Tác giả Chủ đề: Bùi Giáng  (Đã xem 30294 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #75 vào: 23/04/2017, 21:50:09 »

Giới thiệu sách:
“Vào Chung cục Thơ, Bùi Giáng-Ngô Văn Tao”



Quê chàng là Ithaque
             “Quê Chàng là Ithaque” là một bức tranh bột màu trên giấy của Bùi Giáng, vẽ vào năm 1963. Một trong một vài di tích hiếm hoi của Bùi Giáng, khi nhà thơ chìm đắm say mê sáng tác hội họa vào đầu thập niên 1960, vì hầu hết những sáng tác hội họa của Bùi Giáng đã bị tiêu hủy trong một trận hỏa hoạn.
            Bức tranh đó, cùng với ký họa chân dung Bùi Giáng của Trịnh Công Sơn (1988), họa sĩ Trịnh Cung đã trình bày làm hai mặt bìa của tập thơ “Vào Chung Cục Thơ” (La commune poétique aventure), Bùi Giáng-Ngô Văn Tao. Tập thơ này cốt yếu gồm có 19 bài thơ tiếng Pháp của tôi với 19 bài thơ tiếng Việt do Bùi Giáng họa đáp lại.
            Những bài thơ tiếng Pháp của tôi đã được trình bày trong tập thơ: “Papyrus”, Ngô Văn Tao, nhà Xuất Bản Văn Nghệ, Việt Nam, năm 2000. Tuy nhiên tôi đã cố tranh thủ xuất bản tập “Vào Chung Cục Thơ”, nhà Xuất Bản Hội Nhà Văn, Việt Nam, tháng 8-2004. Cốt để gửi đến các bạn yêu thơ – các bạn cùng chia một “Sầu Thành” (Tản Đà-Bùi Giáng) – những bài thơ của Bùi Giáng, mà tôi mạn nghi là những cống hiến trang trọng cho nền Văn nghệ Việt Nam chúng ta.
            Những bài thơ của Bùi Giáng, tuy dưới hình thức rất cổ điển, thể thơ lục bát hay thể thơ vần một câu tám chữ, đều là những bài táo bạo sáng tác trong ngôn ngữ, với những tình ý, hình ảnh có thể nói là lập thể và trừu tượng, ngay cả những khi nói đến chuyện đời thuờng như em bé mồ côi, như người phu chạy xe cy-clô hay một kỹ nữ… Những bài thơ cốt yếu ẩn dụ, tân tiến (modern), nói đến sự đột phá sâu xa siêu hình của trực giác và lý tính trong nghệ thuật và thi ca.
            Trong tập thơ “Vào Chung Cục Thơ”, còn in hai bút tích của Bùi Giáng, hai bài thơ ngắn mà nhà thơ đã viết đặc biệt cho tập thơ như lời mời vào cùng chung cuộc Thơ. Về phần tôi, cũng trình bày thêm như phụ lục một bài trường ca: Bùi Giáng, quê chàng là Ithaque. Bài thơ này có thể nói là một bức thư riêng lãng mạn, viết năm 1991, tôi gửi tới nhà thơ, để thử nói với nhà thơ tôi đã hiểu thế nào là khái niệm: “Cố Quận”, một khái niệm căn bản và trải dài trên tất cả sự nghiệp thi văn của nhà thơ Bùi Giáng. “Cố Quận” phải chăng là, như theo ý tôi, những hồi tưởng của mà chúng ta có ngay từ buồi sinh thời: tình yêu (tình yêu của người mẹ), cái đẹp (cái đẹp mà chúng ta hé thấy dưới đôi mắt hồn nhiên thơ trẻ)…??? Dù sao, tất cả cuộc đời của mỗi người chúng ta, cũng như nghệ thuật và thi ca, đều là “một cuộc trở về”, trở về Ithaque (quê hương thần thoại, của Ulysse), trở về tiền kiếp…
            Bài thơ “Bùi Giáng, quê chàng là Ithaque”, tôi đăng kèm theo bài giới thiệu sách này, vì tôi tin rằng nó sẽ giúp các bạn đọc có những cảm nhận mới về sự nghiệp thi văn của nhà thơ Bùi Giáng.


22.7.2004
NGÔ VĂN TAO




      Bùi Giáng
      Quê Chàng là Ithaque


      Đây là con đường của thành phố đi từ Chợ Lớn
      hướng về miền Bắc
      qua núi qua sông mưa rơi nắng đổ
      Đây là con đường của thành phố mà anh đi mãi hai bàn chân không
      anh quen từng hòn đá biết từng gốc cây
      tất cả những nóc nhà đều gần gũi
      và những người đàn bà đã nhiều lần dâng anh rượu cấm
      để anh đi chếnh choáng sáng đến chiều
      từ chiều đến sáng
      Rồi một đêm khi thành phố lên đèn nổi rõ
      những vòm cây dưới vực trời ứa trăng và sao
      anh có thấy mình chăng biến thành giọt nước
      giọt nước sẽ tan đi như sương nhẹ ban mai
      hạt sương trong trên mái tóc người em gái
      người em gái đang đúng tuổi đương thì
     
      Hai ta hãy cùng đi, anh ạ
      chân đăm chân chiêu
      tay để lên vai nhau
      trên tất cả những con đường của thành phố
      dù quê hương ta quá xa vời
      ngoài ca khúc của người bạn
      ngoài tranh vẽ của người bạn
      ngoài tầm tất cả những bài thơ anh đã viết
      và anh đã đọc cho những thân cây
      quê hương của chúng ta quá xa vời
      nằm trong câu thơ mà chúng ta… chúng ta…
      không bao giờ viết được

      Hai ta hãy cùng đi, anh ạ
      chân đăm chân chiêu
      tay để lên vai nhau
      mãi mãi trong thành phố này
      dù quê hương ta quá xa vời
      nằm ở tận cõi vô cùng

      Ôi! Ông Hoàng bị trích ngoài lục địa
      Ôi! Nhà Vua ở chốn không hạnh phúc của trần gian
     
      Thì rằng…
      Trùng dương viễn biệt muôn vàn
      ấy ai… ấy ai…
      ghé qua lục địa muộn màng hỏi thăm
     
      Nếu có người em gái đứng bên góc phố ta đi
      tôi sẽ đi trước để nói với em rằng:
     
      Em hãy giũ đi những bụi đường
      và duyên dáng em hãy chờ đợi
      người thi sĩ rồi đây sẽ đến gần
      như từ xa vắng thiên thần tìm em
      một bước đi là một bài thơ
      để cái góc đường này rồi đây sẽ ghi mãi tên em

      Em hãy mặc lên áo lụa trắng đào
      một đóa hồng tơ trên làn tóc
      dâng trên vạt áo cả một trời phượng vĩ
      người thi sĩ rồi đây sẽ đến gần
      dù không đưa được em ra khỏi thành phố này
      ngay cả tới Lái Thiêu không quá xa
      vườn trái của tình yêu
      với cặp chim muông hót những bài ca của tình tự

      Em hãy duyên dáng, em ơi!
      và em hãy dịu dáng, em ơi!
      người thi sĩ rồi đây sẽ ôm em vào lòng
      như ru tất cả những người đàn bà của thành phố này
      để không còn ai có quyền được gặp nỗi cô đơn
      dù người thi sĩ không làm sao dẫn em trở lại
      tới quê hương ta xa xôi ấy
      nơi một lần đã có mùa xuân
      nơi anh đã biết yêu em một lần

      Ôi!
      Em về mấy thế kỷ sau
      Nhìn trăng trăng có nguyên màu ấy không

      Ôi âm hưởng của phố phường thiên thu Thân Mẫu
      Ôi vô thanh vô tức của phố thị hô hấp hy hư
      Còn gì nữa nữa gì còn nữa mẫu thân con
      Có đi về chiếu cố mù sa
      . . . . . . .
      Con đi cây bút vẽ bùa
      Con về bút mực thêu thùa ngày hoa
      Tháng cây năm cỏ chan hòa
      Trái cây còn vẫn la đà sơ nguyên
      . . . . . . .
      Người đứng đó ngày về tôi có thấy
      Hai bàn chân trên cỏ lá ngàn xuân
      Phong cảnh đã bốn bề cùng tôi nói
      Linh hồn người là thiếu nữ thanh tân
      Rồi tôi lớn đi vào đời chân bước
      Cỏ mùa xuân bị giẫm nát không hay
      Chợt có lúc hai chân dừng một lượt
      Người đi đâu? Xưa chính chỗ này
      Người không ở vì chờ mong đã mỏi
      Người đã đi cùng tuổi trẻ tôi đi
      Chợt có lúc lên đường tôi đứng lại
      Ngó ngu ngơ… xưa chính đã chỗ này
      . . . . . . .
      Và do đó than ôi!
      Hỡi Thanh Lâu nương tử
      Tôi đã cô độc bất khả tư nghi
      Nương tử chẳng bao giờ nhận thấy ra
      Và dỗ dành bao la
      Cho tôi bất thình lình nín khóc
      Cho tôi bất thình lình nín khóc


      (trích từ Bùi Giáng: Con đường ngã ba)

      Lạc loài đã rớt đi đâu
      Chiếc chìa khóa mộng rực màu so le
      Rồi anh múa
      cuồng điên anh cứ múa
      múa đơn côi trên đường cỏ anh đi
      mảnh đất này sẽ ra hoa rạng rỡ
      và thành phố huy hoàng là lượt
      những thuyền quyên mỹ nữ giai nhân
      mặt người hết sầu tư
      vết thương đau
      là vết hằn của trái phá tình yêu
      lời hận thù
      là lời đòi yêu cuồng
      những tình nhân quá độ si mê
     
      Nẻo về cố quận từ lâu đã mất
      đường rừng anh vẫn tìm tới Đào Nguyên
      hay chỉ vì nhân thế anh đa mang
      những hoài bão vô cùng
      những ước mơ sao đến
      cái đẹp cái thi ca cái tuyệt vời
      cũng vì nhân thế anh đành cưu mang
      những không thành những yếu đuối những chia ly
      một gốc cây anh sẵn sàng đến trú ngụ
      một vỉa hè anh ở lại tọa vì

      Đường về quê hương sao hiu hắt
      làm sao theo được những bước anh
      những bài thơ
      đưa ta về bên kia dãy núi
      những bài thơ
      đưa ta về bên kia phía chân trời
      thôi của anh đây một thế giới mong manh
      chỉ khóe mắt hay thoáng một nụ cười
      giọt lệ dưng dưng ôi rất nhỏ
      có rớt xuống trần gian
      sẽ chấn động pha lê
      cả vũ trụ một sóng điện muôn vàn
      như đưa dẫn người vào trong huyễn ảo

      Nơi ta muốn tới
      hun hút nằm ở tận cuối thời gian
      ở huyền thoại ở mối tình không có
      người thi sĩ đành đi và đi mãi
      không tuổi tác hay thành lại hài nhi
      đi khuất vào đường cong của cuộc đời
      và người trần gục đầu trong ánh sáng
      mắt mờ hoen theo dõi bước thi nhân

      Phải, một ngày rồi tôi đã đợi
      dưới dàn hoa
      khi đường cây vừa mất màu phượng đỏ
      gió tung lên thổi bạt một cành khô
      tôi đã đợi và anh không trở gót
      để cùng tôi nói lại chuyện mỹ nhân

      Để giờ đây
      trong khoảng trống không gian
      tôi đi vào mùa đông
      ngõ đầy lá phong rụng
      hai chân bỗng dừng lại
      như chính nơi đây chính quán rượu này
      hào quang còn lại bóng anh qua
      Phá bận kỉnh tu phiền khúc nghiệt
      Vi từ chỉ dục bá phương hinh
(1)


                                       NGÔ VĂN TAO
                                       8/1991
________________________________________________
(1) Tô Đông Pha
            Phá hận xin phiền men khúc nghiệt
            Buông câu hàm chứa hương trời bay



http://www.gio-o.com/NgoVanTao/NgoVanTaoBuiGiangI2.html

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #76 vào: 14/08/2017, 16:31:54 »
Dịch là Khác: Từ Truyện Kiều của Nguyễn Du đến Shakespeare của Bùi Giáng

Những cụm từ như “Hoa ngõ hạnh”, “Trăng tỳ hải” có thể gợi liên hệ đến những vở kịch nào của William Shakespeare? Đó là câu hỏi khó đối với những ai chưa có điều kiện tìm hiểu kỹ di sản dịch thuật của Bùi Giáng.

Những tác phẩm của William Shakespeare được Bùi Giáng dịch

1.– Những hình ảnh vừa mang màu sắc cổ thi, vừa ẩn mật, mơ hồ đặc trưng cho phong cách ngôn ngữ thơ của Bùi Giáng này được ông sử dụng để đặt tên cho “bản dịch” hai vở kịch của Shakespeare là OthelloAntony and Cleopatra.(1) Tại sao phải đặt từ “bản dịch” trong dấu ngoặc kép? Cả Hoa ngõ hạnhTrăng tỳ hải của Bùi Giáng đều thách thức ý niệm về thẩm quyền của dịch giả trong mối quan hệ với nguyên tác, buộc chúng ta phải nghĩ lại yêu cầu đặt ra cho một bản dịch, theo đó, sự trung thành với nguyên tác được xem là phẩm hạnh cao nhất mà bản dịch cần đạt đến. Dịch giả, như thế, được quan niệm như là kẻ phục tòng triệt để nguyên tác vốn được đặt ở một địa vị cao hơn.
            Bùi Giáng, khi làm việc với văn bản của Shakespeare, có lẽ không bận tâm về sự trung thành – thử thách cao nhất và đồng thời là nỗi bất an lớn nhất đối với các dịch giả. Lịch sử dịch thuật đã ghi lại hàng loạt trường hợp các dịch giả chịu những hình phạt hà khắc nhất do bị quy kết là bất trung trong dịch thuật, từ số phận các dịch giả Kinh Thánh như John Wycliffe, William Tyndale cho đến các phiên dịch bị cắt lưỡi và xử bắn trong cuộc chiến ở Afghanistan những năm đầu thế kỷ XXI.(2) Thay vì cam phận làm kẻ phục tòng nguyên tác, Bùi Giáng áp đặt cái tôi của ông, phong cách thơ ca của ông lên văn bản của Shakespeare, từ nhan đề đến nội dung bên trong, thậm chí còn thêm vào đó những bài thơ tiếng Anh mà ông tự sáng tác, nhiều bài đề tặng những nữ minh tinh phương Tây nổi tiếng đương thời. Bùi Giáng lý giải cho sự phóng túng trong dịch thuật của mình: “Bản dịch? Người dịch thỉnh thoảng có thêm một vài lời – kể cũng hơi buông tuồng. Nhưng nghĩ lại: đó chẳng qua là do những yêu sách của phần Bất Tư Nghị Shakespeare, và của Tinh Thể Việt Ngữ trải qua nhiều cuộc dâu biển đó thôi.”(3)
            Dịch, với Bùi Giáng, về bản chất, là thông diễn và đồng thời là khai thác phần tinh diệu, anh hoa nhất của tiếng Việt hay nói như ông, đó là “Tinh Thể Việt Ngữ”. Dịch Shakespeare, với Bùi Giáng, là đọc lại Shakespeare, giải phóng Shakespeare ra khỏi khung diễn giải duy lý của phương Tây.(4) Kịch Shakespeare được Bùi Giáng đọc như những áng “phong tình cổ lục” mà để tái tạo phần tình cảm, xúc động trong đó, phải cần đến ngôn ngữ của “thi ca sơ thủy” Việt, một thứ ngôn ngữ nâng niu, dào dạt, mê đắm như ngôn ngữ của Kiều: “Shakespeare sẽ đứng ở bên bờ Tỳ Hải mà nêu lại với Homère Nguyễn Du một vài ẩn ngữ cổ lục cảo thơm phiêu bồng với những trận trường phong trong phong tình giẫy sóng.”(5) Bùi Giáng tái tạo Shakespeare trong cảm thức hồ nghi lý tính và việc ông coi dịch là cách phục nguyên thi tính của tiếng Việt để tâm hồn con người tìm được nơi tựa nương có ý nghĩa như một liệu pháp cho tinh thần trong một thời đại đầy biến động, gây nhiều chấn thương. Dịch thuật của Bùi Giáng, vì thế, thể hiện thế giới quan hiện đại chủ nghĩa.
            Ta sẽ đánh giá như thế nào về cách ứng xử của Bùi Giáng đối với Shakespeare? Và không chỉ với Shakespeare, Bùi Giáng đối đãi với nhiều văn bản khác cũng buông tuồng, tự do và hồn nhiên như thế. Ông không quan tâm đến tiêu chí trung thành đã đành; khi đánh giá di sản dịch thuật của Bùi Giáng, người ta cũng ít soi xét chúng từ tiêu chí này. Như một biểu tượng của tự do, Bùi Giáng được đặt vào vùng huyền thoại và phải chăng do đó, được miễn trừ trước phép thử về sự trung thành? Một cách thận trọng hơn, có thể đề nghị chỉ nên xem các bản dịch Shakespeare là những phóng tác, chuyển thể. Nhưng kể cả khi đó, phóng tác, chuyển thể vẫn nằm trong dải phổ của hành động dịch vốn được hiểu là sự chuyển giao một văn bản từ ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác. Dịch, và nhất là một bản dịch thích đáng, do đó, đòi hỏi những nhìn nhận phức tạp hơn.

2.– Không phải ngẫu nhiên trong lời tựa ba vở kịch của Shakespeare được chọn dịch sang tiếng Việt, Bùi Giáng nhắc đến Nguyễn Du. Ông đặt Nguyễn Du ngang hàng với Shakespeare, đặt ngôn ngữ của Kiều trong sự đối ứng với ngôn ngữ của Shakespeare. Ở mức độ nào đó, Nguyễn Du có lẽ chính là người tiền nhiệm của Bùi Giáng. Truyện Kiều có thể được xem là một dịch phẩm tài hoa, in đậm dấu ấn cá nhân của Nguyễn Du. Trước Bùi Giáng rất xa, Nguyễn Du cũng đổi tên nguyên tác của Thanh Tâm Tài Nhân thành Đoạn trường tân thanh. Ông dùng “lời quê” (chữ Nôm, thể lục bát) để chuyển thể tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện và trong khi cố gắng bảo lưu một cốt truyện nhiều hoạn nạn – như một dụ ngôn cho chính thời đại nhiều thăng trầm, xáo trộn mà Nguyễn Du trực tiếp nếm trải – nhà thơ cố gắng giảm đi yếu tố hành động và tăng cường chất trữ tình, cảm thương qua những độc thoại nội tâm, những lời than, lời oán. Nếu như Bùi Giáng sau này muốn dịch Shakespeare để cải tạo thứ ngôn ngữ đương thời đang xác xơ, cỗi cằn bởi lý tính độc đoán, đưa nó về thứ ngôn ngữ của cổ lục diệu vợi, “xa vắng đìu hiu”(6) thì Nguyễn Du không chỉ dùng “lời quê” để dịch Thanh Tâm Tài Nhân mà còn cải tạo chính “lời quê” ấy, bằng cách khảm vào thơ lục bát những điển cố, điển tích, những hình ảnh Đường thi, từ đó, tạo nên thi tính của truyện Kiều – yếu tố làm nên sức hấp dẫn vượt thời gian của nó, ngoài ý nghĩa dụ ngôn về hoạn nạn, thống khổ của kiếp người.
            Nhưng trong tất cả các giáo trình về Truyện Kiều, hầu như chưa ai nhìn tác phẩm này như một dịch phẩm. Chữ “dịch” ở đây mang một hàm nghĩa tiêu cực. Dịch là một cái gì đó thấp hơn, kém tầm hơn nguyên tác. Gọi Truyện Kiều là dịch phẩm không khác gì một sự báng bổ Nguyễn Du, phủ nhận những sáng tạo độc đáo của Nguyễn Du, xem tác phẩm chỉ là sự phái sinh từ một nguyên tác luôn được cho là rất tầm thường. Đó là một điều nguy hiểm khi Truyện Kiều đã được điển phạm hóa bởi ý thức hệ dân tộc. Quá trình điển phạm hóa này diễn ra cũng phức tạp: từ một tác phẩm bị xem là “văn chương có hại”, nhất là cho phụ nữ, Truyện Kiều trở thành biểu tượng cho hồn dân tộc, hồn thời đại. Một điều thú vị là ngay cả khi không được thừa nhận chính thống như một tác phẩm dịch, Truyện Kiều, đến lượt mình, vẫn tiếp tục được dịch trong đời sống văn hóa bình dân của người Việt qua hiện tượng “bói Kiều”. Bói Kiều, về cơ bản, là dịch ngôn ngữ “cổ lục” với nhiều ẩn mật, hàm ý của Nguyễn Du ra ngôn ngữ đời thường, ứng với những hoàn cảnh cụ thể.

3.– Một bản dịch, như thế, vừa bị đòi hỏi yêu cầu cao hơn, chặt chẽ hơn về sự trung thành so với các hình thức phóng tác, chuyển thể, nhưng mặt khác, nó lại vừa bị xem là ở một vị thế thấp hơn, ít tình sáng tạo hơn so với nguyên tác. Nó luôn bị mặc định như thể chỉ làm cho nguyên tác mất mát ý nghĩa, sắc thái. Một định kiến như thế vẫn tồn tại rất mạnh trong những phê bình dịch thuật ở Việt Nam.
            Phê bình dịch thuật ở Việt Nam định hình tiếng nói của mình một cách rõ rệt cách đây khoảng hơn mười năm, bắt đầu từ những trao đổi trên các diễn đàn liên mạng hay qua một vài bài tản văn của Phan Thị Vàng Anh, Phạm Thị Hoài… Cách đây cũng khoảng mười năm, trên báo Tia sáng, lần đầu tiên có một bài tổng thuật những tranh luận, trao đổi trên mạng về bản dịch Trăm năm cô đơn của Gabriel García Marquez do nhóm dịch giả Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng thực hiện và đã được xuất bản từ năm 1986. Sau gần mười năm, khi đọc lại bản dịch từng được giải thưởng của Hội nhà văn (và đến năm 2012, còn tiếp tục nhận được giải thưởng Sách Hay), những người tham gia thảo luận đã phát hiện rất nhiều điểm chưa chính xác, thậm chí phi logic trong đó. Những lỗi dịch này trước đó có lẽ chưa bao giờ được phát hiện và chỉ ra công khai.
            Thế nhưng bản dịch Trăm năm cô đơn, bất chấp nhiều khiếm khuyết, bất chấp những lỗi dịch được chỉ ra khá thuyết phục, đã từng là một sự kiện văn học đặc biệt của thời kỳ đầu Đổi mới và việc các dịch giả làm cho cuốn sách được hiện diện bằng tiếng Việt đã tạo ra những hiệu ứng lâu dài đến tận bây giờ. Rất cần có những nghiên cứu sâu để xem xét các dịch giả đã làm cách nào để thoát khỏi khung khổ của chủ nghĩa hiện thực để tái tạo văn bản của Garcia Marquez vốn được xem là điển hình cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo với rất nhiều chi tiết huyễn tưởng, quái đản. Làm thế nào các dịch giả xử lý được các cảnh mô tả tình dục trong nguyên tác khi mà một thời kỳ dài, đến ngay cả trong sáng tác, đó cũng là điều bị cấm kỵ? Các dịch giả đã giới thiệu một lối viết hoàn toàn bất ngờ, thậm chí mang tính khiêu khích với những kinh nghiệm thẩm mỹ với công chúng khi đó. Vậy mà nó lại được độc giả Việt Nam đón nhận nhiệt tình, trở thành hiện tượng best-seller ngay lần đầu ra mắt. Độc giả Việt Nam đã được chuẩn bị gì, mang tâm thế gì để có thể tiếp nhận cuốn sách và không để ý đến những chi tiết bị xem là lỗi dịch? Đó là những vấn đề thú vị mà phạm vi bài viết này chưa cho phép phân tích xa hơn. Chỉ xin nói thêm: sự xuất hiện của García Marquez và bản dịch Trăm năm cô đơn, dẫu còn nhiều chỗ sai, không ổn, đã tạo ra cú hích quan trọng đối với nhiều nhà văn sau 1986. Nguyễn Bình Phương là một thí dụ.
            Nhìn xa hơn, trường hợp bản dịch bất toàn nhưng lại có ảnh hưởng văn hóa lớn như trường hợp Trăm năm cô đơn ở Việt Nam không phải là hiện tượng cá biệt. Jorge Luis Borges có một tiểu luận rất thú vị và quan trọng về các dịch giả tác phẩm Nghìn lẻ một đêm ở phương Tây, trong đó, ông nhấn mạnh không dịch giả nào trung thành hoàn toàn với bản gốc, ai cũng viết lại Nghìn lẻ một đêm theo kiểu của mình. Trong đó, bản dịch của Antoine Galland được xem là bản viết lại tệ nhất, ít trung thành nhất nhưng lại được đọc nhiều nhất ở châu Âu tại thời điểm đó. Độc giả đương thời bị hấp dẫn bởi màu sắc Đông phương mà Antoine Galland hẳn có chịu ảnh hưởng từ gu văn chương Pháp khi ấy, họ nhận được nhiều khoái cảm, nhiều sự ngạc nhiên, sửng sốt mà một văn bản dịch chính xác hơn, hiệu chỉnh những chỗ chưa ổn, chưa đúng trong bản Nghìn lẻ một đêm của Galland do Edward Lane thực hiện lại không thỏa mãn được.(7) Từ đó, có thể nói, tiêu chí về sự trung thành tuy cần thiết trong phê bình dịch thuật song chắc chắn không nên là tiêu chí độc tôn, cao nhất. Nó sẽ khiến dịch thuật được nhìn nhận hẹp hơn những gì nó có thể đem đến, tạo sinh. Ở đây, có thể quan tâm đến một định nghĩa mới về dịch được đề nghị bởi hai học giả hàng đầu trong ngành nghiên cứu dịch thuật ở Mỹ – Maria Tymoczko và Edwin Gentzler: “Dịch không đơn thuần chỉ là hành động lựa chọn, tập hợp, cấu trúc, đan dệt mà thậm chí trong một số trường hợp, nó còn có thể là hành động xuyên tạc (falsification), từ chối thông tin, giả mạo, sáng tạo những mã bí mật. Theo những cách này, dịch giả, cũng như các nhà văn, các chính trị gia, tham gia vào các hoạt động quyền lực tạo nên tri thức và định hình văn hóa.”(8)

4.– Định nghĩa rộng về dịch như trên xác nhận vai trò văn hóa to lớn của dịch thuật, cho dù dịch thuật đã và vẫn cứ là một hiện tượng ngoại biên, được thực hiện bởi các dịch giả mà sự hiện diện của họ thường bị vô hình hóa trong lịch sử đồng thời công việc của họ thường gắn liền với những mệnh đề chứa nhiều thành kiến và mang hàm ý của sự răn đe như “dịch là phản”, “dịch là diệt”… Ai còn nhớ đến tên các dịch giả toàn tập kinh điển của chủ nghĩa Marx ở Việt Nam cho dù từ những con người vô danh này, vô số các thuật ngữ, khái niệm chính trị, triết học được du nhập vào tiếng Việt, hình thành nên các diễn ngôn ý thức hệ mới, chi phối mọi cách nhìn, mọi sự diễn giải khác. Chưa có một nghiên cứu nào ghi nhận hoạt động của những người dịch không chuyên các phim video từ hồi cuối thập niên 80 trở đi – những người trên thực tế đã kiến tạo lại không gian văn hóa đại chúng ở Việt Nam thời kỳ hậu chiến. Và còn nhiều hiện tượng khác nữa.
            Bởi thế, có thể cần phải thay những mệnh đề tiêu cực về dịch thuật vừa dẫn bằng một mệnh đề khác, bao quát tốt hơn bản chất và vai trò của dịch thuật: dịch là khác biệt. Từ vị thế ngoại biên, dịch không chỉ môi giới, du nhập, bứng trồng cái khác mà còn kiến tạo cái khác ngay trong lòng văn hóa. Bằng điều đó, dịch có khả năng chống lại những nguy cơ xơ cứng, độc đoán, giáo điều của văn hóa, kích thích thái độ khoan dung ở con người khi tiếp xúc với cái khác, kẻ khác. Mà khoan dung lại là phẩm chất quan trọng hơn bao giờ trong một thế giới đa văn hóa như hiện nay. Và nếu dịch làm nảy nở, bồi dưỡng sự khoan dung trong nhận thức con người, thiết tưởng, sự khoan dung ấy cũng là phẩm chất cần có ở phê bình dịch thuật. Khoan dung không có nghĩa là dễ dãi, cào bằng mọi giá trị, nó luôn xuất phát từ sự tôn trọng, chấp nhận những quan điểm, những giá trị khác biệt, nó xa lạ với sự độc đoán của ngôn ngữ. Chỉ với thái độ khoan dung ấy, ta mới có thể mở ra không gian rộng rãi, cởi mở hơn cho dịch thuật ở Việt Nam hiện nay, nhất là khi chúng ta đang cần nhiều xúc tác, chuyển dịch để tạo ra những thay đổi quan trọng trong văn hóa, xã hội. Dịch thuật có thể thực hiện được điều ấy.


TRẦN NGỌC HIẾU

________________________________________
(1) Theo sưu tầm của chúng tôi, Bùi Giáng đã dịch ba vở kịch của William Shakespeare, gồm có Ophelia-Hamlet (nguyên tác Hamlet), Quế Sơn – Võ Tánh, Sài Gòn, xuất bản; Hoa ngõ hạnh (nguyên tác Othello), Ngọc Minh, Sài Gòn xuất bản; Trăng tỳ hải (nguyên tác Anthony & Cleopatra), Ngọc Minh, Sài Gòn xuất bản năm 1966. Ở bìa sau cuốn Hoa ngõ hạnh, có thông tin Bùi Giáng còn dịch vở Romeo-Juliet nhưng đến nay chúng tôi chưa tìm được bản dịch này.
(2) Theo Susan Bassnett, Translation (The New Critical Idiom), London & NewYork: Routledge, 2014, trang 10.
(3) Bùi Giáng, lời tựa Trăng tỳ hải, Ngọc Minh, Sài Gòn xuất bản, 1966, trang XIII.
(4) Bùi Giáng, lời tựa Ophelia-Hamlet, Quế Sơn – Võ Tánh, Sài Gòn xuất bản (chưa tra được năm xuất bản), trang I.
(5) Bùi Giáng, lời tựa Trăng tỳ hải, Ngọc Minh, Sài Gòn xuất bản 1966, trang XIII.
(6) Bùi Giáng, lời tựa Hoa ngõ hạnh, Ngọc Minh, Sài Gòn xuất bản (chưa tra được năm xuất bản), trang III.
(7) Jorge Luis Borges, “The Translators of The Thousand and One Nights”, Esther Allen dịch sang tiếng Anh, in trong The Translation Studies Reader, Lawrence Venuti chủ biên, London & New York: Routledge, 2000, trang 34-49.
(8) Maria Tymoczko & Edwin Gentzler (chủ biên), Translation and Power, Amherst & Boston: University of Massachusetts Press, 2002, trang XXII.


Báo Tia Sáng số 2-2015

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi caydungthang

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #77 vào: 30/05/2018, 05:26:00 »
(Image removed from quote.)
Nếu em nhớ không lầm thì HÂM LIỆT do ĐỔ KhÁNH HOAN dịch .
 
The following users thanked this post: như mộ

Ngủ rồi như mộ

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #78 vào: 30/05/2018, 12:55:14 »
Nếu em nhớ không lầm thì HÂM LIỆT do ĐỔ KhÁNH HOAN dịch .
À, đúng rồi. Mình không để ý
 

Ngủ rồi như mộ

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #79 vào: 17/10/2018, 20:18:45 »
 
The following users thanked this post: Nguyên Thánh

Ngủ rồi như mộ

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #80 vào: 21/10/2018, 01:02:04 »
 
The following users thanked this post: Nguyên Thánh

Ngủ rồi nduytai

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #81 vào: 30/12/2018, 20:16:01 »


Bùi Giáng, cuồng sĩ hay gã chăn trâu trên đồng cỏ Việt Nam?

Lời nói đầu: Loạt bài này về nhà thơ Bùi Giáng, được tác giả viết từ năm 1964,
in trong cuốn “Năm Sắc Diện, Năm Định Mệnh”, do nhà xuất bản Tao Đàn,
Sài Gòn ấn hành năm 1965. Tác phẩm là sưu tập của nhà thơ Thành Tôn,
hiện cư ngụ tại Orange County, tặng lại cho chúng tôi.
Vì bài viết khá dài, chúng tôi xin chia thành nhiều kỳ.
__ Du  Tử  Lê

Nhà thơ Bùi Giáng (Tranh: Đinh Trường Chinh)


MỘT DẠO, tin Bùi Giáng mất tích đã gây xúc động cho một số anh em văn nghệ tại miền Nam. Đó là lúc mà không ai biết ông đi đâu, làm gì? Sống chết ra sao?
            Nhà thơ Xuân Hiến, một trong những người bạn thân của họ Bùi cũng không biết. Ngay anh em của ông cũng không rõ gì hơn. Người thì bảo Bùi Giáng đã bỏ văn nghệ đi buôn. Kẻ lại bảo ông đã vào rừng, hay lên núi tu… tiên.
            Tất cả chỉ là những ức đoán, đồn đại. Tựu trung, vẫn không ai rõ thực hư! Từ chỗ mù mờ, nhuốm huyền hoặc đó, một vài anh em khác giầu tưởng tượng hơn, nghĩ xa xôi hơn, nhưng cũng chua xót hơn cho rằng: “Biết đâu Bùi Giáng đã chẳng chết dấm chết dúi bụi bờ nào rồi (?) Trong một giây phút “xuất thần” nào đó, có thể ông đã tự hủy đời mình!”
            Anh em văn nghệ ai cũng biết Bùi Giáng gầy còm, ốm yếu. Ông vốn thấp, khô quắt, chỉ có cái đầu to quá khổ so với khuôn mặt chữ điền xương xẩu. Lại thêm tính nết đôi khi không được bình thường vì lao lực tinh thần, hoặc quá khứ nhiều bi kịch (?)
            Những người sống gần ông ghi nhận rằng, mỗi khi bàn luận về vấn đề văn chương, tư tưởng, ông thường đưa tay ôm đầu, gục mặt. Nhất là khi đề cập tới “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, không chỉ ôm mặt, ông còn hay bật khóc, cộng với nhiều phản ứng bất thường khác, khiến nhiều anh em nghi ngờ, lo lắng, hoang mang về sự “mất tích” của chàng thi sĩ họ Bùi.
            Trước những tin không vui ấy, tôi càng nôn nả muốn tìm gặp ông. Nhưng tìm Bùi Giáng đúng như câu nói của một người bạn tôi về ông: Tìm Bùi Giáng “như thể tìm chim”.
            Chúng tôi đến căn nhà đường Trương Tấn Bửu không có, trại định cư khu Ngã Tư Bảy Hiền cũng không. Nhớ tới những phỏng đoán trên, tôi nghĩ: Biết đâu chẳng đúng! Rồi, những thôi thúc, náo động trong tôi với thời gian cũng lắng nguội dần. Phần vì mưu sinh, phần vì thiếu sức khỏe, chán nản, tôi quên dần chuyện tìm gặp tác giả “Mưa Nguồn”.
            Một buổi tối, một bạn chung đưa anh Trần Quốc Túy, họa sĩ (cũng là bạn học cũ của tôi ở Chu Văn An) tới thăm tôi.
            Có thể vì gặp Trần Quốc Túy, nên tôi lại trực nhớ Bùi Giáng. Tưởng cũng nên nhấn mạnh, ngoài con người văn chương thơ phú, Bùi Giáng còn là một họa sĩ chuyên vẽ tranh màu nước loại trừu tượng. Ở khía cạnh này, có dễ ít người biết, mặc dù rất nhiều họa sĩ tên tuổi từng tỏ ý thán phục tranh của ông như NT, TTNĐ… Riêng tòa Đại sứ Đức, đã điều đình mua một số tranh của ông với giá cao… Nhưng ông từ chối, và chỉ tặng cho tòa Đại sứ Đức một bức.
            Khi Trần Quốc Túy nghe tôi nhắc tới Bùi Giáng, anh bảo sẽ tìm ra địa chỉ và, anh tin rằng không có một bất trắc nào xảy đến cho Bùi Giáng. Anh kể, anh từng ở cùng khu vực và có giao du khá thân thiết với họ Bùi. Bạn tôi quả quyết: “Bùi Giáng vẫn còn ở Sài Gòn”.
            Hai hôm sau, Trần Quốc Túy trở lại, báo tin anh đã tìm ra chỗ ở mới nhất của họ Bùi: “Khu Ngã Ba Ông Tạ”.
            Tối hôm đó, chúng tôi hẹn gặp nhau ở quán cà phê LC gần bên con ngõ dẫn vào nhà ông.
            Khi dựng xe trước căn nhà quét vôi trắng khá đồ sộ, sâu trong một hẻm lớn, tôi bồi hồi nghĩ tới lúc gặp mặt tác giả “Tư Tưởng Hiện Đại”.(1)
            Đúng như lo ngại lúc ban đầu, bà chủ nhà cho biết, Bùi Giáng mới đi khỏi cùng ông Ý (Bửu Ý). Hỏi bà có biết chừng nào ông ấy về? Bà đáp: “Không chừng, có thể một lát ông ấy trở về ngay, cũng có thể 2, 3 giờ sáng hoặc vài hôm sau”. Tuy nhiên bà vẫn muốn giữ chúng tôi nán lại. Hy vọng Bùi Giáng sẽ trở về ngay như thường khi.
            Chúng tôi ngồi chờ ông, nghe bà chủ nhà nói rất nhiều chuyện ngộ nghĩnh về ông.
            Lợi dụng lúc chờ đợi, tôi mượn một ngọn nến soi sáng chỗ làm việc của họ Bùi. Nếu không có chiếc “đi-văng” nhỏ kê sát tường và, đống quần áo vứt bừa bãi trên chiếc giá sách hỏng, trên cả bàn viết, lẫn lộn cùng những chồng sách cao ngút, chắc tôi sẽ có cảm tưởng gian nhà của Bùi Giáng là một phòng bán sách cũ. Bởi vì chung quanh phòng, những giá sách cao gần sát trần, chất đầy sách đủ loại, cả những chồng sách để ngay ở dưới sàn nhà, lẫn lộn cùng những khung tranh ông vẽ từ mấy năm nay.
            Chiếc đi-văng, giường ngủ của Bùi Giáng, cũng được dùng để chứa sách. Ông chỉ chừa lại một khoảng nhỏ đủ để đặt lưng. Trên đầu đi-văng, có hai mẩu nến cháy dở. Hỏi ra mới biết ông có thói quen dùng đèn cầy đọc sách, bất cứ ngày hay đêm (mặc dù nhà có điện). Ông còn thích bỏ màn suốt ngày. Ông từng tiết lộ với bà chủ nhà rằng, ông làm như vậy, để bạn bè đến thấy không có chỗ ngồi, sẽ rời đi sớm.
            Bà chủ nhà kể thêm: “Ông ấy không bao giờ bỏ giặt quần áo! Mặc bộ này chán rồi thay ra, mặc bộ khác vào. Cứ thế, xoay tua. Từ vòng này qua vòng khác…”
            Trong căn phòng, tôi ước lượng cũng có tới cả 100 bức tranh to, nhỏ đủ loại. Đa số là những chân dung tưởng tượng. Những khuôn mặt người rách nát đau thương… Như Trần Quốc Túy, bạn tôi cho biết thì khi vẽ, bao giờ ông cũng mặc quần áo chỉnh tề, thắt cravate, nhưng chân lại đi… dép. Ông vẽ rất nhanh, đường cọ đi rất mạnh bạo. Không phác trước… Bạn tôi nói, ông vẽ tranh nhanh như làm thơ vậy.
            “Tranh của ông ấy, nếu có mang một giá trị, hay sức quyến rũ nào đó (dù ông không hề theo học một lớp hội họa cũng như không hề nhờ ai chỉ dẫn), có lẽ vì nó là kết quả của những suy nghiệm, những ray rứt, dày vò tâm thức ông từ quá khứ. Nên trong những giây phút xuất thần, cây cọ của ông phóng đi với những đường nét bất ngờ, mê hoặc…
            Thời gian này, Bùi Giáng ham mê nhất là khi vẽ chân dung nhà bác học Einstein và, nữ nghệ sĩ Kim Cương. Với hai khuôn mặt ấy, ông vẽ đi vẽ lại cả chục lần không chán. Trên tấm kính của mấy tủ sách, tôi cũng thấy dán hình hai nghệ sĩ Kim Cương và Thẩm Thúy Hằng. Không biết ông lấy phụ bản từ tờ báo nào!
            Ngồi chờ khoảng một tiếng sau, vẫn chưa thấy Bùi Giáng về, chúng tôi đành xin phép cáo lui. Trở lại tiệm cà phê giữa tiếng nhạc nỉ non, trong một không khí ẩm thấp khói thuốc, mờ mờ những khuôn mặt thanh niên đủ trang lứa; giữa những tiếng cười khả ố, lâu lâu ré lên, tôi nghĩ tới Bùi Giáng không biết giờ này đang ở đâu, làm gì? Nghĩ tới chính mình và những người chung quanh – thế hệ hiện tại – tôi thấy cà phê đắng hơn mọi bữa và hình như không có mùi vị gì…
            Trưa hôm sau, như đã hẹn trước, chúng tôi trở lại gặp Bùi Giáng đang xúng xính trong chiếc quần ngủ vải thô vàng, chiếc áo sơ mi cụt tay màu xanh với những khoanh tròn vàng (loại bán sẵn ở chợ), chiếc kính trắng dày cộm, nặng nề trên sống mũi thấp, ông bắt tay chúng tôi bằng nụ cười nửa như mừng rỡ, nửa như méo xệch, miễn cưỡng…


DU  TỬ  LÊ               

______________________________________
(1) Sài Gòn Kim Hải Việt Nam xuất bản năm 1962. Toàn bộ gồm ba cuốn. Bộ sách này, từng gây xôn xao dư luận một thời.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/bui-giang-cuong-si-hay-ga-chan-trau-tren-dong-co-viet-nam/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #82 vào: 06/01/2019, 22:11:31 »


Cuộc “đụng độ nháng lửa” giữa Giáo sư Trần Thái Đỉnh và nhà thơ Bùi Giáng


Nhà thơ Bùi Giáng (Tranh: Đinh Cường)


BÙI GIÁNG gỡ kính cất đi, mời chúng tôi ngồi bộ salon nhỏ, lối đi xuống sân sau, nhà bếp.
            Tôi lấy cuốn thơ đề tặng từ trước đưa cho ông. Ông ngắm nghía bìa trước, sau, đọc vài trang trong, rồi đăm chiêu, im lặng. Không biết ông nghĩ gì, nhưng được dịp, tôi quan sát kỹ khuôn mặt đầy những vết sậm loang lổ (có thể ông bị nhiều tàn nhang).
            Đầu ông đã to, lại thêm tóc húi “cua”, chắc cũng có tới 3, 4 tháng không được bàn tay ông phó cạo sờ tới, nó đâm tua tủa, che lấp một phần trán rộng, to, vuông vắn. Trán ông như bị xẻ hai vì tôi thấy ngay ở giữa trán, một vệt dài lõm xuống. Không phải là sẹo. Cặp mắt nhỏ sâu. Miệng rộng. Hai gò má nhô cao, cằm bạnh.
            Ông cầm cuốn thơ của tôi cất đi và nói:
           “Để tôi tìm ít sách biếu các anh”. Lát sau, ông mang ra cho tôi ba cuốn “Mưa Nguồn”, “Màu Hoa Trên Ngàn”, thơ và cuốn mới nhất “Dialogue”.
            Chúng tôi say sưa nghe ông nói chuyện về những vấn đề liên quan tới văn hóa, nghệ thuật, tới một vài nhân vật hiện có uy tín đối với giới sinh viên. Nhưng theo ông, họ lại là những người thiếu ý thức, vô trách nhiệm trong việc hướng dẫn sinh viên! Họ dùng những tiểu xảo, để đánh lừa, dối gạt sinh viên. Họ không dám viết những lời nói đó thành sách hay trên báo, mà chỉ phát ngôn trong vòng bốn bức tường… Nên dù ông rất muốn cho họ nhìn thấy lầm lỗi vô cùng tai hại của việc làm thiếu ý thức ấy, mà đành chịu.
            Ông nói tới trường hợp cố văn sĩ kiêm nhà cách mạng Nhất Linh. Ông bảo:
           “Nhất Linh có tài viết văn, dựng tiểu thuyết. Nhưng Nhất Linh có lầm lỗi lớn, khi đề cập tới những tệ đoan của xã hội Việt Nam, và đã đi quá xa hiện tượng, khiến bọn ngoại quốc nhìn vào, những tưởng xã hội Việt Nam mà căn bản là gia đình, lại nát bấy như vậy. Thực ra, tình trạng ấy không đến nỗi bi đát đến thế.”

            Bùi Giáng nhấn mạnh:
           “Chính mấy ông trong Tự lực văn đoàn tạo cho nó một bộ mặt xấu xa, rồi cũng tự các ông ấy lên án, đập phá. Một Loan của Đoạn Tuyệt mới chỉ có bề mặt phảng phất Việt Nam, nhưng thiếu hẳn chiều sâu tư tưởng. Tuy nhiên cái chết thật đẹp của Nhất Linh đã cứu vãn lại rất nhiều những gì không hay mà ông ấy đã để lại cho xứ sở này.”

            Họ Bùi cũng nhắc tới Thạc sĩ Phạm Duy Khiêm. Ông cho rằng người ta chửi rủa Phạm Duy Khiêm mất gốc, vong bản, khi ông ta dám nói rằng tiếng Việt Nam không ra gì cả. Nhưng theo tác giả “Mưa Nguồn” thì Phạm Duy Khiêm lại là người yêu nước rất nhiệt thành.
            Bùi Giáng đặt vấn đề đã có ai làm như và hơn được Phạm Duy Khiêm, khi ông này đem những chuyện cổ tích Việt Nam, viết lại bằng tiếng Pháp cho thế giới, nhìn thấy rõ được cái thâm thúy, trầm sâu của dân tộc ta.
           “Chứ bọn văn sĩ lăng nhăng không những chẳng giúp ích gì được cho đất nước này mà chỉ khiến người ta coi thường, lầm tưởng dân mình mọi rợ man di mà thôi…”

            Bị quyến rũ bởi giọng nói chuyện và nhất là chiếc miệng có duyên của Bùi Giáng, tôi quên cả giờ đi làm. Tới lúc đứng dậy, buổi trưa đã qua từ lâu. Khi ra khỏi ngõ, giọng nói đặc biệt Quảng Nam nhỏ nhẹ, hơi rè của ông còn văng vẳng bên tai tôi:
           “Với tôi, điều quan trọng bây giờ là phải làm sao đặt định lại đúng tầm mức quan trọng của văn hóa. Phải làm sao tạo được sự bình đẳng. Vấn đề bình đẳng quan trọng lắm, lớn lắm. Từ đó Đông Tây mới có thể nói chuyện với nhau được.”


⋆ ⋆ ⋆

            Bùi Giáng sinh năm 1926, tại Quảng Nam (Vĩnh Trinh). Ông là người con thứ 6 trong số 13 anh em. Ông chỉ có một người em gái út duy nhất. Người này hiện ở Đà Nẵng. Ông rất quý cô em gái. Ông cho biết, có một thời gian ông đã sống cùng một nhà với cô.
            Bùi Giáng có tất cả 12 anh em trai. Hầu hết đều là giáo sư hoặc, sĩ quan. Dù ông rất ít khi nhắc tới họ.
            Ông kể, thuở bé, ông đã từng chăn trâu, làm ruộng. Có thể nói, phần lớn tuổi thơ của ông trôi qua nơi đồng ruộng.
            Năm 18 tuổi, ông lập gia đình. Nhưng chiến tranh và nạn lụt lần lượt cướp mất người vợ và hai con thơ thân yêu. Riêng trường hợp vợ ông là cả một dĩ vãng đau buồn, ở đây, tôi tự thấy không nên nhắc tới.
            Cho đến bây giờ, mỗi khi nghe ai hỏi tới gia đình vợ, con, ông thường ôm đầu, gục mặt, ra dấu đừng nhắc tới.
            Bùi Giáng bắt đầu hoạt động văn nghệ từ năm 1953, năm ông 27 tuổi. Cũng thời gian này, ông là giáo sư Việt Văn tại các trường trung học tư thục. Trước khi xuất bản cuốn sách đầu tiên “Tư Tưởng Hiện Đại”, ông đã viết rất nhiều sách giáo khoa (6 quyển) loại bình giải cho nhà xuất bản Tân Việt. Một trong những thói quen viết lách của Bùi Giáng là ông viết rất nhanh; viết không biết mệt… Như cuốn “Tư Tưởng Hiện Đại” ông đã viết liên tiếp, ròng rã bảy ngày đêm không ăn…
            Ông nói, với ông, chỉ có thời gian thai nghén tác phẩm là lâu mà thôi, còn khi đã đặt bút viết, bao giờ ông cũng viết một mạch. Ông đã từng nằm dài ở nhà in nhiều ngày đêm liền, viết tới đâu, ông quẳng cho thợ sắp chữ tới đó.
            Họ Bùi kể, sau khi in cuốn “Tư Tưởng Hiện Đại”, ông mới cho xuất bản “Mưa Nguồn”, rồi “Martin Heidegger Và Tư Tưởng Hiện Đại” (tập I và II); kế tiếp mới tới “Sao Gọi Là Không Có Triết Học Heidegger” – là cuốn sách nhằm trả lời Giáo sư Trần Thái Đỉnh, ở đại học Huế…
            Nguyên khi Bùi Giáng cho xuất bản cuốn “Martin Heidegger và Tư Tưởng Hiện Đại” tập I, Giáo sư Trần Thái Định ở đại học Huế có viết một bài tựa đề “Heidegger Và Thi Ca” đăng trên Đại Học số 33 có ý ám chỉ Bùi Giáng là kẻ:
           “… Chuyên nghề quảng cáo biết nhãn hiệu hơn là nội dung.”

            Và trước đóng trong phần “lời tòa soạn”, người đọc cũng thấy:
          “Triết gia ý thức được bản lĩnh của mình thì đôi khi ưa sáng tác hơn là tìm hiểu người khác. Nhưng đối với đa số chúng sinh, triết lý đối thoại, là tìm hiểu người khác, chứ không phải là gán cho họ tư tưởng của mình, thì cho dù thiên hạ đã viết nhiều bằng tiếng Việt Heidegger, có cố gắng để tìm hiểu Heidegger cũng không phải là một công việc dư thừa vậy”. (Thiên hạ ở đây là ai nếu không phải là Bùi Giáng vì ở Việt Nam mới chỉ có Bùi Giáng viết về Heidegger mà thôi. Do đấy, cụm từ “gán cho họ tư tưởng của mình”, tác giả bài báo nói trên có ý bảo Bùi Giáng đã gán tư tưởng của riêng ông cho Heidegger?)

            Sau khi tờ Đại Học kể trên phát hành, giới văn học thời đó đã xôn xao, bàn tán khá sôi nổi… Bùi Giáng liền viết bài trả lời, nhưng báo Đại Học Huế không đăng.
            Họ Bùi nói, không lẽ đành câm lặng? Cuối cùng ông cho in bài trả lời của ông, thành một tập sách nhỏ có tên “Sao Gọi Là Không Có Triết Học Heidegger” để trả lời giáo sư họ Thái. Để bạn đọc nào chưa có cơ hội đọc qua cuốn sách đó, người viết xin trích dẫn một vài đoạn, hầu rộng đường suy luận…


DU  TỬ  LÊ               


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/cuoc-dung-do-nhang-lua-giua-gs-tran-thai-dinh-va-nha-tho-bui-giang/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #83 vào: 13/01/2019, 15:47:03 »


Phản ứng của Bùi Giáng trước dư luận vùi dập bộ sách “Tư Tưởng Hiện Đại”


”Ngựa”, tác phẩm tranh mực Tàu và bột màu trên giấy của thi sĩ Bùi Giáng

NGAY Ở PHẦN ĐẦU của bài trả lời Giáo sư Trần Thái Đỉnh, nhà thơ Bùi Giáng đã có những câu hỏi mỉa mai.

            “Triết học thực sự nó ra như thế nào? Những thể hiện của ông chưa đáng gọi…?
            Muốn đáng gọi và đáng kể thì phải làm sao? Phải viết theo lối viết “Heidegger và thi ca?” Phải đăng ở phần đầu tờ Đại Học? Phải nấp sau lời tòa soạn để công kích những kẻ nào là “Thiên hạ đã viết nhiều – bằng tiếng Việt – về Heidegger?”


            Sau đấy, tác giả bộ sách “Tư Tưởng Hiện Đại” đặt vấn đề “nguyên cớ” khiến người chê bai ông, qua bài viết về cái gọi là tư tưởng triết học Heidegger của ông:

            “Từ đó về sau trái đất đã âm u, và trên mặt đất chỉ còn có những “les derniers hommes quicligment de l’oeil.” Nhà tư tưởng viết sách, lắm khi đứng trước sự đời đảo điên, đã đành lòng thốt lời chua chát.
                        “Chém cha cái số ba đào
                        Chút lòng trinh bạch từ sau xin chừa”
            Nhưng không phải vì vậy mà hạng người “les derniers hommes” được phép tự cho mình là tài.
                        “Nọ nghe rằng có con nào ở đây
                        Hãy xem có biết mặt này là ai”
            Sự việc đã sờ sờ ra đó. Sự thật quá rõ. Nhân tình đã biết rồi ra sao! Ai đã gây nên tội lỗi?”

            (…)

            Họ Bùi kết luận: “Nguyên cớ chỉ như vậy. Không viết nổi một quyển sách. Chỉ lo cản đường. Làm bóng ma dọa dẫm. Xuyên tạc mãi một tiếng “Hiện hữu”, “Hữu thể”, nhắc đi nhắc lại mãi một điều vô ý thức, và đăm đắm việc lũng đoạn tư tưởng. Do đó, tiếng nói lộn phèo.”

            Vừa ỡm ờ bảo: “Những thể hiện trước đây của ông (Bùi Giáng) chưa đáng kể chi và chưa đáng gọi là một triết học thật sự…”
            Và Giáo sư Trần Thái Đỉnh viết tiếp: “… Sở dĩ ông nghĩ thế vì ông (Bùi Giáng) cho rằng tự khi có triết học đến nay, các triết gia vẫn chỉ mới nhận ra những hữu thể (les étants) mà thôi, chưa vị nào đắm nhìn thấu vào bản chất (daswesen, l’être) của những hữu thể đó.”

            Bùi Giáng gay gắt hỏi lại: “Tại sao có sự ăn nói như trẻ con vậy? Lý luận gì vu vơ như ngáy ngủ vậy? Vừa mưu toan cản lối kẻ tài giỏi hơn mình (mặc dù chỉ quen đọc nhãn hiệu và quen viết quảng cáo) vừa lo sợ bốn phía chị em cười mình hàm hồ xuyên tạc! Phải chăng đó là nguyên cớ xui giáo sư viết văn bất thành chương cú?” (Trích “Bùi Giáng – Sao gọi là không có triết học Heidegger” trang 7 và 8).

            Tác giả “Mưa Nguồn” tiếp tục mỉa mai họ Trần bằng chính những gì họ Trần đã tròng vào cổ ông: “… Trần Thái Đỉnh không phải là kẻ chuyên nghề quảng cáo, Trần Thái Đỉnh biết nội dung hơn là nhãn hiệu, Trần Thái Đỉnh nhiều thận trọng trong cuộc xuyên tạc ra sao? Hãy xem ông nói về Heidegger và tác phẩm Kant et Le problème de la métaphysique:
            “Trong cuốn Kant và vấn đề Siêu Hình Học, Heidegger đã trách Kant nặng lời, rằng “Kant đã lùi bước trước cái nền tảng mà ông đã xây được với cuốn Phê bình Lý trí Thuần túy của ông”.” (Bùi Giáng, trích bài Trần Thái Đỉnh ở tạp chí Đại Học Huế, trang 298).
            Họ Bùi nhấn mạnh: “Trần Thái Đỉnh vớ vào một câu trong sách Heidegger và lôi nó ra khỏi mạch nguồn tư tưởng, dịch lệch đi một chút ngắt trên, bớt dưới, để bảo Heidegger đã trách Kant nặng lời.
             “Thật ra chưa có một nhà tư tưởng nào như Heidegger đã mở rộng viễn tượng suy tư của Kant. Chưa bao giờ có kẻ đã phơi rộng phần vô ngôn của Kant như Heidegger. Heidegger trách nặng lời là trách triết gia Âu châu đã bỏ lạc “MỘT KẾT QUẢ CÓ TÍNH CÁCH QUYẾT ĐỊNH” – un résultat décisil – của Kant trong công việc thiết lập căn cơ cho Siêu Hình Học kể từ Platon tới nay. Heidegger đã dành cho Kant một chỗ ngồi hầu như độc tôn trong lịch sử triết học: thiết lập được, kết se được Mối Liên Hệ – La connexion – giữa bản thể và bản thể của căn sơ Siêu Hình Học.”
            (…)


            “Hãy nghe Heidegger nói:
            Mais le Véritable Résultat de l’instauration Kantienne n’était pas d’avoir établi la connexion de la question concernant l’essence de l’homme avec celle du fondement de la métaphysique?
            Cette connexion ne doit-elle pas lournir le fil directeur de la répétition de l’instauration?
            (…)
            La critique de l’idée d’une anthropologie philosophique montre cependant qu’il ne suffit pas simplement de poser la question de l’essence de l’homme; au contaire, son imprécision même nous indique que finalement nous ne sommes pas encore entrés, même maintenant, en possession du résultat décisil de l’instauration Kantienne du fondement.” (Kant el le problème de la Métaphysique – page 2710)
           “Thật là quá rõ.”
(Trích Bùi Giáng: “Sao gọi là không có triết học Heidegger” trang 9-10)

            Và một đoạn cuối trong tập sách trả lời Giáo sư Đỉnh của nhà thơ Bùi Giáng:

            “Trần Thái Đỉnh không nắm được chỗ cốt yếu nọ trong suy tư. Những tiếng: thực rõ ràng, triết lý không thể là thi ca và thi ca chưa phải là triết lý… thi ca chưa bộc lộ… mối tiếp thông… ý thức phản tỉnh… cái nền chưa phản tỉnh… (Đại Học – trang 297) – Những lời lủng củng, va chạm kia bởi đâu mà có? Trần Thái Đỉnh yên trí rằng: không kẻ nào nhận thấy ông đã mập mờ đem tư tưởng Socrate ra, cho len lấn vào lời Heidegger? Để làm chi vậy? Thiên hạ ngờ nghệch cả sao?
            Nhưng tư tưởng Socrate có chứa một phần Vô Ngôn của Platon. Ông nên khám phá sự vụ này trước khi “tiếp tục luận điệu kia”.”
(Trích Bùi Giáng: “Sao gọi là không có triết học Heidegger” trang 38)

            Sau cuốn “Sao gọi là không có triết học Heidegger?” Bùi Giáng còn cho in tiếp cuốn “Trả lời chung nhân một tiếng Dasein”.
            Khi bộ sách “Tư tưởng hiện đại” của Bùi Giáng ra đời, có rất nhiều nguồn dư luận khen, chê, xuyên tạc, đả kích.
            Hồi đó, họ Bùi kể, nhật báo Tự Do, trong một bài phê bình mà ông không nhớ tên tác giả, đã dùng những lời chê bai thật tồi tệ dành cho ông. Nhưng khi ông lên tiếng, thì báo này chẳng những không đăng bài phản bác mà còn trả lời một… độc giả nào đó rằng: “Với một người như Bùi Giáng phải dùng những tiếng đó mới xứng.”
            Dù vậy, trước những chuyện ấy, họ Bùi nói, ông không quan tâm lắm. Ngay cả trường hợp Trần Thái Đỉnh, ông bảo: “Tuy thế, hắn còn biết điều là im luôn và điểm đáng khen là dám đăng lên báo. Nhưng cái bọn nguy hiểm hơn cả vẫn là bọn trí thức dùng cái uy tín của mình, hướng dẫn đám hậu sinh vào con đường vong bản, lầm lạc bằng giọng “trịnh trọng, uyên thâm, lấp lửng”.”
            Một số người theo dõi sinh hoạt viết sách của Bùi Giáng, đã ngạc nhiên thấy ông in nhiều sách! Nhưng không mấy ai thấu rõ cảnh đau lòng, chua xót của họ Bùi: Vì mỗi khi in một cuốn sách là một lần ông phải bán ruộng đất hương hỏa của song thân để lại, và đã từ lâu, ông không còn một mảnh đất cắm dùi tại nơi ông sinh trưởng nữa.
            Những người thành khẩn, thiết tha với nền văn học nước nhà như Bùi Giáng không có bao người! Ngoài khía cạnh đam mê, nhiệt thành, ông Bùi còn là một người có sức chịu đựng bền bỉ hiếm có. Ông có thể nhịn ăn một tuần liền để đọc sách hay viết sách. Nhờ có căn bản ngoại như Anh, Pháp và Đức, lại thông minh và có một trí nhớ lạ lùng – chỉ nhớ những gì cần nhớ – còn quên hết, luôn cả ngày sinh tháng đẻ; do đấy, ông sở hữu một mức độ hiểu biết rất sâu rộng…
            Có không ít người gọi ông là “mọt sách.” Nhưng nói thế là không biết gì về Bùi Giáng: Ông là người đọc biết tiêu hóa, lọc lựa những gì hấp thụ được. Bằng chứng cụ thể là bộ sách “Tư Tưởng Hiện Đại” (ba quyển).


⋆ ⋆ ⋆

            Khi nói chuyện về lãnh vực vẽ tranh, ông kể, ông từng có ý định tổ chức một kỳ triển lãm từ lâu. Nhưng sau khi nhờ bạn xin phép giùm không được, ông chán nản không thiết vẽ nữa. Gần đây, ông định đốt bỏ tất cả số tranh hiện có (khoảng trên dưới 100 bức).
            Ông nói: “Tôi không muốn triển lãm nữa anh à! Tôi sẽ đốt hết. Tôi vẽ lúc tôi thích, lúc chán thì thôi! Đốt đi chứ để làm gì! Đời này có ai hiểu mình đâu anh!”
            Với một mẫu người đặc biệt, khác thường như họ Bùi, tôi nghĩ, dẫu có viết hàng trăm trang sách ấy về ông, e vẫn chưa đủ!
            Nên chi tôi xin được tạm ngừng tại ở về khuôn mặt đời thường Bùi Giáng; để mời độc giả bước qua phần thứ hai. Phần tôi ghi lại những cảm nghĩ của riêng tôi, về tiếng thơ của một người được thời đại mệnh danh là “cuồng sĩ?” Hay gã “chăn trâu trên đồng cỏ Việt Nam?” Như thỉnh thoảng ông vẫn tự nhận bằng giọng bỡn cợt, khinh bạc cố hữu của mình.


DU  TỬ  LÊ               


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/phan-ung-cua-bui-giang-truoc-du-luan-vui-dap-bo-sach-tu-tuong-hien-dai/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #84 vào: 20/01/2019, 20:38:15 »


Thơ Bùi Giáng ảnh hưởng Nguyễn Du, Huy Cận?


Nhà thơ Bùi Giáng (Tranh: Đinh Cường)


BÙI GIÁNG là một trong những thi nhân cách biệt với đám đông. Mặc dù ông từng có thơ đăng trên tạp chí Bách Khoa, Mai… Nhưng tiếng thơ ông khởi đầu ít phổ cập đại chúng.
          Ngược lại, ông được anh em trong văn giới nhắc nhở nhiều. Không phải vì thơ ông khiến họ phải nhớ. Cũng chẳng phải tại ông đã xuất bản nhiều sách trong thời gian từ 1963 trở về trước. Mà có lẽ vì cuộc sống khác thường, tinh thần đôi khi không quân bình, cũng như thái độ xử thế với anh em văn nghệ gây nhiều điều tiếng, đồn đãi…
          Nếu nghĩ về Bùi Giáng chỉ với chừng đó, tôi thấy bất công đối với ông: Một thi nhân hằng băn khoăn về nguồn cội. Tôi muốn đi vào thế giới tâm hồn phức tạp của nhà thơ này, với hy vọng sẽ vẽ được phần nào cõi giới đích thực Bùi Giáng, người được mệnh danh là cuồng sĩ thời đại.
          Bằng những bước thăm dò nghiêm chỉnh, khi tìm vào vũ trụ thi ca họ Bùi, cảm tưởng đầu tiên tôi trực nhận được là cảm tưởng bồng bềnh trôi giữa một khoảng trời bao la, chứa nhiều bỡ ngỡ, hoang mang, hỗn độn. Từ vùng ưu tư này tôi bị thơ ông đẩy trôi sang vùng ưu tư khác. Từ không gian của Nguyễn Du trầm mặc niềm tin Thiên Mệnh, tới không gian Heidegger váng vất những khắc khoải siêu hình. Từ không gian bàng bạc hoài cổ của Huy Cận, qua tới những hay bỡn cợt, hiện hữu…
          Trong cái thênh thang rộng mở đó – người đọc cũng thấy một Bùi Giáng chân phương không trang điểm cho thơ của mình những xung động thời thế, hoặc khao khát về cõi thiên đàng đã mất. Thơ ông bay lượn giữa hai đầu tuyệt đối và hữu hạn. Thơ ông tựa như bị vây khổn trong tấm lưới trầm suy của những quay cuồng, điên đảo kiếp người. Tôi có cảm tưởng, ông cố tạo dựng cho thơ ông một thế giới riêng, rồi đưa hồn mình ẩn trú trong cõi ấy.

                   “Giấc xanh cô độc thề vàng
                    nguồn tiên nga dậy mơ màng gieo âm”


          Nếu trước đó, một Huy Cận cũng đã thiết lập cho mình một địa-giới-khác:

                   “Hồn đơn chiếc như đảo rời dặm biển
                    suốt một đời như núi đứng riêng tây”


          Thì hôm nay, Bùi Giáng, cũng mang tâm thức tìm về nguồn trời lượng bể, tìm về với tinh thần an lạc phương Đông:

                   “Vì thiên cổ và bây giờ gần gũi
                    vì hôm nay là chính bữa hôm qua
                    thế nên chi anh xin trở lại nhà
                    vì hơi thở là linh hồn của phổi
                    vì máu se là nhịp đập của tim
                    thế nên chi anh ngồi ở dặm nghìn”


          “Xin trở lại nhà” và “xin ngồi ở dặm nghìn” quê hương họ Bùi là cõi phi thời gian lẫn không gian (?) Hay đó là cõi trú của những tâm hồn bị ám ảnh ý thức bị đọa lạc, lãng quên? Dường như đấy cũng là mơ mộng chung của đa số thi nhân hiện đại. Chỉ khác nhau ở chỗ họ có tìm được cho mình một lối thoát? Tạo được cho mình một hơi thở, tiếng nói khác hay không mà thôi.
          Ở Bùi Giáng, cũng với những cô độc, gánh vác hệ lụy bất ưng của của kiếp người:

                   “ngủ yên nghe rộng mười phương
                    mây trời tâm hướng thổi hương lại đèo
                    sịch bừng suối đá trôi rêu
                    ghềnh se sắt vó ngựa leo chán chường”


          Trước bế tắc, loay hoay tìm cho mình một mảnh trời mới, đa phần các nhà thơ hôm nay, ít nhiều gì cũng bị ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tư tưởng, hình ảnh, ngôn từ của một số danh nhân Tây phương như Nietzche, Malraux, Camus, St. J. Perse, Paul Claudel, Jaque Prévert, Paul Eluard… hoặc thấp thoáng xa gần của những Huy Cận, Xuân Diệu, Thế Lữ, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương… Mà, không mấy ai chịu quay về với Nguyễn Du, một tác giả hậu bán thế kỷ 18, một thiên tài của thi ca Việt Nam.
          Riêng Bùi Giáng, với khát vọng về nguồn, về với bản thể dân tộc, ông đã chấp nhận Kiều của Nguyễn Du như ngọn lửa cứu rỗi thần trí thương tích của ông:

                   “Nửa năm hương lửa đang nồng
                    bây giờ cố quận xuống giòng viễn lưu
                    cõi cư trú rộng băng cần
                    nhịp thao thiết gọi về thâu thiên hà”


          Hoặc:

                   “tôi người viễn khách đa mang
                    lọ là thâm tạ con đàng ai đi
                    ngồi trong cỏ mọc xanh rì
                    cầu xin mưa lại đền nghì cho hoa”


          Ông mơ mộng tìm thấy một quê chung, cho mọi người:

                   “Buổi về đắm lụy điêu linh
                    còn nguyên xứ sở nguyên hình chiêm bao
                    máu se tàn lạnh điệu chào
                    trên đầu phố lạ vẽ mầu quê chung”


          Quê chung ở đây phải chăng là cõi trú – là chốn dừng chân cuối cùng của những tâm hồn khao khát tìm ý nghĩa cho cuộc sống xô bồ phồn tạp? Mà vực sâu là khoảng trống hãi hùng và hiện tiền chỉ là những bon chen, lừa đảo?
          Trước thực trạng đen tối ấy, tất cả sẽ còn gì? E chẳng còn gì, một khi những biểu tượng của niềm tin thiêng liêng cũng đã xiêu đổ! Một khi bước chân thi nhân trên lộ trình xuyên qua cuộc đời đi về tình người, cũng là những bước chân hẫng! Một khi cả phần đất mà vết dầu vật chất lẽ ra chưa đủ điều kiện lấn tới, văn minh cơ khí còn bên ngoài ngưỡng cửa đang chôn dần truyền thống đạo lý cũng đã sụp đổ:

                   “Tin từ cố quận bờ nương
                    hoàng hôn thâm tạ môi hồng bình minh
                    gửi trăng lục nhạc về ghềnh
                    bước du tử dựng miếu đền chiêm bao
                    mọc từ đất trích mòn hao
                    mùa xuân tinh thể xin chào bồng sơn
                    cổng xô còn vọng tiếng hờn
                    xin em ở lại bấm tròn cho cung.”


          Ở Bùi Giáng, người ta thường bắt gặp những tư tưởng, những hoài vọng mang tính chua xót. Thơ ông cũng rực rỡ những khao khát đẹp xưa. Đó là những chiếc lá rơi, là những cánh hoa hiu hắt bay; là những tiếng cười tố nữ mong manh, trong vắt thủy tinh; hoặc bàng bạc tiếng hò ruộng đồng, xa xưa…
          Nếu như một Huy Cận tiền chiến, bằng linh khiếu thi nhân đã nhìn ngắm mùa Thu nhập hình mình trong không gian thiên cổ:

                   “Nai cao gót lẫn trong mù
                    Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về”


          Thì họ Bùi cũng cam đành dìm đắm tâm tư trong vũng lầy cuộc sống, trong những xao động u ẩn bất lường của nhân thế, một thứ một tư-hữu-đau-thương… Rồi từ đó, ông đưa tư tưởng tới cõi miên viễn mà danh từ nhà thơ thường dùng là chốn vĩnh-thể trường tồn.

                   “sóng đi lớp mọc phiêu bồng
                    mang về thớ củi chất chồng mưa sa
                    thư cưu mỏng mắt hiên nhà
                    tròn như ngược tự người ta ngó người
                    đất xanh vẽ cỏ xa trời…”


          Với những hình tượng mang nhiều sắc thái quê chung, cùng những địa danh cõi riêng… tôi muốn nói đó là những chất liệu chính mà Bùi Giáng đã tận dụng, để tạo một vòm trời thi ca mang tên ông: Mang lại cho tương lai một khoảng không gian phương đông cổ kính:

                   “giết linh hồn lúc nghiêng mày
                    mù sa xứ sở trùng vây hai miền”

                    (Trích “Nietzche”)

          Hoặc:

                    “Bây giờ tôi ngó bãi ngang
                    bên này dọc ruộng duỗi vàng hoe nương…”


          Nói theo Hoài Thanh, Hoài Chân, khi kết luận về Huy Cận là: “… Đã gọi dậy cái hồn buồn Đông Á, đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này.”
          Thì nay với Bùi Giáng, ông cũng đã đang nổi trôi trong nguồn suối sầu vạn cổ. Nhưng không phải vì thế mà Bùi Giáng hoàn toàn giống Huy Cận.


DU  TỬ  LÊ               



https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/tho-bui-giang-anh-huong-nguyen-du-huy-can/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #85 vào: 27/01/2019, 23:19:13 »


Những hình thái chiêm bao trong thơ Bùi Giáng?


Nhà thơ Bùi Giáng (Tranh: Đinh Cường)


BỞI Ở HUY CẬN, như Uyên Thao từng ghi nhận thì, Huy Cận “… là thiên nhiên từ trước khi thành thi sĩ…”(1) còn Bùi Giáng chỉ mượn thiên nhiên làm bối cảnh trải bày như Xuân Diệu hay lẩn vào thế giới nội cỏ mây ngàn, của trăng của gió… làm cõi ẩn trú cho những chán chường, mất mát niềm tin.
            Thiên nhiên trong thế giới thi ca Bùi Giáng là một thứ thiên nhiên được vẽ ra bởi lý trí và tiềm thức ấu thơ, làm bật nổi những khát vọng về thời sơ khai, gần với cảm quan của Đinh Hùng trong “Mê Hồn Ca”:

                   “lạc về đầu rú truông khe
                    trút linh hồn giữa máu me xương rờn
                    chuyện đời đau khổ từng cơn
                    màu hoa cỏ mọc mang hờn phượng xanh
                    em về mùa hạ mông mênh
                    dựng hồn sông lục vây thành chiêm bao”


hoặc:

            “Cánh tay trắng vói chùm bông kết trái vói chùm bông em vói hai tay vói nguồn phai nhạt đầu ngày mùa Xuân mùa Xuân và mùa Xuân măng mọc mùa Xuân ở lại vòng tay cánh trắng đi về với suối đi về với hoa không về được nữa…”

            Trước những biến thái thảm bại, trước những suy sụp của hiện tại, một thứ hiện tại đi xuống, đi xuống mãi của những giá trị tinh thần, trước trào lưu văn minh cơ khí đang vùn vụt tiến tới, trước chiến tranh tàn phá mọi công trình, cố gắng đi đến một đời sống thuần hậu, thì để đánh lừa chính mình, thi nhân tìm vào thiên nhiên, ẩn vào cõi trú của những mộng mị xa vời. Với Bùi Giáng, còn hơn thế vì thiên nhiên trong thơ ông còn mang ý nghĩa một thực thể tinh ròng:

                   “trong đời cây cỏ á đông
                    chết về một nửa trong đồng tây phương
                    một tà áo mỏng bay ngang
                    quần hoen ố đẹp hai hàng chân đi”

                    (trong đời cây cỏ)

            Và:

                   “giữa đêm khép mở bùi ngùi
                    nhìn mơ hồ thấy một người xa xa…”


            Về với thiên nhiên, thi nhân nhìn nhận mình gần gũi hơn với quê nhà, với những gì Việt Nam thuần chất. Càng tha thiết say đắm với tình yêu đất nước bao nhiêu, họ Bùi càng cảm thấy đau xót, quay cuồng trong tuyệt vọng bấy nhiêu. Nhà thơ dường cũng thấy mình xa lạ, lạc lõng vì bất lực trước đổ nát.

                   “bây giờ sông rộng trời xa
                    bàn chân đo bóng mù sa chân trời”


            Cũng như một số nhà thơ khác, ông cảm thấy không còn gì để bám víu, để ngợi ca trong hiện tại hỗn loạn này, họ Bùi tìm vào cõi trú những cõi trú hư ảo, vàng son xưa cũ:

                   “ngành cong vẽ lá trong lời
                    sớm miên mang vọng điệu người cổ sơ
                    chiều thơ dại nước khe mù
                    con chim về núi mộng chu-hán-đường”

                    (vào nguyên thủy giục)

hoặc:

                   “Bước qua rào lá nghe chim
                    chào cây có trái xuân tìm gió đưa
                    ngàn hoa rớt hột về mưa”

                    (dệt áo)

hoặc nữa:

                   “vành cong chim nhớ buổi chuyền
                    rời sông bến đẩy qua miền đông du”

                    (phusis sơ nguyên)

            Trong thế giới riêng của mình, tác giả “Mưa Nguồn” cũng không quên tự huyễn hoặc mình với những mối tình yêu hư ảo. Người tình của Bùi Giáng không là một thể thực hiện hữu trong không gian này mà là Thúy, là Kiều, là tố nữ, là tiên nga… Những biểu tượng của tinh thần tương ứng nhất với tâm hồn thi sĩ, đó chính là tiền thân thi nhân?

                   “Tam kỳ rường quán ra sao
                    Tòa thiên nhiên nọ mòn hao bây giờ
                    Cầu xin tinh thể xuân chờ
                    Em là em của mộng chờ của em”

                    (Em là Em của)

            Hoặc:

                   “Xa trời anh bỗng nhớ em
                    Giữa miền đất cũ xương mềm trong da
                    Rằng hồng nhan ấy đàn bà
                    Mà em cũng vẫn như là trăng xanh”


            Hoặc nữa:

                   “Mở hai hàng cỏ lim dim
                    Màu phơi vô định mênh mông phượng quỳ
                    Nước xanh nương tử tên gì
                    Mỏng thân mở khép tuyết trì ngự da”


            Nhưng không vì thế mà họ Bùi không bị những đớn đau dằn vặt của tình yêu! Bởi tâm hồn ông vốn đa mang, tình yêu của ông vốn nồng nàn giữa mê – tỉnh, nên trước sau gì, ông cũng không thể thoát khỏi kiếp nô lệ của tình trường:

                   “người bước xuống ngựa ngăn đường bốn vó
                    nghe âm thanh người khóc ở sau lưng
                    người tay vói bắt hờ bông phượng đỏ
                    người phố xanh cây lá rụng vô chừng
                    . . .
                    sương chìm đắm đời anh trong huyền mộng
                    hờn nguyên tiêu bờ hy lạp sang đò”


hay:

                   “đi về trong thế kỷ sau
                    nhìn trong mắt thấy trời đau trong mình”

                    (đi về)

            Bàn về nguyên nhân dấy loạn tâm hồn của Bùi Giáng, có người cho rằng đó là phản ứng của một tâm thức bị dồn nén quá nhiều bi kịch. Đồng thời cái điên loạn của họ Bùi cũng điên loạn chung của đất nước này, của thân phận nhược tiểu, của những vùng vẫy, tuyệt vọng trong tuyệt lộ. Chỉ khác nhau ở mức độ ảnh hưởng mà thôi.
            Có thể nói, có dễ chưa một dân tộc lại đau khổ triền miên vì chiến tranh trên chính đất nước của mình, như dân tộc Việt Nam. Đó cũng là nhận xét của Jules Roy, tác giả tập hồi ký “Trận đánh Điện Biên Phủ”. Thế hệ Bùi Giáng là thế hệ vừa sinh ra đã sớm bị dập vùi trong chiến tranh… Kẻ chiến thắng chưa chắc đã cầm nắm được vinh quang, hãnh diện!
            Trái lại, có thể họ sẽ phải gánh chịu điêu tàn với, nếu họ còn chút lương tri. Sự phi lý cực độ mù lòa.

                   “Chín mùa đông đổ sau hè
                    Bây giờ máu đỏ trôi về tràng giang
                    Xuân rừng tía mộng lang thang
                    Bước chân về bỗng chìm ngang lưng đèo”

                    (rừng tía)

            Nỗi u uất xót xa của Bùi Giáng không chỉ thu hẹp trong một phạm vi không gian hữu hạn. Ông mang nặng trong tâm tưởng những suy nghiệm về cái bất hạnh chung của nhân loại. Con người sinh ra để đi tìm hạnh phúc, nhưng chúng ta tìm thấy được những gì trong thực tế, ngoài phũ phàng:

                   “Con người là để chửa hoang
                    Khóc rưng rức để hai hàng xa nhau
                    Khép hang hở, để nghiêng đầu
                    Hốt hoa rụng để chia mầu chửa hoang”

                    (chia mầu)

            Hoặc những:

                   “Máu se từng sợi chỉ vàng
                    Chết ngang ngửa sống giấc bàng hoàng mê
                    Tỉnh say đứng phố ngồi hè”


            Khi viết về Gabriel Marcel, họ Bùi đã nhận định: “Tâm thức người thời đại chúng ta càng ngày càng duy lý một cách bướng bỉnh. Niềm tin tôn giáo bát ngát khó mà thấm nhập vào tâm hồn những người có đầu óc khoa học. Hình như những danh từ văn minh tiến bộ, đã phờ phỉnh chúng ta, gạt chúng ta ra ngoài những truyền thống thần bí cương liệt”.(2)


DU  TỬ  LÊ               
_________________________________________________________
(1) Uyên Thao “Lược khảo về thơ 1900-1959” quyển 2.
(2) Trích “Tư tưởng hiện đại” của Bùi Giáng, trang 9.


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/nhung-hinh-thai-chiem-bao-trong-tho-bui-giang/

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #86 vào: 10/02/2019, 08:08:20 »


Đằng sau những câu thơ dễ dãi của Bùi Giáng


Nhà thơ Bùi Giáng (Tranh: Trịnh Công Sơn)


TRƯỚC NHỮNG tan nát chiến tranh, thất lạc dĩ vãng và hoang mang trước tương lai, đa số con người ngày càng sa lầy trong hố sâu duy lý, bắt nguồn từ Hégel tới những tiêm nhiễm của lý thuyết duy vật biện chứng, khởi dẫn từ Marx, đã đưa họ tới chân tường tuyệt vọng…
            Họ Bùi ôm ấp hoài bão dựng lại cho mình, cho đời, một thế quân bình giữa lý trí cực đoan và hiện tại bất lực. Nhưng trước mắt thi sĩ, cái không gian riêng tây, hòa đồng thiên nhiên, hồn nhiên từ thuở lọt lòng, đã trở thành vùng biển máu và nước mắt.
            Dòng thời gian chảy xiết mấy nghìn năm cuốn theo mệnh nước lầm than, từng, có những khoảng khắc thăng hoa, nay chỉ thuần là những con dốc đứng thẳng theo chiều tăm tối! Bùi Giáng buộc mất hay chúng ta, nhân loại buột mất cõi trú của tương lai từ sân ga hiện tại:

                   “Tìm cố quận xanh mờ thủy nguyệt
                    Kiếm quê hương khóc bích ngạn đào
                    Nhung nhớ chết đọa đày biền biệt
                    Gió một vùng huyễn mộng chiêm bao”

                    (Câu Hỏi)

            Những ray rứt, khoắc khoải của Bùi Giáng khiến ta nhớ tới một Tarrou trong “La Peste” của Camus. Chiến tranh cũng là một thứ dịch hạch mà hậu quả của nó là những nhát dao chém, những làn roi cay nghiệt quật xuống thân phận con người? Nó trở thành những ám ảnh siêu hình từ tiềm thức, vây hãm đến cả mộng mị chiêm bao của thi sĩ:

                   “Những bà mẹ khóc canh thâu
                    Ngàn năm có biết đất nào nấu nung
                    Làng kia lửa cháy điệp trùng
                    Bốn mùa thiêu đốt tận cùng hang con”


            Nếu chúng ta nhìn nhận rằng thơ Thế Phong là thơ của những ai muốn tìm vào sự thật của trạng huống xã hội điên loạn này, thì chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng tiếng thơ Bùi Giáng là thơ của những ai muốn lắng nghe ít nhiều khía cạnh siêu hình (trộn lẫn cùng những bỡn cợt liên quan tới một số người nữ tiêu biểu). Đó là thơ của một thi sĩ vốn bị đời coi như mất thăng bằng trí não!
            Đúng vậy. Chẳng những thế giới thi ca của họ Bùi bao la mà còn vô cùng phức tạp, hỗn độn. Bên cạnh những câu thơ chứa chất những ảnh hình, tư tưởng thâm sâu, thi nhân còn vô tình hoặc hữu ý, sắp xếp những bài thơ không những ngây ngô từ ngôn ngữ, hình ảnh mà còn lộn xộn đến cả nội dung nữa.
            Người đọc dù kiên nhẫn tới đâu, thân thiết với tác giả bao nhiêu chăng nữa cũng không thể chấp nhận những bài thơ lục bát gần với vè, những bài thơ xuôi suốt một hai trang không hề có một dấu phẩy, cũng như ngôn ngữ lủng củng tới độ người đọc có cảm tưởng: nếu viết một vài giòng và không đề tên Bùi Giáng, dám chắc có người sẽ lầm tưởng đó là đoạn thư của một người ít học, lời lẽ nôm na: “Mùa lụt năm nay anh chèo ghe bắt cá hai con cả thảy bỏ vô nồi nướng đủ hai con một lần ăn hết trong miệng hàm răng em tròn như tiêu ớt no nê thiên thần trời cao té xuống cười như nắc nẻ…” (Hạnh phúc)
            Hoặc:

                   “trời xanh úp mặt nghe tin
                    thôi rồi em má ri lyn đi rồi”

                    (Trời Khóc Marilyn)

            Hoặc:

                   “mở trong nguồn lệ phương tràn
                    cánh se dâu biển hồng tàn khép xiêm
                    lệch tà sổ đứt ra xem
                    mòm con mắt ngó ồ em em ồ”

                    (Ồ Em)

            Hoặc:

                   “trăm năm trong cõi người ta
                    thân còn chẳng tiếc lọ là ô Ri
                    riêng công chúa nọ Ly Kỳ
                    là tôi tiếc suốt li bì càn khôn”

                    (Nhớ Chế Mân)

            Hoặc:

                   “ở ngoài em có làn da
                    ở trong em có một tòa thiên nhiên
                    tứ chi là cẳng, tay mềm
                    trăm năm động đậy gọng kềm thiên hương”

                    (Biết Sao Nói Năng)

            Hoặc:

                   “mở hai hàng cỏ thơ ngây
                    mắt người nương tử đêm dày dạn sương
                    mở hai hàng cỏ lên đường
                    liễu in giòng rụng xin nường mở xem”

                    (Tượng Số Thiên Nhiên)

            Nhưng xét cho cùng thì có dễ chính từ chỗ hỗn độn, lung tung ấy, chúng đã cho ta thấy rõ hơn, khía cạnh tâm thành của họ Bùi. Chính từ chỗ thoạt nhìn, tưởng như yếu kém, khiếm khuyết của thi nhân, lại là cố tình, dụng ý, của Bùi Giáng trước tình huống điên đảo, lênh đênh chìm nổi điêu linh của đất nước này?
            Bằng vào những căn tính của con người, trước xã hội đổ nát hôm nay, họ Bùi phủ nhận và cố gắng phá vỡ mọi hệ thống được dựng lên, ngợi ca bởi lý trí hư ngụy, có tính cách xảo ngôn của phong trào duy vật (luôn xu hướng duy linh) mà ông cho rằng đang rơi vào cõi hư vô, với vô thức chạy trốn, quay lưng, tìm nguồn an ủi phù phiếm cho riêng mình.
            Theo nhận thức của thi sĩ thì, chính những hệ thống, những khuôn mẫu lý trí, máy móc đã đưa con người tới tình trạng phá sản, bầm dập của chủ thể tư duy, triệt tiêu hoài bão tìm về cõi tiên thiên: Lối ngõ giải phóng cho những bế tắc, xung đột tuyệt vọng của những tâm tưởng bệnh hoạn thời đại.
            Đây cũng là một lý do, không phải để biện hộ cho tiếng thơ mung lung, không đều dòng của Bùi Giáng, mà có thể, chính là chủ đích của nhà thơ (?) Niềm ao ước gần gũi nhất mà ông hằng ôm ấp, mơ ước trở lại, quay về một nếp đời giản dị, tự nhiên như lá trên cây, trăng sao trên trời, nước xuôi chiều gió… Và, chúng ta cũng không nên lấy làm lạ, tại sao thi sĩ có thể làm cả trăm bài thơ chỉ để ca ngợi một chiếc lá, mong thông cảm, chia sẻ được lời chim, hồn hoa vạn vật:

                   “Cúi đầu tuân nhận lời chim
                    Mở hàng môi đỏ của tin cho đời”

                    (Cành Cong Thu Đỏ)

            Hoặc nữa:

                   “hai bàn tay ngón tay xin
                    môi mơ màng đỏ của tin ngực tròn
                    nghĩa là hơi thở chon von
                    mở xuân thu sợ hao mòn tiếng chim
                    quay về ngủ mộng bình nguyên
                    còn mang trong bụng hình tiên nga ngồi
                    ngày mai mở mắt ngó trời
                    còn nghe trái đất suốt đời loay hoay”


            Tưởng rằng xa mà thật gần kề, tưởng khinh bạc mà thật đơn sơ thuần hậu, tưởng giông bão một vòm trời mê loạn mà thật trong sáng mơn man, tưởng không mà là… Cái hư ảo, thâm thúy phảng phất quạnh hiu của tiếng thơ Bùi Giáng ở đó. Cái đáng kể của thơ Bùi Giáng, cũng ở đó. Phải chăng cái vô cùng nằm ngay trong cái đơn sơ mộc mạc?
            Tiếng nói thơ Bùi Giáng là tiếng-nói-im-lặng-thiên-nhiên? Một thứ vô-ngôn-huyền-nhiệm linh cảm sáng lên từ tiềm thức? Một tiếng nói vượt ngoài tiếng nói? Một tâm hồn đã lẫn tan trong từng thớ gỗ, sớ cây, cọng lá…? Do đấy, ngôn ngữ chỉ còn là những xác hình vô nghĩa? Và lý trí phù phiếm chỉ còn là lớp bụi bám?


⋆ ⋆ ⋆

            Ý nghĩa cuối cùng của tôi có lẽ là lời nhắc nhở thầm cho chính mình: Hãy bước tới bằng bước chân của gió – Hãy đi vào bằng cửa ngõ cảm thông – Hãy nhìn vào và soi tỏ mặt người bằng ánh sáng của trăng – Hãy trút bỏ những hành lý hệ thống khuôn nếp mà đời đã trang bị cho.
            Và hãy nhớ: Khi Khổng Phu Tử hỏi các môn đệ về khát vọng đời sống – Tất cả đều chung một lòng tha thiết kiến tạo xã hội, nâng cao đời sống con người.
            Chỉ riêng Tăng Điểm khi được hỏi tới đã gõ đàn thưa rằng: “Tôi muốn mùa Xuân mặc áo bông, rủ một bầy trẻ thơ ra tắm mát sông Nghi, trở lên, hóng gió nền Vũ Vu, rồi hát mà về.”
            Khổng Phu Tử gật đầu, buồn mà rằng: “Ta cũng chỉ muốn được như Điểm”. ⩫


DU  TỬ  LÊ               
(trích “Năm sắc diện năm định mệnh”
nxb Tao Đàn, Sài Gòn, 1965)


https://www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/dang-sau-nhung-cau-tho-de-dai-cua-bui-giang/

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Bùi Giáng
« Trả lời #87 vào: 19/05/2019, 17:25:27 »


Tản mạn chuyện Bùi Giáng vẽ tranh


Ngày 22-10 vừa qua, tại Gem Center (TP.HCM) diễn ra phiên đấu giá nghệ thuật “Thiện Nhân và những người bạn”, do Quỹ Sống để yêu thương Việt Nam (Live To Love Việt Nam) tổ chức, nhằm tìm kiếm kinh phí cho Quỹ Thiện Nhân trong việc phẫu thuật dị tật đường tiểu cho trẻ em. Trong số 13 tác phẩm (gồm nhiều tác giả nổi tiếng như: Bùi Xuân Phái, Lê Kinh Tài, Đinh Thị Thắm Poong, Lim Khim Katy, Nguyễn Thị Châu Giang…), tác phẩm “Gửi đêm” của Bùi Giáng (chất liệu mực tàu và gouache color trên giấy, sáng tác năm 1992) đã được mua với giá 27.000 USD (giá khởi điểm 2.500 USD) lại một lần nữa rộ lên cơn sốt “Tranh Bùi Giáng” trong giới sưu tập và yêu chuộng mỹ thuật.


Tác phẩm ”Gửi đêm” của Bùi Giáng
(chất liệu mực tàu và gouache color trên giấy, sáng tác năm 1992)


THEO NHỮNG người thân của gia đình Bùi Giáng cho biết, ông không chỉ là nhà thơ mà còn từng là họa sĩ. Trong thời gian đầu vào Sài Gòn dạy học (năm 1952), ông đã dành nhiều thời gian viết sách và vẽ tranh. Họa sĩ Đinh Cường trong bài viết Bùi Giáng – Đi về với gió du côn (năm 2009) cũng đã viết: “Anh đã ở qua rất nhiều nơi, những năm 1960, đường Phan Thanh Giản, nhà cháy, về đường Trương Tấn Bửu, có lúc ở trong Đại học Vạn Hạnh. Thời kỳ này anh vẽ nhiều tranh bột màu trên giấy, có khi là bút chì sáp, nhiều nhất là bút bi. Đã triển lãm tranh bột màu lần duy nhất tại nhà sách Albert Portail (về sau là nhà sách Xuân Thu, đường Đồng Khởi, TP.HCM)”.
            Số lượng tranh của Bùi Giáng vẽ tặng bạn bè rất hào phóng trên mọi nơi chốn ông từng ghé qua, nên hầu như ít người chú ý lưu giữ. Một lần dọn dẹp nhà cửa, họa sĩ Phạm Cung đã tìm lại được hơn 20 bức tranh của thi sĩ. Những bức tranh này, họa sĩ Phạm Cung cho biết, đều được Bùi Giáng vẽ từ năm 1982 đến khoảng 1994 trước lúc ông qua đời (1998). Cũng theo họa sĩ Phạm Cung, sinh thời, thi sĩ Bùi Giáng thường lui tới ăn, ở tại nhà ông. Thỉnh thoảng, trong lúc ngồi chơi uống rượu xem Phạm Cung vẽ tranh, Bùi Giáng đã ngẫu hứng mượn cọ, xin màu, giấy và… vẽ. Hầu hết tranh của Bùi Giáng xoay quanh những đề tài rất… Bùi Giáng, với những tựa đề như: Bò khát bia, Chó hút thuốc, Người say, Người cưỡi ngựa hộc máu, Chân dung người điên, Chân dung, Lão Từ Hải thất vọng… Số tranh này chủ yếu bằng màu nước hoặc bút bi trên giấy khổ A4. Dù được Phạm Cung mua cho nhiều lọ màu nước nhưng Bùi Giáng chỉ dùng một chân dung hoặc tối đa là ba màu cho mỗi bức tranh. Ông vẽ rất say mê, đến độ hết màu nước ông chuyển sang vẽ bằng bút bi. Nhận định về những bức tranh của Bùi Giáng, họa sĩ Phạm Cung thành thật: “Thực ra họa sĩ chuyên nghiệp như tôi không xem đường nét hay sắc màu trong tranh Bùi Giáng là cái gì cao siêu đâu. Nhưng tôi quý tranh của anh Bùi Giáng vì tư tưởng, cách đặt tên và đặc biệt là những câu thơ anh viết lên bức tranh”. Vì vậy, mỗi bức tranh Bùi Giáng vẽ xong, họa sĩ Phạm Cung xếp cất vào một góc riêng, biểu hiện sự trân trọng những gì Bùi Giáng làm ra, nhưng chính tác giả lại lãng quên ngay sau đó. Còn theo Trần Triều Linh: “Họa phẩm của Bùi Giáng giống với một khách thể nào đấy không? Câu trả lời là: không. Mà ở trong ấy, cái được gọi là sự thật nằm ở đâu? Nhìn vào tranh của Bùi Giáng khó mà biết Trung Niên Thi Sĩ muốn nói gì. Tranh không hướng đến mô tả vật thể mà làm méo mó vật thể. Thậm chí đó là sự vỡ vụn của thế giới nội tâm. Chúng ta không thể nhìn thấy thế giới khách quan trong tranh Bùi Giáng. Có thể đó là những hình ảnh văng ra từ một giấc mơ nào đấy của chính nhà thơ ưa cà rỡn này? Đây rõ ràng là một kiểu dạng thực hành nghệ thuật khác biệt so với sự nhìn nhận về thế giới của những người bình thường”.



Tác phẩm “Từ Hải” của Bùi Giáng


            Sinh thời, Bùi Giáng giao du thân thiết với hầu hết các văn nghệ sĩ Sài Gòn. Do đó, ông vẽ chân dung nhiều họa sĩ và ngược lại ông cũng được nhiều người tạc tượng, vẽ chân dung về mình như: Trịnh Công Sơn, Trương Đình Quế, Lê Thánh Thư, Nguyên Hạo, Đinh Cường, Phạm Cung… Trong đó, Đinh Cường là người vẽ Bùi Giáng từ rất sớm (thập niên 1970) và nhiều nhất. Đáng chú ý, trong vựng tập có tên Đinh Cường vẽ Bùi Giáng, người xem có thể chiêm ngưỡng gần 30 sát-na của “trung niên thi sĩ”, mà dường như chỉ có những thân hữu mới “chộp bắt” được như vậy. Năm 1972, trong một tác phẩm, Đinh Cường vẽ người thiếu nữ bay bổng, như nhớ về quê cũ, sau khi xem thì Bùi Giáng ngẫu hứng đọc hai câu thơ: “Lớp phiêu bồng mọc trăng ngàn/Thành xưa phố cũ muôn vàn phía sau”. Bức tranh này, Đinh Cường đã đưa tên Bùi Giáng vào chú thích, như tác phẩm của hai người. Một chân dung Bùi Giáng (thuộc sưu tập của phòng tranh Tự Do), vẽ năm 1987, Đinh Cường đã được gợi ý từ hai câu: “Niềm vui tao ngộ xa dần/Còn riêng ở lại một lần này thôi”. Nhiều bạn thân họa sĩ Đinh Cường cho biết, sinh thời, trong ngôi nhà ở vùng Fair Fax, Virginia, có tầng hầm mở ra một cánh rừng thưa, nơi Đinh Cường làm studio, ông vẫn thích treo nhiều chân dung Bùi Giáng. Bản thân Bùi Giáng cũng thích “phổ thơ” của mình bằng tranh. Trong đó, điển hình như tác phẩm Quê chàng là Ithaque (sơn dầu, 150x100cm, 1963 – thuộc sưu tập của Ngô Văn Tao), vì đây là những chữ trong thơ Bùi Giáng. Bức tranh này cũng được nhiều người cho là cách giải thích hai câu thơ khó hiểu của Bùi Giáng: “Lạc loài đã rớt đi đâu/Chiếc chìa khóa mộng rực màu so le”.
            Nhà thơ Thanh Thảo kể: “Cuối năm 2003, tôi sang Paris dự Festival Thơ quốc tế, và khi có dịp ghé quán Foyer Việt Nam ở số 80 phố Monge Quận 5 (khu Latin), người tôi gặp đầu tiên ở đây là… Bùi Giáng. Đúng hơn, là tôi đã gặp một bức chân dung Bùi Giáng vẽ bằng bút sắt. Nét vẽ rất có thần. Lại đôi mắt sáng quắc nhìn tận đâu đâu. Lại vẻ mặt hồn hậu của một lão nông xứ Quảng Nam đang mơ màng như nhớ lại câu thơ tuyệt vời của Apollinaire…” Nhà thơ Thanh Thảo hỏi nhiều người thì được biết, đó là bức chân dung Bùi Giáng của họa sĩ Trần Văn Liêm – một người rất hâm mộ Bùi tiên sinh ở Paris.


TRẦN TRUNG SÁNG               
Tháng 11/2016
               


http://cadn.com.vn/news/68_157003_ta-n-ma-n-chuye-n-bu-i-gia-ng-ve-tranh.aspx