Tác giả Chủ đề: Giữ Thơm Quê Mẹ  (Đã xem 11027 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #15 vào: 04/03/2017, 17:56:13 »

RẰNG TỪ NGẪU NHĨ

CHUYỆN NGẪU NHĨ là chuyện gì không rõ. Hỏi chàng Kim Trọng ắt rõ hơn. Hỏi nàng Thúy Kiều, e nàng không chịu nói, dù trong bụng nàng có lẽ nàng rõ hơn chúng ta tất cả chúng ta.
            Chúng ta là ai? Là mọi người hôm nay sẵn sàng quên mọi sự hôm qua, mọi sự hôm nay mọi sự về sau. Vì sao thế? Tạm nói là: vì bận rộn sưu tầm cái nghĩa của ngẫu nhĩ đó thôi.
            Nói bận rộn sưu tầm cho vui vậy thôi. Thật ra không bận rộn. Không sưu tầm. Mà nếu thật có bận rộn sưu tầm, lại càng bết thêm lắm vậy.
            Ấy bởi rằng: nếu bận rộn sưu tầm cái gì, khác thì không sao. Nhưng đã gọi là nên câu “ngẫu nhĩ”, mà còn nằng nặc đòi sưu tầm nghĩa của nó, e rằng càng lầm lạc thêm ra. Thế còn gọi là ngẫu nhĩ, nhĩ ngẫu gì được nữa.

SỐ LÀ: vốn tự xưa kia, cái ngẫu nhĩ là cái không ngờ trước: Bỗng dưng mà đến cho vui cười, bỗng dưng mà đi cho thiên hạ khóc, bỗng dưng mà cảm động quay đầu cho kẻ đối diện không biết nghĩa sao, bỗng dưng mà tảng lờ như không nhận thấy, làm cho người ta không biết phải biện bạch thế nào…
            Đó là tinh thể của cái ngẫu nhĩ vốn tự xưa kia.
            Vốn tư xưa kia “là”, tới ngày nay vẫn chưa ngừng “là”, đó là nghĩa của cái “là” trong ngẫu nhĩ.
            Sao gọi là “là”? Có kẻ bảo: “Là” là “là” vậy. Và thêm rằng: Nếu không có tiếng “là”, thì trong nhân gian không còn ngôn ngữ. Mà nếu mất ngôn ngữ thì nhân gian mất nghĩa nhân gian. Bởi đâu? Rằng sở dĩ nhân gian là nhân gian, ấy bởi nhân gian là “cõi”. “Trăm năm trong cõi người ta”. Nếu người ta không có cõi, thì người ta không phải là người ta. (Vì không ta, không người.) Nếu không người không ta, thì làm sao có được cái người ta để làm nên nhân gian một cuộc giữa biển dâu phơi mở trong ánh mờ tồn lưu.
            Nhân gian có người ta, nhân gian có cõi. Nhưng bởi đâu mà có người ta làm nên có cõi? Cái gì là căn cơ sơ thủy của người ta trong cõi có trăm năm?

ẤY LÀ cái lời trong cổ lục vậy. Lời là thiết lập. Lời là căn cơ. Lời là nhiếp dẫn.
            Từ đó về sau trăm năm bước vào sử lịch dựng mộng sử xanh cho phong tình phiêu dật rất mơ màng.
            Bất cứ lúc nào, dù trước giờ giác ngộ, dù sau phút đam mê, bao giờ con người ta cũng có thể xô phong tình vào chiêm bao được cả, kể từ ngôn ngữ là lời đã bước vào cổ lục mà truyền với sử xanh, để cho con người mỗi lúc mỗi có thể lại bên mép bàn ngồi ở bên đèn mà lần giở với hai tay:


Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.

            Cổ lục đã truyền vào sử xanh cho phong tình trường tại thì mọi vật, mọi đồ trong nhân gian đều kể từ đó mà được kết hợp chót vót nguy nga dẫu rằng muôn năm vẫn nằm lì ngang mặt đất. Chim chóc ăn trái cây, trâu bò nằm bờ ruộng, bốn lá cồn kết lại làm một chùm hoa cỏ, bến phiêu diêu là có sóng phiêu bồng.

Hỡi ôi! ngôn ngữ là lời
Ấy trong tiết điệu ấy ngoài âm thanh
Dư vang cuối lá đầu cành
Niềm riêng suy trọng sao đành từ nan
Rừng phong thu giữ hội đàn
Rượu thơm từ đáy chén vàng nguyệt khuy
Rừng phong thu đã nhuộm kỳ
Chiêm bao bờ cỏ gái Tỳ Hải gieo.

CÁI CHỖ ngẫu nhĩ lạ lùng trong buổi mới một lần bồn chồn cái dạ con người ta và kéo dài thao thức tân thanh cho mai sau chư lão chung tình về tư lự – đầu đuôi ngành ngọn đều khởi tự cái cơn đầu ngôn ngữ ra hoa.
            Cõi trăm năm thoắt biến thành thiên-thu-cơn-mộng-cõi. Tha hồ thiên hạ đi về tiếp tục mà kết lá vào cho trái cây. Trái lựu trái đào, em cho ăn trái lê vậy. Huống nữa là…

            “Hựu huống thập thủ tân thi, quán nhập đoạn trường chi tập; từ huyền cung oán phổ thành bạc mệnh chi âm; giác thê lương kỳ não nhân, phục sinh đình nhi cố ảnh. Hoa ưng thâu diễm, liễu dục tăng kiều. Tham Bắc Bộ chi phong tao, tiếu đề diệc vận. Thiện Nam Triều chi phấn đại, nùng đạm tương nghi… Cố nghi chư lão chung tình, biến danh tính ư quần biên tụ giác; toại sử thiên thu ký sự, thái phong lưu ư thặng phấn tàn chi…”

            Từ đó về sau… Nhân gian có bờ lau bến lá để đi về ấm cúng mà thút thít bên nhau.

CHỢT NHÌN em đốt than đen đủi, chợt ngó ra màu hồng lệ thiên hương. Chợt tao ngộ đầu non Duồng Mô Din tư lự, chợt muôn đời vào vạn đại là hơi thở riêng Hoàng Hậu mai sau. Chợt chiêm bao liễu yêu bài động, chợt phong tình vạn chủng lồng lộng phơi hoa.


Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là Tảo Mộ hội là Đạp Thanh.

            Cái nghĩa u huyền của tháng ba là chi thế? Nào hội, nào lễ, nào Tảo Mộ, Đạp Thanh, cùng xúm xít dàn bày song song như hai hàng chân ngọc duỗi ấy cũng chỉ vì cái “là, là” nó liễu là lộn lại rất lần khân phố hội do ra,

Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là Tảo Mộ hội là Đạp Thanh
Một giờ ngẫu nhĩ ngày xanh
Ngửa ngang
mộng nên đànhthưa
Cung đàn lựa những ngày xưa
Mà gương bạc mệnh bây giờ
đây
Lòng thí chủ vốn hẹp hòi
Cúi xin phương trượng trong ngoài mở ra.


SUY TƯ sâu thẳm về chỗ đó cái chỗ của “là, là” từ trong tinh thể phơi ra, đó là điều kiện thiết yếu của tái lập tồn lưu do ra vạn đại. Con mắt sẽ nhìn thấy Thúy Kiều…
            Con mắt sẽ nhìn thấy Thúy Kiều về chủ tọa buổi hội thoại giữa các thiên tài cổ kim trong một vòm ánh sáng khác.


Truông đầu đá vọng thiên di
Mắt gì cô quả mắt gì bá vương
Đầu phơi cung bậc lên cồn
Quần tiên giũ áo trút nguồn cho ma?
Thơ sầu rượu kếch đưa ra
Ních tì ti sảng sảng là cuồng ngâm?
Càn khôn gió đổ chất chồng
Về trong thiên hạ đêm mồng một giêng
Hồng nhan em trú ngụ miền
Mép nào xa dội phi tuyền về mây?

            Mép miền nào em trú ngụ? lần cuối cùng xin hỏi lại Sử Xanh.

Những từ sen ngó đào tơ…

            Sen ngó đào tơ là cái chi lạ rứa? Mà cứ lạ rứa đi về ám ảnh mọi cái Tại Thể. Bây giờ là sực tỉnh Thiên Thu? Mà thiên thu là thu thiên cồn lá Tồn Lưu Vĩnh Thể nhớ Trường Sinh di biệt khúc Lâm Dồn? Những từ sen ngó đào tơ? Đi về kêu gọi bây giờ ra sao? Những từ bờ cỏ chiêm bao? Mười lăm năm mới Bây Giờ Là Đây. Cái Bây Giờ Là Đây hiển hiện tròn đầy tươi tốt hơn mười rằm xưa. Trọn lành lài liễu lên thôn lá cồn lên cỏ. Quá khứ không còn. Tương lai không cần nữa. Sau trước dồn về bây giờ tại đó là bất tuyệt luân lưu ngàn thu kia là phút nọ. Ni il n’a jamais été, ni il ne sera, parce qu’il est maintenant, tout à la fois, sans discontinuité. Có điều chi nữa mà ngờ. Cô đừng dấu tôi nữa nhé. Hai đứa vén tấm màn phủ trên dâu biển, nghe linh hồn lắt lay thần thánh, ngự trị lên sáu cõi luân hồi di chuyển chu lưu. Au milieu de ces cercles, est la divinité qui dirige le cours de toutes choses; car elle est le principe de toute naissance douloureuse et de toute génération, poussant la femelle dans les embrassements du mâle et le mâle dans ceux de la femelle – Parménide.

CON CÁI nằm vào trong vòng tay con đực, con trống chui vào hang con mái, phôi dựng âm dương theo thiên lý lưu hành, quyết định mọi sinh nở đoạn trường, đẻ đau bừng reo thất thanh hồn thế hệ. – Et tu apprendras égafement les oeuvres vaga bondes de la lune… Tu connaitras aussi les cieux qui nous entourent… Và sao mọc lên trời, và trăng tròn di động vằng vặc mộng lang thang và những quỹ đạo tuyết sương khắp ba nghìn thế giới cùng rủ nhau giải rõ cái nghĩa thần thánh đùn đẩy âm dương giao hội quân bình.
            Tư tưởng nguyên sơ nảy giô huyền hoặc. Người đời nay không còn Ký ức. Kỷ niệm mất dư vang. Mải mê biện chứng duy lý duy vật, quên hết mọi sương bóng siêu nhiên mơ màng bình minh trên cổ độ. Đầu ngõ nào mây dội? Cồn lá nào – là Thâm Xứ tuyết băng? Con người chết ngột. Weil, Hemingway đã bỏ đi. Ta xin gọi – ơi em Thúy Kiều về nhanh với chứ!


Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.

            Trước ánh đèn (Lửa Phôi Dựng) chuyện Phong Tình biến làm Ẩn Ngữ: Nó nằm trong Cổ Lục để truyền vào sử xanh; Nghĩa là: buộc người nghe phải nghe trong Tiếng Gọi của Cái Vậy – là Cái Vậy – là Cái-Vậy-Phong-Tình không phải cái Phong-Tình-Chỉ-Duy-Có-Vậy. Theo Heidegger, đó là chỗ khác nhau giữa cái le Même và cái l’Identique. Tiếng Gọi đã truyền vào Sử xanh làm cho trang Cổ Lục tê tái tím ngắt – nghĩa là: bất thình lình động mình tuyết bạch là: trắng muốt võ vàng. Cảo thơm trước ánh đèn đúng là: hương lửa ba sinh cỏ mọc ba miền phong tình xanh lục lãng đãng ba chân trời trăm năm về kêu trong Thời Gian Tố Chất: ba sinh biến làm ba góc biển của triều năm tháng rộng – kết Chùm Vĩnh Viễn trong Trường Sinh Bất Tuyệt Đó Đôi Vành Nương Tử đón Chân Trời về mộng giữa Phù Du.
            Đọc Nguyễn Du là: nghe cái lời vô ngôn trong ẩn ngữ, đừng bỏ lạc ý ẩn ngữ – là mất khả năng nghe. Anh đã về?Em nghe dưới chân vang: hoa lá nở với chuông rền giọng thắm. Ainsi demeurons-nous de ceux qui entendent et préts à faisser le mot reposer en fui même comme mot-énigme, afin que tout d’abord nous aider à considérer la pleine mesure d’enigme contenue dans le mot.

THẾ LÀ chúng ta chịu làm những con gái biết nghe, và sẵn sàng chịu để cho cái lời nằm trong miền cõi nó là: mép cồn ẩn ngữ vô ngôn – là cốt để: trước tiên ta được lắng tai ngóng về mươi hướng, mở linh hồn đón một cái nói dị thường trong cổ lục khả dĩ giúp ta cân nhắc đầy đủ cái nghĩa trọng nghìn non của u uyên nằm trong ẩn ngữ, là: tụ hội tuyết sơ khai triều gọi sóng phiêu bồng.
            “Sao gọi là nghe?” – từ đó mang nghĩa: nghe là ngóng đợi triều sử xanh cổ lục giậy trào – còn lưu tồn là truyền trong tiếng gọi. Truyện Thúy Kiều mở ra ở trước đèn theo điệu nọ, thì Essai et Conférences khép lại với những tiếng kia:
            Logos, Moira, Alêthéia.
            Những tiếng Chữ Tài Chữ Mệnh, Cổ Lục, Sử Xanh, Anh Hoa Phát Tiết, Những Điều Trông Thấy, Cảo Thơm Lần Giở – cùng muốn nói cái gì ở phía bên kia âm thanh lay lắt?
            Il est vrai que pour saisir au-de là des mots ce que ces mots veulent dire, une interprétation doit fatalement user de violence
            Muốn “nắm” cái ở bên kia lời, sự luận giải thích tất nhiên buộc phải sử dụng điệu quá khích cưỡng chế. Nhưng đó không phải là võ đoán bướng bỉnh làm bừa. Đó được thúc đẩy và hướng dẫn bởi sức mạnh của một ý tưởng chủ yếu khơi dẫn linh cảm vũ bão – thuận theo ý hướng thăm thẳm, tin tưởng nơi cái đà suy tư tha thiết trong tác phẩm tài hoa. Người luận giải chỉ được phép liều mạo hiểm giấn mình trong cuộc – là riêng bởi cái niềm tin, cái ý tưởng mãnh liệt nọ.
            Il est vrai que pour saisir au de là des mots ce que ces mots veulent dire, une interpretation doit fatalement user de violence. Mais cette violence ne peut se confondre avec un arbitraire fantaisiste. L’interprétation doit être animée et conduite par la force d’une idée inspiratrice. La puissance de cette idée permet senie à l’interpréte le risque, toujours présomptueux, de se confier à l’éln secret d’une oeuvre, pour s’attacher à ce qu’ elle n’exprime pas et tenler d’en trouver l’expression. L’idée directrice elle même se confirme alors par sa puissance d’éclairemment.

TRANG 256 cuốn Kant et le problème de la métaphytique quả đặt đầy đủ cơ sở cho suy tư. Kể từ đó…? – Cái-liều-nhắm-mắt-đưa-chân của Thúy tài hoa, từ đó đã mở những phương trời. Cái Bước Nhảy của Thúy Kiều đã đốt sáng ngọn lửa âm thanh trên cái Đà Dự Liệu đoạn trường phóng hoạt. Ý tưởng chủ yếu của suy tư hoằng viễn được minh chứng vững vàng bởi cái sức soi sáng dị thường phát từ lời phong nhã.
            Nguyễn Du đã “diễn giải” câu chuyện Nàng Kiều theo điệu riêng – lệch nghĩa ký sự sử ký, nhưng thuận theo ý chiêm niệm sử xanh. Ta sẽ vô tình tàn phá tiếng nói của Thúy Kiều, nếu cứ bo bo nghĩ rằng: phải khách quan vô tư bước vào cuộc phân tích cái mảnh tấm hồng nhan hoen ố triều Minh.

            (Xem lại: Câu hỏi của Thúy Kiều mở ra với Tây phương.)


BÙI GIÁNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

 
The following users thanked this post: vinh bo cap, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #16 vào: 11/03/2017, 08:11:15 »

VÀI SUY TƯỞNG TRIẾT HỌC
Rút từ tập Nhật Ký

SỰ TIỀM ẨN TRIẾT LÝ CỦA TẤT CẢ MỌI CÂU HỎI
TRIẾT LÝ là gì? Chính câu hỏi này là một câu hỏi về một câu hỏi; bởi vì triết lý là một câu hỏi rồi; và khi nói “Triết lý là gì?” thì đã hiện lên một câu hỏi thứ hai rõ ràng hơn: “là gì?”
            “Là gì”? là câu hỏi làm sáng tỏ câu hỏi ẩn tiềm trong “triết lý”. Trong “triết lý” chứa đựng một câu hỏi đen tối. Câu hỏi đen tối là câu hỏi nằm trong bóng tối như một người nằm trong gian phòng tối mà không bật đèn. Câu hỏi sáng là bóng đèn, nghĩa là ánh sáng; ánh sáng làm sáng tỏ những gì nằm trong tối. Chữ “triết lý” trong câu hỏi “triết lý là gì?” là bóng đèn, là ánh sáng khi nó đứng và hiện diện trong những chữ khác, trong tất cả những chữ khác; nhưng khi chữ “triết lý” đứng chung với chữ “là gì?” như trong câu hỏi “triết lý là gì” thì lập tức chữ “triết lý” trở thành đen tối và chữ “là gì?” hiện diện với tất cả huy hoàng sáng rực của ánh điện. Trong câu hỏi “triết lý là gì?”, chữ “triết lý” là câu hỏi đen tối; còn chữ “là gì?” là câu hỏi sáng tỏ; câu hỏi “là gì?” làm SÁNG TỎ ý nghĩa đen tối của danh từ “triết lý”; ý nghĩa đen tối của “triết lý” là câu hỏi; “làm triết lý” là làm câu hỏi; “học triết lý” (gọi tắt là “triết học”) là học câu hỏi hay học đặt câu hỏi; “triết gia”, “triết nhân”, “nhà triết lý”, “con người triết học” là những danh từ để gọi con người mà thể tính của họ là đặt câu hỏi – nói một cách khác là tra vấn, cật vấn. Người làm triết lý là người hỏi cung, người tra khảo. Người làm triết lý là con người chỉ biết hành hạ tra tấn. Tra tấn, đánh đập, đổ nước vào mũi, đâm kim vào đầu ngón tay là những hình thức tế nhị của một câu hỏi.

TRIẾT LÝ xuất hiện từ lúc nào? Từ lúc bắt đầu có ngôn ngữ. Con người chỉ được gọi là NGƯỜI khi nào con người biết nói; con người biết nói là con người biết nghe (câm thì phải điếc, mặc dù điếc không bắt buộc phải câm). Nói là nghe; nói là hỏi; hỏi là trả lời. Lúc con người biết nói là lúc triết lý xuất hiện; vì biết nói là biết hỏi; hỏi là triết lý. Đứng trước sự vật, con người nguyên thủy bắt đầu ngạc nhiên. Chính sự ngạc nhiên tạo ra ngôn ngữ, thi ca và triết học; chính sự ngạc nhiên khai sinh ra tư tưởng (Aristote đã ý thức được sự ngạc nhiên là suối nguồn của suy tư). Sự ngạc nhiên là câu hỏi. Sự ngạc nhiên xuất hiện cùng lúc với ý thức và ý thức có nghĩa là hỏi. Hỏi thì phải hỏi về cái gì; vì nếu không hỏi về cái gì thì không phải là hỏi, nghĩa là không phải là ý thức. Hỏi là triết lý; hỏi về sự hỏi này là triết học; triết học là hỏi về triết lý, mà nói gọn là: “Triết lý là gì?”, “Triết lý là gì?” là hỏi về sự hỏi, nghĩa là cái “LÀ GÌ? ấy là gì?”, nói gọn là: “LÀ GÌ? là gì?” Như thế ý thức quay lộn lại ý thức; ý thức về ý thức hay là ý thức tự hỏi ý thức. Nói một cách khác, triết lý là ngạc nhiên; triết học là ngạc nhiên về sự ngạc nhiên này.

TRIẾT LÝ là hỏi; triết học là hỏi về hỏi; trong chữ TRIẾT LÝ khi chiết tự, ta thấy có chữ KHẨU; KHẨU là miệng, miệng dùng để nói; nói là hỏi (và trả lời). Không bao giờ trả lời nếu không ai hỏi. Chỉ trả lời là khi có hỏi đi trước. Triết lý là hỏi; khoa học là trả lời. Khoa học là gì? Đây là câu hỏi: khoa học không thể trả lời câu hỏi này, bởi vì đây là câu hỏi về khoa học; mà bản chất của khoa học là chỉ trả lời; mà trả lời thì chỉ trả lời khi người khác hỏi; khoa học không thể hỏi khoa học, vì hỏi khoa học là phản bội khoa học, là không phải khoa học. Phận sự triết lý là hỏi; phận sự khoa học là trả lời. Người ta thường nói: HỎI TỨC LÀ TRẢ LỜI. Câu ấy có nghĩa là triết lý bao trùm cả khoa học. Triết lý là bóng tối; khoa học là một ngọn đèn cầy yếu ớt; bóng tối vây phủ ngọn đèn, nhưng ánh đèn leo lét bắt đầu chiếu rọi ánh sáng yếu ớt lên không gian. Ánh sáng trả lời bóng tối. Bóng tối kêu gọi ánh sáng; bóng tối hỏi, ánh sáng liền trả lời. Ánh sáng chỉ là ánh sáng là NHỜ vào bóng tối; ngược lại, bóng tối không thể NHỜ vào ánh sáng; vì nếu bóng tối mà NHỜ vào ánh sáng thì ánh sáng sẽ phá hủy bóng tối và bóng tối sẽ không còn gọi là bóng tối nữa. Bóng tối là bóng tối, nhưng ánh sáng chỉ là ánh sáng là NHỜ bóng tối; mặt trời chỉ là mặt trời là nhờ nằm trong không gian đen tối vô tận.
            Triết lý là hỏi.
            Triết học là hỏi về hỏi.
            Khoa học là trả lời câu hỏi của triết lý, nhưng không thể trả lời về câu hỏi về câu hỏi; vì nếu trả lời về câu hỏi về câu hỏi, thì sẽ bị triết lý hỏi về câu trả lời của khoa học về câu hỏi về câu hỏi; lúc bấy giờ khoa học lại trả lời nữa; nhưng câu trả lời này lại bị hỏi nữa. Cứ như thế mà đi mãi, từ hỏi đến trả lời, từ trả lời đến hỏi, cho đến vô tận, vô cùng không bao giờ dứt được, ad infinitum.

NHƯ THẾ cả triết lý và khoa học đều rơi vào ngõ cụt, ngõ bí, không lối thoát. Nhưng triết lý vẫn cao hơn khoa học là có thể đặt lên một câu hỏi về chính ngõ cụt này, về chỗ sơn cùng thủy tận này; triết lý đặt câu hỏi về hố thẳm vô cùng này. Lúc bấy giờ khoa học không thể trả lời được nữa và đành chịu thất bại đầu hàng; đang lúc đó, triết lý đặt lên câu hỏi, chờ mãi mà không thấy khoa học trả lời được; đau đớn tuyệt vọng quá đến nỗi chịu không nổi, triết lý liền im lặng và nhảy xuống hố thẳm, lúc bấy giờ chính là lúc giải thoát. Khi giải thoát rồi có còn được trả lời hay không, thì không con người nào được biết, vì chỉ khi nào đã giải thoát rồi thì mới biết được. Nhưng giải thoát thì im lặng; tất cả những con người giải thoát đều là những con người im lặng. Vì thế câu hỏi tối hậu của triết lý không còn được trả lời; thế cho nên triết lý mới quay lại hỏi chính sự hiện diện của mình; triết lý quay lại hỏi triết lý, hỏi về chính câu hỏi của mình, khi đó thì triết học xuất hiện; vì triết học là hỏi về triết lý. “Triết lý là gì?” là một câu hỏi của triết học. Triết học là sự ngạc nhiên của chính triết lý. Nhưng khi hỏi: “Triết học là gì?”; câu này có nghĩa là: “câu hỏi “TRIẾT LÝ LÀ GÌ” là gì vậy?”; như thế, triết học có nghĩa là sự ngạc nhiên của chính triết lý; còn bây giờ sự ngạc nhiên của chính triết học thì gọi tên là gì? Có thể gọi là tôn giáo.
            Triết lý là sự ngạc nhiên
            Triết học là ngạc nhiên về sự ngạc nhiên trên
            Tôn giáo là ngạc nhiên về sự ngạc nhiên của triết học về sự ngạc nhiên của triết lý.

NHƯ TRÊN, chúng ta thấy mức thang giá trị đi từ dưới lên trên, thấp nhất là triết lý, bậc thang thứ hai là triết học và bậc thang thứ ba là tôn giáo; do đó tạm kết luận là tôn giáo cao hơn triết học và triết học cao hơn triết lý.
            Nhưng sự thực không phải dễ dàng như đã trình bày. Bởi vì triết lý là sự ngạc nhiên; vì thế triết lý lại có thể ngạc nhiên về sự có mặt của tôn giáo, nghĩa là triết lý có thể đặt câu hỏi; và câu hỏi của triết lý về tôn giáo chính là sự ngạc nhiên của triết lý về sự ngạc nhiên tôn giáo về sự ngạc nhiên của triết học về sự ngạc nhiên của triết lý. Do đó, từ mức thang thấp nhất là bậc thang thứ nhất, triết lý lại leo lên bậc thang thứ tư, nghĩa là bậc thang cao hơn bậc thang thứ ba là tôn giáo. Trong giai đoạn này, mặc dù triết lý ở nơi bậc thang cao nhất là bậc tư, nhưng chưa hẳn là mọi sự đã thanh toán xong, vì triết học lại bước lên bậc thang thứ năm và ngạc nhiên về triết lý, như thế nói cho rõ nghĩa hơn là ở bậc thang thứ năm này triết học là sự ngạc nhiên về sự ngạc nhiên của triết lý về sự ngạc nhiên của tôn giáo về sự ngạc nhiên của triết học, về sự ngạc nhiên của triết lý.
            Đến đây, tôn giáo lại vội leo lên bậc sáu và ngạc nhiên về sự ngạc nhiên của triết học ở bậc năm; do đó có thể định nghĩa dài dòng tôn giáo là sự ngạc nhiên về sự ngạc nhiên của triết học về sự ngạc nhiên của triết lý về sự ngạc nhiên của tôn giáo về sự ngạc nhiên của triết học về sự ngạc nhiên của triết lý.

NHƯ THẾ chúng ta thấy sự ngạc nhiên đi từ tôn giáo đến triết học rồi đến triết lý rồi từ triết lý lại ngược lại tôn giáo đến triết học rồi lại đến triết lý, vân vân.
            Nói theo toán học thì:
                        1. Triết lý là sự ngạc nhiên
                        2. Triết học là sự ngạc nhiên 2
                        3. Tôn giáo là sự ngạc nhiên 3
            Đó là giai đoạn biện chứng thứ nhứt; đến giai đoạn biện chứng thứ hai:
                        1. Triết lý là sự ngạc nhiên 4
                        2. Triết học là sự ngạc nhiên 5
                        3. Tôn giáo là sự ngạc nhiên 6
            Rồi đến giai đoạn biện chứng thứ ba:
                        1. Triết lý là sự ngạc nhiên 7
                        2. Triết học là sự ngạc nhiên 8
                        3. Tôn giáo là sự ngạc nhiên 9
            Nếu gọi tắt 3 giai đoạn biện chứng pháp là A, B, C và gọi tắt triết lý là TL; triết học là TH; tôn giáo là TG và sự ngạc nhiên là NN thì ta có những phương trình như sau:
            1. Giai đoạn biện chứng A:
                        TLA = NN  |  THA = NN2  |  TGA = NN3
            2. Giai đoạn biện chứng B:
                        TLB = NN4  |  THB = NN5  |  TGB = NN6
            3. Giai đoạn biện chứng C:
                        TLC = NN7  |  THC = NN8  |  TGC = NN9
            Triết lý là hỏi
            Triết học là hỏi về hỏi
            Tôn giáo là hỏi về hỏi về hỏi
            Không hỏi tức là im lặng; im lặng có nghĩa là tiêu hủy triết lý, triết học, tôn giáo và nhảy tung xuống hố thẳm để giải thoát.
            Chỉ khi con người không còn nói nữa, không còn hỏi nữa và cũng không còn trả lời nữa thì con người mới giải phóng được giới hạn của thể phận làm người để mà siêu hóa bản thể mình.

HỎI CÓ NGHĨA LÀ siêu hóa thú tính trong con người; nhưng từ hỏi đến im lặng thì chính sự im lặng ấy siêu hóa nhân tính. Con người đi từ man rợ để đến nhân bản, nhưng từ nhân bản con người bước đến siêu nhân bản. Siêu nhân bản là im lặng. Nhưng siêu nhân bản tự hỏi chính bản vị của siêu nhân thì lúc bấy giờ siêu nhân bản đã tự siêu hóa để đến thần bản và cứ thế mãi, hỏi rồi im lặng, im lặng rồi hỏi để rồi đi đến sự im lặng tuyệt đối. Sự im lặng tuyệt đối ấy là Đạo trong Thiền tông và Lão Trang.
            Những dòng trên cũng đồng thời làm sáng tỏ ý nghĩa đen tối của câu này trong quyển ALSO SPRACH ZARATHUSTRA của Nietzsche: “Con người là cái gì phải được vượt lên”.
            Khi Wittgenstein nói rằng: “Phải im lặng những gì người ta không thể nói được” (Wovon man nicht sprechen kann, darüber muss man schweigen) (cf. Ludwig Wittgenstein, Logisch philosophische Abhandlung, 1921).
            Khi nói thế thì Wittgenstein đã hủy diệt nội dung và bản chất của triết lý và triết học và tôn giáo – Như thế con người không còn ngạc nhiên nữa, mà phải im lặng; và chính sự im lặng này dọn đường đưa đến sự thể nhập bên trong sự ngạc nhiên; lúc bấy giờ con người không còn đứng trước sự ngạc nhiên như là đứng trước một đối vật (hiểu theo nghĩa Gegen-stand); lúc bấy giờ con người và sự ngạc nhiên không còn khác nhau, con người trở về sự ngạc nhiên, con người là ngạc nhiên. Sự ngạc nhiên trở lại nguyên thể và trở nên im lặng và như thế sự ngạc nhiên không còn gọi là ngạc nhiên nữa mà là Đạo, tức là suối nguồn nguyên thủy (Ursprung) mà sự ngạc nhiên đã thoát ra để xuất hiện trên đời. Chữ DA trong Dasein của Heidegger chính là sự ngạc nhiên, ngạc nhiên vì thấy mình ở đó (Befindlichkeit).

CON NGƯỜI chợt thấy mình là Dasein và sự vật chung quanh là Zuhandensein hay Vorhandensein. Không có sự ngạc nhiên sẽ không có sự hốt hoảng quằn quại xao xuyến (Angst) và không có Angst thì sẽ không tìm được dấu vết để lần mò quờ quạng trở về SEIN, tạm dịch ra chữ Việt là Tính (nghĩa của chữ Tính này nằm trong chân trời tư tưởng Trung Hoa).


            Khi hỏi thì phải trả lời.
            Mà khi trả lời thì chỉ trả lời bằng 4 phạm trù:
                        1. Trả lời
                        2. Không trả lời
                        3. Vừa trả lời vừa không trả lời
                        4. Không trả lời mà cũng không không trả lời
            Nội dung của mỗi câu trả lời đều nằm trong những phạm trù này:
                        1. hiếu kỳ
                        2. xác tín
                        3. dò xét
                        4. kêu gọi
                        5. van xin
                        6. giải trí, vân vân
mỗi một câu hỏi đều chứa đựng một Weltanschauung (thế giới quan) mà người hỏi thường khi không ý thức được ý thức hệ của chính mình.



            Âm nhạc không phải là hỏi và trả lời mà là NÓI ngôn ngữ nguyên thủy (Ursprache). Tất cả nghệ thuật cao siêu đều nói ngôn ngữ ban đầu.


            Con người hay đặt câu hỏi là con người muốn chạy trốn giới hạn tính cảnh (những Grenzsituation, situations limittes, như là sự chết, sự đau khổ, sự chiến đấu, vân vân). Nhưng không hỏi thì không còn là NGƯỜI. Heidegger nói: “L’essence du Dasein réside dans son existence” (Das Wesen des Daseins liegt in seiner Existenz). Phải nói như vầy mới tối hơn và trung tính hơn: “Das Wesen des Daseins liegt in seiner Frage”.
            Bản chất của hiện hữu là hỏi, vì thế hỏi tức là siêu hoá.
                        – Questinner, c’est transcender
                        – Seinterroger, c’est se surmonter, se dépasser, se transcender.
            K. Jaspers: “Philosopher, c’est transcender”, (cf. Rechenschaft und Ausblick, Munich, 1951)

MỖI MỘT câu hỏi đều là sự tiềm ẩn, che dấu, giữ kín, hàm ý, hàm súc (implication) mà con người bị hỏi phải mở màn bằng cách giải thích (explication) đem ra ngoài (EX) cho được rõ ràng.
            Sein của Heidegger ẩn náu trong mỗi một câu hỏi thông thường hằng ngày của mọi người; nhưng nếu con người biết phóng ra ngoài đi tới đằng trước mình theo nghĩa EX trong chữ EXISTENZ của Heidegger thì có thể đưa Sein ra ngoài sự tiềm ẩn – mở màn, Alethein, để cho SEIN lộ ra.
            Những câu hỏi thông thường hằng ngày đã đi xa và quên lãng Sein bởi vì con người bị ràng buộc trong nghề nghiệp, bận tâm lo lắng (Besorge) cho cuộc sống.

BIẾT CÁCH HỎI thì Sein mới xuất hiện được trong câu trả lời. CON NGƯỜI HIỆN NAY CHƯA BIẾT CÁCH HỎI. Đó là thảm kịch lớn lao của nhân loại.



            Phải để ý triệt để đến chữ VỀ (dịch ra chữ Anh là about); chữ VỀ là trung tâm điểm, là tinh túy, bản chất, thể chất của triết lý. KHÔNG CÓ CHỮ VỀ THÌ SẼ KHÔNG CÓ TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT HỌC.
            Hiểu được ý nghĩa tiềm ẩn của chữ VỀ là nắm biết được cơ cấu, động cơ sinh hoạt của triết lý và triết học.
            Biểu tượng, hình tượng là VỀ.
            Biểu tượng, hình tượng xuất hiện lúc chữ VỀ xuất hiện; biên giới để phân biệt con người và thú vật là biên giới được gạch bằng chữ VỀ. CON NGƯỜI HỎI LÀ CON NGƯỜI NÓI VỀ. Thú vật không biết hỏi là vì thú vật chỉ biết KÊU, chứ không biết KÊU VỀ hay NÓI VỀ.
            HỎI có nghĩa là NÓI VỀ.
            Người ta chỉ HỎI bằng biểu tượng.
            Sự ngạc nhiên từ trên trời đi xuống trần gian để nhập thể (incarnation) mà làm biểu tượng (symbole), thế là câu hỏi xuất hiện BẰNG và VỚI biểu tượng.
            CÂU HỎI chính là BIỂU TƯỢNG, biểu tượng cho sự ngạc nhiên.
            Ngạc nhiên về ngạc nhiên là biểu tượng về biểu tượng, chẳng hạn Y biểu tượng cho biểu tượng X.
            Triết học về ngạc nhiên VỀ sự ngạc nhiên của triết lý VỀ sự ngạc nhiên của tôn giáo VỀ sự ngạc nhiên của triết học VỀ sự ngạc nhiên của triết lý.
            Nói theo quá trình biểu tượng thì triết học là biểu tượng (5) về biểu tượng (4) về biểu tượng (3) về biểu tượng (2) về biểu tượng (1).
            Tác dụng đặc biệt của biểu tượng là có thể BIỂU TƯỢNG CHO BIỂU TƯỢNG và cũng có thể BIỂU TƯỢNG CHO BIỂU TƯỢNG CHO BIỂU TƯỢNG và cứ thế đi mãi cho đến vô hạn.
            Toán học là biểu tượng. Vậy toán học có thể thoát ra ngoài tác dụng của biểu tượng không? Nhứt định không. Toán học cao nhứt và triết lý cao nhứt sẽ gặp nhau trong cùng một thể cảnh giới hạn, một nhà toán học giải thoát là một nhà thần bí hay một vị thánh hay một bậc giác ngộ.


Ý NIỆM VỀ VÔ HẠN (l’inlini)
            Có thể ý niệm về vô hạn? Tác dụng của VỀ đã là biểu tượng rồi. Ý niệm nằm trong quá trình hữu hạn; hữu hạn dùng làm biểu tượng cho vô hạn thì lại chỉ là vô hạn của hữu hạn, vô hạn của hữu hạn chỉ là vô hạn trong tương đối hay hữu hạn tự phóng đại.
            Vô hạn của toán học là hữu hạn tự phóng đại. Biểu tượng về biểu tượng về biểu tượng, cứ như thế cho đến vô hạn.
            VÔ HẠN ở câu trên là vô hạn của toán học, tức là một thứ tiến trình không thể đếm được mà chữ Sanskrit gọi là a-samkhyam (vô hạn ở đây là vô số – samkhyam: số; a-samkhyam: vô số), nói một cách khác vô hạn là lượng (chữ Phạn gọi là a-parimitam) (cf. Rev. H. O. Mascarenhas, St. Thomas Aquinas and the Mediaeval schlastics, H of Ph. E. and W. vol. II, tr. 157); chữ Phạn của vô hạn (anantam) hoàn toàn khác hẳn vô hạn trong nghĩa “vô số” (asamkhyam) và “vô lượng” (a-parimitam); vô hạn của St. Thomas d’Aquin gần gần đến anantam của triết học Ấn Độ; (e. g. Taittiriya Upanisads, 2-1). Thomas d’Aquin đã cho ta thấy rằng vô hạn của Aristote chỉ là vô hạn tương đối, infinitum secundum quid (cf. Summa Theologica, I, q. 7, a. 2, c).


THỬ PHÁ HỦY NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG THÁNH THOMAS D’AQUIN
            Sự ngạc nhiên là sự chuyển động (movement). Theo định nghĩa này chúng ta có thể định nghĩa triết học ở bậc thang thứ năm là:
            Triết học là sự chuyển động về sự chuyển động của triết lý về sự chuyển động của tôn giáo về sự chuyển động của triết học về sự chuyển động của triết lý.
            Và tôn giáo ở cấp bậc sáu thì:
            Tôn giáo là sự chuyển động về sự chuyển động của triết học về sự chuyển động của triết lý về sự chuyển động của tôn giáo về sự chuyển động của triết học về sự chuyển động của triết lý.
            Theo thánh Thomas D’Aquin “không có gì có thể đưa tiềm thể (potentiality) đến hiện thể (actuality) nếu không có một thực thể mà chính nó đang ở trong hiện thể”.
            Và trước câu nói trên, thánh Thomas D’Aquin đã định nghĩa sự chuyển động (motion) chỉ là đem một sự vật từ tiềm thể đến hiện thể (cf. Summa Theologica I, q, 2, a, 3, c).

NHƯ THẾ theo định nghĩa tôn giáo ở cấp bậc 6 thì:
            Tôn giáo được hiện diện do sức chuyển động của triết lý gây ra do sức chuyển động của triết học, và sức chuyển động của triết học này lại phát sinh từ tôn giáo, và tôn giáo từ triết lý và triết lý từ triết học, vân vân.
            Từ potentia đến actus rồi bỗng nhiên ngừng lại Actus Purus, phải chăng thánh Thomas D’Aquin đã cưỡng bức và tiêu diệt Potentia Purus? Không có Potentia Purus thì làm gì có Actus Purus, nhưng ở đâu lại có Potentia Purus? Lại do Actus Purus sao? Như thế chúng ta lại tiếp tục tiến trình vô hạn của sự ngạc nhiên trong triết học, triết lý và tôn giáo.
            Trong triết học Ấn Độ chúng ta cũng thấy từ prakrti đến purusa rồi lại ngừng lại nơi Ultama Purusa (tức là ISVARA), mỗi một con người sinh hoạt là do sự biến thể từ potentia đến actus và sức sinh hoạt hay sự biến thể này được hàm dưỡng trong Actus Purus (theo thánh Thomas D’Aquin).
            Do đó, theo định nghĩa về sự chuyển động trong Summa Theologica I, q. 2, a. 3, c: “Vì vậy cái gì được chuyển động thì phải được chuyển động do một cái khác nữa”, và cái khác này được chuyển động cho cái khác nữa, vân vân, cho đến vô hạn. Nhưng thánh Thomas D’Aquin nói rằng như thế thì không được: “Phải cần đi đến chuyển động đầu tiên, không do sức chuyển động nào khác thúc đẩy và mọi người đều hiểu đó là Thượng đế” (Summa Theologica I, q. 2, a. 3, c).
            Như thế Vô hạn của thánh Thomas D’Aquin chính là vô hạn của hữu hạn và sức chuyển động liên tục ấy phải ngừng lại nơi suối nguồn phát ra sức chuyển động mà nếu không có suối nguồn này thì tất cả sức chuyển động liên tục đều ngừng lại.

NHƯ THẾ vô hạn của thánh Thomas D’Aquin có khác gì vô hạn của Aristote? và lại còn thấp hơn vô hạn của toán học (nghĩa là vô số và vô lượng – a-samkhya và a-parimitam của Phạn ngữ). Đó là lý do cắt nghĩa tại sao trước khi giã từ cõi đời, thánh Thomas D’Aquin đã phủ nhận trọn sự nghiệp thần học của mình.


THỬ PHÁ HỦY CĂN BẢN TƯ TƯỞNG CỦA JEAN PAUL SARTRE
            Trong L’Être et le Néant, chúng ta thường thấy Sartre nói: “L’être est ce qu’il n’est pas et il n’est pas ce qu’il est”.
            Nói như thế thì Sartre lại cũng chưa vượt khỏi thánh Thomas D’Aquin; sau đây ta hãy đem những biểu tượng (symboles) của J. P. Sartre đổi thành những biểu tượng của thánh Thomas D’Aquin:
                        est ce qu’il n’est pas = actus + potentia
                        n’est pas ce qu’il est = potentia + actus
            Khi dùng biểu tượng trên phải nhớ rằng sức chuyển động được liên tục là nhờ actus và potentia có liên quan dính liền nhau → tượng trưng bằng dấu +.
            Sartre nói rằng không có Thượng đế nhưng Sartre thế lại bằng Néant: nhưng dù Sartre đã cố tình phủ nhận, nhưng Néant đã mang đủ đặc tính của một Thượng đế trong Thần học của thánh Thomas D’Aquin. Như thế Sartre đã thất bại trong việc phủ nhận Thượng đế của Thần học, vì chỉ phủ nhận một danh từ để gọi một danh từ khác, thay vì gọi là con bò chúng ta gọi là con trâu; nhưng dù gọi là TRÂU hay BÒ thì con vật đó vẫn hiện hữu.
            Trong tiến trình potentia + actus + potentia + actus + potentia + actus + potentia v.v… đáng lẽ bài toán cộng này đi đến vô hạn, thay vì thế thánh Thomas D’Aquin ngừng lại không cộng nữa mà lại trừ – potentia ra khỏi tiến trình lũy tiến của bài toán cộng potentia + actus + potentia + actus v.v…
            Sở dĩ actus mà thành hình được là nhờ có potentia trong nó, như thế trong actus có potentia, trong potentia có actus; khi thánh Thomas D’Aquin hủy bỏ potentia thì lúc đó actus không còn một tí potentia nào nữa, mà trở thành actus purus; nhưng nếu là actus purus thì làm gì có được một tí potentia trong nó để có thể làm ra sức chuyển động theo tiến trình lũy tiến potentia + actus hay potentia → actus, như thế làm gì có sinh vật và kẻ sáng tạo? Làm gì có Thượng đế? Vì chỉ có Thượng đế là khi có loài người. Mà muốn có loài người thì phải có potentia trong Actus Purus – mà nếu có potentia trong Actus Purus thì Actus Purus không thể gọi là Purus mà chỉ có thể gọi là actus; như thế Thượng đế không còn là Thượng đế mà bị lôi cuốn trong dòng luân chuyển của biện chứng pháp. Có thể nói triết lý Sartre bằng danh từ Thần học của Thomas D’Aquin như sau:
                        Pour-soi = potentia
                        En-soi = actus
                        Néant = potentia purus
                        Etre = actus purus
            Như thế, sở dĩ có Actus Purus là vì có Potentia purus; sở dĩ có potentia purus là vì có actus purus, có SAT là vì có Asat; có Asat là vì có SAT.

VÌ THẾ có thể kết luận Thượng đế của thánh Thomas D’Aquin và Hư vô của Jean Paul Sartre chỉ là MỘT và hoàn toàn giống nhau. Như thế chúng ta thấy hư vô (Néant) của Jean Paul Sartre khác hẳn Hư vô (Nichts) của Heidegger; vì chính Heidegger đã ý thức cùng với Hegel rằng “Etre pur” và “Néant pur” đều là một và giống nhau. Còn chữ “KHÔNG” (Sunyata) của Nagarjuna (Long Thọ) thì hoàn toàn khác nữa, bởi vì Sunyata không phải là Néant pur mà cũng không phải là Etre pur, không SAT cũng không Asat.


VỀ DẤU HIỆU (signe) VÀ BIỂU TƯỢNG (symbole)
            Dấu hiệu không thể thay thế dấu hiệu.
            Biểu tượng có thể thay thế một biểu tượng.
            Nếu dấu hiệu có thể thay thế dấu hiệu (thì ta gọi dấu hiệu đó là biểu tượng, chứ không gọi là dấu hiệu nữa).
            Dấu hiệu báo cho biết sự có mặt.
            Biểu tượng NÓI VỀ sự có mặt hay vắng mặt.
            TRƯỚC là dấu hiệu; VỀ là biểu tượng.
            Suzanne K. Langer đã phân biệt giữa IN FACE OF (trước mặt) và ABOUT (về) (cf. S.K. Langer, The Language Line…).


KIẾN THỨC SƠ ĐẲNG CỦA QUYỂN L’ÊTRE ET LE NÉANT
            Quyển này của Sartre chỉ là một bài toán công phu mà vẫn còn phụ thuộc phạm vi toán học sơ đẳng cộng trừ – Bởi vì thực ra POUR SOI chỉ là dấu trừ (–) và EN SOI là dấu cộng (+), chỉ có thế thôi.

PHẬT GIÁO VÀ THƯỢNG ĐẾ
PHẬT GIÁO có nhận rằng có Thượng đế hay không? Thượng đế là một danh từ mang nhiều ý nghĩa khác nhau, Thượng đế của Thánh kinh (Cựu ước và Tân ước), Thượng đế của Meister Eckhart và Thượng đế của St. Thomas D’Aquin (Thượng đế của St. Thomas D’Aquin-khi-viết-Somme và Thượng đế của St. Thomas D’Aquin-trước-khi-ông-từ-trần đều là hai Thượng đế hoàn toàn khác nhau).
            Phật giáo không nhận có hay không có một Thượng đế, đó là điều thông thường hiển nhiên ai cũng có thể thấy được, nhưng phải hiểu tư tưởng Phật giáo bao trùm thống quát hết mọi trạng thái của cuộc đời (bao trùm cả DAS UMGREIFENDE của K. Jaspers); vì thế, nếu đứng trên một vị trí giới hạn, ta sẽ thấy CHÂN NHƯ (Bồ đề) v.v… là một sức chuyển động đầu tiên hiểu theo nghĩa Thượng đế của St. Thomas D’Aquin.
            Đứng trên một vị trí thứ hai, ta sẽ thấy Chân như, Bồ đề, v.v… là một sự bất động chuyển động, hiểu theo nghĩa Thượng đế của Meister Eckhart.

ĐỨNG TRÊN một vị trí thứ ba, là sẽ thấy Chân như và Bồ đề, v.v… không có, theo nghĩa “bổn lai vô nhất vật” của Lục tổ Huệ Năng.


CÂU HỎI VÀ SEIN (L’Être)
            Chỉ có một câu hỏi duy nhất (Frage) là câu hỏi về SEIN (L’Être). Đó là tất cả ý nghĩa của triết lý Heidegger và cả Jaspers, mặc dù SEIN của Jaspers có nghĩa là Transcendenz và khác ý nghĩa của Heidegger; cả ý nghĩa của Existenz trong triết lý Jaspers cũng khác Existenz của Heidegger.
            Heidegger đã đánh dấu một biến cố quan trọng trong triết học khi đem SEIN ra khỏi sự lãng quên của triết học Tây phương từ Socrate, Platon, Aristote cho đến nay.
            Nhưng chúng ta – những tư tưởng gia ở thế hệ này phải vượt Heidegger bằng cách đồng hóa Frage với Sein – FRAGE chính là SEIN – Triết lý không hỏi về Sein, mà chỉ hỏi, chỉ nhảy thẳng vào Frage.
            Vượt Heidegger không có nghĩa là đi cao hơn Heidegger mà chỉ có nghĩa lôi ra ánh sáng (explication, éclairement; Jaspers: Erhellung) những gì mà Heidegger còn để nằm trong tối (implication).


HỎI VÀ TRẢ LỜI
            Người ta chết không phải vì không thể trả lời một câu hỏi, nhưng bởi vì đã có thể trả lời quá nhiều.
            Hỏi là mystère, là méta-problematique trong tư tưởng Gabriel Marcel.
            Trả lời là prolème.
            Hỏi là Être.
            Trả lời là Avoir.


HIỂU VÀ LÀM
            Muốn giải thoát, không phải tiêu diệt sự nô lệ mà là HIỂU sự nô lệ.
            Hiểu là hỏi.
            Bi kịch không phải vì HỎI mà không thể trả lời được; bi kịch chỉ là không hỏi (và hỏi có nghĩa là ngạc nhiên). Tôi không thể CÓ sự ngạc nhiên. Tôi LÀ ngạc nhiên.


VỀ KRISHNAMURTI
TẤT CẢ những quyển sách của Krishnamurti đều là những câu hỏi. Thường khi Krishnamurti chỉ để cho mọi người đặt câu hỏi, nhưng Krishnamurti chỉ trả lời bằng cách hỏi lại hoặc trả lời mà không trả lời gì cả. Ta đoán rằng Krishnamurti đã giải thoát khỏi tiến trình biểu tượng.

REDUCTION EIDÉTIQUE CỦA HUSSERL
            Reduction eidétique là quyết định làm thế giới xuất hiện trước khi suy tưởng VỀ. Nói cách khác là THẾ GIỚI, chứ không phải là VỀ thế giới. Nói đến sự hiện hữu hay không hiện hữu của Thượng đế. Nói đến Niết bàn và Vô minh đều là những suy đoán VỀ.

KANT VÀ NỀN TẢNG TRIẾT HỌC
            Mở đầu quyển Critique de la raison pure, ngay dòng đầu của lời mở đầu: “La raison humaine a celle destinée singulière, dans un genre de ses connaissainces, d’être accablée de questions qu’elle ne saurait éviter, car elles lui sont imposées par sa nature même; mais auxquelles elle ne peut résoudre parce qu’elles dépassent totalement le pouvoir de la raison humaine” (Préface de la première édition 1781, Trad. par A. Tremesayges et B. Pacaud).
            Câu này của Kant đặt nền tảng cho một nền triết học mới và là tiêu chuẩn cho cả nền triết học Tây phương.

TRONG CÂU NÓI này ta thấy tiềm ẩn những câu hỏi này:
            1. Vận mệnh của lý trí con người là thế nào?
            2. Vận mệnh này có phải là vận mệnh của lý trí trong một loại tri thức của nó thôi hay trong tất cả?
            3. Bản chất của lý trí con người?
            4. Quyền hạn của lý trí con người?
            5. Siêu việt tính của câu hỏi là gì?


NỀN TẢNG CỦA TRIẾT HỌC MAI SAU
            Nền tảng của suy tư mai sau phải bắt đầu xây dựng trên căn nguyên tính tưởng của Heidegger trong “ngôn sở ngôn” (das Gesagte dieses Satzes) sau đây:
            “Dieses Seiende, das wir selbst je sind und das unter anderem die Seinsmöglichkeit des Fragens hat, fassen wir terminologisch als DASEIN” (Sein und Zeit, p.7, b).
            Xin dịch lại bằng “ngôn sở ngôn” của Nguyên Ngôn (Logos) của Việt Nam:
            “Tính thể này được phú bẩm – ngoài những tiềm thể khác – tiềm tính tính vấn mà chúng ta gọi là Dasein, tức là hiện tính thể”.


SỰ THẤT BẠI CỦA TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT HỌC
            Jaspers: “Das Scheitern ist das Letzte” (L’échec est la fin suprême).
            Sự khác nhau giữa tư tưởng Heidegger và triết lý Jaspers là sự khác nhau giữa sự thất bại và VỀ sự thất bại!
            Cf. Kant: “Son oeuvre doit toujours rester inachevée, puisque les questions n’ont jamais de fin” (Préface de la 1ère édition 1781 – C.d.l.R. Pure).
            Cf. Kant: “Le terrain (Kampfplatz) où se livrent ces combats sans fin se nomme la MÉTAPHISIQUE” (Préface de la 1ère édition, 1781).


NHỮNG CÂU HỎI TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC
NẾU DÙNG theo thuật ngữ Kant thì tất cả những câu hỏi khoa học đều là ANALYTIQUE và những câu hỏi triết học thì SYNTHÉTIQUE.
            Dùng theo thuật ngữ Karl Jaspers thì triết lý không có ĐỐI TƯỢNG còn khoa học thì có đối tượng (cf. Rechenschaft und Ausblick), nhưng Kant gọi les jugements géométriques là synthétique, vậy thì Kant đã đánh dấu sự cáo chung của hình học Euclide và đồng thời đưa ra hình học theo viễn tượng của Lobatschevski và Reimann.


TRÁNH MÀ KHÔNG VƯỚNG
            Làm thế nào khi suy tưởng, tránh ở đây mà không vướng vào bên kia bởi vì BÊN KIA và Ở ĐÂY cũng chỉ là một mà thôi.
            Tránh Huệ Năng gặp Thần Tú, tránh Thần Tú gặp Huệ Năng; thực là nguy hiểm.
            Làm sao TRÁNH mà KHÔNG VƯỚNG?
            Làm sao tránh mà không gặp ai hết hoặc không gặp bất cứ cái gì?


PHÁ HỦY NỀN TẢNG TÂM LÝ HỌC C. G. JUNG
            Trong quyển Psychological Types, C. G. Jung phân chia hai loại: INTROVERTED TYPE và EXTRAVERTED TYPE: trong mấy chương đầu, C. G. Jung đưa ra mấy ví dụ để chứng minh tư tưởng tâm lý học của ông: Jung đem trường hợp của Tertullian và Origen:
                        – Tertulian: sacrificium intellectus.
                        – Còn Origen thì sacrificium phalli.
            C. G. Jung cho rằng sacrificum intellectus là thuộc introverted type; và sacrificium phalli là extraverted type.
            Nhưng có thể nói ngược lại không?
            Chính sacrificium intellectus mới là extraverted type và sacrificium phalli mới là introvered type.
            Vậy C. G. Jung đã sai; chính Origen mới là introverted, còn Tertullian chỉ là extraverted.
            Freud đã phạm một sai lầm rất lớn trong tư tưởng nhân loại; nhưng sự lầm của Freud rất dễ thương và một sự sai lầm rất thông minh.

CÒN SỰ sai lầm của C. G. Jung quả thật là ngu xuẩn.
            Sự phân chia con người ra làm hai hạng, hai mẫu (introverted và extraverted) là một thái độ trước sự vật theo phạm trù LY TÍNH.
            LY TÍNH tức là đã DIỆT TÍNH.
            Làm thế nào để biết được biên giới của IN- và biên giới của EX-?
            Nếu IN- và EX- đều có thể cùng lúc nói chung cho một THỂ thì sự phân hạng của C. G. Jung mất raison d’être.
            Dù rằng không ai là hoàn toàn IN- và không ai hoàn toàn EX-; mà trong mẫu người IN- luôn luôn có một chút chất EX- trong mẫu người EX- luôn luôn có một chút chất IN- (như chính C. G. Jung đã từng thấy như vậy), nhưng tôi vẫn muốn đặt lại vấn đề từ NGUYÊN TÁNH:
            – Sự phân hạng của C. G. Jung đã LY TÍNH, vì đã đưa TÍNH rơi vào SỐ LƯỢNG.
            Khi nói trong mẫu người EX- có một phần EX- là rơi vào SỐ ĐẾM.
            Bây giờ không cần phê phán C. G. Jung trong nguyên tính nữa.
            Tôi chỉ xin phê phán trên cương vị THƯỜNG TÍNH. Tôi sẽ dùng SỐ ĐẾM để phá hủy tư tưởng SỐ ĐẾM của C. G. Jung; tôi xin dùng toán học của hai nhà toán học Đức nổi danh khắp thế giới là George Cantor và David Hilbert.
            Số học của George Cantor và David Hilbert là “số học vô số học”; theo phương pháp đo vô số theo điệu SONG HÀNH của George Cantor, chẳng hạn như đo số thường (chẵn và lẻ) và số chẵn để xem coi loại số nào nhiều hơn.


            1          2          3         4         5         6          7         8     v.v…
             |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |           .
            2          4          6         8        10       12        14       16    v.v…

            Theo lối so sánh vô số như trên thì ta thấy sự vô số (infinity) của những số chẵn (evennumber) thì cũng BẰNG, cũng NHIỀU NGANG NHƯ sự vô số (infinity) của tất cả các số (cả chẵn lẫn lẻ).
            Bởi vì theo “số học của vô số học” (arithmethic of infinity) thì một phần bằng toàn thể hay nói rõ hơn: một phần của toàn thể lớn bằng ngang chính toàn thể ấy.

TRONG TƯ TƯỞNG tâm lý học của C. G. Jung TIỀM ẨN tư tưởng số lượng hay tư tưởng số đếm; nhưng tư tưởng số học của C. G. Jung còn quá NON KÉM, chưa tiến triễn đến số học của vô số học, thành ra C. G. Jung đã thấy lệch vấn đề rất xa và rất ngu.
            C. G. Jung nói rằng khi phân loại mẫu người thì sở dĩ gọi là mẫu người IN- là vì trong người ấy chất IN- nhiều hơn chất EX-; và sở dĩ gọi là mẫu người EX- là vì trong người EX- ấy, chất EX- nhiều hơn chất IN-; nói một cách khác, trong EX- có IN-, trong IN- có EX-; nhưng sở dĩ gọi là EX- hay gọi IN- là tùy theo trường hợp số lượng của EX- hay IN- nhiều hơn hay ít hơn.
            Lý luận của C. G. Jung là thứ lý luận sơ đẳng và ngu xuẩn.
            Nếu chúng ta có học qua “số học vô số” thì ta thấy rằng một phần EX- cũng bằng và nhiều ngang như toàn thể IN-; hay một phần IN- cũng bằng hoặc nhiều hơn toàn thể EX-; chẳng hạn như tôi có thể đo theo lối song hành của nhà đại toán học George Cantor:


            1 ex       2 ex       3 ex       4 ex       5 ex       6 ex       7 ex      v.v…
             |             |             |             |             |             |             |             |
            2 in        4 in        6 in       8 in       10 in      12 in      14 in     v.v…


            2 in, 4 in, 6 in vân vân thay thế cho một phần IN-; vì 2, 4, 6 đều là những số chẵn, tức là chỉ một phần của toàn số (toàn số gồm số chẵn và số lẻ).
            Còn 1 ex, 2 ex, 3 ex, vân vân thay thế cho toàn thể EX-; vì 1, 2, 3, 4, đều là toàn số.

NHƯ THẾ một phần IN- bằng và nhiều ngang nhau với toàn thể EX- trong một mẫu người. Vậy làm sao có thể gọi một người nào đó thuộc loại EXTRAVERSION khi một chút chất INTROVERSION trong người ấy cũng nhiều nang như EXTRAVERSION! Trường hợp này áp dụng cho tất cả mọi người.
            Như thế, Tertulain vừa là EXTRAVERTED TYPE vừa là INTROVERTED TYPE (mỗi type này đều là 100%) và trường hợp Origen cũng giống như vậy.
            Thế là tôi đã phá hủy tâm lý học của C. G. Jung từ căn bản và đánh dấu sự cáo chung của tâm lý học Tây phương.


Saigon, tháng 6, 1965
PHẠM CÔNG THIỆN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

 
The following users thanked this post: vinh bo cap, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #17 vào: 11/03/2017, 20:54:38 »

            Đến hôm nay bắt đầu

            Nay trở về quỳ hỏi mẹ con đâu
            cha đã quên đi từ thuở nhỏ
            mẹ ở bên này hay bên kia
            – mẹ con giờ đã mất
            cho đến hôm nay con bắt đầu biết khóc
            và khóc thật nhiều
            để thấy mình lớn khôn
            từ mấy mươi năm con có lúc nào vui
            mà cũng chưa biết buồn
            cả đêm dài mưa luôn
            cho đến hôm nay tôi bắt đầu biết khóc
            từ thuở sơ sinh
            chưa bao giờ thấy mẹ
            nhớ tấm hình xưa em đã cất
            con dở ra xem
            mặt mẹ còn xinh như chưa bao giờ chia cắt
            sau tấm hình mẹ con gẫy gập
            bây giờ xin chỉ cho em
            mặt mẹ đây này em còn nhớ không?
            bây giờ xin chỉ cho anh
            mắt mẹ sáng lên vẫn còn hy vọng
            này anh
            này em
            có trông thấy mặt mẹ giống mình
            người cha tu hành lặng thinh
            cho con xin quỳ xuống
            tôi nhớ năm xưa
            chuyện tưới nước cam lồ cho người sống lại
            nên chạy đi tìm một vị cứu tinh
            duyên con chưa được gặp
            – chiều nay
            bầu trời giông tố u ám nhiều mây
            tôi đi nhặt cỏ cây và đất khắp nơi đây
            đất cả hai miền nam bắc
            chiều nay
            tôi mang từng gánh đất quê hương trên đôi vai gầy rặc
            lấy nước sông nhồi vắt
            nặn nên hình mẹ tôi
            tôi sẽ ngồi đây thắp nén hương cầu nguyện
            có lẽ ngày nào cũng gặp được duyên
            người đến với nhành dương rưới lên hình tượng
            chiều nay
            tôi đã quay về bốn phương tám hướng
            cho hồn nhập định về tây
            em hãy nhìn tôi đây
            tôi đã nguyện cho tôi vỡ tung lồng ngực
            để yên sóng gió ba đào
            như đã có Người từ nẻo trăng sao
            đến bao giờ tôi gặp?
            mẹ ơi!
            con xin cúng dâng thịt xương hình vóc
            cho đến hôm nay con bắt đầu biết khóc
            khi trở về hỏi mẹ con đâu
            cha cũng ra đi về vô ngã.

                                                AN  DI


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

 
The following users thanked this post: vinh bo cap, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #18 vào: 18/03/2017, 06:15:06 »

            Tháp cổ
                                                cho Trịnh Công Sơn
                                                và Đinh Cường

            Mưa bay mưa bay mưa buồn tháp cổ
            Anh xa quê hương nước mắt Chiêm Thành!
            Anh xa quê hương bao giờ trở lại?
            Giọt sầu nhỏ xuống đêm đen

            Như chim tha hương qua miền giá lạnh
            Cánh nối đường mây thương nhớ ai hoài
            Dù chỉ một lần đi kiếm tương lai
            Hai bàn tay không hai bàn chân mỏi
            Giận mình hóa kiếp muôn năm

            Nước mắt anh đây cuộc đời giả trá
            Có gì để nhớ nhau thêm
            Đường xa, đường xa bên rừng núi đứng
            Thương em trăm năm giấc mộng êm đềm

                                                KIM  TUẤN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #19 vào: 18/03/2017, 11:33:38 »
THƠ VĂN NGÀY LẠI NGÀY

Ở MỸ, các nhà văn nghệ có tiếng như Truman Capote, Saul Bellow, Salinger, Kérouac… có tiền dư, nhưng vẫn thiếu một cái gì có tính chất… tinh thần. Họ luôn luôn đề cao một đời sống ép xác và hướng thượng…


            Thiếu thì kêu thiếu! thừa thì lại phàn nàn là… thừa!

JEAN GIONO, một tiểu thuyết gia Pháp trứ danh năm nay bảy chục tuổi. Ông ăn mừng sinh nhật: có tiệc, có quan khách, có ký giả phỏng vấn.
            Ký giả Gilbert Ganne nói chuyện với ông về Camus, hỏi ý kiến ông về tác giả L’homme révolté, ông trả lời:
            – Tôi chưa từng đọc Camus, dù là chỉ đọc một giòng mà thôi! Tôi không thích Camus. Có, tôi có ngó qua, nhưng thấy sách vở Camus khó tiêu…
            Gilbert Ganne hỏi thêm:
            – Có nhiều người ông không thích?
            – Nhiều.
            – Sartre, chẳng hạn…
            – Sartre ấy à? Đối với tôi, Sartre không có trên trái đất này. Ồ, chỉ là chuyện Dubo, Dubon, Dubonnet.
            – Nói một cách khác?
            – Nói một cách khác, Sartre chỉ là chuyện quảng cáo mà thành danh! Có gì mà phải quan tâm!
            – Còn Mauriac?
            – Ông cho phép tôi nói riêng với ông nhé! Tôi chưa từng đọc sách của Mauriac. Tôi chỉ đọc mấy tên sách. Mà hẳn là sách của tôi, Mauriac cũng chẳng bao giờ đọc. Thì giờ đâu mà đọc cho hết!



BÀI PHỎNG vấn dài, nhưng tôi chỉ trích một đoạn quan hệ đến điều tôi muốn nói. Nghĩa là ai cũng thấy ngay rằng Jean Giono có vẻ hằn học đối với Camus, Sartre, Mauriac… lắm. Nhiều khi lý do. Còn có một lý do rất… người, (ôi, người ơi là người!) là lý do sau nầy, tôi còn nhớ rõ vì tôi có theo dõi từ xưa. Số là trong đệ nhị thế chiến, Giono, cũng như Montherlant, Sacha Guitry… ở dưới một hình thức nào đó, cọng tác với chính quyền Vichy – nghĩa là với Đức quốc xã.
            Đến ngày giải phóng, lẽ tự nhiên là dư luận không tha… kể cả dư luận các nhà văn đã từng đau thương khủng khiếp vì Hitler. Ngày nay, có dịp được sống lâu, có dịp được giàu có… Giono trút “bầu tâm sự” lên đầu Sartre, Camus…



            Già mà dại.


TÔI ĐƯỢC tin Roger Vaillant chết ngày 12-5-1965. Vaillant là tác giả những tiểu thuyết Drôle de jeu, La loi, Les mauvais coups, vân vân…


NHẤT LÀ cuốn Drôle de jeu được giải Interallié vào năm 1948. Tôi đã đọc cuốn ấy bốn lần: ngày nay giá có thì giờ vẫn có thể đọc lại…
            Ở châu Âu, thiên hạ trầm trồ khen cuốn Drôle de jeu kể cả cuốn Bon pied bon oeil có thể gọi là Tục Drôle de jeu. (Cũng như Tục Anh hùng náo, Tục Tái sinh duyên… Tục là chuyện kể tiếp, cũng gọi là Hậu: Hậu Anh hùng náo chẳng hạn…)
            Sách tả một mẩu chuyện kháng chiến trong thành phố Ba Lê thời Pháp bị chiếm đóng: có tình bạn, có tình yêu… có hương vị phóng biếm (cynisme) rất linh động, đầy thi vị. Có một vài sinh viên vào cuộc với tất cả sự say mê của tuổi trẻ – có một vài lãnh tụ chính trị – có một vài người đàn bà đẹp một cách vất vả, bất đắc dĩ phải yêu nước. Và có cả một mối tình: một mà thành hai… thành ra có cả một sự phản bội rất trắng trợn… rất siêu thực. Rất siêu thực vì ngày xưa Vaillant có chân trong nhóm siêu thực – sau mới bỏ nhóm. Nói bỏ là nói ép: chân trong chân ngoài, chân thấp chân cao… Drôle de jeu hay là nhờ cái hương vị siêu thực thấp thoáng ấy. Thấp thoáng mới hay, chứ đậm quá, dày quá thì lại làm mất thi vị. Cái hay của toàn diện tiểu thuyết của Roger Vaillant rất thắm – khó tả.

VAILLANT CHẾT. Văn học Pháp đeo một vành khăn tang lớn kia đó! Riêng tôi, xin thú thật là đã ngậm ngùi bâng khuâng… lâu.

ANH HỒ Hữu Tường mới tặng cuốn Nợ tinh thần, anh là tác giả.
            Tôi đã đọc lại truyện ngắn Con thằn lằn chọn nghiệp – trước khi đọc những bài khác.
            Nghĩ rằng, trên phương diện văn nghệ, chỉ riêng một truyện ấy cũng đủ cho phép tác già hãnh diện – huống gì còn có những tác phẩm khác.



HÔM NỌ, gặp anh Nguyễn Ngu Ý. Anh Ngu Ý nói với tôi một mẩu chuyện gì đó – rồi nói thêm: “Anh Tường với anh là cố nhân”. Danh từ cố nhân làm tôi bâng khuâng. Trong cuốn Nợ tinh thần, anh Tường có nhắc đến tôi, nói rằng tôi hành văn làm sao đó cho có người hiểu lầm anh bỏ sách Mạnh Tử vào va-li đi tìm Burnhams.
            Chuyện xưa – đã gần hai chục năm rồi! từ thuở đến nay, bao nhiêu nước chảy dưới cầu, bao nhiêu tranh vân cẩu, bao nhiêu chuyện bể dâu… “triều đại” đã bao nhiêu lần hưng vong… Anh Tường xuýt nữa đã vì chính quyền cũ mà bỏ xương nơi quê người, riêng tôi hàng chục năm bịnh tật nặng nhẹ mới hết… Mới rồi, gặp lại anh hỏi thêm về tuổi tác: té ra đối với các anh Thâu, Ninh, Hùm, Thạch… đã qua đời, anh Tường thuộc về hàng em út! Hỏi anh đã tổng cọng bao nhiêu năm tù tội, anh nói: mười lăm…
            Nghe rồi, tôi kính mến anh như đã kính mến.
            Con thằn lằn đã chọn nghiệp…

TẠP CHÍ Văn học số 38 ra ngày 15-5-1965 có bài Tương lai thi ca đi về đâu của Lưu Trung Khảo. Tác giả tìm lý do của khủng hoảng thi ca. Và hỏi rằng học đường có làm hại thi ca không “…Đến như những bài thơ hiện đại của Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Nhã Ca… thì việc bình giảng theo khuôn học đường đó chắc chắn sẽ không giúp người đọc cảm thấy cái hay, cái đẹp ở đâu cả”.
            Xin đồng ý.

BÁO NOUVELLES littérairs ra ngày 15-4-1965, có đăng một bài của André Georges nói về Einstein. Và có nói rằng từ ngày có bom nguyên tử, Einstein thường tự hỏi không biết có phải là những nhà thông thái đã đem một con dao cạo để vào tay một đứa con nít không. Nguyên văn: “…mis unrasoir dans les main d’un enlant”.



TÔI NHỚ hình như một hôm nói chuyện với một nhà văn. Chuyện văn nghệ nói với nhau thì dài… Nhà văn có nói một câu… trong những câu: “Cái giới văn nghệ vốn là một giới hỗn lắm…!”


THỰC RA, hỗn chỉ có nghĩa là phi công thức: họ không sống theo công thức có sẵn: công thức về tình cảm, công thức về văn hóa. Đối với họ, vệ sinh về tâm hồn quan trọng hơn là thứ vệ sinh của tất cả những gì làm ra cái bề ngoài của con người cần trang trí những trường hợp vật chất hơn là trang trí bên trong… Bản chất họ vốn là một bản chất dễ cảm xúc cho nên họ phản ứng ngay trước những chuyện bất công, nhớp nhúa… Thái độ sống của họ vốn là một thái độ đối lập với trật tự có sẵn… cho nên họ không theo công thức… Cổ kim như vậy. Kể cả Hàn Dũ đời nhà Đường chẳng hạn: “Đại phàm vật bất đắc kỳ bình tắc minh”. Nghĩa là vật không thỏa mãn thì kêu lên. Chính vì bất mãn nên “tắc minh” và ở vào thế đối lập… Và chính là nghệ phẩm phát sinh từ tình trạng tâm lý ấy… Ở đời chẳng có cái văn thơ thù tạc và mãn nguyện nào mà lại là… danh văn bao giờ! Nếu có cũng ít văn nghệ theo nghĩa chính là như vậy đó! Tôi nhận thấy từ thuở tối tăm của thời gian đều là thế – còn như vậy có đúng hay không, đó lại còn tùy ở lăng kính của mỗi người…
            Thực ra thì cái bộ mặt xã hội như thế, như vậy, như kia… có tốt đẹp gì đâu mà bảo họ phải khuất phục kia chứ! Một khi cái bộ mặt… đã thiếu vệ sinh thì đừng hòng ai lễ độ…

TRỞ LÊN là điều nhận xét thứ nhất. Bây giờ là điều nhận xét thứ hai.
            Tôi không hiểu những nhà sinh lý học, phân tâm học, phân tâm sinh lý học… họ đã nghiên cứu cái con người của nhà văn nghệ cổ kim ra sao và đã tuyên bố kết quả bao nhiêu lần… – ấy, tôi nói về văn nghệ sĩ theo nghĩa chính mà thôi. Thực ra, cứ lấy thị giác thông thường mà nhìn suốt lịch sử, thì thấy giới văn nghệ thực là… lạ.
            Này nhá: ngày văn học Âu châu phát sinh là ngày chúng ta có chàng Homère… mù. Cũng vào thời xa xưa ấy, bên Tàu chàng Tú Uyên (La Mã hóa ra là Chou Yuan) đã tự tử… Nhà thơ lớn của La Mã là Lucrèce đã từng băn khoăn một thứ băn khoăn xao xuyến Kierkegaard… trong lúc chàng Leopardi thì lưng gù lên và sau nầy chàng Baudelaire bị bại… vì quá nhiều thiên tài. Blaise Pascal, lúc mới hai mươi bốn tuổi lúc nào cũng đau đầu, ruột gan lúc nào cũng nóng… và còn bao nhiêu biến cố nữa trong cơ thể… Chàng Jean Jacques Rousseau không lúc nào thoải mái lúc nào cũng như thiếu bình tĩnh và thần kinh thường không vững vàng… khỏi được lệch lạc này thì bị một lệch lạc khác trong cơ thể và tâm hồn. Ban đêm chàng Victor Hugo lúc nào cũng văng vắng nghe một thứ tiếng nói… và thỉnh thoảng cầu cơ để tìm hiểu những chuyện đâu đâu… trong lúc… Musset say sưa tối ngày và Gerard de Nerval điên và tự sát… Marcel Proust đau suyễn nặng… Ngày còn đi học ở nhà trường, Corneille, Voltiare, Alexandre Dumas, Claudel cũng không đẹp trai gì lắm, và tâm hồn thỉnh thoảng cũng mất thứ tự… Swift và Blake điên. Byron thì yêu em gái của chính mình, Gogol điên rồi mới chết, Dostoievsky bị kinh phong, Kleist tự tử, Holderlin và Nietzche loạn trí rồi chết…



SỬ SÁCH chép như vậy: đó là chuyện cũ. Còn ngày nay, sử sách chưa ghi chép chuyện nào cả cho nên chúng ta chưa biết có bao nhiêu thiên tài có bao nhiêu biến cố trong cơ thể và trong tâm hồn… Chuyện “biến cố như vậy là chuyện “phú bẩm”: chẳng ai muốn có, nhưng muốn không cũng không được…”


CHỈ BIẾT họ để cho đời sau những nghệ phẩm. Có họ, đời đẹp lên. Có họ, đời vui lên… Có họ, đời tưng bừng… Không có họ thì nhân sinh như tha ma… Thiếu Nguyễn Du thì dân tộc Việt Nam lấy ai để hãnh diện? À Nguyễn Du có tật có tội gì không? Kể cả là có, sử sách cũng dấu đi: nhà nho không trần truồng như người Âu tây có gì nói nấy…


ĐƯƠNG THỜI không hiểu họ: đương thời ganh họ cũng có, đương thời dại cũng có… Đương thời không đủ thông minh tế nhị và thiếu tinh vi cũng có…
            Vì vậy giữa đương thời với họ, có ly khai. Họ cô đơn. Những kẻ nhiều sức khỏe tinh thần thường cô đơn. Ý ấy là của Ibsen: L’homme fort est seul.



HỌ CHẾT rồi thì người ngày sau làm tượng. Người ta thường rộng lượng với người chết, và người ta đặt đúng vị trí cho người chết. Còn lúc bình sinh, nếu họ có một mẩu… tàn tật, đó là chuyện riêng của họ.


Ở ĐỜI không có gì u mê hơn là thành kiến: nghĩa là có một số người cứ tưởng rằng ở đâu mình cũng đúng, lúc nào mình cũng đúng.
            Xã hội loài người bao giờ cũng náo nhiệt, mất thứ tự… như trong một chuyến xe hàng sắp chạy: chen nhau loạn xạ, gọi nhau ơi ới, tranh nhau và ngang dọc như cua… Có khi mắng nhau nữa kia! Cứ khi nào xe chạy rồi mới đâu vào đấy ai có chỗ nấy, ai ngồi chỗ nấy… Không ai chen ai nữa… Yên vị.



LỊCH SỬ bao giờ cũng sắp xếp.
            Bánh xe lịch sử chạy xong rồi là ai có vị trí nấy, rõ ràng.
            Bằng cớ: giới văn nghệ Beat Génération. Nhóm này là một nhóm thi nhân hòa hợp thi tiết của họ và nhạc tiết của nhạc Jazz… Nhóm gồm có Ginsberg, Kérouac, Ferlinghetti, vân vân…
            Giòng họ xa gần của nhóm cũng đông lắm.
            Kể cả Henri Miller là nhà văn vĩ đại của Mỹ phải chờ hai mươi sáu năm cuốn Tropique du Cancer của ông mới chính thức ra đời – và ra đời xong là ngập thị trường văn hóa Âu Mỹ hiện đại, cũng như L’Amant de lady Chatterley của Lawrence… Kể cả Rimbaud và Whitman… Kể cả Evtouchenko của Nga Sô viết… Kể cả Antonin Artaud, Michaux, Prévert, Camus… Kể cả… nhiều lắm.



NGÀY NHÓM Beat Génération ra đời là thiên hạ làm như là trời sắp… sụp; giới đạo đức làm như là phong hóa sắp suy đồi, luân thường sắp đảo ngược – giới văn nghệ đã có vị trí sẵn thì sợ sắp mất giường cao chiếu cả ăn trên ngồi trốc… – giới văn hóa chung nhìn các văn thi nhân như Ginsberg, Kérouac, Ferlinghetti… như những người đánh đu bay. Hơn thế: những người quái dị của văn thi giới…


LỊCH SỬ, như tôi nói, thường sắp xếp đâu ra đó. Lịch sử hiện ra dưới hình thức một nhà xuất bản và một vài người có thế lực trong văn thi giới…
            Nhà xuất bản ấy là nhà Denoél bên Pháp vừa mới tổng hợp thơ của nhóm và ra cuốn La póesie de la Beat Génération. Thơ do Alain Jouffroy trình bày, do Jean Jacques Lebel dịch ra Pháp ngữ – và như tôi vừa nói, do Denoél xuất bản.



NGÀY XƯA, khi Baudelaire mới ra đời, khi Rimbaud mới ra đời…thiên hạ xôn xao… Ngày xưa, khi Lawrence mới viết L’amant de lady Chatterley… thiên hạ sợ hết hồn… Ngày xưa, khi Henri Miller mới cho ra Tropique de Cancer… thiên hạ hốt hoảng…
            Ngày sau lịch sử sắp xếp…
            Bởi thế cho nên, mới thấy cái gì ra đời mà hốt hoảng và xôn xao… và giữ mãi những thành kiến… thì thật là không có gì dại dột và u mê hơn!



ẤY CÁI giống người hay có thành kiến thế đấy thường có thành kiến thế đấy – có rồi gỡ không ra, mọc rễ.
            Người là một giống chứ có phải một đấng. Người ta nói giống người. Cũng như giống khỉ, giống vịt, giống chuột… Có ai nói đấng người đâu! Chữ đấng chỉ dùng cho thanh hiền mà thôi.


TAM ÍCH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #20 vào: 25/03/2017, 09:20:17 »
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2  [tháng 8 năm 1965 |  106 trang]

MỤC LỤC
Thành Tôn |  Vào lòng đất (thơ) |  2
Thi Vũ |  We two form a multitude (thơ) |  3-4
Kim Tuấn |  Những điều ghi được trong giấc ngủ (thơ) |  5
Định Giang |  Chiến tranh, nỗi bi thảm của quê hương (thơ) |  6
Hoài Khanh |  Tinh thể hồng (thơ) |  7
Sơn Nam |  Một bức chân dung |  8-14
Hồ Hữu Tường |  Từ Quảng Ninh, ngang Tagore, đến… (tiểu luận) |  15-20
Thùy Dương Tử | Ô Lý (thơ) |  20
Nhất Hạnh |  Bến Tre |  21-26
Tam Ích |  Trong văn nghệ có vấn đề “giải quyết” và vấn đề “hướng lên” (tiểu luận) |  27-34
Tuấn Huy |  Cúi đầu |  35-42
Phạm Công Thiện |  Ánh sáng Phật giáo Thiền tông chiếu rọi vào ba câu thơ của Hoelderlin (tiểu luận) |  43-49
Phạm Duy |  Tâm ca số 1 (nhạc) |  50-51
Hermann Hesse/Hoài Khanh dịch |  Thi sĩ |  52-59
H.K. |  Hộp thư tòa soạn |  59
Bùi Giáng |  Rằng từ ngẫu nhĩ (Kiều ghé Tây phương) (tiểu luận) |  60-70
Anh Hoa |  Mưa cao nguyên (thơ) |  71
Chín |  Anh Tư Lo |  72-76
G.T.Q.M. |  Giới thiệu sách báo mới |  76
Nguyễn Đức Sơn |  Xin dừng lại nơi đây |  77-82
Nguyễn Thụy Long |  Tù con so |  83-88
Nhất Hạnh |  Nẻo về của ý |  89-101
Quảng cáo |  102-106


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #21 vào: 25/03/2017, 09:38:21 »


            Vào lòng đất

            có không nhục thể linh hồn
            dưới kia đất lạnh tiếp nguồn thịt xương
            tay xuôi lòng đó bình thường
            nhân sinh cõi trú đôi đường chia xa
            có không danh lợi chánh tà
            tiếng tai người giữ mảnh da kẻ thờ
            duỗi thân phù phiếm tay chờ
            tình kia ấm lạnh mấy bờ hồng hoang
            có không son sắt đá vàng
            bàn chân nghiệp chướng nẻo đàng thu sương
            về đây nấm đất hoang đường
            nằm nghe hơi thở côn trùng phân thây
            có không dương thế đêm ngày
            yêu thương thù hận mỏng dày khen chê
            dưới kia cõi trú lui về
            sạch tay giũ áo lòng nghe nhẹ nhàng
            có không âm phủ địa đàng
            áo quan đinh đóng những vàng canh thâu
            xác thây quỉ khốc thần sầu
            vào trong đất lạnh ngẩn đầu phân thân
            là xong khép mắt dương trần
            gỗ khô huyệt ẩm nhẹ phần từ đây

                                                THÀNH TÔN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #22 vào: 25/03/2017, 10:45:53 »


We two form a multitude

những mái nhà quê hương bỗng nhiên biến thành đôi mắt
khóc dầm dề nước mắt lửa không nguôi
bao kẻ thân yêu bao người làng xóm
sống không nhà
và chết không nơi chôn
những kẻ thân yêu bay cùng trời chộn rộn
đi tìm mảnh đất an lành
giữa vũ trụ không cùng của trái tim tôi
hãy bay đi bay đi giữa lòng tim không biến đổi
nhà chưa cất nhưng rừng xanh vòi vọi
những con đường lần chuỗi đá cần An
ở đây, nỗi buồn và cô độc
sẽ được nghe, được hiểu
hãy nằm yên, ta đắp cho em chiếu chăn thơm phức
hoa hồng và hổ phách ấm hơi
tay mặt trời dẫn nụ cười em đi dạo
mưa xuân về khi em khóc để hỏi han
hãy quên đi tiếng nổ, chúng chỉ gây hoài cừu hận
hãy xóa mờ hoang nát, luyến tiếc gì quá khứ buồn đau
đất rộng giữa trời cao, ai bảo sẽ không xây
được nghìn xưa, hãy ở yên trên xóm
mới thanh bình, có tình thương tạo dựng
hồi em mới đến tay lạnh thân gầy, tóc bay phủ
trọn hồn tôi phút chốc hóa nên hai mầu nhiệm, lần đầu tiên biết mình rất đẹp, tựa nàng tiên huyền sử thấy bóng hình hiển lộ mặt hồ xanh, có giọt sương sao đến chào và khoát sóng, đưa tay vào lẳng lặng giữa hương sen.
Sấm sét sẽ ngừng vùi chôn trong núi đá
ta thắp lên đây bao hàng bạch lạp
– ngọn lửa muôn đời chứng minh cho người chết, gìn giữ trối trăn chưa kịp thốt nên lời
với ánh sáng này và ánh sáng của trăng sao, em hãy cùng ta tạc tượng, những tảng đá thương đau sẽ phục hồi sinh khí để con người nhớ mãi tới muôn sau, đừng gây thêm đau khổ cho nhau trong hình hài sương, chớp đang chở đầy hạt giống hiện sinh
em hãy nghe lời ta đừng trở lại làng xưa
chuốc thêm cừu hận, và cũng đừng quay lưng trước lời Phật chuyển rung qua tiếng kêu than trăm vạn người lao khổ
những buồng phổi ốm đau chờ hương sen ngát tới. hãy là trời cao đất rộng. hãy là rừng xanh và câu hát. hãy là lúa, mật, sắn, khoai. hãy là con người đứng bên cạnh con người để khước từ tiêu hủy.

                                                            Oxford. 27-6-65
                                                            THI VŨ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 
The following users thanked this post: vinh bo cap

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #23 vào: 25/03/2017, 17:46:09 »


Những điều ghi được trong giấc ngủ

KHI TÔI TRỞ VỀ con chim câu nằm trong tổ ấm. Dây thép gai hết rào quanh đồi phòng ngự và người lính đã trở lại cày đám ruộng xanh.
            Khi tôi trở về con diều bay đùa trong gió. Ở quê nhà, trên thảm cỏ xanh, có đứa trẻ để bụng lòi chấm rốn đen cười nụ thanh bình. Buổi chiều có con trâu rung mỏ vu vơ như trong giấc mộng. Khi tôi trở về, khi tôi trở về hai tay níu tìm lồng ngực. Giọng hát ru kéo lại dĩ vãng trầm trầm như chưa tắt thở. Có người rủ nhân loại đi xem địa ngục mà không ai trả lời.
            Khi tôi trở về mẹ vừa tóc bạc. Đôi mắt nhìn vào tương lai và quên hết bao nỗi u phiền. Con cò lại bay trong đồng ruộng xanh. Lũy tre già cúi xuống ưu tư cùng mùi khói un quen thuộc. Khi tôi trở về tôi sẽ đi thăm bờ sông thuở nhỏ, tôi sẽ buồn thầm những chuyện ngày xưa và sẽ khóc một mình vì quê hương tôi bao lần đau khổ, bao lần đắng cay, bao nhiêu tủi hờn. Quê hương tôi ở đó. Quê hương tôi khi còn tuổi nhỏ, khi tôi lớn lên bằng tiếng ru hời. Quê hương tôi bao lần đau khổ, bao lần đắng cay, bao tủi hờn.
            Khi tôi trở về con chim kể lời ân ái. Lời hát vang xa và vũ khí sẽ sắp thành cầu vồng trong ngày đám cưới. Nhà mới dựng xây, có tiếng trẻ khóc u oa chào đời. Có người đem tặng em bé quả bom nguyên tử, đứa trẻ đó cười và ôm nó ngủ say như ôm quả bóng. Những dãy phố sớm mai thức dậy cùng tiếng chim ca, lũ trẻ con mừng đời thịnh trị và tay yếu cố vồ ôm tương lai của mình.
            Khi tôi trở về, khi tôi trở về cuộc đời xuôi chảy. Có bóng trăng xưa soi trên lối mòn, có rừng cây ấm vì nhiều thương nhớ, và khi thức dậy tôi tìm thấy tôi.

                                                KIM TUẤN
                                                1962


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #24 vào: 01/04/2017, 08:52:55 »


            Chiến tranh, nỗi bi thảm của quê hương

      1.– bây giờ giặc giã chưa qua
            em ngồi gục mặt rất là ăn năn
            xác thân rã mục điêu tàn
            quê hương lửa đạn vô vàn đăm chiêu
            môi hôn nước mắt tình yêu
            thân xe vết đạn nghe nhiều đắng cay.

      2.– đêm đi giọng hát quê nghèo
            tiếng ru bom đạn đẳng đeo quanh mình
            em từ tiếng nấc hồi sinh
            niềm đau hằn vết trên mình trẻ thơ
            20 năm mãi đến giờ
            quê hương bạc mệnh vẫn ngờ chiêm bao

      3.– khi nhìn xuống vũng trần gian
            thì cây cỏ đã cao ngang mái đầu
            từ chinh chiến mất về đâu
            bạn bè, bom đạn cày sâu quê nghèo
            mẹ già nước mắt trông theo
            vết thương tưởng niệm còn đeo đẳng hoài.

      4.– bây giờ giặc giã đã qua
            người cùng ngựa nghỉ giáo và gươm quăng
            gối tay mệt mỏi dáng nằm
            khỏa thân em dựng căn phần nhân gian
            lũng sâu và đó địa đàng
            ngựa người gục mặt nghe tàn chiến chinh


                                                ĐỊNH GIANG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #25 vào: 01/04/2017, 09:12:08 »

            Tinh thể hồng

            ngày mai lên chuyến xe về
            phương nao trời đã bốn bề gió giông
            yêu Em tình mãi vun trồng
            vườn xưa con nhện giăng hồng sợi tơ
            bây giờ con nhện là thơ
            thơ đan chẳng kín tự giờ luân di
            tự giờ đất hiện chu kỳ
            nghìn phương hướng vọng hồn Di Lặc bừng
            chiến trường ôi lửa mê cung
            tim Em cũng cháy trong cùng tận đau
            tình anh cũng giá như mầu
            sương kia từng lạnh trên sầu biển Đông
            Quê Hương một đóm lửa hồng
            làm sao sưởi ấm cõi lòng Mẹ, Cha
            tôi về vun xới vườn hoa
            cho em là gái Biên Hòa, Hàm Tân
            cho tôi là kẻ cô thần
            nằm đây gửi mộng dậy ngần sương xanh


                                                1-7-65
                                                HOÀI KHANH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #26 vào: 02/04/2017, 10:34:04 »
TỪ QUẢNG NINH, NGANG TAGORE, ĐẾN…

LÚC VỪA BIẾT ĐỌC, tôi chẳng có cái diễm phúc mà có những loại sách “trẻ em” để mà đọc. Tôi chỉ vớ được sách của “người lớn” nào là đọc cuốn nấy. Có một mẩu chuyện làm cho tôi để ý lắm. Ấy là chuyện Quảng Ninh và Hoa Hàm. Các cụ có học Nho, thảy đều biết chuyện ấy. Vào thế hệ của tôi, nhiều người cũng có nghe qua, nhưng hình như bây giờ không ai nhắc đến. Tôi có chịu khó tra Từ nguyênTừ hải là hai bộ tự điển khá đầy đủ của người Tàu. Hoa Hàm thì được nhắc trong cả hai bộ nầy. Nhưng Quảng Ninh lại bị bỏ rơi. Một người như Quảng Ninh, thế mà dân tộc tàu bỏ rơi đi! Thật lấy làm hổ thẹn. Thật quá bất công. Âu là, ăn cơm nhà mà lo chuyện người, cầm viết mà thảo mấy trang sau đây, gọi là trả món nợ tinh thần của kẻ ước mơ văn hóa.
            Lúc thiếu thời, Quảng Ninh và Hoa Hàm cùng là nghèo, cùng ham học. Hai bạn chỉ có một chiếc chiếu, cùng ngồi mà đọc sách. Một hôm, khi hai bạn đang lo đọc sách, thì có tiếng xe ngựa, tiếng lính nạt đường, cho một người quyền thế nào đó đi qua. Nghe vậy, Hoa Hàm lật đật buông sách, chạy ra xem việc tiền hô hậu ủng ấy. Còn Quảng Ninh nghĩ rằng học có mục đích là cầu đạo, mình chăm lo học tập là cốt để tìm chân lý, tìm đường dắt loài người đến chân, thiện, mỹ. Còn Hoa Hàm, tuy cũng chăm học, nhưng học chỉ cầu công danh. Vậy không phải là bạn đồng chí của mình, không thể cùng ngồi một chiếu mà học không thể chia gian khổ với mình. Hoa Hàm khi xem người ngựa qua rồi, trở vào, thì chiếc chiếu bị Quảng Ninh lấy dao mà rọc hai, và Quảng Ninh xách mảnh chiếu phần mình, đem trải chỗ khác, ngồi riêng mà đọc sách…
            Mẩu chuyện mà tôi đã đọc chỉ có chừng ấy, rồi chấm dứt.
            Nhưng cũng đủ làm cho trí non nớt của tôi để ý mà phân biệt hai ý nghĩa của sự sống, hai nhân sinh quan. Một kẻ cầu danh lợi, một kẻ cầu đạo. Hai hạng người nầy khó sống chung với nhau. Thảo nào, Quảng Ninh sớm biết mà rọc hai chiếc chiếu của chung của hai gã. Về sau, đọc truyện Tam Quốc, tôi có gặp lại Hoa Hàm. Lớn lên, Hoa Hàm học giỏi, ban đầu, phụng sự cho họ Tôn ở Giang Đông. Nhưng có tài mà thiếu đức, Hoa Hàm không được ưa ở đây, nên khi có dịp cắt người đi sứ bên Tào Tháo, Hoa Hàm được “bị tông ôn”. Sang ở với Tào, Hoa Hàm tìm đủ cơ hội, đủ thủ đoạn, để đoạt công danh… Chính Hoa Hàm lãnh lịnh của Tào Tháo mà làm một việc tàn nhẫn là thuốc chết Phục hoàng hậu. Rồi lần lần Hoa Hàm leo những nấc thang của công danh, thực hiện được cái ước mơ của thời niên thiếu, đọc sách mà mộng công danh địa vị.
            Còn Quảng Ninh?
            Từ thuở bé, tôi có cảm tình với Quảng Ninh, người học để cầu đạo, chớ không phải để chuộng quyền lợi và công danh. Đời của tôi, có lẽ một phần nào chịu ảnh hưởng của nhân sinh quan của người rọc chiếu mà đoạn tuyệt với kẻ không cầu đạo. Cảm tình nọ khiến tôi tò mò tìm coi Quảng Ninh có tương lai nào. Tôi có dịp hỏi một vài cụ đồ già. Không ai biết. Tra từ điển không có tên Quảng Ninh. Tôi bắt đầu nghi ngờ sự hiện hữu của người học với mục đích cầu đạo nầy. Và tôi cũng bắt đầu có cái lập luận rằng con người như vậy, cao siêu quá, làm sao có được? Và câu chuyện rọc chiếu là do kẻ đời sau bịa đặt ra mà thôi.
            Rồi một hôm kia, làm việc nơi một thơ viện xa xăm, có đến tám mươi ngàn sách hiếm có của Tàu, ngoài trời tuyết rơi lạnh lẽo phũ phàng khiến cho tôi lành lạnh mà trốn trong thơ viện lúc nghỉ trưa tôi lật một cuốn sách, mà nay tôi quên tên là sách gì. Tôi lại gặp tên Quảng Ninh.

TÔI ĐỌC say mê, như đọc một tình thơ của một nàng mà tôi mơ mộng bấy lâu, nhưng chưa có dịp trau đổi câu vàng đá. Quảng Ninh không phải là chuyện bịa đặt. Quảng Ninh là một nhân vật có thật. Nhưng chỉ bị loài người, lấy quyền lợi và công danh mà làm thước đo để sấp phẩm trật, loài người chẻ mà bỏ ra rìa xã hội, quên ghi tên trong sử sách. Tôi đọc đoạn nọ, lòng ngậm ngùi cho thân phận chung của những nhà văn hóa, không lấy quyền lợi, công danh, địa vị mà làm mục đích để sống.
            Quảng Ninh, vào cuối đời Đông Hán, là một trong hai người học rộng hiểu nhiều nhứt của thời ấy. Người thứ nhứt là Trịnh Huyền. Truyện có ghi tên Trịnh Huyền. Sách, từ điển có chép tên Trịnh Huyền. Có lẽ, bởi vì Trịnh Huyền có dạy lắm học trò, nhờ ruổi rong trên con đường quyền lợi và công danh, mà ghi tên trong sử sách. Học trò ấy là Công Tôn Toản, là Lưu Bị. Công Tôn Toản và Lưu Bị đoạt được quyền lợi và công danh, nên thầy cũng được thơm lây. Còn Quảng Ninh trẻ hơn Trịnh Huyền, bản thân chẳng có địa vị và công danh, dạy học trò chỉ lo cầu đạo, mà chẳng ai có địa vị và công danh, mặc dầu sở học của Quảng Ninh rộng rãi và uyên thâm, Quảng Ninh bị lãng quên…

DÂN TỘC Việt bị mấy mươi năm loạn ly, làm cho tôi không nhắc đến Quảng Ninh không được. Thời của Quảng Ninh, cũng loạn ly như thời của chúng ta vậy. Sau cuộc loạn ly của bọn thập thường thị. Hán thất suy đồi, quyền thần Đổng Trác tiếm quyền, quần hùng phong khởi, nên đâu đâu cũng có binh đao. Còn đám quần chúng nông dân, do bọn khăn vàng thôi động, làm cho loạn ly tràn khắp hang cùng ngõ hẻm. Quảng Ninh là kẻ học để cầu đạo; trong lúc mà ba anh em Trương Giác dùng sách Thái Bình yếu thuật mà gieo rắc loạn ly, Quảng Ninh dùng ảnh hưởng của cái học của mình mà kêu gọi xây dựng một cảnh thái bình đích thực.
            Cả mấy vạn người hưởng ứng lời kêu gọi của nhà bác học, nhà hiền triết, nhà văn hóa, kẻ mà đạo không phải chỉ để suy tư, mà để sống. Đám quần chúng ấy bỏ phồn hoa đô thị bỏ cái dịp loạn ly có thể làm tấm ván nhún để nhảy lên đài địa vị và công danh, mà theo Quảng Ninh vào rừng sâu đốn cây, dọn đất trồng trọt, cày cấy, lập một mảnh đất thái bình, nhà tối không đóng cửa, đường không ai lượm của rơi, phục hưng lại đời Nghiêu Thuấn. Mỗi người làm để đủ ăn thôi, mà chẳng cần việc giàu sang. Và mỗi mỗi đều tham gia vào công cuộc học hỏi, trau dồi trí đức, dưới sự hướng dẫn của Quảng Ninh, nhà bác học, nhà hiền triết, nhà văn hóa…
            Tôi biết được Quảng Ninh như thế. Tôi hiểu vì sao loài người bỏ rơi Quảng Ninh mà không ghi tên Quảng Ninh trong từ điển. Quảng Ninh nào có giàu như Thạch Sùng, Vương Khải? Quảng Ninh nào có địa vị, được vua phong cửu tích như Tào Tháo, như họ Tư Mã? Quảng Ninh chỉ có cái đạo. Quảng Ninh chỉ có bọn không vu quyền lợi theo vào rừng mà, chẳng nói “thái bình yếu thuật”, lại hành động “thái bình yếu thuật”. “Đắc đạo” vào thời ấy, không phải là Tư Mã Đức Thảo, như bộ truyện của La Quán Trung là Tam Quốc chí diễn nghĩa đã vẽ. Trong sự thật, và Trần Thọ, tác giả của Tam Quốc Chí đã chép, Tư Mã Đức Thảo, vào tuổi già đến đầu Tào Tháo, mà lập chữ công danh. Dâng kế có mấy ngày cho Tào Tháo, kế của Tư Mã Đức Thảo chưa kịp được dùng, thì Tào Tháo chết. Vậy cái đạo của Tư Mã Đức Thảo là cái đạo hụt. Hụt vì bởi cũng muốn công danh, mà chẳng gặp thời. Và cái đạo của đám bè bạn của Đức Thảo ở vùng Nam Dương, chỉ là cái đạo xuất thế của một đám tôn thờ cá nhân chủ nghĩa. Còn cái đạo của Quảng Ninh là cái đạo nhập thế cái, đạo dấn thân, cùng quần chúng, vì quần chúng, với quần chúng mà thực hành “thái bình yếu thuật”.
            Nam Hoa lão nhân, như trong truyện Tam Quốc kể, trao sách Thái Bình yếu thuật cho Trương Giác, mà giặc khăn vàng nổi lên. Quảng Ninh chẳng nhờ dị nhân nào trao cho thiên thơ tự mình tìm được con đường thái bình, không cho cả thiên hạ được, ít nữa cho kẻ đồng tâm đồng chí của mình.



BIẾT CHUYỆN của người, tôi so sánh với người nay. Vào đầu thế kỷ XX này, ở gần Bengale nhà văn hào Tagore có cất một lều tranh làm giảng đường để dạy tử đệ học đạo lý. Từ bốn phương trời, văn nhân, mặc khách, triết gia đến mà nghe Tagore giảng dạy. Rồi sau đó, gần Pondichéry, một người Ấn Độ khác, là Aurobindo lại mở một ashram. Tử đệ của Aurobindo cũng từ bốn phương trời mà đến. Mỗi người mỗi ngày cũng cày sâu cuốc bẩm ít giờ, để tay làm mới có cho hàm nhai; xong rồi thì nghe nhà hiền triết luận bàn tư tưởng.
            Tôi lại đem sự so sánh ấy mà nói với hai vị tu sĩ, từ Đà Lạt xuống mà thăm tôi. Hai vị nầy mới kể cho tôi nghe sự sống của Đà Lạt. Bắp cải, tuy không to “bằng bộ ván ba”, nhưng khá lớn, mà bán chỉ vài đồng thôi. Củ khoai tây to, củ khoai lang đầy mật, bắp trái lớn, hột nhiều, các thứ đều rẻ. Nếu tập cho dân mình sống bằng khoai tây, bằng bắp, bằng khoai lang, mà chẳng ăn gạo, như người Bắc Âu, thì quả là tay làm hàm nhai rất dễ dàng. Làm lớn như Quảng Ninh, kêu gọi một vài trăm ngàn người tránh loạn ly và cầu đạo, thì những quả đồi quanh Đà Lạt thừa đất phì nhiêu để nuôi sống họ… Mà làm nhỏ như Tagore, như Aurobindo, bắt chước các cụ đồ ngày xưa, thâu nạp “tam thiên đệ tử”, mình dạy dỗ “kẻ nghe sách”. Kẻ nghe sách dạy lại học viên “hạng sáu” học viên “hạng sáu” dạy xuống… Thì tre đỡ măng có gì là khó? Huống chi, Đà Lạt có một viện Đại học, có mấy trường Trung học, có những cơ sở làm sẵn đó mà quanh năm chẳng ai dùng. Thanh tịnh, thì cũng có thể thanh tịnh như khu rừng của Quảng Ninh mà thêm tiện nghi của thế kỷ XX, cũng có thể được. Thêm nữa, hiện nay dân chúng ở Đà Lạt hiền lành, mộ đạo… Hai vị tu sĩ đặt cho tôi câu hỏi: “thời loạn ly nầy, đâu đâu cũng có kẻ tị nạn, bu đầy các thành phố mà tị nạn, ông còn đợi gì mà không làm như Quảng Ninh, cất tiếng kêu gọi những người tị nạn đến Đà Lạt, mỗi người trồng trọt trong vài giờ mà đủ cái ăn để nghe ông giảng về “con đường văn hóa”? không làm Quảng Ninh được, thì làm Tagore, làm Tagore không nổi thì làm Aurobindo vậy”.
            Hai vị tu sĩ vừa ra, thì có con cháu gái, con anh cả tôi, bồng bế, dắt năm con đến. Chồng nó làm thợ máy ở sân bay Liên Khàng. Nó nói “mấy ổng” dán giấy hăm đánh lấy sân bay nầy, rồi đánh úp lấy luôn Đà Lạt. Sợ quá chồng nó bảo dắt năm đứa con dại mà lánh nạn trước ở Sài Gòn. Con cháu, với năm đứa con nó, dẫn tôi từ cái mộng, do hai vị tu sĩ mớm cho, mà trở về sự thật. Một sự thật đớn đau phũ phàng, là chỉ có thể làm Quảng Ninh, làm Tagore, làm Aurobindo ở chốn phồn hoa đô thị nầy, giảng đạo lý trong khi thanh niên bị ám ảnh vì phòng trà, vì hộp đêm, vì phim cao bồi, vì quần túm ống với cái dao găm gắn nơi cổ chơn, còn thiếu nữ thì đắm say ăn mặc, tiền đầy túi và mùi vị của vít-ki.
            Ai mà dám rời bỏ đô thành vừa xa hoa vừa có an ninh để lên Đà Lạt mà nhịn ăn cơm lại tập ăn rau, với mục đích là nghe “văn hóa” trong lúc mà lòng không yên bởi “mấy ổng” hăm đánh úp? Ngay cá nhân tôi mặc dầu tôi không thích nếp sống nhộn nhịp mới, tôi có dám đến chờ “mấy ổng” đánh úp, bắt được tôi, rồi kết án tôi là kẻ “phản động”, dám bắt chước chàng Polyeucte mà động đến thần tượng của họ? Thời xưa Quảng Ninh loạn ly chỉ có ở các thành phố và ở các chỗ có người đông đúc. Thì Quảng Ninh còn có thể kêu gọi dân tị nạn kéo vô rừng sâu mà lập cảnh thái bình. Còn ngày nay, loạn ly lại từ rừng phát ra, bắt chước Quảng Ninh sao được?

TRONG CÁI tâm trạng hoang mang ấy, tôi la cà nơi vài tiệm sách mà giải khuây bằng cách nhìn nhan đề của các sách vừa xuất bản. Tôi bắt gặp một tùng thơ có cái tên là Marabout Université. Quả là một sáng kiến tân kỳ. Một Viện Đại học tưởng tượng, không có ai là giáo sư chánh thức, mà học giả nào lỗi lạc cũng là giáo sư; không có giảng đường cho sanh viên đến, mà Viện Đại học lại đến tận nhà của mỗi sanh viên, vào tận giường ngủ mà ở nơi đầu tủ bên cạnh giường; không có thời khóa biểu, mà tự tiện sanh viên muốn học lúc nào cũng được; không có ban giám khảo để thi cho sanh viên, mà sanh viên có thể nạp công trình nghiên cứu cho công chúng thẩm xét bất cứ lúc nào… Ngay đến một Viện Đại học tưởng tượng như vậy mà cũng không làm sao xây dựng lên nổi. Bởi vì sách in ra, không có số người tối thiểu mua cho tùng thơ sống được, thì chẳng bao lâu, hết vốn. Mà đã có vốn chưa đã?
            Làm Quảng Ninh không nổi. Làm Tagore cũng không kham. Làm Aurobindo cũng chưa được. Lập cái Viện Đại học tưởng tượng như Marabout Université cũng chẳng thấy viễn đồ thành công. Nghĩ như vậy, tôi tủi buồn hết sức. Nhiều bạn trong làng bút mực rủ tôi cố gắng “giữ thơm quê mẹ”. Lòng tôi muốn như vậy lắm lắm. Nhưng một câu hỏi luôn luôn đặt cho tôi: làm sao?

TÔI MỞ lớp dạy EOMIR đem ra những kinh nghiệm về kỹ thuật làm việc bằng trí thức mà truyền lại cho bạn trẻ. Hơn hai trăm người ham học, mặc dù quảng cáo lai rai, ít ai nghe nói đến. Dạy vài hôm, hơn phân nửa sanh viên yêu cầu: “Thầy, thầy, thầy có bao nhiêu kinh nghiệm thì rút hết ra mà truyền lại cho chúng tôi trước đầu tháng chín”. Tôi hỏi: “Tại sao trước đầu tháng chín?” “Bởi vì, sau đó chúng tôi phải lên Thủ Đức”.

KHOA OEMIR, tôi có dùng tiếng Việt gọi là Nhập Môn Học. Nay các sanh viên của khoa nầy sắp nhập ngũ. Nghĩ cho cùng kỳ lý, thì khoa OEMIR cũng phải dạy những kỹ thuật tối cần của “nhập môn học” cho những sanh viên sắp nhập ngũ. Nhưng mà bấy lâu nay, tôi suy nghĩ rất nhiều về mọi phạm vi hoạt động bằng trí thức, tôi lại chưa nghĩ đến việc nầy. Sanh viên của tôi sắp đi làm bổn phận của công dân thanh niên. Tôi làm giáo sư của chúng, mà moi óc để tìm câu nào dặn dò chúng, tôi chẳng thấy câu nào có ý nghĩa hơn là câu:
             “Hãy giữ thơm quê mẹ!”
            Trong khoa OEMIR, tôi tập cho sanh viên tìm có cái chìa khóa mà mở cửa, mới “nhập môn” được. Thì ở đây cái chìa khóa là bốn chữ: giữ thơm quê mẹ.


5-VII-1965
HỒ HỮU TƯỜNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #27 vào: 08/04/2017, 14:25:42 »


            Ô  Lý

            ta về với gió với mưa
            với châu Ô Lý ngày xưa vẫn buồn
            Ngũ hành chuông vọng chiều buông
            Ải Vân mây phủ biệt nguồn từ lâu
            Điện Bàn phà đỗ Châu lâu
            mộ bia xiêu lệch đã màu rêu phong
            quế cau tâm sự não lòng
            rượu cần một bữa sưởi lòng quê hương
            khóc thầm tiếng khóc lên đường
            hỡi Châu Ô Lý ta thương nàng hoài


                                    THÙY DƯƠNG TỬ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #28 vào: 08/04/2017, 16:14:59 »
TRONG VĂN NGHỆ CÓ VẤN ĐỀ “GIẢI QUYẾT” VÀ VẤN ĐỀ “HƯỚNG LÊN”…
Hồ sơ văn nghệ

TÔI NÓI “Trong văn nghệ”… vì vấn đề này lôi vào vòng ba giới: giới sáng tác, giới đọc sách và giới xen vào giữa là giới phê bình…
            Người sáng tác thì tự mình đòi chính mình phải viết như thế này phải viết như thế nọ – cho sách hay – người đọc sách, trong đó có cả người của chính quyền nếu chính quyền đó là chính quyền đòi có mặt chẳng hạn, thì đòi ở người sáng tác một số nguyên tắc phải theo để thỏa mãn ý-thức-hệ chính thức, – còn nhà phê bình thì chiếu theo đòi hỏi của thời đại, chờ ở nhà sáng tác những tiểu thuyết, những kịch phẩm, những bài thơ – hay. Cứ dùng chữ hay là đủ, là gọn; riêng một chữ hay không cũng đã chứa cả một dung tích cứ nghĩ tới là nhà sáng tác đã phát… lạnh xương sống!



SỐ LÀ ngày xưa, vào những năm 1948, 1949, 1950, những năm trước khi đi tù, tôi có viết một số bài phê bình, và khảo luận về văn nghệ. Ở đời nó vậy, hễ mới tập tành theo một thuyết văn nghệ nào đó… thì bao giờ cũng say mê và làm mặt… nghiêm khắc (rigorivne) – mãi sau này tôi mới thấy cái… lố của chính mình, chính mình đã “ấu trĩ” trên cương vị một nhà phê bình. Nói quả tình hồi ấy có một vài bạn trẻ lại cho tôi là… đúng mới là cơ khổ chứ! khi viết, tôi tập tành áp dụng duy-vật biện-chứng-pháp, và tôi đòi thiên hạ phải theo tả-chân xã-hội (réalisme socialiste) làm khuôn thước văn nghệ. Rồi cứ mỗi cuốn tiểu thuyết ra đời, tôi lại đưa cái chủ quan của tôi ra, hướng hết mọi luận cứ về mấy nguyên tắc mà tôi mới học được, rồi phê bình rằng cuốn này không giải quyết gì cả, cuốn nọ không đưa ra một kết luận gì cả, tác giả không gợi một biện pháp nào cho vấn đề đặt ra trong tác phẩm… nghĩa là, như tôi đã nói, tác giả không giải quyết gì cả… Rồi tôi vác khuôn vàng thước ngọc duy-vật biện-chứng ra mà múa – mỗi mỗi đều cho rằng phải thế này mới là văn nghệ, phải thế kia mới là văn nghệ… Làm như nhà văn nghệ là một đấng tối cao – giải-quyết hết mọi vấn đề và muốn giải-quyết là được. Rồi tôi cho rằng sách mà không giải-quyết là sách dở…

ĐẤY, cái bịnh “ấu trĩ” văn nghệ (infantilisme littéraire) của chính tôi là bịnh giải-quyết. Trước tôi có một người giỏi hơn tôi là Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa. Trước Trương Tửu có một người giỏi hơn Tửu một vạn lần là Paul Lafargue. Trước Paul Lafarque có một người, tuy là ông tổ phê bình duy-vật biện-chứng nhưng lại mềm dẻo hơn, là Taine: té ra những kẻ sinh sau Taine lại “bảo hoàng hơn vua” (plus royaliste que le roi) mới là hài hước!
            Đến đây, tôi xin nói ngay rằng phải để những nhà critique communiste ra một bên – họ khắt khe là phải vì ở vị trí họ, với lăng kính họ, với cái vạn-hoa-kính của họ, họ phải nhìn văn nghệ thiên hạ như vậy cho hợp với ý thức hệ của họ – chúng ta không nên trách. Chớ Trương Tửu và tôi, thì việc gì mà cũng mặc áo duy-vật biện-chứng vào rồi thì phê thế này phán thế nọ? Chẳng qua chỉ để làm cái mặt “độc đáo”, cái mặt thông thái, cái mặt “hợp thời trang” mà thôi!
            Tôi phải xin nói ngay rằng tôi không kết án cái phương pháp duy-vật biện-chứng trong văn nghệ, tôi không chống, trái lại, tôi còn cho nó là một tác phong phê bình có giá trị, nó phong-phú-hóa thông minh con người và văn-hóa-tính của lịch sử. Tôi chỉ muốn nói rằng nên dùng nhưng phải dùng cho mềm dẻo, cho linh động: Chúng tôi hồi đó chỉ theo một mớ giáo điều mới là tai ác chớ! Cái gì cũng do kinh tế mà phát sinh… Ừ thì văn hóa là sản phẩm của kinh tế thì tương đối đúng rồi, chứ còn có phải cái gì cũng vì kinh tế mà phát sinh đâu! Một cuốn sách ra đời: kinh tế. Một chị Năm ngả ba chú Ía gây lộn: kinh tế. Ăn cơm với mắm bò hóc: kinh tế… Mỗi một cái gì cũng đều là vì kinh tế mà có: nhai mãi mấy cái nguyên tắc kinh tếxã hội… phát chóng mặt!

THẬT RA, cái việc giải quyết một vấn đề rắc rối đặt ra trong một cuốn tiểu thuyết, trong một kịch phẩm, cái việc gợi ra một biện pháp luân lý – xin nói lại, luân lý – trong một kịch phẩm đã đặt ra một vấn đề luân lý trong sách… là việc của triết gia, của luân lý gia, của mấy cuốn luân lý giáo khoa thư, của ông Cò quận Ba chẳng hạn…
            Nhà tiểu thuyết phản ảnh đời sống một cách linh động: chỉ có vậy thôi. Còn nhà tiểu thuyết làm sao để tác dụng lại đời sống, đó lại là một vấn đề khác… Sao lại bắt Malraux phải giải quyết cả một vấn đề cách mạng Tây Ban Nha năm 1936 trong cuốn Hy vọng (L’espoir). Sao lại bắt Hémingway phải giải quyết vấn đề nhớp nhúa của chiến tranh trong cuốn Từ giã chiến tranh (Adieu aux Armes)… Tôi đọc hết cuốn Bão tố (La tempête) và bộ Sóng ngầm (Lames de fond) của Ehrenbourg, mà tôi chỉ thấy Ehrenbourg vẽ những bức bích họa (fresques)… chứ Ehrenbourg có giải quyết như những nhà luân lý, hay bắt chước ông Cò quận Ba phán thế này thế nọ – kể cả là thay mặt Thượng đế để thưởngphạt! Sách của Ehrenbourg chỉ là những bức bích họa phản ảnh Âu châu trong đệ nhị thế chiến và sau đệ nhị thế chiến. Nghĩa là Ehrenbourg là “họa sĩ” có tài. Vậy thôi. Vậy là được.
            Đã có người đem vấn đề tinh thần nghệ phẩm ra bàn với Frédérico Fellini – mà ai cũng biết –, Fellini bèn dựng Tchékov dưới mồ dậy và viện Tchékov ra để củng cố ý tưởng của mình, vì Tchékov nói rằng: chúng tôi kể chuyện hai gã ăn trộm ngựa, thì chúng tôi chỉ biết kể chuyện ăn trộm – còn chuyện nhốt chúng lại hay không, là việc của ông Cò Quận Nhất hay Quận Nhì… chứ!

TÔI tán thành Tchékov và Fellini. Nhưng tôi tán thành với dè dặt – nghĩa là thuyết văn nghệ hay thuyết phê bình văn nghệ gì cũng có giá trị cả, hay hay không là ở mình có linh động hay mềm dẻo không. Nguyên tắc nào mà đã dựng thành giáo điều (dogme) thì cũng dở cả: áp dụng nó mà nhắm mắt lại mà áp dụng thì đều cũng là bịnh “ấu trĩ”: ấu trĩ (infantilisme) cho người sáng tác cứ phải theo cho đúng giáo điều để cho tác phẩm hay. (Rồi hay đã không hay, lại dở, đó là trường hợp cuốn Terres défricheés của Cholokov.) Quả tình tôi dám đem cả nhà cửa vợ con ra mà cá rằng khi viết La TempêteLames Fond, Ehrenbourg chưa từng theo đúng nguyên tắc tả chân xã hội bao giờ! Muốn tỏ rằng đúng, tôi xin kể thêm chuyện sau đây để bà con “thẩm” và để chứng minh rằng tôi cũng có chút tinh đời: khi Ehrenbourg đưa bản thảo cuốn La tempête ra giữa Hội nhà văn nghệ Sô-viết, thì toàn Hội văn nghệ mồm năm miệng mười, chúng khẩu dõng từ, nói rằng không không, sách Ehrenbourg… không tả chân xã hội (réalisme socisliste) một tí nào! (Mà Hội nói thật, chứ không phải Hội lầm!) Ehrenbourg bèn nói rằng: “Thưa các đồng chí, tôi đã đưa cho đồng chí Staline coi rồi đồng chí nói rằng đó là một tác phẩm lớn!” Thế là cả hội văn nghệ im thin thít – và từ đó cuốn La tempête thành sách thần tượng… Mà La tempête lại hay thật! Người viết bài này đã đọc nó ba lần – ba lần.
            Tôi vừa mới nói rằng ai nhắm mắt lại mà áp dụng các giáo điều thì đều mắc phải bịnh ấu trĩ: trước hết là ấu trĩ cho nhà sáng tác. Rồi đến ấu trĩ cho nhà phê bình cũng chỉ theo những nguyên tắc có sẵn mà nói, và ấu trĩ luôn cho đọc giả – trong đó có chính quyền nếu chính quyền đòi quyền có mặt – chờ ở nhà sáng tác một vạn yếu lý: nào nào buộc… làm nhà sáng tác chết cả hứng và mất cả tự do…

BÂY GIỜ xin nói đến một tác phong đòi hỏi thứ hai – tôi chỉ xin nói vài nếp căn bản, nếp thông thường nhất… Là tác phong đòi hỏi hướng thượng. Hướng thượng nghĩa là hướng đi lên, không đi xuống. “Bịnh” này có thể là một “bịnh” biến thể hay là hậu quả của “bịnh” thứ nhất.
            Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu thế nào là văn nghệ “hướng lên” trong nhân sinh, trong lịch sử, trong xã hội – trong sự tiến hóa của loài người.
            Vì tôi cho rằng, trước hết là chỉ có vấn đề sách haydở đã. Hoặc là nó đã xong sứ mạng lịch sử và xã hội của nó như tiểu thuyết tiền chiến của Tự lực văn đoàn thì người ta không đọc nó nữa, để nó vào vị trí của nó trong thư viện. Trong trường hợp đó, không có vấn đề hay dở mà chỉ có vấn đề giá trị thời đại. Hoặc là nó là một cuốn tiểu thuyết văn chương không hay, kỹ thuật bố cục không hấp dẫn, thì người ta không đọc nó và trả nó về cho… tác giả nó. Trong trường hợp đó, người ta đặt vấn đề haydở – và đó là sách dở, dĩ nhiên.
            Hoặc là nó là một cuốn tiểu thuyết văn chương độc đáo, kỹ thuật mới – thì nếu nó phản ảnh tâm trạng của thời đại một cách trung thành, thì phải cho nó là hay chứ! Hay là chúng ta lại vác mấy nguyên tắc “giải quyết” và “hướng lên” ra mà tuyên án thế này hay thế nọ? Những bàn tay nhớp (Les mains sales) của Jean Paul Sartre, Những kẻ tử vô địa táng (Morts sans sépulture) của Jean Paul Sartre, Những miệng ăn hại (Les bouches inuties) của Simone de Beauvoir, Trò kháng chiến (Drôle de jeu) của Roger Vailant… là tiểu thuyết và kịch phẩm chứa hướng gì? Không thể nào nói rằng đó là những sách có hướng lên được! Ấy thế mà chúng hay vô cùng! Thôi như cuốn Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền mà tôi cho là một cuốn tiểu thuyết lớn của giữa thế kỷ hai mươi, thì không thể nào đem những nguyên tắc hướng lên, hướng xuống hay giải quyết ra để qui định giá trị được. Nó hay, nó có giá trị: vậy là đủ. Còn nó hay ra sao, giá trị nó ở đâu, đó lại là một vấn đề khác rồi.

ẤY LÀ chưa nói rằng, nếu cứ nói mãi chuyện hướng này với hướng nọ, thì còn có sách gì hướng thượng hơn là truyện của tiền nhân chúng ta: truyện nào cũng dạy siêng năng để đậu thám hoa để lấy con nhà cành vàng lá ngọc… – còn có truyện gì… hướng xuống – xuống rất thấp nữa là khác – hơn là Đoạn trường tân thanh: nếu nó có hướng lên thì những nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng… lại đã chẳng mất thì giờ đưa Nguyễn Du ra tòa án văn học lịch sử – để đến đỗi sâu khấu văn học ồn ào sôi nổi lên một dạo!
            Vì vậy, chuyện hướng lên và hướng xuống thật chỉ là một vấn đề tương đối – ấy là chưa nói rằng cùng một cuốn tiểu thuyết hay một kịch phẩm vân vân… nhà phê bình – cũng như chính quyền văn học, cũng như độc giả – muốn nói nó là hướng gì cũng được: đó là tùy ở lăng kính của mỗi người, và cũng còn tùy ở lòng thương hay lòng ghét rất… chủ quan của mỗi người.
            Tôi còn nhớ cách đây mười mấy năm khi cuốn Les mandarins của Simone de Beauvoir được giải Goncourt, và được văn học thế giới trầm trồ, Jacques Laurent đã viết một bài rất dài rất tàn nhẫn để dội lòng ghen ghét nhớp nhúa lên cuốn truyện – nào ai cấm! Nào! Thế thì, trong trường hợp đó, đặt vấn đề hướng ra sao?

CÁCH ĐÂY mười mấy năm, khi viết một số bài phê bình, tôi cũng đã có cái tác phong thứ hai ấy – một tác phong thái độ văn nghệ làm cho nhà phê bình thì làm mặt quan tòa cầm cân nẩy mực, phán thế này, phán thế nọ… làm cho nhà sáng tác thì đôi khi sợ bị phê bình hướng này hướng kia mà khiếp vía, vừa sáng tác vừa ngại – giữa lúc đọc giả thì cũng ngơ ngơ ngác ngác dửng dưng vậy thôi, đọc cứ đọc, xem cứ xem, theo tiêu chuẩn riêng của họ để phê phán. Và giữa lúc ấy, ai cũng mê Pour qui sonne le glas của Hemingway, Les raisins de la colère của Steinbeck… mà không hiểu hai cuốn đó đã theo hướng gì trong văn nghệ! Thực ra, họ cũng chẳng tìm hiểu làm gì. Hay là được!

NẾU NÓI vậy thì rồi ra không có tiêu chuẩn văn nghệ gì sao? Người ta sẽ hỏi vậy.
            Khá rắc rối! loài người chia làm hai khối: giữa có một biên giới. Chân lý lớn vật vờ không biết ngã vào đâu. Các người làm chính trị, họ có quyền lợi của họ, họ phải tranh nhau lôi chân lý về cho họ – chân lý: mặt mũi ra sao, mầu sắc thế nào, dung tích bao lăm, kích thước bao nhiêu… Những nhà văn nghệ bên nào phụng sự bên ấy, ai phụng sự cứ phụng sự… đã biết thế, nhưng chuyện văn nghệ là chuyện trừu tượng – chúng ta định hướng gì cho văn nghệ? Cái chuyện hướng lên và hướng xuống chỉ là chuyện nói cho có chuyện mà nói: một khi không biết Les raisins de la colère của Steinbeck hay Drôle de jeu của Roger Vaillant chẳng hạn – bị người cộng sản chỉ trích – là hướng gì, thì không thể dựng mấy ý tưởng ấy thành nguyên tắc, dựng mấy nguyên tắc ấy thành giáo điều được! Nếu có bạn nào cãi tôi thì tôi lại một lần nữa bỏ văn chương chữ nghĩa cơm đùm cơm gói hăm bốn giờ trên hăm bốn giờ để bênh vực cho giá trị của hai cuốn Les raisins de la colèreDrôle de jeu… chẳng hạn. Ấy là chưa nói rằng, không bao giờ có một cuốn “văn phạm” văn nghệ nào qui định hướng này hướng nọ cho tiểu thuyết, cho kịch phẩm, cho thơ – trừ mấy cuốn giáo lý của đảng độc tài họ làm ra cho người của họ, dân tộc của họ… xem và theo!

THỰC RA thì chỉ có vấn đề tinh thần của nghệ phẩm mà thôi – của những tác phẩm hay. Hay trước đã: rồi nói chuyện tinh thần sau. Tiếng Pháp gọi là esprit: esprit du roman, esprit d’une pièce de tragé die – Gọi là tinh thần cũng được, gọi là ý thuyết cũng được – đó là cái Ý thoát ra, vọng lên tỏa ra từ nghệ phẩm.
            Người đọc, đọc xong sách, bị vướng một cách ám ảnh bởi một cái ý gì đó; một cái hình gì đó, một cái bóng gì đó, một cái lẽ gì đó – có thể đó là một âm thanh ám ảnh thính giác, một mầu sắc ám ảnh thị giác, một ý tưởng ám ảnh thông minh – một tiếng kêu thương, một lời than thở, một cảnh đau lòng – mà cũng rất có thể là một niềm vui gây hăng hái… Nhất là nó ám ảnh… ám ảnh…
            Tôi xin viện chứng cớ để củng cố cái “thuyết” của tôi: tôi thì tôi đề cao cái hay trước, rồi tôi đề cập tới cái mà tôi gọi là tinh thần hay cái ý thuyết của tác phẩm sau.

NÀY NHÉ. Đọc xong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, chúng ta thấy khí hậu sĩ phu tín đồ của Trang Tử, Liệt Tử thiệt là đẹp – một thứ đẹp kín đáo xa, trừu tượng, đem người gần lại, đem người thân mật hơn với cổ nhân. Dù có ai ghét giai cấp sĩ phu cũng phải thấy phát sinh trong lòng một niềm tôn kính xa xôi – xa xôi lẫn nhớ, lẫn tiếc, tiếc thương những gì đã dứt trong thời gian…

ĐỌC XONG Cô gái giang hồ có lễ độ (La putain respectueuse) của Jean Paul Sartre, chúng ta thấy thương cho cả một dân tộc chỉ vì khác mầu da với mầu trắng mà bị hành hạ – và chúng ta buồn quá, buồn quá cho cả một dân tộc có cả một nền văn minh lớn dùng ba tấc lưỡi… – buồn cho cả một nền công lý, một nền tư pháp, – mà ra nông nỗi ấy à?
            Đọc xong vở kịch Đại úy Foster thừa nhận mình có tội ở tòa (Le capitaine Foster plaide coupable) của Roger Vailart, chúng ta thấy thương cho dân tộc Đại Hàn – ghét cả cái lũ tư bản dân tộc làm giàu bằng chiến tranh xây tài sản trên xương máu đồng bào…
            Đọc xong Chùm nho uất hận (Les rai sins de la colère) của John Stainbeck, chúng ta có thiện cảm muốn gần những người nghèo ở miền Tây Hoa Kỳ nạn nhân của máy móc…
            Và đọc xong Kháng chiến gì lạ quá (Dile de jeu) của Roger Vaillant, Chuông cáo phó đánh cho ai (Pour qui sone le glas) của Hemingway, chúng ta thấy muốn cùng tranh đấu với “maquisards” của Pháp và của Tây Ban Nha… cho tự do của loài người…
            Và trở lại với văn học chúng ta thêm một lần nữa, đọc xong Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, chúng ta thấy muốn gần cả một thế hệ thanh niên một sáng… bị ném ra giữa nhân sinh với tất cả những băn khoăn thao thức, với tất cả những lạc lõng giữa một bối cảnh lịch sử và xã hội tan vỡ chung – ta là ai, ngươi là ai, đâu đây, trước ta có ai, sau ta đương làm gì, người tiền bối và người đàn anh để lại một thứ “gia tài” tan vỡ nhớp nhúa không kèm di chúc… Lòng chúng ta buồn, lòng chúng ta giận: giận ai, buồn những nỗi niềm… nhưng buồn ai giờ đây, – hay chỉ giận chính mình?

RỒI CHÚNG TA trở qua Tây Ban Nha, đọc Hết hy vọng (La fin de l’espoir) của Hermanos (do Jean Paul Sartre đề tựa) để kêu thương với cả một dân tộc bị tàn sát vì tranh đấu cho tự do… Thương cho chàng Hermanos và giận cho những dân tộc giả điếc làm ngơ khi… thiên hạ kêu thương – buồn mửa cho sự giả dối trơ trẽn trắng trợn của những dân tộc gọi là dân chủ – có thêm ấn tượng rằng nhà triết, nhà văn, nhà thơ… kể cả nhà viết sử cứ cao đàm hùng biện rằng con người là có giá trị “nhân bản” lắm lắm, con người là đáng quí nhất và quí nhất trong vạn vật, thực ra con người cũng chẳng có gì là… đáng. Ấy chẳng qua con người tự phụ đó mà thôi – mà thôi: có ra cái quái gì cái giống người – giống khỉ, giống dơi, giống cá lóc, giống kiến: kiến chết từng bầy thì người cũng chết từng bầy, kiến cắn kiến thì người cũng cắn người, kiến cắn kiến kiến không kêu, người cắn người lại nói nhân đạo và diễn thuyết… Chúa Ky-tô vẫn thương con người nhiều, Phật tổ vẫn dạy con người vo tròn quả phúc! Nhưng con người ăn ở với mình với người như vậy mà đòi đủ thứ: đòi hạnh phúc, đòi thiên đường, đòi nát-bàn… đòi đủ, đòi không được cũng khóc như con nít vậy – khóc mà ai thương!

VẬY CHỨ trong những cuốn tiểu thuyết và những vở kịch tôi đã kể đó, thiên hạ đặt vấn đề giải quyết và vấn đề hướng lênhướng xuống ra sao? Đặt ra sao, đặt vào chỗ nào, đặt ở đâu cho trúng chỗ, đặt thế nào cho hợp tình, hợp cảnh – nhất là hợp với thông minh hiểu biết của con người: cần phải hợp lý, đừng ép, đừng gượng, cho thoải mái dễ hiểu, đừng phiến diện, đừng chủ quan vẩn vơ…
            Ấu trĩ thay: ấu trĩ cho người sáng tác, cho người đọc, cho nhà phê bình. Văn học Âu châu có. Mình cũng có…
            Tốt hơn là nên học bài học của thiên hạ: nên trưởng thành (maturité) – vượt giai đoạn ấu trĩ (infantilisme) vẫn hơn!

THỰC RA, chỉ có sách haydở, hay hay dở. Hễ dở thì loại đi: người sáng tác đừng sáng tác như thế như thể – văn không hay, kỹ thuật kém – thì người đọc khỏi phải đọc, và phê bình gia khỏi phải mỗi lúc đem khuôn vàng thước ngọc ra đòi thế này, đòi thế kia… làm nhà sáng tác hết vía!
            Còn nếu hay thì tìm xem tác giả muốn nói gì: nói một cách khác, coi tinh thần sách (esprit de l’oeuvre) là gì. Tác giả muốn nói ý gì, bày cảnh gì, phản ảnh tình gì – tác phẩm chỉ là một lợi khí có giới hạn, không thể một lúc mà nói cả một vạn chuyện, phản ảnh cả một vạn tình vạn cảnh, chứa một vạn ý, ghi cả một vạn câu danh ngôn. Không thể đòi nhiều quá ở nó được!

NÓ GÂY được một niềm vui cho lòng ấm lên; nó gây được sự căm giận những bất công; nó gây được sự nôn mửa… trước những cảnh nhớp nhúa về tinh thần: bất nhân, bất nghĩa, phi đức, phi chân, phi mỹ; nó phản ảnh được máu xương gợi lòng trắc ẩn…; nó dục lòng hăng hái, thúc đẩy sự nhiệt thành – vân vân – ấy là sứ mạng nó đã xong.
            Sách có hay mới gây được một trạng thái tâm lý như vậy. Người viết có giỏi, viết giỏi, bố cục giỏi, mới tạo xao động trong lòng người, bất kỳ là xao động về hướng nào…

NGƯỜI VIẾT không nên cho rằng mình phải làm đủ thứ một lúc – người đọc đừng đòi nhiều – người phê bình đừng mặc áo cà sa hay áo quan tòa làm nhà sáng tác mất hứng thú, hết vía… Vậy là đủ. Vậy là tránh được những bịnh “ấu trĩ” trong văn nghệ: tránh cho nhau và tránh cho chính mình.

VÀ NGƯỜI viết bài tiểu luận khiêm tốn về văn nghệ này xin nói một ý cho hết ý – kẻo bị hiểu lầm. Ở đời cũng có những sách: tiểu thuyết, kịch phẩm, truyện ngắn, thơ… không có tác dụng tốt: ấy là những sáng tác tạo ra một cách chói lọi những người, những tình, những cảnh… lành mạnh một cách dối… Thanh thiếu niên là hạng người dễ bắt chước, dễ mơ ước, dễ lấy nhân vật trong sách làm thần tượng (mythe). Tâm hồn họ như một tờ giấy trắng – trong như pha lê: khí hậu bên ngoài dễ thấm dễ vào… Cái may nhất cho thanh niên giữa tiền bán thế kỷ hai mươi là Dũng và Loan trong Đoạn tuyệt chẳng hạn lại là những nhân vật lành mạnh vô cùng. Vạn nhất – nói ví dụ mà nghe chơi – nếu hai nhân vật ấy mà lại thiếu sức khỏe tinh thần, thì hai cuốn Đoạn tuyệtĐôi bạn đã lấp chỗ trống của bao nhiêu tâm hồn trẻ tiền bán thế kỷ hai mươi, đã có tác dụng có hại của nó. Cũng may! Gọi đó là cái may cũng được. Gọi đó là ý hướng tốt của Nhất Linh cũng được.
            Nhất Linh đã chết. Xin gửi thêm một vòng hoa!

NHƯNG như vậy thì hình như tôi lại đi hơi xa… vấn đề mất rồi!


Sắp qua thu Ất Tỵ
TAM ÍCH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #29 vào: 15/04/2017, 16:19:51 »
ÁNH SÁNG PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG CHIẾU RỌI VÀO BA CÂU THƠ CỦA HOELDERLIN


1

            Hoelderlin là thi sĩ của thi sĩ, đó là lý do tại sao Heidegger đã chú trọng đặc biệt đến Hoelderlin để làm khởi điểm cho cuộc song thoại giữa thi ca và triết lý; khởi điểm ấy cũng là đầu đường đi về TÍNH THỂ CỦA NGÔN NGỮ và đồng thời trở về NGUYÊN NGÔN để vén mở NGUYÊN TÍNH (Sein).
            Triết lý nói nguyên tính (das Sein)
            Thi ca gọi linh tánh (das Heilige)
            Quan hệ tương giao giữa nguyên tính và linh tính là quan hệ tương giao giữa tính với bản tính (das Sein selbst).




2

            Tính (hay tánh)?
            Đặt lên câu hỏi ấy là bắt đầu đi tìm mạch nước ngầm mà tư tưởng Trung Hoa đã được nuôi dưỡng xanh tươi trong những thời đại thơ mộng thuở xưa.
            Trong Trung dung, Khổng Tử đã gọi Tính như thế nào? Thế nào là suất tính?
            Tại sao Vương Dương Minh gọi Tính là bản thể của Tâm?
            Tại sao Lục tổ Huệ Năng gọi Tính là vua (tính thị vương) trong quyết nghi phẩm của Pháp bảo Đàn kinh?
            Tại sao Bát nhã học trong Phật giáo gọi Khôngvô tự tính?
            Vô tự tính của Bát nhã học và tự tính của Thiền học có khác nhau không?
            Huyền (hay Thái huyền của Dương Hùng là gì?)
            Những câu hỏi trên là những câu hỏi về tính (gọi là tính vấn).
            Những câu hỏi trên sẽ là khởi điểm cho cuộc song thoại giữa tư tưởng Á Đông và tư tưởng Âu châu và nước Việt Nam là mảnh đất hiện nay có đủ tính kiện để cho cuộc song thoại trên được tựu thành. Tựu thành gì?
                        Đối thoại tựu thành song thoại.
                        Song thoại tựu thành độc thoại.
                        Độc thoại tựu thành vô thoại.
                        Vô thoại tựu thành vô ngôn.
                        Vô ngôn tựu thành nguyên ngôn.
                        Nguyên ngôn tựu thành nguyên tính.
                        Nguyên tính tựu thành Tính.
                        Tính tựu thành vô tính.
                        Vô tính tựu thành không.
                        Không tựu thành Huyền.
                        Huyền tựu thành tự tính.
            Tôi đã đùa chữ; nhưng đùa chữ là hoạt dụng của tự tính thì gọi là hoạt dụng của Thiền.
            Hãy để ý:
                        1.– Thiền?
                        2.– Thiền là gì?
            Câu hỏi thứ nhứt là hoạt dụng của Thiền.
            Câu hỏi thứ hai là hoạt động của sơ Thiền.
            Hoạt dụng của Thiền là: ?
            Sơ thiền là: là gì?
            ? là dấu hỏi.
            Là gìbiểu tượng cho dấu hỏi.
            Biểu tượng và dấu hiệu hoàn toàn khác nhau (tôi đã giải thích sự khác nhau ấy trong bài Vài suy tưởng triết học).
            Huệ Năng là dấu hiệu.
            Thần Tú là biểu tượng.
            Dấu hiệu và biểu tượng khác nhau thế nào, sau đây tôi sẽ suy tưởng bằng cách lấy ánh sáng Thiền chiếu rọi vào thơ của Hoelderlin.




3

            Trong Mnemosyne (Zweite Fassung, ed. 7, Beissner, Stuttgart, Bd. II, p. 204), chúng ta thấy Hoelderlin viết:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren.

dịch là:
                        Chúng ta là một dấu hiệu, không ý nghĩa
                        Chúng ta không là sự đau khổ và gần như đánh mất ngôn ngữ trong cõi lưu đày.


            Heidegger đã nhiều lần giải thích ba câu thơ trên trong tác phẩm triết học của ông.
            Bây giờ tôi muốn giải thích khác Heidegger. Tôi muốn giải thích vượt lên trên Heidegger; đi lên hay đi xuống cũng chỉ là một nghĩa. Đi xuống (untergehen) có nghĩa là đi lên (übergehen).
            Khi tôi nói vượt lên trên Heidegger thì có nghĩa là vượt lên theo nghĩa Nietzsche, nghĩa là đi lên xuống (đi xuống hố thẳm Heidegger).
            Do đó, vượt lên có nghĩa là tựu thành.
            Tựu thành ở đây không có nghĩa là làm xong, không có nghĩa Đức ngữ là vollenden, ausführen, vollführen v.v…
            Tựu thành ở đây có nghĩa là tựu lại cái tinh thành (garder… dans son essence), tinh thành ở đây là tinh thể của tinh thể, gọi là tinh túy (essence); do đó, tựu thành có nghĩa là se ménager mà chữ Đức của Heidegger gọi là schonen.
            Con người chờ đợi tính, nghĩa là giữ bốn nghi (thiên, địa, thánh, nhân) trong tinh thành. Nói như Heidegger là giữ cái hình vuông (le carré) trong tinh thể (dans son essence) nghĩa là “schonen”.
            Như thế, vượt lên trên Heidegger có nghĩa là tựu thành Heidegger.
            Tựu thành Heidegger có nghĩa là giữ Heidegger trong tinh thành. Chỉ có thế thôi.




4

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren.

nghĩa là:
                        Chúng ta là một dấu hiệu không ý nghĩa
                        Chúng ta không đau khổ
                        Và chúng ta dường như đánh mất ngôn ngữ nơi cõi lạ.


            Heidegger đã giải thích ba câu thơ trên trong tính phận của tính thể; con người mất trí nhớ, quên tính (Vergessenheit des Seins); do đó, con người gần như đánh mất ngôn ngữ trong cõi lạ. Do đó mới có sự sụp đổ đau thương của nhân loại hiện nay. Muốn sống cho ra hồn, con người phải tìm lại tính.




5

            Nếu dùng ánh sáng Thiền tông để chiếu rọi vào lối giải thoát của Heidegger về câu thơ của Hoelderlin thì ta có thể gọi lối giải thích ấy là lối tri tính tiệm ngộ theo điệu của thiền sư Thần Tú.
            Tư tưởng Heidegger rất giống và gần Thần Tú.
            Thần Tú là biểu tượng
            Mà Huệ Năng lại là dấu hiệu.
            Biểu tượng rất có ích lợi và quan trọng. Biểu tượng đưa đến nền Văn minh cao độ của nhân loại hiện nay, nhưng biểu tượng vốn là dấu hiệu, thế mà biểu tượng đã không kiến tự tính, vì thế mặc dù biểu tượng muốn giải thoát, nhưng giải thoát khỏi biểu tượng vẫn là biểu tượng. Đó là sự thất bại của Heidegger. Đó cũng là sự thất bại của Thần Tú.
            NHƯNG SỰ THẤT BẠI NÀY RẤT CẦN THIẾT.
và chính sự thất bại này tựu thành sự xuất hiện của Lục tổ Huệ Năng.




6

            Thần Tú là: “là gì?
            Huệ Năng là: “?
            Trong “là gì”, chúng ta thấy có dấu “?”.
            Bốn chữ “là gì” là dấu hiệu thay thế cho dấu hiệu “?”.
            Dấu hiệu không thể thay thế cho dấu hiệu.
            Bởi thế ta gọi bốn chữ “là gì” là biểu tượng.
            Thần Tú là biểu tượng.
            Huệ Năng là dấu hiệu.
            Không thể cho rằng Thần Tú đã sai.
            Bởi vì trong biểu tượng có dấu hiệu rồi, trong “là gì?” đã có dấu “?”.
            Thần Tú đã thất bại vì Thần Tú đã dạy đạo quá sáng sủa rõ ràng, chính sự sáng sủa rõ ràng đã xua đuổi bóng tối, mà khi bóng tối bị xua đuổi, tức là Huyền đã bị xua đuổi, Huyền tựu thành tự tính, tự tính tựu thành mặt trăng; giáo thuyết của Thần Tú là ánh đèn; con người thường nhìn ánh đèn mà quên mặt trăng.
            “là gì?” là ánh đèn.
            “?” là bóng tối.
            Trong “là gì?”, ánh đèn đứng bên bóng tối. Bóng tối là dấu hiệu báo cho biết sự có mặt của tính.
            Ánh đèn là biểu tượng nói về sự vắng mặt của tính.




7

            Thần Tú là biểu tượng.
            Huệ Năng là dấu hiệu.
            Trong ngôn ngữ Đức, “dấu hiệu” được gọi là das Zeichen, như trong câu thơ của Hoelderlin:

                        Ein Zeichen sind wir
nghĩa là
                        Chúng ta là một dấu hiệu.

            Tại sao Hoelderlin nói rằng chúng ta là một dấu hiệu?
            Dấu hiệu khác biểu tượng chỗ nào?
            Ngôn ngữ Đức gọi “biểu tượng” là “das Sinnbild”. “Das Sinnbild” (biểu tượng) và “das Zeichen” (dấu hiệu) khác nhau rất rõ ràng trong cách cấu tạo chữ nghĩa.




8

             “Das Sinnbild” (biểu tượng) gồm có chữ “Bild” và chữ “Sinn”.
            “Sinn” là ý nghĩa.
            “Bild” là hình tượng, hình dung.
            Tượng hình ý nghĩa cho dấu hiệu thì gọi là “biểu tượng” (das Sinnbild).
            Dấu hiệu không có ý nghĩa; vì dấu hiệu mà có ý nghĩa thì gọi là “biểu tượng”. Bởi thế tính chất của biểu tượng là có ý nghĩa, còn tính chất của dấu hiệu là không có ý nghĩa. Do đó, chúng ta thấy Hoelderlin viết câu đầu của bài thơ như vầy:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
nghĩa là:
                        Chúng ta là một dấu hiệu, không có ý nghĩa.

            Không có ý nghĩa tức là không lý do; không lý do tức là không lý trí; không lý trí là không giải thích (deutungslos cũng có nghĩa là “không có sự giải thích”).
            Hoelderlin là bạn thân của Hegel; hai người đã từng sống chung nhau một thời gian nhưng sau này hai người bất đồng ý nhau và cùng xa lìa nhau.
            Câu thơ của Hoelderlin:
                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        (Chúng ta là một dấu hiệu, không có ý nghĩa).
bỗng làm mờ tối sự tương đồng tâm ý giữa Hoelderlin và Hegel; bởi vì đối với Hegel, mọi sự đều có ý nghĩa trong hệ thống suy tưởng của ông.




9

                        Schmerzlos sind wir
có nghĩa là:
                        Chúng ta không đau khổ, vì chúng ta là một dấu hiệu không ý nghĩa, chúng ta không đau khổ.

            Đau khổ chỉ xuất hiện với ý nghĩa. Con người sống trong ý nghĩa là con người sống trong đau khổ: mà sống trong đau khổ có nghĩa là sống trong sự tượng hình ý nghĩa (das Sinnbild), tức là sống trong biểu tượng.
            Mỗi con người đều sống trong hai thế giới:
                        – thế giới dấu hiệu;
                        – thế giới biểu tượng.
            Sống với dấu hiệu là sống với hình vuông tính học (carré ontologique) gồm có bốn nghi (trời, đất, thần, người). Sống với dấu hiệu là sống hồn nhiên giữa tiết điệu thơ mộng của vũ trụ.
            Còn thế giới biểu tượng là một thế giới hình ảnh; sống với biểu tượng là sống với mộng mị ảo tưởng; sống với biểu tượng là xa lìa tự tính.
            Sự đau khổ chỉ xuất hiện với ý nghĩa mà khi chúng ta là dấu hiệu không có ý nghĩa (deutungslos) thì chúng ta không đau khổ:
                        Schmerzlos sind wir
            Hoelderlin lại viết tiếp:

                        und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren.

nghĩa là:
                        và chúng ta đã gần như đánh mất ngôn ngữ nơi cõi lạ

            Sự đau khổ chỉ xuất hiện với ngôn ngữ nhưng khi chúng ta đánh mất ngôn ngữ nơi cõi lạ, thì sự đau khổ cũng tiêu ma đi. Nhưng chúng ta hãy để ý mà đọc lại câu thơ cuối của Hoelderlin:

                        und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren
.

            Trong câu thơ trên, chữ quan trọng nhất là trạng từ fast; trạng từ fast có nghĩa là “dường như, hầu như, gần như”.
            Chính do chữ fast này mà tất cả ý nghĩa của ba câu thơ đã đổi khác; bây giờ chúng ta đọc lại trọn ba câu thơ và nhất là đọc nhấn mạnh nơi chữ fast để lắng nghe ý nghĩa đổi khác như thế nào:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren
.
nghĩa là:
                        Chúng là một dấu vết, vô nghĩa.
                        Chúng ta vô giác trì độn và gần như
                        đã quên mất tiếng nói nơi lưu đày
.

            Chính chữ FAST đã xoay hẳn ý nghĩa của bài thơ; chữ fast làm “dấu hiệu” trở thành “dấu vết” làm “không ý nghĩa” trở thành “vô nghĩa”, “không đau khổ” trở thành “vô giác trơ trơ trì độn”, làm “đánh mất ngôn ngữ” thành “quên mất tiếng nói”, làm “nơi cõi lạ” thành ra “nơi lưu đày”. Và chúng ta hiểu tại sao Hoelderlin đặt tên bài thơ là “Mnemosyne” (Trí nhớ, ký ức); chính câu thơ:

                        und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren
.
                        (gần như quên mất tiếng nói nơi cõi lưu đày)

            Chính câu thơ này giải thích nhan đề “Mnemosyne” vì “gần như quên mất tiếng nói” chính là “gần như quên mất trí nhớ”.
            Chính chữ “fast” đã khiến mọi sự đảo lộn; thế giới dấu hiệu biến thành thế giới biểu tượng, thế rồi con người bị đi đày giữa cõi sa mạc lớn rộng này (die Wust wachst).
            “Gần như” (FAST) có nghĩa là “chưa trọn” mà “chưa trọn” chỉ có nghĩa là “ở giữa” (chữ Pháp gọi là “Entre”).
            Con người ở giữa thú vật và thần linh; con người ở giữa thời kỳ “thần linh đi mất” và thời kỳ “thần linh sắp hiện”.
            Ở GIỮA tức là không gian của biểu tượng.
            Dấu hiệu không phải Ở GIỮA mà là Ở NƠI.




10

            Ánh sáng Thiền tông xuất hiện.
            Con người giải thoát là không còn ở giữa.
            Con người giải thoát không “gần như” (FAST).
            Con người giải thoát không sống trong thế giới biểu tượng, nghĩa là không tạo, không tượng ý nghĩa (das Sinn-bild).
            Con người giải thoát không ý nghĩa (deutungslos), như vậy không ý nghĩa là không đau khổ (Schmerzlos); không đau khổ là tiêu diệt đánh mất ngôn ngữ (haben die Sprache verloren); tiêu diệt đánh mất ngôn ngữ là vì ở cõi xa lạ (in der Fremde).
            Cõi xa lạ (in der Fremde) là Niết bàn, là Tây phương Tịnh độ; nhưng chính cõi xa lạ ấy là ở nơi cõi này, ở nơi cõi trần gian này.
            Con người giác ngộ là con người ở mà không ở, trú mà không trú, danh từ nhà Phật gọi là “VÔ TRÚ”, vô trú là trú ở cõi xa lạ (in der Fremde), tức không trú nơi cõi mình trú.
            Lục tổ Huệ Năng lấy “vô niệm” làm tông, lấy “vô tướng” làm thể, lấy “vô trụ” làm gốc.
            Như thế, nếu bỏ chữ FAST trong ba câu thơ Hoelderlin thì con người giác ngộ là con người dấu hiệu:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben
                        Die Sprache in der Fremde verloren
.
tức là:
                        Chúng ta là một dấu hiệu, không ý nghĩa.
                        Chúng ta không đau khổ và đánh mất
                        Ngôn ngữ nơi cõi lạ
.

            Câu thơ trên không có chữ “FAST” (gần như). Chúng ta hãy để ý rằng chính chữ FAST đã gạch ra biên giới giữa vô minh và giác ngộ.
            Giác ngộ là “nhất thiết vạn pháp bất ly tự tính”; do đó, Thiền tông vượt lên trên Heidegger vì Heidegger cho rằng con người hiện nay đã “ly tự tính”, (tínhSein); đối với Thiền tông, con người “bất ly tự tính”, do đó “Bồ đề tự tính bản lai thanh tịnh”.
            Nếu bỏ chữ “FAST” trong ba câu thơ của Hoelderlin thì ta thấy ba câu thơ ấy nằm dưới ánh sáng Thiền tông như vầy:
                        Tông → vô niệm: haben die Sprache verloren;
                        Thể → vô tướng: Schmerzlos; deutungslos;
                        Gốc → vô trụ: in der Fremde.
            Vì thế, con người giác ngộ là dấu hiệu (Zeichen) cho chân tính, nguyên tính, chân như, v.v…
            Bây giờ, ba câu thơ của Hoelderlin bỗng loé lên ánh sáng tuyệt vời của nguyệt bạch:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren
.
nghĩa là:
                        Chúng ta là một dấu vết, vô nghĩa
                        vô tri vô giác trì độn và gần như
                        quên mất tiếng nói nơi cõi lưu đày
.

            Dưới ánh sáng Thiền tông, ba câu thơ trên nói lên bi kịch của con người sống trong vô minh, “deutungslos” biến nghĩa thành ra “vô nghĩa”, “Schmerzlos” có nghĩa là “không đau khổ” nhưng biến nghĩa thành ra “vô giác vô tri”; do đó “không đau khổ” trở thành đau khổ, nỗi khổ của một kẻ không còn biết khổ (“vô giác”). Nhưng bây giờ, nếu chúng ta bỏ chữ “gần như” (FAST) trong ba câu thơ trên:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben
                        Die Sprache in der Fremde verloren

thì ý nghĩa lại đổi khác:
                        Chúng ta là một dấu hiệu, không có ý nghĩa,
                        chúng ta không đau khổ và đã đánh mất ngôn ngữ nơi cõi lạ
.

            “Đánh mất ngôn ngữ” ấy là “vô ngôn”. Và cõi lạ ấy là cõi mà mọi người chúng ta đều muốn quay trở về để tìm lại mái nhà xưa.


PHẠM CÔNG THIỆN
Saigon, ngày 10 tháng 7 năm 1965


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 
The following users thanked this post: vinh bo cap, tnghia