Tác giả Chủ đề: Bùi Hữu Nghĩa  (Đã xem 2612 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi joankim

Bùi Hữu Nghĩa
« vào: 27/03/2012, 17:13:23 »

Bùi Hữu Nghĩa (chữ Hán: 裴有義; 1807-1872), tên cũ là Bùi Quang Nghĩa (裴光義), hiệu Nghi Chi (儀之), là quan nhà Nguyễn và là nhà thơ Việt Nam.



Tiểu sử
 
Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (裴有義) hiệu Nghi Chi, Liễu Lâm chủ nhân, quê ở làng Long Tuyền, phủ Vĩnh Định, trấn Vĩnh Thanh (Vĩnh Long) (nay là phường Long Tuyền, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ). Thân phụ của ông là Bùi Hữu Vi, làm nghề chài lưới.

Thuở nhỏ, ông lên Biên Hoà cư ngụ tại nhà ông Hộ trưởng Nguyễn Văn Lý, học với ông đồ Hoành. Sau đó, được ông Lý gả con gái cho. Bùi Hữu Nghĩa nổi tiếng thơ hay ở miền Lục tỉnh. Ông là bạn thân của Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa đã góp phần vào thắng lợi của cuộc bút chiến Phan Văn Trị - Tôn Thọ Tường. Thơ chữ Hán cũng như chữ Nôm của Bùi Hữu Nghĩa thường lấy đề tài vịnh vật, vịnh sử để phê phán bọn bán nước và gửi gắm tâm sự đau buồn trước cảnh nước mất nhà tan, nhân dân mất tự do, đói khổ.

Năm Ất Mùi (1835), ông đỗ giải nguyên trường thi Gia Định lúc 28 tuổi, được bổ vào làm Tri huyện Phước Long, tỉnh Biên Hoà, rồi thuyên bổ Tri huyện Trà Vang, (nay thuộc tỉnh Trà Vinh). Khi ra làm quan, tính ông cương trực, thương dân nghèo, bênh vực người hiền lành nên thường bị bọn tham quan vu cáo, hãm hại.

Vì tính cương trực, ông đương đầu với đám cường hào ác bá tại Trà Vinh, bị quan trên tham nhũng, tìm cách hãm hại. May vợ là Nguyễn Thị Tồn ngồi ghe bầu ra tận kinh đô kêu oan với triều đình, ông mới thoát cảnh lao tù, nhưng bị sung quân, đóng đồn ở Vĩnh Thông (nay là thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang). Ngoài ra, Thái hậu Từ Dụ (còn gọi là Từ Dũ, mẹ của vua Tự Đức) vì cảm thương trước tấm lòng của vợ ông mà ban cho vợ ông tấm biển có bốn chữ chạm vàng là "Liệt phụ khả gia".

Vợ ông từ kinh đô trở về, đến nửa đường thì bệnh mất. Lúc đó, ông đang trấn nhậm ở Châu Đốc, nghe tin bà mất, bèn vội về, nhưng khi về tới nhà thì việc tống táng đã xong. Ông đau buồn mà đọc bài văn tế, trong đó có đôi câu đối viếng:

Con sáu tuổi thơ ngây một bóng, em nao đành nhắm mắt qui tiên,
Chồng trăm bề lo lắng một mình, bậu bao nỡ xấp lưng cỡi hạc.

Và hai câu liễn:
Nguyên văn:
我 貧 卿 能 助, 我 冤 卿 能 鳴 ,朝 也 皆 稱 卿 是 婦.
卿 病 我 不 葯, 卿 死 我 不 葬, 江 山 應 笑 我 非 夫 .

Phiên âm:

Ngã bần khanh năng trợ, ngã oan khanh năng minh, triều dã giai xưng khanh thị phụ.
Khanh bệnh ngã bất dược, khanh tử ngã bất táng, giang sơn ưng tiếu ngã phi phu.

Tạm dịch:

Ta nghèo mình hay giúp đỡ, ta tội mình biết kêu oan, trong triều ngoài quện đều khen mình mới thật đáng là vợ.
Mình bệnh ta không thuốc thang, mình chết ta không mai táng, non sông cùng cười ta chẳng xứng gọi là chồng.

Đóng quân ở Tịnh Biên ít lâu. Đến năm 1862, khi triều đình ký hoà ước cắt ba tỉnh miền Đông cho Pháp, Bùi Hữu Nghĩa bất mãn xin từ quan, về làng Long Tuyền sống ẩn dật, làm nghề thuốc và dạy học, ôm ấp chí cao khiết. Tài đức của ông được sĩ phu và nhân dân trọng vọng, mến yêu.

Ngày 21-01-1872 âm lịch, ông mất, hưởng thọ 65 tuổi. Mộ ông nay còn ở huỵên Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Tại chùa Nam Nhã ở Bình Thủy, còn bài vị thờ vợ chồng ông.

Các học trò của Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa và Cử nhân Phan Văn Trị như Nguyễn Phước Dương bút hiệu Tử Hiển, Nguyễn Giác Nguyên bút hiệu Long Khê, Lê Quang Chiểu, Trần Ngọc Lầu, Nguyễn Hữu Đức, Phạm Bá Đại v.v... là những người có nhiều đóng góp cho nền văn học miền sông Hậu.


Tác phẩm
 
Ai xui Tây đến
Đề mồ nhà vợ
Gửi Tôn Thọ Tường
Hà Âm mộ cảnh
Ngoạ bịnh ngâm thi
Quan Công thất thủ Hạ Bì
Thú câu
Thoại Sơn tức cảnh
Văn tế Nguyễn Thị Tồn
Thơ khóc vợ
Tây du
Mậu tùng

Ngoài các bài thơ, văn tế, ông còn để lại một bản tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên có giá trị văn chương cao, được đời truyền tụng bởi tài hoa của tác giả là sử dụng thơ ca để lột tả tâm lý của từng nhân vật và luôn tạo ra cái gút, từ gây cấn cho đến xung đột dữ dội trong xã hội đương thời.

Tuồng hát bội Kim Thạch Kỳ Duyên gồm có ba hồi, hai mươi chín cảnh, chia ra như sau: Hồi một có 10 cảnh, 51 lớp; hồi hai có 11 cảnh, 55 lớp; hồi ba có 8 cảnh, 46 lớp. Với gần 50 nhân vật tiêu biểu từ bậc Vua Chúa đến hàng thứ dân, được lồng trong những mối tình ngang trái và éo le, đại diện cho tính cách thiện và ác, trung thần và xu nịnh. Diễn tả cuộc tình duyên đầy sóng gió giữa chàng Kim Ngọc và nàng Thạch Võ Hà, ca ngợi tình yêu chung thuỷ, khinh ghét kẻ tham vàng bỏ ngãi, chiến thắng độc ác, vượt ra ngoài chủ đề tôn quân.

Cùng với các tuồng của Đào Tấn, Nguyễn Hiển Dĩnh, tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên của Bùi Hữu Nghĩa đánh dấu sự chuyển biến của tuồng Việt Nam cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20.

Tuồng Kim Thạch Kỳ Duyên đã được in tái bản nhiều lần, điều đặc biệt nhất là tuồng này còn được dịch sang tiếng Pháp in vào năm 1934.

Nhiều lần ông họa thơ đả kích Tôn Thọ Tường theo Pháp, và có bài thơ kêu gọi đồng bào nhất tề đứng lên chống quân Pháp xâm lược:

Ai khiến thằng Tây tới vậy cà?
Đất bằng bỗng chốc nổi phong ba!
Hẳn hoi ít mặt đền ơn nước
Nháo nhác nhiều tay bận nỗi nhà
Đá sắt ôm lòng cơm với trẻ
Nước non có mắt thấy cho già
Nam Kì chi thiếu người trung ngãi,
Báo quốc cần vương dễ một ta!

 
Và bài văn tế vợ Nguyễn Thị Tồn:
 
Hỡi ôi!
Gió Nữ phất phơ;
Mưa Ngâu lác đác.

Duyên bình thuỷ sum vầy đà tan rã, ngạt ngào bọt nước sóng xao;
Đuốc loan phòng tỏ rạng phút khêu lờ, sảng sốt ngọn đèn gió tạt.

Nhớ linh xưa:
Tánh đúc son vàng;
Tình không đen bạc.

Chen với nguyệt tròn hơn nguyệt, phòng khuê đà rực rỡ gương trong;
Ở trên trần mà chẳng nhuốm trần, vườn dâu khỏi lắm nhơ bụi cát.

Trong vấy màu bùn chẳng đục, những dự sang giàu, của trăm xe đưa rước vào màng;
Nghèo manh khố chuối mà thanh, phải duyên đằm thắm, cầu mấy nhịp xa xôi gánh vác.

Ở với mẹ đã trọn niềm hiếu hạnh, chìu lòng theo lân lý với anh em;
Lúc theo chồng vui biết chữ xướng tuỳ, đẹp đẽ với xóm giềng chú bác.

Ưa mùi đạo khuyên chồng nấu sử, nam tử may nợ nước đền bồi;
Thảo nhờ thân vẹn phận chưng lê, nữ công trọn giềng nhà gánh vác.
 
Trường khoa mục qua nong chí cả, ít nhiều đà rỡ mặt với non sông;
Nhà hàn vi hậu dốc tay nâng, may mắn đặng cất đầu cùng bạn tác.

Chồng vợ thảm đều không cha mẹ, em luống than phận lẻ loi;
Câu cô hoà một cửa anh em, tình vui thuận lời không chích mác.

Công danh lỡ vì mang bệnh quỉ, em chẳng phải vợ Mãi Thần ngày trước, thời chưa nên làm thói dể duôi;
Khó hèn cam nào dám trách trời, bậu chẳng như vợ Tô Tần ngày nọ, vận chưa đạt mà đem lòng khi bạc.

Phận khó khăn yếu đuối, vóc liễu bồ dầu dãi nắng mưa;
Con nhỏ dại thơ ngây, tay chủ quỉ không rời thước tấc.

Ở theo thời, làm theo thế, qua khỏi tuần sấm đất tan bia;
Bay kịp chúng, nhảy kịp thời mới đặng hưởng gió thần đưa các.

Nghiệp tiên thế anh lo gây dựng, mừng thầm đà mở mặt với hương lân;
Đạo thánh hiền bậu dốc khuyến dương, gắn bó đã nên gương cùng hậu giác.

Ăn cần ở kiệm, giàu không khoe, khó cũng không đua;
Mua nghĩa chác nhơn, trước chẳng phai sau chẳng lạt.

Chữ thê tùng phu quý em nan than chẳng nhờ của cũng nhờ công;
Câu phụ tác tử thừa bậu nong nả chưa nên vai đà nên vác.

Ốc đà hết lúc gian truân;
Hay chưa tới chừng hanh đạt.

Bỗng đâu khiến gió day mưa tạt, non hoa hạc lánh trầm trầm;
Nào hay nỗi vật đổi sao dời, cửa sổ ngựa qua thoát thoát.

Ôi!
Sông Lệ vàng chìm;
Non Côn ngọc nát.

Cảnh giai lão trách lòng trời đất, khó có nhau giàu cũng có nhau;
Quỉ vô thường làm cuộc bể dâu, vật tráo chác người sao tráo chác.
 
Con cháu tuổi thơ ngây một bóng, em bào đành nhắm mắt tầm tiên;
Chồng trăm bề lo lắng một mình, bậu bao nỡ sấp lưng cưỡi hạc.

Ai mượn lão Diêm phù rước khách, mẹ lìa con vì gã ức oan;
Ai mượn ngươi Quỷ bá đưa người, chồng xa vợ ở ngươi nên bạc ác.

Chữ "đại đức tất đắc kỳ thọ" đọc tới phát buồn;
Câu "tích phước tất hữu dư khương" nghe càng thêm lạt.

Qua bể bậu chẳng bằng tiền đũa, phận phân gương chẳng kịp nửa giờ;
Trời giết người chi sá gươm đao, chứng nghèo ngặt không đầy một lát.

Đêm khuya hãy nâng niu một trẻ, nghĩ từ cơn, ruột tợ kim châm;
Ngày ra nào vắng vẻ không em, nhớ từ chặn, gan dường muối xát.

Cuộc long hổ lấp rồi ba tấc đất, ôi thôi rồi má phấn hồng nhan;
Bạn phụng loan phân rẽ một phương trời, lo đáo để duyên đơn phận bạc.

Đã biết kiếp thác là kiếp mất, tấm lòng thành đủ bảy tuần chay;
Cho hay người mất mà nghĩa còn, thô lễ tế vài mâm mặn lạt.
 
Hỡi ôi, tiếc thay!
Hỡi ôi, tiếc thay!




Nguồn: Vietgle
Ngôn từ được sử dụng để che dấu suy nghĩ. - Voltaire
 
The following users thanked this post: ChaosAngel

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Bùi Hữu Nghĩa
« Trả lời #1 vào: 28/03/2012, 08:56:11 »
TUỒNG KIM THẠCH KỲ DUYÊN - BÙI QUANG NHƠN chuyển sang quốc ngữ
Sài Gòn 1895