Tác giả Chủ đề: Về bản dịch "Hữu thể và thời gian" của Trần Công Tiến  (Đã xem 14620 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi NL

Bác Nguyen thuan rành Heidegger quá, đúng là ông ấy dùng cái cây làm ẩn dụ cho Siêu hình học, nhưng theo tôi nhớ thì ông ấy nói siêu hình học như là cái rễ cho cái cây triết học ở trên chứ nhỉ.

Bác Merit: dịch triết học phải là một quá trình, thường thì bản dịch đầu tiên một tác phẩm lớn bao giờ sau này cũng phải làm lại. Kojève và Hegel cũng vậy thôi.
 

Ngủ rồi Nguyen thuan

Tôi có 4 điều xin thưa với bác Merit:
1. Theo tôi, với bản dịch Việt ngữ của TCT không thể nói là trung bình vì, so với bản Anh ngữ mà tôi đã nói thì ý nghĩa về lời của Heidegger được cụ Tiến truyền tài không xa cách bấy nhiêu. CÒn về cách dịch thì còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó quan yếu nhất là phải hiểu Heidegger thông qua và bằng hệ thống tác phẩm của ông. Mặt khác, dịch Heidegger đồng nghĩa với dịch gián tiếp Husserl. TCT, theo tôi làm được việc này, ông khá hiểu Husserl.
2. Như tôi cũng đã đề cập, yếu tố Hán ngữ hoá văn bản là điều tôi cũng phê phán TCT, nhưng học thuật miền nam trước 75 dường như có tính quy ước nội tại cho việc sử dụng thuật ngữ, âu, xét tới cùng, thuật ngữ cũng là do quy ước của cộng đồng khoa mà nên. Nếu trách TCT thì trách cả nền học thuật miền nam, không nói đâu xa, cụ Trần Thái ĐỈnh trong các tác phẩm của mình khi diễn giải về tư tưởng các triết gia, tôi cũng phải căng mắt để nhòm chữ, đặc biệt là diễn giải về Hégel.
3.Bác so sách TCT với Bùi Văn Nam Sơn là không đồng cấp rồi. Nếu so sánh thì bác phải so sánh với Lê Tôn Nghiêm, Trần Thái ĐỈnh, Phạm Công Thiện chứ. Vì BVNS là thế hệ dịch Đức ngữ sau này, được đào tạo bài bản ở Đức. Sống trong môi trường như thế thì ông sẽ ảnh hưởng lối làm việc của người Đức, đặc biệt là lối sử dụng ngôn ngữ "sói sỉa" (tôi dùng theo nghĩa sắc bén trong phê phán) của họ, mặt khác nhờ đức tính nghiêm cẩn của ổng nữa. Đồng thời, BVNS cũng lãnh hội được một nền thông diễn bài bản, đặc biệt việc dịch như thể sáng tạo lại trên tinh thần văn bản đã có, vì vậy, tác phẩm dịch thuật của BVNS không chỉ giữ nguyên nghĩa ,mà còn chuyển dịch về tâm thức văn hoá từ tâm thức Đức sang tâm thức Việt. Do đó, những bản dịch của ông mới mở ra theo chân trời hiểu Việt được. CÒn như TCT thì rõ ràng thiệt thòi hơn ông NS. Cứ xem Phạm công thiện, lê tôn nghiêm, trần thái đỉnh, mấy ông này dịch cũng đâu có chú như ông SƠn đâu. Tôi nghĩ đứng trên cái nền của cộng đồng khoa học trước 75 như vậy, thì việc dịch so với ông NS thì đúng là cập kênh.
4. Người đánh giá bản dịch của TCT đạt 90% là tôi chứ không phải ai khác. Tuy có hơi phóng đại, nhưng nó xứng đáng với công lao TCT. Ở Việt Nam dịch Heidegger như TCT là vào dạng xuất sắc rồi. Nếu sau này, có ai dịch sau ông hay hơn thì tôi chưa biết, nhưng trước mắt cần ghi nhận ông. Tôi xin thưa, Heidegger có lẽ là người có tác phẩm khó dịch nhất thế kỷ XX. Tôi dịch có một chương trong Truth and method của Gadamer còn loay hoay mấy tháng mà chẳng nên cơm cháo gì, vì, Tôi không thể dịch quyển này nếu tôi không nắm được tận nguồn căn nguyên tư tưởng của Heidegger. Nói thực, với ông Heidegger này, tôi nghĩ học trò ông là Gadamer cũng chưa hiểu đến nguồn ý tưởng của ông chứ đừng nói TCT. Vì vậy, đánh giá TCT cần đặt ông trong lối dịch, lối nghiên cứu của các học giả Việt chứ so với mấy ông có tiếng, được đào tạo tại quê hương triết học ĐỨc thì khôn cùng lắm ạ. Ngay với dịch giả của tiểu luận "Trên đường đến với ngôn ngữ" - Trương Đăng Dung, có lần ông tâm sự với tôi là dịch xong bản tiểu luận này, nhìn vào gương, ông không còn nhận ra gương mặt mình nữa. Vì cảm giác mình già đi rất nhiều khi dịch Heidegger, điều ấy cho thấy khó khăn của việc dịch ông này.
Đọc bản dịch của TCT, có chút vốn Hán Văn, tôi nghĩ có lẽ sâu sắc không kém bản anh ngữ, thậm chí có chương còn hay hơn, trang trọng hơn.
 

Ngủ rồi Nguyen thuan

Bác Nguyen thuan rành Heidegger quá, đúng là ông ấy dùng cái cây làm ẩn dụ cho Siêu hình học, nhưng theo tôi nhớ thì ông ấy nói siêu hình học như là cái rễ cho cái cây triết học ở trên chứ nhỉ.

Bác Merit: dịch triết học phải là một quá trình, thường thì bản dịch đầu tiên một tác phẩm lớn bao giờ sau này cũng phải làm lại. Kojève và Hegel cũng vậy thôi.

Hê hê, tôi nói siêu hình học là cái gốc, đã đủ ý ổng rồi, còn đương nhiên thân cây là triết học rồi .
 

Ngủ rồi MERIT

Trả lời bác Nguyễn Thuận:

Tôi không phủ nhận công lao của dịch giả Trần Công Tiến (TCT) khi là người đầu tiên chuyển ngữ bản Sein und Zeit (1927) của Heidegger.

Bác đã nghiên cứu Heidegger thì biết rõ người đọc Sein und Zeit (1927) cần chú thế nào. Vậy hãy cùng nhau đọc phần mở đầu của cuốn Being and Time (bản bác có) và trang mở đầu của Trần Công Tiến dịch. Bỏ qua việc dùng từ, ngoài phần chú duy nhất của Heidegger thì John Macquarrie và Edward Robinson có thêm đến 4 chú thích, và chú thích của hai ông này còn dài gấp 3-4 lần phần văn bản chính. Trong khi đó TCT dịch không có một chú thích nào cả.

Việc dịch mà không chú của TCT có thể dẫn đến việc không hiểu được Heidegger viết gì và quan trọng hơn, nếu nó làm mình hiểu sai về nội dung truyền tải của Heidegger thì thực sự là một thất bại của bản dịch của TCT.

Dẫn chứng:

1. Việc sử dụng một từ duy nhất cho ‘seiend’ "tồn tại" (being) ở mọi nơi mọi chỗ là sai. Cũng cần phải phân biệt với danh từ quan trọng ‘Sein’ (luôn luôn được viết hoa), mà có thể biên dịch thành ‘Being’ (viết hoa) (Hữu thể), và với danh từ cũng quan trọng tương tự ‘Seiendes’, vốn có nguồn gốc trực tiếp từ ‘seiend’, mà phải được biên dịch thành ‘thực thể’ (entity) hoặc 'các thực thể' (entities).

2. ‘Sinn’. Trên quan điểm về tầm quan trọng của việc phân biệt giữa ‘Sinn’ ‘Bedeutung’ một cách đa dạng ở các tác giả Đức như Dilthey, Husserl, Frege và Schlick, cần biên dịch ‘Sinn’ thành ‘meaning’  hay ‘sense’ (ý nghĩa), tuỳ thuộc vào văn cảnh, và dành ‘signification’ (ý nghĩa)‘signify’ (có nghĩa) cho ‘Bedeutung’‘bedeuten’.

3. Những cụm từ như ‘horizon’ (chân trời)  được hiểu là gì? TCT dịch một từ hàm hồ "chân trời khả thể" cho cụm từ "possible horizon" theo bác là sát nghĩa hay không. Cá nhân tôi nếu chỉ đọc TCT thì không thể hiểu kiểu chiết tự Hán Việt một cách tùy tiện như vậy.

‘… als des möglichen Horizontes eines jeden Seinsverständnisses überhaupt...’

Xuyên suốt tác phẩm Hữu Thể và thời gian của Heidegger, từ ‘horizon’ (chân trời) được sử dụng với một nghĩa rộng phần nào khác với ngữ nghĩa thông thường vẫn có thói quen hiểu. Chúng ta có xu hướng hiểu chân trời như một cái gì đó lan rộng hay mở rộng hay vượt ra xa; Heidegger, tuy nhiên, dường như có quan niệm về nó đúng hơn là một cái gì đó mà chúng ta không thể nới rộng hay vượt ra xa, nhưng lại đưa ra những giới hạn cho những hoạt động trí năng nhất định. Như vậy "chân trời" của Heidegger hoàn toàn khác với cách hiểu thông thường, điều mà TCT không thể chuyển ngữ được cho dù có dùng cả Hán Việt để trợ giúp.
 

Ngủ rồi Nguyen thuan

 :h
« Sửa lần cuối: 19/03/2013, 09:20:56 gửi bởi Nguyen thuan »
 

Ngủ rồi hoangnguyen

Tình cờ lên mạng kiếm bản tiếng Đức của tác phẩm Hữu Thể và Thời Gian của Heidegger, tôi thấy có bài viết của TS. Triết học và lịch sử Mỹ thuật Nguyễn Quỳnh- USA nhận định về tác phẩm này nên tôi đăng lên cho các bạn quan tâm đọc, tôi chưa đề cập đến vấn đề đúng hay sai của bài viết, mà chỉ ghi nhận quan điểm của TS Quỳnh mà thôi, có nhiều quan điểm khác nhau về tác phẩm này, và đây chỉ là 1 trong những quan điểm, việc phê bình thì tùy theo những người nghiên cứu về Heidegger.

Cũng ko phải dễ dàng gì để hiểu 1 cách nghiêm túc về 1 tác phẩm triết học, mà tác giả có khuynh hướng sử dụng 1 hệ thống từ ngữ chuyên môn theo cách riêng biệt, mà chỉ có tác giả- người sáng tác mới có thể hiểu 1 cách rõ ràng và tường tận.

Nguyễn Quỳnh có 1 phong cách viết tiếng Việt theo kiểu của ông, nên cũng đừng cho là ông viết sai chính tả trong bài viết này, bài đây chỉ là phần 1 trong 10 phần viết của ông.

THUẬT-NGỮ “SEIN”

Trước hết, từ-ngữ Nguồn-sống/Bản-thể (Sein) được viết hoa để fân-biệt với cái có mặt/hữu-thể (sein) không viết hoa. Nhưng nhiều chỗ trong sách của Heidgger chữ Nguồn-sống/Bản-thề (Sein) không viết hoa và chúng ta có thể lầm với cái có mặt/hữu-thề (sein). Cái có mặt/hữu-thể là những vấn-đề, những bộ-môn, những cơ-cấu, và mọi fù-sinh. Mọi cái-có-mặt/hữu-thề cần được soi-sáng bởi Nguồn-sống/Bản-thể. SEIN trong zạng zanh-từ, tính-từ hay động-từ đều có ngĩa liên quan tới SỰ-SỐNG, NGUỒN-SỐNG hay SỐNG. Tôi sẽ cố-gắng bàn tới vấn-đề nên chấp nhận zùng chữ Tầu “Bản-thề” để zịch chữ SEIN, hay là chúng ta nên zùng chữ NGUỒN-SỐNG trong tiếng Việt để zịch chữ SEIN. Để cho độc-jả còn chịu ảnh-hưởng của Tầu và thích nge chữ Tầu, tôi sẽ viết chữ Bản-thể, hữu-thể sau chữ Việt, ví-zụ: Nguồn-sống/Bản-thể, Cái-đang-có-mặt/hữu-thể, Cái-có-mặt-ở-ngay-kia/hữu-thể hiện-thế (Dasein) …Tuy nhiên, tôi hi-vọng sau khi đọc hết Sein und Zeit chúng ta sẽ thấy những từ như Bản-thể, hữu-thể, và hữu-thể hiện-thế đếu không lột tả được ngĩa của Sein.

Xét về tự-zạng, chữ SEIN có nhiều ngĩa, ở đây chúng ta chỉ bàn tới 3 ngĩa chính. 1) Động-từ, 2) Zanh-từ sở-hữu, và 3) Zanh-từ trong Triết-học. Cả ba đều có ngĩa chung về bản-chất và về sự-sống, mà nhiều người không rành Triết-học, thay vì nói hay viết chữ SỐNG, fải nói là HIỆN-HỮU, như thế mới “cao-sâu, trí-thức”.  Ví-zụ: Tôi đang hiện-hữu (động-từ), Cái nhà của tôi (zanh-từ sở-hữu) và Bản-thể/ hữu-thể (ngĩa trong triết-học). Viết theo tinh-thần Việt-ngữ như thế, chúng ta không thấy được nền-tảng hay cái “bóng”của “SEIN”. Những ví-zụ sau đây cho chúng ta thấy rõ cái bóng và nền-tảng của SEIN, khi nhìn vào tiếng Đức.

1.       Động-từ chỉ về bản-chất: Ist das kalt heute? Hôm nay có lạnh không?

2.       Zanh-từ sở-hữu (Possessivepronoun): Jedes hat seine Sorgen. Ai cũng có vấn-đề.

3.       Zanh-từ trong Triết-học: das Sein: Nguồn-sống/Bản-thể. Sein cũng có ngĩa là “sự-thực”, như trong câu: Sein und Schein: Thực và Hư

4.       Biến thể của SEIN trong zạng zanh-từ và tính-từ: Seiende (trong Triết-học): Cái có mặt. Cái kia kìa.

5.       Dasein: Sự-sống đang có mặt zo kinh-ngiệm (ontic) và zo tìm-hiểu (ontological).

Nếu mượn chữ “Bản-thể” của Tầu để zịch chữ Sein, nghe rất kêu, nhưng không miêu-tả được nền-tảng và cái bóng của Sein trong ngĩa “Sống.”. Chúng ta không nói hay viết: “Tôi ‘bản-thể’”, mà fải nói hay viết: “Tôi ‘hiện-hữu’”,“Tôi ‘có mặt’” hay “Tôi đang sống!” Như vậy, chữ “Bản-thể” không tự nhiên có mặt trong cách nói và viết tiếng Việt của chúng ta. Zường như, người Việt không quen suy-tư về sự linh-động của tiếng Việt. Suy tư về ngôn-ngữ của ta tức là đặt câu hỏi về linh-hồn ngữ học của ta, bằng cách nhận thấy rằng từ-ngữ có những ánh lung-linh trong cuộc đời của ngôn-ngữ. Chẳng hạn SỐNG, LẼ-SỐNG, ĐỜI-SỐNG, SINH SỐNG, SỐNG CÒN, SỐNG SƯỢNG, ĂN SỐNG. Chúng ta hãy tạm bàn về chữ SỐNG để thấy những liên-hệ (references) của SỐNG.

Theo đó chúng ta có:   SỐNG: Zanh-từ, như Đời-sống

                                 SỐNG: Động-từ, như Tôi sống

                                 SỐNG: Tính-từ, như Tấm tranh này sống lắm (tức linh-động như thật).

                                 ĂN SỐNG: Ăn ngay không cần nấu. Ngĩa bóng: chộp lấy không cần biết fải trái.

                                 SỐNG-SƯỢNG: Không nể nang jì cả.

                                 SỐNG-CÒN: Lẽ sinh-tồn

 
Chúng ta thử dặt câu hỏi: “Cái jì đã sinh ra vũ-trụ?” Theo Heidegger, câu hỏi “Cái jì đó?” là câu hỏi về Nguồn-sống/Bản-thể. Tôi để chữ Bản-thể bên cạnh Nguồn-sống để làm vui lòng những người mê Tầu. Đối với tôi, SEIN là NGUỒN-SỐNG, SỐNG hay LẼ-SỐNG. Tôi là người Việt rất kị Tầu, mặc zù cha tôi là một nhà Nho, và tổ tôi là cụ Nguyễn Tuần Lỉ (Nguyễn Huy Lí), người làng Mỗ-đọan, tỉnh Hải-zương,  là một trong 7 vị Tiến-sĩ ở Bắc-hà trong Triều Tự-Đức mà sách của Fan Huy-Chú có gi.

Thần-học, khi bàn về Nguồn-Sống/Bản-thể (Cái jì đó?) thường đưa liên-hệ của con người hay fù-sinh vào Thượng-đế. Heidegger cho rằng suy-luận ấy sai.(Sein und Zeit, p, 51). Đúng thế, vì nhân-loại có nhiều í-niệm về Thần-học, cho nên quan-niệm về đấng tối-cao hay Thượng-đế rất khác nhau. Đó là chưa kể chúng ta quên sự-thực thế này: í-niệm Nguồn-sống/Bản-thế như thế chỉ là tác-fẩm của con người hay fù-sinh (sein). Con người là fù-sinh (sein) làm sao có khả-năng í-niệm ra hay cắt ngĩa ra Nguồn-Sống/Bản-thể (Sein). Đó là chuyện hoang-đường. Làm như thế hay tin như thế tức là: CON SINH RA CHA!

Cái sinh ra vũ-trụ là Nguồn-Sống (Bản-thể). Nguồn-Sống ấy có sức sinh-ra hằng hà sa số ngân-hà. Những jải ngân-hà ấy là minh-chứng rõ rệt (self-evidence) về Nguồn-Sống (Bản-thể) mà chúng ta không thể nào miêu-tả hay định-ngĩa được. Heidegger nhận định rất đúng: Nguồn-Sống-Ở-Lúc-Ban-Đầu không thuộc vào bất cứ cách fân-loại nào cả (genus) (Sein und Zeit, p. 23). 

Nói hay suy-tư về SỐNG là nói đên LỰ