Diễn đàn sách xưa | Bảo tồn văn hóa Việt

KIẾN THỨC => Bàn tròn văn học, lịch sử, văn hóa => Tác giả chủ đề:: hoangnguyen vào 14/07/2010, 13:22:11

Tiêu đề: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 14/07/2010, 13:22:11
I. Lý do chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, tín ngưỡng gồm cả các tôn giáo thế giới (quốc tế) được du nhập và các tôn giáo bản địa ra đời do một số điều kiện chính trị xã hội nhất định, các tôn giáo bản địa gồm Bửu Sơn Kì Hương, Tứ ân Hiếu nghĩa, Cao Đài, Hòa Hảo….đã góp phần không nhỏ trong việc đấu tranh chống Pháp. Nó cũng đóng vai trò nhất định trong lịch sử của dân tộc ta, nên việc phân tích những nguyên nhân xuất hiện của các tôn giáo này là một điều cần thiết cho những ai muốn nghiên cứu về tôn giáo có mặt Việt Nam nói chung và tôn giáo bản địa nói riêng.

II. Khái niệm tôn giáo
1.   Tôn giáo là gì?
Tôn giáo, thường được định nghĩa là niềm tin vào những cái gì được coi là siêu nhiên, thiêng liêng hay thần thánh cũng như những đạo lý, lễ nghi và tổ chức liên quan đến niềm tin đó.
Như vậy, nói đến “tôn giáo” là nói đến tín ngưỡng, giáo hội, giáo quyền, thần quyền, lễ nghi và thần khải…., và trong nghĩa tổng quát nhất, có thể định nghĩa tôn giáo là kết quả của tất cả các câu trả lời để giải thích nguồn gốc, quan hệ giữa con người và vũ trụ; những câu hỏi về mục đích, ý nghĩa cuối cùng của sự tồn tại. Chính vì thế, tư tưởng tôn giáo thường mang tính triết học, và trong buổi đầu phát triển của tôn giáo thường sẽ có các nhà tư tưởng uyên bác, nhà tiên tri xuất hiện với vai trò giải thích các câu hỏi siêu hình như đã nêu trên, và các vị này thường là các vị giáo chủ ban đầu của Tôn giáo. Khi tôn giáo phát triển đến một mức độ nào đó, sẽ đòi hỏi có một tổ chức, một lực lượng tu sĩ có nhiệm vụ phân phối hay rao giảng những tư tưởng triết lý, thần học đến các tín đồ của mình.

Tôn giáo xuất phát từ niềm tin, tín ngưỡng của con người trong sự bế tắc vào việc giải thích nguồn gốc của vũ trụ, nhưng tín ngưỡng chỉ là giai đoạn phát triển ban đầu, chưa có tổ chức điều hành, hệ thống giáo lý, kinh điển và nơi thờ cúng cụ thể riêng biệt và nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc, như vậy có thể nói rằng tín ngưỡng, nếu phát triển đến một mức độ nào thì có thể sẽ trở thành tôn giáo.

2.   Điều kiện chung nhất cho sự ra đời của tôn giáo
Tôn giáo ra đời từ rất lâu, có thể nói là từ buổi sơ khai của con người, nó bắt nguồn từ  khoảng cách giữa tri thức của con người với bản chất của vũ trụ và hiện tượng, con người không thể hiểu được sự huyền nhiệm của vũ trụ vạn vật, và lí do về sự có mặt của mình trên trần gian nên mới tạo ra Thần Thánh và gán cho Thần Thánh một chức năng sáng tạo, và họ đã thờ phượng đấng Thần thánh này và nhờ họ che chở, từ đó tín ngưỡng, niềm tin đã bắt đầu hình thành trong đời sống của con người.
Trong xã hội thuở ban sơ, có những triết gia thích suy tư, thích tìm hiểu về vũ trụ vạn vật, cùng với sự chiêm niệm và  qua quá trình tu luyện của bản thân họ lí giải được một số hiện tượng và đã trở thành những nhà tiên tri và giáo chủ đầu tiên của tôn giáo.
Trong quá trình phát triển của việc truyền giáo, thì đội ngũ đệ tử của những nhà tiên tri sẽ được tuyển mộ để thực hiện chức năng truyền bá giáo lý của giáo chủ, đền thờ được xây dựng để thực hiện các lễ nghi tôn giáo.
Tóm lại có 3 yếu tố chính dẫn đến sự xuất hiện của tôn giáo:
1.   Tín ngưỡng của con người vào đấng thần linh
2.   Các nhà tiên tri (giáo chủ)
3.   Lực lượng thầy tu làm nhiệm vụ phân phối (rao giảng) giáo lý của các giáo chủ, lực lượng này sẽ tu chỉnh kinh điển, thiết lập nghi lễ, xây dựng nơi thực hành lễ nghi tôn giáo

III. Tôn giáo bản địa Việt Nam
Việt Nam xuất hiện nhiều tôn giáo bản địa, nhưng chỉ có bốn tôn giáo chính gây ảnh hưởng nhiều nhất với dân tộc và lịch sử  mà người viết sẽ đề cập một cách tổng quát như sau:

1.   Bửu Sơn Kì Hương
1.1 Người sáng lập
Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương (BSKH) là tôn giáo đầu tiên ra đời ở Việt Nam. Người sáng lập là Đoàn Văn Huyên, pháp hiệu là Minh Huyên và Pháp Tạng (1807 – 1856), người làng Tòng Sơn, Sa Đéc (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp).
Danh từ Bửu Sơn Kỳ Hương này được truyền ra là từ khi ông về ở Núi Sam. Cứ mỗi lần ông thâu nhận một người nào qui y thọ giáo thì ông có phát cho một cái lòng phái * có bốn chữ Bửu- Sơn Kỳ- Hương bằng son in trên giấy vàng. Ông có bài thơ rằng:
 “Bửu ngọc quân minh thiên Việt nguyên, Sơn trung sư mạng địa Nam tiền , Kỳ niên trạng tái tân  phục quốc, Hương xuất trình sanh tạo nghiệp yên.”
1.2 Thời gian khai đạo
Năm 1849, bệnh dịch hoành hành nhiều nơi ở đồng bằng sông Cửu Long, khiến nhiều người chết. Đoàn Minh Huyên dùng hoa, nước lã, bao nhang, giấy vàng bạc… chữa lành cho nhiều người. Đồng thời, ông lập ra đạo BSKH bằng cách đơn giản hóa đạo Phật – cả về giáo lý cũng như về nghi thức – như khuyên mọi người tu nhân, học Phật (rèn luyện để làm người tốt, thực hành lời Phật dạy) và đền đáp tứ đại trọng ân (bốn ơn lớn: ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn tam bảo và ơn đồng bào nhân loại).
1.3 Giáo lý
Ông không yêu cầu tín đồ cạo đầu, ăn chay, tụng kinh, gõ mõ, thờ ảnh tượng… mà chỉ yêu cầu họ niệm danh hiệu Phật A Di Đà, thờ trần điều (tấm vải màu đỏ), cúng bông hoa, nhang đèn, nước lã, mặc áo quần màu đen, có thể để râu, tóc, cưới vợ, lấy chồng. Ông khuyên tín đồ khẩn đất hoang, lập trại ruộng, xây dựng cuộc sống mới.
1.4 Địa điểm
 Người theo đạo ngày càng đông, tôn ông là Phật Thầy Tân An (vì ông tu tại chùa Tân An ở núi Sam, An Giang). Đây cũng là địa điểm hoạt động của BSKH.
Giáo phái BSKH là một tôn giáo nhập thế, một tôn giáo yêu nước có ảnh hưởng lớn đến lịch sử chính trị và tôn giáo tại Nam Kỳ từ giữa thế kỷ 19. Hậu thân của giáo phái này là các giáo phái Phật giáo Hòa Hảo, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa.

2.   Tứ Ân Hiếu Nghĩa
2.1 Người sáng lập
Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, còn có tên là Đạo Lành, gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa, do Ngô Lợi (thường được tín đồ gọi là Đức Bổn Sư) sáng lập. Buổi đầu, đạo là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp, nhưng sau khi vua Hàm Nghi bị đày, Ngô Lợi mất, phong trào tan rã chỉ còn lại những hoạt động tín ngưỡng.
2.2 Thời gian khai đạo
Đạo được sáng lập bởi Đức Bổn sư  Ngô Lợi vào năm 1867 tại Ba Chúc, huyện Tri Tôn , tỉnh An Giang
2.3 Giáo lý
Cũng như Phật Thầy Tây An (người sáng lập ra Bửu Sơn Kỳ Hương), Ngô Lợi chú trọng phát triển Phật giáo theo hình thức "cư sĩ", nghĩa là tín đồ không cần "ly gia cắt ái" hay "đầu tròn áo vuông", tín đồ mặc áo vạt hò, quần lá nem, bới tóc hoặc để xõa tự nhiên và tu đâu cũng được... Ít quan tâm đến giáo lý mà chú tâm nhiều đến việc thờ cúng, bố thí và lấy việc "Học Phật - Tu Nhân" làm nền tảng cho sự hành đạo.
Tu Nhân: được thể hiện qua việc kính thờ và phụng sự tứ ân:
Tứ trọng ân bao gồm: ân tổ tiên, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào và nhân loại.
Ngoài việc kính thờ trên, người tín đồ còn phải hành xử việc "Hiếu" (hiếu thảo với ông bà tổ tiên) và việc "Nghĩa" (nghĩa vụ với đất nước, đồng bào và nhân loại).
Học Phật:
Là học những điều Phật giáo hóa chúng sanh, thành tâm phụng thờ và trì niệm Phật để cầu được giảm “tội, nghiệp”, được cứu độ và giải thoát.
Mặc dù phát triển từ nền tảng của tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương, nhưng đạo Hiếu Nghĩa, ngoài Phật giáo còn chịu ảnh hưởng của các tôn giáo khác nữa như Nho (quan niệm tu nhân), và Lão (luyện tinh khí thần).
2.4 Địa điểm
Chùa Phi Lai tại An Giang, được xây từ năm 1872 được coi như là thánh thất của đạo Hiếu Nghĩa. Hơn 140 năm hình thành và phát triển, đạo Hiếu Nghĩa đã qui tụ gần 80.000 tín đồ, sống rải rác ở nhiều tỉnh, thành thuộc Nam Bộ, nhưng nhiều nhất là ở huyện Tri Tôn. Đây là đạo thuần túy nội sinh, tín đồ đa phần là nông dân.

3.Phật giáo Hòa Hảo
3.1 Người Sáng lập
Người sáng lập ra Phật giáo Hòa Hảo là ông Huỳnh Phú Sổ (1920 – 1947).
Huỳnh Phú Sổ là con một gia đình địa chủ ở làng Hòa Hảo. Hồi nhỏ ông đi học và tốt nghiệp tiểu học, song do sức khỏe yếu nên ông phải bỏ học. Trong Quá trình chữa bệnh ông học được nhiều bài học thuốc nam. Sau đó ông nghiên cứu tư tưởng môn phái Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật Thầy Tây An. Ông tự xưng là bậc “sinh như tri” biết được nhiều việc của quá khứ và tương lai, xuống trần với nhiệm vụ truyền bá tư tưởng Bửu Sơn Kỳ Hương để “chấn hưng Phật giáo, cứu độ chúng sinh khỏi sông mê, bể khổ về chốn Tây phương cực lạc”.
3.2 Thời gian khai đạo
Phật giáo Hòa Hảo được giáo chủ Huỳnh Phú Sổ sáng lập vào tháng 7 năm 1939 tại làng Hòa Hảo, Châu Đốc, An Giang
3.3 Giáo lý
Giáo lý của đạo Hòa Hảo được thể hiện trong các bài sấm kệ do ông Huỳnh Phú Sổ soạn thảo trên cơ sở tiếp thu và nâng cao tư tưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương của Phật Thầy Tây An, đồng thời chịu ảnh hưởng của xu hướng nhập thế của phong trào chấn hưng Phật giáo, của quan điểm đạo đức Nho giáo, Lão giáo. Nội dung giáo lý gồm hai phần: Học Phật và Tu nhân.
- Phần Học Phật: chủ yếu dựa vào giáo lý Phật giáo nhưng được giản lược bớt và có sửa đổi đôi chỗ, có 3 pháp môn chính là Ác pháp, Chân pháp và Thiện pháp
- Phần Tu nhân: Phần thực hành đạo đức “Tứ ân hiếu nghĩa” để tu thân. Đó là thực hành ân tổ tiên cha mẹ, ân đất nước, ân tam bảo, ân đồng bào và nhân loại.
3.4 Địa điểm
Nơi hình thành của tôn giáo này là tại làng Hòa Hảo, xã Phú Mỹ, huyện Phú Tân tỉnh An Giang và phát triển chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long.
3.5 Quá trình phát triển của Phật giáo Hòa Hảo
- Ra đời năm 1939 nhưng qua đến năm 1940 số tín đồ của Phật giáo Hòa Hảo có đến vài trăm ngàn người. Năm 1941, thực dân Pháp sợ Huỳnh Phú Sổ theo Nhật nên đã câu thúc ông tại Châu đốc rồi Cần Thơ, Bạc Liêu. Năm 1942, Nhật mua chuộc, lôi kéo đạo Hòa Hảo và đưa ông về Sài Gòn. Năm 1945, Huỳnh Phú Sổ được mời tham gia Ủy ban kháng chiến Nam Bộ với tư cách là đại diện cho đồng bào Phật giáo Hòa Hảo.
- Năm 1946, những người lãnh đạo Hòa Hảo thành lập tổ chức “Việt Nam dân chủ xã hội đảng” gọi tắt là đảng Dân xã. Đây là một tổ chức chính trị. Cùng lúc, lực lượng vũ trang riêng của Phật giáo Hòa Hảo được thành lập lấy tên là bộ đội Nguyễn Trung Trực với một lực lượng gồm 7 chi đội vũ trang với khoảng 20.000 binh sĩ và 300.000 đội viên bảo an quân. Năm 1947, sau khi Huỳnh Phú Sổ chết, lực lượng vũ trang Hòa Hảo chia rẽ, mỗi nhóm cát cứ một vùng.
- Đến năm 1954, tổng số tín đồ Phật giáo Hòa Hảo khoảng trên 1 triệu người.
- Năm 1955, cuộc chiến tranh giữa các giáo phái ở miền Nam (Cao đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên) xảy ra do sự xúi bẩy và chia rẽ của Mỹ – Diệm, lực lượng vũ trang của đạo Hòa Hảo tan rã, đa số sát nhập vào quân đội ngụy. Từ năm 1964, Phật giáo Hòa Hảo được Mỹ – Nguỵ hỗ trợ nên đạo Hòa Hảo phát triển nhanh. Đến năm 1975 tổng số tín đồ có khoảng hơn 2 triệu người

4.Đạo Cao Đài
4.1 Người sáng lập
- Đạo Cao Đài là tên gọi tắt của một tôn giáo bản địa Việt Nam, có tên đầy đủ là “Đại đạo Tam kỳ Phổ độ”. Cao đài được đông đảo quần chúng đón nhận do một số người thuộc tầng lớp trên (tư sản, địa chủ, tiểu tư sản), công chức chủ trương, ban đầu nó vốn là một trào lưu chính trị với mục đích thành lập đạo để tập hợp lực lượng quần chúng mà chủ yếu là nông dân chống lại sự kỳ thị, bóc lột, chèn ép của thực dân Pháp. Song sau đó trào lưu này đã nhanh chóng trở thành một tôn giáo lớn tại Nam bộ cho đến tận ngày nay.
- Sự ra đời của đạo Cao Đài gắn liền với tên tuổi của một số nhân vật sau đây:
+ Ông Ngô Minh Chiêu:
Ngô Minh Chiêu sinh năm 1879 tại chợ Bình Tây, Chợ Lớn Sài Gòn. Ông học giỏi, là thư ký của Sở di trú tại Sài gòn rồi tri phủ Phú Quốc. Ông ham mê truyện thần tiên và cầu cơ, tiếp thu “Thông linh học”. Khi đạo Cao Đài chính thức ra đời, ông nhường quyền lãnh đạo cho ông Lê Văn Trung rồi trở về Cần Thơ tu luyện và hình thành phái Cao Đài Chiếu Minh đàn (là biến âm của tên ông). Ông mất năm 1932.
+ Ông Lê Văn Trung:
Lê Văn Trung sinh năm 1875 tại Chợ Lớn, Sài gòn. Năm 1893 tốt nghiệp trường trung học và được bổ làm văn phòng thống đốc Nam kỳ, sau đó chuyển sang làm thầu khoán và được bầu làm nghị sĩ, tham gia hội đồng tư vấn phủ Thống đốc. Năm 1920, ông bị thua lỗ trong kinh doanh và bị phá sản, ông quay sang hoạt động tôn giáo. Nhờ sự thông minh, tài ngoại giao và tài tổ chức, ông đã nhanh chóng tiếp thu sứ mệnh khai đạo của ông Ngô Minh Chiêu và trở thành Giáo tông đứng đầu “Cửu trùng đài” – cơ quan hành pháp của đạo Cao Đài. Ông mất năm 1941.
+ Ông Phạm Công Tắc:
Phạm Công Tắc sinh năm 1893 tại Tân An. Ông bắt đầu làm công chức ngành thuế từ năm 1940. Sau do bị chèn ép nên ông bỏ nhiệm sở chuyển sang hoạt động đạo Cao Đài với chức Hộ pháp, đứng đầu Hiệp Thiên đài – cơ quan lập pháp của đạo này. Sau khi ông Lê Văn Trung chết, Phạm Công Tắc trở thành lãnh tụ tối cao nắm cả hai cơ quan Hành pháp và Lập pháp và cũng từ đó mâu thuẫn trong nội bộ đạo Cao Đài nổ ra và chia rẽ thành nhiều hệ phái.
4.2 Thời gian ra đời
Đạo Cao Đài ra đời vào đêm Noel năm 1925 trong bối cảnh cách mạng nước ta đang bị khủng hoảng về đường lối và lực lượng lãnh đạo, còn chính sách cai trị thực dân Pháp đang đẩy nông dân Nam Bộ vào con đường cùng không lối thoát, trong khi các tôn giáo khác dần dần bị mất uy tín. Đạo được thống đốc Nam Kỳ chính thức đồng ý bằng văn bản vào tháng 10 năm 1926.
4.3 Giáo lý cơ bản của đạo Cao Đài
- Nội dung giáo lý của đạo Cao Đài cơ bản là sự kết hợp các giáo lý của các tôn giáo  Phật, Lão, Nho.
Đạo còn là hệ quả trực tiếp và điển hình của tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên” (Phật – Lão – Nho), là sự hòa nhập giữa trào lưu “Thần linh học” – một hình thức mê tín của dân phương Tây với tục cầu hồn, cầu tiên của người Việt trong những năm 1924 – 1926, đã tạo nên phong trào cầu cơ – chấp bút (gọi tắt là cơ bút), khá sôi nổi ở vùng Nam Bộ.
- Đạo Cao đài có chủ trương “Qui nguyên tam giáo” (Phật – Lão – Nho, đây có thể coi là nền tảng tư tưởng của đạo, đạo Cao Đài hợp nhất ba tư tưởng lớn của ba đạo (từ bi của đạo Phật, bác ái của Đạo giáo, công bằng của đạo Nho) và có ý đồ “hợp nhất ngũ chi” – thống nhất 5 ngành đạo (nhân đạo – Khổng tử, thần đạo – Khương Thái Công, thánh đạo – Giê su, tiên đạo – Lão Tử, Phật đạo - Thích ca Mâu ni) và đấy là trung tâm giáo lý của đạo. Từ đó đạo Cao Đài bộc lộ ý đồ là “tôn giáo của tôn giáo” và làm cho giáo lý mang tính dung hợp rất phức tạp.
- Giáo lý của đạo Cao Đài đặc biệt quan tâm và đề cao tính thiêng liêng huyền diệu của cơ bút, coi đó là linh hồn của đạo.
+ Ngũ giới cấm (tức 5 điều cấm kỵ): bất sát sinh, bất du đạo, bất tửu nhục, bất tà dâm, bất vọng ngữ.
+ Tứ đại điều quy: 4 điều trau dồi đức hạnh. (Tuân lời dạy bề trên, lấy lẽ hoà người, chớ khoe tài kiêu ngạo, giúp người nên Đạo,đừng vay mượn không trả, đừng kính trước, khinh sau.
- Lễ nghi của đạo Cao Đài khá rườm rà và cầu kỳ cũng là để thể hiện tinh thần tổng hợp tôn giáo.
4.4 Địa điểm
Ban đầu Đạo được thành lập tại chùa Gò Kén (Từ Lâm, Tây Ninh) và năm 1957, thì chính thức xây dựng tòa thánh Cao Đài Long Hoa huyện Hòa Thành, Tây Ninh
4.5 Quá trình phát triển của Đạo Cao Đài
- Khi mới ra đời, đạo Cao Đài là một tổ chức thống nhất với cơ quan đầu não đặt tại Tòa thánh Tây Ninh nhưng sau đó đạo Cao Đài sớm phân hoá thành nhiều hệ phái (trước 1975 có khoảng gần 20 hệ phái, nay còn khoảng trên dưới 10 hệ phái). Quá trình phân hoá về tổ chức là quá trình xa rời nhau về thái độ chính trị của các hệ phái Cao Đài. Một số chức sắc của một số giáo phái Cao Đài mang tư tưởng cơ hội, vọng ngoại, bị các thế lực đế quốc lợi dụng, đi ngược lại lợi ích dân tộc. Còn tuyệt đại đa số tín đồ, số đông chức sắc của nhiều hệ phái có quá trình gắn bó với cách mạng, đóng góp công sức vào hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ của dân tộc.
- Sau năm 1975, các chức sắc và hơn 1 triệu tín đồ các hệ phái chủ yếu tu tại gia. Trong thời kỳ đổi mới, các hệ phái đã sinh hoạt trở lại với sự giúp đỡ của Đảng và Nhà nước. Nhiều hệ phái được thừa nhận tư cách pháp nhân như: Tiên thiên, Minh Chơn đạo, Bạch Y Liên Đài… Các hệ phái tổ chức các đại hội. Qua đó, lòng tin vào chính sách tôn giáo của Đảng được củng cố trong tín đồ. Những nhân tố tích cực của Đạo được khơi dậy, khắc phục một bước tình trạng mất đoàn kết trong chức sắc. Xu thế chung là tín đồ đạo Cao Đài muốn hành đạo thuận lợi trong khuôn khổ luật pháp và làm tròn nghĩa vụ công dân.
IV. Nguyên nhân ra đời
Có thể có các cách lý giải khác nhau về nguyên nhân ra đời các tôn giáo bản địa Nam Bộ. Nhưng có một thực tế là các tôn giáo chỉ ra đời trong xã hội của người Việt Nam Bộ và cũng chỉ giới hạn trong phạm vi đó. Rõ ràng xã hội của người Việt Nam Bộ và bối cảnh của xã hội Nam Bộ vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 là nguyên nhân dẫn đến sự ra đời các tôn giáo ở Nam Bộ, việc đề cập đến bối cảnh Việt nam cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20 sẽ góp phần hiểu rõ lý do của sự xuất hiện tôn giáo bản địa.

1. Bối cảnh Việt nam trong cuối thế kỉ 19

1.1   Tính chất phong kiến của triều đình nhà Nguyễn
Vào đầu thế kỷ 19, được sự giúp đỡ của các thế lực trong và ngoài nước Nguyễn Ánh đã khôi phục được quyền thống trị cho dòng họ Nguyễn trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Do bản chất của chính quyền này là một dòng họ vua quan đầy tham vọng cho nên khi nắm được chính quyền trong cả nước, thì nhà Nguyễn đã tái lập chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu tập quyền dòng họ trên phạm vi cả nước. Quyền hành tập trung trong tay vua tới mức bất kỳ một công việc gì dù lớn nhỏ các quan dưới quyền cũng không được tự ý thi hành nếu không có ý kiến của nhà vua.
Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính cũng thể hiện tính chất nhất quán của triều Nguyễn. Trong lĩnh vực ruộng đất, đường lối chung là sự tái lập và phát triển một cách ưu tiên các loại sở hữu nhà nước và sở hữu làng xã để là cơ sở cho nền kinh tế nhà nước, đồng thời hết sức chú ý đến sự phát triển sở hữu địa chủ trên cơ sở hạn chế sở hữu nhỏ tự canh của nông dân tập thể. Đường lối này không phù hợp với yêu cầu phát triển lịch sử nên không thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế.
Về hệ tư tưởng, hệ thống chính là Nho giáo. Vì hệ tư tưởng Nho giáo tồn tại lâu đời trong xã hội Việt Nam và cùng với việc thờ cúng thần linh, tổ tiên được coi là phương tiện tốt nhất tạo ra mối quan hệ gắn bó giữa triều đình và thần dân. Mọi đề xuất cho việc canh tân đất nước đều không được lắng nghe.
Ngay sau khi vượt qua được bão táp khởi nghĩa nông dân để khôi phục lại quyền thống trị của dòng họ Nguyễn, triều đình Nguyễn đã tỏ rõ sự tận hưởng đắc thắng bằng những hành động xa xỉ đáng lên án.  Còn đối với bọn quan lại, sử sách ghi lại đầy rẫy những dẫn chứng không thể bác bỏ về đời sống xa hoa, trụy lạc, tham ô, của chúng. 
Để bù đắp lại những chi phí khổng lồ cho việc xây dựng kinh thành, lăng tẩm và phục vụ đời sống xa hoa của cả một vương triều và bọn quan lại, không có cách nào khác là huy động sức người và sức của trong nhân dân. Người nông dân phải đóng nhiều loại thuế. Ngoài thuế ruộng đất khá nặng nề họ còn phải đóng thuế đinh và nó trở thành một trong những nguồn thu nhập lớn nhất của nhà nước phong kiến.

1.2 Đời sống khổ cực của những người lao động
Chính sách kinh tế của nhà Nguyễn đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân cùng với các yếu tố khác, góp phần tăng thêm nỗi thống khổ của nhân dân. Người nông dân phải đi lính, đi phu để phục vụ cho đời sống vốn đã rất xa hoa của bọn thống trị. Những người thợ thủ công cũng phải đóng thuế hết sức nặng nề. Họ vừa phải đóng thuế đinh vừa phải nộp thuế sản phẩm.
Đời sống của người nông dân khổ cực còn do thiên tai gây nên. Dịch bệnh xảy ra làm chết người làm hao mòn sức lực, ảnh hưởng đến sản xuất đến các sinh hoạt cộng đồng khác. Đi kèm theo thiên tai, dịch bệnh là nạn đói triền miên cũng gây không ít nỗi thống khổ cho người lao động. Thiên tai, dịch bệnh, nạn đói làm cho đời sống của người nông dân tại các làng quê Việt Nam khổ cực đã xô đẩy hàng hàng nông dân phải rời bỏ quê hương phiêu tán. Giai cấp cơ bản và đông đảo trong xã hội là nông dân.

1.3   Sự phản kháng của nhân dân
 Vấn đề cơ bản của nông dân là ruộng đất - tư liệu sản xuất chính và cũng là nguồn sống chính. Nhưng những nguyện vọng chính đáng của họ không được đáp ứng và do đó có những phản ứng tùy theo cấp độ. Cấp thấp nhất là đòi chia lại ruộng đất. Cấp cao hơn là ly tán, bỏ quê hương ra đi. Cấp cao nhất thể hiện phản ứng gay gắt của nông dân là tham gia các cuộc khởi nghĩa. Tất nhiên các cuộc khởi nghĩa nổ ra do nhiều nguyên nhân khác nhau (như mâu thuẫn quyền lợi giữa các phe phái, sự bần cùng của người dân, sự bất bình đẳng quyền lợi giữa các tộc người...) Nhưng có lẽ nguyên nhân chủ yếu chi phối đến hình thức đấu tranh là do ách áp bức bóc lột của bọn quan lại địa chủ. Các cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi, liên tục với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân. Không cam chịu chết dần chết mòn vì đói rét bệnh tật, các tầng lớp bị trị đã vùng lên tìm lối thoát cho sự sống còn của bản thân mình, cũng tức là đấu tranh cho sự tồn tại của xã hội, của cả dân.

1.4    Cuộc xâm lược của Pháp và những hậu quả của nó
Chính sách bế quan tỏa cảng và chính sách sát đạo đã tạo cho thực dân phương Tây cái cớ để chúng thực hiện âm mưu xâm lược nước ta. Ngày 31-5-1858 thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc xâm lược. Chúng muốn chiếm Đà Nẵng để làm bàn đạp tấn công Huế. Nhưng chúng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của nhân dân và quan quân của nhà Nguyễn trước họa mất nước. Sau đó, chúng chuyển hướng tấn công Gia Định, vốn là chỗ dựa của Nguyễn Ánh trước đây với mục đích là giành một địa bàn quan trọng và thuận lợi cho việc hành binh và lưu thông thương mại đồng thời để gây sức ép với triều đình Huế qua việc cắt đứt con đường vận chuyển lương thực từ miền Nam ra các tỉnh miền Trung và miền Bắc, để rồi từ đó Pháp sẽ có điều kiện phát triển chiến tranh sang Campuchia, Lào rồi tiến lên vùng biên giới giữa Lào và Trung Quốc. Để thực hiện dã tâm đó vào tháng 2 năm 1859, Pháp chuyển quân từ Đà Nẵng và tiến dần lên Sài Gòn. Ngày 10 tháng 2 năm 1859 chúng đánh chiếm những đồn nhỏ trên đường tiến vào Sài Gòn. Mặc dù gặp sức kháng cự nhưng cuối cùng chúng cũng chiếm được và tiến đánh Gia Định. Thành Gia Định với mức độ khá quy mô và kiên cố vào thời bấy giờ cũng không thể bảo vệ được trước sức tấn công của thực dân Pháp. Để rồi sau khi chiếm được thành Gia Định thực dân Pháp tiếp tục mở rộng lấn chiếm các tỉnh khác như Định Tường (Mỹ Tho), Biên Hòa. Hiệp ước Nhâm Tuất (1862) đã thừa nhận ba tỉnh miền Đông Nam Bộ và Côn Đảo thuộc Pháp. Trong khi triều đình nhà Nguyễn từng bước nhượng bộ (vì quyền lợi của dòng họ) thực dân Pháp, nhân dân ta ở các tỉnh bị Pháp chiếm vẫn tiếp tục đấu tranh. Đó là những cuộc kháng chiến đầu tiên và còn tiếp diễn mãi. Đến năm 1867, chỉ trong vòng một tuần thực dân Pháp chiếm các tỉnh Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Đến đây kết thúc giai đoạn đầu trong kế hoạch chung xâm lược nước ta của thực dân Pháp. Và cũng từ đây bắt đầu một giai đoạn mới trong lịch sử nước ta. Mặc dù vua quan nhà Nguyễn từng bước nhượng bộ nhưng nhân dân ta với lòng yêu nước không cam tâm nhìn cảnh đất nước bị ngoại bang thống trị vẫn đấu tranh kiên cường. Tôn giáo bản địa ra đời trong tình hình này, hầu hết các tôn giáo bản địa đều chủ trương chịu ơn đất nước và ơn đồng bào nên các đệ tử đều tham gia cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Tóm lại có thể thấy rằng Miền Tây Nam Bộ cuối thế kỷ 19 ở trong một hoàn cảnh chính trị-xã hội đặc biệt, vùng đất hoang dã mới được khai phá trong thời kỳ Nam tiến , dân cư từ khắp nơi đến, loạn lạc, chiến tranh biên giới tàn phá liên tục, mất mùa đói kém xảy ra, dịch bệnh chết chóc hoành hành năm 1849 - 1850 đã làm xáo động xã hội và nhân tâm, chính những điều này đã làm nảy sinh các tôn giáo bản địa nhằm giải thoát nhân dân khỏi ách thống trị của ngoại xâm và sự bóc lột của tầng lớp phong kiến.
Như sự ra đời của Phật giáo Hòa Hảo Hảo gắn với đặc điểm tâm lý, lối sống đạo đức, tính cách, đời sống tín ngưỡng của nông dân Nam Bộ và liên quan đến môi trường kinh tế - xã hội - chính trị ở đây trong khoảng thời gian hai cuộc chiến tranh thế giới.

2. Nguyên nhân ra đời của tôn giáo bản địa

2.1 Vị trí và đặc điểm của miền tây nam bộ
Vùng đất của miền tây nam bộ là 1 vùng đất có núi non và đầm lầy hiểm trở như vùng đất của tỉnh An giang, thực dân Pháp cũng không thể kiểm soát được nên rất thuận lợi để cho tôn giáo bản địa xuất hiện.
Thứ đến, đó là nơi có nhiều tộc người sinh sống. Đây là một trong những vùng đồng bằng duy nhất mà ở đó có bốn tộc người cư trú khác biệt nhau về mọi phương diện. Chưa nói đến là nơi đây đã từng có một số tộc người sinh sống nhưng do những lý do những biến động lịch sử họ đã di chuyển đến nơi khác. Những biến động lịch sử làm cho làn sóng di cư xảy ra liên tục. Quá trình giao lưu văn hóa, và tiếp biến văn hóa  giữa các tộc người tạo nên sự hội tụ của các nền văn hóa. Do vị trí địa lý của mình mà vùng đất này từ lâu đã là nơi giao lưu, hội tụ của các nền văn minh khác nhau, và tôn giáo bản địa khi xuất hiện cũng chịu ảnh hưởng bởi yếu tố này (hỗn dung tôn giáo của Cao Đài là một thí dụ điển hình).
2.2   Không có hệ tư tưởng chủ đạo chi phối
Có một thực tế là những người nông dân Việt vào Nam Bộ khai hoang lập làng (ấp) ”hầu hết là những người nghèo khổ, dốt nát, đủ tinh thần thực tiễn mà thiếu chữ, đủ đức làm dân, làm người mà không thuộc kinh truyện. Xét về cơ bản, nền giáo dục của lớp cư dân vào Nam Bộ khai hoang van nằm trong khuôn khổ của ý thức hệ Nho giáo. Đó là nền tảng giáo dục của xã hội Việt Nam thời bây giờ. Nhưng những di dân lại là những người nghèo khó, những người vì những lý do khác nhau đã phải rời bỏ quê hương, môi trường lao động cực nhọc ở miền đất mới không phải là mảnh đất tốt cho Nho giáo bám rễ sâu. Nho giáo đã du nhập vào Việt Nam khá sớm và đã có ảnh hưởng rất lớn về mọi mặt.  Nhưng một khi chính trị suy vi, Nho giáo cũng mất dần địa vị độc tôn. Khi vào tới Nam Bộ, Nho giáo đã nhạt dần lại tồn tại trong bối cảnh cư dân vốn là những người nghèo khó ít học thì khó lòng có thể xác lập được một chỗ trong xã hội để chi phối và ảnh hưởng như nó đã từng có trong xã hội Việt Nam. Vì vậy, việc xuất hiện một tôn giáo bản địa phù hợp với tâm tư ý nguyện của người dân lúc bấy giờ là một điều tất yếu.
Và có thể thấy, đạo Cao Đài ra đời đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của một bộ phận nhân dân Nam Bộ. Trên thực tế, nó có vai trò cố kết người dân không chỉ về mặt tinh thần mà còn về các mặt kinh tế, xã hội. Vì thế đạo phát triển khá nhanh chóng. Nhu cầu lúc bấy giờ của nhân dân Nam bộ là muốn có một tôn giáo mới phù hợp với tâm trạng của họ và đạo Cao Đài ra đời đã đáp ứng được vấn đề tư tưởng tình cảm và tôn giáo của nông dân nơi đây.

2.3   Điều kiện xã hội của vùng Nam bộ thời đó
Đầu thế kỉ 19 thì thực dân Pháp đã hoàn toàn cai trị Miền Nam, và ở cực điểm của giai đoạn thống trị, Pháp ra sức vơ vét tài nguyên của dân ta để phục vụ cho nhà nước thống trị của nó, điều này làm dân ta vốn đã nghèo còn nghèo thêm, việc vùng lên đấu tranh là 1 điều tất yếu, việc đấu tranh núp dưới chiêu bài tôn giáo là một đặc điểm nổi bật của phong trào đấu tranh thời bấy giờ.
Bên cạnh đó, Pháp cai trị Nam bộ theo thể chế của Mẫu quốc, và cho một số quyền tự do như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng và tôn giáo.. điều này cũng là một điều kiện thuận lợi cho tôn giáo bản địa xuất hiện. Như trong buổi đầu, Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp.

2.4 Lòng yêu nước của nhân dân ta
Nhân dân ta có truyền thống yêu nước nồng nàn, và cũng chính điều này mà tôn giáo nào hô hào phát huy tinh thần yêu nước của dân tộc thì sẽ được nhân dân hưởng ứng một cách nhiệt tình và mãnh liệt.
Như Đạo BSKH nhấn mạnh việc đền ơn đất nước, ơn đồng bào, ơn Tổ tiên, ơn Tam Bảo, ơn đồng loại nên khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhiều tín đồ BSKH tham gia đánh Pháp, biến trại ruộng thành căn cứ kháng chiến (điển hình là cuộc khởi nghĩa ở Bảy Thưa – Láng Linh (An Giang) từ 1867 đến 1873 do Trần Văn Thành lãnh đạo. Theo tiến sĩ Phan Lạc Tuyên, Trương Định và Nguyễn Trung Trực cũng là tín đồ BSKH.

2.5 Vai trò lu mờ của Phật giáo và Thiên chúa giáo thời bấy giờ
Thiên chúa giáo và Phật giáo là 2 tôn giáo lớn được du nhập từ Nước Ngoài vào Việt Nam, nhưng Thiên Chúa giáo do Pháp mang vào nước ta nên ít nhiều cũng có thiện cảm với chế độ thực dân Pháp, nên không thấy xuất hiện sự đấu tranh của tôn giáo này với chủ nghĩa thực dân.
Còn Phật giáo thì bị Pháp phong tỏa kềm chặt, lại không xuất hiện những nhân vật uyên bác và linh hoạt để có thể hướng tín đồ của mình trong công cuộc đấu tranh chống Pháp một cách hợp pháp công khai hay bán công khai, do vậy quần chúng yêu nước, không thể dựa vào hai tôn giáo này và việc hưởng ứng với các tôn giáo bản địa khác cũng là một tất yếu.

V. KẾT LUẬN

Tôn giáo là một hiện tượng xã hội, nó ra đời trong những điều kiện xã hội cụ thể và cũng chính những điều kiện cụ thể đó lại chế định vùng ảnh hưởng của tôn giáo. Điều kiện còn thì thì nó còn, và nó sẽ mất đi khi những điều kiện sinh ra nó không còn tồn tại nữa, sự suy thoái kém phát triển của một số tôn giáo bản địa hiện nay đã minh chứng cho quy luật bất biến này.

Qua bài viết trên có thể kết luận rằng, tinh thần yêu nước và đời sống cực khổ của nhân dân, sự đô hộ vơ vét của giặc Pháp, vị trí , đặc điểm và điều kiện của Nam bộ thời bấy giờ cộng với sự suy tàn của Nho giáo, sự lu mờ của các tôn giáo quốc tế khác ở VN đã làm phát sinh nhanh chóng các tôn giáo bản địa tại Việt Nam thời bấy giờ.

Tài liệu tham khảo

1.   GS TS. Ngô Văn Lệ - Các tôn giáo bản địa và ảnh hưởng của nó đến đời sống văn hóa của người Việt Nam bộ
2.   Nguyên Hùng -Sư thúc Hòa Hảo NXB TH Hậu Giang 1990
3.   Nguyên Hùng –Người Bình Xuyên NXB CAND 2005
4.   Nguyễn Anh Tuấn & Đỗ Minh Hợp Tôn giáo lí luận xưa và nay - NXB TH TP.HCM 2005
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: Giấy gói xôi vào 14/07/2010, 13:35:31
Bài này của bác viết ạ? đã đăng báo chưa hả bác ?
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 14/07/2010, 13:47:21
Tôi nộp cho trường Phật học rồi bác ạ, nhưng chưa đăng báo.
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: nguyenhainamvn vào 14/07/2010, 13:51:49
Em hỏi bác hoangnguyen tẹo, các tôn giáo bản địa VN đầu thế kỷ 20 đều xuất hiện ở Nam Bộ mà không có tôn giáo nào khai sinh ở bắc và trung bộ phải không? và tại sao? :h
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 14/07/2010, 13:56:43
Đúng là ko có tôn giáo nào được khai sinh ở vùng bắc và trung bộ, lí do tóm tắt như sau:

Vùng đất của miền tây nam bộ là 1 vùng đất có núi non và đầm lầy hiểm trở như vùng đất của tỉnh An giang, thực dân Pháp cũng không thể kiểm soát được nên rất thuận lợi để cho tôn giáo bản địa xuất hiện.

Miền Tây Nam Bộ cuối thế kỷ 19 ở trong một hoàn cảnh chính trị-xã hội đặc biệt, vùng đất hoang dã mới được khai phá trong thời kỳ Nam tiến , dân cư từ khắp nơi đến, loạn lạc, chiến tranh biên giới tàn phá liên tục, mất mùa đói kém xảy ra, dịch bệnh chết chóc hoành hành năm 1849 - 1850 đã làm xáo động xã hội và nhân tâm, chính những điều này đã làm nảy sinh các tôn giáo bản địa nhằm giải thoát nhân dân khỏi ách thống trị của ngoại xâm và sự bóc lột của tầng lớp phong kiến.
Đầu thế kỉ 19 thì thực dân Pháp đã hoàn toàn cai trị Miền Nam, và ở cực điểm của giai đoạn thống trị, Pháp ra sức vơ vét tài nguyên của dân ta để phục vụ cho nhà nước thống trị của nó, điều này làm dân ta vốn đã nghèo còn nghèo thêm, việc vùng lên đấu tranh là 1 điều tất yếu, việc đấu tranh núp dưới chiêu bài tôn giáo là một đặc điểm nổi bật của phong trào đấu tranh thời bấy giờ.
Bên cạnh đó, Pháp cai trị Nam bộ theo thể chế của Mẫu quốc, và cho một số quyền tự do như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng và tôn giáo.. điều này cũng là một điều kiện thuận lợi cho tôn giáo bản địa xuất hiện. Như trong buổi đầu, Tứ Ân Hiếu Nghĩa là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp.
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 14/07/2010, 14:25:08
Tín ngưỡng chỉ là niềm tin đơn thuần và chỉ là giai đoạn phát triển ban đầu, chưa có tổ chức điều hành, hệ thống giáo lý, kinh điển và nơi thờ cúng cụ thể riêng biệt và nếu có thì hệ thống đó cũng lẻ tẻ và rời rạc, như vậy có thể nói rằng tín ngưỡng, nếu phát triển đến một mức độ nào thì có thể sẽ trở thành tôn giáo.
Do vậy, tín ngưỡng chỉ là niềm tin ban đầu, nó có thể phát triển thành tôn giáo và cũng có thể không.
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: thoton vào 14/07/2010, 16:20:31
Những nhận định về triều đại nhà Nguyễn trên đây hình như tác giả dựa vào các sách Lịch sử Việt Nam xuất bản trước đây ? Có thể khách quan và khoa học hơn, bác có thể tham khảo thêm cuốn" Hội thảo khoa học :Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong LSVN từ thế kỷ XVI đến TK XIX" , sách gồm 90 tham luận của các nhà nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nước ( Nxb Thế Giới HN ,2008 đã được bác Xôi số hóa cách đây khoảng 1 năm rồi !).
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 14/07/2010, 16:28:07
Đa tạ Tôn tiên sinh chỉ giáo, tôi sẽ nghiên cứu thêm đoạn đó, hèn chi bác Xôi hỏi tôi là đã đăng báo chưa? thực ra mục đích viết bài này của tôi là nộp cho trường Phật học nhằm hoàn tất tín chỉ, nếu tiên sinh có thể trích các đoạn văn liên quan trong hội thảo khoa học bác nêu, đưa vào đây để mọi người cùng học hỏi tham khảo thì tuyệt.

Những nhận định về triều đại nhà Nguyễn trên đây hình như tác giả dựa vào các sách Lịch sử Việt Nam xuất bản trước đây ? Có thể khách quan và khoa học hơn, bác có thể tham khảo thêm cuốn" Hội thảo khoa học :Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong LSVN từ thế kỷ XVI đến TK XIX" , sách gồm 90 tham luận của các nhà nghiên cứu lịch sử trong và ngoài nước ( Nxb Thế Giới HN ,2008 đã được bác Xôi số hóa cách đây khoảng 1 năm rồi !).
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: YV vào 14/07/2010, 20:44:05
bác hoangnguyen cho YV hỏi là tại các tòa thánh Cao Đài đều có hình 3 người đang ký hiệp ước hòa bình cho thế giới gồm : Nguyễn Bỉnh Khiêm,Tôn Trung Sơn và Victor Hugo có đúng không ạ ?  tại sao lại là 3 vị này  ?
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 14/07/2010, 21:13:33
Đúng là như vậy, Cao Đài là 1 tôn giáo tổng hợp của nhiều tôn giáo Á, Âu. Với chủ trương là đại đồng nhân lọai, nên họ mới thờ 3 vị trên:

- Nguyễn Bĩnh Khiêm viết chữ Nho; đại diện cho Đông phương triết học.

- Victor Hugo viết bằng chữ Pháp thuộc giới văn bút tiêu biểu cho trí thức chí đạo; đại diện Tây phương triết học.

Dật Tiên là nhà đại cách mạng đem kiến thức, sách lược Phương Tây về canh tân sự cho Phương Đông làm cuộc cách mạng Tam Dân ở Trung Hoa(1911. Nên tượng cho chân lý. ( kết hợp cả Đông phương và Tây phương ). Ông tiêu biểu cho trí thức

Đạo Cao Đài đưa ba vị trí thức vào cùng một bức tranh bố trí ở Tịnh Tâm Điện là một thể pháp nói lên:

a- Trí thức là gạch nối liền giữa tôn giáo và xã hội ; là cầu nối giữa đạo và đời.
( Phía sau lưng bức tranh là tôn giáo, trước là Đại Đồng Xã) .

b- Có Trí thức mới viết nên giáo án, sử chương hoá giải những điều mà nhân thế đang vướng mắc về nhân sinh quan hay vũ trụ quan góp phần xây dựng xã hội bác ái công bằng.

Lại có quan điểm cho rằng???:

- Theo Thánh-Giáo, nơi cỏi vô hình vốn có một Động Thiêng Liêng gọi là Bạch Vân Động (Loge Blanche). Trước kia, 3 vị cao đồ Bạch Vân Động vâng lịnh giáng thế giúp đời. Một vị thác sanh xuống nước Việt Nam với phàm kiếp Nguyễn Bỉnh Khiêm (tức Trạng Trình). Một vị thác sanh xuống nước Pháp với phàm kiếp Vitor-Hugo và một vị thác sanh xuống nước Trung Hoa với phàm kiếp Tôn Văn hiệu Trung-Sơn.

- Sau khi làm tròn Thiên mạng, 3 vị ấy trở về cỏi Thiêng Liêng, rồi Tam Kỳ Phổ Độ nầy, ba vị lại có phận sự Phổ Độ về mặt vô hình và lãnh sứ mạng lập Hội Thánh Ngoại Giáo tại Kiêm Biên dưới quyền Chưởng Đạo của ĐỨC NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN mà phàm kiếp cuối cùng là Victor Hugo đó vậy. Ba vị nầy thường có giáng cơ dạy đạo. Hiện giờ đệ tử Bạch Vân Động giáng phàm giúp đạo rất đông.

Tôi ko nghiên cứu sâu về đạo Cao Đài lắm, và cũng ko muốn nghiên cúu về 1 tôn giáo mang tính chè thập cẩm, nên cũng nhờ các bác khác trên diễn đàn tiếp tục giải thích cho YV nếu bác ấy chưa thỏa mãn.


   
 

Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: YV vào 14/07/2010, 21:22:24
đa tạ bác hoangnguyen đã luận giải sâu sắc ! YV thấy rất hay nhưng nói thật lòng là chưa thỏa mãn lắm. Đó là câu hỏi mà YV vấp phải khi hành nghề. YV nghe đồn là đạo này ra đời vào lúc Pháp còn đô hộ nên họ chọn một ông Tây làm bình phong thành ra Victor Hugo mới được chọn. Người Pháp khi thăm tòa thánh đều rất ngạc nhiên vì hình như họ không phục Hugo lắm.
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: Dongnat vào 14/07/2010, 21:30:27
Thưa tiến sĩ, trong bối cảnh thực dân Pháp bị hất cẳng ra khỏi Đông Dương, người Pháp có vai trò gì trong việc khai sinh các tôn giáo bản địa nhằm tạo lập một "hậu phương" vững chắc khi quay trở lại tái chiếm Đông Dương hay không?
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 14/07/2010, 21:47:10
Thưa LS em ko rành về chính trị lắm chỉ biết là trong thời kì đó cả Pháp, Nhật, phe Cách mạng ta, Ngô Đình Diệm đều muốn chi phối các tôn giáo bản địa VN. Pháp cũng đã ủng hộ thành lập đạo Cao Đài, phong tướng cho các vị chức sắc của Hòa Hảo như: Trần v Vinh, Trần v Ân, Ng. Thành Phương và Trịnh Minh Thế. Nói chung là Pháp cũng chỉ muốn lợi dụng các tôn giáo bản địa có vũ trang để phục vụ cho quyền lợi cá nhân của phía mình mà thôi.
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: Dongnat vào 14/07/2010, 21:49:50
Vậy ý tiến sĩ là người Pháp chỉ muốn ăn quả chứ không muốn trồng?
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 14/07/2010, 21:56:29
Họ cũng trồng cây đó chứ, nếu ko cấp giấy phép thì tôn giáo bản địa làm sao mà họat động, còn việc phong tướng để lôi kéo các tôn giáo này về phía mình là cũng là 1 công việc trồng cây, LS có ý tưởng gì thì cứ mạnh dạn chỉ giáo thêm, chúng ta học hỏi lẫn nhau chứ ko phải đố vui :)

Thưa LS em ko rành về chính trị lắm chỉ biết là trong thời kì đó cả Pháp, Nhật, phe Cách mạng ta, Ngô Đình Diệm đều muốn chi phối các tôn giáo bản địa VN. Pháp cũng đã ủng hộ thành lập đạo Cao Đài, phong tướng cho các vị chức sắc của Hòa Hảo như: Trần v Vinh, Trần v Ân, Ng. Thành Phương và Trịnh Minh Thế. Nói chung là Pháp cũng chỉ muốn lợi dụng các tôn giáo bản địa có vũ trang để phục vụ cho quyền lợi cá nhân của phía mình mà thôi.
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: Dongnat vào 14/07/2010, 22:10:14
Hihi mình đang phản biện để tiến sĩ chuẩn bị bài vở tốt hơn. Chúc tiến sĩ trình bày tiểu luận đạt điểm cao.
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 14/07/2010, 22:29:27
Đa tạ bác Nát, e từ lớp 1 đến giờ chưa hề nếm mùi thi lại?? nhưng trong tình yêu thì học hòai ko thuộc bài :)
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: ke qua duong vào 15/07/2010, 21:25:26
Than ôi tóc bạc đường xa
Dừng chân đứng lại dăm ba chuyện đời

- Tài liệu tham khảo cho một bài viết (luận án?) cấp tiến sĩ quá sức đơn sơ. Trong bốn tài liệu dẫn chứng thì hai cuốn sách của Nguyên Hùng chỉ có thể xếp vào loại dã sử , chắc chắn không thể là tài liệu lịch sử mang tính chất nghiên cứu.
- Sự khác biệt giữa tôn giáo và giáo phái?
- "Ngày 31-5-1858 thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà nẳng mở đầu cuộc xâm lược". Ngày mồng 1 tháng 9 năm 1858, hai giờ sau khi gởi tối hậu thư buộc phía Việt Nam giao các đồn bót, liên quân Pháp & Tây ban nha đã nổ phát súng đầu tiên lúc 9g45, khởi điểm cho cuộc chiến tranh xâm lăng.
- "Đầu thế kỷ 19 thì thực dân Pháp đã hoàn toàn cai trị Miền Nam": Thì ra Pháp đã cai trị Miền Nam từ thời Gia Long.
- "Người Pháp khi thăm toà thánh đều rất ngạc nhiên vì hình như họ không phục Hugo lắm". Sự ngạc nhiên đúng ra xuất phát từ việc sử dụng các biểu tượng của hội tam điểm. Toà thánh Tây ninh được một linh mục người Pháp - thành viên của hội - thiết kế. Rễ và con gái của PCT là thủ lãnh của nhóm FB3 tích cực đấu tranh chống thực dân Pháp và phát xít Nhật.

Đôi lời mạo muội mong các bác cho hai chữ đại xá.
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: Dongnat vào 15/07/2010, 21:43:18
Có lẽ bài của tiến sĩ Hoàng đã để lại nhiều ấn tượng cho người đọc nên như kẻ qua đường trên đây đã dành bài đầu tiên góp ý với tiến sĩ. Riêng tôi vẫn chưa hài lòng về bài viết của tiến sĩ, nên phản biện tiếp:
1. Các yếu tố để tạo nên một tôn giáo là (1) Đấng Chí tôn, (2) Hệ thống giáo lý, (3) Giáo sĩ, và (4) Cơ sở tôn giáo. Như vậy các "tôn giáo bản địa" đã đủ gọi là tôn giáo chưa?
2. Khi các nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa không còn nữa, tại sao các tôn giáo ấy không lụi tàn?
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 15/07/2010, 22:02:10
@ke qua duong:Cám ơn bạn đã chỉ giáo, nhưng đây chỉ là bài tiểu luận sau khi xong môn tín ngưỡng và tôn giáo VN (thuộc năm thứ 1 cử nhân PH), mà thôi, ko biết bạn lấy thông tin ở đâu mà cho bài viết này là LA TS???

Nếu đây mà là LA TS thì chắc dân VN 80% sẽ là TS :) :)

@bác Dongnat:
1. Ngọai trừ đạo Cao Đài ra, 3 tôn giáo kia vẫn chưa đủ đk gọi là tôn giáo, nhưng ở VN nhiều người vẫn dùng từ tôn giáo để gọi theo thói quen, cũng như PG ko phài là 1 tôn giáo, nhưng người ta vẫn gọi là Đạo Phật ( bác chắc đã đọc bài diễn văn của hòa thượng Thích Minh Châu,mà tôi đã trích đăng rồi).
2. Bửu sơn kì hương, Tứ ân nay ko còn thấy nhắc đến, Hòa Hảo và Cao Đài có phát triển gì đâu? tuy nó ko mất đi nhưng vẫn ko thể phát triển như những ngày đầu mới thành lập>

Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: Dongnat vào 15/07/2010, 22:12:02
Xin trân trọng cám ơn tiến sĩ.
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 15/07/2010, 22:22:00
Xin đa tạ LS Nát đã đặt nhiều câu hỏi cho diễn đàn thêm nhộn nhịp, nếu ko thì buồn chán lắm.
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: Hoàng-Lê vào 16/07/2010, 00:01:32
   

  Xin mạn phép đươợc hỏi chủ topic "Hoangnguyen" chút, chủ topic đã đọc cuốn "Nếp Cũ-Tín Ngưỡng Việt Nam" của Toan Ánh chưa a?

 Trân trọng

 Hoàng-Lê

 
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 16/07/2010, 05:52:25
Tôi chưa đọc bác à, bác có gì chỉ giáo thêm ko ạ?
thực ra môn tín ngưỡng tôn giáo VN chỉ là môn cơ sở, môn phụ mà thôi. Mục đích của tôi là nghiên cứu các môn Phật học, do vậy đã ko đi quá sâu vào các môn cơ sở này. Nếu bác có í kiến gì hay, xin nêu lên diễn đàn để mọi người cùng học hỏi.
Trân trọng

Xin đa tạ LS Nát đã đặt nhiều câu hỏi cho diễn đàn thêm nhộn nhịp, nếu ko thì buồn chán lắm.
Tiêu đề: Re: Nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của các tôn giáo bản địa tại VN đầu TK 20
Gửi bởi: hoangnguyen vào 16/07/2010, 09:18:51
@ke qua duong:

Kính bác, đây mới chính là Thư mục tham khảo của 1 Luận án TS dài khỏang 130 trang giấy A4 ( tôi viết ) và đệ trình, bảo vệ thành công tại USA năm 2007- Vì nó dài quá nên tôi chỉ up phần dàn bài và thư mục tham khảo mà thôi. (Và phần thư mục tham khảo lúc nộp cho trường đã được chỉnh lại theo thứ tự ABC)

INTERNATIONAL CONTAINER PORT DEVELOPMENT FOR VIET NAM
Current situation and Solutions

Table of Contents

Chapter 1 INTRODUCTION   12

1.1 Introduction to the study                                     12

 1.1.1 Introduction                                                 12
 1.1.2 Port overview                                                 13
   1.1.2.1 Port Definition                                      13
   1.1.2.2 Role of the international transshipment port      14
   1.1.2.3 Seaport classification                           15
   1.1.2.4 Port activities                                      15
   1.2.2.5 Development of container transportation      16

 1.1.3 Implication for Ports                                      18
   1.1.3.1 Increased Capital Commitment                 18
   1.1.3.2 Administrative reform                            18
   1.1.3.3 Private Sector Participation                            19
   1.1.3.4 Global Terminal Operators                            20

 1.1.4 Port development impact              20

   1.1.4.1 Social and economic impact   20
   1.1.4.2 Environmental consideration   21
     1.1.4.2.1 Impacts to air environment   22
     1.1.4.2.2 Impacts to water quality   22
     1.1.4.2.3 Impacts due to solid waste   23
     1.1.4.2.4 Impact due to noise and vibration   23
     1.1.4.2.5 Infrastructure consideration   23
     1.1.4.2.6 Legal impact   23

 1.1.5   Role of Maritime Transport in the Economy of Vietnam   24
   1.1.5.1 Seaport – the Decisive Traffic Hub   24
   1.1.5.2 Role of deep and closed to wind water in maritime transportation   24
   1.1.5.3 Correlation between investment and depth of access channel and berth   25
   1.1.5.4 Rule of forming closed-to-winds-and-waves deep water along the coast of Vietnam                                                                                                    26

1.2 Problems to be addressed              28

 1.2.1 Background of the problems   28
 1.2.2 Ground for concerns              29
 1.2.3 Importance of the problems   29
 1.2.4 Major questions to be addressed by the study   29

1.3 Thesis organization and contribution   29

 1.3.1 Thesis structure                                   29
 1.3.2 Scope and limitation of the study   29
 1.3.3 Thesis contribution                         30
    1.3.3.1 Implication of the study              30
    1.3.3.2 Purpose of the study              30

1.4 Abbreviation of terms                         30

Chapter 2 Theoretical framework and Research Methodology   31

2.1 Data collection method and analysis                                        31

  2.1.1 Data collection method   31
  2.1.2 Data analysis              31

2.2 Theoretical framework   32

  2.2.1Theorectical framework   32
  2.2.2 Hypotheses              32
  2.2.3 Questionnaires              33

Chapter 3 International Container trade and Port Environment   34

3.1 Changes in international container Trade                        34

 3.1.1 Continuing growth of World Merchandise Trade Volume   34
 3.1.2 Continuing Container growth                                   34
 3.1.3 Geographical diversification of Container Trade Growth   35

3.2 Container trade growth                                         36

 3.2.1 Global Container Forecast                              36
 3.2.2 Geographical Distribution of Container Volumes         37

3.3 Trade structure                                                    38
 3.3.1 Changing Nature of Global Container Trade         38
 3.3.2 Intra-Asia                                                    39

3.4 Container Port volumes                                          42
 3.4.1 From Container Flows to Port Volumes                     42
 3.4.2 Empty Containers                                          42

3.5 Container berth requirement                               44

Chapter 4 Viet nam Container Trade and Port           48

4.1 Vietnam overview             48
 4.1.1 Economy                        49
  4.1.1.1 Northern Region   50
  4.1.1.2 Central Region   51
  4.1.1.3 Southern Region   53
 4.1.2 Historical development of general cargo and container markets   53
  4.1.2.1 Market share development of container throughput by region (TEU)                                   54
  4.1.2.2 Exports              54
 4.1.3 Key demand drivers    55
  4.1.3.1 GDP growth              55
  4.1.3.2 Impact of WTO membership on cargo volumes   55
  4.1.3.3 Industrial and maritime landscape   56
  4.1.3.4 Port Development Master plan   56
 4.1.4 Container trade growth              59
  4.1.4.1 South Focal Economic Area   59
  4.1.4.2 Location of present and future industrial parks   60
  4.1.4.3 Baria-Vungtau Province   61
  4.1.4.4 Binh Duong Province              63
4.1.5 Current situation of infrastructure in Vietnam   64
  4.1.5.1 Current infrastructure                                   64
  4.1.5.2 Challenges for the Government in Developing Infrastructure                        65
    4.1.5.2.1 Source of funds for infrastructure Development (Vietnam, 1995-2005)   66
    4.1.5.2.2 Challenges                                                                              66
4.2 Port current situation and the necessity to have port development              67
 4.2.1 Port situation                        67
  4.2.1.1 Port Administration             67
  4.2.1.2 Northern Vietnam Ports   69
  4.2.1.3 Central Vietnam Ports   71
  4.2.1.4  Southern Vietnam Ports   71
  4.2.1.5 Container Port throughput   73
    4.2.1.5.1 Vietnam Container Port throughput   73
    4.2.1.5.2 Ho Chi Minh Port                                   74
    4.2.1.5.3 Ho Chi Minh Container throughput              75
    4.2.1.5.4 Hiep Phuoc- An Industrial Park of Ports and warehouses   76
 4.2.1.6 Existing key terminals   77
4.2.2  Cai mep – Thi Vai   77
 4.2.2.1 Comparison of transportation options to inland destination   77
 4.2.2.2 Comment on the effect of trucking restrictions on manufacturing companies   78
 4.2.2.3 Carriers’ views and perspectives on the development of the region              78
 4.2.2.4 Demand forecast for Cai Mep - Thi Vai Region   79
 4.2.2.5 Geology conditions of Thi Vai Cai Mep ( Extract from Geology report by GeoEngineer Inc USA, March 29 2007)   79
   4.2.2.5.1 Surface conditions                80
   4.2.2.5.2 Summary of recomendations for technical method of site preparation                                                        80
4.2.3 Da Nang                        82
 4.2.3.1 Economical geography   82
 4.2.3.2 Economical profile   83
 4.2.3.3 Investment profile   83
 4.2.3.4 Da Nang Port              84
4.2.4 Khanh hoa              84
 4.2.4.1 Economical geography   84
 4.2.4.2 Economical profile   86
 4.2.4.3 Investment profile   86
 4.2.4.4 Dung Quat Port   86
 4.2.4.5 Van Phong Bay   86
 4.2.4.6 Cam ranh bay   87
 4.2.4.7 Vung Ro   87
4.2.5 Quang Ninh   88
 4.2.5.1 Economical geography   88
 4.2.5.2 Economical profile   89
 4.2.5.3 Investment profile   89
 4.2.5.4   Cai Lan Port   90
 4.2.5.5 Cam Pha Port   90
4.2.6  Hai Phong   91
 4.2.6.1 Economical geography   91
 4.2.6.2 Economical profile   91
 4.2.6.3 Investment profile   92
 4.2.6.4 Hai Phong Port   92
4.2.7 Can Tho   92
 4.2.7.1 Economy Geography   92
 4.2.7.2 Economical profile   93
 4.2.7.3 Investment profile   93
 4.2.7.4 Can tho Port   93

4.2.8 Findings                                                                   94
 4.2.8.1 Port congestion mainly in the south of Vietnam                   94
 4.2.8.2 Can tho, Cai Mep Thi Vai – the ideal places to do port development for the  south                                                                                              94
4.2.8.3 Geology and geography conditions for port development         95
4.2.8.4 Quang Ninh , Hai phong , Da nang, Khanh hoa- the suitable places to do port development for the north, and the central of Vietnam                    95
4.2.8.5 Van Phong  should be Vietnam International Transhipment Port     95

Chapter 5 Regulation framework in Viet Nam and Current investment climate     96

5.1 Overview                                   96
 5.1.1 Political Structure overview   96
 5.1.2 Economic Policies Outline   96
5.2 Regulation framework              97
 5.2.1 Investment Policies and Thrust Areas   97
 5.2.2 Regulatory Constraints Assessment   99
 5.2.3 Seaport Building regulation   100
  5.2.3.1 Procedure of submitting seaport application   100
  5.2.3.2 Documents need to be applied   101
5.3 Investment climate survey   102
 5.3.1 The relative Importance of Motivating Factors   103
 5.3.2 A comparison of attracting factors for FDIs   104
 5.3.3 Motivating factors   105
   5.3.3.1 Economic factors for attracting FDI   105
   5.3.3.2 Resource factors for attracting FDI   106
   5.3.3.3 Infrastructure factors for attracting FDI   108

5.4 Findings                          111
5.4.1 Need to have the simplification of current law system   111
5.4.2 Evaluation of FDI attractive in Vietnam   112
5.4.2.1 Infrastructure impact   112
5.4.2.2 Other impact   113

Chapter 6 Conclusion, recommendations and direction for future research   114

6.1 Conclusion and solution recommendation   114
 6.1.1 The necessity to have port development in Vietnam   114
 6.1.2 Port building and Focal areas   115
   6.1.2.1 Northern area   115
   6.1.2.2 Central area   115
   6.1.2.3 Southern area   115
 6.1.3 Infrastructure renovation   116
 6.1.4 Environmental protection   117
   6.1.4.1 Port Waste Management   117
   6.1.4.2 Other Environmental elements Management   121
 6.1.5 Improve the Investment Climate   121
 6.1.6 Improve port management   system   122
 6.1.7 Hypothesis conclusion   123
 6.2   Future research              123

Bibliography & References   124
Bibliography   124
Website references   126
List of figures   127
List of tables   129

Bibliography & References

 Bibliography

1.William M.Trochim (2002) Cornell University       Methods Knowledge Base
2.Uma Sakaran (2005)                                         Research Methods for Business
3.William Zimuno (2003) Oklahoma University         Research Methods for Business - A skill  building Approach
4.Colonel R.B.Oram (2000)                         The Story of our Port
5.Ball Mc Culloch’s  (2000)                International Business
6.Chrishtopher A.Bartlett (2000)             Transnational Management
7.Drewry Shipping Consultant ( 2006)                      Caimep Container Market Study
8.Frost & Sullivan (2007)                                      Vietnam Transportation and logistic-   Challenges and  opportunities
9.Portcoast (2007)                                           Environmental Impact Assessment report for SSIT
10.Vuong Toan Thuyen (2005)                                 Economic for sea transportation
11.Bui LH,Chu HM (2001)               “Vietnam country  Report”
                                                 First Asean GRSP Seminar
12.Brian Van Arkadie and R.Mallon (2003)    “Vietnam: A Atansition Tiger?”
Asia Pacific Press at Australian National University
13.CIEM &UNDP (2004)                                            “History or Policy: Why don’t northern province grow faster”
14.Doan Thi Phin (2005)                                 “Vietnam Transport Development and challenges”, reported at the ODA Evaluation on Aug 10-11
15.GeoEngineer Inc USA (2007)                       Geology condition for  Cai Mep Thi Vai
16. Dr. Dao Dinh Binh (2006)                                 Orientations on Development of Vietnam Transport infrastructure in the years to come and the issue of international economic integration
17. Bristish Marine Industries Federation ( 2005)   Port Waste Management Planning
18. VN Economic times (2005)                                   Vietnam opportunities for Investors

19. GSO General Statistical Office (2002)   “Statistical Yearbook 2001”
20. GSO (2003)   “Statistical Yearbook 2002”
21. GSO (2004)   “Statistical Yearbook 2003”
22. GSO (2005)   “Statistical Yearbook 2004”
23. GSO (2006)   “Statistical Yearbook 2005”

24. MOT (Ministry of Transport)               “Hai Phong Port Rehabilitation Project “
25. UNDP (2005)                                    “Vietnam Development Report”
26. World Bank (2005)                                    “Vietnam Development Report”
27. WHO (2000)                                    “The World Health Report 1999”
28. The PM of Vietnam (2004)   “Decision No 206/2004/QD-TTg of Dec 10, 2004 on approval of Vietnam Transport Development Strategy until 2020”
29. The PM of Vietnam (1999)   “Decision No 202/1999/QD-TTg of Oct 12, 1999 on approval of   The Master Plan on The Development of Vietnam Seaport System till the Year 2010

30. Kristen Monaco (2006) Department      Ports and Highways of Economics-California     State Infrastructure Investment
31. University State University Long Beach and Inter-state Spatial - CA 90840 Spillovers

32.British Marine Industrial Federation         Port waste Management
(2006)                                                    Planning

33. United Nations New York (2005)         Regional Shipping and Port Development  Strategies
34. E Paipai ( 1999)                               Guideline for Port Environmental Management
35. Prakash Gaur (2005) University of Antwerp          Port Planning as Strategic tool
36. Vinamarine (2004)   Van Phong-             The Vision of Century
   



Website references

http://www.business-in-asia.com/ports_in_vietnam.html
http://wiley.com/college
http://www.moste.gov.vn
http://www.vietnamonline.net
http://www.vnagency.com.vn
http://www.vneconomy.com.vn
http://www.batin.com.vn
http://www.marketprice.com.vn
http://www.vnn.vn
http://www.vir.vietnam.com
http://www.saigontimesweekly.saigonnet.vn
http://www.smenetoneline.com
http://www.undp.org.vn
http://www.worldbank.org.vn
http://www.adb.org.vn
http://www.ait.ac.th/AIT/sav/
http://www.hcmste.gov.vn
http://www.mof.gov.vn
http://www.vietnamluat.com
http://www.sbv.gov.vn
http://www.gdt.gov.vn
http://www.hcmtax.gov.vn