Tác giả Chủ đề: Bùi Kỷ  (Đã xem 5400 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi goose

Bùi Kỷ
« vào: 09/09/2009, 23:50:55 »
Bùi Kỷ (5 tháng 1 năm 1888 - 19 tháng 5 năm 1960), tên chữ là Ưu Thiên, hiệu là Tử Chương, là nhà giáo, nhà Nho học và nhà nghiên cứu văn hóa có ảnh hưởng trong những năm đầy biến động của lịch sử Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ 20.



Thân thế

Bùi Kỷ sinh ngày 5 tháng 1 năm 1888, quê ở làng Châu Cầu, phủ Lý Nhân (nay thuộc thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam), trong một gia đình khoa bảng Nho học. Tổ tiên họ Bùi gốc ở xã Triều Đông, huyện Thượng Phúc, phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc huyện Thường Tín, Hà Nội). Khoảng cuối triều Lê, một nhánh họ Bùi chuyển đến ở Châu Cầu lập nghiệp. Từ nhỏ Bùi Kỷ, giống như nhiều trí thức khác của giai đoạn này, tiếp nhận một nền giáo dục pha trộn giữa Nho học và tiếng Pháp, chữ Quốc ngữ. Con ông là cựu đại sứ Bùi Diễm.

Từ khi đỗ đạt đến Cách mạng tháng Tám

Năm 1909, trong lần đầu dự thi Hương, Bùi Kỷ đỗ cử nhân. Năm sau vào Huế thi Hội và thi Đình, ông lại đỗ Phó bảng và được triều đình Huế bổ đi làm Huấn đạo, nhưng Bùi Kỷ từ chối, lấy cớ phải ở nhà phục dưỡng cha và ông nội đều đang già yếu.

Năm 1912, chính quyền bảo hộ chọn cử ông sang Paris, Pháp học Trường Thuộc địa (École coloniale). Nhân dịp này Bùi Kỷ đi du lịch nhiều nơi ở Pháp và các nước lân cận. Ông cũng có dịp tiếp xúc với một số người Việt yêu nước và cách mạng đang lưu ngụ và làm việc ở Pháp, trong đó có Phan Chu Trinh. Năm 1914, Bùi Kỷ về nước. Ông được Tòa Thống sứ Bắc Kỳ gọi lên bổ dụng nhiều lần, nhưng đều từ chối. Chịu ảnh hưởng từ chuyến đi Pháp và trào lưu tân học, Bùi Kỷ học tập hình thức sản xuất tư bản và tổ chức cho gia đình mình sản xuất hàng thủ công xuất khẩu (bông vải, tre đan), nhưng ít kết quả.

Sau khi cha và ông nội đều qua đời, Bùi Kỷ bỏ sang Quảng Châu, Trung Quốc hai năm. Ông về nước khi đã 30 tuổi, từ năm 1917 ông ra Hà Nội dạy học. Bùi Kỷ dạy tại các trường Cao đẳng sư phạm, Cao đẳng công chính, Cao đẳng pháp chính. Ngoài ra từ năm 1932, ông còn dạy trường tư cho hai tư thục Văn Lang và Thăng Long. Trường Thăng Long do một số trí thức tiến bộ và có xu hướng thân cộng sản như Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Đặng Thái Mai, Võ Nguyên Giáp lập ra đã mời Bùi Kỷ cùng trực tiếp giảng dạy.

Ngoài việc dạy học, Bùi Kỷ còn là một nhà biên khảo, nhà sáng tác, cộng tác với một số báo chí ở Hà Nội như Nam Phong, tập san của hội Khai Trí Tiến Đức, báo Trung Bắc Tân Văn... Ông còn tham gia các hoạt động văn học xã hội của giới trí thức Hà thành như kỷ niệm 105 ngày mất thi hào Nguyễn Du (1925), lễ truy điệu chí sĩ Phan Chu Trinh ở Hà Nội (1926), phong trào truyền bá chữ Quốc ngữ...

Sau Cách mạng tháng Tám

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Bùi Kỷ là một trong số những nhân sĩ trí thức được chính phủ mới trọng vọng. Ông được mời tham gia Ủy ban kháng chiến hành chính liên khu 3, làm chủ tịch Hội liên Việt liên khu 3, Hội truởng hội giúp binh sĩ tị nạn liên khu 3. Năm 1946, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh cử Bùi Kỷ làm Phó ban lãnh đạo thanh toán nạn mù chữ, sau làm Trưởng ban Bình dân học vụ toàn quốc, là thành viên của chính phủ Việt Minh mới thành lập. Ông được chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Ngoài ra, Bùi Kỷ còn là Ủy viên chủ tịch đoàn ủy ban trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Ủy viên ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới, Hội trưởng Hội Việt Trung hữu nghị.

Ông mất ngày 19 tháng 5 năm 1960 tại Hà Nội, thọ 72 tuổi.

Đóng góp cho văn hóa và giáo dục Việt Nam


Các công trình biên khảo của Bùi Kỷ thường gắn với nội dung dạy và học môn ngữ văn Hán Việt bậc trung học của nhà trường phổ thông Pháp - Việt ở xứ Đông Dương thuộc Pháp đương thời. Đó là các cuốn Quốc văn cụ thể (1932), Hán văn trích thái diễn giảng khóa bản (cùng soạn với Trần Văn Giáp, 1942), Việt Nam văn phạm bậc trung học (soạn chung với Trần Trọng Kim và Phạm Duy Khiêm, 1940), Tiểu học Việt Nam văn phạm (soạn cùng với Trần Trọng Kim và Nguyễn Quang Oánh, 1945). Nổi bật nhất trong số này là cuốn Quốc văn cụ thể, trình bày về các hình thức, thể tài các loại thơ văn tiếng Việt truyền thống.

Với loại sách biên khảo giáo khoa, Bùi Kỷ là một trong số những nhà nghiên cứu người Việt đầu tiên tham dự vào việc hình thành các tri thức về ngữ văn Việt và Hán-Việt, các tri thức về lịch sử văn học Việt Nam. Trước hết, Bùi Kỷ là học giả có nhiều đóng góp vào việc hiệu khảo văn bản một loạt truyện thơ Nôm các thế kỷ trước, góp phần giữ gìn và truyền lại cho đời sau. Văn bản Truyện Kiều do Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo, in lần đầu 1925, đã dành được sự tín nhiệm của nhiều thế hệ độc giả. Từ những năm 1930 đến những năm 1950, Bùi Kỷ tiến hành hiệu khảo một loạt truyện Nôm khuyết danh: Trê cóc, Trinh thử, Lục súc tranh công, Hoa điểu tranh năng...

Thứ nữa, Bùi Kỷ còn có sự đóng góp quyết định trong việc khảo cứu di sản thơ chữ Hán của thi hào Nguyễn Du, trong việc xác định giá trị Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ… Các bản dịch tác phẩm chữ Hán của tác giả Việt Nam do ông thực hiện, nổi bật là Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi, bản dịch từng có vị trí đáng kể trong đời sống văn học. Bùi Kỷ còn thử nghiệm việc dịch một số tác phẩm chữ Nôm cổ điển sang chữ Hán như thơ Bà Huyện Thanh Quan hay Truyện Kiều.

Học giả Bùi Kỷ còn là cây bút sáng tác văn học ở khá nhiều thể loại: văn (nghị luận, phú, văn tế, câu đối...), thơ (thơ chữ Hán, thơ tiếng Việt). Tuy nhiên, hoàn cảnh xuất thân khiến ông không có ý định vượt ra ngoài phạm vi kiểu văn học Trung đại và trở thành một đại diện của trào lưu văn học cũ vào buổi giao thời. Giống như các thế hệ nhà nho trước kia, văn thơ Bùi Kỷ là nơi để nói chí, tỏ lòng, thể hiện thế giới tinh thần của mình trong những nét thanh cao với nhiều ưu tư lo đời, thương đời, cũng là để răn mình, răn đời. Phần sáng tác thơ mà Bùi Kỷ tập hợp thành tập Ưu Thiên đồ mặc chưa in thành sách, chỉ đăng báo ít bài, nay hầu như đã thất lạc.

Tác phẩm

    * Truyện Thúy Kiều (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim hiệu khảo), Hà Nội 1925
    * Việt Nam văn phạm (Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim soạn)
    * Quốc văn cụ thể, Tân Việt Nam thư xã, Trung Bắc tân văn, Hà Nội 1932
    * Truyện trê cóc, Khai trí tập san, số 4, tháng 12, 1941
    * Văn chương, Đồng Thanh, 1932, số 1, 2, 5
    * Thơ văn Bùi Kỷ (Nguyễn Văn Huyền sưu tầm, giới thiệu), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội 1994

Nguồn: Wikipedia
 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Bùi Kỷ
« Trả lời #1 vào: 10/09/2009, 01:02:55 »
TRUYỆN THUÝ KIỀU - Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim chú thích
Vĩnh Hưng Long thư quán xuất bản. Bản in lần thứ hai năm 1927, sửa chữa rất kỹ và rất đúng với bản Nôm cổ. Sách dày 250 trang.


 

tri.nguyenold

  • bạn
Re: Bùi Kỷ
« Trả lời #2 vào: 10/09/2009, 16:49:38 »
Lấy từ trang Họ Bùi Việt Nam - Bùi Kỷ

Bút tích của Phó bảng Bùi Kỷ và bản dịch thơ của nhà văn Nguyễn Tử Siêu tại nhà thờ Hoàng giáp Lê Huy Trâm
[04.12.2007]
Bùi Kỷ (1887-1960) là một học giả nổi tiếng, hiệu Ưu Thiên, quê ở Châu Cầu, Thanh Liêm, Hà Nam, đậu Phó bảng năm 1910.


Ông là người tinh thông Hán học, phục vụ trong ngành giáo dục, từng là Chủ tịch Hội Văn hóa kháng chiến. Năm 1959, ông hiệu đính tác phẩm văn học Trung Quốc đồ sộ Tam quốc chí của La Quán Trung, từng để lại bút tích ở nhiều nơi. Một trong số đó là nhà thờ Hoàng giáp Lê Huy Trâm, tại thôn Song Khê, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai.

Trước cách mạng Tháng 8/1945, các nhà tư sản dân tộc của dòng họ là Hồng Khê, Đức Thành và Tổng Tư mời ông về thăm quê của mình. Cảm khái trước thanh danh, khoa hoạn của dòng họ này, ông đã nhận lời. Sau một tuần trà cùng trưởng tộc và các nhân vật có tiếng như nhà văn Nguyễn Tử Siêu, ông lật giở những đạo sắc phong và gia phả của dòng họ. Đến mục “Kỷ Hợi thịnh khoa Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân Lê tướng công” thì ông dừng lại và chăm chú khảo luận. Sau đó, ông xin phép thắp một tuần hương trước ban thờ tổ tiên, sửa sang lại y phục rồi kính cẩn chuẩn bị đề bút ba bài thơ Thuật lữ, Cảm hoài, Tư nụy của Hoàng giáp Lê Huy Trâm (1742-1802) đỗ năm 1780 viết về chí khí của kẻ làm tôi trước vận mệnh của đất nước. Những bài thơ toát lên vẻ thanh khiết tự tại của bậc hiền thần trước thời loạn lạc. Tuy hoàn cảnh rất bần hàn nhưng chí khí vẫn cao sáng, thung dung; mọi chức tước, phẩm hàm chỉ là ảo vọng, kẻ làm tôi cốt sao giữ được tấm lòng trung trinh mới là người cao khiết.

Sau khi chờ hết tuần hương, ông đề bút lên những cuốn thư gỗ đã được dòng họ chuẩn bị trước. Những nét chữ ông viết vừa rắn rỏi vừa mềm mại, thể hiện tính cách của một con người tài hoa, có nhân cách. Nguyên văn chữ Hán phiên âm như sau:

1. Thuật lữ

Táng loạn niên lai khứ ngụ sơn

Giảm biên tàm phú Thạc nhân khoan

Viêm lương nhậm thích hưng cư lý

Phong ước đô phong nhật dụng gian

Mễ hữu thời không vu thực trở

Ngư vô thường đắc giải đăng bàn

Nhân sinh đãn cử tâm vô quý

Thân ngoại hà phường mộng ảo khan.

2. Cảm hoài

Y phong mã tê cấp

Thất quần điểu thanh thương

Thú Dương cộng Triều Tiên

Hà nhật bất Ân Thương

Ngưỡng chỉ hữu cao sơn

Lý hành hữu cảnh hàng

Phong ê hề tuyết phi

Dư mỹ tạ hà phương

Đa thiểu ý trung sự

Thùy năng bất đoạn trường

Ta hồ du tử tâm

Khởi bất bi cố hương

Tình nghĩa nan lưỡng lập

Dư cố uý tư mang

Cần lao nhi tam tử

Biến yên bất cải thường

Vô nịch thích bất lai

Bất tỷ độc mang mang.

3. Tư nụy

Sách danh ủy trí đệ tương truyền

Khuất tri kim tàng nhị bách niên

Dịch diệp tư bồi gia khánh viễn

Lũy triều hâm dưỡng quốc ân toàn

Vãng hành nhàn tưởng do tâm mục

Thời sự na khan cư hải điền

Trung hiếu thử sinh hề điển trích

Thượng kỳ nhất tiết cộng trường sinh.

Khi Phó bảng Bùi Kỷ viết xong, nhà văn Nguyễn Tử Siêu(1) người có tiếng về văn thơ dịch thơ sang tiếng Việt. Bản dịch của ông như sau:

1. Kể việc đã qua
Năm loạn ta vào ở núi đây

Bên khe đọc phú thẹn lòng thay

Nghỉ ngơi nóng rét đều yên ổn

Ăn uống qua loa tính đủ ngày

Không rượu thì khoai bùi ngọt thế

Lấy cua làm cá béo thơm thay

Người ta quý ở lòng không thẹn

Danh lợi cuộc đời tựa đám mây.

2. Việc qua nhớ lại

Ngựa khi gió lạnh hí vang

Con chim vỡ tổ lạc đàn kêu thương

Nước Triều Tiên núi Thú Dương

Di Tề Cơ Tử Ân Thương nặng lòng

Ngửa trông mây núi vĩ hùng

Đường dài cảnh đẹp vô cùng lòng đau

Gió vi vu tuyết trắng phau

Biết vua ta ở nơi đâu mà tìm

Ít nhiều mong nhớ càng thêm

Ai không quặn ruột rộn tim ngại ngùng

Than ôi chẳng quản bình bồng

Nào ai là chẳng nặng lòng nhớ quê

Tình nhà cảnh nước đôi bề

Thôi thì đành hãy quên đi nỗi nhà

Các con khó nhọc cùng ta

Lòng không thay đổi đây là thanh cao

Không nên yên ở chốn nào

Chẳng nề khó nhọc biết bao công.

3. Tâm tư truyền lại

Nối dõi dòng nhà nức tiếng nhân

Tính tay đếm đốt hai trăm năm

Phúc dầy nhờ tổ mưu từ trước

Ơn nước lộc vua khắc để tâm

Thay đổi việc đời xem đã rõ

Bể xanh thành ruộng ấy không nhầm

Hiếu trung hai chữ làm nhân cách

Cùng với trời xanh vạn vạn năm.

Có thể nói rằng, hồn thơ thanh khiết của Hoàng giáp Lê Huy Trâm, nét bút rắn rỏi của Phó bảng Bùi Kỷ cùng với lời dịch thơ của nhà văn Nguyễn Tử Siêu đã trở thành một di sản văn hóa quý, đáng được trân trọng, gìn giữ.

Chú thích:

(1) Nguyễn Tử Siêu (1887-1965) tự là Trọng Khoát, hiệu Hoa Cương, Liên Tâm Lão Nhân, quê ở Hương Ngải, Thạch Thất; người có tiếng văn thơ, từng dạy học và nghiên cứu Đông y, chuyên tâm soạn sách, có lúc là Uỷ viên Ban chấp hành Hội Đông y Việt Nam./.

Thông báo Hán Nôm học 2004 (tr.28-32)
 
ĐẶNG BẰNG - LÊ LIÊM (Theo Viện nghiên cứu Hán nôm)


Ngoài ra cụ Bùi Kỷ còn dịch các tác phẩm sau:

– Tam quốc chí, dịch và hiệu đính 1959

– Thơ chữ Hán Nguyễn Du (cùng dịch với Phan Võ và Nguyễn Khắc Hanh) năm 1959.


 

Ngủ rồi Mua về để đấy

Re: Bùi Kỷ
« Trả lời #3 vào: 10/09/2009, 16:52:17 »
Quốc Văn Cụ Thể

Nhà Xuất Bản TÂN VIỆT
 

Ngủ rồi Giấy gói xôi

Re: Bùi Kỷ
« Trả lời #4 vào: 10/09/2009, 21:30:51 »
TRUYỆN THUÝ KIỀU - Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim chú thích
Vĩnh Hưng Long thư quán xuất bản. Bản in lần thứ nhất năm 1925

 

Ngủ rồi Thoong

Re: Bùi Kỷ
« Trả lời #5 vào: 13/09/2009, 19:57:00 »
Truyện Trê Cóc, tân việt tái bản lần 3 năm 1955

 

Ngủ rồi cafe_sach

Re: Bùi Kỷ
« Trả lời #6 vào: 15/05/2010, 22:22:30 »
Quốc Văn Cụ Thể/Ưu-Thiên Bùi Kỷ in lần nhất Tân-Việt-Nam-Thư-Xá 1932

 

Ngủ rồi vuhatue

Re: Bùi Kỷ
« Trả lời #7 vào: 17/08/2010, 02:13:02 »
GRAMMAIRE ANNAMITE - Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ
Bản tiếng Pháp của quyển "Việt Nam Văn Phạm". Bản in lần 2 của NXB Lê Thăng, năm 1943.

 

Ngủ rồi tieunhulai

  • Ôn thám hoa
  • ******
  • Bài viết: 1,650
  • Đánh giá: +2/-0
  • Lệ bất hư phát
Re: Bùi Kỷ
« Trả lời #8 vào: 27/09/2010, 16:36:44 »
Hồi đó người miền Bắc có câu "Văn như Bùi Kỷ, võ như Hàn Bái" thì phải.
Tại Chức điện đại học sĩ.
 

Ngủ rồi thino

Re: Bùi Kỷ
« Trả lời #9 vào: 19/04/2013, 20:08:59 »
Kỷ nguyên mới