Tác giả Chủ đề: Phạm Công Thiện- thiên tài hay kẻ bất mãn?  (Đã xem 13692 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Phạm Công Thiện- thiên tài hay kẻ bất mãn?
« Trả lời #75 vào: 01/08/2016, 23:34:59 »
Nhớ thương Phạm Công Thiện

               Phạm Công Thiện, mới qua đời tại Houston ngày 8.3.2011, với tôi là chỗ cố tri thân thiết, ngang trang ngang lứa, cùng tập tành bước vào nghề văn những năm đầu thập niên 1960.
               Thời đó, Thiện đã có chút ít tiếng tăm vì từ 16 tuổi đã có soạn một từ điển tiếng Anh (Anh ngữ tinh âm Từ Điển, 1957) được Nguyễn Hiến Lê viết lời giới thiệu nồng hậu.
               Trước tiên, chúng tôi là bạn chơi, tại Sài gòn, cùng thân thiết với nhà thơ Hoàng Trúc Ly, đàn anh hiền lành và hòa nhã. Cùng đi chơi đêm lúc ấy với Thiện, thường có Trịnh Cung và nhà thơ Ninh Chữ, có tiệm may trên đường Tự Do, thường là kẻ chi tiền, dường như thỉnh thoảng có cả Tuấn Huy. Là sinh viên bận học tôi không tham dự những cuộc vui chơi này, nhưng hôm sau được nghe kể lại cặn kẽ.
               Tiếp theo là bạn làm báo. Khoảng 1962-1963 gì đó, anh Hoàng Minh Tuynh làm chủ báo Mai, Sài gòn, bán nguyệt san. Anh Tuynh là người công giáo tiến bộ, có uy thế lúc ấy, và ưa giao thiệp với các bạn trẻ mà anh tin cậy, chung quanh Nguyễn Hữu Thái là sinh viên kiến trúc. Thái kéo bè với đám bạn trẻ như Phạm Công Thiện, Quỳnh Tân, Lê Hiếu Đằng, Bửu Ý và tôi. Có lúc anh Tuynh sang Đức vài tháng, giao phó tờ báo cho chúng tôi “muốn làm gì thì làm”. Thái và Thiện viết vung vít sao đó, tòa Tổng giám Mục có lưu ý và anh Tuynh kiểm soát tại tòa soạn.
               Thiện và tôi dường như có duyên nợ. Khoảng 1964, không hẹn mà chúng tôi cùng lên dạy học tại Đà Lạt. Thiện thích Đà Lạt: gia đình anh dường như trước đó, có trang trại ở Fin Nom. Thời kỳ êm đẹp: việc dạy học nhẹ nhàng, thành phố đẹp, đồng lương dư dả. Thiện khoe tôi bài thơ mới làm xong:

               Mùa xuân bay thành khói
               Tôi ca hát một mình
               Suốt đời không biết nói
               Nước chảy tràn con kinh.

               Thơ hay thiệt hay.
               Anh có cho xem bài “gió thổi đồi tây hay đồi đông” mà nói rằng thơ làm trong cơn mê ngủ.
               Vì thân cận, chúng tôi thường bị ảnh hưởng thơ Hoàng Trúc Ly:

               Từ em tiếng hát lên trời
               Tay xao dòng tóc, tay mời âm thanh…

               Thơ Phạm Công Thiện:

               Cô đơn về trắng sương rừng
               Ta nghe tiếng hát hoang đường nửa đêm

               Sau này, Thiện có sửa lại câu trước.
               Thơ Hoàng Trúc Ly:

               Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn,
               Em ngủ một mình đêm gió mưa.

               Thơ Phạm Công Thiện:

               Mưa chiều thứ bảy tôi về muộn
               Cây khế đồi cao trổ hết bông.

               Nội dung thì khác “chiều thứ bảy” trong thơ Hoàng Trúc Ly là một ngày trong tuần, trước chủ nhật. Còn “chiều thứ bảy ” trong Phạm Công Thiện là lấy ý tự kinh Phật. “Cây khế” cũng vậy.
               Dạo ấy, Thiện đi tu ở Nha Trang với thầy Trí Thủ, pháp danh Ngươn Tánh. Một hôm xuống chơi nhà Võ Hồng – mà anh rất thân – khi về chùa thì làm câu thơ này mà về sau anh tự dịch ra tiếng Pháp:

               Je suis le Retour / il fait tard sur le Chemin
               Sept jours après la pluie tombe
               En haut du Temple
               L’arbre est le Défleuri

               Việt Nam giữa thập niên 1960: chính trường biến động, chiến trường xao động và tâm lý giao động. Phạm Công Thiện xuất bản cuốn “Ý thức mới trong văn nghệ và triết học” và hằng chục sách khác trong khoảng 5 năm, đáp ứng với tâm trạng thanh niên. Phạm công Thiện là nhà văn có tài, vô cùng bén nhạy, nắm bắt rất nhanh các luồng tư tưởng thế giới và tâm lý thời đại, hành văn bay bổng nhiều hình tượng độc đáo, đã gây ảnh hưởng lớn trong đời sống trí thức miền Nam trong thời kỳ khủng hoảng. Ra nước ngoài từ 1970, định cư tại Pháp rồi tại Mỹ, Phạm Công Thiện tiếp tục viết và xuất bản, nhưng dường như không còn quần chúng độc giả.
               Thiện với tôi, duyên nợ vẫn tiếp tục: tôi ra nước ngoài, làm ngoại giao tại Thụy Sĩ, khoảng 1967. Một hôm đi làm về thì thấy Thiện ôm ba lô ngồi trước cửa. Thiện ở chơi dăm ba hôm gì đó, thường uống rượu say, rồi vác ba lô lên đường. Vài ba năm sau, tôi gặp lại anh tại Paris. Anh tá túc tại nhà in của Thi Vũ, chơi thân với họa sĩ Vĩnh Ấn. Thiện sống lang bang vất vả, có đọc cho tôi nghe bài thơ về cảnh chợ trời Montreuil:

               Thân anh như con chó
               Đứng đợi giữa chợ chiều
               Một chiều em qua đó
               Con chó đứng nhìn theo.

               Dường như thời đó, anh sống nhờ vào giúp đỡ của nhà văn Henry Miller gửi từ California.
               Sau đó cưới vợ, sang Đức, rồi trở lại Paris. Thỉnh thoảng anh đến tìm tôi, chiều thứ hai sau giờ tôi dạy học để cùng đi uống bia tại công trường Contrescarpes, khu Censier, nhìn những con chim đến đậu trên giây thép hay những cành trụi lá. Có hôm anh hỏi xin tôi bao thuốc lá. Tôi bảo “vậy tao mua cho mày cả tút” (cartouche). Thiện trả lời “vậy mày đưa tiền ấy cho tao mua sữa cho con”. Thời điểm này anh vợ con nheo nhóc, không giới hạn sinh đẻ vì theo… quy luật thiên nhiên.
               Tình hình cải thiện khi anh tìm được chỗ dạy học tại Đại Học Toulouse, môn Triết học… Tây Phương.
               Sau đó, khoảng mười năm không tin tức, cho đến ngày anh lại tìm tôi tại Paris tặng cuốn kỷ yếu song ngữ Việt-Pháp có nhiều hình minh họa đẹp.
               Phạm Công Thiện là người tự học, vì vậy, mà cũng vì cá tính, có lối hành văn tự do, phóng túng, không theo phép tắc trường quy, như nhiều tác gia biên khảo khác. Ví dụ Nguyễn Hiến Lê, là người đầu tiên ca ngợi Thiện, cũng là người tự học, mà cũng vì cá tính, đã có lối viết khác. Cả hai đều có nhiều tác phẩm ăn khách, nhưng đóng vai trò hoàn toàn khác nhau trong xã hội Miền Nam khoảng 1965-1970.
               Thiện viết theo cảm hứng và sống hết mình với từng câu viết. Đặc biệt là Thiện sống vừa thiết tha vừa hờ hững: ăn khách một thời, thậm chí có độc giả sùng bái, anh không lấy đó là điều quan trọng. Tác phẩm Phạm Công Thiện đánh dấu một thời đại, nhưng bản thân tác giả không mấy quan tâm. Có tự hào thì cũng không phải thời thượng, mà tự hào – vì một lúc nào đó – mình đã sống tận cùng những điều mình viết, dù rằng sau đó, Thiện có viết khác đi hay ngược lại. Vì vậy, trước những tác phẩm dồi dào, người đọc khó nói đến một “sự nghiệp” Phạm Công Thiện hay một Phạm Công Thiện “triết gia” vì tư tưởng không thành hệ thống. Cuộc đời bồng bềnh của Thiện cũng góp phần soi sáng điều này, như “đi cho hết đêm hoang liêu trên mặt đất”.
               Phạm Công Thiện nổi tiếng về nhiều câu văn khẳng định, chắc nịch, có khi quá kích hay quá khích, nhưng bản thân anh là khách hoài nghi. Từ đó, nói về anh, viết về anh là việc khó, như đưa dòng suối vào chai thì cũng là nước suối đấy thôi, nhưng một triệu chai không làm sống lại con suối. Chỉ nên dành cho Thiện một kỷ niệm, chút tình cảm, và niềm suy nghĩ, vậy là đủ.
               Cuốn sách văn học đầu tiên trong đời tôi được đọc, lúc 15 tuổi, là cuốn Việt Thi của Trần Trọng Kim, dạy phép tắc làm thơ. Và bài thơ thất ngôn tứ tuyệt được dùng làm chuẩn về niêm luật là thơ Bùi Kỷ:

               Tôi cùng bác quen nhau đã lâu,
               Khi thơ lưng túi rượu lưng bầu.
               Trời đất thương tôi, tôi ở lại,
               Non sông nhớ bác, bác đi đâu?

               
Và đây là lời Phạm Công Thiện, ngày 28.10.1984, đề tặng sách cho tôi:
               “Gửi thằng ma gà khó quên trong đời chó đẻ của tao”.
Đặng Tiến
Bệnh viện La Reine Blanche, 12.3.2011
 
The following users thanked this post: KYFU, lenhale, tnghia

Ngủ rồi KYFU

Re: Phạm Công Thiện- thiên tài hay kẻ bất mãn?
« Trả lời #76 vào: 02/08/2016, 15:43:40 »
Tui thấy trên mạng gửi mọi người tham khảo thêm....

Đã một thời như thế: Hiện tượng Phạm Công Thiện
NGUYỄN VĂN LỤC

Thư từ trao đổi với Henry Miller

Có lẽ “người duy nhất” được Phạm Công Thiện kính nể và tôn sùng là Henry Miller. Tôi nghĩ rằng có thể từ chỗ gặp Henry Miller ở California, rồi có ý định muốn dịch tác phẩm của Henry Miller, sau đó Phạm Công Thiện liên lạc thư từ với Henry Miller. Hai người - một trẻ, một già - đã trở thành những người bạn tâm tình kéo dài cả hơn chục năm.

Lúc đầu, Henry Miller rất trân trọng Phạm Công Thiện, coi Phạm Công Thiện như một “đại sư”, một Rimbaud Việt Nam (Rimbaud là một thần đồng về thơ của Pháp, từ lúc 17 tuổi). Sự cảm mến và trân trọng một người trẻ tuổi đi đến chổ Henry Miller sẵn sàng giúp đỡ vật chất cho Phạm Công Thiện. Phạm Công Thiện đã trân trọng giữ lại những thư của Henry Miller gửi cho
ông và đã cho in trong tập “Tribu”, dầy hơn 160 trang (Impression: COREP Toulouse et Imprimerie 34 pour le planches intérieures et la couverture ISSN: 0758-8100. Numéro publié avec la collaboration du Centre de Promotion Cuturelle L’Université de Toulouse-LeMirail… Dépôt legal: 1er trimester 1984.) Tuy nhiên đây chỉ là dấu tích trao đổi một phía. Phạm Công Thiện không công bố thư của ông gởi cho Henry Miller trong tập “Tribu”. Đó là một điều thật đáng tiếc, vì sau này, không ai biết thực sự Phạm Công Thiện đã viết gì cho Henry Miller. Cùng lắm chỉ biết được gián tiếp qua những lá thư ngắn của Henry Miller trả lời cho Phạm Công Thiện.

Xin được trích dẫn một số trong những lá thư ấy hiếm hoi có giá trị lịch sử văn học này.
Một lá thư của Henry Miller đề ngày 28 tháng 9 1972 (thời gian Phạm Công Thiện đã có gia đình và ở bên Pháp chưa có công ăn việc làm); Henry Miller đã viết phản bác lại ý kiến của Phạm Công Thiện phê bình Durell (Durell là bạn thân của Miller) như sau:
Tôi muốn nói đến việc ông phê bình Durell, nhưng buộc lòng tôi phải nói với ông rằng không thể nào cho bất cứ ai nếu không được nuôi dạy trong dòng tiếng Anh lại có thể thưởng thức và đánh giá trọn vẹn đầy đủ về ông ta. Ông ta là thứ đại sư của tiếng Anh (“master of English”). Còn về những công trình sáng tác của ông ta, nó đã đem lại cho chúng ta điều gì và có ý nghĩa gì thì lại là một câu hỏi khác. Đối với tôi, ông đã hoàn toàn nhầm lẫn khi ông nói rằng ông ta thiếu lửa “Fire”. Tôi nghĩ rằng trong “Quartetr” thì tràn đầy lửa, và phải chăng đó lại là chính cái điểm yếu của “Quartet”, nếu ông muốn tìm một điểm yếu của nó.
 

Thư của Henry Miller gởi Phạm Công Thiện
Nguồn: Tribu, p 144
________________________________________
Cũng trong lá thư trên, ông Phạm Công Thiện cho biết đã viết được hơn 20 tác phẩm. Henry Miller đã viết trả lời:
Nhưng trước hết, ông cho phép tôi có đôi nhận xét về khả năng viết đến không thể tưởng tượng được (votre incroyable productivité). Ông nói rằng ông đã viết hơn 20 cuốn sách trong vòng vài năm gần đây (...) Ngay cả Balzac, Alexandre Dumas hay Victor Hugo đã không bao giờ có thể viết được với cái nhịp độ như thế.

Đây là một nhận xét gián tiếp phê phán, nghi ngại về tính hay “thổi phồng” của Phạm Công Thiện. Dù có thật cũng nên tế nhị, không quá phô trương.


Nhưng hình như những nhận xét của Henry Miller không mảy may ảnh hưởng gì đến thái độ ứng xử của Phạm Công Thiện. Có lẽ Henry Miller cũng là người duy nhất đã có thể đưa ra những nhận xét trung thực mà không bị Phạm Công Thiện giận dữ.

Lần đâu đến Paris vào năm 1966, theo Thi Vũ trong bài “Về một bài thơ của Phạm Công Thiện”, đăng trên Gió-O.com
Phạm Công Thiện sống lang thang nơi vỉa hè Paris, ngày ngày làm đuôi theo đám clochard xin những bữa ăn xã hội. Gặp Trần Hiếu đem về nuôi được mấy hôm Sau đó Thiện về ở với tôi.
Trong thời gian này, chắc Phạm Công Thiện lại “tả oán” về đời sống túng thiếu, Henry Miller mủi lòng viết cho Phạm Công Thiện.
Nếu ông đang túng thiếu và đói, tại sao không để tôi giúp ông một tay? Tôi nghĩ rằng ông sống nhờ vào sự trợ giúp của những bạn bè thân cận với ông. Hãy cho tôi biết anh cần bao nhiêu và tôi sẽ gửi cho anh ... Can đảm lên.
Thư đề ngày 5 tháng tám, 1966.

Đúng như dự đoán của Henry Miller, Phạm Công Thiện sống nhờ vào bạn bè, nhất là Thi Vũ và ngay cả gõ cửa anh em phía bên vợ.

Theo anh LKH, anh ruột của chị LKTH, vợ Phạm Công Thiện, vào năm 1971, anh cũng đã gởi giúp cô em gái và Phạm Công Thiện 1000 đô la, mặc dầu anh cũng chỉ là sinh viên du học. Nhưng anh cho biết cũng không nhận được một lá thư cám ơn của Phạm Công Thiện.

Lá thư tiếp của Miller gửi Phạm Công Thiện:
“Vui mừng vì thấy ông bằng lòng hỏi tôi để giúp đỡ ông.Và đây là tấm chi phiếu 300 đô la.”
17 tháng tám 1966.

Và cứ thế tiếp tục những số tiền nhỏ từng vài trăm mà Henry Miller đã gửi giúp Phạm Công Thiện thập niên 1970 sau này. Phạm Công Thiện đã gõ cửa cầu cứu Henry Miller nhiều lần xuyên qua những lá thư trả lời của Henry Miller.

Henry Miller thật rộng lượng và bảo bọc Phạm Công Thiện như trong một lá thư khác:
Ông hãy cho tôi biết tình trạng tài chánh của ông lúc này. Có thể là zéro. Nếu ông vẫn không có công ăn việc làm, tôi sẽ gửi cho ông một cheque lớn hơn hoặc tôi sẽ nhờ Geoges và Boris Hoffman gửi tiền cho ông thay tôi.
Henry Miller cũng là người gõ cửa nhiều bạn bè trong giới nhà xuất bản để giúp ông Phạm Công Thiện, nhưng kết quả chẳng ai giúp được gì. Một phần những người bạn ấy cho Henry Miller có cảm tưởng là họ thấy trình độ tiếng Pháp của Phạm Công Thiện chưa đủ.
(j'ai aussi l'impression qu'ils trouvent votre francais insuffisant).
Trích thư đề ngày 09/12/72. (Thật ra có thể chỉ vì cái accent nói tiếng Pháp của ông Phạm Công Thiện không chỉnh còn khả năng đọc và viết có thể không thua ai!)

Và trong hầu hết những lá thư ấy, hầu như lá thư nào Henry Miller cũng “tội nghiệp” cho bà vợ - vốn là người say mê âm nhạc, nghệ sĩ sáng tác và những cậu con trai của Phạm Công Thiện thừa hưởng dòng máu nghệ sĩ đó. Ông săn sóc đến các cậu con trai đầu và ngay cả đỡ đầu những người ấy.

Sự chăm sóc và lưu tâm tâm ấy của Henry Miller thật chân thật và trọn vẹn. Nhưng có thể Phạm Công Thiện với cá tính “hoang đàng” và coi mọi chuyện ân nghĩa chỉ là “gratuit”, phải chăng đã đưa đến sự đoạn tuyệt của Henry Miller với thi sĩ Phạm Công Thiện?

Vì thế, sang đến năm 1974 thì mối liên hệ giữa hai người kể như chấm dứt. Phạm Công Thiện lại xin tiền. Nhưng Henry Miller từ chối một cách lịch sự viện cớ phải trả một số tiền lớn cho thuế vụ và tiền trợ cấp cho hai đứa con của ông ta.

Rõ ràng đây chỉ là cách từ chối lịch sự của một người đã từng là ân nhân của Phạm Công Thiện.
Henry Miller kết thúc lá thư:
Bây giờ tôi phải xa ông. Như thể nói “thôi để mặc ông với số phận”. Điều đó có thể là điều tốt. Tôi không muốn cho ông ý kiến gì cũng như bày tỏ lòng thương cảm.

Well, I will leave you now. It's like saying “I leave you to your fate”. I won't try to give you advice or sympathy. Cheers. Henry.
Trong một lá thư đề ngày 08/01/1976, lá thư chót và cuối cùng Henry Miller liên lạc với Phạm Công Thiện - nghĩa là sau năm năm thời gian Phạm Công Thiện ở Pháp - Miller đã nặng lời đến miệt thị với Phạm Công Thiện khi Henry Miller viết:
You are no charlattan, simply one of the most infortunate of God's creatures. No fault of yours"
Ông không phải là người bất tài bịp bợm, ông chỉ là một sản phẩm bất hạnh nhất của đấng tạo hoá. Nhưng đó không phải là lỗi của ông.
Lá thư này cho thấy Henry Miller “dứt khoát” với Phạm Công Thiện trong sự ngờ vực, chê trách con người, cá tính của Phạm Công Thiện.

Thật ra sự nghi ngờ của Henry Miller về con người Phạm Công Thiện phải trở lại ngược thời gian trước đây lúc ông mặc áo cà sa. Không biết ông Phạm Công Thiện đã viết gì cho Henry Miller về việc đi tu của ông như tu tập lúc nào, thời gian bao lâu, sự tu tập ấy có mức độ nghiêm chỉnh không? Henry Miller đã đặt những câu hỏi nghi vấn về việc tu tập này vào năm 1966. Henry Miller thật sự nghi ngờ hỏi:
Có phải ông thật sự trở thành một moine Zen bây giờ? Ông có được truyền chức không? Nếu đúng như vậy thì ông có thể thật sự trở thành Sidharta (à la Hesse), hay là một bậc thầy (Maitre) vô danh?
 
Thư của Henry Miller gởi Phạm Công Thiện
Nguồn: Tribu, p 108
________________________________________
Trích lá thư của Henry Miller gửi Phạm Công Thiện, ngày 8-6-1966.

(Đọc thêm cuốn Đôi bạn chân tình của Herman Hesse để hiểu thêm thế nào là một thiền sư)

Sự nghi ngờ của Henry Miller là chính đáng.

Việc quyết định cạo trọc đầu, mặc áo tu hành của Phạm Công Thiện ở Paris khi gặp TT. Thích Minh Châu là thiếu nghiêm chỉnh - nó như chuyện đùa, chuyện của một người khôn lanh láu lỉnh hơn là của một tâm hồn nghệ sĩ.

Phần ký ức của Thi Vũ ghi:
Bài vở chuẩn bị gửi về Saigon cho Thanh Tuệ in, thì đột nhiên TT Thích Minh Châu đến thăm. Hôm ấy đang ngồi tán gẫu với Thiện ở căn nhà tôi cư ngụ số 8 rue Guy de la Brosse xóm La Tinh, nghe tiếng gõ cửa gấp. Mở ra thấy thượng tọa Thích Minh Châu đi cùng giáo sư Nguyễn Khắc Hoạch. Thượng tọa vừa nói, vừa thở hắt sau hai tầng gác: “Tôi biết Nhất Hạnh đang ở với anh, nhưng tôi cứ đến cần bàn chuyện khẩn”. Hai vị sư này có chuyện không vui với nhau từ Sài Gòn. Tôi đáp cho T.T. yên lòng: “Nhất Hạnh đi Úc rồi, mời thầy vô”. An tọa xong, Thượng tọa Minh Châu, vị viện trưởng viện Đại Học Vạn Hạnh vừa thành lập tại Sai Gòn, nói: “Tôi sang dự hội nghị Unesco, nhưng cố ý gặp anh mời anh về giúp đại học Vạn Hạnh. Đại học mới mở trăm công nghìn việc khó khăn, nhiêu khê, phá phách, mình thiếu người quá, anh ráng về giúp cho một tay”. Tôi nhận lời, Thiện ngồi cạnh mặt đỏ gay vì rượu, tóc mọc dài hippie, có lẽ vì vậy TT. Không để ý. Nhận lời xong, tôi tiếp: “Xin thầy, mời luôn Thiện về cho vui”.

Thượng tọa Minh Châu mặt đỏ rần, ấp úng: “Ừ, chú, chú!” Tôi đỡ lời, “Dạ chú Nguyên Tánh đó!” Thầy Minh Châu gật đầu với nụ cười hiền giải thoát y như hai mươi năm trước, thời tôi còn gọi chú Minh Châu và giúp chú đánh bài vở ở Tổng trị sự đầu đường Thượng tứ, Huế: “Ừ thì chú Nguyên Tánh về luôn hí” (...)

Nhưng từ khi gặp TT Minh Châu mời về Sài Gòn cùng tôi, thì ngày hôm sau Thiện nhờ tôi cạo đầu và tìm bộ y vàng Nam tông cho Thiện mặc. Người thay đổi hẳn, nghiêm trọng, ít nói, chỉ trầm tư mặc tưởng đăm chiêu không dứt. Khác hẳn những ngày trước đó ăn nói ồn ào, nhậu nhẹt, chửi thề vung mạng.

(…)

Chuyện đầu tiên là Thiện sửa hai câu thơ trong bài Quế Hương mà Thi Vũ muốn kể lại chi tiết. Khi đến Pháp thì Phạm Công Thiện đã hoàn tục. Vì thế hai câu thơ thứ tám và chín Thiện viết trên gác trọ nhà tôi ở Guy de la Brosse:

Em còn ca hát
Anh không còn là tu sĩ.

Nay chuyện đầu tiên là Thiện sửa lại hai câu trên thành:

Em còn ca hát
Anh không còn làm thi sĩ.

Và sau đó Thiện còn đòi bỏ bài thơ Quế Hương khi in.
Trích Về một bài thơ của Phạm Công Thiện, Thi Vũ, ngày 17-03-2011.

Thật “nhảm” không chịu được. Chuyện cứ như đùa, khó tin. Nhưng là sự thực.

Nhân tiện đây, xin nhắc lại chuyện bằng cấp của Phạm Công Thiện. Tài liệu “Danh sách các luận án về Việt Học tại Pháp (1884-2006)” do Francois Guillemont tuyển chọn và được đăng lại trong tập san Dòng Sử Việt, trang 137, số tháng 5, tháng 10-12-2007.

Trong danh sách các người được liệt kê đỗ tiến sĩ về Việt Học có những tên tuổi quen thuộc như Nguyễn Thế Anh, Nguyễn Thị Ninh, Phạm Cao Dương, Pierre Brocheux, Nguyễn Mạnh Tường, Cao Huy Thuần, bà Lâm Thanh Liêm, Devilliers, Philippe, Trần Thị Liên, Langlet Philippe, Nguyen Van Ky.

Chưa có nguồn thông tin nào trả lời câu hỏi ông Phạm Công Thiện lấy tiến sĩ ở đâu, năm nào, đề tài luận án là gì? Cũng như vậy, việc dạy học Triết học ở Toulouse phải chăng cũng còn là một câu hỏi khác?

Nay rất tai hại là phần tiểu sử Phạm Công Thiện đã được sao chép (từ một thông báo của GHPGVN Hải ngoại do một tu sĩ ký tên) giống nhau và được đăng tải khắp các diễn đàn trên mạng.

Phải chăng đây cũng là một nỗi oan của Phạm Công Thiện vì được nhiều người tâng bốc hay nỗi thiệt thòi của văn hóa nói chung?


Thư gửi cho người bạn thi sĩ

Tôi đã đọc kỹ lá thư của Phạm Công Thiện gửi cho người bạn thi sĩ và tôi nghĩ rắng dó là chỗ để thi sĩ Phạm Công Thiện trang trải hết tâm tư. (Pham Cong Thien, Lettre à un poète vietnamien avant son suicide…, Tribu, p. 51-56, Paris 19/08/1966).

Người bạn thi sĩ này như là cái cớ để thi sĩ Phạm Công Thiện nói hết, phóng bút, không do dự, không kiêng nể. Vì thế đọc lá thư giúp soi sáng nhiều điều về con người thực của Phạm Công Thiện.

Đọc lá thư ấy, phải nhận thấy tính cách quá độ tuyệt đối, cái ego tuyệt đối “hoang tưởng và mang dấu tích triệu chứng bệnh tâm thần” nơi Phạm Công Thiện như chính ông tự nhận trong lá thư gửi người bạn thi sĩ:
Tao không muốn phê phán quyển Ý thức mới, vì có bao giờ mày phê phán con tinh trùng của mày, hỡi Nh. Tay Ngàn? Nếu bây giờ, tao muốn viết lại quyển Ý thức mới, nhất định là tao sẽ viết mạnh hơn, tàn bạo hơn nữa, phũ phàng hơn nữa. Tao đã thấy rõ ràng hơn bao giờ hết rằng tao không bao giờ nên hoà nhượng, không bao giờ nên làm hoà với cuộc sống này. Tao chỉ muốn nổ tung như mười triệu trái bom nguyên tử, rồi nằm ì lăn ra chết bấy thịt như một con rắn lửa, còn hơn là nhẹ nhàng thỏ thẻ tình thương, nhỏ nhẹ lý tưởng cao đẹp, vân vân: tao muốn chửi thề với tất cả lý tưởng: tao chỉ muốn phá hoại và chỉ muốn phá hoại: tao cảm thấy gần gũi với những người tội lỗi hơn là với những thầy tu thánh thiện. Tao thấy rằng tất cả tội lỗi đều vô cùng cần thiết, vì tội lỗi chỉ là một ý niệm lường gạt và không có thực...

(…)

Thời gian tao ở Hoa Kỳ, tao đã bỏ học, vì tao thấy những trường mà tao học, như trường đại học Yale và Columbia chỉ toàn là những nơi sản xuất những thằng ngu xuẩn; ngay đến những giáo sư của tao chỉ là những thằng ngu xuẩn nhất đời; tao có thể dạy họ nhiều hơn là họ dạy tao.

(…)

Qua Pháp tao đã sống nghèo đói thế nào thì mầy cũng đã biết rõ rồi; những lúc tao nằm ngủ ở những vỉa hè Paris vào những đêm đông đói lạnh, những lúc đói khổ như vậy, tao vẫn còn cảm thấy sung sướng hơn là ngồi nghe mấy thằng giáo sư đại học Yale hay Columbia giảng cho tao nghe về Aristote hay Hegel, về Heidegger hay Héraclite. Tao đọc Heidegger và Héraclite bằng máu với nước mắt; còn mấy thằng giáo sư ấy chỉ đọc bằng đôi mắt cận thị! Những thằng ấy hiểu gì về tư tưởng mà dạy tao. Bây giờ nếu có Phật Thích ca hay Giê su hiện ra đứng giảng trước mặt tao, tao cũng chẳng nghe theo nữa. Tao chỉ dạy tao, tao là học trò của tao và cũng chỉ có tao là làm thầy cho tao.
Cuộc đời của Phạm Công Thiện là thế.

Là trí giả, là lãng tử, là kẻ ăn chơi, là kẻ bất cần đời, là thiền giả, là thi sĩ, là “triết gia” là kẻ dâm đãng, là giáo sư. Tất cả đều có thể! Cho nên không lạ, có người vẫn hỏi: Phạm Công Thiện là ai?

Cái “tất cả đều có thể” thể hiện trong nhận xét của ông về những tên tuổi mà đáng lẽ trong cảnh giới bình thường họ phải được kính nể. Ít ra là không được đụng chạm tới mới phải.

Chẳng hạn ông viết, “Shakespeare hay Goethe, Dant hay Heidegger, tao coi như những thằng hề ngu xuẩn (...) Ngay đến Héraclite, Parménide và Empedocle, bây giờ tao cũng xem thường, xem nhẹ. Tao coi ba tên ấy như ba tên thủ phạm của nền văn minh hiện nay!”

Ba triết gia nêu trên xuất hiện thời tiền Socrate, Platon, 500 trước Tây lịch. Chẳng hiểu Héraclite tại sao lại là thủ phạm của nền Văn Minh hiện nay là lý cớ gì?
Trong thư gửi người bạn, Phạm Công Thiện biết rõ cá tính, con người của ông như thế nào:
Tất cả những người quen biết tao đều nói rằng tao là thằng rừng rú, ích kỷ, kiêu ngạo, hoang đàng, vô kỷ luật, vô lễ phép, ham ăn, ham uống, ham ngủ, ham làm ái tình: tóm lại tất cả những tật xấu của con người đều xuất hiện trong tao. Tao thấy họ nói đúng, nhưng họ nói ngược lại thì cũng đúng. Tao là một thằng mâu thuẫn cùng cực; muốn nói chuyện với tao thì đừng lý luận. Vì tao có thể lý luận xuôi hay ngược gì cũng được.”
Trích lá thư như trên.

Phần Phạm Công Thiện, ông không từ một tên tuổi nào - tên tuổi càng lớn càng được lôi ra - gạt bỏ mọi triết gia lớn nhỏ của truyền thống Hy-La và Tây Phương.

Và đây là số phận không may là trường hợp J.P. Sartre và S. De Beauvoir, “Nếu họ muốn xin gặp tao, tao sẽ không cho gặp mà còn chửi vào mặt họ.”

Nếu độc giả người Pháp đọc được câu trên, họ sẽ nghĩ thế nào?
 
Sự phê phán các tác giả Việt Nam trong Hố thẳm tư tưởng

Sự phê phán các đại tư tưởng gia của nhân loại là phần chính yếu trong các sách của Phạm Công Thiện. Phạm Công Thiện đã chỉ dành rất ít trang sách viết về các nhà văn, thi sĩ Việt Nam. Có thể khoảng chừng vài dòng - Trừ trường hợp Nguyễn Văn Trung, ông đã dành hẳn một chương để phê phán một cách nặng nề.

Nói chung, gần như các tác giả Việt Nam “không đáng” để Phạm Công Thiện đề cập tới. Vậy thì trường hợp phê phán Nguyễn Văn Trung phải coi là một biệt lệ? Vả chăng, những đại tư tưởng gia còn bị vứt vào sọt rác thì cá nhân Nguyễn Văn Trung có nghĩa gì?

Trong Hố thẳm tư tưởng, mở đầu đối với Thiền tông, Phạm Công Thiện viết, “Tao đã gửi Thiền tông vào một phong bì tối khẩn để địa chỉ của bất cứ ngôi chùa nào trên thế giới.”

Còn các văn thi sĩ ở Sài Gòn, “đọc các bài thơ của các anh, tôi thấy ngay sự nghèo nàn của tâm hồn anh, sự quờ quạng lúng túng, sự lập đi lập lại vô ý thức hay có ý thức: trí thức ‘mười lăm xu’, ái quốc nhân đạo ‘ba mươi lăm xu’, triết lý tôn giáo ‘bốn mươi lăm xu.’”

Đã không có một nhà thơ nào lên tiếng, phải chăng vì không bị hài tên? Không lẽ họ thật sự chỉ đ áng giá vài chục xu? Hay vì không đếm xỉa đến những lời phê phán vu vơ, vô tội vạ?

Ngay cả đối với Bùi Giáng, đáng nhẽ phải là người “cùng tâm cảnh” với Phạm Công Thiện. Vậy mà trong những trang cuối của cuốn Hố thẳm tư tưởng, Phạm Công Thiện viết:

“‘Hố thẳm tư tưởng’ ra đời để đánh dấu ngày tôi chấm dứt mọi liên lạc tình cảm với Bùi Giáng và Nhất Hạnh".

Nhớ lại cái thời của người viết, trong giới bạn bè, hầu như họ chỉ tỏ vẻ đôi chút ngạc nhiên, coi Phạm Công Thiện như một hiện tượng lạ.

Phần cá nhân người viết bài này, chỉ một lần đọc cuốn “Hố Thẳm tư tưởng”. Thú thực, tôi không hiểu gì, không nắm được gì, không hiểu tác giả mốn truyền đạt tư tưởng gì, một cách CÓ HỆ THỐNG.

Chỉ thấy những trích dẫn ngổn ngang, lộn xộn, pha trộn những trích dẫn tiếng Pháp, tiếng Đức như một bày hàng, khoe chữ với cường điệu, đặt ra vấn đề và phủ nhận.
Một thứ phủ nhận của phủ nhận – gratuity - không dẫn chứng, không biện biệt.

Cái cảm giác chung khi đọc ông là sự phủ nhận mọi giá trị tôn giáo, triết lý, và các nhà đại tư tưởng bằng thứ ngôn ngữ cuồng vọng trong một trạng thái hystérie dấn đến độ vọng ngữ, vọng ngôn. Một thứ ngôn ngữ phản ánh một trạng thái tinh thần với những mâu thuẫn nội tâm không kiểm soát được giữa biên giới thực và ảo. Đó là thứ lý luận đậm nét sự cao ngạo thay cho sự thực. (L’arrogance remplace le réalisme). Nó mất hẳn sự tự trọng chính mình.

Mà sự tự trọng là khởi điểm của con người có văn hóa (cultivé).

Vấn đề là thiếu lòng tự trọng chứ không phải vấn đề trí thức cao hay thấp, giỏi hay dốt, đúng hay sai, thiên tài hay không phải thiên tài. Phạm Công Thiện có thể là nhân tài như người ta nhận xét về ông, nhưng chỉ thiếu có lòng tự trọng, một thứ tự sát - hủy thể của hủy thể.

Những điều ông viết không con nằm trong giới hạn của nhận thức luận hay tri thức luận. Chúng ở bên ngoài biên giới sai đúng.

Nói cho cùng nó là một thứ phá sản nhận thức luận và truyền thống vốn là những cái nôi của văn hóa của nhân loại. Những người tự cho mình đọc và hiểu Phạm Công Thiện, họ học được gì trong những dòng ngụy luận đó giúp họ lớn lên về tầm vóc nhận thức thay vì thúc đẩy bản năng về sự cao ngạo vĩ cuồng, về sự muốn hơn người hay khác người?

Trong cái vốn văn hóa học được trong việc người Nhật ứng xử với tai ương, với cái hiểm nguy, có cái văn hóa của lòng tự trọng rút trong kho tàng tư tưởng của Nho học !!
Phạm Công Thiện thiếu hẳn cái đó.

Vì vậy, trong việc phê phán Nguyễn Văn Trung xảy ra sau 1963, ngay khi Phạm Công Thiện vừa đến Pháp, mà theo Thi Vũ, bài tiểu luận đầu tiên là: “Đặt lại căn bản học vấn Nguyễn Văn Trung - Phê bình luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Trung hay là tìm hiểu một thủ đoạn phá hoại Phật giáo.”

Tựa đề bài viết phản ánh triệu chứng của những ẩn ức cá nhân của thi sĩ Phạm Công Thiện cộng với những pha trộn nhiễu nhương của những yếu tố xã hội, chính trị và tôn giáo được dịp bùng nổ sau 1963.

Nó không bao hàm giá trị nhận thức đúng hay sai mà đượm tính chất hằn học, nguyền rủa mà Nguyễn Văn Trung là cái cớ cho sự nguyền rủa ấy với nọc độc: phá hoại Phật giáo trong một luận án.

Nó phản ánh một thời kỳ thường được gọi là ba năm xáo trộn, nhiễu nhương về chính trị và xã hội, văn hóa và tôn giáo. Sự chửI bới, nhục mạ nhau được lên ngôi trong các môi trường tôn giáo, xã hội, trong báo chí sách vở.

Và tôi cho rằng cuốn sách của Phạm Công Thiện nằm trong bối cảnh đó. Phải hiểu cái bối cảnh đó để hiểu tại sao Phạm Công Thiện đã viết như thế. Phạm Công Thiện phê phán Nguyễn Văn Trung:
Nguyễn Văn Trung là tượng trưng cho sự nô lệ, nông cạn, phá sản của giới trí thức Việt Nam hiện nay.
Phạm Công Thiện được coi như: hiện tượng Phạm Công Thiện để nói lên tính cách dị thường trong cách viết như thế. Và dựa theo cơn “sóng thần” sau 1963, một cách nào đó, ông đã mở đường cho một số người viết theo, tạo nên một thứ sinh hoạt văn học thiếu lành mạnh, thiếu lòng tự trọng, một thứ “văn hóa chửi” đi ra ngoài khung cảnh văn học sau 1963.

Đó là một hiện trạng văn học đáng buồn mà hầu hết các nhà văn đều tránh né và im lặng. Bởi vì nó xếp tất cả vào một rọ, một thứ cá mè một lứa, vô giá trị.

Cứ cho rằng ông Nguyễn Văn Trung nhận thức kém cỏi, sai đi nữa, biện chúng giải thoát trong Phật giáo của ông thiếu căn cơ đi nữa! Có lẽ nào phải nhận lãnh lối chửi bới như chợ cá của một Cung Tích Biền?

Thừa dịp ấy, Cung Tích Biền, đăng trên tuần báo Khởi Hành, số 150, 1972 viết:
Ông Nguyễn Văn Trung chỉ là một trí thức phá sản? Ông không có gì để phá sản. Ông chỉ là một kẻ bịp và du đãng văn nghệ. Kẻ bịp kia như thế nào thì đã có ông Phạm Công Thiện làm cáo trạng từ lâu rồi.
Kha Trấn Ác viết trên Tuần Báo Đời, số 11 phát hành ngày 27.11.1969 như sau:
Đối với Nguyễn Văn Trung tượng trưng cho sự nông cạn, nô lệ, phá sản của giới trí thức Việt Nam hiện nay. Tên ấy gợi lên sự học vấn lừng khừng, suy tư thiếu máu, cóp nhặt thiếu thông minh, kiêu ngạo, ngu xuẩn, lưu manh, nguy hiểm ..Tôi đã tàn bạo khi viết những giòng trên. Phải tàn bạo. Không thể nhẹ nhàng, không thể cảm thông, trao đổi với hạng người trên.
Trich “Nhìn lại những chặng đường đã qua”, kỳ 4, Nguyễn Văn Trung, ngày 08/09/2007, trên Thông Luận

Phạm Công Thiện nay chỉ là cái cớ cho một “hội chứng sau 1963” mà một số trở thành nạn nhân, đi ra ngoài khuôn khổ triết học, văn học, đậm nét sự đố kỵ, hận thù của một thời kỳ như thế và còn có thể kéo dài nữa.

Vì thế, tôi muốn nhấn mạnh đến thời điểm sáng tác của tác giả Phạm Công Thiện. Cái thời điểm mà nhà thơ Viên Linh, chủ bút tờ Khởi Hành nhận xét một cách hãnh diện là: giới hạn từ năm 1963 trở đi đã tưng bừng phát triển, như hải triều, như thái độ phá vỡ những oi nồng của một thời kỳ ung đột, đưa thế hệ 20 của đất nước trở về nhưng suối nguồn tư tưởng Đông phương là công lao chung của những trí thức đã xuất gia: nhóm Vạn Hạnh.

Không kể các bậc thầy đã xa như Thích Đức Nhuận, Thanh Kiến, Thanh Từ hay kế tiếp như Minh Châu, Nguyễn Đăng Thục, Trần Ngọc Ninh, Vũ Văn Mẫu.

Và xử dụng kiến thức Kim Dung, Viên Linh xếp nhóm trẻ là “Tây Độc” Phạm Công Thiện, “Đông Tà” Tuệ Sĩ, Chơn hạnh là “Trung thân Thông”, Chơn Pháp là “Bắc cái", “Nghi Lâm sư muội” Trí Hải và “Chu Bá Thông” Bùi Giáng.

Tôi không nghĩ rằng thời điểm sáng tác trước 1963 là “oi nồng, ung đột”. Và phải ngược lại mới đúng.

Hải triều dâng lên thì vị tất đã có, nhưng sóng thần thì chắc chắn là có.

Quả thực thời điểm sáng tác, cho in sách của thi sĩ Phạm Công Thiện và ông trở thành nổi tiếng như một hiện tượng Phạm Công Thiện đều xảy ra sau thời đệ nhất cộng hoà. Các sách của ông như Ý thức Mới trong văn nghệ và triết học in bản đầu năm 1964 do các nhà Lá Bối, An Tiêm, Tiểu luận về Bồ Đề Đạt Ma, 1964. Hố thẳm tư tưởng, 1966, An Tiêm. Im lặng hố thẳm 1966, An Tiêm. Henry Miller, 1968, Rainer Maria Rilke, 1968. Nikos Kazantakis, 1969. Ý thức bùng vỡ, 1970.

Và một vài sách dịch từ tiếng Đức như Niettzsche, Ecce homo, 1969. Heidegger, Vom wesen der wahrett, 1968. Và dịch từ tiếng Anh: Krishnamurti, the first and last freedom, 1967-1968.

Về thơ có tập Ngày sinh của rắn, 1966.

Về tiểu thuyết có “Mặt trời không bao giờ có thực”, 1967. “Trời tháng tư”, 1967 và “Bay đi những cơn mưa phùn”.

Phần trích dẫn các sáng tác này, tôi căn cứ trên chính tác giả Phạm Công Thiện đã viết trong Tribu.

Xin mượn lời thi sĩ Nguyên Sa để gián tiếp nói về cái thời kỳ như “hải triều dâng lên”như một kết thúc bài viết nhân sự ra đi của thi sĩ Phạm Công Thiện.

Nguyên Sa viết:
Tôi đã quen lắm với không khí đố kỵ, tị hiềm, ghen tương bao vây sinh hoạt văn hóa trong đó tôi sinh hoạt 10 lăm năm nay để có thể tin chắc rằng đó không phải là những chướng ngại ghê gớm có đủ sức mạnh bắt tôi phải ngừng quan tâm văn chương và triết học. Tôi cũng thành khẩn ao ước những người chuyên nghề phán đoán, những người tự cho mình cái quyền năng ghê gớm là không ngừng phán xét đồng loại cho tôi được hân hạnh học tập trong những tác phẩm mà họ sẽ in ra. Học tập trong tác phẩm thôi chớ không thể học tập những tập quán ghê gớm đó, bởi tôi đã tới cái tuổi mà người ta không thể học tập quán mới, dù của thời đại, và cũng chẳng bỏ nổi những tập quán cũ, dù biết rằng, nói theo một nhà triết học quen thuộc, đó chính là kẻ thù của tự do.
Trích Nhận Định X, Nguyễn Văn Trung, Nguyên Sa, một người bạn, trang 149.

Nguyên Sa trả đũa bằng thứ ngôn ngữ tranh luận, thách thức và lật tẩy làm im lặng những tiếng nói đố kỵ, đầy tỵ hiềm.

Đã có lần Nguyên Sa “đối chất” hàng tháng trời ròng rã với Duyên Anh cho đến lúc tác giả “con ong” chịu im tiếng mới thôi.

Chẳng hiểu có phải từ đó đã trả lại phần nào không khí trong lành của sinh hoạt văn học!

Người viết bài này chỉ rất tiếc là đã được trao giữ những lá thư của ông Phạm Công Thiện viết cho Nguyễn văn Trung thời kỳ ông còn ở Mỹ Tho viết để gửi bài viết cho tờ Đại Học với lời lẽ trân trọng, ca tụng Nguyễn văn Trung. Trong thời gian làm báo ở Mỹ, tôi đã vô tình “làm mất” tập thư này nên bây giờ nói gì cũng vô ích thôi.

Cũng theo Nguyễn Văn Trung, thi sĩ Phạm Công Thiện đã có dịp gặp Nguyễn Văn Trung và hứa rằng trong kỳ tái bản tới, sẽ bỏ phần phê phán Nguyễn Văn Trung trong cuốn sách của ông.

Tôi không có điều kiện để kiểm chứng điều này.

Viết lại hiện tượng Phạm Công Thiện trong dịp ông đã ra đi khỏi thế giới này, thanh thản và không phiền lụy.

Như một gợi nhớ Đã có một thời kỳ như thế.

Nếu phải đánh giá Phạm Công Thiện thì tôi cũng đồng ý với Thi Vũ, người bạn thời trẻ của Phạm Công Thiện. Thi Vũ viết:

“Thiện xem mình là triết gia. Tôi nhìn Thiện như một thi sĩ!”

Bên kia thế giới, có thể ông chỉ mang theo có một điều: Ông coi Henry Miller là thần tượng duy nhất trong cuộc đời của ông.

Quả thực đã có một thời như thế như tựa đề bài viết. Hiện tượng Phạm Công Thiện. Một hiện tuợng Hippie về văn học Việt Nam trong bối cảnh chính trị, xã hội, tôn giáo, chiến tranh kể từ sau 1963.

Vấn đề của chúng ta ngày hôm nay không hẳn là đã học được gì nơi thi sĩ Phạm Công Thiện mà học được gì trong cái Hiện Tượng Phạm Công Thiện.

Quả thực đã có một thời như thế!

Link: https://sites.google.com/site/gsnguyenvanluc/bai-viet-2014/phan-19

 
The following users thanked this post: hoangnguyen, lenhale

Ngủ rồi nduytai

Re: Phạm Công Thiện- thiên tài hay kẻ bất mãn?
« Trả lời #77 vào: 06/08/2016, 11:49:52 »
THƯ CẬY ĐĂNG
Sáng ngày 1/6, Khởi Hành nhận được thư cậy đăng sau đây của
một cây bút cộng tác thường xuyên với tờ báo: anh Phạm Công Thiện,
lên tiếng trả lời loạt bài của Lê Hải Vân trên báo Độc Lập, mà anh Thiện
phát giác chính là thi sĩ Nguyên Sa Trần Bích Lan. Tôn trọng người cộng tác
với tờ báo chúng tôi cho đăng nguyên văn lá thư này cũng như sẽ đăng
nguyên văn thư của anh Nguyên Sa, nếu anh gửi tới và xác nhận bút hiệu
Lê Hải Vân mới xuất hiện lối hai tháng nay là bút hiệu khác của anh.

PHẠM CÔNG THIỆN TRẢ LỜI LOẠT BÀI CỦA ÔNG LÊ HẢI VÂN
VỀ TRƯỜNG HỢP PHẠM CÔNG THIỆN ĐĂNG LIÊN TỤC VÔ TẬN
TRONG NHẬT BÁO ĐỘC LẬP HẠ TUẦN THÁNG 5 NĂM 1970

             Kính gởi thi sĩ Nguyên Sa Trần Bích Lan (tức Lê Hải Vân).
             Phải chăng thi nhân không còn nói với nhau bằng tiếng nói của thi sĩ trong cơn lửa dậy? Tiếng chim đã bị những khẩu hiệu bóp nghẹn rồi sao và chỉ còn lại một thứ ngôn ngữ tối đen đọa đày trong sự rạn vỡ càng lúc càng rạn vỡ ở đất nước này? Tôi mong ông có can đảm nhận thật tên của mình và nếu bút hiệu Lê Hải Vân bị ông chối bỏ thì tôi xin chịu lỗi và coi bức thư này gửi riêng cho Lê Hải Vân để cho hình ảnh thi sĩ Nguyên Sa hãy còn là thi sĩ.
             Bài ông xuất phát từ sự xếp đặt lâu dài mang đầy: “ẩn ý chính trị pha màu mật vụ” quá sôi nổi và cần phải được nghe lại cho đúng tiết nhịp của thời gian vượt ra ngoài mọi tư thế chính trị, bè nhóm, tập đoàn mà tôi thừa hiểu. Ông chỉ là kẻ thi hành hãnh tiến:
             1.– Tôi đã có bằng cấp tốt nghiệp trường đại học Yale ở Hoa Kỳ, chứ không phải học hành “ngu dốt” và “bị thi rớt” ở Hoa Kỳ như ông đã công bố trên mặt báo Độc Lập; Ông có thể chịu khó tọc mạch đến tìm thăm tôi để nhìn bằng cấp ấy hay là Ông gửi thư hỏi thẳng Y.F.S.I ở đại học đường Yale tại New Haven (U.S.A) (Nhưng tôi thấy khó chịu: Một người mang tâm hồn như tôi mà lại có bằng cấp thì đó quả là sự sỉ nhục quá lớn đối với tôi: chỉ có những kẻ không tự tin mới cần bằng cấp để chứng minh và “làm ăn”!)
             2.– Con người “nghệ sĩ điên gàn” trong tôi đã nổi loạn và khiến tôi tự ý bỏ học bổng ở tại Mỹ chứ không bị ai “cúp” học bổng vì “học dốt” như ông đã công bố trên mặt báo Độc Lập; ông có thể viết thư hỏi thẳng người trong cuộc, cô Cynthia Fish, địa chỉ: I.I.E. (Institute of International Education) ở United Nations Plazza tại New York City; chính cô Cynthia Fish là nhân viên đặc trách cấp dưỡng học bổng cho tôi trong thời gian du học ở Hoa Kỳ. Và cô Cynthia Fish đã ân cần mời tôi ăn cơm riêng với cô tại Broadway để tha thiết van xin năn nỉ tôi đừng bỏ học bổng, nhưng tôi trả lời: “Tôi không sống nổi ở nước Mỹ, vì nước Mỹ chỉ toàn là Coca Cola” và cô dịu dàng chăm sóc khuyên nhủ tôi nên nghỉ ngơi tĩnh dưỡng ở một y viện phân tâm học tại New York, nhưng tôi từ chối và nhất quyết bỏ học bổng.
             3.– Lúc tôi học ở trường đại học Columbia thì những bài vở của tôi thường vẫn được điểm A (tức là điểm cao nhất theo lối Mỹ), chứ không phải “học dốt”, “học không nổi” như ông công bố trên mặt báo Độc Lập; ông có thể biên thư hỏi lại giáo sư Faust tại trường đại học Columbia ở New York. Sở dĩ tôi bỏ học Columbia là vì tôi chịu không nổi cái thành phố New York và quá nhớ Paris và thích “làm thằng Clochard ở Paris hơn là triệu phú ở New York” (Tại sao lại phải cần nêu ra cái chuyện “học giỏi” của mình, khi tôi khinh bỉ hết tất cả học đường!)
             4.– Khi tôi nhất quyết bỏ Columbia và bỏ học bổng để đi qua Paris thì chính ông Donald Taylor, nhân viên cao cấp của đại học đường Columbia, đã tận tình giúp đỡ và trực tiếp điện thoại đến Washington để can thiệp cho tôi qua Paris; trường Columbia thì bênh vực tôi (mà đại diện trường là ông Donald Taylor), còn Washington thì phản đối và cho rằng tôi “lợi dụng học bổng ở Mỹ” để đi Paris vì “những ẩn sự chính trị” (nguyên văn: Political implications) mà tôi thì có bao giờ thèm để ý đến chuyện chính trị. Chính ông Donald Taylor đã buồn rầu hỏi tôi: “Tại sao biết bao nhiêu sinh viên Mỹ muốn có được học bổng như anh mà còn anh thì lại bỏ học bổng?” Rồi ông hỏi tiếp: “Anh sẽ làm gì cho đời anh trong tương lai?” Tôi trả lời: “Thành Phật!” Câu chuyện xẩy ra một ngày trước lễ Thanksgiving tháng 11 năm 1965. Ông có thể viết thư hỏi thẳng ông Donald Taylor, assistant director F.S.C., Columbia University, New York City. Tôi muốn ông hỏi thẳng một nhân viên cao cấp của Columbia để ông đừng quá tin cậy qua tin tức theo lối “mật vụ” vu vơ.
             5.– Về câu “Tôi khinh bỉ tất cả các thiền sư” chỉ là cách nói theo điệu thiền sư “Phùng Phật sát Phật” (Gặp Phật thì giết Phật) chắc ông không hề biết rằng mấy thiền sư gọi tổ sư Bồ Đề Đạt Ma là “tên rợ mắt xanh” (bích nhãn hồ), cái lối nói “ngạo mạn”, và “du côn” ấy nằm trong truyền thống ngôn ngữ thiền tông, giống như cách nói “vô lễ” khác mà mấy thiền sư nói với đức Phật; tôi không phải là một thiền sư, cho nên tôi không dám bắt chước thiền sư Vân Môn gọi Phật là “đồ chùi cứt khô” (càn thỉ khuyết). Muốn hiểu được nghĩa sâu thẳm của những lời nói “thô tục” trên thì phải có tâm hồn bốc cháy với lửa tam muội và mới đi vào được tinh thần “Thập Bát Không” của Bát Nhã (ô hay, ông Trần Bích Lan vốn là cựu sinh viên Phật học của Đại học Vạn Hạnh, không lẽ nào ông hiểu đạo Phật hơn tôi, giáo sư dạy về Phật giáo ở Viện Đại học Vạn Hạnh!)
             6.– Bây giờ tôi muốn đặt lên vài nhận xét về ông:
             a) Khi phê bình tôi, ông nên có thái độ liêm sỉ tối thiểu: đừng xén từng câu riêng lẻ và bỏ mất ý nghĩa toàn thể, không có gì khôi hài cho bằng rút tỉa một vài câu lạc lõng rồi tha hồ giải thích theo cái nhìn ngu xuẩn của mình;
             b) Giá trị của tác phẩm tôi và của đời tôi có đứng vững hay không là do sức mạnh nội tại của chính tâm hồn tôi và do ngọn lửa trong tinh thần tôi điều động, chứ không phải chịu lệ thuộc vào những ý kiến của bất cứ ai;
             c) Ông viết về tôi theo giọng điệu “trịch thượng” khôi hài và vô lễ một cách lố bịch, tất nhiên người nào có đọc sách ông và đọc sách tôi đều thấy rằng ông chưa đủ sức để nói chuyện đàng hoàng với tôi: sự trả thù của kẻ yếu tất nhiên là phải giống đàn bà (“xoi mói” “tọc mạch” “ba hoa nhảm nhí”, “ngồi lê đôi mách”), xin ông hãy là kẻ trượng phu!
             d) Tất nhiên hạng người tinh tế đều thấy rằng ông ganh tài đố kỵ tôi đủ cách vì thua sút tôi ở quá nhiều lãnh vực (học thức, văn nghệ, tư tưởng, sáng tác) mai này thanh niên Việt Nam sẽ nhớ đến tên Phạm Công Thiện, chứ khó có người còn nhớ đến tên ông! Tôi mong ông sống dai để nhìn thấy sự việc. (Tôi có “kiêu ngạo” lắm không? Thực ra, hãy còn rất khiêm tốn!)
             7.– Sau cùng tôi xin kêu gọi một chút “thơ mộng” trong tận đáy hồn ông: xin ông đừng đem chuyện riêng tư của đời một người cô độc để làm trò hề đám đông rẻ tiền, nếu ông đã đủ tư cách và đủ tâm hồn nhạy cảm thì chúng ta hãy nói chuyện nhau trong thế giới phiêu lãng của Tư Tưởng. Chỉ khi nào chúng ta chịu đối mặt nhau trong nỗi cô độc của tư tưởng thì tiếng nói của thi nhân mới sống dậy được, chứ không còn những lời ba hoa “đôi co” nhảm nhí nhỏ mọn, hãy để yên cho mây trời muôn thuở vẫn còn lại tiếng vọng của thi nhân.
             Đây là lời trả lời đầu tiên, duy nhất, cuối cùng. Còn lại chỉ là im lặng, im lặng, im lặng.
             Phải chăng thi ca đã chết? không còn gì thơ mộng nữa sao?
Kính chào,
Phạm Công Thiện

T.B. Xin Ông đừng nhắc đến tên Thích Nguyên Tánh; ông hãy để cho tên ấy sống với khoảng trống câm lặng nào đó của đời hắn. Mong chờ sự lễ độ tối thiểu của ông đối với thế giới riêng tư của người khác, nhất là của một kẻ chưa từng bao giờ chạm đến đời sống riêng tư của ông. Và câu hỏi cuối cùng tôi muốn hỏi ông: Tại sao ông thù hằn tôi đến độ quá mức tưởng tượng như thế, đang khi đó tôi chưa từng bao giờ có ác cảm với ông? Ông đang thực hiện một kế hoạch cho một thế lực chính trị nào đây? Người tinh ý sẽ hiểu ngay ông thuộc khối nào, phái nào, nhóm nào, tập đoàn nào!

Trích TUẦN BÁO KHỞI HÀNH số 56 (thứ năm 4-6-1970), trang 13
 
The following users thanked this post: hoangnguyen, KYFU

Ngủ rồi nduytai

Re: Phạm Công Thiện- thiên tài hay kẻ bất mãn?
« Trả lời #78 vào: 06/08/2016, 22:26:15 »
TÔI VẪN CÒN SỐNG, TÔI VẪN CÒN NGHĨ
Phạm Công Thiện

            Mặt trăng vẫn là kẻ thù của tôi: mấy ngày nay, trăng tỏ rạng, tròn, hiên ngang trên đầu tôi, tôi như điên cuồng, máu của con cọp bị tử thương gầm rống trong tôi, tôi cố gắng mỉm cười để sống. Hôm nay, trăng bắt đầu khuyết và hồn tôi bắt đầu vui tươi lại với chậu hoa phong lữ thảo trong tim. Tôi đứng dựa vào cửa sổ, nhìn ra lòng trời mênh mông vô hạn trải dài ra như đại dương. Đời sống tôi chìm tận đáy lúc trăng hiện và bắt đầu vỗ cánh ca hát lại lúc trăng mất dần. Năm cũ đã vơi tàn với Nietzsche qua một vừng trăng chết và lạnh, tháng giêng năm 1882, tại Gènes, “tháng giêng đẹp nhất đời” như một ngọn giáo lửa, đập vỡ băng giá của tâm hồn Nietzsche, xô đẩy tâm hồn chàng tuôn chảy sôi réo ào ạt về vùng biển cả của cơn hoài vọng cao lớn nhất trong đời chàng. Nietzsche ngạc nhiên tự nói, vời vợi tâm sự với ngày mới năm đầu: “Tôi vẫn còn sống, tôi vẫn còn nghĩ: tôi vẫn phải còn sống, vì vậy tôi vẫn phải còn nghĩ.”
            “Tôi còn sống, tôi còn nghĩ”, nhưng trong điệu nói của Nietzsche, tôi nghe như “Thế mà tôi vẫn còn sống, thế mà tôi vẫn còn nghĩ” còn qua câu nói tiếp “tôi phải còn sống, vậy thì tôi phải còn nghĩ”, nhưng trong điệu nói kín đáo của Nietzsche tôi nghe như: “Dù gì đi nữa thế mà tôi vẫn phải sống, vì vậy dù gì đi nữa thế mà tôi vẫn phải nghĩ”. Đầu năm 1882, Nietzsche nói:
            – Tôi còn sống, tôi còn nghĩ: tôi phải còn sống, vì vậy tôi phải còn nghĩ.
            Câu trên dịch sát nghĩa câu nói tiếng Đức, nhưng tôi muốn hiểu câu nói của Nietzsche như vầy:
            – Thế mà tôi vẫn còn sống đấy à, thế mà tôi vẫn còn nghĩ đấy à: dù sao đi nữa tôi vẫn phải sống, vì thế dù sao đi nữa tôi vẫn phải nghĩ.
            Rồi Nietzsche đùa giỡn với với Descartes, đảo lộn mọi sự lại và để cho sự sống đạp đầu lên tư tưởng. Dù gì đi nữa, dù cuộc sống có thế nào đi nữa thì tôi vẫn phải sống: đời sống tất nhiên là thế, đời sống bắt buộc là thế, tôi phải thấy sự tất nhiên ấy, sự bắt buộc ấy là đẹp, là thơ, mộng; Nietzsche nói: “Mình phải tập, càng lúc càng phải tập, mãi mãi tập nhìn thấy điều bắt buộc tất nhiên của sự đời là một cái gì đẹp đẽ.” Điều không thể tránh được vẫn phải được nhìn như một điều tốt đẹp cho mình: tôi phải mãi mãi tập nhìn thấy như thế. Tại sao giờ phút này tôi ngồi đây viết những dòng chữ này? Tại sao mặt trăng đã tàn phá tâm thức tôi dữ dội như vậy trong những ngày gần đây? Tại sao tôi vẫn chưa làm được điều tôi muốn làm? Vì sao con sông đã chảy nước như vậy? Vì sao tôi phải chịu đọa đày sống trong nỗi cô độc đau đớn càng lúc càng ăn nát đời tôi?

            Điều bắt buộc, sự tất yếu, việc tất nhiên, những điều không thể tránh được, những điều cần thiết chính là cái Đẹp viết hoa. Pierre Klossowski dịch chữ này qua âm hưởng Platon: “le Beau en soi”. Chẳng những Descartes bị lật ngược mà cả Platon cũng bị lật ngược: cái đẹp (cái Đẹp) không ở trên cao kia mà nằm ngay trong nhà tù dưới này: phải tô điểm trang hoàng nhà tù ở đây: hoa phong lữ thảo trở nên đẹp nhất khi hoa nhen nhúm lập lòe trên vách tường đạn trỗ. Nietzsche tự nhận rằng mình thuộc hạng người vẫn luôn luôn làm đẹp sự vật, làm những sự vật trở nên tuyệt vời. Tôi có thể làm buổi sáng hôm nay trở nên đẹp? Tôi có thể làm hoa phong lữ thảo của hàng xóm trở thành hoa phong lữ thảo của thiên thu diễm ảo? Đẹp thì cái gì cũng đẹp, đứng cũng đẹp, ngồi cũng đẹp, nói cũng đẹp, im lặng cũng đẹp, cười cũng đẹp, uống nước cũng đẹp, đi tới cũng đẹp và đi lui cũng đẹp, vắng mặt cũng đẹp, có mặt cũng đẹp, đẹp, đẹp hết. Mặt trăng không còn tàn phá tôi nữa, hay có tàn phá đi nữa thì sự tàn phá này cũng đẹp, vì mặt trăng đẹp. Hoa phong lữ thảo không còn làm tôi cảm thấy bối rối rộn ràng nữa, mà dù có bối rối rộn ràng thì sự bối rối rộn ràng cũng đẹp. “Như thế tôi sẽ trở thành một trong những người làm đẹp sự đời”. Nghĩa là Nietzsche muốn nói: “Amor Fati: Yêu Thương Định Phận, từ đây tôi yêu thương định phận, từ đây trở đi đó là tình yêu của tôi!” Từ đây trở đi, Nietzsche chỉ muốn là “một kẻ nói tiếng ừ” đối với đời sống; Nietzsche không còn muốn buộc tội, không còn tố cáo gì nữa: “Tôi không muốn tố cáo nữa đâu, tôi cũng không tố cáo cả những kẻ tố cáo”. Nietzsche chấp nhận, chấp nhận hết tất cả, chấp nhận một cách “tích cực” hay dù có “tiêu cực” lắm đi nữa thì Nietzsche chỉ “quay mặt nhìn chỗ khác”. Nietzsche không còn muốn gây hấn với điều xấu xa nữa. Cuộc đời vốn bỉ ổi, cuộc đời tất nhiên là bỉ ổi, điều không thể tránh được là phải sống với điều bỉ ổi. Phải yêu điều bỉ ổi. Mọi đường đi đã bị chận đứng. Người tử tù chỉ còn sống với chậu hoa phong lữ thảo. Có một tiếng động gì ở trên cao, đèn đã tắt. Bóng tối. Tôi phải nói, tôi vẫn còn phải nói. Tiếng nói đày đọa tôi giữa một vùng trăng xa. Tất cả mặt trăng đều tàn bạo và tất cả mặt trời đều cay đắng, một người con trai chạy trốn trong sa mạc đã nói như thế, đã nói như thế trước khi chạy trốn vào những rừng cát Phi châu.

            Tử hình, suốt đời phải chịu tử hình, vĩnh viễn phải chịu tử hình. Yêu thương sự tử hình. “Tôi không muốn tố cáo nữa, tôi cũng không tố cáo những kẻ tố cáo”, người nói được câu này là người đã yêu thương được mặt trăng và nếm được mật ngọt của mặt trời. Một câu định mệnh tôi đã tìm thấy ngày hôm nay trong một truyện của Samuel Beckett: “Có những đóa hoa Phong Lữ Thảo nơi cửa sổ. Tôi cúi nghiêng xuống những đóa hoa phong lữ thảo suốt từ bao nhiêu năm nay.” Những câu định mệnh là những câu không thể tránh được, những câu đã kéo lôi đời sống mình về một định phận không thể tránh được. Buổi chiều mưa tới. Những cơn mưa định mệnh. Một buổi chiều đi dọc lên một con đường tỉnh Ville d’ Avray thuộc vùng ngoại ô Paris, tình cờ tôi thoáng thấy một chậu hoa gì đỏ đỏ bay nhẹ trên cửa sổ một hotel, tôi quay lại hỏi người bạn họa sĩ về loại hoa đỏ đỏ ấy, anh cho biết đó là hoa géranium và mãi sau này trở về Việt Nam tôi mới biết géranium chính là phong lữ thảo. Chỉ nhìn thấy hoa phong lữ thảo một lần thôi mà không ngờ loại hoa ấy trở thành định mệnh của mình. Phải thương yêu định mệnh. Nietzsche và tháng giêng đẹp nhất trong đời, Amor Fati và phong lữ thảo, một con đường ngoại ô Paris và một quán cà phê ở Sàigòn, buổi chiều mưa và giấc ngủ muộn, mặt trăng và đời sống, những câu văn định mệnh. Suốt đời tôi, tôi chỉ muốn viết được một câu gọi là câu định mệnh. Tôi vẫn còn yêu, tôi vẫn còn viết. Dù sao đi nữa tôi vẫn phải yêu, vì thế dù sao đi nữa tôi vẫn phải viết.
            Chúa Nhật 24-5-1970

Trích TUẦN BÁO KHỞI HÀNH số 56 (thứ năm 4-6-1970), trang 4
 
The following users thanked this post: KYFU, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Phạm Công Thiện- thiên tài hay kẻ bất mãn?
« Trả lời #79 vào: 07/08/2016, 06:24:58 »
MỘT CHÚT NẮNG TRÔI VỀ BIỂN
Phạm Công Thiện

            Đúng vào tuổi tôi, Keats đã chết rổi. Mấy tháng qua, tôi sống tàn tạ lạ thường. Hôm nay, tôi quyết định sống lại cho ra hồn. Hai ngày nay, tôi tìm một tác giả Đan Mạch đọc lại để tìm thấy con đường đi mình đã đánh mất. Con đường: cô độc, im lặng, giấu kín nỗi bí mật của đời sống mình. Tôi ghét mấy chữ “cô độc” và “cô đơn”. Thực ra, chẳng có gì là “cô độc” và “cô đơn”, ngay đến sự đau khổ cũng chỉ là do trí óc mình tưởng tượng sai lạc. Vấn đề quan trọng nhất vẫn là: biết tưởng tượng. Tưởng tượng là tất cả đời sống và sự chết, thế giới của sự chết cũng bị tưởng tượng chi phối. Ngày hôm nay, tôi đã là gì? Khó trả lời, vì mọi sự lập lại và trôi đi như chẳng có gì kỳ dị: sự kỳ dị là hình ảnh lung lạc của ngôn ngữ trong đầu. Khó hiểu, mỗi một ý nghĩa là phản nghĩa từ nguyên thủy. Buổi sáng thức giấc, chờ uống cà phê và chờ bao thuốc lá. Tôi vẫn bị nô lệ vào cà phê và thuốc lá sao? Hôm nay, khát vọng làm quỉ đang nổi dậy trong tôi: tôi đang bước từng bước, học từng lời nói, từng cử chỉ, từng ý tưởng để lau sạch tất cả những gì dơ bẩn yếu đuối trong người và hồn. Tôi phải làm quỉ ngay trong phòng tôi ở, không phải làm quỉ giữa đời mà làm quỉ với chính mình. Tôi là một số không: tất cả sự vô hạn và hữu hạn nằm trong số không này. Khuyết điểm lớn nhất của tôi là thiếu nhẫn nại và làm biếng. Tôi thích nằm dài hơn là ngồi, tôi thích không làm gì hết, tôi cảm thấy kẻ thù lớn nhất của tôi là nọa tính. Tôi phải ngắm nhìn mọi sự của nọa tính và chụp mũ bóp nát nọa tính để cho tinh lực được hồi sinh trong ý thức vũ trụ. Tôi không thể nhớ được ngày hôm nay tôi đã sống như thế nào, chỉ biết rằng mình quá làm biếng, chỉ dịch vài ba trang của Krishnamurti, nghe suốt buổi sáng và suốt buổi chiều bao nhiêu dĩa nhạc của Beethoven, Chopin, Tchaikovsky. Hút rất nhiều thuốc, nằm dài trên giường, nói nhảm, đọc nhảm, uống nhảm, mở cửa sổ ra và nhìn nhảm ra ngoài phố. Viết đến đây lại cũng thấy mình chỉ viết nhảm. Đứng đắn, chỉnh trang, nghiêm nghị. Tiếng lá trong chậu kiểng cà mạnh vào cửa qua tiếng gió lùa vào khe hở. Việc viết nhật ký, đối với tôi, cũng quá buồn cười. Viết cái gì? Có thể viết thực không? Sự thật chỉ xuất hiện khi mình đã đạt đạo. Chữ đạt đạo cũng quá buồn cười. Đạt tính chắc dễ nghe hơn, vì lạ tai và chưa ai dùng. Chỉ khi nào mình đạt tính rồi thì mới mong hiểu được sự thành thật có nghĩa là gì. Người ta cho rằng viết là phải nói thực, nhất là viết nhật ký thì lại càng bắt buộc phải ghi sự thực; người ta làm như đã hiểu sự thực là gì rồi. Không có ai dám nói rằng đã hiểu sự thực, tìm ra kẻ giác ngộ; ngay đối với kẻ giác ngộ sự thực cùng là bất khả tư nghị, nghĩa là không thể nghĩ về sự thực được nếu mình chưa đạt tính và đạt tính tức là Giác Ngộ. Tôi luôn luôn vẫn muốn thành quỉ, đó là lý do tại sao tôi thích đời sống quỉ quái, đời sống quạnh hiu của một con quỉ ẩn hiện. Nhưng từ đây tới chết, nếu tôi vẫn chưa thành gì cả thì điều ấy quả là kỳ dị, tôi tin rằng tôi đã đạt tính rồi, tôi đã thành quỉ rồi, nhưng lòng tin này chỉ là sự ngụy biện cần thiết của trí óc để đánh lừa trang giấy trắng và ngòi bút. Thành hay không thành, không quan trọng gì cả. Chỉ quan trọng là mỗi ngày tôi phải sống cho ra sống, nghĩa là linh động, tỉnh thức, khiêm tốn, tạ ơn, thương yêu. Cuộc đời vẫn đẹp, vẫn mới, vẫn lạ; tôi vẫn lạ, vẫn mới, vẫn thay đổi. Không trốn tránh gì cả. Vẫn bước tới, tiếp tục bước tới sự chết để đi sang sương khói thời gian. Bày đặt viết văn, làm văn chương, đóng cho trọn một vở tuồng chèo và vỗ tay tán thưởng ánh đèn mờ của mặt trăng và ngôi sao. Bơi lội trong đường đá như chó sủa nhà ma. Văn chương siêu thực là sản phẩm nông cạn của chân trời tối. Tôi không hiểu tôi đang viết gì. Thôi đi ngủ và ngày mai sẽ viết tiếp. Tôi chỉ viết và vẫn viết tiếp. Viết không cần nghỉ, không cần xuống hàng, không cần suy nghĩ, không cần tìm hiểu rằng mình viết có ý nghĩa hay không, tôi viết như tắm nước cho mát người vào buổi trưa hè nóng nực; tôi không viết để ghi lại cuộc đời, để tìm một mục đích vân vân. Tôi viết luôn: một cách trị bệnh nọa tính và để khỏi điên. Vì vệ sinh tâm thần, tôi phải ép buộc viết mãi mãi, viết một cách vô nghĩa hay có ý nghĩa, viết luôn luôn như những ngôi sao thay nhau di động trên bầu trời bết máu. Từng loạt đạn bắn ra ngoài cầu. Nhưng dòng chữ tôi viết cũng không khác gì từng loạt đạn tôi bắn vào sự sợ hãi của một kiếp người giữa một triệu kiếp người đi trước và một triệu kiếp người đi sau. Không có gì mới lạ mà mọi sự vẫn mới lạ. Không có gì đáng nói mà vẫn có điều đáng nói, như khi tôi nói: “Tôi yêu ngày hôm nay, ngày mai, ngày mai nữa, ngày kia và đến một ngày mà mặt trời chỉ là ảo ảnh trong mộng của giây phút xuất sinh và nhập thần vô hạn”.
            Ngày hôm nay, thức giấc và bắt đầu ngày mới bằng một loạt dĩa Beethoven, suốt ngày dường như chỉ nghe nhạc. Vẫn buồn buồn, đi qua đi lại, đi lên đi xuống, mở cửa sổ, rồi đóng cửa sổ, mở cửa tủ, rồi đóng cửa tủ, mở nước chảy ra và vặn đóng nước lại, nói và im lặng, im lặng và nói, nằm và đứng lên, đứng lên rồi nằm xuống, cuộc đời tôi đã xế bóng từ lâu rồi sao? Tôi còn gì để sống lại những gì đã qua, đang tới, rồi sẽ đi mất. Nhưng trí nhớ vẫn còn đó, lòng tôi héo úa như sân trường bãi khóa. Trong tôi vẫn nhoi nhoi lên ý tưởng muốn chết mà tôi vẫn đàn áp, vẫn cố gắng yêu đời, vẫn tập sống từng giây phút; cuộc đời bế tắc từ lúc nào? Tôi không còn biết sống nữa. Tôi đi trong tối, trong đau đớn âm thầm, trong những đêm đen sâu; đôi mắt tôi không còn chịu nổi đèn điện, không còn chịu nổi ánh sáng mặt trời, không còn chịu nổi tiếng động ngoài phố! Quá khứ là tương lai trong nấm mồ: thực tại vĩnh cửu của đời tôi. Tôi không muốn khổ, tôi không muốn sống đen tối; tôi muốn yêu đời, yêu tất cả mọi sự. Cho tôi một bài thơ của lục thảo đầu xuân, cho tôi nốt nhạc dịu dàng tan nát của bão tố trên đám cây giẻ trong ký ức. Tôi muốn sơn xanh. Tôi không thích than thở nữa, tôi không thích buồn chán nữa. Đến bây giờ tôi vẫn chưa biết sống? Biển đang nhảy múa trong những đêm không ngủ, trong những thành phố chết. Chịu đựng hoài? Không chịu đựng? Chịu đựng hư vô, chịu đựng sự nhàm chán trong gian phòng ngạt thở, chịu đựng thiếu thốn mặt trời và mây trắng. Chịu đựng thiếu thốn những cánh đồng xanh và những đóa hoa. Cảm giác là thiên tai nguy hiểm hơn tất cả những thiên tai lớn nhất trong đời. Cảm giác đang tàn phá ý nghĩa đời sống.
            Sáng nay bắt đầu thức giấc với tiếng chuông chùa mênh mông. Trong hồn cảm thấy mát rượi khỏe khoắn dễ chịu. Ngồi dậy uống một tách cà phê, hút thuốc và nghe nhạc Chopin. Một ngày bắt đầu bằng tiếng chuông lặng lẽ thanh bình của tâm tư. Ngày hôm nay, nguyện yêu tất cả vũ trụ, đôi mắt tôi sẽ tràn lan ánh sáng của hành tinh ngọc bích. Sau khi nghe Chopin, tôi để ánh sáng mặt trời từ Ý Đại Lợi bay qua tràn ngập gian phòng qua tiếng hát buồn dịu của Connie Francis. Sau Connie Francis, tôi cho chạy hết tất cả dĩa nhạc của Beethoven tôi đã mượn được. Tôi muốn linh hồn của Beethoven về đậu vỗ cánh trong trái tim của tôi. Trái tim tôi cũng vỗ cánh và đốt thành phượng hoàng: chim ó và chim phượng hoàng, rắn và rồng, hai nhịp tim của đời tôi, hai chặng của tư tưởng tôi: lửa và nước là hai vành thiên thu bay vút lên những con đường nghẽn, người tử tội quì lạy sương mù thuở nhỏ, khi những trái thơm còn mọng trong môi nàng tiên trong truyện thần thoại; lớn lên thì bay mất đi những bông sao trên hè phố, người ta đốn hết những cây trên đường phố: một hôm nhìn những gốc cây bị đốn ngoài đường thì tôi mới biết rằng mình không còn con nít nữa, tôi đã lớn và lớn có nghĩa là ôm trái tim đi lây lất ăn mày sương mù trên khắp nẻo đường trái đất. Thiên thu bỏ đi như tơ bay lẳng giữa trời, như một dĩa hát chạy hết đường nhạc và cọ kim rè trên những âm thanh đã tắt. Tuổi thơ bỏ đi như điếu thuốc bị dúi vào đồ gạt tàn mà vẫn còn cháy ngầm và phả ra những vòng khói hôi hám ngạt thở khó chịu. Tiếng thỏ thẻ của ban mai thì thầm trong máu. Ngày hôm nay trôi qua lạ lùng, bây giờ là chín giờ tối. Chỉ còn một đám tro còn lại trong lưỡi. Người ta đến, người ta đi. Tôi vẫn còn nói rất nhiều và vẫn còn sống quá nhảm nhí. Hời hợt muốn nghẹt thở. Bao giờ tôi mới biết sống? Biết im lặng? Biết nhìn và biết nghe? Biết sống tầm thường một cách lễ độ và thơ mộng? Đừng bao giờ để lộ ra cho người ta thấy một chút bí ẩn của tâm hồn mình. Không bao giờ cần giải thích, cần biện minh, cần tìm lý do. Tất cả mọi sự đều xuất phát từ đốm lửa trong tim. Làm mọi sự cho xong và không mong kết quả; một cử chỉ nhỏ nhặt nhất đủ làm “hoa hạnh trổ bông trắng giữa đông lạnh”. Tất cả những gì xảy ra trong ngày đều cần thiết, không tránh bất cứ việc gì cả. Tính mệnh là đôi mắt và mười ngón tay của mình. Đừng bao giờ phê phán dòng sông. Những cơn ác mộng là báo hiệu cho mùa xuân nảy lộc. Đừng mong đợi đặc ân, thiên ân riêng cho mình. Chịu tai họa, tai nạn, thiên tai như tất cả mọi người: một người chết là tôi đang chết, một thành phố sụp đổ là thân thể tôi tan nát. Thờ phụng những đám lửa. Phượng Hoàng là con đường tôi đi: Phượng Hoàng là biểu tượng của tình yêu trong hư vô. Sự phũ phàng là lý do tồn tại của vũ trụ. Sự thất bại của loài người là bước đi về sáng tạo trong Ba giờ khuya. Phượng Hoàng kêu lên tiếng gọi của hoàng hôn và nghĩa địa. Sự chết cần thiết như giấc ngủ đầy mộng mị. Ngày hôm nay, tôi đang chết. Ngày hôm qua, tôi đã chết. Tôi vẫn chết với thiên thu. Sự sống là thân thể của tôi và sự chết là hơi thở liên tục từ một vô biên đến một vô biên, từ một vĩnh cửu đến một vĩnh cửu.
            …

Trích TUẦN BÁO KHỞI HÀNH số 57 (thứ năm 11-6-1970), trang 13
 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Phạm Công Thiện- thiên tài hay kẻ bất mãn?
« Trả lời #80 vào: 07/05/2017, 19:08:52 »
Ý THỨC MỚI ― PHẠM CÔNG THIỆN, TƯ TƯỞNG GIA VIỆT NAM

Dưới đây là phần dịch “Lời Nói Đầu” trong cuốn Ý Thức Mới ― Phạm Công Thiện, tư tưởng gia Việt Nam của tác giả Nohira Munehiro. (Nguyên tác: 野平宗弘 『新しい意識 ― ベトナムの亡命思想家ファム・コン・ティエン ―』). Sách dầy hơn 350 trang, do Iwanami Shoten xuất bản tháng 6/2009, sang năm 2010 đoạt giải thưởng của Hội Sử Học Đông Nam Á (của Nhật Bản). Tác giả Nohira có nhiều năm đọc sách Phạm Công Thiện và khi viết tác phẩm đã sang tận Mỹ để gặp gỡ ông. Đây cũng chính là luận án đệ trình Tiến sĩ tại Đại Học Ngoại Ngữ Tokyo. Bản dịch Việt ngữ khoảng 500 trang do nhà Hương Tích sẽ ấn hành trong năm 2014.



LỜI NÓI ĐẦU

            Sách này sẽ cố gắng giới thiệu đến người đọc tiếng Nhật về nhân vật Phạm Công Thiện (1941-2011) – một tư tưởng gia, một thi sĩ đã xuất hiện tại Nam Việt Nam (tức Việt Nam Cộng Hòa) thời chiến tranh Việt Nam, cũng như muốn làm sáng tỏ tư tưởng được cho là khó hiểu trong các tác phẩm của ông.
            Phạm Công Thiện là một trí thức Phật giáo đại biểu cho Nam Việt Nam thời chiến tranh Việt Nam. Từ khoảng giữa thập niên 1960 trở đi, khi những trước tác của ông liên tục xuất bản, thì tiếng tăm ông lan rộng đến mức trở thành một hiện tượng thịnh hành với tên gọi hiện tượng Phạm Công Thiện, thậm chí còn được tôn sùng như thần tượng của giới trẻ đang sống trong tuyệt vọng chiến tranh.(1) Thế nhưng đột nhiên ông mất tích khỏi Việt Nam vào năm 1970. Có thi sĩ gọi ông là ngôi sao băng.(2)
            Về một Phạm Công Thiện như ngôi sao băng đột ngột xuất hiện ở Việt Nam, xé toang đêm tối của thời đại chiến tranh rồi bất ngờ biến mất, hầu như không được biết đến ngoài lãnh thổ Việt Nam, và ngay ở Việt Nam hiện tại cũng chưa có được một đánh giá nghiêm cẩn.(3) Tuy nhiên, theo như tôi thấy, ông không những mười phần xứng đáng để nghiên cứu lại như là nhân vật đã cật vấn rất căn nguyên về địa ngục chiến tranh Việt Nam ngay tại đất nước đương sự, mà tôi còn cho rằng tư tưởng ông đưa ra chứa đầy tính trọng yếu không thể nào bỏ qua được đối với chúng ta những kẻ đang sống trong thế giới hôm nay mà toàn thể địa cầu đã bị phủ kín bởi tri thức cận đại và khoa học kỹ thuật có nguồn gốc từ Tây phương. Cho nên, lẽ thường, tôi phải giới thiệu ông qua cách giải thích của riêng mình đối với tư tưởng nan giải của ông.
            Điều trọng yếu cần phải quan tâm khi nghiên cứu tư tưởng Phạm Công Thiện chính là những tác phẩm mà ông đã viết, còn mấy thứ như kinh nghiệm từng trải, quá trình học tập hay công ăn việc làm chỉ dừng ở mức yếu tố thứ yếu. Tuy nhiên, với một nhân vật có thể nói gần như vô danh tại Nhật Bản, dầu sao chăng nữa, trước hết, tôi muốn giới thiệu thật đơn giản coi Phạm Công Thiện là nhân vật như thế nào. Để vậy, có lẽ phương pháp tốt nhất là trích dẫn nguyên văn mấy lời tự giới thiệu bản thân rất khác thường do chính ông viết vào những năm giữa tuổi 20. Trong thi tập Ngày Sanh của Rắn xuất bản năm 1966, bài tự giới thiệu được viết như sau:

            “Sinh vào năm rắn, bên dòng sông Cửu long, vì tranh luận học vấn với giáo sư, nên bỏ học trường lúc 13 tuổi, viết sách lúc 14 tuổi; làm giáo sư sinh ngữ từ lúc 16 tuổi đến 20 tuổi tại những trường ở Sài gòn, Mỹ tho, Đà lạt, Nha trang; quyển sách khảo luận đầu tiên được xuất bản vào lúc 16 tuổi,(4) viết quyển Ý thức mới trong Văn nghệ và Triết học vào lúc 20 tuổi; học triết lý tại trường đại học Yale, đệ trình tiểu luận Ý niệm về chân lý trong tư tưởng Platon và Heidegger tại hội thảo triết lý ở Yale; tiếp tục học triết lý tại trường đại học Columbia, khinh bỉ giáo sư và bỏ học bổng của Viện Giáo Dục Quốc Tế, bị viện mời đi gặp bác sĩ phân tâm học, được mời khéo vào nhà thương điên, lại tranh luận với bác sĩ phân tâm học về giá trị và giới hạn của phân tâm học hiện đại, chỉ trích đời sống nông cạn của Mỹ quốc, sống lang thang lây lất ở xóm nghệ sĩ Greenwich Village tại New York; đã gặp Henry Miller, tại Pacific Palisades ở California, được Henry Miller nhận là Rimbaud lại ở thế kỷ XX, sau đó được một văn sĩ Do thái cho tiền để trốn qua Paris không giấy tờ, không hành lý, sống bơ phờ ở Bretagne, học văn chương tại trường đại học Rennes, khinh bỉ giáo sư, rồi lại bỏ đi và sống lang thang lây lất khắp hang cùng ngỏ hẻm ở Paris, làm clochard đi ăn mày, ngủ dưới cầu, ngủ trên vỉa hè, đói lạnh long đong và bỏ làm luận án tiến sĩ tại Pháp, được Henry Miller gửi tiền nuôi sống và được Henry Miller cho tiền rời bỏ Paris để sống lang thang giang hồ tại Thụy sĩ, Ý đại lợi, Ba tư, Hy lạp, Thái lan, vân vân. Lúc ở Paris thì nhập bọn với nhóm nghệ sĩ trẻ ở Popoff, la cà vất vưởng ở xóm Saint Séverin và Saint Germain des Prés, đã gặp Krishnamurti hai lần tại Square Rapp. Hiện đang sống chờ đợi điên và chờ đợi chết, triệt để đứng ngoài tất cả ý thức hệ chính trị, đứng ngoài mọi sự tranh chấp tôn giáo, khinh bỉ tất cả văn hóa nhân loại, thù ghét tất cả mọi tổ chức xã hội, vô cùng kiêu hãnh, chỉ đi một mình và tự nhận là thiên tài độc nhất của Việt Nam”.

            Thật đúng với những gì tôi đã cảm nhận từ đoạn văn trên, Phạm Công Thiện – hay hậu thân của Rimbaud – là người nổi tiếng có lời nói và hành vi cực kỳ quá khích ở Nam Việt Nam nửa sau thập niên 1960. Không chừng chính từ mấy câu tự giới thiệu này mà ông bị mang ấn tượng phải chăng đây chỉ là một nhân vật ma mãnh tự xưng thiên tài, rồi thì nói năng ba hoa, liều lĩnh chống đối quyền uy. Có điều, tất cả không gì khác ngoài ngộ nhận.
            Từ thủa thiếu thời Phạm Công Thiện đã đọc thông hiểu một lượng khổng lồ sách vở cổ kim Đông Tây bằng nguyên ngữ, và có dáng vẻ bác học đến nỗi người trong thiên hạ phải gọi là thần đồng, là thiên tài. Nhưng đâu chỉ dừng lại ở bấy nhiêu đó. Ông còn đấu tay đôi với tư tưởng của Nietzsche, Heidegger, Henry Miller, Suzuki Daisetz, Long Thụ; ông lại mạo hiểm phá hoại nền tảng suy tư siêu hình học Tây phương – nơi khởi nguồn của chiến tranh cận đại cũng như phân tâm học; ở chỗ tận cùng của ý thức và tồn tại ông tìm thấy tư tưởng hố thẳm cần phải đối chọi với địa ngục (naraka) của thời đại chính là chiến tranh Việt Nam. Hơn nữa, giống như Henry Miller, sự minh tuệ của ông luôn gắn liền với đời người. Ông không bị cầm tù trong “vọng niệm” như là “thường thức” và “tập quán” – những thứ do thế giới ngôn ngữ hiện tại tạo ra đã trói buộc đời sống con người, ông đốt cháy đời sống tự do của mình, ông sống y nguyên như vốn có. Đoạn tự giới thiệu trên đã bày tỏ chân thật điều đó.
            Như chính ông cũng đã ý thức được bản thân “chỉ đi một mình”, trong lòng thét gào rất chính trực và cực cùng cô độc bất chấp bị thế gian cự tuyệt không chút đồng cảm. Vậy thì cái tư tưởng đó thật sự là như thế nào? Bắt đầu từ đây, tôi sẽ đuổi theo quỹ đạo của ngôi sao băng này.

Cấu thành của sách
            Đoạn văn tự giới thiệu của Phạm Công Thiện dừng lại ở những ghi chép cho đến giữa tuổi hai mươi khi tập thơ được xuất bản, nhưng ở Chương Mở Đầu, một lần nữa, tôi sẽ hết sức tóm tắt theo trình tự thời gian và muốn giới thiệu thật đơn giản về cuộc đời phiêu bạt từ lúc mới sinh cho đến tận hiện tại của ông,(5) chủ yếu dựa trên những gì ông đã viết trong các trước tác của mình.
            Chương Mở Đầu giới thiệu cuộc đời ông đầy những thăng trầm, chỉ bấy nhiêu đó cũng thú vị lắm rồi, nhưng điểm mấu chốt của sách này nói chung không gì ngoài đương đầu với sự khó hiểu, và làm sáng tỏ tư tưởng của ông mà hầu như đã không được đặt thành vấn đề đích đáng. Có điều, chính vì tư tưởng của ông triển khai trên tiền đề là phải thông bác từng chữ Đông Tây kim cổ, vì thế nếu không có một tri thức tiền đề cỡ đó thì chắc chắn sẽ cảm thấy khó hiểu. Hơn nữa thuật ngữ mà ông sử dụng, ví dụ như thuật ngữ chủ yếu là Tính chẳng hạn, thoạt nhìn có vẻ đơn thuần nhưng thực ra bên trong ẩn chứa ý nghĩa độc đáo hoàn toàn khác với thông thường. Sẽ rất khó thâm nhập vào tư tưởng của ông nếu như không hiểu được những thuật ngữ như vậy có ý nghĩa ra sao, dù xét trên bề mặt hay xét về hình thức đi nữa, cho nên ngay từ đầu nhất thiết phải nát óc với những thuật ngữ độc đáo của ông coi chúng mang ý nghĩa là gì. Vì thế, Chương Một sẽ lấy vấn đề “ông đã suy nghĩ về chiến tranh Việt Nam như thế nào” làm manh mối để giải thích về ý nghĩa của thuật ngữ chủ yếu Tính mà ông sử dụng. Sau đó, sẽ khảo sát xoay quanh sự lãnh hội của ông về “tư tưởng Heidegger” và “Thiền” – là hai thứ đã làm tiền đề nghĩ ra thuật ngữ đó.
            Chương Hai lấy trục chính là thuật ngữ Tính và Việt, tôi chọn ra Im lặng Hố thẳm như tác phẩm đại biểu của nửa sau thập niên 1960 đã đề xuất tư tưởng Việt Nam độc đáo ở thời đại chiến tranh Việt Nam, và cố gắng đọc hiểu trước tác nan giải này. Ngoài Tính và Việt vừa nói, còn tiến hành khảo sát chú trọng vào những cụm từ hay danh từ riêng mà tôi cho là tối quan trọng trong trước tác này như Im lặng Hố thẳm cũng là tên của trước tác; như Dịch hóa pháp – chữ mà Phạm Công Thiện chọn làm dịch ngữ cho “Dialektik” của Long Thụ đối kháng lại Biện chứng pháp; và như Không Lộ – cũng là tên của một Thiền sư Việt Nam thời xưa. Ngoài ra, từ Chương Hai trở đi sẽ tích cực sử dụng Lý luận Phân tiết Ý nghĩa Ngôn ngữ của Giáo sư Izutsu Toshihiko để cố gắng làm rõ ràng thêm về “tư tưởng của Phạm Công Thiện đã coi thuật ngữ Tính đóng vai trò trung tâm”.
            Chương Ba sẽ luận về, “tính liên quan tư tưởng giữa Henry Miller, Heidegger và Phật giáo mà Phạm Công Thiện đã tìm ra”, và, “sự hình thành tư tưởng độc đáo của Phạm Công Thiện khởi từ đó”. Cụ thể trước hết, liên quan đến Thư ngỏ gửi Henry Miller tố cáo trạng huống chiến tranh Việt Nam, sẽ khảo sát về vấn đề nguyên do tại sao Phạm Công Thiện đã hỏi Miller câu hỏi tồn tại luận còn nặng ảnh hưởng của Heidegger. Tiếp theo, căn cứ trên tư tưởng của Heidegger và Miller mà truy tìm chân ý của mệnh đề táo bạo của Phạm Công Thiện: Sein của Heidegger chính là Cunt của Miller. Rồi khảo sát tư tưởng Việt Nam của CáiCon – mà Phạm Công Thiện đã đề xướng – nghĩa là như thế nào, dĩ nhiên có liên quan mật thiết đến ý nghĩa của mệnh đề trên, nhưng ở đây ông đã lựa chọn Cái và Con gần gũi hơn trong tiếng Việt.
            Từ những khảo sát về tư tưởng của Phạm Công Thiện cho đến đây, Chương Bốn chuyển sang khảo sát đặt trọng điểm vào sáng tác của ông. Tôi sẽ chọn ra những sáng tác cụ thể của ông – người coi mình không phải tư tưởng gia cũng chẳng phải triết gia mà là một thi sĩ, và suy nghĩ xem có thể tìm thấy tư tưởng gì ở đó, đối với ông thơ và nhà thơ mang ý nghĩa gì? Trước hết, Phạm Công Thiện là người đã phê phán Siêu hình học Tây phương như là nguyên nhân căn bản của chiến tranh Việt Nam, như vậy ông đối chọi như thế nào đối với Tự ngã cận đại được hình thành ở nửa đầu thế kỷ XX trong văn học Việt Nam thông qua thuộc địa hóa của thực dân Pháp, đó là “khảo sát phương diện phá hoại trong tác phẩm của ông” đặt trọng tâm vào tác phẩm Mặt trời Không bao giờ Có Thực. Kế tiếp, Phạm Công Thiện đã lý giải như thế nào về mối quan hệ giữa làm thơ và quê hương để rồi biến nó thành tác phẩm, đó là “khảo sát phương diện sáng tạo trong tác phẩm của ông”. Rồi ngược về tận nguồn cơn làm thơ mà đối với ông được gọi là Thơ hay Nguồn Trong Trẻo viết hoa, để từ đó nhìn xem thi nhân làm thơ và tư tưởng về quê hương như thế nào bằng tiếng mẹ đẻ, nhờ đó mới suy nghĩ về quan hệ tính căn nguyên của “ngôn ngữ”, “thế giới” và “thi nhân”.
            Chương Kết Thúc sẽ nhìn lại những khảo sát từ đầu, chỉ ra cho thấy bước đi của cuộc đời Phạm Công Thiện, là bước đi hướng về chỗ đồng nhất – hiện đang tiềm phục có thể siêu việt thời đại cũng như hai bờ Đông-Tây, nó hình như được đánh dấu nghĩa là Tâm cũng là Nguồn Trong Trẻo; và là sự mạo hiểm mà con người hiện đại hướng về chỗ bên trong bản thân mình vẫn đang chưa biết.


NOHIRA MUNEHIRO
Nguyễn Tiên Yên dịch

_________________________________________
(1) Trần Tuấn Kiệt đã viết như sau về mối quan hệ giữa trước tác của Phạm Công Thiện với giới trẻ trong chiến tranh Việt Nam:
      “Ý thức Bùng Vỡ, Ý thức Mới đầy phẫn nộ, cuồng bạo của Phạm Công Thiện được tuổi trẻ đón nhận ồ ạt, ấy cũng vì tâm hồn người trai trẻ trong sóng gió muốn nương vào chiếc bè gỗ trên sóng gió mà đỡ bớt chới với trong Mê cung địa ngục.” (Trần Tuấn Kiệt, Tác Giả Tác Phẩm: Đời sống và tác phẩm các văn nghệ sĩ Việt Nam, Sài Gòn, 1973, tr. 26-27).
(2) Lời mô tả Phạm Công Thiện của thi sĩ Thanh Tâm Tuyền. Nhà văn Mai Thảo ghi như sau trong hồi tưởng của ông:
      “Tôi nhớ bấy giờ là cuối năm 1970. Phạm Công Thiện, trong tư cách khoa trưởng Văn khoa Đại học Vạn Hạnh, lên đường đi Âu châu dự một hội nghị đại học quốc tế rồi đi luôn không bao giờ còn trở về Việt Nam nữa. Hết thảy chúng tôi đều sững sờ, khó hiểu. Riêng Thanh Tâm Tuyền không. Bảo tôi: “Anh phải nhìn thấy sớm muộn rồi Phạm Công Thiện cũng phải một lần bỏ đi như thế, đi hẳn thật xa, mất tích. Có như vậy mới đúng là Phạm Công Thiện. Chúng ta ít nhiều là những định tinh. Hắn hơn là một hành tinh. Hắn là một ngôi sao băng”. (Mai Thảo, Chân Dung: Mười lăm nhà văn nhà thơ Việt Nam, Văn Khoa xuất bản, California, 1985, pp. 146-147).
(3) Hiện tại trên homepage talawas – một diễn đàn văn hóa tư tưởng nghệ thuật của Việt Nam hiện đại do nhà văn Phạm Thị Hoài sống ở Đức làm tổng biên tập, có đăng tải một số tác phẩm xuất bản trước đây tại Nam Việt Nam của Phạm Công Thiện như Ý thức mới trong Văn nghệ và Triết học, Mặt trời Không bao giờ Có Thực, Hố thẳm Tư tưởng, Im lặng Hố thẳm, các bản dịch Heidegger Triết lý là gì?, Về Thể tính của Chân lý đã được số hóa từ năm 2006. Có thể duyệt xem tại địa chỉ http://www.talawas.org
(4) Tác giả bỏ sót không dịch câu này. (nd)
(5) Chú ý hiện tại ở đây là tính đến thời điểm sách này được xuất bản vào tháng 6 năm 2009, tức khoảng 2 năm trước khi Phạm Công Thiện qua đời tại Mỹ. (nd)


http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=17227

 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi nduytai

Re: Phạm Công Thiện- thiên tài hay kẻ bất mãn?
« Trả lời #81 vào: 14/05/2017, 15:16:39 »
NHÀ VĂN NỔI LOẠN HAY THẦN TƯỢNG VĂN NGHỆ: TRƯỜNG HỢP PHẠM CÔNG THIỆN

Phạm Công Thiện / Thích Nguyên Tánh là nhân cách sáng tạo đặc biệt
của nền văn nghệ miền Nam 1954-1975, và rộng ra, là của toàn nền văn nghệ Việt Nam thế kỷ XX.

Giáo sư Phạm Công Thiện (1941-2011)

I.– Thần tượng văn nghệ, một lối nhìn
1.– Thông thường, người ta vẫn biết đến Phạm Công Thiện, trước nhất, trong những tư cách khác tư cách nhà văn. Ông nổi tiếng với các biên khảo tư tưởng và văn học. Nói gần và gọn hơn, Thiện nổi tiếng với những tư tưởng văn nghệ. Di sản văn xuôi của Phạm Công Thiện, vì thế, ít được quan tâm. Hoặc, khác đi, được quan tâm không xứng, văn bất xứng thực tài, thực chất. Tuy nhiên, ít được quan tâm, hoặc quan tâm không đúng mức, không có nghĩa di sản văn xuôi của Phạm Công Thiện vì thế mà mất giá. Tiểu luận này, do đó, thử mò đường, hướng đến một diễn giải khác từ trong di sản văn xuôi để lại của nhà văn miền Nam đặc biệt này. Cái đặc biệt, trước nhất đến từ cá tính,(1) sau đó, hiện hữu nơi văn tài. Qua đấy, bước đầu thử tái phục dựng một thế hệ nhà văn đặc biệt – nhà văn nổi loạn ở miền Nam, từ/qua trường hợp tiêu biểu hơn cả là Phạm Công Thiện.(2) Đồng thời, thông qua đấy, khái lược lên những nét căn bản về mối quan hệ, tầm ảnh hưởng của Phạm Công Thiện đối với cả một thế hệ thanh niên trí thức “không đàn anh”, nổi loạn, đập phá, đơn độc, hư vô một thời. Nghĩa là, tiểu luận này muốn quan tâm đến văn nghiệp của Phạm Công Thiện như là một “sự kiện xã hội tổng thể” trong thời của ông thuộc về. Chỉ như thế, hy vọng mới có thể nhìn thấy được một cách sắc nét những “ám ảnh” sâu bền, mê say và cay đắng của thần tượng văn nghệ nổi loạn một thời Phạm Công Thiện đối với thanh niên trí thức miền Nam. Ngoài ra, phân tích văn nghiệp của Phạm Công Thiện cũng là để tìm hiểu rõ hơn những nỗ lực tư tưởng và sáng tạo nghệ thuật của nhà văn tài năng này. Đồng thời, làm phép so sánh thần tượng văn nghệ hai miền Nam-Bắc cùng thời, bước đầu tôi thử kiếm tìm những bản chất văn nghệ Việt Nam từ hai miền.

2.– Tìm hiểu thần tượng văn nghệ của một giai đoạn văn học sử, bao giờ cũng vậy, là một nhiệm vụ mang nhiều mã nghĩa. Bởi, thông thường, mỗi thời đại văn nghệ thường xuất hiện trong/cho nó những thần tượng. Như ở Bắc Việt Nam thời chiến tập trung hóa cao độ (kể cả sự tập trung ý chí sáng tạo của nghệ sĩ), thần tượng văn nghệ đấy là những kẻ nói tốt nhất ý chí của cái tôi tập thể. Tố Hữu, vì thế, chính thức và chính thống hóa được vinh danh là thần tượng lớn nhất của văn nghệ thời “chung một gương mặt, chung một tâm hồn”. Bởi, những câu thơ của Tố Hữu hiển nhiên luôn rất phổ thông.(3) Sáng tác của đồng chí Tố Hữu, vì thế, được dẫn truyền khắp đời sống văn học miền Bắc bằng nhiều con đường: các giải thưởng, xuất bản chính thống, tuyên truyền, giáo dục…
            Ở miền Nam, xã hội bị phân mảnh ra làm nhiều đối cực, nhưng dẫu sao, trong một thời gian ngắn, vẫn đủ để tạo ra được bầu không khí dân chủ, nên không chứng kiến sự tập trung hóa xã hội, nhất là trong ý hệ và ý chí sáng tạo. Số phận văn nghệ, do vậy, được ly tâm thành nhiều trục. Nên, có thể nói, không tồn tại thần tượng phổ quát, được áp đặt, truyền bá trong đời sống văn nghệ miền Nam. Cái người ta thần tượng, hay yêu thích, do vậy, nằm trong trường quan tâm của hoạt động đọc cá nhân, hay một tập thể đọc văn học có chung tiêu chí thẩm mỹ; mỹ học tiếp nhận gọi đấy là sự đa dạng những “chân trời chờ đợi”. Người mê cái cổ điển có thể thích Nguyễn Đình Toàn, Vũ Khắc Khoan. Đau đớn, dằn vặt, phi lý trong một kiếp đời chật chội, tù đày, ám ảnh bởi bạo lực chiến tranh, cái chết có thể tìm Dương Nghiễm Mậu, Thanh Tâm Tuyền. Ưa cách tân lối tiểu thuyết mới thì đọc Hoàng Ngọc Biên. Bạn nữ sống dữ dội, táo bạo đọc Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, v.v… Nhưng, tựu chung lại với những nhà văn thành danh vừa kể trên, dù yêu thích đến mấy đi chăng nữa, thì cũng ít khi nào cộng đồng văn nghệ miền Nam thời ấy dám nói đến một thế hệ thần tượng Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đình Toàn hay Nguyễn Thị Hoàng… Nhưng với Phạm Công Thiện thì khác, người ta có thể nói tới một thế hệ thần tượng Phạm Công Thiện. Một thế hệ có Phạm Công Thiện trong kẽ răng, nơi đầu lưỡi.

3.– Nhưng thần tượng văn nghệ ấy là gì? Trong nét những nghĩa cụ thể, có thể xem thần tượng văn nghệ chính là sự cụ thể hóa thành nhân dạng cái thị hiếu thẩm mỹ phổ quát của độc giả văn nghệ một thời. Thần tượng văn nghệ, do đó, là tượng đài biết đi lại, nói năng của tâm lý tiếp nhận văn nghệ tập thể. Nói cách khác, mượn lối hiểu của khoa phân tích tâm lý tập thể, thần tượng văn nghệ đó chính là tâm lý công cộng của đám đông đọc văn học được chiếu rọi ra ngoài, hun đúc nơi một cá nhân. Và do vậy, mọi biểu hiện của thần tượng, từ đấy, có thể coi như là những hoạt động cá thể nhưng đại diện cho cái tập thể. Nghiên cứu thần tượng văn nghệ của một thời, hay nói khác, chính xác hơn, của một đám đông hoặc cộng đồng văn nghệ, vì thế, chứa đựng một lúc nhiều khoái thú. Bởi, khi ấy, nhà nghiên cứu đang làm một lúc ít nhất hai hành vi, kiểu “một đòn chết hai”; đó là: 1/ Cắt nghĩa tài năng sáng tạo của đối tượng được khảo sát là thần tượng của một cộng đồng; 2/ Thông hiểu tâm lý văn nghệ tập thể, cái có thể làm thành tinh thần nghệ thuật căn nền của cả một thời đoạn văn nghệ. Mà ở đây, trong tiểu luận này, dấu chỉ hướng tới là văn nghệ miền Nam 1954-1975.
            Và bởi tính chất thiết yếu tương quan mật thiết của thần tượng đối với đám đông, nên, nghiên cứu thần tượng văn nghệ Tố Hữu của miền Bắc, vì vậy, là con đường quen thuộc, là “chất liệu lý tưởng” (Lã Nguyên) bấy lâu của nhiều nhà nghiên cứu hướng đến nhằm tìm hiểu “những tinh hoa của văn học cách mạng”, hay diễn ngôn hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tương tự như vậy, nghiên cứu nhà văn nổi loạn Phạm Công Thiện – thần tượng văn nghệ của thanh niên miền Nam thời bấy giờ thì cũng có thể thông hiểu những vấn đề bản chất của khu vực văn nghệ còn như một “sân khấu trống” hay “sân khấu bị lãng quên” trong văn học sử này.

II.– Thử cắt nghĩa cá tính sáng tạo nhà văn nổi loạn hay Đi tìm con đường trở thành thần tượng văn nghệ
            Trải cái nhìn trên diện rộng, chúng tôi thấy có một sự giống nhau căn bản trong sự nghiệp phong phú của Phạm Công Thiện.(4) Đó là nổi loạn. Thi sĩ Trần Tuấn Kiệt ở miền Nam thời bấy giờ có một nhận xét rất “đắt”, đúng kiểu “bốc giời” như nhà thơ khen: “Về thơ ở trần gian này, riêng tôi khoái có vài người gọi là bậc siêu thần bạt thánh côn đồ lão tổ nhất là Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn và Phạm Công Thiện. Ngoài ra hết.”(5) Cái chúng tôi quan tâm trong nhận định của Trần Tuấn Kiệt, và cũng là nhiều người khác, đó là tính chất “côn đồ lão tổ” nơi cá tính sáng tạo của Phạm Công Thiện.(6) Và nổi loạn, đó là hệ quả thuận tất yếu của thói côn đồ trong sáng tạo văn nghệ. Thói côn đồ trong nghệ thuật được hiểu như những sự nổi loạn nhằm phá hủy, làm lệch chuẩn thẩm mỹ thông thường. Và nghệ thuật mới/khác, như loài cây cường tráng, mọc tốt tươi trên mảnh đất côn đồ, nổi loạn nghệ thuật. Thử cắt nghĩa căn nguyên của nổi loạn nhà văn Phạm Công Thiện để thấy rễ loạn trong tư tưởng văn nghệ cắm chằng chịt ở nhiều mạch đất. Bởi, con khỉ phá bĩnh trong tư tưởng văn nghệ của Phạm Công Thiện với vốn tư tưởng, văn hóa sâu dày đã được luyện mấy lần lửa tam muội trong hai lò luyện đơn tư tưởng Đông, Tây. Và, đồng thời, trên nền địa – văn hóa – cá tính miền Nam.

1.– Nổi loạn: Kinh nghiệm tư tưởng
1.1.– Tây phương với kinh nghiệm nổi loạn
            Hiện tượng luận hiện sinh hay chủ nghĩa hiện sinh là căn nền tư tưởng nổi bật nhất của văn nghệ miền Nam thời bấy giờ đã làm triển nở những suy tư sâu xa về nổi loạn. Nổi loạn, vì thế, là một trong nhiều vấn đề mà hiện sinh ở miền Nam đặc biệt chú tâm, nên có ảnh hưởng xã hội rộng lớn. Theo đó, tâm lí phản kháng / nổi loạn (révolter) được hiểu như thái độ chống lại những thế lực làm hiện hữu trở nên méo mó. Nổi loạn là nổi loạn có mục đích chứ không phải nổi loạn chỉ để mà nổi loạn như một lối sống phá hoại. Mục đích của nổi loạn, tạo phản kháng là nhằm chống lại các thế lực kết án hiện sinh. Chính các triết gia hiện sinh Pháp, những người có ảnh hưởng xã hội ở miền Nam lớn hơn những người Đức đã cấp cho nổi loạn, phản kháng một ý nghĩa bản thể của hiện hữu: “Tôi nổi loạn, vậy chúng ta cùng sống” (Je me révolte, donc nous sommes) – Câu nói của Camus nhằm nhại lại câu nói nổi tiếng của Decartes (Je pense donc je suis), trong đó, Camus thay hành động tư duy (penser) bằng hành động nổi loạn (révolter). Cách hiểu của Camus về nổi loạn, như thế, nhắm chủ yếu vào phản kháng xã hội chứ không phải một hành vi triết lý. Về bản chất, phản kháng xã hội thực ra chỉ là một hình thức của phản kháng hiện sinh mà thôi. Nhưng đấy lại là cách hiểu nổi loạn phổ quát nhất của chủ nghĩa hiện sinh với số đông ở miền Nam vì nó được truyền bá quá thành công qua sáng tạo văn học.(7) Có điều đó, bởi tồn tại xã hội ở miền Nam thời chiến vốn đầy phi lý, con người dễ trở thành con vụ quay tít trong các niềm tin tập thể khác nhau. Người trí thức phản tỉnh trước đời sống thì tất yếu phải phản kháng, nổi loạn. Nổi loạn, dù là nổi loạn mất phương hướng vẫn còn hơn là bị thời cuộc phi lý kéo đi như một con vụ mắt mù. Nhưng, dù lửa nổi loạn đã cháy vẫn không đủ soi đường cho cả thế hệ thanh niên trí thức thời bấy giờ tìm ra lối thoát. Chiến tranh bủa vây tứ phía, những cái chết như thây ma phi lý treo lơ lửng trên đầu một thế hệ. Thân phận họ có khi chỉ là những kẻ ốm tong teo, chìm trong men rượu, lang thang, chui nhủi trốn lính. Đời sống là một nghĩa địa không có mộ phần – vô địa táng. Cuộc nội chiến này, đối với họ là phi nghĩa: “rắn cắn đuôi rắn: người Việt Nam giết người Việt Nam”.(8) Chiến tranh như một loài thú gớm, há cái miệng vô cùng, đớp lấy hiện hữu non xanh của những người thanh niên một thời. Kinh nghiệm hiện hữu của họ là một kinh nghiệm đau thương, đau thương toàn phần và phi lý tự thân. Sinh ra để bị quẳng ném vào một cuộc chiến tàn bạo. Những người trẻ tuổi mất phương hướng. Triết lý phương Tây thời chiến tràn lan ở học đường, trong đời sống sách vở thời bấy giờ, hòa theo những ấn tượng đau buồn, buộc họ phải chọn lựa. Và nổi loạn, dù là nổi loạn trác táng trong men say, gái điếm, thuốc phiện hay lang thang, đập phá vô chính phủ… Tất cả, đều là những cơn vẫy vùng từ tăm tối này đến một tăm tối khác. Mất phương hướng, tuổi trẻ cần bám vào một điều gì đấy để sống, họ chọn vô chính phủ như một “tôn giáo”. Tuổi trẻ thời bấy giờ, do đó, tìm thấy ở “giáo chủ” vô chính phủ Phạm Công Thiện một mẫu hình lý tưởng. Và thần tượng văn nghệ nổi loạn, do đó, từ cuộc đời đi vào trang viết, và từ trang viết lại đi ra cuộc đời.
            Hơn thế, nổi loạn, trong mối quan hệ với tồn tại xã hội thời bấy giờ còn lộ ra trong một mảng ý nghĩa khác, là: những chấn thương tập thể. Bởi, thế hệ thanh niên mang trong lòng vết thương chiến tranh, hình thành một thứ phức cảm tự ti về thân phận bé nhỏ, hư vô, phi lý và đọa đày, mang cảm giác nhược tiểu của kiếp sống và thân phận dân tộc. Nên hiểu như A. Adler, kẻ tự ti tập thể có xu hướng phát triển lòng tự tôn ở một phía khác. Thế nên, nổi loạn như là một lối tự tôn trong đời sống tâm lý, là lựa chọn công cộng cho đám đông nhằm quân bình với chấn thương tự ti của cả một thế hệ. Và, nổi loạn ấy, lại thêm nhiều lần nữa tìm về, “đồng hóa” với cái nổi loạn toàn phần, đầy tai tiếng và tăm tiếng của Phạm Công Thiện. Cuối cùng, dù từ đường nào chăng nữa, hay phức hợp từ nhiều cung đường, đều dẫn thanh niên thời bấy giờ về gần hơn với những thần tượng văn nghệ nổi loạn một thời.

1.2.– Đông phương với kinh nghiệm nổi loạn
            Kinh nghiệm nổi loạn của Phạm Công Thiện không chỉ đến từ phương Tây mà còn được Đông phương nuôi dưỡng. Tây Phương là lớp sóng muộn, vỗ gần bờ nên dễ thấy, lôi cuốn sự chú ý, còn Đông phương mới thực là đại dương, mẹ đẻ của các đỉnh sóng, dù mênh mông nhưng ẩn dấu, khó nhìn thấu lòng biển rộng. Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn, hay cả Bùi Giáng và nhiều văn nghệ sĩ ở miền Nam, thời bấy giờ, luôn có một mối liên hệ mật thiết với nhà chùa. Họ chính là dạng nghệ sĩ / cư sĩ Phật giáo suốt cả cuộc đời đi lại qua các cửa chùa. Đấy là điều mà ta có thể nói là điểm khác biệt rất lớn của văn nghệ sĩ hai miền Nam và Bắc 1954-1975. Khi quan sát về thế giới miền Bắc Việt Nam, lấy Hà Nội làm trung tâm (Hanoi-centrisme), đã dựng xây lên một thế hệ văn nghệ sĩ không tôn giáo, mất sự tham thông với cái thiêng. Còn với thiểu số những người nghệ sĩ miền Bắc mà tính tôn giáo tự thân phát triển, hay có cơ duyên nào đó dẫn đưa đến với linh thiêng, thúc đẩy họ đắm mình vào tôn giáo và chạm được vào phần tinh hoa của nó, thì, luôn khá hiếm hoi. Phạm Công Thiện ở miền Nam là cư sĩ nổi tiếng. Thế nên, không ngạc nhiên khi kiến thức và trải nghiệm tôn giáo của Phạm Công Thiện có kinh lịch sâu dày. Phạm Công Thiện thậm chí, đạt đỉnh một giảng sư Phật học uyên bác và danh tiếng.
            Từ Phật giáo, Phạm Công Thiện, do đó, dễ dàng làm cuộc hôn phối tưng bừng trong tư tưởng Đông Tây hiện đại (mượn ý Bùi Giáng). Bởi bản thể của triết học nhân sinh châu Âu hiện đại với các đại diện lớn như Schopenhauer, Nietzsche hay Heidegger thì có quá nhiều tương đồng với minh triết phương Đông, nhất là Phật giáo, gần như một thể dung thông. Cái tinh thần hư vô chủ nghĩa, nổi loạn, vô chính phủ của Phạm Công Thiện hay Nguyễn Đức Sơn, vì thế, đi lại cả hai nẻo Đông-Tây. Trong đấy, cái biểu hiện bên ngoài, cái Thể, thì thuộc nhiều về Tây Phương, còn cái bên trong, cái căn cốt, cái Tánh, thì thuộc về Đông Phương. Phật giáo Việt Nam, với tinh thần phá chấp rốt ráo của Đại thừa viên đốn, từ lâu, đã không xa lạ gì với tinh thần nổi loạn mà độc giả bình dân thường được biết qua kiểu truyện thiền sư trong công án thiền. Đọc phương Tây, cái ý chí hùng cường, nổi loạn của người siêu nhân ở Nietzsche có hành trạng dường như không khác gì Lâm Tế Nghĩa Huyền hay triết lý Tánh không mãnh cuồng của con rắn dữ Long Thọ, rộng ra là cả truyền thống Không tông Phật giáo. Chính thế, nổi loạn như một bản chất mang tính tự thân sẵn có trong người nghệ sĩ / cư sĩ Phạm Công Thiện. Thế giới sáng tạo mang tính chất nổi loạn, ngông nghênh của Phạm Công Thiện và cả Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng, vì thế, một phần lớn được trao truyền lại từ Phật giáo – tôn giáo mà các ông gắn bó suốt cuộc đời. Vậy, bản thể luận sáng tạo của nghệ sĩ nổi loạn, do vậy, là Phật giáo. Kinh nghiệm nổi loạn ở đấy, là kinh nghiệm của những kẻ đã nhìn thấy hư vô, đối diện với hư vô và cợt nhả, siêu vượt hư vô. Phạm Công Thiện thường gọi tên cái hư vô ấy là hố thẳm.(9)

2.– Nổi loạn: truyền dẫn kinh nghiệm địa – văn hóa – cá tính miền Nam
            Đi tìm một căn nguyên tư tưởng nổi loạn của thần tượng văn nghệ – nhà văn nổi loạn, ở trên, là những quan sát nhà văn như là những vũ trụ cá thể biệt lập. Hắn tự đảm nhiệm lấy và kiến tạo nên chính đời hắn. Nhưng NGƯỜI, vừa là một thực thể cá thể, nhân vị độc lập lại còn thuộc về cái xã hội, nơi NGƯỜI thuộc về những cộng đồng với những truyền thống riêng của nó. Vậy, để chu toàn cho một nhận thức phức hợp về bản chất nổi loạn của nhà văn, không thể không tính tới cái địa – văn hóa – cá tính vùng miền mà nhà văn thuộc về.
            Đi sâu hơn vào quá khứ nước Việt Nam hiện đại, một hệ quả lịch sử được nhận thấy, đè nặng lên không gian miền Bắc Việt Nam là dấu ấn của mô hình Hán hóa như đã nói. Khổng giáo, vì thế, ăn sâu vào tâm não trí thức Bắc Việt. Ngược lại, càng xuôi về phương Nam, dấu ấn Ấn Độ hóa càng đậm nét. Chuyên gia về xứ Đàng Trong – Li Tana rất chính xác khi nhìn thấy bản chất của một miền Nam theo đạo Phật phai nhạt đạo Khổng. Đấy là một nỗ lực chính trị đầy dụng ý và thâm sâu của các chúa Nguyễn trong việc xây dựng Đàng Trong thành một mô hình khác của Việt Nam so với thế giới miền Bắc của Vua Lê Chúa Trịnh.(10) Hệ quả là với một Phật giáo linh hoạt, mang tính tổng hòa, đáp ứng được yêu cầu của nhiều tầng lớp,(11) miền Nam từ thời Đàng Trong đã xây dựng thành công mô hình xã hội của sự phóng khoáng. Và, thật đáng chú ý, Li Tana nhận định: “Cách sống phóng khoáng ở miền Nam cũng trực tiếp va vấp với sự coi trọng tính tập thể vốn là một giáo lý cơ bản của đạo Khổng luôn nhấn mạnh đến giá trị của nhóm xã hội như gia đình, làng xóm, những cái đó đặt lên trên cả những nhu cầu và những mong muốn của các thành viên trong cộng đồng, cá nhân không có ý nghĩa gì hoặc giá trị gì nếu đứng riêng biệt”.(12) Điều đó càng làm rõ thêm vì sao, kéo dài mãi suốt thế kỷ XX, cho đến tận ngày nay, tính tập thể vẫn đóng rễ sâu bền trong não trạng trí thức miền Bắc.
            Xây dựng được một không gian cởi mở và tự phát, người miền Nam tự do hơn trong hành động. Ngay đến cả vị Chúa Tiên của miền Nam, xuất thân từ miền Bắc, nhưng sống trong kinh nghiệm bầu không khí tự do phương Nam của “thế giới rộng lớn vùng Đông Nam Á”, Nguyễn Hoàng cũng không còn cảm thấy phải bận tâm khi bị định danh là kẻ nổi loạn, chống đối hay phản nghịch, bởi “ông đã tìm được vùng đất, nơi những lời tuyên bố như vậy không còn quan trọng nữa”.(13) Và Li Tana bình luận tiếp về miền Nam: “Đó là một thế giới phóng thoáng hơn và đã đem lại cho con người một ý nghĩa lớn hơn về tự do”.(14) Tính phóng khoáng, cởi mở và “dễ thở” ấy của xã hội miền Nam, do vậy, là một hằng số có tính lịch sử.
            Miền Nam, mảnh đất dung dưỡng những kẻ bị loại trừ khỏi thế giới cố cựu miền Bắc rắn chắc với những tín niệm Nho giáo trải hàng ngàn đời. Miền Nam, một miền đất trẻ, mới thuộc về người Việt khoảng 7 thế kỷ, là đất của các lưu dân buộc phải rời khỏi cái bản xứ. Nên, giống một nước Mỹ trẻ trung, thuộc về các kẻ đi chinh phục, bỏ lại đằng sau mọi ràng buộc với quá khứ, họ có điều kiện xây dựng cái mà Tocqueville gọi là nền dân chủ. Miền Nam, nơi những kẻ lưu dân tìm đến, cơ hội có cho tất cả những kẻ dám hành động để tạo dựng cho mình một số phận mới. Miền Nam mảnh đất của cơ tầng văn hóa Ấn hóa, là sự tự do và đối thoại, xa lạ với các nguyên tắc Khổng giáo. Cá tính cá nhân người miền Nam, vì thế, có cơ hội phát triển hơn người miền Bắc, luôn pha màu phiêu lưu của tính hướng biển, dọc ngang trên sông nước. Cái tự do mà miền Bắc đã đánh mất khi bị/tự ràng buộc với mô hình Hán hóa được áp đặt bởi bá quyền Trung Hoa xâm lược cách đây 2000 năm.(15) Nhà văn thuộc về miền Nam, vì thế, bao giờ dấu ấn cá tính tự do, tính ưa thích nổi loạn cũng phát triển. Bùi Giáng, Nguyễn Đức Sơn và Phạm Công Thiện, do đó, vừa là những nhân cách tự thân vốn đã phá cách được phát triển trong điều kiện mà xã hội học nhìn thấy yếu tố dân chủ, lại được cộng hưởng thêm vào với sự tự do, nổi loạn trên nền tảng địa – văn hóa – cá tính phóng khoáng miền Nam. Nguyễn Văn Xuân, ít nhiều mang màu sắc chủ nghĩa địa phương khi vững tin rằng: “Vượt lên trên tất cả, miền đất mới này còn một đặc điểm mà tôi nhắc đi, nhắc lại nhiều lần. Đặc điểm giống hệt Huê Kỳ để hứa hẹn một đời sống sung túc và cũng do đó, một nền văn nghệ phồn thịnh”.(16) Nếu thế, Phạm Công Thiện là những minh chứng sống động hơn bao giờ hết cho niềm tin vào nền văn nghệ phồn thịnh ấy.


***

            Như vậy, từ rất nhiều nẻo đường vòng để dẫn đến lối vào làm thành nhà văn nổi loạn, thần tượng văn nghệ ở miền Nam 1954-1975. Phục dựng lại gương mặt đã mất của thần tượng văn nghệ một thời, là phục dựng lại không khí văn nghệ thời đại ấy, với những nhà văn đứng tiền tiêu, có sức nặng gây ảnh hưởng, tạo nên không gian văn học thời đại. Việc làm này càng thêm ý nghĩa, khi không gian văn học được phục dựng lại là một không gian bị lãng quên, hoặc được/bị “tưởng tượng” cấp cho những lớp nghĩa đi quá xa tồn-tại-như-thực của nó.
            Mở lại một đoạn đường mà cỏ cây của quên lãng đã phủ kín, cộng thông vào nhiều ngả đường mòn khác, dẫn đưa văn nghệ miền Nam 1954-1975 hòa trở lại nguồn văn học dân tộc. Văn học Việt Nam, do đó, thay vì chỉ một không gian, cần được tư duy lại như một nền văn học đa không gian viết, với nhiều lịch sử của nó.


NGUYỄN MẠNH TIẾN
(SH308/10-14)
__________________________________________
(1) Về cá tính “siêu thần bạt thánh côn đồ lão tổ” (Trần Tuấn Kiệt), nghệ sĩ hơn đời của Phạm Công Thiện là chủ đề hấp dẫn của văn nghệ miền Nam một thời và, mãi đến tận bây giờ, thời “tái đọc tổng thể” văn nghệ miền Nam 1954-1975. Phạm Công Thiện là liều doping hạng nặng cho những scandan văn nghệ lùm xùm một thời. Tất cả, đều do cá tính quá khác người của ông.
      Ở chỗ này, nên làm một phép so sánh về đặc trưng bản chất của người nghệ sĩ hai miền Nam, Bắc Việt Nam một thời. Đó là, ở miền Bắc, ấy là sự triệt tiêu cá tính cái tôi để phát triển tối đa cái ta. Miền Nam, ngược lại, là một sự phát triển cá tính cái tôi tự do. Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn (và, thêm nữa, gộp vào đấy cả trung niên thi sĩ Bùi Giáng) là những trường hợp điển hình nhất của sự phát triển tự do cá tính người nghệ sĩ, trở nên những nhân cách sáng tạo phức hợp nhiều đối cực đến khó hiểu bởi tính mâu thuẫn tự nội trong những tâm hồn lớn. Nên thật khó đặt định họ vào chỉ một danh từ nào đó. Bởi thế, cụm từ “nhà văn nổi loạn” được lẩy ra từ thân loài cá sáng tạo dữ dằn, như một cái vẩy, nhưng là vẩy ngược che dấu yếu huyệt mà đụng vào đấy thì cơ hồ có thể làm một lối nhất dương chỉ của phê bình nhằm “điểm huyệt” bản chất sáng tạo của Nguyễn Đức Sơn và Phạm Công Thiện. Đấy là “thao tác” mang tính phương pháp nhằm cố gắng nắm giữ đối tượng ở điểm nổi trội để có thể tiến hành phân tích. Thông qua đấy, chúng ta có thể bước đầu nhận ra, sự phát triển cá tính nhà văn ở miền Nam, có thể nói, đã lên tới đỉnh sóng của cơn triều phát triển cá tính sáng tạo người nghệ sĩ Việt Nam thế kỷ XX. Thời Thơ Mới, người nghệ sĩ dù tự do, muốn là một cái tôi riêng biệt, duy nhất, nhưng ở họ, nói như Hoài Thanh, còn đội trên đầu một vài nhà thơ Pháp. Người Thơ Mới còn thần tượng Người Thơ Pháp. Người Thơ Mới khi nói đến Người Thơ Pháp lòng thì kính cẩn mà giọng đầy trìu mến: “Tôi nhớ Rimbaud với Verlaine”. Đến 1954-1975, ở Nam Việt, tình thế nghệ sĩ đã đổi khác. Trên đầu hắn, không có ai. Chỉ còn có một sự vĩ đại duy nhất, ấy là chính bản thân người nghệ sĩ. Như trường hợp Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn, họ khinh hết thảy. Khinh từ Đông sang Tây. Khinh từ cổ chí kim. Với Phạm Công Thiện, hay Nguyễn Đức Sơn chỉ có hoặc Phạm Công Thiện, hoặc Nguyễn Đức Sơn mới là đáng kể, và sau rốt, cả Phạm Công Thiện, hay Nguyễn Đức Sơn cũng đều đáng khinh. Kinh bỉ tất thảy được họ đặt ra như một luật của sự sáng tạo. Nói theo lối của Nietzsche, bậc thầy khai tâm cho nhà văn nổi loạn ở miền Nam, với họ, tất cả tầm thường, quá đỗi tầm thường. Nổi loạn, vì thế, là phẩm chất. Nổi loạn, từ đó, như một nhu cầu khẩn thiết để có thể đập đổ hết mọi thần tượng. Phạm Công Thiện và Nguyễn Đức Sơn muốn đưa chính bản mệnh cá nhân viết của mình ra làm tượng đài đầu tiên và duy nhất.
(2) Ở đây, chắc chắn phải kể đến cả di sản văn xuôi của Nguyễn Đức Sơn. Tuy nhiên, vì giới hạn dung lượng không cho phép một mở rộng quá lớn, tôi sẽ trở lại với trường hợp Nguyễn Đức Sơn trong một tiểu luận cụ thể khác.
(3) Georges Boudarel (1991), Cent fleurs ecloses dans la nuit du Viet Nam: Communisme et dissidence 1954-1956, Jacques Bertoin, Paris, p. 234.
(4) Sự nghiệp phong phú, độc đáo và gay cấn của văn nghiệp Phạm Công Thiện đã được tôi công bố trong một tiểu luận khác, do đó, ở đây xin không bàn lại nữa (bạn quan tâm tìm đọc: Nguyễn Mạnh Tiến – Nguyễn Thị Bình (2013), Phạm Công Thiện – Nhìn ngắm hồ sơ văn xuôi, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, số 4 (346); http://vhnt.org.vn/NewsDetails.aspx?NewID=1556&cate=94).
(5) Trần Tuấn Kiệt, “Tiếng hát”, Sóng thần, 5-1972, in lại trong Phụ lục ở cuối tập thơ: Nguyễn Đức Sơn (1973), Tịnh Khẩu, Nxb. An Tiêm. Về nhận định này của Trần Tuấn Kiệt, khi xếp chung Nguyễn Đức Sơn với Phạm Công Thiện và Bùi Giáng, thái độ của Nguyễn Đức Sơn núi như sau: “Thi sĩ Trần Tuấn Kiệt/ Nhét ta chơi hay thiệt/ Nằm giữa hai thây ma/ Không teo thì cũng liệt”.
(6) Trung niên thi sĩ thì khác, Bùi Giáng không côn đồ, mà trái lại, thường là nạn nhân của côn đồ. Bùi Giáng đại diện cho một chóp đỉnh khác trong cá tính sáng tạo ở miền Nam: Điên.
(7) Điều này lý giải cho việc tại sao Camus cũng như các triết gia hiện sinh Pháp như Sartre được chọn dịch ở miền Nam nhiều hơn các triết gia Đức. Xã hội miền Nam, có mấy điều kiện sau đây để nối dài nền hiện sinh Pháp ở miền Nam, đó là: 1/ Giới trí thức Pháp ngữ trưởng thành thời thuộc địa vẫn giữ được môi trường tư duy ở miền Nam; 2/ Miền Nam vẫn duy trì nền học vấn Pháp thông qua hệ thống giáo dục Pháp ngữ bên cạnh trường Việt ngữ; 3/ Các giáo sư đại học miền Nam du học về để truyền bá tư tưởng phương Tây chủ yếu từ khối Pháp ngữ (Pháp và Bỉ). Vì thế, mẫu nhà văn triết gia kiểu Sartre và Camus mới dễ trở nên phổ biến ở miền Nam.
(8) Phạm Công Thiện (1967), Mặt trời không bao giờ có thực, Nxb. An Tiêm.
(9) Xin được cảm ơn nhà nghiên cứu Nohira Munehiro đã bỏ thời gian đọc và có những trao đổi liên quan đến Phạm Công Thiện đã gợi mở cho nghiên cứu này thêm nhiều suy tưởng. Nohira Munehiro chính là người được Hội học Đông Nam Á tại Nhật trao giải cho công trình luận án tiến sĩ về Phạm Công Thiện. Phạm Công Thiện như thế, thật đặc biệt, là một trong hiếm hoi các nhà văn Việt Nam thế kỷ XX có ảnh hưởng tư tưởng văn nghệ sâu rộng, vượt ra cả bên ngoài Việt Nam. Ở Nhật, giới phê bình có người gọi ông là “Long Thọ Việt Nam”.
(10) Li Tana, “Xứ Đàng Trong thế kỷ XVII và XVIII Một mô hình khác của Việt Nam”, trong: Nhiều tác giả (2002), Những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb. Thế Giới, tr.185-199.
(11) Li Tana (sđd), tr.188.
(12) Li Tana (sđd), tr.190.
(13) Keith W. Taylor, “Nguyễn Hoàng và bước khởi đầu cuộc nam tiến của người Việt”, trong: Nhiều tác giả (2002), Những vấn đề lịch sử Việt Nam, Nxb. Thế Giới. tr.181.
(14) Li Tana (sđd), tr.191.
(15) Mô hình bá quyền xâm lược bằng sức mạnh đã trở thành bản chất Trung Hoa “chinh phục và thôn tính” đã được Coedès chứng minh thuyết phục (Xem: G.E. Coedès, Nguyễn Thừa Hỷ dịch, Cổ sử các quốc gia Ấn Độ hóa ở Viễn Đông, Thế giới, 2011, tr. 80, và…)
(16) Nguyễn Văn Xuân, Khi những lưu dân trở lại, trong: Tuyển Tập Nguyễn Văn Xuân, Nxb Đà Nẵng, 2002, tr. 595.
* Giáo sư triết gia Phạm Công Thiện trên Youtube: https://www.youtube.com/channel/UCMa1kPga538G7_O6xhyuBLg


http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p75/c148/n17377/Nha-van-noi-loan-hay-than-tuong-van-nghe-truong-hop-Pham-Cong-Thien.html

 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi lenhale

  • Giáo làng
  • *******
  • Bài viết: 11,809
  • Thanked: 191 times
  • Đánh giá: +0/-0
  • Giới tính: Nam
  • Đồng Tháp
Re: Phạm Công Thiện- thiên tài hay kẻ bất mãn?
« Trả lời #82 vào: 14/05/2017, 16:03:49 »
Nói thật là em đọc Phạm Công Thiện ko nổi.
 
VCB: 0601000453503
CTK: Lê Đức Dũng
ĐT:091828011