Diễn đàn sách xưa | Bảo tồn văn hóa Việt

ĐẶC SẢN => Thư mục báo chí Việt Nam => Báo, tạp chí văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 => Tác giả chủ đề:: thino vào 25/12/2011, 15:34:12

Tiêu đề: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: thino vào 25/12/2011, 15:34:12
Để sau
Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: thino vào 25/12/2011, 15:38:30
  VIÊN LINH - BÁO CHÍ MIỀN NAM TRƯỚC 1975: 'GIỮ THƠM QUÊ MẸ' CỦA NHẤT HẠNH

    Trong các tạp chí văn học tại miền Nam, Giữ Thơm Quê Mẹ xuất hiện trên các sạp báo và các tiệm sách vào tháng 7, 1965 với một khuôn khổ lớn, 18x25cm, khuôn khổ tương tự tờ Thế Kỷ Hai Mươi năm 1960, cùng với sự tập hợp những cây bút tên tuổi, hay có một quá khứ vào tù ra khám vì hoạt động chính trị:Hồ Hữu Tường, chủ trương Trung lập chế, và Tam Ích, trong nhóm Chân Trời Mới, thường được coi là nhóm “Ðệ tứ,” một nhóm khuynh Tả, tiếng đương thời là “chủ nghĩa xã hội có khuynh hướng quốc gia,” để phân biệt với nhũng người cộng sản theo Liên Xô.

    Giữ Thơm Quê Mẹ vừa ra mắt đã gây được sự chú ý của người đọc, với bài thơ mở đầu tờ báo chỉ có 4 câu, và đăng nguyên trang 2 của số ra mắt:
quê hương tôi là đây
chỉ có dòng sông, hàng cau, vườn chuối;
mặt trái đất dù mang đầy cát bụi
nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm Rằm.
(Nhất Hạnh, Chỗ Ðứng, GTQM 1)

     Trong cả bài thơ chỉ có chữ Rằm viết hoa ở chữ R, còn tất cả viết thường, kể cả bốn chữ đầu dòng. Bài thơ trên của Sư Ông Nhất Hạnh có thể hiểu như một tuyên ngôn, hay một Lời Phi Lộ, cho tờ báo. Tờ báo về quê hương đất nước, tờ báo đề cao truyền thống dân tộc (giữ thơm quê mẹ), “những đêm Rằm.” Lúc ấy Thượng Tọa Nhất Hạnh đã rất nổi tiếng với Bông Hồng Cài Áo (in lần thứ 2, năm 1965), Ðạo Phật Ði Vào Cuộc Ðời và tập thơ Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện. Ông ở ngoại quốc, song hiện diện trong sinh hoạt văn chương miền Nam qua nhà xuất bản Lá Bối, mà người điều hành (in trên giấy tờ) là Trương Phú. Trương Phú cũng là người quản trị tờ Giữ Thơm Quê Mẹ trong khi người phụ trách tòa soạn là nhà thơ Hoài Khanh. Trương Phú chính là Thanh Tuệ sau này.

    Ngay trong Giữ Thơm Quê Mẹ số 1, Hồ Hữu Tường viết “Ngày trở về của đứa con hoang” và Tam Ích viết mục sở trường của ông: Ngày Lại Ngày, ghi nhận sinh hoạt văn nghệ trong và ngoài nước với những chú giải ngay trong bài. Và đặc biệt đây là tờ tạp chí văn nghệ đã mỗi kỳ đăng một sáng tác mới của nhạc sĩ Phạm Duy, kỳ đầu dành tới 4 trang đăng bài “Tiếng Hát Thật To!” nhạc và lời của ông:


Tôi sẽ hát to hơn súng nổ bên bờ ruộng già
Lời tôi ca lời tôi ca xin lúa đừng lo
Lời tôi thay cho tiếng đạn bay
Lời tôi xây cho vững tay cầy.
(Phạm Duy, GTQM 1, tr.54)

    Trong những số thiếp theo, Phạm Duy phổ thơ Nhất Hạnh, đưa ra những bài Tâm Ca 1: “Sáng nay vừa thức dậy, nghe tin em gục ngã nơi chiến trường.” Hay Tâm Ca 3: “Ngồi gần ngồi gần nhau...” Riêng Tâm Ca 4 rất được ham mộ: “Giọt mưa trên lá, tiếng nói thầm thì, bóng dáng Phật về, xoa vết thương trần thế...” Bản nhạc này góp phần dương danh cho tờ tập san văn nghệ do một nhà sư chủ xướng, và cho ảnh hưởng Phật Giáo của thời đại đương thời.

    Nhà văn Hồ Hữu Tường đã viết rất ngụ ý trong bài “Ngày trở về của đứa con hoang,” về tình cảnh của ông (và có thể là cho những người cùng hoàn cảnh): theo cộng sản chỉ ăn “vỏ đậu heo ăn,” nhưng trở về với quốc gia thì bị ném đá. Tác giả “Thằng Thuộc con nhà nông” vốn có lối viết hấp dẫn, thường lấy một chuyện cổ tích hay một huyền thoại để vào đề, rồi mới bắt vào ý chính, nên rất hấp dẫn.

    Tên tuổi Tam Ích thường đi chung với Thiên Giang, Thê Húc, ba cây bút trong Nhóm Chân Trời Mới ở Sài Gòn từ trước 1954. Mục Ngày Lại Ngày chiếm tới 5 trang của số 1 GTQM, trong đó ông viết từ Ðông sang Tây, từ Pháp về Sài Gòn. Sinh hoạt văn nghệ giữa thập niên '60, và sau khi chế độ Ðệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ tháng 11, 1963, có thể được phản ảnh trong những dòng viết sau: “Cái giới văn nghệ vốn là một giới phi công thức. Họ không sống theo công thức có sẵn... Ðối với họ, vệ sinh về tâm hồn quan trọng hơn là thứ vệ sinh về tất cả những gì làm ra cái bề ngoài của con người cần trang trí những trường hợp vật chất hơn là trang trí bên trong... Bản chất họ vốn là một bản chất dễ cảm xúc cho nên họ phản ứng ngay trước những chuyện bất công nhớp nhúa... Thái độ sống của họ vốn là thái độ đối lập với trật tự có sẵn, cho nên họ không theo công thức.” Cổ kim như vậy. Kể cả Hàn Dũ đời nhà Ðường chẳng hạn: “Ðại phàm vật bất đắc kỳ bình, tắc minh.” Nghĩa là vật không thỏa mãn thì kêu lên. Chính vì “bất mãn” nên “tắc minh” và ở vào thế đối lập. Và chính là nghệ phẩm phát sinh từ tình trạng tâm lý ấy. Ở đời chẳng có cái văn thơ thù tạc và mãn nguyện nào mà lại thành... danh văn bao giờ! Văn nghệ theo nghĩa “chính,” văn nghệ sĩ theo nghĩa chính là như vậy đó.” (Tam Ích, Ngày Lại Ngày, GTQM 1, trang 68). Ông cố ý cho in chữ nghĩa và chữ “chính” bằng 2 dạng chữ khác nhau, độc giả có thể hiểu ngầm chữ đó là chính nghĩa.

    Riêng Hoài Khanh, người phụ trách bài vở Giữ Thơm Quê Mẹ, là một nhà thơ, thi phẩm đầu tay nhan đề Dâng Rừng, xuất bản tại Sài Gòn năm 1957, quanh đó chúng tôi gặp nhau hàng ngày. Anh nổi tiếng với thi phẩm Thân Phận in năm 1962. Trong Giữ Thơm Quê Mẹ số ra mắt, anh góp mặt với bài thơ trong đó hoán vị hoàn cảnh, như cách thận trọng hằng có:
Nếu em đã cùng tôi trưa hôm đó
Chuyến xe Sài Gòn-Phú Nhuận ra đi
Tôi sẽ đưa em về miền cát bỏng
Cưỡi lạc đà đi suốt cõi châu Phi...

Hắn đã về giữa dòng sông nước chảy
Của Á châu nhược tiểu khổ đau này
Hắn đã về giữa cát bừng sa mạc
Của Phi châu quằn quại suốt trời mây.
(Hoài Khanh, Về Nguồn, GTQM 1, tr.8)

      Trong số ra mắt còn những tên tuổi nổi tiếng khác: Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Bùi Giáng, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Ðức Sơn, Kim Tuấn. Bài “Ngồi đợi ngoài hành lang” của Nguyễn Ðức Sơn bị “đục bỏ” lỗ chỗ. Ðó là những chỗ tác giả nhắc đến vụ Tòa Ðại sứ Mỹ bị đặt chất nổ, (trang 94) hay chỗ dùng mấy chữ “những tên lính lê dương chết đói đã và sẽ đến đây.” (trang 95) (1).

     Giữ Thơm Quê Mẹ không sống lâu, chúng tôi cũng chỉ có 6 số của năm 1965. Tờ báo chết không phải vì thiếu độc giả, trái lại. Dàn biên tập qui tụ những người nổi tiếng, (2) bài vở dám viết, cho nên sự yểu mệnh của nó là do những nguyên do khác. Nó cũng không chết vì bị kiểm duyệt, vì báo bị kiểm duyệt là chuyện phải có tại một đất nước trong chiến tranh - lại là chiến tranh tương tàn. Nó chết vì những nguyên do nào đó. Sau này cô Cao Ngọc Thanh, em ruột bà Chân Không Cao Ngọc Phượng, thay thế ông Trương Phú về mặt trị sự, và Ðại Ðức Từ Mẫn thay thế Ðại Ðức Thanh Tuệ trông coi nhà xuất bản Lá Bối và việc xuất bản các tác phẩm của Sư Ông Nhất Hạnh. Hiện diện không lâu song “tập san văn nghệ” Giữ Thơm Quê Mẹ đã có đóng góp rất đáng kể trong sinh hoạt văn hóa báo chí miền Nam trong giai đoạn 54-75.


  (1) Ðục bỏ: Hồi đó nghề ấn loát ở Sài gòn còn dùng loại chữ đúc trên những thỏi chì-thiếc, thỏi vuông vắn nhỏ xíu, dài cỡ 2cm, ví dụ hai chữ “con voi” là do ba thỏi chì có 3 chữ c, o, n và ba thỏi chì có ba chữ v, o, i ghép lại với nhau mà thành. Khi bài bị kiểm duyệt, nếu nhà in dùng 6 con chữ chính, thì người ta lộn ngược các con chữ lại, khi in ra chỉ thấy mấy ô vuông mực đen. Nhưng nhà báo không có tiền đâu mà in chữ nguyên thủy, dễ mòn, dễ hư phải bỏ đi, nên sau khi sắp chữ, dùng chì nấu lỏng, đổ lên các “khuôn chữ” của trang báo, thành ra một trang báo bằng chì. Thợ in gắn các trang báo bằng chì để in báo, in xong lại gỡ xuống, nấu lỏng ra, lấy chì đúc chữ cho báo ngày hôm sau. Như thế các con chữ nguyên thủy vẫn còn nguyên, vẫn sắc nét như mới (vì nó có bị chạy qua máy in đâu; và như thế báo Việt Nam mới không sắc nét, mà lỗ chỗ, mực không đều, vì nét chữ là nét chì đúc lại.) [Khi báo bị kiểm duyệt, người thợ in lấy đục, búa, đục mảng chì có những câu bị kiểm duyệt đi, thành ra việc đó có tên là “đục bỏ.”]

    Một số tác giả khác có bài vở trong GTQM: Trần Tuấn Kiệt, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Thụy Long, Viên Linh, Trụ Vũ, Võ Hồng, Thành Tôn, Vương Pển Liêm, Kim Tuấn, Ðịnh Giang, Hà Nguyên Thạch, Hữu Phương.


Nguồn: Người Việt Online
Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: thino vào 25/12/2011, 16:11:54
Số 1

(http://farm8.staticflickr.com/7144/6568183509_7c2c055109.jpg)

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: thino vào 25/12/2011, 16:14:21
Số 2-3-4-5

(http://farm8.staticflickr.com/7166/6568184965_9e7334779e.jpg)
(http://farm8.staticflickr.com/7020/6568184659_00b6761f09.jpg)
(http://farm8.staticflickr.com/7159/6568183791_70a8ce9a87.jpg)
(http://farm8.staticflickr.com/7144/6568184213_72c36ba062.jpg)
Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: thino vào 25/12/2011, 16:16:35
Số 6-7-8-9-10

(http://farm8.staticflickr.com/7171/6568184011_9a53768fcc.jpg)
(http://farm8.staticflickr.com/7027/6568185245_6a7c549a50.jpg)
(http://farm8.staticflickr.com/7030/6568192539_5fd64fbd07.jpg)
(http://farm8.staticflickr.com/7163/6568192765_bb4a60c9a4.jpg)
Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: thino vào 25/12/2011, 16:17:24
Số 11

(http://farm8.staticflickr.com/7009/6568185577_0a108a2979.jpg)
Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: MINHLADO vào 30/06/2013, 15:03:11
       Cám ơn bác thino nhiều .
Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 19/02/2017, 21:24:49
NGÀY XUÂN ĐỌC LẠI GIỮ THƠM QUÊ MẸ

Nghiên cứu văn học Việt Nam một cách toàn diện không thể
không tìm hiểu văn học Phật giáo. Và nghiên cứu văn học
Phật giáo thế kỷ XX một cách sâu sắc không thể
 không khảo sát báo chí Phật giáo
.
– Phật giáo Hưng Yên

            Kế thừa truyền thống văn hóa Phật giáo, những tờ báo Chánh đạo, Đất tổ, Hải triều âm, Đuốc tuệ, Thiện Mỹ, Vạn Hạnh, Liên hoa, Giữ thơm quê mẹ… vừa đóng góp vào sự nghiệp truyền thông của xã hội, vừa phổ biến tư tưởng Phật học và văn hóa Phật giáo.
            Như tiêu đề ghi rõ, Giữ thơm quê mẹ là “tập san văn nghệ” ra hàng tháng do Lá Bối xuất bản. Khổ 18x25, Giữ thơm quê mẹ số đầu ra mắt tháng 7 năm 1965 có hình thức như một tuyển tập thơ văn. Trên tờ báo không ghi tên chủ nhiệm và chủ bút, thay vào đó là người “coi sóc”: Hoài Khanh, được hiểu như Thư ký tòa soạn. Sau tám số, từ số 9 đến số 12 (tháng 6 năm 1966) là số cuối cùng, Trụ Vũ thay Hoài Khanh “coi sóc” Giữ thơm quê mẹ.
            Nhan đề tờ báo lấy cảm hứng từ trường ca Mẹ Việt Nam của Phạm Duy vừa sáng tác xong một năm trước đó:

                        Chúng con đã về khát khao hơi Mẹ
                        Chúng con xin thề giữ thơm quê Mẹ
                        Cuộc đời rồi phai tàn sau thế giới
                        Chỉ còn tình yêu của Mẹ mà thôi


            Dân tộc và Phật giáo là hai chủ đề hòa quyện trong nội dung các trang báo Giữ thơm quê mẹ, từ văn thơ cho đến tiểu luận. Dù không đứng tên chủ biên, có thể nói Nhất Hạnh là linh hồn của tờ báo, tác phẩm của ông thể hiện “chỗ đứng” của tạp chí, như nhan đề bài thơ in trên trang đầu số ra mắt:

                        quê hương tôi là đây
                        chỉ có dòng sông, hàng cau, vườn chuối;
                        mặt đất dù mang đầy cát bụi
                        nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm Rằm
.

            Các thể loại cấu trúc nên tờ tạp chí gồm: Thơ, Truyện ngắn, Nhạc, Tạp bút, Tiểu luận, Truyện dài.
            Giữ thơm quê mẹ đã đăng thơ của những thi sĩ miền Nam thời ấy: Nhất Hạnh, Bùi Giáng, Hoài Khanh, Trụ Vũ, Nguyễn Đức Sơn, Kim Tuấn, Trần Tuấn Kiệt, Phạm Công Thiện, Hà Nguyên Thạch, Nguyễn Phan Thịnh, Viên Linh, Chinh Văn, Thành Tôn, Thi Vũ, Kim Tuấn, Luân Hoán, Thái Tú Hạp, Thái Luân, Nguyễn Nho Nhượn, Trần Dzạ Lữ, Đynh Trầm Ca… Nhiều bài thơ trong số đó về sau được chọn và tập hợp trong Tuyển tập thơ Giữ thơm quê mẹ, được xem như “một vườn hoa thơ bị vùi dập vì giông bão chiến họa trên lòng đất mẹ Việt Nam nhưng vẫn vươn lên khoe sắc”, “một tổng hợp tiếng nói về quyền sống, về tình yêu thương”.
            Ngoài những thể thơ truyền thống, Giữ thơm quê mẹ còn đăng những bài thơ tự do và thơ văn xuôi là hai thể thơ bắt đầu thịnh hành thời đó, chẳng hạn một bài thơ văn xuôi có nhan đề Những điều ghi được trong giấc ngủ của Kim Tuấn, về sau được Phạm Duy phổ nhạc:

            Khi tôi về con diều bay đùa trong gió. Ở quê nhà, trên thảm cỏ xanh, có đứa trẻ để bụng lòi chấm rốn đen cười nụ thanh bình. Buổi chiều có con trâu rung mỏ vu vơ như trong giấc mộng. Khi tôi trở về hai tay níu tim lồng ngực. Giọng hát ru kéo lại dĩ vãng trầm trầm như chưa tắt thở. Có người rủ nhân loại đi xem địa ngục mà không ai trả lời

            Giữ thơm quê mẹ dành phần lớn số trang để công bố truyện ngắn và tạp bút của các nhà văn Võ Hồng, Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Dương Nghiễm Mậu, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Thụy Long, Kiêm Minh, Lưu Nghi, Nguyễn Đức Sơn, Trụ Vũ, Hoài Khanh, Chinh Ba, Tuệ Uyển, Phong Sơn, Tuấn Huy, Định Giang, Văn Lệ Thiên (Lê Văn Thiện), Chín (Cao Ngọc Phượng)… Một số truyện ngắn mang đậm khí hậu tinh thần và hơi thở cuộc sống miền Nam như Kinh Tà Bang của Bình Nguyên Lộc, Trạm Hành của Võ Hồng, Cấm bắt rùa, Sắc màu Hậu Giang của Sơn Nam…
            Giữ thơm quê mẹ cũng là nơi công bố lần đầu tiên hai tác phẩm đăng nhiều kỳ của Nhất Hạnh: Nẻo về của ýNói với tuổi hai mươi. Hai tác phẩm này về sau có ảnh hưởng sâu rộng trong công chúng, cho đến tận bây giờ.
            Điều thú vị là bên cạnh những tác phẩm của các nhà văn Việt Nam, Giữ thơm quê mẹ đã dịch và công bố một số tác phẩm văn học nước ngoài đặc sắc, hầu hết là của các nhà văn lớn và có bút pháp hiện đại. Qua Giữ thơm quê mẹ, W. Faulkner, R. Barthes, H. Hesse, A. Solzhenitsyn, E. Caldwell, A. Moravia… đã được giới thiệu khá sớm ở Việt Nam.
            Cộng tác với Giữ thơm quê mẹ ngay từ số đầu tiên, nhạc sĩ Phạm Duy đã chép tay để cho in liên tục trên tạp chí những ca khúc phản chiến, kêu gọi hòa bình, hòa giải và hòa hợp dân tộc: Tiếng hát thật to, Hòa bình (Tâm ca số 1), Ngồi gần bên nhau (Tâm ca số 3), Giọt mưa trên lá (Tâm ca số 4), Để lại cho em (Tâm ca số 5), Một cành củi khô (Tâm ca số 6). Đường chiều lá rụng.
            Tầm vóc và quan niệm của Giữ thơm quê mẹ bộc lộ rõ hơn qua những tiểu luận triết học (Martin Heidegger, Phạm Công Thiện), tiểu luận văn hóa (Vương Hồng Sển, Hồ Hữu Tường, Sơn Nam, Đông Tùng), tiểu luận giáo dục (Nhất Hạnh, Vương Pển Liêm), tiểu luận văn học (Nguyễn Hiến Lê, Tam Ích, Thiếu Sơn, Hoài Khanh, Bùi Giáng, Vũ Đình Lưu). Có thể nói hầu hết đó là những trí thức có uy tín ở miền Nam lúc ấy.
            Hoạt động chỉ vừa một năm với 12 số báo – trong đó có một số kép 7&8 Xuân Bính Ngọ, Giữ thơm quê mẹ để lại một hình ảnh đẹp trong làng báo nước ta. Hai năm 1965-1966 là thời gian chiến tranh leo thang, Mỹ đổ quân ồ ạt vào miền Nam. Là tiếng nói khẳng khái của lương tri dân tộc và lương tâm Phật giáo, Giữ thơm quê mẹ trở thành cái gai trước mắt của giới quân sự cầm quyền lúc đó. Nhiều trang báo đã bị cơ quan kiểm duyệt khắc nghiệt của Bộ Thông tin Tâm lý chiến buộc phải bôi đen nhiều câu liền, có khi cả những đoạn dài, như trong các truyện ngắn Thư viết từ một xóm quê của Dương Nghiễm Mậu, Ngồi đợi ngoài hành lang của Nguyễn Đức Sơn, Biến kế chấp của Chín, Giao thừa bệnh viện của Hằng Hà Sa, Lý do của Văn Lệ Thiên, Hoa vông đỏ của Nguyễn Phước, kịch Pho tượng Linh Mai của Chinh Ba…
            Những người nghiên cứu lịch sử văn học và lịch sử báo chí giai đoạn này, nếu tìm cách phục hồi được những chỗ bôi đen như vậy, sẽ có được những cứ liệu thú vị để suy nghĩ, nhận định. Chẳng hạn, trong bài thơ Ghi từ Pleiku sau đây của Đinh Cường trên số 7&8 Xuân Bính Ngọ, hai câu thơ cuối viết rất nhẹ nhàng cũng bị kiểm duyệt bôi đen:

                        Tôi nằm trong phố chiến tranh
                        Xe nhà binh chạy, dãy thành đạn reo
                        Bụi tung mù mấy đoạn đèo
                        Rừng âm u có người theo bước người.

                        Sớm mai trở dậy qua đèo
                        Mù sương giăng bủa hiu hiu đất trời
                        Xác người còn thắm máu tươi
                        Xác ai, ai nhận khi ra trận tiền


            Thậm chí có một câu văn rất trung tính mở đầu truyện Đóa sen vàng của Chinh Ba cũng bị kiểm duyệt yêu cầu bỏ bớt một chữ: “Vào một ngày nào đó, ở một xứ sở nào đó – xứ sở của mấy nghìn năm nghèo đói và chiến tranh, có một người đàn bà bị bom lửa phủ lên người”. Chữ bị kiểm duyệt ở đây là chữ “bom”!
            Có những truyện ngắn đã lên khuôn, đưa vào mục lục nhưng vào giờ chót bị kiểm duyệt bỏ, phải thay bằng bài khác, như Cuối đường của Võ Hồng, Những hình ảnh để lại của người chết của Chinh Ba.
            Qua đó, đủ biết nhà cầm quyền lúc đó e ngại văn nghệ phản chiến như thế nào.
            Tuy vắn số, Giữ thơm quê mẹ xứng đáng là đề tài nghiên cứu cho một tiểu luận của sinh viên ngành báo chí, văn học hay Phật học. Điều này càng cấp thiết khi những tác giả cộng tác với tờ báo và cả những độc giả của báo thời đó còn lại đây ngày càng thưa dần. Đặc biệt, hai người chủ chốt tổ chức bài vở là nhà thơ Hoài Khanh và nhà thơ Trụ Vũ, người ở Biên Hòa, người ở Sài Gòn, nay đều tuổi cao sức yếu.
            Chúng tôi viết bài này như một gợi ý với những người quan tâm, chứ thật sự chưa đủ điều kiện để khảo sát và đánh giá đúng mức những đóng góp của Giữ thơm quê mẹ.


HUỲNH NHƯ PHƯƠNG
2013


http://phatgiaohungyen.vn/news/Van-hoa-Phat-giao/Ngay-xuan-doc-lai-Giu-thom-que-me-7451/


Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 25/02/2017, 12:58:34

GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1  [tháng 7 năm 1965 |  104 trang]

MỤC LỤC
Nhất Hạnh |  Chỗ đứng \ Về với em bé thơ ngây (thơ) |  2-3
Phạm Công Thiện |  Bất nhị (thơ) |  4
Thành Tôn |  Cuộc tôi (thơ) |  5
Bùi Giáng |  Ruộng đồng cỏ mọc \ Dưới trời (thơ) |  6-7
Hoài Khanh |  Về nguồn (thơ) |  8
Võ Hồng |  Khoảng mát |  9-16
Hồ Hữu Tường |  Ngày trở về của đứa con hoang |  17-22
Nhất Hạnh |  Sơ ý |  23-25
Bùi Giáng |  Rằng từ ngẫu nhĩ (tiểu luận) |  26-30
Sơn Nam |  Cấm bắt rùa |  31-37
Phạm Công Thiện |  Vài suy tưởng triết học (tiểu luận) |  38-53
Phạm Duy |  Tiếng hát thật to (nhạc) |  54-57
An Di |  Đến hôm nay bắt đầu (thơ) |  58-59
Kim Tuấn |  Tháp cổ (thơ) |  60
G.T.Q.M. |  Giới thiệu sách báo mới |  60
Chín |  Đồng sự |  61-65
Tam Ích |  Thơ văn ngày lại ngày (tiểu luận) |  66-70
Dương Nghiễm Mậu |  Khí hậu pháo xiết |  71-84
Hoài Khanh |  Cho lòng thở than |  85-91
Nguyễn Đức Sơn |  Ngồi đợi ngoài hành lang |  92-98
Bình Nguyên Lộc |  Kinh tà bang |  99-104


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 25/02/2017, 13:06:15


            Chỗ đứng

            quê hương tôi là đây
            chỉ có dòng sông, hàng cau, vườn chuối;
            mặt trái đất dù mang đầy cát bụi
            nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm Rằm.

                                                NHẤT HẠNH




            Về với em bé thơ ngây

            sương vương cành lá, bình minh đến
            tôi thấy em tôi mỉm miệng cười:
            nắng sớm trong như hồn bích ngọc
            ngày xanh tuổi mộng nở xinh tươi

            ngây thơ mắt biếc hồn vô tội
            tràn ngập nhân gian vạn tiếng cười
            sầu đau nhân loại, như mây khói,
            phút chốc tan dần trong nắng mai.

            đau thương sầu hận ngàn muôn kiếp
            danh lợi phù vân gợn nắng chiều
            tôi thấy thiên đường đang mở cửa
            nâng hồn em nhỏ trái tim yêu

            về đi lữ khách! đường xa lắm
            cát bụi sầu thương vướng đã nhiều
            thanh thản ngủ trong lòng đạo cả
            cho hồn thơ ấu được nâng niu.

                                                NHẤT HẠNH
                                                (1952)


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 25/02/2017, 13:31:00


            Bất nhị

            Mười năm qua gió thổi đồi tây
            Tôi long đong theo bóng chim gầy
            Một sớm em về ru giấc ngủ
            Bông trời bay trắng cả rừng cây

            Gió thổi đồi tây hay đồi đông?
            Hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
            Trong mơ em vẫn còn bên cửa
            Tôi đứng trên đồi mây trổ bông

            Gió thổi đồi thu qua đồi thông
            Mưa hạ ly hương nước ngược dòng
            Tôi đau trong tiếng gà xơ xác
            Một sớm bông hồng nở cửa đông


                                                PHẠM CÔNG THIỆN
                                                1-5-65


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 25/02/2017, 13:49:04


            Cuộc tôi

            bây giờ đau nỗi phân thân
            nặng vai âm phủ nhẹ chân địa đàng
            mộ tôi máu đỏ da vàng
            ý se những sợi điêu tàn trong thây

            nửa đời lầm lạc trong tay
            tóc thưa râu đỏ mỗi ngày mỗi rơi
            lầm lì nếp sống thoi dơi
            bóng đêm lưới dệt rã rời ấu nhi

            cuộc tôi mỏi kiếp thiên di
            thần thiên quỉ địa thu chi hằng giờ
            vôi long hồ rã tượng thờ
            hao tâm mòn lực gương mờ tương lai

            những lo sinh tử miệt mài
            nỗi niềm phàm tục đêm dài thế nhân
            tủy không óc rỗng ngu đần
            rình mò nhan diện số phần một lu

            bói linh quẻ ứng tâm thù
            kém tài đoản tướng phận mù tình chân
            đường chia xa bước phân vân
            về đâu ác quỉ thiên thần một ta.


                                                THÀNH TÔN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 25/02/2017, 14:11:32


            Ruộng đồng cỏ mọc

            ruộng đồng cỏ mọc hôm mai
            tương hòa tố muội sao nài nỉ nhau
            niềm riêng suy trọng cơn đầu
            tình vong niên nặng như màu gió mây
            dư vang thái thậm đọa đày
            bỗng dưng hàng mở sương đầy cảo thơm
            Ô Mông máu ứa xanh rờn
            lệ phơ phất tuyết cung đờn đăm chiêu
            trường giang có nhớ em Kiều
            của tôi mơ mộng tự chiều hôm nay
            trùng sinh tiết điệu di hài
            để dành khe chị trên ngày phù du
            đi vòng cổ lạp thiên thu
            gọi rằng cổ lạp khôn bù cựu hy
            đến bây giờ mới thấy đây
            mà trong vạn đại cơn mây lên trời
            tà xiêm thiên cổ mở lời
            gõ thiêm thiếp cổ sườn đồi giữa lưng
            thương ngài Thượng đế thủy chung
            lộn đường thái cực gặp trùng điệp vây
            ruộng đồng cỏ mọc hôm mai
            lững lờ khe cát bên dày bên thưa…


                                                BÙI GIÁNG




            Dưới trời

            Dưới trời chum nước đăm chiêu
            ôi nường kiếm hiệp sao liều lĩnh ru
            niềm suy trọng, giấc hư phù
            gõ thiêm thiếp chén tạc thù đêm trăng

            nửa cung bạc mệnh bên đèn
            nửa cung sầu khổ giọt hằng hằng sa
            dưới trời chân ngọc là hoa
            ôi người thiên hạ thưa là địa phương

            đi thiêm thiếp cõi lạ dường
            cành lên đọt đỏ cuối đường đợi trông
            ấy cây ngọc thụ ai trồng
            Duồng Mô Din ngậm vân mồng Thượng du.


                                                BÙI GIÁNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 25/02/2017, 14:29:37


            Về nguồn

            nếu em đã cùng tôi trưa hôm đó
            chuyến xe Saigon – Phú Nhuận ra đi
            tôi sẽ đưa em về miền cát bỏng
            cưỡi lạc đà đi suốt cõi châu Phi

            để em biết nỗi buồn xa đất tổ
            thương linh hồn bộ lạc thủa lang thang
            và thương mình một tình yêu bé nhỏ
            có nghĩa gì giữa đau khổ mê hoang

            ôi Phi châu kiếp người đầy khổ nhục
            tự bao đời ai dựng cõi điêu linh
            sương không trắng giữa màu đen giá buốt
            mặt trời bừng chưa sáng nẻo quang linh

            thân phận đó lạc loài đêm sa mạc
            kiếp người tôi trầm túy cõi vô thường
            nhưng ánh sáng sẽ hai miền hiển hiện?
            vì mặt trời vẫn mọc ở Quê Hương

            trưa hôm đó em đã cùng chuyến ấy
            mang niềm đau tôi đến tận phương nào
            em có nhớ mỗi lần xe tách bến
            bóng một người ngơ ngác đó về đâu

            hắn đã về giữa dòng sông nước chảy
            của Á châu nhược tiểu khổ đau này
            hắn đã về giữa cát bừng sa mạc
            của Phi châu quằn quại suốt trời mây.


                                                HOÀI KHANH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 26/02/2017, 13:39:09

SƠ  Ý

BÉ DŨNG nhảy tung tăng trên con đường đi đến ngọn đồi trước chùa Thanh Tịnh. Chú điệu Hương đã hứa với Bé chiều nay đưa Bé lên đồi chơi và hái hoa. Chú đã dặn với Bé rằng sau khi tan học thì Bé đến dưới chân đồi, có chú đợi ở đấy. Chiều nay bãi học sớm hơn mọi hôm một giờ, Bé đã tạt vào nhà cất sách vở và uống một ly nước mưa, nhưng hình như vẫn còn sớm. Nắng vẫn còn nhuộm đủ ngọn đồi. Nhưng gió chiều đã thổi. Trời cũng mát như buổi sớm mai, và cũng hồng như buổi sớm mai. Con đường tới chùa ngoan ngoãn nằm dài, in hình bóng cây bóng lá.

BÉ ĐÃ đến dưới chân đồi. Nhưng lạ chưa, cảnh vật hình như thay đổi. Mái tam quan vẫn in hình mờ nhạt trên ngọn đồi bên kia. Nhưng ngọn đồi bên này hình như không còn nữa. Bé thấy một đồng cỏ xanh tận ngút ngàn, cỏ mướt như nhung và màu xanh quyến rũ Bé một cách lạ lùng. Bé chạy lại và lăn mình trên nệm cỏ. Hương cỏ ngạt ngào, à mà không, những cây hoa có bông tím bông vàng trà trộn trong cỏ đã tỏa ra một thứ hương diệu kỳ pha lẫn với màu cỏ đồng quê quen thuộc. Bé đứng dậy. Một cửa rừng hé mở trước mặt Bé: tiếng đón chào líu lo của một đôi hoàng anh trên cành một thứ cây lạ khiến Bé không còn ngại ngùng. Bé bước vào rừng. Một cảnh tượng đẹp đẽ lạ kỳ hiện ra trước mặt Bé. Có những cây mà lá trong xanh như làm bằng ngọc bích. Có những cây mà cành như bằng vàng, lá như bằng bạc. Có những cây mà hoa trái như lóng lánh ánh Kim cương. Mỗi bước, Bé thấy một kỳ quan mới lạ. Mỗi bước, Bé thấy một thứ hoa trái tuyệt vời. Có những bông Hàm Tiếu đượm sương, có những đóa Mãn Khai trĩu nặng trên cành yếu. Có những chồi non lên mạnh như tuổi thơ nhân loại. Mỗi thứ tỏa một mùi hương diệu kỳ. Bé càng vào sâu, khu rừng càng trình bày trước mắt Bé nhiều hoa dị thảo. Càng lúc càng thấy mới hơn, lạ hơn. Nhưng Bé đã ngợp, đã quá ngợp. Bé không chịu nổi nữa. Sức bé không đủ để chịu đựng cái kho vô tận mênh mông của muôn vạn kỳ hoa dị thảo này. Bé không dám bước tới nữa. Bé trở lui, dần dần ra khỏi khu rừng. Đồng cỏ lại hiện ra với màu xanh mát dịu như tình mẹ; lấm tấm trong màu xanh đó là muôn màu khác nhau của các cây hoa nhỏ rải rác đó đây. Bé lại thấy ước ao được lăn mình trong nệm cỏ. Bé ngồi xuống, mở dây giầy, cởi giầy cầm tay, hai chiếc giầy nhỏ xíu như hai bàn chân nhỏ xíu của Bé. Bé rón rén bước trên cỏ mềm, sung sướng đặt chân trên mầu xanh êm mát của cỏ.

BÉ ĐÃ quên hết. Quên rằng mình mới ở trường về. Quên rằng mình đang đi tới nơi hẹn với chú điệu Hương. Bé ngồi xuống cỏ, đặt giầy xuống cạnh và vuốt ve một bông hoa tím. “Hay là ta hái bông tím này chơi” bé nghĩ. Và Bé đưa bàn tay nhỏ bé định ngắt. Nhưng bỗng dưng đất động, cả đồng cỏ hình như rung chuyển thật mạnh, làm bé thất thần. Bé vội đứng dậy, tay trái nắm lấy đôi giầy, mắt nhìn ngơ ngác. Đồng cỏ vẫn rung chuyển, như đất dưới chân bé sắp sụp đổ đến nơi. Bé hoảng hốt bỏ chạy. Bé chạy thật mau. Bé nhảy vụt ra đường. Và khi quay lại, đồng cỏ biến mất.

ĐỒI THÔNG trước chùa vẫn y nguyên như mọi hôm. Bé dụi mắt nhìn kỹ lại: chẳng có đồng cỏ, chẳng có khu rừng nào cả. Chỉ có những cây thông cằn cỗi mọc thưa thớt trên đồi. Dựa lưng nơi một gốc thông chú điệu Hương hình như vừa ngủ dậy. Chú dụi mắt. Chú không trông thấy Bé. Chú đưa tay lên vỗ nhẹ trên trán chú. Hình như chú nhức đầu.
            Bé thở hào hển, tiến lại chào chú. Chú đưa tay ra cho Bé. Nhưng rồi chú rút tay lại và đưa lên trán. Chú vẫn nhức đầu. Bé thấy chú nhức đầu. Bé biết chú nhức đầu.
            – Nào, dẫn em đi chơi trên đồi, đi chú.

NHƯNG KHÔNG, chú không trả lời. Hình như chú không muốn đưa Bé đi chơi chiều hôm nay. Chú đứng dậy nắm tay Bé, cố gắng dìu Bé đi. Nhưng chú lảo đảo suýt ngã. Chú phải ngồi xuống bên một gốc thông. Bé nhìn chú. Chú nhìn Bé.
            – Sao em chỉ có một chiếc giầy?
            Bé nhìn lại thì quả thật trong tay Bé chỉ có một chiếc giầy. Chiếc giầy nhỏ xíu, phảng phất một thoáng hương kỳ ảo. Chiếc kia, Bé đã làm rơi trong đồng cỏ.


NHẤT HẠNH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 04/03/2017, 17:56:13

RẰNG TỪ NGẪU NHĨ

CHUYỆN NGẪU NHĨ là chuyện gì không rõ. Hỏi chàng Kim Trọng ắt rõ hơn. Hỏi nàng Thúy Kiều, e nàng không chịu nói, dù trong bụng nàng có lẽ nàng rõ hơn chúng ta tất cả chúng ta.
            Chúng ta là ai? Là mọi người hôm nay sẵn sàng quên mọi sự hôm qua, mọi sự hôm nay mọi sự về sau. Vì sao thế? Tạm nói là: vì bận rộn sưu tầm cái nghĩa của ngẫu nhĩ đó thôi.
            Nói bận rộn sưu tầm cho vui vậy thôi. Thật ra không bận rộn. Không sưu tầm. Mà nếu thật có bận rộn sưu tầm, lại càng bết thêm lắm vậy.
            Ấy bởi rằng: nếu bận rộn sưu tầm cái gì, khác thì không sao. Nhưng đã gọi là nên câu “ngẫu nhĩ”, mà còn nằng nặc đòi sưu tầm nghĩa của nó, e rằng càng lầm lạc thêm ra. Thế còn gọi là ngẫu nhĩ, nhĩ ngẫu gì được nữa.

SỐ LÀ: vốn tự xưa kia, cái ngẫu nhĩ là cái không ngờ trước: Bỗng dưng mà đến cho vui cười, bỗng dưng mà đi cho thiên hạ khóc, bỗng dưng mà cảm động quay đầu cho kẻ đối diện không biết nghĩa sao, bỗng dưng mà tảng lờ như không nhận thấy, làm cho người ta không biết phải biện bạch thế nào…
            Đó là tinh thể của cái ngẫu nhĩ vốn tự xưa kia.
            Vốn tư xưa kia “là”, tới ngày nay vẫn chưa ngừng “là”, đó là nghĩa của cái “là” trong ngẫu nhĩ.
            Sao gọi là “là”? Có kẻ bảo: “Là” là “là” vậy. Và thêm rằng: Nếu không có tiếng “là”, thì trong nhân gian không còn ngôn ngữ. Mà nếu mất ngôn ngữ thì nhân gian mất nghĩa nhân gian. Bởi đâu? Rằng sở dĩ nhân gian là nhân gian, ấy bởi nhân gian là “cõi”. “Trăm năm trong cõi người ta”. Nếu người ta không có cõi, thì người ta không phải là người ta. (Vì không ta, không người.) Nếu không người không ta, thì làm sao có được cái người ta để làm nên nhân gian một cuộc giữa biển dâu phơi mở trong ánh mờ tồn lưu.
            Nhân gian có người ta, nhân gian có cõi. Nhưng bởi đâu mà có người ta làm nên có cõi? Cái gì là căn cơ sơ thủy của người ta trong cõi có trăm năm?

ẤY LÀ cái lời trong cổ lục vậy. Lời là thiết lập. Lời là căn cơ. Lời là nhiếp dẫn.
            Từ đó về sau trăm năm bước vào sử lịch dựng mộng sử xanh cho phong tình phiêu dật rất mơ màng.
            Bất cứ lúc nào, dù trước giờ giác ngộ, dù sau phút đam mê, bao giờ con người ta cũng có thể xô phong tình vào chiêm bao được cả, kể từ ngôn ngữ là lời đã bước vào cổ lục mà truyền với sử xanh, để cho con người mỗi lúc mỗi có thể lại bên mép bàn ngồi ở bên đèn mà lần giở với hai tay:


Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.

            Cổ lục đã truyền vào sử xanh cho phong tình trường tại thì mọi vật, mọi đồ trong nhân gian đều kể từ đó mà được kết hợp chót vót nguy nga dẫu rằng muôn năm vẫn nằm lì ngang mặt đất. Chim chóc ăn trái cây, trâu bò nằm bờ ruộng, bốn lá cồn kết lại làm một chùm hoa cỏ, bến phiêu diêu là có sóng phiêu bồng.

Hỡi ôi! ngôn ngữ là lời
Ấy trong tiết điệu ấy ngoài âm thanh
Dư vang cuối lá đầu cành
Niềm riêng suy trọng sao đành từ nan
Rừng phong thu giữ hội đàn
Rượu thơm từ đáy chén vàng nguyệt khuy
Rừng phong thu đã nhuộm kỳ
Chiêm bao bờ cỏ gái Tỳ Hải gieo.

CÁI CHỖ ngẫu nhĩ lạ lùng trong buổi mới một lần bồn chồn cái dạ con người ta và kéo dài thao thức tân thanh cho mai sau chư lão chung tình về tư lự – đầu đuôi ngành ngọn đều khởi tự cái cơn đầu ngôn ngữ ra hoa.
            Cõi trăm năm thoắt biến thành thiên-thu-cơn-mộng-cõi. Tha hồ thiên hạ đi về tiếp tục mà kết lá vào cho trái cây. Trái lựu trái đào, em cho ăn trái lê vậy. Huống nữa là…

            “Hựu huống thập thủ tân thi, quán nhập đoạn trường chi tập; từ huyền cung oán phổ thành bạc mệnh chi âm; giác thê lương kỳ não nhân, phục sinh đình nhi cố ảnh. Hoa ưng thâu diễm, liễu dục tăng kiều. Tham Bắc Bộ chi phong tao, tiếu đề diệc vận. Thiện Nam Triều chi phấn đại, nùng đạm tương nghi… Cố nghi chư lão chung tình, biến danh tính ư quần biên tụ giác; toại sử thiên thu ký sự, thái phong lưu ư thặng phấn tàn chi…”

            Từ đó về sau… Nhân gian có bờ lau bến lá để đi về ấm cúng mà thút thít bên nhau.

CHỢT NHÌN em đốt than đen đủi, chợt ngó ra màu hồng lệ thiên hương. Chợt tao ngộ đầu non Duồng Mô Din tư lự, chợt muôn đời vào vạn đại là hơi thở riêng Hoàng Hậu mai sau. Chợt chiêm bao liễu yêu bài động, chợt phong tình vạn chủng lồng lộng phơi hoa.


Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là Tảo Mộ hội là Đạp Thanh.

            Cái nghĩa u huyền của tháng ba là chi thế? Nào hội, nào lễ, nào Tảo Mộ, Đạp Thanh, cùng xúm xít dàn bày song song như hai hàng chân ngọc duỗi ấy cũng chỉ vì cái “là, là” nó liễu là lộn lại rất lần khân phố hội do ra,

Thanh Minh trong tiết tháng ba
Lễ là Tảo Mộ hội là Đạp Thanh
Một giờ ngẫu nhĩ ngày xanh
Ngửa ngang
mộng nên đànhthưa
Cung đàn lựa những ngày xưa
Mà gương bạc mệnh bây giờ
đây
Lòng thí chủ vốn hẹp hòi
Cúi xin phương trượng trong ngoài mở ra.


SUY TƯ sâu thẳm về chỗ đó cái chỗ của “là, là” từ trong tinh thể phơi ra, đó là điều kiện thiết yếu của tái lập tồn lưu do ra vạn đại. Con mắt sẽ nhìn thấy Thúy Kiều…
            Con mắt sẽ nhìn thấy Thúy Kiều về chủ tọa buổi hội thoại giữa các thiên tài cổ kim trong một vòm ánh sáng khác.


Truông đầu đá vọng thiên di
Mắt gì cô quả mắt gì bá vương
Đầu phơi cung bậc lên cồn
Quần tiên giũ áo trút nguồn cho ma?
Thơ sầu rượu kếch đưa ra
Ních tì ti sảng sảng là cuồng ngâm?
Càn khôn gió đổ chất chồng
Về trong thiên hạ đêm mồng một giêng
Hồng nhan em trú ngụ miền
Mép nào xa dội phi tuyền về mây?

            Mép miền nào em trú ngụ? lần cuối cùng xin hỏi lại Sử Xanh.

Những từ sen ngó đào tơ…

            Sen ngó đào tơ là cái chi lạ rứa? Mà cứ lạ rứa đi về ám ảnh mọi cái Tại Thể. Bây giờ là sực tỉnh Thiên Thu? Mà thiên thu là thu thiên cồn lá Tồn Lưu Vĩnh Thể nhớ Trường Sinh di biệt khúc Lâm Dồn? Những từ sen ngó đào tơ? Đi về kêu gọi bây giờ ra sao? Những từ bờ cỏ chiêm bao? Mười lăm năm mới Bây Giờ Là Đây. Cái Bây Giờ Là Đây hiển hiện tròn đầy tươi tốt hơn mười rằm xưa. Trọn lành lài liễu lên thôn lá cồn lên cỏ. Quá khứ không còn. Tương lai không cần nữa. Sau trước dồn về bây giờ tại đó là bất tuyệt luân lưu ngàn thu kia là phút nọ. Ni il n’a jamais été, ni il ne sera, parce qu’il est maintenant, tout à la fois, sans discontinuité. Có điều chi nữa mà ngờ. Cô đừng dấu tôi nữa nhé. Hai đứa vén tấm màn phủ trên dâu biển, nghe linh hồn lắt lay thần thánh, ngự trị lên sáu cõi luân hồi di chuyển chu lưu. Au milieu de ces cercles, est la divinité qui dirige le cours de toutes choses; car elle est le principe de toute naissance douloureuse et de toute génération, poussant la femelle dans les embrassements du mâle et le mâle dans ceux de la femelle – Parménide.

CON CÁI nằm vào trong vòng tay con đực, con trống chui vào hang con mái, phôi dựng âm dương theo thiên lý lưu hành, quyết định mọi sinh nở đoạn trường, đẻ đau bừng reo thất thanh hồn thế hệ. – Et tu apprendras égafement les oeuvres vaga bondes de la lune… Tu connaitras aussi les cieux qui nous entourent… Và sao mọc lên trời, và trăng tròn di động vằng vặc mộng lang thang và những quỹ đạo tuyết sương khắp ba nghìn thế giới cùng rủ nhau giải rõ cái nghĩa thần thánh đùn đẩy âm dương giao hội quân bình.
            Tư tưởng nguyên sơ nảy giô huyền hoặc. Người đời nay không còn Ký ức. Kỷ niệm mất dư vang. Mải mê biện chứng duy lý duy vật, quên hết mọi sương bóng siêu nhiên mơ màng bình minh trên cổ độ. Đầu ngõ nào mây dội? Cồn lá nào – là Thâm Xứ tuyết băng? Con người chết ngột. Weil, Hemingway đã bỏ đi. Ta xin gọi – ơi em Thúy Kiều về nhanh với chứ!


Cảo thơm lần giở trước đèn
Phong tình cổ lục còn truyền sử xanh.

            Trước ánh đèn (Lửa Phôi Dựng) chuyện Phong Tình biến làm Ẩn Ngữ: Nó nằm trong Cổ Lục để truyền vào sử xanh; Nghĩa là: buộc người nghe phải nghe trong Tiếng Gọi của Cái Vậy – là Cái Vậy – là Cái-Vậy-Phong-Tình không phải cái Phong-Tình-Chỉ-Duy-Có-Vậy. Theo Heidegger, đó là chỗ khác nhau giữa cái le Même và cái l’Identique. Tiếng Gọi đã truyền vào Sử xanh làm cho trang Cổ Lục tê tái tím ngắt – nghĩa là: bất thình lình động mình tuyết bạch là: trắng muốt võ vàng. Cảo thơm trước ánh đèn đúng là: hương lửa ba sinh cỏ mọc ba miền phong tình xanh lục lãng đãng ba chân trời trăm năm về kêu trong Thời Gian Tố Chất: ba sinh biến làm ba góc biển của triều năm tháng rộng – kết Chùm Vĩnh Viễn trong Trường Sinh Bất Tuyệt Đó Đôi Vành Nương Tử đón Chân Trời về mộng giữa Phù Du.
            Đọc Nguyễn Du là: nghe cái lời vô ngôn trong ẩn ngữ, đừng bỏ lạc ý ẩn ngữ – là mất khả năng nghe. Anh đã về?Em nghe dưới chân vang: hoa lá nở với chuông rền giọng thắm. Ainsi demeurons-nous de ceux qui entendent et préts à faisser le mot reposer en fui même comme mot-énigme, afin que tout d’abord nous aider à considérer la pleine mesure d’enigme contenue dans le mot.

THẾ LÀ chúng ta chịu làm những con gái biết nghe, và sẵn sàng chịu để cho cái lời nằm trong miền cõi nó là: mép cồn ẩn ngữ vô ngôn – là cốt để: trước tiên ta được lắng tai ngóng về mươi hướng, mở linh hồn đón một cái nói dị thường trong cổ lục khả dĩ giúp ta cân nhắc đầy đủ cái nghĩa trọng nghìn non của u uyên nằm trong ẩn ngữ, là: tụ hội tuyết sơ khai triều gọi sóng phiêu bồng.
            “Sao gọi là nghe?” – từ đó mang nghĩa: nghe là ngóng đợi triều sử xanh cổ lục giậy trào – còn lưu tồn là truyền trong tiếng gọi. Truyện Thúy Kiều mở ra ở trước đèn theo điệu nọ, thì Essai et Conférences khép lại với những tiếng kia:
            Logos, Moira, Alêthéia.
            Những tiếng Chữ Tài Chữ Mệnh, Cổ Lục, Sử Xanh, Anh Hoa Phát Tiết, Những Điều Trông Thấy, Cảo Thơm Lần Giở – cùng muốn nói cái gì ở phía bên kia âm thanh lay lắt?
            Il est vrai que pour saisir au-de là des mots ce que ces mots veulent dire, une interprétation doit fatalement user de violence
            Muốn “nắm” cái ở bên kia lời, sự luận giải thích tất nhiên buộc phải sử dụng điệu quá khích cưỡng chế. Nhưng đó không phải là võ đoán bướng bỉnh làm bừa. Đó được thúc đẩy và hướng dẫn bởi sức mạnh của một ý tưởng chủ yếu khơi dẫn linh cảm vũ bão – thuận theo ý hướng thăm thẳm, tin tưởng nơi cái đà suy tư tha thiết trong tác phẩm tài hoa. Người luận giải chỉ được phép liều mạo hiểm giấn mình trong cuộc – là riêng bởi cái niềm tin, cái ý tưởng mãnh liệt nọ.
            Il est vrai que pour saisir au de là des mots ce que ces mots veulent dire, une interpretation doit fatalement user de violence. Mais cette violence ne peut se confondre avec un arbitraire fantaisiste. L’interprétation doit être animée et conduite par la force d’une idée inspiratrice. La puissance de cette idée permet senie à l’interpréte le risque, toujours présomptueux, de se confier à l’éln secret d’une oeuvre, pour s’attacher à ce qu’ elle n’exprime pas et tenler d’en trouver l’expression. L’idée directrice elle même se confirme alors par sa puissance d’éclairemment.

TRANG 256 cuốn Kant et le problème de la métaphytique quả đặt đầy đủ cơ sở cho suy tư. Kể từ đó…? – Cái-liều-nhắm-mắt-đưa-chân của Thúy tài hoa, từ đó đã mở những phương trời. Cái Bước Nhảy của Thúy Kiều đã đốt sáng ngọn lửa âm thanh trên cái Đà Dự Liệu đoạn trường phóng hoạt. Ý tưởng chủ yếu của suy tư hoằng viễn được minh chứng vững vàng bởi cái sức soi sáng dị thường phát từ lời phong nhã.
            Nguyễn Du đã “diễn giải” câu chuyện Nàng Kiều theo điệu riêng – lệch nghĩa ký sự sử ký, nhưng thuận theo ý chiêm niệm sử xanh. Ta sẽ vô tình tàn phá tiếng nói của Thúy Kiều, nếu cứ bo bo nghĩ rằng: phải khách quan vô tư bước vào cuộc phân tích cái mảnh tấm hồng nhan hoen ố triều Minh.

            (Xem lại: Câu hỏi của Thúy Kiều mở ra với Tây phương.)


BÙI GIÁNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 11/03/2017, 08:11:15

VÀI SUY TƯỞNG TRIẾT HỌC
Rút từ tập Nhật Ký

SỰ TIỀM ẨN TRIẾT LÝ CỦA TẤT CẢ MỌI CÂU HỎI
TRIẾT LÝ là gì? Chính câu hỏi này là một câu hỏi về một câu hỏi; bởi vì triết lý là một câu hỏi rồi; và khi nói “Triết lý là gì?” thì đã hiện lên một câu hỏi thứ hai rõ ràng hơn: “là gì?”
            “Là gì”? là câu hỏi làm sáng tỏ câu hỏi ẩn tiềm trong “triết lý”. Trong “triết lý” chứa đựng một câu hỏi đen tối. Câu hỏi đen tối là câu hỏi nằm trong bóng tối như một người nằm trong gian phòng tối mà không bật đèn. Câu hỏi sáng là bóng đèn, nghĩa là ánh sáng; ánh sáng làm sáng tỏ những gì nằm trong tối. Chữ “triết lý” trong câu hỏi “triết lý là gì?” là bóng đèn, là ánh sáng khi nó đứng và hiện diện trong những chữ khác, trong tất cả những chữ khác; nhưng khi chữ “triết lý” đứng chung với chữ “là gì?” như trong câu hỏi “triết lý là gì” thì lập tức chữ “triết lý” trở thành đen tối và chữ “là gì?” hiện diện với tất cả huy hoàng sáng rực của ánh điện. Trong câu hỏi “triết lý là gì?”, chữ “triết lý” là câu hỏi đen tối; còn chữ “là gì?” là câu hỏi sáng tỏ; câu hỏi “là gì?” làm SÁNG TỎ ý nghĩa đen tối của danh từ “triết lý”; ý nghĩa đen tối của “triết lý” là câu hỏi; “làm triết lý” là làm câu hỏi; “học triết lý” (gọi tắt là “triết học”) là học câu hỏi hay học đặt câu hỏi; “triết gia”, “triết nhân”, “nhà triết lý”, “con người triết học” là những danh từ để gọi con người mà thể tính của họ là đặt câu hỏi – nói một cách khác là tra vấn, cật vấn. Người làm triết lý là người hỏi cung, người tra khảo. Người làm triết lý là con người chỉ biết hành hạ tra tấn. Tra tấn, đánh đập, đổ nước vào mũi, đâm kim vào đầu ngón tay là những hình thức tế nhị của một câu hỏi.

TRIẾT LÝ xuất hiện từ lúc nào? Từ lúc bắt đầu có ngôn ngữ. Con người chỉ được gọi là NGƯỜI khi nào con người biết nói; con người biết nói là con người biết nghe (câm thì phải điếc, mặc dù điếc không bắt buộc phải câm). Nói là nghe; nói là hỏi; hỏi là trả lời. Lúc con người biết nói là lúc triết lý xuất hiện; vì biết nói là biết hỏi; hỏi là triết lý. Đứng trước sự vật, con người nguyên thủy bắt đầu ngạc nhiên. Chính sự ngạc nhiên tạo ra ngôn ngữ, thi ca và triết học; chính sự ngạc nhiên khai sinh ra tư tưởng (Aristote đã ý thức được sự ngạc nhiên là suối nguồn của suy tư). Sự ngạc nhiên là câu hỏi. Sự ngạc nhiên xuất hiện cùng lúc với ý thức và ý thức có nghĩa là hỏi. Hỏi thì phải hỏi về cái gì; vì nếu không hỏi về cái gì thì không phải là hỏi, nghĩa là không phải là ý thức. Hỏi là triết lý; hỏi về sự hỏi này là triết học; triết học là hỏi về triết lý, mà nói gọn là: “Triết lý là gì?”, “Triết lý là gì?” là hỏi về sự hỏi, nghĩa là cái “LÀ GÌ? ấy là gì?”, nói gọn là: “LÀ GÌ? là gì?” Như thế ý thức quay lộn lại ý thức; ý thức về ý thức hay là ý thức tự hỏi ý thức. Nói một cách khác, triết lý là ngạc nhiên; triết học là ngạc nhiên về sự ngạc nhiên này.

TRIẾT LÝ là hỏi; triết học là hỏi về hỏi; trong chữ TRIẾT LÝ khi chiết tự, ta thấy có chữ KHẨU; KHẨU là miệng, miệng dùng để nói; nói là hỏi (và trả lời). Không bao giờ trả lời nếu không ai hỏi. Chỉ trả lời là khi có hỏi đi trước. Triết lý là hỏi; khoa học là trả lời. Khoa học là gì? Đây là câu hỏi: khoa học không thể trả lời câu hỏi này, bởi vì đây là câu hỏi về khoa học; mà bản chất của khoa học là chỉ trả lời; mà trả lời thì chỉ trả lời khi người khác hỏi; khoa học không thể hỏi khoa học, vì hỏi khoa học là phản bội khoa học, là không phải khoa học. Phận sự triết lý là hỏi; phận sự khoa học là trả lời. Người ta thường nói: HỎI TỨC LÀ TRẢ LỜI. Câu ấy có nghĩa là triết lý bao trùm cả khoa học. Triết lý là bóng tối; khoa học là một ngọn đèn cầy yếu ớt; bóng tối vây phủ ngọn đèn, nhưng ánh đèn leo lét bắt đầu chiếu rọi ánh sáng yếu ớt lên không gian. Ánh sáng trả lời bóng tối. Bóng tối kêu gọi ánh sáng; bóng tối hỏi, ánh sáng liền trả lời. Ánh sáng chỉ là ánh sáng là NHỜ vào bóng tối; ngược lại, bóng tối không thể NHỜ vào ánh sáng; vì nếu bóng tối mà NHỜ vào ánh sáng thì ánh sáng sẽ phá hủy bóng tối và bóng tối sẽ không còn gọi là bóng tối nữa. Bóng tối là bóng tối, nhưng ánh sáng chỉ là ánh sáng là NHỜ bóng tối; mặt trời chỉ là mặt trời là nhờ nằm trong không gian đen tối vô tận.
            Triết lý là hỏi.
            Triết học là hỏi về hỏi.
            Khoa học là trả lời câu hỏi của triết lý, nhưng không thể trả lời về câu hỏi về câu hỏi; vì nếu trả lời về câu hỏi về câu hỏi, thì sẽ bị triết lý hỏi về câu trả lời của khoa học về câu hỏi về câu hỏi; lúc bấy giờ khoa học lại trả lời nữa; nhưng câu trả lời này lại bị hỏi nữa. Cứ như thế mà đi mãi, từ hỏi đến trả lời, từ trả lời đến hỏi, cho đến vô tận, vô cùng không bao giờ dứt được, ad infinitum.

NHƯ THẾ cả triết lý và khoa học đều rơi vào ngõ cụt, ngõ bí, không lối thoát. Nhưng triết lý vẫn cao hơn khoa học là có thể đặt lên một câu hỏi về chính ngõ cụt này, về chỗ sơn cùng thủy tận này; triết lý đặt câu hỏi về hố thẳm vô cùng này. Lúc bấy giờ khoa học không thể trả lời được nữa và đành chịu thất bại đầu hàng; đang lúc đó, triết lý đặt lên câu hỏi, chờ mãi mà không thấy khoa học trả lời được; đau đớn tuyệt vọng quá đến nỗi chịu không nổi, triết lý liền im lặng và nhảy xuống hố thẳm, lúc bấy giờ chính là lúc giải thoát. Khi giải thoát rồi có còn được trả lời hay không, thì không con người nào được biết, vì chỉ khi nào đã giải thoát rồi thì mới biết được. Nhưng giải thoát thì im lặng; tất cả những con người giải thoát đều là những con người im lặng. Vì thế câu hỏi tối hậu của triết lý không còn được trả lời; thế cho nên triết lý mới quay lại hỏi chính sự hiện diện của mình; triết lý quay lại hỏi triết lý, hỏi về chính câu hỏi của mình, khi đó thì triết học xuất hiện; vì triết học là hỏi về triết lý. “Triết lý là gì?” là một câu hỏi của triết học. Triết học là sự ngạc nhiên của chính triết lý. Nhưng khi hỏi: “Triết học là gì?”; câu này có nghĩa là: “câu hỏi “TRIẾT LÝ LÀ GÌ” là gì vậy?”; như thế, triết học có nghĩa là sự ngạc nhiên của chính triết lý; còn bây giờ sự ngạc nhiên của chính triết học thì gọi tên là gì? Có thể gọi là tôn giáo.
            Triết lý là sự ngạc nhiên
            Triết học là ngạc nhiên về sự ngạc nhiên trên
            Tôn giáo là ngạc nhiên về sự ngạc nhiên của triết học về sự ngạc nhiên của triết lý.

NHƯ TRÊN, chúng ta thấy mức thang giá trị đi từ dưới lên trên, thấp nhất là triết lý, bậc thang thứ hai là triết học và bậc thang thứ ba là tôn giáo; do đó tạm kết luận là tôn giáo cao hơn triết học và triết học cao hơn triết lý.
            Nhưng sự thực không phải dễ dàng như đã trình bày. Bởi vì triết lý là sự ngạc nhiên; vì thế triết lý lại có thể ngạc nhiên về sự có mặt của tôn giáo, nghĩa là triết lý có thể đặt câu hỏi; và câu hỏi của triết lý về tôn giáo chính là sự ngạc nhiên của triết lý về sự ngạc nhiên tôn giáo về sự ngạc nhiên của triết học về sự ngạc nhiên của triết lý. Do đó, từ mức thang thấp nhất là bậc thang thứ nhất, triết lý lại leo lên bậc thang thứ tư, nghĩa là bậc thang cao hơn bậc thang thứ ba là tôn giáo. Trong giai đoạn này, mặc dù triết lý ở nơi bậc thang cao nhất là bậc tư, nhưng chưa hẳn là mọi sự đã thanh toán xong, vì triết học lại bước lên bậc thang thứ năm và ngạc nhiên về triết lý, như thế nói cho rõ nghĩa hơn là ở bậc thang thứ năm này triết học là sự ngạc nhiên về sự ngạc nhiên của triết lý về sự ngạc nhiên của tôn giáo về sự ngạc nhiên của triết học, về sự ngạc nhiên của triết lý.
            Đến đây, tôn giáo lại vội leo lên bậc sáu và ngạc nhiên về sự ngạc nhiên của triết học ở bậc năm; do đó có thể định nghĩa dài dòng tôn giáo là sự ngạc nhiên về sự ngạc nhiên của triết học về sự ngạc nhiên của triết lý về sự ngạc nhiên của tôn giáo về sự ngạc nhiên của triết học về sự ngạc nhiên của triết lý.

NHƯ THẾ chúng ta thấy sự ngạc nhiên đi từ tôn giáo đến triết học rồi đến triết lý rồi từ triết lý lại ngược lại tôn giáo đến triết học rồi lại đến triết lý, vân vân.
            Nói theo toán học thì:
                        1. Triết lý là sự ngạc nhiên
                        2. Triết học là sự ngạc nhiên 2
                        3. Tôn giáo là sự ngạc nhiên 3
            Đó là giai đoạn biện chứng thứ nhứt; đến giai đoạn biện chứng thứ hai:
                        1. Triết lý là sự ngạc nhiên 4
                        2. Triết học là sự ngạc nhiên 5
                        3. Tôn giáo là sự ngạc nhiên 6
            Rồi đến giai đoạn biện chứng thứ ba:
                        1. Triết lý là sự ngạc nhiên 7
                        2. Triết học là sự ngạc nhiên 8
                        3. Tôn giáo là sự ngạc nhiên 9
            Nếu gọi tắt 3 giai đoạn biện chứng pháp là A, B, C và gọi tắt triết lý là TL; triết học là TH; tôn giáo là TG và sự ngạc nhiên là NN thì ta có những phương trình như sau:
            1. Giai đoạn biện chứng A:
                        TLA = NN  |  THA = NN2  |  TGA = NN3
            2. Giai đoạn biện chứng B:
                        TLB = NN4  |  THB = NN5  |  TGB = NN6
            3. Giai đoạn biện chứng C:
                        TLC = NN7  |  THC = NN8  |  TGC = NN9
            Triết lý là hỏi
            Triết học là hỏi về hỏi
            Tôn giáo là hỏi về hỏi về hỏi
            Không hỏi tức là im lặng; im lặng có nghĩa là tiêu hủy triết lý, triết học, tôn giáo và nhảy tung xuống hố thẳm để giải thoát.
            Chỉ khi con người không còn nói nữa, không còn hỏi nữa và cũng không còn trả lời nữa thì con người mới giải phóng được giới hạn của thể phận làm người để mà siêu hóa bản thể mình.

HỎI CÓ NGHĨA LÀ siêu hóa thú tính trong con người; nhưng từ hỏi đến im lặng thì chính sự im lặng ấy siêu hóa nhân tính. Con người đi từ man rợ để đến nhân bản, nhưng từ nhân bản con người bước đến siêu nhân bản. Siêu nhân bản là im lặng. Nhưng siêu nhân bản tự hỏi chính bản vị của siêu nhân thì lúc bấy giờ siêu nhân bản đã tự siêu hóa để đến thần bản và cứ thế mãi, hỏi rồi im lặng, im lặng rồi hỏi để rồi đi đến sự im lặng tuyệt đối. Sự im lặng tuyệt đối ấy là Đạo trong Thiền tông và Lão Trang.
            Những dòng trên cũng đồng thời làm sáng tỏ ý nghĩa đen tối của câu này trong quyển ALSO SPRACH ZARATHUSTRA của Nietzsche: “Con người là cái gì phải được vượt lên”.
            Khi Wittgenstein nói rằng: “Phải im lặng những gì người ta không thể nói được” (Wovon man nicht sprechen kann, darüber muss man schweigen) (cf. Ludwig Wittgenstein, Logisch philosophische Abhandlung, 1921).
            Khi nói thế thì Wittgenstein đã hủy diệt nội dung và bản chất của triết lý và triết học và tôn giáo – Như thế con người không còn ngạc nhiên nữa, mà phải im lặng; và chính sự im lặng này dọn đường đưa đến sự thể nhập bên trong sự ngạc nhiên; lúc bấy giờ con người không còn đứng trước sự ngạc nhiên như là đứng trước một đối vật (hiểu theo nghĩa Gegen-stand); lúc bấy giờ con người và sự ngạc nhiên không còn khác nhau, con người trở về sự ngạc nhiên, con người là ngạc nhiên. Sự ngạc nhiên trở lại nguyên thể và trở nên im lặng và như thế sự ngạc nhiên không còn gọi là ngạc nhiên nữa mà là Đạo, tức là suối nguồn nguyên thủy (Ursprung) mà sự ngạc nhiên đã thoát ra để xuất hiện trên đời. Chữ DA trong Dasein của Heidegger chính là sự ngạc nhiên, ngạc nhiên vì thấy mình ở đó (Befindlichkeit).

CON NGƯỜI chợt thấy mình là Dasein và sự vật chung quanh là Zuhandensein hay Vorhandensein. Không có sự ngạc nhiên sẽ không có sự hốt hoảng quằn quại xao xuyến (Angst) và không có Angst thì sẽ không tìm được dấu vết để lần mò quờ quạng trở về SEIN, tạm dịch ra chữ Việt là Tính (nghĩa của chữ Tính này nằm trong chân trời tư tưởng Trung Hoa).


            Khi hỏi thì phải trả lời.
            Mà khi trả lời thì chỉ trả lời bằng 4 phạm trù:
                        1. Trả lời
                        2. Không trả lời
                        3. Vừa trả lời vừa không trả lời
                        4. Không trả lời mà cũng không không trả lời
            Nội dung của mỗi câu trả lời đều nằm trong những phạm trù này:
                        1. hiếu kỳ
                        2. xác tín
                        3. dò xét
                        4. kêu gọi
                        5. van xin
                        6. giải trí, vân vân
mỗi một câu hỏi đều chứa đựng một Weltanschauung (thế giới quan) mà người hỏi thường khi không ý thức được ý thức hệ của chính mình.



            Âm nhạc không phải là hỏi và trả lời mà là NÓI ngôn ngữ nguyên thủy (Ursprache). Tất cả nghệ thuật cao siêu đều nói ngôn ngữ ban đầu.


            Con người hay đặt câu hỏi là con người muốn chạy trốn giới hạn tính cảnh (những Grenzsituation, situations limittes, như là sự chết, sự đau khổ, sự chiến đấu, vân vân). Nhưng không hỏi thì không còn là NGƯỜI. Heidegger nói: “L’essence du Dasein réside dans son existence” (Das Wesen des Daseins liegt in seiner Existenz). Phải nói như vầy mới tối hơn và trung tính hơn: “Das Wesen des Daseins liegt in seiner Frage”.
            Bản chất của hiện hữu là hỏi, vì thế hỏi tức là siêu hoá.
                        – Questinner, c’est transcender
                        – Seinterroger, c’est se surmonter, se dépasser, se transcender.
            K. Jaspers: “Philosopher, c’est transcender”, (cf. Rechenschaft und Ausblick, Munich, 1951)

MỖI MỘT câu hỏi đều là sự tiềm ẩn, che dấu, giữ kín, hàm ý, hàm súc (implication) mà con người bị hỏi phải mở màn bằng cách giải thích (explication) đem ra ngoài (EX) cho được rõ ràng.
            Sein của Heidegger ẩn náu trong mỗi một câu hỏi thông thường hằng ngày của mọi người; nhưng nếu con người biết phóng ra ngoài đi tới đằng trước mình theo nghĩa EX trong chữ EXISTENZ của Heidegger thì có thể đưa Sein ra ngoài sự tiềm ẩn – mở màn, Alethein, để cho SEIN lộ ra.
            Những câu hỏi thông thường hằng ngày đã đi xa và quên lãng Sein bởi vì con người bị ràng buộc trong nghề nghiệp, bận tâm lo lắng (Besorge) cho cuộc sống.

BIẾT CÁCH HỎI thì Sein mới xuất hiện được trong câu trả lời. CON NGƯỜI HIỆN NAY CHƯA BIẾT CÁCH HỎI. Đó là thảm kịch lớn lao của nhân loại.



            Phải để ý triệt để đến chữ VỀ (dịch ra chữ Anh là about); chữ VỀ là trung tâm điểm, là tinh túy, bản chất, thể chất của triết lý. KHÔNG CÓ CHỮ VỀ THÌ SẼ KHÔNG CÓ TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT HỌC.
            Hiểu được ý nghĩa tiềm ẩn của chữ VỀ là nắm biết được cơ cấu, động cơ sinh hoạt của triết lý và triết học.
            Biểu tượng, hình tượng là VỀ.
            Biểu tượng, hình tượng xuất hiện lúc chữ VỀ xuất hiện; biên giới để phân biệt con người và thú vật là biên giới được gạch bằng chữ VỀ. CON NGƯỜI HỎI LÀ CON NGƯỜI NÓI VỀ. Thú vật không biết hỏi là vì thú vật chỉ biết KÊU, chứ không biết KÊU VỀ hay NÓI VỀ.
            HỎI có nghĩa là NÓI VỀ.
            Người ta chỉ HỎI bằng biểu tượng.
            Sự ngạc nhiên từ trên trời đi xuống trần gian để nhập thể (incarnation) mà làm biểu tượng (symbole), thế là câu hỏi xuất hiện BẰNG và VỚI biểu tượng.
            CÂU HỎI chính là BIỂU TƯỢNG, biểu tượng cho sự ngạc nhiên.
            Ngạc nhiên về ngạc nhiên là biểu tượng về biểu tượng, chẳng hạn Y biểu tượng cho biểu tượng X.
            Triết học về ngạc nhiên VỀ sự ngạc nhiên của triết lý VỀ sự ngạc nhiên của tôn giáo VỀ sự ngạc nhiên của triết học VỀ sự ngạc nhiên của triết lý.
            Nói theo quá trình biểu tượng thì triết học là biểu tượng (5) về biểu tượng (4) về biểu tượng (3) về biểu tượng (2) về biểu tượng (1).
            Tác dụng đặc biệt của biểu tượng là có thể BIỂU TƯỢNG CHO BIỂU TƯỢNG và cũng có thể BIỂU TƯỢNG CHO BIỂU TƯỢNG CHO BIỂU TƯỢNG và cứ thế đi mãi cho đến vô hạn.
            Toán học là biểu tượng. Vậy toán học có thể thoát ra ngoài tác dụng của biểu tượng không? Nhứt định không. Toán học cao nhứt và triết lý cao nhứt sẽ gặp nhau trong cùng một thể cảnh giới hạn, một nhà toán học giải thoát là một nhà thần bí hay một vị thánh hay một bậc giác ngộ.


Ý NIỆM VỀ VÔ HẠN (l’inlini)
            Có thể ý niệm về vô hạn? Tác dụng của VỀ đã là biểu tượng rồi. Ý niệm nằm trong quá trình hữu hạn; hữu hạn dùng làm biểu tượng cho vô hạn thì lại chỉ là vô hạn của hữu hạn, vô hạn của hữu hạn chỉ là vô hạn trong tương đối hay hữu hạn tự phóng đại.
            Vô hạn của toán học là hữu hạn tự phóng đại. Biểu tượng về biểu tượng về biểu tượng, cứ như thế cho đến vô hạn.
            VÔ HẠN ở câu trên là vô hạn của toán học, tức là một thứ tiến trình không thể đếm được mà chữ Sanskrit gọi là a-samkhyam (vô hạn ở đây là vô số – samkhyam: số; a-samkhyam: vô số), nói một cách khác vô hạn là lượng (chữ Phạn gọi là a-parimitam) (cf. Rev. H. O. Mascarenhas, St. Thomas Aquinas and the Mediaeval schlastics, H of Ph. E. and W. vol. II, tr. 157); chữ Phạn của vô hạn (anantam) hoàn toàn khác hẳn vô hạn trong nghĩa “vô số” (asamkhyam) và “vô lượng” (a-parimitam); vô hạn của St. Thomas d’Aquin gần gần đến anantam của triết học Ấn Độ; (e. g. Taittiriya Upanisads, 2-1). Thomas d’Aquin đã cho ta thấy rằng vô hạn của Aristote chỉ là vô hạn tương đối, infinitum secundum quid (cf. Summa Theologica, I, q. 7, a. 2, c).


THỬ PHÁ HỦY NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG THÁNH THOMAS D’AQUIN
            Sự ngạc nhiên là sự chuyển động (movement). Theo định nghĩa này chúng ta có thể định nghĩa triết học ở bậc thang thứ năm là:
            Triết học là sự chuyển động về sự chuyển động của triết lý về sự chuyển động của tôn giáo về sự chuyển động của triết học về sự chuyển động của triết lý.
            Và tôn giáo ở cấp bậc sáu thì:
            Tôn giáo là sự chuyển động về sự chuyển động của triết học về sự chuyển động của triết lý về sự chuyển động của tôn giáo về sự chuyển động của triết học về sự chuyển động của triết lý.
            Theo thánh Thomas D’Aquin “không có gì có thể đưa tiềm thể (potentiality) đến hiện thể (actuality) nếu không có một thực thể mà chính nó đang ở trong hiện thể”.
            Và trước câu nói trên, thánh Thomas D’Aquin đã định nghĩa sự chuyển động (motion) chỉ là đem một sự vật từ tiềm thể đến hiện thể (cf. Summa Theologica I, q, 2, a, 3, c).

NHƯ THẾ theo định nghĩa tôn giáo ở cấp bậc 6 thì:
            Tôn giáo được hiện diện do sức chuyển động của triết lý gây ra do sức chuyển động của triết học, và sức chuyển động của triết học này lại phát sinh từ tôn giáo, và tôn giáo từ triết lý và triết lý từ triết học, vân vân.
            Từ potentia đến actus rồi bỗng nhiên ngừng lại Actus Purus, phải chăng thánh Thomas D’Aquin đã cưỡng bức và tiêu diệt Potentia Purus? Không có Potentia Purus thì làm gì có Actus Purus, nhưng ở đâu lại có Potentia Purus? Lại do Actus Purus sao? Như thế chúng ta lại tiếp tục tiến trình vô hạn của sự ngạc nhiên trong triết học, triết lý và tôn giáo.
            Trong triết học Ấn Độ chúng ta cũng thấy từ prakrti đến purusa rồi lại ngừng lại nơi Ultama Purusa (tức là ISVARA), mỗi một con người sinh hoạt là do sự biến thể từ potentia đến actus và sức sinh hoạt hay sự biến thể này được hàm dưỡng trong Actus Purus (theo thánh Thomas D’Aquin).
            Do đó, theo định nghĩa về sự chuyển động trong Summa Theologica I, q. 2, a. 3, c: “Vì vậy cái gì được chuyển động thì phải được chuyển động do một cái khác nữa”, và cái khác này được chuyển động cho cái khác nữa, vân vân, cho đến vô hạn. Nhưng thánh Thomas D’Aquin nói rằng như thế thì không được: “Phải cần đi đến chuyển động đầu tiên, không do sức chuyển động nào khác thúc đẩy và mọi người đều hiểu đó là Thượng đế” (Summa Theologica I, q. 2, a. 3, c).
            Như thế Vô hạn của thánh Thomas D’Aquin chính là vô hạn của hữu hạn và sức chuyển động liên tục ấy phải ngừng lại nơi suối nguồn phát ra sức chuyển động mà nếu không có suối nguồn này thì tất cả sức chuyển động liên tục đều ngừng lại.

NHƯ THẾ vô hạn của thánh Thomas D’Aquin có khác gì vô hạn của Aristote? và lại còn thấp hơn vô hạn của toán học (nghĩa là vô số và vô lượng – a-samkhya và a-parimitam của Phạn ngữ). Đó là lý do cắt nghĩa tại sao trước khi giã từ cõi đời, thánh Thomas D’Aquin đã phủ nhận trọn sự nghiệp thần học của mình.


THỬ PHÁ HỦY CĂN BẢN TƯ TƯỞNG CỦA JEAN PAUL SARTRE
            Trong L’Être et le Néant, chúng ta thường thấy Sartre nói: “L’être est ce qu’il n’est pas et il n’est pas ce qu’il est”.
            Nói như thế thì Sartre lại cũng chưa vượt khỏi thánh Thomas D’Aquin; sau đây ta hãy đem những biểu tượng (symboles) của J. P. Sartre đổi thành những biểu tượng của thánh Thomas D’Aquin:
                        est ce qu’il n’est pas = actus + potentia
                        n’est pas ce qu’il est = potentia + actus
            Khi dùng biểu tượng trên phải nhớ rằng sức chuyển động được liên tục là nhờ actus và potentia có liên quan dính liền nhau → tượng trưng bằng dấu +.
            Sartre nói rằng không có Thượng đế nhưng Sartre thế lại bằng Néant: nhưng dù Sartre đã cố tình phủ nhận, nhưng Néant đã mang đủ đặc tính của một Thượng đế trong Thần học của thánh Thomas D’Aquin. Như thế Sartre đã thất bại trong việc phủ nhận Thượng đế của Thần học, vì chỉ phủ nhận một danh từ để gọi một danh từ khác, thay vì gọi là con bò chúng ta gọi là con trâu; nhưng dù gọi là TRÂU hay BÒ thì con vật đó vẫn hiện hữu.
            Trong tiến trình potentia + actus + potentia + actus + potentia + actus + potentia v.v… đáng lẽ bài toán cộng này đi đến vô hạn, thay vì thế thánh Thomas D’Aquin ngừng lại không cộng nữa mà lại trừ – potentia ra khỏi tiến trình lũy tiến của bài toán cộng potentia + actus + potentia + actus v.v…
            Sở dĩ actus mà thành hình được là nhờ có potentia trong nó, như thế trong actus có potentia, trong potentia có actus; khi thánh Thomas D’Aquin hủy bỏ potentia thì lúc đó actus không còn một tí potentia nào nữa, mà trở thành actus purus; nhưng nếu là actus purus thì làm gì có được một tí potentia trong nó để có thể làm ra sức chuyển động theo tiến trình lũy tiến potentia + actus hay potentia → actus, như thế làm gì có sinh vật và kẻ sáng tạo? Làm gì có Thượng đế? Vì chỉ có Thượng đế là khi có loài người. Mà muốn có loài người thì phải có potentia trong Actus Purus – mà nếu có potentia trong Actus Purus thì Actus Purus không thể gọi là Purus mà chỉ có thể gọi là actus; như thế Thượng đế không còn là Thượng đế mà bị lôi cuốn trong dòng luân chuyển của biện chứng pháp. Có thể nói triết lý Sartre bằng danh từ Thần học của Thomas D’Aquin như sau:
                        Pour-soi = potentia
                        En-soi = actus
                        Néant = potentia purus
                        Etre = actus purus
            Như thế, sở dĩ có Actus Purus là vì có Potentia purus; sở dĩ có potentia purus là vì có actus purus, có SAT là vì có Asat; có Asat là vì có SAT.

VÌ THẾ có thể kết luận Thượng đế của thánh Thomas D’Aquin và Hư vô của Jean Paul Sartre chỉ là MỘT và hoàn toàn giống nhau. Như thế chúng ta thấy hư vô (Néant) của Jean Paul Sartre khác hẳn Hư vô (Nichts) của Heidegger; vì chính Heidegger đã ý thức cùng với Hegel rằng “Etre pur” và “Néant pur” đều là một và giống nhau. Còn chữ “KHÔNG” (Sunyata) của Nagarjuna (Long Thọ) thì hoàn toàn khác nữa, bởi vì Sunyata không phải là Néant pur mà cũng không phải là Etre pur, không SAT cũng không Asat.


VỀ DẤU HIỆU (signe) VÀ BIỂU TƯỢNG (symbole)
            Dấu hiệu không thể thay thế dấu hiệu.
            Biểu tượng có thể thay thế một biểu tượng.
            Nếu dấu hiệu có thể thay thế dấu hiệu (thì ta gọi dấu hiệu đó là biểu tượng, chứ không gọi là dấu hiệu nữa).
            Dấu hiệu báo cho biết sự có mặt.
            Biểu tượng NÓI VỀ sự có mặt hay vắng mặt.
            TRƯỚC là dấu hiệu; VỀ là biểu tượng.
            Suzanne K. Langer đã phân biệt giữa IN FACE OF (trước mặt) và ABOUT (về) (cf. S.K. Langer, The Language Line…).


KIẾN THỨC SƠ ĐẲNG CỦA QUYỂN L’ÊTRE ET LE NÉANT
            Quyển này của Sartre chỉ là một bài toán công phu mà vẫn còn phụ thuộc phạm vi toán học sơ đẳng cộng trừ – Bởi vì thực ra POUR SOI chỉ là dấu trừ (–) và EN SOI là dấu cộng (+), chỉ có thế thôi.

PHẬT GIÁO VÀ THƯỢNG ĐẾ
PHẬT GIÁO có nhận rằng có Thượng đế hay không? Thượng đế là một danh từ mang nhiều ý nghĩa khác nhau, Thượng đế của Thánh kinh (Cựu ước và Tân ước), Thượng đế của Meister Eckhart và Thượng đế của St. Thomas D’Aquin (Thượng đế của St. Thomas D’Aquin-khi-viết-Somme và Thượng đế của St. Thomas D’Aquin-trước-khi-ông-từ-trần đều là hai Thượng đế hoàn toàn khác nhau).
            Phật giáo không nhận có hay không có một Thượng đế, đó là điều thông thường hiển nhiên ai cũng có thể thấy được, nhưng phải hiểu tư tưởng Phật giáo bao trùm thống quát hết mọi trạng thái của cuộc đời (bao trùm cả DAS UMGREIFENDE của K. Jaspers); vì thế, nếu đứng trên một vị trí giới hạn, ta sẽ thấy CHÂN NHƯ (Bồ đề) v.v… là một sức chuyển động đầu tiên hiểu theo nghĩa Thượng đế của St. Thomas D’Aquin.
            Đứng trên một vị trí thứ hai, ta sẽ thấy Chân như, Bồ đề, v.v… là một sự bất động chuyển động, hiểu theo nghĩa Thượng đế của Meister Eckhart.

ĐỨNG TRÊN một vị trí thứ ba, là sẽ thấy Chân như và Bồ đề, v.v… không có, theo nghĩa “bổn lai vô nhất vật” của Lục tổ Huệ Năng.


CÂU HỎI VÀ SEIN (L’Être)
            Chỉ có một câu hỏi duy nhất (Frage) là câu hỏi về SEIN (L’Être). Đó là tất cả ý nghĩa của triết lý Heidegger và cả Jaspers, mặc dù SEIN của Jaspers có nghĩa là Transcendenz và khác ý nghĩa của Heidegger; cả ý nghĩa của Existenz trong triết lý Jaspers cũng khác Existenz của Heidegger.
            Heidegger đã đánh dấu một biến cố quan trọng trong triết học khi đem SEIN ra khỏi sự lãng quên của triết học Tây phương từ Socrate, Platon, Aristote cho đến nay.
            Nhưng chúng ta – những tư tưởng gia ở thế hệ này phải vượt Heidegger bằng cách đồng hóa Frage với Sein – FRAGE chính là SEIN – Triết lý không hỏi về Sein, mà chỉ hỏi, chỉ nhảy thẳng vào Frage.
            Vượt Heidegger không có nghĩa là đi cao hơn Heidegger mà chỉ có nghĩa lôi ra ánh sáng (explication, éclairement; Jaspers: Erhellung) những gì mà Heidegger còn để nằm trong tối (implication).


HỎI VÀ TRẢ LỜI
            Người ta chết không phải vì không thể trả lời một câu hỏi, nhưng bởi vì đã có thể trả lời quá nhiều.
            Hỏi là mystère, là méta-problematique trong tư tưởng Gabriel Marcel.
            Trả lời là prolème.
            Hỏi là Être.
            Trả lời là Avoir.


HIỂU VÀ LÀM
            Muốn giải thoát, không phải tiêu diệt sự nô lệ mà là HIỂU sự nô lệ.
            Hiểu là hỏi.
            Bi kịch không phải vì HỎI mà không thể trả lời được; bi kịch chỉ là không hỏi (và hỏi có nghĩa là ngạc nhiên). Tôi không thể CÓ sự ngạc nhiên. Tôi LÀ ngạc nhiên.


VỀ KRISHNAMURTI
TẤT CẢ những quyển sách của Krishnamurti đều là những câu hỏi. Thường khi Krishnamurti chỉ để cho mọi người đặt câu hỏi, nhưng Krishnamurti chỉ trả lời bằng cách hỏi lại hoặc trả lời mà không trả lời gì cả. Ta đoán rằng Krishnamurti đã giải thoát khỏi tiến trình biểu tượng.

REDUCTION EIDÉTIQUE CỦA HUSSERL
            Reduction eidétique là quyết định làm thế giới xuất hiện trước khi suy tưởng VỀ. Nói cách khác là THẾ GIỚI, chứ không phải là VỀ thế giới. Nói đến sự hiện hữu hay không hiện hữu của Thượng đế. Nói đến Niết bàn và Vô minh đều là những suy đoán VỀ.

KANT VÀ NỀN TẢNG TRIẾT HỌC
            Mở đầu quyển Critique de la raison pure, ngay dòng đầu của lời mở đầu: “La raison humaine a celle destinée singulière, dans un genre de ses connaissainces, d’être accablée de questions qu’elle ne saurait éviter, car elles lui sont imposées par sa nature même; mais auxquelles elle ne peut résoudre parce qu’elles dépassent totalement le pouvoir de la raison humaine” (Préface de la première édition 1781, Trad. par A. Tremesayges et B. Pacaud).
            Câu này của Kant đặt nền tảng cho một nền triết học mới và là tiêu chuẩn cho cả nền triết học Tây phương.

TRONG CÂU NÓI này ta thấy tiềm ẩn những câu hỏi này:
            1. Vận mệnh của lý trí con người là thế nào?
            2. Vận mệnh này có phải là vận mệnh của lý trí trong một loại tri thức của nó thôi hay trong tất cả?
            3. Bản chất của lý trí con người?
            4. Quyền hạn của lý trí con người?
            5. Siêu việt tính của câu hỏi là gì?


NỀN TẢNG CỦA TRIẾT HỌC MAI SAU
            Nền tảng của suy tư mai sau phải bắt đầu xây dựng trên căn nguyên tính tưởng của Heidegger trong “ngôn sở ngôn” (das Gesagte dieses Satzes) sau đây:
            “Dieses Seiende, das wir selbst je sind und das unter anderem die Seinsmöglichkeit des Fragens hat, fassen wir terminologisch als DASEIN” (Sein und Zeit, p.7, b).
            Xin dịch lại bằng “ngôn sở ngôn” của Nguyên Ngôn (Logos) của Việt Nam:
            “Tính thể này được phú bẩm – ngoài những tiềm thể khác – tiềm tính tính vấn mà chúng ta gọi là Dasein, tức là hiện tính thể”.


SỰ THẤT BẠI CỦA TRIẾT LÝ VÀ TRIẾT HỌC
            Jaspers: “Das Scheitern ist das Letzte” (L’échec est la fin suprême).
            Sự khác nhau giữa tư tưởng Heidegger và triết lý Jaspers là sự khác nhau giữa sự thất bại và VỀ sự thất bại!
            Cf. Kant: “Son oeuvre doit toujours rester inachevée, puisque les questions n’ont jamais de fin” (Préface de la 1ère édition 1781 – C.d.l.R. Pure).
            Cf. Kant: “Le terrain (Kampfplatz) où se livrent ces combats sans fin se nomme la MÉTAPHISIQUE” (Préface de la 1ère édition, 1781).


NHỮNG CÂU HỎI TRIẾT HỌC VÀ KHOA HỌC
NẾU DÙNG theo thuật ngữ Kant thì tất cả những câu hỏi khoa học đều là ANALYTIQUE và những câu hỏi triết học thì SYNTHÉTIQUE.
            Dùng theo thuật ngữ Karl Jaspers thì triết lý không có ĐỐI TƯỢNG còn khoa học thì có đối tượng (cf. Rechenschaft und Ausblick), nhưng Kant gọi les jugements géométriques là synthétique, vậy thì Kant đã đánh dấu sự cáo chung của hình học Euclide và đồng thời đưa ra hình học theo viễn tượng của Lobatschevski và Reimann.


TRÁNH MÀ KHÔNG VƯỚNG
            Làm thế nào khi suy tưởng, tránh ở đây mà không vướng vào bên kia bởi vì BÊN KIA và Ở ĐÂY cũng chỉ là một mà thôi.
            Tránh Huệ Năng gặp Thần Tú, tránh Thần Tú gặp Huệ Năng; thực là nguy hiểm.
            Làm sao TRÁNH mà KHÔNG VƯỚNG?
            Làm sao tránh mà không gặp ai hết hoặc không gặp bất cứ cái gì?


PHÁ HỦY NỀN TẢNG TÂM LÝ HỌC C. G. JUNG
            Trong quyển Psychological Types, C. G. Jung phân chia hai loại: INTROVERTED TYPE và EXTRAVERTED TYPE: trong mấy chương đầu, C. G. Jung đưa ra mấy ví dụ để chứng minh tư tưởng tâm lý học của ông: Jung đem trường hợp của Tertullian và Origen:
                        – Tertulian: sacrificium intellectus.
                        – Còn Origen thì sacrificium phalli.
            C. G. Jung cho rằng sacrificum intellectus là thuộc introverted type; và sacrificium phalli là extraverted type.
            Nhưng có thể nói ngược lại không?
            Chính sacrificium intellectus mới là extraverted type và sacrificium phalli mới là introvered type.
            Vậy C. G. Jung đã sai; chính Origen mới là introverted, còn Tertullian chỉ là extraverted.
            Freud đã phạm một sai lầm rất lớn trong tư tưởng nhân loại; nhưng sự lầm của Freud rất dễ thương và một sự sai lầm rất thông minh.

CÒN SỰ sai lầm của C. G. Jung quả thật là ngu xuẩn.
            Sự phân chia con người ra làm hai hạng, hai mẫu (introverted và extraverted) là một thái độ trước sự vật theo phạm trù LY TÍNH.
            LY TÍNH tức là đã DIỆT TÍNH.
            Làm thế nào để biết được biên giới của IN- và biên giới của EX-?
            Nếu IN- và EX- đều có thể cùng lúc nói chung cho một THỂ thì sự phân hạng của C. G. Jung mất raison d’être.
            Dù rằng không ai là hoàn toàn IN- và không ai hoàn toàn EX-; mà trong mẫu người IN- luôn luôn có một chút chất EX- trong mẫu người EX- luôn luôn có một chút chất IN- (như chính C. G. Jung đã từng thấy như vậy), nhưng tôi vẫn muốn đặt lại vấn đề từ NGUYÊN TÁNH:
            – Sự phân hạng của C. G. Jung đã LY TÍNH, vì đã đưa TÍNH rơi vào SỐ LƯỢNG.
            Khi nói trong mẫu người EX- có một phần EX- là rơi vào SỐ ĐẾM.
            Bây giờ không cần phê phán C. G. Jung trong nguyên tính nữa.
            Tôi chỉ xin phê phán trên cương vị THƯỜNG TÍNH. Tôi sẽ dùng SỐ ĐẾM để phá hủy tư tưởng SỐ ĐẾM của C. G. Jung; tôi xin dùng toán học của hai nhà toán học Đức nổi danh khắp thế giới là George Cantor và David Hilbert.
            Số học của George Cantor và David Hilbert là “số học vô số học”; theo phương pháp đo vô số theo điệu SONG HÀNH của George Cantor, chẳng hạn như đo số thường (chẵn và lẻ) và số chẵn để xem coi loại số nào nhiều hơn.


            1          2          3         4         5         6          7         8     v.v…
             |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |   |           .
            2          4          6         8        10       12        14       16    v.v…

            Theo lối so sánh vô số như trên thì ta thấy sự vô số (infinity) của những số chẵn (evennumber) thì cũng BẰNG, cũng NHIỀU NGANG NHƯ sự vô số (infinity) của tất cả các số (cả chẵn lẫn lẻ).
            Bởi vì theo “số học của vô số học” (arithmethic of infinity) thì một phần bằng toàn thể hay nói rõ hơn: một phần của toàn thể lớn bằng ngang chính toàn thể ấy.

TRONG TƯ TƯỞNG tâm lý học của C. G. Jung TIỀM ẨN tư tưởng số lượng hay tư tưởng số đếm; nhưng tư tưởng số học của C. G. Jung còn quá NON KÉM, chưa tiến triễn đến số học của vô số học, thành ra C. G. Jung đã thấy lệch vấn đề rất xa và rất ngu.
            C. G. Jung nói rằng khi phân loại mẫu người thì sở dĩ gọi là mẫu người IN- là vì trong người ấy chất IN- nhiều hơn chất EX-; và sở dĩ gọi là mẫu người EX- là vì trong người EX- ấy, chất EX- nhiều hơn chất IN-; nói một cách khác, trong EX- có IN-, trong IN- có EX-; nhưng sở dĩ gọi là EX- hay gọi IN- là tùy theo trường hợp số lượng của EX- hay IN- nhiều hơn hay ít hơn.
            Lý luận của C. G. Jung là thứ lý luận sơ đẳng và ngu xuẩn.
            Nếu chúng ta có học qua “số học vô số” thì ta thấy rằng một phần EX- cũng bằng và nhiều ngang như toàn thể IN-; hay một phần IN- cũng bằng hoặc nhiều hơn toàn thể EX-; chẳng hạn như tôi có thể đo theo lối song hành của nhà đại toán học George Cantor:


            1 ex       2 ex       3 ex       4 ex       5 ex       6 ex       7 ex      v.v…
             |             |             |             |             |             |             |             |
            2 in        4 in        6 in       8 in       10 in      12 in      14 in     v.v…


            2 in, 4 in, 6 in vân vân thay thế cho một phần IN-; vì 2, 4, 6 đều là những số chẵn, tức là chỉ một phần của toàn số (toàn số gồm số chẵn và số lẻ).
            Còn 1 ex, 2 ex, 3 ex, vân vân thay thế cho toàn thể EX-; vì 1, 2, 3, 4, đều là toàn số.

NHƯ THẾ một phần IN- bằng và nhiều ngang nhau với toàn thể EX- trong một mẫu người. Vậy làm sao có thể gọi một người nào đó thuộc loại EXTRAVERSION khi một chút chất INTROVERSION trong người ấy cũng nhiều nang như EXTRAVERSION! Trường hợp này áp dụng cho tất cả mọi người.
            Như thế, Tertulain vừa là EXTRAVERTED TYPE vừa là INTROVERTED TYPE (mỗi type này đều là 100%) và trường hợp Origen cũng giống như vậy.
            Thế là tôi đã phá hủy tâm lý học của C. G. Jung từ căn bản và đánh dấu sự cáo chung của tâm lý học Tây phương.


Saigon, tháng 6, 1965
PHẠM CÔNG THIỆN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 11/03/2017, 20:54:38

            Đến hôm nay bắt đầu

            Nay trở về quỳ hỏi mẹ con đâu
            cha đã quên đi từ thuở nhỏ
            mẹ ở bên này hay bên kia
            – mẹ con giờ đã mất
            cho đến hôm nay con bắt đầu biết khóc
            và khóc thật nhiều
            để thấy mình lớn khôn
            từ mấy mươi năm con có lúc nào vui
            mà cũng chưa biết buồn
            cả đêm dài mưa luôn
            cho đến hôm nay tôi bắt đầu biết khóc
            từ thuở sơ sinh
            chưa bao giờ thấy mẹ
            nhớ tấm hình xưa em đã cất
            con dở ra xem
            mặt mẹ còn xinh như chưa bao giờ chia cắt
            sau tấm hình mẹ con gẫy gập
            bây giờ xin chỉ cho em
            mặt mẹ đây này em còn nhớ không?
            bây giờ xin chỉ cho anh
            mắt mẹ sáng lên vẫn còn hy vọng
            này anh
            này em
            có trông thấy mặt mẹ giống mình
            người cha tu hành lặng thinh
            cho con xin quỳ xuống
            tôi nhớ năm xưa
            chuyện tưới nước cam lồ cho người sống lại
            nên chạy đi tìm một vị cứu tinh
            duyên con chưa được gặp
            – chiều nay
            bầu trời giông tố u ám nhiều mây
            tôi đi nhặt cỏ cây và đất khắp nơi đây
            đất cả hai miền nam bắc
            chiều nay
            tôi mang từng gánh đất quê hương trên đôi vai gầy rặc
            lấy nước sông nhồi vắt
            nặn nên hình mẹ tôi
            tôi sẽ ngồi đây thắp nén hương cầu nguyện
            có lẽ ngày nào cũng gặp được duyên
            người đến với nhành dương rưới lên hình tượng
            chiều nay
            tôi đã quay về bốn phương tám hướng
            cho hồn nhập định về tây
            em hãy nhìn tôi đây
            tôi đã nguyện cho tôi vỡ tung lồng ngực
            để yên sóng gió ba đào
            như đã có Người từ nẻo trăng sao
            đến bao giờ tôi gặp?
            mẹ ơi!
            con xin cúng dâng thịt xương hình vóc
            cho đến hôm nay con bắt đầu biết khóc
            khi trở về hỏi mẹ con đâu
            cha cũng ra đi về vô ngã.

                                                AN  DI


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 18/03/2017, 06:15:06

            Tháp cổ
                                                cho Trịnh Công Sơn
                                                và Đinh Cường

            Mưa bay mưa bay mưa buồn tháp cổ
            Anh xa quê hương nước mắt Chiêm Thành!
            Anh xa quê hương bao giờ trở lại?
            Giọt sầu nhỏ xuống đêm đen

            Như chim tha hương qua miền giá lạnh
            Cánh nối đường mây thương nhớ ai hoài
            Dù chỉ một lần đi kiếm tương lai
            Hai bàn tay không hai bàn chân mỏi
            Giận mình hóa kiếp muôn năm

            Nước mắt anh đây cuộc đời giả trá
            Có gì để nhớ nhau thêm
            Đường xa, đường xa bên rừng núi đứng
            Thương em trăm năm giấc mộng êm đềm

                                                KIM  TUẤN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 18/03/2017, 11:33:38
THƠ VĂN NGÀY LẠI NGÀY

Ở MỸ, các nhà văn nghệ có tiếng như Truman Capote, Saul Bellow, Salinger, Kérouac… có tiền dư, nhưng vẫn thiếu một cái gì có tính chất… tinh thần. Họ luôn luôn đề cao một đời sống ép xác và hướng thượng…


            Thiếu thì kêu thiếu! thừa thì lại phàn nàn là… thừa!

JEAN GIONO, một tiểu thuyết gia Pháp trứ danh năm nay bảy chục tuổi. Ông ăn mừng sinh nhật: có tiệc, có quan khách, có ký giả phỏng vấn.
            Ký giả Gilbert Ganne nói chuyện với ông về Camus, hỏi ý kiến ông về tác giả L’homme révolté, ông trả lời:
            – Tôi chưa từng đọc Camus, dù là chỉ đọc một giòng mà thôi! Tôi không thích Camus. Có, tôi có ngó qua, nhưng thấy sách vở Camus khó tiêu…
            Gilbert Ganne hỏi thêm:
            – Có nhiều người ông không thích?
            – Nhiều.
            – Sartre, chẳng hạn…
            – Sartre ấy à? Đối với tôi, Sartre không có trên trái đất này. Ồ, chỉ là chuyện Dubo, Dubon, Dubonnet.
            – Nói một cách khác?
            – Nói một cách khác, Sartre chỉ là chuyện quảng cáo mà thành danh! Có gì mà phải quan tâm!
            – Còn Mauriac?
            – Ông cho phép tôi nói riêng với ông nhé! Tôi chưa từng đọc sách của Mauriac. Tôi chỉ đọc mấy tên sách. Mà hẳn là sách của tôi, Mauriac cũng chẳng bao giờ đọc. Thì giờ đâu mà đọc cho hết!



BÀI PHỎNG vấn dài, nhưng tôi chỉ trích một đoạn quan hệ đến điều tôi muốn nói. Nghĩa là ai cũng thấy ngay rằng Jean Giono có vẻ hằn học đối với Camus, Sartre, Mauriac… lắm. Nhiều khi lý do. Còn có một lý do rất… người, (ôi, người ơi là người!) là lý do sau nầy, tôi còn nhớ rõ vì tôi có theo dõi từ xưa. Số là trong đệ nhị thế chiến, Giono, cũng như Montherlant, Sacha Guitry… ở dưới một hình thức nào đó, cọng tác với chính quyền Vichy – nghĩa là với Đức quốc xã.
            Đến ngày giải phóng, lẽ tự nhiên là dư luận không tha… kể cả dư luận các nhà văn đã từng đau thương khủng khiếp vì Hitler. Ngày nay, có dịp được sống lâu, có dịp được giàu có… Giono trút “bầu tâm sự” lên đầu Sartre, Camus…



            Già mà dại.


TÔI ĐƯỢC tin Roger Vaillant chết ngày 12-5-1965. Vaillant là tác giả những tiểu thuyết Drôle de jeu, La loi, Les mauvais coups, vân vân…


NHẤT LÀ cuốn Drôle de jeu được giải Interallié vào năm 1948. Tôi đã đọc cuốn ấy bốn lần: ngày nay giá có thì giờ vẫn có thể đọc lại…
            Ở châu Âu, thiên hạ trầm trồ khen cuốn Drôle de jeu kể cả cuốn Bon pied bon oeil có thể gọi là Tục Drôle de jeu. (Cũng như Tục Anh hùng náo, Tục Tái sinh duyên… Tục là chuyện kể tiếp, cũng gọi là Hậu: Hậu Anh hùng náo chẳng hạn…)
            Sách tả một mẩu chuyện kháng chiến trong thành phố Ba Lê thời Pháp bị chiếm đóng: có tình bạn, có tình yêu… có hương vị phóng biếm (cynisme) rất linh động, đầy thi vị. Có một vài sinh viên vào cuộc với tất cả sự say mê của tuổi trẻ – có một vài lãnh tụ chính trị – có một vài người đàn bà đẹp một cách vất vả, bất đắc dĩ phải yêu nước. Và có cả một mối tình: một mà thành hai… thành ra có cả một sự phản bội rất trắng trợn… rất siêu thực. Rất siêu thực vì ngày xưa Vaillant có chân trong nhóm siêu thực – sau mới bỏ nhóm. Nói bỏ là nói ép: chân trong chân ngoài, chân thấp chân cao… Drôle de jeu hay là nhờ cái hương vị siêu thực thấp thoáng ấy. Thấp thoáng mới hay, chứ đậm quá, dày quá thì lại làm mất thi vị. Cái hay của toàn diện tiểu thuyết của Roger Vaillant rất thắm – khó tả.

VAILLANT CHẾT. Văn học Pháp đeo một vành khăn tang lớn kia đó! Riêng tôi, xin thú thật là đã ngậm ngùi bâng khuâng… lâu.

ANH HỒ Hữu Tường mới tặng cuốn Nợ tinh thần, anh là tác giả.
            Tôi đã đọc lại truyện ngắn Con thằn lằn chọn nghiệp – trước khi đọc những bài khác.
            Nghĩ rằng, trên phương diện văn nghệ, chỉ riêng một truyện ấy cũng đủ cho phép tác già hãnh diện – huống gì còn có những tác phẩm khác.



HÔM NỌ, gặp anh Nguyễn Ngu Ý. Anh Ngu Ý nói với tôi một mẩu chuyện gì đó – rồi nói thêm: “Anh Tường với anh là cố nhân”. Danh từ cố nhân làm tôi bâng khuâng. Trong cuốn Nợ tinh thần, anh Tường có nhắc đến tôi, nói rằng tôi hành văn làm sao đó cho có người hiểu lầm anh bỏ sách Mạnh Tử vào va-li đi tìm Burnhams.
            Chuyện xưa – đã gần hai chục năm rồi! từ thuở đến nay, bao nhiêu nước chảy dưới cầu, bao nhiêu tranh vân cẩu, bao nhiêu chuyện bể dâu… “triều đại” đã bao nhiêu lần hưng vong… Anh Tường xuýt nữa đã vì chính quyền cũ mà bỏ xương nơi quê người, riêng tôi hàng chục năm bịnh tật nặng nhẹ mới hết… Mới rồi, gặp lại anh hỏi thêm về tuổi tác: té ra đối với các anh Thâu, Ninh, Hùm, Thạch… đã qua đời, anh Tường thuộc về hàng em út! Hỏi anh đã tổng cọng bao nhiêu năm tù tội, anh nói: mười lăm…
            Nghe rồi, tôi kính mến anh như đã kính mến.
            Con thằn lằn đã chọn nghiệp…

TẠP CHÍ Văn học số 38 ra ngày 15-5-1965 có bài Tương lai thi ca đi về đâu của Lưu Trung Khảo. Tác giả tìm lý do của khủng hoảng thi ca. Và hỏi rằng học đường có làm hại thi ca không “…Đến như những bài thơ hiện đại của Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa, Nhã Ca… thì việc bình giảng theo khuôn học đường đó chắc chắn sẽ không giúp người đọc cảm thấy cái hay, cái đẹp ở đâu cả”.
            Xin đồng ý.

BÁO NOUVELLES littérairs ra ngày 15-4-1965, có đăng một bài của André Georges nói về Einstein. Và có nói rằng từ ngày có bom nguyên tử, Einstein thường tự hỏi không biết có phải là những nhà thông thái đã đem một con dao cạo để vào tay một đứa con nít không. Nguyên văn: “…mis unrasoir dans les main d’un enlant”.



TÔI NHỚ hình như một hôm nói chuyện với một nhà văn. Chuyện văn nghệ nói với nhau thì dài… Nhà văn có nói một câu… trong những câu: “Cái giới văn nghệ vốn là một giới hỗn lắm…!”


THỰC RA, hỗn chỉ có nghĩa là phi công thức: họ không sống theo công thức có sẵn: công thức về tình cảm, công thức về văn hóa. Đối với họ, vệ sinh về tâm hồn quan trọng hơn là thứ vệ sinh của tất cả những gì làm ra cái bề ngoài của con người cần trang trí những trường hợp vật chất hơn là trang trí bên trong… Bản chất họ vốn là một bản chất dễ cảm xúc cho nên họ phản ứng ngay trước những chuyện bất công, nhớp nhúa… Thái độ sống của họ vốn là một thái độ đối lập với trật tự có sẵn… cho nên họ không theo công thức… Cổ kim như vậy. Kể cả Hàn Dũ đời nhà Đường chẳng hạn: “Đại phàm vật bất đắc kỳ bình tắc minh”. Nghĩa là vật không thỏa mãn thì kêu lên. Chính vì bất mãn nên “tắc minh” và ở vào thế đối lập… Và chính là nghệ phẩm phát sinh từ tình trạng tâm lý ấy… Ở đời chẳng có cái văn thơ thù tạc và mãn nguyện nào mà lại là… danh văn bao giờ! Nếu có cũng ít văn nghệ theo nghĩa chính là như vậy đó! Tôi nhận thấy từ thuở tối tăm của thời gian đều là thế – còn như vậy có đúng hay không, đó lại còn tùy ở lăng kính của mỗi người…
            Thực ra thì cái bộ mặt xã hội như thế, như vậy, như kia… có tốt đẹp gì đâu mà bảo họ phải khuất phục kia chứ! Một khi cái bộ mặt… đã thiếu vệ sinh thì đừng hòng ai lễ độ…

TRỞ LÊN là điều nhận xét thứ nhất. Bây giờ là điều nhận xét thứ hai.
            Tôi không hiểu những nhà sinh lý học, phân tâm học, phân tâm sinh lý học… họ đã nghiên cứu cái con người của nhà văn nghệ cổ kim ra sao và đã tuyên bố kết quả bao nhiêu lần… – ấy, tôi nói về văn nghệ sĩ theo nghĩa chính mà thôi. Thực ra, cứ lấy thị giác thông thường mà nhìn suốt lịch sử, thì thấy giới văn nghệ thực là… lạ.
            Này nhá: ngày văn học Âu châu phát sinh là ngày chúng ta có chàng Homère… mù. Cũng vào thời xa xưa ấy, bên Tàu chàng Tú Uyên (La Mã hóa ra là Chou Yuan) đã tự tử… Nhà thơ lớn của La Mã là Lucrèce đã từng băn khoăn một thứ băn khoăn xao xuyến Kierkegaard… trong lúc chàng Leopardi thì lưng gù lên và sau nầy chàng Baudelaire bị bại… vì quá nhiều thiên tài. Blaise Pascal, lúc mới hai mươi bốn tuổi lúc nào cũng đau đầu, ruột gan lúc nào cũng nóng… và còn bao nhiêu biến cố nữa trong cơ thể… Chàng Jean Jacques Rousseau không lúc nào thoải mái lúc nào cũng như thiếu bình tĩnh và thần kinh thường không vững vàng… khỏi được lệch lạc này thì bị một lệch lạc khác trong cơ thể và tâm hồn. Ban đêm chàng Victor Hugo lúc nào cũng văng vắng nghe một thứ tiếng nói… và thỉnh thoảng cầu cơ để tìm hiểu những chuyện đâu đâu… trong lúc… Musset say sưa tối ngày và Gerard de Nerval điên và tự sát… Marcel Proust đau suyễn nặng… Ngày còn đi học ở nhà trường, Corneille, Voltiare, Alexandre Dumas, Claudel cũng không đẹp trai gì lắm, và tâm hồn thỉnh thoảng cũng mất thứ tự… Swift và Blake điên. Byron thì yêu em gái của chính mình, Gogol điên rồi mới chết, Dostoievsky bị kinh phong, Kleist tự tử, Holderlin và Nietzche loạn trí rồi chết…



SỬ SÁCH chép như vậy: đó là chuyện cũ. Còn ngày nay, sử sách chưa ghi chép chuyện nào cả cho nên chúng ta chưa biết có bao nhiêu thiên tài có bao nhiêu biến cố trong cơ thể và trong tâm hồn… Chuyện “biến cố như vậy là chuyện “phú bẩm”: chẳng ai muốn có, nhưng muốn không cũng không được…”


CHỈ BIẾT họ để cho đời sau những nghệ phẩm. Có họ, đời đẹp lên. Có họ, đời vui lên… Có họ, đời tưng bừng… Không có họ thì nhân sinh như tha ma… Thiếu Nguyễn Du thì dân tộc Việt Nam lấy ai để hãnh diện? À Nguyễn Du có tật có tội gì không? Kể cả là có, sử sách cũng dấu đi: nhà nho không trần truồng như người Âu tây có gì nói nấy…


ĐƯƠNG THỜI không hiểu họ: đương thời ganh họ cũng có, đương thời dại cũng có… Đương thời không đủ thông minh tế nhị và thiếu tinh vi cũng có…
            Vì vậy giữa đương thời với họ, có ly khai. Họ cô đơn. Những kẻ nhiều sức khỏe tinh thần thường cô đơn. Ý ấy là của Ibsen: L’homme fort est seul.



HỌ CHẾT rồi thì người ngày sau làm tượng. Người ta thường rộng lượng với người chết, và người ta đặt đúng vị trí cho người chết. Còn lúc bình sinh, nếu họ có một mẩu… tàn tật, đó là chuyện riêng của họ.


Ở ĐỜI không có gì u mê hơn là thành kiến: nghĩa là có một số người cứ tưởng rằng ở đâu mình cũng đúng, lúc nào mình cũng đúng.
            Xã hội loài người bao giờ cũng náo nhiệt, mất thứ tự… như trong một chuyến xe hàng sắp chạy: chen nhau loạn xạ, gọi nhau ơi ới, tranh nhau và ngang dọc như cua… Có khi mắng nhau nữa kia! Cứ khi nào xe chạy rồi mới đâu vào đấy ai có chỗ nấy, ai ngồi chỗ nấy… Không ai chen ai nữa… Yên vị.



LỊCH SỬ bao giờ cũng sắp xếp.
            Bánh xe lịch sử chạy xong rồi là ai có vị trí nấy, rõ ràng.
            Bằng cớ: giới văn nghệ Beat Génération. Nhóm này là một nhóm thi nhân hòa hợp thi tiết của họ và nhạc tiết của nhạc Jazz… Nhóm gồm có Ginsberg, Kérouac, Ferlinghetti, vân vân…
            Giòng họ xa gần của nhóm cũng đông lắm.
            Kể cả Henri Miller là nhà văn vĩ đại của Mỹ phải chờ hai mươi sáu năm cuốn Tropique du Cancer của ông mới chính thức ra đời – và ra đời xong là ngập thị trường văn hóa Âu Mỹ hiện đại, cũng như L’Amant de lady Chatterley của Lawrence… Kể cả Rimbaud và Whitman… Kể cả Evtouchenko của Nga Sô viết… Kể cả Antonin Artaud, Michaux, Prévert, Camus… Kể cả… nhiều lắm.



NGÀY NHÓM Beat Génération ra đời là thiên hạ làm như là trời sắp… sụp; giới đạo đức làm như là phong hóa sắp suy đồi, luân thường sắp đảo ngược – giới văn nghệ đã có vị trí sẵn thì sợ sắp mất giường cao chiếu cả ăn trên ngồi trốc… – giới văn hóa chung nhìn các văn thi nhân như Ginsberg, Kérouac, Ferlinghetti… như những người đánh đu bay. Hơn thế: những người quái dị của văn thi giới…


LỊCH SỬ, như tôi nói, thường sắp xếp đâu ra đó. Lịch sử hiện ra dưới hình thức một nhà xuất bản và một vài người có thế lực trong văn thi giới…
            Nhà xuất bản ấy là nhà Denoél bên Pháp vừa mới tổng hợp thơ của nhóm và ra cuốn La póesie de la Beat Génération. Thơ do Alain Jouffroy trình bày, do Jean Jacques Lebel dịch ra Pháp ngữ – và như tôi vừa nói, do Denoél xuất bản.



NGÀY XƯA, khi Baudelaire mới ra đời, khi Rimbaud mới ra đời…thiên hạ xôn xao… Ngày xưa, khi Lawrence mới viết L’amant de lady Chatterley… thiên hạ sợ hết hồn… Ngày xưa, khi Henri Miller mới cho ra Tropique de Cancer… thiên hạ hốt hoảng…
            Ngày sau lịch sử sắp xếp…
            Bởi thế cho nên, mới thấy cái gì ra đời mà hốt hoảng và xôn xao… và giữ mãi những thành kiến… thì thật là không có gì dại dột và u mê hơn!



ẤY CÁI giống người hay có thành kiến thế đấy thường có thành kiến thế đấy – có rồi gỡ không ra, mọc rễ.
            Người là một giống chứ có phải một đấng. Người ta nói giống người. Cũng như giống khỉ, giống vịt, giống chuột… Có ai nói đấng người đâu! Chữ đấng chỉ dùng cho thanh hiền mà thôi.


TAM ÍCH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 25/03/2017, 09:20:17
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2  [tháng 8 năm 1965 |  106 trang]

MỤC LỤC
Thành Tôn |  Vào lòng đất (thơ) |  2
Thi Vũ |  We two form a multitude (thơ) |  3-4
Kim Tuấn |  Những điều ghi được trong giấc ngủ (thơ) |  5
Định Giang |  Chiến tranh, nỗi bi thảm của quê hương (thơ) |  6
Hoài Khanh |  Tinh thể hồng (thơ) |  7
Sơn Nam |  Một bức chân dung |  8-14
Hồ Hữu Tường |  Từ Quảng Ninh, ngang Tagore, đến… (tiểu luận) |  15-20
Thùy Dương Tử | Ô Lý (thơ) |  20
Nhất Hạnh |  Bến Tre |  21-26
Tam Ích |  Trong văn nghệ có vấn đề “giải quyết” và vấn đề “hướng lên” (tiểu luận) |  27-34
Tuấn Huy |  Cúi đầu |  35-42
Phạm Công Thiện |  Ánh sáng Phật giáo Thiền tông chiếu rọi vào ba câu thơ của Hoelderlin (tiểu luận) |  43-49
Phạm Duy |  Tâm ca số 1 (nhạc) |  50-51
Hermann Hesse/Hoài Khanh dịch |  Thi sĩ |  52-59
H.K. |  Hộp thư tòa soạn |  59
Bùi Giáng |  Rằng từ ngẫu nhĩ (Kiều ghé Tây phương) (tiểu luận) |  60-70
Anh Hoa |  Mưa cao nguyên (thơ) |  71
Chín |  Anh Tư Lo |  72-76
G.T.Q.M. |  Giới thiệu sách báo mới |  76
Nguyễn Đức Sơn |  Xin dừng lại nơi đây |  77-82
Nguyễn Thụy Long |  Tù con so |  83-88
Nhất Hạnh |  Nẻo về của ý |  89-101
Quảng cáo |  102-106


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 25/03/2017, 09:38:21


            Vào lòng đất

            có không nhục thể linh hồn
            dưới kia đất lạnh tiếp nguồn thịt xương
            tay xuôi lòng đó bình thường
            nhân sinh cõi trú đôi đường chia xa
            có không danh lợi chánh tà
            tiếng tai người giữ mảnh da kẻ thờ
            duỗi thân phù phiếm tay chờ
            tình kia ấm lạnh mấy bờ hồng hoang
            có không son sắt đá vàng
            bàn chân nghiệp chướng nẻo đàng thu sương
            về đây nấm đất hoang đường
            nằm nghe hơi thở côn trùng phân thây
            có không dương thế đêm ngày
            yêu thương thù hận mỏng dày khen chê
            dưới kia cõi trú lui về
            sạch tay giũ áo lòng nghe nhẹ nhàng
            có không âm phủ địa đàng
            áo quan đinh đóng những vàng canh thâu
            xác thây quỉ khốc thần sầu
            vào trong đất lạnh ngẩn đầu phân thân
            là xong khép mắt dương trần
            gỗ khô huyệt ẩm nhẹ phần từ đây

                                                THÀNH TÔN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 25/03/2017, 10:45:53


We two form a multitude

những mái nhà quê hương bỗng nhiên biến thành đôi mắt
khóc dầm dề nước mắt lửa không nguôi
bao kẻ thân yêu bao người làng xóm
sống không nhà
và chết không nơi chôn
những kẻ thân yêu bay cùng trời chộn rộn
đi tìm mảnh đất an lành
giữa vũ trụ không cùng của trái tim tôi
hãy bay đi bay đi giữa lòng tim không biến đổi
nhà chưa cất nhưng rừng xanh vòi vọi
những con đường lần chuỗi đá cần An
ở đây, nỗi buồn và cô độc
sẽ được nghe, được hiểu
hãy nằm yên, ta đắp cho em chiếu chăn thơm phức
hoa hồng và hổ phách ấm hơi
tay mặt trời dẫn nụ cười em đi dạo
mưa xuân về khi em khóc để hỏi han
hãy quên đi tiếng nổ, chúng chỉ gây hoài cừu hận
hãy xóa mờ hoang nát, luyến tiếc gì quá khứ buồn đau
đất rộng giữa trời cao, ai bảo sẽ không xây
được nghìn xưa, hãy ở yên trên xóm
mới thanh bình, có tình thương tạo dựng
hồi em mới đến tay lạnh thân gầy, tóc bay phủ
trọn hồn tôi phút chốc hóa nên hai mầu nhiệm, lần đầu tiên biết mình rất đẹp, tựa nàng tiên huyền sử thấy bóng hình hiển lộ mặt hồ xanh, có giọt sương sao đến chào và khoát sóng, đưa tay vào lẳng lặng giữa hương sen.
Sấm sét sẽ ngừng vùi chôn trong núi đá
ta thắp lên đây bao hàng bạch lạp
– ngọn lửa muôn đời chứng minh cho người chết, gìn giữ trối trăn chưa kịp thốt nên lời
với ánh sáng này và ánh sáng của trăng sao, em hãy cùng ta tạc tượng, những tảng đá thương đau sẽ phục hồi sinh khí để con người nhớ mãi tới muôn sau, đừng gây thêm đau khổ cho nhau trong hình hài sương, chớp đang chở đầy hạt giống hiện sinh
em hãy nghe lời ta đừng trở lại làng xưa
chuốc thêm cừu hận, và cũng đừng quay lưng trước lời Phật chuyển rung qua tiếng kêu than trăm vạn người lao khổ
những buồng phổi ốm đau chờ hương sen ngát tới. hãy là trời cao đất rộng. hãy là rừng xanh và câu hát. hãy là lúa, mật, sắn, khoai. hãy là con người đứng bên cạnh con người để khước từ tiêu hủy.

                                                            Oxford. 27-6-65
                                                            THI VŨ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 25/03/2017, 17:46:09


Những điều ghi được trong giấc ngủ

KHI TÔI TRỞ VỀ con chim câu nằm trong tổ ấm. Dây thép gai hết rào quanh đồi phòng ngự và người lính đã trở lại cày đám ruộng xanh.
            Khi tôi trở về con diều bay đùa trong gió. Ở quê nhà, trên thảm cỏ xanh, có đứa trẻ để bụng lòi chấm rốn đen cười nụ thanh bình. Buổi chiều có con trâu rung mỏ vu vơ như trong giấc mộng. Khi tôi trở về, khi tôi trở về hai tay níu tìm lồng ngực. Giọng hát ru kéo lại dĩ vãng trầm trầm như chưa tắt thở. Có người rủ nhân loại đi xem địa ngục mà không ai trả lời.
            Khi tôi trở về mẹ vừa tóc bạc. Đôi mắt nhìn vào tương lai và quên hết bao nỗi u phiền. Con cò lại bay trong đồng ruộng xanh. Lũy tre già cúi xuống ưu tư cùng mùi khói un quen thuộc. Khi tôi trở về tôi sẽ đi thăm bờ sông thuở nhỏ, tôi sẽ buồn thầm những chuyện ngày xưa và sẽ khóc một mình vì quê hương tôi bao lần đau khổ, bao lần đắng cay, bao nhiêu tủi hờn. Quê hương tôi ở đó. Quê hương tôi khi còn tuổi nhỏ, khi tôi lớn lên bằng tiếng ru hời. Quê hương tôi bao lần đau khổ, bao lần đắng cay, bao tủi hờn.
            Khi tôi trở về con chim kể lời ân ái. Lời hát vang xa và vũ khí sẽ sắp thành cầu vồng trong ngày đám cưới. Nhà mới dựng xây, có tiếng trẻ khóc u oa chào đời. Có người đem tặng em bé quả bom nguyên tử, đứa trẻ đó cười và ôm nó ngủ say như ôm quả bóng. Những dãy phố sớm mai thức dậy cùng tiếng chim ca, lũ trẻ con mừng đời thịnh trị và tay yếu cố vồ ôm tương lai của mình.
            Khi tôi trở về, khi tôi trở về cuộc đời xuôi chảy. Có bóng trăng xưa soi trên lối mòn, có rừng cây ấm vì nhiều thương nhớ, và khi thức dậy tôi tìm thấy tôi.

                                                KIM TUẤN
                                                1962


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 01/04/2017, 08:52:55


            Chiến tranh, nỗi bi thảm của quê hương

      1.– bây giờ giặc giã chưa qua
            em ngồi gục mặt rất là ăn năn
            xác thân rã mục điêu tàn
            quê hương lửa đạn vô vàn đăm chiêu
            môi hôn nước mắt tình yêu
            thân xe vết đạn nghe nhiều đắng cay.

      2.– đêm đi giọng hát quê nghèo
            tiếng ru bom đạn đẳng đeo quanh mình
            em từ tiếng nấc hồi sinh
            niềm đau hằn vết trên mình trẻ thơ
            20 năm mãi đến giờ
            quê hương bạc mệnh vẫn ngờ chiêm bao

      3.– khi nhìn xuống vũng trần gian
            thì cây cỏ đã cao ngang mái đầu
            từ chinh chiến mất về đâu
            bạn bè, bom đạn cày sâu quê nghèo
            mẹ già nước mắt trông theo
            vết thương tưởng niệm còn đeo đẳng hoài.

      4.– bây giờ giặc giã đã qua
            người cùng ngựa nghỉ giáo và gươm quăng
            gối tay mệt mỏi dáng nằm
            khỏa thân em dựng căn phần nhân gian
            lũng sâu và đó địa đàng
            ngựa người gục mặt nghe tàn chiến chinh


                                                ĐỊNH GIANG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 01/04/2017, 09:12:08

            Tinh thể hồng

            ngày mai lên chuyến xe về
            phương nao trời đã bốn bề gió giông
            yêu Em tình mãi vun trồng
            vườn xưa con nhện giăng hồng sợi tơ
            bây giờ con nhện là thơ
            thơ đan chẳng kín tự giờ luân di
            tự giờ đất hiện chu kỳ
            nghìn phương hướng vọng hồn Di Lặc bừng
            chiến trường ôi lửa mê cung
            tim Em cũng cháy trong cùng tận đau
            tình anh cũng giá như mầu
            sương kia từng lạnh trên sầu biển Đông
            Quê Hương một đóm lửa hồng
            làm sao sưởi ấm cõi lòng Mẹ, Cha
            tôi về vun xới vườn hoa
            cho em là gái Biên Hòa, Hàm Tân
            cho tôi là kẻ cô thần
            nằm đây gửi mộng dậy ngần sương xanh


                                                1-7-65
                                                HOÀI KHANH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 02/04/2017, 10:34:04
TỪ QUẢNG NINH, NGANG TAGORE, ĐẾN…

LÚC VỪA BIẾT ĐỌC, tôi chẳng có cái diễm phúc mà có những loại sách “trẻ em” để mà đọc. Tôi chỉ vớ được sách của “người lớn” nào là đọc cuốn nấy. Có một mẩu chuyện làm cho tôi để ý lắm. Ấy là chuyện Quảng Ninh và Hoa Hàm. Các cụ có học Nho, thảy đều biết chuyện ấy. Vào thế hệ của tôi, nhiều người cũng có nghe qua, nhưng hình như bây giờ không ai nhắc đến. Tôi có chịu khó tra Từ nguyênTừ hải là hai bộ tự điển khá đầy đủ của người Tàu. Hoa Hàm thì được nhắc trong cả hai bộ nầy. Nhưng Quảng Ninh lại bị bỏ rơi. Một người như Quảng Ninh, thế mà dân tộc tàu bỏ rơi đi! Thật lấy làm hổ thẹn. Thật quá bất công. Âu là, ăn cơm nhà mà lo chuyện người, cầm viết mà thảo mấy trang sau đây, gọi là trả món nợ tinh thần của kẻ ước mơ văn hóa.
            Lúc thiếu thời, Quảng Ninh và Hoa Hàm cùng là nghèo, cùng ham học. Hai bạn chỉ có một chiếc chiếu, cùng ngồi mà đọc sách. Một hôm, khi hai bạn đang lo đọc sách, thì có tiếng xe ngựa, tiếng lính nạt đường, cho một người quyền thế nào đó đi qua. Nghe vậy, Hoa Hàm lật đật buông sách, chạy ra xem việc tiền hô hậu ủng ấy. Còn Quảng Ninh nghĩ rằng học có mục đích là cầu đạo, mình chăm lo học tập là cốt để tìm chân lý, tìm đường dắt loài người đến chân, thiện, mỹ. Còn Hoa Hàm, tuy cũng chăm học, nhưng học chỉ cầu công danh. Vậy không phải là bạn đồng chí của mình, không thể cùng ngồi một chiếu mà học không thể chia gian khổ với mình. Hoa Hàm khi xem người ngựa qua rồi, trở vào, thì chiếc chiếu bị Quảng Ninh lấy dao mà rọc hai, và Quảng Ninh xách mảnh chiếu phần mình, đem trải chỗ khác, ngồi riêng mà đọc sách…
            Mẩu chuyện mà tôi đã đọc chỉ có chừng ấy, rồi chấm dứt.
            Nhưng cũng đủ làm cho trí non nớt của tôi để ý mà phân biệt hai ý nghĩa của sự sống, hai nhân sinh quan. Một kẻ cầu danh lợi, một kẻ cầu đạo. Hai hạng người nầy khó sống chung với nhau. Thảo nào, Quảng Ninh sớm biết mà rọc hai chiếc chiếu của chung của hai gã. Về sau, đọc truyện Tam Quốc, tôi có gặp lại Hoa Hàm. Lớn lên, Hoa Hàm học giỏi, ban đầu, phụng sự cho họ Tôn ở Giang Đông. Nhưng có tài mà thiếu đức, Hoa Hàm không được ưa ở đây, nên khi có dịp cắt người đi sứ bên Tào Tháo, Hoa Hàm được “bị tông ôn”. Sang ở với Tào, Hoa Hàm tìm đủ cơ hội, đủ thủ đoạn, để đoạt công danh… Chính Hoa Hàm lãnh lịnh của Tào Tháo mà làm một việc tàn nhẫn là thuốc chết Phục hoàng hậu. Rồi lần lần Hoa Hàm leo những nấc thang của công danh, thực hiện được cái ước mơ của thời niên thiếu, đọc sách mà mộng công danh địa vị.
            Còn Quảng Ninh?
            Từ thuở bé, tôi có cảm tình với Quảng Ninh, người học để cầu đạo, chớ không phải để chuộng quyền lợi và công danh. Đời của tôi, có lẽ một phần nào chịu ảnh hưởng của nhân sinh quan của người rọc chiếu mà đoạn tuyệt với kẻ không cầu đạo. Cảm tình nọ khiến tôi tò mò tìm coi Quảng Ninh có tương lai nào. Tôi có dịp hỏi một vài cụ đồ già. Không ai biết. Tra từ điển không có tên Quảng Ninh. Tôi bắt đầu nghi ngờ sự hiện hữu của người học với mục đích cầu đạo nầy. Và tôi cũng bắt đầu có cái lập luận rằng con người như vậy, cao siêu quá, làm sao có được? Và câu chuyện rọc chiếu là do kẻ đời sau bịa đặt ra mà thôi.
            Rồi một hôm kia, làm việc nơi một thơ viện xa xăm, có đến tám mươi ngàn sách hiếm có của Tàu, ngoài trời tuyết rơi lạnh lẽo phũ phàng khiến cho tôi lành lạnh mà trốn trong thơ viện lúc nghỉ trưa tôi lật một cuốn sách, mà nay tôi quên tên là sách gì. Tôi lại gặp tên Quảng Ninh.

TÔI ĐỌC say mê, như đọc một tình thơ của một nàng mà tôi mơ mộng bấy lâu, nhưng chưa có dịp trau đổi câu vàng đá. Quảng Ninh không phải là chuyện bịa đặt. Quảng Ninh là một nhân vật có thật. Nhưng chỉ bị loài người, lấy quyền lợi và công danh mà làm thước đo để sấp phẩm trật, loài người chẻ mà bỏ ra rìa xã hội, quên ghi tên trong sử sách. Tôi đọc đoạn nọ, lòng ngậm ngùi cho thân phận chung của những nhà văn hóa, không lấy quyền lợi, công danh, địa vị mà làm mục đích để sống.
            Quảng Ninh, vào cuối đời Đông Hán, là một trong hai người học rộng hiểu nhiều nhứt của thời ấy. Người thứ nhứt là Trịnh Huyền. Truyện có ghi tên Trịnh Huyền. Sách, từ điển có chép tên Trịnh Huyền. Có lẽ, bởi vì Trịnh Huyền có dạy lắm học trò, nhờ ruổi rong trên con đường quyền lợi và công danh, mà ghi tên trong sử sách. Học trò ấy là Công Tôn Toản, là Lưu Bị. Công Tôn Toản và Lưu Bị đoạt được quyền lợi và công danh, nên thầy cũng được thơm lây. Còn Quảng Ninh trẻ hơn Trịnh Huyền, bản thân chẳng có địa vị và công danh, dạy học trò chỉ lo cầu đạo, mà chẳng ai có địa vị và công danh, mặc dầu sở học của Quảng Ninh rộng rãi và uyên thâm, Quảng Ninh bị lãng quên…

DÂN TỘC Việt bị mấy mươi năm loạn ly, làm cho tôi không nhắc đến Quảng Ninh không được. Thời của Quảng Ninh, cũng loạn ly như thời của chúng ta vậy. Sau cuộc loạn ly của bọn thập thường thị. Hán thất suy đồi, quyền thần Đổng Trác tiếm quyền, quần hùng phong khởi, nên đâu đâu cũng có binh đao. Còn đám quần chúng nông dân, do bọn khăn vàng thôi động, làm cho loạn ly tràn khắp hang cùng ngõ hẻm. Quảng Ninh là kẻ học để cầu đạo; trong lúc mà ba anh em Trương Giác dùng sách Thái Bình yếu thuật mà gieo rắc loạn ly, Quảng Ninh dùng ảnh hưởng của cái học của mình mà kêu gọi xây dựng một cảnh thái bình đích thực.
            Cả mấy vạn người hưởng ứng lời kêu gọi của nhà bác học, nhà hiền triết, nhà văn hóa, kẻ mà đạo không phải chỉ để suy tư, mà để sống. Đám quần chúng ấy bỏ phồn hoa đô thị bỏ cái dịp loạn ly có thể làm tấm ván nhún để nhảy lên đài địa vị và công danh, mà theo Quảng Ninh vào rừng sâu đốn cây, dọn đất trồng trọt, cày cấy, lập một mảnh đất thái bình, nhà tối không đóng cửa, đường không ai lượm của rơi, phục hưng lại đời Nghiêu Thuấn. Mỗi người làm để đủ ăn thôi, mà chẳng cần việc giàu sang. Và mỗi mỗi đều tham gia vào công cuộc học hỏi, trau dồi trí đức, dưới sự hướng dẫn của Quảng Ninh, nhà bác học, nhà hiền triết, nhà văn hóa…
            Tôi biết được Quảng Ninh như thế. Tôi hiểu vì sao loài người bỏ rơi Quảng Ninh mà không ghi tên Quảng Ninh trong từ điển. Quảng Ninh nào có giàu như Thạch Sùng, Vương Khải? Quảng Ninh nào có địa vị, được vua phong cửu tích như Tào Tháo, như họ Tư Mã? Quảng Ninh chỉ có cái đạo. Quảng Ninh chỉ có bọn không vu quyền lợi theo vào rừng mà, chẳng nói “thái bình yếu thuật”, lại hành động “thái bình yếu thuật”. “Đắc đạo” vào thời ấy, không phải là Tư Mã Đức Thảo, như bộ truyện của La Quán Trung là Tam Quốc chí diễn nghĩa đã vẽ. Trong sự thật, và Trần Thọ, tác giả của Tam Quốc Chí đã chép, Tư Mã Đức Thảo, vào tuổi già đến đầu Tào Tháo, mà lập chữ công danh. Dâng kế có mấy ngày cho Tào Tháo, kế của Tư Mã Đức Thảo chưa kịp được dùng, thì Tào Tháo chết. Vậy cái đạo của Tư Mã Đức Thảo là cái đạo hụt. Hụt vì bởi cũng muốn công danh, mà chẳng gặp thời. Và cái đạo của đám bè bạn của Đức Thảo ở vùng Nam Dương, chỉ là cái đạo xuất thế của một đám tôn thờ cá nhân chủ nghĩa. Còn cái đạo của Quảng Ninh là cái đạo nhập thế cái, đạo dấn thân, cùng quần chúng, vì quần chúng, với quần chúng mà thực hành “thái bình yếu thuật”.
            Nam Hoa lão nhân, như trong truyện Tam Quốc kể, trao sách Thái Bình yếu thuật cho Trương Giác, mà giặc khăn vàng nổi lên. Quảng Ninh chẳng nhờ dị nhân nào trao cho thiên thơ tự mình tìm được con đường thái bình, không cho cả thiên hạ được, ít nữa cho kẻ đồng tâm đồng chí của mình.



BIẾT CHUYỆN của người, tôi so sánh với người nay. Vào đầu thế kỷ XX này, ở gần Bengale nhà văn hào Tagore có cất một lều tranh làm giảng đường để dạy tử đệ học đạo lý. Từ bốn phương trời, văn nhân, mặc khách, triết gia đến mà nghe Tagore giảng dạy. Rồi sau đó, gần Pondichéry, một người Ấn Độ khác, là Aurobindo lại mở một ashram. Tử đệ của Aurobindo cũng từ bốn phương trời mà đến. Mỗi người mỗi ngày cũng cày sâu cuốc bẩm ít giờ, để tay làm mới có cho hàm nhai; xong rồi thì nghe nhà hiền triết luận bàn tư tưởng.
            Tôi lại đem sự so sánh ấy mà nói với hai vị tu sĩ, từ Đà Lạt xuống mà thăm tôi. Hai vị nầy mới kể cho tôi nghe sự sống của Đà Lạt. Bắp cải, tuy không to “bằng bộ ván ba”, nhưng khá lớn, mà bán chỉ vài đồng thôi. Củ khoai tây to, củ khoai lang đầy mật, bắp trái lớn, hột nhiều, các thứ đều rẻ. Nếu tập cho dân mình sống bằng khoai tây, bằng bắp, bằng khoai lang, mà chẳng ăn gạo, như người Bắc Âu, thì quả là tay làm hàm nhai rất dễ dàng. Làm lớn như Quảng Ninh, kêu gọi một vài trăm ngàn người tránh loạn ly và cầu đạo, thì những quả đồi quanh Đà Lạt thừa đất phì nhiêu để nuôi sống họ… Mà làm nhỏ như Tagore, như Aurobindo, bắt chước các cụ đồ ngày xưa, thâu nạp “tam thiên đệ tử”, mình dạy dỗ “kẻ nghe sách”. Kẻ nghe sách dạy lại học viên “hạng sáu” học viên “hạng sáu” dạy xuống… Thì tre đỡ măng có gì là khó? Huống chi, Đà Lạt có một viện Đại học, có mấy trường Trung học, có những cơ sở làm sẵn đó mà quanh năm chẳng ai dùng. Thanh tịnh, thì cũng có thể thanh tịnh như khu rừng của Quảng Ninh mà thêm tiện nghi của thế kỷ XX, cũng có thể được. Thêm nữa, hiện nay dân chúng ở Đà Lạt hiền lành, mộ đạo… Hai vị tu sĩ đặt cho tôi câu hỏi: “thời loạn ly nầy, đâu đâu cũng có kẻ tị nạn, bu đầy các thành phố mà tị nạn, ông còn đợi gì mà không làm như Quảng Ninh, cất tiếng kêu gọi những người tị nạn đến Đà Lạt, mỗi người trồng trọt trong vài giờ mà đủ cái ăn để nghe ông giảng về “con đường văn hóa”? không làm Quảng Ninh được, thì làm Tagore, làm Tagore không nổi thì làm Aurobindo vậy”.
            Hai vị tu sĩ vừa ra, thì có con cháu gái, con anh cả tôi, bồng bế, dắt năm con đến. Chồng nó làm thợ máy ở sân bay Liên Khàng. Nó nói “mấy ổng” dán giấy hăm đánh lấy sân bay nầy, rồi đánh úp lấy luôn Đà Lạt. Sợ quá chồng nó bảo dắt năm đứa con dại mà lánh nạn trước ở Sài Gòn. Con cháu, với năm đứa con nó, dẫn tôi từ cái mộng, do hai vị tu sĩ mớm cho, mà trở về sự thật. Một sự thật đớn đau phũ phàng, là chỉ có thể làm Quảng Ninh, làm Tagore, làm Aurobindo ở chốn phồn hoa đô thị nầy, giảng đạo lý trong khi thanh niên bị ám ảnh vì phòng trà, vì hộp đêm, vì phim cao bồi, vì quần túm ống với cái dao găm gắn nơi cổ chơn, còn thiếu nữ thì đắm say ăn mặc, tiền đầy túi và mùi vị của vít-ki.
            Ai mà dám rời bỏ đô thành vừa xa hoa vừa có an ninh để lên Đà Lạt mà nhịn ăn cơm lại tập ăn rau, với mục đích là nghe “văn hóa” trong lúc mà lòng không yên bởi “mấy ổng” hăm đánh úp? Ngay cá nhân tôi mặc dầu tôi không thích nếp sống nhộn nhịp mới, tôi có dám đến chờ “mấy ổng” đánh úp, bắt được tôi, rồi kết án tôi là kẻ “phản động”, dám bắt chước chàng Polyeucte mà động đến thần tượng của họ? Thời xưa Quảng Ninh loạn ly chỉ có ở các thành phố và ở các chỗ có người đông đúc. Thì Quảng Ninh còn có thể kêu gọi dân tị nạn kéo vô rừng sâu mà lập cảnh thái bình. Còn ngày nay, loạn ly lại từ rừng phát ra, bắt chước Quảng Ninh sao được?

TRONG CÁI tâm trạng hoang mang ấy, tôi la cà nơi vài tiệm sách mà giải khuây bằng cách nhìn nhan đề của các sách vừa xuất bản. Tôi bắt gặp một tùng thơ có cái tên là Marabout Université. Quả là một sáng kiến tân kỳ. Một Viện Đại học tưởng tượng, không có ai là giáo sư chánh thức, mà học giả nào lỗi lạc cũng là giáo sư; không có giảng đường cho sanh viên đến, mà Viện Đại học lại đến tận nhà của mỗi sanh viên, vào tận giường ngủ mà ở nơi đầu tủ bên cạnh giường; không có thời khóa biểu, mà tự tiện sanh viên muốn học lúc nào cũng được; không có ban giám khảo để thi cho sanh viên, mà sanh viên có thể nạp công trình nghiên cứu cho công chúng thẩm xét bất cứ lúc nào… Ngay đến một Viện Đại học tưởng tượng như vậy mà cũng không làm sao xây dựng lên nổi. Bởi vì sách in ra, không có số người tối thiểu mua cho tùng thơ sống được, thì chẳng bao lâu, hết vốn. Mà đã có vốn chưa đã?
            Làm Quảng Ninh không nổi. Làm Tagore cũng không kham. Làm Aurobindo cũng chưa được. Lập cái Viện Đại học tưởng tượng như Marabout Université cũng chẳng thấy viễn đồ thành công. Nghĩ như vậy, tôi tủi buồn hết sức. Nhiều bạn trong làng bút mực rủ tôi cố gắng “giữ thơm quê mẹ”. Lòng tôi muốn như vậy lắm lắm. Nhưng một câu hỏi luôn luôn đặt cho tôi: làm sao?

TÔI MỞ lớp dạy EOMIR đem ra những kinh nghiệm về kỹ thuật làm việc bằng trí thức mà truyền lại cho bạn trẻ. Hơn hai trăm người ham học, mặc dù quảng cáo lai rai, ít ai nghe nói đến. Dạy vài hôm, hơn phân nửa sanh viên yêu cầu: “Thầy, thầy, thầy có bao nhiêu kinh nghiệm thì rút hết ra mà truyền lại cho chúng tôi trước đầu tháng chín”. Tôi hỏi: “Tại sao trước đầu tháng chín?” “Bởi vì, sau đó chúng tôi phải lên Thủ Đức”.

KHOA OEMIR, tôi có dùng tiếng Việt gọi là Nhập Môn Học. Nay các sanh viên của khoa nầy sắp nhập ngũ. Nghĩ cho cùng kỳ lý, thì khoa OEMIR cũng phải dạy những kỹ thuật tối cần của “nhập môn học” cho những sanh viên sắp nhập ngũ. Nhưng mà bấy lâu nay, tôi suy nghĩ rất nhiều về mọi phạm vi hoạt động bằng trí thức, tôi lại chưa nghĩ đến việc nầy. Sanh viên của tôi sắp đi làm bổn phận của công dân thanh niên. Tôi làm giáo sư của chúng, mà moi óc để tìm câu nào dặn dò chúng, tôi chẳng thấy câu nào có ý nghĩa hơn là câu:
             “Hãy giữ thơm quê mẹ!”
            Trong khoa OEMIR, tôi tập cho sanh viên tìm có cái chìa khóa mà mở cửa, mới “nhập môn” được. Thì ở đây cái chìa khóa là bốn chữ: giữ thơm quê mẹ.


5-VII-1965
HỒ HỮU TƯỜNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 08/04/2017, 14:25:42


            Ô  Lý

            ta về với gió với mưa
            với châu Ô Lý ngày xưa vẫn buồn
            Ngũ hành chuông vọng chiều buông
            Ải Vân mây phủ biệt nguồn từ lâu
            Điện Bàn phà đỗ Châu lâu
            mộ bia xiêu lệch đã màu rêu phong
            quế cau tâm sự não lòng
            rượu cần một bữa sưởi lòng quê hương
            khóc thầm tiếng khóc lên đường
            hỡi Châu Ô Lý ta thương nàng hoài


                                    THÙY DƯƠNG TỬ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 08/04/2017, 16:14:59
TRONG VĂN NGHỆ CÓ VẤN ĐỀ “GIẢI QUYẾT” VÀ VẤN ĐỀ “HƯỚNG LÊN”…
Hồ sơ văn nghệ

TÔI NÓI “Trong văn nghệ”… vì vấn đề này lôi vào vòng ba giới: giới sáng tác, giới đọc sách và giới xen vào giữa là giới phê bình…
            Người sáng tác thì tự mình đòi chính mình phải viết như thế này phải viết như thế nọ – cho sách hay – người đọc sách, trong đó có cả người của chính quyền nếu chính quyền đó là chính quyền đòi có mặt chẳng hạn, thì đòi ở người sáng tác một số nguyên tắc phải theo để thỏa mãn ý-thức-hệ chính thức, – còn nhà phê bình thì chiếu theo đòi hỏi của thời đại, chờ ở nhà sáng tác những tiểu thuyết, những kịch phẩm, những bài thơ – hay. Cứ dùng chữ hay là đủ, là gọn; riêng một chữ hay không cũng đã chứa cả một dung tích cứ nghĩ tới là nhà sáng tác đã phát… lạnh xương sống!



SỐ LÀ ngày xưa, vào những năm 1948, 1949, 1950, những năm trước khi đi tù, tôi có viết một số bài phê bình, và khảo luận về văn nghệ. Ở đời nó vậy, hễ mới tập tành theo một thuyết văn nghệ nào đó… thì bao giờ cũng say mê và làm mặt… nghiêm khắc (rigorivne) – mãi sau này tôi mới thấy cái… lố của chính mình, chính mình đã “ấu trĩ” trên cương vị một nhà phê bình. Nói quả tình hồi ấy có một vài bạn trẻ lại cho tôi là… đúng mới là cơ khổ chứ! khi viết, tôi tập tành áp dụng duy-vật biện-chứng-pháp, và tôi đòi thiên hạ phải theo tả-chân xã-hội (réalisme socialiste) làm khuôn thước văn nghệ. Rồi cứ mỗi cuốn tiểu thuyết ra đời, tôi lại đưa cái chủ quan của tôi ra, hướng hết mọi luận cứ về mấy nguyên tắc mà tôi mới học được, rồi phê bình rằng cuốn này không giải quyết gì cả, cuốn nọ không đưa ra một kết luận gì cả, tác giả không gợi một biện pháp nào cho vấn đề đặt ra trong tác phẩm… nghĩa là, như tôi đã nói, tác giả không giải quyết gì cả… Rồi tôi vác khuôn vàng thước ngọc duy-vật biện-chứng ra mà múa – mỗi mỗi đều cho rằng phải thế này mới là văn nghệ, phải thế kia mới là văn nghệ… Làm như nhà văn nghệ là một đấng tối cao – giải-quyết hết mọi vấn đề và muốn giải-quyết là được. Rồi tôi cho rằng sách mà không giải-quyết là sách dở…

ĐẤY, cái bịnh “ấu trĩ” văn nghệ (infantilisme littéraire) của chính tôi là bịnh giải-quyết. Trước tôi có một người giỏi hơn tôi là Trương Tửu Nguyễn Bách Khoa. Trước Trương Tửu có một người giỏi hơn Tửu một vạn lần là Paul Lafargue. Trước Paul Lafarque có một người, tuy là ông tổ phê bình duy-vật biện-chứng nhưng lại mềm dẻo hơn, là Taine: té ra những kẻ sinh sau Taine lại “bảo hoàng hơn vua” (plus royaliste que le roi) mới là hài hước!
            Đến đây, tôi xin nói ngay rằng phải để những nhà critique communiste ra một bên – họ khắt khe là phải vì ở vị trí họ, với lăng kính họ, với cái vạn-hoa-kính của họ, họ phải nhìn văn nghệ thiên hạ như vậy cho hợp với ý thức hệ của họ – chúng ta không nên trách. Chớ Trương Tửu và tôi, thì việc gì mà cũng mặc áo duy-vật biện-chứng vào rồi thì phê thế này phán thế nọ? Chẳng qua chỉ để làm cái mặt “độc đáo”, cái mặt thông thái, cái mặt “hợp thời trang” mà thôi!
            Tôi phải xin nói ngay rằng tôi không kết án cái phương pháp duy-vật biện-chứng trong văn nghệ, tôi không chống, trái lại, tôi còn cho nó là một tác phong phê bình có giá trị, nó phong-phú-hóa thông minh con người và văn-hóa-tính của lịch sử. Tôi chỉ muốn nói rằng nên dùng nhưng phải dùng cho mềm dẻo, cho linh động: Chúng tôi hồi đó chỉ theo một mớ giáo điều mới là tai ác chớ! Cái gì cũng do kinh tế mà phát sinh… Ừ thì văn hóa là sản phẩm của kinh tế thì tương đối đúng rồi, chứ còn có phải cái gì cũng vì kinh tế mà phát sinh đâu! Một cuốn sách ra đời: kinh tế. Một chị Năm ngả ba chú Ía gây lộn: kinh tế. Ăn cơm với mắm bò hóc: kinh tế… Mỗi một cái gì cũng đều là vì kinh tế mà có: nhai mãi mấy cái nguyên tắc kinh tếxã hội… phát chóng mặt!

THẬT RA, cái việc giải quyết một vấn đề rắc rối đặt ra trong một cuốn tiểu thuyết, trong một kịch phẩm, cái việc gợi ra một biện pháp luân lý – xin nói lại, luân lý – trong một kịch phẩm đã đặt ra một vấn đề luân lý trong sách… là việc của triết gia, của luân lý gia, của mấy cuốn luân lý giáo khoa thư, của ông Cò quận Ba chẳng hạn…
            Nhà tiểu thuyết phản ảnh đời sống một cách linh động: chỉ có vậy thôi. Còn nhà tiểu thuyết làm sao để tác dụng lại đời sống, đó lại là một vấn đề khác… Sao lại bắt Malraux phải giải quyết cả một vấn đề cách mạng Tây Ban Nha năm 1936 trong cuốn Hy vọng (L’espoir). Sao lại bắt Hémingway phải giải quyết vấn đề nhớp nhúa của chiến tranh trong cuốn Từ giã chiến tranh (Adieu aux Armes)… Tôi đọc hết cuốn Bão tố (La tempête) và bộ Sóng ngầm (Lames de fond) của Ehrenbourg, mà tôi chỉ thấy Ehrenbourg vẽ những bức bích họa (fresques)… chứ Ehrenbourg có giải quyết như những nhà luân lý, hay bắt chước ông Cò quận Ba phán thế này thế nọ – kể cả là thay mặt Thượng đế để thưởngphạt! Sách của Ehrenbourg chỉ là những bức bích họa phản ảnh Âu châu trong đệ nhị thế chiến và sau đệ nhị thế chiến. Nghĩa là Ehrenbourg là “họa sĩ” có tài. Vậy thôi. Vậy là được.
            Đã có người đem vấn đề tinh thần nghệ phẩm ra bàn với Frédérico Fellini – mà ai cũng biết –, Fellini bèn dựng Tchékov dưới mồ dậy và viện Tchékov ra để củng cố ý tưởng của mình, vì Tchékov nói rằng: chúng tôi kể chuyện hai gã ăn trộm ngựa, thì chúng tôi chỉ biết kể chuyện ăn trộm – còn chuyện nhốt chúng lại hay không, là việc của ông Cò Quận Nhất hay Quận Nhì… chứ!

TÔI tán thành Tchékov và Fellini. Nhưng tôi tán thành với dè dặt – nghĩa là thuyết văn nghệ hay thuyết phê bình văn nghệ gì cũng có giá trị cả, hay hay không là ở mình có linh động hay mềm dẻo không. Nguyên tắc nào mà đã dựng thành giáo điều (dogme) thì cũng dở cả: áp dụng nó mà nhắm mắt lại mà áp dụng thì đều cũng là bịnh “ấu trĩ”: ấu trĩ (infantilisme) cho người sáng tác cứ phải theo cho đúng giáo điều để cho tác phẩm hay. (Rồi hay đã không hay, lại dở, đó là trường hợp cuốn Terres défricheés của Cholokov.) Quả tình tôi dám đem cả nhà cửa vợ con ra mà cá rằng khi viết La TempêteLames Fond, Ehrenbourg chưa từng theo đúng nguyên tắc tả chân xã hội bao giờ! Muốn tỏ rằng đúng, tôi xin kể thêm chuyện sau đây để bà con “thẩm” và để chứng minh rằng tôi cũng có chút tinh đời: khi Ehrenbourg đưa bản thảo cuốn La tempête ra giữa Hội nhà văn nghệ Sô-viết, thì toàn Hội văn nghệ mồm năm miệng mười, chúng khẩu dõng từ, nói rằng không không, sách Ehrenbourg… không tả chân xã hội (réalisme socisliste) một tí nào! (Mà Hội nói thật, chứ không phải Hội lầm!) Ehrenbourg bèn nói rằng: “Thưa các đồng chí, tôi đã đưa cho đồng chí Staline coi rồi đồng chí nói rằng đó là một tác phẩm lớn!” Thế là cả hội văn nghệ im thin thít – và từ đó cuốn La tempête thành sách thần tượng… Mà La tempête lại hay thật! Người viết bài này đã đọc nó ba lần – ba lần.
            Tôi vừa mới nói rằng ai nhắm mắt lại mà áp dụng các giáo điều thì đều mắc phải bịnh ấu trĩ: trước hết là ấu trĩ cho nhà sáng tác. Rồi đến ấu trĩ cho nhà phê bình cũng chỉ theo những nguyên tắc có sẵn mà nói, và ấu trĩ luôn cho đọc giả – trong đó có chính quyền nếu chính quyền đòi quyền có mặt – chờ ở nhà sáng tác một vạn yếu lý: nào nào buộc… làm nhà sáng tác chết cả hứng và mất cả tự do…

BÂY GIỜ xin nói đến một tác phong đòi hỏi thứ hai – tôi chỉ xin nói vài nếp căn bản, nếp thông thường nhất… Là tác phong đòi hỏi hướng thượng. Hướng thượng nghĩa là hướng đi lên, không đi xuống. “Bịnh” này có thể là một “bịnh” biến thể hay là hậu quả của “bịnh” thứ nhất.
            Cho đến bây giờ tôi vẫn chưa hiểu thế nào là văn nghệ “hướng lên” trong nhân sinh, trong lịch sử, trong xã hội – trong sự tiến hóa của loài người.
            Vì tôi cho rằng, trước hết là chỉ có vấn đề sách haydở đã. Hoặc là nó đã xong sứ mạng lịch sử và xã hội của nó như tiểu thuyết tiền chiến của Tự lực văn đoàn thì người ta không đọc nó nữa, để nó vào vị trí của nó trong thư viện. Trong trường hợp đó, không có vấn đề hay dở mà chỉ có vấn đề giá trị thời đại. Hoặc là nó là một cuốn tiểu thuyết văn chương không hay, kỹ thuật bố cục không hấp dẫn, thì người ta không đọc nó và trả nó về cho… tác giả nó. Trong trường hợp đó, người ta đặt vấn đề haydở – và đó là sách dở, dĩ nhiên.
            Hoặc là nó là một cuốn tiểu thuyết văn chương độc đáo, kỹ thuật mới – thì nếu nó phản ảnh tâm trạng của thời đại một cách trung thành, thì phải cho nó là hay chứ! Hay là chúng ta lại vác mấy nguyên tắc “giải quyết” và “hướng lên” ra mà tuyên án thế này hay thế nọ? Những bàn tay nhớp (Les mains sales) của Jean Paul Sartre, Những kẻ tử vô địa táng (Morts sans sépulture) của Jean Paul Sartre, Những miệng ăn hại (Les bouches inuties) của Simone de Beauvoir, Trò kháng chiến (Drôle de jeu) của Roger Vailant… là tiểu thuyết và kịch phẩm chứa hướng gì? Không thể nào nói rằng đó là những sách có hướng lên được! Ấy thế mà chúng hay vô cùng! Thôi như cuốn Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền mà tôi cho là một cuốn tiểu thuyết lớn của giữa thế kỷ hai mươi, thì không thể nào đem những nguyên tắc hướng lên, hướng xuống hay giải quyết ra để qui định giá trị được. Nó hay, nó có giá trị: vậy là đủ. Còn nó hay ra sao, giá trị nó ở đâu, đó lại là một vấn đề khác rồi.

ẤY LÀ chưa nói rằng, nếu cứ nói mãi chuyện hướng này với hướng nọ, thì còn có sách gì hướng thượng hơn là truyện của tiền nhân chúng ta: truyện nào cũng dạy siêng năng để đậu thám hoa để lấy con nhà cành vàng lá ngọc… – còn có truyện gì… hướng xuống – xuống rất thấp nữa là khác – hơn là Đoạn trường tân thanh: nếu nó có hướng lên thì những nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng… lại đã chẳng mất thì giờ đưa Nguyễn Du ra tòa án văn học lịch sử – để đến đỗi sâu khấu văn học ồn ào sôi nổi lên một dạo!
            Vì vậy, chuyện hướng lên và hướng xuống thật chỉ là một vấn đề tương đối – ấy là chưa nói rằng cùng một cuốn tiểu thuyết hay một kịch phẩm vân vân… nhà phê bình – cũng như chính quyền văn học, cũng như độc giả – muốn nói nó là hướng gì cũng được: đó là tùy ở lăng kính của mỗi người, và cũng còn tùy ở lòng thương hay lòng ghét rất… chủ quan của mỗi người.
            Tôi còn nhớ cách đây mười mấy năm khi cuốn Les mandarins của Simone de Beauvoir được giải Goncourt, và được văn học thế giới trầm trồ, Jacques Laurent đã viết một bài rất dài rất tàn nhẫn để dội lòng ghen ghét nhớp nhúa lên cuốn truyện – nào ai cấm! Nào! Thế thì, trong trường hợp đó, đặt vấn đề hướng ra sao?

CÁCH ĐÂY mười mấy năm, khi viết một số bài phê bình, tôi cũng đã có cái tác phong thứ hai ấy – một tác phong thái độ văn nghệ làm cho nhà phê bình thì làm mặt quan tòa cầm cân nẩy mực, phán thế này, phán thế nọ… làm cho nhà sáng tác thì đôi khi sợ bị phê bình hướng này hướng kia mà khiếp vía, vừa sáng tác vừa ngại – giữa lúc đọc giả thì cũng ngơ ngơ ngác ngác dửng dưng vậy thôi, đọc cứ đọc, xem cứ xem, theo tiêu chuẩn riêng của họ để phê phán. Và giữa lúc ấy, ai cũng mê Pour qui sonne le glas của Hemingway, Les raisins de la colère của Steinbeck… mà không hiểu hai cuốn đó đã theo hướng gì trong văn nghệ! Thực ra, họ cũng chẳng tìm hiểu làm gì. Hay là được!

NẾU NÓI vậy thì rồi ra không có tiêu chuẩn văn nghệ gì sao? Người ta sẽ hỏi vậy.
            Khá rắc rối! loài người chia làm hai khối: giữa có một biên giới. Chân lý lớn vật vờ không biết ngã vào đâu. Các người làm chính trị, họ có quyền lợi của họ, họ phải tranh nhau lôi chân lý về cho họ – chân lý: mặt mũi ra sao, mầu sắc thế nào, dung tích bao lăm, kích thước bao nhiêu… Những nhà văn nghệ bên nào phụng sự bên ấy, ai phụng sự cứ phụng sự… đã biết thế, nhưng chuyện văn nghệ là chuyện trừu tượng – chúng ta định hướng gì cho văn nghệ? Cái chuyện hướng lên và hướng xuống chỉ là chuyện nói cho có chuyện mà nói: một khi không biết Les raisins de la colère của Steinbeck hay Drôle de jeu của Roger Vaillant chẳng hạn – bị người cộng sản chỉ trích – là hướng gì, thì không thể dựng mấy ý tưởng ấy thành nguyên tắc, dựng mấy nguyên tắc ấy thành giáo điều được! Nếu có bạn nào cãi tôi thì tôi lại một lần nữa bỏ văn chương chữ nghĩa cơm đùm cơm gói hăm bốn giờ trên hăm bốn giờ để bênh vực cho giá trị của hai cuốn Les raisins de la colèreDrôle de jeu… chẳng hạn. Ấy là chưa nói rằng, không bao giờ có một cuốn “văn phạm” văn nghệ nào qui định hướng này hướng nọ cho tiểu thuyết, cho kịch phẩm, cho thơ – trừ mấy cuốn giáo lý của đảng độc tài họ làm ra cho người của họ, dân tộc của họ… xem và theo!

THỰC RA thì chỉ có vấn đề tinh thần của nghệ phẩm mà thôi – của những tác phẩm hay. Hay trước đã: rồi nói chuyện tinh thần sau. Tiếng Pháp gọi là esprit: esprit du roman, esprit d’une pièce de tragé die – Gọi là tinh thần cũng được, gọi là ý thuyết cũng được – đó là cái Ý thoát ra, vọng lên tỏa ra từ nghệ phẩm.
            Người đọc, đọc xong sách, bị vướng một cách ám ảnh bởi một cái ý gì đó; một cái hình gì đó, một cái bóng gì đó, một cái lẽ gì đó – có thể đó là một âm thanh ám ảnh thính giác, một mầu sắc ám ảnh thị giác, một ý tưởng ám ảnh thông minh – một tiếng kêu thương, một lời than thở, một cảnh đau lòng – mà cũng rất có thể là một niềm vui gây hăng hái… Nhất là nó ám ảnh… ám ảnh…
            Tôi xin viện chứng cớ để củng cố cái “thuyết” của tôi: tôi thì tôi đề cao cái hay trước, rồi tôi đề cập tới cái mà tôi gọi là tinh thần hay cái ý thuyết của tác phẩm sau.

NÀY NHÉ. Đọc xong Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, chúng ta thấy khí hậu sĩ phu tín đồ của Trang Tử, Liệt Tử thiệt là đẹp – một thứ đẹp kín đáo xa, trừu tượng, đem người gần lại, đem người thân mật hơn với cổ nhân. Dù có ai ghét giai cấp sĩ phu cũng phải thấy phát sinh trong lòng một niềm tôn kính xa xôi – xa xôi lẫn nhớ, lẫn tiếc, tiếc thương những gì đã dứt trong thời gian…

ĐỌC XONG Cô gái giang hồ có lễ độ (La putain respectueuse) của Jean Paul Sartre, chúng ta thấy thương cho cả một dân tộc chỉ vì khác mầu da với mầu trắng mà bị hành hạ – và chúng ta buồn quá, buồn quá cho cả một dân tộc có cả một nền văn minh lớn dùng ba tấc lưỡi… – buồn cho cả một nền công lý, một nền tư pháp, – mà ra nông nỗi ấy à?
            Đọc xong vở kịch Đại úy Foster thừa nhận mình có tội ở tòa (Le capitaine Foster plaide coupable) của Roger Vailart, chúng ta thấy thương cho dân tộc Đại Hàn – ghét cả cái lũ tư bản dân tộc làm giàu bằng chiến tranh xây tài sản trên xương máu đồng bào…
            Đọc xong Chùm nho uất hận (Les rai sins de la colère) của John Stainbeck, chúng ta có thiện cảm muốn gần những người nghèo ở miền Tây Hoa Kỳ nạn nhân của máy móc…
            Và đọc xong Kháng chiến gì lạ quá (Dile de jeu) của Roger Vaillant, Chuông cáo phó đánh cho ai (Pour qui sone le glas) của Hemingway, chúng ta thấy muốn cùng tranh đấu với “maquisards” của Pháp và của Tây Ban Nha… cho tự do của loài người…
            Và trở lại với văn học chúng ta thêm một lần nữa, đọc xong Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, chúng ta thấy muốn gần cả một thế hệ thanh niên một sáng… bị ném ra giữa nhân sinh với tất cả những băn khoăn thao thức, với tất cả những lạc lõng giữa một bối cảnh lịch sử và xã hội tan vỡ chung – ta là ai, ngươi là ai, đâu đây, trước ta có ai, sau ta đương làm gì, người tiền bối và người đàn anh để lại một thứ “gia tài” tan vỡ nhớp nhúa không kèm di chúc… Lòng chúng ta buồn, lòng chúng ta giận: giận ai, buồn những nỗi niềm… nhưng buồn ai giờ đây, – hay chỉ giận chính mình?

RỒI CHÚNG TA trở qua Tây Ban Nha, đọc Hết hy vọng (La fin de l’espoir) của Hermanos (do Jean Paul Sartre đề tựa) để kêu thương với cả một dân tộc bị tàn sát vì tranh đấu cho tự do… Thương cho chàng Hermanos và giận cho những dân tộc giả điếc làm ngơ khi… thiên hạ kêu thương – buồn mửa cho sự giả dối trơ trẽn trắng trợn của những dân tộc gọi là dân chủ – có thêm ấn tượng rằng nhà triết, nhà văn, nhà thơ… kể cả nhà viết sử cứ cao đàm hùng biện rằng con người là có giá trị “nhân bản” lắm lắm, con người là đáng quí nhất và quí nhất trong vạn vật, thực ra con người cũng chẳng có gì là… đáng. Ấy chẳng qua con người tự phụ đó mà thôi – mà thôi: có ra cái quái gì cái giống người – giống khỉ, giống dơi, giống cá lóc, giống kiến: kiến chết từng bầy thì người cũng chết từng bầy, kiến cắn kiến thì người cũng cắn người, kiến cắn kiến kiến không kêu, người cắn người lại nói nhân đạo và diễn thuyết… Chúa Ky-tô vẫn thương con người nhiều, Phật tổ vẫn dạy con người vo tròn quả phúc! Nhưng con người ăn ở với mình với người như vậy mà đòi đủ thứ: đòi hạnh phúc, đòi thiên đường, đòi nát-bàn… đòi đủ, đòi không được cũng khóc như con nít vậy – khóc mà ai thương!

VẬY CHỨ trong những cuốn tiểu thuyết và những vở kịch tôi đã kể đó, thiên hạ đặt vấn đề giải quyết và vấn đề hướng lênhướng xuống ra sao? Đặt ra sao, đặt vào chỗ nào, đặt ở đâu cho trúng chỗ, đặt thế nào cho hợp tình, hợp cảnh – nhất là hợp với thông minh hiểu biết của con người: cần phải hợp lý, đừng ép, đừng gượng, cho thoải mái dễ hiểu, đừng phiến diện, đừng chủ quan vẩn vơ…
            Ấu trĩ thay: ấu trĩ cho người sáng tác, cho người đọc, cho nhà phê bình. Văn học Âu châu có. Mình cũng có…
            Tốt hơn là nên học bài học của thiên hạ: nên trưởng thành (maturité) – vượt giai đoạn ấu trĩ (infantilisme) vẫn hơn!

THỰC RA, chỉ có sách haydở, hay hay dở. Hễ dở thì loại đi: người sáng tác đừng sáng tác như thế như thể – văn không hay, kỹ thuật kém – thì người đọc khỏi phải đọc, và phê bình gia khỏi phải mỗi lúc đem khuôn vàng thước ngọc ra đòi thế này, đòi thế kia… làm nhà sáng tác hết vía!
            Còn nếu hay thì tìm xem tác giả muốn nói gì: nói một cách khác, coi tinh thần sách (esprit de l’oeuvre) là gì. Tác giả muốn nói ý gì, bày cảnh gì, phản ảnh tình gì – tác phẩm chỉ là một lợi khí có giới hạn, không thể một lúc mà nói cả một vạn chuyện, phản ảnh cả một vạn tình vạn cảnh, chứa một vạn ý, ghi cả một vạn câu danh ngôn. Không thể đòi nhiều quá ở nó được!

NÓ GÂY được một niềm vui cho lòng ấm lên; nó gây được sự căm giận những bất công; nó gây được sự nôn mửa… trước những cảnh nhớp nhúa về tinh thần: bất nhân, bất nghĩa, phi đức, phi chân, phi mỹ; nó phản ảnh được máu xương gợi lòng trắc ẩn…; nó dục lòng hăng hái, thúc đẩy sự nhiệt thành – vân vân – ấy là sứ mạng nó đã xong.
            Sách có hay mới gây được một trạng thái tâm lý như vậy. Người viết có giỏi, viết giỏi, bố cục giỏi, mới tạo xao động trong lòng người, bất kỳ là xao động về hướng nào…

NGƯỜI VIẾT không nên cho rằng mình phải làm đủ thứ một lúc – người đọc đừng đòi nhiều – người phê bình đừng mặc áo cà sa hay áo quan tòa làm nhà sáng tác mất hứng thú, hết vía… Vậy là đủ. Vậy là tránh được những bịnh “ấu trĩ” trong văn nghệ: tránh cho nhau và tránh cho chính mình.

VÀ NGƯỜI viết bài tiểu luận khiêm tốn về văn nghệ này xin nói một ý cho hết ý – kẻo bị hiểu lầm. Ở đời cũng có những sách: tiểu thuyết, kịch phẩm, truyện ngắn, thơ… không có tác dụng tốt: ấy là những sáng tác tạo ra một cách chói lọi những người, những tình, những cảnh… lành mạnh một cách dối… Thanh thiếu niên là hạng người dễ bắt chước, dễ mơ ước, dễ lấy nhân vật trong sách làm thần tượng (mythe). Tâm hồn họ như một tờ giấy trắng – trong như pha lê: khí hậu bên ngoài dễ thấm dễ vào… Cái may nhất cho thanh niên giữa tiền bán thế kỷ hai mươi là Dũng và Loan trong Đoạn tuyệt chẳng hạn lại là những nhân vật lành mạnh vô cùng. Vạn nhất – nói ví dụ mà nghe chơi – nếu hai nhân vật ấy mà lại thiếu sức khỏe tinh thần, thì hai cuốn Đoạn tuyệtĐôi bạn đã lấp chỗ trống của bao nhiêu tâm hồn trẻ tiền bán thế kỷ hai mươi, đã có tác dụng có hại của nó. Cũng may! Gọi đó là cái may cũng được. Gọi đó là ý hướng tốt của Nhất Linh cũng được.
            Nhất Linh đã chết. Xin gửi thêm một vòng hoa!

NHƯNG như vậy thì hình như tôi lại đi hơi xa… vấn đề mất rồi!


Sắp qua thu Ất Tỵ
TAM ÍCH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/04/2017, 16:19:51
ÁNH SÁNG PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG CHIẾU RỌI VÀO BA CÂU THƠ CỦA HOELDERLIN


1

            Hoelderlin là thi sĩ của thi sĩ, đó là lý do tại sao Heidegger đã chú trọng đặc biệt đến Hoelderlin để làm khởi điểm cho cuộc song thoại giữa thi ca và triết lý; khởi điểm ấy cũng là đầu đường đi về TÍNH THỂ CỦA NGÔN NGỮ và đồng thời trở về NGUYÊN NGÔN để vén mở NGUYÊN TÍNH (Sein).
            Triết lý nói nguyên tính (das Sein)
            Thi ca gọi linh tánh (das Heilige)
            Quan hệ tương giao giữa nguyên tính và linh tính là quan hệ tương giao giữa tính với bản tính (das Sein selbst).




2

            Tính (hay tánh)?
            Đặt lên câu hỏi ấy là bắt đầu đi tìm mạch nước ngầm mà tư tưởng Trung Hoa đã được nuôi dưỡng xanh tươi trong những thời đại thơ mộng thuở xưa.
            Trong Trung dung, Khổng Tử đã gọi Tính như thế nào? Thế nào là suất tính?
            Tại sao Vương Dương Minh gọi Tính là bản thể của Tâm?
            Tại sao Lục tổ Huệ Năng gọi Tính là vua (tính thị vương) trong quyết nghi phẩm của Pháp bảo Đàn kinh?
            Tại sao Bát nhã học trong Phật giáo gọi Khôngvô tự tính?
            Vô tự tính của Bát nhã học và tự tính của Thiền học có khác nhau không?
            Huyền (hay Thái huyền của Dương Hùng là gì?)
            Những câu hỏi trên là những câu hỏi về tính (gọi là tính vấn).
            Những câu hỏi trên sẽ là khởi điểm cho cuộc song thoại giữa tư tưởng Á Đông và tư tưởng Âu châu và nước Việt Nam là mảnh đất hiện nay có đủ tính kiện để cho cuộc song thoại trên được tựu thành. Tựu thành gì?
                        Đối thoại tựu thành song thoại.
                        Song thoại tựu thành độc thoại.
                        Độc thoại tựu thành vô thoại.
                        Vô thoại tựu thành vô ngôn.
                        Vô ngôn tựu thành nguyên ngôn.
                        Nguyên ngôn tựu thành nguyên tính.
                        Nguyên tính tựu thành Tính.
                        Tính tựu thành vô tính.
                        Vô tính tựu thành không.
                        Không tựu thành Huyền.
                        Huyền tựu thành tự tính.
            Tôi đã đùa chữ; nhưng đùa chữ là hoạt dụng của tự tính thì gọi là hoạt dụng của Thiền.
            Hãy để ý:
                        1.– Thiền?
                        2.– Thiền là gì?
            Câu hỏi thứ nhứt là hoạt dụng của Thiền.
            Câu hỏi thứ hai là hoạt động của sơ Thiền.
            Hoạt dụng của Thiền là: ?
            Sơ thiền là: là gì?
            ? là dấu hỏi.
            Là gìbiểu tượng cho dấu hỏi.
            Biểu tượng và dấu hiệu hoàn toàn khác nhau (tôi đã giải thích sự khác nhau ấy trong bài Vài suy tưởng triết học).
            Huệ Năng là dấu hiệu.
            Thần Tú là biểu tượng.
            Dấu hiệu và biểu tượng khác nhau thế nào, sau đây tôi sẽ suy tưởng bằng cách lấy ánh sáng Thiền chiếu rọi vào thơ của Hoelderlin.




3

            Trong Mnemosyne (Zweite Fassung, ed. 7, Beissner, Stuttgart, Bd. II, p. 204), chúng ta thấy Hoelderlin viết:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren.

dịch là:
                        Chúng ta là một dấu hiệu, không ý nghĩa
                        Chúng ta không là sự đau khổ và gần như đánh mất ngôn ngữ trong cõi lưu đày.


            Heidegger đã nhiều lần giải thích ba câu thơ trên trong tác phẩm triết học của ông.
            Bây giờ tôi muốn giải thích khác Heidegger. Tôi muốn giải thích vượt lên trên Heidegger; đi lên hay đi xuống cũng chỉ là một nghĩa. Đi xuống (untergehen) có nghĩa là đi lên (übergehen).
            Khi tôi nói vượt lên trên Heidegger thì có nghĩa là vượt lên theo nghĩa Nietzsche, nghĩa là đi lên xuống (đi xuống hố thẳm Heidegger).
            Do đó, vượt lên có nghĩa là tựu thành.
            Tựu thành ở đây không có nghĩa là làm xong, không có nghĩa Đức ngữ là vollenden, ausführen, vollführen v.v…
            Tựu thành ở đây có nghĩa là tựu lại cái tinh thành (garder… dans son essence), tinh thành ở đây là tinh thể của tinh thể, gọi là tinh túy (essence); do đó, tựu thành có nghĩa là se ménager mà chữ Đức của Heidegger gọi là schonen.
            Con người chờ đợi tính, nghĩa là giữ bốn nghi (thiên, địa, thánh, nhân) trong tinh thành. Nói như Heidegger là giữ cái hình vuông (le carré) trong tinh thể (dans son essence) nghĩa là “schonen”.
            Như thế, vượt lên trên Heidegger có nghĩa là tựu thành Heidegger.
            Tựu thành Heidegger có nghĩa là giữ Heidegger trong tinh thành. Chỉ có thế thôi.




4

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren.

nghĩa là:
                        Chúng ta là một dấu hiệu không ý nghĩa
                        Chúng ta không đau khổ
                        Và chúng ta dường như đánh mất ngôn ngữ nơi cõi lạ.


            Heidegger đã giải thích ba câu thơ trên trong tính phận của tính thể; con người mất trí nhớ, quên tính (Vergessenheit des Seins); do đó, con người gần như đánh mất ngôn ngữ trong cõi lạ. Do đó mới có sự sụp đổ đau thương của nhân loại hiện nay. Muốn sống cho ra hồn, con người phải tìm lại tính.




5

            Nếu dùng ánh sáng Thiền tông để chiếu rọi vào lối giải thoát của Heidegger về câu thơ của Hoelderlin thì ta có thể gọi lối giải thích ấy là lối tri tính tiệm ngộ theo điệu của thiền sư Thần Tú.
            Tư tưởng Heidegger rất giống và gần Thần Tú.
            Thần Tú là biểu tượng
            Mà Huệ Năng lại là dấu hiệu.
            Biểu tượng rất có ích lợi và quan trọng. Biểu tượng đưa đến nền Văn minh cao độ của nhân loại hiện nay, nhưng biểu tượng vốn là dấu hiệu, thế mà biểu tượng đã không kiến tự tính, vì thế mặc dù biểu tượng muốn giải thoát, nhưng giải thoát khỏi biểu tượng vẫn là biểu tượng. Đó là sự thất bại của Heidegger. Đó cũng là sự thất bại của Thần Tú.
            NHƯNG SỰ THẤT BẠI NÀY RẤT CẦN THIẾT.
và chính sự thất bại này tựu thành sự xuất hiện của Lục tổ Huệ Năng.




6

            Thần Tú là: “là gì?
            Huệ Năng là: “?
            Trong “là gì”, chúng ta thấy có dấu “?”.
            Bốn chữ “là gì” là dấu hiệu thay thế cho dấu hiệu “?”.
            Dấu hiệu không thể thay thế cho dấu hiệu.
            Bởi thế ta gọi bốn chữ “là gì” là biểu tượng.
            Thần Tú là biểu tượng.
            Huệ Năng là dấu hiệu.
            Không thể cho rằng Thần Tú đã sai.
            Bởi vì trong biểu tượng có dấu hiệu rồi, trong “là gì?” đã có dấu “?”.
            Thần Tú đã thất bại vì Thần Tú đã dạy đạo quá sáng sủa rõ ràng, chính sự sáng sủa rõ ràng đã xua đuổi bóng tối, mà khi bóng tối bị xua đuổi, tức là Huyền đã bị xua đuổi, Huyền tựu thành tự tính, tự tính tựu thành mặt trăng; giáo thuyết của Thần Tú là ánh đèn; con người thường nhìn ánh đèn mà quên mặt trăng.
            “là gì?” là ánh đèn.
            “?” là bóng tối.
            Trong “là gì?”, ánh đèn đứng bên bóng tối. Bóng tối là dấu hiệu báo cho biết sự có mặt của tính.
            Ánh đèn là biểu tượng nói về sự vắng mặt của tính.




7

            Thần Tú là biểu tượng.
            Huệ Năng là dấu hiệu.
            Trong ngôn ngữ Đức, “dấu hiệu” được gọi là das Zeichen, như trong câu thơ của Hoelderlin:

                        Ein Zeichen sind wir
nghĩa là
                        Chúng ta là một dấu hiệu.

            Tại sao Hoelderlin nói rằng chúng ta là một dấu hiệu?
            Dấu hiệu khác biểu tượng chỗ nào?
            Ngôn ngữ Đức gọi “biểu tượng” là “das Sinnbild”. “Das Sinnbild” (biểu tượng) và “das Zeichen” (dấu hiệu) khác nhau rất rõ ràng trong cách cấu tạo chữ nghĩa.




8

             “Das Sinnbild” (biểu tượng) gồm có chữ “Bild” và chữ “Sinn”.
            “Sinn” là ý nghĩa.
            “Bild” là hình tượng, hình dung.
            Tượng hình ý nghĩa cho dấu hiệu thì gọi là “biểu tượng” (das Sinnbild).
            Dấu hiệu không có ý nghĩa; vì dấu hiệu mà có ý nghĩa thì gọi là “biểu tượng”. Bởi thế tính chất của biểu tượng là có ý nghĩa, còn tính chất của dấu hiệu là không có ý nghĩa. Do đó, chúng ta thấy Hoelderlin viết câu đầu của bài thơ như vầy:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
nghĩa là:
                        Chúng ta là một dấu hiệu, không có ý nghĩa.

            Không có ý nghĩa tức là không lý do; không lý do tức là không lý trí; không lý trí là không giải thích (deutungslos cũng có nghĩa là “không có sự giải thích”).
            Hoelderlin là bạn thân của Hegel; hai người đã từng sống chung nhau một thời gian nhưng sau này hai người bất đồng ý nhau và cùng xa lìa nhau.
            Câu thơ của Hoelderlin:
                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        (Chúng ta là một dấu hiệu, không có ý nghĩa).
bỗng làm mờ tối sự tương đồng tâm ý giữa Hoelderlin và Hegel; bởi vì đối với Hegel, mọi sự đều có ý nghĩa trong hệ thống suy tưởng của ông.




9

                        Schmerzlos sind wir
có nghĩa là:
                        Chúng ta không đau khổ, vì chúng ta là một dấu hiệu không ý nghĩa, chúng ta không đau khổ.

            Đau khổ chỉ xuất hiện với ý nghĩa. Con người sống trong ý nghĩa là con người sống trong đau khổ: mà sống trong đau khổ có nghĩa là sống trong sự tượng hình ý nghĩa (das Sinnbild), tức là sống trong biểu tượng.
            Mỗi con người đều sống trong hai thế giới:
                        – thế giới dấu hiệu;
                        – thế giới biểu tượng.
            Sống với dấu hiệu là sống với hình vuông tính học (carré ontologique) gồm có bốn nghi (trời, đất, thần, người). Sống với dấu hiệu là sống hồn nhiên giữa tiết điệu thơ mộng của vũ trụ.
            Còn thế giới biểu tượng là một thế giới hình ảnh; sống với biểu tượng là sống với mộng mị ảo tưởng; sống với biểu tượng là xa lìa tự tính.
            Sự đau khổ chỉ xuất hiện với ý nghĩa mà khi chúng ta là dấu hiệu không có ý nghĩa (deutungslos) thì chúng ta không đau khổ:
                        Schmerzlos sind wir
            Hoelderlin lại viết tiếp:

                        und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren.

nghĩa là:
                        và chúng ta đã gần như đánh mất ngôn ngữ nơi cõi lạ

            Sự đau khổ chỉ xuất hiện với ngôn ngữ nhưng khi chúng ta đánh mất ngôn ngữ nơi cõi lạ, thì sự đau khổ cũng tiêu ma đi. Nhưng chúng ta hãy để ý mà đọc lại câu thơ cuối của Hoelderlin:

                        und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren
.

            Trong câu thơ trên, chữ quan trọng nhất là trạng từ fast; trạng từ fast có nghĩa là “dường như, hầu như, gần như”.
            Chính do chữ fast này mà tất cả ý nghĩa của ba câu thơ đã đổi khác; bây giờ chúng ta đọc lại trọn ba câu thơ và nhất là đọc nhấn mạnh nơi chữ fast để lắng nghe ý nghĩa đổi khác như thế nào:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren
.
nghĩa là:
                        Chúng là một dấu vết, vô nghĩa.
                        Chúng ta vô giác trì độn và gần như
                        đã quên mất tiếng nói nơi lưu đày
.

            Chính chữ FAST đã xoay hẳn ý nghĩa của bài thơ; chữ fast làm “dấu hiệu” trở thành “dấu vết” làm “không ý nghĩa” trở thành “vô nghĩa”, “không đau khổ” trở thành “vô giác trơ trơ trì độn”, làm “đánh mất ngôn ngữ” thành “quên mất tiếng nói”, làm “nơi cõi lạ” thành ra “nơi lưu đày”. Và chúng ta hiểu tại sao Hoelderlin đặt tên bài thơ là “Mnemosyne” (Trí nhớ, ký ức); chính câu thơ:

                        und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren
.
                        (gần như quên mất tiếng nói nơi cõi lưu đày)

            Chính câu thơ này giải thích nhan đề “Mnemosyne” vì “gần như quên mất tiếng nói” chính là “gần như quên mất trí nhớ”.
            Chính chữ “fast” đã khiến mọi sự đảo lộn; thế giới dấu hiệu biến thành thế giới biểu tượng, thế rồi con người bị đi đày giữa cõi sa mạc lớn rộng này (die Wust wachst).
            “Gần như” (FAST) có nghĩa là “chưa trọn” mà “chưa trọn” chỉ có nghĩa là “ở giữa” (chữ Pháp gọi là “Entre”).
            Con người ở giữa thú vật và thần linh; con người ở giữa thời kỳ “thần linh đi mất” và thời kỳ “thần linh sắp hiện”.
            Ở GIỮA tức là không gian của biểu tượng.
            Dấu hiệu không phải Ở GIỮA mà là Ở NƠI.




10

            Ánh sáng Thiền tông xuất hiện.
            Con người giải thoát là không còn ở giữa.
            Con người giải thoát không “gần như” (FAST).
            Con người giải thoát không sống trong thế giới biểu tượng, nghĩa là không tạo, không tượng ý nghĩa (das Sinn-bild).
            Con người giải thoát không ý nghĩa (deutungslos), như vậy không ý nghĩa là không đau khổ (Schmerzlos); không đau khổ là tiêu diệt đánh mất ngôn ngữ (haben die Sprache verloren); tiêu diệt đánh mất ngôn ngữ là vì ở cõi xa lạ (in der Fremde).
            Cõi xa lạ (in der Fremde) là Niết bàn, là Tây phương Tịnh độ; nhưng chính cõi xa lạ ấy là ở nơi cõi này, ở nơi cõi trần gian này.
            Con người giác ngộ là con người ở mà không ở, trú mà không trú, danh từ nhà Phật gọi là “VÔ TRÚ”, vô trú là trú ở cõi xa lạ (in der Fremde), tức không trú nơi cõi mình trú.
            Lục tổ Huệ Năng lấy “vô niệm” làm tông, lấy “vô tướng” làm thể, lấy “vô trụ” làm gốc.
            Như thế, nếu bỏ chữ FAST trong ba câu thơ Hoelderlin thì con người giác ngộ là con người dấu hiệu:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben
                        Die Sprache in der Fremde verloren
.
tức là:
                        Chúng ta là một dấu hiệu, không ý nghĩa.
                        Chúng ta không đau khổ và đánh mất
                        Ngôn ngữ nơi cõi lạ
.

            Câu thơ trên không có chữ “FAST” (gần như). Chúng ta hãy để ý rằng chính chữ FAST đã gạch ra biên giới giữa vô minh và giác ngộ.
            Giác ngộ là “nhất thiết vạn pháp bất ly tự tính”; do đó, Thiền tông vượt lên trên Heidegger vì Heidegger cho rằng con người hiện nay đã “ly tự tính”, (tínhSein); đối với Thiền tông, con người “bất ly tự tính”, do đó “Bồ đề tự tính bản lai thanh tịnh”.
            Nếu bỏ chữ “FAST” trong ba câu thơ của Hoelderlin thì ta thấy ba câu thơ ấy nằm dưới ánh sáng Thiền tông như vầy:
                        Tông → vô niệm: haben die Sprache verloren;
                        Thể → vô tướng: Schmerzlos; deutungslos;
                        Gốc → vô trụ: in der Fremde.
            Vì thế, con người giác ngộ là dấu hiệu (Zeichen) cho chân tính, nguyên tính, chân như, v.v…
            Bây giờ, ba câu thơ của Hoelderlin bỗng loé lên ánh sáng tuyệt vời của nguyệt bạch:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben fast
                        Die Sprache in der Fremde verloren
.
nghĩa là:
                        Chúng ta là một dấu vết, vô nghĩa
                        vô tri vô giác trì độn và gần như
                        quên mất tiếng nói nơi cõi lưu đày
.

            Dưới ánh sáng Thiền tông, ba câu thơ trên nói lên bi kịch của con người sống trong vô minh, “deutungslos” biến nghĩa thành ra “vô nghĩa”, “Schmerzlos” có nghĩa là “không đau khổ” nhưng biến nghĩa thành ra “vô giác vô tri”; do đó “không đau khổ” trở thành đau khổ, nỗi khổ của một kẻ không còn biết khổ (“vô giác”). Nhưng bây giờ, nếu chúng ta bỏ chữ “gần như” (FAST) trong ba câu thơ trên:

                        Ein Zeichen sind wir, deutungslos
                        Schmerzlos sind wir und haben
                        Die Sprache in der Fremde verloren

thì ý nghĩa lại đổi khác:
                        Chúng ta là một dấu hiệu, không có ý nghĩa,
                        chúng ta không đau khổ và đã đánh mất ngôn ngữ nơi cõi lạ
.

            “Đánh mất ngôn ngữ” ấy là “vô ngôn”. Và cõi lạ ấy là cõi mà mọi người chúng ta đều muốn quay trở về để tìm lại mái nhà xưa.


PHẠM CÔNG THIỆN
Saigon, ngày 10 tháng 7 năm 1965


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 22/04/2017, 09:48:14
RẰNG TỪ NGẪU NHĨ (KIỀU GHÉ PHƯƠNG TÂY)

Rằng từ ngẫu nhĩ lên non
Ngần ngừ núi bảo rằng con cái nhà
Một lời đã biết đến ta
Câu thần lại mượn bút hoa vẽ vời

CÂU CHUYỆN kể còn dài vô hạn. Mà tờ giấy không thể có đủ kích thước vô hạn mặc dù ban sơ vốn là tờ giấy trắng. Vậy nên chi chúng ta bị đưa vào cõi bối rối rồi. Làm thế nào vẽ vời cho nên được câu thần? Nếu tờ giấy không cho phép, âu đành phải mượn bút hoa.

Vẽ vời lại mượn bút hoa
Bút là một ngọn lại là một cây
Tuy nhiên số dzách giãi bày
Cũng còn đợi ở lượng ngày phù du
Câu tương ứng chén tạc thù
Cây vườn đâm ngọn đắp bù bút hoa
Rằng từ ngẫu nhĩ ngó ra…

            Ngó ra thấy gì?
            Thưa rằng: thấy… thấy…
            Thấy mọi sự như chúng ta thấy. Mọi người ai chẳng thấy: nào bàn nào ghế, học tập nhà trường, học hành nhà trại, học văn chương, học quân sự, học bay tàu bay lên trời, học thả tàu bay dội bom xuống đất, học ngủ chiêm bao, học mơ ra ngồi bờ cỏ, học làm đại tá ma, học thôi không làm đại tá ma nữa.
            Từ đó về sau?
            Từ đó về sau lại trở lại bên đèn nếu trở lại câu chuyện ban sơ ngẫu nhĩ với Nuồng Thúy. Nuồng bảo sao?


Ngần ngừ nuồng mới thưa rằng
Thói thường mơ mộng chất hằng đăm chiêu

            Cái nguy là chỗ đó.
            Bởi đâu mà nguy?
            Bởi rằng: mơ mộng, đăm chiêu, vốn không phải là tư tưởng triết học. Mơ mộng đăm chiêu, hoặc chiêu đăm mộng mị, thì làm sao dựng nên cho nổi những hệ thống rành mạch, đồ sộ? Phải bài trừ chiêu đăm thì mới có thể vận dụng tư tưởng theo tinh thần khoa học.
            Cái bóng ma khoa học rập rình, từ đó cứ len lõi vào mọi cõi tồn sinh lĩnh vực của con người. Từ địa hạt đến địa phương, từ phồn hoa tới phố hội, từ phồn thị phồn thành, tới phồn làng, phồn xóm, phồn xã, phồn quê, đâu đâu cũng bắt gặp phồn ma khoa học kéo cờ bốn bên đánh úp.
            Mọi sự từ đó đã ra sao?
            Mọi sự vẫn vuông tròn phồn thịnh, chỉ duy có một cái tân thanh duy nhất là mất rụi cái thịnh phồn.
            Sao gọi là thịnh phồn? Sao gọi là mất rụi? Sao gọi là vẫn còn? Sao gọi là tân thanh? Sao gọi là ngẫu nhĩ? Sao gọi là gặp nhau? Sao gọi là không gặp? Sao gọi là gặp? Sao gọi là không? Sao gọi là “gọi”?
            Cái nguy là đó. Bởi đâu?
            Bởi rằng: khi câu hỏi nêu lên thì lời đáp cứ như “hiện ra” theo khuynh hướng “chẻ làm ba sợi tóc”, hoặc cứ theo lối “thầy hỏi bài học, em đọc cho thầy nghe”.
            Cái chết người là chỗ đó. Cái làm cho nhân gian tê dại là chỗ đó. Biết làm răng mà “ngần ngừ nàng mới thưa rằng” cho được? Ánh mờ tồn lưu làm sao mà hiện ra cho tồn hoạt phù du thiên thu đón mở phơi bày trong nếp gấp đăm chiêu vô ngần lưỡng lự, nhị tư, tam tứ diện? Ngũ thập bình? Theo lam, hồng, tộ, bạch, trong vạn ngàn sắc thái lung linh? Mà cầu mong cho liễu yêu đừng “phá trạn”?
            Cái chết con người ta là chỗ đó.

                        Đẩu nhiên phiếm hiện lãng chàng nham
                        Bán dạ thâm canh nhất trạch đàm
                        Tùng bạt tùng phong phiêu vạn điểm
                        Thê hà loạn sấm biệt thanh sam
                        Giang hồ duyệt lịch tầm Tư Mã
                        Bào đáo Triêu Dương ấp nguyệt cầm
                        Hốt xuất hồng hiên sương tuyệt cái
                        Sai kình cưỡng mạch lục tô lam

                        (Duồng Mô Din)

            Mà đào hoa sao lại tợ tuyết? Hồng sao là bạch? Quần hồng sao hiển hiện thành gái núi trong hang?
            – “Nguyên vị mang mang trọc thế, thiện ác thị phi, đô bất dị phân biện đích minh minh bạch bạch…”

TỪ ĐÓ mà đi, chúng ta thấy rằng: Mọi sự hỗn độn ngửa ngang cứ kéo dài cái thành tựu ra mãi là chính bởi cái thịnh phồn khoa học cứ lấn áp cái tồn lệ ban sơ trong tương-ứng-tương-giao Synousia-rằng-từ-ngẫu-nhĩ.

                        D’où l’insolvabilité de ton poème.
                        D’où tes larges lèvresensanglantées.
                        En toute malédiction, la terre t’aime.
                        De toute éternité, à grand regret
.
                        (Duồng Mô Din)

            Mặt trời gay gắt đã cưỡng hiếp ngôi sao. Tư tưởng bát ngát bình minh, bị chôn vùi trong nhà tù hệ thống, bị bưng bít trong những hàng rào kẽm gai. Rào giậu mất lá cây, lá cây mất lá cỏ, lá cỏ mất lá cồn, lá cồn mất cơn gió của trường mộng chiêu đăm.
            Sao gọi là mất? Từ đó có nghĩa: mất lá cồn. Còn gì? Còn cái lù lù ra đó.
            Kẻ thù gớm guốc nhất của tư tưởng chính là cái tinh thần khoa học trong triết học ngày nay. Triết học còn cứ luôn luôn đua đòi tỏ ra ta đây rất khoa học, thì tư tưởng còn mãi mãi kéo dài cái cuộc chết lăng trì trên mặt đất phẳng lì chờ đợi cái ngày tinh thể cơ giới sắp phơi ra. (Xem Martin Heidegger)
            Cái điều lạ nhất trong tồn hoạt hôm nay là: người ta hân hoan nhẫn nại nằm trong cõi lăng trì suốt trăm năm, mà khi gặp cơn gió lưu tồn trong bóng mờ nhị mộng, thì người ta tru tréo la to: làm sao cho tôi dòm rõ ra ngay cho chớ. Làm sao đập cái vành để tôi vồ ngay cái hột?
            Người ta quên mất rằng: nếu nhất đán vội vã đập cái vành một cách hấp tấp vội vã vội vàng, thì rất có thể rằng: từ cái nhất đán kia, cái hột nằm ở trong cũng vỡ toang ra trong nhất dạ. Thì từ đó về sau mọi sự sẽ ra sao? Sẽ ra là: trăm điều ngang ngửa vậy.


Trăm điều ngang ngửa từ tôi
Thân sau ai chịu tội trời ấy cho
Xin người nhẫn nại nằm co
Năm sau ngẫu nhĩ con đò lại sang

            Con đò ngẫu nhĩ lại sang theo điệu nào? Theo điệu: xóa nhòa bờ gai bến góc. Để làm gì? Để cho cái bờ hoa, bờ lá, bờ cỏ chiêm bao hiển hiện trong ánh mờ tồn lưu(1) mà thiết lập “cõi” cho phiêu bồng ngôn ngữ tái tạo thanh âm thế nào cho hai vũ trụ chào nhau:
            – “Rằng từ ngẫu nhĩ…”
            Kể từ đó, ta mới có thể quan niệm ra cái sự vụ lạ lùng này: thiên tài tái tạo Lời trong cõi Việt Nam, khởi từ mảnh hồng quần của một Triều Minh Cô Gái.
            Mọi sự bỗng mới ra, khởi từ câu chuyện cũ. Mọi lời mọi tiếng bỗng mang chất tân kỳ khởi từ những ngữ ngôn cũ kỹ.
            Bởi đâu mà nên sự lạ lùng?
            Đáp rằng: bởi thi sĩ thiên tài là cái kẻ tái tạo trong thanh âm, thiết lập thịnh triều trong ngôn ngữ. Cái kẻ riêng biệt có tư chất kỳ dị này: mỗi lần nói tới cái gì, nghe ra cái gì, ngó lại cái gì, là y như đó lần đầu tiên ngó, nghe, nói.
            Ai đọc Nguyễn Du mà không cảm thấy điều đó? Câu chuyện cũ, tình ý cũ, ngôn ngữ cũ, tiết điệu cũ… (có cái gì là không “cũ” đâu?) Thế tại sao mỗi lần “lần giở” lại nghe ra như cả cái cõi đời trong ta lại tân kỳ như bất ngờ ngẫu nhĩ cái ta bỗng dưng bát ngát phiêu bồng vào trong cõi trăm năm người trong thiên hạ?

NGƯỜI KHÔNG thi sĩ cũng nói, cũng nghe, cũng ngó. Ngó rất kỹ lưỡng, dòm rất tỉ tê, nghe rất như dường quả nhiên tương giao tâm sự, tỉ mỉ tương ứng tâm tình… Mà thật ra, mọi cái ngó, cái nghe, cái nói của họ, chẳng đem lại “cõi” cho tái tạo phiêu bồng. Nghe nói rất nhiều, nghe ra rất lắm, mà chẳng có gì rục rịch cả. Toàn khối nhạt nhàm. Mặt đất đắng cay. “Nhứt cá phiêu bồng du hỗn nhập: Đô thành không ảo mộng nguyên sương”.
            Trên đường về ngôn ngữ, người ta bỏ lạc mất riêng một chút gì mà từ đó về sau mọi âm thanh đều biến thành lời câm, tiếng điếc, hương ù lì, màu lơ láo, sắc lắt lay, quần hồng không thấy có mảnh hồng ở trong khả dĩ biến quần hồng thành hồng quần làm gương soi chung cho thiên hạ, cho mỗi lần ngẫu nhĩ đi về là mỗi lần bất chợt như nhìn thấy vũ trụ mới ra, như nhìn ra trần gian mở cõi, như nhận thấy mọi sự vật giữa đời hiển hiện như mới-hiện-đầu-tiên ngõ ban sơ hạnh ngân dài.

                        Chào nhau: em đúng là em đó
                        Là gái muôn năm có mặc quần


            Ai lại chẳng biết rằng gái có mặc quần? Gái không mặc quần thì còn ra thể thống gì nữa? Tuy nhiên có ai nhận thấy rằng gái phù du muôn năm có mặc quần dẫu trong giờ trần trụi trần truồng tấm quần bị xé rách?

                        Chào nhau: em đúng là em đó
                        Parviens-tu à l’incandescence?
                        Parviens-tu à l’inaltéré?
                        Tu acceptes le risque de l’indécence
                        Pour le dévoilement de quelle Clarté?


            Ngôn ngữ là lời, hỡi ôi! bởi đâu mà tái tạo cõi? Âm thanh là tiếng, hỡi ôi! bởi đâu mà tái lập con đường? Con đường dẫn tới nơi nào, hỡi ôi! bởi đâu mà thành ra chốn? Chốn nọ vì sao, hỡi ôi! mà bỗng dưng nhiếp dẫn lối đi về cho tồn lưu phiêu bồng tự chân trời ngẫu nhiên bước vào trong lưu trú? Lưu trú là gì, hỡi ôi! bởi đâu mà biến làm trong cõi sương tuyết có trăm năm? Trăm năm là gì, hỡi ôi! bởi đâu mà biến làm vạn thuở? Vạn thuở ở lại trong phút giây sau phút, hỡi ôi! bởi đâu mà đam mê? Đam mê quay cuồng trong gắn bó, hỡi ôi! bởi đâu mà thân thiết rằng trăm năm cũng từ đây? Từ đây không xê dịch bao giờ, hỡi ôi! bởi đâu mà bỗng chốc bỏ ra đi?

                        Tôi sẽ ra đi bỏ lại đời
                        Mỹ Tho Mỹ Thọ Sóc Trăng ơi
                        Mỹ Thỏ muôn đời là Sóc Trắng
                        Gái mặc quần ra đứng ngó trời
.

            Đứng ngó trời để làm gì, hỡi ôi! bởi đâu mà trông thấy? Trông thấy gì, hỡi ôi! bởi đâu mà đau đớn? đau đớn gì, hỡi ôi! bởi đâu mà đoạn trường trải qua?

                        Trải qua một cuộc bể dâu
                        Những điều trông thấy


            Thế là chúng ta nhìn nhận: nãy giờ ông bạn dùng một lúc dồn dập một lô tiếng: hỡi ôi. Đó là trông thấy.


Hỡi ôi! ngôn ngữ là lời
Ấy trong tiết điệu ấy ngoài âm thanh
Dư vang cuối lá đầu ghềnh
Niềm riêng suy trọng sao đành từ nan
Rừng phong thu giữ hội đàn
Rượu thơm từ đáy chén vàng nguyệt khuy
Rừng phong thu đã nhuộm kỳ
Chiêm bao bờ cỏ Gái Tỳ Hải gieo
Rằng từ ngẫu nhĩ nhìn theo
Lần trông bước bước truông đèo còn vang

            Truông đèo còn vang cái gì? Cái gì đương dội? Cái gì đương la? Cái gì đương kêu? Cái gì đương gọi? Cái gì đương nói? Đương nói cái gì? Rằng:

                        Ruộng đồng mọc cỏ hôm mai

            Cỏ mọc cho ruộng đồng, để mùa sau cho lúa về lúa chín? Đồng ngập nước trong cơn hồng thủy điêu linh để mai sau xuân về cho tái lập? Bến bên bờ nhìn con én lại bay. Bay mấy vòng thiên thu cho thoát ra ngoài vòng ngạc kinh hiểm họa “đầy sông kình ngạc” chật trời én bay?


Én đầu xuân, tuyết đầu đông
Rừng cô tịch ngóng nội đồng trổ hoa
Tự giờ ngẫu nhĩ nhìn qua
Ở trong giấc mộng em là Kiều Nương

            “Le poète, on le sait, mêle le manque et l’excès, le but et le passé. D’où l’insolvabilité de son poème. Il est dans la malédiction, s’est-à-dire qu’il assume de perpétuels et renaissants périls, autant qu’il refuse, les yeux ouverts, ce que d’autres acceptent, les yeux fermés… Quand il parvient génialement à l’incandescence et à l’inaltéré (Eschyle, Lao-Tseu, les présocratiques grecs; Thérèse d’Avila, Shakespeare, Saint Just, Rimbaud, Hoelderlin, Nietzsche, Van Gogh, Melville), il obtient le résultat que l’on connait. Il ajoute de la noblesse à son cas lorsqu’il est hésitant dans son diagnostic et le traitement des maux de l’homme de son temps…” (René Char)

Tự giờ ngẫu nhĩ nhìn qua
Ở trong giấc mộng em là Kiều Nương
Vĩnh lưu tồn hoạt đôi đường
Biết đâu địa ngục thiên đường là đâu
Nường càng mặt ủ mày châu
Đi về phảng phất nếp nhàu ban sơ
Rằng không thì cũng tự giờ
Bước ra rằng có liệu ngờ chi không
Rằng từ ngẫu nhĩ ra bông
Hà sơn vạn lý còn không cuộc cờ
Rằng tôi đã có lòng chờ…
Đùng đùng gió giục mây mờ tồn lưu
Đôi mắt ngọc cặp chân cừu
Đường quanh lối quẹo gọi hươu phiêu bồng
E sương dín gió ngại ngùng…

            Pourquoi es-tu hésitante, chère amie? O toi que j’eusse aimée… Toi que j’appelle ma soeur et que j’aime infiniment plus qu’une soeur…
            Tu ajoutes de la noblesse à ton cas lorsque tu es hésitante dans ta marche vers le voisinage de l’être qui se dévoile dans le Pli perplexe d’une Clarrté diffuse, à travers la première Rencontre Rằng Từ Ngẫu Nhĩ Gặp Nhau…
            Qu’appelle-t-on Rằng từ ngẫu nhĩ?
            Qu’appelle-t-on gặp nhau?
            Qu’appelle-t-on clarté diffuse?
            Qu’appelle-t-on pli perplexe?

TRƯỚC NHỮNG câu hỏi nêu lên chúng ta chồn chân đứng lại. Thúy Kiều đã nêu lên, Nguyễn Du đã nêu lên, Chu Mạnh Trinh đã nêu lên, anh chị, và các cô, các bác đã nêu lên, tôi nữa cũng nêu lên. Nhưng ai là riêng người đã đáp?


Ấy ai đã đáp là người
Ấy ai hạ tứ là lời ném châu?
Gieo vàng hạ cố đến nhau
Mấy lòng suy trọng trong màu dở dang
Vong hồn lịch kiếp lang thang
Đi về phảng phất mây dàn đầu cơn
Đam mê sau phút mộng hờn
Đạm Tiên nàng ấy cung đờn đã tuôn.

            Nhưng nếu là Đạm Tiên quyết định thì câu hỏi nêu ra đầu đuôi gốc ngọn đều do một cái bóng ma mà nên cả thế ru?
            Bóng ma là gì? Sao gọi là bóng ma đi về gieo sương bóng? Có một con người nào phiêu du hoạt tồn trên mặt đất mà không cảm thấy có một cái bóng ma nằm ở giữa thân thể của mình là mình mẩy hình hài máu me xương khớp?
            Phải chăng từ câu hỏi đó, mà ta gọi Dasein là l’être-pour-la-mort?
            Và nếu gọi như kia, thì cái nói của lời, cái ngữ của ngôn, cái ngôn của cú-từ-tiết-điệu kia (le Dit de cette Phrase) phải được nghe ra trong cái Vùng-Vắng-Lặng nào, để cho cái nghĩa Tương-Ứng-Synousia ban sơ đừng mất nghĩa ban sơ? Vì nếu mất nghĩa ban sơ thì hố hang hiện ra khắp nẻo, và sông núi là vạn lý hà sơn mất nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang.


Rằng từ ngẫu nhĩ nhìn sang
Nhịp cầu nho nhỏ bắc ngang cuối ghềnh

            Nghĩa là ở giới hạn cuối cùng của tinh hoa ngôn ngữ khuất lấp trong mù sương tinh thể của lời.
            Mất cái đó đi, thì mọi con người sẽ mất cõi. Cõi sẽ bị qua phân, đời ruộng đồng sẽ tan hoang trong hào, ngoài lũy, trên dưới sa lầy.
            Làm sao tứ hải giai tồn lưu cho được chớ? làm sao cho hai vũ trụ được nhiếp dẫn về trên một dòng, mà ngắm nhìn nhau trong một tấc cỏ, thì đâu còn tính ra cái chuyện báo đền liệu đem tấc cỏ báo đền ba xuân?

VỐN TỰ ban sơ, con người ta ở mọi chân trời đã nhìn nhau trong một cõi. Ta gọi là: cõi thiện, cõi chân, cõi mỹ, cõi tồn lưu, cõi lưu trú, cõi quê mẹ, cõi quê hương, cõi ngôi nhà vĩnh thể, cõi thanh hiên tố như tố bạch… Gọi gì thì gọi, bằng lời gì thì bằng, ban sơ vẫn là cõi một cứ luôn luôn dời bình diện trên địa hạt địa phương cho thịnh phồn lục địa cứ thường hằng tư lường trong định mệnh tồn hoạt bóng ma…
            Hỡi ôi! vấn đề thểthời gian có phải chính từ chỗ này mà được nêu ra để từ đây quyết định? Những nhà tư tưởng nói tiếng ẩn ngữ, pha trong mù sương, có đơn sơ lắm lắm? Và vì quá đơn sơ, nên con người trong bụi khói cứ ngàn năm không chịu hiểu? Và cứ vô tình đập phá tan nát mãi mãi riêng một cái gì khả dĩ thiếp lập thế quân bình cho cuộc sống chênh vênh?
            Đông là gì, Tây là gì, đâu là cái hố, cái hang, cái khe, cái mương, đâu là cái bước nhảy?

                        Rằng từ ngẫu nhĩ nhảy qua
                        Bờ lã vũ trụ bến là cõi kia
                        Miền tương giao bỗng tan lìa
                        Mép cồn lau rụng mảnh bờ tồn lưu
                        Hai là một? một là mười?
                        Mười về trong một ngồi cười lửng lơ
                        Mai sau dù có bao giờ
                        Gió đưa một trận về bờ bữa nay?
                        Hai con mắt, một vòng tay
                        Ánh mờ tồn lệ phơi bày đào non?
                        Clarté-Diffuse-Rằng-Từ-Ngẫu-Nhĩ

                        Le vent d’un vent souffle où il vent
                        Ineffable est le bras des feuilles
                        Omniprésents sont les clairs yeux
                        de la clarté qui se recueille

                        Un jardin s’ouvrant sur un pré
                        parle de la nuitbionienne
                        qui songe à là Chine antique et
                        à l’aube des forêts indiennes

                        Gravissant le sommet du Pic
                        de l’Obscurité pour atteindre
                        l’eau blanche dans le dur granit
                        Avez-vous quelque chose à craindre?

                        La clarté-diffuse-đào-non
                        donne nissance à lần-ngẫu-nhĩ
                        Dès lors à l’infime Kôun-lôun
                        la Grande Origine s’allie
.

            Hai vũ trụ nhìn nhau trong một cõi là: Nguyên Thủy Ngữ Ngôn kể từ…
            Kể từ Tân Thanh thiết lập nhịp cầu trên mảnh hồng quần soi trên mặt hồ gương bóng.
            Có hiểu sự vụ là thế, thì chúng ta mới có thể rõ vì sao mà gái Gia Tĩnh lại có thể là phụ nữ Việt Nam, tiếng Trung Hoa lại là lời Hồng Lĩnh, hoặc thằng Quảng Nam hay cãi, lại có thể làm thơ rất mực phiêu bồng. Đến bà đầm da trắng cũng phải đẫm lệ mà nghe ra mũi tẹt da vàng khóc hu hu, hou hou:

                        Savez-vous tigres et tigresses
                        Où donc est le perplexe pli
                        d’une Reine Raisin des Tresses
                        L’or des pleurs, l’acajou des cris?

                        Hou hou! la chanson du Corsaire
                        Tou tou! Pêcheuse d’equilon
                        Tonnerre du soleil lunaire
                        Ma Terre est perdue, le sait-on?

                        (Duồng Mô Din)

                        Rằng từ ngẫu nhĩ gặp nhau
                        Thầm trông trộm nhớ bấy lâu đã chồn
                        Dưới trời căn cớ là bông
                        Lá đầu cây rụng quần hồng họ Vương
                        Thanh âm đăng khí hồi trường
                        Hùng tâm nghĩa bạc hải đường vân tiêu
                        Hương sầu điệp điệp xuy phiêu
                        Con đò giác mộng dâng liều lĩnh hoa
                        Con người mắt tợ mưa sa
                        Lan đìu hiu giậy sao mà buồn tênh
                        Nửa phen ngẫu nhĩ gập ghềnh
                        Bấy chầy khúc khuỷu trăng chìm bãi sông
                        Thảo am phong tóc sương đồng
                        Chất thành tùy ý đèn lồng rủ tua
                        Sượng sùng tháng ngọt ngày chua
                        Mười lăm năm rụng hoa mùa tiểu lân
                        Đào non đổ rớt bảy phần
                        Khe ngầm đứt mạch buông tầm tiểu thư
                        Đăm chiêu nghĩa bất dung từ
                        Sử xanh lần giở hương thừa trở cơn
.

            Sao gọi là trở cơn? Từ đó có nghĩa là: cơn trở. Sao gọi là hương thừa? từ đó có nghĩa: thưa hường.
            Thưa như thế nào? Rằng: hồng nhan tự ngàn xưa…

                        Herbes et roseraies natales!
                        Ungedachte! vous avez peur
                        des Entrées nocturnes fatales
                        Cái điều bạc mệnh… tel est le coeur.

                        Ngại ngùng dín gió e sương
                        Liễu yêu bài động như dường đã phai
                        Ngừng hoa bóng thẹn mặt dày
                        Phong tình vạn chủng cuối mày sắp tan
                        Lệ bên đầu mắt một hàng


            “Ainsi commencent les grands malheurs”. Những tai họa lớn lao khởi đầu từ đó, và như rứa đó tới bao giờ? Và như rứa đó, bởi đâu? Và tại sao mà như rứa đó?
            Tây phương ngậm ngùi cũng bảo rằng như rứa đó, thì thật không biết nói mần răng, ăn mần răng được nữa. Chỉ biết rằng… Hãy nghe René Char: “Nos tissus tiennent à peine. Nous vivons au flanc d’une inversion mortelle, celle de la matíere compliquée à l’infini au détriment d’un savoirvivre, d’une conduite naturelle monstrueusement simplifiés. Le bois de l’arbuste contient peu de chaleur, et on abat l’arbuste. Combien une patience active serait préféralle! Notre rôle à nous est d’influer afin que le fil de fraicheur et de fertilité ne soit pas dé ourné de sa terre vers les abimes définitifs. Il n’est pas incompatible au même moment de renouer avec la beauté, d’avoir mal soi-même et d’être frappé de rendre les coups et de s’éclipser”. (René Char – Recherche de la base et du sommet)

ĐOẠN VĂN nói rõ niềm “sérénité crispée” niềm thích thảng nghiệt ngã vừa bao dung vừa bực dọc, trong tinh thần người nghệ sĩ trước thực trạng hỗn mang. Vẫn giữ thiện chí ôn hòa, theo lẽ tương nhượng, nhưng vẫn phải công phẫn phản kháng những sự vụ hồ đồ ma quái, vu hãm, thủ tiêu, chụp mũ. Le bois de l’arbuste contient peu de chaleur, et on abat l’arbuste. Như thế thì còn chi mà mong mỏi cái cành ngọc thụ nó đơm hoa có ngày?


Rằng từ ngẫu nhĩ than ôi
Rằng không thì cũng vâng lời rằng không

            Lời thơ Nguyễn Du cứ như chảy tràn lan ra như vậy. Ấy bởi vì nó nằm trong tiết mạch thâm sâu của linh hồn kiên trì trong dòng tồn lưu mát mẻ. Dám lôi mọi thứ hỗn mang ra cho cô bác nhìn, mà vẫn gắng chuyển di nhiếp dẫn cho dòng về bát ngát, đừng để mọi sự rơi tòm vào hố hỗn độn điêu mang. Chịu đoạn trường chịu phơi xương cho dao cắm, dám tung chỉ lực chưởng phong ra đối địch, và cũng hài lòng biền biệt bỏ đi. Gọi rằng: hiện về trong xa vắng, trở lại tự xa xôi…

Trông ra ngọn cỏ lá cây
Nỗi đêm khép mở nỗi ngày lim dim
Chừng như trên nóc bên thềm
Tiếng Kiều đồng vọng bóng xiêm mơ màng
Gọi rằng ngẫu nhĩ đa mang
Chàng ra cho thiếp sưu tầm của tin

            “L’homme toucha le ventre de la femme qui remercia d’un regard, tendrement. Mais seule l’eau du puits profond. Sous son petit toit de granit, se réjouit de cegeste, parce qu’elle en percevait la lointaine signification”. (René Char)

Khi hoa nở khi trăng lên
Khi phiêu bồng tóc khi mềm mại da
Đều là nghề nghiệp trong nhà
Phỉ phong đó mận, tuyết ngà đó lê…
Vườn xưa én cũ bay về
Thân hoài tuyệt kỹ đề huề tay gieo

            “L’art ne peut-il avoir recours, pour s’infléchir, à la salive de l’arbre fruitier? L’art qui rêve dans les vergers où fleurs et fruits ont raison ensemble?”

KHÔNG BIẾT. Thưa rằng chúng ta không biết. Câu chuyện Gia Tĩnh chạy lộn chiều, gặp đủ thứ gió từng trận nổi cơn ở mọi chân trời không khí. Đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ. Đem cầm kỳ đổi ra kỳ cuộc. Đem kỳ cuộc đổi ra vạn lý hà sơn. Đem vạn lý hà sơn đổi làm nhân sinh nhứt giác mộng. Đem nhứt giác mộng đổi làm đoạn trường. Đem đoạn trường tấu lại tân thanh. Đem tân thanh xô vào bạc mệnh. Đem bạc mệnh gán vào hồng nhan. Đem hồng nhan ghép cho kỹ nữ. Đem kỹ nữ tôn lên ngai vàng. Biến Nữ Vương thành Hoàng Hậu. Đổi Hoàng Hậu làm Hoàng Thiên Thu. Hoàng Thiên Thu bỗng đo ra vạn đại. Với sương bóng phiêu du không biết đâu bờ bến dưới mặt trời cuồn cuộn chiêm bao với hai con chim chia nhau một bầu trời hồng lục tố như và một mái thanh hiên của thiên thanh hồng sơn liệp hộ.
            “Deux hirondelles tantôt silencieuses tantôt loquaces se partagent l’infini du ciel et le même auvent”.
            Hai đứa lúc lim dim, lúc ríu rít, kể từ đó về sau, đứng hai chân trên bến bờ tứ phối, dòm xuống biển dâu, mà gọi với tinh sương rằng cuộc cờ trên hà sơn vạn lý sẽ bất tuyệt hồng vàng vì đơn sơ thuần phác của hạnh phúc đương hôn nhau cho làn môi phiêu du hiển hiện lấp lánh phiêu bồng trong ẩn ngữ thề xưa:


Thề xưa giở đến kim hoàn
Một nền đào mận khuôn vàng vấn quanh
Hàng hàng tứ diệu to nhanh
Thể theo gương dọi tụ thành cõi kia

            “… est l’anneau qui s’enroule sur lui-même, alors qu’il joue le jeu des reflets. Faisant paraitre, il éclaire les Quatre à la lumière de leur simplicité. Faisant resplendir, l’Anneau partout et ouvertement transproprie les Quatre et les ramène à l’énigme de leur être. L’être rssemblé du jeu du monde, le jeu de miroir qui s’enroule ainsi, est le Tour encerclant. Dans le Tour encerclant de l’Anneau qui joue et reflète, les Quatre s’enlacent à leur être, qui est un et pourtant propre à chacun d’eux. Ainsi flexibles, se pliant au jeu de miroir, ils assemblent le monde”.
            Phong tình vạn chủng từ đó về sau tha hồ thi đua nảy nở theo thiên lý lưu hành phiêu diêu bởi liễu yêu bài động… Cái vật, cái đồ, cái vành cong hà diệp mở, đã dìu dắt cõi đi về là nhiếp dẫn tứ diệu phanh phơi lưu tồn đăm chiêu mong đợi
            La chose retient le Quadriparti. La chose rassemble le monde. Chaque chose retient le Quadriparti dans un rassemblant, liée à une certaine durée, où la simplicité du monde demeure et attend.(2)

                        Cảnh Hà Diệp mở cong môi
                        Từ Sappho mộng đến Người Triều Minh

                        (Lá Hoa Cồn)

TỪ ĐÓ về sau, tha hồ nhân gian ai muốn làm thơ thì cứ làm, cứ muốn. Ai muốn đọc sách thì cứ đọc. Ai muốn ra đồng bắt chuồn chuồn châu chấu, cũng chả sao. Trở về nhà nằm xem kiếm hiệp ai đâu dám ngăn cấm ai?


Trong đời kiếm hiệp là điên?
Ngoài đời kiếm hiệp là tiên trong đời?
Cuộc cờ bao ná hỡi ôi
Hà sơn vạn lý hay lời bách niên
Nhân sinh nhứt giác mộng huyền
Ra hờ hững cõi gọi phiền trở vô
Nường vui đóa đóa bịch bồ
Đoạn trường ở lại trong hồ rêu pha
Hằng hằng sa hạt lệ hoa
Thường thường chuốc hột sương ngà đăm chiêu
Gió hoang vu giậy cơn chiều
Hồn sa mạc giậy hương tiêu thanh đồng
Lưng trời cánh mỏng chùm bông
Đêm sầu thích thảng vân mồng còn nghe

            Tinh thể của tự do nằm buồn vui trong ngôn ngữ như thế nào? Tha hồ làm thơ? Tha hồ đọc sách? Tha hồ nằm ngủ chiêm bao ra đồng bắt châu chấu? Bắt châu chấu không có nghĩa là rứt đuôi ngắt cánh châu chấu. Bắt châu chấu chỉ có nghĩa: đăm chiêu với cánh mỏng chuồn chuồn. Để yên cho chuồn chuồn lượn bay sau cơn mưa rào diễm lệ. Đừng hiếp đáp, cưỡng bức những cánh mỏng lưa thưa đương mở phơi hồn xuân trong cõi phù du bất tuyệt lưu tồn.
            “La liberté n’est pas ce qu’on nous montre sous ce mon. quand l’imagination, ni sotte, ni vile, n’a, la nuit tombée, qu’une parodie de fête devant elle, la liberté n’est pas e lui jeter n’importe quoi pour tout infecter. La liberté protège le silence, la parole et l’amour. Assombris, elle les ravive; elle ne les macule pas. Et la révolte la ressuscite à l’aurore, si longue soit celle-ci à s’accuser. La liberté, c’est de dire la vérité, avec des précautions terribles, sur la route où tout se trouve”. (René Char)


Lời dâng tuyệt kỹ bên người
Vùng mây vắng lặng chân trời cảo thơm
Sử xanh dù đẫm lệ hờn
Cũng lai láng mở cung đờn bình minh
Trẽ tràng khôn xiết phiêu linh
Mong giờ ngẫu nhĩ lộ trình đi qua

            Kể từ đó, ta thấy Thúy Kiều thân thiết với cõi người ta thiên hạ ra sao. Trong tĩnh dạ thâm canh, mọi người sẽ chiêm bao gặp gỡ ngẫu nhĩ lạ lùng là buổi mới cơn đầu kiếm hiệp ra hoa. Mọi người sẽ gọi. Thiên hạ sẽ thưa. Cõi trăm năm sẽ bảo:
            – “Kiều ơi, dù sao thì em cũng phải trở về mới được”. Bởi đâu? Bởi rằng.
            “… toi sur qui l’avenir comptait tant, tu n’as pas craint de mettre le feu à tavie… Nous Errerons Longtemps Autour De Ton Exemple… Il faut revenir. Tout est à recommencer”. (René Char)
            Chúng ta thấy một điều: thế kỷ 19, một thi sĩ Việt gọi cô gái Trung Hoa về; thế kỷ 20, một ông thi sĩ Pháp cũng gọi cô gái Gia Tĩnh nọ về.(3) Chi lạ rứa?
            Sự vụ đã lạ lùng ngẫu nhĩ như rứa, thì chúng ta còn đợi gì mà không rủ nhau làm thơ cho tràn lan mặt đất? Thơ gì? Thơ gọi. Gọi gì? Gọi Kiều Nương. Nương gì? Nương nường Thúy. Thúy gì? Thúy kỹ nữ chiêm bao. Kiều tuyết liên kiếm hiệp mộng.


Cơn đầu ngẫu nhĩ ra hoa
Ôi Nường Kiếm Hiệp đã sa vào vòng
Đường lên nước ngược nằm trong
Như ngày địa hạt xuống giòng bâng quơ
Dưới hoàng hôn nước lên bờ
Nấp trong khuôn lá bấy giờ đổ ra
Quê hương đồng đất lạ nhà
Cảo thơm lần giở sao mà chậm dâng
Trên hàng cổ lục phơi thân
Ngực tròn vẽ tượng tiểu lân dưới cằm
Tung trời chưởng lực căm căm
Về thiên thu giậy trăm năm một mình
Ngó cẩn miên bạc đóng đinh
Trên đầu núi cũ bất thình lình kêu
Ôi Nường Kiếm Hiệp gươm đeo
Cuộc đời thiên hạ cõi đèo bòng kia
Ôi Nường Kiếm Hiệp canh khuya
Đổ xiêu một trận cơn liều lĩnh ra
Hà sơn vạn lý đâu là
Gót đi đứng gót chân ngà ngọc chân
Tiêu thanh đất ruộng vô ngần
Đồng ôi xứ sở Yên Tần gọi nhau
Ôi Nường Kiếm Hiệp xưa sau
Ngày vui ở lại trong màu áo kia
Thế ru? Sao lệ đầm đìa
Lọ là ấy cõi nường về đó xem
Ôi Nường Kiếm Hiệp đi đêm
Người da đen gọi rằng em hữu tình
Bấy chầy há dễ nín thinh
Nỗi buồn lục địa buông mình mấy sông
Chiều dâng trong ý mây lồng
Sương mù sa mạc xa gần trở cơn

            Từ đó về sau?

CHÀNG KIM rất có thể vòi vĩnh chiêm bao đuổi theo mà đáp ứng cái tiếng gọi tồn lưu của tại thể đã ra đi từ buổi gió chân trời.
            Nuồng Thúy cảm động gật đầu: Vâng, trong chiêm bao, chàng đã theo dấu chân ta ra đi buổi trước, tìm về tao ngộ, mà tương ứng mơ màng cơn mộng nào ngẫu nhĩ đã ra hoa. – “Thuyết bất định ngã tiên diện tẩu, tha tựu hội hậu diện cân lai”.
            Nói là nói vậy, nhưng hỡi ôi, sự vụ đâu có dễ dàng gì mà êm giầm mát mái. Cái hố, cái hang, cái đường quanh lối quẹo, cái mê cung tồn hoạt, cái muội diện hoạt tồn, cái mê-hồn-trận tồn lưu, cứ như luôn luôn triền miên lấp ló. Hỡi dòng sông xứ sở. Hỡi nước lũ dội ngàn. Hỡi cánh mỏng chuồn chuồn. Hãy hiện về mà tiếp sức cho ta. Được chăng ru? Chẳng được chăng ru tá? Trên nhịp đời lảo đảo, có dễ gì mà giữ vững mãi cái linh hồn trong xương khớp đầu gối với hai chân!
            “Ce n’est pas toujours facile d’être intelligent et muet, contenu et révolté. Tu le sais mieux que personne. Regarde, en attendant, tourner les dernières roues sur la Sorgue Mesure la longueur chantante de leur mousse. Calcule la résistance délabrée de leur planches. Confie-toi à voix basse aux eaux sauvages que nous aimons. Ainsi tu seras préparé à la brutalité, notre brutalité qui va commencer à s’afficher hardiment. Est-ce la poite de notre fin obscure, demandais-tu? Non. Nous sommes dans l’inconcevable, mais avec des repères éblouissants”. (René Char)

CUỘC CÁCH MẠNG tinh thần ở Tây phương đương đi tới chào chúng ta trong buổi phục hưng tứ hải giai huynh đệ phiêu bồng. Ta soạn sửa thế nào để đón nhau phiêu bồng phơi mở? Đón với lời trong ý mộng? Đón với tiếng trong tình câm? Sao gọi là tình câm? Tạm gọi: tình câm là tầm kinh. Sưu tầm kinh cổ lục. Khởi từ yểu điệu Thúy Kiều ra phơi mở cõi cho tài tử gửi qua nhịp cầu:


Rằng từ ngẫu nhĩ gặp nhau
Từ thiên thu tới bây giờ là đây
Rằng từ ngẫu nhĩ qua tây
Về phương Đông lại thưa thầy thưa cô
Tan hoang ngoài lũy trong hào
Ấy giờ tồn hoạt sắp vào tồn lưu

BÙI GIÁNG
___________________________________________
(1) l’éclaircie de l’être.
(2) Das Ding verweilt das geviert. Das Ding dingt Welt. Jedes Ding verweilt das Geviert in ein je Weiliges von Einfalt der Welt. (Martin Heidegger)
(3) Cố nhiên là phải nói bướng một chút vậy.


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 28/04/2017, 15:25:54

            Mưa cao nguyên

            Chừng như mưa đã vào mùa
            Đường khuya im vắng rừng mờ sương đêm
            Buồn nghe mưa lại buồn thêm
            Xe tương lai chở lãng quên vào đời
            Nhớ nhau tròn một câu cười
            Mùa Thu xưa vẫn nặng thời cổ sơ
            Em về chết nửa giấc mơ
            Một trang tâm sự bài thơ ân tình
            Trăm sau ngàn trước mong manh
            Lời ru thảo mộc túi hành trang theo
            Đời như chiếc lá rụng vèo
            Trót đa mang phải trót nhiều thương đau
            Luyến lưu tự phút giây đầu
            Chiều qua nghĩa địa nỗi sầu lên khuôn
            Thương lên thác nhớ suối nguồn
            Một vùng đêm lạnh nỗi buồn cố nhân


                                                ANH HOA


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 29/04/2017, 15:51:15
XIN DỪNG LẠI NƠI ĐÂY
Tặng X. có mặt trưa 5-7-1965 tại
số 385 Sư Vạn Hạnh Chợ Lớn

CÓ NÊN lấy cái vé cao nhất không? Sao lại không. Nhưng ô kìa sao mình keo bẩn thế? Trương chần chừ, do dự, chỉ mong muốn một sự tình cờ nào đến giải quyết. Trương thấy khó chịu với chính mình khi biết mình không dứt khoát những việc con con trong đời sống. Nhưng đây có phải là một việc con con không? Trương liếc nhanh về phía đứa con gái bây giờ đang dồn với chàng vào khoảng giữa lòng chuyến buýt Gia Định Chợ Lớn. Sao mình keo bẩn thế? Có thể nào mình bần tiện như vậy không. Trương nghĩ như vậy nhưng không trả lời. Thì cho cao tay lắm, giá cái vé lớn nhất cũng chỉ 5 hay 6 đồng thôi. Mà cái vé Trương vẫn lấy thường nhật mỗi trưa dạy học ở Bình Dương về Bà Chiểu để đi đoạn đường chuyến buýt đặc biệt này giá đã 2 đồng (có mang mấy chữ Bà Chiểu chợ Trương Minh Giảng) rồi. Trương không thể keo bẩn một cách kỳ cục như vậy.
            – Đi đâu? Người bán vé đã đến chỗ chàng đứng.
            Chàng tính nói: “Vé tối đa” như bao nhiêu lần phiêu lưu khác khi bắt gặp một dáng dấp hay hay nào đó trên cùng chuyến buýt. Nhưng rồi chàng lại do dự.
            – Đi đâu? Người bán vé giục giã.
             “Thì cứ mua mẹ nó cái vé tối đa đi rồi mình muốn xuống đâu thì xuống sao lại tiếc mấy đồng bạc”. Trong phút chốc chàng đã tự trách như vậy. Nhưng cơn đau đầu như kinh niên lại tấn công Trương. Chung quanh đầu Trương như có một khối vật nào thoạt đè nặng, thoạt giở lên. Cơn nóng lạnh, hâm hấp mồ hôi đã phát ra từ buổi sáng lúc 9 giờ 30 khi chàng vừa xong 2 giờ Anh văn đệ tứ để tiếp đến lớp đệ nhị. Khoảng đường gần 30 cây số trên chiếc xe đò có chỗ dựa khá êm cùng với gió mát làm Trương quên hẳn cơn nhức đầu. Bây giờ nó lại tái phát. Hay đúng hơn chúng tái phát từ lúc chàng đứng đợi buýt ở trạm xe Bà Chiểu, leo lên một chiếc xe cũ rích máy nổ rầm rầm đứng một chỗ và chính nó cũng bay đi một cách lạ lùng khi Trương chú ý đến đứa con gái.
             “Có thể nào làm đẹp một đứa con gái không?” Trương vẫn thường nghĩ vậy khi trông thấy những đứa con gái có một sắc đẹp, một dáng dấp hay hay nào đó nhưng chàng biết chắc chắn sẽ thất vọng nếu hoàn cảnh may mắn cho chàng đi thêm một đoạn đường ngắn nữa thôi. Chàng không tin ở ý chí, ở tài năng, ở tâm hồn chàng. Chàng không tin ở khả năng của chúng để biến tạo một đứa con gái nếu đứa con gái đó đã không có mầm móng thích nghi. Rồi tất cả – trừ những hình bóng hư ảo xa xôi – sẽ trở về cái tầm thường, lì lợm của đời sống một người đàn bà. Tưởng tượng đến những đứa bạn gái cùng lớp cùng trường hồi Trung học, mấy năm ở Văn Khoa hay những đứa con gái lạ lùng khác rải rác trong bao nhiêu cảnh sắc ngược nhau, chống nhau của cuộc đời, tưởng tượng đến những dáng dấp chàng đã từng mê đắm, chàng thất vọng khi tình cờ gặp lại họ. Thôi nhé em, một hột cát nhỏ trong bãi biển hồn anh. Thôi nhé em, anh chỉ lấy đúng cái vé 2 đồng như thường nhật mỗi ngày anh có đi dạy học ở Bình Dương về Bà Chiểu để đón buýt về hiệu cơm Trung Hoa trước trạm chợ Trương Minh Giảng ăn tạm một cái gì đó trước khi lại đón một chuyến khác từ Saigon chạy về đưa anh lên một khoảng đường xa hơn một chút nữa nơi có gian phòng cô quạnh của anh. Thôi nhé.

NHƯNG TRƯƠNG không thể không liếc mắt nhìn xem đứa con gái đã mua vé nào. Ông bán vé đã xé rất nhanh và dúi vào tay đứa con gái mà không thối lại gì hết khiến chàng không thể đoán được đứa con gái đưa cho ông ta mấy đồng bạc chì.
            Nắng rất gắt tỏa ra khắp nơi hắt vào xe. Thôi nhé em, anh rất mệt rồi. Đến trạm chợ Trương Minh Giảng là trạm cuối cùng của anh có thể đi chung với em, nhìn em. Và sau đó nếu em không xuống, anh bỏ cuộc. Anh phải bỏ cuộc càng sớm càng tốt vì trước sau gì anh cũng biết anh bỏ cuộc. Nhưng còn cái tên thanh niên kia. Vâng, còn một tên thanh niên tự nhiên đứng vào cái thế địch thủ của Trương. Bây giờ Trương mới chú ý nhiều đến hắn. Hồi ở trạm Bà Chiểu, hắn cũng ngồi cùng chuyến xe với đứa con gái, nếu Trương nghĩ không lầm. Và có lẽ họ là hai trong số hành khách đến sớm nên mới có cái may mắn ngồi cùng dãy ghế trên, gần cửa xe. Nhưng được một chốc, một chốc thôi, khi Trương cũng bước lên chuyến ấy thì có tiếng một nhân viên công quản trong trạm cho biết chiếc xe bị hư, không thể chạy được. Chính lúc ấy Trương mới nghe đứa con gái cười và nói một chút với thiếu phụ bên cạnh: “Lại phải dời xe nữa”. Như vậy là thiếu nữ đã đợi xe khá lâu trước chàng nhưng hai chiếc đều hư và trước sau bị kéo đi đâu mất. Giọng miền nam làm trương thất vọng phần nào. Rồi đứa con gái xuống xe. Dáng hơi thấp hơn Trương một chút và rất vừa tầm. Toàn thể thân hình tỏa ra một mùi băng tuyết với dáng dấp đang quyến rũ nhất của đời thiếu nữ. Tên thanh niên thì không thể địch nổi Trương tuy hắn cũng có vẻ nhanh nhẹn và lịch sự. Hắn cầm một đĩa nhạc nhỏ 33 tours, có lẽ thuộc nhạc kích động Mỹ. Trương đoán điều ấy qua cách trình bày bản nhạc dù không bao giờ chàng nhìn rõ mấy chữ Mỹ khá to trên đó. Tên thanh niên đó bám sát vào đứa con gái mà chắc chắn hắn cũng nhận ra một dáng dấp đặc biệt vô cùng.

LÚC CÓ chuyến buýt đến thay, cả ba đều cố giữ thế. Cả ba đều để cho tất cả hành khách lên xe rồi mới bước lên sau. Nhưng Trương còn làm cao hơn. Chàng bước lên cửa sau trong khi hắn và đứa con gái bước lên cửa trước. Nhưng lúc lên xe rồi thì Trương và đứa con gái như cùng hẹn nhau lọt vào giữa lòng xe. Mãi lúc sau tên thanh niên mới tiến lại gần, với một tay cầm dĩa nhạc đụng đến nóc mui xe. Trương thấy mình hách hơn, với chiếc Cravate nylon đen nhỏ thắt trên chiếc áo nylfrance rất trắng. Trương biết mình có thế hơn nhưng chàng cũng không thể khinh địch.
             “Hắn có thể… với ý định như mình không?” Trương tự hỏi khi xe băng qua đường Cách Mạng, nghĩa là đi đưa gần một nửa đường Trương Tấn Bửu. Lúc này, qua một vài trạm nhỏ, hành khách xuống khá nhiều mà số hành khách mới không có bao nhiêu. Xe bắt đầu thưa thớt. Không thể đứng gần nhau, cả ba đều không hẹn mà cùng một lúc từ từ nới rộng ra, nhưng vẫn canh chừng nhau. Lúc này Trương mới tức tối. Sao lúc đầu không mua cái vé cao nhất. Bây giờ chẳng lẽ mua thêm vé? Như thế thì chắc chắn tên thanh niên kia đoán biết ý định của Trương. Không. Thôi nhé em. Anh chỉ có thể đuổi theo em đến trạm chợ Trương Minh Giảng là chỗ cuối cùng. Nếu em xuống trên khoảng đường đó, rất có thể anh xuống theo em, đi ngang qua nhà em, dù phải đi qua bao nhiêu con hẻm dưới trời nắng. Còn nếu em đi xa hơn, anh bỏ cuộc. Anh không đủ sức theo em khi mà phía trước chỉ toàn ảo giác.
            Xe bắt đầu thưa. Một chỗ ngồi nơi một băng ghế bắt đầu trống. Cả ba không ai ngồi xuống, cả tên thanh niên, cả đứa con gái và Trương. Chỗ trống gần Trương nhất. Và người còn lại – một ni cô – có vẻ muốn ngồi khép lại cho Trương ngồi. Cử chỉ vừa làm cho Trương vừa vui vừa buồn. Chàng nhìn ni cô. Khoảng gần hai mươi lăm. Đẹp nghiêm nghị nhưng chắc chắn còn tha thiết một cái gì khác trên đời này ngoài đời sống và lý tưởng tu đạo. Một chút gì đó có thể trong nắng, trên mây, trên dáng dấp rất nhiều yêu đời của những đứa con gái nhỏ, trên mái tóc một thanh niên như Trương. Một chút gì đó, một chút thôi, nhưng chắc không bao giờ tắt được. Trương muốn ngồi xuống ngay bên cạnh ni cô, ngồi bên cạnh một chút gì đó. Nhưng không được. Trương thấy mình như có lỗi khi không ngồi xuống. Hơn nữa chàng nghĩ kỹ việc đó có thể gây khó khăn nếu chàng muốn đuổi theo đứa con gái khi đứa con gái xuống một trạm nào đó thình lình.
            – Ngồi vô đi, ngồi vô đi, còn lỗ trống kìa.

NGƯỜI BÁN vé đi trở qua chỗ ba người đứng để ra phía sau thu tiền mấy cái vé mới. Ông ta nói như vậy khi đi ngang qua ba người, nói một cách vu vơ, không chỉ định một người nào rõ ràng cả.
            – Trạm cuối Trương Tấn Bửu đây. Ai xuống xuống đi.
            Ông kiểm soát vé nói thay lời nhân viên bán vé.
            Trương bắt đầu hồi hộp nhẹ nhàng. Thình lình tên thanh niên đưa mắt nhìn thẳng vào người đứa con gái, nhìn khắp nơi, đậu lại rất lâu ở thân người, nơi kết tụ cái dáng dấp uyển chuyển, băng tuyết kỳ ảo. Rồi hắn xoay đi thật nhanh nhảy xuống cửa trước khi xe đã chuyển bánh được vài thước.
            – Hắn đã đầu hàng. Không ngờ hắn bỏ cuộc sớm thế.
            Trương nói một mình, thích thú. “Nhưng biết đâu hắn khôn ngoan”, Trương lại trầm tư.
            Đây là trạm chót trước khi đến trạm Chợ Trương Minh Giảng. Nghĩ vậy tức khắc Trương đau khổ. Sao hồi nãy không lấy mẹ nó cái vé tối đa? Có thể nào đứa con gái sắp xuống? Và nếu vậy thì có lẽ Định mệnh đã sắp đặt.
            Xe bắt đầu quẹo khúc quanh qua Trương Minh Giảng. Vậy là hết, là hết. Trạm kia rồi. Hết, hết. Nhưng tại sao chịu hết?
            Giây phút nhìn chừng đứa con gái, giây phút hy vọng chấm dứt vì đứa con gái không có một nhúc nhích, xê dịch nhỏ nào trên xe chứng tỏ sắp xuống.
            Hết phải không em. Chắn đường này là hết phải không em. Cám ơn rất nhiều đã có ý dừng lại rất gần anh. Cám ơn rất nhiều đã thỉnh thoảng nhìn anh bằng đôi mắt anh không đời nào quên được.

TRƯƠNG NHÌN thật kỹ. Chàng hoảng hốt trước dáng dấp quyến rũ chưa từng thấy. Có một chút gì hơi quê mùa. Chiếc áo lót cũng vậy. Mấy cái đăng ten hơi thô. Không có mùi dầu thơm nào mà chỉ có một mùi mồ hôi kỳ ảo. Có một cái gì dơ dơ trong toàn thể thân hình. Có một nét gì tầm thường trong cách ăn mặc. Nhưng đó chính là tuyệt đỉnh của cái đẹp của thiếu nữ.
            Một luồng gió thổi vào. Đứa con gái vội khoát hờ tà áo che sát chiếc mông… Một chút nhưng toàn thể, Trương đoán may bằng tay, hơi rộng một chút, bằng một thứ vải gì phải dày hơn khá nhiều thứ vải may quần mới cho thấy một sắc độ đâm lên như vậy. Bây giờ mấy cuốn sách và vở cũng được tay cầm. Trương để ý thấy cái gáy một quyển sách Anh. Trong nghề, chàng đoán ngay đó phải là cuốn Let’s learn English. Và nếu không có trường hợp bất thường đứa con gái chỉ học khoảng đệ lục thôi. Có lẽ sợ biết mình học hơi thấp và muộn, đứa con gái dấu quyển sách Anh văn kia vào trong. “Nếu đứa con gái sức học đệ nhất hay đang là sinh viên chắc chắn yếu tố này sẽ giết mất cái đẹp kỳ ảo trong toàn thể đứa con gái trưa nay”. Trương nghĩ vậy và chàng chỉ muốn xuống ngay với đứa con gái, đi bất cứ nơi nào trưa nay, trong y nguyên y phục và dáng dấp mà mùi hôi và đăng ten hơi nhà quê và mệt nhừ đường xa… Đừng thay đổi gì hết, dù chiếc áo trắng mà chàng hằng ao ước để thế cho chiếc áo dài hơi cũ kia. Không thay đổi, không thể thay đổi một chút nào cả. Chàng ao ước được nắm tay đứa con gái kia đi suốt đời này. Không nghĩ ngợi gì hơn, không thay đổi gì hơn.
            – Có nên mua thêm vé không?

TRƯƠNG SUÝT bật thành tiếng nói. Bỗng chàng chú ý đến mấy ngón tay của đứa gái vuốt hờ mái tóc. Mấy ngón tay có vẻ hơi thô, không thon như chàng tưởng. Nhưng biết đâu đó là một trong những yếu tố làm cho tăng thêm cái dáng đẹp tuyệt vời của đứa con gái. Chàng muốn giữ cả những ngón tay đó.
            Trương nói thật nhỏ với nhân viên bán vé!
            – Ông cho thêm một cái vé.
            – Đi đến đâu? Sao hồi nãy không mua luôn?
            Ông bán vé cười ranh mãnh nói lại một lần nữa:
            – Đi đến đâu?
            – À, tôi đi, chỗ nào cũng được.
            Đứa con gái làm một dáng điệu rất đẹp: nàng hửng đầu ra phía sau làm tóc lung linh và lòa xòa một chút. Trời ơi, giống… vô cùng. Và một hình bóng thất vọng trong quá khứ tượng hình rõ ràng trong ký ức Trương. Chàng nhắm mắt lại cho hình bóng kia tan đi nhưng nó lại càng hiện rõ hơn. Thôi em nhé, anh xuống ngay nơi trạm sắp đến. Anh xuống ngay nơi đây. Anh phải dừng lại khoảng đường này. Không phải anh bị con ma quá khứ ám ảnh làm anh có những hành động mê cuồng tai hại. Ôi, những hình bóng dĩ vãng – những đứa con gái tuyệt vọng cho đời anh đang bủa vây anh. Nhưng em hiểu vì sao anh tuyệt vọng? Không phải vì lý do anh thất bại đâu. Nhưng chính những đứa con gái đó mới là hiện thân của thất bại của tuyệt vọng cho anh và anh vùng vẫy tấn công để biết rõ mình tuyệt vọng trong cái tuyệt vọng tất hữu, con gái. Và anh nghĩ không thể nào làm đẹp một đứa con gái cả, thật vậy em ạ. Nhưng anh vẫn xao xuyến vô cùng đứng trước dáng dấp đẹp vô cùng của em mà anh đã chết điếng khi còn ở trạm Bà Chiểu. Anh tưởng không thể sống nổi và không nên sống nữa khi gặp những dáng dấp như em. Anh nhìn rõ khuôn mặt em: mũi hơi cao nhưng tất cà thì không có gì đặc biệt. Anh lén nhìn kỹ chân em: đôi guốc hơi quê mùa, những ngón chân thì thấp và hơi ngắn, mấy cái móng chênh lệch, và một ngón cái đã bị hư móng. Nếu chỉ nhìn riêng chân em chẳng hạn, anh sẽ chán nản, nhất định. Nhưng tại sao phải phân tích khôn cùng như vậy. Tại sao lại cứ phải nghe em nói tiếng gì để biết người nam hay bắc? Tại sao phải dò đến nhà em, tại sao phải tìm biết một cách cẩn thận và ngu xuẩn ngọn ngành của em. Anh chợt nhìn thấy nắng bên ngoài đẹp vô biên. Nắng rực sáng tưng bừng. Anh quên đi đây là Saigon với đời sống thúc đẩy, xô bồ chỉ làm anh phát điên. Anh quên đi đây là Saigon, nơi phải mỏi mắt mới tìm được một chút thiên nhiên một chút màu xanh của cây cối, một chút hoa, một chút nước trong của dòng suối một chút hoa một chút cỏ mà anh thèm khát. Từ đó anh bỗng hiểu rằng nơi nào trên mặt đất này cũng có thể đẹp. Đó là hy vọng lớn nhất và cũng là tuyệt vọng lớn nhất của anh khi gặp em, khi gặp các em. Anh cũng hiểu rằng đứa con gái sẽ theo anh suốt đời đó có thể đẹp và thông minh hơn em nhưng cũng có thể thua em nhiều lắm. Anh tin điều anh nghi ngờ lắm. Nhiều lúc Trương nghĩ chỉ cần có một bức thư nào đó, chàng sẽ hiến dâng với cái nghĩa linh thiêng nhất của một đứa con trai từ lâu độc thân và cho rằng chỉ có lối sống như vậy mới lý tưởng, mới mong hưởng thụ bao nhiêu biến ảo… để không đi đến đến đâu hết.
            – Mà cần gì phải “đi đến đâu”!

TRƯƠNG NÓI nhỏ một mình như vậy. Những vì sao xa vắng kia có đi đến đâu không mà vẫn đẹp. Trái đất này có đi đến đâu không mà vẫn quyến rũ Trương. Thôi để anh cứ đi hết khoảng đường em đi. Thế nào cũng qua đại lộ Trần Quốc Toản phải không? Và anh sẽ nhìn em thật kỹ tấm thân băng tuyết lạ lùng của em mà thỉnh thoảng anh vẫn bắt gặp trên đời, hiện thân nơi bao nhiêu đứa con gái khác, đàn bà khác. Rồi anh sẽ nhìn đi nơi khác đi khi ngoảnh mặt lại thì em đã xuống ở một trạm nào rồi. Vâng, để anh đi tiếp cho hết khoảng đường em đi. Nhưng thế cũng có nghĩa là anh đã dừng lại nơi đây, trạm chợ Trương Minh Giảng. Rồi ra anh cũng bỏ cuộc như tên thanh niên kia thôi, nhưng anh bỏ cuộc một cách đau đớn hơn, khốn đốn hơn. Em đã hiểu chứ?


NGUYỄN ĐỨC SƠN
8-7-1965


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 06/05/2017, 08:27:41
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3  [tháng 9 năm 1965 |  104 trang]

MỤC LỤC
Nguyễn Du |  Mười lăm năm ấy (thơ) |  2-3
Thành Tôn |  Thư cho mẹ (thơ) |  4
Định Giang |  Những tuổi đời đi qua (thơ) |  5-6
Thi Vũ |  Đường nét \ Tất cả (thơ) |  7
Nhất Hạnh |  Quán tưởng (thơ) |  8-9
Hoài Khanh |  Cây pháo bông của trẻ \ Nhụy (thơ) |  10-11
Trụ Vũ |  Chiếc chuông đồng làng An Thượng |  12-19
Hồ Hữu Tường |  Cao vọng thanh niên |  20-26
Chín |  Ấp Thảo Điền |  27-33
Hoài Khanh |  Trí nhớ hoang vu và khói |  34-43
Tam Ích |  Văn chương kịch tiền phong và chúng ta (tiểu luận) |  44-50
Sơn Nam |  Ngó lên Sở Thượng |  51-58
Phạm Duy |  Tâm ca số 3 (nhạc) |  59-62
Nguyên Ân |  Asoka, một chính trị gia vĩ đại hay là nền hòa bình chính thực cho con người (tiểu luận) |  63-73
Tam Ích |  Ngày lại ngày – Sổ tay văn nghệ (tiểu luận) |  74-78
Nguyễn Phước |  Hoa vông đỏ |  79-83
Nhất Hạnh |  Nẻo về của ý (truyện dài) |  84-98
G.T.Q.M. |  Giới thiệu sách báo mới |  98
T.V. |  Hộp thư tòa soạn |  99-100
Quảng cáo |  101-104


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 06/05/2017, 08:39:47


            Mười lăm năm ấy

                        Mình buộc lấy mình
           “Người sao hiếu nghĩa đủ đường?
            Kiếp sao rặt những đoạn trường thế thôi?”
            Sư rằng: “Phúc họa đạo Trời
            Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra.
            Có trời mà cũng tại ta
            Tu là cỗi phúc tình là dây oan.
            Thúy Kiều sắc sảo khôn ngoan,
            Vô duyên là phận hồng nhan đã đành;
            Lại mang lấy một chữ tình,
            Khư khư mình buộc lấy mình vào trong


                        Kề lưng hùm sói
           “Vậy nên những chốn thong dong
            Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng.
            Ma đưa lối quỉ đưa đường
            Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi
            Hết nạn ấy đến nạn kia,
            Thanh lâu hai lượt thanh y hai lần.
            Trong vòng giáo dựng gươm trần
            Kề lưng hùm sói, gởi thân tôi đòi


                        Oan kia theo mãi
           “Giữa dòng nước đẩy, sóng giồi.
            Trước hàm rồng cá gieo mồi vắng tanh
            Oan kia theo mãi với tình
            Một mình mình biết một mình mình hay.
            Làm cho sống đọa thác đày
            Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi!”
            Giác Duyên nghe nói rụng rời
            Một đời nàng nhé! thương ôi còn gì?


                        Thả một bè lau
            Sư rằng: “Song chẳng hề chi
            Nghiệp duyên cân lại, nhắc đi còn nhiều.
            Xét trong tội nghiệp Thúy Kiều:
            Mắc điều tình ái khỏi điều tà dâm.
            Lấy tình thâm trả tình thâm
            Bán mình đã động hiếu tâm đến trời!
            Hại một người cứu muôn người
            Biết đường khinh trọng biết lời phải chăng.
            Thửa công đức ấy ai bằng?
            Túc khiên đã rũ lâng lâng sạch rồi!
            Khi nên trời cũng chiều người
            Nhẹ nhàng nợ trước đền bồi duyên sau
            Giác duyên dù nhớ nghĩa nhau
            Tiền đường thả một bè lau rước người.
            Trước sau cho vẹn một lời
            Duyên ta mà cũng phúc Trời chi không!”


                                                (Truyện Thúy Kiều)
                                                NGUYỄN DU


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3


Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 06/05/2017, 08:47:40


            Thư cho mẹ

            trên xứ sở xanh xao từng tiếng súng
            trong hồn người dấu đạn đã chia phe
            con ôm ngực từng đêm đau tiếng động
            và từng đêm đường máu muốn lui về

            thân sỏi đá len dần trong vô vọng
            con quay đầu bỡ ngỡ ngắm dung nhan
            cha nhát cuốc tình thương nuôi ý sống
            xanh dần lên hương nội phấn hoa ngàn

            mẹ hiu hắt đèn chong đêm ngóng đợi
            nhà phên thưa gió thấm lạnh câu hò
            núi sông cũng ngậm ngùi theo tay với
            của thằng em đói lả tiếng ru hời

            tôi bất lực như quê hương nhỏ bé
            nhìn người thân dần khuất bóng tre buồn
            nghe nỗi nhớ lớn dần lên dáng mẹ
            hình ảnh cha trong xứ sở xa nguồn

            còn ở đó thân gầy tay yếu đuối
            làn da nhen mái tóc bạc bơ phờ
            thư cho mẹ cùng xóm thôn cát bụi
            nghe hồn buồn hơi lạnh bốc như thơ

            cha nằm xuống giữa quê hương mòn mỏi
            mảnh đất sầu có tiếp thịt xương không?
            mẹ ở lại đớn đau mềm sợi khói
            thắp cho lòng? con cháu? cho non sông?


                                                THÀNH TÔN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 06/05/2017, 08:53:40


            Những tuổi đời đi qua

                        10 năm
            Khi nghe được tiếng ru hời
            Quê hương bóng mát ngợp lời mẹ ru
            Ca dao trải rộng xưa từ
            Thuở hồng hoang trước những mù mịt xa
            Bây giờ tiếng mẹ ngân nga
            Lời ru mật ngọt chan hòa tình thương
            Con yêu giấc ngủ hoang đường
            Mẹ ôm mộng mị nỗi buồn đông phương.


                        20 năm
            Lớn lên trong tiếng ru hời
            Vai mang nặng những tuổi đời đi qua
            Dấu chân vụng dại chưa nhòa
            Đã dồn dập những gọi là loạn ly
            Vết thương tuổi nhỏ hằn ghi
            □□ □□ □□ □□ □□ □□ □□ □□


                        30 năm
            Thôi em trận giặc quá dài
            Đêm bom đạn xé sáng hoài trái châu
            Nước mình chiến cuộc quá lâu
            Thép gai mọc kín mái đầu trẻ thơ
            Anh theo chiến cuộc tự giờ
            □□ □□ □□ □□ □□ □□ □□ □□
            □□ □□ □□ □□ □□ □□
            Vẫn ly loạn đó triền miên nửa đời
            Vẫn còn tiếng hát thương ơi
            Bạn bè yên ngủ chân trời lãng quên.


                        và bây giờ
            Xin cho giấc ngủ đời đời
            Để trong mơ sống lại thời mẹ ru
            Những thanh bình cũ có từ
            Lý Trần Lê đã phiêu du trở về.


                                                ĐỊNH GIANG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 06/05/2017, 16:02:51


            Đường nét

            Một trái trăng nằm giữ ý bao la.
            Đôi mắt liễu lộ nguyên hình vũ trụ.  Góc
            xếp góc rẽ sang chiều vóc ngọc.  Trời
            bình yên nắng nhẹ ửng thoa môi.
            Nhớ không biết bóng chim nào trải cánh
            trên giường mây để gió chở lên cao.  Không
            khoát động sợ nghìn sao thức mộng.
            Ngày quá dài tay mãi múa làm vui.
            Tâm sẽ đến ôm đem vào giấc nghỉ
            Những góc cạnh cấn đâm hình góc cạnh.
            Những đường cung chứa đủ những
            mình Châu.


                                                THI VŨ




            Tất cả

            Hạt mầm gói kỹ thân cây.  Lòng đất sây
            hương vì hoa chùm cất dấu.
            Trông thấy Chân Như trong lòng là trông thấy
            Muôn Vàn,
            Tất cả


                                                THI VŨ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 06/05/2017, 19:34:30


            Quán tưởng

            trăng tròn đêm nay, xin gọi hết muôn sao về cầu nguyện
            và định lực khiến trời rung đất chuyển
            tập trung về nơi điểm sáng của tự tâm
            có muôn loài làm chứng đây.  đau thương đã ngập tràn rồi.  mười
            phương nghe tiếng chuông khuya hãy chắp tay
            quán từ bi
            cho mật ngọt tình thương nơi trái tim ứa thành cam lộ
            giọt nước thanh lương,  trên lòng đau thế gian,  xóa tan sầu khổ
            từ đỉnh tâm linh cao chót vót
            cam lộ chảy về từng mạch
            thấm nhuận đồng xanh,  ruộng mía vườn dâu.
            con rắn hổ mang uống xong giọt sương khuya trên đầu ngọn cỏ
            bỗng cảm thấy tiêu tan nọc độc trên lưỡi mình
            và những mũi tên tẩm thuốc của loài ma nở thành bông hoa khi
            bay đến.
            cam lộ vương như lai!
            cam lộ vương như lai!
            phép màu hiển hiện:
            với hai cánh tay trẻ thơ mũm mĩm em nghiêng đầu thương yêu ôm
            con rắn vào lòng
            lá xanh vườn xưa.  nắng lên trên tuyết trắng
            dòng Tào Khê vẫn hướng về phương Đông
            tịnh thủy trong bình là tịnh thủy trong lòng
            cho súng đạn trần gian khuya nay rơi xuống tan thành cát bụi.
            một bông hoa nở rồi
            hai bông hoa nở rồi
            muôn bông hoa tím vàng lấm tấm trên thảm nhung đồng nội
            và thiên đường hé mở một lần với nụ cười trên đôi môi em thơ.


                                                NHẤT HẠNH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 07/05/2017, 09:58:03


            Cây pháo bông của trẻ

            Trong cung bậc của mùa
            Gió dâng từng đợt sóng
            Khi ngày nổi trôi bềnh bồng ốc đảo
            Khi đêm lang thang từng giọt sương huyền
            Long lanh màu máu xưa đất xưa
            Khi sự hèn mọn của đời sống cúi xuống
            Phía dưới vùng tâm thức âm u
            Sẽ bật lên những tiếng than mà tình yêu
            không đủ để hồi sinh.
            Rồi tôi thanh âm này nổ ra từng mảnh vụn
            Thời mà trái đất ngự trị bởi lông lá rong rêu
            Tôi nghe thấy linh hồn mình trường sinh
            Vượt qua những thanh âm tiếng hú
            Của loài dã nhân vong sinh
            Giơ cao hai tay rừng rú mịt mùng
            Và bỏ xuống rã rời đinh ốc
            Tôi sẽ trở về sự lặng thinh của đá
            Khi hồi thanh đó quay hoài hoài chiếc
            pháo bông của trẻ
            Để nghe từng giọt sương từng bãi triều
            Đi mòn ruỗng trong hồn trong máu

            Nghe từng sự tự do quậy quọ như con kòng con dế
            Nghe từng sự phẫn nộ căm hờn
            Vùng vẫy như chiếc đèn dầu trước gió
            Con người vẫn còn đó để đi
            Những chặng đường mà thời đại là một viên bi
            Lăn lông lốc trên ghềnh vực thẳm
            Mỗi người là một viên bi
            Suốt một đời lăn tròn trong niềm viễn lưu
            Của ngày nổi trôi bềnh bồng ốc đảo
            Của đêm lang thang cánh dơi
            Và đời sống mỗi người
            Như chiếc pháo bông đã được đốt lên
            Tình cờ đứa bé nào đó sẽ quay tròn
            Và thơ tôi cũng vậy.


                                                HOÀI KHANH




            Nhụy

            Bắp chân em là chiếc đục bình
            Cho anh cắm cành hoa
            Cành hoa nở phía trên thật đẹp
            Bởi một lần nhụy đã bốc ngạt ngào
            Nồng dịu bầu trời sâu thẫm đen.


                                                HOÀI KHANH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 13/05/2017, 15:44:14
TRÍ NHỚ HOANG VU VÀ KHÓI

MỘT ĐÊM KIA từ một tỉnh nhỏ ở miền trung có chuyến tàu hỏa khởi hành vô Nam. Đó là một đêm trăng nhưng bầu trời không sáng tỏ lắm. Dường như sương rất nhiều và bầu trời vì thế nhòa đục trong con gió tự Trường sơn thổi về nghe như một niềm thê thiết. Chuyến tàu thì dài và chạy rất chậm, rất chậm, rất chậm. . . . . . . . . . . Trong toa tàu dường như có một vết thương đang bốc hương ngào ngạt, đang sáng chói, đang chuyển rung theo nhịp ì ầm, rầm rập của những bánh sắt đổ xuống con đường dài hiu hắt đã có tự ngàn năm. Vâng, đó là một vết thương thật sự, bởi vì con ong bầu vẽ đã chích vào má chàng thanh niên vào buổi chiều trước khi chàng bước lên chuyến tàu hỏa để vô Nam. Chàng tên là Vũ. Vũ ngồi đó, rất im lặng. Thỉnh thoảng chàng đưa tay lên rờ nhẹ dưới con mắt trái. Mấy ngón tay chàng nghe một sự mát lạnh khó chịu, đồng lúc có một cái gì cân cấn nhưng nhức dâng lên. Chàng khẽ xuýt xoa và bỏ bàn tay xuống. Tự nhiên chàng cúi đầu thấp xuống. Chàng cảm thấy như tất cả những cặp mắt trong toa tàu đều đổ dồn về nhìn chàng. Chàng nghe thấy ở cổ họng mình như có một cái gì ứ nghẹn. Chàng muốn biến mất ngay. Nhưng thực ra có ai chú ý đến chàng đâu. Chẳng thế mà trong toa tàu đã nổi lên tiếng ngáy ngủ đều đều cùng với tiếng gió rít qua cửa nghe đều đặn, nhịp nhàng, hòa điệu với những bánh xe lăn thỉnh thoảng rú lên khi chuyến tàu từ chỗ rậm kín chạy ra khoảng trống hoặc lướt qua một khúc quanh. Rừng trùng trùng cứ tiếp tục bỏ lại đằng sau. Và vết thương kia như đã thực sự thắp sáng cả toa tàu và thắp sáng cả bầu trời mờ đục ánh trăng sương. Có thể nào một vết thương làm mất cái hình thể đã mang vết thương đó? Thực ra thì Vũ vẫn còn ngồi đó một góc trong toa tàu hạng ba đầy những người. Chàng giương cặp mắt nặng nhọc nhìn ra cửa. Nhưng cuộn khói bay đi trong một đêm trăng mờ mờ như đêm nay cùng với tốc độ của chuyến tàu lướt tới thì thật ra đó không phải là khói nữa. Đó là hình ảnh hư hư thực thực của cuộc đời. Tự nhiên Vũ muốn mình được là khói. Những sợi khói chỉ một đêm nay. Để bay đi. Về đâu? Để tan biến chăng? Để quên hết đời sống của mình trong những tháng ngày đã cũ chăng? Nhưng khói đã bay rồi và Vũ vẫn còn ngồi đó. Một cách co ro. Một cách không làm sao diễn tả được. Nhưng Vũ biết rằng một lát nữa thôi, khói lại từng đợt bay đi. Vũ ơi, sao mi vẫn còn ngồi đó. Ngày mai còn xa lắm phải không nhưng hôm qua những thoáng hiện chập chờn những khắc khoải, âu lo vẫn còn nguyên vẹn, đầy tròn để cho vết thương đêm nay thêm phần cay đắng. Rồi mi sẽ làm gì ở một thành phố lạ với một vết thương? Dù là một vết thương nhẹ. Con ong chỉ chích một cái thôi mà.
            Và cái nỗi im lặng huyền hoặc trong toa tàu mà Vũ đang ôm ấp, đang muốn tan biến đi trong đó, chợt vỡ ra, một cách dịu dàng như mặt hồ chợt xao động, khi có tiếng nói của người. Đó là tiếng nói của một cô gái, thanh thanh, dịu dịu, quen quen và Vũ đã bừng tỉnh. Và vết thương kia cũng tan biến đâu mất.
            – Toa dưới kia bị xét giấy.
            Tự nhiên cả toa tàu đều nhao nhao lên, tiếng cựa mình vươn vai, tiếng ngáp dài của một ông lão và giọng nhừa nhựa khàn khàn.
            – Xét với xung làm chi cho mệt.
            Có tiếng đáp lại:
            – Đừng có ngứa miệng nói bậy mà mang họa!

MẤY CON GÀ bị nhốt trong giỏ nghe tiếng động vùng dậy đạp lẫn nhau kêu oác oác. Một cụ già bật diêm đốt thuốc, lúc đó cô gái bước trờ tới trước mặt Vũ. Hốt nhiên Vũ nghe một tiếng thét lanh lảnh trong cùng tận linh hồn mình. Hay là tiếng còi tàu rú lên khi đến gần một ga xép cùng lúc đó? Thật ra thì que diêm đã bật lên rồi. Đã cháy rồi. Và chỉ một thoáng thôi. Vũ biết rằng mình đã hồi sinh. Nhưng mà vết thương vẫn còn đó, bởi vì bàn tay Vũ lại rờ lên phía dưới mắt trái. Không hiểu tại sao. Trong lúc chới với tâm thần định hỏi lại mình chăng, hay là để vuốt ve cho qua nốt một đêm trên một chuyến tàu rất dài chạy rất chậm, rất chậm, rất chậm… Bầu trời vẫn ánh trăng mờ huyền hoặc giải lên khối rừng đen sì như lùi lại đằng sau. Thỉnh thoảng cơn gió ùa vào toa tàu nghe lạnh mát cả người. Vũ thấy cái đóm thuốc của ông lão ngồi đối diện như một vì sao càng lúc càng sáng lóe lên như một chiếc vung lớn dần phủ xuống cả chuyến tàu, cả khoảng núi rừng trùng điệp và cả những ý nghĩ chập chờn, leo lét của Vũ.
            Sau cùng, không hiểu sao Vũ lại dám nói với cô gái:
            – Cô cứ ngồi vào góc kia đi. Có bác đây bảo lãnh dùm cho không sao đâu. Tôi cũng nhờ bác đó. Tôi cũng… vậy mà…

VŨ ĐỊNH nói rõ nhưng thấy không tiện đành thôi. Thật ra thì Vũ nhờ người soát vé bảo lãnh thật. Đó là bác Tư mà người bạn của Vũ mới giới thiệu vài giờ trước khi lên tàu. Khi lên tàu Vũ định nói chuyện với bác Tư nhiều hơn để tìm hiểu và cũng để cho quen biết nhau hơn nhưng… thôi mà nhắc làm chi. Con ong chỉ chích một cái thôi mà. Vậy là giữa hai người như một kẻ lạ. Hơn nữa, bác Tư lại có một cô con gái cùng đi với bác. Và điều đó đã làm Vũ đau đớn còn hơn nơi chỗ sưng lên. Thật ra có phải Vũ e thẹn vì sự có mặt của cô gái con bác Tư đâu. Phải nói rằng Vũ cảm thấy nhục nhã mới đúng hơn. Nhưng rồi tiếng nói đã vọng lên và que diêm đã bật cháy rồi. Vũ đâu còn miên man nghĩ đến ai nữa. Que diêm đã bật cháy rồi. Thôi. Cứ ngồi đây. Như câm. Như không hề thấy. Như đã là những sợi khói bay đi trong sương khuya huyền hoặc. Em cũng trở về thành phố sao. Chắc em không thể nào nhận ra anh. Thôi em cứ ngồi vào góc đó đi. Cứ ngồi xuống đi em. Ta gặp nhau như thế này là quá đã. Cần gì em phải biết có anh ở trên một chuyến tàu chạy rất chậm, rất chậm, rất chậm, như thế này. Que diêm đã bật cháy rồi. Cũng như que diêm anh đã hồi sinh. Nhưng cũng như que diêm, anh chỉ hồi sinh được trong khoảnh khắc thôi. Như mắt em khẽ chớp một hôm nào trong rừng tranh xào xạc nắng ngây trưa. Hãy ngồi xuống đi em. Cho anh được ngắm nhìn lại quá khứ của mình dù quá khứ rất mỏng manh. Nhưng vẫn là quá khứ với những năm tháng thấy dài hơn sự sống. Thấy điếng lặng hồn chiều thao thiết nhớ quê hương. Nhớ thành phố, con sông anh đã lớn lên với bao nỗi vui buồn. Nhưng khi bước chân về thành phố quê hương, anh lại phải ra đi. Để đến một thành phố xa lạ khác. Để làm gì. Không hiểu được. Để sống ở đó và tâm hồn luôn vọng về một nẻo nào xa vắng: Quê hương. Và em nữa chớ. Phải không Liêu. Làm sao anh không nhớ Liêu cho được. Bởi vì trong một giây phút thiêng liêng nào đó ta trót gặp nhau, nhìn nhau, thì khoảng không-thời-gian đó sẽ mãi dừng lại muôn đời trong bốn con mắt, trong hai trái tim và trong nỗi thao thức không cùng của con sông đi những bãi triều mòn mỏi suốt thiên thu. Em hãy ngồi xuống đó đi Liêu. Ngồi xuống đi em và hãy lắng nghe trái tim mình đập như tự thuở nào. Nhưng làm sao em biết anh có mặt ở trên chuyến tàu này. Nó dài lắm phải không. Và chạy rất chậm. Nhưng làm sao anh dám nói với em là chính anh đang ngồi trước mặt em. Đang nói với em. Có lẽ vì anh đã mang một vết thương rồi. Liêu ơi, ai sinh ra đời mà lại không mang một vết thương. Anh hèn nhát quá phải không. Anh ích kỷ quá phải không. Tất cả những gì xấu xa anh xin nhận lãnh. Nếu sau này linh hồn em sẽ bừng hiện mà nói cùng em rằng đêm hôm đó… trên chuyến tàu vô Nam đó, chính là anh. Anh đang ngồi cùng em trên một chuyến tàu để cùng xa cách quê hương. Nhưng thực ra chính vì muốn gìn giữ một cái gì… mà anh đành câm lặng. Ai sinh ra đời mà không mang một vết thương. Anh có sợ gì vết thương đâu. Chỉ sợ linh hồn em đau xót. Thế thôi. Chắc gì sau này ta sẽ gặp nhau. Nhưng thôi. Liêu ơi. Để anh cố quên
            – Không sao đâu em, có qua đây, cứ ngồi xuống băng đi.

BÁC TƯ nói, “Có quen với cậu đó hả” bác Tư chỉ đến Vũ. Cô gái ngồi nhìn sững sờ không biết đầu đuôi ra sao và có vẻ e thẹn.
            Vũ vội nói, không quên đưa bàn tay xòe phủ lên phái má trái:
            – Chắc cô ấy cũng ở trong tình cảnh như cháu, bác làm ơn giúp cho cô ta.
            Bác Tư là người kiểm soát vé xe, nhân dịp nghỉ phép về thăm bà con. Bạn Vũ là cháu của bác liền giới thiệu nhờ bác đưa Vũ vào một tỉnh ở miền Nam nơi đó Vũ có người bà con. Bởi Vũ mới tản cư về thiếu giấy tờ hợp pháp ở dưới này. Cũng may mà Vũ gặp bác Tư. Bác thật là tốt và hiền lành. Dù tuổi già bác vẫn còn có một nụ cười thật tươi và phúc hậu nữa là khác.
            Cô gái không hiểu sao Vũ lại ra tay giúp cô ta làm chi vậy. Có mục đích gì chăng? Khi ngồi xuống một góc rồi cô ta mới định thần nhìn kỹ vào Vũ và bác Tư. Cả hai đều xa lạ. Bỗng dưng lại đòi cứu giúp cô. Thật là lạ. Cô đang phân vân tự hỏi thì viên kiểm soát đến. Y rọi ngọn đèn pin từ góc này đến góc kia, hỏi giấy người này người nọ.
            Bác Tư liền chỉ vào Vũ và cô gái, nói:
            – Ông anh ơi, đây là hai đứa cháu của tôi. Tản cư mới về. Tôi đưa về trỏng xin giấy tờ.
            Khi ngọn đèn pin của viên kiểm soát qua khắp toa tàu một lần nữa và bóng y khuất sau cánh cửa mở ở toa sau, cô gái bỗng có một cảm giác bàng hoàng, e thẹn và nỗi tủi hổ xót xa như chận đứng ở ngực nàng. Trước mặt nàng chàng thành niên kia – Vũ – như là một điều gì không sao hiểu được. Nàng tự hỏi đó là một người tàn tật chăng? Khuôn mặt không có vẻ gì bình thường như mọi người. Nơi má trái dưới con mắt sưng lên no tròn bóng lưỡng, con mắt bị híp lại như mắt heo nhắm lại nhưng lại phồng lên. Cái mặt như thế thoạt trông vừa thấy dễ sợ vừa thấy lấy làm lạ không hiểu tại sao. Bởi vì nếu bị thương sao không thấy băng bó gì cả mà cũng không có một tí thuốc đỏ nào cả. Còn tàn tật chăng? Cô gái chưa bao giờ thấy một người nào bị tật lạ kỳ như vậy. Thế mà đã là vị ân nhân của nàng. Vài phút sau khi viên kiểm soát đi qua, cô gái quay mình lại nhìn ra ngoài khung cửa. Cùng lúc con tàu chạy chậm lại và một hồi còi lanh lảnh thét lên giữa đêm khuya. Ánh trăng vẫn mờ nhạt càng huyền ảo hơn khi cô gái nhìn thấy những sợi khói bay dọc theo toa tàu. Và một điều mà cô gái cảm thấy mạnh hơn hết trong lúc này là chuyến tàu chạy quá chậm. Nàng muốn lúc này nó đến ngay nơi nàng định xuống. Nàng muốn làm một người vong ân, không biết đến ai và chạy đi mất. Thế là xong. Khỏi cần ái ngại vẩn vơ gì cả. Bây giờ chàng thanh niên đã đi đến ngồi một góc khác sau khi thương lượng với một người đã ngồi ở đó. Như vậy chàng ngồi ở một góc lệch với nàng. Và như thế nàng không sao nhìn thấy khuôn mặt kỳ dị của chàng thanh niên đó nữa. Nàng tự hỏi: “Có phải y lẩn trốn mình không?” “Như thế càng đỡ cho mình”. Bởi vì nhìn vào cái mặt đó không ai mà không tự hỏi điều này lẽ nọ cho được. “Nhất là y lại đã giúp mình. Thời buổi này có được một người giúp mình đâu phải là một chuyện thông thường. Thôi. Cũng xong. Cứ ngủ một giấc cho khỏe”.

THAY ĐỔI chỗ rồi, tâm hồn Vũ mới cảm thấy lắng xuống để nghĩ đến một cái gì hiện không có ở đây và cũng không làm sao có thể có được ở đây. Nhưng nó đã có trong ý nghĩ đuổi bắt, hồi tưởng của chàng ngay trên toa tàu hạng ba đông đảo này. Bởi vì ngay tại nơi đây vết thương chàng bừng lên qua sự thôi thúc của một vết thương sâu hơn, kín đáo hơn. Vết thương ấy đã kết thành từ ngày chàng còn lạc lõng bơ vơ ở vùng từng núi miền Trung nước Việt thân yêu. Những đồi tranh. Những rú cát. Những tháng ngày chờ đợi… tưởng không bao giờ nguôi ấy cũng chỉ để vọng về một nẻo không gian quen thuộc: Quê hương. Và quê hương ơi, trong lòng chàng cũng đã trở thành là một vết thương sâu thêm, kín thêm và còn mãi như quê hương đã mang trong nỗi buồn gục ngã của bao mái đầu xanh. Tự nhiên Vũ nhớ đến Alan Paton, một nhà văn Nam Phi, gốc người Anh nhưng lại đứng vào hàng ngũ những người Nam Phi da đen chống lại nạn kỳ thị chủng tộc. “Hãy khóc đi hỡi quê hương thân yêu” đó là nhan đề một cuốn tiểu thuyết lớn của Alan Paton mà Vũ, cũng như Alan Paton, muốn gào thét lên cho nhân gian biết rằng “Quê hương đang khóc than đó” các người con của quê hương sẽ làm gì? “Hãy khóc đi hỡi quê hương thân yêu” Hãy khóc đi Liêu. Hãy khóc đi Vũ. Vì ít lâu nữa chuyến tàu sẽ đến nơi chúng ta muốn. Và anh sẽ bước đi. Em sẽ bước đi. Trên mặt đất bơ phờ, xa lạ. Trần gian muôn đời vẫn là trần gian chung. Nhưng Liêu ơi, em muôn đời vẫn là của riêng anh. Dù một lát nữa thôi. Anh sẽ bước đi. Em sẽ bước đi. Trên một thành phố xa lạ. Dáng điệu bơ phờ, mỏi mệt. “Hãy khóc đi hỡi quê hương thân yêu”.

GIỮA VÙNG rừng núi miền Trung, một buổi trưa nắng chàng thanh niên lầm lũi bước đi. Nắng trưa gay gắt xuyên qua kẽ lá rừng cây phản chiếu lại những giọt sương long lanh trên cành lá khiến khu rừng như một biển kim cương chấp chới, chấp chới. Con đường mòn cát lún xuống dưới bước chân nặng nề cơ hồ như rời rã của chàng. Bởi vì chàng đã bách bộ từ sớm tinh sương cho đến giờ. Một công tác khẩn cấp mà chàng phải thi hành. Và chàng đã đến khu rừng này vào một buổi trưa. Nắng tuy chói chang nhưng nhờ cây rừng rậm rạp hai bên nên không nóng bức mấy. Thỉnh thoảng đồi tranh nghiêng ngả như những dợn sóng nhấp nhô và một làn gió thật mát rượi thật khỏe khoắn thổi đến người chàng. Phấn khởi chàng hát lên và khu rừng đã hoang vắng như lại càng đứng lặng bất động chỉ còn tiếng hát vui tươi của chàng vọng lên như để cùng hòa điệu với tiếng chim ríu rít vang lừng.
            Qua khỏi khúc quanh khu rừng rậm lá đến một đồi tranh với rừng chồi bát ngát chạy thẳng về chân núi Tà Lung phía phải. Trước mặt chàng con đường cát đỏ thẳng tắp hiện ra với ánh nắng chói chang như vừa thoát được sự kìm hãm của cây rừng nắng sáng hồng lên với con đường đỏ, với rừng tranh vàng úa, với cơn gió hiu hiu như từ một cõi nào xưa cũ lắm thổi về đây. Hốt nhiên chàng đứng khựng lại. Đối diện với chàng ở cuối đường bỗng sừng sững hiện lên hình bóng một người con gái. Nàng chỉ mặc bộ đồ bà ba đen. Thật giản dị. Nhưng hai con mắt. Hai con mắt diệu vợi và sâu trầm. Và đôi má như hồng lên với mầu cát đỏ dưới chân thon với mầu vàng úa của rừng tranh già cỗi và nhất là với mầu nắng gió như của một cõi nào xưa cũ lắm thổi về đây. Nàng thật mảnh mai. Vậy mà một mình giữa khu rừng hoang vắng. Nàng mang một chiếc xắc. Vậy thì thêm một hình ảnh đẹp nữa. Nàng đi khâu vá vết thương cho những kẻ “nguyền đi khâu vá cơ hàn mai sau”. Như thế làm sao một kẻ mới tập tễnh làm thơ như Vũ không thấy cõi lòng bôn chôn cho được. Chàng đứng lại một lát lâu. Hai bàn chân như mỗi lúc lún sâu dưới cát mềm. Nàng cũng đứng lại một lúc nhìn chàng, bàn tay phải vịn vào chiếc xắc ngang hông, bàn tay trái đưa lên gạt nhẹ mái tóc dài bay tung ra trước, bởi một cơn gió mạnh từ sau lưng nàng thình lình thổi đến. Nàng thật là mảnh mai.

THẾ LÀ Vũ đành phải quay trở lại. Thế là Vũ đã thua. Nhưng thua một người con gái còn nghìn lần hơn thua kẻ thù dân tộc có phải không. Vũ cứ bước đi. Nàng cứ bước đi. Thỉnh thoảng mái tóc dài tới thắt lưng của nàng vụt tung lên như đàn chim sẻ bị tiếng động vụt bay tung lên. Lủi thủi theo người con gái được một đoạn đường khá xa thì Vũ bỗng sực nhớ đến phận sự mình. Cũng đến hơn hai cây số là ít. Đến trước đoạn rừng sâu tối hơn quẹo về phía trái, cô gái bèn đứng lại và quay hẳn người lại. Nàng đứng đó. Như một bức tượng uy nghi. Bốn con mắt có dịp phản kích lẫn nhau. Vũ cũng đứng lại và gương cặp mắt không chớp. Có lẽ đó là lần thứ nhứt trong đời chàng thấy mình quá can đảm như vậy. Từ bao giờ đối với những người con gái, chàng chỉ “lẽo đẽo” theo sau và khi bắt gặp người ta ngoảnh lại thì hối hả quay đi y như một kẻ trộm tẽn tò bị bắt giữa đám đông. Có gì lạ lắm đâu. Bởi vì người con gái đẹp quá. Và cái không khí “ngày trưa” của rừng tranh bát ngát đã làm tăng thêm sự can đảm cho Vũ không ít. Thật ra thì trong tâm hồn của Vũ lúc đó như đã say. Đã chín mùi đến cái độ phải rụng xuống. Nghĩa là cứ lẽo đẽo theo sau người con gái mà không biết tại vì sao. Nhưng rồi cơn say cũng phải tỉnh. Và Vũ đành đứng lại khi bóng người con gái khuất dần vào khu rừng sâu tối. Nàng đã nhìn Vũ thật lâu. Bốn con mắt. Đó là một điều kỳ bí.

PHẢI ĐI trở lại đoạn đường vắng vẻ khá xa lần thứ hai với một tâm trạng nôn nao, mất mát, tiếc nhớ, khiến bước chân chàng như sâu lún dưới cát mềm. Đến phút này chàng mới cảm thấy ở cổ mình như bị nóng bỏng. Nhưng đến đoạn đường mà người con gái bỗng hiện diện, chàng không quên nhìn xuống dưới đường để tìm kiếm dấu chân nàng. Sau này, hồi tưởng lại chàng đã có dịp viết một bài thơ về dấu chân trên cát đó. Bây giờ thì chàng không nhớ gì. Nhưng lúc chàng viết, đó là một bài thơ có vần điệu đàng hoàng. Đại ý diễn tả nỗi tiếc nhớ, mất mát về cái hình ảnh bàn chân in trên cát sẽ bị chôn vùi trong quên lãng của thời gian. Nhưng không làm sao quên được, bởi vì một lần những bàn chân thật sự bằng máu xương hồi hộp, rung chuyển đã dẫm lên đó. Đoạn kết bài thơ còn nói đến một hình ảnh bi đát của cuộc đời. Đó là một bàn chân của một người con gái tuyệt đẹp dẫm lên cát lẫn lộn với những dấu chân cọp giữa khu rừng hoang vắng được nổi tiếng là nơi nhiều cọp hơn hết ở vùng đó. Bây giờ và cả lúc viết bài thơ đó, Vũ cũng không làm sao diễn tả được cái tâm trạng của mình khi thấy bàn chân cọp năm móng sắc bén in bên cạnh bàn chân năm ngón thon muốt dịu dàng và cái gót chân hẹp lại ở phía sau một cách tròn trịa. Một cách không gì quên được. Nhưng mà hiện giờ thì bài thơ đó Vũ đã quên. Chàng chỉ còn mang máng nhớ lại hình ảnh hoang vu của khu rừng vắng vẻ và những dấu chân. Và bốn con mắt. Đó là một điều kỳ bí…

VÀ CHUYẾN TÀU rất dài qua đêm trăng mờ huyền hoặc đêm nay cứ chạy mãi không ngừng. Nhưng chạy với một tốc độ – mà theo Vũ – thì rất chậm, rất chậm, rất chậm, rất chậm…

            Anh Vũ.
            Tự kềm chế lòng mình mãi nhưng rồi sau cùng em cũng phải viết cho anh bức thư này. Thật ra thì đối với anh, em chỉ là một kẻ lạ, chỉ gặp nhau một lần có gì mà phải thư với từ cho nó mệt ra. Trong khi chúng ta còn phải làm một cái gì cho quê hương đang ngút ngàn lửa khói. Và giặc Pháp vẫn còn trên xứ sở thân yêu của chúng ta có phải không anh?
            Nhưng em phải nói rằng em đã có dịp biết anh và nghe nói đến anh nhiều lắm. Chắc anh làm gì nhớ đến em khoảng thời gian gặp gỡ giữa rừng tranh. Để em sẽ nhắc cho anh rõ.
            Anh còn nhớ cái đêm mà mấy người bạn đưa anh vào nhà má Tám ở Tà Dương không? Đêm đó em đã nghe thấy cái hơi nóng ấm áp của thân thể anh. Đó là lần đầu tiên trong đời em. Bây giờ anh nhớ ra rồi chứ? Anh bị bịnh thông manh nên về đêm cặp mắt không trông thấy được gì. Đêm đó kẻ thù bỗng làm cho chúng ta gần nhau hơn. Đôi khi kẻ thù cũng có ích chứ anh nhỉ. Đại bác ở đồn Ma Lâm bắn lên vùng chúng ta trú ngụ. Và dù muốn dù không em phải dắt anh chạy ra hầm trú ẩn. Lúc đó mà anh cũng e thẹn nữa chứ. Rõ là thi nhân có khác. Em phải giục anh, anh mới nắm chặt tay em và hai đứa mình chun xuống hầm trú ẩn trong khi đại bác nổ vang rền ở xung quanh. Thật ra, lúc đó, trong lòng em cũng đã nổ tung. Chỉ cần… Nhưng sợ anh hiểu lầm. Sao anh điềm tĩnh, dửng dưng thế nhỉ. Vậy mà anh lại làm thơ. Cũng lạ. Nhưng em không trách gì anh, bởi vì em cũng nghĩ đến cặp mắt mở to mà bóng tối vẫn là bóng tối, đó là một điều mà chính em cũng không sao chịu nổi. Chỉ thiếu sinh tố thôi mà. Đôi khi những điều vụn vặt như thế cũng làm cho đời sống đau khổ nhiều hơn. Và quê hương nữa. Sao những bài thơ của anh thường nói đến hai chữ Quê Hương thế nhỉ. Quê hương bây giờ đã bốc khói. Và chúng ta sống ở đây, nơi cuối bãi đầu ghềnh để từng đêm nghe trong cơn gió hắt hiu tự chốn nào thổi về vi vút bên tai như nhắc nhở cái tên quen thuộc: Quê hương! Quê hương!
            Anh Vũ ơi.
            Thế là từ đây anh đã biết em rồi đó. Nhưng từ đây anh cũng sẽ mất em trong cái xung động bốn bên của xóm làng lửa khói. Anh hãy quên em đi. Nếu cần, anh sẽ nhớ đến em qua hình ảnh “rừng tranh khởi nắng ngày trưa”, vậy là quá đủ rồi. Được thư này chắc anh không thể nào gặp em nữa. Giữa những cuộc riêng, chung rời rã, đôi khi người ta cũng phải biết mỉm môi lại để quên đi những nỗi niềm riêng… Phần em, suốt đời em sẽ nhớ mãi cái buổi trưa hôm đó. Em sẽ mang theo làm vốn liếng…
            Thư đã quá dài phải không anh. Nhưng anh hãy đọc lại đi nha. Nếu cần thì đọc mãi suốt một đời mình. Nếu cần thì quên phứt đi. Riêng em thì vẫn là em. Nghĩa là chỉ thực sự làm thân con gái vào một buổi trưa. Ôi một buổi trưa hiu hắt và nghìn trùng đến thế.
            Thôi xin tạm biệt (hay vĩnh biệt) cùng anh.
                                                Lê Thị Hằng Liêu


o0o

GIỮA NHỮNG tiếng ồn ào rầm rập của những bánh xe lăn, Vũ vẫn cảm thấy bức thư của Liêu thành ra một tiếng động lớn hơn và dần phủ xuống thân thể chàng. Chàng thu hình lại, như cố che dấu cái khuôn mặt của mình. Nhưng người con gái bây giờ đã khuất lấp, bởi cách một góc chéo giữa toa tàu đầy ắp những người, hành lý, gà vịt, cá mắm.
            Chàng đưa tay lên sờ vào phía dưới mắt trái. Chàng không còn có cảm giác gì nữa. Tất cả chỉ còn lại một sự tê nhức. Tất cả chỉ còn lại một chuyến tàu chạy rất chậm, rất chậm, rất chậm. . . . . . Vũ lầm thầm: “Nếu cần thì sẽ đọc mãi suốt một đời mình”. Vâng, anh sẽ đọc mãi mãi bức thư suốt một đời mình.
            Trong cái tâm trạng mệt mỏi, tê nhức và sần sượng cùng khắp thân thể, phút giây đó Vũ muốn mình biến thành những sợi khói. “Vâng, những sợi khói chỉ một đêm nay”.


HOÀI KHANH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 20/05/2017, 16:24:25
VĂN CHƯƠNG KỊCH TIỀN PHONG VÀ CHÚNG TA

NHỮNG VẤN ĐỀ văn nghệ âu mỹ thì nhiều lắm, nhưng vào giữa thế kỷ hai mươi có hai vấn đề lớn trong một số vấn đề lớn khác: là vấn đề văn chương kịch tiền phong (littérature dramatique d’avant-garde) và vấn đề tiểu thuyết mới (nouveau roman). Tôi xin nói hai vấn đề trên trước: nói nó là một vấn đề cũng được mà nói nó là một hiện tượng văn nghệ cũng được: nó đương trưởng thành ở Âu Mỹ.
            Nó phát sinh vất vả lắm. Nhưng tới lúc trưởng thành thì nó lại chóng… lớn: nó lớn vùn vụt, lớn ngang tầm nhận định và tầm thông minh của người âu mỹ, nhưng tốc lực trưởng thành của nó lại đi quá tầm thông minh và hiểu biết của người Việt Nam – nói trí thức giới Việt Nam thì đúng hơn. Nói vậy bởi vì thế nào thì nó cũng… qua đây, cũng như ngày xưa những chủ nghĩa lãng mạn, tả chân… đã qua với ông bà chúng ta với chính chúng ta vậy: hiện thời “hành trình” của nó qua Việt Nam đương dè dặt – có thể nói là chưa có hình bóng nó thì đúng hơn – nhưng ở Đông Kinh bên Nhật Bổn chẳng hạn thì nó đã nghênh ngang và có vị trí rồi.
            Lãnh tụ văn nghệ của phong trào văn nghệ kịch tiền phong ở Pháp là các kịch gia Ionesco, Adamov, Beckett, vân vân. Những vở kịch điển hình của nó là: En attendant Godot của Samuel Beckett, La cantatrice chauve, Les chaises, vân vân của Eugène Ionesco vân vân. Cũng nên thêm La balcon chẳng hạn của Jean Genêt là một kịch gia thi gia văn gia được Jean Paul Sartre thương lắm, quí lắm… Cách đây chừng năm mười năm, khi Beckett và Ionesco… viết xong kịch của họ và đưa cho các nhà sản xuất và các chủ rạp dựng… thì chúng khẩu đồng từ, đủ một trăm phần trăm các chủ rạp và sản xuất gia… từ chối – không những từ chối, lại còn xuống “sắc lệnh” rằng những kịch gia ấy, hoặc họ điên, hoặc họ đùa… dai, hoặc họ chọn sai lúc để mà ỡm ờ – có người lại cho rằng kịch gia mà ỡm ờ với chủ rạp như vậy thì nên liệng bình mực vào mặt họ… và nhốt họ lại ít lâu cho tâm trí họ lấy lại thăng bằng…

NHƯNG IONESCO và Beckett… là những văn thi sĩ rất cứng cổ – cứng cổ với chính mình và với người – và rất lỳ. Vừa lỳ, vừa kiên tâm: như Beckett chẳng hạn thì có đủ mười hai giờ trên mười hai giờ của một ngày có mặt trời để mà ngồi lỳ… lỳ, đăm đăm nhìn trước mặt mình… nhất định không nói nửa tiếng với bạn bên cạnh mình, kể cả là tri kỷ tri âm. Họ đủ can đảm ngồi như vậy – lỳ lợm, phóng biếm (cynique), kiên tâm, khinh người – người á đông xưa của chúng ta thì gọi là khinh thế ngạo vật… Nhưng đến cách đây vài năm… bỗng nhiên những vở kịch En attendant Godot, Les chaises, La cantatrice chauve, Rhinocéros… lại diễn khắp Âu châu, Mỹ châu – diễn liên tiếp và thường trực hằng sáu tháng, chín tháng, một năm, hai ba năm…

IONESCO, BECKETT, GENÊT… bỗng nổi tiếng như cồn. Kịch phẩm in ra bán rất chạy – còn kịch thì dựng và diễn rất lâu thì đó là lẽ dĩ nhiên rồi! Tác giả từ chỗ nghèo… đói trở nên giàu có – giàu có nhưng tiền thì mặc kệ tiền, nếp sống vật chất thì vẫn lôi thôi như xưa, như khi chưa nên danh vọng vậy. Rạp hát đông nghịt. Khán giả như nước áo quần như nêm…

ĐẦU ĐUÔI như vậy.
            Vậy chứ bên Âu Mỹ, sao lại có chuyện lạ như vậy? Lạ ở chỗ đám viết kịch không ai đọc, trừ tác giả. Lạ ở chỗ tác giả cứng đầu và cứng cổ… Lạ ở chỗ bỗng nhiên gió ngược chiều thổi lại… Văn nghệ từ chỗ đương là quái thai trở nên mang tính chất rất “nhân văn” (humaniste) – các nhà phê bình kịch đi từ một thái cực đến một thái cực: nghĩa là từ chỗ “liệng bốn sự thật”… vào mặt tác giả đến chỗ trầm trồ tác giả – cách nhau mấy năm.

NHƯNG CÒN khán giả? Đây mới là trường hợp chính yếu: từ chỗ rạp hát vắng như bãi tha ma đến chỗ rạp hát đông như kiến, đông như nêm cối, là vấn đề… số khán giả đi xem kịch… Họ không tới thì phong trào văn nghệ tiền phong là phong trào chết ngay trong trứng – mà họ tới đông thì phong trào lên – và được gọi là tiền phong (avant-garda) – xin nói lại họ là khán giả, họ quan trọng – họ nắm quyền sinh sát văn nghệ.
            Vậy chứ tâm lý họ là tâm lý gì và tại sao lại có chuyện biến chuyển tâm lý lạ như vậy – đột ngột đến cỡ ấy?

THÌ RA khí hậu xã hội (climat social) đã đóng một vai chính trong vấn đề biến chuyển tâm lý ấy. Hai cuộc chiến tranh và viễn ảnh một cuộc tự sát đã làm họ không tin tưởng ở giá trị của thứ tự có sẵn – ordre établi – dù là thứ tự văn hóa. Họ tìm cái mới để tìm những giây phút lạ cho tâm hồn – lối thoát của vài giờ cũng vẫn là lối thoát. Đồng thời tiềm thức của họ cũng phản ứng lại những giá trị văn nghệ (valeurs artistique) truyền thống đã không làm đủ vai trò xã hội và lịch sử (mission sociale et historique) của văn nghệ. Tiềm thức họ nói với họ: tưởng đâu nghệ thuật truyền thống và cổ điển đã tham dự vào việc xây dựng một xã hội có công lý và thái bình, nào có ai dè: ai cũng như ai, gì cũng như gì… tiềm thức nói kín đáo và nói nhỏ cho nên chủ quan không nghe hết lời “tâm sự” của tiềm thức. Một sớm, thói quen văn nghệ tiền phong thành một phong trào và đóng vai trò của nó: lôi cuốn. Thời trang (mode) và sự “a dua” (snobisme) can thiệp vào nữa… Đã vậy, sự khủng hoảng về tâm hồn, sự xao xuyến (angoisse metaphysique) nấp trong chỗ sâu xa nhất của tâm hồn lại được những vở kịch tiền phong giải quyết cho một phần lớn.
            Và đồng thời, một trong những phương diện tâm lý chủ quan cũng đã góp phần cho kịch tiền phong phi lýbí hiểm ấy nẩy nở vùn vụt một cách dễ dàng. Những dân tộc Âu Mỹ là những dân tộc thừa thãi về… dân chủ, về văn minh…: họ có dư không – thời gian – nếu có thể nói vậy – và có dư cả tiềm lực nhân sinh – tiềm lực chìm cũng như tiềm lực nổi – để hưởng thụ, để thưởng ngoạn về nghệ thuật… Con người dư dật và thừa thãi… thường là con người sắm đồ trang sức và xa xỉ phẩm: Françoise Sagan hay Ionesco… hay những bức tranh lập thể và phi hình dung (non-figuratif), đối với họ có thể là những món đồ xa xỉ phẩm về văn nghệ: một cuốn Bonjour tristesse hay một vở kịch đầu voi đuôi chuột Les chaises của Ionesco chẳng hạn lấp cho họ những chỗ trống trong tâm hồn những kẻ dư ăn dư mặc ăn không ngồi rồi… Cũng nên hiểu là sự phong phú tràn trề, sự phè phỡn, sự giàu sang quá giới hạn… cũng gây khủng hoảng cho tâm hồn. (Tâm lý nầy hiện đương diễn ra ở Âu Mỹ trong giới trí thức.) Ấy là chưa nói rằng đứng trên bình diện xã hội (sociologique) người Âu châu chẳng hạn có thể coi như là đã thuộc về những dân tộc đi gần hết giai đoạn trưởng thành biện chứng của Lịch sử toàn diện một quốc gia – giai đoạn mà Hegel gọi là một moment nécessaire du processus và cũng đã “mang” đủ cái mà chính Hegel cũng gọi là Esprit historique – chờ ngày tận hiện sắp tới của một quá trình biện chứng, để qua một quá trình khác. Một trong những đặc tính của các giai đoạn ấy là sự trưởng thành, già lão, sự thừa thãi… triệu chứng của một sự đe dọa… nào đó sắp tới. Những dân tộc ấy, trong sự diễn tiến lịch sử, cần “ngoại hiện” những sự đòi hỏi, những nhu cầu kín đáo hay là bộc lộ. Tất cả những phát hiện của nghệ thuật phi lý có thể chỉ là sự thỏa mãn những đòi hỏi ấy…
            Ai công kích Hegel thì cứ công kích, tôi thấy Hegel vẫn là một uy tín lớn về trí thức của lịch sử…

TRÁI LẠI, người Á đông là người còn thiếu… nhiều: thiếu những đòi hỏi căn bản về dân chủ trên phương diện chính trị – tôi trừ Trung cộng và Nhật Bản và hai trường hợp riêng – thiếu máy lạnh, thiếu máy vô tuyến truyền hình… thiếu những máy nguyên tử… thiếu nhiều lắm: họ vội vàng hấp tấp lo lấp những chỗ trống… họ lo tìm cho đời họ, cho dân tộc họ, cho cá nhân họ… cái mà người ta có thừa thãi, cái mà chính họ chưa có – công đâu, hơi đâu, thì giờ đâu, mà… sắm xa xỉ phẩm, hưởng thụ xa xỉ phẩm, thưởng ngoạn những đồ trang sức… trừ những kẻ đã giàu có trên lưng dân tộc rồi! Ionesco, Jean Genêt v.v… mà có qua được đến đây cũng khó có đất đứng – ấy là chưa nói rằng người Á Phi chưa có một tâm lý “dư dật” để phù hợp với sự thưởng ngoạn nghệ phẩm phi lý… thì nghệ phẩm phi lý không thể có đất để trưởng thành…

Ở VIỆT NAM “gió” tiền phong ấy chưa “thổi” tới: thoại kịch thông thường ở đây mà còn chưa phát sinh được – huống là thoại kịch tiền phong!! Thật ra, kẻ viết bài Hồ sơ văn nghệ này đã đọc nhiều kịch tiền phong, tin tưởng rằng giá có “truyền nhiễm” được… đến đây, chúng cũng sẽ có số phận của một cái thai chưa thành hình đã… chết. Vì…
            Vì không có gì cụ thể và chứng minh bằng diễn ra đây vài đoạn đối thoại của kịch tiền phong, độc giả sẽ tự tìm lấy câu trả lời của băn khoăn vậy.

            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            Ông Martin Bánh là một cái cây to trong khi mà bánh là một cây to, và một cây sên sẽ phát sinh từ một cây sên, sáng nào cũng vậy, vào buổi bình minh…
            Bà Smith Chú tôi sống ở nhà quê nhưng cái đó nào có ăn nhập gì đến bà mụ.
            Ông Martin Giấy để mà viết, còn con mèo là để bắt chuột cống. Miếng phó mát là để cào…
            Bà Smith Xe hơi đi lanh lắm, nhưng con sen nó nấu ăn ngon hơn.
            Ông Smith Nào, đừng có làm mặt thộn thế kia, bà nên hôn cái anh phiến loạn.
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            Bà Smith Ồ suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối như vậy, suối gì mà suối vậy kia… thác nước gì mà…
            Ông Martin Trời đất ơi, suối gì mà mà hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy – hàng dây suối như vậy – dài dằng dặc không biết cơ man nào là thác nước là suối…
            Bà Smith Những con chó có bọ chó, những con chó có bọ chó.
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            Bà Smith Những con chuột có lông mày, những lông mày không có chuột.
            Bà Martin Đừng đụng đến giày ký long của tôi.
            Ông Martin Đừng có rục rịch giày ký long.
            Ông Smith Rờ con ruồi đi, đừng cho sự rờ mó nó hỷ mũi.
            Bà Martin Con ruồi rục rịch.
            Bà Smith Cái miệng của bà phải hỷ đi.
            Ông Martin Để cho cái đập ruồi nó hỷ mũi, để cho cái đập ruồi nó hỷ mũi.
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –
            – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –

NHỮNG CÂU đối thoại ấy trích trong kịch phẩm La cantatrice chauve của Ionesco. Đầu voi đuôi chuột. Đầu ngô mình sở. Ngây ngây ngô ngô. Ngớ nga ngớ ngẩn. Nhân vật điên không ra điên, khùng không phải khùng… nói những câu của những người như loạn trí, và nói với nhau như hai người đau thần kinh… đối thoại với nhau… Cái kiểu nói như vậy diễn ra trong hai giờ, ba giờ – khán giả âu mỹ cứ chịu khó… coi như thường. Coi kịch. Nghe kịch… Thưởng ngoạn kịch… Mô phật!
            Và kịch như thế – viết làm sao, dựng làm sao, diễn làm sao, rạp nào, khán giả đông hay thưa, phát sinh cách nào, trưởng thành ra sao – tôi đã trình bày ở trên rồi! Quả tình tôi viết bài nầy là để cho trí thức giới Việt Nam biết qua một câu chuyện văn nghệ ở Âu Mỹ hiện thời – ra sao, thế nào, làm gì. Rồi bạn đọc của tôi sẽ phê phán, phán đoán lấy – và sẽ tìm hiểu coi là kịch tiền phong có qua đây như xưa kia trước kia văn thơ lãng mạn, văn thơ tả chân, văn chương duy nhiên, văn thơ tượng trưng, văn thơ siêu thực… đã hơn một lần theo làn sóng văn hóa âu mỹ qua đây – tạo ra Hoàng Ngọc Phách, Xuân Diệu, Huy Cận, Nhất Linh, Khái Hưng, Vũ Trọng Phụng, Xuân Sanh, Đoàn Phú Thứ… vân vân hay chăng! Ai tin được văn thơ kịch Việt Nam sẽ tiến hóa đến… tiền phong thì cứ tin. Tôi – đứng trên cương vị một nhà văn nghệ – tôi xin phép quí bạn cho tôi tạm xưng như vậy – thì tôi không tin… một chút nào.
            Huy Cận đã một lần tin… bậy như vậy nên mới viết Kinh Cầu Tự bằng một lối văn cầu kỳ bí hiểm phi hình dung rồi lớn tiếng nói rằng: “Tôi viết cuốn Kinh cầu tự là may một cái áo rộng thênh thang – độc giả của tôi sau nầy lớn lên… mặc là vừa!” Huy Cận có ý cho rằng ngày đó không ai hiểu cái bí hiểm của Huy Cận thì vài ba chục năm sau sẽ… hiểu Kinh cầu tự.
            Không ngờ ngày nay Kinh cầu tự của Cận chết theo chất thơ tiền chiến của Cận – người ta quên mất và quên đứt Kinh cầu tự, người ta vượt Kinh cầu tự. Và…: Hoặc là lịch sử vượt lên trên sách Cận. Hoặc là lịch sử rẽ ngã khác…
            Cận tính sai một nước cờ văn nghệ – sách Cận hoặc làm trò cười, hoặc chỉ làm tài liệu… nghèo mà thôi. Hẳn Cận đã “giác” về nghệ thuật Kinh cầu tự của mình rồi chứ gì!

CÓ NGƯỜI gọi kịch tiền phong là kịch phi lý (théâtre de l’absurde). Riêng Ionesco thì gọi kịch của chàng là phi kịch (anti-pièce) nghĩa là kịch tiền phong không nói gì cả – không có nghĩa lý gì cả – nhưng đồng thời “phi kịch” mà lại dùng hết tất cả kỹ thuật sân khấu – để lên sân khấu – nghĩa là để dựng, để ra đời…
            Ý của các kịch gia tiền phong là muốn đem câu nói của chị Năm ngã ba chú ía, của con sen, của bác phó rèn… của người đổ thùng… nói mỗi ngày, rời rạc, đầu voi đuôi chuột, cũng như… cuộc đời vậy… lên sân khấu – đó là kịch, đối với họ.
            Thực ra Ionesco còn muốn dùng kịch tiền phong để lên án giá trị của ngôn ngữ – vì ngôn ngữ là một lợi khí để chở ý tưởng – văn dĩ tải đạo, văn dĩ tải… – nhưng lại là một lợi khí rất thiếu giá trị và tác dụng – chỉ gây hiểu lầm giữa cá nhân và cá nhân, giữa tập thể và tập thể…, giữa dân tộc và dân tộc – nhỏ là một chuyện xung đột vặt, lớn là chiến tranh giết nhau, vừa giết người vừa học luân lý giáo khoa thư và đọc diễn văn nhân bản…!
            Tôi nhớ như đâu đó đã có một kịch gia tiền phong viết câu nầy về kịch tiền phong: “Cétait une condamnation du langage, véhicule très impafait de ce que nous voudrions exprimer”. Ý câu Pháp văn ấy là kịch tiền phong lên án ngôn ngữ – vì ngôn ngữ “chở” ý tưởng người ta một cách… bất túc, một cách… xuyên tạc! Ấy vậy thì đối thoại kịch có đầu voi đuôi chuột – thì có gì là lạ… nào!
            Té ra kịch tiền phong lại là một lợi khí phản ứng của nhà văn hóa – nhà văn nghệ, và kịch gia… phản ứng lại tác dụng tai hại của ngôn ngữ trong lịch sử tiến hóa của loài người: tan vỡ cá nhân, tan vỡ tập thể… tan vỡ vì hiểu lầm, hiểu lầm nên tan vỡ. Chỉ vì ngôn ngữ

TÉ RA ý Ionesco, Beckett vân vân lại là ý cao, ý xa, ý cực vi, ý cực diệu – ý rất siêu hình… – chẳng phải là chuyện… lập dị như thiên hạ tưởng một tí nào!
            Ông Lão Đam, cái ngày ổng nói rằng đạo mà gọi được bằng tên – nghĩa là bằng ngôn ngữ – thì không phải là đạo nữa, là ổng đã đưa ngôn ngữ ra… tòa rồi!
            Và Thái tử Tất Đạt Ta bốn mươi chín năm tu hành không nói một câu nào là suốt bốn mươi chín năm người đã đưa ngôn ngữ… ra vành móng ngựa rồi!
            Mà sao phải chỉ có các bực thánh mới nhìn… xéo giá trị của ngôn ngữ đâu! Bỏ hàng thánh hiền xuống hàng phàm phu, chúng ta có Jean Luc Godard, một nhà dàn cảnh điện ảnh Pháp tên tuổi vào bực nhất và thuộc loại “hiện đại” nhất… cũng đã thiếu… thiện cảm với ngôn ngữ, và thường nói bóng gió xa xôi về cái đẹp của… im lặng (như của thiền phật giáo chẳng hạn). Jean Collet, nói về chàng Godard, một nghệ sĩ mà có kẻ cho là thiên tài, có kẻ lại cho là láo, một nghệ sĩ cho ra đời những nghệ phẩm điện ảnh gây sóng gió như ở Bataille d’Hernani ngày xưa… đã viết: “Et pourtant, on ne peut pas mieux montrer que les mots nous trahissent, que la vie ne peut se réduire au langage, que l’essentiel est ailleurs” – ý muốn nói rằng ngôn ngữ thường… phản phúc, đời sống không phải chỉ ở cái miệng và người ta phải tìm cái cần yếu ở chỗ khác…

TÔI SỰC nhớ xưa kia đã đọc một cuốn sách, còn nhớ một câu ý nói: một vạn sự tan vỡ của nhân sinh đều do sự hiểu lầm – malentendu – mà phát sinh. Mà sở dĩ có hiểu lầm chỉ vì có ngôn ngữ.
            Té ra Phật giáo Thiền tông thật đã đi trên con đường cao nhất – cực vi cực diệu – của phật giáo, của hình nhi thượng của tất cả mọi hệ thống triết học siêu tại hay nội tại: họ ngồi… tuyệt đối họ không nói.


Vào thu rồi
TAM ÍCH

_______________________
TÁI BÚT: Hình như tôi có nói, sau khi nói về vấn đề thứ nhất là vấn đề kịch tiền phong bên Âu Mỹ, tôi sẽ nói về vấn đề thứ hai là vấn đề Tiểu thuyết mới.
      Nhưng tôi tưởng tôi nên khiêm tốn. Đã có hai người làm: người thứ nhất là ông Nguyễn Văn Trung đã viết những chương khảo luận có giá trị về Tiểu thuyết mới trong cuốn Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết do Cơ sở báo chí và xuất bản Tự do ấn hành; người thứ hai là ông Trần Thiện Đạo có công phiên dịch và chú giải bài về Phấn đấu cho một nền tiểu thuyết mới (Pour un nouveau roman) trong tạp chí Văn, một tạp chí có giá trị – tôi được đọc một trong những bài. (Cuốn Pour un nouveau roman tác giả là Alain-Robbe-Grillet do nhà Gallimard ở Pháp ấn hành trong tủ sách Idées.)
      Vậy xin giới thiệu luôn.


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 27/05/2017, 21:28:13
ASOKA, MỘT CHÍNH TRỊ GIA VĨ ĐẠI HAY LÀ NỀN HÒA BÌNH CHÍNH THỰC CHO CON NGƯỜI

CHÚNG TA có thể nói ngay rằng Asoka hay A Dục vương, là một bậc thánh, một vị bồ tát, hay là một sứ giả hòa bình của nhân loại. Bởi vì qua những truyền thuyết Ấn Độ hay Phật giáo, ta có thể nghi ngờ và cho rằng Asoka chỉ là sự tạo hình của thần thoại. Nhưng kể từ năm 1837, một công chức tại sự ở thành Ba La Nại (Bénarès), James Prinsep, đã tìm ra dấu vết và đọc được các chữ khắc trên hai trụ đá hồng ở Delhi và ở Allahabad. Sang năm 1915, lần đầu tiên người ta tìm thấy tên tuổi sáng chói của Asoka ký dưới một trụ cột ở Maski, thì lịch sử đã hé bày cả một thời đại huy hoàng của Phật giáo, đuổi xua hết mọi nỗi nghi ngờ thần thoại về con người cao cả đó. Chúng ta hãy biết ơn các nhà học giả Tây phương.

I.– CON NGƯỜI VÀ Ý CHÍ
            Asoka không phải là một thần linh hiện xuống tự trời cao để ban ơn rắc phúc cho con người xương thịt như chúng ta, ông có mọi lỗi lầm và vui thú của con người, nhưng ông không đứng lại trong đó mà còn đi xa qua rặng bờ giải thoát để đem an lạc tới cho muôn dân. Chặng đường từ một A Dục vương hung ác (Candasoka) sang A Dục vương của Chánh pháp (Dharmasoka), đã được hướng dẫn bởi tư tưởng Phật giáo, như một luồng sáng của hừng đông thổi phà vào bóng tối tất cả vinh quang của sắc màu.

VÀO THẾ KỶ thứ ba trước Tây lịch, Hoàng hậu Bindusara đã hạ sinh một đứa con, lạ lùng thay, không chút đau thể xác như mỗi lần sinh nở, vì thế hoàng tử có tên Asoka (soka: đau đớn). Ngày vua cha từ trần, Asoka là người kế vị. Ông đã mở đầu sự nghiệp mình bằng một cuộc tàn sát hãi hùng: trở về kinh đô Pataliputra và giết hết 99 người anh của mình, riêng người anh kế Tissa trốn khỏi. Cuộc tàn sát này mở đầu cho bao nhiêu hành động hung ác khác làm cho Asoka nổi danh với cái tên Candasoka (A Dục vương hung ác). Nhưng giữa cảnh đầu rơi máu chảy của đêm sâu dày đặc đó, một lóe sáng đã chói lên làm cho Asoka tỉnh ngộ: sau 4 năm chấp chánh, nhân ngày lễ đăng quang, Asoka được một vị Tăng sĩ, vốn là cháu của mình truyền cho giáo pháp của Phật đà. Từ đó Asoka như một người thoát xác, tái sinh giữa sự ngợi ca của quần chúng: Dharmasoka (A Dục vương của Chánh pháp).
            Ta sẽ tìm hiểu những công trình gì mà Asoka đã thực hiện để muôn đời còn lưu danh như một vị Quốc vương của Chánh pháp lẫy lừng. Chúng ta có thể tóm gọn trong 5 điểm những thực hiện hi hữu và sáng chói:
            1)– Đem Phật giáo vào cuộc đời qua cương vị và khả năng cư sĩ, được phát triển tận cùng, của mình. Đây là một điểm đáng lưu ý, như một kinh nghiệm cần khai thác cho thế kỷ chúng ta. Giá như Asoka đã xuất gia chắc chắn sẽ là một vị cao tăng thời bấy giờ, hành động không phải là không giá trị. Nhưng ông đã đứng về phía cuộc đời như một chứng thực của khả năng hóa thân Phật giáo để “ưng di Quốc vương thân đắc độ giả”. Trước một xã hội bị hăm dọa bởi tư tưởng máy móc, vật chất và bạo lực, những hình ảnh “cỡ người” thân cận trong bùn lầy như thế, quả thực rất ư cần thiết và hiếm hoi. Qua tác phong này, Asoka cho ta cái ý thức của sự sống Phật giáo, sự sống này bộc lộ cùng khắp mọi nơi, mọi giai tầng, cương vị, sự sống thực chứng như một quá trình hiện tu chứ không phải đi tu. Qua sự thể hiện của Asoka, thiển nghĩ chúng ta có thể chia lịch sự Phật giáo tổng chi ra làm hai thời kỳ:
            a/ Thời kỳ tiền Asoka: là thời kỳ mà Phật giáo biểu trưng dưới hình thức tăng đoàn, vụ vào sự thăng hoa tâm linh mà chưa đặt nặng vấn đề chuyển cải những hình thái sinh hoạt của xã hội và quốc gia.
            b/ Thời kỳ Asoka: kể từ thời đại Asoka trở đi, nhờ những thực chứng và thể hiện vĩ đại của ông, Phật giáo đã được phong phú hóa hẳn lên với khả năng hiện thực xây dựng bộ máy nhà nước và những ngành sinh hoạt xã hội cư sĩ. Chúng ta cần nghiên cứu nghiêm chỉnh để khai triển truyền thống Asoka cho thời đại hỗn loạn này.
            Thời đại Asoka được đánh dấu bằng hai sự kiện cách mạng:
            – dựng khắp nơi những bản pháp lệnh trên núi đá hay cột trụ đá, để nhắc nhở dân theo đúng với chủ trương hòa bình bằng chánh pháp của nhà vua. Việc làm thật hi hữu, ở một thời đại xa xăm (23 thế kỷ trước đây) chưa báo chí, máy phát thanh, như ngày nay. Bản pháp lệnh thứ XIV khắc trên núi đá vùng Girnar cũng đã từng đề cập đến việc làm này: “… vì vương quốc của ta quá rộng nên ta đã cho khắc rất nhiều (pháp lệnh trên đá) và sẽ còn cho khắc nhiều nữa!”
            – bên cạnh sự hoằng pháp của Tăng đoàn theo quan điểm Giáo hội, sự xiển dương chánh pháp của Asoka mang một hình thái khác đó là hình thái đi vào cuộc đời của người cư sĩ vương quyền, cho một sinh hoạt cộng đồng phức tạp. Sau 13 năm tại vị, Asoka đã thành lập những đoàn Tổng giám của Chánh pháp và gửi đi cùng khắp xứ sở mỗi 5 năm một lần. Pháp lệnh thứ V khắc trên núi đá vùng Girnar định nghĩa chức vụ của các vị Tổng giám Pháp như sau: “… Thời xưa, chưa bao giờ có những vị Tổng giám của Chánh pháp. Sau 13 năm tại vị, ta đã thành lập những đoàn Tổng giám của Chánh pháp. Họ phải lo việc chấn chỉnh chánh pháp cho mọi giáo phái, lo việc phát triển quyền lợi cùng hạnh phúc của các tín hữu của chánh pháp ở những giống người Hy Lạp, Kampuchia, Gandhariens, Ristika, Pitenika và những kẻ Tây phương khác. Họ có nhiệm vụ đối với những kẻ… (bị mờ trên bản khắc) …những kẻ khốn cùng, những kẻ già nua, tuổi tác, chăm lo về quyền lợi, hạnh phúc và bảo trợ cho các tín hữu của chánh pháp, lo việc nâng đỡ, bảo trợ và phóng thích các tù nhân, nếu các bọn này vô trách nhiệm, mà có con đông, nạn nhân của sự bất hạnh, già cả, họ phải có nhiệm vụ đối với những người này… Những vị Tổng giám của Chánh pháp có nhiệm vụ trên lĩnh vực chánh pháp, duy trì chánh pháp, quản lý việc từ thiện hay đối với các tín hữu của Chánh pháp, bất cứ ở đâu trên vương quốc của ta. Và có nhiều hạng Tổng giám của Chánh pháp, tùy theo thành phần này hay thành phần khác mà có hạng Tổng giám này hay Tổng giám kia phù hợp”. (Pháp lệnh thứ VII khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès.)
            2)– Phát triển sự học hỏi chánh pháp bằng cách tạo hoàn cảnh thuận lợi và giúp đỡ cho quý vị Tăng già trong nhiệm vụ đưa giáo lý an lạc của Phật giáo vào cuộc đời.
            3)– Ngoài việc xây cất tu viện, việc làm hi hữu của Asoka, mà nhờ đó ngày nay ta mới còn được chút sử liệu chính xác giữa những thần thoại thất truyền dệt chung quanh nền lịch sử Ấn Độ, đó là những pháp lệnh khắc trên núi đá, trụ đá tìm thấy đó đây trên toàn cõi Ấn Độ.
            4)– Asoka đã chủ xướng kỳ kết tập thứ ba kéo dài trong 9 tháng dưới sự chứng minh của ngài Tima Moggaliputta, tại kinh đô Pataliputra để minh xét và giải quyết sự hỗn tạp của 219 giáo phái bị xem là tà thuyết rối đạo.
            5)– Gửi các đoàn truyền giáo để gieo rắc chánh pháp an lạc của đức Phật lên toàn cõi Ấn Độ và các nước láng giềng. Các đoàn truyền giáo được phân phối ra toàn cõi vương quốc Ấn Độ bấy giờ:
                  – miền Tây Bắc (vùng Pendjab) do ngài Majjhantika hướng dẫn.
                  – miền Nam do hai ngài Mahadeva và Rakkhita.
                  – miền Tây do ngài Dhammarakkhita (là một người Hy Lạp).
                  – miền Tây Nam do ngài Mahadhammarakkhita.
            Và vượt biên cương qua các nước láng giềng:
                  – vùng Hy Lạp do ngài Maharakhita lãnh đạo.
                  – vùng biên cảnh Hy Mã Lạp Sơn do ngài Majjhima.
                  – vùng Miến Điện, bán đảo Ấn Độ-Chi Na và Mã Lai Á do hai ngài Sona và Uttara.
                  – vùng Tích Lan do ngài Mahinda.
            Công đức hướng dẫn sự truyền giáo như thế kể thực vô lượng và không thể nghĩ bàn. Hình ảnh của người sư sĩ quốc vương này thật đáng là ngọn đuốc dẫn đạo cho những ai muốn đem đời mình phụng sự cho Đạo pháp và Dân tộc.

II.– NHỮNG PHÁP LỆNH KHẮC TRÊN ĐÁ
            Năm điểm thực hiện hi hữu và sáng chói mà chúng ta vừa kể trên đây cho ta thấy Asoka đã thể hiện toàn vẹn tư tưởng hệ Phật giáo vào cuộc đời: kiến thiết một xã hội an lạc làm nền tảng cho sự toàn giác trí tuệ của con người. Một sự kiến thiết toàn diện song hành giữa xã hội và tâm linh.
            Mục đích chính của Asoka không ngoài nền hòa bình chính thực “cỡ người” trước khi quảng đại quần chúng có thể ngưỡng vọng đến đời sống cao sâu của tâm hồn (vô thượng giác). Đọc qua các pháp lệnh mà Asoka sai khắc trên núi đá hay cột trụ, tuy chúng ta không tìm thấy những chủ trương chính trị, nhưng chúng ta thấy rõ một điều: nền đạo đức nhân bản – trường hợp ở đây là Phật giáo – là sườn cốt cho mọi bộ máy cai trị của nhà nước. Chính đó mới là yếu tố quan trọng. Bởi vì, giả thử Asoka để lại cho ta một chủ trương chính trị, thì cái chủ trương quân chủ đó chắc chẳng giúp ích gì cho xã hội chúng ta hiện đang đòi, nói, không ngớt về dân chủ và tự do. Phương sở địa lý cũng như căn cơ tâm lý con người tuy khác nhau, nên tùy từng nơi mà mặt mày chính trị cũng biến đổi, song cái nguyên tắc Asoka để lại vẫn trường cửu và bất biến: đó là sườn cốt đạo đức nhân bản phải sững dựng như những cột trụ chống đỡ bộ máy cai trị quốc gia. Không có nền đạo đức này, tất cả sẽ đổ vỡ như lầu cát.
            Nay ta thử tìm hiểu xem Asoka đã để lại những gì trên các cột đá muôn đời kia. Những cột đá chứng trị cho một khoảng thời phồn thịnh và an vui của con người.
            1)– Pháp lệnh nói về chiến tranh:
            Asoka đã từng dùng bạo lực để mở rộng bờ cõi, nhưng những cảnh tàn sát hãi hùng sau cuộc chiến thắng Kalinga (bờ vịnh Bengale) đã đè nặng trong tâm hồn Asoka một mối thương đau khôn xiết. Một trong 14 pháp lệnh (pháp lệnh XIII) khắc trên núi đá 8 năm sau ngày chấp chính, tìm được ở vùng núi Girnar, phơi rõ niềm hối cải này: “150.000 người bị đày ải, 100.000 đã bị giết và hằng nhiều lần hơn số này đã bị tiêu hoại” … “Niềm hối hận đã xâm chiếm lòng người bạn của các thần linh (Asoka thường khởi các pháp lệnh bằng câu “Quốc vương, bạn của thần linh, với cái nhìn bằng hữu…” để tự xưng mình), từ khi chiếm được Kalinga. Sự chinh phục một quốc gia độc lập, thực ra chỉ là sự sát nhân, sự chết chóc hay là sự quy hàng của thần dân xứ đó: ý nghĩ này đã được cảm nhận sâu xa và nặng đè tâm can người bạn của các thần linh” … “tất cả mọi người (ở đây) đều là nạn nhân của cường bạo, của sự sát nhân, bị chia lìa với những kẻ thân yêu” … “cho dù số người bị giết, người chết và bị bắt trong cuộc chiến thắng Kalinga là bao nhiêu đi nữa, số này dù có nghìn lần ít hơn, thì cảm nghĩ xót xa ngày nay vẫn nặng đè trong tâm người bạn của các thần linh”. Sự hối hận không chỉ là nhận định suông, hối hận tức là sửa sai. Asoka từ chối mọi hình thức bạo lực, khí giới độc nhất của ông hiện nay chỉ là lòng từ bi và sự kiên nhẫn. Cũng trong bản pháp lệnh XIII này đã ghi: “Cho dù có phạm lỗi đối với người bạn của các thần linh, người bạn của các thần linh cũng phải quyết tâm nhẫn nại cho đến kỳ cùng” … “Bởi vì người bạn của các thần linh mong cầu cho mọi chúng sanh sự an ninh sự chế ngự dục vọng” … “chiến thắng mà người bạn của các thần linh cho là cao cả nhất, là sự chiến thắng của chánh pháp. Sự chiến thắng mà người bạn của các thần linh đã thâu đoạt trên vương quốc này lan truyền đến những vùng biên giới xa tới 600 dặm, những nơi trị vì bởi vua Hy Lạp Antiochus, xa hơn còn có bốn vua Ptolémée, Antigone, Magas và Alexandre; phương Nam xống tận miền Cola, Pandya cho đến Taprobane; cho đến cả những đế quốc của những người Hy Lạp, người Kampuchia, người Nabhaka và Nabhapani, Bhoja và Pitinika, Andhra và Parinda; mọi nơi đều theo lời dạy của chánh pháp do người bạn của các thần linh ban truyền. Ngay cả những nơi chưa có sứ giả của người bạn của các thần linh đến, chỉ cần nghe nói đến hạnh nguyện của chánh pháp, huấn giới và giáo lý của chánh pháp của người bạn của những thần linh, người ta liền sống theo chánh pháp và sẽ sống mãi trong đó…” “Sắc lệnh này được khắc ra để con cháu mai sau đừng mơ tưởng tới những chiến thắng khác. Và trong cuộc chiến thắng này, chúng sẽ chọn lựa sự kiên nhẫn và bớt dùng bạo lực, và chỉ có chiến thắng của Chánh pháp là đáng kể cho tôi đời này và kiếp sau, niềm vui của chúng sẽ là niềm hoan lạc trong Chánh pháp”.
            2)– Pháp lệnh nói về chánh pháp:
            Chánh pháp là gì? – Pháp lệnh thứ II khắc trên trụ đá hồng ở thành Bénarès ghi: “Chánh pháp rất lành. Nhưng thế nào gọi là Chánh pháp? Đó là sự dứt trừ tận gốc mọi tội lỗi, tăng trưởng những hành động chính thiện, lòng xót thương, khoan đại, tính chân thực, niềm trong sạch”. Asoka tin tưởng chân thành vào Phật giáo, bản khắc tìm được ở Bhabra cho ta thấy rõ điều đó. “Quốc dân đã biết lòng kính trọng khôn lường và niềm tin tưởng của ta đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng. Những gì đáng nói, đức Điều Ngự Như Lai đã nói. Những gì cần thiết cho Chánh pháp được hoằng dương, ta xin phép nhắc nhở cho quốc dân”. Và Asoka đã kê trong bản khắc này những đoạn kinh Phật cần được suy nghiệm và thực hành. Thực hành Chánh pháp, ghi ở pháp lệnh thứ IV khắc trên núi đá vùng Girnar, tức là “chối từ sự sát nhân, hiền hòa với mọi người; tôn kính các vị Bà La Môn và tu sĩ, vâng lời cha mẹ và các bậc phụ lão, đó là điều “chưa bao giờ hiện thực từ bao nhiêu thế kỷ rồi” vì trong quá khứ hàng bao thế kỷ qua, sự sát nhân, bạo lực cưỡng hiếp con người… vẫn không ngừng gia tăng” và “thiếu đạo đức, không thể thực hành Chánh pháp”.
            Tóm lại, thực hành Chánh pháp tức là dứt trừ mọi tội lỗi, và “cái mà người ta gọi tội lỗi, tức là thấu biết điều hung ác, sự nhẫn tâm, giận dữ, kiêu ngạo, tham muốn. Với những thứ đó, ta chẳng bao giờ muốn dính tới” (pháp lệnh thứ III khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès).
            3) – Pháp lệnh nói về cai trị theo Chánh pháp:
            Cai trị theo Chánh pháp tức phải biến mình trước tiên thành mẫu mực của Chánh pháp, sau đó mới có thể hô hào cho dân theo Chánh pháp, và muốn cho dân theo Chánh pháp, phải nghĩ và lo âu cho hạnh phúc của họ.
             “Ta xin nói điều ta nghĩ về quyền lợi và hạnh phúc của thế giới. Cũng như đối với cha mẹ, bà con quyến thuộc xa gần, ta muốn mang lại hạnh phúc cho họ, ta dùng mọi biện pháp thích ứng để hoạt dụng cho mọi thành phần (trong xã hội)”.
             “Ta cũng tỏ lòng tôn kính với tất cả mọi giáo phái qua bao nhiêu dấu hiệu tỏ lộ tôn sùng. Nhưng điều mà ta phải mang thân đến gặp gỡ tiếp xúc thẳng với họ, ta cho là điều quan trọng hơn cả” (pháp lệnh thứ VI trên trụ đá hồng ở thành Bénarès, khắc vào niên vị thứ 26).
             “Các vị vua thời trước đã muốn tìm phương cách xiển dương Chánh pháp cho quần chúng, nhưng quần chúng vẫn không tiến bộ chút nào trên đường Chánh pháp” … “Làm thế nào để được quần chúng ưng thuận, làm sao để xiển dương Chánh pháp?” Trong pháp lệnh thứ VII khắc trên trụ đá hồng ở thành Bénarès này, Asoka cho ta biết ông đã ra lệnh dựng lên khắp nơi những pháp lệnh nhắc nhở về Chánh pháp, tổ chức những cán bộ cư sĩ am tường về Chánh pháp để bổ đi khắp mọi làng mạc đả thông cho quần chúng, những cán bộ này đã được Asoka huấn luyện để biết tùy theo căn cơ, phương sở mà giảng dạy Chánh pháp cho phù hợp.
             “Thật khó mà chứng ngộ trong cõi đời này cũng như trong kiếp sau, khi không có một tình yêu Chánh pháp, một sự nhất tâm cùng cực, một sự thuần thục thấu đáo, một sự cẩn trọng thắm thiết, một năng lực rốt cùng. Nhưng nhờ những huấn thị của ta mà sự chuyên tâm vào chánh pháp cùng tình yêu chánh pháp đang được lan rộng và sẽ còn lan rộng mãi”.
             “Những kẻ cộng sự của ta cũng vậy, cao cấp hạ thuộc hay trung cấp đều chuyên nhất và phổ biến Chánh pháp, đủ để lôi kéo những kẻ còn đang do dự. Đối với những kẻ Tổng giám ở biên cảnh cũng vậy”.
             “Bởi vì đó là nguyên tắc: cai trị theo Chánh pháp, chấp chính theo Chánh pháp, làm đẹp lòng theo Chánh pháp; bảo vệ theo Chánh pháp” (pháp lệnh thứ I khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès).
             “Nhờ sự thực hành Chánh pháp của quốc vương, bạn của những thần linh, với cái nhìn hằng hữu, tiếng trống trận đã trở thành tiếng báo hiệu cho Chánh pháp” (pháp lệnh thứ IV khắc trên núi đá vùng Girnar).
             “Mặt khác trên mọi nẻo đường, ta đã cho trồng những cây đa đổ bóng mát cho người và thú vật; ta đã cho trồng những vườn xoài; và mỗi khoảng đường 2 cây số (nửa “kos”?), đào một nơi chứa nước và xây những trạm nghỉ; ta đã cho đào khắp nơi những giếng nước cho người và vật dùng” … “Nhưng những điều này thực ra chẳng đáng kể là bao” (pháp lệnh thứ VII khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès).
             “Một nơi trong vương quốc của vì vua, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu, kể cả những vùng biên cảnh của những người Cola, Pundya, Satyaputra, Keralaputra cho đến Taprobane, Antiochus, vì vua Hy Lạp, và những vì vua láng giềng của Antiochus, khắp mọi nơi, quốc vương, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu, cho tiến hành hai việc cứu trợ y tế, cứu trợ cho người và cứu trợ cho loài vật. Ở đâu thiếu những loài thảo dược cần thiết cho người và cho thú vật, sẽ được gửi đến và trồng trọt. Ở đâu thiếu rễ cây và trái quả, đều được gửi đến và canh tác. Trên mọi con đường giếng phải được đào, cây phải được trồng cho mọi người và thú vật dùng” (pháp lệnh thứ II khắc trên núi đá vùng Girnar).
            Phục vụ dân không có nghĩa là đáp ứng ngưỡng vọng họ bằng các bài diễn văn và chương trình cách mạng chẳng bao giờ thấy thực hiện. Phục vụ dân, chính là thể hiện ra mặt những đòi hỏi cấp thiết và hạnh phúc đơn sơ của họ, và còn phải hướng dẫn cuộc sống tinh thần họ đi cho đúng với nền đạo đức người của dân tộc.
            4)– Những nguyên tắc chính yếu để thu phục lòng dân:
            a/ Hãy biến mọi tác phong của mình thành mẫu mực của Chánh pháp: và phải cố gắng tự kiểm thảo không ngừng. “Là một cư sĩ trung thành từ hai năm rưỡi nay. Nhưng ta đã không thực hành một cách tinh tấn (nhất tâm quy mạng). Nhưng trái lại từ hơn một năm nay, ta đã theo sát với tăng đoàn và trì chí rất nhiều. Trước đây ở Ấn Độ chẳng bao giờ con người tương dự với con người như bây giờ. Đó là nhờ ở kết quả của sự tu trì. Đương nhiên, kết quả này không phải chỉ dành riêng cho những kẻ cao sáng, mà còn dành cho mọi kẻ thấp hèn nên họ chịu tu trì” (pháp lệnh khắc ở Mysore).
             “Thời trước, các vua thường tổ chức những cuộc “ngự du hoan khoái”: như đi săn hay các thú vui khác. Nhưng quốc vương, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu, sau 10 năm chấp chính, đã hành hương về Giác ngộ. Từ đây, chỉ còn những cuộc “ngự du” cho Chánh pháp, thể như: tiếp kiến hay phân phát (tặng phẩm) cho các vị Bà La Môn và tu sĩ, tiếp kiến và phân phát vàng cho những phụ lão, tiếp kiến và thuyết pháp cùng giải quyết những vấn đề liên quan tới Chánh pháp cho quần chúng ở các tỉnh…” (pháp lệnh thứ VIII khắc trên núi đá vùng Girnar).
             “Trước đây mỗi ngày có hằng nghìn thú vật bi giết để làm cơm trong bếp núc nhà vua, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu; nhưng bây giờ, trong khi pháp lệnh này được khắc lên, chỉ 3 con thú sau đây bị giết để làm cơm thôi: 2 con công, 1 con nai, ngay cả con nai này cũng không được giết thường xuyên. Ngay cả 3 con vật này rồi đây sẽ không còn bị giết nữa” (pháp lệnh thứ I khắc trên núi Khepingala, vùng Girnar).
            Niên vị thứ 26, Asoka đã cho khắc một pháp lệnh (pháp lệnh thứ V khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès) “cấm giết súc vật” và ghi rõ tên các loại không được giết, ta đọc thấy tên của 23 loại chim, cá, thứ bốn chân. Thêm vào đấy dê cừu, heo có chửa hay đang cho bú đều không được giết; cho đến cả những con chưa lớn quá sáu tháng. Cấm thiến gà “… cấm đốt rừng không có lý do hay để gây thiệt hại. Cấm nuôi thú vật bằng thú vật”.
             “Và ba tuần trăng rằm mỗi 4 tháng, vào ngày tròn trăng Tisya và liên tiếp 3 hôm: ngày 14, 15 và 1 là những ngày phải ăn chay một cách thuần khiết, cấm giết hay bán cá. Vào ngày thứ 8 mỗi thượng tuần ngày 14, ngày 15, là những ngày lễ Tisya và Punarvasa, vào 3 tuần trăng rằm mỗi 4 tháng và những lễ, cấm thiến bò rừng, dê, cừu, heo và các loài thú vật khác” … “Cho đến niên vị thứ 26 này, ta đã phóng thích tù nhân 25 lần cả thảy”.
            b/ Phải luôn luôn tỉnh thức để nghe rõ nguyện ước của dân: “Trong bất cứ lúc nào, dù khi ăn, khi ở nơi khuê phòng, nơi phòng ngủ, nơi nông trại, trên xa giá, trong vườn cảnh, khắp nơi những thông tín viên phải phúc trình đầy đủ cho ta biết những công việc dân sự: và ta tham dự vào công vụ ở khắp mọi nơi. Bất kể khẩu lệnh nào ta ban bố, liên quan tới việc dâng tặng hay tuyên cáo, hay những việc khẩn cấp giao phó cho các vị Tổng giám, nếu có điều gì phải tranh luận hay bình nghị ở hội đồng phải thông tin cho ta biết tức thì, bất cứ lúc nào hay ở đâu, đó là lệnh của ta. Bởi ta không thỏa mãn trong việc làm và trong lời kết luận về những công sự. Bởi ta xét rằng nhiệm vụ của ta mang lại hạnh phúc cho thế giới, nên nguyên tắc là hoạt động và thi hành kỳ cho hoàn mỹ nhiệm vụ mới thôi. Bởi không có hành động nào cao cả hơn là việc đem hạnh phúc đến cho toàn thế giới. Và mọi cố gắng ta phải đạt là trả mối nợ cho nhân loại, ở cõi này, ta phục vụ cho hạnh phúc của họ và ở kiếp sau, ta mong muốn cho họ sinh về cõi Thiên” (pháp lệnh thứ VI khắc trên núi đá vùng Girnar).
            Để kiểm soát và thấu rõ những nhu cầu khẩn nguyện của quần chúng, Asoka gửi đi khắp nơi những kiểm soát viên “Quyền lực phán xét và trừng phạt của họ đều do ta nắm giữ, như thế những kiểm soát viên sẽ yên thấm thi hành nhiệm vụ khỏi phải sợ hãi gì, và họ sẽ chỉ lo đến quyền lợi và hạnh phúc của dân chúng ở các tỉnh và bảo trợ cho quần chúng. Họ sẽ hiểu gì là hạnh phúc và với những kẻ tín thành Chánh pháp, họ giáo hóa cho quần chúng các tỉnh, làm cho quần chúng chứng ngộ được trong cuộc đời này cũng như trong kiếp sau” … “Và có nhiều phương cách khác nhau làm cho quần chúng tiến bộ trên dường thực hành Chánh pháp, chế ngự nhục tính và phân phối lòng nhân ái” (pháp lệnh thứ IV khắc trên trụ đá hồng ở Bénarès).
            c/ Đức tính chí công và vô tư: đó là huấn thị mà Asoka căn dặn các vị Tổng giám (công chức) một cách tỏ tường trong pháp lệnh thứ I tại Kalinga: “… Điều gì ta cho là hoàn mỹ, ta muốn hái lượm bằng hành động của ta và thu nhiếp một cách có phương pháp. Phương pháp hay nhất mà ta thấy trong vấn đề (an dân) này là những huấn thị ta ban cho các người. Bởi vì các người được bổ nhiệm phục vụ cho hằng nghìn nghìn người”.
             “Hãy thu phục cảm tình quần chúng. Mọi người đều là con của ta. Thể như các con của ta, ta muốn cho chúng hết thảy quyền lợi và hạnh phúc trong thế giới này cũng như trong kiếp sau, đó cũng là điều ta ao ước cho mọi người. Các ngươi chưa thấy rõ nó can hệ đến chừng nào; có thể là có kẻ nào đấy trong các ngươi thấy điều đó, nhưng chỉ thấy một phần nào thôi chứ chưa phải trọn vẹn. Là người có đầy nhiệm vụ, các ngươi hãy suy nghĩ kỹ đi”.
             “Thường có những cá nhân bị vào tù, bị tra khảo và sau đấy được phóng thích không lý do và còn nhiều kẻ khác chịu khổ đau đớn thế nữa. Vì vậy mà các ngươi phải thực hành chí công vô tư. Chí công vô tư là không có khuynh hướng ganh ghét, gắt gỏng, ác hiểm, nông nổi, bướng bỉnh, lười biếng, buông xuôi. Phải cố ý tránh xa những khuynh hướng này đi. Nguyên tắc thực hiện là tránh xa sự biến tính và nông nổi trong khi hành sự. Kẻ nào chán chường chẳng sao hoạt tiến được, mà trong công vụ của các ngươi cần phải tỉnh thức, xúc tiến và hoàn tất”.

III.– TINH THẦN KHOAN ĐẠI, TỰ DO VÀ KHAI PHÓNG CỦA ASOKA
            Giáo sư Jean Filliozat đã viết về Asoka như vầy: “Dù đã chọn Phật giáo là con đường cho chính bản thân mình, Asoka chẳng bao giờ dùng quyền uy của mình cưỡng chế ai theo đạo mình”.
            Thật thế, “Quốc vương, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu muốn rằng tất cả mọi tông phái đều an vị khắp mọi nơi. Bởi mọi tông phái đều muốn chế ngự các nhục tình và tinh hóa tâm hồn. Nhưng mỗi người đều có những ước muốn khác nhau, những nhiệt tình sai biệt. Hoặc là họ thực hành tất cả, hay chỉ một tiểu tiết nào đó. Với ai không có lòng khoan đại, sự chế ngự nhục tình hay tinh hóa tâm hồn, sự hiển giáo và sự đoan quyết trong niềm tin vẫn luôn luôn là điều quan trọng” (pháp lệnh thứ VII khắc trên núi đá vùng Girnar).
            Tinh thần tôn trọng tự do tín ngưỡng của Asoka hiển lộ một cách khoan đại và minh xác qua pháp lệnh thứ XII (khắc trên núi đá vùng Girnar): “Quốc vương, bạn của những thần linh, với cái nhìn bằng hữu, tỏ lòng tôn kính tất thảy mọi tông phái, quý thầy tu sĩ cùng những vị cư sĩ, qua những tính khoan đại, cũng như những vinh hạnh khác nhau. Nhưng bạn của những thần linh không đặt nặng những tính khoan đại cũng như những vinh dự cho bằng sự tiến bộ trong bản chất của mọi tông phái. Sự tiến bộ của bản chất tuy thể hiện nhiều cách, nhưng chính thực chỉ là sự tiết chế ngôn ngữ, làm thế nào để tránh sự tôn xưng riêng tông phái của mình hay sàm báng những tông phái khác; dù vì trường hợp này hay trường hợp kia, dù cho là điều không đáng kể. Trong mọi cơ hội, phải tỏ lòng tôn kính những tông phái khác. Có như thế, người ta mới làm cho tông phái mình lớn lên đồng lúc phục vụ cả cho tông phái kia. Trái lại, ta chỉ làm hại tông phái của ta đồng lúc chẳng giúp gì cho tông phái khác”.

IV.– KẾT LUẬN
            Đứng trước cuộc đời hỗn tạp – mà các nhà luân lý gọi là nơi tục lụy hồng trần – giữa muôn dân sai khác, bên cạnh những nhục tình sôi sục, Asoka không chút hãi hùng chạy trốn, dù là một cuộc trốn tìm giải thoát. Để kiến tạo một xã hội an lạc, một vương quốc hòa bình và phồn thịnh, một cách hi hữu 23 thế kỷ trước đây, Asoka nhìn thẳng vào thực tại, chuyển hóa mọi phiền não và bất an một cách linh động thành cảnh sống an lạc. Asoka đã sống như một quá trình tu chứng cỡ người, không vì cái giải thoát tự tại cho riêng mình, cũng không vì danh lợi bản thân, luôn luôn vì và cho Chánh pháp, một thứ chánh pháp xuyên qua niềm hòa bình và hạnh phúc của quảng đại nhân dân. Vì vua, bạn của những thần linh có cái nhìn bằng hữu này, “không tin rằng vinh quang mang đến một lợi lộc lớn, trừ khi dùng vinh quang hay thanh danh trong hiện tại và mai sau vào việc làm cho thần dân tuân nghe điều phải, tuân nghe Chánh pháp và thực thi Chánh pháp chính trong tiêu chuẩn này mà quốc vương bạn của những thần linh, muốn có vinh quang hay thanh danh” (pháp lệnh thứ X khắc trên núi đá vùng Girnar).
            Sự thực chứng qua hình ảnh cư sĩ này thật là quan trọng. Giữa các vị vua cao sang sung túc, người ta muốn thấy một vì vua nhân hậu thân dân giữa sự hiếm hoi của vài vị vua nhân hậu vì bản tính, người ta muốn thấy hình ảnh đạo giáo đã đi qua vị vua đó như thế nào, để nhận rõ giá trị thực chứng và kiểm nhận của một đạo như đạo Phật. Cũng thế, ngày nay, giữa bao khuynh loát của chủ thuyết và bè phái, trên vực thẳm của hủy diệt chúng ta cũng mong thấy hình ảnh một chính trị gia Phật tử như hình ảnh A Dục vương của 23 thế kỷ trước đây.
            Ngay chính trong sinh hoạt cộng đồng cũng vậy, có biết bao gia đình theo đạo Phật, song các gia đình đó vẫn chưa có một hình ảnh hạnh phúc mẫu mực để cho nhân loại thấy và buộc miệng: “Đó là nột gia đình Phật tử!” và ao ước: “Gia đình ta phải giống như thế!”
            Nền văn minh máy móc với những chủ thuyết cục bộ và độc tôn đang kéo hàng triệu con người vào trận tuyến của căm thù, vào sự buông xuôi chán chường hay thất vọng cô đơn. Người ta không ưa gì thế, nhưng cứ phải sống như thế… Sự đe dọa ngày nay thực là trầm trọng, đem lại cho ta ý nghĩ: truyền thống của người cư sĩ Asoka phải được học tập và tiếp nối một cách chí thành tha thiết. Sự có mặt của người cư sĩ Phật giáo trong hình ảnh này mới thiếu thốn làm sao!
            Gần đây các nhà khoa học đang thí nghiệm không ngừng cách thức cho cơ thể con người có thể sống trên bề cao mười tám nghìn cây số, thoát khỏi hấp lực quả đất, hoặc cách thức cho con người có thể sống dưới hầm sâu 1000, 2000, rồi 3000 thước. Các nhà thần học thì bày cho con người khép kín các ngõ ngách của cuộc đời để vào sâu trong tâm linh thăm thẳm.
            Trong khi đó sự sống cũng như khổ đau vẫn tiếp diễn một cách đương nhiên, mà chẳng thấy ai dạy cho con người cách đi bằng hai chân trên mặt đất nhiệm mầu này, và cách sống làm sao cho cụ thể cũng như tâm linh được thăng bằng hòa điệu, làm sao cho con người nhận diện con người.
            Ngoài Asoka, chắc không ai làm nổi. Ta hãy thắp hương cầu nguyện cho Người đến trong tấm thân cư sĩ của chúng ta.


NGUYÊN ÂN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 03/06/2017, 15:06:49
NGÀY LẠI NGÀY (SỔ TAY VĂN NGHỆ)

THÁNG HAI năm 1964. Tòa án Léningrad xử một vụ kiện tạm gọi là một vụ kiện văn nghệ. Người ra vành móng ngựa là thi sĩ Joseph Brodsky, 24 tuổi. Chàng bị buộc tội làm ký sinh trùng xã hội (nguyên văn: parasitisme social). Tòa tuyên án năm năm khổ sai và bị đày. Khi ra tòa, tòa buộc tội chàng những tội sau nầy: chàng làm lương ít, chàng không săn sóc tới đời sống cá nhân và sự sống riêng tư của chàng, làm những bài thơ phi-công-thức (non-conformiste) và ngâm thơ ủy mị trong những cuộc họp văn nghệ… Và tòa buộc tội chàng không phải là… thi nhân


            Ở Léningrad, có rất nhiều nhân vật có danh tiếng và uy tín trong giới văn nghệ can thiệp cho chàng, nhưng không có hiệu quả. Họ cho Brodsky là một thi nhân và một người dịch thơ có tài xuất chúng.


            Chuyện có sao, tôi kể vậy – ai có mầu kính của nấy để nhìn việc đời, tôi không dám làm mặt… lanh xen ý kiến của mình vào. Chỉ biết có một điều là… tôi thương hại cho thi nhân – mà thôi. Và cho cả anh, cả tôi, cả nó, cả hắn, cả họ nữa… Và trong không gian. Và trong thời gian. Đây. Kia. Trước kia. Sau nầy.
            Còn một điều nữa cũng nên nhấn mạnh: Brodsky là một thi nhân dịch thơ có tài: đó là một việc rất hiếm. Làm thơ là một chuyện khó, dịch thơ lại là một chuyện khó hơn – nghĩa là giữa hai cái khó, dịch thơ vẫn khó hơn làm thơ. Nói một cách khác làm thơ còn dễ hơn dịch thơ – dịch đây là dịch cho hay: câu thơ hay, ý thơ vẹn… Tôi chưa thấy ai dịch bài Hoàng-hạc-lâu cho thật hay, kể cả Tản Đà. Dịch làm sao mà nhạc tính bài thơ vẫn có, vẫn còn… không phải là một chuyện dễ! Tôi lại cũng chưa thấy ai dịch bài Sonnet của Arvers cho thật hay. Ngày xưa nhóm Phong-hóa – hình như Khái Hưng thì phải – đã dịch bài Sonnet ấy mà cũng chỉ còn lại một câu: “Tình trong giây phút mà thành thiên thu” là hay – còn thì những câu khác cũng chỉ… tạm.
            Còn hình như thi sĩ Tchya Đái Đức Tuấn ngày xưa có dịch “Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương” là “Nhớ người đẹp. Trời một phương” thì cũng được lắm!



THƠ CỦA Brodsky có những câu:
                        Tout noir qu’il fut, il ne donnait d’ombre.
                        Il ne pouvait pas devenir plus sombre.
                        Aussi noir que minuit de brume.
                        Aussi noir que ces arbres, devant
                        Aussi noir qu’une aiguille, dedans.
                        Comme un trou, dans la terre, où git la graine
                        . . . . . . . . . . .
                        Pourquoi respirait-il l’air si noir
                        Dans le bruissement des branches écrasées?
                        Pourquoi le jour noir coulait-il de ses yeux?

            Nhạc tính rất thắm, rất kín, rất Prévert – tôi thì không dám dịch là lẽ cố nhiên rồi – nào có ai dịch ra cho hay, xin dịch cho thiên hạ cùng thưởng thức!
            Dịch thơ khó. Mà Brodsky lại là một thi nhân dịch thơ ngoại quốc có tài – đó là chỗ hơn người. Thế là chàng hơn người tới hai lần…



CÓ VÀI chuyện văn nghệ có tính chất khá hài hước – hài hước đến làm chảy nước mắt! Chẳng biết là nên khóc hay nên cười – hay là nên nôn mửa.
            Số là Roland Dorgelès, một văn hào Pháp ngày xưa là một văn sĩ chống hội họa phi hình dung, trừu tượng, lập thể vân vân… Một hôm chàng rủ một hai anh em văn nghệ làm một chuyện ngộ ngộ – là bắt một con lừa, nhúng cái đuôi của nó vào vài ba thùng sơn, rồi thả cái đuôi ấy ra cho nó vung vãi lên một tấm vải trắng. Xong rồi chàng trịnh trọng, đóng khung nó, ký láo một cái tên nào đó, rồi chở đến một khách thính văn nghệ (tức là salon littéraire ngày xưa ấy!)
            Kết quả là tất cả những “thân chủ” hào hoa phong nhã – kể cả họa sĩ – cùng với những trang nam nữ văn nghệ – cùng với những nhà giàu sang mà lại thích văn nghệ kia – cao đàm hùng biện và phê bình bức tranh ấy.
            Mãi sau mới ngã ngửa ra là bị Roland Dorgelès gạt… Có một điều lạ nhất là không có ai… mắc cở cho thái độ trước của chính mình cả! Chỉ có Dorgelès được cười no vào… mũi những trang hào hoa phong nhã…



ĐÓ LÀ chuyện thứ nhất. Mà là chuyện xưa do một tạp chí Pháp kể lại. Còn bây giờ tôi xin kể chuyện mới, lại cũng do một tạp chí Pháp kể. Kể rằng.
            Có một cuộc triển lãm tại một phòng triển lãm (galerie). Đôi khi phòng triển lãm lại “galerie” ở ngay sát một xưởng vẽ của một họa sĩ nào đó. Vì vậy cho nên khi vẽ thì họa sĩ họ thường quệt ngang quệt dọc bút vẽ của họ vào bất kỳ đâu: vào áo “blouse” của họ, vào bàn, vào ghế, vào bất kỳ một tấm ván nào vừa tầm tay họ.



            Hôm khai mạc, vô ý, mấy người lao công, trong khi thu xếp sắp đặt phòng triển lãm, để quên một tấm ván lớn và cao bên cạnh những bức tranh – quên cất nó đi.
            Các quan khách nam thanh nữ tú dập dìu tài tử giai nhân ngựa xe như nước áo quần như nêm hào hoa phong nhã, các kỹ nghệ gia, các nhà trí thức đại diện chính quyền, các nhà giàu sang, cả cái Tout-Paris – cũng như ta có cái Tout-Saigon – đến ngắm tranh và cao đàm hùng biện… Một số những người đó nhè cái tấm ván loạn mầu xanh đỏ trắng tím kia… mà lao công bỏ quên bên cạnh những tác phẩm… khen ngợi trầm trồ và phê bình thế nầy phê bình thế kia…
            Bỗng hai người lao công sực nhớ chưa cất tấm ván, vội chạy ra khiêng đi – dưới những cặp mắt văn nghệ của những người mũ cao áo rộng – mặc lễ phục.



            Tiếng Pháp có một chữ để chỉ hạng giàu có học làm… sang hay là học đòi chơi văn nghệ… là “esprit philistin”.
            Nên khóc?
            Hay nên cười?
            Hay nên buồn nôn?



BÊN NGA thường có những chuyện lạ về văn nghệ.
            Tiểu thuyết Nga-sô-viết Nékrasov đã được phục… “chức”! Năm 1963, chàng bị khai trừ ra khỏi đảng. Năm 1964, hàng được mời vào đảng lại – dù là chàng không xin không làm tờ phản tỉnh.
            Xưa kia từ năm 1946, chàng đã từng viết nhiều tiểu thuyết – nhưng vẫn không hề tạo những nhân vật “người hùng” vốn là những nhân vật gương mẫu của mỗi tiểu thuyết Nga.
            Tác phẩm thứ nhất của chàng là cuốn Đường hầm Stalingrad (Les trancheés de Stalingrad). Chính quyền coi rồi khuyên chàng nên thêm một chương phụ… đề cao… Staline. Chàng từ chối.
            Những đến lúc Staline chết và bị hạ bệ người ta lại khuyên chàng nên bỏ những đoạn những câu đã nói tốt cho Staline – chàng lại cũng từ chối.
            Tác phẩm thứ hai là Thành phố quê hương (La ville natale)… không theo đúng công thức thời đại cho lắm.
            Năm 1961, chàng cho ra đời cuốn Kira Georquievna, tả những giới văn nghệ Nga-sô-viết giống như giới văn nghệ “avant-gardiste” của âu châu ngày nay… có vẻ… sa đọa và phi công thức.
            Những đến cuốn Ở hai bờ đại dương (Surles deux rives de l’Océan) trong đó chàng công kích chế độ “bế quan tỏa cảng” văn hóa Nga-sô và trầm trồ văn nghệ âu châu… thì chàng bị khai trừ ra khỏi đảng. Kroutchev nói rằng ở Nga không cần có những nhà văn nghệ như Nékrassov! Nhưng rồi năm 1964, Kroutchev lại đổi ý về Nékrassov – cho vào đảng lại.
            Bây giờ thì Kroutchev đã bị hạ.
            Chẳng biết số phận Nékrassov ra sao.



NHƯNG CỨ theo dõi đời sống văn nghệ Nékrassov ở Nga như vậy thì thật là hết hiểu nổi… văn nghệ bên Nga! Hết hiểu nổi văn nghệ nói chung. Văn nghệ là cái thá gì thế nhỉ? Biết đường nào mà lần! Biết đường nào mà tính! Vất vả thay nhà văn nghệ!
            Loài người càng văn minh thì giới văn nghệ càng trở nên… phiền phức – bên nầy bên kia màn sắt hay màn tre gì thì cũng vậy cả!
            Con người nói chung có thân phận đã đành – con người văn nghệ lại càng lớn… thân phận! Ăn ở làm sao cho tròn quả phúc đây?

TÔI MỚI đọc lại một số kịch phẩm của Samual Beckett và của Ionesco.
            Lòng tôi cứ nghĩ lẩn thẩn rằng thoại kịch xứ mình không… trưởng thành, chứ giá có lấy một mẩu trưởng thành thì thử dịch rồi dựng kịch của hai cái ông ấy coi phản ứng khán giả ra sao!
            Chắc là trải chiếu cạp điều, đem kiệu bát cống… kèm theo xe Cadillac kiểu tối tân nhất… mà mời khán giả Việt Nam cũng khó có ai mà đi coi kịch của các bực kịch gia tiền phongtrừu tượng… ấy!
            Tại sao.
            Sẽ xin đề cập đến khía cạnh văn nghệ của vấn đề văn nghệ ấy trong một dịp khác để bà con thưởng ngoạn một mẩu văn chương kịch tiền phong (littérature dramatique d’avant-garde) (Xem bài nói về kịch tiền phong cùng trong số nầy).

NĂM 1933, cuốn Le petis arpent du Bon Dieu của Caldwell ra đời. Thiên hạ làm như trời sắp sụp… Hội Bảo vệ luân lý Nữu Ước đưa đơn kiện Caldwell phạm đến thuần phong mỹ tục.
            Nhưng có hơn 60 nhà văn phản đối vụ kiện ấy. Ông tòa Benjamen Greenspan cũng dựa vào thái độ những nhà văn ấy để loại vụ kiện đi. Còn nhà phê bình J. H. Jackson thì tiên đoán là Caldwell sẽ là một nhà văn lớn của quốc tế!



            Quả tình Greenspan nói đúng. Sau nầy cuốn sách dịch ra 12 thứ tiếng và bán tại 18 nước trên thế giới. Ai cũng đọc. Bây giờ thì không ai không biết Caldwell – ngang với tiếng Steinbeck và Hemingway.
            Văn chương duy nhiên của Caldwell rất thần tình! Còn tại sao nó thần tình, nó thần tình ở đâu, ai đọc sẽ thưởng ngoạn – tôi biết ăn biết nói làm sao để phân tách cái hay của một văn phẩm được. Có lẽ trong những cái trừu tượng của trời đất thì cái hay của một văn phẩm xuất chúng là trừu tượng nhất đấy!

HÔM NAY, tôi đọc tạp chí La tabbe ronde số 205, tháng 2 năm 1965, có bài nhan đề là Thơ, một nghệ thuật hấp hối – Póesie, art moribond – tác giả là một thi sĩ lớn nước Pháp: Pierre Emmanuel.



            Bài đó là bài đọc ở Những cuộc hội thảo quốc tế tại Genève (Rencontres internationales de Genève). Những cuộc hội thảo nầy, mỗi năm tổ chức một lần. Riêng bài của Pierre Emmanuel thì hay lắm. Sẽ diễn ra tiếng Việt – khi có dịp.
            Thấy người ta hội thảo mà mình thì không. Cũng buồn chứ!


TAM ÍCH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 3

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 10/06/2017, 12:51:03
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4  [tháng 10 năm 1965 |  104 trang]

MỤC LỤC
An Châu Lan |  Hình ảnh (thơ) |  2
Trần Tuấn Kiệt |  Còi hoang (thơ) |  3
Kim Tuấn |  Lời ru thứ nhất \ Trở về (thơ) |  4
Định Giang |  Vùng trời quê hương chàng (thơ) |  5
Hà Nguyên Thạch |  Bọt nước (thơ) |  6
Nhất Hạnh |  Vòng tay nhận thức (thơ) |  7-8
Hoài Khanh |  Tiếng quê hương \ Hiện (thơ) |  9
Chinh Ba |  Bài thơ trên xương cụt |  10-19
Hồ Hữu Tường |  Cảm đề |  20-26
Phương Hương |  Những giọt âm thanh |  27-28
Tam Ích |  Ngày lại ngày – Sổ tay văn nghệ (tiểu luận) |  29-33
Dương Nghiễm Mậu |  Mỗi người |  34-41
Phạm Duy |  Tâm ca số 4 (nhạc) |  42-43
Sơn Nam |  Hào hoa phong nhã |  44-48
Tuệ Uyển |  Đối diện |  49-55
Nhất Hạnh |  Nói với tuổi hai mươi (tiểu luận) |  56-61
Chín |  Miếng đất bỏ hoang |  62-66
Vương Pển Liêm |  Khái niệm về đường lối giáo dục cộng đồng (tiểu luận) |  67-72
Rumer Golden/Dương Thanh dịch |  Vật sở hữu |  73-82
Phạm Hồ |  Ở giá |  83-89
Nhất Hạnh |  Nẻo về của ý (truyện dài) |  90-99
T.V. |  Hộp thư tòa soạn |  100
Quảng cáo |  101-104


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 10/06/2017, 12:54:12


            Hình ảnh

                        Về linh hồn một người chị
            Bỗng dưng nghe lạnh vai nầy
            Mùa xuân thôi cũng hao gầy cỏ hoa
            Chị đi lệ nhỏ phai mờ
            Còn tôi âm hưởng một bờ hoang liêu


                        Về linh hồn một người bạn
            Vừa quen sau buổi trưa nầy
            Ngại ngùng con mắt trao đầy cảm thông
            Xót xa ngã rẽ đôi giòng
            Hoàng hôn người đã không còn thế gian


                        Cho học trò
            Từ nay ai bế ai bồng
            Cho con khôn lớn trong đồng cỏ xanh
            Mười hai thèm tiếng dỗ dành
            Thân con côi cút thôi đành thân con.


                                                AN CHÂU LAN
                                                (Huế)


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 10/06/2017, 12:57:36


            Còi hoang

            đêm thường gởi mộng hoang vu
            một con sói nhỏ về tru rợn người
            điêu tàn sông núi nầy thôi
            bước em hãy nhẹ triều phơi giữa giòng

            bóng trăng đầu bãi tròn không
            đã hoen ố với một vùng máu xương
            nghe em tiếng sói ru hồn
            mà trong sương lạnh thấy cồn cát trôi

            tặng nhau nửa giấc luân hồi
            nửa thiên đường lỡ ngập người trầm luân
            ta say khói thuốc vô cùng
            kia sao mai đã rụng buồn xuống khe

            tỉnh người đôi mắt đỏ hoe
            ngàn xưa tan hợp mây che khuất trời
            thương em kiếp mọn trên đồi
            với đàn chiên lạc bước rời rã khuya

            một vùng bãi quạnh cây thưa
            còi ta du mục thét vừa đến trăng
            hẹn nhau tắm bến sông hằng
            ta soi nét mặt đêm rằm có nhau


                                              TRẦN TUẤN KIỆT


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 10/06/2017, 13:00:41


            Lời ru thứ nhất

            Ru em giấc ngủ miền sâu
            Tay che mộng ảo biết đâu là mình
            Gọi buồn xa nhớ phiêu linh
            Đêm riêng mơ thấy đôi hình bóng xưa
            Rừng còn núi thấp ngày mưa
            Mây bay thu muộn trăng vừa tuổi yêu
            Với em còn nhớ thương nhiều
            Với anh xa vắng bao nhiêu khóc thầm


                                              KIM TUẤN




            Trở về

            Lên cao lũng thấp sương mù
            Xe qua phố trạm mùa thu đứng chờ
            Tiếc chiều mây núi bơ vơ
            Tay đan kỷ niệm bây giờ cách xa
            Thôi đi rừng khóc mưa nhòa
            Cho em giấc ngủ người qua xứ buồn
            Có sầu mắt nhỏ đêm suông
            Có tơ tóc đó cạn nguồn suối xưa
            Có lang thang chút duyên thừa
            Trời giăng khói xám tình chưa xuống ngàn


                                              KIM TUẤN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 10/06/2017, 13:17:28


Vùng trời quê hương chàng

Như nỗi tiếc nhớ trong đời chàng
Khi chiến chinh đã làm mất đi những tiếng hát trưa hè trong ca dao tuổi nhỏ
Và chàng vẫn ôm giấc ngủ đó, giấc ngủ trong đời chàng như một báu vật của tuổi thơ.
Buổi trưa thức dậy, chiến tranh vẫn lan tràn trên đất nước chàng.
Và trên mình quê hương vẫn còn đầy chứng tích thảm thương,
Chàng bỗng nghe tiếng thở dài, tiếng thở dài mệt nhọc của biển đen.
Rồi chàng trở về trên con đê nghe lời tình tự của gió
Những bước chân cát của nàng đi qua, còn trũng lại trong hồn chàng,
Để suốt đời chàng ôm lưu niệm đó, như lưu niệm của tình yêu.
Và trên đất nước chàng, những giòng lệ bi thương của chiến chinh,
Đã dổ xuống cũng không ngăn được bước đi của lửa loạn.
Ngày trở về của chàng, ngày trở về của chàng,
Trong vùng kỷ niệm đó ở bầu trời quê hương,
Chỉ còn có lời kể lể của gió và bức tường đầy vết đạn xám đen.


                                                ĐỊNH GIANG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 10/06/2017, 15:12:59


            Bọt nước

            lâu rồi xa bước chân quen
            tóc sương bay vẫn rơi mềm kẽ tay
            chiều đi động bóng chân ngày
            hỡi con nước có sầu vây xuống mù
            thuyền đêm gối mái hôn bờ
            mai theo sóng cũng xa mờ biển khơi
            bãi hoang thổi nắng khô trời
            cát tung bay hắt hiu lời hải âu
            ngày xưa đời đã có nhau
            cây thanh xuân trái khổ đau trĩu cành
            bởi thương em cũng thôi đành
            xé hồn thơ để nghe mình thủy chung
            mới hay trời đất không cùng
            nước xa nguồn đã chia giòng xuôi trôi
            biển lênh đênh một mặt trời
            trôi lên bọt nước bóng đời vỡ tan


                                                HÀ NGUYÊN THẠCH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 10/06/2017, 23:46:40


Vòng tay nhận thức

chuông ngân một đêm dài không ngủ
hai bàn chân không, tỳ tay cửa sổ
tôi đợi vườn cây hoa lá hiện hình
ánh sáng chưa về
nhưng trong lòng đêm thâu tôi biết em còn đó
trong lòng đêm thâu hay trong lòng bao la nhận thức
tự bao giờ, em vẫn là duyên sở duyên
lát nữa bình minh về, và em sẽ thấy
cả em, cả chân trời hồng
và cả mầu trời xanh biếc
mênh mang, vời vợi
đều hiển hiện trong lòng mắt tôi
xanh nghĩa là xanh cho ai
hồng nghĩa là hồng cho ai
nghiêng mình trên dòng nước trong, em hỏi
hiện hữu ca lời duy nhất nhiệm mầu.
tôi bỗng mỉm cười hồn nhiên trước đêm sâu hồn nhiên trinh bạch
tôi biết vì tôi còn đây nên em còn đó
và hiện hữu em trở về bừng tỏa nơi nụ cười huyền diệu của đêm nay
sải tay, tôi bơi đi,
bình yên
trong dòng suối trong, im lặng
tiếng nước thì thầm bên tai, êm ái,
tôi ngửa mặt nhìn trời cao, đầu tôi gối sóng
còn kia, đúng rồi mây tráng trời xanh.
xao xác lá thu trong rừng cây
và ngây ngất hương thơm của cỏ rơm đồng nội
kìa ngôi sao khuya đưa lối
cho tôi trở về.
tôi biết là em còn đó, vì tôi còn đây
vòng tay nhận thức, vô lượng do tuần, nối liền diệt sinh năng sở
và tôi đã thấy
trong lòng đêm thâu, hay trong lòng bao la nhận thức,
của em, cũng như của vườn hoa lá
tôi, đã tự bao giờ, vẫn là duyên thân sở duyên
diệu hữu ca lời chân không mầu nhiệm.
đêm thâu còn đang nguyên vẹn
âm thanh hình bóng em về tràn đầy nơi hữu thể
bởi vì đêm nay
tỳ tay trên cửa sổ
và chân không trên nền đất mát
tôi còn đây đang hiện hữu cho em.


                                                NHẤT HẠNH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4


Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 17/06/2017, 10:35:30


            Tiếng quê hương

            Quê hương tôi ở chốn nào
            Phải chăng châu Á buồn đau ngút ngàn
            Mẹ hiền sớm chít khăn tang
            Mầu hương khói lạnh: đồng hoang, chiến trường
            Núi cao lạnh suốt trời sương
            Sông sâu rờn cõi đoạn trường nhân sinh
            Từng niên kỷ vỡ trên mình
            Cành đa vẫn rụng mái đình hoang sơ
            Một đời tôi mãi bơ vơ
            Nhìn sông nước chảy và thơ ấu tàn
            Nhìn trời mây trắng đi hoang
            Nước ơi có vọng cùng non nỗi gì
            Quê hương từ dạo phân ly
            Từng đêm… tiếng hát kinh kỳ xót xa


                                                HOÀI KHANH




            Hiện

            Bắt đầu từ hạt sương trong
            Lạnh từ cõi nào vô chung vô thủy
            Hôm nao ta gặp em trên đường
            Hai bàn tay dịu dàng lá cỏ
            Và con chim chợt hót trên cành
            Vọng những gì phía dưới dòng xanh xanh?


                                                HOÀI KHANH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 17/06/2017, 23:35:56
NHỮNG GIỌT ÂM THANH

NỐT NHẠC cuối cùng vừa chấm dứt. Không gian như ngưng đọng. Tình quê hương tràn dâng. Những giọt âm thanh bằng ngọc thạch còn tản mác trên những cành lá xanh xanh ngoài kia cửa sổ. Paris mùa xuân hay là thế giới âm thanh của quê hương thân yêu? – Tôi lặng im, chờ nghe Ngọc nói một câu gì thật “bông hoa” để cám ơn giáo sư Trần Văn Khê và chị Thúy Dung đã đàn cho nghe bản Lưu Thủy Trường trong một điệu đàn tranh tuyệt diệu. Nhưng mà lạ quá Ngọc vẫn ngồi im lặng đấy. Đôi mắt Ngọc đang nhìn đâu? – Tôi có lầm không? – Không, hai giọt ngọc âm thanh ngưng đọng trong mắt Ngọc thật đấy mà. Hai giọt ngọc thật long lanh phản chiếu cả màu sắc âm thanh và tình thương thể hiện mà tôi chưa từng thấy. Ngọc nói “Nếu quần chúng đau khổ của quê hương ta được nghe những âm thanh màu sắc nầy chắc họ sẽ thấy cuộc đời bớt khổ đau phải không Hương? Không gian và vũ trụ đẹp như vầy tại sao ta lại tự giam mình trong ngục tù của sân hận, ganh ghét, si mê. Quê hương ta đẹp như vầy tại sao ta chẳng chia xẻ cho nhau cùng ở mà phải bắn giết hận thù?
            Cuối giờ học tôi đem ý nghĩ ấy thưa lại cùng giáo sư. Người mỉm cười nói: “Các em lý tưởng quá, nhưng thật ra dân mình nghèo cho đến nỗi họ không còn thì giờ để nghe âm nhạc. Phải có cách gì giúp ích họ thiết thực hơn”.
            Tôi biết giáo sư nói đúng nhưng mà Ngọc nói cũng không sai bởi vì tôi hiểu Ngọc hơn giáo sư đã hiểu. Trong hai vừng sáng của đôi mắt Ngọc lúc đó tôi hiểu không phải Ngọc chỉ muốn nói đến những nốt nhạc của đàn tranh mà thực ra những giọt âm thanh bằng ngọc đó chỉ để tô điểm thêm cho những nốt nhạc đời mà Ngọc và các bạn tôi đang hành động, chỉ để thêm màu sắc cho một cái gì vĩ đại mà các bạn tôi thao thức muốn làm.
            Ngọc chỉ là một trong những người con lạc lõng của Việt Nam đang thao thức được nắn nót một khúc nhạc quê hương. Ước mong đem tiếng nhạc cùng với quần chúng lao khổ ca ngợi tình thương ca ngợi cuộc đời, ca ngợi sự sống để khơi dậy tình thương, sự thông cảm và sự hy sinh sẵn có nơi mọi người. Họ sẽ không cần giữ một địa vị nào trong xã hội, cũng không tranh đấu cho tư tưởng, giai cấp đảng phái chủ nghĩa nào. Họ chỉ ước mong được ca ngợi cuộc đời bằng những nốt nhạc sống của chính họ để cùng với mọi người tái tạo một xứ sở thân yêu trong đó có mùa Xuân với nhiều hạt ngọc âm thanh tản mác trên cành lá xanh xanh, với hoa lá nhuộm màu sắc thương yêu và thông cảm. Để cho bằng cuộc sống và bằng tiếng ca của họ cuộc đời thêm rực rỡ.
            Tôi nhắm mắt lại mơ về một mảnh trời quê hương vào một sáng mai hồng có một đoàn người tay lấm chân bùn đang cày sâu cuốc bẩm. Mắt họ sẽ long lanh những giọt ngọc trong sáng như những giọt âm thanh tôi thấy được sáng nay trong mắt Ngọc và môi họ đang nở hoa thương yêu. Không gian như ngưng đọng vì tiếng hát của họ. Và những hạt ngọc âm thanh thay vì tản mát trong cành lá xanh xanh trong tàng cây Paris sẽ tản mác trong lòng của mỗi người. Trong bài ca họ cùng học hỏi với nhau lịch sử, địa dư, khoa học, văn chương, hội họa.(1) Trong bài ca họ sẽ chia xẻ với nhau những thao thức, những khổ đau, những lầm lỗi, những hi vọng và những thất vọng. Qua bài ca họ sẽ cảm thấy yêu thương nhau hơn.

NHỮNG HẠT ngọc âm thanh bay bay sáng nay trên thành phố Paris đã tản mác về quê hương chưa hở bạn?


Paris, mùa Xuân 64
PHƯƠNG HƯƠNG

_______________________________________
(1) Thường có dịp nghe các bạn tôi ao ước nước mình có được một đoàn nhạc lưu động trong các làng mạc ca hát không phải để lấy tiền mà để giúp vui giải trí cho đồng bào. Và trong lời ca họ sẽ bình dân hóa khoa học, lịch sử, địa dư, văn chương, hội họa, giúp cho những người bạn mình dù trong làng mạc xa xôi cũng có ít nhiều hiểu biết về những tiến bộ của xã hội văn minh nhất.


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 24/06/2017, 20:17:58
NGÀY LẠI NGÀY – SỔ TAY VĂN NGHỆ

HÔM NAY Đại đức Thanh Tuệ, giám đốc nhà Lá Bối, đưa cho tôi đọc cuốn tiểu thuyết Đức Les enfants de Guernica của Hermann Kesten – Blanche Gidon, dịch ra Pháp ngữ – Thomas Mann đề tựa. Nhà Calmann-Lévy ở Paris ấn hành
            Thomas Mann thì ai cũng biết: một tiểu thuyết gia, một nhà văn học cỡ kích thước quốc tế. Một Nobel.
            Có thể nói rằng không biết Thomas Mann của Đức cũng như không biết Việt Nam có Đoàn Thị Điểm… Pháp có André Malrauc…



             Đọc xong tôi mừng quá – mừng một cái mừng lớn, cái mừng của một người tưởng như là nếu mình không được đọc cuốn ấy thì đời văn chương của mình thiệt thòi rất nhiều.
            Tôi dự định diễn ra Việt ngữ.
            Diễn mà không dịch. Tại sao?
            Dịch Âu ngữ ra Âu ngữ cái hay của văn nghệ phẩm còn trọn – đủ chín mươi phần trăm. Mười phần trăm kia dành cho dân tộc của tác giả, cọng cả với chín chục kia, thưởng thức cái hay phát sinh từ dân tộc tính riêng tiềm tàng trong văn chương và ngôn ngữ của riêng dân tộc ấy chỉ có họ mới thẩm mới cảm được cái hay riêng đó của văn chương riêng của nhà văn nghệ của riêng dân tộc họ mà thôi.
            Bằng cớ: nếu không vậy thì không thể nào chúng ta trầm trồ được bản Pháp văn cuốn Pour qui sonne le glas của Hemingway, cuốn sách tôi đã đọc cách đây mười chín năm – tính đến ngày nay đã đọc đủ ba lần nữa… hay cuốn Les enfanis de Guernica của Hermann Kesten… chẳng hạn.



            Đồng thời, dịch văn chương Á đông ra văn chương Á đông, cái hay cũng còn trọn – chẳng hạn như dịch Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh ra Việt ngữ, dịch Ả Q chính truyện của Lỗ Tấn ra Việt ngữ… cái hay còn đủ chín chục phần trăm trong bản Việt văn. Còn lại mười phần trăm dành cho riêng người Trung Hoa cọng với chín chục kia thưởng thức trực tiếp chính bản văn của bồ Tùng Linh, của Lỗ Tấn… là nhà văn riêng của dân tộc họ có một dân tộc tính riêng tiềm tàng trong văn chương của hai họ Bồ họ Lỗ…


            Tại sao vậy? Đó lại là hẳn một vấn đề văn học rồi. Đã là một vấn đề thì phải bàn hẳn ra thành một vấn đề – bàn phải quấy nên chăng bằng một vài ý kiến lẻ loi sẽ không trọn và không vẹn…! Vậy xin khất.


             Chỉ xin nói rằng dịch Âu ngữ ra ngôn ngữ Á đông – như Việt ngữ – nhất là dịch cái hay của văn chương – là một việc thiên nan vạn nan.
            Hỷ nộ ái ố thì ai cũng như ai, mầu da nào cũng như mầu da nào, chủng tộc nào cũng như chủng tộc nào, người bắc cực cũng như người nam cực – ý cũng vậy. Chỉ có cách diễn tình diễn ý thành ngôn ngữ thành văn chương… là khác. Mà cái hay thì nó lại nằm trong ngôn ngữ trong văn chương một cách trừu tượng. Vì không ai dịch được cái trừu tượng cho nên cái chuyện… dịch văn chương hay của Âu Mỹ ra văn chương Việt Nam hay chẳng hạn… là thiên nan vạn nan – như đã nói rồi.



             Đành diễn vậy. Đành diễn thôi.
            Diễn là gì? Diễn là hiểu cho đến cực tế cực vi ý của tác giả, rồi đem ý ấy diễn ra Việt ngữ – và nếu – có chữ nếudiễn được cái hay thì cái hay đó nằm luôn ngay trong việt ngữ chẳng hạn làm cho độc giả Việt Nam có ấn tượng là đương đọc tiểu thuyết Việt ngữ chứ không phải đọc tiểu thuyết ngoại ngữ.

Ý TÔI là thế.
            Nhưng nguyên tắc thì vậy nhưng thực hiện thật là không dễ – có thể nói là vẫn… tuyệt đối vất vả như thường và… như thường.
            Vậy sẽ ráng và thử.
            Rángthử nghĩa là thú nhận kích thước chật hẹp của thẩm quyền diễn của chính mình rồi đấy!
            Chẳng qua chỉ muốn cho thiên hạ biết rằng bên Đức có một nhà văn tên là Hermann Kesten viết một cuốn tiểu thuyết tả cái u ám đen tối của thành phố Guernica nạn nhân của chiến tranh – nhất là đàn bà và trẻ con ngây thơ hiền lành; và đồng thời Hermann Kesten lôi cả vấn đề con người lên thảm xanh.
            Paul Eluard đã làm những bài thơ dài thể hiện cái bi đát của Guernica. Picasso đã vẽ một bức tranh để thể hiện cái bi đát của Guernica – bức tranh ấy hiện là một “gia tài” văn nghệ lớn của văn hóa giới của cả loài người hiện đại. Còn trong văn chương thì Guernica hiện ra dưới ngòi bút của Hermann Kesten…



             Guernica là điển hình chung – xin nói lại: chung – của cả lịch sử loài người. Của cả loài người: trong đó có dân tộc Việt Nam chúng ta nữa kia đấy! Nói một cách khác: nếu có một viện bảo tàng chung của cả lịch sử loài người trong không thời gian để giữ lại hình ảnh nhân sinh chung trong một giai đoạn nào đó – ôi loài người, ôi lịch sử – thì Guernica sẽ có một vị trí lớn…
            Bao nhiêu thế kỷ sau nữa, con người sẽ tới… “chiêm ngưỡng” cái con người, cái mớ người, cái loài người – mà các tư tưởng gia, triết gia, sử gia… cho là giá trị lắm lắm, quí lắm lắm – qua Guernica – đồng thời ngâm thơ Eluar, ngắm tranh Picasso, đọc sách Hermann Kesten…
            Thầy Mạnh Tử có tấm lòng tốt nên thầy đã suy bụng thầy ra bụng người và đã nói rằng tính bản thiện. Cũng may mà thầy nói rồi thầy… chết – không sống đến bây giờ…
            May riêng cho thầy. Vậy thay!

TRONG BÀI tựa cuốn Les enfants de Guernica của Hermann Kesten, Thomas Mann có viết ý này, đoạn chót: Làm sao hiểu được con người nhỉ? Có bao giờ con người hiểu ra cái lẽ này: con người có đáng được sống trong một đời sống tốt đẹp hơn là cái đời sống mà con người đương xây dựng thêm một lần nữa không – cứ tàn phá đi rồi lại xây dựng lại
            Nguyên văn:
            Quelqu’un comprend-it jamais l’homme? Découvrira-t-it jamais s’il mérite un monde meilleur que celui qu’it recommence sans reláchc à se préparer?



             Hai trận chiến tranh lớn rồi – hai lần làm lại rồi. Sắp có một lần thứ ba? Lần này làm lại ra sao, thế nào?
            Nói về kích thước lớn và chung: là cả loài người. Nói về kích thước nhỏ và riêng: là từng dân tộc!
            Lại làm lại nữa!



            Ý của Thomas Mann là ý chung của cả giới trí thức và giới văn nghệ đấy!

HÔM NAY tôi đọc sách Nouveaux discours du Docteur O’Grady của André Maurois. Có đoạn nói về triết lý phi lý (philosophie de l’absurde) của Camus. Lẽ tự nhiên, danh từ triết lý đây không thể hiểu theo nghĩa cổ điển của thế kỷ thứ mười tám trong văn học Pháp, mà cũng không thể hiểu theo nghĩa quán lệ phổ biến định rằng triết học là cái học nghiên cứu nguyên lý của vũ trụ, mà cũng chẳng hiểu theo nghĩa một hệ thống ý tưởng của một triết gia.
            Triết lý có cái nghĩa mà tác giả gán cho nó theo một nghĩa quán lệ khác: triết lý là ý nghĩa người ta gán cho nhân sinh – rằng nhân sinh có nghĩa hay vô nghĩa, có nghĩa là nghĩa gì, vô nghĩa là tại sao…
            Ấy nó mơ hồ trừu tượng đến thế kia đấy!



             Tôi xin diễn cái ý của André Maurois ra đây.
            Đoạn đó ở trang 422 cuốn Les silences du Colonel Bramble, Discours du Docteur O’Grady.



            Camus đi từ ý Vũ trụ là phi lý để lập ngôn. Sự phi lý không hiện hữu trong nhân sinh. Sự phi lý phát sinh từ một sự đối chiếu: đối chiếu một bên là nhân sinh, một bên là lý trí con người – đối chiếu với nhau. Lý trí con người thì đòi hỏi hiểu biết, mà nhân sinh thì không thể hiểu được. Anh chàng Sisiphe lăn một hòn đá từ chân núi lên đỉnh núi, hòn đá rơi trở xuống, anh ta lại phải lăn lại. Đấy, lịch sử nền văn minh của loài người là lịch sử anh chàng Sisiphe – thật là phi lý! Tại sao chúng ta không có tội lỗi gì mà lại bị cái án chung thân là… đầu tắt mặt tối làm việc… và đau khổ: Từ thuở, thiên hạ đã trả lời rằng: “Sống ở đời phải làm việc và đau khổ, để mà… dự bị một cuộc đời mai kia ở… cõi chết…!” Ai cũng tin là linh hồn con người ta bất tử – còn nếu không có sự bất tử để mà tin, thì rồi con người chịu gì nổi cái cảnh mỗi ngày sống như cái máy, sống như con dạ tràng xe cát? Sống thế thì sống làm quái gì cho mệt xác? Trong một cái vũ trụ mà con người không có một ảo ảnh nào nữa để ôm ấp thì con người ra sao: con người thấy mình như một kẻ xa lạ – un étranger. Đó: con người thì muốn hiểu mọi chuyện đâu ra đấy – mà vũ trụ và nhân sinh thì phi lý (irrationnel), thành ra con người có cảm giác là cái gì cũng phi lý: con người đâm ra buồn nản lo âu. Con người ngày nay, mà ta gọi là con người phi lý – l’homme absurde – là một con người vô vọng, sống không hy vọng gì cả. Hắn không tin là có đời sống của linh hồn, không tin là có thiên đường, không tin là có hậu thế nối giòng nối dõi, không tin ở tác dụng của sự tiến bộ – tiến bộ là cái quái gì! Đời sống: sắc sắc không không! Hắn chỉ biết là có một cái đương chờ nó: sự chết.
            Nhưng hắn sẽ tử tự à? Không! Hắn chấp nhận sự sống dù rằng nhân sinh chẳng có nghĩa gì – vì nhân sinh chẳng có nghĩa gì. Nói một cách khác: chính vì đời sống vô nghĩa nên nó cứ sống.
            Hắn cứ sống và tưởng như nhân sinh là có nghĩa thật – vì một chút thể diện siêu hình (point d’honneur métaphysique).



            Đó, ý đó là ý của André Maurois về sự phi lý (l’absurde) của Albert Camus. Tôi chỉ biết rút lấy ý của Maurois và diễn ra. Dịch nó ra thì nó ngây ngây ngô ngô, đôi khi lủng củng. Tôi diễn nó ra vậy. Ấy là chưa nói rằng, tôi diễn… mà nó cũng vẫn làm sao ấy – không Việt Nam một chút nào… Mình không vừa lòng việc làm của mình tí nào!


             Xin bạn đọc, đọc rồi suy nghĩ và mỗi người tùy chủ quan tính của mình mà suy luận. Duy có một điều là chúng ta nên tìm hiểu coi cái tâm lý về sự phi lý ấy – nó là một phương diện tâm lý – nó có ở trong giới thanh niên trí thức tiểu tư sản Việt Nam không.
            Tôi thì tôi nói: có.
            Một phần nào.
            Vì đó chẳng phải là một điểm tâm lý “độc quyền” của người Âu Mỹ.
            Trừ phạm vi của tôn giáo. Nói một cách khác: những người nào, ít nhiều khoác áo tu hành, thì không có tâm lý ấy – bất kỳ tôn giáo nào. Đã tin tưởng, đã có Foi, thì không băn khoăn, thắc mắc, lo âu… khủng hoảng – nhất là khủng hoảng!

TÔI ĐƯỢC đọc vở kịch Un gout de miel của Shelagh Delaney, một nữ sĩ rất trẻ của Anh mà văn học Âu châu ví với Françoise Sagan, cho rằng Delaney là Sagan của Anh – kịch do Gabriel Arout và Françoise Mallet-Jorris phỏng ra Pháp ngữ.
            Delaney mới có 20 tuổi.
            Thế là Anh có hai kịch gia mới – rất mới: John Osborn và Delaney. Mới nhưng không mới theo kiểu tiền phong của Adamov, Beckett, Ionesco, Genet… của Pháp. Ý mới mà thôi – còn cách “kiến trúc” kịch và hành văn trong đối thoại thì vẫn… cổ điển.



            Thì ra làm gì rồi cũng không thoát được đường lối… thông thường – đường lối tự nhiên. Những sản phẩm của… “lập dị” không cưỡng nổi sự thử thách của thời gian – của lịch sử!

TẠP CHÍ Đông Phương số 7 ra ngày 15-8-1965 bắt đầu đăng bản dịch và chú giải Nội Kinh của ông Hoàng Văn Đức. Đối với tôi, y học – nhất lại là y học siêu hình – là một điều xa lạ nhưng tôi đã đọc hết bài thứ nhất với một nỗi mừng.
            Cái vốn cổ văn hóa Á đông là một cái vốn rất phong phú – cực tế cực vi. Nếu nó được khám phá và dùng lăng kính khoa học triết học hiện đại – xin nói lại: hiện đại – soi vào phong phú hóa nó thì thật là vạn hạnh cho văn hóa Á đông. Nó sẽ là một kho tàng tri thức cho Âu Mỹ khai thác, đối chiếu – làm căn bản và làm vốn nhân văn (humaniste) cho cả toàn diện loài người.
            Nhưng cái điều kiện căn bản vẫn phải là phải dùng lăng kính triết khoa học Âu Mỹ hiện đại để soi, để nhìn, để khai thác, để khám phá, để giải thích, để cắt nghĩa – nghĩa là đồng thời phải diễn giải với tính chất sáng tạo. Nhất là tính chất sáng tạo.
            Được vậy, cổ văn hóa Á đông sẽ là những thực thể động – không tịnh – và sẽ tham dự trực tiếp vào Khoa học viết hoa của cả loài người.



             Về ông Hoàng Văn Đức, tôi chỉ được đọc những bài viết – và nghe văn hữu nói ông là bác sĩ.
            Thì lại càng tốt! Một y sĩ nói chuyện y học thì lại rất thích nghi với sở trường của mình rồi!
            Xin hoan nghênh công đóng góp cho văn hóa và xin cầu nguyện cho số chiến sĩ văn hóa đóng góp kiểu ấy một ngày một đông thêm…
            Đã đến lúc toàn diện những dân tộc Á đông – cái khối lớn – nói tiếng nói văn hóa của Á đông. Đã đến lúc trí thức giới Á đông dùng lăng kính khoa học hiện đại – khoa học nghĩa rộng, rất rộng – nhìn vào cổ văn hóa Á đông, chiếu lên bối cảnh lịch sử hiện đại, cho bà con Âu Mỹ thấy rằng suy đến cực vi cực diệu, tinh hoa văn hóa Âu Mỹ và Á đông chỉ là… một mà thôi.
            Một số bài toán vật lý, một số phòng thí nghiệm, một vài cái máy – chưa cho phép ai được… tự tôn với ai…
            Trái lại. Chưa biết mèo nào cắn miu nào…!

NHẬT BỔN có nhà văn hiện đại Kojiro Serisawa viết hai cuốn tiểu thuyết J’irai mourir à ParisLa fin du samourai đều được dịch ra những Âu ngữ.
            Tôi được đọc cuốn thứ hai. Chưa ai tả hết cái khủng khiếp của hai trái bom nguyên tử Hiroshima… đến vậy!
            Thấy con người bị hơi bom nguyên tử mà phát khiếp!
            Tôi cầu nguyện cho tất cả mọi chính quyền trên trái đất đọc cuốn La fin du samourai. Chân thành cầu nguyện!


TAM ÍCH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 01/07/2017, 15:53:06
HÀO HOA PHONG NHÃ

CHỐN QUÊ HƯƠNG đẹp hơn cả.
            Câu nói ấy tuy đúng, tuy đẹp nhưng có thể gây ra nhiều sự hiểu lầm. Đành rằng “chốn quê hương đẹp hơn cả” là cục đá để thử vàng, là một loại ra-đa để dò xét lòng yêu nước của mỗi người nhưng nó phiến diện, gây tình yêu mù quáng. Có lẽ khi nói đến quê hương. Đến nơi chôn rau cắt rún chúng ta nên dùng bốn tiếng “địa linh nhân kiệt”.
             “Địa linh nhân kiệt” bao gồm một sức mạnh vạn năng, nói mãi không hết, phát triển mãi không ngừng, thiên biến vạn hóa, nếu ngày nay chưa linh thì này mai sẽ linh. Thái độ lạc quan ấy sẽ khiến cho người ở vùng phù sa nê địa tránh khỏi căn bệnh tự ty mặc cảm. Hôm nay, ta đứng trên vũng bùn, giữa tư bề lau sậy nhưng ngày mai, ta đứng trên châu ngọc, giữa tư bề gấm hoa. Và khi những gì hung ác, đen tối bị đào thải thì mảnh đất đứng của ta sẽ trường tồn vĩnh cửu.
            Trong Thánh Kinh có nói đến vùng đất hứa. Và Phật giáo với quan niệm Tây Phương, Tĩnh Thổ đã giúp con người khai thác đất hoang, sẵn sàng đến lập nghiệp và định cư nơi vùng bất an, đầy chướng ngại. Nhờ sự kiên trì của các bực danh tăng vào thế kỷ thứ tư mà vùng ranh giới của sa mạc phía Tây Trung Hoa trở thánh xóm đông đúc. Ở nước ta, dãy Trường Sơn đất cày lên sỏi đá vẫn rền vang tiếng chuông từ thảo am. Vùng Rừng Sát bùn lầy còn lưu danh tăng sĩ Viên Ngộ. Vùng nước lụt An Giang tuy là biển khổ nhưng được Phật Thầy Tây An dẫn đường chỉ nẻo, chờ khi vượt bến Mê. Nếu tiếp tục lý luận ấy và tìm bằng chứng ở vùng mũi Cà Mau, chúng tôi thấy khó khăn quá. Vì Rạch Giá-Cà Mau chẳng sản xuất ra được nét điển hình đượm vẻ triết học nào cả.
            Nhứt định phải có động lực tinh thần thúc đẩy việc khai hoang. Động lực nào? Chúng tôi không dám đặt giả thuyết, cho đó là sự phối hợp khéo léo hoặc là ảnh hưởng tạp nhạp của Phật giáo, Khổng giáo, Đa Thần giáo, của truyền thống dân tộc. Công việc ấy đòi hỏi thời gian và sự dè dặt cần thiết. Thật khó lòng mà dán một nhãn hiệu – dầu là tạm bợ – cho những người sống thực tế, thích ăn no, thích giao du, ưa nói chuyện tầm phào và về đêm thì họ ngủ yên, không thắc mắc về vấn đề siêu hình.
            Trước tiên tôi xin nói phác qua về nết ăn của họ.

CÁ TÔM là nguồn lợi lớn. bên cạnh cá tôm còn nhiều loại thượng cầm hạ thú nào rắn, rùa, cúm núm, trích cò, khoan cổ, nhan sen. Ai siêng thì khai thác thủy lợi, đem bán, đổi lúa gạo. Ai lười biếng thì làm ruộng chút ít, đủ gạo ăn. Cá tôm ê hề, nếu đói bụng thì nhậu rượu hết tiệc nầy qua tiệc khác.
            Các cụ già còn nhắc nhở đến bóng dáng mấy chú lái Bà Ba. Bà Ba là người Trung Hoa lai Mã Lai; từ miền Dưới (đảo Pénang – Mã Lai) họ đến vịnh Xiêm La mua cá khô, bán vải bô.
            Áo Bà Ba mà người miền Nam ưa thích là kiểu áo nhái theo thường phục của nhóm thương gia vượt trùng dương nầy, áo không có bâu, ngắn vạt. Vạt ngắn giúp ta cử động dễ dàng, không vướng gai góc. Cái bâu áo là bộ phận thừa thãi, mất vệ sinh, nực nội, lưu trữ đất bụi. Người Bà-Ba mua cá khô (gọi tắt là khô) đem về xứ. Xứ của họ thiếu cá đồng và cá biển. Cá khô bán cho họ thuộc vào loại “khô tàu”, tức là loại khô chế biến sơ sài, dành bán cho các lái buôn Bà-Ba đến miền vịnh Xiêm La bằng phương tiện tàu buồm, kiểu tàu Hải Nam. Con khô được đánh vẩy sơ sài, để nguyên đầu, ướp thật nhiều muối, nhờ vậy mà để dành được lâu và cân rất nặng. Đơn vị đo lường lúc bấy giờ là cần-xé (mỗi mùa cá, mỗi nhà bán ra hàng chục cần-xé khô).
            Bọn lái buôn Bà-Ba chở khô về xứ, vốn một bán mười.
            Nhưng người khai hoang chẳng cần theo dõi vấn đề mua bán ấy. Họ nhận xét:
            – Loại khô tàu ăn không ngon miệng, con khô trông vẻ dơ dáy quá. Cá khô phơi bừa bãi trên đất bùn hoặc trên sân đầy phẩn gà, phẩn heo…
            Loại cá khô để dành ăn trong gia đình là sản phẩm đặc biệt, sang trọng hơn: đánh vẩy kỹ lưỡng, bỏ đầu, phơi trên loại đăng sậy sạch sẽ. Và muối rất ít. Đến mùa làm khô mỗi gia đình lấy làm hãnh diện phơi bày trước sân mớ cá khô ngon lành. Từng con cá nằm ngay ngắn dưới ánh nắng gay gắt. Ở góc sân bếp un cháy bốc khói bay ngùn ngụt theo hướng gió rừng, xua đuổi bầy ruồi nhặng. Bạn bè trong xóm hoặc du khách cứ tha hồ lựa con khô nào ưng ý nhứt, đặt vào bếp un, ăn khi cá vừa chín. Và ăn mãi mãi, không cần xin phép chủ nhà, không cần trả tiền. Cá khô không mặn nên ăn được nhiều, càng ăn càng thấy ngon, hỏi kỹ thì mới hay biết:
            Con khô được ngon, đượm mùi đặc biệt vì làm bằng cá tươi. Nếu đập đầu con cá tươi mà ướp muối thì hỏng. Phải để cá nằm từng đống, cá lên khỏi nước, cá chết không ngợp thở. Chừng ấy mới đem ướp.
            Loại “khô tàu” bán chạy nhứt là khô cá sặc rằn.

LÀM SAO tìm ra hàng chục tàu buồm cá khô để cung ứng cho thị trường hải ngoại. Khi phơi khô. Cá rút hình, nhỏ thó, còn chừng một phần ba: ba cần-xé cá tươi mới làm ra một cần-xé cá khô. Cá ở Miệt Thứ – ven biển vịnh Xiêm La, thuộc tỉnh Kiên Giang nổi danh là nhiều. Sách Đại Nam Nhứt Thống Chí đã gọi là vùng Thập Câu, mười con rạch chảy song song, đổ ra biển, bắt nguồn từ rừng U Minh Thượng. Khu rừng mênh mông nầy giống như Biển Hồ ở Cao Miên nhưng quá cạn. Người xưa gọi đó là Láng Biển.
            Với phương tiện câu kéo thô sơ, làm sao bắt cá, xúc được nhiều cá? Thật ra, người địa phương bắt cá, xúc cá với cái thúng bằng tre. Cách đây vài tháng chúng tôi đã xem qua một phim tài liệu, quay lại những cảnh “cấm kỵ” (tabou) ở vài xứ, từ Âu sang Á. Trong phim, có cảnh chặt ngắn tay để thề nguyền giữa bọn du đãng, cảnh múa men lõa thể ở rừng xanh. Và khôi hài nhứt là cảnh bắt cá với hai tay không ở Mã Lai! Năm ba người lội xuống vũng bùn, thò tay mò cá, thế thôi. Chúng tôi không muốn lên án nhà đạo diễn đã vô tình hay cố ý xem thường trình độ lạc hậu của các dân tộc chậm tiến. Có lẽ nhà đạo diễn ấy quan niệm rằng cá là loại khôn ngoan, muốn bắt thì phải dùng cần câu, lưỡi câu và mồi ngon. Ông ta ngạc nhiên vì người bổn xứ có “thiên tài” bắt cá với hai bàn tay trần, thiếu dụng cụ nhưng mầu nhiệm.
            Chẳng có gì là mầu nhiệm cả!
            Mãi đến ngày nay, đồng bào miền quê vẫn bắt cá dưới sông rạch, với phương pháp cổ truyền. Thỉnh thoảng, chúng ta nghe nói những tai nạn chết người, vì bắt cá.
            Thò tay vào hang cá nhưng rủi gặp hang rắn, đó là chết vì rắn.
            Nhưng thảm thương nhứt là tai nạn chết vì con cá rô. Cá nầy nhỏ con, trên lưng có kỳ, mớ xương nằm song song trên kỳ hơi cứng, nhó lên giống như hàng răng cưa. Gặp khi cá rô quá nhiều, các cậu bé – và người lớn – đưa con cá còn sống nhăn lên miệng mà cắn, cắn ngay đầu cá để tạm giữ nó tại đó, trong khi hai bàn tay tiếp tục mò… thêm.
            Cá bị cắn, đau điếng, tìm đường tẩu thoát, cố sức giãy dụa rồi phóng tới, chui vào cuống họng, mắc kẹt tại đó chận ngay cuống phổi của nạn nhân.
            Nạn nhân chỉ còn biết trợn mắt, kêu trời không thành tiếng, khạc chẳng ra, nuốt chẳng vào. Lúc ấy, con cá dính trong cuống họng lại cựa quậy thêm để rồi cá và người cũng chết tốt.
             “Xe trước gãy bánh, xe sau phải tránh”. Người xưa dạy như vậy nhưng ít ai muốn tuân theo. Người bắt cá say mê với công việc làm. Nếu quá dè dặt thì hết vui. Con cá trị giá chẳng bao nhiêu nhưng bắt cá là một nghệ thuật. Nghệ thuật là một vấn đề vượt khỏi công thức. Sống theo khuôn khổ không phải là sống với trọn vẹn ý nghĩa của nó.



BÂY GIỜ xin trở lại chuyện bắt cá sặc-rằn để làm “khô tàu”, bán đổ bán tháo cho mấy chú lái người Bà-Ba.
            Cá sặc-rằn do bụi đất, than tro mà sanh ra!
            Nhiều người quả quyết như vậy và đưa ra bằng cớ:
            – Trên mặt đất khô ran, nứt nẻ, không có một vũng nước nào vào mùa khô… bỗng nhiên trời trút xuống vài trận mưa đầu mùa. Nước rút vào đất hoặc đọng vài vũng. Từ vũng nước ấy đến bờ ao, mé sông gần nhứt, quãng đường kéo dài hàng ngàn thước. Ấy thế mà hàng chục con cá nhỏ phôi thai, thành hình, lội tung tăng trong vũng.
            Hoặc là:
            – Mặt ruộng khô ran, lởm chởm mấy gốc rạ khô cằn. Nếu ta đốt gốc rạ rồi vài hôm sau gặp trận mưa thì mớ tro của gốc rạ sẽ hóa ra cá sặc-rằn.
            Lần lần, người ở địa phương tìm thêm vài lý do khác. Tinh tế hơn. Họ phơi khô mớ trứng cá, treo lên giàn bếp cho ráo. Vài tháng sau, họ thả trứng cá xuống nước. Trứng nở ra cá.

TRỨNG CÁ sặc-rằn sống dai. Cá đẻ ra trứng, rơi rớt trên cỏ, trên đất bùn khi dứt mùa mưa. Suốt mùa nắng, trứng cá được phơi khô, bọc trứng bể ra, hàng ngàn trứng nhỏ bay tứ tán để nở ra con, khi gặp điều kiện ẩm ướt thuận lợi.
            Vùng đồng chua ở vùng U Minh Thượng đầy nhung nhúc cá sặc-rằn, bởi cớ ấy.
            Đến mùa mưa, cá sanh sôi nẩy nở, cá con trở thành cá lớn. Bắt đầu mùa nắng, bao nhiêu ao vũng, sông rạch nhỏ… đều cạn. Đến mức nào đó, nhìn xuống nước, chúng ta chỉ thấy một thứ bùn lầy sền sệt, đục ngầu, trộn lộn với cá sống.
            Cá lóc, cá trê là loại khôn ngoan, biết chui xuống bùn mà ẩn náu. Chúng chịu đựng nhiệt độ nóng bức của bùn, của nắng rất giỏi nhờ cơ thể to lớn và bộ máy hô hấp tinh vi.
            Cá sặc-rằn yếu hơn, da mỏng, chịu đựng không xuể. Chúng nổi lờ đờ sát mặt nước, nhô đầu lên từng chập. Khi nghe tiếng động, khi thấy cái rổ trờ tới, cá vẫn im lìm, chờ cơ hội giải thoát khỏi vũng bùn của nóng sốt.
            Tha hồ mà bắt cá, bắt hàng chục giỏ. Nhưng hễ bắt nhiều quá thì người bắt cá vô tình vay mượn một món nợ đời khó xử cho ổn thỏa. Phải khuân vác mớ cá ấy về nhà, vác theo đường bộ (vì đường thủy đã bế tắc) suốt năm ba ngàn thước, xuyên qua vùng sình lầy, đầy cỏ dại. Ngoài ra, muốn làm cá khô thì phải có đủ tiền mua muối hột. Tóm lại, tùy theo số tiền mua muối và khả năng khuân vác của gia đình mà mỗi gia trưởng làm cá khô nhiều hay ít.

NHIỀU NGƯỜI lười biếng, chán ngán cái việc khuân vác. Họ chờ khi nào trong xóm có người nào tát cá là đến chơi, để bắt hôi.
            Tát cá là công việc nặng nhọc, đòi hỏi nhân công. Mấy người khá giả thường đào đìa – tức là cái ao lớn, hình chữ nhật – để cá vào sanh sôi nẩy nở. Đến mùa hạn, họ mướn người tát để bắt loại cá lóc, cá trê, thứ cá có giá trị trên thị trường, bán cá tươi.
            Cá sặc-rằn thuộc vào loại “cá bổi”, kém giá trị vì mau chết. Người chủ đìa sẵn sàng khép mình vào thủ tục xã giao của… đường rừng. Họ chỉ được quyền bắt cá lóc cá trê. Lũ cá sặc-rằn thích ở trên mặt nước đều lần lượt chui vào gàu, bị quăng lên, giãy đành đạch trên mặt đất. Ai muốn bắt thì bắt, chủ đìa chẳng bao giờ tranh cản.
            Nhưng tranh cản làm gì? Ở xứ nhiều cá, người ta tặng cá làm quà với nhau. Tặng theo đường lối “nặc danh”, thì ơn bất cầu báo. Thỉnh thoảng, sau khi ngủ trưa hoặc sau khi đi ruộng về, chúng ta thấy bốn năm con cá lóc to nằm lăn lộn trước sân, giữa nhà. Ta nên hiểu: “Đó là tặng phẩm của ông bạn nào đó. Ông bạn vừa tát đìa, bắt cá xong. Lúc đi ngang nhà, ông ta quăng vào làm duyên”. Để đáp lễ, hôm nào ta được nhiều cá thì lúc đi ngang nhà bạn thân, ta nên quăng vào sân vài con. Chẳng cần lên tiếng báo trước. Chẳng cần tự giới thiệu.



NGƯỜI BÀ-BA không còn tới lui mua “khô tàu” ở miền duyên hải vịnh Xiêm La. “Bà-Ba” trở thành danh từ khó hiểu, đi đôi với danh từ “cái áo” thời gian trôi qua nhanh chóng.
            Cá tôm – loại cá đồng – ngày một ít và tăng giá. Cá sống bằng muỗi mòng vì cá ăn con “lăng quăng” mà sống. Nơi nào muỗi nhiều thì cá nhiều. Nơi nào muỗi nhiều thì con người mang bịnh rét kinh niên. Bịnh rét kinh niên không giết được con người vì con người ăn nhiều cá để bổ sung cho mớ hồng huyết cầu bị phá hại. Nhờ ăn nhiều cá mà ở Hậu Giang, xưa kia các bực tiền nhân vui vẻ đóng vai trò người hùng khai hoang. Đang khi bịnh rét hoành hành, các cụ hiên ngang cầm cày, xách phảng ra ruộng, dầm mưa. Rồi về nhà, các cụ ăn liên tiếp năm sáu con cá lóc nướng, uống rượu. Số lượng về cá dành cho buổi nhậu không được qui định trước. Hễ có bạn tới uống rượu ăn cơm thì chủ nhà ngồi lì bên mâm cơm, ăn mãi trong khi bà vợ đứng túc trực bên bếp lửa than nướng cá liên tiếp, đem ra mâm mãi đến khi ông chồng ra lịnh đừng nướng cá nữa.
            Bịnh rét, cá, muỗi mòng, rừng rậm… Bốn yếu tố ấy y như chằng chịt nhau trong cái vòng lẩn quẩn. Lần hồi, ruộng nương thay thế rừng hoang, muỗi mòng bớt dần, bịnh rét bớt dần và con người không còn cái thú muốn ăn cá bao nhiêu thì cứ ăn. Tuy nhiên, thói xưa còn đó. Cái thói ấy khiến cho họ – và con cháu họ – trở nên nóng nảy khi gặp nghịch cảnh. Họ sẵn sàng gây gỗ, hò hét, làm nhiều chuyện mà kẻ khác cho là dại dột, hời hợt, thiếu toan tính. Dầu khi làm thuê, vợ con nheo nhóc, họ cũng nói ẩu những câu nẩy lửa:
            – Xứ nầy chưa ai chết đói. Tao không thèm làm nữa thử coi tao chết hay không. Nghèo túng nhưng tao không chịu bần tiện. Phải bần tiện thì tao giầu rồi.
            Lại kèm theo vài tiếng chửi thề vu vơ.

CHÚNG TÔI muốn gọi đó là cái thói “hào hoa phong nhã”. Các nhà làm tự điển nghĩ thế nào khi định nghĩa bốn tiếng ấy và đưa ra thí dụ? Đồng ý hay phản đối, tùy ý các ông. Vì thú thật, chúng tôi có thói… hào hoa phong nhã là chẳng bao giờ tra tự điển khi nói, khi ăn. Để khỏi mất thì giờ và để giữ vẹn nguồn vui sướng.


SƠN NAM


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 08/07/2017, 14:07:00
NẺO VỀ CỦA Ý

V
MẤY HÔM NAY trời khá lạnh. Ngày mốt tôi đã phải rời bỏ nơi đây rồi. Tôi sẽ ghé Princeton thăm và ở lại đây vài hôm trước khi về Nữu Ước. Những ngày sống nơi đây thật là an tĩnh và mạnh khỏe. Tôi đã chơi rừng, đã chèo thuyền, đã bơi lội với bọn trẻ. Tôi làm tất cả những công việc bọn trẻ làm: đi quan sát các hiện tượng thiên nhiên, tập làm thủ công, chơi bóng bàn, bóng chuyền, chạy đua, đóng kịch, hát, chơi trò chơi lớn… Bọn trẻ thích nhất nói chuyện với tôi và ưa đi theo về Pomona trong những giờ tự do. Tôi đã nói chuyện nhiều lần cho từng nhóm ba bốn chục người. Tối hôm qua người ta làm lễ bế mạc trại theo hình thức của người thổ dân bản xứ. Họ mời tôi tới dự; và bởi vì là khách “quý” tôi được trao tặng lông chim xanh danh dự. Có những màn khiêu vũ kiểu thổ dân rất ngoạn mục. Buổi lễ được tổ chức trong một khu rừng âm u vào lúc mười giờ đêm. Để tôi kể cho Nguyên Hưng nghe.
            Từ những khu trại khác nhau, lúc chín giờ rưỡi đêm, các trại sinh từ bé tới lớn sắp hàng đi lặng lẽ về địa điểm làm lễ. Có những con đường mòn khác nhau dẫn tới khu rừng đã được chọn làm địa điểm ấy, và từng đoàn người trong bóng đêm đi im lặng như những bóng ma. Không ai được đốt đuốc cả. Người đi đầu mỗi đoàn đã phải học thuộc đường rồi và như thế cả đoàn cứ việc đi theo anh ta không sợ vấp, vướng hay đâm nhào vào bụi. Có trên năm trăm trại sinh trong toàn trại, và im lặng được tuyệt đối tôn trọng. Tôi thấy họ dạy dỗ trẻ con tài quá. Mỗi đoàn, khi tới địa điểm, im lặng tìm đến chỗ ngồi của mình. Nơi làm lễ là một khoảng đất trống. Dưới ánh sao, người ta chỉ trông thấy lờ mờ một đống củi. Tất cả đều lặng lẽ chờ đợi.

ĐÚNG MƯỜI GIỜ. Từ một góc rừng vọng lên một âm thanh lạ kỳ, một âm thanh có tính nguyên thỉ và man rợ. Tiếp theo là tiếng trống báo hiệu người tù trưởng đến. Một lúc sau, xuất hiện ba bóng đen trước đống củi lớn. Một bóng đưa tay làm phép trên đống củi và đọc một đoạn cầu nguyện cho lửa thiêng trở về. Giọng hắn nghe mọi rợ và ghê rợn. Người ta chờ đợi. Vài phút sau có tiếng rẹt rẹt trong đống củi, và một tia lửa xanh xẹt lên. Đống củi bừng cháy.
            Lửa càng lúc càng sáng và soi rõ hình dáng ba người thổ dân, cố nhiên là do trại sinh trá hình. Tất cả đều đóng khố. Thân hình đen thui đen thủi, vì đã được bôi thuốc. Mặt mày cũng thế. Lại có thêm nét rạch. Đầu đội lông chim. Tên đứng giữa ra lệnh khai mạc buổi lễ. Những màn múa bắt đầu. Trại sinh đã tập luyện rất kỹ lưỡng. Người nào người ấy đều phục sức như thổ dân, và những màn múa cố gắng diễn tả nếp sống tôn giáo tín ngưỡng của các bộ lạc. Tất cả trại sinh dự kiến đều im lặng. Không ai xuýt xoa một tiếng nào, và dù màn vũ có đặc sắc đến mấy cũng không được vỗ tay. Tôi ưa nhất màn đánh nhau bằng đuốc. Để cướp một người đàn bà, hai thanh niên đã phải đấu đuốc với nhau. Họ cầm những cây đuốc sáng rực và tấn công nhau một cách mãnh liệt. Tất cả mọi người đều hồi hộp cho đến khi cuộc đầu kết thúc và một trong hai người được phép chiếm hữu người đàn bà.
            Tiếp đến là lễ tặng lông chim xanh danh dự cho những người có công trong “vương quốc” Ockanickon, nghĩa là cho những trại sinh xuất sắc nhất của trại hè. Khi tù trưởng gọi đến tên của một người nào được tặng lông chim danh dự, thì từ bốn phía rừng, Đông rồi Tây rồi Nam rồi Bắc, vọng lại tiếng tên họ của người ấy kèm theo những tiếng mõ ngắn. Tiếng vọng có vẻ huyền bí như tiếng của các thần linh đang đứng ở bốn phía để chứng kiến buổi lễ.

TÔI KHÔNG thể không nhớ đến những người bạn Thượng của chúng ta ở B’su Danglu, những người bạn Thượng thường hay đi qua Phương Bối để hái rau rịa. Rau rịa là một thứ rau rừng ăn rất ngon; người Thượng nào cũng ưa thích. Thứ cây này có rất nhiều ở Phương Bối, nhất là trong khu rừng phía Tây Nam. Ta chỉ có thể hái được những đọt lá còn non mầu hồng tím. Lá rịa mọc song đôi trên đọt cho nên Lý đặt tên thứ rau này là song diệp thái. Người Thượng có thể bán cho người Kinh bất cứ thứ gì họ kiếm được ở rừng: tre, mây, phong lan, thịt nai, măng, v.v… nhưng không bao giờ bán lại rau rịa. Họ nói: không ăn rau rịa thì hai chân sẽ nhức mỏi; đi rừng nhắc chân không nổi. Tôi chắc thứ lá ấy có dược tính trừ được tê thấp, hay gì đó. Bác Đại Hà nói những người mất ngủ nếu ăn rau rịa thì sẽ ngủ được. Chúng ta ai cũng thấy điều đó là đúng, và lâu lâu lại vào rừng đi hái thứ rau quý giá đó về để cho dì Tâm Huệ nấu canh. Những người bạn Thượng không nấu canh rau rịa theo kiểu dì Tâm Huệ. Họ đem rau rịa giã nát ra, rồi trộn với ít muối. Xong họ đổ thêm nước và đun sôi lên. Thế là họ có món ăn mà họ ưa thích nhất. Có một bữa Phượng từ Saigon lên ở lại, không nhận mặt được rau rịa cho nên hái nhầm những đọt lá không phải là rau rịa. Ăn món canh rau rịa chiều hôm ấy ai cũng thấy say say. Và chúng ta lại có dịp chế riễu cái cô botaniste hiền hậu đó.
            Thỉnh thoảng gặp những người Thượng đi ngang Phương Bối, chúng ta hay ra mời mọc họ vào chơi uống nước. Những người thượng như thế ít nhiều cũng nói được tiếng Kinh. Còn tiếng Thượng thì chúng ta chỉ biết một vài câu xã giao mà thôi. Bác Đại Hà nói tiếng Thượng thật giỏi, nhưng không có dịp dạy chúng ta. Tôi đã kiếm được một tập tự điển Thượng-Kinh Kinh-Thượng in bằng ronéo, nhưng cũng chưa có dịp thuận lợi để học. Tập tự điển ấy, tôi nhớ còn để ở hộc tủ bên trái trong thư viện, Nguyên Hưng.
            Trong chúng ta, ai cũng có nhiều cảm tình với người Thượng. Họ chất phát và thực thà, cho nên nhiều khi bị lợi dụng. Nhưng, càng bị lợi dụng họ lại càng khôn hơn lên, và bây giờ đây đã có những người Thượng mà tôi tưởng không ai còn có thể lợi dụng được nữa.

NGƯỜI THƯỢNG có sức chịu đựng rất dẻo dai. Thân thể họ có nhiều năng lực kháng độc hơn chúng ta, và những điều chúng ta làm gọi là để mà “giữ vệ sinh” ấy, người Thượng không hề làm, hoặc là không cần làm. Họ ít khi ốm đau vặt, và nếu bị ốm thì là bị ốm nặng mà thôi. Mà một khi đã ốm nặng là khó lòng qua khỏi. Có lần tôi gặp một gia đình người Thượng cõng một người ốm đi ngang Phương Bối. Người này đã già, và chân tay gầy tong teo “như những cây” sậy. Hỏi ra thì người này ốm già, chứ không phải là ốm bệnh. Ông ta sắp chết, không phải vì tật bệnh gì, mà chỉ vì già. Biết rằng ông ta sắp chết cho nên gia đình ông ta cõng về nơi mà ông ta sẽ nằm chết để chết.
            Có một lần khác tôi trông thấy một người đàn bà Thượng tắm cho con trong một dòng suối. Tôi rùng mình. Đứa bé chỉ vào khoảng hai tuổi, mà nước dưới suối tôi biết là rất lạnh. Trời rét, tôi phải mặc áo ấm, thế mà đứa bé chịu đựng được, không hề kêu khóc. Tôi biết là bất cứ đứa bé nào ở thành phố mà cho về tắm dưới dòng suối kia theo kiểu người đàn bà Thượng thì cũng ít nhất là bị sưng phổi. Da thịt của hai mẹ con hình như bằng đồng thì phải. Dì Tâm Huệ còn nói rằng người Thượng còn tắm nước mát lạnh cho cả những đứa bé sơ sinh nữa. Người ta nhúng đứa bé xuống nước vài lần. Những đứa nào chịu được thì sẽ sống mạnh khỏe. Những đứa nào không chịu được thì chết. Không biết điều này có thực không. Nếu thực thì ta có thể có thêm một lý do để hiểu tại sao dân số Thượng hầu như không tăng không giảm.

NGUYÊN HƯNG có nhớ một buổi chiều cùng với bác Đại Hà trồng bạch mai trước sân, chúng ta đón một đoàn người Thượng đi ngang Phương Bối hay không? Họ mang cung tên, trong đó có những mũi tên tẩm thuốc độc. Chúng ta đã ngừng tay và nói chuyện với họ, qua tài nói tiếng Thượng của bác Đại Hà. Lần đầu tiên tôi được mân mê trong tay những mũi tên có tẩm thuốc độc. Bác Đại Hà cắt nghĩa về cái chất vàng vàng ở đầu mũi tên đó. Để chứng kiến tài nghệ của những người Thượng, Lý yêu cầu họ bắn một mũi tên lên cành cây cong ở khu rừng trước mặt. Bác Đại Hà thông ngôn xong, họ nhận lời ngay. Một người trong đoàn lấy ra một mũi tên – không có thuốc độc – và lắp vào cung. Tiếng giật của dây cung và tiếng mũi tên xé gió đi tới làm cho tôi có cảm nghĩ rằng mũi tên thế nào cũng đi lạc. Nhưng không, sau một âm thanh khô cứng và bén nhọn, tất cả chúng ta đều reo mừng khi thấy mũi tên đã cắm trên cành cây cong, thân tên vẫn còn rung rung.
            Đối với chúng ta, đoàn người Thượng hôm ấy là một đoàn người Thượng có phong thái hơn cả, và có tính cách Thượng hơn cả. Một đoàn người như thế thì đi bất cứ khu rừng nào cũng không còn phải sợ hãi gì nữa. Chắc lúc ấy Triều Quang đang tưởng tượng trong óc những lúc đoàn người này gặp cọp giữa rừng và hình dung ra những trận ác chiến ghê gớm giữa người và cọp. Quang hỏi: “Khi gặp cọp trong rừng các ông làm gì?” và chờ đợi nghe những bí thuật những chiến lược đặc biệt của người Thượng để đối phó với cọp. Bác Đại Hà vừa thông ngôn xong thì câu trả lời bằng tiếng Thượng của người vừa bắn mũi tên trổ tài cũng tới ngay, và rất ngắn. Bác Đại Hà dịch lại: “Khi gặp cọp thì chúng tôi… chạy”. Tất cả chúng ta đều rũ ra cười, phá lên cười, ôm bụng mà cười vì không có ai chờ đợi một câu trả lời như thế, có lẽ trừ bác Đại Hà, người thông hiểu về đời sống của người Thượng hơn hết. Những người khách Thượng ngơ ngác không biết chúng tôi cười vì duyên cớ nào. Họ đã trả lời một cách giản dị và thành thực. Điều đó không có gì đáng cho là khó hiểu hay buồn cười cả. Họ không ngờ chúng tôi cười chỉ vì đã tưởng tượng nhiều quá trong óc chúng tôi về những trận ác chiến với cọp.
            Bác Đại Hà cắt nghĩa: “Cọp ở miền này không có ý hại người, không hay giết người ăn thịt. Vì hươu nai và các thú rừng rất nhiều, rừng không nghèo như ở miền rừng Quảng Bình, Quảng Trị. Cọp chỉ xông vào vồ người hoặc kịch chiến với người khi nào cọp bị dồn vào một thế bí. Vì vậy gặp cọp trong rừng thì chỉ cần tránh ra khỏi con đường cọp đi, thế là yên. Chạy có nghĩa là tránh đừng gặp mặt cọp trên đường cọp đi, thế thôi”.
            Tuệ cười đến chảy nước mắt, phải lấy khăn lau. May là chúng tôi gặp những người Thượng chất phát cho nên chúng tôi mới dám cười thẳng thắng như vậy, chứ gặp những người dưới phố mà cười như thế thì chắc là phải có gây gổ với nhau rồi. Muốn tránh sự gây gổ thì phải bóp bụng lại, đừng cười. Mà làm sao có thể nín cười trong một trường hợp như thế, hả Nguyên Hưng.
            Có một hôm, anh Phương con dì Tâm Huệ một mình với chiếc xe đạp cũ leo theo con đường mòn để vào Phương Bối. Qua rừng Tham Thiền chưa được mười thước, ở chỗ ngã rẽ, anh thấy một ông Ba Mươi rất to lớn nằm ngay giữa đường, xoay lưng về phía anh, đang mơ mộng nhìn về giải núi xa xa trước mặt. Thật là bất thần. Không biết là nếu ở vào trường hợp của Phương, Nguyên Hưng hay tôi có chết khiếp đi không chứ theo lời Phương kể lại hôm đó thì Phương thấy lạnh hết xương sống. Ông Ba Mươi vẫn nằm đó, như không hay không biết, chi cách Phương có ba bước. Quay xe đạp chạy trốn là một điều nguy hiểm vì Phương biết nếu ông Ba Mươi nghe tiếng động quay lại, ông ta sẽ vồ ngay Phương. Thật là tiến thối lưỡng nan. Phương liền thi hành kế sách làm cho ông Ba Mươi giật mình để ông ta phóng vào rừng. Cậu ta liệng chiếc xe đạp ngay sau lưng con cọp một cái rầm vừa la “ối trời ôi, ối trời ôi” vang cả rừng. Đúng lúc ấy tôi đang đi thăm những gốc khuynh diệp mới trồng. Nghe tiếng kêu hoảng hốt, tôi giật mình tìm ra tới chỗ Phương. Lúc ấy thì ông Ba Mươi đã đi rồi, và Phương ngất xỉu giữa đường với chiếc xe đạp. Thì ra nghe tiếng rầm của chiếc xe đạp và tiếng hò hét của Phương ông Ba Mươi không “giật mình phóng vào rừng” như Phương dự tưởng. Ông ta từ từ đứng dậy, không thèm ngoái lại, và uể oải đi từng bước vào rừng. Tôi ra gặp một anh Phương xám xanh như gà cắt tiết. Tôi vội gọi dì Tâm Huệ và chúng tôi dìu Phương vào. Suốt ba ngày, Phương chưa lấy lại đủ ba hồn, bảy vía.
            Nguyên Hưng ơi cũng là may ở B’su Danglu cọp không ăn thịt người nên mấy lần gặp cọp chúng ta cũng chẳng bị hề hấn chi. Ngày xưa có người đành lòng lên ở chỗ nhiều thú dữ để dù rằng có bị thú dữ ăn thịt đi nữa thì cũng không đau khổ bằng sống dưới một sự cai trị hà khắc nhiều khốn đốn. Phương Bối tuy rằng không phải là một nơi đầy thú dữ, một nơi sơn lam chướng khí độc địa – trái lại, là một nơi rất đẹp, rất yên tĩnh, rất kỳ thú – nhưng còn chúng ta, cái gì đã khiến chúng ta bỏ thành thị bỏ xóm làng mà lên đây? Chúng ta nhất là Lý và tôi, không được chế độ chấp nhận. Mà không được chế độ chấp nhận là bởi vì chúng tôi thao thức muốn nói những điều mà chúng tôi cho là sự thực. Nguyên Hưng ơi, tôi thấy rằng cái Chân hoặc cái Thiện bao giờ cũng phải đi với cái Cường nữa thì mới có thể có chỗ đứng trên trái đất này. Ngày xưa học thơ ngụ ngôn của La Fontaine, tôi rất bất bình khi nghe nói rằng lý luận của kẻ mạnh là lý luận hay hơn cả. La raison du plus fort est toujours la meilleure! Tôi giận ứ cả cổ. Tôi ghét con chó sói lắm. Tôi vẫn tin rằng câu ấy là một câu nói mỉa mai, chớ không phải là một chân lý. Nhưng mà đã mấy mươi năm qua rồi, cuộc đời đã bao nhiêu lần cho tôi biết rằng đó là một chân lý, dù là một chân lý đáng ghét. Chân lý mà không có sức mạnh thì không có chỗ đứng. Sức mạnh không hẳn là bạo lực. Nhưng mà anh phải mạnh. Chúng ta chỉ có những cây bút nhỏ, làm sao chúng tôi chống chọi lại với một chế độ, hả Nguyên Hưng.
            Và tất cả chúng ta, nào Mẫn, nào Hiện, nào Hương, nào Tuệ, nào Hưng, và bao nhiêu người khác nữa cũng không tìm được chỗ đứng của chúng ta trong tổ chức Phật giáo. Chúng ta đã mang tiếng là những người gieo rắc tư tưởng phản giáo lý truyền thống, những người quá khích, những người chỉ biết phá hoại. Chế độ không dung được ta, mà truyền thống cũng không dung được ta. Cổ họng chúng ta bé bỏng. Nói chuyện thống nhất Phật giáo, nói chuyện hiện đại hóa lễ nhạc, giáo dục, hoằng pháp, nói chuyện về một nền Phật giáo nhân bản và dân tộc, những điều ấy chúng ta đã đeo đuổi từ gần tám năm nay. Những hạt giống đã gieo, một cách vô cùng khó khăn. Trong khi chờ đợi, chúng ta gặp toàn những giông tố, những ghen ghét, những thành kiến cố chấp hủ bại. Tuy nhiên chúng ta không nản chí, không thất vọng. Một số hạt giống đã lưa thưa mọc lên. Cùng với sự bất mãn chế độ, ý thức về một nền Phật giáo dân tộc dần dần tượng hình. Nguyên Hưng không ngờ được rằng ảnh hưởng của những tư tưởng kia đã sâu đậm như thế nào ở miền Trung. Một buổi chiều đi với Như Huệ và Như Vạn trong một xóm nghèo ở Quảng Nam, tôi nghe tiếng võng kẽo kẹt hòa theo tiếng ru em, những câu ca dao của Tâm Kiên! Tôi muốn chảy nước mắt.
            Có lẽ là chúng ta không nên ngạc nhiên quá, và không nên đòi hỏi quá. Sự vùng dậy để thoát xác của một nền văn hóa không phải là một cái gì có thể thực hiện một cách dễ dàng và êm đềm. Sự dễ dàng và êm đềm chỉ có thể đi đôi với tinh thần nô dịch. Mà đã là nô dịch thì văn hóa không còn là văn hóa nữa, mà chỉ còn là một dụng cụ. Những mâu thuẫn và khổ đau gây nên do sự va chạm giữa cái cũ và cái mới vốn là những gì không tránh được. Chỉ có một con đường phải đi – con đường của sự tranh đấu bền bỉ và gian khổ.
            Nguyên Hưng ơi, vì nghĩ như thế nên chúng ta đã làm việc tích cực trong thời gian ở Phương Bối. Tuy rằng chúng ta có những buổi thám hiểm núi rừng, những ngày cắm trại, những buổi bình văn, và tuy rằng tất cả những sinh hoạt ấy đều rất thú vị, chúng ta cũng đã để rất nhiều thì giờ vào việc học tập, tra cứu, viết lách. Lý thường thức rất khuya trên đống bản thảo. Còn tôi tuy sức khỏe không cho thức khuya, tôi cũng làm thật nhiều việc. Ngoài sự sưu tầm, viết lách tôi đã khởi thảo bộ Phật Học Từ Điển. Công việc này dở dang; trước khi đi, tôi đã giao lại cho một số các bạn trẻ ở Phật học viện Nha Trang tiếp tục. Tôi rất sung sướng nghĩ đến những buổi học nơi nhà Thượng hay ở thư viện. Nguyên Hưng và Thanh Tuệ đã làm việc rất siêng năng. Ngoài những môn học thường nhật, thỉnh thoảng tôi ưa giảng cho Hưng và Tuệ về những đề tài đặc biệt. Tôi chắc Nguyên Hưng còn nhớ hôm tôi đem giảng những đoạn trong Cựu Ước. Những cuộc hội thảo xảy ra luôn luôn, một cách tự nhiên và Lý có vẻ hùng biện hơn ai hết. Nói thế chứ nhiều khi tôi cũng hay “bắt nạt” Lý lắm, phải không Nguyên Hưng? Thầy Thanh Từ thì ít nói, hay cười hiền lành. Tuy vậy thỉnh thoảng chúng tôi vẫn bắt thầy điều khiển những buổi hội thảo. Tôi nhớ có một lần thầy hướng dẫn hội thảo về thiền. Lần này có một nhóm sinh viên Phật tử ở Saigon lên thăm và tham dự. Thầy hiền quá, và buổi hội thảo đã trang nghiêm quá.
            Triều Quang ít nói trong các buổi hội thảo, nhưng hễ nói thì nói những điều có thể gây nên những “vấn đề lớn”. Quang rất say mê làm việc ngoài rừng. Cậu ta dọn một khoảng thật đẹp ở khu rừng trước mặt, sửa sang cho thật xinh, và gọi đó là nội cỏ thiên đường. Quang rất thích nuôi một con bò con. Nuôi một con bò, ý định ấy được vài người trong chúng ta tán thành. Tuệ cười nói: “vậy thì sẽ có sữa uống buổi sáng”. Còn tôi thì ngại ông Ba Mươi. Nuôi một con bò con tức là mời các ông Ba Mươi tới viếng thăm ban đêm.
            Một hôm Quang trông thấy những người Thượng đi ngang, mang theo một con nai nhỏ. Con nai bị trói lại trông rất đáng thương. Quang nhất định mua con nai ấy để nuôi trong nội cỏ thiên đường. Lần này không ai ngăn cản Quang cả. Nhưng con vật, tuy được cởi trói và đối đãi thật tử tế, vẫn không chịu ăn bất cứ một thứ gì. Ba bốn hôm liền như vậy. Đến hôm thứ tư, Quang thử cho uống sữa. Con vật thích lắm. Nó uống sữa xong, đi chơi quanh quẩn trong nội cỏ. Nhưng đến sáng mai, không ai tìm thấy nó nữa. Nó đã trở lại núi rừng.
            Viết cho Nguyên Hưng đến đây tôi lại nhớ đến Datino, con nai nhỏ bé của bọn Cherrokees. Datino lớn như thổi. Đứa trẻ nào cũng ao ước được mang Datino về nhà. Tôi đã đề nghị trả Datino về rừng. Một số các em tỏ vẻ luyến tiếc, nhưng phần lớn đều tán thành.

NGUYÊN HƯNG ơi, mùa Hè năm ấy, bao nhiêu việc buồn đã xảy đến cho chúng ta. Chị Diệu Âm ốm nặng phải chở lên điều trị tại bệnh viện của bác sĩ Sohier. Lý bị bắt. Tôi phải trốn về Saigon. Phương Bối bị đe dọa. Tuệ, Hưng và tất cả những người ở Phương Bối bị bắt buộc phải rời bỏ Phương Bối để vào trong ấp Chiến Lược. Công an nghi rằng chúng ta đang làm gì ở miền núi rừng nên cứ đến Phương Bối để hỏi thăm, dò la. Những người công an này “kém” lắm, bởi vì trông tướng mạo họ và nghe một vài câu hỏi của họ, ta đã có thể biết ngay rằng họ là công an rồi. Đột nhiên chúng ta mất hết những an tĩnh của chúng ta. Phương Bối bị đe dọa trầm trọng. Chúng ta chứng kiến cảnh thiên đường bị mất dần dần.
            Tôi tin rằng không ai trong chúng ta mà không nhớ rõ từng chi tiết của giai đoạn khó khăn ấy. Ba ngày hôm sau Như Hiền báo tin bệnh chị Diệu Âm đã được thuyên giảm trong khi điều trị ở bệnh viện Sohier, chúng ta nhận được tin cấp báo ở Dalat cho biết rằng bệnh tình chị trở lại trầm trọng hơn bao giờ hết. Hoảng kinh, Nguyên Hưng và tôi vượt rừng tìm về xa lộ, đón xe ngược Dalat. Từ mười giờ sáng đến bốn giờ chiều, chúng ta không đón được một chiếc xe nào cả. Xe đò chiếc nào cũng đầy ăm ắp. Chúng ta đưa tay lên đón theo kiểu auto-stop bất cứ một chiếc xe nào. Chúng ta quên đói, quên mệt, mà chỉ lo lắng. Bốn giờ hơn, may mắn chúng ta đón được xe của một người quen. Xe của Phan Tấn Nghĩa. Mừng quá, chúng ta hối thúc Nghĩa lái chạy thật nhanh. Con đường như dài vô tận. Đến Dalat, Nghĩa đưa chúng ta đến thẳng bệnh viện Sohier. Chị Âm đã tỉnh rồi, và cơn nguy hiểm đã qua rồi. Chị cười yếu ớt. Mắt chị sáng lên khi trông thấy chúng ta.
            Chắc Nguyên Hưng cũng nhớ rằng, sau thời gian điều trị ở Dalat, chị đã được chúng ta đưa về Saigon, điều trị ở Grall, và sau đó về Huế. Bởi vì Dalat rét quá, không thích hợp với bệnh của chị. Chị đã lấy lại được sức khỏe trong thời gian ba tháng. Khi tôi ra đi, chị có vẻ tin tưởng và hy vọng. Tôi ngồi bên giường chị, ở Thiên minh, và nói chuyện với chị về những dự tính cho công việc sau này. Chị hơi mệt, nhưng nụ cười của chị rất tươi. Tôi nói tôi chỉ vắng mặt chín tháng thôi, rồi tôi lại trở về. Mà khi tôi về thì tình hình sẽ sáng sủa hơn, chúng ta sẽ làm được nhiều việc hơn. Chị chăm chú nghe tôi nói và sẵn sàng tin nơi những điều tôi nói. Tôi có cảm tưởng rằng trong khi nói chuyện với chị, tôi tưới được thêm những chất liệu của niềm tin trên tâm hồn chị. Tội nghiệp cho chị. Chị mất sau đó không lâu, nghĩa là khoảng ba tháng sau. Lúc ấy tôi ở Princeton. Ai tin do Hoàng Phong ở Huế gửi sang. Tôi bàng hoàng và lặng người đi. Bởi vì tôi đã tin rằng chị có thể qua khỏi.
            Tôi viết trên tập bản thảo của tôi mấy chữ đơn sơ: thương tiếc chị. Rồi tôi quỳ xuống cầu nguyện cho chị. Giờ chị ra đi, chắc chị nghĩ đến tất cả chúng ta, đến Mai Lâm và đến Phương Bối thân yêu. Rất an ủi cho tôi là lúc chị ra đi, vẫn còn có Nguyên Hưng ở Huế. Có cả Thanh Hiện, Như Hiền và Như Liên nữa. Mai mốt tôi về thì đã không còn chị. Bây giờ tôi ước ao ngồi bên tháp chị, ở Từ Quang, để nghĩ đến chị, để tâm hồn tôi có thể nói chuyện với chị. Cố nhiên là chị không chết, người như thế làm sao chết được. Chị đã sống một cuộc đời đẹp, hoạt động và giàu tin tưởng. Trong chúng ta, ai cũng mang hình bóng của chị. Ta thương xót chị, nhưng ta vẫn có thể nở một nụ cười thương yêu khi nghĩ tới chị. Để tôi kể chuyện hôm vào thăm chị ở nhà thương Grall Saigon. Chiều hôm ấy là chiều cuối năm. Tết năm nay có lẽ buồn nhất ở Phương Bối. Nguyên Hưng đã phải phiêu dạt ra Huế rồi, và những người khác cũng đi mỗi người một ngã. Duy chỉ còn thầy Thanh Từ, chú Thanh Tuệ và dì Tâm Huệ là còn gan ở lại. Tôi thì cũng không sợ gì, nhưng mọi người ai cũng bắt tôi phải rời Phương Bối cả. Ai cũng lo cho tôi. Tôi phải vào Saigon, và ở lại Trúc Lâm. Độ ấy tôi bắt đầu hướng dẫn cho một số sinh viên các phân khoa thành lập các lớp học tập đầu tiên để đi tới sự thành lập hội Sinh viên Phật tử Việt Nam. Công việc gặp khá nhiều trở lực, từ ngoài đi vào cũng như từ trong đi ra, điều này chắc Nguyên Hưng không thấy. Hồi ấy có Khanh, Dương, Chiểu, Phượng, Chi và Cương là những người có thiện chí nhất. Họ biết rất rõ điều ấy. Chiều ba mươi Tết đáng lẽ đến dự buổi họp mặt của họ, thì tôi đi thăm chị Diệu Âm. Tôi nói chuyện và đọc báo Xuân cho chị nghe, và ở lại với chị cho đến khi giao thừa trở về. Hồi đó người ta cấm đốt pháo, và chắc bây giờ cũng vậy. Tôi thắp những cây nến hồng bên cạnh những chậu hoa tôi mang đến tặng chị. Một giờ khuya, tôi chúc tết chị, và yêu cầu chị đi ngủ trước khi tôi từ giã chị. Một mình tôi đi bộ từ nhà thương Đồn Đất về tới chùa. Giờ này không còn xe cộ gì nữa cả. Sương xuống, tôi phải trùm vạt áo lên đầu. Tôi đi ngang qua tổng thống phủ, sáng rực với những hàng bóng điện viền quanh mái, và mỉm cười trước sự kiêu hãnh của ngôi nhà. Tôi biết là ngôi chùa gần nhất là chùa Xá Lợi, Và giờ này thì khách thập phương cũng đã đến lễ bái đông đảo như ở Lăng Ông Bà Chiểu rồi.

NĂM THÁNG SAU thì Lý cũng được chở vào điều trị ở bệnh viện Cơ Đốc Phú Nhuận. Chứng bệnh nhức đầu ghê gớm của Lý ngày xưa đã trở lại. Lý là một người có nghị lực, thế mà khi đau quá, Lý phải hét như một người điên và nước mắt của Lý chảy ràn rụa. Nếu Lý không bị bắt thì chắc chứng bệnh cũ không đến nỗi trở lại như thế đâu. Một hôm có người khách quen, thầy Đức Nhuận, từ Saigon lên thăm Phương Bối lần đầu. Lý và Nguyên Hưng sau khi đưa khách vượt rừng ra xa lộ, đã vui chân đi bảy cây số đường bộ về tới Bảo Lộc. Hai người đang đi mua ít vật dụng trong chợ, thì một người công an tới đưa giấy tờ cho Lý xem và mời Lý về ty. Thế là Nguyên Hưng cũng phải đi theo Lý vào ty công an. Nguyên Hưng nhất định không ra về nếu Lý không về. Họ bảo Lý khai, Lý đòi giấy bút. Họ cho giấy bút. Thế là Lý ngồi viết cho đến chiều. Viết cho đến chiều hết giấy, Lý xin thêm giấy nữa. Họ đưa Lý và Hưng về chùa Bảo Lộc. Rồi sáng mai, họ trở lại mời Lý vào ty. Có lẽ để viết thêm.

LÚC ẤY đang loay hoay với mấy cái danh từ Phật học, tôi thấy Nguyên Hưng về. Sau khi kể lại mọi chuyện, Nguyên Hưng đưa cho tôi một mảnh giấy của Lý viết: nếu tôi không về nữa thì thầy sẽ viết cho hết cuốn sách giùm tôi. Tôi cảm động quá. Mọi người ở Phương Bối ai cũng bảo tôi nên đi Saigon để tránh. Tôi có làm gì mà phải đi tránh. Có lẽ chúng tôi bị họ để ý chăng. Hoặc giả họ ghét và muốn trả thù vì chúng tôi đã viết lách chống báng họ chăng. Cái thời đại này, hễ ghét ai thì cứ gán cho họ tội làm Việt cộng dù họ là người quốc gia. Ở đây thấp cổ bé miệng làm sao nói được cho ai nghe. Nghĩ như thế tôi liền thu xếp về Saigon xem ra có thể giúp gì được cho Lý. Tôi dặn Tuệ nếu tối nay chúng không thả Lý thì đánh điện cho tôi biết. Còn nếu chúng thả Lý thì cũng đánh điện cho tôi biết.
            Đợi mãi cho đến trưa hôm sau nữa điện tín mới về. Nội dung bức điện như sau: “Xin cho biết bệnh tình chị Diệu Âm có thuyên giảm không?” Tôi mừng rỡ vì nội dung ấy có nghĩa là chúng đã buông Lý. Mà tôi đã dặn nếu Lý được ra thì phải cho Lý về Saigon ngay.
            Lý về Saigon được ít lâu thì chứng nhức đầu tái phát. Hồi ấy, Nguyên Hưng đã ở Huế rồi. Tôi phải đưa Lý vào bệnh viện và phú thác cho Phượng chăm lo cho Lý. Cũng may mà Lý bình phục sau đó gần một tháng trời. Hôm tôi ra đi, Lý rất băn khoăn. Chính Lý cũng như mọi người đã khuyên tôi nên đi. Ở nhà cũng không làm được gì, Lý và cả Nguyên Hưng cũng nói như vậy. Lý có mua cho tôi một cuốn sách. Mãi đến khi sang bên này tôi mới mở ra xem. Trang cuối có hai giòng chữ của Lý:

                        “Nếu ngày về thấy khung trời đổ nát
                        thì tìm em nơi tận đáy lòng anh
”.

            Khi tôi phát giác ra hai câu ấy, tôi giật mình và lo sợ. Tình thế càng lúc càng căng thẳng. Chế độ đã tàn bạo nên bao nhiêu bất mãn và oán thù. Phương Bối đã coi như vượt khỏi tầm tay của chúng ta rồi. Lý đã tiên đoán một cuộc đổ vỡ ghê gớm. Tôi rùng mình nghĩ đến ngày về, và tôi cầu nguyện cho những người thân yêu, cầu nguyện cho tất cả chúng ta.
            Tuệ đã lại đi dạy học lại và chỉ về Phương Bối vài lần trong một tuần. Ấp chiến lược được thiết lập sát bên xa lộ. Ban đầu thầy Thanh Từ, Tuệ và dì Tâm Huệ còn nán lại, nhưng sau đó ít lâu, mỗi người cũng phải tản mát một nẻo. Thầy Thanh Từ cũng đã về Phú Lâm lâu rồi. Thanh Tuệ và dì Tâm Huệ cũng phải tạm trú ở Đại Hà thỉnh thoảng mới vào thăm Phương Bối. Tội nghiệp cho Thiền Duyệt Thất. Tội nghiệp cho nhà Thượng. Tội nghiệp cho từng lá cây ngọn cỏ.

TÔI NHỚ trước ngày đi, tôi có lên Phương Bối thăm một cách đột ngột. Tôi ngủ lại một đêm. Buổi sáng hôm ấy trời đầy sương lạnh lẽo. Tôi giã từ thầy Thanh Từ, giã từ Phương Bối, giã từ những cuốn sách của tôi, tôi để lại cho thầy Thanh Từ một bài ngũ ngôn, như một bài chúc tụng như sau:

                        Gối nhẹ mây đầu núi
                        Nghe gió thoảng hương trà
                        Thiền duyệt tâm bất động
                        Rừng cây dâng hương hoa
                        Một sáng ta thức dậy
                        Sương lam phủ mái nhà
                        Hồn nhiên cười tiễn biệt
                        Chim chóc vang lời ca
                        Đời đi về muôn lối
                        Quan san mộng hải hà
                        Chút lửa hồng bếp cũ
                        Ấm áp bóng chiều sa
                        Đời vô thường vô ngã
                        Người khẩu Phật tâm xà
                        Niềm tin còn gửi gắm
                        Ta vui lòng đi xa
                        Thế sự như đại mộng
                        Quên tuế nguyệt ta đà
                        Tan biến dòng sinh tử
                        Duy còn Người với Ta
.

            Thầy Thanh Từ xem xong rất cảm động. Tôi nói: Tôi đi rồi lại về. Và ở bên này có rất nhiều khi tôi nhớ thầy, một hôm đọc Ngữ lục tôi thấy có câu:

                        Trương kiến kha kha tiếu
                        Viên lâm lạc diệp đa.

            Và bất giác nhớ hình ảnh Phương Bối quá. Tôi dịch hai câu ấy ra như sau:

                        “Gặp nhau cười ha hả
                        Lá rụng ngập vườn rừng


            Có phải là khi nào đi từ cầu Mai đến đồi Thượng mà gặp nhau, chúng ta cũng thấy như thế phải không Nguyên Hưng?
            Nhưng hết rồi, hết rồi, Phương Bối đã lọt ra khỏi tầm tay của chúng ta rồi. Tội nghiệp cho từng gốc cây, từng bụi cỏ, từng lối mòn. Một người hiền hòa như thầy Thanh Từ mà cũng không được ngồi yên để tọa thiền trong lòng Phương Bối nữa! Chúng ta còn lại gì cho ngày mai? Mỗi người một ngả. Phương Bối đã tủi thân đến mức độ nào? Chiếc nhà Thượng có đứng vững được trước gió mưa cho đến khi chúng ta trở về hay không?
            Nhưng mà Nguyên Hưng, không biết sao tôi cứ tin rằng chúng ta không bao giờ mất Phương Bối. Phương Bối vẫn còn đó, vẫn chịu đựng biệt ly cũng như tất cả chúng ta hiện đang mỗi người một nẻo, cũng chịu đựng biệt ly. Phương Bối đã trở nên thực tại trong lòng người. Phương Bối đã chiếm chỗ linh thiêng trong lòng chúng ta. Ở bất cứ phương trời nào, nghe đến Phương Bối là ta cảm động. Bữa trước viết cho Từ Mẫn tôi nói: “dù cho phong ba bão táp có đánh bạt chúng ta mỗi người một ngã thì niềm tin vẫn đưa chúng ta về trả lại cho nhau”.

NGUYÊN HƯNG, Medford đã rét rồi. Bọn trẻ con đã về hết. Rừng Medford trở nên im lặng thêm. Tôi đã để nhiều thì giờ nghĩ đến Phương Bối. Và càng nghĩ tới Phương Bối tôi lại thấy tâm hồn tôi êm dịu hơn lên, giàu có hơn lên. Tôi tin giờ này ở khắp nơi những con chim của Phương Bối đều đang nghĩ về Phương Bối, rừng Medford đã cho tôi sống những giờ thanh tịnh. Mai mốt về đô thị, có lẽ trên hình bóng Phương Bối, tôi cũng sẽ thấp thoáng hình bóng Medford…


NHẤT HẠNH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/07/2017, 00:32:19
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5  [tháng 11 năm 1965 |  104 trang]

MỤC LỤC
Nguyễn Thị Hà |  Bóng (thơ) |  2
Thành Tôn |  Ranh giới cô đơn (thơ) |  3
Luân Hoán |  Ca dao tình yêu (thơ) |  4
Nguyễn Phan Thịnh |  Thanh cao như một ánh trời (thơ)|  4
Trần Tuấn Kiệt |  Cát biển \ Mộng sầu (thơ) |  5
Thái Tú Hạp |  Nụ chào bao dung (thơ) |  6
Hoàng Thị Thủy Tiên |  Nhìn lên (thơ) |  7
Huy Lực |  Huyền trang \ Trùng dương (thơ) |  8
Hoài Khanh | Mưa và đất \ Trời mưa nghe nhạc J. Strauss (thơ) |  9-10
Nhất Hạnh |  Duy thị nhất tâm (thơ) |  11
Võ Hồng |  Mẹ gà con vịt |  12-21
Martin Heidegger/M. T. & Nguyễn Vạn Hồng dịch |  Hoelderlin và yếu tính của thi ca (tiểu luận) |  22-31
Hồ Hữu Tường |  Quả trứng mầu |  32-36
Sơn Nam |  Viếng mũi Cà Mau |  37-41
Trụ Vũ |  Trung thu đợi người |  42-50
Nhất Hạnh |  Nói với tuổi hai mươi (tiểu luận) |  51-56
Phạm Duy |  Tâm ca số 5 (nhạc) |  57-59
Ruth Jhabvala/Quế Thanh dịch |  Cuộc khảo sát |  60-68
Vương Pển Liêm |  Lược sử đường lối giáo dục cộng đồng (tiểu luận) |  69-74
Chín |  Xóm đáy |  75-79
Hoài Khanh |  Thành phố đi rồi |  80-87
Nhất Hạnh |  Nẻo về của ý (truyện dài) |  88-97
G.T.Q.M. |  Giới thiệu sách báo mới |  98
T.V. |  Hộp thư tòa soạn |  99-100
Quảng cáo |  101-104


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/07/2017, 00:34:34


            Bóng

            □  □  □  □  □  □

            từ em gối lẻ âm thầm
            mù gương bóng nhạt bụi nằm quạnh hiu
            trăng dài ngỡ cánh tay yêu
            cười trong giấc mộng thôi liều tuổi hoa

            từ anh muôn dặm quan hà
            gươm thiêng ngưởi đất giáo xa hôn trời
            thân mù nhịp trống chơi vơi
            lên yên bỗng lạ một thời tuổi em

            □  □  □  □  □  □


                                              NGUYỄN THỊ HÀ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/07/2017, 00:42:23


            Ranh giới cô đơn

            vui riêng, cười lẻ, khóc thầm
            đời sao sống vậy hồi âm cõi nào
            vô ra nhạt bóng lao đao
            co thân thủ thế trông vào những đâu

            nhện buồn chỉ đó canh thâu
            lưới chăng hồn dựng mắt sầu nhặt thưa
            tới lui chân lạc tay thừa
            mẹ cha cũng vậy nên chưa hiểu giùm

            xuống lên trời tận đất cùng
            anh em ngày một muôn trùng cách xa
            máu hồng mạch sẽ lần qua
            bàn chân vỉa phố một ta kẻ chờ

            dây thưa chắp nẻo ơ thờ
            ngọn đèn chứng dám cũng mờ bóng quen
            sống không tiếng động, thân hèn
            lại qua cũng vậy chi bèn thu thân

            đi về bóng lạ bàn chân
            dòng sông nghiệp dĩ tiếp dần biển khơi
            quanh co nghĩ rộng đất trời
            cái tôi hiện hữu một thời vong nô

            khép dần cánh cửa hư vô
            thân chưa nhập thế cơ hồ cách xa


                                              THÀNH TÔN
                                              trăm bài lục bát


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/07/2017, 06:06:00


            Ca dao tình yêu

            Tóc em nối sợi chưa vừa
            cột chân tôi động theo mùa nước sông
            đêm kề hồn bến hư không
            mái tranh sương giọt đầy lòng chiêm bao
            sẩy tay em rót sầu vào
            chết thân tôi hiện ca dao tạ đời
            mai người buồn miệng ngâm chơi
            may ra tôi được lên trời đầu thai


                                              LUÂN HOÁN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/07/2017, 10:31:39


            Thanh cao như một ánh trời

            từ tôi bải hoải hình hài
            về đây vất vả cuộc đời dưới chân
            từ tôi lòng dạ ăn năn
            thèm con thuyền nhỏ giữa dòng thực hư
            ôi thôi trí tối tâm mờ
            đã yêu chút sắc đã ngờ chiêm bao
            đã đưa hồn phách đi đâu
            một miền lửa khói khóc gào bình yên
            ôi tôi bạc bẽo căn phần
            ôm hôn mép đá giữa vùng cỏ cây
            quên quên sống hết con người
            thanh cao như một ánh trời cầu xin


                                              Đàlạt 8-65
                                              NGUYỄN PHAN THỊNH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/07/2017, 11:07:30


            Cát biển

            trong cơn giông bão mịt mù
            tiếng con én nhỏ sầu thu gọi người
            bến hồng giục giã khôn nguôi
            thời gian huyễn mộng cát trôi xa bờ


                                              TRẦN TUẤN KIỆT




            Mộng sầu

            ngủ ngoan đôi má em hồng
            trăm năm giấc ngủ trong vòng thời gian
            thành cao chiều đổ hanh vàng
            con chim đáp lại tiếng vang giữa hồn
            im lìm giấc ngủ cô đơn
            núi xa vọng gác sông cuồng máu trôi
            cũi khô bến lạ sóng dồi
            chợt nghe chuông động bên đồi trăng xa
            tiếng ngân xao xuyến giang hà
            con thuyền chở nhớ thương qua biển sầu
            duỗi dài giấc ngủ Phi châu,
            nằm nghe gió vọng mối sầu Gandhi


                                              TRẦN TUẤN KIỆT


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/07/2017, 23:09:41


            Nụ chào bao dung

            xin ngày cho thấy mặt nhau
            xin chuông chùa thức đêm sầu bi thương
            xin thôi chia nẻo chiến trường
            xin cơn đau đớn xa nguồn từ ly
            xin chiều mắt mẹ từ bi
            xin em lặng tiếng ngậm ngùi ru con
            xin chim ngợp nắng ruộng đồng
            xin mây thu vẫn bềnh bồng trên cao
            xin anh lời hát ngọt ngào
            xin ngàn năm đón nụ chào bao dung
            xin sóng về kiếp trùng dương
            xin cho lòng mẹ thắm hồng tuổi đau
            xin tay làm nhịp kinh cầu
            xin miền chiến trận suốt đời lãng quên
            xin vùng bom đạn ăn năn
            xin thân thể xóa điêu tàn dấu xưa
            xin van đời những lọc lừa
            xin hồn nguyên thỉ giữa màu loạn ly
            xin em suối ngọc huyền vi
            xin cho thanh tịnh đời phi nghĩa này…


                                              9/65
                                              THÁI TÚ HẠP


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/07/2017, 23:11:28


            Nhìn lên

            Xin về bóng lá quê hương
            Bờ ao dâm mát thiên đường tuổi thơ
            Sớm mai hồn mượt sương mù
            Giữa khuya nương náu giọng hò ca dao

            Xin về nắng muộn mưa rào
            Cỏ xanh mướt nụ thâm giao hiền hòa
            Cơm nghèo đỏ thắm màu da
            Lời ru mẹ ngọt điệu ca cội nguồn

            Xin về tiền sử bao dung
            Với trăm tình nghĩa bà con nghìn đời
            Hồn quê nội ấm niềm vui
            Môi thơm mùa dựng nụ cười tình thương


                                              HOÀNG THỊ THỦY TIÊN
                                              (quinhơn)


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/07/2017, 23:14:29


            Huyền trang

            bay lên ta nhập huyền trang
            đường ra cõi thế sen vàng nở hoa
            mắt em tràng hạt di đà
            khói hương chìm tiếng thịt da kêu buồn
            em nhòa nước mắt hơi sương
            lên cao lên mãi muôn phương ta về


                                              HUY LỰC




            Trùng dương

            vào trong lưu nhiệt trùng dương
            rong rêu phù thế vô thường lãng ba
            mù sương cuộc sống băng hà
            tôi hiện sinh đứng khóc òa bến mê
            xin em bóng mát đường về
            cõi nào đây giữa bốn bề hư không


                                              HUY LỰC


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/07/2017, 23:39:23


            Mưa và đất

            Mưa về thành phố rồi đây
            Mai sau còn có một ngày trông mưa?
            Nghe vang tiếng thét trên mùa
            Ôi cành khô mấy nghìn xưa vọng trầm
            Đi, về trong cõi xa xăm
            Ở đây nào biết ta thầm xót thương
            Dòng sông cũng đã lên đường
            Núi xanh xa cũng biệt nguồn hỡi mây
            Đất đau từng quả bom cày
            Lòng đau từ thủa chia tay cuộc tình
            Nặng nề một bóng hư linh
            Đã nghe, từng thấy mầu sinh tử bừng
            Chiều nào tiếng quốc lâm chung
            Bờ hiu hắt rộng sông trùng điệp dâng
            Cõi khô bỗng ứa hai hàng
            Dòng xanh bỗng dậy vô vàn điệu ru
            Mưa về từ cõi hoang vu
            Còn ta từ cõi nào thu mối sầu?


                                              5-10-65
                                              HOÀI KHANH




            Trời mưa nghe nhạc J. Strauss

            Trời mưa phố ngủ sương rừng
            Dáng em leo lét nửa vùng trăng non
            Cây cành trơ nhánh chon von
            Rừng xưa chừ cũng mỏi mòn nước sông
            Ngày vơi vệt nắng xanh hồng
            Đêm đi rờn lạnh tiếng cồng thênh thang
            Tôi thu mình lắng cung đàn
            Chợt mù sương trắng đôi hàng song song
            Em vang nức nở giọng đồng
            Đôi bờ ngất lịm theo giòng mưa sa
            Hồn run trên phím tay ngà
            Dòng sông từ đó chan hòa trong tim


                                              HOÀI KHANH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 22/07/2017, 08:18:15


            Duy thị nhất tâm

            thành trì em năm xưa
            ai đã hứa sẽ xây cho vững chãi?
            sáng hôm nay những người cũ bỗng thấy bập bềnh phiêu giạt trên sóng gió đại dương
            khổ đau xây cho loài người một trú địa cuối cùng,
            và nơi đó em sẽ ẩn náu qua đêm dài độc địa.
            hãy nhắc lại cho tôi nghe những lời năm xưa tôi đã hứa
            để tôi có thể còn có mặt ngày mai mà làm chứng cho em
            những mũi tên cắm vào thân thể tôi vẫn còn đây, nguyên vẹn, chưa bao giờ giao trả
            sửa soạn khu vườn xanh của em cho sây trái
            tôi cũng sẽ là một con chim như những con chim khác,
            suốt đời chỉ tìm tới chốn suối ngọt cây lành.
            hãy là chuyển luân thánh vương
            ngọn bút nội tâm em sẽ ký sắc lệnh đầy khổ đau ra ngoài vòng hiện hữu
            và gọi về từ muôn phương tản mác nào hoa, nào bướm
            cho chồi non tuổi xanh căng nhựa sống,
            vũ trụ cười khi hai mắt em cười.


                                              1965
                                              NHẤT HẠNH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 22/07/2017, 19:44:57
HOELDERLIN VÀ YẾU TÍNH CỦA THI CA
(Hoelderlin und das wesen der Dichtung)

LỜI NGƯỜI DỊCH: Quí vị độc giả đã từng đọc những tác phẩm của nhà xuất bản Lá Bối hẳn không còn xa lạ với Heidegger – Là một nhà văn, một triết gia. Heidegger đã nổi tiếng bằng những tư tưởng vừa thâm viễn vừa u uẩn, ngôn từ của Heidegger khó hiểu mà lại độc đáo bởi Heidegger đã lồng trong hầu hết những tác phẩm của ông những danh từ do chính ông sáng tạo ra. Điều nầy làm cho hầu hết các dịch giả thế giới nhất là Anh và Pháp đều công nhận rằng “Văn của Martin Heidegger là văn của triết gia khó dịch nhất hiện nay” không những thế chính độc giả ở quê hương Đức của ông cũng ngao ngán trước những trang sách tối tăm SEIN UND ZEIT, WAS IST METAPHYSIK… Trong phạm vi bài dịch nầy, chúng tôi không hề có tham vọng sẽ dịch sát từng chữ theo nguyên tác, mà chỉ lược dịch với khả năng hiểu biết nhỏ bé của mình để quảng diễn một ít về ngôn ngữ và tư tưởng của Heidegger.
M. T. & NGUYỄN VẠN HỒNG lược dịch


Dưới đây là năm chủ đề trong một bài diễn thuyết
      I. “Làm thơ là việc làm vô tội nhất” (III; 337)
      II. “Ngôn ngữ đã trao cho con người để bày tỏ mình là người, thành thử nó là vật quý giá và nguy hiểm khôn lường” (IV; 246)
      III. “Từ khi chúng ta được đối thoại và nghe được tiếng nói của nhau, con người đã tỏ ra đầy kinh nghiệm và đã gọi tên thần linh nhiều lần” (IV; 343)
      IV. “Nhưng những gì còn lại đều do thi sĩ tạo lập” (V; 63)
      V. “Ồ, quả thật có giá trị, người ở đời như thể thi nhân” (VI; 25)

ĐỂ TRÌNH BÀY yếu tính của thi ca, tại sao chúng tôi lại chọn tác phẩm của Hoelderlin mà không chọn Homère, Sophoche hay Virgile, Dante hay Shakespeare, Goethe? Có phải vì ở tác phẩm của các thi gia nầy không tự thể hiện lên được yếu tính của thi ca với vẻ sung mãn và cao cả như ở Hoelderlin, sớm bộc phát và rồi gián đoạn đột ngột nầy?
            Có lẽ vì thế mà chúng tôi chọn Hoelderlin. Nhưng thực ra có thể trừu xuất được yếu tính toàn diện của thi ca bằng tác phẩm của một thi sĩ thôi không? Chúng ta chỉ có thể đạt tới được cái toàn diện ấy, nghĩa là cái có giá trị chung, bằng con đường suy tưởng đối chiếu? Nếu thế, trước tiên ta phải đặt để những phân vị khả thể lớn nhất của thi ca và các phân loại thi tứ. Ở trường hợp nầy, thi ca của Hoelderlin chỉ là một giữa những thi ca khác; chỉ mình nó, nó không thể đóng vai trò hạn định để xác nhận tính chất của thi ca được. Tự đó, khởi đề của công việc nầy đã mang lý do thất bại rồi. Thất bại chắc chắn, bởi bao lâu chúng ta còn hiểu “yếu tính của thi ca” là những gì đúc kết trong quan niệm phổ quát, có giá trị khác biệt với mọi thứ thi ca. Cái phổ quát nầy, cái giá trị giữ vẻ khác biệt hướng về một đặc thù thì vẫn là cái không phân biệt được, có là “yếu tính” nhưng không bao giờ trở thành chính yếu cả.
            Đấy thực rõ ràng là một căn bản của yếu tính mà chúng ta dò tìm, nó bắt chúng ta xác định vì sao chúng ta đề cập đến thi ca, vì sao những tiền đề giả định chúng ta đưa ra vốn thực lại ràng buộc mình vào cái động lực của thi ca.
            Sở dĩ chúng tôi chọn Hoelderlin không phải vì tác phẩm của ông, như một trong bao nhiêu tác phẩm khác, đã thể hiện được cái bản chất chung của thơ nhưng mà duy nhất là những gì đang hình thành sức khả kham của thơ Hoelderlin, đó chính là một tất định thi ca vốn đã thi ca hóa chính yếu tính của thi ca một cách xác thực rồi. Hoelderlin đối với chúng tôi, trong một nghĩa riêng, là thi sĩ của nhà thơ. Đấy là lý do chúng tôi chọn ông.
            Nhưng sự kiện thi ca hóa nầy đối với thi sĩ có phải là dấu hiệu của thác loạn tinh thần trong giây phút hội kiến với chính mình không? Đồng thời nó thú nhận người ta đã lừa đảo cái toàn vẹn của cuộc đời? Thi ca hóa với thi sĩ, có phải tạo nên thêm bằng gai góc, trở ngại hay có phải bằng muộn màng trễ nãi, một nơi chốn cuối cùng.
            Câu trả lời sẽ phơi bày dưới đây. Chúng ta không thể đem toàn thể thi ca của Hoelderlin ra chú giải, như thường phải làm, mà chỉ xét đến năm lời thơ của thi nhân về thi ca năm chủ đề. Thứ bậc của những lời thơ sau đây, với cái tuần tự nội tại của nó, sẽ phơi bày trước mắt chúng ta yếu tính chính yếu của thi ca.



I
TRONG MỘT bức thư viết hồi tháng giêng năm 1799, gửi về cho mẹ Hoelderlin xác định rằng: “làm thơ là một việc làm vô tội nhất” (III; 377). Tại sao lại là việc làm vô tội nhất (unschuldigste)? Bởi vì thơ, biểu hiệu dưới hình thức nhẹ nhàng như một trò chơi. Thơ không vụ lợi, thơ sáng tạo thế giới hình ảnh của mình và ngụp lặn trong thế giới của những gì mình sáng tạo. Một trò chơi vượt ra ngoài định ước, nó không bắt buộc phải tỏ ra thế nầy hay thế khác. Làm thơ (dichten) là cái gì hoàn toàn vô hại và đồng thời vô hiệu, bởi nó là hành động thuần túy. Nó không có chi liên quan đến thực tại, tới biến dịch của cuộc đời. Thi ca là mơ mộng, không là thực tế, là trò chơi của ngôn từ chứ không phải là hoạt động trang nghiêm. Thi ca là vô hại và vô hiệu. Nhưng ta có thể hiểu ngôn từ trong sạch là một nguy hiểm không? Chúng ta chưa thể lĩnh hội được yếu tính của thi ca, nếu chỉ biết rằng thi ca là việc làm vô hại nhất trong các việc làm. Hay ít ra chúng ta cũng phải được chỉ định nơi chốn khám phá nó. Thi ca sáng tạo tác phẩm trong lãnh vực ngôn từ đồng thời nó cũng tạo ra bản chất của ngôn từ. Hoelderlin đã nói gì về ngôn từ? Chúng ta hãy lắng tai nghe lời thơ thứ nhì của thi sĩ.


II
TRONG BẢN VĂN viết cùng thời gian trên, thi sĩ nói: “Nhưng ở nơi chốn nào có hữu thể con người ngự tại, hữu thể thâm viễn nhất, óng chuốt nhất; đó là Tuệ Minh, coi như hình ảnh thánh nữ của lửa thiêng trên trời và bởi đó, ý chí Tự Do và Hùng Lực cao cả đã truyền ngôn, kết hợp trong hình hài của Thượng Đế và cũng bởi đó mà ngôn từ, một của quý nguy hiểm hơn hết, đã trao cho con người, con người của sáng tạo, hủy diệt, của trở về với cuộc sống Vĩnh Cửu, của Nữ Thánh, của Mẹ Hiền. Nó biểu lộ cái nó là: đã thừa tự, đã thông hiểu bởi người, lòng thánh thiện cao sang nhất, bởi tình yêu bao bọc vũ trụ nầy” (IV; 246).
            Ngôn từ, trong nghĩa “một việc làm vô tội nhất” lại là “của quý nguy hiểm khôn lường”. Làm sao hai điều khẳng định nầy có thể hòa hợp với nhau? Câu trả lời xin để lại sau, bây giờ xin đặt ba câu hỏi tiên quyết: 1) Bởi đâu ngôn từ là một của quý? 2) Làm sao của quý ấy lại là vật nguy hiểm khôn lường? 3) Và một của quý là gì trong cái nghĩa khơi vơi nào đây?
            Trước tiên ta hãy xét đến bản văn mà trong đó lời thơ của thi sĩ nói về ngôn từ. Đây là lời của thi ca được nói lên để phân biệt hữu thể con người giữa bao nhiêu hiện hữu khác của Thiên Nhiên, để gọi lên sự vật: cành hoa, con thiên nga, con sơn dương trong rừng thẳm (IV; 300 và 385). Bản văn bắt đầu bằng câu: “Nhưng chính ở nơi chốn nào có hữu thể con người ngự tại”.
            Sao là hữu thể con người. Đó là cái nó biểu lộ, nó chứng minh mình là. Chứng minh là khơi lên, bày tỏ, đồng thời cũng là trả lời, trong điều bày tỏ, những gì nó được phơi bầy.

CON NGƯỜI là cái mà nó là, là cái minh xác thực tại con người riêng biệt. Nhưng ở đây, cái minh xác nầy không phải hữu thể của trần gian bày tỏ sau cùng, là lối diễn đạt thêm bớt, loanh quanh bên mép bờ hữu thể: không, nó tham dự vào phần xây dựng chính thực-tại-nhân-loại của con người. Nhưng cái gì minh chứng con người đây? Xin thưa: đó là phần thuộc về trái đất. Phần thuộc về nầy, vốn là những gì con người thừa tự và tập tành ở sự vật: nhưng sự vật cũng xung khởi, mâu thuẫn. Những gì phân tán sự vật, đồng thời cũng kết ngẫu nó là điều mà Hoelderlin gọi là “INNIGKEIT” (Thực tại thâm viễn của hữu thể, tách biệt với mọi vật nhưng đồng thời cũng có một kết hợp nội tại với mọi vật). Sự minh xác phần thuộc về của INNIGKEIT nầy tự phát sinh bởi sáng tạo thế giới và buổi bình minh của con người và cùng lúc bởi sự hủy diệt và cảnh hoàng hôn tàn tạ của nó. Sự minh xác hữu thể của con người bằng một thành tựu đích thực, đã khai sinh ra tự do của quyết định. Điều nầy lại chiếm lấy cái cần thiết và dấn thân vào những hệ buộc với một trật tự cao đẳng. Hữu-thể-phơi-nguồn bày tỏ của phần thuộc về trần gian trên, ở sự kiện hiện diện cùng một lúc bởi những điều nó phát sinh đã tự lịch sử hóa chính mình như một nền lịch sử (GESCHICHTE). Nhưng cũng chính nền lịch sử hiển hiện ấy mà ngôn từ phải được trao về cho con người. Con người có một của quý, đó là ngôn từ vậy.
            Nhưng tại sao ngôn từ lại là của quý nhưng nguy hiểm khôn lường? Nó là nguy hiểm trên mọi hiểm nguy, vì chính nó tạo ra khả hữu tính của hiểm nguy. Nó là một đe dọa cho hữu thể bởi hiện diện. Và chính đó, theo nghĩa là ngôn từ, con người tự đặt bày với mình trong toàn diện một khơi mở vô cùng, với tư cách là hiện diện, ào ạt bủa vây, hun đốt nó trong cái thực tại con người của mình, rồi cũng thế, với tư cách bất hiện diện lại lừa đảo và đồng thời khai minh cho nó. Ngôn từ sáng tạo ngay trong đó khu vực khơi mở đầy đe dọa và kinh hãi làm ngập tràn hữu thể và cũng nó tạo lập khả hữu tính cho sự triệt tiêu hữu thể, nghĩa là cái nguy hiểm vô cùng. Nhưng ngôn từ không những là một nguy hiểm trên mọi nguy hiểm, nó còn thiết yếu che dấu ở chính nó và cho chính nó một nguy hiểm thường trực. Công việc của ngôn từ là làm hiện hữu mọi hiện diện phơi bày bằng hành động và bảo đảm nó như thể nó phải là. Bởi ngôn từ có thể làm biểu lộ tất cả hình thái: cũng như lời nói chính yếu là để được hiểu, để trở thành đặc tính của cộng đồng chung. Lời nói với nguyên nghĩa là lời nói thì không thể nào tự bày tỏ trực tiếp với điều chắc chắn nó là lời nói chính yếu hay ngược lại là âm ba rỗng không.

GIỜ ĐÂY, trong nghĩa nào của quý nguy hiểm hơn hết lại là của quý của con người? Ngôn từ là vật sở hữu của con người. Nó quy yếu cốt tinh là để giao nối những kinh nghiệm, những đặc tính, những giai độ tình cảm. Vậy ngôn từ là để hiểu biết, trao đổi, vì thế nó là của quý vô cùng. Thế nhưng bản chất(1) của ngôn từ không thể khô cạn trong sự kiện là phương tiện của hiểu biết. Ấn định như vậy ta vẫn không thể đề cập đến bản chất như thế của riêng biệt cho nó mà ta chỉ có thể viện dẫn nó như một điều hệ trọng của bản chất nầy. Ngôn từ không phải chỉ là khí cụ của con người bên cạnh bao nhiêu khí cụ khác mà nó còn là cái, trong tổng quát và trước tiên hết, đoán chắc cho khả hữu tính tự tìm thấy giữa một hiện hữu là hiện hữu phơi bầy. Ở đâu có ngôn từ, ở đó có một thế giới nghĩa là vòng tròn tiếp diễn đổi thay của hành động của trách nhiệm, của khẳng quyết và cũng là của bấn loạn, của suy đồi… Và ở đó có một thế giới, tức là có nền lịch sử (GESCHICHTE). Ngôn từ là của quý trong nghĩa ngọn nguồn sơ nguyên nhất. Nhưng dầu là của quý, bởi thế gian và nền lịch sử nầy nó vẫn tin tưởng chắc chắn rằng con người có thể hiện hữu như là lịch sử. Ngôn từ không là một khí cụ khả dụng, mà trái lại, chính nền lịch sử nhượng (MITGESCHEHEN) nầy biết sử dụng khả hữu tính cao đẳng hữu thể của con người. Đó vì yếu tính của ngôn từ mà chúng ta phải bảo đảm chắc ngay đây để quan niệm đúng thực phạm vi hoạt động của thi ca, đồng thời lãnh hội thực sự được chính nó. Tại sao ngôn từ lại lịch sử hóa mình? Chúng ta hãy xét đến lời thơ thứ ba của thi sĩ để tìm câu giải đáp.



III
Từ khi chúng ta được đối thoại và nghe nhau nói, con người đã tỏ ra đầy kinh nghiệm và đã gọi tên thần linh nhiều lần” (IV; 343)

CHÚNG TA – con người – được đối thoại. Nền tảng sâu thẳm của hữu thể con người đã có trong ngôn từ, nhưng nó chỉ nắm giữ được thực tại lịch sử nhân nhượng trước chính thực tại ở đối thoại. Tuy nhiên, đối thoại không chỉ là lối để ngôn từ thể hiện nhưng đối thoại duy nhất là để ngôn từ bày tỏ yếu tính của mình. Những gì chúng ta hiểu được ở ngôn từ là một hệ thống chữ nghĩa, một quy luật cú pháp, thật ra chỉ là phiến diện thôi. Nhưng còn “đối thoại” là gì? Hẳn nhiên đối thoại là việc người nầy nói với người kia về một vấn đề gì. Ngôn từ lúc đó là trung gian giữa hai người. Hoelderlin chỉ nói thế nầy “Từ khi chúng ta được đối thoại và nghe nhau nói”. Khả năng nghe và nói cộng tồn đồng đều ở ngọn nguồn nguyên sơ của nó, và chính cái nghe đã lập thành, đã thấy cần thiết, trong tự nội, khả hữu tính của lời. Chúng ta được đối thoại nghĩa là chúng ta có thể nghe nhau nói đồng thời nó cũng có nghĩa là: chúng ta là một cuộc đối thoại. Cái hợp nhất của một cuộc đối thoại là bắt nguồn ở mỗi lần khơi dậy Nhất Thể và Đồng Thể, trong lời nói bản chất đơn sơ, ở nơi chúng ta tự mình hợp nhất, ở cái nghĩa chúng ta thực sự là Một, là chính chúng ta. Đối thoại và cái hợp nhất tính đó là nơi nương tựa cho thực tại con người.

SONG LE Hoelderlin không nói giản dị “Chúng ta được đối thoại”. Thi sĩ viết: “Từ khi chúng ta được đối thoại”. Là từ khi con người hiện thể và phán đoán hành động của mình ở ngôn từ, nhưng con người vẫn chưa nắm giữ được thực tại lịch sử nhượng chính yếu của mình là đối thoại. Chúng ta được đối thoại từ khi nào? Là từ khi có một cuộc đối thoại, lời nói uyên nguyên giữ chặt tương quan giữa Nhất Thể và Đồng Thể. Không có mối tương quan nầy thì đối thoại chỉ là tranh biện dài dòng và chắc chắn sẽ là cái gì bất khả. Nhưng Nhất Thể và Đồng Thể chỉ có thể phơi mở ở ánh sáng của sự vật gì dai dẳng còn lại và hiện tồn. Thế nhưng cái còn lại và cái hiện tồn thực ra cũng chỉ bày tỏ được trong ánh sáng bừng lên của hiện diện vĩnh viễn, và nó cũng chỉ tự phát sinh được ở khoảng khắc “thời gian trong những thế vươn về cao rộng của nó”. Chính từ đó con người tự đặt bày ra trong hiện tại sự vật gì còn khởi lại, chính từ đó mà nó lao mình vào Dịch Lý, vào những gì biến thiên khôn lường, bởi chỉ có cái còn lại là cái biến đổi. Và cũng chính từ đó mà “thời gian xé rách” đã thấy bung rách hé mở trong hiện tại, quá khứ và tương lai, và còn hiện thế khả hữu tính của đồng hợp về sự vật gì đang hiện tồn. Một đối thoại chúng ta chỉ được đối thoại từ thời gian mà ở đó “có một giây khắc nào”. Từ thời gian đưa dắt đến hiện hữu (existence), đến cái còn tồn tại, từ khi chúng ta là lịch sử. Hữu-thể-đối-thoại và hữu-thể-lịch-sử là hai cái có cổ tính đồng đều, chúng hợp thần một liên đới duy nhất, chúng là chung một thể, một sự vật có bản tính như nhau.

TỪ KHI chúng ta được đối thoại, con người đã đầy kinh nghiệm và đã gọi tên nhiều thần linh. Từ khi ngôn từ tự lịch sử hóa chính thực như một đối thoại thì các thần linh đến với lời nói và thế giới hiện hình. Cần phải thấy rằng sự hiện diện của các thần linh và hiện hình của vũ trụ không phải là kết quả giản dị của thăng giáng ngôn từ, nhưng mà nó là hai việc đồng thời, cùng lúc. Bởi điều đó quá rõ ràng là trong sự gọi tên thần linh và trong sự kiện thế giới hiện thành lời vốn đã có đối thoại đích thực mà nơi đó chúng ta hiện hữu như hiện hữu cho chính mình.
            Nhưng các thần linh chỉ đến khi được chúng ta kêu gọi chân thành. Lời nói gọi tên thần linh luôn luôn là câu trả lời cho tiếng kêu gọi khẩn thiết đó. Câu trả lời ấy mỗi lần lại làm hiện rõ trách nhiệm của một số phận. Bao lâu thần linh còn nói lên thực tại con người của chúng ta là lúc chúng ta đã vào lãnh vực phải quyết định: hoặc quyết tâm giao phó sứ mạng cho thần linh hoặc, ngược lại, chối từ họ.
            Đến đây chúng ta đã rõ nghĩa câu “Từ khi chúng ta được đối thoại…” Từ lúc có thời gian. Từ khi nền tảng sâu thẳm của thực tại con người chúng ta là một đối thoại, là lúc thần linh dẫn dắt chúng ta đến trao đổi, cảm thông đến đối thoại. Đề luận ấy tùy theo cái mà ngôn từ hợp thành biến đổi căn bản của thực tại con người và bởi đó, nó cũng biện bạch cho sự giải thích và cái công tâm của nó.
            Một câu hỏi mới lại được nêu ra ở đây: cuộc đối thoại nầy bắt đầu bằng cách nào mà chúng ta phải làm? Ai là người hoàn tất sự gọi tên các thần linh. Ai là người lãnh hội trong thời gian chịu xé rách sự vật gì hiện tồn và phải tạo lập lại nó, bởi lời nói? Hoelderlin sẽ trả lời chúng ta với niềm đam chắc đơn giản của thi nhân. Xin hãy nghe lời nói thứ tư đây.



IV
TRONG CÂU kết của bài thơ “Hoài Niệm” (Andenken) Hoelderlin viết: “nhưng những gì hiện tồn đều do thi sĩ tạo lập” (IV; 63). Lời thơ nầy rọi một luồng sáng vào vấn đề của chúng ta về yếu tính của thi ca. Thi ca là cái tạo lập bởi lời nói và trong lời nói. Nhưng cái gì được tạo lập? Cái hiện tồn. Nhưng cái hiện tồn nầy có thể tạo lập được không? Không. Chính cái hiện tồn phải ra sức chống chỏi dòng triều lưu bao ngập, phải tháo gỡ cái đơn giản ra ngoài cái rắc rối; phải quý trọng cái mực thước hơn cái vô chừng. Và phải khai minh cái gì còn chống đỡ, chi phối vật hiện hữu chung cùng để nó được hiện ra, bày tỏ. Vậy rõ ràng cái hiện tồn là cái đào tẩu: “Như vậy rõ là mau chóng, trời đất phù du, tất cả là hư ảo; nhưng cái thuần khiết thì không” (IV; 145). Thi sĩ gọi tên thần linh và gọi tên tất cả sự vật ở những gì mà nó là. Sự kêu gọi nầy chẳng phải là việc bổ sung tên một cách giản dị cho sự vật đã được biết tới từ lâu, nhưng thi sĩ nói lên lời thơ uyên nguyên cốt là để gọi tên chính bản chất sự vật được coi như là sự vật hiện hữu. Thi ca là cái tạo lập hữu thể bằng lời thơ. Những gì còn tồn tại thì không thể tạo ra hư ảo phù du cũng như cái đơn giản không thể thoát thai từ cái rắc rối, cái mực thước không ở trong cái vô chừng. Chúng ta không thể nào tìm thấy cái nền tảng (GRUND) trong vực thẳm vô cùng (ABGRUND). Hữu thể không là sự vật ở đời (SEIENDE), tuy nhiên vì hữu thể và yếu tính của sự vật không là kết quả của một tính toán mà hữu thể chuyển tiếp của sự vật hiện hữu đã phơi mở, không, chúng nó (hữu thể và yếu tính) phải là sáng tạo, phơi bầy và đặt để trong cách thế hoàn toàn tự do. Cái phơi mở trao tặng tự do nầy là cái tạo lập. Các thần linh tự nguyên thủy đã được gọi tên và bản chất sự vật hiện đến với lời nói, từ đó sự vật bắt đầu được chiếu sáng và đồng thời nó tự lịch sử hóa mình, cái thực-tại-nhân-loại của con người chấp nhượng (chấp nhận và nhượng bộ)(2) một tương quan chặt chẽ và được đặt trên một nền tảng vững vàng. Cái đặc quyền “nói lên” (gọi tên sự vật)(3) của thi nhân là cái được tạo lập, nó không những có nghĩa là một phơi mở trao tặng tự do mà còn có nghĩa là nó vẫn được đặt và đảm chắc trên nền tảng thực tại nhân loại.
            Nếu chúng ta đã lãnh hội được yếu tính của thi ca, cái tạo lập hữu thể bằng lời, thì chúng ta có thể dò tìm được chân lý ở lời thơ trên của Hoelderlin.



V
LỜI THƠ thứ năm dưới đây chúng ta đọc được ở một bài thơ nổi danh, bài thơ đó bắt đầu như vầy:

                        Và mầu xanh nở hoa
                        Trên tháp chuông mái thiếc
(VI; 24)

            Ở bài thơ ấy Hoelderlin viết:

                        Thật nhiều giá trị đấy,
                        Nhưng người ở đời như thể thi nhân
(VI; 25)

            Những gì con người tạo dựng và theo đuổi thật cũng có nhiều giá trị đấy. Tuy nhiên Hoelderlin đặc biệt nhấn mạnh ở đây tất cả những cái đó chẳng liên hệ, chưa phải là bản chất của sự cư ngụ của con người trên trái đất nầy, nó không thể đạt tới nền tảng thực-tại-nhân-loại của con người. Bởi thi ca, những gì mà chúng ta hiểu được hôm nay là sự gọi tên thần linh và gọi tên ngay bản chất của Sư vật. “Ở đời như thể thi nhân” có nghĩa là hiện diện trước mặt thần linh và thiết yếu gắn liền với Sự vật.
            Thi ca không phải là đồ trang sức đi theo sau thực-tại-nhân-loại, là một rung động thoáng qua, và nhất là nó không phải thứ xuất thần đơn giản hay một thú tiêu khiển nhàn rỗi. Thi ca là nền tảng chống đỡ lịch sử chứ không phải là hình thức biểu lộ văn hóa và càng không phải là lối diễn đạt làm hồn của nền văn minh.
            Thực tại nhân loại của chúng ta ở nền tảng thực là thi vị, vậy thì xét cho cùng không thể hiểu nó như là một trò chơi vô hại được. Tuy nhiên trong lời thơ đầu tiên, dẫn trên. Hoelderlin đã chẳng nhấn mạnh rằng “thi ca là một việc làm vô tội nhất”? Làm sao nó có thể tự hòa hợp với bản chất của thi ca như chúng ta lại thấy phơi bày bây giờ đây? Như vậy hãy trở lại câu hỏi mà chúng ta đã đặt qua một bên ngay từ đầu. Để trả lời điều đó, chúng ta thử tập họp cũng trong một cái nhìn bản chất của thi ca, đồng thời của thi sĩ.

MỘT GIẢI ĐÁP đầu tiên hiện rõ: lãnh vực biểu hiện của thi ca là ngôn từ. Bản chất của thi ca có thể được hiểu bởi bản chất của ngôn từ. Tiếp theo chúng ta phân biệt rõ được thế nào thi ca là sự gọi tên (các thần linh) xây dựng hữu thể và bản chất của tất cả sự vật. Không phải là lối diễn đạt nào đó nhưng là một ngôn từ nhờ đó mà sự vật được phơi bầy ra, lột trần ra từ nguyên thủy, là tất cả những cái gì mà chúng ta luận biện và sau cùng chúng ta ứng dụng trong ngôn ngữ hằng ngày. Bởi thế không bao giờ thi ca chấp nhận ngôn từ như một chất liệu để biểu hiện và tiền nhận nó, mà ngược lại chính thi ca đã bắt đầu bằng cách làm cho ngôn từ có thể hiểu được. Thi ca là ngôn ngữ nguyên thủy của mỗi dân tộc. Vậy phải nói ngược lại rằng bản chất của ngôn từ chỉ được hiểu bởi bản chất của thi ca. Nền tảng của thực-tại-nhân-loại là đối thoại, là những gì phó thác cho ngôn từ cái thực tại lịch-sử-nhượng đích thực. Ngôn từ nguyên thủy là thi ca theo tính cách thi ca là xây dựng hữu thể. Vậy ngôn từ là “của quý nhưng nguy hiểm khôn lường”, và thi ca là một việc làm nguy hiểm và vô tội nhất.
            Nhưng thật ra thi ca có phải là một biểu hiện nguy hiểm nhất không? Trong bức thư gửi cho một người bạn trong chuyến du hành cuối cùng sang Pháp, Hoelderlin viết: “bạn ơi vạn vật trước mắt tôi trong sáng hơn bao giờ hết và trọng vọng vô cùng! Tôi vừa lòng với những gì đang tới, tôi vừa lòng như trong mùa hè. Đấng cha lành ngày trước dang cánh tay lành hiền dịu, và bởi đó mà đám mây ráng đỏ, mà tia chớp chói lòa phúc đức. Vì giữa những gì mà tôi có thể thấy nơi thượng đế. Dấu hiệu nầy đã trở thành dấu hiệu thiên phúc của tôi. Ngày xưa, tôi có thể hân hoan khi tiếp nhận một chân lý mới hay một quan điểm hoàn hảo bàn về sự vật gì vượt lên trên tôi, về sự vật gì ở chung quanh tôi, nhưng ngày nay tôi chỉ lo lắng làm sao cho nó khỏi xa lìa tôi như lão thần Tantale chấp nhận các thần linh mà không thể nào dẫn dắt” (V; 321).

THI NHÂN là kẻ liều mạng trước lưỡi sét của thần linh. Đấy là điều mà bài thơ dưới đây bày tỏ, bài thơ mà chúng ta phải nhận là bài thuần khiết nhất nói về yếu tính của thi ca, bài thơ đó bắt đầu như vầy:

                        Như một ngày hội lễ, khi người nông dân
                        Buổi sáng ra thăm đồng ruộng của mình
(IV; 151)

            Và Hoelderlin viết tiếp, ở đoạn chót:

                        Dầu cho là thuận tiện, dưới giông tố của thần linh
                        Thi nhân! người hãy đứng lên phơi mình mưa nắng
                        Với bàn tay bé mọn nầy, xin đón nhận ánh sáng của Cha lành
                        Và chính cha sẽ trao cho toàn thiên hạ
                        Vật tặng trên trời gói trọn ở Thánh Thư


            Một năm sau, khi trở về nhà mẹ, vì bị thác loạn thần kinh, Hoelderlin đã viết cho cùng người bạn trên, để muốn thoát ra vùng kỷ niệm của những ngày sống ở Pháp:
             “Hành động phũ phàng, ngọn lửa của trời và sự im lặng của người, cuộc đời của họ trong tạo vật, sự giới hạn và thỏa mãn của họ đã đột kích tôi không ngừng như người ta thường nói ở những anh hùng thời xưa, tôi cũng có thể nói rằng thần Apollon đã hành hạ tôi;” (V; 327). Vùng ánh sáng chói lòa đã ném thi nhân vào bóng tối. Có cần gì bao chứng từ khác để minh xác sự hiểm nguy khôn lường của việc làm thi nhân. Định mệnh đã tỏ bày một cách đau đớn vậy rồi. Đó là điều báo hiệu cho những câu thơ mà chúng ta đọc được ở bài “Empédocle” của Hoelderlin:

                        Phải vậy,
                        Từ thời gian bỏ đi kẻ có tinh thần minh mẫn kia đã thốt lời
(III; 154)

            Thế nên “thi ca là việc làm vô tội nhất” và làm thơ là lời kêu gọi từ nguyên thủy. Nhưng lời thơ không còn lãnh vực kêu gọi nữa khi ngay chính các thần linh lại bắt chúng ta phải thốt nên lời. Các thần linh nói thế nào đây?

                        Và những biểu hiệu đều là
                        Thời đại ngôn từ của thần linh xa xăm vô cùng


LỐI DIỄN ĐẠT của thi nhân vốn ở nơi bất chợt khám phá ra những dấu hiệu nầy để trao về cho dân chúng. Nó là một đón nhận và đồng thời cũng là tặng vật mới mẻ, bởi trong dấu hiệu đầu tiên thi nhân đã phân biệt được cái Hoàn tất và bạo dạn bầy tỏ trong lời thơ những gì thi nhân đón nhận được để báo trước cái còn chưa Hoàn tất.
            Sự xây dựng hữu thể gắn liền với các dấu hiệu của thần linh và lời thơ chỉ là lối phiên dịch tiếng nói của nhân dân (STIMME DES VOLKES). Đó là chữ mà Hoelderlin dùng để gọi các thần thoại, các diễn từ (dict) mà ở đó bàn dân phải nhớ đến phần lệ thuộc của mình vào hiện diện trong một cộng đồng. Đôi khi tiếng nói ấy cũng kiệt sức và ngưng hẳn. Nó bất lực, không thể tự mình diễn tả cái chính thực, nó cần có kẻ diễn dịch hộ. Hoelderlin thi ca hóa yếu tính của thi ca không phải ở quan niệm bao hàm một giá trị vượt thời gian, bất biến, vì yếu tính của thi ca đã thuộc về thời gian ấn định rồi. Và nó không hoàn tất y như khoảng thời gian tồn tại trước nó nhưng khi lại tạo lập lần nữa chính yếu tính của thi ca. Hoelderlin đã bắt đầu bằng cách tất định hóa một thời gian mới lạ. Đó là thời gian của các thần linh vượt thoát và của thần linh nhập về. Đó là thời gian khốn cùng, hiểm nghèo vì nó đánh dấu một thiếu thốn gấp đôi và cũng là một chối bỏ gấp đôi, đấy là cái “không còn nữa” của các thần linh vượt thoát và cái “chưa có” của thần linh nhập về.

YẾU TÍNH của thi ca, điều mà Hoelderlin muốn xây dựng, là mực độ cao đẳng có tính chất lịch sử bởi vì nó tiên liệu trước một thời gian lịch sử nhưng với tính cách yếu tính lịch sử: nó là yếu tính chính yếu độc nhất vậy.
            Thời gian khốn cùng quả thật là phong phú cho thi nhân – phong phú tưởng chừng như tê cóng lại trong nếp suy tư của người vượt thoát và trong chờ đợi của kẻ nhập về để mở màn thanh thoát trong niềm hư vô phù ảo ấy. Kiên trì với mình như một niềm cô đơn cao thượng tách biệt định mệnh riêng tư của mình, thi nhân thể hiện chân lý cùng với bàn dân trong cách biểu lộ, trình diện niềm cô đơn ấy và bởi đó làm sáng tỏ nguồn chân lý. Đó là điều bày tỏ ở đoạn thứ bảy trong bài thi ca “thực phẩm và rượu” bài thơ mà ở đây chúng ta chỉ có thể hiểu và phân tách được bằng mỗi nguồn suy tưởng của ưu tư mà thôi.


MARTIN HEIDEGGER
(WAS IST METAPHYSIK)
______________________________
(1) Để dịch chữ “WESEN” chúng tôi thường dùng lẫn lộn hai chữ “yếu tính” và “bản thể”.
(2) và (3) lời chú của người dịch.


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 29/07/2017, 10:48:28
QUẢ TRỨNG MẦU
Chuyện cổ tích

            Ngày xưa…

Ở ĐẤT Giao Châu, có một đứa trẻ lên mười, bởi sớm đã mồ côi, nên đến ở mọi cho một ông phú ông. Sáng sớm, nó phải đuổi trâu ra đồng, giao cho thợ cày, rồi cắt hai bó cỏ gánh về cho con ngựa kim của chủ. Kế, nó phải đổ một thúng thóc vào cối mà giọt cho sạch trấu, vì thời ấy người ta chưa chế ra được cối xay. Đến trưa, nó đội thúng cơm ra đồng cho thợ cày và cùng họ mà ăn cơm với muối mè. Gạo còn nguyên những cám, té ra nhờ vậy mà cơm lứt hóa ra bổ: nên mặc dầu thức ăn quanh năm chỉ có muối vừng, thằng Tú nhà ta (tên của đứa trẻ) mập tròn, không ốm o èo ọt như cậu con của chủ ăn toàn những món ngon vật lạ. Thợ cày ăn xong, nằm dưới gốc cây mà ngủ một chặp, để rồi làm công việc khác. Còn thằng Tú không được ngủ. Nó còn phải đuổi trâu đi ăn cỏ và giữ cho chúng nó đừng báng lộn với trâu ở bầy khác.
            Lúc ấy xứ Giao Châu vừa bị người phương Bắc đô hộ. Họ bị cấm dùng văn tự riêng của địa phương, bị cấm đến trường, học cái gì của người bản xứ. Và mỗi làng bắt đầu có nhà trường cho trẻ con học chữ Hán. Song dân không chịu cho con đến học thứ chữ quằn quịt khó nhớ của người nước ngoài, mượn cớ là nhà nghèo dầu là con nít, cũng phải tay làm hàm mới có nhai, nên không thể nhịn đói mà đi học. Quan Tàu bèn hạ lịnh bắt buộc các nhà giàu phải gởi con đi học, bằng không thì cha mẹ bị gông cùm, đất vườn bị tịch thâu. Phú ông bèn bàn với vợ:
            – Như vậy, thì mình phải bắt một trong mấy đứa ở mọi với mình, rồi khai là con mình, sẽ cho nó đi học thay cho thằng con một của mình!
            – Ông nói rất phải! Song trong nhà có nuôi năm thằng mọi… Ta nên lựa đứa nào ngu đần hơn hết mà cho nó đi học. Vì ta có nghe nói rằng, hễ học xong ba năm, thì quan lựa đứa nào thông minh lỗi lạc mà gởi đi học trường lớn. Rồi sau ba năm học ở trường lớn, lại lựa đứa nào xuất chúng mà gởi sang Tàu học nữa, để thi hiếu liêm, mậu tài. Như vậy thì, nếu ta gởi đứa thông minh đi học nó sẽ được chọn mà gởi đi: té ra ta sẽ mất số tiền mà mua chuộc nó hồi trước.
            – Bà nói rất phải! nhưng bà hay sai khiến bọn nó, bà thấy đứa nào là ngu đần hơn nhất?
            – Có thằng Tú là ngu đần hơn hết, sai làm việc gì cũng hơi khó một chút cũng không xong. Nên chi đã mười tuổi rồi mà chỉ làm được việc chăn trâu, cắt cỏ, giọt thóc và đội cơm ra ruộng…
            Thế là thằng Tú được chọn cho đi học. Tuy vậy, nó chỉ được miễn việc cắt hai bó cỏ, giọt thóc và chăn trâu buổi chiều. Còn sớm mai, nó vẫn phải đuổi trâu ra đồng, mới được bươn bã về nhà thay quần áo của con phú ông mà đi học; trưa nó phải đội thúng cơm ra ruộng, cùng ăn cơm lứt muối vừng với thợ ruộng, ngồi chơi một giây, rồi mang thúng trở về thay quần áo mà đi học buổi chiều…

BÀ CHỦ quả có mắt tinh đời. Trong lớp học, không có ai ngu đần hơn thằng Tú. Chữ nhất một nét, chữ nhàn hai nét, thì nó còn học được. Đến chữ tam ba nét, nó bắt đầu lộn xộn rồi. Nó cứ hỏi thầy chữ thượng đã có cây que nằm trên, đã đủ nói cái ý rằng ở trên, mà tại sao lại chấm thêm một chấm nữa? Còn chữ hạ đã có cây que nằm ở dưới, đã đủ nói ý rằng ở dưới, mà tại sao lại chấm thêm một chấm nữa? Có phải là thừa và làm rối trí học trò chăng. Ông thầy Tàu nói nó bắt bẻ chữ của thánh hiền, căng dùi nọc đánh nó hai mươi roi vì cái tội phạm thượng. Nó nghe ông thầy Tàu giảng cho học trò lớn rằng: “đời là biển khổ”. Nó lại thấy rằng đời của nó chăn trâu, cắt cỏ, giọt thóc, đội cơm chưa khổ bằng nhà trường là nơi là nơi nó chỉ lãnh mắng nhiếc, đòn bọng và sự khinh rẻ của chúng bạn… Những lúc nó bị roi vọt mà khóc òa mà chưa ắt đau đớn bằng lúc mà trước khi đi ngủ, nó nghĩ đến thân phận của kẻ tôi mọi của nó, chẳng những phải làm vụng nhọc nhằn quanh năm, mà phải gánh những khổ ải đáng lẽ dành cho con của chủ nhà.
            Một đêm, trong lúc nửa tỉnh nửa mê sau một lúc tức tưởi vì số phận, thì nó thấy một nàng tiên hiện đến và nói:
            – Số ta ngày mai phải mắc nạn, vì gặp phải Chằng Tinh bắt để ăn thịt. Vậy ngươi cứu ta!
            Nói rồi biến mất. đêm ấy, thằng Tú trằn trọc không ngủ, không biết làm sao mà cứu nàng tiên khỏi nanh vút của Chằng Tinh. Trưa hôm sau, khi ngồi ăn cơm với thợ cày, nó bỗng nghe gọi liên tiếp:
            – Tú! Tú! Tú!...
            Tiếng kêu càng nhặt, càng thất thanh. Tú quay lại nhìn, té ra là tiếng kêu của một con chim đang vướng lưới nhện và trên lưới, có một con nhện hùm to tướng, bụng lớn bằng ngón chân cái càng dềnh dàng, cặp kẹp hả rộng ra, bò tới toan cắn chim. Tú lật đật lượm nhánh rụng, quơ đứt lưới, gỡ chim ra mà thả cho bay đi.
            Đến tối, Tú lại thấy nàng tiên hiện đến và nói:
            – Ta cám ơn ngươi cứu tử. Ta là con chim mắc lưới mà ngươi đã cứu hồi trưa. Chồng ta con chim đực, đã bị con nhện hùm ăn thịt cách đây khá lâu. Ta đã góa, thêm bụng dạ, phải lo lót ổ một mình khi sanh đẻ xong, vừa phải kiếm ăn, vừa lo ấp trứng, nên sức không kham. Đã đói khát mà một ổ bốn trứng, chỉ nở được ba chim con. Còn trứng thứ tư, anh chị nó đã tập bay nhảy đi kiếm ăn được rồi, mà đến nay vẫn chưa nở. Nay, mang ơn ngươi cứu tử, ta cho ngươi quả trứng ấy, đem về ấp cho nở ra chim con. Nó sẽ hót cho vui tai, mỗi lượt ngươi buồn số tủi phận.
            Trưa hôm sau, khi ăn cơm vừa xong Tú thấy một đàn chim bay tới, một con chim mẹ và ba con chim con, đua nhau kêu lãnh lót:
            – Tú! Tú! Tú!...
            – Tú! Tú! Tú!...
            – Tú! Tú! Tú!...
            Tú lật đật dõi theo bầy chim. Đến dưới cội cây, nhìn lên nhánh, thấy đàn chim bu chung quanh một cái ổ. Cội cây to, Tú liệu ôm không vòng khắp, sợ e leo không được. Nhánh lại cao, nó lại sợ leo lên đuối sức buông tay xuống rồi chết đi. Ví dầu có leo lên đến ổ, thì một tay đã trót cầm quả trứng, làm sao mà tuột xuống? Nó đương suy nghĩ, thì thấy đàn chim mỗi con cắn một gốc ổ, mà bay, nâng cái ổ, từ từ để xuống đất xong lại kêu vang, như từ giã, rồi bay mất.
            Nhìn vào ổ, nó thấy một quả trứng mầu xanh dợt, có những rằn xanh đậm, như những chữ gì đó. Quả trứng chừng bằng ngón tay cái của nó mà thôi. Nó lật đật lượm quả trứng, đem về, không biết làm sao mà ấp, bèn lấy một cục gòn mà gói vào cho nó có hơi ấm.
            Từ ấy, nó không rời quả trứng, may một cái đãy, bỏ vào, đi đâu cũng mang theo. Một hôm, nó đặt cái đãy cạnh đầu nằm, thì lạ thay, nghe nho nhỏ như ai rỉ bên tai.
            – Thưa bố! Thưa bố! Tiếng của con là tiếng của quả trứng trong đãy đây!
            Đáng lẽ, con phải mổ cho bể vỏ mà chun ra, trở thành con chim. Nhưng nếu đã thành chim thì phải phiền bố làm lồng mà nuôi, đi bắt sâu bọ cho con ăn. Những việc ấy, bố làm thân tôi mọi, đâu có thời giờ mà lo liệu cho con? Âu là con ở mãi trong vỏ trứng, trứng nằm mãi trong đãy: khi bố đi học, bố để đãy bên cạnh tay, bố có quên, con nhắc bố, bố không hiểu, con giải thích cho bố; khi bố nằm ngủ, bố để đãy nơi đầu nằm, có gì cần nói, con thỏ thẻ cho bố nghe.
            Tú nghe tiếng của quả trứng nửa sợ, nửa mừng. Sợ vì có một quả trứng lạ ấp rất lâu mà không nở, lại biết nói. Mừng là từ đây, có kẻ nhắc chừng cho học giỏi hơn. Quả nhiên, từ ấy Tú học giỏi lắm, lần đầu đứng đầu cả trường. Đến năm mười bốn tuổi, chàng được tuyển đi đến trường huyện để học. Bởi là khai làm con trai của phú ông, nên vợ chồng ông chủ phải nạp thóc, sắm quần áo, chịu tiền giấy mực, tiền thầy đủ ba năm cho chàng học ở huyện. Vợ chồng không biết làm sao thối thác, chỉ có nước làm y như lệ các quan Tàu đã đặt.
            Học xong ba năm ở huyện, chàng lại được chọn nữa để gởi đi học bên Tàu. Vợ chồng phú ông lại phải đóng thóc, nộp lúa, nộp tiền tốn phí cho ba năm ăn học nữa của “đứa con” mình, thêm phải dọn tiệc đãi đằng quan làng đến “chia vui”, vì nhà có phước sanh con thông minh, sắp đỗ đạt làm quan lớn.



NGÀY TRƯỚC hôm chàng lên đường, bỗng nhiên có bốn con chim bay đến mỗi con ngậm một sợi chỉ dài, ở đầu chỉ cột vào chéo một tấm lụa điều, trên ấy có thêu chi chít những chữ. Mặc dầu Tú đã học thuộc hơn tám ngàn chữ Hán, nhưng chàng không sao đọc nổi những chữ thêu trên mảnh lụa, mà bốn con chim kéo đến trước mặt chàng rồi kêu ‘Tú! Tú! Tú!”, rồi bay mất. chàng lật đật đặt đãy bên tai rồi hỏi:
            – Mảnh lụa điều nầy là gì đây?
            – Thưa bố bốn con chim ấy bố quên rồi sao? Ấy là mẹ đẻ của con, hai anh và một chị đó! Từ khi rời bố, mẹ và anh chị từ giã lên rừng. Dân tộc của ta, trước khi bị người phương Bắc đô hộ sống chung một nhà, do đó mà có câu chuyện thần thoại rằng Lạc Long Quân cùng vợ là bà tiên Âu Cơ sanh ra cái bọc trăm trứng, nở ra trăm đứa con. Đến khi có quân đô hộ đến, một phần cam chịu số phận bị trị, ở lại đồng bằng; còn một phần chẳng chịu hàng đầu, rút về rừng núi. Trong thần thoại tượng trưng sự chia đôi dân tộc bằng câu chuyện bà Âu Cơ dắt năm mươi đứa con mà lên núi, còn năm mươi đứa ở lại theo cha.
            – Chuyện ấy là chuyện xưa. Còn bây giờ, tại sao có mảnh lụa điều nầy?
            – Từ ấy, những người trốn trên rừng, sống từng bộ lạc. Tù trưởng vẫn gọi là Lạc hầu, con trai được gọi là Quan Lang và con gái được gọi là Mị Nương, phong tục vẫn giữ như xưa, tiếng nói không bị thay đổi, mà văn tự vẫn còn nguyên như xưa. Những chữ thêu trên mảnh lụa đó là chữ của dân ta ngày xưa vậy. Còn mảnh lụa nầy do ai thêu ra? Ấy là của nàng Mị Nương bây giờ. Nàng năm nay tuổi được mười sáu. Kém hơn bố một tuổi. Tuy ở trên rừng song Mị Nương cũng nghe đồn rằng bố thông minh, học giỏi, lại sắp sửa sang Tàu mà du học. Mị Nương thức thâu đêm mà thêu bức lụa điều, rồi nhờ mẹ con và anh chị kéo đến mà tặng cho bố đó.
            – Trong bức lụa thêu, Mị Nương viết gì đó?
            – Con không học được cổ tự của người Việt ta, nên không hiểu.



TÚ SANG TÀU, học thêm sáu năm, giỏi hơn chúng bạn. Đến chừng thi hội trước triều đình, thì tuy bài vở của chàng rất hay, điểm đáng cao hơn tất cả, song vua Tàu không dựa vào tài năng mà sắp hạng. Vua Tàu viện cái lẽ rằng là dân bị trị, nếu cho đậu cao, làm quan lớn, cai trị lại ngay người Tàu, thì mất mặt dân Tàu. Nên chi, khi sắp hạng, thì chàng lại không được đỗ Tiến Sĩ mà chẳng được hạng đỗ vớt là Cử Nhân. Thuở ấy bên Tàu chỉ có hai hạng trên mà thôi. Nhưng lần nầy, vua Tàu bèn lập ra một hạng thứ ba. Bởi tên chàng là Tú, nên vua Tàu lập ra danh từ Tú Tài mà gọi hạng nầy. Danh từ tú tài khởi từ đó…
            Nhưng dầu ai có đỗ tú tài, mà là người Tàu, thảy đều được bổ dụng làm quan. Nhưng chàng Tú tuy tài cao hơn tất cả các ông tiến sĩ bên Tàu, song cũng không được ra cầm quyền hành chánh. Chàng chỉ được chức quản thủ thơ viện, ngày ngày chỉ huy, sắp đặt những sách vở là thứ “vô tri, vô giác” khỏi phải chạm đến tự ái của dân nước Trung Nguyên. Năm nầy sang năm kia, hễ lúc nào rảnh thì chàng tìm sách lạ mà đọc. Một hôm chàng đọc được một quyển sách của một người Tàu kể chuyện mình lưu lạc mười lăm năm ở lưu vực sông Nhĩ. Tác giả vốn một danh nho, nhơn lúc Tần Thủy Hoàng lên ngôi, giết nhà nho, đốt sách vở nên lẩn trốn ở phương Nam. Sách kể tường tận sự sống của người Lạc Việt và nói rằng văn tự của giống nầy không giống như lối tượng hình, hội ý, hình than như chữ Tàu. Văn tự nầy lại ký âm dùng lối bốn mươi dấu mà ghi âm thanh gần giống như phép chuyển chú của Tàu.
            Từ ấy, Tú lần mò đọc mấy mươi chữ ký âm ấy, cách xếp đặt chúng ta ra sao. Khi tưởng đã hoàn tất công việc sưu tầm nầy, chàng mới đem mảnh lụa điều của Mị Nương do bốn con chim cắn dây mà kéo lại cho chàng. Chàng dùng lối ký âm đã tìm được mà mò đọc được câu:

                        Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
                        Người trong một nước hãy thương nhau cùng
.

TÉ RA, Mị Nương nghe chàng sang Tàu du học, sợ chàng ngoại hóa, làm quan trở lại húng hiếp người đồng tộc, nên thêu bức lụa mà nhắn nhủ chàng. Chàng cảm động, sa nước mắt, lật đật mua một cái gương có giá, phủ tấm lụa điều lên; và khi nào buồn nhớ tới quê nhà, chàng ngâm câu lục bát với giọng ru em của dân quê… ru cho con ngủ và đồng thời nung nấu cho chúng có cái hồn dân tộc, ngay từ khi chưa bập bẹ.


1-10-1965
HỒ HỮU TƯỜNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 05/08/2017, 12:41:55
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6  [tháng 12 năm 1965 |  106 trang]

MỤC LỤC
Nhất Hạnh |  Thông điệp (thơ) |  2
Nhất Hạnh |  Dựng tượng tuổi thơ (thơ) |  3
Hà Nguyên Thạch |  Phù ảo (thơ) |  4
Đặng Thiên Gia Hộ |  Khởi động (thơ) |  5
Trần Tuấn Kiệt |  Thế giới con (thơ) |  6-7
Xuân Thao |  Đất mẹ (thơ) |  8
Tôn Nữ Hoài My |  Gót lạnh (thơ) |  9
Hữu Phương |  Thành phố này (thơ) |  10
Thành Tôn |  Chứng tích (thơ) |  11
Hoài Khanh |  Cõi mộng (thơ) |  12
Dương Nghiễm Mậu |  Kẻ nuôi máu |  13-19
Hằng Hà Sa |  Huy hoàng trường cửu |  20-25
Nhất Hạnh |  Nói với tuổi hai mươi (tiểu luận) |  26-34
Võ Hồng |  Trạm hành |  35-40
Vũ Đình Lưu |  Con người và thiên nhiên (tiểu luận) |  41-47
Phạm Duy |  Tâm ca số 6 (nhạc) |  48-49
Alexander Solzhenitsyn/Bình Thuận dịch |  Thở |  50-56
Chín |  Mười tý |  57-62
Vương Pển Liêm |  Thanh niên với giáo dục cộng đồng (tiểu luận) |  63-69
Nguyễn Thụy Long |  Những ngày còn không |  70-76
Hoài Khanh |  Thắp một ngọn đèn |  77-83
Lâm Trần Khách |  Sau mươi trừ một |  84-92
Nhất Hạnh |  Nẻo về của ý (truyện dài) |  93-101
G.T.Q.M. |  Giới thiệu sách báo mới |  102
Quảng cáo |  103-105


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 05/08/2017, 12:46:26


Thông điệp

trán tôi chưa từng nhăn
và ưu tư của cuộc đời đã về ghi dấu chân nặng nề trên khoảng trời mai ấy.
nhưng trẻ thơ tâm hồn tôi hôm nay trở lại
hoa lá về trên nụ cười buông thả
vô tình xóa mờ những nếp nhăn đi
như mưa chiều nay xóa đi những dấu chân trên bãi vắng – qua một chu kỳ
tôi đi giữa rừng chông gai như đi giữa vườn kỳ hoa dị thảo
đầu cất cao, nụ cười ngày xưa còn đó
những vần thơ đã nở trong tiếng gào súng đạn
nước mắt ngày xưa khóc nắng quái chiều hôm trên chiến trường vàng vọt,
bỗng đã trở thành mưa; tiếng mưa rơi êm êm trên mái lá,
quê hương tuổi thơ thầm gọi tôi về
mưa xóa đi bao tâm tư sầu muộn

tôi vẫn còn – nụ cười chiều nay bình lặng
trái ngọt chín trên cây rừng cây đắng
ôm xác em thơ, tôi băng qua ruộng lúa quê hương đêm nay
đất mẹ sẽ gìn giữ em
để trên bãi cỏ xanh non, sáng mai này em sẽ luân hồi thành những bông hoa mới
những bông hoa cười trầm lặng trong bình minh đồng nội
giờ phút này em có còn khóc đâu – qua một đêm dài thăm thẳm sâu
sáng nay tôi quỳ trên bãi cỏ xanh khi trông thấy những bông hoa mang nụ cười huyền diệu

thông điệp của hy sinh của trầm lặng quả đã tới nơi rồi.


                                              NHẤT HẠNH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 05/08/2017, 12:55:30


Dựng tượng tuổi thơ

đứng nhìn bên khung cửa sổ sáng nay của cuộc đời tôi
thấy em ngã xuống rồi em đứng dậy mỉm miệng cười
cầu nguyện cho em đừng để thân em lấm bụi thẹn thùng,
đừng để tâm em mang mặc cảm cô đơn vụng về yếu đuối.

mỗi lần ngã là một lần vùng dậy
để trưởng thành
để cuộc đời nhường một bước đi lên

những mũi tên bắn vào thân thể em
hãy để cho chúng rơi như lá thu đẹp lìa cành
ngoạn mục trò chơi tuổi thơ con trẻ.

chiều gió qua
nước hồ trong thoáng gợn
nhưng rồi vẫn bình yên
lặng chiếu bóng núi bóng trăng

em đã trưởng thành rồi
cho tôi xin thêm của cuộc đời một ít tháng năm
vừa đủ dựng trong tuổi thơ can đảm


                                              NHẤT HẠNH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 05/08/2017, 13:07:25


            Phù ảo

            cỏ xanh mướt đẩy trời lên xa thẳm
            chưa mùa thu sao lòng đã bay sầu
            mây qua đó bao la miền biển động
            hỡi núi rừng xin ngủ giấc miên du

            khi nhìn xuống loài chim theo lối gió
            lời ca chìm trong bóng lá thâm u
            ngày di động trên mỗi giòng thác đổ
            có nghe không đời lẩn dấu trong mù

            và ngoảnh lại bàn tay mình năm ngón
            là nỗi buồn thân xác gọi tên nhau
            thời gian thức trên mỗi loài cỏ mọn
            thấy gì không ngoài năm tháng lo âu

            bởi theo mãi bước chân đời lẩn khuất
            chờ mùa xuân hồn phủ lá trên cành
            nên từ đó bóng sầu vây u uất
            ôi đỉnh trời xa khát vọng, sao đành

            ngày vẫn nắng cho tim người bốc cháy
            nước vẫn cuồng giao tận đáy sông dài
            mai còn đó nụ cười trên tay vẫy
            tôi hỡi về đâu cát bãi chia bày!


                                              HÀ NGUYÊN THẠCH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 05/08/2017, 13:23:06


            Khởi động

            Trẻ thơ ơi trẻ thơ ơi
            em hãy đến đây hãy đến đây
            cầm chơi khẩu súng này viên đạn này
            hòa bình bây giờ là ở chúng đấy

            Bạn trai ơi bạn trai ơi
            bạn hãy đến thành phố sống ít lâu
            rồi bạn hãy về làng quê sống ít lâu
            sự sống quê hương bây giờ là ở các bạn đấy

            Người yêu ơi người yêu ơi
            em hãy đến anh hãy đến anh
            em hãy tựa vào ngực này nghe tim lạnh này
            cái chết bây giờ là ở anh đấy

            Trẻ thơ ơi bạn trai ơi người yêu ơi
            Cùng hãy đến đây
            Tất cả với Chân-Vọng sáng ngời


                                              ĐẶNG THIÊN GIA HỘ
                                              (Chiến tranh hãy trở về biển cả)


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 05/08/2017, 16:13:45


            Thế giới con
             (cho linh hồn con Trần Triền Miên)

            nhành thông đổ hột nghe buồn
            gió ru thiên cổ hồi chuông nhân tình
            ngậm ngùi thay kiếp phù sinh
            nhân gian vô ảnh vô hình phải chăng
            đã nghe sóng bủa đất bằng
            tỉnh ra cuộc thế xoay vần chiêm bao

            tếch đầu đếm tóc gầy hao
            cuộc chơi nhân thế lũy hào chông chênh
            buồn viết mãi một thiên tình sử
            viết cho người tử tội đày lưu
            những ai nhân quả địa cầu
            những tuồng phi lý đượm mầu máu tanh

            viết cho trẻ sơ sinh đời loạn
            lòng vẫn còn trong sáng ước mơ
            nỗi buồn nghìn chữ nghĩa xưa
            với chân ảnh nọ giữa bờ tịch liêu

            chân lý hiện bên triều thác lũ
            ẩn trong lòng đất nọ ngát hương
            bỗng dưng hoa nở đầy vườn
            bỗng dưng chim hót bên nguồn nước xanh

            trong lớp sóng đầu ghềnh cuối bãi
            trong mộng trường tang hải ngoài kia
            trong tim máu vọt đầm đìa
            trong con mắt ngóng sao khuê cuối trời

            ngủ đi con nhé con ơi
            cỏ hoa bầu bạn dưới trời mến thương
            cuộc trần thế lắm nguồn thi sử
            khách thơ luôn trao đổi thâm tình

            giang hà bọt nổi buồn tênh
            hằng hà nhân thế con thuyền độ ai
            đất trời mở hội gió mây
            cửa thiền thì cũng chốn này tịnh yên

            con ơi ngủ nhé con hiền
            ra đời trên võng vô biên mộng đời
            càng viết mãi những lời thê thiết
            càng nhớ thương biền biệt bóng hình
            tuần hoàn thiên địa chi tình
            đất ơi tròn nhé mối tình thủy chung


                                              trong Triền Miên ngâm khúc
                                              TRẦN TUẤN KIỆT


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 05/08/2017, 23:03:48


            Đất mẹ
                         Kính tặng nhạc sĩ Phạm Duy

            Hãy nhìn xuống quê hương nầy khốn khó
            Cây không xanh cho lịch sử thêm già
            Một dòng sông – đen như màu hắc ín
            Chảy căm hờn trong từng nỗi can qua

            Và cuộc chiến lớn lên bằng với tuổi
            Trên tay tôi còn ghi dấu lửa binh
            Những thù hận đã đứng mờ biên giới
            Thôi xa bay từng viễn tượng hòa bình

            Đạn vẫn nổ xẹt ngang đầu Tổ quốc
            Lửa chiến chinh làm cháy mặt xém mày
            Những hàng tre lòng âm thầm héo úa
            Như quê hương, như đất mẹ đắng cay

            Khi nằm xuống ôm mặt trời đỏ lửa:
            – Quê hương ơi! Và Tổ quốc tôi ơi
            Vác lý tưởng trên vai làm khí giới
            Tôi đi hoài cho máu lệ khôn vơi

            Tiếng mẹ gọi hai mươi năm khản giọng
            Nghe xanh xao từng điệu hát qua hồn
            Ơi! Trường sơn mẹ giang tay ôm biển
            Cho con xin, một phút, ngã vào lòng


                                              XUÂN THAO
                                              (Lãnh thổ đen)


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 05/08/2017, 23:15:35


            Gót lạnh

            Rồi một lần xa tuổi ấu thơ
            đầu cao ngẩng mặt cất ngôi thờ
            trũng đêm ngọn nhỏ đèn khơi muộn
            cười ướt môi hiền ẩm tóc xưa.

            đường vẫn đi về dăng bóng cây
            trời cao muộn tuổi dáng sao gầy
            tâm tư một thuở chai vò muối
            với nửa ân tình theo gió bay.

            vẫn tưởng tình yêu như cỏ non
            nụ hôn còn vị đắng linh hồn
            khi về tủi bước bàn chân lạnh
            tôi khóc trong bàn tay héo hon.

            thôi một lần xin cho ngủ yên
            tóc bay mờ nửa khoảng môi hiền
            giấc mơ còn lại lê màu khói
            tuổi cạn mưa chiều xõa tóc đen.

            khoảng đó người qua chỉ một lần
            khi về chưa kịp khóc ăn năn
            bàn tay tuổi nhỏ khơi mùa rét
            tóc trũng phơi dày lên dáng trăng.

            còn lại từng đêm vang cúc xưa
            tiết trinh thôi cũng tựa sương mù
            nhớ thương ngọn nhỏ đèn khơi muộn
            tôi bỏ tôi về ươm tuổi thơ.


                                              9-65
                                              TÔN NỮ HOÀI MY


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 05/08/2017, 23:30:57


            Thành phố nầy

Thành phố nầy buồn với dòng sông nghìn kiếp chắt chiu
            từng con cá con tôm. Sình lên nước đọng,
            mùi cỏ lẫn mùi người vất vả quanh năm.
Thành phố nầy buồn với những con đường già nua,
            dãy nhà cổ sơ, mái ngói đen đủi,
            tường hiên rong rêu, sân hè ngập rác…
Thành phố nầy buồn với những sập gụ, những tủ kính, gương mặt
            và tiếng nói khô khan, những mảnh giấy bạc thối lại cũ mèm
            và người con gái ngoảnh đi ra điều sang trọng…
Thành phố nầy buồn với những thằng con trai nghênh ngang anh chị,
            những bà già khọm xuống cho lứa người thiếu phụ hồi xuân…
            Cho em diện mãi vẫn chưa chồng.
Thành phố nầy buồn với bãi biển mùa hè cát bỏng.
            Người có đông nhưng lẫn lộn màu da.
            Một chai coca hai mươi lăm đồng không đá.
            Tiếng □ oang oang, địa phương lặng lẽ
            và mênh mông hoa nắng đỗ thẹn thùng.
Thành phố nầy không những buồn những ngày thường
            mà cả những ngày chúa nhật.
            Thác người lũ lượt kéo đi. Và không xóa bỏ được gì.


                                              Đà Nẵng 6-7-65
                                              HỮU PHƯƠNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 12/08/2017, 14:00:51


            Chứng tích

            hòn đá lăn, tuổi thơ và ảo vọng
            tôi quay tròn, trong đó, hai mươi năm
            đôi đũa thần gõ vòng quanh sự sống
            lời phù chú bong ra rồi mất tăm

            quê mẹ xứ cha và tôi nỗi sợ
            lửa chung quanh vây hãm tấm thân hèn
            đời lặng lờ trôi, dòng sông vô cớ
            tôi trở về tôi như bóng đêm

            em thổi hắt hiu qua vừng trán rộng
            xô bước chân đời trên nếp nhăn
            vùng tuổi nhỏ, lũy tre, bờ ảo vọng
            tan như sương trong đường nét thù hằn

            tôi có mặt lờ đờ như chứng tích
            trên quê hương tiếng mẹ cất tan tành
            nhìn lấy bóng, thu mình trong u tịch
            tôi rút về tôi như chiếc đanh

            tôi quay tít từng vòng xem chóng mặt
            ngoài hư vô huyền ảo khói sa mù
            nỗi vong quốc ngay trên phần đất mẹ
            nên hồn hiền cỏ dại đã muôn thu


                                              THÀNH TÔN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 12/08/2017, 16:48:41


            Cõi mộng

            Em đã chở vầng trăng đi cõi đó
            Ta về đây không sáng sao trời
            Nghe buồn ra từng nụ cười sám hối
            Dòng sông nào vẫn lạnh bóng sao rơi?

            Ôi những mộng đã tàn trong cõi mộng
            Giọt sương nào sẽ trắng bóng hình xưa
            Để ta gọi lá cây rừng thổn thức
            Những buổi chiều gió cũ buốt trong mưa

            Đêm cõi đó ta nghe hồn cây lá
            Thở vi vu cùng với giọt sương tràn
            Trên trái đất có những gì tàn tạ
            Là những gì sẽ lạnh suốt tâm can

            Ta sinh ra ở một miền hoang vắng
            Núi và rừng rờn mộng suối trong sương
            Ta nhìn em qua bóng hình cây lá
            Ôi một đời cõi đó thiếu quê hương

            Em đã mang cả vầng trăng biền biệt
            Ta nằm đây thương tiếc thuở huy hoàng
            Đã không đến như một dòng sương trắng!
            Đã không về như một ánh sao tan!


                                              HOÀI KHANH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 12/08/2017, 22:31:37
HUY HOÀNG TRƯỜNG CỬU

TÔI ĐÓNG cánh cửa sổ lại; thế là căn phòng trở nên âm u; bên ngoài nắng buổi chiều vàng vọt, bệnh hoạn, thật phù hợp với không khí của bệnh viện. tôi có thói quen từ lâu hay đóng cửa sổ, đóng hết cả bốn cánh cửa sổ để khỏi phải đón nhận những tia nắng yếu đau từ đâu đưa lại, để khỏi phải nhìn từng đoàn máy bay ồ ạt lên xuống ở phía phi trường. Và nằm yên sau những giờ mổ xẻ mệt nhọc, gắp từng viên đạn, khâu từng vết thương. Nhưng thường thường nào có nằm yên được; bệnh nhân không gọi tôi dậy thì chính lòng tôi gọi tôi; tôi sợ nhất là chính tôi lay tôi, vỗ vai tôi, chính tôi không cho tôi yên nghỉ. Càng sợ lại càng bị gọi, như thế nhiều lần lắm rồi, như chiều nay chẳng hạn; tôi đóng cánh cửa sổ lại, thế là căn phòng trở nên âm u; như chính con người tôi mỗi ngày một trở nên âm u; như những đám mây mùa đông mỗi ngày một dày đặc. Có lẽ tôi quy lỗi cho những niềm vui bé bỏng không thực hiện được nữa; tôi có ham những nỗi vui mừng hạnh phúc rộng lớn đâu; tôi chỉ thích và chỉ có những ước mơ rất bé, nhỏ và nhẹ như những sợi tơ trời vào những buổi chiều thu lang thang trên nền trời xanh nhạt. Thế mà tôi đã mất chúng, từ bao năm nay, không phải lỗi tại tôi. Tôi không quy lỗi cho ai, hằn học mà đổ tội cho ai, nhưng tôi biết chắc là không phải lỗi tại tôi. Bây giờ nằm yên, đặt tờ báo đọc dở lên mặt, muốn ngủ một giấc mà không thể ngủ được, mới đoan chắc rằng không phải lỗi tại tôi nếu những ước mơ bé bỏng đó không thực hiện được, nếu những niềm vui nhẹ như tơ trời đó bị đánh mất đi.

NĂM NAY tôi lớn rồi, mẹ tôi bảo thế, chị tôi bảo thế và người con gái yêu tôi cũng bảo thế. Nhưng tôi không muốn lớn, bởi những thú vui tuổi thơ tôi chưa hưởng hết, những ước mong nhỏ bé thực hiện nửa chừng thì đã bị đánh cắp. Để tôi cho ví dụ, để anh hiểu tại sao tôi hay đóng cửa để khỏi phải nhìn những chuyến máy bay ồ ạt lên xuống ở phi trường, để khỏi phải đón nhận những tia nắng ốm đau từ đâu mang lại, khác hẳn những cụm nắng tinh anh của những cánh đồng lúa vàng mỗi lần tôi đi trên chuyến xe lửa từ miền Trung vào Nam vào những ngày cuối hạ năm nào. Hồi nhỏ, và ngay cả bây giờ nữa, có ba điều tôi thích nhất: đó là đi dạo dưới trăng, được người thân tiễn đưa mình ra đi bằng xe lửa và tiễn người thân ra đi trên những chuyến máy bay. Đấy những sở thích, như thế đó, nhỏ lắm, mà bây giờ tôi mất hết. Saigon không bao giờ có trăng, ai cười tôi ngớ ngẩn thì tôi chịu, chứ bảo Saigon có trăng thì tôi không đồng ý. Rồi cái cảnh bước lên xe lửa vào buổi sáng tinh sương, nhận một món quà mọn “để em ăn đỡ khát lúc đi đường” của chị tôi cũng mất luôn. Nhưng người chị tôi vẫn có tật là chờ lúc nào còi xe lửa hú lên, báo hiệu tàu sắp chạy mới trao quà cho tôi; tôi cầm gói quà và nhìn những chiếc áo dài xanh cho đến lúc tàu ngoặt sang một tí, bụi tre chắn lối nhìn và thành phố Huế mất hút đằng sau; mỗi lần như thế tôi lại rưng rưng nhìn thật kỹ niềm vui nhỏ bé đó của tôi và cứ hứa hè sang năm lại về, để khi đi, lại được các chị tiễn đưa. Nhưng năm sau tôi trở về thăm gia đình vào mùa hè thì phải mất bốn ngày mới đến Huế đáng lý chỉ mất có hai đêm một ngày. Chuyến tàu phải dừng một đêm tại một trạm nhỏ trong rừng vì đường rầy bị gỡ mất mấy trăm thước. Nằm một đêm ở giữa rừng tôi nghe xa xa có tiếng súng nổ. Sau này lúc trở vào ba tôi bắt đi máy bay. Vù một cái, chừng hai tiếng đồng hồ là đến Saigon; hết rồi những cảnh tiễn đưa ở ga Huế với những tà áo xanh buổi sáng tinh sương, hết rồi lời dặn dò “để em ăn đỡ khát lúc đi đường”, hết rồi màu nắng vàng tinh anh của các cánh đồng ruộng được mùa, hết rồi cảnh chia tay thầm lặng của đôi tình nhân ở một ga nhỏ, mưa lất phất đủ để gây kỷ niệm cho một lần tiễn đưa. Và thế là, từ ngày ba tôi dặn “con nhớ về bằng máy bay kẻo nguy hiểm”, tôi mất đi niềm vui thứ hai: được người thân tiễn dưa mình ra đi trên một chuyến xe lửa.

CHƯA HẾT; năm tôi hai mươi tuổi; thằng bạn thân tôi đi Mỹ du học; một năm sau cô bạn của em tôi lên đường sang Nhật. Tôi bỗng có dịp rưng rưng nhìn những chiếc máy bay vụt lên trời, hùng dũng mang người thân ra đi. Đứng ở phi trường tôi lặng người vì những ý nghĩ bay nhảy trong đời của một người con trai. Sau này mấy lần tôi được đi xa, ngồi trong lòng chiếc Boeing 707 tôi cũng không thấy sung sướng bằng lúc đứng ở phi trường nhìn máy bay vụt thẳng lên trời.
            Tôi mất luôn những nỗi sung sướng đó nốt; không phải tại bây giờ tôi không được phép nhìn tận mắt cảnh người thân leo lên chiếc máy bay vù một cái tung trời thổi gió, đi mất. Tôi còn có rất nhiều dịp nhìn cảnh hùng dũng đó của một chuyến bay ngày, đêm, nhưng tâm tình không thể còn như xưa, niềm vui không còn lâng lâng, không còn dạt dào như mấy năm về trước. Hoàn cảnh đã đổi thay; bây giờ tôi chỉ nhìn những chiếc máy bay xé không gian, giận dữ ồ ạt, như vừa rồi ở phi trường Nha Trang, những chiếc Skyraider bụng đầy bom đạn, nhào lên, hùng hổ, bay đi. Mười phút sau trở về từ từ hạ xuống. Tôi chú ý mấy phút mấy chục chiếc Skyraider lên xuống, lúc đi thì thật nặng, lúc về bụng trống trơn. Tôi ngây người đếm mãi, nhìn mãi đến nỗi người con gái ngồi cạnh tôi phát cáu. “Giờ này (giờ này tức là giờ mà hai đưa sắp phải xa nhau), mà anh còn nghĩ đến, đếm mãi mấy chiếc máy bay vô tri đó được sao?” Tôi mỉm cười chua chát. Chúng nó mà em bảo là vô tri à; chúng nói chuyện với anh nhiều lắm đấy, từ nãy đến giờ. Nghĩ thế nhưng tôi không nói ra, sợ lại phải to tiếng với một người con gái, để tình yêu lúc phải xa nhau cho trọn vẹn.

ĐẤY, BA niềm vui nhỏ bé thường ao ước, tôi đã mất đi. Tôi thường gọi chung là những phút huy hoàng của đời tôi. Miệt mài ra vào lợi danh, tranh chấp, đố kỵ tôi cho đó là những đen tối nhất của đời người. Thế nhưng tôi không tìm lại được những phút huy hoàng đó nữa; chúng đi mất rồi, không phải lỗi tại tôi. Tôi đã hai mươi mấy tuổi rồi. Mẹ tôi thường bảo: “Con không biết, chứ hồi con mới sinh ra ba con đã bị tụi nó nghi ngờ (tụi nó tức là tụi Tây), rồi con năm sáu tuổi đã bắt anh con cõng trên vai chạy giặc. Tản cư về con đau một trận bán sống bán chết vì ba con bị tù không ai “bốc” thuốc cho”. Rồi lúc nào kể chuyện mỗi dịp về nghỉ hè mẹ tôi cũng bắt đầu “con không biết chứ hồi đó…” Tôi không biết thật, ở với mẹ mãi thì có biết thêm được gì đâu, tình thương của bà mẹ lên quá đầu che hết cả đôi mắt làm sao mà thấy được. Tôi không biết gì cả cho đến lúc tôi bỏ Huế mà đi cho đến lúc xe lửa bị gỡ đường rầy, nằm giữa rừng, đêm nghe có tiếng súng nổ; cho đến lúc tôi bị giam trong “xà lim” chật hẹp và nhìn ra ngoài qua khe hở, thấy sao trời lấp lánh, mới nghĩ được rằng chỉ có con người mới xây địa ngục cho nhau. Tôi không biết gì cả cho đến bây giờ mỗi buổi chiều mở của sổ nhìn những cụm mây xanh lại trông thấy cả một đoàn máy bay ồ ạt xé trời, mỗi buổi đêm nhìn lên trời nghe các vì sao thì thầm với nhau lại nghe xa xa tiếng súng nổ, gần quá.
            Lúc tôi biết được nhiều như một đêm phải mổ mấy đứa nhỏ một lượt toàn là vì ham chơi không nghe lời mẹ dặn nên nhằm phải đạn, trúng phải mìn, thì tôi đã mệt mỏi quá, muốn yên thân, muốn ngủ vùi một giấc chẳng cần nghĩ đến những phút huy hoàng, những ước mơ bé nhỏ mà không thể nào thực hiện.

LẦN NÀY thì tôi đổ thừa, quy lỗi cho thầy NH. Thầy không cho tôi yên, cứ kể mãi chuyện Pomona và Phương Bối. Sao thầy không để cho tụi trẻ giữ con Datino lại; ít nhất tụi nó cũng nâng niu con nai vàng đó; thầy thả nó về rừng thì thôi rồi bầy sói ăn thịt mất. Tôi vẫn chê là thầy lý tưởng thái quá. Con nai vàng mà ngơ ngác đạp lá vàng khô kêu xào xạc thì đẹp thật đấy, nhưng núi rừng không tha nó đâu. “Như con đây này, đời có tha cho con đâu”. Tôi nói với thầy như thế đó, cuộc đời có tha cho tôi đâu. Nó cướp mất những phút huy hoàng của tôi rồi. Nó không cho tôi trở lại Phương Bối lần thứ hai để nói chuyện với núi rừng nữa; để đốt lửa; đống lửa cao ngất trên ngọn đồi của Phương Bối một đêm nào của năm 60.
            Hồi đó chúng tôi lên thăm thầy ở Blao. Mỗi đứa có một dự định lúc đi. Riêng tôi, tôi chỉ muốn xa Saigon vài ngày để đỡ nghẹt thở. Thế thôi. Sau đó tôi đã tiếc rẻ là tại sao Phương Bối chỉ giữ tôi lại có một đêm. Một chuyến đi có đầy đủ điều kiện cho tôi thích thú. Có bạn, có thầy, có lửa, những đốm lửa như hoa bay vút trên trời, trong đêm đen, rồi mất vào khoảng không vô tận. Có cả hội thảo và nhất là có cả cơm chay nấu theo lối thứ làm mấy chị trong này tấm tắc khen ngợi mãi. Tôi vẫn thích nhất là ăn xong, thầy cũng như trò, trai cũng như gái, xăn tay áo, vác củi, từ đằng xa, chất thành đống để đốt lửa. Hồi đó sao mà yên ổn thế nhỉ. Núi mà cũng hiền, đi chơi xa thì chỉ sợ “vắt” thôi chứ không sợ cọp… Tiếc thật. Bây giờ mà đi chơi đâu, có lẽ cọp tôi cũng không sợ, vắt cũng không đáng ngại, chỉ sợ người. Người hút máu người nhanh hơn vắt; cọp cũng thua người về chuyện hút máu.

            Bạch thầy.
ĐÊM ĐÓ con ngủ chung một ghế bố với Dương. Để con kể lại chuyện này cho thầy nghe. Nằm được một chốc chừng 11 giờ đêm thì cái ghế bố gãy. Dĩ nhiên là lỗi tại anh Dương, con gầy thế này thì làm sao làm ghế gãy được. Hết chỗ để ngủ con trở dậy nhìn núi rừng và cầm giấy bút viết vớ vẩn. Để con chép lại thầy xem để thầy thấy những phút huy hoàng con mất đi không phải lỗi tại con, cũng như cái ghế gãy là lỗi tại anh Dương. Hồi đó con viết nhiều lắm, có một đoạn như thế này “Tôi đi sâu vào lòng đêm. Đêm của rừng núi yên tĩnh đến lạ lùng, bởi tôi đang nghe tiếng thời gian chạy dài trên vạn vật. Bây giờ chỉ có Phương Bối am là đang sáng, tất cả đều tối đen như mực. Tôi đến Blao vào một buổi chiều không mưa, trời xanh xanh và mây hiền lành. Đường dài và đôi lúc thẳng quá. Chiếc xe thì lúc nào cũng vội vã. Sao lúc đi tôi lại lẩn thẩn đến thế, cứ nghĩ rằng con đường sẽ không hiện hữu nếu không có xe và ngược lại. Ấy, không lẽ vạn vật lại chỉ là một sự phù hợp mà một yếu tố mất đi thì tất cả chỉ là con số không! Đi trên xe tôi ít nói quá, càng xa Saigon tôi lại càng không muốn nói, tôi thích trả lại yên tĩnh cho lòng tôi. Cho đến bây giờ khi đêm đang yên giấc trên núi đồi thì tôi lại miên man suy nghĩ.
             “Ánh lửa đốt ban chiều bây giờ không còn lách tách reo nữa. Chúng đang “cháy” trong yên lặng. Tôi đang nằm im ở đây không trở mình. Các bạn tôi đang yên lặng ngắm vòm trời đầy sao sáng. Tất cả đang trả lại hoàn toàn sự yên tĩnh cho Phương Bối am. Chỉ có sự thanh tịnh là đáng quý. Quay cuồng cho lắm cũng là hư ảo; mình sẽ không bao giờ gặp lại mình nữa, bởi cái “tôi bản thể” đã lui về để nhường chỗ cái “tôi hiện tượng” đầy ố bỉ. Càng lớn lên càng chôn sâu vào u tối cái “tôi bản thể” mà tôi nghĩ chắc nó trong sáng lắm.
             “Đêm Blao lạnh quá. Hồn thiêng của núi đồi đang chừng như u uất lắm. Tôi đang nằm trong lòng ánh sáng bạch lạp. Tôi muốn đem ánh sáng của ngọn nến soi vào sâu thẳm của núi rừng. Tôi đã thất bại, bởi trong một trở mình, trong một khoảnh khắc đổi hướng đời, tôi cũng đủ vừa mất ánh sáng đó mà giờ đây là nguồn sáng độc nhất. Ánh sáng 100 waths của thị thành chỉ làm cho tôi chóa mắt. Đem nó đến đây thì nụ trà sẽ không thơm nữa, núi đồi sẽ trơ trẽn và chúng tôi sẽ không cùng nhau yên ổn đứng nhìn vòm trời đầy sao sáng”.



TÔI QUY lỗi thầy NH đã không để cho tôi yên. Lúc này bận rộn, nhọc nhằn… bắt tôi nhớ về Phương Bối am tức là bắt tôi đi tìm lại những phút huy hoàng đã mất. Chỉ hoài công, tìm làm chi ra được. Tôi oán thầy lắm. Sáng hôm sau khi ngủ một giấc ngắn với cái lạnh tê tái của núi rừng ban đêm, chúng tôi lại trở về Saigon. Mỗi đứa được thầy tặng một câu viết trên một tấm bìa cứng mầu vàng. Thầy chép cho tôi một câu trong Samyutta Niaya “Il viendra un temps où l’océan puissant s’assèchera, disparaitra et n’existera plus. Il viendra un temps où la terre puissante sera dévorée par le feu, périra et n’existera plus. Mais cependant il n’y aura pas de fin aux souffrances des êtres qui, aveuglés par l’ignorance et pris au pìege du désir, se pressent et se hatent au travers de la ronde desrenaissances”. Bây giờ đọc lại tôi giận thầy thực tình; giận nhưng mà thương. Mẹ tôi thì cứ bảo với tôi, chỉ cho tôi thấy, kể cho tôi nghe sự cay đắng của một kẻ sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong khói lửa và trưởng thành trong tranh chấp. Nếu mẹ tôi không kể chuyện và anh chị tôi không lập lại câu này khi mẹ tôi nói xong “hồi nớ mi sướng chết đi, có chạy giặc thì cũng có anh H. cõng”, thì tôi cũng không biết thân phận lứa tuổi chúng tôi khổ đến thế. Mẹ tôi cho tôi biết thế. Đến lượt thầy tôi cho tôi biết nhiều hơn, còn vô minh thì còn khổ bất tận, dù biển có khô đi, trái đất có bị đốt cháy đi, nỗi khổ của con người do chính sự kỳ thị, tranh chấp, đố kỵ của chính nó gây nên. Tôi biết thế, tôi giận thầy lắm nhưng tôi vẫn thương như tôi thương mẹ tôi, anh chị tôi đã cõng tôi chạy giặc năm tôi lên sáu.
            Để tôi kể tiếp. Tôi xem ngày ở Phương Bối như những phút huy hoàng nên khi phải quay lại Saigon tôi buồn lắm, sực nhớ đến câu:
             “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối. Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm” tôi viết lên giấy và làm phỏng vấn chớp nhoáng các bạn tôi ngay trên xe để xem ý kiến họ như thế nào về vấn đề huy hoàng của cuộc đời.
            Tôi được thầy và các bạn cho các câu trả lời sau nhân hai câu thơ trên.
            Thầy: nguy hiểm.
            Chị Điệp: tôi không muốn huy hoàng cũng không muốn buồn le lói.
            Chị Phượng: tôi muốn buồn le lói muôn số kiếp để cho tất cả hay ít nhất cũng một người được huy hoàng.
            Chị Chi: thích câu thứ nhì.
            Chị Bích: tôi muốn huy hoàng mãi mãi.
            Anh Dương: có định rõ một quan niệm rộng hơn về thời gian không? Xin nêu một vấn đề, có thể lấy thời gian để đo lường mê ngộ. Theo đuổi một huy hoàng chốc lát phải chăng là mê, theo đuổi một huy hoàng trường cửu phải chăng là ngộ. Xin thầy cho biết ý kiến.
            Ý thầy: huy hoàng trường cửu thì không cần phải “theo đuổi”. Nó đang hiện hữu trong và quanh ta, chỉ vì ta không thấy nó.



TRỜI ƠI, hồi đó trở về Saigon mà tôi không tiếc nhớ Blao quá lắm cũng nhờ câu sau cùng của thầy. Và bây giờ, nếu lúc tôi đã đóng cửa sổ lại cho căn phòng âm u, nếu trong suốt mấy năm nay, tôi không đập phá, không thét lên, không chửi vào mặt những ai gây ra cảnh chém giết hằng ngày mà chính chúng tôi phải gắp đạn, khâu vết thương, nếu tôi không quy lỗi cho ai về chuyện những ước mong nhỏ bé của tôi không thực hiện được, nếu, nếu thế, cũng chỉ vì tôi được biết rằng Huy hoàng trường cửu thì không cần theo đuổi. Tôi không thấy nó, chứ nó hiện hữu.
            Tôi thiếp đi trong giấc ngủ bình yên; để đêm đêm, sau một ngày mệt nhọc vì bổn phận, tôi thầm cầu nguyện cho đất nước thanh bình, tôi trở về và cài hoa lên tóc người con gái tôi yêu thương.


17-10-65
HẰNG HÀ SA


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 19/08/2017, 11:12:34
CON NGƯỜI VÀ THIÊN NHIÊN

QUA NỀN văn học Tây phương hiện đại, người ta thấy xuất hiện một thứ tâm trạng đặc biệt, đó là tâm trạng của người mất thư thái hồn nhiên, họ mất hết ý nghĩa cuộc đời, mất hết tin tưởng vào những giá trị xã hội, không chịu đựng được những cách xử sự của người đời, họ không thỏa hiệp được với cuộc đời.
            Tâm trạng của con người “khó sống” như thế được họ gọi là “conscience malheureuse”. Nó xuất hiện khá sớm trên nền văn học Tây phương vào cuối thế kỷ thứ 19 với Haysmans và nhân vật Folantin, sau này André Gide, Duhamel tung vào văn nghệ những trái bom hạng nặng và đến thời hiện sinh ra đời thì Sartre đẩy sự phân tích đến chỗ cực kỳ tinh vi.
            Những nhân vật của các văn hào này là những mảnh ván trôi giạt bập bềnh trên biển khơi. Nhân vật Roquentin của Sartre trong quyển La Nausée trở nên khét tiếng vì Roquentin làm cuộc thí nghiệm then chốt về thuyết hiện sinh, về tính cách vô thường và phi lý của cuộc sống. Sợi dây liên lạc nối tiếp chàng ta với đời sống đã cắt đứt, chàng ta chỉ còn lại một rỗng không. Về một cạnh khía nhìn vào, người ta có thể công kích những nhân vật ấy phi nhân loại và xâm phạm đến nền tảng đạo đức và gây những đảo lộn xã hội, nhưng đứng về phương diện học thuật tư tưởng, về phương diện mở đường khai lối cho tương lai, ta thấy những nhân vật ấy đã đặt ra vấn đề xét lại cả nền văn minh ngày nay. Họ khó sống, họ khước từ cuộc đời vì họ đã có tâm hồn bén nhạy để nhìn rõ những khủng hoảng của một tổ chức mà mọi người không thấy được. Vì không thấy được mà ta yên ổn hưởng thái bình. Chính vì áy náy không yên mà họ sống mãnh liệt và đầy đủ hơn ta.

HỌ TỪ KHƯỚC lớp trật tự hình thành ngày nay là vì họ có một khuynh hướng đạo đức luận thoát thai từ những nền móng bản thể học và những quan niệm triết lý tân kỳ. Cảm tưởng chung của chúng tôi đối với những tư tưởng yếm thế ấy là một cái gì như một ảo tưởng vĩ đại về chân lý cuộc sống. Nói thế không phải là phủ nhận giá trị của tư tưởng Tây phương hiện đại, một tòa lâu đài vô cùng phong phú, tự nó có một động lực mạnh mẽ để kết nạp những sinh khí tượng trưng cho sự mầu nhiệm của giòng sống. Tuy nhiên, cái sinh khí đó đem lại cho cuộc đời những ý nghĩa nào, và ý nghĩa ấy làm cho cuộc đời bế tắc và mâu thuẫn hơn, hay cởi mở cho tâm hồn người ta thư thái an hòa để tìm thấy những nhịp điệu quân bình của cuộc đời? Đó mới là điều quan trọng và nghĩ đến điều ấy cũng là đặt vấn đề trách nhiệm của nhà văn.

CHÚNG TÔI thấy câu hỏi này cấp bách hơn khi nhận định rằng nền văn minh Tây phương ngày nay có tính chất phổ biến, các dân tộc phải chấp nhận nó hay là đi đến chỗ tiêu diệt. Triết học, văn nghệ, khoa học, kỹ thuật, tổ chức, đều xô đẩy con người đến chỗ mâu thuẫn trầm trọng với thiên nhiên; họ miệt thị thiên nhiên và xây dựng những thành trì kiên cố để tự giam hãm trong nếp sống giả tạo. Chúng tôi có linh cảm rằng sự tạo lập cuộc đời theo chiều hướng ấy dắt đến tình trạng tuyệt vọng và đau khổ giữa sung túc và tiện nghi: người xưa đâu có biết những tình trạng nghịch thường ấy.

TRIẾT LÝ, trật tự, tổ chức, kỹ thuật, cơ khí, quan niệm trong tinh thần tạo tác và lựa chọn của Tây phương đã tạo ra một thứ “thảm kịch tiến bộ”. Thảm kịch đang bành trướng, đang lôi cuốn tất cả các dân tộc trên thế giới vào con đường mâu thuẫn và bế tắc.
            Trước thảm trạng ấy, nhà văn Tây phương không phải là không ý thức được trách nhiệm, nhưng hầu như họ có phản ứng tuyệt vọng của người chới với giữa giòng, hay có phản ứng của người bị giam hãm trong một hệ thống suy tư và rung cảm giới hạn bởi chân trời triết lý của họ. Và triết lý ấy tiêu biểu cho sự bất lực của họ không đề xướng được một căn bản đạo đức luận khả thủ. Đỉnh cao văn học của họ ngày nay đại diện bởi những triết lý bạo lực (Nietzche) bi đát, bi thảm, phi lý nôn mửa (Sartre) tức là những triết lý miệt thị cái sinh khí nguyên thủy nồng ấm tạo ra sự cởi mở, sự thông cảm tự nhiên của con người.

NHỮNG TRIẾT LUẬN ấy đề cao khái niệm tiêu cực, chống lại những khái niệm tích cực như yêu mến, yên ổn, tốt đẹp, thiện mỹ. Đạo đức luận của họ là những mẫu mực “lý luận đảo ngược”. Đời sống vô nghĩa, con người có những khuynh hướng nguyên thủy xấu xa nhưng con người phải hành động để phủ nhận bản chất xấu xa nguyên thủy và đem lại ý nghĩa cho đời sống (Sartre, Simone de Beauvoir). Hoặc “Người ta phải đập cho tan hết hy vọng trần gian chỉ như thế mới có thể tự cứu vãn bằng hy vọng chính xác” (Kierkegaard).
            Chỗ thiếu sót trọng đại của nền tảng đạo đức luận ấy như sau: người ta nhân danh cái gì mà phủ nhận bản chất xấu xa nguyên thủy? khi phủ nhận như thế người ta phải nhân danh những giá trị tích cực tạo lập được đời sống tốt đẹp, quân bình và có nền tảng chắc chắn. Khốn thay, người ta không đặt được cho những giá trị ấy một bản thể luận nghĩa là không tìm những nguồn gốc của nó trong các bản năng và khuynh hướng nguyên thủy của con người. Việc làm của họ là tìm cho những khuynh hướng nguyên thủy xấu xa tiêu cực những căn bản bản thể luận thật kiên cố. Như vậy việc làm của họ là phủ nhận những khuynh hướng phá hoại của nền tảng bản thể luận chắc chắn nhân danh những khuynh hướng xây dựng chỉ có căn bản suy luận mơ hồ, hay là không có căn bản suy luận. Con người phải chọn lựa con đường đi trong những điều kiện không có lợi cho sự lựa chọn.

THẢM KỊCH thời đại bắt nguồn ngay từ uyên nguyên của kinh nghiệm sống đại diện bởi những khuynh hướng triết lý thiên lệch như thế.
            Cả một trào lưu văn học Tây phương cực kỳ phong phú và đạt được tính cách phổ biến khắp thế giới đã được khai triển xung quanh những khái niệm sâu sắc về các khuynh hướng cởi mở. Những giá trị đời sống xuất hiện trong khung cảnh hỗn độn ấy qua những thử thách của cuộc đời đã tỏ ra không thể dùng làm kim chỉ nam, vì đã làm cho giòng đời bế tắc và mâu thuẫn…

VỚI KHÔN NGOAN truyền thống của người Đông phương hình như họ lý hội được những đảo lộn sẽ gây vì những hệ thống đạo đức luận như trên đây cho nên những triết lý đặt nền tảng trên những khái niệm tiêu cực không thể phát triển được. Trải qua bao nhiêu thế hệ người ta chỉ có thể chấp nhận được một hệ thống siêu hình tượng trưng cho tinh thần vui sống. Khổng Tử là người khởi xướng một tư trào triết lý đặt nền móng cho một hệ thống đạo đức luận mà người sau chỉ có công khai triển chứ không hề có ý đặt lại các vấn đề.
            Nền móng đạo đức luận của Khổng Tử là một cố gắng nhìn đời dưới khía cạnh vui sống và hành động, mục đích tìm căn cứ siêu hình cho biện chứng pháp cũng không ngoài ý muốn chứng minh các nguyên tắc đạo đức vui sống hợp với thiên nhiên. Thực thể người không thể quan niệm là cái gì khác thực thể thiên nhiên khác thực thể vũ trụ. Nguyên lý hiện hữu vũ trụ cũng là nguyên lý hiện hữu con người.
            “Người là cái đức của trời đất sự giao hợp của âm dương sự tụ hội của quỷ thần cái khí tinh tú của ngũ hành” (Lễ Ký, Lễ vận IX).

ĐÂY CŨNG LÀ căn bản của siêu hình học về người, chân lý cuối cùng của lý luận “nhân chi sơ tính bản thiện” và của khái niệm “minh đức”. Tất cả lâu đài tư tưởng Khổng Mạnh đều đặt trên nền móng hình nhi thượng học này và trở thành chân lý phổ biến kết tinh lại trong 2500 năm.
            Khổng Tử chiêm nghiệm hiện tượng thiên nhiên đã ý thức được 4 nguyên tắc gọi là bốn đức lớn của trời: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Nói theo ngôn ngữ triết học ngày nay, ta có thể nói: một hiện tượng xuất hiện do một chân lý uyên nguyên, hiện tượng đó là nét vẽ của một toàn thiện, nó diễn biến hướng về một cứu cánh và dù diễn biến vẫn giữ được cái gì là chính cốt, là gốc rễ của nó. Như vậy đức lớn của Trời, hiểu theo từ ngữ của Sartre, có thể là être transphénoménal (bản thể siêu hiện tượng).

UYÊN NGUYÊN của vũ trụ là thái cực. Thái cực có hai thể, thể tĩnh thường trụ và thể động thiên biến vạn hóa. Tâm con người đồng nhất với thể tĩnh của thái cực, do đó, hưởng được cái minh đức, cái trí lự vô cùng sáng suốt, vậy thì tự nó thấu suốt được bản thể của sự vật.
            “Không nghĩ, không làm, im lặng không động, đến lúc cảm thì thông suốt được mọi cớ trong thiên hạ” (Dịch: Hệ từ thượng).
            Khổng Tử đã đặt nền tảng bản thể luận cho vấn đề khả năng hiểu biết (problème de la connaissance), bây giờ chỉ còn phải đặt nền tảng bản thể luận cho đạo đức học. Vấn đề không khó khi người ta đã quan niệm thực thể người với thực thể thiên nhiên là một.
            Đạo trời có 4 đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh thì đạo của người có 4 đức tương ứng: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí.
            Hiện tượng người là một phát hiện của những nguyên nhân nguyên thủy (Nguyên) cho nên người có “Nhân”, người được hướng dẫn bởi nguyên tắc toàn thiện (Hanh) cho nên người biết “Lễ”, người có một cứu cánh (Lợi) cho nên người biết “Nghĩa”, người có cái gốc sáng suốt của thái cực cho nên biết “Trí”.

DO THỰC THỂ siêu hình của con người như vậy cho nên Khổng Tử nói: “Người là cái đức của trời đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ thần cái khí tinh tú của ngũ hành” (Lễ ký, Lễ vận IX).
            Nền văn minh nào cũng khai triển dưới một vài nguyên tắc triết lý chỉ đạo cuộc sống. Triết lý Đông phương gắn liền con người với thiên nhiên như vậy, con người suy diễn những nguyên tắc triết lý đó xuống lãnh vực hình nhi hạ học, lãnh vực bình thường nhật dụng, tạo ra lề thói, phong tục, kỷ cương, học thuật, hiến chế. Họ tạo ra một cuộc sống hòa mình với trời đất với âm dương ngũ hành, họ uốn mình theo nhịp tứ thời bát tiết và tìm thấy thư thái an hòa và cởi bỏ phần nào thắc mắc về kiếp sống.
            Hẳn là chúng ta nhận thấy triết lý vui sống như vậy rất thiếu thốn và không trả lời được nhiều thắc mắc thần bí và không an ủi con người khổ đau: những thống khổ trên đời hầu như muốn cải chính quan niệm triết lý vui sống của Khổng Tử. Chỗ thiếu thốn trong tâm hồn đó họ lấp bằng những quan niệm siêu hình của Phật giáo, Lão giáo.

QUA SỰ trình bày trên đây chúng ta nhận thấy nếu đứng về phương diện lý luận thuần túy thì phương pháp lý luận của Khổng học rất chặt chẽ, đầu đuôi xuôi ngược ăn khớp với nhau. Nguyên lý “khả năng hiểu biết của con người” và nguyên lý “con người vốn thiện” đều có căn bản lý thuyết vững vàng. Chính nhờ căn bản lý thuyết đó mà Mạnh Tử đánh bại hết các học thuyết khác, và những thuyết thảm bại ngủ yên cho tới ngày nay. Mới có một thuyết của Mặc Địch được cơ hội thuận tiện của Mao Trạch Đông cho hồi sinh.
            Sự độc quyền triết lý trên thực tế ấy, tôi có cảm tưởng là không phải một ưu điểm. Nhận định triết học Tây phương ta thấy hệ thống nào cũng là cái lâu đài bỏ dở. Và những kẽ hở của hệ thống lại chính là lối thoát cho tư tưởng về sau khiến cho triết lý của họ luôn luôn đổi mới.
            Thiết tưởng sự nhận xét trên đây có một tầm quan trọng vô cùng mà chúng ta cần phải đặt thành một vấn đề có thể coi như vấn đề then chốt của văn học tư tưởng Á Đông.

CÓ LẼ tính cách chặt chẽ của một hệ thống lý luận là một nét chung cho triết lý Đông phương. Tôi hơi lấy làm lạ rằng các nhà “Đông phương học” hình như cho rằng triết lý Đông phương không thành hệ thống, không có phân tích mà chỉ bài liệt thành một hàng lối riêng khó phân tích khó kiểm soát. Có lẽ họ không quen với lối lý luận của mình chăng? Dầu sao đây cũng là những điểm chúng ta cần phải đặt thành vấn đề.
            Nhìn qua triết lý Phật giáo chúng tôi cũng nhận thấy tính cách chặt chẽ của hệ thống lý luận. Ta biết rằng cái tử địa của các triết thuyết là giải thích sự hiện hữu của thế gian, của sự sinh tử. Triết thuyết nào đến đấy cũng bế tắc vì đều phải tham chiếu một tuyệt đối rất vi ẩn là Thượng Đế, Thái cực v.v… Với hệ thống luân hồi vô thỉ vô chung người ta không cần bận tâm đến tuyệt đối nữa và tránh được bế tắc. Sau đây là sự trình bày của nhà học giả Trần Trọng Kim, sáng sủa hơn cả: “Xét về đường lý thuyết thì cái thuyết Thập Nhị nhân duyên giải quyết được vấn đề thế gian và sự sinh tử một cách hoàn bị hơn cả. Các học thuyết khác, hoặc Đông, hoặc Tây xưa nay phần nhiều đã nghiên cứu về vấn đề vạn hữu ở trong vũ trụ, tuy vẫn có nhiều thuyết rất cao thâm uyên áo, nhưng thuyết nào cũng cho vạn vật có cái bản thể tự tại, dù có nói là vạn vật do cái nhân mà sinh khởi ra nữa, thì cũng chỉ nói là do các thứ nhân gốc ở cái tự thể rất vi ẩn mà thành ra các hiện tượng biểu lộ, chứ không ai nói cái tự thể ấy là nhân duyên. Bởi vậy cái kết thúc sự luận lý của các học thuyết ấy tất nhiên là phải nhận có một cái nhân sinh ra nhiều quả. Vạn vật đã do một nhân mà sinh ra thì phải nói là có một cái nguyên thỉ. Đã có cái nguyên thỉ, tất phải có cái chung thỉ. Vì thế cho nên các nhà tôn giáo và các nhà triết học không có nhà nào không cố hết sức để nói cái nguyên thỉ của vạn vật, mà rút cục vẫn không phân giải được rõ ràng, rồi chỉ thấy cái thuyết của họ đi đến chỗ cùng, không thông được.
             “Bên Phật giáo chủ trương cái thuyết cho nhất thiết chư pháp vốn không có tự thể chỉ vì cái duyên tích tập mà sinh ra các ảnh hưởng. Bởi thế cho nên suy lên đến thiên cổ về trước cũng không thấy vạn vật có thỉ mà xét đến muôn đời về sau cũng không thấy vạn vật có chung. Vạn vật đã không có thỉ có chung cho nên không cần phải miễn cưỡng nói cái nguyên thỉ vạn vật mà cũng không cần nói đến cái chung thỉ của vạn vật. Nhất thiết pháp đã không có tự thể thì nhất thiết sự vật ở trong vũ trụ đều không có cái tính nhất định, kiên cố thực tại, và chỉ là tùy duyên khởi mà động mà sinh” (Phật giáo, Trần Trọng Kim).
            Ta có thể nói Triết luận Phật giáo là một mẫu luận lý hoàn toàn, một hệ thống lọc trong được hết mâu thuẫn và vấp váp để đi đến chỗ cùng thông. Tuy nhiên, đây chúng tôi chỉ đứng về phương diện luận lý học thuần túy, mà nói, xin nhấn mạnh điểm này: chúng tôi chỉ nói hệ thống gói ghém được mọi yếu tố dùng để suy luận chứ không nói gói ghém được mọi hiện tượng vũ trụ, mọi quan niệm nhân sinh quan và vũ trụ quan.



SỐNG DƯỚI SỰ chỉ đạo của những nguồn tư tưởng siêu hình cố gắng đặt cho hiện tượng người sự liên hệ mật thiết với các hiện tượng khác và gán cho con người một cái tâm đồng nhất thể với bản thể toàn diện (đối với Khổng Tử thì cái tâm ấy là thái cực, đối với Phật giáo thì cái tâm ấy là chân như). Vậy là triết lý đã uốn nắn dần trong 2500 năm cho tri thức và tiềm thức con người vào một cái khuôn nhất định. Khuôn khổ sống ấy muốn rằng người ta hòa mình với vũ trụ thiên nhiên đừng quá bận tâm với thắc mắc cuộc sống. Và họ đã luyện được một tâm hồn thư thái an hòa yên ổn mà sống mà chết, bởi vì sinh tử chỉ là sự tuần hoàn của hết thảy các hiện tượng chứ không riêng gì hiện tượng người. Cái “tâm” kia mới là cái thực, cái thường hằng; thì nó vẫn đó có đi đâu mất mà phải phát hoảng!
            Nhưng mà, than ôi khôn ngoan quá cũng không phải là thượng sách.

KINH NGHIỆM cho người ta thấy rằng sự sống linh diệu và uyên áo của dân tộc không thể bộc lộ thần khí trong một bầu không khí rào đón, bưng bít bởi một phong thái suy tư, chiêm nghiệm và rung cảm già nua. Lương tri con người bảo đảm được trật tự trong một kích thước này nhưng lại bóp nghẹt khả năng tạo tác trong một kích thước khác. Văn minh Á Đông suy tàn vì loài người quá tin ở một hệ thống suy tư hoàn bị cho nên bóp nghẹt khả năng tạo tác. Trái lại văn minh Tây phương quá tin ở khả năng tạo tác kỷ xảo, đã đưa giòng đời đến chỗ bế tắc.

ĐÓ LÀ hai phương diện của một vấn đề mà người ta khó lòng thấu triệt qua sự suy luận bằng những công thức trừu tượng, chỉ có một thái độ nhận định qua kinh nghiệm cụ thể của người thấu suốt được cái lý cao thâm của giòng sống mới có khả năng phóng mình vào tương lai mà đặt các câu hỏi phải đặt ra và tìm cách trả lời thỏa đáng. Tùy thuộc cách trả lời đó mà ta biết tương lai nhân loại sẽ đi về đâu.


VŨ ĐÌNH LƯU


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: hoangnguyen vào 19/08/2017, 11:54:35
Chơn Tâm thường hằng nhưng cái Tâm này Ấn giáo gọi nó là Đại ngã, Phạm thiên, Thiên chúa giáo gọi nó là Chúa cha là Thượng đế sáng tạo, ngay cả Duy thức Pháp tướng tông cho rằng đó là cái Tâm tạo tác - Vạn pháp duy tâm tạo.

Như vậy,  cuối cùng thì Duy Tâm hay Duy vật, Hữu thần luận hay Phiếm thần luận ?

Kết luận là gì? :)
Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 20/08/2017, 07:43:07


Kết luận:  “Chính phải ở trong Tứ Đại, Ngũ Ấm mà tìm cái chốn an ổn mới được!”


            Có vị tăng hỏi Tổ Triệu Châu:  “Thầy của con có nói “Khi thế giới hoại, Tánh này chẳng hoại”.  Thế nào là cái Tánh này?”
            Tổ Châu nói:  “Tứ Đại, Ngũ Ấm.”
            Vị tăng hỏi:  “Cái ấy còn là hư hoại, thế nào là cái Tánh này?”
            Tổ Châu nói:  “Tứ Đại, Ngũ Ấm.”
            Ngài Pháp Nhãn nói:  “Ấy là một cái?  Ấy là hai cái?  Ấy là hoại?  Ấy là chẳng hoại?  Hãy hiểu làm sao?  Thử quyết đoán xem!”

            Có vị tăng hỏi Tổ Đại Tùy:  “Kiếp Hỏa thiêu hết, Đại Thiên đều hoại.  Chưa rõ cái Ấy hoại hay chẳng hoại?”
            Tổ Tùy đáp:  “Hoại.”
            Vị tăng rằng:  “Như thế thì theo nó đi ư?”
            Tổ Tùy rằng:  “Theo nó đi.”

            Lại có vị tăng hỏi Tổ Long Tế:  “Kiếp Hỏa thiêu hết, Đại Thiên đều hoại.  Chưa rõ cái Ấy hoại hay chẳng hoại?”
            Tổ Tế đáp:  “Chẳng hoại.”
            Vị tăng rằng:  “Vì sao chẳng hoại?”
            Tổ Tế đáp:  “Vì đồng Đại Thiên.”

            Ngài Thiên Đồng tụng rằng:
                       “Hoại, chẳng hoại, theo nó mà đi
                        Cảnh giới Đại Thiên, ở trong câu rõ
                        Không ai khóa buộc, đầu chân lại bị dây leo quấn
                        Hiểu, chẳng hiểu?
                        Chuyện thật rõ ràng, căn dặn kỹ
                        Biết Tâm, đem ra đừng thương lượng
                        Đưa ta phải đi cùng mua bán.”


            Đại Tùy nói hoại, Long Tế nói chẳng hoại.  Ấy là một?  Ấy là hai?  Tổ Tế bảo “Vì đồng Đại Thiên”.  Tổ Tùy bảo “Theo nó đi!”  Y nhiên là cái tông chỉ “Tứ Đại, Ngũ Ấm” của Ngài Triệu Châu.  Khi thế giới hoại, Tánh này chẳng hoại.  Chính phải ở trong Tứ Đại, Ngũ Ấm mà tìm cái chốn an ổn mới được!



KINH  LĂNG  NGHIÊM  TÔNG  THÔNG

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 26/08/2017, 15:01:09
THỞ

Tác phẩm đầu tiên của Alexander Solzhenitsyn, sau khi ông ra khỏi nhà giam trong năm 1956 là một cuốn trung thiên tiểu thuyết nhan đề “Một ngày trong đời sống của Ivan Denisovich”. Cuốn truyện mỏng manh này được coi như một hiện tượng trong văn học Nga. Từ một người bị bỏ quên trong một trại giam; Alexander Solzhenitsyn bỗng trở thành nhà văn danh tiếng khắp thế giới. Cuốn truyện trên đã được dịch hầu hết các sinh ngữ và các nhà phê bình văn học Âu Mỹ đều cho rằng ông là một thiên tài có thể tiếp nối truyền thống văn học Nga với những tên tuổi sáng chói như Leon Toltoi, Dostoevsky, Gogol, Chekov v.v… Các bài ngăn ngắn mà chúng tôi dịch dưới đây có người cho là giống như những đoạn “phác họa” nhưng có người lại cho rằng “có lẽ là thơ xuôi”?



Thở

TRONG ĐÊM trời đổ mưa, những áng mây trôi bồng bềnh qua bầu trời và tuy vậy đó là những giọt thất thường. Tôi đứng dưới một cây táo mà nó đang rơi rụng những bông hoa – và tôi thở. Cây táo và cỏ xung quanh đã khô sau cơn mưa, và một mùi thơm nồng dịu khó tả bốc lên làm chếnh choáng không khí. Tôi hít sâu khí trời, sâu mãi vào buồng phổi tôi, toàn thể ngực tôi cảm thấy rạo rực với hương thơm. Tôi thở và lại thở, nhắm mắt rồi mở mắt – tôi không biết cách nào thì tốt nhất.
            Đây có lẽ là sự tự do, sự tự do duy nhất, nhưng quí nhất của các sự tự do mà nhà tù đã tước đoạt của chúng tôi: tự do để thở như thế này, thở nơi chỗ này. Không có thực phẩm nào trên trái đất, không rượu vang, cả đến cái hôn của người đàn bà cũng không êm dịu hơn đối với tôi bằng không khí này, hương thơm bốc lên này và mùi thơm bông hoa của không khí trời mưa tươi mát. Có nghĩa gì nếu chỉ là một khu vườn nhỏ được vây kín bởi các bin-đinh năm tầng như những cái hang trong sở thú? Tôi không còn nghe nữa những chiếc xe mô tô nổ máy, tiếng kêu rú lên của các máy thu thanh khuyếch âm, tiếng nổ lẹt đẹt của các máy phóng thanh. Bao lâu mà tôi có thể đứng dưới cây táo sau cơn mưa và chỉ thở thôi – lúc đó tôi còn có thể sống được.



Hồ Segden

CHƯA BAO giờ có ai viết về cái hồ hoặc lớn tiếng đề cập đến nó. Hết thảy các con đường đến đó đều bị ngăn chận, như thể nơi đó có một vài tòa lâu đài quyến rũ, và trên mặt hồ có treo một dấu hiệu giản dị, câm lặng chỉ sự ngăn cấm.
            Khi bạn thấy dấu hiệu đó nằm ngang qua trên con đường của bạn, dù bạn là người hay con thú đi nữa – phải quay trở lại. Cái dấu hiệu đó do những kẻ cai trị đầy quyền lực của thế giới này treo ở đó dấu hiệu nghĩa là: không được cưỡi ngựa, không được bay, không được đi bộ và không được bò.
            Có những tên lính gác với những khẩu súng trường và những khẩu súng sáu núp ở bên đường.
            Đi vòng quanh và bạn lang thang trong rừng lặng lẽ tìm kiếm một con đường đi qua cái hồ. Nhưng bạn sẽ không tìm ra con đường, bởi vì ở đây không có ai để hỏi. Sợ hãi, người ta đã chạy trốn mất và chưa hề có ai đi vào trong rừng. Tất cả điều bạn có thể làm là đi theo tiếng kêu leng keng của lục lạc bò và chọn con đường theo lối đi mòn của cầm thú ở giữa trưa trong một ngày mưa. Bỗng nhiên sự dài lớn của làn nước đó sẽ chụp phủ xuống bạn từ giữa những cây cối và trong khi bạn vẫn còn đang chạy bạn biết rằng hết thảy những nơi trên trái đất này bạn sẽ yêu mến cho đến những ngày cuối cùng của đời bạn.
            Hồ Segden là một cái hồ tròn bị cắt đứt với những khoảng rộng. Nếu bạn đứng trên một phía bờ và la lên nhưng bạn sẽ không la trong trường hợp một người nào đó chú ý đến bạn, chỉ có một tiếng vang mệt mỏi sẽ vọng lại ở phía khác.
            Một con đường rất dài chạy dọc theo mé rừng bao kín cái hồ. Một hàng cây ngang hàng, bằng phẳng đan kín không có lấy một lỗ hổng. Khi bạn đi xuống mé rừng bạn có thể thấy tất cả bờ hồ bị vây kín xung quanh: một vệt dài cát vàng, một đám lau sậy xám nhấp nhô, một miếng đất nhỏ có cỏ xanh bằng phẳng. Nước thì bóng loáng, êm đềm và lặng lờ. Đây đó gần bờ hồ có bèo nhưng nước ở giữa hồ thì trắng trong thấu suốt, bởi vì dưới đáy hồ cũng trắng nữa.

NƯỚC CÔ TỊCH. Rừng hoang vắng. Cái hồ nhìn bầu trời, bầu trời nhìn cái hồ. Có thể có nhiều vật khác trên trái đất, nhưng ai biết – không vật gì có thể thấy được qua cây cối. Và nếu có bất cứ vật gì khác nữa người ta cũng không cần và sẽ không bao giờ nhớ tiếc ở lại đây. Đây là một nơi vui sống trong sự tốt lành… Linh hồn bạn sẽ trôi chảy, y như khí trời rung động, giữa nước và bầu trời, và những ý nghĩ của bạn sẽ trở nên trong suốt và sâu sắc.
            Nhưng không thể được như vậy. Một ông hoàng độc ác, cặp mắt lé đê tiện đã kiểm soát khắp cái hồ: đó là ngôi nhà mùa hè của y, đó là chỗ tắm của y. Những đứa con hiểm ác của y câu cá và bắn vịt nước từ một chiếc thuyền. Thoạt tiên một cụm khói xanh nhỏ trên hồ, sau đó một lúc là tiếng nổ của phát súng.
            Phía ngoài đó, ở bên kia khu rừng dân quê phải làm việc đổ mồ hôi xót con mắt. Và để cho không một ai có thể quấy rối chúng, tất cả các con đường tại đây đã bị ngăn chận hết, câu cá và trò chơi chỉ dành riêng cho bọn chúng mà thôi. Đây là những dấu vết của một cuộc lửa trại mà một người nào đó đã cố gắng đốt lên: Chúng đập tắt, rồi tống cổ hắn đi.
            Hỡi chiếc hồ hoang vắng thân yêu.
            Quê hương…



Phản chiếu trên nước

TRÊN MẶT của dòng nước chảy xiết bạn không thể nào nhận ra những cái chuẩn đích gần hay xa. Dù nó không có đầy bùn đi nữa, dù bèo bọt lênh đênh đi nữa sự phản chiếu trên những gợn sóng chập chờn bất tận và dòng nước chảy mạnh đổi chiều một cảnh dữ tợn thì sự phản chiếu đó là cả một điều lừa dối, lờ mờ, không thể chấp nhận được.
            Chỉ khi nào từ dòng nước này đến dòng nước nọ, luồng nước đến gần một cửa sông yên lặng hoặc trong những chiếc hồ nhỏ mà không bao giờ có những gợn sóng rung rinh, chúng ta thấy trong mặt nước trơn bóng như kiếng, chiếc lá nhỏ nhất của một cây trên bờ, mỗi làn của một cụm mây bạc đầu và sự xanh thảm của bầu trời trải rộng ra.
            Như vậy dòng nước là với bạn và tôi. Nếu cố gắng như sức chúng ta có thể, chúng ta sẽ không bao giờ có và cũng không bao giờ sẽ có thể thấy được điều phản chiếu sự thực trong tất cả bản chất nguyên vẹn rõ ràng tự tại của nó, vì không giản dị đâu, bởi chúng ta không còn đang chuyển động, không còn đang sống sao?



Kiến và lửa

TÔI NÉM một khúc củi mục lên ngọn lửa không để ý đó là nơi cư ngụ một thuộc địa đông đảo của loài kiến. Khi khúc củi bắt đầu kêu răng rắc, đàn kiến đổ xô ra ngoài và chạy quẩn quanh trong nỗi tuyệt vọng. Chúng chạy tới chạy lui trên mặt khúc củi, khô cúm lại và chết cháy trong ngọn lửa. Tôi nắm chặt khúc củi và lăn nó sang một bên. Bây giờ nhiều con kiến thoát, chạy vào trên cát và cây thông vô dụng.
            Nhưng thật kỳ lạ, chúng không chạy khỏi ngọn lửa ngay lập tức.
            Ngay sau khi chúng đã chế ngự được sự sợ hãi của chúng, chúng bèn quay trở lại, chạy quanh thành vòng tròn, như thể bị một vài sức mạnh lôi kéo chúng trở lại với quê hương bị ruồng bỏ của chúng – mà ở đó cả một đàn trở lại bò trên khúc củi đang cháy và chạy thật mau loanh quanh trên đó cho đến khi chúng bị tiêu hủy.



Bão trên rặng núi

CƠN BÃO bắt lấy chúng tôi trong một đêm tối như mực trên sườn núi. Chúng tôi lẳng lặng bò ra khỏi các căn lều của chúng tôi. Bão đang tiến về phía chúng tôi từ trên Chỏm Núi.
            Vũ trụ không có gì ngoài sự đen tối, không trên không dưới, không chân trời. Lúc bấy giờ bóng tối đã được xé toang ra bởi tia chớp, rặng núi Belolakaya và Djuguturlyuchat khổng lồ nhô ra và những cây thông đen đúa rất cao quanh chúng tôi trông cao vút như rặng núi. Chỉ trong một thoáng giây chúng tôi hơi tin rằng mặt đất đã tồn tại, mà hơn một lần tất cả là đen tối và sâu thẳm.
            Những làn chớp đang tiến đến gần hơn, bóng tối chợt sáng chợt tối lập lòe chói mắt, một mầu trắng rực rỡ, một mầu hồng chói lọi, một mầu tím nhạt sặc sỡ, và dần dần rặng núi và những cây thông xuất hiện, y như nơi chúng đã có từ trước, đã làm khiếp đảm chúng tôi với các kích thước uy nghi của chúng, và khi chúng biến mất trở lại thì không thể nào tin rằng chúng đã từng hiện tồn.
            Âm vang sấm sét lấp đầy các thung lũng hẹp, sâu và tiếng gào thét không ngừng nghỉ của dòng sông có thể không còn nghe được nữa. Những tia sấm chớp từ tận trên Chỏm Núi cao bổ xuống giống như những mũi tên của các vị thần Lữ Điếm và cắt đứt thành từng đường ngoằn ngoèo và làm chảy tan từng giọt ánh sáng một như thế chúng đang đập vào những tảng đá làm tan ra hay đập mạnh và làm bể nát một vài vật sống động.
            Và chúng tôi đã quên sự sợ hãi sấm chớp, sấm sét và mưa như cầm chỉnh đổ xuống, bởi vì một giọt nước trong đại dương không sợ cơn bão lốc. Chúng tôi trở thành vô nghĩa và biết ơn những vật nhỏ nhoi của vũ trụ. Một vũ trụ đã sáng tạo ngày hôm nay, từ hư vô, ngay trước mắt chúng tôi.



Khúc gỗ du thụ

CHÚNG TÔI đang cưa củi, nhặt lên một khúc du thụ và la lên trong sự ngạc nhiên – suốt thời gian kể từ khi cây du thụ này được tỉa xén cành nhánh và một cái máy cày nhổ gốc lên, cưa thành từng miếng, và những miếng gỗ này ném vào các xà lan và chất lên các xe cam nhông, đoạn xếp đống lại và đổ xuống đất – tuy thế gỗ du thụ vẫn chưa chịu quy hàng!
            Nó đã lú ra một mầm non mới, mà cái mầm nầy tự nó có thể trở thành một cây du thụ, hoặc một nhánh cây đầy lá xạc xào.
            Chúng tôi đã đặt khúc cây trên giàn cưa – như thể một chiếc đầu của tử tội – nhưng không làm sao chúng tôi có thể cưa nó được. Làm sao mà chúng ta có thể cưa nó? Nó cũng muốn sống nữa chứ! hãy xem nó muốn sống biết bao – còn hơn cả chúng ta muốn sống nữa mà!



Sharik

MỘT ĐỨA bé trai đứng trong sân chúng tôi nắm sợi dây xích cột con chó nhỏ tên là Sharik. Họ đã xích nó khi nó mới chỉ là một con chó con.
            Một hôm tôi đem cho nó một vài miếng xương gà con trong khi còn nóng và có mùi ngon lành. Nhưng đứa bé cũng vừa cởi xích cho con vật nhỏ bé đáng thương cho nó chạy. Trong sân tôi có tuyết dày và mềm như lông. Sharik nhảy tung tăng như con thỏ rừng, đưa hai chân trước lên khỏi mặt đất rồi hai chân sau, nhảy từ góc này tới góc kia ở trong sân và lại trở lui, với tuyết trên mõm của nó.
            Nó chạy đến tôi, một sinh vật đầy lông và nhảy nhót khắp quanh tôi, rồi chạy đi đánh hơi những miếng xương – và chạy trở lui, cho đến khi bụng nó ngập trong tuyết.
             “Tôi không cần những miếng xương của ông” dường như nó nói thế, “chỉ cho tôi sự tự do của tôi thôi”.



Nơi sinh trưởng của Yesenin(1)

BỐN NGÔI làng, làng này nối đuôi làng kia kéo dài ra một cách buồn tẻ dọc theo một con đường. Không có những vườn hoa quả và cũng không có khu rừng nhỏ gần bên, chỉ có hàng rào không vững chắc và các khung cửa sổ sơn màu rực rỡ quá. Một con heo khổng lồ và mập phệ ủi đôi giầy khiêu vũ ở giữa đường. Một đàn ngỗng có trật tự đồng thanh hợp xướng như thách thức giao chiến sau khi bóng một chiếc xe đạp thoáng vụt qua. Những con gà mải bận rộn bươi cào trên đường và các sân sau để tìm kiếm thức ăn.
            Cửa tiệm làng ở Konstantiovo đặt trong một túp lều giống như một cái chuồng gà không vững chắc. Có những con cá mòi. Hết thảy các loại cá mòi. Có những viên kẹo dính thành khối mà người ta ở khắp mọi nơi đã không ăn nữa mười lăm năm trước đây. Và cũng có những ổ bánh mì đen cỡ viên đá sỏi. Những ổ bánh mì mà cần một cái búa bửa chớ không cần đến dao.
            Những phần mỏng manh chia căn nhà Yesenin thành ra những chỗ ẩn núp và những cái lồng tồi tàn ở đó không có gì đáng cho bạn gọi là một gian phòng. Ở trong vườn có một túp lều không cửa sổ và dùng làm nhà tắm. Sergei Yesenin đã bò ra đó từ trong bóng tối để viết vần thơ đầu tiên của thi nhân. Đúng bên kia trụ rào là một dãy ruộng.
            Tôi đi quanh ngôi làng này mà nó cũng giống như bao làng khác, nơi mọi người cũng bận rộn với việc mưu sinh kiếm tiềm, khao khát một mức sống cao hơn như của các người hàng xóm… và tôi đã bị kích thích. Một ngọn lửa dữ đội một lần đã đốt cháy vùng phụ cận này, và nó vẫn còn làm má tôi cháy nóng. Tôi đi ra trên bờ sông thoai thoải xuống của dòng Oka, chăm chú nhìn về đằng xa và đó là một cảnh tuyệt diệu: có thể ông ta đã nhìn thấy dãy rừng chồi mờ nhạt đó ở đằng xa khi ông nói một cách huyền diệu: “Rừng thông reo vang với tiếng khóc than của loài chim mỏ nhát…” Và thi nhân đã nghĩ đến những đồng cỏ dọc theo những khúc quành của dòng Oka này khi ông viết về “những đống lúa của mặt trời trên chỗ trũng xoáy của dòng nước…”?

CÁI QUẶNG vàng nào của thiên tài mà đấng Tạo hóa đã ném vào căn lều này, ném vào tâm hồn của chàng trai trẻ huyên náo, quê mùa này, người đã nhìn quanh một cách sửng sốt và đã trực nhận ra nhiều vẻ đẹp nguyên chất trọn vẹn đến như thế – ở lò bếp, trong những vườn nhốt súc vật kín đáo, trong sân đập lúa, trong bãi đất hoang bên ngoài làng – vẻ đẹp mà người ta đã giầy xéo dưới bàn chân trong hằng ngàn năm trời và không bao giờ để ý đến?



Chúng ta sẽ bất diệt

CÓ MỘT điều trước hết là chúng ta đã bắt đầu sợ chết.
            Nếu chúng ta nghe một người nào chết chúng ta tránh viết cho gia đình họ hoặc đi thăm viếng: chúng ta không biết phải nói gì về việc đó, về sự chết. Chúng ta đã xấu hổ ngay khi đề cập đến nghĩa địa một cách đúng đắn. Bạn không nên nói với họ vì bận việc như “Tôi không thể đến trong ngày chủ nhựt, tôi phải đi thăm viếng người thân của tôi ở nghĩa trang”. Thật là vô lý làm sao – thăm viếng người mà hắn ta không thể dự vào một bữa ăn?
            Bạn muốn di chuyển một người chết từ tỉnh này đến tỉnh khác chăng? Bạn phải là kẻ điên khùng mới làm vậy – không một ai sẽ cho bạn một căn phòng trên chuyến tàu hỏa về việc đó. Và người chết cũng không chịu được cái cảnh đi qua thành phố một cách chậm chạp với âm nhạc, nhưng nếu họ không có thân nhân thì đem gấp đi trong những chiếc xe cam nhông.
            Có một dạo họ vẫn thường đi quanh nghĩa trang của chúng tôi trong những ngày chủ nhựt ca hát một cách vui vẻ và đong đưa những lư trầm thơm dịu dàng. Tâm hồn thì yên tĩnh và vết thương mà nó không tránh khỏi sự chết để lại trái tim đập ít hơn một cách đau nhức. Điều đó dường như sự chết đang nhìn chúng tôi từ dưới những mô đất con xanh biếc của chúng với một cái khẽ mỉm cười và nói: “không hề gì! không hề gì?”
            Nhưng ngày nay, nếu tất cả nghĩa trang đã được giữ gìn, có những tấm bảng yết thị như: “Các chủ nhân mộ chí! Ông phải phạt tiền nếu ông không hốt dọn rác rưởi năm rồi!” Và hơn thế nữa một đôi khi họ cho xe ủi bằng phẳng để làm vận động trường hoặc một công viên văn hóa.
            Và những việc làm đó dành cho người mà họ, đã chết cho đất nước như bạn và tôi cũng có thể chết như vậy lắm chứ. Giáo đường của chúng ta vẫn dành một ngày cho họ – để tưởng niệm các chiến sĩ ngã gục trên chiến trường. Nước Anh Cát Lợi nhờ đến họ trong ngày Poppy.(2)
            Mỗi quốc gia đều làm như thế – dành ra một ngày để tưởng nhớ đến những kẻ đã dâng hiến sự sống của họ cho những kẻ khác. Trong khi chúng ta trên xứ sở này có nhiều sự sống hơn là hy sinh hơn bất cứ ở đâu khác, thế mà chúng ta không có lấy một ngày như vậy.

NẾU CHÚNG ta nhìn lại tất cả những kẻ mà họ đã mất sự sống của họ… ai sẽ là người xây tường lót gạch? Chúng ta đã mất những người chồng, những người con, những kẻ thân yêu trong ba cuộc chiến tranh… Hãy nhận lấy sự mất mát hỡi chiến tranh, vật tàn hại, hãy nằm dưới những tiềm bi tháp tứ giác bằng gỗ đã sơn phết của người… hãy để chúng tôi tiếp tục với sự sống.
            Bởi vì chúng tôi sẽ bất diệt.
            Đây là chóp đỉnh triết lý trong thế kỷ hai mươi của chúng ta.


ALEXANDER SOLZHENITSYN
Bình Thuận dịch
_____________________________________________
(1) Yesenin là một trong những đại thi hào lẫy lừng của văn học Nga – N.D. chú thích.
(2) Ngày tưởng nhớ các chiến sĩ bỏ mình trên các mặt trận ở Flanders trong cuộc chiến tranh 1914-1918 – N.D. chú thích.


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 01/09/2017, 20:02:25
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8  [tháng 1-2 năm 1966 |  200 trang]

MỤC LỤC
Nhất Hạnh |  Đêm cầu nguyện (thơ) |  3-4
Kim Tuấn |  Nhìn lại mùa xuân (thơ) |  5
Đinh Cường |  Ghi từ Pleiku (thơ) |  6
Chinh Văn |  Lời chim bão tố (thơ) |  7-9
Thành Tôn |  Mùa xuân nói xuống (thơ) |  10
Uyên Hà |  Bong bóng bay (thơ) |  11
Nguyễn Phan Thịnh |  Bài ca chim (thơ) |  11
Lạc Hà |  Ngựa (thơ) |  12
Chính Luận |  Hoa Từ Chung (thơ) |  13
Hà Nguyên Thạch |  Nỗi buồn trên cao (thơ) |  14
Thái Tú Hạp |  Lời buồn treo cao (thơ) |  14
Viên Linh |  Hình nhân (thơ) |  15
Nguyễn Hiến Lê |  Bút pháp và cá tính của nhà văn (tiểu luận) |  16-19
Sơn Nam |  Màu sắc Hậu Giang |  20-24
Tuấn Huy |  Trong vùng yên lặng |  25-33
Cao Trúc Vũ |  Xứ dừa xanh |  34-42
Nhất Hạnh |  Nói với tuổi hai mươi (tiểu luận) |  43-54
Võ Hồng |  Chim lồng |  55-61
Hải Triều | Đất sống | 62-65
Lan Đình |  Đen duyên |  66-70
An Châu Lan |  Mùa xuân học trò |  71-74
Vương Hồng Sển |  Con ngựa già của thầy Đường Tam Tạng |  75-80
Ruth Jhabvala/Quế Thanh dịch |  Như chim như cá |  81-95
Dương Nghiễm Mậu |  Thư viết từ một xóm quê |  96-105
Phạm Duy |  Đường chiều lá rụng (nhạc) |  106-108
Alberto Moravia/Nguyễn Kim Phượng dịch |  Cửa hàng bán hạnh phúc |  109-112
Hoài Khanh |  Nhìn qua thi ca Phi châu |  113-121
Hồ Hữu Tường |  Mong chồng |  122-125
Phạm Công Thiện |  Ba ý tưởng siêu hình học (tiểu luận) |  126-128
Chinh Ba |  Pho tượng Linh Mai (kịch) |  129-140
William Faulkner/Dương Thanh Nhung dịch |  Tóc |  141-151
Chín |  Biến kế chấp |  152-156
R. Barthes/Vũ Đình Lưu dịch |  Văn sĩ và người dùng văn (tiểu luận) |  157-164
Hằng Hà Sa |  Giao thừa bệnh viện |  165-173
Vương Pển Liêm |  Vấn đề đào tạo giáo chức nông thôn (tiểu luận) |  174-183
Nhất Hạnh |  Nẻo về của ý (truyện dài) |  184-195
G.T.Q.M. |  Giới thiệu sách báo mới |  196
Quảng cáo |  197-198


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 01/09/2017, 20:11:46


            Đêm cầu nguyện

            giờ phút linh thiêng
            gió lặng chim ngừng
            trái đất rung động bảy lần
            khi bất diệt đi ngang dòng sinh diệt
            bàn tay chuyển pháp trong hương đêm tinh khiết
            ấn cát tường nở trắng một bông hoa
            thế-giới-ba-ngàn đồng thanh ca ngợi văn phật Thích Ca

            giờ phút linh thiêng
            đóa bất diệt nở ngay giữa vườn hoa sinh diệt
            nụ giác ngộ hé thành muôn thi thiết
            ngài về đây học tiếng nói loài người
            đêm nao
            từ trời Đâu suất nhìn về
            chư thiên thấy địa cầu quê hương tôi sáng hơn vì sao sáng
            và tinh tú mười phương chầu về
            cho đến khi vừng Đông tỏa rạng
            cho đến khi vườn Lâm tỳ ni biến thành chiếc nôi êm chào đón Phật sơ sinh

            nhưng đêm nay
            từ địa cầu quê hương tôi
            loài người mắt lệ rưng rưng
            hướng cả về mấy từng trời Đâu suất
            tiếng kêu khóc của sinh linh ngã gục
            dưới bàn tay ma vương
            dưới bàn tay bạo lực căm thù
            trong bóng đêm
            địa cầu quê hương tôi đã mòn mỏi trông chờ
            giờ mầu nhiệm để vô biên hé mở
            cho bóng tối tan đi với niềm lo sợ
            cho hội Long Hoa về
            để pháp âm tiếp nối bằng lời ca tiếng hát em thơ

            đêm nay xin mười phương trăng sao chứng minh
            cho địa cầu quê hương tôi dâng lời cầu nguyện
            cho Việt Nam khói lửa
            cho Việt Nam điêu linh
            cho Việt Nam quằn quại đắm chìm trong máu lệ
            sớm vùng dậy trong đau thương thế kỷ
            để biến thành chiếc nôi êm, đón chào Từ Thị
            thêm một lần hoa nở Phật sơ sinh

            đêm nay cầu cho khổ đau trái kết, hoa thành
            cho sinh diệt đi ngang dòng pháp thân bất diệt
            cho suối tình thương chảy tràn trên vạn lòng tha thiết
            để loài người học nói tiếng chân như

            để tiếng nói trẻ thơ thành giọng chim ca


                                              NHẤT HẠNH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 01/09/2017, 21:12:24


            Nhìn lại mùa xuân

            Đường đi dài bóng đổ
            Mùa xuân xa chưa về
            Chim trời bay mỏi cánh
            Mây lưng chiều lê thê

            Mắt em buồn vương vấn
            Trăng xưa còn quên thề
            Lúc nhớ nhà khói xám
            Lạnh lùng in trời quê

            Mùa xuân hoa đào nở
            Xa em sao không về
            Núi rừng thôi thương nhớ
            Nước mắt nhòa bóng đêm

            Mưa bay chiều tháng chạp
            Anh qua bao lối mòn
            Còn nhớ trăng mùa cũ
            Thơm vàng trên tóc em

            Hai đứa về lối xóm
            Chân bước đi êm đềm
            Giờ hoa đào mới nở
            Mùa xuân anh chưa về

            Ruộng thơm vàng lúa mới
            Tóc mẹ già trắng phơ
            Vườn cau nhà kết trái
            Lá xanh đến bây giờ

            Trời xanh như thuở trước
            Ngày em còn ấu thơ
            Xuân hồng đôi má thắm
            Khóc thương ai mong chờ

            Khóc thương người xa vắng
            Giấc ngủ đầy mộng mơ
            Mùa xuân không trở lại
            Còn nhớ ai mong chờ

            Tóc xanh màu tuổi trẻ
            Em còn nhiều mộng mơ
            Anh còn như mây trắng
            Lang thang khắp phương trời

            Gió sương phai màu áo
            Chiều nhớ nhà chơi vơi
            Lúc dừng chân xứ lạ
            Chợt thầm yêu cuộc đời

            Bước mòn năm tháng cũ
            Có gì đâu em ơi
            Mùa xuân hoa đào nở
            Anh thầm yêu cuộc đời


                                              KIM TUẤN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 01/09/2017, 22:12:17


            Ghi từ pleiku
                                                  tặng Kim Tuấn

            Tôi nằm trong phố chiến tranh
            Xe nhà binh chạy, dãy thành đạn reo
            Bụi tung mù mấy đoạn đèo
            Rừng âm u có người theo bước người

            2
            Sớm mai trở dậy qua đèo
            mù sương giăng bủa hiu hiu đất trời
            xác người còn thắm máu tươi
            xác ai, ai nhận khi ra trận tiền

            3
            em về thành nội ngủ yên
            bước chân lau sậy trắng miền mộng du
            chiều qua ra đứng Biển Hồ
            nhìn đồi xa thấy xa mờ dáng em


                                              ĐINH CƯỜNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 02/09/2017, 09:22:52


            Lời chim bão tố

            hãy ở lại với chúng tôi
            hỡi những thiên thần đẹp đẽ
            vừng cánh hồng bay bổng mù khơi
            hãy ở lại với chúng tôi
            dù tiếng sáo ngà
            da diết thổi
            thâu đêm
            qua mùa đông băng giá
            hãy ở lại với chúng tôi
            hỡi những thiên nga
            vàng son đôi cánh
            rạng chói hào quang
            hỡi những thi sĩ
            anh chị em đang đợi tiếng nói người

            hãy cất cao lời thơ hùng vĩ
            ngợi ca hài bảy dặm vi vu
            hãy cất cao lời ru sầu xứ
            nỗi chập chùng xiềng xích trăm năm
            đừng ngân nữa sợi tơ trùng
            nếu không làm mắt lệ rưng rưng
            đừng nhấn nữa phím tơ căng
            nếu chỉ biết khóc than
            niềm riêng tư bé bỏng
            gió lên rồi
            hai mươi bảy triệu mặt trời
            đang đổ lửa
            hôm nay

            hãy thêm cao
            hỡi búa ngàn cân
            hãy thêm nặng
            niềm nghẹn ngào tủi hận
            lửa bay hồng
            thép trui rồi
            xanh biếc gió thu
            hỡi những bàn tay không
            làm nên lịch sử
            hỡi những bước chân đi
            chuyển núi rung đồi
            xanh ngắt vượt từng không
            làm ngơ ngẩn loài chim chiền chiện
            rẽ sóng mà đi
            hỡi kình ngư
            xé gió mà tung
            hỡi cánh chim bão tố
            “thật đáng phỉ nhổ”
            những kẻ nào
            bằng lòng
            dừng lại
            trong bóng tối

            ngẩng đầu cao lên đi
            há miệng to được rồi
            hãy gào thét nung tinh thần bất khuất
            hãy bước tới
            chớ bao giờ ngờ vực
            gió lên rồi
            xé ngang trời
            sạch không rác rếnh tanh hôi

            căng thêm nữa buồm ơi
            hỡi thi sĩ của con người
            đổ lửa
            hãy thêm
            thêm nhiều nữa
            lửa
            vào tim
            củi
            vào lò
            và gió
            gió nữa lên
            hãy cuồng nhiệt cho sóng triều trùng điệp
            hãy hăng say như vận tốc mặt trời
            than
            hãy vào lò
            và gió
            hãy ngàn khơi

            hãy bão tố dậy cuồng phong
            cho muôn triệu trái tim cùng chín đỏ
            cho những chàng thi sĩ tiền phong
            có bút thép
            và bàn tay bão táp

            hãy ở lại với chúng tôi
            tất cả
            lại gần đây
            tất cả
            hỡi những thiên thần đẹp đẽ
            những đàn con yêu mến quê hương
            những chàng tóc xanh
            thi sĩ của mặt trời
            hãy ngàn trượng
            hỡi loài chim bão tố


                                        Saigon, VI.65
                                        “Bài ngợi ca dân tộc
                                        CHINH VĂN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 02/09/2017, 13:27:51


            Mùa xuân nói xuống

            tiếng khóc mẹ bay lên làm nỗi nhớ
            theo khói hương rợp nấm cỏ mùa xuân
            cha nằm xuống tan tành cơn súng nổ
            trên quê hương cuộc chiến thấm loang dần
            đất màu mỡ thiếu bàn tay cày cuốc
            nên ruộng đồng cỏ dại đã hoang vu
            cha dưới đó có đau từng núm ruột
            mùa xuân qua trên khuôn mặt hằn thù
            lửa chiến tranh đốt thui tình yêu đất
            cái chết cha bóp nát quả tim này
            trên xứ sở hồn ca dao đã mất
            nên ngậm ngùi chút nắng mới trên tay
            lòng đất tắt tiếng ru hời của mẹ
            và chôn đi tiếng thá ví của cha
            con già nua trên từng năm tuổi bé
            nỗi u buồn từ đó cũng can qua
            xuân ngập ngừng trước đồng hoang cỏ dại
            súng tan tành trên mỗi mảnh quê hương
            thôi cha nhé đất tình yêu kết trái
            tấm thân già nằm đó hãy rưng rưng
            và cuộc chiến thôi đi niềm hắt hủi
            mấy mươi năm tiếng súng đủ tan tành
            để xuân dừng trên quê hương cát bụi
            cho ven hồn cha mọc lá hoa xanh
            con cúi xuống hôn tràn lên đất sống
            nước mắt này ướp ấm hồn quê hương
            cao vừng trán nguyện cầu xuân ước vọng
            núi sông tình mau kết trái yêu thương


                                              THÀNH TÔN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 02/09/2017, 13:43:33


            Bong bóng bay

            Anh hồi nhỏ vẫn hằng mơ màu sắc
            Hút bọt xà phòng thổi bóng bay cao
            Nhìn vào bóng, thấy mình như rực rỡ
            Nắng buổi chiều và quả bóng vờn nhau

            Bóng mang cả ước vọng anh vào đó
            Theo gió trời âu yếm lướt từng đôi
            Anh theo bóng suốt những chiều nắng tốt
            Lòng tưởng đâu giữ bóng được muôn đời

            Nhưng tay ngắn, những ngón buồn thô bạo
            Biết làm sao bắt bóng được cho mình
            Từng chiếc vỡ, tan đi từng ước vọng
            Bọt xà phòng rơi lả tả buồn tênh…

            Chiều hôm qua nhìn em đang thổi bóng
            Miệng thơ tròn nhẫn nhục ồ! say mê
            Anh biết bóng muôn lần rồi sẽ vỡ
            Nhưng em cần, em cứ thổi lên đi

            Rồi em sẽ đớn đau và thất vọng
            Nhưng ngày sau, em hẳn biết nhiều hơn
            Khi sự thật đập lên đầu ảo mộng
            Bóng bay rồi, người đứng khóc, tay không


                                              UYÊN HÀ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 02/09/2017, 14:02:55


            Bài ca chim

            vườn cỏ em cười trong tuổi thơ
            lớn khôn ngồi hát trong vùng tối
            nước mắt du dương như cung đàn
            thoắt đau từ nay cho thân mình
            suốt đời còn lại tóc xanh xanh

            vòng rắn cũng mềm như tay mẹ
            bụi cây cũng ấm như lòng cha
            xin cho tuổi thơ về một lần
            suốt đời còn lại chút khô xương

            Làm chim bay từ bắc xuống nam
            hót lời bi thương đêm như ngày
            làm sao tổ ấm trên ngọn cây
            làm sao bình an cho loài người
            làm chim làm chim khi qua đời


                                              dalat 8-65
                                              NGUYỄN PHAN THỊNH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 02/09/2017, 20:48:45


            Ngựa

            như những người gù đi trong huyền sử
            ta cúi đầu nghe sóng bể dâng cao
            ta chợt thương cho những móng chân nào
            khi khôn lớn đổi sắc hồng ra tím

            ta gục xuống trên mảnh hồn chết lịm
            hai vai mòn từng khổ nhục trần gian
            ta lại đi trong gió cát vô vàn
            trời đã tối ta tìm đâu ra lửa

            rồi ở đó ta một mình kiếp ngựa
            ném quê hương vào tiếng hí điêu tàn
            thiên lý hề – lời hát rộng thênh thang
            ôm gió thổi và chim rừng vỗ cánh

            khi chợt thấy quả tim này sắp lạnh
            ta tung mình vào vũng tối mênh mông
            đồi núi kia ôi thế kỷ chập chùng
            ta bỗng nhớ mang mang triều đất cũ


                                              LẠC HÀ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 03/09/2017, 00:05:12


            Nỗi buồn trên cao

            cây ru bóng đỏ đường chiều
            ngủ đi một giấc đìu hiu với đời
            trên ta một cõi đổi dời
            trong ta chừng cũng một trời đảo điên
            nằm đây cát bãi ưu phiền
            đêm theo sóng vỗ trăm miền phiêu du
            lẫn trong em dáng mây mù
            lên cao mới thấy niềm u uất lòng
            còn trong nhau chút vô cùng
            thắp lên cho sáng nỗi buồn của anh
            lần đi bóng đuổi quanh mình
            cho lòng tay trổ nhánh ngành khổ đau
            dẫu ca lên nỗi ngọt ngào
            con chim đó cũng bay mau cuối trời
            mà thôi một chút ve vời
            giữ đi em, đó: bóng thời gian qua


                                              HÀ NGUYÊN THẠCH
                                              (miền biển động)


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 09/09/2017, 10:12:32


            Lời buồn treo cao

            cho đêm bừng đóa mặt trời
            cho thân thể mẹ qua rồi đớn đau
            cho em tiếng hát ngọt ngào
            cho vùng suy tưởng chở vào giấc thương
            cho chim hoa bướm mùa xuân
            cho lời kinh kệ tan cơn oán thù
            cho tàn binh lửa đôi bờ
            cho cành dương nước cam lồ vô biên
            cho tiêu tan chuyện ưu phiền
            cho quê hương đẹp trăm miền tinh khôi
            cho em thôi giọng ngậm ngùi
            cho sông biển ngọt tuổi đời xanh yêu
            cho mây hôn ánh mắt chiều
            cho cơn khói quyện mái nghèo thiết tha
            cho âu yếm chốn ruột rà
            cho ngàn năm đón thực thà vào tim
            cho phai hờn giận triền miên
            cho tha thứ hết lỗi lầm trong anh
            cho vui thắm mộng dỗ dành
            cho nghìn oan ức tan tành theo chuông


                                              THÁI TÚ HẠP
                                               (hội an)


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 09/09/2017, 11:21:36


            Hình nhân

            Tôi nào chọn anh em
            Vậy mà quen lắm thế
            Tôi nào chọn cuộc đời
            Vậy mà tôi ở đó

            Làm vẻ mặt hân hoan
            Tôi bi thương tận gốc
            Luôn mồm viện lương tâm
            Tôi là thằng thất đức,

            Hôm nay tôi cất tiếng
            Nhưng thật sự vừa câm
            Lời tôi trên chóp đỉnh
            Nhưng ý nằm dưới chân
            Vả sống là yêu mến
            Tôi đâu muốn oán thù
            Còn chết là tiếc thương
            Tôi nào mong cách biệt,
            Hôn em, em yêu dấu
            Anh vẫn có bạn bè
            Chào anh, anh lạ mặt
            Tôi đâu muốn hoài nghi,
            Nhưng tôi đầy uẩn khúc
            Sự xấu vẫn qua đi
            Nếu tôi đeo mặt mạ
            Anh than thở ích gì
            Tôi nào định lập tâm
            Vậy tôi muốn thái độ


                                  VIÊN LINH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 09/09/2017, 16:10:44
BÚT PHÁP VÀ CÁ TÍNH CỦA NHÀ VĂN

CÓ MỘT HỒI, mỗi khi viết xong một cuốn sách, tôi thường đưa một anh bạn coi giùm để góp ý kiến, vạch cho tôi những chỗ nào cần phải sửa đổi, thêm bớt, về nội dung cũng như về hình thức. Anh bạn đó đối với tôi rất thành thực mà viết văn thì rất kĩ: uống cà phê đặc và hút thuốc lá để thức đến hai ba giờ khuya đẽo gọt vài ba câu là cái thú thường ngày của anh.
            Một lần anh bôi bỏ cả đoạn văn kí sự của tôi mà chịu khó viết lại giùm: đảo lên, đảo xuống, tỉa bớt cho văn cô lại, có gân hơn và có nhạc hơn. Tôi khen anh là sửa khéo, nhưng tới khi in thì tôi vẫn giữ đoạn văn của tôi, vì tôi nghĩ rằng nó tự nhiên hơn, diễn đúng được thứ tự sự việc xảy ra hơn, thứ nhất là vì nó có cái giọng của tôi.
            Có thể rằng lần đó tôi đã chủ quan nhưng có điều này ai cũng phải nhận là cùng một cảnh, một việc, mỗi nhà văn diễn tả một lối và chính vì có nhiều lối diễn tả nên văn thơ mới là một nghệ thuật, chứ ai cũng viết một lối “Standard” như trong các tạp chí Sélection, Constellaion thì văn thơ sẽ thành một sản phẩm kỹ nghệ mất – mặc dầu lối “Standard” đó cũng có cái hay của nó: sáng sủa, dễ đọc, vui, gọn.
            Có những lối hành văn trái ngược hẳn nhau mà đều được người đọc thưởng thức, như lối của Vương Bột và của Tô Đông Pha, của Nguyễn Tuân và của Phan Khôi, rõ ràng nhất là trường hợp Anatole France và Marcel Proust.

TẤT NHIÊN có người thích nhà này hơn nhà khác; cùng một người cũng có lúc thích nhà này rồi lại có lúc thích nhà khác, và phân tích ra hầu hết nhà nào cũng có sở trường và sở đoản, sở trường ở đâu thì sở đoản cũng ở đó. Vậy thì khi làm văn, làm thơ, ta nên theo bút pháp nào? Điều đó, chắc các người mới cầm viết thường đem ra tự hỏi.
            Tôi nghĩ rằng người ta không thể lựa một bút pháp được. Xin độc giả phân biệt bút pháp (có lẽ nên gọi là tác phong?) và kỹ thuật: bút pháp là cái gì của riêng mỗi nhà: người thì cầu kì, kẻ thì tự nhiên; người thì nền nếp, kẻ thì phóng túng; người thì bình tĩnh, kẻ thì bồng bột; người thì hoạt bát, kẻ thì tế nhị…; còn kỹ thuật thì chẳng riêng ai, nó là cái cách thức làm văn chẳng hạn miêu tả hay tự sự cho hợp cách thì phải làm sao, muốn cho văn nhẹ nhàng, sáng sủa thì phải dùng chữ cách nào, muốn tạo nên nhạc thì phải theo những luật thanh âm nào… Một nhà văn không cần có tài, chỉ có kinh nghiệm thôi cũng biết khéo dùng những kỹ thuật viết; nhưng cả những khi dùng chung một kỹ thuật, mỗi nhà cũng có một bút pháp riêng. Tôi xin cử một vài thí dụ. Cũng dùng kỹ thuật tạo hình ảnh cả, mà bút pháp của Hàn Mặc Tử làm cho ta rờn rợn hồi hộp:

                        Trăng rằm sóng soãi trên cành liễu
                        Đợi gió đông về để lả lơi…
                        . . . . . . . . . . . .
                        Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm
                        Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.


của Bàng Bá Lân thì cho ta một cảm giác mát mẻ, vui vui:

                        Hỡi cô tát nước đầu làng
                        Sao cô lại múc trăng vàng đổ đi?


của Quách Tấn thì có cái giọng trang nhã, cổ điển:

                        Bồn chồn thương kẻ nương song bạc,
                        Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng?


của Huyền Viêm thì có cái vẻ trầm lặng, man mác:

                        Trăng ơi nhè nhẹ trên sông nước,
                        Bên chiếc đò khuya bóng lạnh lùng;
                        Gió cũng nghe chừng như nín thở
                        Đỗ vừng trăng lạc giữa không trung.


CŨNG LÀ nhìn dân quê, cũng có lòng thương họ mà Nhất Linh hay Thạch Lam không cảm xúc như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao, Bùi Hiển hay Tô Hoài. Lòng thương của hai nhà trên là lòng thương hại của những người đứng trên bao lơn trong một đồn điền nhìn xuống cảnh lầm than của dân cày; lòng thương của bốn nhà dưới là lòng thương của những người trong cảnh, cho nên bút pháp sâu sắc hơn, cảm động hơn. Mà ngay trong mỗi nhóm, bút pháp của mỗi người mỗi khác: Nhất Linh có giọng lý thuyết của một nhà cải cách, Thạch Lam có giọng nên thơ của người đa cảm; Vũ Trọng Phụng phẫn uất nhất, muốn văng tục, trái hẳn với Tô Hoài (trước cuộc cách mạng) hiền lành mà dí dỏm; thâm trầm nhất vẫn là Nam Cao và Bùi Hiển.
            Bút pháp của những thi sĩ, văn sĩ đó khác nhau vì cá tính mỗi người một khác. Cá tính khác thì quan niệm khác, cảm xúc khác, và lối phô diễn quan niệm cùng cảm xúc tự nhiên thì phải khác. Chính cá tính quyết định bút pháp.
            Mà cá tính thì do bẩm sinh và tùy thể chất (nó cũng chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, của sự tu luyện nhưng ít thôi). Cho nên tôi có thể nói rằng bút pháp của ta gần như đã định trước rồi từ hồi nhỏ: nó là vóc người, là dáng đi, là nhịp điệu của hơi thở, là sự tuần hoàn trong huyết quản. Tất nhiên càng sống thì tư tưởng có thể càng tiến, kĩ thuật có thể càng già, nhưng giọng văn, lối viết thì không thay đổi mấy vẫn nhận ra được. Thơ của Đông Hồ, Vũ Hoàng Chương chẳng hạn, ngày nay vẫn giữ được nét riêng của mỗi nhà từ thời trước, mà những nét riêng trong thơ ấy, chính là những nét riêng trong tính tình, thể chất của mỗi nhà; điều đó thi sĩ Bàng Bá Lân đã vạch rõ cho ta thấy trong cuốn Kỷ niệm về mấy văn thi sĩ hiện đại.
            Đứng về phương diện khoa học, không có cá tính nào là xấu; mà đứng về phương diện nghệ thuật, cũng không có bút pháp nào là dở, (nếu biết dùng đúng chỗ). Ủy mị có cái đẹp của nó, hùng hồn cũng có cái hay của nó; đẽo gọt là một nghệ thuật mà tự nhiên cũng là một nghệ thuật; ngay như lối văn kiểu cách, tối tăm cũng có lúc rất đắc thế. Tất cả vấn đề là được diễn đúng những cái ta muốn diễn và gây được trong số độc giả những cảm xúc y như cảm xúc của ta.
            Hiểu như vậy rồi thì đối với người, khi thấy một bút pháp khác với ta, ta sẽ không vội chê mà còn tìm cách thông cảm; còn đối với ta, ta sẽ can đảm nhận cá tính của ta, dùng bút pháp nó đã lựa, định cho ta, đừng ngại sẽ có tật nầy hay tật nọ, sẽ không bằng nhà nầy hay nhà kia. Bằng hay hơn là vấn đề phụ, để độc giả phán đoán, cần nhất là phải khác người: nói cho đúng hơn, ta phải dám là ta, phải thành thực với ta trước hết. Có thành thực mới cảm được người.

THÀNH THỰC có hai nghĩa.
            Nghĩa thứ nhất là nếu không cảm xúc, không tin tưởng thì đừng viết, đừng theo thị hiếu của người, đừng về hùa để cầu danh vọng hay lợi lộc. Thị hiếu của thời đại có nhiều khi phải, nhưng nếu cá tính của ta không chấp nhận được thì ta ngại gì mà chẳng dám đi ngược trào lưu? Mà nếu chấp nhận được thì đừng vì lẽ không muốn giống số đông mà không theo người.

NGHĨA THỨ NHÌ của thành thực là một khi đã không chối bỏ cá tính của mình thì để mặc nó định bút pháp cho ta. Ta đừng nên nhủ: “Đoạn nầy diễn một ý hùng, phải dùng bút pháp của Victor Hugo chẳng hạn; đoạn kia diễn một cảm tình lâm li, nên đọc lại Cung oán ngâm khúc rồi hãy viết; tả dân quê ư, nào xem Tô Hoài, Nam Cao nhận xét ra sao; tả bọn thành thị đài các ư, nhớ lại xem Khái Hưng, Nhất Linh đã viết cách nào”. Đã bắt chước là tự từ bỏ mình rồi; không ai tự từ bỏ mình mà được người khác thừa nhận mình bao giờ. Cho nên khi viết phải quên hết các danh sĩ cổ kim đi, quên hết mọi kĩ thuật làm văn đi mà chỉ theo cá tính của ta thôi. Phải như ba anh em họ Viên trong phái Công An đời Minh: “để cho miệng và tay tự nhiên”; hơn nữa, phải như Hoàng Sơn Cốc đời Bắc Tống, “để cho chương cú ngẫu nhiên mà thành như đường do sâu đục trong khúc cây”.
            Tôi rất ghét lối dạy viết văn mà đưa những bài kiểu mẫu cho trẻ bắt chước, thậm chí ra một dàn bài đầy đủ chi tiết cho chúng cứ theo đó viết lại thành câu nữa; như vậy là giết cá tính của trẻ. Và tôi phục Léon Tolstoi đã để cho trẻ tự do muốn viết sao thì viết. Ta phải giúp trẻ tự tìm được cá tính của chúng và phát huy cá tính đó, nhất là trong thời đại nầy mà con người ở khắp thế giới như bị nhồi vào một cái khuôn, theo kiểu con người “mass-man” của Mỹ.
            Marcel Poust trong cuốn Contre Sainte Beuve (Gallimard) cũng chủ trương như vậy: “(Ngay) những văn sĩ mà chúng ta thán thưởng cũng không thể hướng dẫn chúng ta (trong khi viết) được vì trong bản năng chúng ta có cái giác quan nhắm hướng như một cây kim chỉ nam hoặc một con bồ câu đưa thư vậy”.
            Tôi mới nói phải để cá tính lựa kĩ thuật cho ta (nó luôn luôn lựa rất đúng) tôi nói thêm: phải để nó lựa đề tài cho ta nữa. Mỗi người cầm bút chỉ rung động trước một số đề tài nào đó; cảm xúc của họ, sức tưởng tượng, phương tiện phô diễn, cả tới dụng ngữ của họ nữa, chờ sẵn những đề tài ấy và khi gặp được thì phát biểu ra liền phong phú. Nếu không gặp mà viết gượng, về một đề tài không thích hợp thì họ vụng về, khô khan làm sao! Lan Khai chẳng hạn, chỉ hợp với truyện đường rừng; Khi tả cuộc tranh đấu của thợ thuyền (trong Lầm than) văn ông thật là nhạt nhẽo, Vũ Trọng Phụng trái lại, tả đời sống của giới cần lao thì sắc bén, và ông đã biết theo cá tính của mình mà không viết truyện đường rừng.

LÀ VÌ mỗi sinh vật chỉ hợp riêng với hoạt động trời giao phó cho nó thôi. Tằm chỉ tiêu hóa được riêng có lá dâu để nhả tơ. Mà lá dâu cũng để cho tằm ăn rồi mới thành tơ. Làm người cũng vậy. Mozart chỉ tạo ra nhạc. Tolstoi chỉ sáng tác tiểu thuyết, Einstein chỉ phát minh về khoa học, Bergson chỉ nghiên cứu về triết học. Sống trong một vũ trụ muôn hình vạn trạng, họ chỉ cảm xúc mãnh liệt trước những cảnh nào hợp với hoạt động của họ thôi, và cũng chỉ diễn nổi một cách tuyệt diệu những gì cảm xúc đó thôi, diễn bằng những phương tiện trong phạm vi hoạt động của họ thôi.
            Cổ nhân nói: “cùng nhi hậu công”: có khốn khổ rồi văn thơ mới hay. Không phải sự khốn khổ làm cho kĩ thuật của ta điêu luyện lên đâu; trái lại chỉ những khi sung sướng, nhàn nhã người ta mới nghĩ tới việc điêu luyện; nhưng chỉ những lúc khốn khổ, buồn chán tuyệt vọng, cái cá tính của ta không bị giáo dục, bị gia đình bị xã hội kìm hãm nữa, mới xuất hiện được hoàn toàn mà dắt dẫn ngòi bút của ta một cách rất khéo, rất linh. Chỉ những khi đó ta mới thật là ta, mà văn ta mới có sức hấp dẫn mãnh liệt.
            Vậy thì cần nhất là phải giữ gìn cá tính, và quy tắc quan trọng nhất trong văn thơ là tuân lịnh nó. Viết là gì, nếu không phải là phát biểu cá tính của mình, là để cá tính của mình tuôn ra ở đầu ngòi bút rồi trải lên trên giấy?


NGUYỄN HIẾN LÊ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 16/09/2017, 15:35:45
CON NGỰA GIÀ CỦA THẦY ĐƯỜNG TAM TẠNG

TỪ ĐỜI Đường đời Tống trở về trước sự đi lại giao thông giữa các nước lớn Đông Tây rất là khó khăn hiểm trở. Phương Đông có Trung Hoa là nước lớn nhứt và có tiếng là đông người hơn cả. Phương Tây có nước Ấn Độ có tiếng là nhiều voi tượng; nước Ba Tư thì nhiều châu báu; nước Thổ Nhĩ Kỳ lại có nhiều ngựa giống tốt. Xét ra từ sau khi Trương Khiên sang đi sứ nước Tây Vực, Ban Siêu đi bình phiên, Phó Giới Tử sang lập công ở nước Lâu Lan, từ ấy lần hồi từ phương tây có nhiều nước từng thông sang Trung Hoa, vốn sẵn tánh lo xa và tỵ hiềm, vẫn lấy sự “hòa-nhung” làm mối hại, và nếu có lúc thống sứ đi lại với nhau, ấy chẳng qua nội vấn đề triều cống cho Trung Hoa hoặc vì Trung Hoa có việc can qua với nước nào đó. Ngoài ra cũng có khi tàu thuyền vượt bể Nam lai, hoặc đàn công voa lạc đà sang đông chí, từng thấy nước Đại Nguyên cống gậy trúc trượng cho vua Hán, hoặc kẻ thương nhân cung quạt đoàn phiến cho Sư Hiển, chứng rằng Tây và Đông biết lấy tài hóa giao thông với nhau và những việc ấy đã xảy ra từ đời Hán đời Tấn kia rồi. Nhưng đó chẳng qua là giao thông về thương mãi, nhứt là việc ấy không do chính phủ tổ chức hay nhìn nhận, cho nên sự phát triển đôi bên và sự biết lẫn nhau không có tiếng dội nhiều.
            Lấy gương một cá nhân mạo hiểm qua chơi tận cõi xa, chân trèo núi Tu Di, mắt xem qua thành Xá Vệ, khiến cho học thuật đất Trung Hoa được nhờ ảnh hưởng bờ cõi Đông Á được rõ về thực nghiệm từ đây, lấy một mình lên giảng đàn biện luận bằng ngoại ngữ chiết phục trên năm nghìn chúng, lại được vua các nước ngoài lấy lễ hậu đãi, thực làm vẻ vang cho nước Tàu rất lớn, việc ấy xét ra công thầy Đường Tăng Trần Huyền Trang là đáng kể nhứt.
            Trong bài này tôi không kể lại gốc gác sự tích thầy Tam Tạng duy nhấn mạnh về kỳ công của một sức ngựa già và đính chính đôi chỗ trong vài sách không đúng sự thật.
            Tôi cũng gác lại một phen phác, vì không đủ chỗ:
            a) những chi tiết và tài liệu đã nói về vua Đường Thế Dân buổi trẻ đông xông tây đục vất vả quá sức nên trở về già bị bịnh mất ngủ, nên sai đi tìm cửa Phật ở hướng Tây thỉnh kinh về cầu siêu độ cho các oan hồn uổng tử;
            b) tích Huyền Trang nhờ Kim cô nên trị được Tôn Ngộ Không nguyên là con khỉ dữ, tượng trưng cho trí khôn loài người;
            – Huyền Trang lấy đức tin mộ đạo mà độ cho Trư Ngộ Năng cốt là con heo và tượng trưng lòng dục vọng trong con người
            – Huyền Trang giữ vững lòng từ thiện mà độ con yêu sa Ngộ Tịnh, tượng trưng cho lòng sám hối ăn năn trong mọi người (những sự ấy có nhiều dị đoan nên không cần bàn vội).

CỨ THEO truyện Tây Du chép thì thầy trò Tam Tạng là bốn người và một con ngựa đi Tây phương mười bốn năm, thỉnh được kinh rồi, được tám vị Kim Cang đằng vân đưa về Trường An, vừa đi vừa trở lại Tây phương chỉ trong tám ngày.
            Và sự thật đúng ra Tam tạng chỉ đi một mình, và phải đi đến mười bảy năm: đúng ra đi hai năm về hai năm, mười ba năm ở lại du học tại Ấn Độ. Đi từ năm 629 sau kỷ nguyên, rồi qua năm 645 (sau k.n.) mới về đến Trường An. Tính ra đi trên năm vạn dậm đường trải qua một trăm hai mươi tám nước lớn và nhỏ; và khi về nước mang về sáu trăm năm mươi bảy bộ kinh, cùng một số bảo vật khác trong ấy có một trăm năm chục xá lợi tử, sáu tượng Phật nhỏ v.v…
            Đường đi trên thực tế, không có yêu tinh cản trở (có chăng là bọn mọi dữ ăn thịt người); nhưng những khó khăn cản trở lẫn vật chất và tinh thần hết sức nhiều và lớn. Có lúc thầy Huyền Trang nhịn đói nhịn khát suốt bảy tám ngày liền giữa trảng sa mạc trời nắng chang chang không một bóng cây, không một dáng người qua lại. Nhưng ý chí của thầy thật là sắt đá. Có lần đói khát khổ quá, bụng tính quay trở về phía đông để tìm chỗ xin mớ nước uống đem theo rồi đi nữa, nhưng vừa quày đầu ngựa trở về đông một đỗi đường, thầy lại tự nhủ: “Trước kia đã thề nếu qua không đến Ấn Độ quyết không trở về đông một bước. Nay thà là đi về tây mà chết, chớ lẽ nào đi về đông để sống hèn?”

MỘT LẦN KHÁC, đến nước Cao Xương, vua nước ấy muốn giữ thầy lại, hết lời dụ dỗ qua đến hăm dọa, nhưng son sắt một lòng, thầy quyết tuyệt thực cho đến khi nào được phép đi mới thôi. Thầy nói:
             “Thần đã không nại đường xa đi cầu Phật, nay Đại vương cản đường. Đại vương có thể giữ được thể xác và hài cốt chớ Đại vương không thể giữ được tinh thần và ý chí của thần. Thái sơn dễ dời chớ ý quyết định của thần không đổi thay được”.
            Một lần nữa gặp bọn ăn thịt người (tức bọn yêu tinh trong Tây Du). Thầy sẵn lòng hiến thân làm món ăn, nhưng giữa lúc ấy mưa to sấm sét… Bọn kia kinh sợ bảo cho thầy đi, thầy không chịu, một hai đòi bọn kia: hoặc hãy ăn thịt thầy nếu quả thịt thầy có phép làm cho họ được trường thọ mãi, hoặc nếu muốn cho thầy lên đường, thì hãy ăn năn sám hối chừa thú tánh ăn thịt người từ đây. Và thầy đã cải hóa được bọn chúng.
            Trong thời gian mười ba năm ở Ấn Độ, thầy đi viếng hầu hết các di tích của đạo Phật, đặc biệt nhứt là thầy ở lại chùa Na Lan Đà học đạo trong sáu năm. Tất cả những kinh điển của phái Đại thừa, Tiểu thừa, Kinh Phệ Đà (veda), các sách thuốc, sách thiên văn, địa lý, kỹ thuật, v.v… đều tập trung tại chùa nầy. Chùa do pháp sư Giới Hiển chủ trì và đếm trên mười ngàn tín đồ. Sau sáu năm học tập, Huyền Trang thành một trong ba người học trò giỏi nhứt của sư Giới Hiển.

CHẲNG NHỮNG là một nhà sư đạo đức, Huyền Trang còn tỏ ra một học giả uyên thâm, một nhà du thám kỳ tài, một nhà sử học uyên bác, một địa lý học chơn tài, một ngôn ngữ học xuất chúng, và một nhà phiên dịch không ai bằng.
            Lúc ở Tây phương, đi đến đâu thầy cũng nghiên cứu kỹ lưỡng tình hình từng địa phương. Khi về Trường An thầy viết lại thành bộ “Đại Đường Tây Vức Ký” gần 12 quyển, ghi lại đầy đủ lịch sử, địa lý, phong tục, tập quán, v.v… của một trăm hai mươi tám nước đã trải qua hoặc trú ngụ. Ngày nay những tài liệu của thầy để lại vẫn còn giúp ích cho các chuyên gia khảo cổ học Ấn Độ không ít và ai ai cũng công nhận là những điều nghe thấy và ghi chép của thầy Huyền Trang rất là đích xác.
            Từ khi trở về Trường An, thầy Huyền Trang bắt tay vào công việc phiên dịch suốt mười chín năm (từ năm 645 đến năm 664); dịch được tất cả bảy mươi lăm bộ kinh, gần một ngàn ba trăm ba mươi lăm quyển từ Phạn tự qua Hán tự, và một bộ Đạo Đức Kinh cùng một bàn Đại Thừa Khởi Tín Luận (nguyên văn Phạn tự đã thất lạc ở Ấn Độ) nay thầy dịch lại từ chữ Hán trở lại chữ Phạn.
            Trưa ngày mồng năm tháng hai năm 664, thầy Huyền Trang gác bút ngàn thu tại chùa Ngọc Hoa, vì bịnh hoạn, vì già yếu. Thọ sáu mươi chín tuổi.
            Ngày mười bốn tháng tư, thi hài Huyền Trang được an táng tại Bạch Lộc Nguyên. Ngày cử hành tang lễ, có đến một triệu người ở Trường An và các vùng lân cận về tiễn chân thầy về nơi Cực Lạc. Sau đó, có đến ba vạn người cất lều cư tang gần mộ phần. Chưa có vị đế vương nào được ngưỡng mộ bằng vị thánh tăng nầy.



CHUYỆN THẦY Huyền Trang đi thỉnh kinh Tây phương có thật. Thầy là một nhân vật sống và đã vào sử.
            Thầy từng làm tôi vua Lý Thế Dân, là một bậc minh quân đời Đường, vua nầy từng mời thầy theo chơn đi đánh nước Cao Ly nhưng thầy từ chối khéo: “Bệ hạ là chơn mạng đế vương, ra binh tất thắng. Thần như chiếc thuyền gỗ, còn để dưới nước thì hay, đem lên bờ thì vô dụng. Nay thần theo bệ hạ chinh đông thì không bằng để cho thần ở lại Kinh lo dịch kinh cứu độ tinh thần thế gian”. Đường Thái Tôn tự tay có đề tựa trên bộ “Đại Đường Tam Tạng thánh giáo kinh”, chẳng những văn hay mà đến nay còn lưu truyền điệu chữ của vua làm khuôn phép.
            Thầy Huyền Trang cũng từng làm tôi bà Vũ Hậu, và tích nầy chứng tỏ nếu Vũ Hậu không phải là một bà vua giỏi tài trị nước thì chưa ắt trung thần như Địch Nhơn Kiệt và cao tăng như Tam Tạng khứng lạy và chịu xưng thần.



DƯỚI ĐÂY tôi xin kể một đoạn đường cam go lúc sơ khởi của thầy Tam Tạng, nhờ sức một con ngựa già quen đường mới qua được một bãi sa mạc hiểm trở:
            Nhắc lại vua Đường Thái Tôn dẹp yên nhà Tùy, trong nước đã trị yên, uy thanh xa kịp đến nước ngoài, phía bắc bình rợ Đột Quyết, phá nước Diên Đà, phục nước Hồi Hột, phía tây dẹp nước Thổ Phồn, hàng nước Cao Xương, không những là có hết cả cõi đất Tây Vực của thời Hán mà uy thanh lại kịp đến cả nước Thiên Trúc, nước Đại Thực; song tuy quốc uy vững chãi, nhưng kẻ lữ du độc thân như Huyền Trang vẫn là gian nan nhiều bề, nhứt là ra đi không có mạng vua cho phép.
            Thân làm kẻ cô khách, phía tây ra cửa Ngọc Môn, lội suối qua đèo, đi cầu làm bằng dây treo, lội qua bãi cát nóng, qua toàn những chỗ bỏng da cháy thịt, trông thấy toàn là xương ngựa khô, cốt người chết, phong tục lạ, dị ngôn, dị phục, không kể hiểm trở gian nan đủ thứ.
            Huyền Trang cốt lấy sự đi cầu kinh Phật làm trọng, xem sinh mạng làm khinh, thiên nan vạn nan nào sá kể chi! Những đã nói hữu chí cánh thành. Năm Trinh Quán thứ ba đời vua Thái Tôn nhà Đường (629 – kỷ sửu) sau khi tập làm mọi sự khổ sở để thử lòng mình, và đều kham được cả, và tự tín lấy mình bèn quyết lòng ra đi. Có thầy tăng ở Tần Châu là Hiếu Đạt sắp tự kinh đô trở về làng. Huyền Trang theo cùng đi. Đến Tần Châu trọ một đêm lại gặp bạn là người Lan Châu, Huyền Trang theo đến Lan Châu, trọ đây một đêm, kế gặp người Lượng Châu đem ngựa của quan trở về xứ, ông lại theo đi, đến đó trọ hơn một tháng. Khi ấy quan đô đốc Lượng Châu là Lý Đại Lương phụng chiếu lịnh vua Đường cấm dân không cho ra ngoài đất Phiên, và cuộc phòng cấm dân không cho ra ngoài đất Phiên cấm rất nghiêm. Bấy giờ có người báo với đô đốc: “có một thầy tăng tự thành Trường An đến, ý định sang Tây Khương, không biết muốn làm gì!” bộ Lượng sai người đuổi theo định bắt ép trở về kinh. May có thầy tăng là Tuệ Uy nghe thầy Huyền Trang có chí đi cầu pháp, rất khen phục và tán thành, nên mật sai học trò là Tuệ Lâm và Đạo Chỉnh ám trợ giúp Huyền Trang đưa đường sang hướng Tây. Từ đấy Huyền Trang ngày ẩn núp đêm mới dám ra đi lần mãi đến Qua Châu (nay là huyện An Tây ngoài cửa ải Gia Cốc). May thay quan thứ sử Qua Châu tên là Độc Cô Khai, nghe tin Huyền Trang đến cõi mình, không có ý làm khó chi cả, Huyền Trang cả mừng xin hỏi hành trình sang Tây phương. Khai nói: “Từ đây về phía bắc hơn năm mươi dặm có con sông Hồng Lô (nay đổi tên là Giác Hà) nước chảy xoáy mạnh và sâu lắm. Phía trên là Ngọc môn quan, chính là yết hầu cõi tây vậy. Ra khỏi ải về phía tây bắc có đồn Ngũ Phong, chỗ ấy có đặt các vọng canh cách nhau chừng non trăm dặm, trong quãng đường không có cây cỏ mọc và cũng không có một giọt nước uống. Ngoài đồn Ngũ Phong trở ra là bãi cát Mạc Hạ Diện tức là cõi nước Y Ngô (sau đổi tên là Y Châu)”. Huyền Trang nghe thuật làm vậy trong lòng buồn rầu, thêm nỗi con ngựa từ Trường An đến đây đau rồi chết, Huyền Trang chưa biết làm sao lên đường. Kế tờ truy nã lại đến nơi, sức cho các châu huyện phải canh tuần nghiêm ngặt xét hỏi và bắt giữ Huyền Trang  không cho đi. May mắn làm sao là người châu lại mang tờ truy nã mật điệp ấy tên là Lý Xương có lòng thành mộ Phật nên hỏi gạn Huyền Trang: “Thầy có phải là Huyền Trang chăng?” Ban đầu còn trì nghi chưa trả lời, nhưng Lý Xương lại thúc: “Thầy phải nói thật, tôi sẽ liệu cho”. Huyền Trang khai thật. Xương lấy làm khen ngợi, cầm tờ mật điệp xé phăng mà rằng: “Thầy mà thực hay đi được như thế, thì tôi xin thầy mà phi tang tờ truy nã nầy. Thầy hãy liệu mà lên đường cho gấp”.

LÚC ẤY trong hai người tiểu tăng thì Đạo Chỉnh đã trở về Đôn Hoàng, còn lại tăng Tuệ Lâm, vẫn biết sức không thể bạt thiệp theo xa hơn nữa, nên Huyền Trang cũng cho trở lại nốt. Tuy vừa mua được con ngựa mập để làm chơn ngặt không người nào dẫn dắt mới biết làm sao? Chợt đâu có một kẻ Hồ nhân (người Hồ) lại, xưng tên là Thạch Bàn Đa, đến xin thụ giới làm đệ tử. Huyền Trang nhận lời, Hồ nhân mừng rỡ, cáo từ đi bộ một lát kế thấy trở lại đem quà bánh dâng lên. Huyền Trang thấy Hồ nhân người hùng kiện, có vẻ cung kính, biết lễ phép, bèn tỏ ý sắp đi về Tây. Hồ nhân chịu theo hộ tống đưa thầy qua chặng núi đồng Ngũ Phong. Huyền Trang cả mừng, sắm cho quần áo hành trang và mua thêm một con ngựa nữa hẹn ngày cùng đi. Ngày hôm sau, là ngày quan trọng nhứt, vì Hồ nhân lại đưa đến một lão Hồ nhân già khác cỡi một con ngựa sắc đỏ nhưng đã già và gầy (Tây Du tả con long mã của Tam Tạng sắc bạch). Hồ nhân thưa: “Lão ông nầy quen thuộc đường đi về Tây phương lắm, vì đã đi quen vài lần, nên tôi mời ông ấy lại đây nói chuyện”. Hồ nhân già mới thuật: “Đường đi Tây phương rất là hiểm ác, nào là ngăn sông cách núi, bãi sa mạc mênh mông như biển cát không bờ, cơn bão nóng, gió nhiệt, loài thú dữ như quỉ, lỡ gặp thì phải bỏ mạng. Rất đỗi đi có nhiều bạn lữ đồng hành mà còn sợ mê mẫn sai lầm, huống chi nhà sư cô thân độc mã, đi như vậy sao thấu? hay là sớm tự liệu kẻo để hoài thân mất mạng”. Huyền Trang đáp: “Ta chỉ cốt đi cầu Phật pháp, nên chỉ mong đến được Tây phương. Nếu không tự đi đến nước Bà La Môn thì nguyện không trở về đông nữa. Túng sử chết dọc đường cũng không ân hận”. Hồ nhân già thấy chí đã quyết, mới nói thêm: “Nếu nhà sư đã kiên quyết thì nên đổi với tôi ngựa. Ngựa của thầy tuy mập khỏe mà không thuộc đường. Ngựa của tôi đây tuy già nhưng từng vãng phản con đường Tây Vức-Y Ngô ngót mười lăm lần, đã còn khỏe chân thêm được thuộc đường nằm lòng không ngựa hay nào bì”. Huyền Trang nghe đúng lý, nên vui lòng đổi ngựa. Hồ nhân già được  ngựa mập cũng mừng rỡ lạy tạ giã từ.

ĐÊM ẤY Huyền Trang sắp sửa cùng chú Hồ nhân định lên đường đang đêm, nhưng chừng quá canh ba thì hai thầy trò đi đến một bờ sông nọ, trông xa đã thấy Ngọ môn quan lộ lộ trên thượng lưu còn độ mười dặm. Hồ nhân dùng đao vắn đốn cây gác làm cầu, rải cỏ rải cát cẩn thận cho ngựa sang sông. Qua được con sông ấy. Huyền Trang mới sai mở ngựa cho xả hơi, còn mình trải đệm ra nằm ngủ, cách Hồ nhân chừng năm mươi bước. Được hồi lâu. Hồ nhân tung giới đao trở dậy se sẽ bước tới gần Huyền Trang. Nhưng khi còn cách độ mươi bước nữa thì quay trở lại. Huyền Trang cứ thản nhiên không sợ hãi gì cả. Trời gần sáng, liền gọi Hồ nhân trở dậy, sai lấy nước súc miệng rửa mặt xong, sấp sửa lại ra đi. Hồ nhân thưa: “Trong đêm tối tôi muốn xúc phạm nhưng lại sợ… Đệ tử nghĩ đường đi còn xa lắm và hiểm nghèo vô cùng: Không cỏ ngựa ăn người không nước uống. Ở dưới năm đồn là có nước tất phải đi đêm, qua đó lấy trộm nước mà đi mới có thể lọt. Song nếu một chỗ vọng canh đã biết, thì bị giết liền; không gì bằng trở về là yên ổn hơn cả”. Huyền Trang không nghe. Hồ nhân tiếp: “Nếu vậy thì đệ tử không thể đi theo thầy được thêm nữa, phép vua tôi không dám xúc phạm”. Huyền Trang hiểu ý bèn cho y trở về. Hồ nhân đi được một đỗi, trở lại hỏi gằn: “Thầy đi không đến nơi được, nếu rủi bị bắt thì thầy làm sao? Liệu thầy sẽ khai đến tôi đây còn gì?” Huyền Trang nói: “Phỏng thử cái thân nầy có bị cắt vụn ra như cám, cũng không chịu giật lùi trở lại và nguyện không tố cáo ngươi”. Chừng ấy Hồ nhân mới chịu rút lui. Và nhờ sức con ngựa già của lão Hồ nhân, đã quen thuộc đường cũ, nên thầy Huyền Trang qua lọt năm đồn Ngũ Phong, qua sa mạc cát nóng và sau đó tuy còn vất vả khó khăn trăm đường ngàn nỗi, nhưng nhờ nghị lực sắt đá, thầy tìm đường đi đến Tây phương và đã thành công.

NGHĨ CHO lúc ra đi còn có Tuệ Uy sau hai đệ tử theo phò. Rồi nửa chừng hai trò thối chí đều bỏ về cả. Sau gặp kẻ Hồ nhân tưởng đâu làm bạn đường lâu bền té ra chửa ra khỏi đồn Ngũ Phong, kẻ Hồ nhân lại bỏ đi mất. Từ đây chỉ trơ một mình, quanh lượn trên bãi sa mạc với con ngựa già, như thế đối với người khác ắt đã bại hứng nhưng với Huyền Trang lại thêm kiên gan lập chí. Cho hay phàm việc gì, chỉ chắc ở mình; trông cậy ở người ngoài mãi không được.
            Đến đây tôi tưởng không nên dài dòng, vì sự tích thầy Huyền Trang, ai lại không biết? Chỉ xin nhấn mạnh ở chỗ ngày xưa việc gì cũng tin nơi sức Thiêng liêng huyền bí cho nên viết truyện Tam Tạng y như sự thật thì ắt không hấp dẫn và kém phần linh động hơn nhiều, chí như ngày nay, với óc tân tiến, chúng ta có phận sự tìm cho ra sự thật. Và biết như vầy càng kính phục một bực thiên tài là tích thầy Trần Huyền Trang, một người một ngựa, đi thấu từ Trung Hoa qua Ấn Độ, thỉnh được kinh Phật rồi trở về nước, quả là làm một việc thế gian hãn hữu.


Vân Đường (Gia Định)
Ngày 18-11-1965
VƯƠNG HỒNG SỂN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8
Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 23/09/2017, 15:08:45
MONG CHỒNG

Lời dẫn của người kể chuyện
            Tháng tám năm 1953, tại giảng đường của trường Đại học Copenhague, ngoài năm trăm nhân sĩ từ các phương trời của Phi, Á, Mỹ, Úc, Âu mà đến (giáo sư, bác học, văn sĩ, triết gia, chánh khách…) còn có thêm mấy ngàn trí thức của kinh đô nước Đan Mạch. Tôi được mời đến để nói quan niệm của người Việt Nam đối với một cuộc thế chiến thứ ba. Xét mình nhỏ bé, đứng trước mấy ngàn người có thể gọi là tinh hoa của nhân loại, thêm chẳng ai cử đến để thay lời của cả dân tộc Việt, tôi chẳng dám dại ngôn mà nêu ý thức hệ, vạch lập trường chánh trị, tuyên ngôn rầm rĩ chi cả. Khiêm tốn, tôi nói hẳn như vậy. Nhưng trót đã mang một cái chuông rè mà đánh ở xứ người, chẳng lẽ chẳng rán lượm ít tiếng vỗ tay không phải chỉ cho riêng mình mà cho cả dân tộc? Vì rán ấy, mà tôi đã phạm tội lớn; bởi đã dùng tiểu xảo của “bá đạo”.
            Tiểu xảo thứ nhứt là “chinh tâm” của thính giả bằng lời: “…Thưa quý vị muốn biết quan niệm của người Việt mà tôi lại không đủ tư cách để làm thỏa mãn, nên tôi khổ não không xiết. Âu là quý vị cho phép tôi đến xứ sở của Andersen mà kể một chuyện cổ tích, mặc dầu làm như vậy tôi khiếp sợ vô cùng…” Andersen, khắp thế giới ai cũng biết danh, là văn hào Đan Mạch, mà mỗi chuyện cổ tích là một hột kim cương lóng lánh. Nghe tôi nói như vậy tất cả thính giả nhứt là người Đan Mạch vỗ tay kịch liệt, chưa chắc để khen lời tôi nói hay mà chắc là để tỏ ý rằng mình muốn xem cái trò của kẻ xách rìu đến múa nơi xứ của thợ.
            Tiểu xảo thứ hai, quá “bá đạo” là vặn cổ, tréo cánh một chuyện cổ tích của nước nhà cho nó ăn vào cái đề mà mấy ngàn thính giả đang để ý. Chuyện cổ tích ấy ai cũng biết là sự tích “Hòn vọng phu”. Mối tình ngang trái giữa hai anh em ruột đâu có gì hấp dẫn? Tôi bẻ cái đầu đề mà quăng đi; mà đem cái đầu đề khác lắp vào… cốt để lãnh một tràng pháo tay kéo dài cả năm phút.
            Vậy, trước khi kể chuyện nầy, tôi xin muôn vàn chịu tội với quý vị khảo cổ, vì cái thủ đoạn “bá đạo” ấy.



            Ngày xưa…
TRƯỚC CỔNG của một làng nọ, một đám trẻ tuổi năm, tuổi bảy, đang nô đùa chạy giỡn. Xa xa đó, một thằng con trai đang lui cui cắt cỏ, để đem về cho thỏ ăn. Khi nó ngước đứng dậy, thì vóc dáng nó độ mười hai tuổi và trong làng ai cũng biết nó là Kha.
            Thình lình, từ xa, một toán người phi ngựa đến, đông không biết cơ man nào mà kể. Vó ngựa búng đất, làm cho bụi bay mịt trời, nên đám trẻ không biết họ là ai và ăn mặc thế nào, cầm gì trong tay. Chúng chưa kịp tránh sang bên lộ, thì đám người ào đến chém giết lung tung. Tiếng nạt nộ, hò hét lẫn với tiếng ngựa hí, tiếng khóc than, tiếng kêu trời, làm cho Kha khiếp sợ mất hồn, té trong đám cỏ mà bất tỉnh…
            Sương lạnh ướt áo, làm cho chàng tỉnh dậy. Nhìn sao, nó thấy đã quá khuya. Đáng lẽ gà đã gáy chập đầu, nhưng chẳng có tiếng gà. Chỉ có tiếng tre cháy lốp bốp nổ và cả làng là một vùng lửa đỏ hực. Không còn người. Không còn thú. Không còn nhà. Đến cái lũy tre xanh cũng bị lửa chay lan…
            Từ đó, Kha rày đây mai đó, xin ăn ở mướn làm thuê. Tuổi quá hai mươi lăm, chàng dành dụm được một món tiền. Lòng nhớ bà con, làng mạc, canh cánh. Chàng bèn lần lần trở về chốn cũ. Không còn cái gì là cũ cả. Người toàn là lạ. Nhà thảy đều mới. Đến cái lũy tre cũng thay đổi khác đi. Chàng xưng tên là Kha để hỏi thăm người quen, mà chẳng có ai quen cả. Chàng hỏi tên làng. Khi trước, chàng nghe người lớn nói với nhau làng nầy là làng Hòe. Còn bây giờ không phải vậy. Tên là Hào An. Chàng nghi ngờ mười mấy năm qua, trí nhớ của chàng không đủ sức giúp cho chàng tìm quê cũ. Chàng đến một gốc cây, ngồi nghỉ dưới bóng mát, cố tìm một cái mốc nào để phăng cho gặp được người quen.
            Có một thôn nữ quảy một đãy to tướng vừa trờ tới. Nàng đầu chít khăn mỏ quạ, ngực che yếm trắng, váy mặc màu nâu, hai vạt áo dài buộc nơi trước thân, thả lòng thòng lẫn lộn với hai mối đầu của sợi dây lưng lụa màu cánh sen. Nàng chừng như cũng mỏi, nên đặt đãy dưới gốc cây mà nghỉ. Kha gợi chuyện:
            – Cô là người xứ nầy?
            – Thưa ông, cũng phải mà cũng không. Tôi hồi nhỏ, đến bảy tuổi là người làng nầy. Thì giặc đến, giết người cướp của, bắt thú, đốt làng. Cả làng chết hết. Tôi lúc ấy chơi giỡn trước cổng làng, bị giặc chém nơi trán, té nhào bên ven lộ, chết giấc. Chúng tưởng tôi đã chết, không chém nữa. Sáng hôm sau, tôi tỉnh dậy, cả làng chỉ còn là đống tro. Tôi mang cái mặt đầy máu me, với vết nơi trán mà đi ăn xin nơi khác…
            Nói đến đây nàng mở khăn, chỉ cái thẹo to tướng nơi trán cho Kha xem. Rồi tiếp tục:
            – Từ đó, tôi hết ăn xin, lại đi ở mướn. Đến chừng khôn lớn, có chút vốn, lãnh hàng vải lụa, mà đi bán dạo, để có dịp trở về quê cũ, mà tìm bốn người quen. Vì, thưa ông, tình quê hương không sao gột được.
            – Và cô đã gặp ai chưa?
            – Chưa. Tôi qua lại nơi đây hơn mười lần rồi, mà không gặp ai là người xưa cũ. Những người hiện ở đây, toàn là người xa lạ mà đến, không một ai biết truyền thống của làng.
            Tên cũ của làng là làng Hòe, họ còn không biết thay, lựa họ biết được lời hát, câu hò, giọng ca, chuyện cổ tích mà tôi nghe từ thuở bé. Tôi đã trở nên là người xa lạ. Nhưng có một sức mạnh quyến rũ mãnh liệt mỗi lần tôi quảy đãy đi gần đây nó hút hai chơn tôi quá bước mà ghé đây. Hôm nay tôi gặp ông, mang mang như đã thấy ông lần nào, nên tôi dừng lại và muốn hỏi:
            – Tôi là Kha đây! Cô có nhớ không? Kha con của bà Dung nuôi thỏ ấy! Còn cô có phải là Lan không?
            – Phải!
            Hai người mừng quýnh, mừng cho đến nỗi rơi lệ. Chàng kể mười mấy năm lưu lạc, nàng thuật cảnh chật vật của mình. Chẳng còn có bức tường nào ngăn cách hai tâm hồn. Họ trao đổi ước mơ với nhau, rồi thành chồng vợ và yêu thương nhau đến đỗi ở xứ tôi không có thi sĩ nào có đủ tài mà tả tình yêu của cặp vợ chồng nầy cho nổi…



XỨ CỦA TÔI là xứ nhỏ bé, trước đây quý ngài chưa từng nghe tới tên bao giờ. Nước tôi lại ở cạnh một nước to lớn nhất trong thế giới, mà tên lại ở đầu môi chót lưỡi của mỗi người. Và luôn luôn sự độc lập của dân tộc chúng tôi bị ông láng giềng khổng lồ đe dọa mãi. Và khi việc mà tôi kể đây xảy ra, thì nước tôi đang bị ách đô hộ của người phương Bắc. Còn ở làng Hòe nọ, có nhóm người toan nổi lên khởi nghĩa, thì cơ mưu bại lộ, nên toán quân nhà Đường kéo đến mà diệt cả làng, ngay cả tên làng. Và hết làng nầy, sang làng kia, dân tộc chúng tôi bất khuất, chẳng ngừng tổ chức những cuộc khởi nghĩa nho nhỏ. Vì vậy mà giặc giã liên miên.
            Hai vợ chồng Kha và Lan, bởi, quá yêu nhau, vốn thảy là nạn nhân của giặc giã nên rủ nhau kéo vào núi, lựa vào chỗ trũng đất tốt, mà phá rừng trồng dâu nuôi tằm, kéo tơ, dệt lụa, rồi lâu lâu mang hàng xuống chợ mà bán và mua gạo gánh vào núi, để sống một vài tháng. Tính rằng sống xa làng mạc có lẽ ít bị nạn giặc giã. Một hôm hai vợ chồng cùng xuống chợ. Lan gặp một bà bán đủ thứ vật nho nhỏ, xinh xinh mời nàng mua và nói:
            – Mỗi người đàn bà đều nên bảo chồng chọn một vật mọn gọi là vật kỷ niệm. Khi chồng đi vắng, thì nhìn vào đó mà nhớ chồng khỏi phải tựa cửa mà ngóng trông.
            Lan nghĩ mình luôn ở bên chồng, nên không mua làm gì. Rồi nàng lại có một gái mà Kha đặt tên là Huệ. Khi Huệ được giáp thôi nôi, thì chồng nàng lại đi xuống chợ mà bán lụa. Nhưng hôm ấy, Kha đi cách đêm mà không về. Lan ẵm Huệ leo lên chót núi, mà ngóng xuống đồng bằng. Vòi vọi, nàng thấy dường như người ta tập để kéo đi đâu. Nàng nghi rằng Kha ở trong đám và đoàn người sẽ đi đánh giặc. Nhưng nàng không dám quyết vẫn ẵm Huệ đứng ở chót núi mà mong chồng về… Bởi nàng có món kỷ niệm nào để nhìn vào?

XỨ TÔI trời nắng như đốt. Mặt trời mỗi lần đi ngang, thấy để các ánh minh dọi xuống, thì mẹ con Lan Huệ chịu sao nổi? Mặt trời bèn dịu mát lại, bởi thương hại người vô tội nên không nỡ đốt. Thần mưa cỡi mây bay ngang qua sợ tưới nước xuống, ướt lạnh mẹ con nàng… Dân chúng thấy chẳng nắng chẳng mưa, mùa màng thất bát, bèn cầu nguyện tới Ngọc Hoàng.
            Ngài bèn triệu các Thần đến hỏi. Các Thần đều tâu giống nhau. Hai mẹ con có tội tình gì mà đợi ánh nắng để đốt thiêu, tưới nước mưa để cho rung lạnh? Chỉ chờ cho chồng Lan về, thì nàng hết mong, về nhà, thì nắng mưa sẽ thuận hòa.
            Ngọc Đế hỏi:
            – Chồng nàng đi đâu mà nàng mong như vậy?
            Các Thần thảy sợ sệt, không dám tâu, vì lời tâu thế nào cũng có ý trách móc đấng Sáng tạo. Nhưng Thượng Đế vốn là toàn trí, hiểu ngay cớ sự Thượng Đế phán rằng:
            – Loài người bảo ta toàn năng. Thế mà, khi tạo ra loài người, ta không ngăn được sự loài người say mê chém giết lẫn nhau. Ta mong một ngày kia, trong loài người xuất hiện đực NGƯỜI làm nổi việc ấy. Còn bây giờ thể theo lòng thương hại của các Thần đối với mẹ con Lan Huệ. Ta truyền lệnh biến mẹ con nàng thành đá. Các Thần mặc tình nắng mưa. Đá vốn không sao với nắng mưa. Chừng nào NGƯỜI xuất hiện, mẹ con nàng sẽ hoàn trở lại làm người…

QUÝ VỊ nếu đi tàu gần bờ biển xứ tôi các ngài sẽ thấy xa xa, có một hòn núi tạc hình một người mẹ ẵm con. Các ngài hiếu kỳ, hỏi người bản xứ, họ sẽ nói cho các ngài biết núi ấy tên là Hòn Vọng Phu. Bởi vì hơn một ngàn năm nay, Lan vẫn ẵm Huệ mà mong Kha về. Nhưng mà NGƯỜI chưa hiện ra, thì Kha một đi, biết bao giờ trở lại?


HỒ HỮU TƯỜNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 30/09/2017, 23:05:30
BA Ý TƯỞNG SIÊU HÌNH HỌC


1

NHỮNG LỰC LƯỢNG vô hình đã tàn phá nước Việt Nam. Đó là những lực lượng nào? và tại sao gọi là vô hình? và thái độ của con người thời đại đối với vô hình như thế nào? Người ta thường bỉu môi chối bỏ vô hình vì cho rằng đó là một cái gì trừu tượng, không cụ thể, không thực tiễn. Vậy thì trừu tượng, không cụ thể, không thực tiễn có phải là xấu không? Và xấu là gì? Và khi đặt lên câu hỏi xấu là gì và tự nhiên chúng ta đã bị đưa vào thế giới trừu tượng, không cụ thể, không thực tiễn, nói tóm lại là thế giới vô hình. Tại sao con người thời đại đều quí trọng đến hữu hình, xác thực, thực tiễn, cụ thể? Tinh thần ấy là tinh thần gì? Ngay cả những người Phật tử đã vô tình hiểu sai dụng ý của đức Phật và cứ cố gắng trích mãi một câu chuyện ngụ ngôn của đức Phật về chuyện một người bị tên, vấn đề đặt ra không phải là cấp bách cứu người bị tên bắn. Đó là bon sens. Vấn đề cấp bách là phải biết mũi tên đã được bắn từ đâu? Từ cõi nào, từ hướng nào mà không thấy hình tượng trong hiện cảnh, như vậy cõi ấy ở ngoài hình ảnh một người bị tên bắn hiện nay, mà, trong danh từ triết học cõi ở ngoài hình ảnh hiện tại được gọi là cõi siêu hình.(1)
            Như thế muốn giải quyết trận chiến tranh hiện nay ở Việt Nam, không thể chỉ giải quyết bằng bom đạn, bằng vũ lực hoặc bằng cái đối nghịch lại… Phải đặt lại một nền tảng siêu hình và từ nền tảng ấy mới có thể thiết lập lại cõi hữu hình, tức là tình cảnh bi đát của nước Việt Nam hiện nay?
            Và nền tảng siêu hình ấy là nền tảng nào? Tôi xin nêu ra câu hỏi và chờ đợi sự đối thoại tính ngôn. Tôi đã có dịp làm sáng tỏ vấn đề trên trong việc tố cáo sự thao túng của thể điệu tiền tượng – représentation (mà Heidegger gọi là “das vorstellen”) trong một bài tôi viết bằng Anh ngữ cho tập Dialogue (nh.x.b.L.B 1965) nhan đề là “The ontological background of the present war in Vietnam”.



2

            Khi đặt lên câu hỏi về sự tác dụng của siêu hình học, vân vân… là đã bị lôi vào một bối cảnh siêu hình đặc biệt nào đó rồi.
            Tại sao lại bắt buộc phải hỏi về tác dụng của – thay vì về vô tác dụng của – tại sao không thể có thứ passion de l’inutile của Jean Giono chẳng hạn.



3

TÌNH YÊU ban đầu có thể coi – phải được coi như là việc sáng tạo ý nghĩa (danh từ triết Đức gọi là Sinn); lần đầu tiên, người con trai (hay con gái) yêu đương là lần đầu tiên họ bắt đầu bị đánh lạc vào thế giới ý nghĩa (S. I. Hayakawa gọi thế giới này là “the verbal world”) một cách mãnh liệt và bi đát nhất. Hắn tự tạo ra một ý nghĩa và hắn đặt sự tương quan “thiên nhiên” giữa ý nghĩa (tức là lời), và người yêu (tức là thực thể hay thực tính); nói một cách khác, người con trai yêu ý nghĩa, chứ không phải yêu người yêu; nói một cách khác nữa, người con trai yêu lời chứ không yêu thực tính thể (yêu lời – nói theo Heidegger thì có nghĩa là bị rơi vào bavardage, mà chữ Đức gọi là Gerede).
            Hai người yêu đi đến với nhau không phải bằng “tính ngôn” hay “Nguyên ngôn” (Ursprache) mà bằng “hình ngôn” hay “thể ngôn” (Sprache). Do đó sự tính cảm đã bị đánh mất. Đó cũng là lý do để cắt nghĩa tại sao tất cả những mối tình đầu đều đổ vỡ từ tính nguyên – fondement (Grund), vì không có sự nối liền (Fugen) giữa ngôn ngữ và tính – Mất fondement, Heidegger gọi là Bodenlosigkeit.

SỰ NỐI LIỀN ấy, Heidegger gọi là Fugen đứng trên bình diện Sein; còn Jaspers gọi là Verbindlichkeit, đó cũng là vai trò cốt yếu của Vernanft theo nghĩa của Jaspers (cf. K. Jaspers, Von der Wahrheit, Piper 1947 pp. 113, 114, 115, 131) hay (cf. K. Jaspers, Philosophie 2e ed. Springer 1948 p. 275).
            Chất tính của Tình yêu là đợi. Tình yêu có hai loại: tình yêu mong đợi và tình yêu chờ đợi. Tình yêu chờ đợi là tình yêu nối liền, còn tình yêu mong đợi là tình yêu mất sự nối liền. Tình yêu chờ đợi là tình yêu về tính (tức là tình ái); còn tình yêu mong đợi là tình yêu về thể (tức là thể ái). Chờ đợi là không chờ đợi gì cả, còn mong đợi là mong đợi một cái gì rõ ràng; mong đợi có đối tượng; còn chờ đợi không có đối tượng, vì chính đối tượng của nó đã là sự chờ đợi rồi. Tình yêu mong đợi mất tính nguyên; còn tình yêu chờ đợi nằm trên tính nguyên (Grund), nhưng vượt lên trên cả hai thứ tình yêu này là tình yêu không chờ không mong; tình yêu này là tình yêu giải thoát hay giải thoát tình yêu: tình yêu này hủy diệt erosagape; tình yêu không mong không chờ là tình yêu vượt lên trên thể áitính yêu.
            ― thể ái: quên mất tính nguyên.
            ― tình ái: tìm lại tính nguyên (Grund).
            Còn tình yêu vượt lên trên thể áitình ái thì gọi là vô ái.
            Vô ái phá hủy Tính Nguyên và nhảy vào nguyên huyệt. Nói theo danh từ triết học Đức thì phá hủy Grund để nhảy vào Ab-grund.
            Triết lý của Heidegger đánh dấu sự tìm về tính nguyên; Heidegger tiêu diệt hai ngàn năm triết lý Tây phương để chuẩn bị cho ngày mai xuất hiện.
            Ngày mai ấy sẽ không bao giờ xuất hiện.
            Do đó, triết lý của chúng ta phải là Triết lý Hố Thẳm.
            Hố Thẳm tiêu diệt Tính và Thời.
            Hay nói khác đi thì Hố Thẳm (Abgrund) tiêu diệt Sein và Zeit.
            Vô ái sẽ xuất hiện cùng lúc với Vô ưuvô ưu cùng lúc với vô tâmvô tâm cùng lúc với vô trước; sau cùng, vô trước cũng có nghĩa là vô ngôn.

VÀ BỞI VÌ vô ngôn cho nên ba ý tưởng siêu hình học chấm dứt nơi đây.


PHẠM CÔNG THIỆN

_____________________________________
(1) “siêu hình” và “siêu hình học” là những tiếng đã bị bôi nhọ. Hơn nữa dịch “métaphysique” là “siêu hình” hay “siêu hình học” là dịch sai, vì chính chữ “hình” đã là “siêu hình” rồi vì “hình” là siêu thực (danh từ triết Đức gọi hình là Bild. Xin đọc cuốn Holzwege của Heidegger). Tôi xin đề nghị dịch chữ “Métaphysique” là “Siêu thể học”, nghĩa là vượt lên trên thể và tính thể để trở về Tính (Sein) của Heidegger hay về Chân ngôn (Logos) của Héraclite (mà Heidegger gọi là ontologique theo nghĩa Uyên nguyên là nối liền đồng hóa Sein với Logos, vì thế ontologique nên dịch là tính ngôn) (chữ Hy Lạp: to on: tính; Logos: ngôn).


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8
Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 07/10/2017, 10:29:36
VĂN SĨ VÀ NGƯỜI DÙNG VĂN

Ngôn ngữ và văn chương(1)
            Ai nói? Ai viết? Chúng ta thiếu một khoa xã hội – ngôn từ học. Chúng ta chỉ biết rằng ngôn ngữ có một quyền lực; từ một đoàn thể đến một giai cấp xã hội, người ta có thể xác định một nhóm người có địa vị thế nào trong đoàn thể giai cấp của họ bằng cách tìm hiểu xem họ sử dụng đến mức nào quyền lực của ngôn ngữ quốc gia. Trong một thời gian rất lâu, vào khoảng từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX, thời đại tư bản cổ điển tại Pháp chỉ có văn sĩ làm chủ ngôn ngữ, ngoại trừ các nhà thuyết pháp và các luật gia vẫn dùng thứ ngôn ngữ riêng của họ, còn thì không ai sử dụng văn chương, không ai “ăn nói” cả. Sự độc quyền ngôn ngữ đó tạo ra một nền nếp một thứ trật tự cứng ngắc khá kỳ dị, ít khi tại người sản xuất văn nghệ mà phần nhiều tại vật phẩm sản xuất: không phải chủ trương của văn nghệ là một cơ cấu cứng ngắc (trong ba thế kỷ nay chủ trương văn nghệ tiến triển rất nhiều, từ thi sĩ ngồi nhà ngâm vịnh đến nhà văn kiêm một người doanh nghiệp). Những phép tắc sắp xếp, bố cục văn liệu theo thứ loại không thay đổi từ thời Marot đến thời đại Verlaine, từ thời Montaigne đến thời Gide chỉ có ngôn ngữ thay đổi mà thôi.
            Trái với những xã hội gọi là cổ sơ trong đó sở dĩ có tà thuật là vì có thầy pháp, như Mauss đã chứng minh, định chế văn chương ở trên chức vụ của văn chương,(2) theo định chế ấy thì ngôn ngữ là vật liệu chính để người ta sử dụng. Theo định chế văn chương của Pháp thì văn chương chính là ngôn ngữ dùng vào văn chương, đó là một hệ thống vừa có tính chất ngôn từ học, thêm vào đó còn có một tính chất sáng sủa (có vẻ một huyền thoại).



Nhà văn không còn độc quyền ăn nói
            Nhà văn tại nước Pháp không còn độc quyền ăn nói từ bao giờ? Hẳn là từ cuộc Cách Mạng. Người ta thấy xuất hiện những người chiếm đoạt ngôn ngữ của nhà văn để dùng vào những mục tiêu chính trị (tôi tin chắc điều ấy từ khi đọc một bản văn của Barnave cách đây ít lâu).(3) Định chế văn chương vẫn không thay đổi: vẫn là ngôn ngữ của nước Pháp với danh từ và âm vận thuở trước không thay đổi, tuy đã xẩy ra những cuộc đảo lộn lớn lao trong lịch sử nước Pháp. Chức vụ của văn chương thay đổi, số người dùng đến văn chương mỗi ngày mỗi nhiều. Chính những nhà văn, từ Chatcaubriand hay Maistre đến Hugo hay Zola, đã góp phần vào việc nới rộng vai trò của văn chương, tuy họ còn là sở hữu chủ ngôn ngữ được mọi người công nhận, nhưng họ làm cho ngôn ngữ trở thành một công cụ có những tác dụng mới. Và bên cạnh những nhà văn chính thức, xuất hiện một nhóm người khác dùng đến ngôn từ, nhóm người này mỗi ngày mỗi nhiều. Họ là những người trí thức chăng? Danh từ này gợi lên những ý niệm phức tạp. Ở đây tôi muốn dùng chữ người dùng văn. Ngày nay có lẽ chúng ta đang ở giai đoạn lịch sử mà hai chức vụ của văn chương cùng hiện hữu, tôi muốn phác họa một cuộc so sánh ngôn ngữ của nhà văn với ngôn ngữ của người dùng văn, tôi chỉ căn cứ vào ngôn ngữ vì họ dùng cùng ngôn ngữ để hoạt động.


Nhà văn lấy văn chương làm cứu cánh
Tính cách trùng phức của văn chương
            Nhà văn hoàn thành một nhiệm vụ (nhiệm vụ của văn chương), người dùng văn theo đuổi một hoạt động.(4) Theo văn phạm thì chữ “nhà văn” hay “văn sĩ” là danh từ, khác với chữ “người dùng văn” phải có một động từ, động từ phải kèm thêm một bổ túc từ. Không phải nhà văn là tinh thể thuần túy: nhà văn cũng hoạt động, nhưng hoạt động (viết văn) của họ chính là mục đích của họ, hoạt động ấy tác động đến công cụ mà họ sử dụng: ngôn ngữ. Nhà văn là người “tạo tác” ngôn ngữ của họ và để cho công việc tạo tác ấy thu hút hết mình. Nhà văn hoạt động theo hai nguyên tắc: nguyên tắc kỹ thuật (bố cục loại văn, văn tự) và nguyên tắc lao lực (cố gắng kiên nhẫn, đúng phép và toàn thiện). Sự mâu thuẫn là: cứu cánh của văn nghệ lại chính là vật liệu họ dùng (ngôn ngữ) rút cục văn chương là một hoạt động có tính cách trùng phức(5) cũng như cái máy tự động làm ra để cho chính nó dùng: Nhà văn là người làm tan biến câu hỏi “tại sao?” của đời sống vào trong một chủ ý: “viết thế nào?

Quan niệm cuộc đời là một câu hỏi
            Thế mà người ta có thể nói rằng đã xẩy ra một phép lạ, trải qua bao thế hệ văn chương, hoạt động của một người chỉ vì mình lại khoái mình làm văn nghệ lại vẫn luôn luôn đặt ra những câu hỏi về cuộc đời: nhà văn lánh mình vào trong câu hỏi “viết thế nào?” lại có một vị trí tốt nhất để khơi động câu hỏi về cuộc đời, về ý nghĩa của sự vật. Tóm lại, giữa lúc việc viết văn của nhà văn trở thành cứu cánh của họ, nhà văn lại thủ vai trung gian: nhà văn lấy văn chương làm cứu cánh, quần chúng quan niệm là một phương tiện, chính vì tính cách bất đồng quan niệm đó mà nhà văn trở lại với cuộc đời – một cuộc đời kỳ dị, bởi vì văn chương quan niệm cuộc đời là một câu hỏi chứ không bao giờ là một câu trả lời.

Sự giải thích mông lung
            Ngôn ngữ không phải là một công cụ, cũng không phải là một cái xe chuyên chở (ý kiến, tư tưởng) càng ngày người ta càng ngờ rằng nó là một cơ cấu (để hoàn tất một chức vụ); nhưng nhà văn là người duy nhất làm tan biến mình và cuộc đời vào trong cơ cấu ngôn ngữ.
            Ngôn ngữ đó là một vật liệu mà người ta nhào nặn rèn luyện hoài hoài nó có thể là một thứ siêu ngôn ngữ, “sự thật”, bao giờ đối với nó cũng chỉ là một cái cớ họ vin lấy để đưa ra tiếng nói của mình (đối với nhà văn chỉ nên nói “tôi viết” chứ không nên nói tôi viết cái gì). Bởi vậy ngôn ngữ không bao giờ có thể giải thích được cuộc đời; khi ngôn ngữ làm như giải thích cuộc đời bao giờ cũng chỉ là tạm hoãn thời kỳ mà người ta lại thấy cuộc đời mờ mịt, mông lung; trong một tác phẩm văn nghệ, sự giải thích trở thành ngay một sản phẩm mông lung mờ mịt của sự thật và chỉ có liên lạc xa xôi với sự thật. Tóm lại văn chương bao giờ cũng không thực tế, nhưng vì chính không thực tế mà văn chương có thể đặt những câu hỏi hay về cuộc đời. Những câu hỏi đó không bao giờ là câu hỏi trực tiếp, Balzac đã đứng về quan điểm thiên mệnh để giải thích cuộc đời rút cục cũng chẳng làm gì khác hơn tra hỏi cuộc đời. Do đó văn sĩ tự cấm đoán hai hình thức ngôn ngữ, dù việc làm của họ thông minh và thành thực: trước hết là chủ thuyết bởi vì dự tính của họ là biến đổi sự giải thích thành quang cảnh,(6) bởi vậy họ chỉ lọc ra những ý ấn tượng mông lung. Sau hết là nhân chứng: văn sĩ để hết tâm chí vào ngôn ngữ nên họ không thể có thái độ khách quan hẳn: người ta không thể suy ngẫm về một tiếng kêu gọi mà không làm cho bức thông điệp của mình không chú trọng đến sự suy ngẫm hơn là đến tiếng kêu gọi: khi tác giả đồng nhất hóa mình với ngôn ngữ, tác giả không còn tác động đến sự thật nữa, bởi vì ngôn ngữ chính là một cơ cấu nhằm mục tiêu làm cho thật và giả cùng vô hiệu (tình trạng này có từ khi ngụy biện trở thành một chủ thuyết: Sophisme).

Sự tham dự bất thành
            Nhưng văn sĩ có công khơi động cuộc đời, dựng lên một quang cảnh huy hoàng về cuộc đời không có sự phối kiểm của thực tế. Bởi vậy, đòi hỏi nhà văn phải “tham dự” chỉ là một ý muốn hão huyền: một văn sĩ “tham dự” tự nhiên có tham vọng đóng hai vai trò cùng một lúc họ không thể nào không chơi tháu cáy họ sẽ khôn ngoan làm như anh chàng Maitre Jacques của Molière, lúc thì thủ vai đầu bếp, lúc thì thủ vai bồi xe, nhưng không thể nào hai vai cùng có mặt trên sân khấu một lúc. (Không cần nêu lại những chứng cớ rằng có những đại danh hào không hề “tham dự” hay không tham dự đúng cách, trái lại có những người tham dự thật nhiệt thành nhưng lại là những văn sĩ bất tài.) Vậy người ta chỉ có thể đòi hỏi văn sĩ phải có tinh thần trách nhiệm, tuy nhiên ta cũng phải thông cảm với họ mà cho rằng sự trách nhiệm về ý kiến họ đưa ra không có bảo đảm dù rằng văn phẩm của họ đề cập đến vấn đề ý thức hệ một cách thông minh chăng nữa, điều ấy cũng chỉ là phụ thuộc; đối với nhà văn, trách nhiệm thật sự là chịu chấp nhận văn chương như một sự “tham dự bất thành”. Sự thật chỉ như là một cảnh Thiên Đàng để người đời trông đợi với cặp mắt của Moise (thí dụ như quan niệm trách nhiệm của Kafka).

“Thần tượng” văn chương
            Dĩ nhiên, văn chương không phải là một “ơn trên”, đó là những dự kiến và quyết định của loài người để loài người tự hoàn thiện trong phạm vi ngôn ngữ: người ta là nhà văn nếu người ta muốn. Xã hội tiêu thụ văn chương, biến đổi dự tính thành chí hướng. Công việc luyện ngôn ngữ thành thiên tư của người cầm bút, kỹ thuật thành nghệ thuật, do đó mà văn hay cũng có một tính chất “thần tượng” không thể phân tích bằng lý trí: văn sĩ là một mục sự bảo vệ chính điện ngôn ngữ vừa có thái độ khả kính vừa góp một phần công lao không có gì đáng kể. Ngôn ngữ là một gia tài của quốc gia, một thứ hàng hóa thiêng liêng sản xuất, tiêu thụ và xuất cảng trong phạm vi phát triển những giá trị. Linh diệu hóa việc làm của nhà văn về phương diện hình thức có những hậu quả lớn lao không phải chỉ ở bề ngoài mà thôi: nhờ tính chất linh diệu ấy mà xã hội có thể bỏ xa văn phẩm khi văn phẩm không làm cho người ta thỏa mãn, xã hội có thể coi văn phẩm chỉ là một cảnh tượng để ngắm nhìn một cách thờ ơ mà phán đoán với tinh thần khai phóng, xã hội có thể kiềm chế những say mê bồng bột những sự chỉ trích phá hoại (cái đó làm cho nhà văn tham dự luôn luôn có thái độ khiêu khích nhưng bất lực), tóm lại tính chất linh diệu ấy cứu vãn được nhà văn: Không có nhà văn nào một ngày kia không bị lôi cuốn vào những định chế văn chương, trừ khi họ xé rào chui ra ngoài nghĩa là thôi không hòa hợp bản chất của mình với bản chất của ngôn ngữ. Bởi vậy cho nên rất ít nhà văn chịu bỏ nghề cầm bút, vì rằng như thế là tự sát, là tống táng một lẽ sống mà mình đã tự lựa chọn. Nếu trường hợp ấy xẩy ra thì sự yên lặng của họ là một thái độ không thể cắt nghĩa được (Rimbaud).(7)



Người dùng văn quan niệm văn chương là phương tiện
Chiếc xe chuyên chở tư tưởng
            Những người dùng văn là những người quan niệm ngôn ngữ là một phương tiện (để chứng minh, giải thích, giáo hóa), phương tiện ấy phục vụ một cứu cánh. Họ dùng ngôn ngữ để hoạt động nhưng ngôn ngữ không phải là sự hoạt động ấy. Như vậy ngôn ngữ bị đẩy lui xuống hàng một công cụ để truyền bá, một chiếc xe chuyên chở tư tưởng. Mặc dù người viết có để ý đến văn từ, nhưng sự chú ý ấy không bao giờ có ý thức bản thể của văn chương. Người dùng văn không gây được ảnh hưởng quan trọng về kỹ thuật của ngôn ngữ. Họ sử dụng một loại văn từ chung cho tất cả mọi người dùng văn, tuy người ta có thể phân biệt được nhiều luận điệu khác nhau như Mác xít, Công giáo, hiện sinh, nhưng ít khi thấy có một lối viết có cá tính riêng biệt như các nhà văn.

Đề xuất câu trả lời rành mạch về cuộc đời
            Chú ý gây thông cảm của người dùng văn có tính cách “ngây thơ”: họ không muốn cho người đời có thể tìm hiểu cái gì khác cái họ muốn nói: có người dùng văn nào muốn để cho người ta dùng phân tâm học mà phân tích văn mình chăng? Họ cho rằng ngôn ngữ của họ chấm dứt tình trạng mông lung, mờ mịt, hàm hồ của cuộc đời, họ đề xuất một câu trả lời rành mạch không thể xoay trở ngược xuôi được (dù rằng họ chịu nhận là có thể tạm thời xoay trở ngược xuôi), họ cung cấp một tài liệu chắc chắn (mặc dù họ chỉ muốn là người giảng dạy khiêm tốn).
            Trái lại nhà văn biết rằng khi họ dùng thứ ngôn ngữ hàm chứa những ý nghĩa vô tận muốn xoay trở ngược xuôi cũng được, và gọt rũa cẩn thận, họ sẽ làm cho sự vật mờ mịt, hàm hồ dù rằng họ muốn cho văn mình có giọng nhất quyết nói như đóng đinh vào cột; thật là một điều nghịch lý, lời nói của họ là một sự yên lặng đồ sộ để người đời rán mà ức đoán, khi nhà văn phát kiến, họ không có châm ngôn nào khác câu nói sâu sắc của Rigaut: “cả khi tôi nói cả quyết, tôi cũng còn đặt câu hỏi”.

Bán món hàng tư tưởng không được trình bày có nghệ thuật
            Nhà văn cũng có tác phong một người giảng đạo, người dùng văn có tác phong một luật sĩ; lời nói của nhà văn. Không đòi hỏi sự rành mạch, chắn chắn, phân minh có thể nói rằng đó chỉ là một bộ điệu, lời nói của người dùng văn là một hành động. Điểm nghịch lý là xã hội tiêu thụ thứ văn rành mạch, chắc chắn, một cách dè dặt hơn thứ văn hư hư thực thực hiểu ra cách nào cũng được. Mặc dù số người dùng văn bây giờ đông đảo, ngôn từ của người dùng văn vẫn khó sử dụng hơn ngôn từ của nhà văn. Trước hết tại điều kiện thực tế: ngôn ngữ của nhà văn là một món hàng đã trao tay cho người đời tự ngàn xưa. Phong thái văn chương chỉ theo đuổi mục tiêu khuôn định thể thức và phạm trù của ngôn từ. Trái lại ngôn ngữ của người dùng văn chỉ có thể sản xuất và tiêu thụ trong phạm vi những định chế đặt ra để áp dụng vào những chức vụ khác chứ không có mục đích đề cao ngôn ngữ: như để dùng vào khoa cử, học thuật, khảo sát, chính trị v.v… Ngôn ngữ của người dùng văn cũng không đi vào một lối thoát, trong khi nó chỉ là một cái xe chuyên chở, chân giá trị của nó phải tìm ở mục tiêu nó theo đuổi, vì nó chỉ là phương tiện; như vậy, người dùng văn bán món hàng tư tưởng mà không trình bày món hàng cho nó nghệ thuật. Tư tưởng chỉ đạt được tinh hoa và được người đời cho là thần tượng khi nào tư tưởng được truyền bá ở ngoài quan niệm thương mại hóa. Tư tưởng không mất tiền mua mà cũng không thể đem ra bán được, tư tưởng phải đem cho không một cách quảng đại.

Người dùng văn hoạt động ở bên lề văn chương
            Quan điểm trên đây làm xuất lộ những chỗ khác biệt mới giữa nhà văn và người dùng văn. Trước hết, người dùng văn sản xuất một cách tự do, nhưng họ cũng muốn “nhấn mạnh” phần nào đến món hàng của họ: họ đề nghị với xã hội một món hàng không bao giờ xã hội đòi hỏi cả: họ hoạt động ở bên lề phong thái văn chương, xét bề ngoài thì có một sự mâu thuẫn vì lời nói của họ là lời nói của riêng một người (ít ra nếu tìm hiểu duyên cớ thúc đẩy họ viết). Chứ không như nhà văn nói lên tiếng nói chung của mọi người: chức vụ của người dùng văn là nói ngay ra điều mình nghĩ, bất cứ lúc nào, không đợi tác dụng chậm và gián tiếp của lời nói.(8) Họ cho rằng chức vụ ấy đủ để biện hộ cho họ. Do đó ngôn ngữ của người dùng văn có tính cách khẩn thiết, có tính cách phê bình: Hình như bao giờ họ cũng tố cáo sự xung đột giữa tính chất bất khả đàn áp của tư tưởng và nọa tính của một xã hội không chịu tiêu thụ món hàng tư tưởng của họ. Không có một định chế nào của người dùng văn để bình thường hóa tình trạng của họ.
            Sự khác biệt thứ hai như sau: người ta nhận thấy chức vụ xã hội của ngôn ngữ trong văn chương chính là sự biến hóa tư tưởng (hay ý thức, hay lời kêu gọi) thành món hàng; xã hội tranh dành quyết liệt lấy quyền sở hữu, vun trồng và chế định một tư tưởng xuất hiện một cách ngẫu nhiên đó là ngôn ngữ, một định chế gương mẫu đem lại phương tiện để biến hóa tư tưởng: Điều nghịch lý của ngôn ngữ dù có “khiêu khích”, rút cục cũng ngoan ngoãn rơi vào mắt lưới của định chế văn chương: những trường hợp ngôn ngữ khuấy động rùm beng như của Rimbaud và Ionesco cũng bị “nuốt” và hoàn toàn mau lẹ. Một ngôn ngữ khiêu khích, trong trường hợp người ta muốn nó tác động trực tiếp (không có trung gian) cũng chỉ làm rùm beng trong chỗ hoang vắng thuộc về hình thức, không bao giờ có sự khuấy động hoàn toàn.



Thế hệ nhà văn kiêm người dùng văn
            Trên đây tôi miêu tả một sự mâu thuẫn ngoài thực tế ít khi đúng hẳn như thế;
            Ngày nay mỗi người viết văn đều lựa một thế đứng ở giữa lập trường của nhà văn và người dùng văn; lịch sử muốn như vậy, chúng ta sinh ra muộn quá, không thể là nhà văn lừng lẫy tiếng tăm, chúng ta lại sinh ra sớm quá (?) không thể là người dùng văn được công chúng nghe theo. Ngày nay mỗi người trong giới trí thức phải giữ hai vai trò mà họ cố gắng điều hòa với nhau được đến đâu hay đến đấy; có những nhà văn bất thần nóng nẩy và có thái độ của người dùng văn, có những người dùng văn nhiều khi vươn lên mức tinh hoa ngôn ngữ. Chúng ta muốn viết cái gì, đồng thời chúng ta viết (không cần phải nói rõ thêm). Tóm lại thời đại chúng ta khai sinh cho một chủng loại lai căng: bán văn gia bán dụng văn gia. Chức vụ của họ cũng nghịch thường: họ vừa khiêu khích vừa giải trừ. Về phương diện hình thức, ngôn ngữ của họ tự do vì không ràng buộc với định chế ngôn ngữ văn chương tuy nhiên, vì họ hoạt động trong sự tự do ấy cho nên họ tự tạo ra phép tắc, đó là hình thức ngôn ngữ chung cho cả mọi người. Họ thoát ra khỏi nhóm văn nhân để gia nhập một nhóm khác: nhóm trí thức. Trên bình diện quốc gia nhóm trí thức này giữ một chức vụ bổ túc: văn của người trí thức tác động như một ký hiệu phi ngôn ngữ, loại văn ấy giúp cho xã hội mơ tưởng đến một phương tiện truyền bá tư tưởng không thành hệ thống (không định chế). Viết mà không viết, truyền bá tư tưởng thuần túy, không tạo thêm một bức thông điệp ký sinh, đó là một mẫu nhà văn kiêm người dùng văn trong xã hội ngày nay. Đó là một mẫu nhà văn vừa cần thiết vừa xa cách quần chúng, đối với họ, xã hội có một thái độ tương tự mèo đối với chuột: xã hội thừa nhận họ, thừa nhận tác phẩm của họ có tính chất phổ cập quần chúng và mua chút ít tác phẩm của họ; nhưng đồng thời xã hội vẫn đứng xa họ, xã hội bắt họ phải dựa vào những định chế phụ thuộc để xã hội kiểm soát, thí dụ như văn khoa đại học. Xã hội chỉ trích họ chỉ thiên về “trí thức”, nghĩa là vô bổ, viễn vông, hão huyền (nhà văn may mắn tránh được lời chỉ trích ấy).



TÓM LẠI, đứng về phương diện nhân loại học(9) văn sĩ kiêm người dùng văn không có đất đứng, nhưng chính tình trạng đứng ngoài đó lại hội nhập họ với xã hội. Chức vụ của họ trong xã hội toàn diện có lẽ không phải là không liên lạc với chức vụ của thày phù thủy: Nhà trí thức và thày phù thủy đều giữ một chức vụ bổ túc, họ tạo ra một thứ bệnh hoạn cần thiết cho sức khỏe (tinh thần) của đoàn thể. Dĩ nhiên ta không lấy làm lạ rằng khi họ tạo ra tình trạng xung đột xã hội như thế (hay có thể nói họ có giao ước với xã hội để làm công việc ấy) họ tác động trên bình diện ngôn ngữ; bởi vì ngôn ngữ chính là nghịch lý này: đem lại một định chế cho thế giới chủ quan.

R. BARTHES
Vũ Đình Lưu dịch

______________________________________
(1) Dịch giả ghi thêm phụ đề.
(2) Cho nên văn chương ngày nay đã có những chức vụ khác mà định chế văn chương vẫn là định chế có từ lâu đời.
(3) Barnave, Introduction à la Révolution française, Armand Colin.
(4) Theo nghĩa nguyên thủy (của Pháp), văn sĩ là người viết thay cho những người khác. Nghĩa dùng bây giờ (viết sách) mới có từ thế kỷ XVI.
(5) tautologique, nhắc đi nhắc lại một ý dưới nhiều hình thức khác.
(6) Văn sĩ thâu góp những mẩu truyện ngoài đời dựng lên một quang cảnh để thay thế cho cách giải thích bằng nghị luận
(7) Đây là một sự kiện mới mẻ. Trái lại, người ta biết rằng người đương thời với Racime chẳng ngạc nhiên chút nào khi thấy Racime bỗng dưng bỏ nghề cầm bút để giữ một chức vụ trong triều đình.
(8) Cách diễn ý một cách trực tiếp như thế trái hẳn thái độ của nhà văn: 1) Nhà văn sản xuất không theo nhịp điệu của ý thức, mà tùy theo sự cảm ứng của tiềm thức. 2) Họ nói một cách gián tiếp điều họ nghĩ, họ gọt gạnh cho hợp với phong thái văn chương. 3) Người ta có thể hoàn toàn tự do để chất vấn về tác phẩm của họ theo cách nào cũng được, trái với một tác phẩm viết trong quan niệm về chủ thuyết.
(9) Anthropologie.


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8
Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 07/10/2017, 23:32:48

HOÀI KHANH tạm biệt bạn đọc

              Vì lý do sức khỏe, nên kể từ số tới (số 9) tôi không còn “coi sóc” nguyệt san Giữ Thơm Quê Mẹ nữa.
            Trong 8 số báo vừa qua, với sự khích lệ nhiệt thành của bạn đọc bốn phương và nhất là các bạn gửi bài cộng tác, tôi không thể nào quên chân tình ấy của các bạn.
            Nay không còn tiếp tục cộng tác cho tờ Giữ Thơm Quê Mẹ nữa, nên một lần nữa tôi xin chân thành cảm tạ toàn thể bạn đọc và dịp khác nếu có cơ hội thuận tiện, chúng ta sẽ gặp lại nhau.
            Riêng các bạn gửi bài cộng tác, xin các bạn cứ tiếp tục gửi về tờ báo như trước đây các bạn đã từng đóng góp.
                        Kính chào các bạn

                        HOÀI KHANH



GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 7-8

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 13/10/2017, 09:18:01
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 9  [tháng 3 năm 1966 |  104 trang]

MỤC LỤC
Minh Dũng |  Nỗi lòng âu cơ (thơ) |  2
Trụ Vũ |  Giấc mơ \ Đàn kiến khuya (thơ) |  3-4
Ngô Thị Sương |  Ngoại ô (thơ) |  5
Hạnh Linh N.V.P |  Chuyện một loài chim (thơ) |  6-7
Đoàn Minh Hải |  Con sông Thu Bồn (thơ) |  8
Chinh Văn |  Tiếng đêm (thơ) |  9-11
Lưu Nghi |  Được như chúng nó |  12-16
Sơn Nam |  Ngày hội tháng giêng ở Saigon |  17-22
Văn Lệ Thiên |  Lý do |  23-27
Dương Xuân |  Tháp phù ngọc |  28-30
Chinh Ba |  |  31-40
Hồ Hữu Tường |  Ngôn vô từ |  41-45
Tư Hồng |  Đính chính một vài sai lầm trong lịch sử Nhật Bản… |  46-50
Trụ Vũ |  Mùa xuân bắt cá |  51-55
Nhất Hạnh |  Nói với tuổi hai mươi (tiểu luận) |  56-60
Erskine Kaldwell/bản dịch của Thịnh |  Khi em nghĩ đến tôi |  61-78
Vương Pển Liêm |  Giáo dục quần chúng tại Việt Nam (tiểu luận) |  79-86
Chín |  Viết liễn |  87-90
Nhất Hạnh |  Nẻo về của ý (truyện dài) |  91-101
T.V. |  Hộp thư tòa soạn |  102
G.T.Q.M. |  Giới thiệu sách báo mới |  103
Quảng cáo |  104


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 13/10/2017, 09:20:56


            Nỗi lòng âu cơ

            bàn chân giao chỉ em đây
            bước qua vũng lạnh hồn này gió theo
            năm mươi con đứng trên đèo
            năm mươi tay vẫy ngón chào nước lên
            lòng buồn núi cũng rộng thêm
            thôi miền khe đá nhớ tên gọi về
            một trăm tim nhớ người đi
            ngàn sông nước lớn trôi gì ở trên
            mẹ còn tay vẫy trong đêm
            rừng già lá quét lòng rên rĩ sầu

            thưa người mẹ sống bao lâu
            đàn con đói lạnh ở đâu hết rồi


                                              MINH DŨNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 9


Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 13/10/2017, 14:09:37


            Giấc mơ

            Giấc mơ nhỏ bé vô cùng
            Một gian nhà nhỏ, ba vồng khoai lang
            Thế thôi mà lạy mười phương
            Hai mươi năm lẻ chưa tròn giấc mơ


                                              TRỤ VŨ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 9

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 13/10/2017, 14:31:37


            Đàn kiến khuya

            những con kiến và tôi
            làm việc trong đêm vắng
            kiến tha mồi về tổ
            tôi tha nhật nguyệt về thơ

            kiến tha mồi xây sự sống cho đàn
            tôi làm thơ xây sự sống cho em

            trong đêm trắng nhiệm mầu
            – giữa lúc ra đi ô trổi bài cuồng loạn
            mà tôi không nghe – chỉ có nhiệm mầu
            trong khi thế gian đều ngủ cả
            chỉ có kiến và tôi

            những con kiến Việt Nam!
            ba mươi năm xưa, thằng bé là tôi thường chơi bên đàn kiến
            xung quanh chúng tôi là vũ trụ
                                    là suối là hoa
            những con kiến đi hành hương trên muôn dặm đường xa
            hồn tôi theo kiến hành hương về vũ trụ

            thủa lên năm lên mười
            tôi thường theo kiến đi chơi
            nhớ giải nước trong sầm uất bờ mây
                                    sức sống dạt dào
                                                nở từng bông hoa súng trắng

            những tấm lá tre trôi về vô định
            bước kiến đi: khúc nhạc muôn đời
            tôi theo kiến thủa lên năm lên mười
                                    thủa mười lăm mười tám
            uống giọt sương trong cành trúc quê hương
            những lá xoài ban trưa
                                    thế giới bình yên
                                                     ấn độ

            những ông sãi vàng những con kiến nhỏ
            nơi miền Trấn quốc hoang sơ

            kiến với tôi thân ái tự bao giờ
            tiềm thức ân tình kết chặt
            lịch sử Việt Nam trên ngàn đắn gỗ
            đáy nước trong con cá vẫy vùng

            kiến ơi, đến tự bao giờ
            tiếng ru lòng mẹ, ngọn cờ tổ tiên

            tôi nhớ bài thơ con kiến
            tình đoàn kết, nghĩa cần lao
            chúng ta cùng sống trong lòng mẹ
            kiến với tôi, tình nghĩa sít sao

            đến hôm nay, bên ngọn nến trung thành
            ngoài kia trời đen tối quá
            mọi vật quanh tôi đều ngủ cả
            nhưng còn kiến thức với tôi đây

            nghĩa là tôi còn tất cả


                                              4-9-65
                                              TRỤ VŨ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 9

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/10/2017, 05:15:30


            Ngoại ô

           “Người ấy tên là Nguyễn Lê Xuân”
            Chị bảo đôi mắt anh rất buồn
            Người ấy bây giờ không còn nữa
            Ngoại ô một mình chị ôm con
            Đứa trẻ sinh ra đôi mắt buồn
            Đôi mắt rất hiền như cha nó
            Một mình chị nhìn con đặt tên
            Thành phố màu vàng như da chị
            Ngõ hẻm màu đen như tóc con

            Người ấy bây giờ không vịn thành cầu
            Người ấy bây giờ không huýt sáo
            Không còn điếu thuốc đôi mắt nâu
            Không còn từng đêm ôm hôn chị

            Người ấy tên là Nguyễn Lê Xuân
            Chị bảo lời anh rất buồn
            Nửa đêm đứa trẻ ra đời khóc thét
            Ngoại ô tiếng súng mắt chị vàng

            Người ấy đâu rồi Nguyễn Lê Xuân
            Nước mắt trên môi chị mấy lần
            Ôi chiến khu nào hơi thở chị
            Ôi nhớ thương nào đôi tay con

            Buổi chiều chị được tin anh chết
            12 giờ khuya chị sinh con


                                              NGÔ THỊ SƯƠNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 9

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/10/2017, 05:59:19


            Chuyện một loài chim

            Em ạ trên núi có một loài chim
            Tên là chim ca cút
            Mà ngày ngày đêm đêm
            Người lính vượt núi vượt rừng
            Rồi khi dừng chân lại
            Vẫn còn nghe tiếng chim
            Tiếng chim buồn thê thiết…

            Nhiều khi anh thầm hỏi
            Có phải vì chim cô đơn
            Hay vì thương người lính cô đơn
            Mà chim còn kêu mãi mãi…

            Người lính già một hôm kể chuyện
            Xưa chim là cô gái Thượng
            Yêu một chàng lính chiến tiền sơn
            Chàng là lính đóng đồn
            Quê hương ở miền xuôi xa thẳm…

            Em ạ, người lính thì thường hái măng
            Nhất là những ngày mưa dầm gió buốt

            Chàng lính trẻ một sáng vào rừng
            Trở về lạc lối…
            Bỗng có một cô gái
            Mà theo chàng trai kể lại
            Nàng đẹp và thanh khiết như suối ngọc lưu ly
            Chàng lính chiến bỗng nhớ
            Ngày xưa những cổ tích thần kỳ
            Chàng thầm nhủ:
            Biết đâu nàng không là tiên nương ngọc nữ
            (Nhưng làm gì đẹp bằng em
            Hỡi cô nữ sinh thành phố)

            Rồi mùa măng ấy
            Tình của chàng thì nồng thắm
            Của cô gái thì lạ lùng
            Bởi vì có một hôm
            Trong gian chòi nhỏ
            Chàng đặt lên môi nàng
            Ôi nụ hôn đầu tiên
            (Nụ hôn đã khiến nàng
            Trở lên người có tội
            Với thần núi thần sông)

            Em ơi kể từ đó…
            Nhưng chàng là lính tiền sơn
            Năm sau từ giã tiền đồn về xuôi
            Rừng xưa bỗng lạnh dáng người
            Nẻo măng bỗng tự muôn đời hoang vu
            Lá vàng đã bít lối thu
            Đồn xanh dáng cỏ, bóng mù xót xa
            Nai vàng đâu dẫn lối ta
            Tình xưa còn đó hay là đã quên…

            Rồi đến mùa măng mọc
            Nàng lại phải vào rừng
            Ôi nhìn măng mọc nàng khóc
            Khóc nhiều nên hóa chim
            Đó là chim ca cút
            Loài chim thường đêm đêm
            Đánh thức người lính chiến

            Có người bảo khi chim thấy lính
            Chim tưởng là chàng
            Có lẽ vì màu áo quân nhân
            Màu áo của rừng
            Mà ngày xưa chàng đã mặc
            Em ơi cũng vì thế
            Mà người lính vượt rừng
            Cũng thấy bớt cô đơn…

            Dù mưa dầm gió buốt
            Dù thung lũng non cao
            Nơi đâu còn dáng lính
            Là còn chim bay theo…


                                              HẠNH LINH N.V.P


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 9

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 15/10/2017, 11:18:20


            Con sông thu bồn

            rồi em dõi mắt nhìn theo
            hỏa châu cháy sáng chân đèo hôm qua
            nát luống khoai, nát dậu cà
            thôi dòng sông đó cũng nhòa máu tươi

            thương con nên mẹ sống đời
            trong đôi mắt đẹp rạng ngời về sau
            đêm nghe súng vọng rừng sâu
            như đôi con nhạn bỗng sầu buông tơ

            rồi em dõi mắt trông chờ
            tóc đêm đen với trăng mờ ngoài hiên
            lời ru con vắng ưu phiền
            cũng xin gió thoảng ra miền biên cương

            thương con lời mẹ thơm nồng
            máu đêm qua chảy đỏ sông sau nhà
            con kinh, con rạch ngoài xa
            chiều nay còn thấy người ta chôn người


                                              ĐOÀN MINH HẢI


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 9

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 20/10/2017, 21:23:22


            Tiếng đêm
                                                cho Dung

            tôi mở mắt đi trong đêm hồng thủy
            đầy phong ba, đầy rắn rít, tha ma
            tiếng cú rúc len vào cơn mộng mị
            chân bước đi, tay bưng mặt khóc òa

            tay rời rã, mười ngón dài khô héo
            với giữa trời như với lấy bao la
            trong đêm tối có tiếng gì tru tréo
            ngẩng nhìn ra nào rõ thú hay ma

            tôi lắng im tìm trong hơi thở nhẹ
            không tiếng người chỉ có tiếng đêm thôi
            tôi đứng lại soi mình trong quạnh quẽ
            nước mây trôi, tôi ngồi lại bên đời

            trong cô tịch, tôi nghe tôi đằng hắng
            rừng núi sâu vang vọng mãi lời tôi
            trong xa vắng một loài chim cánh trắng
            mang dư âm vào cay đắng mất rồi

            tôi chẳng dám ngẩng đầu trông lên nữa
            rủi trời cao đất rộng biết làm sao
            tôi chẳng dám chờ mong dù đốm lửa
            sợ cô đơn, tôi sợ cả câu chào

            úp mặt xuống, tôi bước đi thờ thẫn
            mười ngón chân hằn trên đất bơ vơ
            tay thõng buông mười ngón suông đờ đẫn
            xác thân này mòn ruỗng nét hoang sơ

            hai mươi tuổi – rõ ràng hai mươi tuổi
            không dám xanh, tóc lấm tấm vài nơi
            không dám khóc, chỉ xin cười rũ rượi
            tiếng chim quen tôi gửi lại cho trời

            và mây trắng nắng vàng hoa lá biếc
            ôm làm sao trong những ngón tay buông
            và non nước và trăng sao bất tuyệt
            nở làm sao trên những khóm môi buồn

            tôi thổ mộ khuya về trên phố vắng
            kiếp đi hoang, tôi là gió không nhà
            tôi núi đá đã vạn đời câm nín
            nghe hải triều ngờ ngợ giấc bao la

            không biết nữa, vì đâu tôi ủy mị
            cứ run hoài như chiếc lá đêm đông
            không hiểu nữa, vì sao tôi rền rĩ
            giọng thương đau cứ ngân mãi bên lòng

            có phải mẹ đã sinh con thời nhỏ
            trong ca dao tiếng võng quá u trầm
            có phải mẹ đang mồ lên xanh cỏ
            mấy mươi năm vẫn quen sống âm thầm

            hay tại cha đã sinh con quá vội
            mớm cho con quá sớm những hờn oan
            hay bão tố đã giậy lên từ cội
            nên lá hoa không héo cũng phải tàn

            hay tại đất đã không ngừng lở lói
            hay tại ngày cứ tối mãi đêm đêm
            hay tại trăng cứ treo hoài không nói
            nên mặt trời chang chói mãi thân em

            hay tại gió vừa ghé thăm nghĩa địa
            chở thêm hờn trong tiếng rít cuồng điên
            hay tại mưa nghiêng đầu trên bãi chiến
            nên sông đầy nước lặng chảy triền miên

            tại anh đấy, chết không hề nhắm mắt
            một hôm nào ngã xuống chẳng toàn thây
            hay tại gió may về đau nhức chắc
            nên em ôm mặt khóc giữa ban ngày

            hay tại những người già không chịu chết
            ra vô hoài khoảng ngõ trước vườn sau
            phải đâu đó từng đốt xương đã mất
            ông đi tìm mong xóa bớt thương đau

            thằng bé ấy xem chừng già trước tuổi
            những ông già đã trở vỏ thơ ngây
            những cô gái đã ôm duyên hờn tủi
            những đời trai không còn biết mai ngày
            ●
            tôi đâu biết, tôi chẳng hề hay biết
            mở mắt nhìn tôi chợt thấy tôi đây
            tôi đâu biết, tôi chẳng hề chém giết
            mũi súng nào chợt bay khói trên tay
            ●
            tôi đứng đó, giữa tháng năm hờ hững
            bàn tay không lạnh ngắt gói bàn tay
            tường ngói đổ đứng ngồi sao cho vững
            ôi tương lai, ôi thế hệ lưu đày
            ●
            bỗng đâu đó, trong mầu đêm dày đặc
            có tiếng gì như tiếng lửa chân mây
            nghe đâu đó từng nhịp cầu đã bắc
            từng đoàn người vui trẩy hội ngày mai
            ●
            đêm nay trời rộng sông dài
            có con thuyền nhỏ chở hai đứa mình


                                              CHINH VĂN
                                              (Đêm Việt Nam)


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 9

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 21/10/2017, 19:32:00
NGÀY HỘI THÁNG GIÊNG Ở SAIGON

NHỮNG NGÀY đầu tháng giêng, đồng bào Sàigòn-Chợ Lớn tham dự hai ngày hội quan trọng:
            Đó là ngày hội ở Lăng Ông Bà Chiểu, – lăng ngài Tả quân Lê Văn Duyệt – từ đầu xuân đến ngày rằm. Đây là cuộc hành hương để cầu tài, hái lộc. Già trẻ trai gái đều tấp nập, không phân biệt tôn giáo, nhang khói nghi ngút, lúc chiều cũng như lúc trưa. Đúng là ngựa xe như nước, áo quần như nêm. Người ta hái lộc quá nhiều, lộc nẩy không kịp để cung ứng nhu cầu. Mặc dầu có lời yêu cầu tha thiết của ban quản trị, lắm khi vườn kiểng bị hái sạch (đến mức hư hại); nhiều người chờ đợi xin xăm, chen chúc nhưng chẳng tài nào tiến vào chánh điện được, người yếu tim có thể bị ngột vì khói hương.
            Xin tóm tắt công đức ngài Tả quân: sinh trưởng ở Định Tường, giòng chúa Nguyễn Ánh phục quốc, lãnh trách vụ Tổng trấn Gia Định thành, lập đồn điền ở Cái Bè, Cai Lậy (Định Tường), đào những con kinh chiến lược nối liền Hậu Giang đến biển Vịnh Xiêm La. Ngài cai trị toàn cõi Nam Kỳ nhưng dường như uy lực tinh thần của ngài không vượt qua bên kia bờ sông Tiền Giang.
            Mặc nhiên, sau khi mất, ngài đóng vai trò thần Thành Hoàng và cũng là vị Thổ Công tối cao của tỉnh Gia Định. Nếu tò mò, chúng ta thấy rõ: số người đến chiêm ngưỡng ngài Tả quân gồm đa số dân Sàigòn-Chợ Lớn, nhất là các người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn, các bà “xẩm già”.
            Tại sao người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn lại sùng bái một công thần Việt Nam? Đó là lòng sùng bái chân thành, kính cẩn, đượm vẻ huyền bí, cha truyền con nối, trở thành tập tục. Ở Gia Định, còn có lăng Trương Tấn Bửu, Võ Di Nguy nhưng tại sao ít người đến bái yết?

NGƯỜI VIỆT NAM ở Gia Định và người Việt gốc Hoa ở Chợ Lớn kiêng nể oai linh ngài Lê Văn Duyệt. Ngài là vị công thần, khai sơn phá thạch có quyền tiền trảm hậu tấu đã nghiêm trị các quan lại hời hợt trong nhiệm vụ cương quyết thanh trừng bọn du đảng, bọn trẻ con bất hiếu. Sau khi ngài mất, Lê Văn Khôi nổi loạn, vì lề lối cai trị hà khắc của quan Bố chánh Bạch Xuân Nguyên. Lê Văn Khôi chiếm tất cả sáu tỉnh Nam Kỳ, chiếm nhanh chóng – điều ấy chứng tỏ Khôi thâu phục được nhân tâm và đa số quan quân đều nhớ công đức Lê Văn Duyệt. Hai năm sau giặc Khôi bị dẹp tan. Vua Minh Mạng vốn có nhiều thành kiến đối với Lê Văn Duyệt “ra lệnh cho quan Đốc phủ Gia Định đến nấm mồ của Lê Văn Duyệt san phẳng làm đất bằng, đặt một tấm bia đá trên có khắc tám chữ to: Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ” (theo Bản Triều Bạn Nghịch Truyện của Giá Sơn Kiều Oánh Mậu, soạn năm 1901 – bản dịch do Viện Khảo Cổ ấn hành). Cũng theo tài liệu nói trên, sau khi bị san phẳng, tại mộ Lê Văn Duyệt “có những lúc trời âm u, đêm yên tĩnh, có tiếng ma quỷ khóc than, hoặc tiếng ồn ào người ngựa; dân cư nơi đó không dám lại gần, người đi đường đều dời lối khác để tránh đi”.
            Vào năm Tự Đức thứ Hai (1849), ở Kinh đô Huế “đầy bệnh dịch khí”, các quan bèn tâu lên vua – thừa dịp ấy – rửa tội xưa cho Lê Văn Duyệt: “Đến lúc vua sai quan địa phương đem giấu bỏ tấm bia và cho con cháu tự ý sửa chữa ngôi mộ thì tiếng ma quỷ trong ban đêm mới dứt”.
            Các chi tiết trên chứng tỏ: Khi Lê Văn Duyệt bị hạ nhục, nhiều người phẫn nộ, chống đối ngấm ngầm bản án quá tàn nhẫn do vua Minh Mạng ban xuống. Họ phao tin Lê Văn Duyệt đã là vị khai quốc công thần, xứng danh là anh hùng. Anh hùng tử, khí hùng nào tử! Sau khi lìa dương thế, ngài Tả quân tiếp tục điều khiển một đạo binh ma. Khi anh hùng mang bản án oan ức thì xảy ra hiện tượng quỷ khóc thần sầu. Vùng Bà Chiểu, Bình Hòa lúc bấy giờ hoang vu sầm uất nên giới bình dân dễ tin nơi hiện tượng huyền bí, chứng tỏ ngài Tả quân luôn luôn hiển hách, chánh khí mãi trường tồn với núi sông.
            Lúc sống, ngài Tả quân lo giữ nước, giữ dân, đến chết rồi, ngài vẫn không rời nhiệm vụ ấy.

VIỆC NGƯỜI VIỆT gốc Hoa – nhứt là nữ giới – từ Chợ Lớn qua Bà Chiểu để cúng vái, xin xăm có thể giải thích được. Lúc sinh thời, hằng năm đúng ngày mùng sáu tháng giêng, ngài Tả quân đích thân cử hành lễ ra binh, kéo binh sĩ đi vòng quanh thành Gia Định để thị oai và để tống ôn tống quái. Về chi tiết cuộc lễ ra binh xin quí độc giả xem thêm trong “Sàigòn năm xưa” (do Vương Hồng Sển soạn): ngài Tả quân tắm gội trai kỳ, trong thành dân cư vọng bàn hương án, những người có tang khó nhứt là đàn bà bụng mang dạ chửa đều phải lánh xa…
            Sàigòn ngày xưa tức là vùng Chợ Lớn – khu vực đường Nguyễn Trãi-Triệu Quang Phục ngày nay. Khu vực thương mãi ấy khá trù phú người Hoa kiều sống tập trung để buôn bán. Sau buổi lễ ra binh tống quái, các tiệm phố mới yên tâm khai trương, đầu Xuân.
            Khi ngài Tả quân còn sống, đích thân ngài điều khiển lễ tống quái.
            Lúc ngài mất, người Việt gốc Hoa từ Chợ Lớn vẫn nhớ “tiền lệ” tống quái ấy. Họ đến chiêm ngưỡng công đức ngài tại lăng, tại đền thờ để cầu mong được tấn tài, tấn lợi, nhờ oai danh của ngài tống quái giúp họ.

NGƯỜI VIỆT gốc Hoa sống tập trung tại Chớ Lớn, thời xưa. Họ lập thành làng, với qui chế ít nhiều tự trị: Làng Minh Hương. Dân làng Minh Hương chọn sự cai trị trực tiếp của ngài Tả quân Lê Văn Duyệt. Họ có nhà công sở riêng với những ông Hương lão, Hương trưởng, Hương trùm. Dân làng theo một Hương ước khá chặt chẽ.
            Theo tài liệu do hội Minh Hương Gia Thạnh ấn hành, hằng năm, cứ đến ngày 16 tháng giêng âm lịch, vào giờ mùi (2 giờ trưa), cử lễ Nghinh Thần để cầu an.
            Công sở làng Minh Hương, trải qua bao biến cố lịch sử nhứt là biến chuyển văn hóa – đã mất vai trò hành chánh, trở thành ngôi đình: Đình Minh Hương Gia Thạnh. Đình nầy nổi danh là đẹp đẽ, tu bổ khéo nhứt, tổ chức có qui củ nhứt tại Chợ Lớn (số 380 đại lộ Đồng Khánh, ngay Ty Cảnh sát quận 5).
            Người Minh Hương đến Việt Nam trong hoàn cảnh nào? Các quyển lịch sử Việt Nam đã ghi chép khá nhiều. Xin tóm lượt và đưa ra vài nét chánh.

TRÊN ĐƯỜNG Nam tiến, người Việt ở Bình Định, Quảng Nam đã bắt đầu chán chê những thửa ruộng nhỏ hẹp nằm giữa dãy Trường Sơn khô cằn và biển Đông đầy giông bão thường niên. Chính trên vùng đồng bằng ruộng nhỏ hẹp nầy, người Chiêm Thành bị tiêu hao khá nhiều sinh lực.
            Người Việt sẵn sàng đi xa hơn, vào thời Trịnh Nguyễn phân tranh; họ làm ruộng tận Biên Hòa, Bà Rịa, đánh lưới tận hải đảo Phú Quốc phía cực tây, sống rải rác ở ven rừng góc biển, thiếu tổ chức. Đất quá rộng, người quá thưa.
            Vào năm 1679, các di thần nhà Minh chở hơn 300 thuộc hạ đến xin ra mắt Hiền Vương. Hiền Vương cho phép họ vào đồng bằng sông Đồng Nai và sông Cửu Long để lập nghiệp:
            1) Trần Thắng Tài chú trọng mở mang thương mãi ở vùng cù lao (Biên Hòa). Sau khi chợ này bị quân Tây Sơn đốt phá, đám thương gia rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn ngày nay để lập cơ sở khác, nơi có đia thế thuận lợi hơn.
            2) Dương Ngạn Địch đến vùng Mỹ Tho lập trang trại, cho thuyền vào cửa Tiểu. Chắc chắn rằng họ đến lập nghiệp tại các giồng đất cao ráo mà trung tâm là giồng Tân Hiệp (quận lỵ Bến Tranh, Định Tường) chớ không phải vùng chợ Cũ Mỹ Tho. Vùng đất này trở thành Trấn Định; quyển “Lịch An Nam thông dụng trong Nam Kỳ” do Thống đốc phủ ấn hành vào năm 1907 còn ghi rõ: Chợ Trấn Định nằm trong làng Tân Hiệp, tổng Hưng Nhượng, tỉnh Mỹ Tho.
            3) Di thần Mạc Cửu đến Hà Tiên trong trường hợp khác hơn. Ông nầy đến với vài kẻ mưu sĩ và không có trình diện với chúa Nguyễn khi mới đến. Về sau, khi bị áp lực quân sự của Xiêm La, Mạc Cửu mới xin thụ phong. Mạc Cửu nhắm vào việc tổ chức sòng bạc, dùng Hà Tiên làm hải cảng để giữ độc quyền mua bán giữa Cao Miên và ngoại quốc.

TRỪ TRƯỜNG HỢP Dương Ngạn Địch ở Mỹ Tho, các ông Trần Thắng Tài và Mạc Cửu đều nghiêng về việc tổ chức thành thị, sống tập trung, nắm vững giềng mối thương mãi.
            Đám lưu dân Việt Nam đến trước dường như không thắc mắc về việc chúa Nguyễn đón rước các di thần nhà Minh. Đám lưu dân chịu thiệt thòi về kinh tế, bán sản phẩm qua tay trung gian, nhưng họ vẫn vui, bằng cớ hiển nhiên là họ không nổi loạn chống đối. Họ sống vui vẻ vì sản phẩm bán có giá, so với lúc trước. Ngoài ra còn có lý do khác:
            Trong sự chung đụng nầy, bao nhiêu tập tục, mê tín, dị đoan hoặc tín ngưỡng lại cọ sát, dung hòa nhau. Nhiều danh từ hoặc thổ âm Triều Châu được Việt hóa. Lễ Thanh Minh, lễ cúng Giới Tử Thôi, Khuất Nguyên… đượm vẻ long trọng. Ảnh hưởng của Thiên Địa Hội lan tràn vì bọn di thần nhà Minh vẫn ôm ấp giải mộng bài Mãn.
            Cuộc Nam Bắc phân tranh chấm dứt năm 1698, Minh Vương Nguyễn Phúc Chu phái một vị quan văn võ toàn tài vào Nam: ông Nguyễn Hữu Cảnh. Ông nầy lãnh trách nhiệm đặt cơ sở hành chánh ở miền cực Nam biên thùy, xem hai huyện Phước Long và Tân Bình (Biên Hòa và Gia Định ngày nay) là hai đơn vị hành chánh đầu tiên thành lập ở Nam Kỳ.
            Năm sau (1699) ở đất Cao Miên xảy ra cuộc làm phản. Nguyễn Hữu Cảnh lại kéo quân sang Cao Miên, đến tận Nam Vang. Ông thắng trận nhưng khi trở về, cánh quân ấy tan rã dần dần, rút lui theo đường Châu Đốc xuống Long Xuyên (Hậu Giang) rồi qua Tiền Giang đến Vĩnh Kim (Định Tường). Tại Vĩnh Kim ông Nguyễn Hữu Cảnh mang bệnh thổ huyết mà chết.
            Cánh quân ấy vượt qua hai sông Tiền Giang và Hậu Giang bao nhiêu thương binh, bịnh binh và quân sĩ được dịp giải ngũ – hoặc đào ngũ. Quân sĩ mệt mỏi vì phong thổ bất đồng nhơn cuộc viễn chinh; cái chết hơi đột ngột của Nguyễn Hữu Cảnh lúc thắng trận lui quân khiến cho chúng ta liên tưởng đến một cuộc chiến thắng theo kiểu Nã Phá Luân chiến thắng Nga Hoàng rồi rút lui giữa mùa đông tháng giá.

SUỐT CON ĐƯỜNG lui quân của Nguyễn Hữu Cảnh chúng ta thấy khá nhiều đình thờ, dành riêng cho ông. Đó là những cựu quân nhân thờ vị tướng lãnh của họ, đó là những người lính giải ngũ, trở thành dân bạch đinh, tôn thờ vị thần Thành Hoàng Bổn Cảnh: đình thờ ở Châu Đốc, ở làng Ông Chưởng (tại các làng An Thạnh Trung, Long Kiến, Long Điền, Kiến An nối liền sông Tiền Giang qua Hậu Giang), đình thờ ở Biên Hòa. Ngoài ra còn đình thờ ở Nam Vang, do Việt kiều đảm nhiệm phần hương khói. Và đáng chú ý nhứt là ông Nguyễn Hữu Cảnh còn được thờ tại đình Minh Hương Gia Thạnh, bên tả chánh điện, thờ chung một bàn với di thần Trần Thắng Tài, người lần đầu tiên sáng lập đình Minh Hương tại Biên Hòa.
            Người Việt gốc Hoa từ Chợ Lớn đến Bà Chiểu chiêm bái ngài tả quân Lê Văn Duyệt.
            Vị công thần Việt Nam từ miền Trung vào Nam được thờ tại đình Minh Hương dành cho các vị thần nhà Minh.
            Cuộc gặp gỡ ấy thật đầy ý nghĩa và dễ hiểu.
            Người Việt gốc Hoa xem ngài Tả quân như vị Thổ Thần cao cả đầy đủ uy linh.
            Người Minh Hương muốn chứng minh lòng thành thật và thiện chí của họ trước sự kiện lịch sử, văn hóa. Tài liệu của đình Minh Hương Gia Thạnh xác nhận: “Trong số hơn 210 hội viên Minh Hương Gia Thạnh, mặc dù có gốc Trung Hoa mà đã nhỏ giọt xuống năm sáu đời sống theo nếp sống bên ngoại Việt Nam thì thành ra hoàn toàn dân Việt về nếp sống và phong tục”.

LĂNG NGÀI TẢ QUÂN, đình Minh Hương Gia Thạnh đã tượng trưng phần nào cho văn hiến miền Nam, góp thêm phần độc đáo cho văn hiến Việt Nam.


SƠN NAM


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 9
Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 28/10/2017, 16:55:58
NGÔN VÔ TỪ

NGƯỜI ĐẤT KHƯU, đạo hiệu là Trường Xuân chân nhân, sống vào buổi đầu của triều Nguyên có soạn một bộ sách khảo cứu về phong tục kỳ quái của người xứ Tây Vức. Tên của sách là Tây Du Ký. Sách nầy đánh mạnh vào óc tưởng tượng của kẻ đọc. Một vị đạo sĩ, tu tiên theo phép dưỡng sinh; hình như tên là Ngô Thừa Ân, nhơn đọc nó mà phát sanh ra cái tứ, mượn việc Trần Huyền Trang đời Đường, đi muôn dặm sang Thiên Trúc mà thỉnh kinh Phật, mang về Đông mà cứu độ chúng sanh, để viết một bộ tiểu thuyết. Tiểu thuyết nầy mang tên là Tây Du Ký Diễn Nghĩa.
            Tiểu thuyết nầy rất hấp dẫn. Tựa hồ mỗi người Việt Nam đều đọc, hay ít nữa cũng có nghe nói đến một vài đoạn. Trẻ con say mê nó, vì nó tả phong tục của muôn yêu, ngàn quỷ, mỗi mỗi tác phong riêng biệt không yêu nào giống yêu nào, không quỷ nào giống quỷ nào. Thế mà “nhất dĩ quán chi”, muôn phương tiện thảy đều để đạt chỉ có một mục đích. Mục đích của muôn yêu, ngàn quỷ, thảy đều là ăn thịt thầy trò Tam Tạng, để được trường sanh bất tử. Thế mà, mục đích có đạt, ấy bởi phương tiện có khế hợp mới thành. Muôn yêu, ngàn quỷ thảy chết sạch; mà đắc đạo, được trường sanh bất tử, thành Phật, thì không mong lại được, ham muốn mà sai, lại là thầy trò của Tam Tạng…

NĂM 1943, tôi ở mãn tù. Nhưng thực dân không cho về với vợ con, lại bắt vào trại giam, nơi An Hải, sau dời qua Hội An. Nơi đây, tôi được làm quen với vài ông đạo, cho tôi mượn một bản in bằng chữ Hán của tiểu thuyết Tây Du Ký Diễn Nghĩa. Đặc điểm của bản nầy, là sau mỗi hồi, lại có lời bàn rất dài của một vị đạo sĩ, lấy bút hiệu là Ngộ Nhất Tử. Lời bàn lại có khi dài hơn khúc chuyện đã kể trong hồi ấy. Đọc lời bàn của Ngộ Nhất Tử, tôi hé thấy một phép dưỡng sanh của đạo Lão. Bách nhật trúc cơ, thập nguyệt hoài thai, tam niên nhũ bộ. Tôi vốn chẳng thích được trường sanh bất tử, nên chẳng màng nhớ đến phép dưỡng sanh ấy mà làm gì, nhưng, lối giải thích mấy cái hình ảnh tượng trưng của Ngộ Nhất Tử, kể ra cũng phải khen là tế nhị.
            Trong các hình ảnh tượng trưng, cái mà đánh mạnh vào trí óc của tôi, là khi lạy Phật xong xuôi, thầy trò Tam Tạng thỉnh kinh thì lại được phát thứ “kinh vô tự”. Sau hay được, phàn nàn, thì vị La Hán quản thủ thơ viện cắt nghĩa cho biết rằng, thứ kinh vô tự ấy để dành cho những người đắc đạo. Kẻ phàm phu tục tử phải nhờ trung gian của chữ mới biết được lời, nhờ trung gian của lời mới biết được ý, nhờ trung gian của ý mới cảm thông được Phật, đem con tâm của mình mà đồng nhất với con tâm của đức Từ Bi, Bác Ái. Cầm một cuốn kinh vô tự, mà giở ra, chỉ thấy giấy trắng phau phau, kẻ đắc đạo được nhắc rằng nay là lúc con tâm của mình phải mở rộng minh mông để bao quát tất cả cảnh giới của Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi.

ĐÓ LÀ chuyện xửa, xừa, xưa, của hai mươi ba năm thuở trước.
            Năm nay không biết tình cờ dung ruổi thế nào, mà tôi có đến, bảy đồng tiền Quang Trung, tuy có trước sau mà gần như một lượt. Ba đồng to tướng, một đồng vừa vừa, một đồng bé hơn một tí và hai đồng nhỏ. Trong Hòa Đồng số 54, có in hình đồng tiền Quang Trung nầy lớn bằng thiệt. Tôi có dịp may, mà thấy là bổn phận, đem tiền ra dâng trước bàn thờ của vị anh hùng Đống Đa hầu hỏi ý của Ngài như thế nào, mà tới tấp gởi đến cho tôi đến bảy vị thiên sứ, mỗi vị mang theo một đồng tiền của Ngài, để làm tin?
            Đó là động cơ duy nhất khiến cho tôi Tết năm nay thay vì nghỉ cho khỏe thân ở Đà Lạt, ở Nha Trang, hay ở Vũng Tàu thay vì Saigon mà lên lăng Ông nhìn thiếu nữ thướt tha trong những cánh áo lòe loẹt, mà vào Chợ Lớn thưởng thức những món cao lương mỹ vị, mà la cà ở các hộp đêm trố mắt nhìn vũ nữ vung đít trong các điệu tuýt giựt gân và nghe hát ýe ýe, tôi lại lặn lội ra Phú Phong. Tôi cảm thấy rằng muốn nghe lời phán của vị anh hùng Quang Trung, tôi không có quyền nằm chổng cẳng ở tại nhà, mà tôi phải đến tận nơi mà nghe anh em Ngài khởi nghĩa để chấm dứt cuộc tương tàn do Trịnh Nguyễn tương tranh.

HƯỚNG VỀ Phú Phong, tôi thấy hồn tôi na ná như một tâm hồn của một tín đồ của đạo Hồi, lặn lội về thánh địa là thành La Mecque. Thú thật với quí vị độc giả, và nếu quí vị có mắng chưởi tôi thế nào, thì tôi đành cúi đầu mà nhận chịu, từ thuở bé tôi đã được (hay đã bị) tía tôi rèn luyện cho tôi không theo tôn giáo nào cả. Cái vô tôn giáo của tôi đã có từ xửa, từ xưa, chớ không phải tại ai phết cho tôi lớp sơn bề ngoài đâu! Thế mà, nhơn dịp đi Phú Phong nầy, tôi cảm thấy rằng, tuy tôi không theo tôn giáo nào, tôi không phải là “vô đạo”. Tôi nghe tiềm thức tôi rào rạt mãnh liệt một tâm hồn của người có đạo.
            Nhìn theo ngón tay của người bạn dắt đường, trỏ cho tôi xem núi Kỳ Đảo, tôi nhớ có đọc đó đây, rằng khi Nguyễn Huệ hội tại Bàn Sơn mà làm lễ đội mũ miện và lấy hiệu là Quang Trung, thì nhạc của Tây Sơn hùng vĩ chưa từng thấy; tôi lại nhớ Hà Hồi, quân Tây Sơn chỉ nhờ những hồi trống những hơi tù và, tiếng cồng, mà quân Thanh khiếp vía, hàng đầu ngay. Tôi hỏi bạn, thì ở trong tỉnh, hãy còn đôi người đánh được trống, một lượt mười mấy cái trống, mỗi cái tiếng khác nhau.
            Một mặt, tôi nhớ lời thiết tha của hai anh Bảy Nhiêu và Năm Châu: “Tụi mình mà không làm gì để cứu nhạc võ của ta, thì chắc chắn là sẽ mất tuyệt một truyền thống quí báu vô ngần”. Một mặt, trí tưởng tượng của tôi thấy gần hai trăm năm trước đây, muôn người tụ hội tại núi Kỳ Đảo, mà tế cờ khởi nghĩa, tiếng nhạc võ rền cả một góc trời, rồi trai gái thi đua đi roi múa quyền (bởi thuở ấy, vùng nầy ai cũng biết võ cả). Tôi lại tiếc sao tôi không xuất khẩu thành thi, để sáng tác một thiên anh hùng ca, mà cuộc khởi đầu là cuộc tế cờ để khởi nghĩa tại núi Kỳ Đảo. Tôi lại càng tiếc hơn, sao hồi đó tôi ngu, học toán, đèo bòng làm một nhà toán học để làm gì; phải chi hồi đó học xinê, bây giờ quay một cuộn phim về Tây Sơn, có phải là có lợi cho công chúng hơn không.
            Xe đi qua gần làng của Bùi Thị Xuân. Ba âm tố Bùi Thị Xuân không biết có thần lực mãnh liệt như thế nào, mà câu chuyện tiểu thuyết, đã xây dựng cho anh Khái Hưng viết, sục sục sôi lại trong lòng tôi, khiến cho tôi đặt lại câu hỏi: Gái nước Nam làm gì? Bị câu hỏi ấy ám ảnh, mà khi đến Phú Phong, tôi thấy cô học trò nào, tôi cũng nhìn chòng chọc. Nhìn để cho nhớ mặt. Để một ngày kia có một Quang Trung mới xuất hiện, nàng nào bây giờ là học trò, lại trở thành Bùi Thị Xuân của thế kỷ XX?

MỖI CÁI ĐỒI, mỗi cụm cây, mỗi khóm nhà đều là một di tích của một dân thoại về Tây Sơn. Mỗi đi tích khêu gợi trong lòng tôi những cái nhìn khác thường. Quả là tôi đang sống cái tâm tư của anh tín đồ đạo Hồi Hồi viếng thánh địa La Mecque. Quả tôi là người có đạo. Và thưa quí độc giả, không biết có ai cùng đạo ấy với tôi chăng; vì đạo nầy không có giáo hội, không có giáo điều, không có kinh, không có nghi lễ, mà cũng chưa thấy ai cấp cho cái tư cách pháp nhân nào. Hiện ra thì muôn hình vạn trạng, hành thì triệu triệu tác phong. Nếu bằng vào hình trạng và tác phong, mà tìm người đồng đạo, tôi không thấy ai là đạo hữu của tôi. Vì vậy mà tôi nói rằng tôi không biết có ai cùng đạo ấy với tôi chăng. Nhưng mà qui về cái đạo tâm thì cả thảy chỉ là một. Đạo tâm ấy là lòng yêu nước mẹ. Tôi không dám đặt tên cho đạo ấy là đạo gì. Tôi sợ tên là lời, lời phản ý, ý phản tâm. Âu là để lửng lơ, ai muốn hiểu sao thì hiểu. Không khác nào kẻ đắc đạo mà đọc kinh vô tự vậy.

TRƯỚC NGÀY ẤY, một số nhà trí thức lòng sẵn có cái doute cartésien (sự hoài nghi của người theo phái Descartes), khi nghe nói có những đồng tiền Quang Trung, lật đật đặt câu hỏi:
            – Thật chăng? Hay là tiền giả mạo. Đúc những đồng tiền giả rồi cao rao lên là đồng tiền Quang Trung, để tác động tâm lý của đại chúng, việc nầy ai cũng làm được. Gần hai trăm năm về trước, Nhạc đã đúc “gươm báu”, dựng bia “Nguyễn Nhạc vi vương”. Ngày nay cha đẻ anh chàng Phi Lạc, tên mõ đã bịp khắp thiên hạ, há chẳng có thể đúc tiền giả để bắt chước việc Trương Giác lãnh được thiên thơ?
            Để đáp câu hỏi nầy, ban tổ chức ngày lễ tế Đống Đa tại điện Tây Sơn đã dành cho tôi cái vinh hạnh là khởi sự chương trình bằng cái lễ “khai tế”. Gọi là vinh hạnh, là đối với kẻ bàng quan kìa. Còn trong thâm tâm, họ van vái:
            – Đức Quang Trung ngài có thiêng xin chứng giám khi thằng nầy dưng tiền lên cho ngài xem, rồi mọp mà chịu phán xét trong suốt ba hồi trống và ba hồi mõ nếu thằng nầy lợi dụng uy tín của ngài đúc tiền giả để mưu đồ “bá đạo”, thì ngài hạ lệnh cho thượng tướng Trần Quang Diệu luôn luôn theo hầu ngài, bẻ họng nó liền. Để cho người tin là ngài thiêng. Để răn đời đừng có ai dám bịp thiên hạ mà mưu tư lợi.
            Thật là một cuộc thử thách. Tôi biết tôi, tự tay tôi, tôi không có đúc tiền giả. Nhưng biết đâu, lại đồng tiền không thiệt bởi trước đã do một người đã giả tạo, vì một dụng ý nào đó? Rủi mà như thế thì giữa ba hồi trống, ba hồi mõ, máu họng trào ra, thì ối thôi thôi, mặc tình mà người ta bàn tán. Tiếng trống thứ nhất hạ lệnh. Tôi khép nép run sợ mà bước tới dưng tiền, và mọp mà chờ. Tiếng trống thứ hai ra lệnh cho tôi đừng sợ nữa. Tiếng trống thứ ba dạy tôi ngoáy lỗ tai mà nghe.
            Tôi ngoáy tai nhưng không được nghe tiếng nào cả, ngay những tiếng trống tiếng mõ. Tôi cũng không nghe được lời phán nào của Quang Trung. Nhưng tôi cảm thấy rằng Ngài dạy tôi. Đến ngày nay, thật ra tôi không biết Ngài dạy tôi cái gì nữa. Bởi vì Ngài dạy tôi bằng một thứ “ngôn vô từ”. Trong lòng tôi, từ ở đáy, trồi lên những cái gì không biết, trùng trùng điệp điệp, tạo ra cái phức cảm vô cùng phong phú tạm gọi là lòng yêu nước, cái đạo tâm của cái tôn giáo mà tôi chẳng dám đặt tên là tôn giáo gì. Ba hồi trống dứt. Đáng lý là 108 tiếng. Ba hồi mõ nối theo. Đáng lý là 108 tiếng nữa. Trong thời gian ấy, nếu tôi đọc một bài viết sẵn, thì đã nói được năm ngàn tiếng rồi. Cũng trong thời gian ấy, tôi cảm thấy tôi vừa nghe một bài diễn văn về quân sự, một bài diễn văn về giáo dục, một bài diễn văn về kinh tế một bài diễn văn về xã hội vân vân và vân vân… Những diễn văn ấy chồng chất lên nhau. Đầu óc tôi phàm tục, hiểu không hết, nhớ không xiết cái “ngôn vô từ” của Quang Trung hoàng đế.
            Điều ấy làm cho tôi đừ người, không biết phải làm gì, không biết nên nói gì. Từ ấy cho đến suốt buổi lễ, tôi hóa ra người bị động, mặc tình để cho các em bao vây để chụp ảnh chung làm kỷ niệm, toán nầy nối toán kia.

GẦN ĐÂY, có người từ Bình Khê vào viếng, cho hay rằng ngày ấy, có nhiều người ở xa ba bốn chục cây số, mà phải băng ruộng vượt đèo, để đến nghe tôi nói “một cái gì”. Té ra, chẳng nghe tôi nói cái gì cả, hóa ra thất vọng. Tôi nghe thuật việc ấy, rất cảm động, nên phải viết những dòng nầy.
            Ngày mồng năm tháng giêng rồi, tại điện Tây Sơn đức hoàng đế Quang Trung có nói lời nào cho tôi đâu? Ngài đã “ngôn vô từ”, mà đến nay tiếng Ngài tôi nghe chưa dứt. Mà tôi cảm thấy không thể nào dứt được. Vì tiếng của Ngài cũng là tiếng của lòng tôi. Ngày nào lòng tôi còn yêu nước mẹ, ngày ấy tôi vẫn còn nghe tiếng của Ngài.
            Thưa các bạn muốn nghe tôi nói,
            Tôi là kẻ phàm tục vụng về. Trong năm ba ngàn chữ, tôi nói được bao nhiêu lời, lời ấy có bao nhiêu ý; ý ấy có bao nhiêu tư tưởng hay? Các bạn nghe tôi làm chi cho uổng công? Các bạn hãy bắt chước tôi các bạn lấy một quyển sách khảo cứu về Quang Trung mà đọc cho kỹ, để “dọn mình”. Rồi các bạn bắt chước tôi, đến trước bàn thờ Quang Trung mà mọp trong nửa giờ mà xin Ngài dạy bằng lối “ngôn vô từ”. Các bạn sẽ không nghe tiếng nói của đức Quang Trung. Các bạn sẽ nghe tiếng nói của “lòng yêu nước mẹ”. Nghe xong bạn sẽ phát đạo tâm. Bạn sẽ làm tín đồ của cái tôn giáo mà tôi chưa biết đặt tên là gì, một tôn giáo không giáo hội, không giáo điều, không kinh, không nghi lễ, mà cũng không “tư cách pháp nhân”. Một tôn giáo huyền huyền ảo ảo. Những tôn giáo khác có đông người đắc đạo chăng? Điều đó hãy còn ở trong vòng tranh chấp. Còn tôn giáo của chúng ta thưa các bạn, người đắc đạo đếm khá đông, mà chẳng ai dám hoài nghi giá trị, nào là hai bà Trưng nào bà Triệu, nào Phù Đổng Thiên Vương, nào Bố Cái Đại Vương, nào Lý Phật Tử, nào Ngô Quyền, nào Lý Thường Kiệt, nào Trần Quốc Tuấn, nào Lê Lợi, nào Quang Trung… đó là kể phớt sơ qua mà thôi nhé!

BÌNH KHÊ là một thánh địa của tôn giáo ấy. Tôi rất mong làm sao, mỗi vụ hè, các đoàn thể thanh niên tổ chức nơi ấy một “trại công tác” để cho sinh viên, học sinh có dịp đến viếng thánh địa, như tín đồ Hồi Hồi viếng thành La Mecque. Ai cũng có dịp đi viếng các di tích lịch sử, lượm lặt dân thoại, học một vài đường quyền đường roi, đánh ít hồi trống của nhạc võ.
            Và ai nghe rạo rực trong mình “lòng yêu nước mẹ” thì ngày ngày đến điện Tây Sơn mà lạy đức Quang Trung, mà xin ngài dạy cho bằng lối “ngôn vô từ”. Biết đâu trong đám tín đồ trẻ trung của các tôn giáo nầy, lại có một chàng, hay một nàng được mặc khải mà viết những trang sử mới cho dân tộc.


(Rằm tháng Giêng năm Bính Ngọ)
HỒ HỮU TƯỜNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 9

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 04/11/2017, 16:08:06
ĐÍNH CHÍNH MỘT VÀI ĐIỂM SAI LẦM TRONG LỊCH SỬ NHẬT BẢN VỀ ĐẠI CUỘC KHÁNG NGUYÊN Ở VIỆT NAM

GIỮA KHOẢNG đầu thế kỷ 13, giống người Mông Cổ, người ta thường gọi là “con Gấu Bắc Cực” vươn mình đứng dậy cắn vồ dày xéo nhân loại, từ Á sang Âu.
            Dưới vó ngựa Thành Cát Tư Hãn và Hốt Tất Liệt tới đâu như ở đó không người, thôn tính hết Âu rồi sang Á và Trung, cận Đông.
            Ngoại trừ chúng chỉ đại bại tại Nhật Bản và Việt Nam (quân dân nhà Trần).
            Hai cuộc chống xâm lăng của hai dân tộc Việt-Nhật anh dũng vô song đó, không những lúc bấy giờ mà cho mãi tới nay thế giới còn phải kính phục.
            Tiếc thay, khi chép lịch sử cuộc kháng Nguyên của dân tộc mình các sử gia Nhật Bản đã vô tình hay cố ý bỏ sót cuộc kháng Nguyên của dân tộc Việt, hay nói khác hơn họ không công nhận đại cuộc kháng Nguyên ở Á Đông ngoài Nhật Bản còn có Việt Nam mà chỉ nhận vai trò độc nhất của họ.
            Trước khi đi vào chi tiết lịch sử, chúng tôi thiết tưởng cần phải làm một bản kê khai sự việc lịch sử theo niên biểu sau đây:
            Một bên là Việt Nam và sự việc đã xẩy ra theo niên biểu.
            Một bên là Nhật Bản và những sự việc đã xẩy ra kê biên rõ như thế, để đối chiếu:


VIỆT NAM
            1257.– Bắt giam sứ Mông Cổ. Tướng Nguyên Ngột Lương, Hợp Thái từ Vân Nam xuống chiếm Thăng Long. Việt Nam phản công, Hợp Thái bị thua ở Đông Bộ Đầu, ở Quy Hóa, phải rút chạy về Vân Nam.
            1257.– Sứ thần Nguyên là Nột Loạt Đan sang yêu sách triều cống và bắt vua Trần Thánh Tông sang chầu Thiên triều, bị ta cự tuyệt.
            1263.– Sau bao cuộc giao thiệp bằng công hàm qua lại, để tránh sự chiến tranh, Việt Nam chấp nhận nạp cống vật. Nhưng không phải mỗi năm, mà là ba năm một lần.
            1266.– Việt Nam từ khước chịu cung cấp nhân tài như nho sĩ, y sĩ, thợ mộc, thợ nề giỏi. Lúc đó sứ thần Nguyên qua lại như mắc cửi hoạnh họe đủ điều. Nhưng Việt Nam vẫn cứ làm thinh.
            1271.– Tháng 3 sứ Nguyên tới Việt Nam vời vua Trần Thánh Tông sang chầu Thiên triều. Trần triều không chấp nhận.
            1275.– Trần Thánh Tông chống lại sứ nhà Nguyên đòi đặt chức Giám sát Hành chính tại triều đình cũng như các chức vị cố vấn hiện đại.
            1276.– Nguyên lại cho Sứ sang một lần nữa, đòi vua Việt Nam sang triều cống. Nhưng lại một lần nữa bị kháng lệnh.
            1282.– Nguyên lại cho Sứ sang triệu vua Trần Nhân Tôn sang triều cống. Nhà vua phái người đi thay. Sau đó nhà Nguyên phái Tuyên Phủ Ty sang giám sát các châu huyện Việt Nam, bị đuổi về nước. Sau đó nhà Trần phái quân lên Lạng Sơn đánh tan bọn bù nhìn do Nguyên Thế Tổ phong vương. Bọn Sài Thung bị thương mù mắt bỏ chạy về Tàu.


NHẬT BẢN
            1268.– Sứ Nguyên khởi sự yêu sách, bắt phái sứ thần sang chầu và cống hiến phẩm vật. Trước sự yêu sách láo xược ấy, Mạc Phủ từ chối.
            1271.– Sứ Nguyên tới Thái Tề phủ, đòi Hoàng gia Nhật sang Thiên triều dâng cống vật, Mạc Phủ không trả lời.
            1274.– Mùa Thu tháng 9 quân Nguyên kéo từ Triều Tiên tiến đánh sang, chiếm các đảo Đối Mã, Nhật Kỳ, rồi tới vịnh Bạc Đa, nã thần công và đổ bộ. Nhưng rồi bị bão to, chiến thuyền bị chìm hết.
            1276.– Sứ Nguyên tới Trường Môn, đòi tới kinh đô để gặp Hoàng gia ở Liêm Xương. Nhưng khi Trấn Tây Thám Đề ở Cửu Châu đưa đoàn Sứ giả về tới kinh đô, theo truyền thuyết: Đoàn sứ giả này bị Mạc Phủ giết sạch.
            1279.– Sứ Nguyên lại tới, Mạc Phủ hạ lệnh giữ sứ giả ở Bạc Đa. Sau đó sứ Nguyên phải trở về không.
            1281.– Quân Nguyên gồm một ngàn chiến thuyền và mười vạn quân, từ Triều Tiên, Phúc Kiến đánh sang Cửu Châu. Mang theo nhiều nông cụ, với kế hoạch “chiến canh tương hỗ”. Đầu tháng 7 đánh chiếm Đối Mã, Nhật Kỳ, Hạc Đảo, Bạc Đa, Phi Tiêu.
            Nhưng rồi ngày mồng 1 tháng 7 nhuận bị một trận bão khủng khiếp, bao nhiêu chiến thuyền và binh bị đắm hết.
            Cuộc xâm lăng Nhật Bản của Mông Cổ, tới đây bị thiên tai kết thúc. Vì vậy mà người Nhật thường bảo rằng: Nước Nhật là của Thái Dương Thần Nữ, dành cho giống người Phù Tang, không ai có thể đánh chiếm được.

SO SÁNH niên biểu trên đây (tại Nhật Bản năm 1281, tại Việt Nam năm 1282) thì ta thấy rằng: Cuộc kháng Nguyên của nước Nhật tới đây là kết liễu. Trái lại ở Việt Nam còn phải trải bao gian nan, ác liệt nữa mới đi tới toàn thắng.
            Chúng ta hãy đọc tiếp sau đây:
            1283.– Mông Cổ huy động năm mươi vạn quân thủy bộ do Hoàng tử Thoát Hoan chỉ huy tiến đánh Việt Nam bằng hai đường Thủy lục: Lạng Sơn (lục), Thanh Hóa (thủy).
            1284.– Trước họa tổ quốc bị xâm lăng, Trần Nhân Tôn mở hội nghị Diên Hồng, toàn dân quyết chiến.
               – Hưng Đạo Vương bị thua ở Lộc Châu và Chi Lăng.
               – Thăng Long thất thủ, toàn trấn Kinh Bắc tràn ngập quân Nguyên.
               – Nghệ An thất thủ, Trần Nhân Tôn bỏ chạy vào Thanh Hóa.
            1285.– Trần Nhật Duật đại thắng quân Nguyên ở Hàm Tử quan.
               – Trần Quang Khải đại thắng ở Chương Dương.
               – Thoát Hoan bỏ Thăng Long chạy sang Bắc Ninh.
               – Hưng đạo Vương thắng quân Nguyên ở Tây Kết, Nguyên tướng Toa Đô tử trận, Nguyên quân định do đường thủy rút chạy về Tàu, ta chặn đánh đại thắng ở Vạn Kiếp. Toàn thủy, lục Nguyên bị tan vỡ. Thoát Hoan chui vào ống đồng để thoát hiểm, sau đó do đường Lạng Sơn trốn về Tàu. Chỉ có sáu tháng, từ tháng chạp năm 1284 đến tháng sáu năm 1285, ta quét sạch năm mươi vạn quân Mông Cổ đã lan tràn khắp nước.
            1286.– Tuy đại bại nhưng vẫn chưa hết ngoan cố, Nguyên Thế Tổ còn cố gắng phục thù, bằng phương pháp tạm đình chỉ việc thôn tính Nhật Bản, dốc hết thủy lục quân ở mặt trận Nhật Bản dồn cả vào mặt trận Việt Nam mong để phục thù vãn hồi lại tình thế.
            Nếu như bảo rằng: “Lịch sử là một sự lặp lại” thì trường hợp này có những điểm dị đồng với thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh tái chiếm thuộc địa ở Đông Dương.
            Điểm tương đồng: Chịu bỏ Đông Dương để dốc hết quân số và vũ khí sang tái chiếm Algérie.
            Điểm dị biệt: Đem cái Đông Dương khi đã bại làm vật bảo đảm. Để lấy viện trợ tiền và vũ khí dùng cho việc tái chiếm Algérie. Nhưng rồi cả đôi “xôi hỏng bỏng không” thì lại là một câu chuyện ngoài ý muốn của họ.
            1287.– Mùa xuân tháng hai. Thoát Hoan lĩnh ba mươi vạn quân do hai mặt thủy lục đánh vào Việt Nam lần thứ hai. Thoát Hoan chiếm lại Vạn Kiếp, lại xuống vây Thăng Long, nhưng không chiếm nổi, Trần Nhân Tôn lánh vào Thanh Hóa. Nhưng rồi bao nhiêu lương thảo của quân Nguyên bị Trần Khánh Dư phục kích phá sạch ở Vân Đồn.
            1288.– Quân ta đại thắng quân Nguyên ở Bạch Đằng, thượng tướng Ô Mã Nhi bị bắt, năm mươi vạn quân Nguyên lại một lần nữa bị đánh tan; Thoát Hoan cũng lại một lần nữa bỏ trốn về Tàu.
            1289.– Sau khi đại thắng quân Nguyên hai lần, ta trao trả hết tù binh, rồi đặt lại liên lạc ngoại giao trên nguyên tắc bình đẳng.
            Sau khi đọc hết bản so sánh sự việc trong đại cuộc kháng Nguyên của hai dân tộc Nhật Việt, đã được ông Châm Vũ kê biên trong tác phẩm “Nhật Bản sử lược Tập II trang 174”, ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng:
            Đại cuộc kháng Nguyên của dân tộc Việt Nam quả là trường kỳ và vĩ đại hơn cả dân tộc Nhật Bản.
            Ấy thế mà các sử gia Nhật Bản khi chép lịch sử kháng Nguyên của họ họ đã cố ý bỏ quên đi. Đành rằng khi chép lịch sử của mình, họ có quyền không nói tới. Nhưng họ không có quyền nhận xét sai lầm với những tương quan lịch sử. Ví dụ những câu:
             “An Nam cũng bị nhà Nguyên thôn tính” và “Nhật Bản là nước duy nhất ở Á Đông còn sót lại ở ngoài vòng đế quốc Mông Cổ”.

ĐỂ XÁC NHẬN thêm, ta hãy đọc lại lịch sử Nhật Bản:
            Theo bộ sách “Mông Cổ chi lai tập” tiếng Nhật gọi là: “Môkô no Raishu” có đoạn chép như vầy:

             “Tới đầu thế kỷ 13, khi nhà Tống bắt đầu suy nhược để bị người nước Kim ở phương Bắc đánh thua phải chạy xuống miền nam lập nhà Nam Tống ở hạ lưu Dương Tử giang thì đồng thời các bộ lạc du mục tại Nội, Ngoại Mông cố kết hợp nhau lại và trở nên cường bạo dưới quyền chỉ huy của Thành Cát Tư Hãn (Zingisukan).
             “Tướng này trước hết đem quân lực đánh chiếm các nước phương tây rồi quay lại đánh chiếm nước Kim, thu phục Cao Ly, diệt Nam Tống cai trị từ Vân Nam, Tây Tạng, An Nam ở phương nam Á châu đến Nga La Tư, Ba Lan, các nước phương tây, tạo nên một vùng trời Đế quốc bao la rộng lớn”.

            Lại ở một đoạn khác viết:

             “Vào khoảng sơ kỳ của Liên Xương, Mạc Phủ tiểu thời đại, nhất là trong những năm cuối thế kỷ mười hai nói chung về phía trời đông như Triều Tiên, Mãn Châu và Hoa Bắc thuộc về nhà Kim, Hoa Trung và Hoa Nam thuộc về nhà Tống còn về mạng Bắc thuộc về các bộ lạc du mục tại Cao nguyên Mông Cổ. Đến thời Thế tổ Hốt Tất Liệt (Fubirai), Mông Cổ trở nên toàn thịnh thống nhất được Trung Quốc, dựng lên nhà Đại Nguyên, rồi đánh chiếm luôn các nước chung quanh, ngoại trừ Nhật Bản là quốc gia duy nhất còn sót lại…”

            Đọc lại đoạn văn trên đây, ta thấy có những ngộ nhận đáng tiếc của các Sử gia Nhật Bản, đúng như lời nhận xét của ông Châm Vũ trong bộ “Nhật Bản sử lược” của ông.
            Ông Vũ viết:

             “Như vậy, về ghi chép chung của Sử liệu Nhật Bản, chỗ thì ghi rõ “An Nam bị nhà Nguyên cai trị” chỗ thì ghi “đánh chiếm luôn các nước xung quanh Trung Quốc”; tức trong đó có cả Việt Nam, chứng tỏ từ xưa tới nay, người Nhật Bản vẫn học và vẫn tin rằng, trong phạm vị Đế quốc Mông Cổ có cả Việt Nam. Và lại, theo mấy đoạn văn trích dẫn trên: “cả Á châu chỉ Nhật Bản là quốc gia duy nhất không bị Mông Cổ đánh chiếm, cai trị”.
             “Không bị người Mông Cổ hung hãn chiếm hầu hết Á và Âu cùng Trung Cận Đông cai trị là ở trong hai tiếng “không bị” ấy có chứa đựng sự kiêu hãnh riêng của nước Nhật, mà dân tộc khác không có được.
             “Trước minh chứng lịch sử, Việt Nam không bị nhà Nguyên cai trị, ngược lại, đại cuộc kháng Nguyên của dân tộc Việt, còn cứu được Đông Nam Á châu trước họa xâm lăng của đế quốc Mông Cổ, và còn giúp cho Nhật Bản được dễ hơn trong cuộc chiến thắng Mông Cổ. Vì khi Mông Cổ đại bại ở Việt Nam, Mông Cổ phải đành bỏ mặt trận Nhật Bản để dốc toàn lực sang Việt Nam tái chiếm trả thù”.

NGOÀI NHỮNG điểm trên, chúng ta cũng cần nêu một điểm sau này nữa.
            Chương trình Mông Cổ thôn tính Á châu, được chia ra làm ba:
            – Trước nhất là đánh Tàu (tiền chiếm Trung Nguyên).
            – Thứ hai là đánh Việt Nam và Nhật Bản (thứ chiếm Việt Nhật).
            – Sau hết là Đông Nam Á (hậu chiếm Đông Nam Á).
            Vì vậy, sau khi thôn tính được Trung Hoa rồi, Mông Cổ bắt đầu đánh Việt Nam lẫn Nhật Bản trong cùng một thời gian, như ta đã thấy ở bản kê niên biểu sự việc trên.
            Lại theo lá thư của vua Mông Cổ gửi cho vua Trần Nhân Tôn trong năm 1282 xin mượn đường Việt Nam sang đánh Chiêm Thành, càng rõ ràng hơn nữa, Mông Cổ chỉ lấy Việt Nam làm bàn đạp để đánh xuống Đông Nam Á.
            Bởi vậy, đã vì lý do nào mà buộc nhà Nguyên phải bỏ dở chương trình đánh Nhật và không thực hiện được mộng xâm lăng toàn cõi Á châu! Nếu không phải là chúng đã bị Việt Nam bẻ gãy trong bước đầu.


KẾT LUẬN
            Qua những dòng lịch sử đã được trình bày trên, chúng ta có thể tạm kết luận rằng:
            Công cuộc kháng Nguyên của Việt Nam đã làm tan vỡ chương trình thôn tính toàn bộ Đông Nam Á của Nguyên Thế Tổ và cũng có lợi cho Nhật Bản rất nhiều. Bởi là rất giản dị là nếu Việt Nam bị thua đến nỗi bị nhà Nguyên thống trị thực sự như sử liệu Nhật Bản đã ghi chép, thì tất nhiên nhân đà thắng ấy, quân Nguyên đã tràn thẳng xuống Đông Nam Á để thực hiện mộng xâm lăng vùng này và cũng sẽ dốc toàn lực sang đánh Nhật Bản lần thứ ba nữa (vì hai lần trước bị bão tố chiến thuyền bị đắm hết) để rửa cái nhục hai lần trước chưa đánh mà đã bị thua.
            Lúc bấy giờ Nhật Bản có bị Mông Cổ chiếm hay không đó chỉ là một sự ức đoán. Nhưng có điều chắc chắn rằng, cảnh núi xương sông máu không sao thoát khỏi.
            Cho nên việc đại thắng quân Nguyên luôn ba trận trong những năm 1257, 1285 và 1288 của Việt Nam, không những tự cứu được mình mà còn tránh cho Nhật Bản và Đông Nam Á cảnh chiến tranh tang tóc nữa.
            Một chính trị kiêm quân sự gia Đông phương cổ – ông Vương An Thạch – có nói: “Lấy chiến tranh để chấm dứt chiến tranh thì chiến tranh ấy cũng là một sự hợp lý” (Dĩ chiến chỉ chiến, tuy chiến khả giả).
            Quả đúng với cuộc kháng Nguyên của dân tộc Việt Nam vậy.
            Sau cuộc chiến tranh Đông Dương (1946-1954) nhiều tài liệu được xuất bản ở Pháp, viết lại sự việc trong 9 năm kể cả trận Điện Biên Phủ một cách tương đối khách quan và tôn trọng sự thật. Vậy ta thử so sánh:
            – Một đường người pháp công nhận điều thất bại của mình cùng những sự thắng lợi của đối phương, để bảo tồn sự thật.
            – Một đường người Nhật, không chịu nói sự thắng lợi của bạn, để độc chiếm địa vị ưu việt của mình.
            Đứng trên quan điểm Sử học ta thấy hơn thua nhau ở chỗ đó.


TƯ HỒNG

____________________________________________
Tài liệu tham khảo
1.– Nước Nhật Bản 30 năm Duy Tân – Đào Trinh Nhất.
2.– Nhật Bản sử lược – Châm Vũ.
3.– Việt sử tân biên – Phạm Văn Sơn.
4.– Việt Nam sử lược – Trần Trọng Kim.
5.– Việt Nam tranh đấu sử – Phạm Văn Sơn.
6.– Ẩm Băng Thất toàn tập – Lương Khải Siêu.
7.– Thánh tích Đức Thánh Trần – Hội Bắc Việt tương tế.


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 9

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 11/11/2017, 05:07:58
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 10  [tháng 4 năm 1966 |  104 trang]

MỤC LỤC
Thơ xưa |  Vịnh hoa cúc (thơ) |  2
Tản Đà |  Vịnh bức dư đồ rách (thơ) |  2
Trụ Vũ |  Tiếng mẹ (thơ) |  3-6
Thái Luân |  Anh hùng (thơ) |  7-8
Dạ Giao Đằng |  Chuyện thời chiến tranh Pháp-Việt (thơ) |  9-12
Kiêm Minh |  Đường sông, nét bút |  13-16
Thiếu Sơn |  Nhà văn phải làm gì để giữ thơm quê mẹ? (tiểu luận) |  17-20
Duy Lê |  Tiếng hát trên đường vũ bão |  21-27
Hồ Hữu Tường |  Cóc cần |  28-32
Đông Tùng |  Quan Vân Trường có xứng đáng là một vị thần đứng đầu võ miếu Việt Nam không? (tiểu luận) |  33-42
Hằng Hà Sa |  Nhọt bao tử |  43-46
Chinh Văn |  Buổi sớm |  47-50
Nhất Hạnh |  Nói với tuổi hai mươi (tiểu luận) |  51-57
Trần Đông Phương |  Cô bé tia sáng mặt trời |  58-67
Trần Nhật Nguyệt |  Sao biển |  68-70
Chinh Ba |  Tóc |  71-74
Sơn Nam |  Tìm cây kiểng đẹp |  75-80
Vương Pển Liêm |  Đường lối giáo dục cộng đồng ở thành thị và nông thôn (tiểu luận) |  81-87
Lê Kim Sơn |  Gió Thạch Vưu |  88-90
Thi Vũ |  Người nuôi mọt |  91-93
Trụ Vũ |  Chiếc kẹo “sơ-vinh-gum” |  94-98
T.V. |  Hộp thư tòa soạn |  99
G.T.Q.M. |  Giới thiệu sách báo mới |  100
Quảng cáo |  101-104


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 11/11/2017, 05:18:11


            Vịnh hoa cúc

            Bể ai tát cạn, núi ai dời
            Mà giống da vàng vẫn tốt tươi
            Tiết lạnh dãi dầu gan đá thắm
            Gió xuân đưa đón nhụy vàng phơi
            Thử đem bông trắng mà so sánh
            Mới biết ông xanh khéo vẽ vời
            Còn giải non xanh, còn nước biếc
            Hãy còn vàng thắm lúc nào phai.


                                              THƠ XƯA


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 10

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 11/11/2017, 05:35:10


            Vịnh bức dư đồ rách

            Nọ bức dư đồ thử đứng coi,
            Sông sông, núi núi, khéo bia cười
            Biết bao lúc mới công vờn vẽ
            Sao đến bây giờ rách tả tơi
            Ấy trước ông cha mua để lại
            Mà sau con cháu lấy làm chơi!
            Thôi thôi chớ trách chi đàn trẻ
            Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi.


                                              TẢN ĐÀ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 10

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 11/11/2017, 05:56:10


            Tiếng mẹ
                                                tặng Hoàng Tổng

                        Thôi xin
            Thôi xin ngưng tiếng hận thù
            cho con tôi được tiếng ru đưa đường
            chỉ cần những tiếng ru thương
           “công cha như núi Thái Sơn”… ngọt ngào
            là con được thấy trời cao
            là con được thấy đường nào con đi.

            thôi xin ngưng tiếng sân si
            tiếng dơi tiếng quạ tiếng gì tối đen
            cho me tôi được bình yên
            lắng nghe những tiếng gió hiền bên sông
            tiếng cành dâu tiếng cành bông
            tiếng tơ tiếng lụa tiếng trầm tiếng hương.

            thôi xin ngưng tiếng đoạn trường
            cho em tôi được nghe hồn bồ câu
            trời sinh chim để yếm âu
            trời sinh suối để ngọt ngào cho hoa
            trời sinh nắng để chan hòa
            trời sinh hoa để thiết tha với người
            trời sinh em để mỉm cười
            hăm lăm năm ấy, thật đời phi nhân.



                        Sao không
            Sao không cất tiếng tương thân
           “anh em như thể tay chân” ruột rà
           “anh em cùng mẹ cùng cha
            cùng chung bác mẹ”, nỡ mà thế… sao?
            sao không cất tiếng ngọt ngào
            tiếng hương tiếng nguyệt tiếng sao đêm rằm
            tiếng dòng sông tiếng nghìn năm
            sao không xướng họa tiếng bằng Việt Nam?

            sao không cất tiếng kim lan
            tiếng Lưu Dương, nghĩa đá vàng biển sông
            sao không cất tiếng tơ đồng
            cất chi những giọng hãi hùng máu xương?

            sao không cất tiếng quê hương
           “mẹ già như chuối ba hương”… ngọt ngào
            sao không cất tiếng ca dao
           “lên non cho biết non cao”… mặn nồng.



                        Lời ru của mẹ
            Mẹ sinh đứa con đầu lòng
            mẹ dạy hai tiếng đầu lòng: YÊU THƯƠNG
            thương đời thương nước thương non
            thương cha thương mẹ lại thương hòa bình.(1)

            Mẹ ru con bằng câu kinh
            A Di Đà Phật… “giữ mình sạch trong”.

            Mẹ sinh đứa con đầu lòng
            mẹ dạy hai tiếng đầu lòng: NƯỚC NON
           “con ơi con ngủ cho ngon
            để mẹ đi gánh nước non cho đầy”…
           “trông trời trông đất trông mây
            trông mưa trông gió trông ngày trông đêm
            trông cho chân cứng đá mềm”…
            để cho dân tộc bước lên hòa đồng
            mẹ sinh đứa con đầu lòng
            mẹ dạy hai tiếng đầu lòng: VIỆT NAM
            ân tình chứa chứa chan chan
            trăm xe không đổi, nghìn vàng không trao.



                        Tiếng ru
            Tiếng ru mỗi độ càng cao
            nguồn khơi Hy Mã, nước dào Cửu Long
            thương về “giòng Phố nước trong”
            thương lên “chín chín ngọn Hồng” sử xanh
           “đường vô xứ Huế loanh quanh
            non xanh nước biếc như tranh họa đồ
            yêu em anh cũng muốn vô
            sá ngại truông Hồ hay phá Tam Giang”…

            Lên cao muôn trượng núi Tràng
            ngắm xem một đóa hoa vàng tốt tươi.
            này cô gái Cửu Long ơi
            còn ta. Còn bậu mặt trời còn xanh.



                        Mẹ ta
            Ai quên quê mẹ cho đành
            ta còn giữ lấy tấm hình mẹ ta
            hiên ngang một giải sơn hà
            bốn phương vang dậy khúc ca anh hùng

            mẹ ta: sắc áo nâu sồng
            mẹ ta: đôi mắt dịu lòng Hương Giang
            mẹ ta: tim thép gan vàng
            vững thân đại thụ chở đàn bồ câu
            tình thương vượt núi rừng sâu
            áo nâu về tận Cà Mâu lẫy lừng
            tình là núi, nghĩa là sông
            mẹ ta: thân thể Lạc Hồng quang vinh
            ôi nguồn sữa mẹ ái tình
            lúa thơm, mía ngọt cho mình với ta…
            suối Phương Đông dội chan hòa
            tóc thiêng mẹ kết đóa hoa Ưu Đàm.



                        Ai đi quên chuyện đá vàng
            Ai đi quên chuyện đá vàng
            để mơ một giấc mơ tàn phương xa
            ta về vun xới vườn ta
            có ngô, có đậu, có cà, có khoai
            tình mai ý trúc láng lai
            đêm thu đối nguyệt ngâm vài “tân thanh”

            … “như nàng lấy hiếu làm trinh
            bụi nào đục được cái mình ấy vay
            trời còn để đến hôm nay
            tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời
            hoa tàn mà lại thêm tươi
            trăng già mà lại hơn mười rằm xưa…
            … kể từ sen ngó đào tơ
            mười lăm năm ấy bây giờ là đây!…”



                        Bé thơ hồng ngủ
            Thôi xin ngừng tiếng gió ai
            để cho ta hát một bài Phương Nam
            cho em giữ ngọc gìn vàng
            cho me được thấy hoa tàn thêm tươi
            cho con được nở nụ cười
            bé thơ hồng ngủ thơm nôi thái bình
.


                                              TRỤ VŨ
                                              Việt Nam, 11-9-2509

____________________________
(1) Hòa bình trong tự do dân chủ.


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 10

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 12/11/2017, 05:29:44


            Anh hùng

            A chào anh hùng
            Chào anh hùng mạnh giỏi
            Chào anh hùng oai phong

            – Này thằng kia mày là ai?
            Mày là ai mà chào đón
            Mày là ai mà mỉm cười
            Thằng kia mày là ai
            Mày là ai mà rách nát
            Mày là ai mà xanh xao
            Mày là ai mà ốm thế

            – Thưa ông tôi mũi tẹt
            Thằng □ □ ho lao
            Ho lao vì cúi xuống, ngẩng lên chóng mặt
            Ho lao vì gọi không thành lời
            Ho lao vì không được khóc
            La hét cho đã hơi…

            Dạ người □ □ ho lao ốm yếu
            Chào đón anh hùng được không?

            – Thưa anh hùng
            Thưa anh hùng to lớn như người ngoại quốc
            Thưa anh hùng sang trọng như dân Mỹ châu
            Thưa anh hùng của dân tộc
            Quê hương anh hùng đâu?

            Thưa anh hùng nói gì tôi không hiểu
            Anh hùng vừa nhắc đến Việt Nam à
            Anh hùng cười gì tôi không hiểu
            Hãy cám ơn anh hùng bắt tay chúng ta

            Còn mẹ, mẹ Việt Nam cũng cám ơn chứ
            Cám ơn đi mẹ
            Mẹ có con được □ □ tôn anh hùng
            Mẹ hãnh diện lắm không.

            Ôi tôi chóng mặt, tôi mửa ra máu
            Việt Nam khốn khổ ơi!
            Việt Nam chiến tranh, vô phước ơi!

            Chào đàn kiến tha mồi trong đêm
            Chào ghế bàn, chào cơm nguội
            Tụi bây có biết □ □ anh hùng không?

            Tôi thật là mất dạy.


                                              THÁI LUÂN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 10

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 12/11/2017, 05:55:27


            Chuyện thời chiến tranh Pháp-Việt
***
                        Chơi xỏ
            thằng ma-rốc-canh chơi xỏ
            nó nói tao chỉ bắn những thằng Việt Nam nào trong người có máu đỏ
            và mỗi ngày nó bắn một trăm người một ngàn người
            thằng ma-rốc-canh chơi xỏ
            vì máu ai không đỏ
            máu của những con người
            bị nó bắn chết tươi



                        Đối thoại
            dạ thưa ông tôi là người quốc gia
            vì tôi yêu nước yêu nhà
            vì tôi muốn xứ sở tôi độc lập
            vì tôi muốn anh em tôi cầm sắt vui hòa
            dạ thưa ông ông nói ông sang đây để giúp những người quốc gia
            xin ông đừng bắn tôi mà

            thằng việt nam nói với thằng ma-rốc-canh như thế
            trong một chiều trên bãi tha ma

            à mày yêu nước hả
            tao bắn mày chết cha



                        Lời le clerc
            hỡi thằng dân Việt Nam
            mày sẽ có tự do
            bây giờ thì cái còng

            hỡi thằng dân Việt Nam
            mày sẽ có dân chủ
            bây giờ Nguyễn Văn Tâm

            hỡi thằng dân Việt Nam
            mày sẽ có nhân quyền
            bây giờ tao hô nghiêm
            – NGHIÊM!

            hỡi thằng dân Việt Nam
            mày sẽ có tự quyết
            bây giờ tao là LE CLERC

            hỡi thằng dân Việt Nam
            mày sẽ có hòa bình
            bây giờ cho quả bom
            (ăn đi con!)



                        Tam đoạn luận
            chính quyền là của nhân dân
            nhân dân là ông Ngô Đình Diệm
            chính quyền là của ông Ngô Đình Diệm

            chính quyền là của ông Trần Văn Hữu
            chính quyền là của ông Nguyễn Văn Tâm
            dạ thưa ông cũng theo tam đoạn luận
            chính quyền là của thực dân



                        Ông nầy
            ông này là ông thánh
            không phải người Việt Nam

            mặc dầu tấm thân ông
            do cha sinh mẹ dưỡng
            bát cơm hẩm mắm cà
            nuôi ông thành khôn lớn

            kể ông cũng khôn ngoan
            làm Việt Nam chi dại
            khi thằng Tây tới hỏi
            tay cầm súng gườm gườm
            ê mày là Việt Nam
            ông xềnh xang đáp lại
            dạ thưa ông không phải
            tôi là thánh ông ơi
            nhờ ông khéo trả lời
            nên đời ông sống mãi

            nhưng cái nghĩa thịt xương
            tình cây da bến cũ
            ban đêm ông nằm ngủ
            ông nhớ mẹ nhớ cha
            ông nghe mùi mắm cà
            thoảng ra từng hơi thở

            khi ông còn hơi thở
            ông còn là Việt Nam



                        Bán
            à bây giờ mày đã nghèo rồi
            mày có cái gì mày bán tao mua

            dạ thưa ông tôi có ngôi nhà
            của ông cha để lại
            ờ mày bán tao mua

            dạ thưa ông tôi có chiếc nhẫn vàng
            của vợ chồng kỷ niệm
            ờ mày bán tao mua

            dạ thưa ông tôi có cái nồi đồng
            để nấu cơm hàng bữa
            ờ mày bán tao mua

            dạ thưa ông tôi không còn một thứ gì
            đáng giá một đồng xu

            kìa kìa mày còn có cái gì mang giữa ngực
            mày bán tao mua
            dạ thưa ông cái này không bán được
            đó là bài thơ



                        Giải nghĩa dùm
            dạ thưa ông nước chúng tôi độc lập
            chính ông đã bảo rồi mà
            dạ thưa ông sao ông còn cướp của
            dạ thưa ông sao ông còn đốt nhà
            dạ thưa ông sao ông còn nướng chả
            dạ thưa ông sao ông còn hãm đàn bà

            dạ thưa ông vì sao tôi không hiểu
            dạ thưa ông xin ông giải nghĩa dùm


                                              DẠ GIAO ĐẰNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 10

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 18/11/2017, 11:28:53
NHÀ VĂN PHẢI LÀM GÌ ĐỂ GIỮ THƠM QUÊ MẸ?

MỚI ĐÂY, một sinh viên văn khoa lại kiếm tôi để phỏng vấn nói là đại diện cho giáo sư và những anh em cùng lớp muốn hỏi tôi về một vài vấn đề liên quan tới văn học thời tiền chiến.
            Tôi không mấy thích nhắc lại những chuyện xa xưa, nhưng vì không muốn phụ lòng một người bạn trẻ tôi không thể không nói lại cho anh nghe những cái mà anh muốn biết ở một thời đại mà anh cần nghiên cứu.
            Anh muốn biết những động cơ đã thúc đẩy cho tôi lựa nghề văn, vì sao tôi lựa bộ môn phê bình, những bước đầu của một nhà văn hồi tiền chiến và những cuộc bút chiến mà tôi có tham dự về duy tâm duy vật, nghệ thuật vị nghệ thuật và nghệ thuật vị nhân sinh v.v…
            Tôi không có ý viết lại đây cuộc phỏng vấn vì việc đó là việc của người tới phỏng vấn chứ không phải là việc của kẻ bị phỏng vấn. Nhưng nhơn ôn lại những chuyện xưa với người bạn trẻ tôi như tỉnh giấc mơ mà nhớ tới một vài kỷ niệm, rút ra được một vài kinh nghiệm, có thể có bổ ích phần nào cho những người cầm bút ở thế hệ hôm nay.

TRƯỚC HẾT, tôi nhớ lại cái không khí và hoàn cảnh của xã hội Việt Nam hồi 40 năm về trước.
            Tôi sống trong một gia đình trung lưu. Cha tôi là một công chức. Cha tôi mua năm “Đông Dương tạp chí” rồi kế tiếp mua “Nam Phong”. Vốn học ở nhà trường tôi rất ít nên đọc những tạp chí nói trên tôi thấy rất có hứng thú và coi như những sách học của tôi. Những nhà văn có tên tuổi hồi đó tôi coi như là những ngôi sao Bắc Đẩu, lấy các ông làm kiểu mẫu và coi các ông như bực Thầy. Tôi thấy rằng tôi không bao giờ có thể đứng ngang hàng hay vượt cao hơn những ngôi sao đó. Tôi khổ luyện để viết nên được những bài văn và tôi sung sướng khi tôi thấy văn tôi được đăng trên báo, bút hiệu của tôi được để gần với những bút hiệu của những ông thầy. Tôi càng thành công bao nhiêu tôi càng thỏa mãn bao nhiêu, tôi càng thấy tôi cách biệt với xã hội bên ngoài và không mấy quan tâm đến những phong trào tranh đấu của dân tộc. Năm 1930 có cuộc khởi nghĩa của Việt Nam Quốc Dân Đảng, một số liệt sĩ phải lên đoạn đầu đài. Tôi cũng xúc động như một phần lớn nhân dân đã xúc động. Nhưng tôi chê họ không thức thời và đã “vọng động tự khi”. Tôi còn ngang nhiên viết lên tạp chí Nam Phong để nói lên những ý kiến của tôi. Bây giờ người ta cho những ý kiến đó là phản động nhưng hồi đó tôi đâu có biết tôi phản động. Tôi đã đi đúng đường lối của những ông thầy và cho như thế là phải.

HỒI ĐÓ, tôi cho rằng văn chương là một cái gì cao quí, không thể đánh giá bằng tiền bạc nên không bao giờ tôi đòi tiền nhuận bút và cũng không bao giờ người ta trả tiền nhuận bút cho tôi. Nhơn đó mà tôi nghĩ rằng phải có một nghề thứ hai để nó nuôi sống nhà văn. Tôi thì vô làm thơ ký sở Bưu Điện và đổi vào làm việc ở trong Nam. Lần đầu tôi làm quen được những ông Phan Khôi, Đào Trinh Nhất, Bùi Thế Mỹ, Diệp Văn Kỳ…
            Tôi giao thiệp với ông Phan Khôi nhiều nhứt vì chính ông đã nâng đỡ tôi rất nhiều khi tôi bắt đầu viết ở Phụ nữ Tân văn và viết một loạt bài “phê bình nhân vật”. Ông Phan đã sửa chữa những vụng về trong câu văn của tôi nhưng chớ hề ông bắt tôi phải có những nhận định theo ông. Ông hoàn toàn tôn trọng tư tưởng của tôi. Nếu ông không đồng ý thì ông viết bài thương xác. Nhờ thế mà tôi thấy tôi đã gỡ bỏ được phần nào sự lệ thuộc tư tưởng đối với những người tiền bối. Tôi thấy tôi phải đào sâu tư tưởng của tôi và viết ra những cái gì do đầu óc mình nghĩ ra hơn là nhai lại những tư tưởng của kẻ khác. Tôi bắt đầu tin ở tôi và lấy làm thích thú khi thấy ông Phan Khôi đã gia cho ông Phạm Quỳnh một danh từ “học phiệt”.
            Nhà quân phiệt lấy võ lực bắt người ta phải theo mình thì nhà “học phiệt” cũng lấy địa vị độc tôn của mình trong học giới và văn giới để bắt người ta phải đi theo đường lối của mình. Lúc đó tôi chưa nhận ra đường lối của ông Phạm Quỳnh nhưng tôi thấy rằng tôi có thể nói khác và nghĩ khác ông. Ông không còn là ngôi sao Bắc Đẩu của tôi nữa, mặc dầu tôi vẫn kính trọng ông. Càng gần ông Phan Khôi tôi càng thấy tôi có thể đi xa hơn được và sẽ tự tạo cho mình một địa vị trên văn đàn. Tôi không cam tâm làm học trò của ai nhưng vẫn chưa dám làm thầy ai cả.

TUY NHIÊN, tôi vẫn sống trong “tháp ngà” và lấy làm hãnh diện được góp mặt trong làng văn, làng báo. Tôi vẫn cho rằng con nhà cầm viết phải có cái gì đặc biệt hơn người. Điều kiện tối thiểu là phải có văn tài mới được phép cầm viết. Chính do quan niệm đó mà tôi chủ trương nghệ thuật vị nghệ thuật và đứng trên lập trường duy tâm trong cuộc bút chiến với những ông Hải Triều, Hoài Thanh, Phan Khôi mà bây giờ anh em sinh viên văn khoa còn phải nghiên cứu và học tập.
            Tôi đã cho rằng trời đã phú bẩm cho nhà văn những thiên tư đặc biệt và chính nhà văn còn phải khổ luyện rất nhiều mới tạo nên được một sự nghiệp văn chương. Phải viết cho đúng chánh tả, phải cân nhắc giá trị từng câu, từng chữ, phải diễn tả hợp lý, hợp tình, tóm lại phải hoàn thành một tác phẩm văn chương trước đã, việc phục vụ nhân sinh chỉ là việc thứ yếu mà thôi. Có thể có những tư tưởng hay, ý kiến đẹp mà viết bừa bãi, bậy bạ, văn bất thành cú thì sao gọi là văn chương cho được. Hồi đó, tôi cho là tôi có lý, nhưng cũng vì quan niệm đó mà tôi trọng hình thức mà coi rẻ nội dung. Mà một khi đã coi rẻ nội dung thì mình chỉ viết để thỏa mãn cho riêng mình, để dương danh với thiên hạ để củng cố địa vị mình trong làng văn chứ mình không thấy trách nhiệm của mình đối với nhân dân và xã hội.

CÁI “THÁP NGÀ” mà tôi đã giam mình vào đó một cách thỏa mãn chính cuộc cách mạng tháng 8/45 đã phá vỡ giùm tôi. Từ đó tôi mới thấy làng văn không phải là một khu biệt lập mà tao nhân mặc khách có thể sống cách biệt với đời để làm nơi tiêu sầu giải muộn cho một hạng người phong lưu no đủ vì luôn luôn thỏa hiệp với chế độ và chánh quyền. Chế độ thực dân chánh quyền bảo hộ coi họ là những người không nguy hiểm, hơn nữa, còn có khi dùng họ để ru ngủ quần chúng.
            Tôi cũng bị ru ngủ như ai và khi bừng mắt dậy mới thấy những cái mình đã viết thật không bổ ích gì cho dân tộc, một dân tộc có tinh thần bất khuất, luôn luôn sẵn sàng hưởng ứng tất cả mọi phong trào giải phóng chống xâm lăng. Những liệt sĩ đã bỏ mình vì nước mà tôi dám hạ bút viết là họ đã “vọng động tự khi” thì cây bút đó còn có giá trị gì đâu cho bạn trẻ ngày nay phải học tập?
            Tôi đã đi kháng chiến nhưng đi kháng chiến trễ hơn người ta nhiều. Tới năm 1949 tôi mới vô bưng và nhận định rằng chỉ độ 1, 2 năm nữa là hết giặc và tôi cũng được tiếng là tham gia kháng chiến như ai. Nhưng tôi đã tính trật và phải ở suốt trong 5, 6 năm trường mới được về đoàn tụ với gia đình. Trong thời gian đó tôi mới học tập được những bài học gian khổ và hy sinh. Nhưng thật ra tôi đã chịu đựng ít hơn mọi người và kể như không có hy sinh gì cả. Chính vì thế mà tôi thấy nếu tôi còn cầm viết được tôi sẽ phải viết những gì khác hơn những cái tôi đã viết trước kia. Tôi phải nói lên đức hy sinh, lòng ái quốc, tinh thần bất khuất của dân tộc để phản ảnh một phần nào giai đoạn lịch sử mà tôi đã chứng kiến. Giáo sư Prétou, một chiến sĩ xã hội đã từng tranh đấu cho nền độc lập của dân tộc Việt Nam đã viết cho tôi một bức thơ trong có nói những lời nầy: “Chúng ta đã hợp sức nhau lại để viết nên những hàng chữ huy hoàng với những bàn tay không đẫm máu nhưng chúng ta vẫn biết kính trọng những giọt máu đã đổ ra”.
            Giáo sư là người Pháp ông cũng biết thương xót những thanh niên Pháp đã ngã gục trong trận giặc nhơ bẩn ở Việt Nam. Nhưng ông không tán thành trận giặc nhơ bẩn đó của bọn thực dân Pháp nên những giọt máu mà ông nói trên đây chính là những giọt máu anh hùng của người Việt Nam đã đổ ra để giữ nước, giữ làng.
            Một người Pháp có tư tưởng xã hội mà có thái độ như thế.
            Huống chi một người Việt Nam, hơn nữa lại là một con người cầm bút, không thể có một thái độ khác được. Tôi thành thật nói trên đây những sai lầm của tôi, chưa chắc tôi còn ngày giờ để sửa chữa. Nhưng tôi cứ phải nói ra để thế hệ trẻ sửa chữa giùm tôi. Và như thế cũng là để “giữ thơm quê mẹ”.

Ở MỘT trường trung học công lập một nữ giáo sư đã trích văn tôi để dạy vào giờ “Việt Văn”. Học trò hỏi tiểu sử của tác giả thì cô giáo nói rằng: “Tác giả sanh vào cuối thế kỷ XIX và đã chết rồi”.
            Tôi có thuật chuyện đó với anh sinh viên đến phỏng vấn tôi vì anh tỏ vẻ băn khoăn nếu tôi chết đi thì không biết hỏi ai những gì anh không kiếm được trong sách.
            Nhưng anh khỏi cần phải băn khoăn vì những gì tôi đã nói ra với anh đều không bổ ích bằng những lời tự phê ở trên đây vì do đó các bạn sẽ tránh được những sai lầm nghiêm trọng của một số nhà văn thời tiền chiến.


THIẾU SƠN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 10

Tiêu đề: Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
Gửi bởi: nduytai vào 25/11/2017, 08:27:01
QUAN VÂN TRƯỜNG CÓ XỨNG ĐÁNG LÀ MỘT VỊ THẦN ĐỨNG ĐẦU VÕ MIẾU VIỆT NAM KHÔNG?

ÍT GIÒNG PHÁT ĐOAN
            Việt Nam ta thời xưa, tại Trung Bắc Việt, cứ mỗi đơn vị tổ chức hành chánh, từ Trung ương (Triều đình) tới tỉnh, huyện, tổng, xã hay làng, đều có hai ngôi miếu mạo văn võ song song. Bên văn là Khổng miếu, Thánh miếu, hay Văn chỉ, đứng đầu là Khổng Tử, thứ là Tứ phối, Thập tiết và thất thập nhị hiền đều là học trò Khổng Tử. Rồi mới đến linh vị các ông khoa bảng, tiên hiền, tiên nho địa phương quá cố.
            Người phụng tự gọi là hội Tư văn, cũng là mấy ông Tiến sĩ, Cử nhân, Tú tài, thí, khóa sinh sĩ tử trong địa phương.
            Bên võ là Võ miếu hay là Võ hội, vị thần đứng đầu Võ miếu là Quan Vân Trường, rồi mới đến linh vị các ông Đô Thống, Đề Đốc, Lãnh Binh, Chánh phó quan cơ ở địa phương đã quá cố.
            Người phụng tự gọi là Võ hội, bao gồm những sĩ quan, hạ sĩ quan binh lính hiện đang tại chức hay đã hưu trí.
            Sự thờ phụng của người Việt như vậy, ta thử thẩm định lại xem có đúng không?
            Trước hết là Khổng phu Tử. Nguyên Khổng phu Tử không phải là một vị giáo chủ, mà chỉ là một triết gia hay là chính trị, luân lý, xã hội học. Học thuyết của ngài là xây dựng con người (Tu thân), kiến toàn gia đình (Tề gia), tiến tới trị an quốc gia (Trị quốc), lên một bực nữa là đại đồng, kiến tạo nhân hòa xã hội (Bình thiên hạ).
            Với hoài bão của ngài trong câu: “Đạo làm người, việc làm chính trị là to lớn nhất” (Nhân đạo chính vi đại; Lễ Ký). Suốt 30 năm, chu du cùng 74 nước chư hầu, Ngài đã không đạt được sở nguyện, cứu thời hành đạo, tới lúc già, Ngài lại trở về quê hương (nước Lỗ) mở trường dạy học, trước thư, lập ngôn, để lại cho hậu thế, tiếp tục thực hiện.
            Chưa khi nào Khổng phu Tử tự cho mình là Thánh, hay là một vị Giáo chủ của một tôn giáo, danh từ “Thánh Khổng Tử” chỉ là hậu thế truy tặng Ngài mà thôi. Bởi vậy, hậu thế xây dựng lên kim điện để cúng Ngài như một vị giáo chủ, biết đâu đã không làm phản lại ý muốn của Ngài lúc sanh tiền, vì chính Ngài há chẳng dạy ta:
            “Đối với Quỷ Thần chỉ nên kính trọng mà xa ra” (Quỷ Thần kính nhi viễn chi; Luận ngữ), và “Cúng tế một vị Quỷ Thần mà xét ra không đúng, là siểm nịnh, là hối lộ…” (Phi kỳ quỷ nhi tế chi siểm giả; Luận ngữ) đó sao.
            Tuy nhiên, việc đem Khổng Tử đứng đầu Văn miếu Việt Nam cũng phải tạm nhận là đúng, đúng theo quan niệm của những nhà Nho Việt Nam, vì Ngài là một đại triết gia, đại tư tưởng gia, tập đại thành của Nho giáo, mà lịch sử Nho giáo Việt Nam chưa có một vị nào theo kịp. Vả chăng, lập Văn miếu, thờ Khổng Tử, không chỉ ở Việt Nam mà Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, đều cũng làm như vậy.
            Chỉ có việc Việt Nam ta ngày xưa, lấy Quan Vân Trường, đứng đầu Võ miếu Việt Nam, là một việc làm sai lầm đáng tiếc cho tiền nhân chúng ta.
            Trước khi thẩm định lại vấn đề, ta hãy tìm hiểu con người Quan Vân Trường cùng những ưu khuyết điểm của ông qua các tiêu chuẩn tài, đức, trí, rồi ta sẽ đem so sánh với các danh tướng Việt Nam như Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi… xem thử ông có xứng đáng là một vị thần đứng đầu Võ miếu Việt Nam không.

A.– Về võ công
            Đành rằng ta không phủ nhận Quan Công là người có sức mạnh, cương quyết, gan dạ, có kỹ thuật chiến đấu cá nhân khá cao, nói rõ hơn là đâm gươm cỡi ngựa giỏi.
            Nhưng ta cũng không thể nói ông là một vị tướng có võ công tuyệt luân. Để các danh tướng trong lịch sử Trung Hoa ra ngoài, cũng để ra ngoài luôn những kiện tướng Ngô, Ngụy, mà chỉ nói riêng lấy tướng tá của Tây Thục, ông cũng còn thua xa Mã Siêu và Triệu Tử Long.
            Có bạn sẽ hỏi chúng tôi, lấy đâu để cho điểm, như thế? Chúng tôi xin thưa, có chứ:
            Kẻ thù số một và hung hãn nhất của Tây Thục lúc đó là Tào Tháo. Ấy thế mà đời làm tướng của Vân Trường chưa đánh bại được Tào Tháo trận nào đáng kể, chỉ bị Tào Tháo vây ở Thổ Sơn, rồi do Trương Liêu làm con tin, thuyết phục ông tạm về hàng Tào Tháo, và sau đó một lần ông gặp Tào Tháo ở Huê Dung, thì ông lại để cho Tào Tháo chạy mất.
            Nói về Mã Siêu, trước khi chưa về với Lưu Bị, đã cùng với Hàn Toại cát cứ thành trì, đánh cho nhiều trận Tào Tháo thua xiểng liểng, có trận đã phải cắt râu, quấn quân kỳ vào cổ để chạy thoát chết. Như vậy hỏi ai hơn ai kém? Việc Mã Siêu lại bị bại với Tào Tháo, chỉ tại Hàn Toại, thiếu mưu trí cho nên mới mắc kế phản gián của họ Tào. Tới khi về với Lưu Bị, Khổng Minh. Lưu Bị phải phục là một kiện tướng, cho nên mới liệt vào một trong năm đại tướng (Quan Công, Triệu Vân, Trương Phi, Mã Siêu, Hoàng Trung).
            Cho nên xét về võ công, Vân Trường không những thua Triệu Tử Long mà còn thua cả bọn Mã Siêu, Lã Bố, Bàng Đức, Điển Vi, Hứa Chữ, Tào Hồng, Nghiêm Nhan Nữ.

B.– Về mưu trí
            Mưu trí là trên hết, sức mạnh, gan dạ, kỹ thuật chiến đấu cá nhân, chỉ là điều kiện thứ yếu.
            Bởi vậy các cổ danh tướng đã quy định trong những câu châm ngôn sau đây:
            “Mưu trí là điều kiện trên hết của kẻ dụng binh, cho nên kẻ nào trù hoạch được sâu xa và đủ mặt kẻ ấy thắng” (Binh dĩ mưu trí vi bản, cố đa toán giả tất thắng; Triệu Quốc Sung, Hán thư).
            Và:
            “Đánh bại đối phương bằng mưu trí hơn bằng sức mạnh, dụng binh đấu trí hơn là đấu con số nhiều” (Công nhân dĩ mưu bất dĩ lực, dụng binh đấu trí bất đấu đa; Âu Dương Tu).
            Và:
            “Thắng địch bằng vũ khí chưa phải là tướng giỏi” (Thắng địch ư bạch nhận chi tiền phi lương tướng giả; Thái Công Khương Tử Nha).
            Và:
            “Chẳng cần đánh bằng quân sự mà khuất phục được đối phương là thượng tướng; Bách chiến bách thắng chỉ là hạng tướng vừa; Đào hào sâu, đắp thành cao để cố thủ là hạng bét” (Bất chiến nhi khuất nhân chi binh giả thượng giả; bách chiến bách thắng giả trung giả; Thâm câu cao lụy dị tự thủ giả hạ giả; Lý Vệ Công vấn đối thư).
            Và:
            “Đánh ngã tâm lý đối phương là trên hết, đánh thành là thứ hai” (Công tâm vi thượng, công thành thứ chi; Tôn Tử).
            Công tâm là gì? Lấy cái gì để công được tâm? Phải chăng là dùng mưu trí.
            Nói tóm lại: Con nhà làm tướng mưu trí là trên hết, nếu chỉ có sức mạnh, can đảm mà thiếu mưu trí, thì cổ nhân gọi là “dũng nhi vô mưu” như loại Hàng Lão, Lữ Bố chẳng hạn.
            Không biết có nên nói Quan Vân Trường là một người “dũng nhi vô mưu” không? Nhưng nói về mưu trí thì ông là một người rất kém.
            Sau đây là bằng chứng cụ thể.
            Khi Khổng minh dùng mưu trí để khắc phục được Kinh Châu của Đông Ngô. Quan Vân Trường được ủy nhiệm đem quân đi trấn Kinh Châu. Trong một bữa tiệc tiễn chân ông lên đường phó nhiệm, Khổng Minh hỏi:
            – Nếu Tào Tháo đem quân tới đánh, tướng quân sẽ làm thế nào?
            – Tôi sẽ đem quân kháng cự. Ông trả lời.
            Khổng Minh hỏi tiếp:
            – Đồng thời Tôn Quyền cũng đưa quân sang đánh nữa thì tướng quân sẽ làm sao?
            – Tôi sẽ chia quân ra đánh cả hai mặt.
            Khổng Minh buồn bã nói:
            – Thử tắc Kinh Châu hữu hỹ, nghĩa là: thế thì Kinh Châu truốt mất.
            Ông sửng sốt hỏi lại:
          &