Tác giả Chủ đề: Bát-nhã Tâm kinh: Xuất xứ từ đâu?  (Đã xem 526 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi Thép Đã Tôi Thế Đấy

Bát-nhã Tâm kinh: Xuất xứ từ đâu?
« vào: 11/04/2017, 19:41:48 »
Bát-nhã Tâm kinh: Xuất xứ từ đâu?
Giáo sư Phật học Jan Nattier -- khoa Tôn giáo học, Đại học Indiana (Department of Religious Studies, Indiana University Bloomington), Hoa Kỳ -- có một bài biên khảo rất công phu về nguồn gốc Bát-nhã Tâm kinh:

    Jan Nattier. 1992. The Heart Sūtra: a Chinese apocryphal text? Journal of the International Association of Buddhist Studies. Vol. 15 (2), p.153-223.


Theo bà Nattier, Tâm kinh có lẽ được viết ra bằng Hán văn tại Trung Quốc, vào thế kỷ 7 TL, dựa theo các kinh liệu Phạn ngữ và các kinh liệu mới khác. Sau đó, bản Tâm kinh (Hán văn) nầy được dịch ngược trở lại sang tiếng Phạn.

Tải về để đọc toàn văn bài biên khảo (Anh ngữ): Nattier_Heart_Sutra.pdf (4.8 Mb)

*

Trích Wikipedia (http://en.wikipedia.org/wiki/Heart_Sutra):

... based on textual patterns in the Sanskrit and Chinese versions of the Heart Sūtra and the Mahaprajnaparamita Sutra, scholar Jan Nattier has suggested that the earliest (shortest) version of the Heart Sūtra was probably first composed in China in the Chinese language from a mixture of Indian-derived material and new composition, and that this assemblage was later translated into Sanskrit (or back-translated, in the case of most of the sūtra).

She argues that the majority of the text was redacted from the Larger Sutra on the Perfection of Wisdom, which had originated with a Sanskrit Indian original, but that the "framing" passages (the introduction and concluding passages) were new compositions in Chinese by a Chinese author, and that the text was intended as a dharani rather than a sūtra. The Chinese version of the core (i.e. the short version) of the Heart Sūtra matches a passage from the Large Sutra almost exactly, character by character; but the corresponding Sanskrit texts, while agreeing in meaning, differ in virtually every word.

Furthermore, Nattier argues that there is no evidence (such as a commentary would be) of a Sanskrit version before the 8th century CE, and she dates the first evidence (in the form of commentaries by Xuanzang's disciples Kuiji and Wonch'uk, and Dunhuang manuscripts) of Chinese versions to the 7th century CE. She considers attributions to earlier dates "extremely problematic". In any case, the corroborating evidence supports a Chinese version at least a century before a Sanskrit version...

Niêm hoa vi tiếu: Một giai thoại thiền
*
Niêm hoa vi tiếu (拈花微笑 - j: nenge-mishō - nghĩa tiếng Việt: cầm hoa mỉm cười) - rút gọn từ câu "Thế tôn niêm hoa, Ca-diếp vi tiếu" -  là một giai thoại thiền, ghi lại sự kiện trên núi Linh Thứu (Gṛdhrakūṭa) trước mặt đông đảo đại chúng, Đức Thế Tôn không tuyên thuyết pháp thoại như mọi ngày, mà lặng lẽ đưa lên một cành hoa. Đại chúng ngơ ngác chẳng ai hiểu gì, duy chỉ có đại trưởng lão Ma-ha Ca-diếp (Mahākāśyapa) mỉm cười. Đức Phật tuyên bố với các thầy tỳ khưu: “Ta có chánh pháp vô thượng trao cho Ma-ha Ca-diếp. Ca-diếp là chỗ nương tựa lớn cho các thầy tỳ khưu, cũng như Như Lai là chỗ nương tựa cho tất cả chúng sinh”.

Câu chuyện trên chỉ thấy ghi trong Tục tạng Trung Hoa, không thấy ghi trong Chánh tạng Nam truyền lẫn Bắc truyền.
 
Đây chỉ là một huyền sử của Phật giáo Trung Hoa. Theo ông Dumoulin (Zen Buddhism: A History, 2005), giai thoại này đầu tiên được ghi trong quyển Thiên thánh quảng đăng lục (天聖廣燈錄 - T’ien-sheng k’uan-t’eng lu, Tiansheng guangdeng lu) do cư sĩ Lí Tuân Úc (李遵勗 - Li Zunxu) của tông Lâm Tế, đời Tống, biên tập năm 1036.

Về sau, ngài Hối Ông Ngộ Minh (晦翁悟明 - Huiweng Wuming) ghi thêm chi tiết trong quyển Liên đăng hội yếu (聯燈會要 - Liandeng huiyao) vào năm 1183. Quyển này ghi lại hệ thống truyền thừa của Thiền tông, từ 7 vị Phật quá khứ, Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, 28 vị tổ Ấn Độ, truyền đến 6 vị tổ Trung Hoa, và khoảng 600 vị thiền sư Trung Hoa khác.

NGUỒN: http://phatphapchanthat.blogspot.com/2011/07/xuat-xu-tu-au.html#more
 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Bát-nhã Tâm kinh: Xuất xứ từ đâu?
« Trả lời #1 vào: 12/04/2017, 09:19:57 »
Các tổ sư Phật giáo sau này đã có rất nhiều sáng tạo để giải thích giáo lý đức Phật, tuy nhiên để tăng them phần uy tín cho những gì họ sáng tạo thì các kinh điển được gán cho đức Phật là tác giả.

Nếu nói rằng là ngụy tạo thì cũng không hẳn đúng, vì hầu như tất cả sự sáng tạo đều được triển khai trên nền tảng của kinh tạng Pali do đức Phật thuyết giảng thời kì đầu

Học thuyết Tánh Không (Súnyatà) của ngài  Đại thừa là sự triển khai của học thuyết duyên khởi (paṭiccasamuppāda) của đức Phật. Vạn pháp sinh diệt theo điều kiện, cái này lệ thuộc vào cái kia, nó không có tự tính riêng biệt, nên mới nói là tánh Không.

Trung Quán Luận, phẩm 24, đoạn 18 viết :

" Chúng nhân duyên sanh pháp
Ngã thuyết tức thị Không.
Diệc vi thị giả danh
Diệc thị Trung đạo nghĩa "

( Pháp do các nhân duyên sinh
Ta nói tức là Không
Cũng gọi là Giả danh
Cũng là nghĩa Trung đạo

Hệ tư tưởng Bát Nhã (panna) cũng thoát thai từ tư tưởng Không. Kinh Bát Nhã của Phật giáo Đại thừa cho rằng ‘tất cả pháp đều là không’. Đây là tư tưởng cốt yếu của hệ tư tưởng Bát Nhã được ghi nhận trong “ Bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh”:

“Ngài Bồ Tát Quán Tự Tại khi thực hành thâm sâu về trí tuệ Bát Nhã Ba la mật, thì soi thấy năm uẩn đều là không, do đó vượt qua mọi khổ đau ách nạn. Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt. Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức..."

Như thế, thông điệp về bản thể luận của Bát Nhã Ba la Mật kinh là sự mở rộng của giáo lý phi ngã (annata), nó tương tự và không thay đổi về bản chất; do đó, không có sự hiện hữu thực cho tất cả các pháp một cách không ngoại lệ.

Khái niệm Tánh Không của Long thọ (Nagarjuna) chỉ là sự vắng bóng của tự tánh trong các pháp , và bất cứ ai cũng có thể hiểu được tánh không khi phân tích các pháp bằng học thuyết Duyên khởi, trong khi đó trong hệ Bát nhã thì phải là một vị bồ tát thực hành quán thâm sâu về bát Nhã mới có thể hiểu được tánh không, đó là sự khác biệt nhưng về bản chất là cùng truyền tải cùng một thông điệp.

Và nguyên nhân ra đời của Tánh Không hay hệ tư tưởng Bát Nhã là muốn phản bác tư tưởng ‘ Hữu” của Hữu bộ (sarvastivada) . Nói cách khác, mục đích của Phật giáo Đại thừa, của hệ Bát nhã là phê phán tư tưởng Hữu (sarvam asti)  của Hữu bộ. Tánh Không có tầm quan trọng và là một sáng tạo sâu sắc của giáo lý Đại thừa.

Hai cách triển khai trên đều xuất phát từ tư tưởng của đức Phật nêu trong kinh Tiểu Không (Cùlasunnata sutta ) và Đại Không (Mahàsunnata Sutta ) thuộc  Trung bộ Majjhima Nikaya 121/122).

Như vậy, sự triển khai của Đại thừa sẽ giúp cho người học Phật hiểu sâu hơn vấn đề, và dễ dàng tu tập. Cũng không nên công kích cho rằng tất cả Kinh Đại thừa đều là ngụy tạo. Cái cần  ở đây là theo ý mà quên lời, để thực hành sẽ tốt hơn cho người học Phật.

Mục đích học Phật là gì, và cái gì quan trọng, cái gì thứ yếu thì tùy theo sự đánh giá của từng người, đừng quá nặng nề vào lý thuyết, hay để đầu óc thanh than sẽ dễ tiếp thu chân lý hơn.
 
The following users thanked this post: phatpham
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta