chủ nhiệm tạp chí Thế Kỷ như dưới đây.

            “Ngày đó báo Thế Kỷ ra vừa được hơn một năm. Đi đến đâu có người quen mà cũng là độc giả của Thế Kỷ tôi đều được hân hạnh nghe nói đến Thế Kỷ chỉ vì một truyện đang đăng: Kẽm Trống. Kẽm Trống quả đã quyến rũ người. Các độc giả mua dài hạn thì xa thư về, gần đón hỏi người đưa báo, cần biết chỉ một điều rằng:
            – Là ai Trúc Sĩ?
            – Trúc Sĩ là ai?
            … Câu truyện một sớm một chiều bật hết ánh sáng của tài năng và câu truyện một sớm một chiều nổi tiếng là câu truyện của Trúc Sĩ đấy… Trúc Sĩ đặt một bước đầu là nhằm ngay lối và đã như xỏ chân vào hia bảy dậm để tiến tới đài danh vọng. Phải rồi, vượt qua xong Kẽm Trống, không còn ai phủ nhận tài năng của Trúc Sĩ được nữa. Không một ai là không thấy bằng lòng khi đọc Trúc Sĩ, và, trong giới văn nghệ sĩ, điều này thật là một diễm phúc”.(1)
            “… Đó là truyện viết một hơi trong vòng một tuần lễ. Trúc Sĩ có tài kể truyện lôi cuốn lạ lùng mà phân tích ra ta sẽ thấy tài ấy có được nhờ ở một trí nhớ khác thường về những chi tiết của cuộc sống, trí nhớ ấy lại được soi sáng lên với bảy mầu kinh dị của tưởng tượng… tưởng tượng của Trúc Sĩ là một sức mạnh gần như ma quái khiến cho những hình ảnh mơ hồ trong trí nhớ chạm phải sẽ hằn lên, rung động” (Tựa, Bùi Xuân Uyên, 14 tháng 4, 1952).

            Cuối năm 1974 tôi vào làm đài Mẹ Việt Nam, gặp anh Trúc Sĩ đã là một thành viên của ban biên tập. Nhà văn Trúc Sĩ tên thật là Nguyễn Đình Thái, sinh ngày 21 tháng 2, 1918 tại Thái Bình nhưng quê gốc ở Láng ngoại thành Hà Nội. Năm 1954, ông ở lại Bắc Việt, nhưng tới 1958 vượt tuyến vào Nam. Các tác phẩm đã xuất bản: “Kẽm Trống, nấm mồ vô định”, Thế Kỷ, Hà Nội, 1952. Truyện đăng báo hoàn tất: “Con ma chập chờn”, 1951; “Hầu tinh”, 1952; “Tôi vượt tuyến”, đăng báo Cách Mạng Quốc Gia, Sài Gòn, 1960. Năm 1973 cộng tác với tạp chí Thời Tập qua thơ và các cuộc phỏng vấn của tờ báo.
            Dưới đây là một phát biểu của tác giả Kẽm Trống trích đăng từ cuộc phỏng vấn Viên Linh-Trúc Sĩ tháng 3, 1975:

            Viên Linh: Anh có từng phải tự hỏi về vai trò người cầm bút trước tình thế đất nước biến động như những ngày qua hay không?
            Trúc Sĩ: Thưa anh không, từ ngày cầm bút viết văn hay làm thơ, thơ, dù được in trên báo chí hay xuất bản, chưa bao giờ tôi đặt câu hỏi về vai trò của người cầm bút cả. Nghĩa là tôi viết theo cảm xúc và nhận định của riêng tôi lấy căn bản lương tri của con người làm hướng đi một cách hầu như tất nhiên và tự nhiên vậy.
            Cũng bởi thế, cái ý niệm nhân bản nhiều khi quá khích đến phi liêm nghĩa là tôi thông cảm và chấp thuận nhiều trường hợp phá lệ của bất cứ một nền luân lý nào. Cụ thể như đối với những hành động có thể coi như bất chính, như ăn trộm ăn cắp, làm đĩ, đảnh bạc, tham ô, tôi cũng thông qua luôn, bởi đời là cảnh khổ, con người trước tiên phải có bổn phận với chính bản thân họ, pháp luật cứ làm nhiệm vụ của pháp luật, nhưng không có cái gì đẹp bằng hành động phi-luân-vì-hoàn-cảnh, để đấu tranh, cho cha mẹ vợ con được sống còn, trong nước mắt và sự vinh nhục của mình. Do thế, câu hỏi của anh hoàn toàn ở ngoài tư tưởng của tôi, mà chưa bao giờ tôi nghĩ tới. Chỗ này, tôi nghĩ rằng nên nhắc lại một câu nói của một nhà văn Liên Xô, là văn hào Tvardovski trong nhóm Thời Mới (Novy Mir) mà tôi đã được đọc trên tờ Paris-Match cách đây khoảng 8, 9 năm, nói như sau:
            – Là người cầm bút chân chính, chúng ta phải đấu tranh cho những kẻ yếu hèn, đau khổ, chứ không phải phụ họa vào cường quyền mà đàn áp nó.
            Tôi nghĩ rằng, đây là câu nói bất hủ, mà có lẽ tôi có sẵn trong máu, nên chẳng bao giờ phải suy nghĩ nữa. Có thể là như vậy. (Thời Tập số 23, tr. 14-15, tháng 4, 1975).

            Tháng 4, 1975 chúng tôi rời Sài Gòn ra Phú Quốc rồi lên tầu American Challenger tới Guam. Nhà văn Trúc Sĩ định cư ở Berkeley, California. Ông có viết trả lời một lá thư của tôi từ năm 1979, gửi cho tôi một bài thơ, sau đó chúng tôi mất liên lạc.


VIÊN LINH
Tháng 09/2018

__________________________________________________________
(1) Sau này ở Sài Gòn, có người nói rằng cuốn truyện này phạm lỗi “đạo văn” từ “truyện ngắn của Nhất Linh và Khái Hưng trong Anh Phải Sống”, tôi đã có dịp xem qua, và không thấy như thế. Trước hết Anh Phải Sống (bản Phượng Giang in năm 1956, không biết là bản in lần thứ mấy) có 13 truyện hai tác giả Tự Lực Văn Đoàn in chung [chứ không phải viết chung], bên trong có mục lục ghi rõ ai viết truyện nào. Truyện ngắn “Giết chồng, báo thù chồng” do Nhất Linh viết, dài 11 trang. Truyện Kẽm Trống của Trúc Sĩ có hai phần rõ rệt, phần một 55 trang, chuyện xảy ra vào đời Tự Đức; phần hai chấm dứt ở trang 102, xảy ra cách chuyện trước đúng 100 năm! Đọc kỹ sẽ thấy câu chuyện người phụ nữ “giết chồng [mới], trả thù cho chồng [cũ] đã thành án đời Tự Đức, tức là một sự việc có thật [trên 100 người bị giết – trong có chồng người phụ nữ xinh đẹp – xác ném xuống khe núi Kẽm Trống gần Phá Tam Giang], vậy cái án ấy là chuyện đại chúng đều hay, vì có công bố cho dân chúng biết. Sao không nghĩ rằng cả Nhất Linh lẫn Trúc Sĩ đều đã đọc đã biết bản bố cáo bản án ấy nên có đoạn tương tự. Tôi không thấy hai truyện của hai tác giả trên có câu nào giống nhau hết. Cũng không nên quá rộng rãi mà nói rằng một truyện dài 102 trang in thành sách “đạo văn” từ một truyện ngắn 11 trang.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/mot-dong-tho-van-khac-cua-ky/