Tác giả Chủ đề: Giữ Thơm Quê Mẹ  (Đã xem 12293 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #30 vào: 22/04/2017, 09:48:14 »
RẰNG TỪ NGẪU NHĨ (KIỀU GHÉ PHƯƠNG TÂY)

Rằng từ ngẫu nhĩ lên non
Ngần ngừ núi bảo rằng con cái nhà
Một lời đã biết đến ta
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời

CÂU CHUYỆN kể còn dài vô hạn. Mà tờ giấy không thể có đủ kích thước vô hạn mặc dù ban sơ vốn là tờ giấy trắng. Vậy nên chi chúng ta bị đưa vào cõi bối rối rồi. Làm thế nào vẽ vời cho nên được câu thần? Nếu tờ giấy không cho phép, âu đành phải mượn bút hoa.

Vẽ vời lại mượn bút hoa
Bút là một ngọn lại là một cây
Tuy nhiên số dzách giãi bày
Cũng còn đợi ở lượng ngày phù du
Câu tương ứng chén tạc thù
Cây vườn đâm ngọn đắp bù bút hoa
Rằng từ ngẫu nhĩ ngó ra…

            Ngó ra thấy gì?
            Thưa rằng: thấy… thấy…
            Thấy mọi sự như chúng ta thấy. Mọi người ai chẳng thấy: nào bàn nào ghế, học tập nhà trường, học hành nhà trại, học văn chương, học quân sự, học bay tàu bay lên trời, học thả tàu bay dội bom xuống đất, học ngủ chiêm bao, học mơ ra ngồi bờ cỏ, học làm đại tá ma, học thôi không làm đại tá ma nữa.
            Từ đó về sau?
            Từ đó về sau lại trở lại bên đèn nếu trở lại câu chuyện ban sơ ngẫu nhĩ với Nuồng Thúy. Nuồng bảo sao?


Ngần ngừ nuồng mới thưa rằng
Thói thường mơ mộng chất hằng đăm chiêu

            Cái nguy là chỗ đó.
            Bởi đâu mà nguy?
            Bởi rằng: mơ mộng, đăm chiêu, vốn không phải là tư tưởng triết học. Mơ mộng đăm chiêu, hoặc chiêu đăm mộng mị, thì làm sao dựng nên cho nổi những hệ thống rành mạch, đồ sộ? Phải bài trừ chiêu đăm thì mới có thể vận dụng tư tưởng theo tinh thần khoa học.
            Cái bóng ma khoa học rập rình, từ đó cứ len lõi vào mọi cõi tồn sinh lĩnh vực của con người. Từ địa hạt đến địa phương, từ phồn hoa tới phố hội, từ phồn thị phồn thành, tới phồn làng, phồn xóm, phồn xã, phồn quê, đâu đâu cũng bắt gặp phồn ma khoa học kéo cờ bốn bên đánh úp.
            Mọi sự từ đó đã ra sao?
            Mọi sự vẫn vuông tròn phồn thịnh, chỉ duy có một cái tân thanh duy nhất là mất rụi cái thịnh phồn.
            Sao gọi là thịnh phồn? Sao gọi là mất rụi? Sao gọi là vẫn còn? Sao gọi là tân thanh? Sao gọi là ngẫu nhĩ? Sao gọi là gặp nhau? Sao gọi là không gặp? Sao gọi là gặp? Sao gọi là không? Sao gọi là “gọi”?
            Cái nguy là đó. Bởi đâu?
            Bởi rằng: khi câu hỏi nêu lên thì lời đáp cứ như “hiện ra” theo khuynh hướng “chẻ làm ba sợi tóc”, hoặc cứ theo lối “thầy hỏi bài học, em đọc cho thầy nghe”.
            Cái chết người là chỗ đó. Cái làm cho nhân gian tê dại là chỗ đó. Biết làm răng mà “ngần ngừ nàng mới thưa rằng” cho được? Ánh mờ tồn lưu làm sao mà hiện ra cho tồn hoạt phù du thiên thu đón mở phơi bày trong nếp gấp đăm chiêu vô ngần lưỡng lự, nhị tư, tam tứ diện? Ngũ thập bình? Theo lam, hồng, tộ, bạch, trong vạn ngàn sắc thái lung linh? Mà cầu mong cho liễu yêu đừng “phá trạn”?
            Cái chết con người ta là chỗ đó.

                        Đẩu nhiên phiếm hiện lãng chàng nham
                        Bán dạ thâm canh nhất trạch đàm
                        Tùng bạt tùng phong phiêu vạn điểm
                        Thê hà loạn sấm biệt thanh sam
                        Giang hồ duyệt lịch tầm Tư Mã
                        Bào đáo Triêu Dương ấp nguyệt cầm
                        Hốt xuất hồng hiên sương tuyệt cái
                        Sai kình cưỡng mạch lục tô lam

                        (Duồng Mô Din)

            Mà đào hoa sao lại tợ tuyết? Hồng sao là bạch? Quần hồng sao hiển hiện thành gái núi trong hang?
            – “Nguyên vị mang mang trọc thế, thiện ác thị phi, đô bất dị phân biện đích minh minh bạch bạch…”

TỪ ĐÓ mà đi, chúng ta thấy rằng: Mọi sự hỗn độn ngửa ngang cứ kéo dài cái thành tựu ra mãi là chính bởi cái thịnh phồn khoa học cứ lấn áp cái tồn lệ ban sơ trong tương-ứng-tương-giao Synousia-rằng-từ-ngẫu-nhĩ.

                        D’où l’insolvabilité de ton poème.
                        D’où tes larges lèvresensanglantées.
                        En toute malédiction, la terre t’aime.
                        De toute éternité, à grand regret
.
                        (Duồng Mô Din)

            Mặt trời gay gắt đã cưỡng hiếp ngôi sao. Tư tưởng bát ngát bình minh, bị chôn vùi trong nhà tù hệ thống, bị bưng bít trong những hàng rào kẽm gai. Rào giậu mất lá cây, lá cây mất lá cỏ, lá cỏ mất lá cồn, lá cồn mất cơn gió của trường mộng chiêu đăm.
            Sao gọi là mất? Từ đó có nghĩa: mất lá cồn. Còn gì? Còn cái lù lù ra đó.
            Kẻ thù gớm guốc nhất của tư tưởng chính là cái tinh thần khoa học trong triết học ngày nay. Triết học còn cứ luôn luôn đua đòi tỏ ra ta đây rất khoa học, thì tư tưởng còn mãi mãi kéo dài cái cuộc chết lăng trì trên mặt đất phẳng lì chờ đợi cái ngày tinh thể cơ giới sắp phơi ra. (Xem Martin Heidegger)
            Cái điều lạ nhất trong tồn hoạt hôm nay là: người ta hân hoan nhẫn nại nằm trong cõi lăng trì suốt trăm năm, mà khi gặp cơn gió lưu tồn trong bóng mờ nhị mộng, thì người ta tru tréo la to: làm sao cho tôi dòm rõ ra ngay cho chớ. Làm sao đập cái vành để tôi vồ ngay cái hột?
            Người ta quên mất rằng: nếu nhất đán vội vã đập cái vành một cách hấp tấp vội vã vội vàng, thì rất có thể rằng: từ cái nhất đán kia, cái hột nằm ở trong cũng vỡ toang ra trong nhất dạ. Thì từ đó về sau mọi sự sẽ ra sao? Sẽ ra là: trăm điều ngang ngửa vậy.


Trăm điều ngang ngửa từ tôi
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho
Xin người nhẫn nại nằm co
Năm sau ngẫu nhĩ con đò lại sang

            Con đò ngẫu nhĩ lại sang theo điệu nào? Theo điệu: xóa nhòa bờ gai bến góc. Để làm gì? Để cho cái bờ hoa, bờ lá, bờ cỏ chiêm bao hiển hiện trong ánh mờ tồn lưu(1) mà thiết lập “cõi” cho phiêu bồng ngôn ngữ tái tạo thanh âm thế nào cho hai vũ trụ chào nhau:
            – “Rằng từ ngẫu nhĩ…”
            Kể từ đó, ta mới có thể quan niệm ra cái sự vụ lạ lùng này: thiên tài tái tạo Lời trong cõi Việt Nam, khởi từ mảnh hồng quần của một Triều Minh Cô Gái.
            Mọi sự bỗng mới ra, khởi từ câu chuyện cũ. Mọi lời mọi tiếng bỗng mang chất tân kỳ khởi từ những ngữ ngôn cũ kỹ.
            Bởi đâu mà nên sự lạ lùng?
            Đáp rằng: bởi thi sĩ thiên tài là cái kẻ tái tạo trong thanh âm, thiết lập thịnh triều trong ngôn ngữ. Cái kẻ riêng biệt có tư chất kỳ dị này: mỗi lần nói tới cái gì, nghe ra cái gì, ngó lại cái gì, là y như đó lần đầu tiên ngó, nghe, nói.
            Ai đọc Nguyễn Du mà không cảm thấy điều đó? Câu chuyện cũ, tình ý cũ, ngôn ngữ cũ, tiết điệu cũ… (có cái gì là không “cũ” đâu?) Thế tại sao mỗi lần “lần giở” lại nghe ra như cả cái cõi đời trong ta lại tân kỳ như bất ngờ ngẫu nhĩ cái ta bỗng dưng bát ngát phiêu bồng vào trong cõi trăm năm người trong thiên hạ?

NGƯỜI KHÔNG thi sĩ cũng nói, cũng nghe, cũng ngó. Ngó rất kỹ lưỡng, dòm rất tỉ tê, nghe rất như dường quả nhiên tương giao tâm sự, tỉ mỉ tương ứng tâm tình… Mà thật ra, mọi cái ngó, cái nghe, cái nói của họ, chẳng đem lại “cõi” cho tái tạo phiêu bồng. Nghe nói rất nhiều, nghe ra rất lắm, mà chẳng có gì rục rịch cả. Toàn khối nhạt nhàm. Mặt đất đắng cay. “Nhứt cá phiêu bồng du hỗn nhập: Đô thành không ảo mộng nguyên sương”.
            Trên đường về ngôn ngữ, người ta bỏ lạc mất riêng một chút gì mà từ đó về sau mọi âm thanh đều biến thành lời câm, tiếng điếc, hương ù lì, màu lơ láo, sắc lắt lay, quần hồng không thấy có mảnh hồng ở trong khả dĩ biến quần hồng thành hồng quần làm gương soi chung cho thiên hạ, cho mỗi lần ngẫu nhĩ đi về là mỗi lần bất chợt như nhìn thấy vũ trụ mới ra, như nhìn ra trần gian mở cõi, như nhận thấy mọi sự vật giữa đời hiển hiện như mới-hiện-đầu-tiên ngõ ban sơ hạnh ngân dài.

                        Chào nhau: em đúng là em đó
                        Là gái muôn năm có mặc quần


            Ai lại chẳng biết rằng gái có mặc quần? Gái không mặc quần thì còn ra thể thống gì nữa? Tuy nhiên có ai nhận thấy rằng gái phù du muôn năm có mặc quần dẫu trong giờ trần trụi trần truồng tấm quần bị xé rách?

                        Chào nhau: em đúng là em đó
                        Parviens-tu à l’incandescence?
                        Parviens-tu à l’inaltéré?
                        Tu acceptes le risque de l’indécence
                        Pour le dévoilement de quelle Clarté?


            Ngôn ngữ là lời, hỡi ôi! bởi đâu mà tái tạo cõi? Âm thanh là tiếng, hỡi ôi! bởi đâu mà tái lập con đường? Con đường dẫn tới nơi nào, hỡi ôi! bởi đâu mà thành ra chốn? Chốn nọ vì sao, hỡi ôi! mà bỗng dưng nhiếp dẫn lối đi về cho tồn lưu phiêu bồng tự chân trời ngẫu nhiên bước vào trong lưu trú? Lưu trú là gì, hỡi ôi! bởi đâu mà biến làm trong cõi sương tuyết có trăm năm? Trăm năm là gì, hỡi ôi! bởi đâu mà biến làm vạn thuở? Vạn thuở ở lại trong phút giây sau phút, hỡi ôi! bởi đâu mà đam mê? Đam mê quay cuồng trong gắn bó, hỡi ôi! bởi đâu mà thân thiết rằng trăm năm cũng từ đây? Từ đây không xê dịch bao giờ, hỡi ôi! bởi đâu mà bỗng chốc bỏ ra đi?

                        Tôi sẽ ra đi bỏ lại đời
                        Mỹ Tho Mỹ Thọ Sóc Trăng ơi
                        Mỹ Thỏ muôn đời là Sóc Trắng
                        Gái mặc quần ra đứng ngó trời
.

            Đứng ngó trời để làm gì, hỡi ôi! bởi đâu mà trông thấy? Trông thấy gì, hỡi ôi! bởi đâu mà đau đớn? đau đớn gì, hỡi ôi! bởi đâu mà đoạn trường trải qua?

                        Trải qua một cuộc bể dâu
                        Những điều trông thấy


            Thế là chúng ta nhìn nhận: nãy giờ ông bạn dùng một lúc dồn dập một lô tiếng: hỡi ôi. Đó là trông thấy.


Hỡi ôi! ngôn ngữ là lời
Ấy trong tiết điệu ấy ngoài âm thanh
Dư vang cuối lá đầu ghềnh
Niềm riêng suy trọng sao đành từ nan
Rừng phong thu giữ hội đàn
Rượu thơm từ đáy chén vàng nguyệt khuy
Rừng phong thu đã nhuộm kỳ
Chiêm bao bờ cỏ Gái Tỳ Hải gieo
Rằng từ ngẫu nhĩ nhìn theo
Lần trông bước bước truông đèo còn vang

            Truông đèo còn vang cái gì? Cái gì đương dội? Cái gì đương la? Cái gì đương kêu? Cái gì đương gọi? Cái gì đương nói? Đương nói cái gì? Rằng:

                        Ruộng đồng mọc cỏ hôm mai

            Cỏ mọc cho ruộng đồng, để mùa sau cho lúa về lúa chín? Đồng ngập nước trong cơn hồng thủy điêu linh để mai sau xuân về cho tái lập? Bến bên bờ nhìn con én lại bay. Bay mấy vòng thiên thu cho thoát ra ngoài vòng ngạc kinh hiểm họa “đầy sông kình ngạc” chật trời én bay?


Én đầu xuân, tuyết đầu đông
Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa
Tự giờ ngẫu nhĩ nhìn qua
Ở trong giấc mộng em là Kiều Nương

            “Le poète, on le sait, mêle le manque et l’excès, le but et le passé. D’où l’insolvabilité de son poème. Il est dans la malédiction, s’est-à-dire qu’il assume de perpétuels et renaissants périls, autant qu’il refuse, les yeux ouverts, ce que d’autres acceptent, les yeux fermés… Quand il parvient génialement à l’incandescence et à l’inaltéré (Eschyle, Lao-Tseu, les présocratiques grecs; Thérèse d’Avila, Shakespeare, Saint Just, Rimbaud, Hoelderlin, Nietzsche, Van Gogh, Melville), il obtient le résultat que l’on connait. Il ajoute de la noblesse à son cas lorsqu’il est hésitant dans son diagnostic et le traitement des maux de l’homme de son temps…” (René Char)

Tự giờ ngẫu nhĩ nhìn qua
Ở trong giấc mộng em là Kiều Nương
Vĩnh lưu tồn hoạt đôi đường
Biết đâu địa ngục thiên đường là đâu
Nường càng mặt ủ mày châu
Đi về phảng phất nếp nhàu ban sơ
Rằng không thì cũng tự giờ
Bước ra rằng có liệu ngờ chi không
Rằng từ ngẫu nhĩ ra bông
Hà sơn vạn lý còn không cuộc cờ
Rằng tôi đã có lòng chờ…
Đùng đùng gió giục mây mờ tồn lưu
Đôi mắt ngọc cặp chân cừu
Đường quanh lối quẹo gọi hươu phiêu bồng
E sương dín gió ngại ngùng…

            Pourquoi es-tu hésitante, chère amie? O toi que j’eusse aimée… Toi que j’appelle ma soeur et que j’aime infiniment plus qu’une soeur…
            Tu ajoutes de la noblesse à ton cas lorsque tu es hésitante dans ta marche vers le voisinage de l’être qui se dévoile dans le Pli perplexe d’une Clarrté diffuse, à travers la première Rencontre Rằng Từ Ngẫu Nhĩ Gặp Nhau…
            Qu’appelle-t-on Rằng từ ngẫu nhĩ?
            Qu’appelle-t-on gặp nhau?
            Qu’appelle-t-on clarté diffuse?
            Qu’appelle-t-on pli perplexe?

TRƯỚC NHỮNG câu hỏi nêu lên chúng ta chồn chân đứng lại. Thúy Kiều đã nêu lên, Nguyễn Du đã nêu lên, Chu Mạnh Trinh đã nêu lên, anh chị, và các cô, các bác đã nêu lên, tôi nữa cũng nêu lên. Nhưng ai là riêng người đã đáp?


Ấy ai đã đáp là người
Ấy ai hạ tứ là lời ném châu?
Gieo vàng hạ cố đến nhau
Mấy lòng suy trọng trong màu dở dang
Vong hồn lịch kiếp lang thang
Đi về phảng phất mây dàn đầu cơn
Đam mê sau phút mộng hờn
Đạm Tiên nàng ấy cung đờn đã tuôn.

            Nhưng nếu là Đạm Tiên quyết định thì câu hỏi nêu ra đầu đuôi gốc ngọn đều do một cái bóng ma mà nên cả thế ru?
            Bóng ma là gì? Sao gọi là bóng ma đi về gieo sương bóng? Có một con người nào phiêu du hoạt tồn trên mặt đất mà không cảm thấy có một cái bóng ma nằm ở giữa thân thể của mình là mình mẩy hình hài máu me xương khớp?
            Phải chăng từ câu hỏi đó, mà ta gọi Dasein là l’être-pour-la-mort?
            Và nếu gọi như kia, thì cái nói của lời, cái ngữ của ngôn, cái ngôn của cú-từ-tiết-điệu kia (le Dit de cette Phrase) phải được nghe ra trong cái Vùng-Vắng-Lặng nào, để cho cái nghĩa Tương-Ứng-Synousia ban sơ đừng mất nghĩa ban sơ? Vì nếu mất nghĩa ban sơ thì hố hang hiện ra khắp nẻo, và sông núi là vạn lý hà sơn mất nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang.


Rằng từ ngẫu nhĩ nhìn sang
Nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang cuối ghềnh

            Nghĩa là ở giới hạn cuối cùng của tinh hoa ngôn ngữ khuất lấp trong mù sương tinh thể của lời.
            Mất cái đó đi, thì mọi con người sẽ mất cõi. Cõi sẽ bị qua phân, đời ruộng đồng sẽ tan hoang trong hào, ngoài lũy, trên dưới sa lầy.
            Làm sao tứ hải giai tồn lưu cho được chớ? làm sao cho hai vũ trụ được nhiếp dẫn về trên một dòng, mà ngắm nhìn nhau trong một tấc cỏ, thì đâu còn tính ra cái chuyện báo đền liệu đem tấc cỏ báo đền ba xuân?

VỐN TỰ ban sơ, con người ta ở mọi chân trời đã nhìn nhau trong một cõi. Ta gọi là: cõi thiện, cõi chân, cõi mỹ, cõi tồn lưu, cõi lưu trú, cõi quê mẹ, cõi quê hương, cõi ngôi nhà vĩnh thể, cõi thanh hiên tố như tố bạch… Gọi gì thì gọi, bằng lời gì thì bằng, ban sơ vẫn là cõi một cứ luôn luôn dời bình diện trên địa hạt địa phương cho thịnh phồn lục địa cứ thường hằng tư lường trong định mệnh tồn hoạt bóng ma…
            Hỡi ôi! vấn đề thểthời gian có phải chính từ chỗ này mà được nêu ra để từ đây quyết định? Những nhà tư tưởng nói tiếng ẩn ngữ, pha trong mù sương, có đơn sơ lắm lắm? Và vì quá đơn sơ, nên con người trong bụi khói cứ ngàn năm không chịu hiểu? Và cứ vô tình đập phá tan nát mãi mãi riêng một cái gì khả dĩ thiếp lập thế quân bình cho cuộc sống chênh vênh?
            Đông là gì, Tây là gì, đâu là cái hố, cái hang, cái khe, cái mương, đâu là cái bước nhảy?

                        Rằng từ ngẫu nhĩ nhảy qua
                        Bờ lã vũ trụ bến là cõi kia
                        Miền tương giao bỗng tan lìa
                        Mép cồn lau rụng mảnh bờ tồn lưu
                        Hai là một? một là mười?
                        Mười về trong một ngồi cười lửng lơ
                        Mai sau dù có bao giờ
                        Gió đưa một trận về bờ bữa nay?
                        Hai con mắt, một vòng tay
                        Ánh mờ tồn lệ phơi bày đào non?
                        Clarté-Diffuse-Rằng-Từ-Ngẫu-Nhĩ

                        Le vent d’un vent souffle où il vent
                        Ineffable est le bras des feuilles
                        Omniprésents sont les clairs yeux
                        de la clarté qui se recueille

                        Un jardin s’ouvrant sur un pré
                        parle de la nuitbionienne
                        qui songe à là Chine antique et
                        à l’aube des forêts indiennes

                        Gravissant le sommet du Pic
                        de l’Obscurité pour atteindre
                        l’eau blanche dans le dur granit
                        Avez-vous quelque chose à craindre?

                        La clarté-diffuse-đào-non
                        donne nissance à lần-ngẫu-nhĩ
                        Dès lors à l’infime Kôun-lôun
                        la Grande Origine s’allie
.

            Hai vũ trụ nhìn nhau trong một cõi là: Nguyên Thủy Ngữ Ngôn kể từ…
            Kể từ Tân Thanh thiết lập nhịp cầu trên mảnh hồng quần soi trên mặt hồ gương bóng.
            Có hiểu sự vụ là thế, thì chúng ta mới có thể rõ vì sao mà gái Gia Tĩnh lại có thể là phụ nữ Việt Nam, tiếng Trung Hoa lại là lời Hồng Lĩnh, hoặc thằng Quảng Nam hay cãi, lại có thể làm thơ rất mực phiêu bồng. Đến bà đầm da trắng cũng phải đẫm lệ mà nghe ra mũi tẹt da vàng khóc hu hu, hou hou:

                        Savez-vous tigres et tigresses
                        Où donc est le perplexe pli
                        d’une Reine Raisin des Tresses
                        L’or des pleurs, l’acajou des cris?

                        Hou hou! la chanson du Corsaire
                        Tou tou! Pêcheuse d’equilon
                        Tonnerre du soleil lunaire
                        Ma Terre est perdue, le sait-on?

                        (Duồng Mô Din)

                        Rằng từ ngẫu nhĩ gặp nhau
                        Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn
                        Dưới trời căn cớ là bông
                        Lá đầu cây rụng quần hồng họ Vương
                        Thanh âm đăng khí hồi trường
                        Hùng tâm nghĩa bạc hải đường vân tiêu
                        Hương sầu điệp điệp xuy phiêu
                        Con đò giác mộng dâng liều lĩnh hoa
                        Con người mắt tợ mưa sa
                        Lan đìu hiu giậy sao mà buồn tênh
                        Nửa phen ngẫu nhĩ gập ghềnh
                        Bấy chầy khúc khuỷu trăng chìm bãi sông
                        Thảo am phong tóc sương đồng
                        Chất thành tùy ý đèn lồng rủ tua
                        Sượng sùng tháng ngọt ngày chua
                        Mười lăm năm rụng hoa mùa tiểu lân
                        Đào non đổ rớt bảy phần
                        Khe ngầm đứt mạch buông tầm tiểu thư
                        Đăm chiêu nghĩa bất dung từ
                        Sử xanh lần giở hương thừa trở cơn
.

            Sao gọi là trở cơn? Từ đó có nghĩa là: cơn trở. Sao gọi là hương thừa? từ đó có nghĩa: thưa hường.
            Thưa như thế nào? Rằng: hồng nhan tự ngàn xưa…

                        Herbes et roseraies natales!
                        Ungedachte! vous avez peur
                        des Entrées nocturnes fatales
                        Cái điều bạc mệnh… tel est le coeur.

                        Ngại ngùng dín gió e sương
                        Liễu yêu bài động như dường đã phai
                        Ngừng hoa bóng thẹn mặt dày
                        Phong tình vạn chủng cuối mày sắp tan
                        Lệ bên đầu mắt một hàng


            “Ainsi commencent les grands malheurs”. Những tai họa lớn lao khởi đầu từ đó, và như rứa đó tới bao giờ? Và như rứa đó, bởi đâu? Và tại sao mà như rứa đó?
            Tây phương ngậm ngùi cũng bảo rằng như rứa đó, thì thật không biết nói mần răng, ăn mần răng được nữa. Chỉ biết rằng… Hãy nghe René Char: “Nos tissus tiennent à peine. Nous vivons au flanc d’une inversion mortelle, celle de la matíere compliquée à l’infini au détriment d’un savoirvivre, d’une conduite naturelle monstrueusement simplifiés. Le bois de l’arbuste contient peu de chaleur, et on abat l’arbuste. Combien une patience active serait préféralle! Notre rôle à nous est d’influer afin que le fil de fraicheur et de fertilité ne soit pas dé ourné de sa terre vers les abimes définitifs. Il n’est pas incompatible au même moment de renouer avec la beauté, d’avoir mal soi-même et d’être frappé de rendre les coups et de s’éclipser”. (René Char – Recherche de la base et du sommet)

ĐOẠN VĂN nói rõ niềm “sérénité crispée” niềm thích thảng nghiệt ngã vừa bao dung vừa bực dọc, trong tinh thần người nghệ sĩ trước thực trạng hỗn mang. Vẫn giữ thiện chí ôn hòa, theo lẽ tương nhượng, nhưng vẫn phải công phẫn phản kháng những sự vụ hồ đồ ma quái, vu hãm, thủ tiêu, chụp mũ. Le bois de l’arbuste contient peu de chaleur, et on abat l’arbuste. Như thế thì còn chi mà mong mỏi cái cành ngọc thụ nó đơm hoa có ngày?


Rằng từ ngẫu nhĩ than ôi
Rằng không thì cũng vâng lời rằng không

            Lời thơ Nguyễn Du cứ như chảy tràn lan ra như vậy. Ấy bởi vì nó nằm trong tiết mạch thâm sâu của linh hồn kiên trì trong dòng tồn lưu mát mẻ. Dám lôi mọi thứ hỗn mang ra cho cô bác nhìn, mà vẫn gắng chuyển di nhiếp dẫn cho dòng về bát ngát, đừng để mọi sự rơi tòm vào hố hỗn độn điêu mang. Chịu đoạn trường chịu phơi xương cho dao cắm, dám tung chỉ lực chưởng phong ra đối địch, và cũng hài lòng biền biệt bỏ đi. Gọi rằng: hiện về trong xa vắng, trở lại tự xa xôi…

Trông ra ngọn cỏ lá cây
Nỗi đêm khép mở nỗi ngày lim dim
Chừng như trên nóc bên thềm
Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng
Gọi rằng ngẫu nhĩ đa mang
Chàng ra cho thiếp sưu tầm của tin

            “L’homme toucha le ventre de la femme qui remercia d’un regard, tendrement. Mais seule l’eau du puits profond. Sous son petit toit de granit, se réjouit de cegeste, parce qu’elle en percevait la lointaine signification”. (René Char)

Khi hoa nở khi trăng lên
Khi phiêu bồng tóc khi mềm mại da
Đều là nghề nghiệp trong nhà
Phỉ phong đó mận, tuyết ngà đó lê…
Vườn xưa én cũ bay về
Thân hoài tuyệt kỹ đề huề tay gieo

            “L’art ne peut-il avoir recours, pour s’infléchir, à la salive de l’arbre fruitier? L’art qui rêve dans les vergers où fleurs et fruits ont raison ensemble?”

KHÔNG BIẾT. Thưa rằng chúng ta không biết. Câu chuyện Gia Tĩnh chạy lộn chiều, gặp đủ thứ gió từng trận nổi cơn ở mọi chân trời không khí. Đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ. Đem cầm kỳ đổi ra kỳ cuộc. Đem kỳ cuộc đổi ra vạn lý hà sơn. Đem vạn lý hà sơn đổi làm nhân sinh nhứt giác mộng. Đem nhứt giác mộng đổi làm đoạn trường. Đem đoạn trường tấu lại tân thanh. Đem tân thanh xô vào bạc mệnh. Đem bạc mệnh gán vào hồng nhan. Đem hồng nhan ghép cho kỹ nữ. Đem kỹ nữ tôn lên ngai vàng. Biến Nữ Vương thành Hoàng Hậu. Đổi Hoàng Hậu làm Hoàng Thiên Thu. Hoàng Thiên Thu bỗng đo ra vạn đại. Với sương bóng phiêu du không biết đâu bờ bến dưới mặt trời cuồn cuộn chiêm bao với hai con chim chia nhau một bầu trời hồng lục tố như và một mái thanh hiên của thiên thanh hồng sơn liệp hộ.
            “Deux hirondelles tantôt silencieuses tantôt loquaces se partagent l’infini du ciel et le même auvent”.
            Hai đứa lúc lim dim, lúc ríu rít, kể từ đó về sau, đứng hai chân trên bến bờ tứ phối, dòm xuống biển dâu, mà gọi với tinh sương rằng cuộc cờ trên hà sơn vạn lý sẽ bất tuyệt hồng vàng vì đơn sơ thuần phác của hạnh phúc đương hôn nhau cho làn môi phiêu du hiển hiện lấp lánh phiêu bồng trong ẩn ngữ thề xưa:


Thề xưa giở đến kim hoàn
Một nền đào mận khuôn vàng vấn quanh
Hàng hàng tứ diệu to nhanh
Thể theo gương dọi tụ thành cõi kia

            “… est l’anneau qui s’enroule sur lui-même, alors qu’il joue le jeu des reflets. Faisant paraitre, il éclaire les Quatre à la lumière de leur simplicité. Faisant resplendir, l’Anneau partout et ouvertement transproprie les Quatre et les ramène à l’énigme de leur être. L’être rssemblé du jeu du monde, le jeu de miroir qui s’enroule ainsi, est le Tour encerclant. Dans le Tour encerclant de l’Anneau qui joue et reflète, les Quatre s’enlacent à leur être, qui est un et pourtant propre à chacun d’eux. Ainsi flexibles, se pliant au jeu de miroir, ils assemblent le monde”.
            Phong tình vạn chủng từ đó về sau tha hồ thi đua nảy nở theo thiên lý lưu hành phiêu diêu bởi liễu yêu bài động… Cái vật, cái đồ, cái vành cong hà diệp mở, đã dìu dắt cõi đi về là nhiếp dẫn tứ diệu phanh phơi lưu tồn đăm chiêu mong đợi
            La chose retient le Quadriparti. La chose rassemble le monde. Chaque chose retient le Quadriparti dans un rassemblant, liée à une certaine durée, où la simplicité du monde demeure et attend.(2)

                        Cảnh Hà Diệp mở cong môi
                        Từ Sappho mộng đến Người Triều Minh

                        (Lá Hoa Cồn)

TỪ ĐÓ về sau, tha hồ nhân gian ai muốn làm thơ thì cứ làm, cứ muốn. Ai muốn đọc sách thì cứ đọc. Ai muốn ra đồng bắt chuồn chuồn châu chấu, cũng chả sao. Trở về nhà nằm xem kiếm hiệp ai đâu dám ngăn cấm ai?


Trong đời kiếm hiệp là điên?
Ngoài đời kiếm hiệp là tiên trong đời?
Cuộc cờ bao ná hỡi ôi
Hà sơn vạn lý hay lời bách niên
Nhân sinh nhứt giác mộng huyền
Ra hờ hững cõi gọi phiền trở vô
Nường vui đóa đóa bịch bồ
Đoạn trường ở lại trong hồ rêu pha
Hằng hằng sa hạt lệ hoa
Thường thường chuốc hột sương ngà đăm chiêu
Gió hoang vu giậy cơn chiều
Hồn sa mạc giậy hương tiêu thanh đồng
Lưng trời cánh mỏng chùm bông
Đêm sầu thích thảng vân mồng còn nghe

            Tinh thể của tự do nằm buồn vui trong ngôn ngữ như thế nào? Tha hồ làm thơ? Tha hồ đọc sách? Tha hồ nằm ngủ chiêm bao ra đồng bắt châu chấu? Bắt châu chấu không có nghĩa là rứt đuôi ngắt cánh châu chấu. Bắt châu chấu chỉ có nghĩa: đăm chiêu với cánh mỏng chuồn chuồn. Để yên cho chuồn chuồn lượn bay sau cơn mưa rào diễm lệ. Đừng hiếp đáp, cưỡng bức những cánh mỏng lưa thưa đương mở phơi hồn xuân trong cõi phù du bất tuyệt lưu tồn.
            “La liberté n’est pas ce qu’on nous montre sous ce mon. quand l’imagination, ni sotte, ni vile, n’a, la nuit tombée, qu’une parodie de fête devant elle, la liberté n’est pas e lui jeter n’importe quoi pour tout infecter. La liberté protège le silence, la parole et l’amour. Assombris, elle les ravive; elle ne les macule pas. Et la révolte la ressuscite à l’aurore, si longue soit celle-ci à s’accuser. La liberté, c’est de dire la vérité, avec des précautions terribles, sur la route où tout se trouve”. (René Char)


Lời dâng tuyệt kỹ bên người
Vùng mây vắng lặng chân trời cảo thơm
Sử xanh dù đẫm lệ hờn
Cũng lai láng mở cung đờn bình minh
Trẽ tràng khôn xiết phiêu linh
Mong giờ ngẫu nhĩ lộ trình đi qua

            Kể từ đó, ta thấy Thúy Kiều thân thiết với cõi người ta thiên hạ ra sao. Trong tĩnh dạ thâm canh, mọi người sẽ chiêm bao gặp gỡ ngẫu nhĩ lạ lùng là buổi mới cơn đầu kiếm hiệp ra hoa. Mọi người sẽ gọi. Thiên hạ sẽ thưa. Cõi trăm năm sẽ bảo:
            – “Kiều ơi, dù sao thì em cũng phải trở về mới được”. Bởi đâu? Bởi rằng.
            “… toi sur qui l’avenir comptait tant, tu n’as pas craint de mettre le feu à tavie… Nous Errerons Longtemps Autour De Ton Exemple… Il faut revenir. Tout est à recommencer”. (René Char)
            Chúng ta thấy một điều: thế kỷ 19, một thi sĩ Việt gọi cô gái Trung Hoa về; thế kỷ 20, một ông thi sĩ Pháp cũng gọi cô gái Gia Tĩnh nọ về.(3) Chi lạ rứa?
            Sự vụ đã lạ lùng ngẫu nhĩ như rứa, thì chúng ta còn đợi gì mà không rủ nhau làm thơ cho tràn lan mặt đất? Thơ gì? Thơ gọi. Gọi gì? Gọi Kiều Nương. Nương gì? Nương nường Thúy. Thúy gì? Thúy kỹ nữ chiêm bao. Kiều tuyết liên kiếm hiệp mộng.


Cơn đầu ngẫu nhĩ ra hoa
Ôi Nường Kiếm Hiệp đã sa vào vòng
Đường lên nước ngược nằm trong
Như ngày địa hạt xuống giòng bâng quơ
Dưới hoàng hôn nước lên bờ
Nấp trong khuôn lá bấy giờ đổ ra
Quê hương đồng đất lạ nhà
Cảo thơm lần giở sao mà chậm dâng
Trên hàng cổ lục phơi thân
Ngực tròn vẽ tượng tiểu lân dưới cằm
Tung trời chưởng lực căm căm
Về thiên thu giậy trăm năm một mình
Ngó cẩn miên bạc đóng đinh
Trên đầu núi cũ bất thình lình kêu
Ôi Nường Kiếm Hiệp gươm đeo
Cuộc đời thiên hạ cõi đèo bòng kia
Ôi Nường Kiếm Hiệp canh khuya
Đổ xiêu một trận cơn liều lĩnh ra
Hà sơn vạn lý đâu là
Gót đi đứng gót chân ngà ngọc chân
Tiêu thanh đất ruộng vô ngần
Đồng ôi xứ sở Yên Tần gọi nhau
Ôi Nường Kiếm Hiệp xưa sau
Ngày vui ở lại trong màu áo kia
Thế ru? Sao lệ đầm đìa
Lọ là ấy cõi nường về đó xem
Ôi Nường Kiếm Hiệp đi đêm
Người da đen gọi rằng em hữu tình
Bấy chầy há dễ nín thinh
Nỗi buồn lục địa buông mình mấy sông
Chiều dâng trong ý mây lồng
Sương mù sa mạc xa gần trở cơn

            Từ đó về sau?

CHÀNG KIM rất có thể vòi vĩnh chiêm bao đuổi theo mà đáp ứng cái tiếng gọi tồn lưu của tại thể đã ra đi từ buổi gió chân trời.
            Nuồng Thúy cảm động gật đầu: Vâng, trong chiêm bao, chàng đã theo dấu chân ta ra đi buổi trước, tìm về tao ngộ, mà tương ứng mơ màng cơn mộng nào ngẫu nhĩ đã ra hoa. – “Thuyết bất định ngã tiên diện tẩu, tha tựu hội hậu diện cân lai”.
            Nói là nói vậy, nhưng hỡi ôi, sự vụ đâu có dễ dàng gì mà êm giầm mát mái. Cái hố, cái hang, cái đường quanh lối quẹo, cái mê cung tồn hoạt, cái muội diện hoạt tồn, cái mê-hồn-trận tồn lưu, cứ như luôn luôn triền miên lấp ló. Hỡi dòng sông xứ sở. Hỡi nước lũ dội ngàn. Hỡi cánh mỏng chuồn chuồn. Hãy hiện về mà tiếp sức cho ta. Được chăng ru? Chẳng được chăng ru tá? Trên nhịp đời lảo đảo, có dễ gì mà giữ vững mãi cái linh hồn trong xương khớp đầu gối với hai chân!
            “Ce n’est pas toujours facile d’être intelligent et muet, contenu et révolté. Tu le sais mieux que personne. Regarde, en attendant, tourner les dernières roues sur la Sorgue Mesure la longueur chantante de leur mousse. Calcule la résistance délabrée de leur planches. Confie-toi à voix basse aux eaux sauvages que nous aimons. Ainsi tu seras préparé à la brutalité, notre brutalité qui va commencer à s’afficher hardiment. Est-ce la poite de notre fin obscure, demandais-tu? Non. Nous sommes dans l’inconcevable, mais avec des repères éblouissants”. (René Char)

CUỘC CÁCH MẠNG tinh thần ở Tây phương đương đi tới chào chúng ta trong buổi phục hưng tứ hải giai huynh đệ phiêu bồng. Ta soạn sửa thế nào để đón nhau phiêu bồng phơi mở? Đón với lời trong ý mộng? Đón với tiếng trong tình câm? Sao gọi là tình câm? Tạm gọi: tình câm là tầm kinh. Sưu tầm kinh cổ lục. Khởi từ yểu điệu Thúy Kiều ra phơi mở cõi cho tài tử gửi qua nhịp cầu:


Rằng từ ngẫu nhĩ gặp nhau
Từ thiên thu tới bây giờ là đây
Rằng từ ngẫu nhĩ qua tây
Về phương Đông lại thưa thầy thưa cô
Tan hoang ngoài lũy trong hào
Ấy giờ tồn hoạt sắp vào tồn lưu

BÙI GIÁNG
___________________________________________
(1) l’éclaircie de l’être.
(2) Das Ding verweilt das geviert. Das Ding dingt Welt. Jedes Ding verweilt das Geviert in ein je Weiliges von Einfalt der Welt. (Martin Heidegger)
(3) Cố nhiên là phải nói bướng một chút vậy.


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 
The following users thanked this post: vinh bo cap, tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #31 vào: 28/04/2017, 15:25:54 »

            Mưa cao nguyên

            Chừng như mưa đã vào mùa
            Đường khuya im vắng rừng mờ sương đêm
            Buồn nghe mưa lại buồn thêm
            Xe tương lai chở lãng quên vào đời
            Nhớ nhau tròn một câu cười
            Mùa Thu xưa vẫn nặng thời cổ sơ
            Em về chết nửa giấc mơ
            Một trang tâm sự bài thơ ân tình
            Trăm sau ngàn trước mong manh
            Lời ru thảo mộc túi hành trang theo
            Đời như chiếc lá rụng vèo
            Trót đa mang phải trót nhiều thương đau
            Luyến lưu tự phút giây đầu
            Chiều qua nghĩa địa nỗi sầu lên khuôn
            Thương lên thác nhớ suối nguồn
            Một vùng đêm lạnh nỗi buồn cố nhân


                                                ANH HOA


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 
The following users thanked this post: vinh bo cap

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #32 vào: 29/04/2017, 15:51:15 »
XIN DỪNG LẠI NƠI ĐÂY
Tặng X. có mặt trưa 5-7-1965 tại
số 385 Sư Vạn Hạnh Chợ Lớn

CÓ NÊN lấy cái vé cao nhất không? Sao lại không. Nhưng ô kìa sao mình keo bẩn thế? Trương chần chừ, do dự, chỉ mong muốn một sự tình cờ nào đến giải quyết. Trương thấy khó chịu với chính mình khi biết mình không dứt khoát những việc con con trong đời sống. Nhưng đây có phải là một việc con con không? Trương liếc nhanh về phía đứa con gái bây giờ đang dồn với chàng vào khoảng giữa lòng chuyến buýt Gia Định Chợ Lớn. Sao mình keo bẩn thế? Có thể nào mình bần tiện như vậy không. Trương nghĩ như vậy nhưng không trả lời. Thì cho cao tay lắm, giá cái vé lớn nhất cũng chỉ 5 hay 6 đồng thôi. Mà cái vé Trương vẫn lấy thường nhật mỗi trưa dạy học ở Bình Dương về Bà Chiểu để đi đoạn đường chuyến buýt đặc biệt này giá đã 2 đồng (có mang mấy chữ Bà Chiểu chợ Trương Minh Giảng) rồi. Trương không thể keo bẩn một cách kỳ cục như vậy.
            – Đi đâu? Người bán vé đã đến chỗ chàng đứng.
            Chàng tính nói: “Vé tối đa” như bao nhiêu lần phiêu lưu khác khi bắt gặp một dáng dấp hay hay nào đó trên cùng chuyến buýt. Nhưng rồi chàng lại do dự.
            – Đi đâu? Người bán vé giục giã.
             “Thì cứ mua mẹ nó cái vé tối đa đi rồi mình muốn xuống đâu thì xuống sao lại tiếc mấy đồng bạc”. Trong phút chốc chàng đã tự trách như vậy. Nhưng cơn đau đầu như kinh niên lại tấn công Trương. Chung quanh đầu Trương như có một khối vật nào thoạt đè nặng, thoạt giở lên. Cơn nóng lạnh, hâm hấp mồ hôi đã phát ra từ buổi sáng lúc 9 giờ 30 khi chàng vừa xong 2 giờ Anh văn đệ tứ để tiếp đến lớp đệ nhị. Khoảng đường gần 30 cây số trên chiếc xe đò có chỗ dựa khá êm cùng với gió mát làm Trương quên hẳn cơn nhức đầu. Bây giờ nó lại tái phát. Hay đúng hơn chúng tái phát từ lúc chàng đứng đợi buýt ở trạm xe Bà Chiểu, leo lên một chiếc xe cũ rích máy nổ rầm rầm đứng một chỗ và chính nó cũng bay đi một cách lạ lùng khi Trương chú ý đến đứa con gái.
             “Có thể nào làm đẹp một đứa con gái không?” Trương vẫn thường nghĩ vậy khi trông thấy những đứa con gái có một sắc đẹp, một dáng dấp hay hay nào đó nhưng chàng biết chắc chắn sẽ thất vọng nếu hoàn cảnh may mắn cho chàng đi thêm một đoạn đường ngắn nữa thôi. Chàng không tin ở ý chí, ở tài năng, ở tâm hồn chàng. Chàng không tin ở khả năng của chúng để biến tạo một đứa con gái nếu đứa con gái đó đã không có mầm móng thích nghi. Rồi tất cả – trừ những hình bóng hư ảo xa xôi – sẽ trở về cái tầm thường, lì lợm của đời sống một người đàn bà. Tưởng tượng đến những đứa bạn gái cùng lớp cùng trường hồi Trung học, mấy năm ở Văn Khoa hay những đứa con gái lạ lùng khác rải rác trong bao nhiêu cảnh sắc ngược nhau, chống nhau của cuộc đời, tưởng tượng đến những dáng dấp chàng đã từng mê đắm, chàng thất vọng khi tình cờ gặp lại họ. Thôi nhé em, một hột cát nhỏ trong bãi biển hồn anh. Thôi nhé em, anh chỉ lấy đúng cái vé 2 đồng như thường nhật mỗi ngày anh có đi dạy học ở Bình Dương về Bà Chiểu để đón buýt về hiệu cơm Trung Hoa trước trạm chợ Trương Minh Giảng ăn tạm một cái gì đó trước khi lại đón một chuyến khác từ Saigon chạy về đưa anh lên một khoảng đường xa hơn một chút nữa nơi có gian phòng cô quạnh của anh. Thôi nhé.

NHƯNG TRƯƠNG không thể không liếc mắt nhìn xem đứa con gái đã mua vé nào. Ông bán vé đã xé rất nhanh và dúi vào tay đứa con gái mà không thối lại gì hết khiến chàng không thể đoán được đứa con gái đưa cho ông ta mấy đồng bạc chì.
            Nắng rất gắt tỏa ra khắp nơi hắt vào xe. Thôi nhé em, anh rất mệt rồi. Đến trạm chợ Trương Minh Giảng là trạm cuối cùng của anh có thể đi chung với em, nhìn em. Và sau đó nếu em không xuống, anh bỏ cuộc. Anh phải bỏ cuộc càng sớm càng tốt vì trước sau gì anh cũng biết anh bỏ cuộc. Nhưng còn cái tên thanh niên kia. Vâng, còn một tên thanh niên tự nhiên đứng vào cái thế địch thủ của Trương. Bây giờ Trương mới chú ý nhiều đến hắn. Hồi ở trạm Bà Chiểu, hắn cũng ngồi cùng chuyến xe với đứa con gái, nếu Trương nghĩ không lầm. Và có lẽ họ là hai trong số hành khách đến sớm nên mới có cái may mắn ngồi cùng dãy ghế trên, gần cửa xe. Nhưng được một chốc, một chốc thôi, khi Trương cũng bước lên chuyến ấy thì có tiếng một nhân viên công quản trong trạm cho biết chiếc xe bị hư, không thể chạy được. Chính lúc ấy Trương mới nghe đứa con gái cười và nói một chút với thiếu phụ bên cạnh: “Lại phải dời xe nữa”. Như vậy là thiếu nữ đã đợi xe khá lâu trước chàng nhưng hai chiếc đều hư và trước sau bị kéo đi đâu mất. Giọng miền nam làm trương thất vọng phần nào. Rồi đứa con gái xuống xe. Dáng hơi thấp hơn Trương một chút và rất vừa tầm. Toàn thể thân hình tỏa ra một mùi băng tuyết với dáng dấp đang quyến rũ nhất của đời thiếu nữ. Tên thanh niên thì không thể địch nổi Trương tuy hắn cũng có vẻ nhanh nhẹn và lịch sự. Hắn cầm một đĩa nhạc nhỏ 33 tours, có lẽ thuộc nhạc kích động Mỹ. Trương đoán điều ấy qua cách trình bày bản nhạc dù không bao giờ chàng nhìn rõ mấy chữ Mỹ khá to trên đó. Tên thanh niên đó bám sát vào đứa con gái mà chắc chắn hắn cũng nhận ra một dáng dấp đặc biệt vô cùng.

LÚC CÓ chuyến buýt đến thay, cả ba đều cố giữ thế. Cả ba đều để cho tất cả hành khách lên xe rồi mới bước lên sau. Nhưng Trương còn làm cao hơn. Chàng bước lên cửa sau trong khi hắn và đứa con gái bước lên cửa trước. Nhưng lúc lên xe rồi thì Trương và đứa con gái như cùng hẹn nhau lọt vào giữa lòng xe. Mãi lúc sau tên thanh niên mới tiến lại gần, với một tay cầm dĩa nhạc đụng đến nóc mui xe. Trương thấy mình hách hơn, với chiếc Cravate nylon đen nhỏ thắt trên chiếc áo nylfrance rất trắng. Trương biết mình có thế hơn nhưng chàng cũng không thể khinh địch.
             “Hắn có thể… với ý định như mình không?” Trương tự hỏi khi xe băng qua đường Cách Mạng, nghĩa là đi đưa gần một nửa đường Trương Tấn Bửu. Lúc này, qua một vài trạm nhỏ, hành khách xuống khá nhiều mà số hành khách mới không có bao nhiêu. Xe bắt đầu thưa thớt. Không thể đứng gần nhau, cả ba đều không hẹn mà cùng một lúc từ từ nới rộng ra, nhưng vẫn canh chừng nhau. Lúc này Trương mới tức tối. Sao lúc đầu không mua cái vé cao nhất. Bây giờ chẳng lẽ mua thêm vé? Như thế thì chắc chắn tên thanh niên kia đoán biết ý định của Trương. Không. Thôi nhé em. Anh chỉ có thể đuổi theo em đến trạm chợ Trương Minh Giảng là chỗ cuối cùng. Nếu em xuống trên khoảng đường đó, rất có thể anh xuống theo em, đi ngang qua nhà em, dù phải đi qua bao nhiêu con hẻm dưới trời nắng. Còn nếu em đi xa hơn, anh bỏ cuộc. Anh không đủ sức theo em khi mà phía trước chỉ toàn ảo giác.
            Xe bắt đầu thưa. Một chỗ ngồi nơi một băng ghế bắt đầu trống. Cả ba không ai ngồi xuống, cả tên thanh niên, cả đứa con gái và Trương. Chỗ trống gần Trương nhất. Và người còn lại – một ni cô – có vẻ muốn ngồi khép lại cho Trương ngồi. Cử chỉ vừa làm cho Trương vừa vui vừa buồn. Chàng nhìn ni cô. Khoảng gần hai mươi lăm. Đẹp nghiêm nghị nhưng chắc chắn còn tha thiết một cái gì khác trên đời này ngoài đời sống và lý tưởng tu đạo. Một chút gì đó có thể trong nắng, trên mây, trên dáng dấp rất nhiều yêu đời của những đứa con gái nhỏ, trên mái tóc một thanh niên như Trương. Một chút gì đó, một chút thôi, nhưng chắc không bao giờ tắt được. Trương muốn ngồi xuống ngay bên cạnh ni cô, ngồi bên cạnh một chút gì đó. Nhưng không được. Trương thấy mình như có lỗi khi không ngồi xuống. Hơn nữa chàng nghĩ kỹ việc đó có thể gây khó khăn nếu chàng muốn đuổi theo đứa con gái khi đứa con gái xuống một trạm nào đó thình lình.
            – Ngồi vô đi, ngồi vô đi, còn lỗ trống kìa.

NGƯỜI BÁN vé đi trở qua chỗ ba người đứng để ra phía sau thu tiền mấy cái vé mới. Ông ta nói như vậy khi đi ngang qua ba người, nói một cách vu vơ, không chỉ định một người nào rõ ràng cả.
            – Trạm cuối Trương Tấn Bửu đây. Ai xuống xuống đi.
            Ông kiểm soát vé nói thay lời nhân viên bán vé.
            Trương bắt đầu hồi hộp nhẹ nhàng. Thình lình tên thanh niên đưa mắt nhìn thẳng vào người đứa con gái, nhìn khắp nơi, đậu lại rất lâu ở thân người, nơi kết tụ cái dáng dấp uyển chuyển, băng tuyết kỳ ảo. Rồi hắn xoay đi thật nhanh nhảy xuống cửa trước khi xe đã chuyển bánh được vài thước.
            – Hắn đã đầu hàng. Không ngờ hắn bỏ cuộc sớm thế.
            Trương nói một mình, thích thú. “Nhưng biết đâu hắn khôn ngoan”, Trương lại trầm tư.
            Đây là trạm chót trước khi đến trạm Chợ Trương Minh Giảng. Nghĩ vậy tức khắc Trương đau khổ. Sao hồi nãy không lấy mẹ nó cái vé tối đa? Có thể nào đứa con gái sắp xuống? Và nếu vậy thì có lẽ Định mệnh đã sắp đặt.
            Xe bắt đầu quẹo khúc quanh qua Trương Minh Giảng. Vậy là hết, là hết. Trạm kia rồi. Hết, hết. Nhưng tại sao chịu hết?
            Giây phút nhìn chừng đứa con gái, giây phút hy vọng chấm dứt vì đứa con gái không có một nhúc nhích, xê dịch nhỏ nào trên xe chứng tỏ sắp xuống.
            Hết phải không em. Chắn đường này là hết phải không em. Cám ơn rất nhiều đã có ý dừng lại rất gần anh. Cám ơn rất nhiều đã thỉnh thoảng nhìn anh bằng đôi mắt anh không đời nào quên được.

TRƯƠNG NHÌN thật kỹ. Chàng hoảng hốt trước dáng dấp quyến rũ chưa từng thấy. Có một chút gì hơi quê mùa. Chiếc áo lót cũng vậy. Mấy cái đăng ten hơi thô. Không có mùi dầu thơm nào mà chỉ có một mùi mồ hôi kỳ ảo. Có một cái gì dơ dơ trong toàn thể thân hình. Có một nét gì tầm thường trong cách ăn mặc. Nhưng đó chính là tuyệt đỉnh của cái đẹp của thiếu nữ.
            Một luồng gió thổi vào. Đứa con gái vội khoát hờ tà áo che sát chiếc mông… Một chút nhưng toàn thể, Trương đoán may bằng tay, hơi rộng một chút, bằng một thứ vải gì phải dày hơn khá nhiều thứ vải may quần mới cho thấy một sắc độ đâm lên như vậy. Bây giờ mấy cuốn sách và vở cũng được tay cầm. Trương để ý thấy cái gáy một quyển sách Anh. Trong nghề, chàng đoán ngay đó phải là cuốn Let’s learn English. Và nếu không có trường hợp bất thường đứa con gái chỉ học khoảng đệ lục thôi. Có lẽ sợ biết mình học hơi thấp và muộn, đứa con gái dấu quyển sách Anh văn kia vào trong. “Nếu đứa con gái sức học đệ nhất hay đang là sinh viên chắc chắn yếu tố này sẽ giết mất cái đẹp kỳ ảo trong toàn thể đứa con gái trưa nay”. Trương nghĩ vậy và chàng chỉ muốn xuống ngay với đứa con gái, đi bất cứ nơi nào trưa nay, trong y nguyên y phục và dáng dấp mà mùi hôi và đăng ten hơi nhà quê và mệt nhừ đường xa… Đừng thay đổi gì hết, dù chiếc áo trắng mà chàng hằng ao ước để thế cho chiếc áo dài hơi cũ kia. Không thay đổi, không thể thay đổi một chút nào cả. Chàng ao ước được nắm tay đứa con gái kia đi suốt đời này. Không nghĩ ngợi gì hơn, không thay đổi gì hơn.
            – Có nên mua thêm vé không?

TRƯƠNG SUÝT bật thành tiếng nói. Bỗng chàng chú ý đến mấy ngón tay của đứa gái vuốt hờ mái tóc. Mấy ngón tay có vẻ hơi thô, không thon như chàng tưởng. Nhưng biết đâu đó là một trong những yếu tố làm cho tăng thêm cái dáng đẹp tuyệt vời của đứa con gái. Chàng muốn giữ cả những ngón tay đó.
            Trương nói thật nhỏ với nhân viên bán vé!
            – Ông cho thêm một cái vé.
            – Đi đến đâu? Sao hồi nãy không mua luôn?
            Ông bán vé cười ranh mãnh nói lại một lần nữa:
            – Đi đến đâu?
            – À, tôi đi, chỗ nào cũng được.
            Đứa con gái làm một dáng điệu rất đẹp: nàng hửng đầu ra phía sau làm tóc lung linh và lòa xòa một chút. Trời ơi, giống… vô cùng. Và một hình bóng thất vọng trong quá khứ tượng hình rõ ràng trong ký ức Trương. Chàng nhắm mắt lại cho hình bóng kia tan đi nhưng nó lại càng hiện rõ hơn. Thôi em nhé, anh xuống ngay nơi trạm sắp đến. Anh xuống ngay nơi đây. Anh phải dừng lại khoảng đường này. Không phải anh bị con ma quá khứ ám ảnh làm anh có những hành động mê cuồng tai hại. Ôi, những hình bóng dĩ vãng – những đứa con gái tuyệt vọng cho đời anh đang bủa vây anh. Nhưng em hiểu vì sao anh tuyệt vọng? Không phải vì lý do anh thất bại đâu. Nhưng chính những đứa con gái đó mới là hiện thân của thất bại của tuyệt vọng cho anh và anh vùng vẫy tấn công để biết rõ mình tuyệt vọng trong cái tuyệt vọng tất hữu, con gái. Và anh nghĩ không thể nào làm đẹp một đứa con gái cả, thật vậy em ạ. Nhưng anh vẫn xao xuyến vô cùng đứng trước dáng dấp đẹp vô cùng của em mà anh đã chết điếng khi còn ở trạm Bà Chiểu. Anh tưởng không thể sống nổi và không nên sống nữa khi gặp những dáng dấp như em. Anh nhìn rõ khuôn mặt em: mũi hơi cao nhưng tất cà thì không có gì đặc biệt. Anh lén nhìn kỹ chân em: đôi guốc hơi quê mùa, những ngón chân thì thấp và hơi ngắn, mấy cái móng chênh lệch, và một ngón cái đã bị hư móng. Nếu chỉ nhìn riêng chân em chẳng hạn, anh sẽ chán nản, nhất định. Nhưng tại sao phải phân tích khôn cùng như vậy. Tại sao lại cứ phải nghe em nói tiếng gì để biết người nam hay bắc? Tại sao phải dò đến nhà em, tại sao phải tìm biết một cách cẩn thận và ngu xuẩn ngọn ngành của em. Anh chợt nhìn thấy nắng bên ngoài đẹp vô biên. Nắng rực sáng tưng bừng. Anh quên đi đây là Saigon với đời sống thúc đẩy, xô bồ chỉ làm anh phát điên. Anh quên đi đây là Saigon, nơi phải mỏi mắt mới tìm được một chút thiên nhiên một chút màu xanh của cây cối, một chút hoa, một chút nước trong của dòng suối một chút hoa một chút cỏ mà anh thèm khát. Từ đó anh bỗng hiểu rằng nơi nào trên mặt đất này cũng có thể đẹp. Đó là hy vọng lớn nhất và cũng là tuyệt vọng lớn nhất của anh khi gặp em, khi gặp các em. Anh cũng hiểu rằng đứa con gái sẽ theo anh suốt đời đó có thể đẹp và thông minh hơn em nhưng cũng có thể thua em nhiều lắm. Anh tin điều anh nghi ngờ lắm. Nhiều lúc Trương nghĩ chỉ cần có một bức thư nào đó, chàng sẽ hiến dâng với cái nghĩa linh thiêng nhất của một đứa con trai từ lâu độc thân và cho rằng chỉ có lối sống như vậy mới lý tưởng, mới mong hưởng thụ bao nhiêu biến ảo… để không đi đến đến đâu hết.
            – Mà cần gì phải “đi đến đâu”!

TRƯƠNG NÓI nhỏ một mình như vậy. Những vì sao xa vắng kia có đi đến đâu không mà vẫn đẹp. Trái đất này có đi đến đâu không mà vẫn quyến rũ Trương. Thôi để anh cứ đi hết khoảng đường em đi. Thế nào cũng qua đại lộ Trần Quốc Toản phải không? Và anh sẽ nhìn em thật kỹ tấm thân băng tuyết lạ lùng của em mà thỉnh thoảng anh vẫn bắt gặp trên đời, hiện thân nơi bao nhiêu đứa con gái khác, đàn bà khác. Rồi anh sẽ nhìn đi nơi khác đi khi ngoảnh mặt lại thì em đã xuống ở một trạm nào rồi. Vâng, để anh đi tiếp cho hết khoảng đường em đi. Nhưng thế cũng có nghĩa là anh đã dừng lại nơi đây, trạm chợ Trương Minh Giảng. Rồi ra anh cũng bỏ cuộc như tên thanh niên kia thôi, nhưng anh bỏ cuộc một cách đau đớn hơn, khốn đốn hơn. Em đã hiểu chứ?


NGUYỄN ĐỨC SƠN
8-7-1965


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #33 vào: 06/05/2017, 08:27:41 »
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3  [tháng 9 năm 1965 |  104 trang]

MỤC LỤC
Nguyễn Du |  Mười lăm năm ấy (thơ) |  2-3
Thành Tôn |  Thư cho mẹ (thơ) |  4
Định Giang |  Những tuổi đời đi qua (thơ) |  5-6
Thi Vũ |  Đường nét \ Tất cả (thơ) |  7
Nhất Hạnh |  Quán tưởng (thơ) |  8-9
Hoài Khanh |  Cây pháo bông của trẻ \ Nhụy (thơ) |  10-11
Trụ Vũ |  Chiếc chuông đồng làng An Thượng |  12-19
Hồ Hữu Tường |  Cao vọng thanh niên |  20-26
Chín |  Ấp Thảo Điền |  27-33
Hoài Khanh |  Trí nhớ hoang vu và khói |  34-43
Tam Ích |  Văn chương kịch tiền phong và chúng ta (tiểu luận) |  44-50
Sơn Nam |  Ngó lên Sở Thượng |  51-58
Phạm Duy |  Tâm ca số 3 (nhạc) |  59-62
Nguyên Ân |  Asoka, một chính trị gia vĩ đại hay là nền hòa bình chính thực cho con người (tiểu luận) |  63-73
Tam Ích |  Ngày lại ngày – Sổ tay văn nghệ (tiểu luận) |  74-78
Nguyễn Phước |  Hoa vông đỏ |  79-83
Nhất Hạnh |  Nẻo về của ý (truyện dài) |  84-98
G.T.Q.M. |  Giới thiệu sách báo mới |  98
T.V. |  Hộp thư tòa soạn |  99-100
Quảng cáo |  101-104


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #34 vào: 06/05/2017, 08:39:47 »


            Mười lăm năm ấy

                        Mình buộc lấy mình
           “Người sao hiếu nghĩa đủ đường?
            Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi?”
            Sư rằng: “Phúc họa đạo Trời
            Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra.
            Có trời mà cũng tại ta
            Tu là cỗi phúc tình là dây oan.
            Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,
            Vô duyên là phận hồng nhan đã đành;
            Lại mang lấy một chữ tình,
            Khư khư mình buộc lấy mình vào trong


                        Kề lưng hùm sói
           “Vậy nên những chốn thong dong
            Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.
            Ma đưa lối quỉ đưa đường
            Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi
            Hết nạn ấy đến nạn kia,
            Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần.
            Trong vòng giáo dựng gươm trần
            Kề lưng hùm sói, gởi thân tôi đòi


                        Oan kia theo mãi
           “Giữa dòng nước đẩy, sóng giồi.
            Trước hàm rồng cá gieo mồi vắng tanh
            Oan kia theo mãi với tình
            Một mình mình biết một mình mình hay.
            Làm cho sống đọa thác đày
            Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!”
            Giác Duyên nghe nói rụng rời
            Một đời nàng nhé! thương ôi còn gì?


                        Thả một bè lau
            Sư rằng: “Song chẳng hề chi
            Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều.
            Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều:
            Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm.
            Lấy tình thâm trả tình thâm
            Bán mình đã động hiếu tâm đến trời!
            Hại một người cứu muôn người
            Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng.
            Thửa công đức ấy ai bằng?
            Túc khiên đã rũ lâng lâng sạch rồi!
            Khi nên trời cũng chiều người
            Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau
            Giác duyên dù nhớ nghĩa nhau
            Tiền đường thả một bè lau rước người.
            Trước sau cho vẹn một lời
            Duyên ta mà cũng phúc Trời chi không!”


                                                (Truyện Thúy Kiều)
                                                NGUYỄN DU


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3


 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #35 vào: 06/05/2017, 08:47:40 »


            Thư cho mẹ

            trên xứ sở xanh xao từng tiếng súng
            trong hồn người dấu đạn đã chia phe
            con ôm ngực từng đêm đau tiếng động
            và từng đêm đường máu muốn lui về

            thân sỏi đá len dần trong vô vọng
            con quay đầu bỡ ngỡ ngắm dung nhan
            cha nhát cuốc tình thương nuôi ý sống
            xanh dần lên hương nội phấn hoa ngàn

            mẹ hiu hắt đèn chong đêm ngóng đợi
            nhà phên thưa gió thấm lạnh câu hò
            núi sông cũng ngậm ngùi theo tay với
            của thằng em đói lả tiếng ru hời

            tôi bất lực như quê hương nhỏ bé
            nhìn người thân dần khuất bóng tre buồn
            nghe nỗi nhớ lớn dần lên dáng mẹ
            hình ảnh cha trong xứ sở xa nguồn

            còn ở đó thân gầy tay yếu đuối
            làn da nhen mái tóc bạc bơ phờ
            thư cho mẹ cùng xóm thôn cát bụi
            nghe hồn buồn hơi lạnh bốc như thơ

            cha nằm xuống giữa quê hương mòn mỏi
            mảnh đất sầu có tiếp thịt xương không?
            mẹ ở lại đớn đau mềm sợi khói
            thắp cho lòng? con cháu? cho non sông?


                                                THÀNH TÔN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #36 vào: 06/05/2017, 08:53:40 »


            Những tuổi đời đi qua

                        10 năm
            Khi nghe được tiếng ru hời
            Quê hương bóng mát ngợp lời mẹ ru
            Ca dao trải rộng xưa từ
            Thuở hồng hoang trước những mù mịt xa
            Bây giờ tiếng mẹ ngân nga
            Lời ru mật ngọt chan hòa tình thương
            Con yêu giấc ngủ hoang đường
            Mẹ ôm mộng mị nỗi buồn đông phương.


                        20 năm
            Lớn lên trong tiếng ru hời
            Vai mang nặng những tuổi đời đi qua
            Dấu chân vụng dại chưa nhòa
            Đã dồn dập những gọi là loạn ly
            Vết thương tuổi nhỏ hằn ghi
            □□ □□ □□ □□ □□ □□ □□ □□


                        30 năm
            Thôi em trận giặc quá dài
            Đêm bom đạn xé sáng hoài trái châu
            Nước mình chiến cuộc quá lâu
            Thép gai mọc kín mái đầu trẻ thơ
            Anh theo chiến cuộc tự giờ
            □□ □□ □□ □□ □□ □□ □□ □□
            □□ □□ □□ □□ □□ □□
            Vẫn ly loạn đó triền miên nửa đời
            Vẫn còn tiếng hát thương ơi
            Bạn bè yên ngủ chân trời lãng quên.


                        và bây giờ
            Xin cho giấc ngủ đời đời
            Để trong mơ sống lại thời mẹ ru
            Những thanh bình cũ có từ
            Lý Trần Lê đã phiêu du trở về.


                                                ĐỊNH GIANG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #37 vào: 06/05/2017, 16:02:51 »


            Đường nét

            Một trái trăng nằm giữ ý bao la.
            Đôi mắt liễu lộ nguyên hình vũ trụ.  Góc
            xếp góc rẽ sang chiều vóc ngọc.  Trời
            bình yên nắng nhẹ ửng thoa môi.
            Nhớ không biết bóng chim nào trải cánh
            trên giường mây để gió chở lên cao.  Không
            khoát động sợ nghìn sao thức mộng.
            Ngày quá dài tay mãi múa làm vui.
            Tâm sẽ đến ôm đem vào giấc nghỉ
            Những góc cạnh cấn đâm hình góc cạnh.
            Những đường cung chứa đủ những
            mình Châu.


                                                THI VŨ




            Tất cả

            Hạt mầm gói kỹ thân cây.  Lòng đất sây
            hương vì hoa chùm cất dấu.
            Trông thấy Chân Như trong lòng là trông thấy
            Muôn Vàn,
            Tất cả


                                                THI VŨ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #38 vào: 06/05/2017, 19:34:30 »


            Quán tưởng

            trăng tròn đêm nay, xin gọi hết muôn sao về cầu nguyện
            và định lực khiến trời rung đất chuyển
            tập trung về nơi điểm sáng của tự tâm
            có muôn loài làm chứng đây.  đau thương đã ngập tràn rồi.  mười
            phương nghe tiếng chuông khuya hãy chắp tay
            quán từ bi
            cho mật ngọt tình thương nơi trái tim ứa thành cam lộ
            giọt nước thanh lương,  trên lòng đau thế gian,  xóa tan sầu khổ
            từ đỉnh tâm linh cao chót vót
            cam lộ chảy về từng mạch
            thấm nhuận đồng xanh,  ruộng mía vườn dâu.
            con rắn hổ mang uống xong giọt sương khuya trên đầu ngọn cỏ
            bỗng cảm thấy tiêu tan nọc độc trên lưỡi mình
            và những mũi tên tẩm thuốc của loài ma nở thành bông hoa khi
            bay đến.
            cam lộ vương như lai!
            cam lộ vương như lai!
            phép màu hiển hiện:
            với hai cánh tay trẻ thơ mũm mĩm em nghiêng đầu thương yêu ôm
            con rắn vào lòng
            lá xanh vườn xưa.  nắng lên trên tuyết trắng
            dòng Tào Khê vẫn hướng về phương Đông
            tịnh thủy trong bình là tịnh thủy trong lòng
            cho súng đạn trần gian khuya nay rơi xuống tan thành cát bụi.
            một bông hoa nở rồi
            hai bông hoa nở rồi
            muôn bông hoa tím vàng lấm tấm trên thảm nhung đồng nội
            và thiên đường hé mở một lần với nụ cười trên đôi môi em thơ.


                                                NHẤT HẠNH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #39 vào: 07/05/2017, 09:58:03 »


            Cây pháo bông của trẻ

            Trong cung bậc của mùa
            Gió dâng từng đợt sóng
            Khi ngày nổi trôi bềnh bồng ốc đảo
            Khi đêm lang thang từng giọt sương huyền
            Long lanh màu máu xưa đất xưa
            Khi sự hèn mọn của đời sống cúi xuống
            Phía dưới vùng tâm thức âm u
            Sẽ bật lên những tiếng than mà tình yêu
            không đủ để hồi sinh.
            Rồi tôi thanh âm này nổ ra từng mảnh vụn
            Thời mà trái đất ngự trị bởi lông lá rong rêu
            Tôi nghe thấy linh hồn mình trường sinh
            Vượt qua những thanh âm tiếng hú
            Của loài dã nhân vong sinh
            Giơ cao hai tay rừng rú mịt mùng
            Và bỏ xuống rã rời đinh ốc
            Tôi sẽ trở về sự lặng thinh của đá
            Khi hồi thanh đó quay hoài hoài chiếc
            pháo bông của trẻ
            Để nghe từng giọt sương từng bãi triều
            Đi mòn ruỗng trong hồn trong máu

            Nghe từng sự tự do quậy quọ như con kòng con dế
            Nghe từng sự phẫn nộ căm hờn
            Vùng vẫy như chiếc đèn dầu trước gió
            Con người vẫn còn đó để đi
            Những chặng đường mà thời đại là một viên bi
            Lăn lông lốc trên ghềnh vực thẳm
            Mỗi người là một viên bi
            Suốt một đời lăn tròn trong niềm viễn lưu
            Của ngày nổi trôi bềnh bồng ốc đảo
            Của đêm lang thang cánh dơi
            Và đời sống mỗi người
            Như chiếc pháo bông đã được đốt lên
            Tình cờ đứa bé nào đó sẽ quay tròn
            Và thơ tôi cũng vậy.


                                                HOÀI KHANH




            Nhụy

            Bắp chân em là chiếc đục bình
            Cho anh cắm cành hoa
            Cành hoa nở phía trên thật đẹp
            Bởi một lần nhụy đã bốc ngạt ngào
            Nồng dịu bầu trời sâu thẫm đen.


                                                HOÀI KHANH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #40 vào: 13/05/2017, 15:44:14 »
TRÍ NHỚ HOANG VU VÀ KHÓI

MỘT ĐÊM KIA từ một tỉnh nhỏ ở miền trung có chuyến tàu hỏa khởi hành vô Nam. Đó là một đêm trăng nhưng bầu trời không sáng tỏ lắm. Dường như sương rất nhiều và bầu trời vì thế nhòa đục trong con gió tự Trường sơn thổi về nghe như một niềm thê thiết. Chuyến tàu thì dài và chạy rất chậm, rất chậm, rất chậm. . . . . . . . . . . Trong toa tàu dường như có một vết thương đang bốc hương ngào ngạt, đang sáng chói, đang chuyển rung theo nhịp ì ầm, rầm rập của những bánh sắt đổ xuống con đường dài hiu hắt đã có tự ngàn năm. Vâng, đó là một vết thương thật sự, bởi vì con ong bầu vẽ đã chích vào má chàng thanh niên vào buổi chiều trước khi chàng bước lên chuyến tàu hỏa để vô Nam. Chàng tên là Vũ. Vũ ngồi đó, rất im lặng. Thỉnh thoảng chàng đưa tay lên rờ nhẹ dưới con mắt trái. Mấy ngón tay chàng nghe một sự mát lạnh khó chịu, đồng lúc có một cái gì cân cấn nhưng nhức dâng lên. Chàng khẽ xuýt xoa và bỏ bàn tay xuống. Tự nhiên chàng cúi đầu thấp xuống. Chàng cảm thấy như tất cả những cặp mắt trong toa tàu đều đổ dồn về nhìn chàng. Chàng nghe thấy ở cổ họng mình như có một cái gì ứ nghẹn. Chàng muốn biến mất ngay. Nhưng thực ra có ai chú ý đến chàng đâu. Chẳng thế mà trong toa tàu đã nổi lên tiếng ngáy ngủ đều đều cùng với tiếng gió rít qua cửa nghe đều đặn, nhịp nhàng, hòa điệu với những bánh xe lăn thỉnh thoảng rú lên khi chuyến tàu từ chỗ rậm kín chạy ra khoảng trống hoặc lướt qua một khúc quanh. Rừng trùng trùng cứ tiếp tục bỏ lại đằng sau. Và vết thương kia như đã thực sự thắp sáng cả toa tàu và thắp sáng cả bầu trời mờ đục ánh trăng sương. Có thể nào một vết thương làm mất cái hình thể đã mang vết thương đó? Thực ra thì Vũ vẫn còn ngồi đó một góc trong toa tàu hạng ba đầy những người. Chàng giương cặp mắt nặng nhọc nhìn ra cửa. Nhưng cuộn khói bay đi trong một đêm trăng mờ mờ như đêm nay cùng với tốc độ của chuyến tàu lướt tới thì thật ra đó không phải là khói nữa. Đó là hình ảnh hư hư thực thực của cuộc đời. Tự nhiên Vũ muốn mình được là khói. Những sợi khói chỉ một đêm nay. Để bay đi. Về đâu? Để tan biến chăng? Để quên hết đời sống của mình trong những tháng ngày đã cũ chăng? Nhưng khói đã bay rồi và Vũ vẫn còn ngồi đó. Một cách co ro. Một cách không làm sao diễn tả được. Nhưng Vũ biết rằng một lát nữa thôi, khói lại từng đợt bay đi. Vũ ơi, sao mi vẫn còn ngồi đó. Ngày mai còn xa lắm phải không nhưng hôm qua những thoáng hiện chập chờn những khắc khoải, âu lo vẫn còn nguyên vẹn, đầy tròn để cho vết thương đêm nay thêm phần cay đắng. Rồi mi sẽ làm gì ở một thành phố lạ với một vết thương? Dù là một vết thương nhẹ. Con ong chỉ chích một cái thôi mà.
            Và cái nỗi im lặng huyền hoặc trong toa tàu mà Vũ đang ôm ấp, đang muốn tan biến đi trong đó, chợt vỡ ra, một cách dịu dàng như mặt hồ chợt xao động, khi có tiếng nói của người. Đó là tiếng nói của một cô gái, thanh thanh, dịu dịu, quen quen và Vũ đã bừng tỉnh. Và vết thương kia cũng tan biến đâu mất.
            – Toa dưới kia bị xét giấy.
            Tự nhiên cả toa tàu đều nhao nhao lên, tiếng cựa mình vươn vai, tiếng ngáp dài của một ông lão và giọng nhừa nhựa khàn khàn.
            – Xét với xung làm chi cho mệt.
            Có tiếng đáp lại:
            – Đừng có ngứa miệng nói bậy mà mang họa!

MẤY CON GÀ bị nhốt trong giỏ nghe tiếng động vùng dậy đạp lẫn nhau kêu oác oác. Một cụ già bật diêm đốt thuốc, lúc đó cô gái bước trờ tới trước mặt Vũ. Hốt nhiên Vũ nghe một tiếng thét lanh lảnh trong cùng tận linh hồn mình. Hay là tiếng còi tàu rú lên khi đến gần một ga xép cùng lúc đó? Thật ra thì que diêm đã bật lên rồi. Đã cháy rồi. Và chỉ một thoáng thôi. Vũ biết rằng mình đã hồi sinh. Nhưng mà vết thương vẫn còn đó, bởi vì bàn tay Vũ lại rờ lên phía dưới mắt trái. Không hiểu tại sao. Trong lúc chới với tâm thần định hỏi lại mình chăng, hay là để vuốt ve cho qua nốt một đêm trên một chuyến tàu rất dài chạy rất chậm, rất chậm, rất chậm… Bầu trời vẫn ánh trăng mờ huyền hoặc giải lên khối rừng đen sì như lùi lại đằng sau. Thỉnh thoảng cơn gió ùa vào toa tàu nghe lạnh mát cả người. Vũ thấy cái đóm thuốc của ông lão ngồi đối diện như một vì sao càng lúc càng sáng lóe lên như một chiếc vung lớn dần phủ xuống cả chuyến tàu, cả khoảng núi rừng trùng điệp và cả những ý nghĩ chập chờn, leo lét của Vũ.
            Sau cùng, không hiểu sao Vũ lại dám nói với cô gái:
            – Cô cứ ngồi vào góc kia đi. Có bác đây bảo lãnh dùm cho không sao đâu. Tôi cũng nhờ bác đó. Tôi cũng… vậy mà…

VŨ ĐỊNH nói rõ nhưng thấy không tiện đành thôi. Thật ra thì Vũ nhờ người soát vé bảo lãnh thật. Đó là bác Tư mà người bạn của Vũ mới giới thiệu vài giờ trước khi lên tàu. Khi lên tàu Vũ định nói chuyện với bác Tư nhiều hơn để tìm hiểu và cũng để cho quen biết nhau hơn nhưng… thôi mà nhắc làm chi. Con ong chỉ chích một cái thôi mà. Vậy là giữa hai người như một kẻ lạ. Hơn nữa, bác Tư lại có một cô con gái cùng đi với bác. Và điều đó đã làm Vũ đau đớn còn hơn nơi chỗ sưng lên. Thật ra có phải Vũ e thẹn vì sự có mặt của cô gái con bác Tư đâu. Phải nói rằng Vũ cảm thấy nhục nhã mới đúng hơn. Nhưng rồi tiếng nói đã vọng lên và que diêm đã bật cháy rồi. Vũ đâu còn miên man nghĩ đến ai nữa. Que diêm đã bật cháy rồi. Thôi. Cứ ngồi đây. Như câm. Như không hề thấy. Như đã là những sợi khói bay đi trong sương khuya huyền hoặc. Em cũng trở về thành phố sao. Chắc em không thể nào nhận ra anh. Thôi em cứ ngồi vào góc đó đi. Cứ ngồi xuống đi em. Ta gặp nhau như thế này là quá đã. Cần gì em phải biết có anh ở trên một chuyến tàu chạy rất chậm, rất chậm, rất chậm, như thế này. Que diêm đã bật cháy rồi. Cũng như que diêm anh đã hồi sinh. Nhưng cũng như que diêm, anh chỉ hồi sinh được trong khoảnh khắc thôi. Như mắt em khẽ chớp một hôm nào trong rừng tranh xào xạc nắng ngây trưa. Hãy ngồi xuống đi em. Cho anh được ngắm nhìn lại quá khứ của mình dù quá khứ rất mỏng manh. Nhưng vẫn là quá khứ với những năm tháng thấy dài hơn sự sống. Thấy điếng lặng hồn chiều thao thiết nhớ quê hương. Nhớ thành phố, con sông anh đã lớn lên với bao nỗi vui buồn. Nhưng khi bước chân về thành phố quê hương, anh lại phải ra đi. Để đến một thành phố xa lạ khác. Để làm gì. Không hiểu được. Để sống ở đó và tâm hồn luôn vọng về một nẻo nào xa vắng: Quê hương. Và em nữa chớ. Phải không Liêu. Làm sao anh không nhớ Liêu cho được. Bởi vì trong một giây phút thiêng liêng nào đó ta trót gặp nhau, nhìn nhau, thì khoảng không-thời-gian đó sẽ mãi dừng lại muôn đời trong bốn con mắt, trong hai trái tim và trong nỗi thao thức không cùng của con sông đi những bãi triều mòn mỏi suốt thiên thu. Em hãy ngồi xuống đó đi Liêu. Ngồi xuống đi em và hãy lắng nghe trái tim mình đập như tự thuở nào. Nhưng làm sao em biết anh có mặt ở trên chuyến tàu này. Nó dài lắm phải không. Và chạy rất chậm. Nhưng làm sao anh dám nói với em là chính anh đang ngồi trước mặt em. Đang nói với em. Có lẽ vì anh đã mang một vết thương rồi. Liêu ơi, ai sinh ra đời mà lại không mang một vết thương. Anh hèn nhát quá phải không. Anh ích kỷ quá phải không. Tất cả những gì xấu xa anh xin nhận lãnh. Nếu sau này linh hồn em sẽ bừng hiện mà nói cùng em rằng đêm hôm đó… trên chuyến tàu vô Nam đó, chính là anh. Anh đang ngồi cùng em trên một chuyến tàu để cùng xa cách quê hương. Nhưng thực ra chính vì muốn gìn giữ một cái gì… mà anh đành câm lặng. Ai sinh ra đời mà không mang một vết thương. Anh có sợ gì vết thương đâu. Chỉ sợ linh hồn em đau xót. Thế thôi. Chắc gì sau này ta sẽ gặp nhau. Nhưng thôi. Liêu ơi. Để anh cố quên
            – Không sao đâu em, có qua đây, cứ ngồi xuống băng đi.

BÁC TƯ nói, “Có quen với cậu đó hả” bác Tư chỉ đến Vũ. Cô gái ngồi nhìn sững sờ không biết đầu đuôi ra sao và có vẻ e thẹn.
            Vũ vội nói, không quên đưa bàn tay xòe phủ lên phái má trái:
            – Chắc cô ấy cũng ở trong tình cảnh như cháu, bác làm ơn giúp cho cô ta.
            Bác Tư là người kiểm soát vé xe, nhân dịp nghỉ phép về thăm bà con. Bạn Vũ là cháu của bác liền giới thiệu nhờ bác đưa Vũ vào một tỉnh ở miền Nam nơi đó Vũ có người bà con. Bởi Vũ mới tản cư về thiếu giấy tờ hợp pháp ở dưới này. Cũng may mà Vũ gặp bác Tư. Bác thật là tốt và hiền lành. Dù tuổi già bác vẫn còn có một nụ cười thật tươi và phúc hậu nữa là khác.
            Cô gái không hiểu sao Vũ lại ra tay giúp cô ta làm chi vậy. Có mục đích gì chăng? Khi ngồi xuống một góc rồi cô ta mới định thần nhìn kỹ vào Vũ và bác Tư. Cả hai đều xa lạ. Bỗng dưng lại đòi cứu giúp cô. Thật là lạ. Cô đang phân vân tự hỏi thì viên kiểm soát đến. Y rọi ngọn đèn pin từ góc này đến góc kia, hỏi giấy người này người nọ.
            Bác Tư liền chỉ vào Vũ và cô gái, nói:
            – Ông anh ơi, đây là hai đứa cháu của tôi. Tản cư mới về. Tôi đưa về trỏng xin giấy tờ.
            Khi ngọn đèn pin của viên kiểm soát qua khắp toa tàu một lần nữa và bóng y khuất sau cánh cửa mở ở toa sau, cô gái bỗng có một cảm giác bàng hoàng, e thẹn và nỗi tủi hổ xót xa như chận đứng ở ngực nàng. Trước mặt nàng chàng thành niên kia – Vũ – như là một điều gì không sao hiểu được. Nàng tự hỏi đó là một người tàn tật chăng? Khuôn mặt không có vẻ gì bình thường như mọi người. Nơi má trái dưới con mắt sưng lên no tròn bóng lưỡng, con mắt bị híp lại như mắt heo nhắm lại nhưng lại phồng lên. Cái mặt như thế thoạt trông vừa thấy dễ sợ vừa thấy lấy làm lạ không hiểu tại sao. Bởi vì nếu bị thương sao không thấy băng bó gì cả mà cũng không có một tí thuốc đỏ nào cả. Còn tàn tật chăng? Cô gái chưa bao giờ thấy một người nào bị tật lạ kỳ như vậy. Thế mà đã là vị ân nhân của nàng. Vài phút sau khi viên kiểm soát đi qua, cô gái quay mình lại nhìn ra ngoài khung cửa. Cùng lúc con tàu chạy chậm lại và một hồi còi lanh lảnh thét lên giữa đêm khuya. Ánh trăng vẫn mờ nhạt càng huyền ảo hơn khi cô gái nhìn thấy những sợi khói bay dọc theo toa tàu. Và một điều mà cô gái cảm thấy mạnh hơn hết trong lúc này là chuyến tàu chạy quá chậm. Nàng muốn lúc này nó đến ngay nơi nàng định xuống. Nàng muốn làm một người vong ân, không biết đến ai và chạy đi mất. Thế là xong. Khỏi cần ái ngại vẩn vơ gì cả. Bây giờ chàng thanh niên đã đi đến ngồi một góc khác sau khi thương lượng với một người đã ngồi ở đó. Như vậy chàng ngồi ở một góc lệch với nàng. Và như thế nàng không sao nhìn thấy khuôn mặt kỳ dị của chàng thanh niên đó nữa. Nàng tự hỏi: “Có phải y lẩn trốn mình không?” “Như thế càng đỡ cho mình”. Bởi vì nhìn vào cái mặt đó không ai mà không tự hỏi điều này lẽ nọ cho được. “Nhất là y lại đã giúp mình. Thời buổi này có được một người giúp mình đâu phải là một chuyện thông thường. Thôi. Cũng xong. Cứ ngủ một giấc cho khỏe”.

THAY ĐỔI chỗ rồi, tâm hồn Vũ mới cảm thấy lắng xuống để nghĩ đến một cái gì hiện không có ở đây và cũng không làm sao có thể có được ở đây. Nhưng nó đã có trong ý nghĩ đuổi bắt, hồi tưởng của chàng ngay trên toa tàu hạng ba đông đảo này. Bởi vì ngay tại nơi đây vết thương chàng bừng lên qua sự thôi thúc của một vết thương sâu hơn, kín đáo hơn. Vết thương ấy đã kết thành từ ngày chàng còn lạc lõng bơ vơ ở vùng từng núi miền Trung nước Việt thân yêu. Những đồi tranh. Những rú cát. Những tháng ngày chờ đợi… tưởng không bao giờ nguôi ấy cũng chỉ để vọng về một nẻo không gian quen thuộc: Quê hương. Và quê hương ơi, trong lòng chàng cũng đã trở thành là một vết thương sâu thêm, kín thêm và còn mãi như quê hương đã mang trong nỗi buồn gục ngã của bao mái đầu xanh. Tự nhiên Vũ nhớ đến Alan Paton, một nhà văn Nam Phi, gốc người Anh nhưng lại đứng vào hàng ngũ những người Nam Phi da đen chống lại nạn kỳ thị chủng tộc. “Hãy khóc đi hỡi quê hương thân yêu” đó là nhan đề một cuốn tiểu thuyết lớn của Alan Paton mà Vũ, cũng như Alan Paton, muốn gào thét lên cho nhân gian biết rằng “Quê hương đang khóc than đó” các người con của quê hương sẽ làm gì? “Hãy khóc đi hỡi quê hương thân yêu” Hãy khóc đi Liêu. Hãy khóc đi Vũ. Vì ít lâu nữa chuyến tàu sẽ đến nơi chúng ta muốn. Và anh sẽ bước đi. Em sẽ bước đi. Trên mặt đất bơ phờ, xa lạ. Trần gian muôn đời vẫn là trần gian chung. Nhưng Liêu ơi, em muôn đời vẫn là của riêng anh. Dù một lát nữa thôi. Anh sẽ bước đi. Em sẽ bước đi. Trên một thành phố xa lạ. Dáng điệu bơ phờ, mỏi mệt. “Hãy khóc đi hỡi quê hương thân yêu”.

GIỮA VÙNG rừng núi miền Trung, một buổi trưa nắng chàng thanh niên lầm lũi bước đi. Nắng trưa gay gắt xuyên qua kẽ lá rừng cây phản chiếu lại những giọt sương long lanh trên cành lá khiến khu rừng như một biển kim cương chấp chới, chấp chới. Con đường mòn cát lún xuống dưới bước chân nặng nề cơ hồ như rời rã của chàng. Bởi vì chàng đã bách bộ từ sớm tinh sương cho đến giờ. Một công tác khẩn cấp mà chàng phải thi hành. Và chàng đã đến khu rừng này vào một buổi trưa. Nắng tuy chói chang nhưng nhờ cây rừng rậm rạp hai bên nên không nóng bức mấy. Thỉnh thoảng đồi tranh nghiêng ngả như những dợn sóng nhấp nhô và một làn gió thật mát rượi thật khỏe khoắn thổi đến người chàng. Phấn khởi chàng hát lên và khu rừng đã hoang vắng như lại càng đứng lặng bất động chỉ còn tiếng hát vui tươi của chàng vọng lên như để cùng hòa điệu với tiếng chim ríu rít vang lừng.
            Qua khỏi khúc quanh khu rừng rậm lá đến một đồi tranh với rừng chồi bát ngát chạy thẳng về chân núi Tà Lung phía phải. Trước mặt chàng con đường cát đỏ thẳng tắp hiện ra với ánh nắng chói chang như vừa thoát được sự kìm hãm của cây rừng nắng sáng hồng lên với con đường đỏ, với rừng tranh vàng úa, với cơn gió hiu hiu như từ một cõi nào xưa cũ lắm thổi về đây. Hốt nhiên chàng đứng khựng lại. Đối diện với chàng ở cuối đường bỗng sừng sững hiện lên hình bóng một người con gái. Nàng chỉ mặc bộ đồ bà ba đen. Thật giản dị. Nhưng hai con mắt. Hai con mắt diệu vợi và sâu trầm. Và đôi má như hồng lên với mầu cát đỏ dưới chân thon với mầu vàng úa của rừng tranh già cỗi và nhất là với mầu nắng gió như của một cõi nào xưa cũ lắm thổi về đây. Nàng thật mảnh mai. Vậy mà một mình giữa khu rừng hoang vắng. Nàng mang một chiếc xắc. Vậy thì thêm một hình ảnh đẹp nữa. Nàng đi khâu vá vết thương cho những kẻ “nguyền đi khâu vá cơ hàn mai sau”. Như thế làm sao một kẻ mới tập tễnh làm thơ như Vũ không thấy cõi lòng bôn chôn cho được. Chàng đứng lại một lát lâu. Hai bàn chân như mỗi lúc lún sâu dưới cát mềm. Nàng cũng đứng lại một lúc nhìn chàng, bàn tay phải vịn vào chiếc xắc ngang hông, bàn tay trái đưa lên gạt nhẹ mái tóc dài bay tung ra trước, bởi một cơn gió mạnh từ sau lưng nàng thình lình thổi đến. Nàng thật là mảnh mai.

THẾ LÀ Vũ đành phải quay trở lại. Thế là Vũ đã thua. Nhưng thua một người con gái còn nghìn lần hơn thua kẻ thù dân tộc có phải không. Vũ cứ bước đi. Nàng cứ bước đi. Thỉnh thoảng mái tóc dài tới thắt lưng của nàng vụt tung lên như đàn chim sẻ bị tiếng động vụt bay tung lên. Lủi thủi theo người con gái được một đoạn đường khá xa thì Vũ bỗng sực nhớ đến phận sự mình. Cũng đến hơn hai cây số là ít. Đến trước đoạn rừng sâu tối hơn quẹo về phía trái, cô gái bèn đứng lại và quay hẳn người lại. Nàng đứng đó. Như một bức tượng uy nghi. Bốn con mắt có dịp phản kích lẫn nhau. Vũ cũng đứng lại và gương cặp mắt không chớp. Có lẽ đó là lần thứ nhứt trong đời chàng thấy mình quá can đảm như vậy. Từ bao giờ đối với những người con gái, chàng chỉ “lẽo đẽo” theo sau và khi bắt gặp người ta ngoảnh lại thì hối hả quay đi y như một kẻ trộm tẽn tò bị bắt giữa đám đông. Có gì lạ lắm đâu. Bởi vì người con gái đẹp quá. Và cái không khí “ngày trưa” của rừng tranh bát ngát đã làm tăng thêm sự can đảm cho Vũ không ít. Thật ra thì trong tâm hồn của Vũ lúc đó như đã say. Đã chín mùi đến cái độ phải rụng xuống. Nghĩa là cứ lẽo đẽo theo sau người con gái mà không biết tại vì sao. Nhưng rồi cơn say cũng phải tỉnh. Và Vũ đành đứng lại khi bóng người con gái khuất dần vào khu rừng sâu tối. Nàng đã nhìn Vũ thật lâu. Bốn con mắt. Đó là một điều kỳ bí.

PHẢI ĐI trở lại đoạn đường vắng vẻ khá xa lần thứ hai với một tâm trạng nôn nao, mất mát, tiếc nhớ, khiến bước chân chàng như sâu lún dưới cát mềm. Đến phút này chàng mới cảm thấy ở cổ mình như bị nóng bỏng. Nhưng đến đoạn đường mà người con gái bỗng hiện diện, chàng không quên nhìn xuống dưới đường để tìm kiếm dấu chân nàng. Sau này, hồi tưởng lại chàng đã có dịp viết một bài thơ về dấu chân trên cát đó. Bây giờ thì chàng không nhớ gì. Nhưng lúc chàng viết, đó là một bài thơ có vần điệu đàng hoàng. Đại ý diễn tả nỗi tiếc nhớ, mất mát về cái hình ảnh bàn chân in trên cát sẽ bị chôn vùi trong quên lãng của thời gian. Nhưng không làm sao quên được, bởi vì một lần những bàn chân thật sự bằng máu xương hồi hộp, rung chuyển đã dẫm lên đó. Đoạn kết bài thơ còn nói đến một hình ảnh bi đát của cuộc đời. Đó là một bàn chân của một người con gái tuyệt đẹp dẫm lên cát lẫn lộn với những dấu chân cọp giữa khu rừng hoang vắng được nổi tiếng là nơi nhiều cọp hơn hết ở vùng đó. Bây giờ và cả lúc viết bài thơ đó, Vũ cũng không làm sao diễn tả được cái tâm trạng của mình khi thấy bàn chân cọp năm móng sắc bén in bên cạnh bàn chân năm ngón thon muốt dịu dàng và cái gót chân hẹp lại ở phía sau một cách tròn trịa. Một cách không gì quên được. Nhưng mà hiện giờ thì bài thơ đó Vũ đã quên. Chàng chỉ còn mang máng nhớ lại hình ảnh hoang vu của khu rừng vắng vẻ và những dấu chân. Và bốn con mắt. Đó là một điều kỳ bí…

VÀ CHUYẾN TÀU rất dài qua đêm trăng mờ huyền hoặc đêm nay cứ chạy mãi không ngừng. Nhưng chạy với một tốc độ – mà theo Vũ – thì rất chậm, rất chậm, rất chậm, rất chậm…

            Anh Vũ.
            Tự kềm chế lòng mình mãi nhưng rồi sau cùng em cũng phải viết cho anh bức thư này. Thật ra thì đối với anh, em chỉ là một kẻ lạ, chỉ gặp nhau một lần có gì mà phải thư với từ cho nó mệt ra. Trong khi chúng ta còn phải làm một cái gì cho quê hương đang ngút ngàn lửa khói. Và giặc Pháp vẫn còn trên xứ sở thân yêu của chúng ta có phải không anh?
            Nhưng em phải nói rằng em đã có dịp biết anh và nghe nói đến anh nhiều lắm. Chắc anh làm gì nhớ đến em khoảng thời gian gặp gỡ giữa rừng tranh. Để em sẽ nhắc cho anh rõ.
            Anh còn nhớ cái đêm mà mấy người bạn đưa anh vào nhà má Tám ở Tà Dương không? Đêm đó em đã nghe thấy cái hơi nóng ấm áp của thân thể anh. Đó là lần đầu tiên trong đời em. Bây giờ anh nhớ ra rồi chứ? Anh bị bịnh thông manh nên về đêm cặp mắt không trông thấy được gì. Đêm đó kẻ thù bỗng làm cho chúng ta gần nhau hơn. Đôi khi kẻ thù cũng có ích chứ anh nhỉ. Đại bác ở đồn Ma Lâm bắn lên vùng chúng ta trú ngụ. Và dù muốn dù không em phải dắt anh chạy ra hầm trú ẩn. Lúc đó mà anh cũng e thẹn nữa chứ. Rõ là thi nhân có khác. Em phải giục anh, anh mới nắm chặt tay em và hai đứa mình chun xuống hầm trú ẩn trong khi đại bác nổ vang rền ở xung quanh. Thật ra, lúc đó, trong lòng em cũng đã nổ tung. Chỉ cần… Nhưng sợ anh hiểu lầm. Sao anh điềm tĩnh, dửng dưng thế nhỉ. Vậy mà anh lại làm thơ. Cũng lạ. Nhưng em không trách gì anh, bởi vì em cũng nghĩ đến cặp mắt mở to mà bóng tối vẫn là bóng tối, đó là một điều mà chính em cũng không sao chịu nổi. Chỉ thiếu sinh tố thôi mà. Đôi khi những điều vụn vặt như thế cũng làm cho đời sống đau khổ nhiều hơn. Và quê hương nữa. Sao những bài thơ của anh thường nói đến hai chữ Quê Hương thế nhỉ. Quê hương bây giờ đã bốc khói. Và chúng ta sống ở đây, nơi cuối bãi đầu ghềnh để từng đêm nghe trong cơn gió hắt hiu tự chốn nào thổi về vi vút bên tai như nhắc nhở cái tên quen thuộc: Quê hương! Quê hương!
            Anh Vũ ơi.
            Thế là từ đây anh đã biết em rồi đó. Nhưng từ đây anh cũng sẽ mất em trong cái xung động bốn bên của xóm làng lửa khói. Anh hãy quên em đi. Nếu cần, anh sẽ nhớ đến em qua hình ảnh “rừng tranh khởi nắng ngày trưa”, vậy là quá đủ rồi. Được thư này chắc anh không thể nào gặp em nữa. Giữa những cuộc riêng, chung rời rã, đôi khi người ta cũng phải biết mỉm môi lại để quên đi những nỗi niềm riêng… Phần em, suốt đời em sẽ nhớ mãi cái buổi trưa hôm đó. Em sẽ mang theo làm vốn liếng…
            Thư đã quá dài phải không anh. Nhưng anh hãy đọc lại đi nha. Nếu cần thì đọc mãi suốt một đời mình. Nếu cần thì quên phứt đi. Riêng em thì vẫn là em. Nghĩa là chỉ thực sự làm thân con gái vào một buổi trưa. Ôi một buổi trưa hiu hắt và nghìn trùng đến thế.
            Thôi xin tạm biệt (hay vĩnh biệt) cùng anh.
                                                Lê Thị Hằng Liêu


o0o

GIỮA NHỮNG tiếng ồn ào rầm rập của những bánh xe lăn, Vũ vẫn cảm thấy bức thư của Liêu thành ra một tiếng động lớn hơn và dần phủ xuống thân thể chàng. Chàng thu hình lại, như cố che dấu cái khuôn mặt của mình. Nhưng người con gái bây giờ đã khuất lấp, bởi cách một góc chéo giữa toa tàu đầy ắp những người, hành lý, gà vịt, cá mắm.
            Chàng đưa tay lên sờ vào phía dưới mắt trái. Chàng không còn có cảm giác gì nữa. Tất cả chỉ còn lại một sự tê nhức. Tất cả chỉ còn lại một chuyến tàu chạy rất chậm, rất chậm, rất chậm. . . . . . Vũ lầm thầm: “Nếu cần thì sẽ đọc mãi suốt một đời mình”. Vâng, anh sẽ đọc mãi mãi bức thư suốt một đời mình.
            Trong cái tâm trạng mệt mỏi, tê nhức và sần sượng cùng khắp thân thể, phút giây đó Vũ muốn mình biến thành những sợi khói. “Vâng, những sợi khói chỉ một đêm nay”.


HOÀI KHANH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #41 vào: 20/05/2017, 16:24:25 »
VĂN CHƯƠNG KỊCH TIỀN PHONG VÀ CHÚNG TA

NHỮNG VẤN ĐỀ văn nghệ âu mỹ thì nhiều lắm, nhưng vào giữa thế kỷ hai mươi có hai vấn đề lớn trong một số vấn đề lớn khác: là vấn đề văn chương kịch tiền phong (littérature dramatique d’avant-garde) và vấn đề tiểu thuyết mới (nouveau roman). Tôi xin nói hai vấn đề trên trước: nói nó là một vấn đề cũng được mà nói nó là một hiện tượng văn nghệ cũng được: nó đương trưởng thành ở Âu Mỹ.
            Nó phát sinh vất vả lắm. Nhưng tới lúc trưởng thành thì nó lại chóng… lớn: nó lớn vùn vụt, lớn ngang tầm nhận định và tầm thông minh của người âu mỹ, nhưng tốc lực trưởng thành của nó lại đi quá tầm thông minh và hiểu biết của người Việt Nam – nói trí thức giới Việt Nam thì đúng hơn. Nói vậy bởi vì thế nào thì nó cũng… qua đây, cũng như ngày xưa những chủ nghĩa lãng mạn, tả chân… đã qua với ông bà chúng ta với chính chúng ta vậy: hiện thời “hành trình” của nó qua Việt Nam đương dè dặt – có thể nói là chưa có hình bóng nó thì đúng hơn – nhưng ở Đông Kinh bên Nhật Bổn chẳng hạn thì nó đã nghênh ngang và có vị trí rồi.
            Lãnh tụ văn nghệ của phong trào văn nghệ kịch tiền phong ở Pháp là các kịch gia Ionesco, Adamov, Beckett, vân vân. Những vở kịch điển hình của nó là: En attendant Godot của Samuel Beckett, La cantatrice chauve, Les chaises, vân vân của Eugène Ionesco vân vân. Cũng nên thêm La balcon chẳng hạn của Jean Genêt là một kịch gia thi gia văn gia được Jean Paul Sartre thương lắm, quí lắm… Cách đây chừng năm mười năm, khi Beckett và Ionesco… viết xong kịch của họ và đưa cho các nhà sản xuất và các chủ rạp dựng… thì chúng khẩu đồng từ, đủ một trăm phần trăm các chủ rạp và sản xuất gia… từ chối – không những từ chối, lại còn xuống “sắc lệnh” rằng những kịch gia ấy, hoặc họ điên, hoặc họ đùa… dai, hoặc họ chọn sai lúc để mà ỡm ờ – có người lại cho rằng kịch gia mà ỡm ờ với chủ rạp như vậy thì nên liệng bình mực vào mặt họ… và nhốt họ lại ít lâu cho tâm trí họ lấy lại thăng bằng…

NHƯNG IONESCO và Beckett… là những văn thi sĩ rất cứng cổ – cứng cổ với chính mình và với người – và rất lỳ. Vừa lỳ, vừa kiên tâm: như Beckett chẳng hạn thì có đủ mười hai giờ trên mười hai giờ của một ngày có mặt trời để mà ngồi lỳ… lỳ, đăm đăm nhìn trước mặt mình… nhất định không nói nửa tiếng với bạn bên cạnh mình, kể cả là tri kỷ tri âm. Họ đủ can đảm ngồi như vậy – lỳ lợm, phóng biếm (cynique), kiên tâm, khinh người – người á đông xưa của chúng ta thì gọi là khinh thế ngạo vật… Nhưng đến cách đây vài năm… bỗng nhiên những vở kịch En attendant Godot, Les chaises, La cantatrice chauve, Rhinocéros… lại diễn khắp Âu châu, Mỹ châu – diễn liên tiếp và thường trực hằng sáu tháng, chín tháng, một năm, hai ba năm…

IONESCO, BECKETT, GENÊT… bỗng nổi tiếng như cồn. Kịch phẩm in ra bán rất chạy – còn kịch thì dựng và diễn rất lâu thì đó là lẽ dĩ nhiên rồi! Tác giả từ chỗ nghèo… đói trở nên giàu có – giàu có nhưng tiền thì mặc kệ tiền, nếp sống vật chất thì vẫn lôi thôi như xưa, như khi chưa nên danh vọng vậy. Rạp hát đông nghịt. Khán giả như nước áo quần như nêm…

ĐẦU ĐUÔI như vậy.
            Vậy chứ bên Âu Mỹ, sao lại có chuyện lạ như vậy? Lạ ở chỗ đám viết kịch không ai đọc, trừ tác giả. Lạ ở chỗ tác giả cứng đầu và cứng cổ… Lạ ở chỗ bỗng nhiên gió ngược chiều thổi lại… Văn nghệ từ chỗ đương là quái thai trở nên mang tính chất rất “nhân văn” (humaniste) – các nhà phê bình kịch đi từ một thái cực đến một thái cực: nghĩa là từ chỗ “liệng bốn sự thật”… vào mặt tác giả đến chỗ trầm trồ tác giả – cách nhau mấy năm.

NHƯNG CÒN khán giả? Đây mới là trường hợp chính yếu: từ chỗ rạp hát vắng như bãi tha ma đến chỗ rạp hát đông như kiến, đông như nêm cối, là vấn đề… số khán giả đi xem kịch… Họ không tới thì phong trào văn nghệ tiền phong là phong trào chết ngay trong trứng – mà họ tới đông thì phong trào lên – và được gọi là tiền phong (avant-garda) – xin nói lại họ là khán giả, họ quan trọng – họ nắm quyền sinh sát văn nghệ.
            Vậy chứ tâm lý họ là tâm lý gì và tại sao lại có chuyện biến chuyển tâm lý lạ như vậy – đột ngột đến cỡ ấy?

THÌ RA khí hậu xã hội (climat social) đã đóng một vai chính trong vấn đề biến chuyển tâm lý ấy. Hai cuộc chiến tranh và viễn ảnh một cuộc tự sát đã làm họ không tin tưởng ở giá trị của thứ tự có sẵn – ordre établi – dù là thứ tự văn hóa. Họ tìm cái mới để tìm những giây phút lạ cho tâm hồn – lối thoát của vài giờ cũng vẫn là lối thoát. Đồng thời tiềm thức của họ cũng phản ứng lại những giá trị văn nghệ (valeurs artistique) truyền thống đã không làm đủ vai trò xã hội và lịch sử (mission sociale et historique) của văn nghệ. Tiềm thức họ nói với họ: tưởng đâu nghệ thuật truyền thống và cổ điển đã tham dự vào việc xây dựng một xã hội có công lý và thái bình, nào có ai dè: ai cũng như ai, gì cũng như gì… tiềm thức nói kín đáo và nói nhỏ cho nên chủ quan không nghe hết lời “tâm sự” của tiềm thức. Một sớm, thói quen văn nghệ tiền phong thành một phong trào và đóng vai trò của nó: lôi cuốn. Thời trang (mode) và sự “a dua” (snobisme) can thiệp vào nữa… Đã vậy, sự khủng hoảng về tâm hồn, sự xao xuyến (angoisse metaphysique) nấp trong chỗ sâu xa nhất của tâm hồn lại được những vở kịch tiền phong giải quyết cho một phần lớn.
            Và đồng thời, một trong những phương diện tâm lý chủ quan cũng đã góp phần cho kịch tiền phong phi lýbí hiểm ấy nẩy nở vùn vụt một cách dễ dàng. Những dân tộc Âu Mỹ là những dân tộc thừa thãi về… dân chủ, về văn minh…: họ có dư không – thời gian – nếu có thể nói vậy – và có dư cả tiềm lực nhân sinh – tiềm lực chìm cũng như tiềm lực nổi – để hưởng thụ, để thưởng ngoạn về nghệ thuật… Con người dư dật và thừa thãi… thường là con người sắm đồ trang sức và xa xỉ phẩm: Françoise Sagan hay Ionesco… hay những bức tranh lập thể và phi hình dung (non-figuratif), đối với họ có thể là những món đồ xa xỉ phẩm về văn nghệ: một cuốn Bonjour tristesse hay một vở kịch đầu voi đuôi chuột Les chaises của Ionesco chẳng hạn lấp cho họ những chỗ trống trong tâm hồn những kẻ dư ăn dư mặc ăn không ngồi rồi… Cũng nên hiểu là sự phong phú tràn trề, sự phè phỡn, sự giàu sang quá giới hạn… cũng gây khủng hoảng cho tâm hồn. (Tâm lý nầy hiện đương diễn ra ở Âu Mỹ trong giới trí thức.) Ấy là chưa nói rằng đứng trên bình diện xã hội (sociologique) người Âu châu chẳng hạn có thể coi như là đã thuộc về những dân tộc đi gần hết giai đoạn trưởng thành biện chứng của Lịch sử toàn diện một quốc gia – giai đoạn mà Hegel gọi là một moment nécessaire du processus và cũng đã “mang” đủ cái mà chính Hegel cũng gọi là Esprit historique – chờ ngày tận hiện sắp tới của một quá trình biện chứng, để qua một quá trình khác. Một trong những đặc tính của các giai đoạn ấy là sự trưởng thành, già lão, sự thừa thãi… triệu chứng của một sự đe dọa… nào đó sắp tới. Những dân tộc ấy, trong sự diễn tiến lịch sử, cần “ngoại hiện” những sự đòi hỏi, những nhu cầu kín đáo hay là bộc lộ. Tất cả những phát hiện của nghệ thuật phi lý có thể chỉ là sự thỏa mãn những đòi hỏi ấy…
            Ai công kích Hegel thì cứ công kích, tôi thấy Hegel vẫn là một uy tín lớn về trí thức của lịch sử…

TRÁI LẠI, người Á đông là người còn thiếu… nhiều: thiếu những đòi hỏi căn bản về dân chủ trên phương diện chính trị – tôi trừ Trung cộng và Nhật Bản và hai trường hợp riêng – thiếu máy lạnh, thiếu máy vô tuyến truyền hình… thiếu những máy nguyên tử… thiếu nhiều lắm: họ vội vàng hấp tấp lo lấp những chỗ trống… họ lo tìm cho đời họ, cho dân tộc họ, cho cá nhân họ… cái mà người ta có thừa thãi, cái mà chính họ chưa có – công đâu, hơi đâu, thì giờ đâu, mà… sắm xa xỉ phẩm, hưởng thụ xa xỉ phẩm, thưởng ngoạn những đồ trang sức… trừ những kẻ đã giàu có trên lưng dân tộc rồi! Ionesco, Jean Genêt v.v… mà có qua được đến đây cũng khó có đất đứng – ấy là chưa nói rằng người Á Phi chưa có một tâm lý “dư dật” để phù hợp với sự thưởng ngoạn nghệ phẩm phi lý… thì nghệ phẩm phi lý không thể có đất để trưởng thành…

Ở VIỆT NAM “gió” tiền phong ấy chưa “thổi” tới: thoại kịch thông thường ở đây mà còn chưa phát sinh được – huống là thoại kịch tiền phong!! Thật ra, kẻ viết bài Hồ sơ văn nghệ này đã đọc nhiều kịch tiền phong, tin tưởng rằng giá có “truyền nhiễm” được… đến đây, chúng cũng sẽ có số phận của một cái thai chưa thành hình đã… chết. Vì…
            Vì không có gì cụ thể và chứng minh bằng diễn ra đây vài đoạn đối thoại của kịch tiền phong, độc giả sẽ tự tìm lấy câu trả lời của băn khoăn vậy.

            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            Ông Martin Bánh là một cái cây to trong khi mà bánh là một cây to, và một cây sên sẽ phát sinh từ một cây sên, sáng nào cũng vậy, vào buổi bình minh…
            Bà Smith Chú tôi sống ở nhà quê nhưng cái đó nào có ăn nhập gì đến bà mụ.
            Ông Martin Giấy để mà viết, còn con mèo là để bắt chuột cống. Miếng phó mát là để cào…
            Bà Smith Xe hơi đi lanh lắm, nhưng con sen nó nấu ăn ngon hơn.
            Ông Smith Nào, đừng có làm mặt thộn thế kia, bà nên hôn cái anh phiến loạn.
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            Bà Smith Ồ suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối vậy kia… thác nước gì mà…
            Ông Martin Trời đất ơi, suối gì mà mà hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy – dài dằng dặc không biết cơ man nào là thác nước là suối…
            Bà Smith Những con chó có bọ chó, những con chó có bọ chó.
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            Bà Smith Những con chuột có lông mày, những lông mày không có chuột.
            Bà Martin Đừng đụng đến giày ký long của tôi.
            Ông Martin Đừng có rục rịch giày ký long.
            Ông Smith Rờ con ruồi đi, đừng cho sự rờ mó nó hỷ mũi.
            Bà Martin Con ruồi rục rịch.
            Bà Smith Cái miệng của bà phải hỷ đi.
            Ông Martin Để cho cái đập ruồi nó hỷ mũi, để cho cái đập ruồi nó hỷ mũi.
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

NHỮNG CÂU đối thoại ấy trích trong kịch phẩm La cantatrice chauve của Ionesco. Đầu voi đuôi chuột. Đầu ngô mình sở. Ngây ngây ngô ngô. Ngớ nga ngớ ngẩn. Nhân vật điên không ra điên, khùng không phải khùng… nói những câu của những người như loạn trí, và nói với nhau như hai người đau thần kinh… đối thoại với nhau… Cái kiểu nói như vậy diễn ra trong hai giờ, ba giờ – khán giả âu mỹ cứ chịu khó… coi như thường. Coi kịch. Nghe kịch… Thưởng ngoạn kịch… Mô phật!
            Và kịch như thế – viết làm sao, dựng làm sao, diễn làm sao, rạp nào, khán giả đông hay thưa, phát sinh cách nào, trưởng thành ra sao – tôi đã trình bày ở trên rồi! Quả tình tôi viết bài nầy là để cho trí thức giới Việt Nam biết qua một câu chuyện văn nghệ ở Âu Mỹ hiện thời – ra sao, thế nào, làm gì. Rồi bạn đọc của tôi sẽ phê phán, phán đoán lấy – và sẽ tìm hiểu coi là kịch tiền phong có qua đây như xưa kia trước kia văn thơ lãng mạn, văn thơ tả chân, văn chương duy nhiên, văn thơ tượng trưng, văn thơ siêu thực… đã hơn một lần theo làn sóng văn hóa âu mỹ qua đây – tạo ra Hoàng Ngọc Phách, Xuân Diệu, Huy Cận, Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng, Xuân Sanh, Đoàn Phú Thứ… vân vân hay chăng! Ai tin được văn thơ kịch Việt Nam sẽ tiến hóa đến… tiền phong thì cứ tin. Tôi – đứng trên cương vị một nhà văn nghệ – tôi xin phép quí bạn cho tôi tạm xưng như vậy – thì tôi không tin… một chút nào.
            Huy Cận đã một lần tin… bậy như vậy nên mới viết Kinh Cầu Tự bằng một lối văn cầu kỳ bí hiểm phi hình dung rồi lớn tiếng nói rằng: “Tôi viết cuốn Kinh cầu tự là may một cái áo rộng thênh thang – độc giả của tôi sau nầy lớn lên… mặc là vừa!” Huy Cận có ý cho rằng ngày đó không ai hiểu cái bí hiểm của Huy Cận thì vài ba chục năm sau sẽ… hiểu Kinh cầu tự.
            Không ngờ ngày nay Kinh cầu tự của Cận chết theo chất thơ tiền chiến của Cận – người ta quên mất và quên đứt Kinh cầu tự, người ta vượt Kinh cầu tự. Và…: Hoặc là lịch sử vượt lên trên sách Cận. Hoặc là lịch sử rẽ ngã khác…
            Cận tính sai một nước cờ văn nghệ – sách Cận hoặc làm trò cười, hoặc chỉ làm tài liệu… nghèo mà thôi. Hẳn Cận đã “giác” về nghệ thuật Kinh cầu tự của mình rồi chứ gì!

CÓ NGƯỜI gọi kịch tiền phong là kịch phi lý (théâtre de l’absurde). Riêng Ionesco thì gọi kịch của chàng là phi kịch (anti-pièce) nghĩa là kịch tiền phong không nói gì cả – không có nghĩa lý gì cả – nhưng đồng thời “phi kịch” mà lại dùng hết tất cả kỹ thuật sân khấu – để lên sân khấu – nghĩa là để dựng, để ra đời…
            Ý của các kịch gia tiền phong là muốn đem câu nói của chị Năm ngã ba chú ía, của con sen, của bác phó rèn… của người đổ thùng… nói mỗi ngày, rời rạc, đầu voi đuôi chuột, cũng như… cuộc đời vậy… lên sân khấu – đó là kịch, đối với họ.
            Thực ra Ionesco còn muốn dùng kịch tiền phong để lên án giá trị của ngôn ngữ – vì ngôn ngữ là một lợi khí để chở ý tưởng – văn dĩ tải đạo, văn dĩ tải… – nhưng lại là một lợi khí rất thiếu giá trị và tác dụng – chỉ gây hiểu lầm giữa cá nhân và cá nhân, giữa tập thể và tập thể…, giữa dân tộc và dân tộc – nhỏ là một chuyện xung đột vặt, lớn là chiến tranh giết nhau, vừa giết người vừa học luân lý giáo khoa thư và đọc diễn văn nhân bản…!
            Tôi nhớ như đâu đó đã có một kịch gia tiền phong viết câu nầy về kịch tiền phong: “Cétait une condamnation du langage, véhicule très impafait de ce que nous voudrions exprimer”. Ý câu Pháp văn ấy là kịch tiền phong lên án ngôn ngữ – vì ngôn ngữ “chở” ý tưởng người ta một cách… bất túc, một cách… xuyên tạc! Ấy vậy thì đối thoại kịch có đầu voi đuôi chuột – thì có gì là lạ… nào!
            Té ra kịch tiền phong lại là một lợi khí phản ứng của nhà văn hóa – nhà văn nghệ, và kịch gia… phản ứng lại tác dụng tai hại của ngôn ngữ trong lịch sử tiến hóa của loài người: tan vỡ cá nhân, tan vỡ tập thể… tan vỡ vì hiểu lầm, hiểu lầm nên tan vỡ. Chỉ vì ngôn ngữ

TÉ RA ý Ionesco, Beckett vân vân lại là ý cao, ý xa, ý cực vi, ý cực diệu – ý rất siêu hình… – chẳng phải là chuyện… lập dị như thiên hạ tưởng một tí nào!
            Ông Lão Đam, cái ngày ổng nói rằng đạo mà gọi được bằng tên – nghĩa là bằng ngôn ngữ – thì không phải là đạo nữa, là ổng đã đưa ngôn ngữ ra… tòa rồi!
            Và Thái tử Tất Đạt Ta bốn mươi chín năm tu hành không nói một câu nào là suốt bốn mươi chín năm người đã đưa ngôn ngữ… ra vành móng ngựa rồi!
            Mà sao phải chỉ có các bực thánh mới nhìn… xéo giá trị của ngôn ngữ đâu! Bỏ hàng thánh hiền xuống hàng phàm phu, chúng ta có Jean Luc Godard, một nhà dàn cảnh điện ảnh Pháp tên tuổi vào bực nhất và thuộc loại “hiện đại” nhất… cũng đã thiếu… thiện cảm với ngôn ngữ, và thường nói bóng gió xa xôi về cái đẹp của… im lặng (như của thiền phật giáo chẳng hạn). Jean Collet, nói về chàng Godard, một nghệ sĩ mà có kẻ cho là thiên tài, có kẻ lại cho là láo, một nghệ sĩ cho ra đời những nghệ phẩm điện ảnh gây sóng gió như ở Bataille d’Hernani ngày xưa… đã viết: “Et pourtant, on ne peut pas mieux montrer que les mots nous trahissent, que la vie ne peut se réduire au langage, que l’essentiel est ailleurs” – ý muốn nói rằng ngôn ngữ thường… phản phúc, đời sống không phải chỉ ở cái miệng và người ta phải tìm cái cần yếu ở chỗ khác…

TÔI SỰC nhớ xưa kia đã đọc một cuốn sách, còn nhớ một câu ý nói: một vạn sự tan vỡ của nhân sinh đều do sự hiểu lầm – malentendu – mà phát sinh. Mà sở dĩ có hiểu lầm chỉ vì có ngôn ngữ.
            Té ra Phật giáo Thiền tông thật đã đi trên con đường cao nhất – cực vi cực diệu – của phật giáo, của hình nhi thượng của tất cả mọi hệ thống triết học siêu tại hay nội tại: họ ngồi… tuyệt đối họ không nói.


Vào thu rồi
TAM ÍCH

_______________________
TÁI BÚT: Hình như tôi có nói, sau khi nói về vấn đề thứ nhất là vấn đề kịch tiền phong bên Âu Mỹ, tôi sẽ nói về vấn đề thứ hai là vấn đề Tiểu thuyết mới.
      Nhưng tôi tưởng tôi nên khiêm tốn. Đã có hai người làm: người thứ nhất là ông Nguyễn Văn Trung đã viết những chương khảo luận có giá trị về Tiểu thuyết mới trong cuốn Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết do Cơ sở báo chí và xuất bản Tự do ấn hành; người thứ hai là ông Trần Thiện Đạo có công phiên dịch và chú giải bài về Phấn đấu cho một nền tiểu thuyết mới (Pour un nouveau roman) trong tạp chí Văn, một tạp chí có giá trị – tôi được đọc một trong những bài. (Cuốn Pour un nouveau roman tác giả là Alain-Robbe-Grillet do nhà Gallimard ở Pháp ấn hành trong tủ sách Idées.)
      Vậy xin giới thiệu luôn.


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #42 vào: 27/05/2017, 21:28:13 »
ASOKA, MỘT CHÍNH TRỊ GIA VĨ ĐẠI HAY LÀ NỀN HÒA BÌNH CHÍNH THỰC CHO CON NGƯỜI

CHÚNG TA có thể nói ngay rằng Asoka hay A Dục vương, là một bậc thánh, một vị bồ tát, hay là một sứ giả hòa bình của nhân loại. Bởi vì qua những truyền thuyết Ấn Độ hay Phật giáo, ta có thể nghi ngờ và cho rằng Asoka chỉ là sự tạo hình của thần thoại. Nhưng kể từ năm 1837, một công chức tại sự ở thành Ba La Nại (Bénarès), James Prinsep, đã tìm ra dấu vết và đọc được các chữ khắc trên hai trụ đá hồng ở Delhi và ở Allahabad. Sang năm 1915, lần đầu tiên người ta tìm thấy tên tuổi sáng chói của Asoka ký dưới một trụ cột ở Maski, thì lịch sử đã hé bày cả một thời đại huy hoàng của Phật giáo, đuổi xua hết mọi nỗi nghi ngờ thần thoại về con người cao cả đó. Chúng ta hãy biết ơn các nhà học giả Tây phương.

I.– CON NGƯỜI VÀ Ý CHÍ
            Asoka không phải là một thần linh hiện xuống tự trời cao để ban ơn rắc phúc cho con người xương thịt như chúng ta, ông có mọi lỗi lầm và vui thú của con người, nhưng ông không đứng lại trong đó mà còn đi xa qua rặng bờ giải thoát để đem an lạc tới cho muôn dân. Chặng đường từ một A Dục vương hung ác (Candasoka) sang A Dục vương của Chánh pháp (Dharmasoka), đã được hướng dẫn bởi tư tưởng Phật giáo, như một luồng sáng của hừng đông thổi phà vào bóng tối tất cả vinh quang của sắc màu.

VÀO THẾ KỶ thứ ba trước Tây lịch, Hoàng hậu Bindusara đã hạ sinh một đứa con, lạ lùng thay, không chút đau thể xác như mỗi lần sinh nở, vì thế hoàng tử có tên Asoka (soka: đau đớn). Ngày vua cha từ trần, Asoka là người kế vị. Ông đã mở đầu sự nghiệp mình bằng một cuộc tàn sát hãi hùng: trở về kinh đô Pataliputra và giết hết 99 người anh của mình, riêng người anh kế Tissa trốn khỏi. Cuộc tàn sát này mở đầu cho bao nhiêu hành động hung ác khác làm cho Asoka nổi danh với cái tên Candasoka (A Dục vương hung ác). Nhưng giữa cảnh đầu rơi máu chảy của đêm sâu dày đặc đó, một lóe sáng đã chói lên làm cho Asoka tỉnh ngộ: sau 4 năm chấp chánh, nhân ngày lễ đăng quang, Asoka được một vị Tăng sĩ, vốn là cháu của mình truyền cho giáo pháp của Phật đà. Từ đó Asoka như một người thoát xác, tái sinh giữa sự ngợi ca của quần chúng: Dharmasoka (A Dục vương của Chánh pháp).
            Ta sẽ tìm hiểu những công trình gì mà Asoka đã thực hiện để muôn đời còn lưu danh như một vị Quốc vương của Chánh pháp lẫy lừng. Chúng ta có thể tóm gọn trong 5 điểm những thực hiện hi hữu và sáng chói:
            1)– Đem Phật giáo vào cuộc đời qua cương vị và khả năng cư sĩ, được phát triển tận cùng, của mình. Đây là một điểm đáng lưu ý, như một kinh nghiệm cần khai thác cho thế kỷ chúng ta. Giá như Asoka đã xuất gia chắc chắn sẽ là một vị cao tăng thời bấy giờ, hành động không phải là không giá trị. Nhưng ông đã đứng về phía cuộc đời như một chứng thực của khả năng hóa thân Phật giáo để “ưng di Quốc vương thân đắc độ giả”. Trước một xã hội bị hăm dọa bởi tư tưởng máy móc, vật chất và bạo lực, những hình ảnh “cỡ người” thân cận trong bùn lầy như thế, quả thực rất ư cần thiết và hiếm hoi. Qua tác phong này, Asoka cho ta cái ý thức của sự sống Phật giáo, sự sống này bộc lộ cùng khắp mọi nơi, mọi giai tầng, cương vị, sự sống thực chứng như một quá trình hiện tu chứ không phải đi tu. Qua sự thể hiện của Asoka, thiển nghĩ chúng ta có thể chia lịch sự Phật giáo tổng chi ra làm hai thời kỳ:
            a/ Thời kỳ tiền Asoka: là thời kỳ mà Phật giáo biểu trưng dưới hình thức tăng đoàn, vụ vào sự thăng hoa tâm linh mà chưa đặt nặng vấn đề chuyển cải những hình thái sinh hoạt của xã hội và quốc gia.
            b/ Thời kỳ Asoka: kể từ thời đại Asoka trở đi, nhờ những thực chứng và thể hiện vĩ đại của ông, Phật giáo đã được phong phú hóa hẳn lên với khả năng hiện thực xây dựng bộ máy nhà nước và những ngành sinh hoạt xã hội cư sĩ. Chúng ta cần nghiên cứu nghiêm chỉnh để khai triển truyền thống Asoka cho thời đại hỗn loạn này.
            Thời đại Asoka được đánh dấu bằng hai sự kiện cách mạng:
            – dựng khắp nơi những bản pháp lệnh trên núi đá hay cột trụ đá, để nhắc nhở dân theo đúng với chủ trương hòa bình bằng chánh pháp của nhà vua. Việc làm thật hi hữu, ở một thời đại xa xăm (23 thế kỷ trước đây) chưa báo chí, máy phát thanh, như ngày nay. Bản pháp lệnh thứ XIV khắc trên núi đá vùng Girnar cũng đã từng đề cập đến việc làm này: “… vì vương quốc của ta quá rộng nên ta đã cho khắc rất nhiều (pháp lệnh trên đá) và sẽ còn cho khắc nhiều nữa!”
            – bên cạnh sự hoằng pháp của Tăng đoàn theo quan điểm Giáo hội, sự xiển dương chánh pháp của Asoka mang một hình thái khác đó là hình thái đi vào cuộc đời của người cư sĩ vương quyền, cho một sinh hoạt cộng đồng phức tạp. Sau 13 năm tại vị, Asoka đã thành lập những đoàn Tổng giám của Chánh pháp và gửi đi cùng khắp xứ sở mỗi 5 năm một lần. Pháp lệnh thứ V khắc trên núi đá vùng Girnar định nghĩa chức vụ của các vị Tổng giám Pháp như sau: “… Thời xưa, chưa bao giờ có những vị Tổng giám của Chánh pháp. Sau 13 năm tại vị, ta đã thành lập những đoàn Tổng giám của Chánh pháp. Họ phải lo việc chấn chỉnh chánh pháp cho mọi giáo phái, lo việc phát triển quyền lợi cùng hạnh phúc của các tín hữu của chánh pháp ở những giống người Hy Lạp, Kampuchia, Gandhariens, Ristika, Pitenika và những kẻ Tây phương khác. Họ có nhiệm vụ đối với những kẻ… (bị mờ trên bản khắc) …những kẻ khốn cùng, những kẻ già nua, tuổi tác, chăm lo về quyền lợi, hạnh phúc và bảo trợ cho các tín hữu của chánh pháp, lo việc nâng đỡ, bảo trợ và phóng thích các tù nhân, nếu các bọn này vô trách nhiệm, mà có con đông, nạn nhân của sự bất hạnh, già cả, họ phải có nhiệm vụ đối với những người này… Những vị Tổng giám của Chánh pháp có nhiệm vụ trên lĩnh vực chánh pháp, duy trì chánh pháp, quản lý việc từ thiện hay đối với các tín hữu của Chánh pháp, bất cứ ở đâu trên vương quốc của ta. Và có nhiều hạng Tổng giám của Chánh pháp, tùy theo thành phần này hay thành phần khác mà có hạng Tổng giám này hay Tổng giám kia phù hợp”. (Pháp lệnh thứ VII khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès.)
            2)– Phát triển sự học hỏi chánh pháp bằng cách tạo hoàn cảnh thuận lợi và giúp đỡ cho quý vị Tăng già trong nhiệm vụ đưa giáo lý an lạc của Phật giáo vào cuộc đời.
            3)– Ngoài việc xây cất tu viện, việc làm hi hữu của Asoka, mà nhờ đó ngày nay ta mới còn được chút sử liệu chính xác giữa những thần thoại thất truyền dệt chung quanh nền lịch sử Ấn Độ, đó là những pháp lệnh khắc trên núi đá, trụ đá tìm thấy đó đây trên toàn cõi Ấn Độ.
            4)– Asoka đã chủ xướng kỳ kết tập thứ ba kéo dài trong 9 tháng dưới sự chứng minh của ngài Tima Moggaliputta, tại kinh đô Pataliputra để minh xét và giải quyết sự hỗn tạp của 219 giáo phái bị xem là tà thuyết rối đạo.
            5)– Gửi các đoàn truyền giáo để gieo rắc chánh pháp an lạc của đức Phật lên toàn cõi Ấn Độ và các nước láng giềng. Các đoàn truyền giáo được phân phối ra toàn cõi vương quốc Ấn Độ bấy giờ:
                  – miền Tây Bắc (vùng Pendjab) do ngài Majjhantika hướng dẫn.
                  – miền Nam do hai ngài Mahadeva và Rakkhita.
                  – miền Tây do ngài Dhammarakkhita (là một người Hy Lạp).
                  – miền Tây Nam do ngài Mahadhammarakkhita.
            Và vượt biên cương qua các nước láng giềng:
                  – vùng Hy Lạp do ngài Maharakhita lãnh đạo.
                  – vùng biên cảnh Hy Mã Lạp Sơn do ngài Majjhima.
                  – vùng Miến Điện, bán đảo Ấn Độ-Chi Na và Mã Lai Á do hai ngài Sona và Uttara.
                  – vùng Tích Lan do ngài Mahinda.
            Công đức hướng dẫn sự truyền giáo như thế kể thực vô lượng và không thể nghĩ bàn. Hình ảnh của người sư sĩ quốc vương này thật đáng là ngọn đuốc dẫn đạo cho những ai muốn đem đời mình phụng sự cho Đạo pháp và Dân tộc.

II.– NHỮNG PHÁP LỆNH KHẮC TRÊN ĐÁ
            Năm điểm thực hiện hi hữu và sáng chói mà chúng ta vừa kể trên đây cho ta thấy Asoka đã thể hiện toàn vẹn tư tưởng hệ Phật giáo vào cuộc đời: kiến thiết một xã hội an lạc làm nền tảng cho sự toàn giác trí tuệ của con người. Một sự kiến thiết toàn diện song hành giữa xã hội và tâm linh.
            Mục đích chính của Asoka không ngoài nền hòa bình chính thực “cỡ người” trước khi quảng đại quần chúng có thể ngưỡng vọng đến đời sống cao sâu của tâm hồn (vô thượng giác). Đọc qua các pháp lệnh mà Asoka sai khắc trên núi đá hay cột trụ, tuy chúng ta không tìm thấy những chủ trương chính trị, nhưng chúng ta thấy rõ một điều: nền đạo đức nhân bản – trường hợp ở đây là Phật giáo – là sườn cốt cho mọi bộ máy cai trị của nhà nước. Chính đó mới là yếu tố quan trọng. Bởi vì, giả thử Asoka để lại cho ta một chủ trương chính trị, thì cái chủ trương quân chủ đó chắc chẳng giúp ích gì cho xã hội chúng ta hiện đang đòi, nói, không ngớt về dân chủ và tự do. Phương sở địa lý cũng như căn cơ tâm lý con người tuy khác nhau, nên tùy từng nơi mà mặt mày chính trị cũng biến đổi, song cái nguyên tắc Asoka để lại vẫn trường cửu và bất biến: đó là sườn cốt đạo đức nhân bản phải sững dựng như những cột trụ chống đỡ bộ máy cai trị quốc gia. Không có nền đạo đức này, tất cả sẽ đổ vỡ như lầu cát.
            Nay ta thử tìm hiểu xem Asoka đã để lại những gì trên các cột đá muôn đời kia. Những cột đá chứng trị cho một khoảng thời phồn thịnh và an vui của con người.
            1)– Pháp lệnh nói về chiến tranh:
            Asoka đã từng dùng bạo lực để mở rộng bờ cõi, nhưng những cảnh tàn sát hãi hùng sau cuộc chiến thắng Kalinga (bờ vịnh Bengale) đã đè nặng trong tâm hồn Asoka một mối thương đau khôn xiết. Một trong 14 pháp lệnh (pháp lệnh XIII) khắc trên núi đá 8 năm sau ngày chấp chính, tìm được ở vùng núi Girnar, phơi rõ niềm hối cải này: “150.000 người bị đày ải, 100.000 đã bị giết và hằng nhiều lần hơn số này đã bị tiêu hoại” … “Niềm hối hận đã xâm chiếm lòng người bạn của các thần linh (Asoka thường khởi các pháp lệnh bằng câu “Quốc vương, bạn của thần linh, với cái nhìn bằng hữu…” để tự xưng mình), từ khi chiếm được Kalinga. Sự chinh phục một quốc gia độc lập, thực ra chỉ là sự sát nhân, sự chết chóc hay là sự quy hàng của thần dân xứ đó: ý nghĩ này đã được cảm nhận sâu xa và nặng đè tâm can người bạn của các thần linh” … “tất cả mọi người (ở đây) đều là nạn nhân của cường bạo, của sự sát nhân, bị chia lìa với những kẻ thân yêu” … “cho dù số người bị giết, người chết và bị bắt trong cuộc chiến thắng Kalinga là bao nhiêu đi nữa, số này dù có nghìn lần ít hơn, thì cảm nghĩ xót xa ngày nay vẫn nặng đè trong tâm người bạn của các thần linh”. Sự hối hận không chỉ là nhận định suông, hối hận tức là sửa sai. Asoka từ chối mọi hình thức bạo lực, khí giới độc nhất của ông hiện nay chỉ là lòng từ bi và sự kiên nhẫn. Cũng trong bản pháp lệnh XIII này đã ghi: “Cho dù có phạm lỗi đối với người bạn của các thần linh, người bạn của các thần linh cũng phải quyết tâm nhẫn nại cho đến kỳ cùng” … “Bởi vì người bạn của các thần linh mong cầu cho mọi chúng sanh sự an ninh sự chế ngự dục vọng” … “chiến thắng mà người bạn của các thần linh cho là cao cả nhất, là sự chiến thắng của chánh pháp. Sự chiến thắng mà người bạn của các thần linh đã thâu đoạt trên vương quốc này lan truyền đến những vùng biên giới xa tới 600 dặm, những nơi trị vì bởi vua Hy Lạp Antiochus, xa hơn còn có bốn vua Ptolémée, Antigone, Magas và Alexandre; phương Nam xống tận miền Cola, Pandya cho đến Taprobane; cho đến cả những đế quốc của những người Hy Lạp, người Kampuchia, người Nabhaka và Nabhapani, Bhoja và Pitinika, Andhra và Parinda; mọi nơi đều theo lời dạy của chánh pháp do người bạn của các thần linh ban truyền. Ngay cả những nơi chưa có sứ giả của người bạn của các thần linh đến, chỉ cần nghe nói đến hạnh nguyện của chánh pháp, huấn giới và giáo lý của chánh pháp của người bạn của những thần linh, người ta liền sống theo chánh pháp và sẽ sống mãi trong đó…” “Sắc lệnh này được khắc ra để con cháu mai sau đừng mơ tưởng tới những chiến thắng khác. Và trong cuộc chiến thắng này, chúng sẽ chọn lựa sự kiên nhẫn và bớt dùng bạo lực, và chỉ có chiến thắng của Chánh pháp là đáng kể cho tôi đời này và kiếp sau, niềm vui của chúng sẽ là niềm hoan lạc trong Chánh pháp”.
            2)– Pháp lệnh nói về chánh pháp:
            Chánh pháp là gì? – Pháp lệnh thứ II khắc trên trụ đá hồng ở thành Bénarès ghi: “Chánh pháp rất lành. Nhưng thế nào gọi là Chánh pháp? Đó là sự dứt trừ tận gốc mọi tội lỗi, tăng trưởng những hành động chính thiện, lòng xót thương, khoan đại, tính chân thực, niềm trong sạch”. Asoka tin tưởng chân thành vào Phật giáo, bản khắc tìm được ở Bhabra cho ta thấy rõ điều đó. “Quốc dân đã biết lòng kính trọng khôn lường và niềm tin tưởng của ta đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng. Những gì đáng nói, đức Điều Ngự Như Lai đã nói. Những gì cần thiết cho Chánh pháp được hoằng dương, ta xin phép nhắc nhở cho quốc dân”. Và Asoka đã kê trong bản khắc này những đoạn kinh Phật cần được suy nghiệm và thực hành. Thực hành Chánh pháp, ghi ở pháp lệnh thứ IV khắc trên núi đá vùng Girnar, tức là “chối từ sự sát nhân, hiền hòa với mọi người; tôn kính các vị Bà La Môn và tu sĩ, vâng lời cha mẹ và các bậc phụ lão, đó là điều “chưa bao giờ hiện thực từ bao nhiêu thế kỷ rồi” vì trong quá khứ hàng bao thế kỷ qua, sự sát nhân, bạo lực cưỡng hiếp con người… vẫn không ngừng gia tăng” và “thiếu đạo đức, không thể thực hành Chánh pháp”.
            Tóm lại, thực hành Chánh pháp tức là dứt trừ mọi tội lỗi, và “cái mà người ta gọi tội lỗi, tức là thấu biết điều hung ác, sự nhẫn tâm, giận dữ, kiêu ngạo, tham muốn. Với những thứ đó, ta chẳng bao giờ muốn dính tới” (pháp lệnh thứ III khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès).
            3) – Pháp lệnh nói về cai trị theo Chánh pháp:
            Cai trị theo Chánh pháp tức phải biến mình trước tiên thành mẫu mực của Chánh pháp, sau đó mới có thể hô hào cho dân theo Chánh pháp, và muốn cho dân theo Chánh pháp, phải nghĩ và lo âu cho hạnh phúc của họ.
             “Ta xin nói điều ta nghĩ về quyền lợi và hạnh phúc của thế giới. Cũng như đối với cha mẹ, bà con quyến thuộc xa gần, ta muốn mang lại hạnh phúc cho họ, ta dùng mọi biện pháp thích ứng để hoạt dụng cho mọi thành phần (trong xã hội)”.
             “Ta cũng tỏ lòng tôn kính với tất cả mọi giáo phái qua bao nhiêu dấu hiệu tỏ lộ tôn sùng. Nhưng điều mà ta phải mang thân đến gặp gỡ tiếp xúc thẳng với họ, ta cho là điều quan trọng hơn cả” (pháp lệnh thứ VI trên trụ đá hồng ở thành Bénarès, khắc vào niên vị thứ 26).
             “Các vị vua thời trước đã muốn tìm phương cách xiển dương Chánh pháp cho quần chúng, nhưng quần chúng vẫn không tiến bộ chút nào trên đường Chánh pháp” … “Làm thế nào để được quần chúng ưng thuận, làm sao để xiển dương Chánh pháp?” Trong pháp lệnh thứ VII khắc trên trụ đá hồng ở thành Bénarès này, Asoka cho ta biết ông đã ra lệnh dựng lên khắp nơi những pháp lệnh nhắc nhở về Chánh pháp, tổ chức những cán bộ cư sĩ am tường về Chánh pháp để bổ đi khắp mọi làng mạc đả thông cho quần chúng, những cán bộ này đã được Asoka huấn luyện để biết tùy theo căn cơ, phương sở mà giảng dạy Chánh pháp cho phù hợp.
             “Thật khó mà chứng ngộ trong cõi đời này cũng như trong kiếp sau, khi không có một tình yêu Chánh pháp, một sự nhất tâm cùng cực, một sự thuần thục thấu đáo, một sự cẩn trọng thắm thiết, một năng lực rốt cùng. Nhưng nhờ những huấn thị của ta mà sự chuyên tâm vào chánh pháp cùng tình yêu chánh pháp đang được lan rộng và sẽ còn lan rộng mãi”.
             “Những kẻ cộng sự của ta cũng vậy, cao cấp hạ thuộc hay trung cấp đều chuyên nhất và phổ biến Chánh pháp, đủ để lôi kéo những kẻ còn đang do dự. Đối với những kẻ Tổng giám ở biên cảnh cũng vậy”.
             “Bởi vì đó là nguyên tắc: cai trị theo Chánh pháp, chấp chính theo Chánh pháp, làm đẹp lòng theo Chánh pháp; bảo vệ theo Chánh pháp” (pháp lệnh thứ I khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès).
             “Nhờ sự thực hành Chánh pháp của quốc vương, bạn của những thần linh, với cái nhìn hằng hữu, tiếng trống trận đã trở thành tiếng báo hiệu cho Chánh pháp” (pháp lệnh thứ IV khắc trên núi đá vùng Girnar).
             “Mặt khác trên mọi nẻo đường, ta đã cho trồng những cây đa đổ bóng mát cho người và thú vật; ta đã cho trồng những vườn xoài; và mỗi khoảng đường 2 cây số (nửa “kos”?), đào một nơi chứa nước và xây những trạm nghỉ; ta đã cho đào khắp nơi những giếng nước cho người và vật dùng” … “Nhưng những điều này thực ra chẳng đáng kể là bao” (pháp lệnh thứ VII khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès).
             “Một nơi trong vương quốc của vì vua, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu, kể cả những vùng biên cảnh của những người Cola, Pundya, Satyaputra, Keralaputra cho đến Taprobane, Antiochus, vì vua Hy Lạp, và những vì vua láng giềng của Antiochus, khắp mọi nơi, quốc vương, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu, cho tiến hành hai việc cứu trợ y tế, cứu trợ cho người và cứu trợ cho loài vật. Ở đâu thiếu những loài thảo dược cần thiết cho người và cho thú vật, sẽ được gửi đến và trồng trọt. Ở đâu thiếu rễ cây và trái quả, đều được gửi đến và canh tác. Trên mọi con đường giếng phải được đào, cây phải được trồng cho mọi người và thú vật dùng” (pháp lệnh thứ II khắc trên núi đá vùng Girnar).
            Phục vụ dân không có nghĩa là đáp ứng ngưỡng vọng họ bằng các bài diễn văn và chương trình cách mạng chẳng bao giờ thấy thực hiện. Phục vụ dân, chính là thể hiện ra mặt những đòi hỏi cấp thiết và hạnh phúc đơn sơ của họ, và còn phải hướng dẫn cuộc sống tinh thần họ đi cho đúng với nền đạo đức người của dân tộc.
            4)– Những nguyên tắc chính yếu để thu phục lòng dân:
            a/ Hãy biến mọi tác phong của mình thành mẫu mực của Chánh pháp: và phải cố gắng tự kiểm thảo không ngừng. “Là một cư sĩ trung thành từ hai năm rưỡi nay. Nhưng ta đã không thực hành một cách tinh tấn (nhất tâm quy mạng). Nhưng trái lại từ hơn một năm nay, ta đã theo sát với tăng đoàn và trì chí rất nhiều. Trước đây ở Ấn Độ chẳng bao giờ con người tương dự với con người như bây giờ. Đó là nhờ ở kết quả của sự tu trì. Đương nhiên, kết quả này không phải chỉ dành riêng cho những kẻ cao sáng, mà còn dành cho mọi kẻ thấp hèn nên họ chịu tu trì” (pháp lệnh khắc ở Mysore).
             “Thời trước, các vua thường tổ chức những cuộc “ngự du hoan khoái”: như đi săn hay các thú vui khác. Nhưng quốc vương, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu, sau 10 năm chấp chính, đã hành hương về Giác ngộ. Từ đây, chỉ còn những cuộc “ngự du” cho Chánh pháp, thể như: tiếp kiến hay phân phát (tặng phẩm) cho các vị Bà La Môn và tu sĩ, tiếp kiến và phân phát vàng cho những phụ lão, tiếp kiến và thuyết pháp cùng giải quyết những vấn đề liên quan tới Chánh pháp cho quần chúng ở các tỉnh…” (pháp lệnh thứ VIII khắc trên núi đá vùng Girnar).
             “Trước đây mỗi ngày có hằng nghìn thú vật bi giết để làm cơm trong bếp núc nhà vua, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu; nhưng bây giờ, trong khi pháp lệnh này được khắc lên, chỉ 3 con thú sau đây bị giết để làm cơm thôi: 2 con công, 1 con nai, ngay cả con nai này cũng không được giết thường xuyên. Ngay cả 3 con vật này rồi đây sẽ không còn bị giết nữa” (pháp lệnh thứ I khắc trên núi Khepingala, vùng Girnar).
            Niên vị thứ 26, Asoka đã cho khắc một pháp lệnh (pháp lệnh thứ V khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès) “cấm giết súc vật” và ghi rõ tên các loại không được giết, ta đọc thấy tên của 23 loại chim, cá, thứ bốn chân. Thêm vào đấy dê cừu, heo có chửa hay đang cho bú đều không được giết; cho đến cả những con chưa lớn quá sáu tháng. Cấm thiến gà “… cấm đốt rừng không có lý do hay để gây thiệt hại. Cấm nuôi thú vật bằng thú vật”.
             “Và ba tuần trăng rằm mỗi 4 tháng, vào ngày tròn trăng Tisya và liên tiếp 3 hôm: ngày 14, 15 và 1 là những ngày phải ăn chay một cách thuần khiết, cấm giết hay bán cá. Vào ngày thứ 8 mỗi thượng tuần ngày 14, ngày 15, là những ngày lễ Tisya và Punarvasa, vào 3 tuần trăng rằm mỗi 4 tháng và những lễ, cấm thiến bò rừng, dê, cừu, heo và các loài thú vật khác” … “Cho đến niên vị thứ 26 này, ta đã phóng thích tù nhân 25 lần cả thảy”.
            b/ Phải luôn luôn tỉnh thức để nghe rõ nguyện ước của dân: “Trong bất cứ lúc nào, dù khi ăn, khi ở nơi khuê phòng, nơi phòng ngủ, nơi nông trại, trên xa giá, trong vườn cảnh, khắp nơi những thông tín viên phải phúc trình đầy đủ cho ta biết những công việc dân sự: và ta tham dự vào công vụ ở khắp mọi nơi. Bất kể khẩu lệnh nào ta ban bố, liên quan tới việc dâng tặng hay tuyên cáo, hay những việc khẩn cấp giao phó cho các vị Tổng giám, nếu có điều gì phải tranh luận hay bình nghị ở hội đồng phải thông tin cho ta biết tức thì, bất cứ lúc nào hay ở đâu, đó là lệnh của ta. Bởi ta không thỏa mãn trong việc làm và trong lời kết luận về những công sự. Bởi ta xét rằng nhiệm vụ của ta mang lại hạnh phúc cho thế giới, nên nguyên tắc là hoạt động và thi hành kỳ cho hoàn mỹ nhiệm vụ mới thôi. Bởi không có hành động nào cao cả hơn là việc đem hạnh phúc đến cho toàn thế giới. Và mọi cố gắng ta phải đạt là trả mối nợ cho nhân loại, ở cõi này, ta phục vụ cho hạnh phúc của họ và ở kiếp sau, ta mong muốn cho họ sinh về cõi Thiên” (pháp lệnh thứ VI khắc trên núi đá vùng Girnar).
            Để kiểm soát và thấu rõ những nhu cầu khẩn nguyện của quần chúng, Asoka gửi đi khắp nơi những kiểm soát viên “Quyền lực phán xét và trừng phạt của họ đều do ta nắm giữ, như thế những kiểm soát viên sẽ yên thấm thi hành nhiệm vụ khỏi phải sợ hãi gì, và họ sẽ chỉ lo đến quyền lợi và hạnh phúc của dân chúng ở các tỉnh và bảo trợ cho quần chúng. Họ sẽ hiểu gì là hạnh phúc và với những kẻ tín thành Chánh pháp, họ giáo hóa cho quần chúng các tỉnh, làm cho quần chúng chứng ngộ được trong cuộc đời này cũng như trong kiếp sau” … “Và có nhiều phương cách khác nhau làm cho quần chúng tiến bộ trên dường thực hành Chánh pháp, chế ngự nhục tính và phân phối lòng nhân ái” (pháp lệnh thứ IV khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès).
            c/ Đức tính chí công và vô tư: đó là huấn thị mà Asoka căn dặn các vị Tổng giám (công chức) một cách tỏ tường trong pháp lệnh thứ I tại Kalinga: “… Điều gì ta cho là hoàn mỹ, ta muốn hái lượm bằng hành động của ta và thu nhiếp một cách có phương pháp. Phương pháp hay nhất mà ta thấy trong vấn đề (an dân) này là những huấn thị ta ban cho các người. Bởi vì các người được bổ nhiệm phục vụ cho hằng nghìn nghìn người”.
             “Hãy thu phục cảm tình quần chúng. Mọi người đều là con của ta. Thể như các con của ta, ta muốn cho chúng hết thảy quyền lợi và hạnh phúc trong thế giới này cũng như trong kiếp sau, đó cũng là điều ta ao ước cho mọi người. Các ngươi chưa thấy rõ nó can hệ đến chừng nào; có thể là có kẻ nào đấy trong các ngươi thấy điều đó, nhưng chỉ thấy một phần nào thôi chứ chưa phải trọn vẹn. Là người có đầy nhiệm vụ, các ngươi hãy suy nghĩ kỹ đi”.
             “Thường có những cá nhân bị vào tù, bị tra khảo và sau đấy được phóng thích không lý do và còn nhiều kẻ khác chịu khổ đau đớn thế nữa. Vì vậy mà các ngươi phải thực hành chí công vô tư. Chí công vô tư là không có khuynh hướng ganh ghét, gắt gỏng, ác hiểm, nông nổi, bướng bỉnh, lười biếng, buông xuôi. Phải cố ý tránh xa những khuynh hướng này đi. Nguyên tắc thực hiện là tránh xa sự biến tính và nông nổi trong khi hành sự. Kẻ nào chán chường chẳng sao hoạt tiến được, mà trong công vụ của các ngươi cần phải tỉnh thức, xúc tiến và hoàn tất”.

III.– TINH THẦN KHOAN ĐẠI, TỰ DO VÀ KHAI PHÓNG CỦA ASOKA
            Giáo sư Jean Filliozat đã viết về Asoka như vầy: “Dù đã chọn Phật giáo là con đường cho chính bản thân mình, Asoka chẳng bao giờ dùng quyền uy của mình cưỡng chế ai theo đạo mình”.
            Thật thế, “Quốc vương, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu muốn rằng tất cả mọi tông phái đều an vị khắp mọi nơi. Bởi mọi tông phái đều muốn chế ngự các nhục tình và tinh hóa tâm hồn. Nhưng mỗi người đều có những ước muốn khác nhau, những nhiệt tình sai biệt. Hoặc là họ thực hành tất cả, hay chỉ một tiểu tiết nào đó. Với ai không có lòng khoan đại, sự chế ngự nhục tình hay tinh hóa tâm hồn, sự hiển giáo và sự đoan quyết trong niềm tin vẫn luôn luôn là điều quan trọng” (pháp lệnh thứ VII khắc trên núi đá vùng Girnar).
            Tinh thần tôn trọng tự do tín ngưỡng của Asoka hiển lộ một cách khoan đại và minh xác qua pháp lệnh thứ XII (khắc trên núi đá vùng Girnar): “Quốc vương, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu, tỏ lòng tôn kính tất thảy mọi tông phái, quý thầy tu sĩ cùng những vị cư sĩ, qua những tính khoan đại, cũng như những vinh hạnh khác nhau. Nhưng bạn của những thần linh không đặt nặng những tính khoan đại cũng như những vinh dự cho bằng sự tiến bộ trong bản chất của mọi tông phái. Sự tiến bộ của bản chất tuy thể hiện nhiều cách, nhưng chính thực chỉ là sự tiết chế ngôn ngữ, làm thế nào để tránh sự tôn xưng riêng tông phái của mình hay sàm báng những tông phái khác; dù vì trường hợp này hay trường hợp kia, dù cho là điều không đáng kể. Trong mọi cơ hội, phải tỏ lòng tôn kính những tông phái khác. Có như thế, người ta mới làm cho tông phái mình lớn lên đồng lúc phục vụ cả cho tông phái kia. Trái lại, ta chỉ làm hại tông phái của ta đồng lúc chẳng giúp gì cho tông phái khác”.

IV.– KẾT LUẬN
            Đứng trước cuộc đời hỗn tạp – mà các nhà luân lý gọi là nơi tục lụy hồng trần – giữa muôn dân sai khác, bên cạnh những nhục tình sôi sục, Asoka không chút hãi hùng chạy trốn, dù là một cuộc trốn tìm giải thoát. Để kiến tạo một xã hội an lạc, một vương quốc hòa bình và phồn thịnh, một cách hi hữu 23 thế kỷ trước đây, Asoka nhìn thẳng vào thực tại, chuyển hóa mọi phiền não và bất an một cách linh động thành cảnh sống an lạc. Asoka đã sống như một quá trình tu chứng cỡ người, không vì cái giải thoát tự tại cho riêng mình, cũng không vì danh lợi bản thân, luôn luôn vì và cho Chánh pháp, một thứ chánh pháp xuyên qua niềm hòa bình và hạnh phúc của quảng đại nhân dân. Vì vua, bạn của những thần linh có cái nhìn bằng hữu này, “không tin rằng vinh quang mang đến một lợi lộc lớn, trừ khi dùng vinh quang hay thanh danh trong hiện tại và mai sau vào việc làm cho thần dân tuân nghe điều phải, tuân nghe Chánh pháp và thực thi Chánh pháp chính trong tiêu chuẩn này mà quốc vương bạn của những thần linh, muốn có vinh quang hay thanh danh” (pháp lệnh thứ X khắc trên núi đá vùng Girnar).
            Sự thực chứng qua hình ảnh cư sĩ này thật là quan trọng. Giữa các vị vua cao sang sung túc, người ta muốn thấy một vì vua nhân hậu thân dân giữa sự hiếm hoi của vài vị vua nhân hậu vì bản tính, người ta muốn thấy hình ảnh đạo giáo đã đi qua vị vua đó như thế nào, để nhận rõ giá trị thực chứng và kiểm nhận của một đạo như đạo Phật. Cũng thế, ngày nay, giữa bao khuynh loát của chủ thuyết và bè phái, trên vực thẳm của hủy diệt chúng ta cũng mong thấy hình ảnh một chính trị gia Phật tử như hình ảnh A Dục vương của 23 thế kỷ trước đây.
            Ngay chính trong sinh hoạt cộng đồng cũng vậy, có biết bao gia đình theo đạo Phật, song các gia đình đó vẫn chưa có một hình ảnh hạnh phúc mẫu mực để cho nhân loại thấy và buộc miệng: “Đó là nột gia đình Phật tử!” và ao ước: “Gia đình ta phải giống như thế!”
            Nền văn minh máy móc với những chủ thuyết cục bộ và độc tôn đang kéo hàng triệu con người vào trận tuyến của căm thù, vào sự buông xuôi chán chường hay thất vọng cô đơn. Người ta không ưa gì thế, nhưng cứ phải sống như thế… Sự đe dọa ngày nay thực là trầm trọng, đem lại cho ta ý nghĩ: truyền thống của người cư sĩ Asoka phải được học tập và tiếp nối một cách chí thành tha thiết. Sự có mặt của người cư sĩ Phật giáo trong hình ảnh này mới thiếu thốn làm sao!
            Gần đây các nhà khoa học đang thí nghiệm không ngừng cách thức cho cơ thể con người có thể sống trên bề cao mười tám nghìn cây số, thoát khỏi hấp lực quả đất, hoặc cách thức cho con người có thể sống dưới hầm sâu 1000, 2000, rồi 3000 thước. Các nhà thần học thì bày cho con người khép kín các ngõ ngách của cuộc đời để vào sâu trong tâm linh thăm thẳm.
            Trong khi đó sự sống cũng như khổ đau vẫn tiếp diễn một cách đương nhiên, mà chẳng thấy ai dạy cho con người cách đi bằng hai chân trên mặt đất nhiệm mầu này, và cách sống làm sao cho cụ thể cũng như tâm linh được thăng bằng hòa điệu, làm sao cho con người nhận diện con người.
            Ngoài Asoka, chắc không ai làm nổi. Ta hãy thắp hương cầu nguyện cho Người đến trong tấm thân cư sĩ của chúng ta.


NGUYÊN ÂN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #43 vào: 03/06/2017, 15:06:49 »
NGÀY LẠI NGÀY (SỔ TAY VĂN NGHỆ)

THÁNG HAI năm 1964. Tòa án Léningrad xử một vụ kiện tạm gọi là một vụ kiện văn nghệ. Người ra vành móng ngựa là thi sĩ Joseph Brodsky, 24 tuổi. Chàng bị buộc tội làm ký sinh trùng xã hội (nguyên văn: parasitisme social). Tòa tuyên án năm năm khổ sai và bị đày. Khi ra tòa, tòa buộc tội chàng những tội sau nầy: chàng làm lương ít, chàng không săn sóc tới đời sống cá nhân và sự sống riêng tư của chàng, làm những bài thơ phi-công-thức (non-conformiste) và ngâm thơ ủy mị trong những cuộc họp văn nghệ… Và tòa buộc tội chàng không phải là… thi nhân


            Ở Léningrad, có rất nhiều nhân vật có danh tiếng và uy tín trong giới văn nghệ can thiệp cho chàng, nhưng không có hiệu quả. Họ cho Brodsky là một thi nhân và một người dịch thơ có tài xuất chúng.


            Chuyện có sao, tôi kể vậy – ai có mầu kính của nấy để nhìn việc đời, tôi không dám làm mặt… lanh xen ý kiến của mình vào. Chỉ biết có một điều là… tôi thương hại cho thi nhân – mà thôi. Và cho cả anh, cả tôi, cả nó, cả hắn, cả họ nữa… Và trong không gian. Và trong thời gian. Đây. Kia. Trước kia. Sau nầy.
            Còn một điều nữa cũng nên nhấn mạnh: Brodsky là một thi nhân dịch thơ có tài: đó là một việc rất hiếm. Làm thơ là một chuyện khó, dịch thơ lại là một chuyện khó hơn – nghĩa là giữa hai cái khó, dịch thơ vẫn khó hơn làm thơ. Nói một cách khác làm thơ còn dễ hơn dịch thơ – dịch đây là dịch cho hay: câu thơ hay, ý thơ vẹn… Tôi chưa thấy ai dịch bài Hoàng-hạc-lâu cho thật hay, kể cả Tản Đà. Dịch làm sao mà nhạc tính bài thơ vẫn có, vẫn còn… không phải là một chuyện dễ! Tôi lại cũng chưa thấy ai dịch bài Sonnet của Arvers cho thật hay. Ngày xưa nhóm Phong-hóa – hình như Khái Hưng thì phải – đã dịch bài Sonnet ấy mà cũng chỉ còn lại một câu: “Tình trong giây phút mà thành thiên thu” là hay – còn thì những câu khác cũng chỉ… tạm.
            Còn hình như thi sĩ Tchya Đái Đức Tuấn ngày xưa có dịch “Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương” là “Nhớ người đẹp. Trời một phương” thì cũng được lắm!



THƠ CỦA Brodsky có những câu:
                        Tout noir qu’il fut, il ne donnait d’ombre.
                        Il ne pouvait pas devenir plus sombre.
                        Aussi noir que minuit de brume.
                        Aussi noir que ces arbres, devant
                        Aussi noir qu’une aiguille, dedans.
                        Comme un trou, dans la terre, où git la graine
                        . . . . . . . . . . .
                        Pourquoi respirait-il l’air si noir
                        Dans le bruissement des branches écrasées?
                        Pourquoi le jour noir coulait-il de ses yeux?

            Nhạc tính rất thắm, rất kín, rất Prévert – tôi thì không dám dịch là lẽ cố nhiên rồi – nào có ai dịch ra cho hay, xin dịch cho thiên hạ cùng thưởng thức!
            Dịch thơ khó. Mà Brodsky lại là một thi nhân dịch thơ ngoại quốc có tài – đó là chỗ hơn người. Thế là chàng hơn người tới hai lần…



CÓ VÀI chuyện văn nghệ có tính chất khá hài hước – hài hước đến làm chảy nước mắt! Chẳng biết là nên khóc hay nên cười – hay là nên nôn mửa.
            Số là Roland Dorgelès, một văn hào Pháp ngày xưa là một văn sĩ chống hội họa phi hình dung, trừu tượng, lập thể vân vân… Một hôm chàng rủ một hai anh em văn nghệ làm một chuyện ngộ ngộ – là bắt một con lừa, nhúng cái đuôi của nó vào vài ba thùng sơn, rồi thả cái đuôi ấy ra cho nó vung vãi lên một tấm vải trắng. Xong rồi chàng trịnh trọng, đóng khung nó, ký láo một cái tên nào đó, rồi chở đến một khách thính văn nghệ (tức là salon littéraire ngày xưa ấy!)
            Kết quả là tất cả những “thân chủ” hào hoa phong nhã – kể cả họa sĩ – cùng với những trang nam nữ văn nghệ – cùng với những nhà giàu sang mà lại thích văn nghệ kia – cao đàm hùng biện và phê bình bức tranh ấy.
            Mãi sau mới ngã ngửa ra là bị Roland Dorgelès gạt… Có một điều lạ nhất là không có ai… mắc cở cho thái độ trước của chính mình cả! Chỉ có Dorgelès được cười no vào… mũi những trang hào hoa phong nhã…



ĐÓ LÀ chuyện thứ nhất. Mà là chuyện xưa do một tạp chí Pháp kể lại. Còn bây giờ tôi xin kể chuyện mới, lại cũng do một tạp chí Pháp kể. Kể rằng.
            Có một cuộc triển lãm tại một phòng triển lãm (galerie). Đôi khi phòng triển lãm lại “galerie” ở ngay sát một xưởng vẽ của một họa sĩ nào đó. Vì vậy cho nên khi vẽ thì họa sĩ họ thường quệt ngang quệt dọc bút vẽ của họ vào bất kỳ đâu: vào áo “blouse” của họ, vào bàn, vào ghế, vào bất kỳ một tấm ván nào vừa tầm tay họ.



            Hôm khai mạc, vô ý, mấy người lao công, trong khi thu xếp sắp đặt phòng triển lãm, để quên một tấm ván lớn và cao bên cạnh những bức tranh – quên cất nó đi.
            Các quan khách nam thanh nữ tú dập dìu tài tử giai nhân ngựa xe như nước áo quần như nêm hào hoa phong nhã, các kỹ nghệ gia, các nhà trí thức đại diện chính quyền, các nhà giàu sang, cả cái Tout-Paris – cũng như ta có cái Tout-Saigon – đến ngắm tranh và cao đàm hùng biện… Một số những người đó nhè cái tấm ván loạn mầu xanh đỏ trắng tím kia… mà lao công bỏ quên bên cạnh những tác phẩm… khen ngợi trầm trồ và phê bình thế nầy phê bình thế kia…
            Bỗng hai người lao công sực nhớ chưa cất tấm ván, vội chạy ra khiêng đi – dưới những cặp mắt văn nghệ của những người mũ cao áo rộng – mặc lễ phục.



            Tiếng Pháp có một chữ để chỉ hạng giàu có học làm… sang hay là học đòi chơi văn nghệ… là “esprit philistin”.
            Nên khóc?
            Hay nên cười?
            Hay nên buồn nôn?



BÊN NGA thường có những chuyện lạ về văn nghệ.
            Tiểu thuyết Nga-sô-viết Nékrasov đã được phục… “chức”! Năm 1963, chàng bị khai trừ ra khỏi đảng. Năm 1964, hàng được mời vào đảng lại – dù là chàng không xin không làm tờ phản tỉnh.
            Xưa kia từ năm 1946, chàng đã từng viết nhiều tiểu thuyết – nhưng vẫn không hề tạo những nhân vật “người hùng” vốn là những nhân vật gương mẫu của mỗi tiểu thuyết Nga.
            Tác phẩm thứ nhất của chàng là cuốn Đường hầm Stalingrad (Les trancheés de Stalingrad). Chính quyền coi rồi khuyên chàng nên thêm một chương phụ… đề cao… Staline. Chàng từ chối.
            Những đến lúc Staline chết và bị hạ bệ người ta lại khuyên chàng nên bỏ những đoạn những câu đã nói tốt cho Staline – chàng lại cũng từ chối.
            Tác phẩm thứ hai là Thành phố quê hương (La ville natale)… không theo đúng công thức thời đại cho lắm.
            Năm 1961, chàng cho ra đời cuốn Kira Georquievna, tả những giới văn nghệ Nga-sô-viết giống như giới văn nghệ “avant-gardiste” của âu châu ngày nay… có vẻ… sa đọa và phi công thức.
            Những đến cuốn Ở hai bờ đại dương (Surles deux rives de l’Océan) trong đó chàng công kích chế độ “bế quan tỏa cảng” văn hóa Nga-sô và trầm trồ văn nghệ âu châu… thì chàng bị khai trừ ra khỏi đảng. Kroutchev nói rằng ở Nga không cần có những nhà văn nghệ như Nékrassov! Nhưng rồi năm 1964, Kroutchev lại đổi ý về Nékrassov – cho vào đảng lại.
            Bây giờ thì Kroutchev đã bị hạ.
            Chẳng biết số phận Nékrassov ra sao.



NHƯNG CỨ theo dõi đời sống văn nghệ Nékrassov ở Nga như vậy thì thật là hết hiểu nổi… văn nghệ bên Nga! Hết hiểu nổi văn nghệ nói chung. Văn nghệ là cái thá gì thế nhỉ? Biết đường nào mà lần! Biết đường nào mà tính! Vất vả thay nhà văn nghệ!
            Loài người càng văn minh thì giới văn nghệ càng trở nên… phiền phức – bên nầy bên kia màn sắt hay màn tre gì thì cũng vậy cả!
            Con người nói chung có thân phận đã đành – con người văn nghệ lại càng lớn… thân phận! Ăn ở làm sao cho tròn quả phúc đây?

TÔI MỚI đọc lại một số kịch phẩm của Samual Beckett và của Ionesco.
            Lòng tôi cứ nghĩ lẩn thẩn rằng thoại kịch xứ mình không… trưởng thành, chứ giá có lấy một mẩu trưởng thành thì thử dịch rồi dựng kịch của hai cái ông ấy coi phản ứng khán giả ra sao!
            Chắc là trải chiếu cạp điều, đem kiệu bát cống… kèm theo xe Cadillac kiểu tối tân nhất… mà mời khán giả Việt Nam cũng khó có ai mà đi coi kịch của các bực kịch gia tiền phongtrừu tượng… ấy!
            Tại sao.
            Sẽ xin đề cập đến khía cạnh văn nghệ của vấn đề văn nghệ ấy trong một dịp khác để bà con thưởng ngoạn một mẩu văn chương kịch tiền phong (littérature dramatique d’avant-garde) (Xem bài nói về kịch tiền phong cùng trong số nầy).

NĂM 1933, cuốn Le petis arpent du Bon Dieu của Caldwell ra đời. Thiên hạ làm như trời sắp sụp… Hội Bảo vệ luân lý Nữu Ước đưa đơn kiện Caldwell phạm đến thuần phong mỹ tục.
            Nhưng có hơn 60 nhà văn phản đối vụ kiện ấy. Ông tòa Benjamen Greenspan cũng dựa vào thái độ những nhà văn ấy để loại vụ kiện đi. Còn nhà phê bình J. H. Jackson thì tiên đoán là Caldwell sẽ là một nhà văn lớn của quốc tế!



            Quả tình Greenspan nói đúng. Sau nầy cuốn sách dịch ra 12 thứ tiếng và bán tại 18 nước trên thế giới. Ai cũng đọc. Bây giờ thì không ai không biết Caldwell – ngang với tiếng Steinbeck và Hemingway.
            Văn chương duy nhiên của Caldwell rất thần tình! Còn tại sao nó thần tình, nó thần tình ở đâu, ai đọc sẽ thưởng ngoạn – tôi biết ăn biết nói làm sao để phân tách cái hay của một văn phẩm được. Có lẽ trong những cái trừu tượng của trời đất thì cái hay của một văn phẩm xuất chúng là trừu tượng nhất đấy!

HÔM NAY, tôi đọc tạp chí La tabbe ronde số 205, tháng 2 năm 1965, có bài nhan đề là Thơ, một nghệ thuật hấp hối – Póesie, art moribond – tác giả là một thi sĩ lớn nước Pháp: Pierre Emmanuel.



            Bài đó là bài đọc ở Những cuộc hội thảo quốc tế tại Genève (Rencontres internationales de Genève). Những cuộc hội thảo nầy, mỗi năm tổ chức một lần. Riêng bài của Pierre Emmanuel thì hay lắm. Sẽ diễn ra tiếng Việt – khi có dịp.
            Thấy người ta hội thảo mà mình thì không. Cũng buồn chứ!


TAM ÍCH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #44 vào: 10/06/2017, 12:51:03 »
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4  [tháng 10 năm 1965 |  104 trang]

MỤC LỤC
An Châu Lan |  Hình ảnh (thơ) |  2
Trần Tuấn Kiệt |  Còi hoang (thơ) |  3
Kim Tuấn |  Lời ru thứ nhất \ Trở về (thơ) |  4
Định Giang |  Vùng trời quê hương chàng (thơ) |  5
Hà Nguyên Thạch |  Bọt nước (thơ) |  6
Nhất Hạnh |  Vòng tay nhận thức (thơ) |  7-8
Hoài Khanh |  Tiếng quê hương \ Hiện (thơ) |  9
Chinh Ba |  Bài thơ trên xương cụt |  10-19
Hồ Hữu Tường |  Cảm đề |  20-26
Phương Hương |  Những giọt âm thanh |  27-28
Tam Ích |  Ngày lại ngày – Sổ tay văn nghệ (tiểu luận) |  29-33
Dương Nghiễm Mậu |  Mỗi người |  34-41
Phạm Duy |  Tâm ca số 4 (nhạc) |  42-43
Sơn Nam |  Hào hoa phong nhã |  44-48
Tuệ Uyển |  Đối diện |  49-55
Nhất Hạnh |  Nói với tuổi hai mươi (tiểu luận) |  56-61
Chín |  Miếng đất bỏ hoang |  62-66
Vương Pển Liêm |  Khái niệm về đường lối giáo dục cộng đồng (tiểu luận) |  67-72
Rumer Golden/Dương Thanh dịch |  Vật sở hữu |  73-82
Phạm Hồ |  Ở giá |  83-89
Nhất Hạnh |  Nẻo về của ý (truyện dài) |  90-99
T.V. |  Hộp thư tòa soạn |  100
Quảng cáo |  101-104


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN