Tác giả Chủ đề: Giữ Thơm Quê Mẹ  (Đã xem 4142 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Đang duyệt nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #75 vào: 05/08/2017, 23:03:48 »


            Đất mẹ
                         Kính tặng nhạc sĩ Phạm Duy

            Hãy nhìn xuống quê hương nầy khốn khó
            Cây không xanh cho lịch sử thêm già
            Một dòng sông – đen như màu hắc ín
            Chảy căm hờn trong từng nỗi can qua

            Và cuộc chiến lớn lên bằng với tuổi
            Trên tay tôi còn ghi dấu lửa binh
            Những thù hận đã đứng mờ biên giới
            Thôi xa bay từng viễn tượng hòa bình

            Đạn vẫn nổ xẹt ngang đầu Tổ quốc
            Lửa chiến chinh làm cháy mặt xém mày
            Những hàng tre lòng âm thầm héo úa
            Như quê hương, như đất mẹ đắng cay

            Khi nằm xuống ôm mặt trời đỏ lửa:
            – Quê hương ơi! Và Tổ quốc tôi ơi
            Vác lý tưởng trên vai làm khí giới
            Tôi đi hoài cho máu lệ khôn vơi

            Tiếng mẹ gọi hai mươi năm khản giọng
            Nghe xanh xao từng điệu hát qua hồn
            Ơi! Trường sơn mẹ giang tay ôm biển
            Cho con xin, một phút, ngã vào lòng


                                              XUÂN THAO
                                              (Lãnh thổ đen)


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #76 vào: 05/08/2017, 23:15:35 »


            Gót lạnh

            Rồi một lần xa tuổi ấu thơ
            đầu cao ngẩng mặt cất ngôi thờ
            trũng đêm ngọn nhỏ đèn khơi muộn
            cười ướt môi hiền ẩm tóc xưa.

            đường vẫn đi về dăng bóng cây
            trời cao muộn tuổi dáng sao gầy
            tâm tư một thuở chai vò muối
            với nửa ân tình theo gió bay.

            vẫn tưởng tình yêu như cỏ non
            nụ hôn còn vị đắng linh hồn
            khi về tủi bước bàn chân lạnh
            tôi khóc trong bàn tay héo hon.

            thôi một lần xin cho ngủ yên
            tóc bay mờ nửa khoảng môi hiền
            giấc mơ còn lại lê màu khói
            tuổi cạn mưa chiều xõa tóc đen.

            khoảng đó người qua chỉ một lần
            khi về chưa kịp khóc ăn năn
            bàn tay tuổi nhỏ khơi mùa rét
            tóc trũng phơi dày lên dáng trăng.

            còn lại từng đêm vang cúc xưa
            tiết trinh thôi cũng tựa sương mù
            nhớ thương ngọn nhỏ đèn khơi muộn
            tôi bỏ tôi về ươm tuổi thơ.


                                              9-65
                                              TÔN NỮ HOÀI MY


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #77 vào: 05/08/2017, 23:30:57 »


            Thành phố nầy

Thành phố nầy buồn với dòng sông nghìn kiếp chắt chiu
            từng con cá con tôm. Sình lên nước đọng,
            mùi cỏ lẫn mùi người vất vả quanh năm.
Thành phố nầy buồn với những con đường già nua,
            dãy nhà cổ sơ, mái ngói đen đủi,
            tường hiên rong rêu, sân hè ngập rác…
Thành phố nầy buồn với những sập gụ, những tủ kính, gương mặt
            và tiếng nói khô khan, những mảnh giấy bạc thối lại cũ mèm
            và người con gái ngoảnh đi ra điều sang trọng…
Thành phố nầy buồn với những thằng con trai nghênh ngang anh chị,
            những bà già khọm xuống cho lứa người thiếu phụ hồi xuân…
            Cho em diện mãi vẫn chưa chồng.
Thành phố nầy buồn với bãi biển mùa hè cát bỏng.
            Người có đông nhưng lẫn lộn màu da.
            Một chai coca hai mươi lăm đồng không đá.
            Tiếng □ oang oang, địa phương lặng lẽ
            và mênh mông hoa nắng đỗ thẹn thùng.
Thành phố nầy không những buồn những ngày thường
            mà cả những ngày chúa nhật.
            Thác người lũ lượt kéo đi. Và không xóa bỏ được gì.


                                              Đà Nẵng 6-7-65
                                              HỮU PHƯƠNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

 

Đang duyệt nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #78 vào: 12/08/2017, 14:00:51 »


            Chứng tích

            hòn đá lăn, tuổi thơ và ảo vọng
            tôi quay tròn, trong đó, hai mươi năm
            đôi đũa thần gõ vòng quanh sự sống
            lời phù chú bong ra rồi mất tăm

            quê mẹ xứ cha và tôi nỗi sợ
            lửa chung quanh vây hãm tấm thân hèn
            đời lặng lờ trôi, dòng sông vô cớ
            tôi trở về tôi như bóng đêm

            em thổi hắt hiu qua vừng trán rộng
            xô bước chân đời trên nếp nhăn
            vùng tuổi nhỏ, lũy tre, bờ ảo vọng
            tan như sương trong đường nét thù hằn

            tôi có mặt lờ đờ như chứng tích
            trên quê hương tiếng mẹ cất tan tành
            nhìn lấy bóng, thu mình trong u tịch
            tôi rút về tôi như chiếc đanh

            tôi quay tít từng vòng xem chóng mặt
            ngoài hư vô huyền ảo khói sa mù
            nỗi vong quốc ngay trên phần đất mẹ
            nên hồn hiền cỏ dại đã muôn thu


                                              THÀNH TÔN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

 

Đang duyệt nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #79 vào: 12/08/2017, 16:48:41 »


            Cõi mộng

            Em đã chở vầng trăng đi cõi đó
            Ta về đây không sáng sao trời
            Nghe buồn ra từng nụ cười sám hối
            Dòng sông nào vẫn lạnh bóng sao rơi?

            Ôi những mộng đã tàn trong cõi mộng
            Giọt sương nào sẽ trắng bóng hình xưa
            Để ta gọi lá cây rừng thổn thức
            Những buổi chiều gió cũ buốt trong mưa

            Đêm cõi đó ta nghe hồn cây lá
            Thở vi vu cùng với giọt sương tràn
            Trên trái đất có những gì tàn tạ
            Là những gì sẽ lạnh suốt tâm can

            Ta sinh ra ở một miền hoang vắng
            Núi và rừng rờn mộng suối trong sương
            Ta nhìn em qua bóng hình cây lá
            Ôi một đời cõi đó thiếu quê hương

            Em đã mang cả vầng trăng biền biệt
            Ta nằm đây thương tiếc thuở huy hoàng
            Đã không đến như một dòng sương trắng!
            Đã không về như một ánh sao tan!


                                              HOÀI KHANH


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #80 vào: 12/08/2017, 22:31:37 »
HUY HOÀNG TRƯỜNG CỬU

TÔI ĐÓNG cánh cửa sổ lại; thế là căn phòng trở nên âm u; bên ngoài nắng buổi chiều vàng vọt, bệnh hoạn, thật phù hợp với không khí của bệnh viện. tôi có thói quen từ lâu hay đóng cửa sổ, đóng hết cả bốn cánh cửa sổ để khỏi phải đón nhận những tia nắng yếu đau từ đâu đưa lại, để khỏi phải nhìn từng đoàn máy bay ồ ạt lên xuống ở phía phi trường. Và nằm yên sau những giờ mổ xẻ mệt nhọc, gắp từng viên đạn, khâu từng vết thương. Nhưng thường thường nào có nằm yên được; bệnh nhân không gọi tôi dậy thì chính lòng tôi gọi tôi; tôi sợ nhất là chính tôi lay tôi, vỗ vai tôi, chính tôi không cho tôi yên nghỉ. Càng sợ lại càng bị gọi, như thế nhiều lần lắm rồi, như chiều nay chẳng hạn; tôi đóng cánh cửa sổ lại, thế là căn phòng trở nên âm u; như chính con người tôi mỗi ngày một trở nên âm u; như những đám mây mùa đông mỗi ngày một dày đặc. Có lẽ tôi quy lỗi cho những niềm vui bé bỏng không thực hiện được nữa; tôi có ham những nỗi vui mừng hạnh phúc rộng lớn đâu; tôi chỉ thích và chỉ có những ước mơ rất bé, nhỏ và nhẹ như những sợi tơ trời vào những buổi chiều thu lang thang trên nền trời xanh nhạt. Thế mà tôi đã mất chúng, từ bao năm nay, không phải lỗi tại tôi. Tôi không quy lỗi cho ai, hằn học mà đổ tội cho ai, nhưng tôi biết chắc là không phải lỗi tại tôi. Bây giờ nằm yên, đặt tờ báo đọc dở lên mặt, muốn ngủ một giấc mà không thể ngủ được, mới đoan chắc rằng không phải lỗi tại tôi nếu những ước mơ bé bỏng đó không thực hiện được, nếu những niềm vui nhẹ như tơ trời đó bị đánh mất đi.

NĂM NAY tôi lớn rồi, mẹ tôi bảo thế, chị tôi bảo thế và người con gái yêu tôi cũng bảo thế. Nhưng tôi không muốn lớn, bởi những thú vui tuổi thơ tôi chưa hưởng hết, những ước mong nhỏ bé thực hiện nửa chừng thì đã bị đánh cắp. Để tôi cho ví dụ, để anh hiểu tại sao tôi hay đóng cửa để khỏi phải nhìn những chuyến máy bay ồ ạt lên xuống ở phi trường, để khỏi phải đón nhận những tia nắng ốm đau từ đâu mang lại, khác hẳn những cụm nắng tinh anh của những cánh đồng lúa vàng mỗi lần tôi đi trên chuyến xe lửa từ miền Trung vào Nam vào những ngày cuối hạ năm nào. Hồi nhỏ, và ngay cả bây giờ nữa, có ba điều tôi thích nhất: đó là đi dạo dưới trăng, được người thân tiễn đưa mình ra đi bằng xe lửa và tiễn người thân ra đi trên những chuyến máy bay. Đấy những sở thích, như thế đó, nhỏ lắm, mà bây giờ tôi mất hết. Saigon không bao giờ có trăng, ai cười tôi ngớ ngẩn thì tôi chịu, chứ bảo Saigon có trăng thì tôi không đồng ý. Rồi cái cảnh bước lên xe lửa vào buổi sáng tinh sương, nhận một món quà mọn “để em ăn đỡ khát lúc đi đường” của chị tôi cũng mất luôn. Nhưng người chị tôi vẫn có tật là chờ lúc nào còi xe lửa hú lên, báo hiệu tàu sắp chạy mới trao quà cho tôi; tôi cầm gói quà và nhìn những chiếc áo dài xanh cho đến lúc tàu ngoặt sang một tí, bụi tre chắn lối nhìn và thành phố Huế mất hút đằng sau; mỗi lần như thế tôi lại rưng rưng nhìn thật kỹ niềm vui nhỏ bé đó của tôi và cứ hứa hè sang năm lại về, để khi đi, lại được các chị tiễn đưa. Nhưng năm sau tôi trở về thăm gia đình vào mùa hè thì phải mất bốn ngày mới đến Huế đáng lý chỉ mất có hai đêm một ngày. Chuyến tàu phải dừng một đêm tại một trạm nhỏ trong rừng vì đường rầy bị gỡ mất mấy trăm thước. Nằm một đêm ở giữa rừng tôi nghe xa xa có tiếng súng nổ. Sau này lúc trở vào ba tôi bắt đi máy bay. Vù một cái, chừng hai tiếng đồng hồ là đến Saigon; hết rồi những cảnh tiễn đưa ở ga Huế với những tà áo xanh buổi sáng tinh sương, hết rồi lời dặn dò “để em ăn đỡ khát lúc đi đường”, hết rồi màu nắng vàng tinh anh của các cánh đồng ruộng được mùa, hết rồi cảnh chia tay thầm lặng của đôi tình nhân ở một ga nhỏ, mưa lất phất đủ để gây kỷ niệm cho một lần tiễn đưa. Và thế là, từ ngày ba tôi dặn “con nhớ về bằng máy bay kẻo nguy hiểm”, tôi mất đi niềm vui thứ hai: được người thân tiễn dưa mình ra đi trên một chuyến xe lửa.

CHƯA HẾT; năm tôi hai mươi tuổi; thằng bạn thân tôi đi Mỹ du học; một năm sau cô bạn của em tôi lên đường sang Nhật. Tôi bỗng có dịp rưng rưng nhìn những chiếc máy bay vụt lên trời, hùng dũng mang người thân ra đi. Đứng ở phi trường tôi lặng người vì những ý nghĩ bay nhảy trong đời của một người con trai. Sau này mấy lần tôi được đi xa, ngồi trong lòng chiếc Boeing 707 tôi cũng không thấy sung sướng bằng lúc đứng ở phi trường nhìn máy bay vụt thẳng lên trời.
            Tôi mất luôn những nỗi sung sướng đó nốt; không phải tại bây giờ tôi không được phép nhìn tận mắt cảnh người thân leo lên chiếc máy bay vù một cái tung trời thổi gió, đi mất. Tôi còn có rất nhiều dịp nhìn cảnh hùng dũng đó của một chuyến bay ngày, đêm, nhưng tâm tình không thể còn như xưa, niềm vui không còn lâng lâng, không còn dạt dào như mấy năm về trước. Hoàn cảnh đã đổi thay; bây giờ tôi chỉ nhìn những chiếc máy bay xé không gian, giận dữ ồ ạt, như vừa rồi ở phi trường Nha Trang, những chiếc Skyraider bụng đầy bom đạn, nhào lên, hùng hổ, bay đi. Mười phút sau trở về từ từ hạ xuống. Tôi chú ý mấy phút mấy chục chiếc Skyraider lên xuống, lúc đi thì thật nặng, lúc về bụng trống trơn. Tôi ngây người đếm mãi, nhìn mãi đến nỗi người con gái ngồi cạnh tôi phát cáu. “Giờ này (giờ này tức là giờ mà hai đưa sắp phải xa nhau), mà anh còn nghĩ đến, đếm mãi mấy chiếc máy bay vô tri đó được sao?” Tôi mỉm cười chua chát. Chúng nó mà em bảo là vô tri à; chúng nói chuyện với anh nhiều lắm đấy, từ nãy đến giờ. Nghĩ thế nhưng tôi không nói ra, sợ lại phải to tiếng với một người con gái, để tình yêu lúc phải xa nhau cho trọn vẹn.

ĐẤY, BA niềm vui nhỏ bé thường ao ước, tôi đã mất đi. Tôi thường gọi chung là những phút huy hoàng của đời tôi. Miệt mài ra vào lợi danh, tranh chấp, đố kỵ tôi cho đó là những đen tối nhất của đời người. Thế nhưng tôi không tìm lại được những phút huy hoàng đó nữa; chúng đi mất rồi, không phải lỗi tại tôi. Tôi đã hai mươi mấy tuổi rồi. Mẹ tôi thường bảo: “Con không biết, chứ hồi con mới sinh ra ba con đã bị tụi nó nghi ngờ (tụi nó tức là tụi Tây), rồi con năm sáu tuổi đã bắt anh con cõng trên vai chạy giặc. Tản cư về con đau một trận bán sống bán chết vì ba con bị tù không ai “bốc” thuốc cho”. Rồi lúc nào kể chuyện mỗi dịp về nghỉ hè mẹ tôi cũng bắt đầu “con không biết chứ hồi đó…” Tôi không biết thật, ở với mẹ mãi thì có biết thêm được gì đâu, tình thương của bà mẹ lên quá đầu che hết cả đôi mắt làm sao mà thấy được. Tôi không biết gì cả cho đến lúc tôi bỏ Huế mà đi cho đến lúc xe lửa bị gỡ đường rầy, nằm giữa rừng, đêm nghe có tiếng súng nổ; cho đến lúc tôi bị giam trong “xà lim” chật hẹp và nhìn ra ngoài qua khe hở, thấy sao trời lấp lánh, mới nghĩ được rằng chỉ có con người mới xây địa ngục cho nhau. Tôi không biết gì cả cho đến bây giờ mỗi buổi chiều mở của sổ nhìn những cụm mây xanh lại trông thấy cả một đoàn máy bay ồ ạt xé trời, mỗi buổi đêm nhìn lên trời nghe các vì sao thì thầm với nhau lại nghe xa xa tiếng súng nổ, gần quá.
            Lúc tôi biết được nhiều như một đêm phải mổ mấy đứa nhỏ một lượt toàn là vì ham chơi không nghe lời mẹ dặn nên nhằm phải đạn, trúng phải mìn, thì tôi đã mệt mỏi quá, muốn yên thân, muốn ngủ vùi một giấc chẳng cần nghĩ đến những phút huy hoàng, những ước mơ bé nhỏ mà không thể nào thực hiện.

LẦN NÀY thì tôi đổ thừa, quy lỗi cho thầy NH. Thầy không cho tôi yên, cứ kể mãi chuyện Pomona và Phương Bối. Sao thầy không để cho tụi trẻ giữ con Datino lại; ít nhất tụi nó cũng nâng niu con nai vàng đó; thầy thả nó về rừng thì thôi rồi bầy sói ăn thịt mất. Tôi vẫn chê là thầy lý tưởng thái quá. Con nai vàng mà ngơ ngác đạp lá vàng khô kêu xào xạc thì đẹp thật đấy, nhưng núi rừng không tha nó đâu. “Như con đây này, đời có tha cho con đâu”. Tôi nói với thầy như thế đó, cuộc đời có tha cho tôi đâu. Nó cướp mất những phút huy hoàng của tôi rồi. Nó không cho tôi trở lại Phương Bối lần thứ hai để nói chuyện với núi rừng nữa; để đốt lửa; đống lửa cao ngất trên ngọn đồi của Phương Bối một đêm nào của năm 60.
            Hồi đó chúng tôi lên thăm thầy ở Blao. Mỗi đứa có một dự định lúc đi. Riêng tôi, tôi chỉ muốn xa Saigon vài ngày để đỡ nghẹt thở. Thế thôi. Sau đó tôi đã tiếc rẻ là tại sao Phương Bối chỉ giữ tôi lại có một đêm. Một chuyến đi có đầy đủ điều kiện cho tôi thích thú. Có bạn, có thầy, có lửa, những đốm lửa như hoa bay vút trên trời, trong đêm đen, rồi mất vào khoảng không vô tận. Có cả hội thảo và nhất là có cả cơm chay nấu theo lối thứ làm mấy chị trong này tấm tắc khen ngợi mãi. Tôi vẫn thích nhất là ăn xong, thầy cũng như trò, trai cũng như gái, xăn tay áo, vác củi, từ đằng xa, chất thành đống để đốt lửa. Hồi đó sao mà yên ổn thế nhỉ. Núi mà cũng hiền, đi chơi xa thì chỉ sợ “vắt” thôi chứ không sợ cọp… Tiếc thật. Bây giờ mà đi chơi đâu, có lẽ cọp tôi cũng không sợ, vắt cũng không đáng ngại, chỉ sợ người. Người hút máu người nhanh hơn vắt; cọp cũng thua người về chuyện hút máu.

            Bạch thầy.
ĐÊM ĐÓ con ngủ chung một ghế bố với Dương. Để con kể lại chuyện này cho thầy nghe. Nằm được một chốc chừng 11 giờ đêm thì cái ghế bố gãy. Dĩ nhiên là lỗi tại anh Dương, con gầy thế này thì làm sao làm ghế gãy được. Hết chỗ để ngủ con trở dậy nhìn núi rừng và cầm giấy bút viết vớ vẩn. Để con chép lại thầy xem để thầy thấy những phút huy hoàng con mất đi không phải lỗi tại con, cũng như cái ghế gãy là lỗi tại anh Dương. Hồi đó con viết nhiều lắm, có một đoạn như thế này “Tôi đi sâu vào lòng đêm. Đêm của rừng núi yên tĩnh đến lạ lùng, bởi tôi đang nghe tiếng thời gian chạy dài trên vạn vật. Bây giờ chỉ có Phương Bối am là đang sáng, tất cả đều tối đen như mực. Tôi đến Blao vào một buổi chiều không mưa, trời xanh xanh và mây hiền lành. Đường dài và đôi lúc thẳng quá. Chiếc xe thì lúc nào cũng vội vã. Sao lúc đi tôi lại lẩn thẩn đến thế, cứ nghĩ rằng con đường sẽ không hiện hữu nếu không có xe và ngược lại. Ấy, không lẽ vạn vật lại chỉ là một sự phù hợp mà một yếu tố mất đi thì tất cả chỉ là con số không! Đi trên xe tôi ít nói quá, càng xa Saigon tôi lại càng không muốn nói, tôi thích trả lại yên tĩnh cho lòng tôi. Cho đến bây giờ khi đêm đang yên giấc trên núi đồi thì tôi lại miên man suy nghĩ.
             “Ánh lửa đốt ban chiều bây giờ không còn lách tách reo nữa. Chúng đang “cháy” trong yên lặng. Tôi đang nằm im ở đây không trở mình. Các bạn tôi đang yên lặng ngắm vòm trời đầy sao sáng. Tất cả đang trả lại hoàn toàn sự yên tĩnh cho Phương Bối am. Chỉ có sự thanh tịnh là đáng quý. Quay cuồng cho lắm cũng là hư ảo; mình sẽ không bao giờ gặp lại mình nữa, bởi cái “tôi bản thể” đã lui về để nhường chỗ cái “tôi hiện tượng” đầy ố bỉ. Càng lớn lên càng chôn sâu vào u tối cái “tôi bản thể” mà tôi nghĩ chắc nó trong sáng lắm.
             “Đêm Blao lạnh quá. Hồn thiêng của núi đồi đang chừng như u uất lắm. Tôi đang nằm trong lòng ánh sáng bạch lạp. Tôi muốn đem ánh sáng của ngọn nến soi vào sâu thẳm của núi rừng. Tôi đã thất bại, bởi trong một trở mình, trong một khoảnh khắc đổi hướng đời, tôi cũng đủ vừa mất ánh sáng đó mà giờ đây là nguồn sáng độc nhất. Ánh sáng 100 waths của thị thành chỉ làm cho tôi chóa mắt. Đem nó đến đây thì nụ trà sẽ không thơm nữa, núi đồi sẽ trơ trẽn và chúng tôi sẽ không cùng nhau yên ổn đứng nhìn vòm trời đầy sao sáng”.



TÔI QUY lỗi thầy NH đã không để cho tôi yên. Lúc này bận rộn, nhọc nhằn… bắt tôi nhớ về Phương Bối am tức là bắt tôi đi tìm lại những phút huy hoàng đã mất. Chỉ hoài công, tìm làm chi ra được. Tôi oán thầy lắm. Sáng hôm sau khi ngủ một giấc ngắn với cái lạnh tê tái của núi rừng ban đêm, chúng tôi lại trở về Saigon. Mỗi đứa được thầy tặng một câu viết trên một tấm bìa cứng mầu vàng. Thầy chép cho tôi một câu trong Samyutta Niaya “Il viendra un temps où l’océan puissant s’assèchera, disparaitra et n’existera plus. Il viendra un temps où la terre puissante sera dévorée par le feu, périra et n’existera plus. Mais cependant il n’y aura pas de fin aux souffrances des êtres qui, aveuglés par l’ignorance et pris au pìege du désir, se pressent et se hatent au travers de la ronde desrenaissances”. Bây giờ đọc lại tôi giận thầy thực tình; giận nhưng mà thương. Mẹ tôi thì cứ bảo với tôi, chỉ cho tôi thấy, kể cho tôi nghe sự cay đắng của một kẻ sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong khói lửa và trưởng thành trong tranh chấp. Nếu mẹ tôi không kể chuyện và anh chị tôi không lập lại câu này khi mẹ tôi nói xong “hồi nớ mi sướng chết đi, có chạy giặc thì cũng có anh H. cõng”, thì tôi cũng không biết thân phận lứa tuổi chúng tôi khổ đến thế. Mẹ tôi cho tôi biết thế. Đến lượt thầy tôi cho tôi biết nhiều hơn, còn vô minh thì còn khổ bất tận, dù biển có khô đi, trái đất có bị đốt cháy đi, nỗi khổ của con người do chính sự kỳ thị, tranh chấp, đố kỵ của chính nó gây nên. Tôi biết thế, tôi giận thầy lắm nhưng tôi vẫn thương như tôi thương mẹ tôi, anh chị tôi đã cõng tôi chạy giặc năm tôi lên sáu.
            Để tôi kể tiếp. Tôi xem ngày ở Phương Bối như những phút huy hoàng nên khi phải quay lại Saigon tôi buồn lắm, sực nhớ đến câu:
             “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối. Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm” tôi viết lên giấy và làm phỏng vấn chớp nhoáng các bạn tôi ngay trên xe để xem ý kiến họ như thế nào về vấn đề huy hoàng của cuộc đời.
            Tôi được thầy và các bạn cho các câu trả lời sau nhân hai câu thơ trên.
            Thầy: nguy hiểm.
            Chị Điệp: tôi không muốn huy hoàng cũng không muốn buồn le lói.
            Chị Phượng: tôi muốn buồn le lói muôn số kiếp để cho tất cả hay ít nhất cũng một người được huy hoàng.
            Chị Chi: thích câu thứ nhì.
            Chị Bích: tôi muốn huy hoàng mãi mãi.
            Anh Dương: có định rõ một quan niệm rộng hơn về thời gian không? Xin nêu một vấn đề, có thể lấy thời gian để đo lường mê ngộ. Theo đuổi một huy hoàng chốc lát phải chăng là mê, theo đuổi một huy hoàng trường cửu phải chăng là ngộ. Xin thầy cho biết ý kiến.
            Ý thầy: huy hoàng trường cửu thì không cần phải “theo đuổi”. Nó đang hiện hữu trong và quanh ta, chỉ vì ta không thấy nó.



TRỜI ƠI, hồi đó trở về Saigon mà tôi không tiếc nhớ Blao quá lắm cũng nhờ câu sau cùng của thầy. Và bây giờ, nếu lúc tôi đã đóng cửa sổ lại cho căn phòng âm u, nếu trong suốt mấy năm nay, tôi không đập phá, không thét lên, không chửi vào mặt những ai gây ra cảnh chém giết hằng ngày mà chính chúng tôi phải gắp đạn, khâu vết thương, nếu tôi không quy lỗi cho ai về chuyện những ước mong nhỏ bé của tôi không thực hiện được, nếu, nếu thế, cũng chỉ vì tôi được biết rằng Huy hoàng trường cửu thì không cần theo đuổi. Tôi không thấy nó, chứ nó hiện hữu.
            Tôi thiếp đi trong giấc ngủ bình yên; để đêm đêm, sau một ngày mệt nhọc vì bổn phận, tôi thầm cầu nguyện cho đất nước thanh bình, tôi trở về và cài hoa lên tóc người con gái tôi yêu thương.


17-10-65
HẰNG HÀ SA


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

 
The following users thanked this post: tnghia

Đang duyệt nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #81 vào: 19/08/2017, 11:12:34 »
CON NGƯỜI VÀ THIÊN NHIÊN

QUA NỀN văn học Tây phương hiện đại, người ta thấy xuất hiện một thứ tâm trạng đặc biệt, đó là tâm trạng của người mất thư thái hồn nhiên, họ mất hết ý nghĩa cuộc đời, mất hết tin tưởng vào những giá trị xã hội, không chịu đựng được những cách xử sự của người đời, họ không thỏa hiệp được với cuộc đời.
            Tâm trạng của con người “khó sống” như thế được họ gọi là “conscience malheureuse”. Nó xuất hiện khá sớm trên nền văn học Tây phương vào cuối thế kỷ thứ 19 với Haysmans và nhân vật Folantin, sau này André Gide, Duhamel tung vào văn nghệ những trái bom hạng nặng và đến thời hiện sinh ra đời thì Sartre đẩy sự phân tích đến chỗ cực kỳ tinh vi.
            Những nhân vật của các văn hào này là những mảnh ván trôi giạt bập bềnh trên biển khơi. Nhân vật Roquentin của Sartre trong quyển La Nausée trở nên khét tiếng vì Roquentin làm cuộc thí nghiệm then chốt về thuyết hiện sinh, về tính cách vô thường và phi lý của cuộc sống. Sợi dây liên lạc nối tiếp chàng ta với đời sống đã cắt đứt, chàng ta chỉ còn lại một rỗng không. Về một cạnh khía nhìn vào, người ta có thể công kích những nhân vật ấy phi nhân loại và xâm phạm đến nền tảng đạo đức và gây những đảo lộn xã hội, nhưng đứng về phương diện học thuật tư tưởng, về phương diện mở đường khai lối cho tương lai, ta thấy những nhân vật ấy đã đặt ra vấn đề xét lại cả nền văn minh ngày nay. Họ khó sống, họ khước từ cuộc đời vì họ đã có tâm hồn bén nhạy để nhìn rõ những khủng hoảng của một tổ chức mà mọi người không thấy được. Vì không thấy được mà ta yên ổn hưởng thái bình. Chính vì áy náy không yên mà họ sống mãnh liệt và đầy đủ hơn ta.

HỌ TỪ KHƯỚC lớp trật tự hình thành ngày nay là vì họ có một khuynh hướng đạo đức luận thoát thai từ những nền móng bản thể học và những quan niệm triết lý tân kỳ. Cảm tưởng chung của chúng tôi đối với những tư tưởng yếm thế ấy là một cái gì như một ảo tưởng vĩ đại về chân lý cuộc sống. Nói thế không phải là phủ nhận giá trị của tư tưởng Tây phương hiện đại, một tòa lâu đài vô cùng phong phú, tự nó có một động lực mạnh mẽ để kết nạp những sinh khí tượng trưng cho sự mầu nhiệm của giòng sống. Tuy nhiên, cái sinh khí đó đem lại cho cuộc đời những ý nghĩa nào, và ý nghĩa ấy làm cho cuộc đời bế tắc và mâu thuẫn hơn, hay cởi mở cho tâm hồn người ta thư thái an hòa để tìm thấy những nhịp điệu quân bình của cuộc đời? Đó mới là điều quan trọng và nghĩ đến điều ấy cũng là đặt vấn đề trách nhiệm của nhà văn.

CHÚNG TÔI thấy câu hỏi này cấp bách hơn khi nhận định rằng nền văn minh Tây phương ngày nay có tính chất phổ biến, các dân tộc phải chấp nhận nó hay là đi đến chỗ tiêu diệt. Triết học, văn nghệ, khoa học, kỹ thuật, tổ chức, đều xô đẩy con người đến chỗ mâu thuẫn trầm trọng với thiên nhiên; họ miệt thị thiên nhiên và xây dựng những thành trì kiên cố để tự giam hãm trong nếp sống giả tạo. Chúng tôi có linh cảm rằng sự tạo lập cuộc đời theo chiều hướng ấy dắt đến tình trạng tuyệt vọng và đau khổ giữa sung túc và tiện nghi: người xưa đâu có biết những tình trạng nghịch thường ấy.

TRIẾT LÝ, trật tự, tổ chức, kỹ thuật, cơ khí, quan niệm trong tinh thần tạo tác và lựa chọn của Tây phương đã tạo ra một thứ “thảm kịch tiến bộ”. Thảm kịch đang bành trướng, đang lôi cuốn tất cả các dân tộc trên thế giới vào con đường mâu thuẫn và bế tắc.
            Trước thảm trạng ấy, nhà văn Tây phương không phải là không ý thức được trách nhiệm, nhưng hầu như họ có phản ứng tuyệt vọng của người chới với giữa giòng, hay có phản ứng của người bị giam hãm trong một hệ thống suy tư và rung cảm giới hạn bởi chân trời triết lý của họ. Và triết lý ấy tiêu biểu cho sự bất lực của họ không đề xướng được một căn bản đạo đức luận khả thủ. Đỉnh cao văn học của họ ngày nay đại diện bởi những triết lý bạo lực (Nietzche) bi đát, bi thảm, phi lý nôn mửa (Sartre) tức là những triết lý miệt thị cái sinh khí nguyên thủy nồng ấm tạo ra sự cởi mở, sự thông cảm tự nhiên của con người.

NHỮNG TRIẾT LUẬN ấy đề cao khái niệm tiêu cực, chống lại những khái niệm tích cực như yêu mến, yên ổn, tốt đẹp, thiện mỹ. Đạo đức luận của họ là những mẫu mực “lý luận đảo ngược”. Đời sống vô nghĩa, con người có những khuynh hướng nguyên thủy xấu xa nhưng con người phải hành động để phủ nhận bản chất xấu xa nguyên thủy và đem lại ý nghĩa cho đời sống (Sartre, Simone de Beauvoir). Hoặc “Người ta phải đập cho tan hết hy vọng trần gian chỉ như thế mới có thể tự cứu vãn bằng hy vọng chính xác” (Kierkegaard).
            Chỗ thiếu sót trọng đại của nền tảng đạo đức luận ấy như sau: người ta nhân danh cái gì mà phủ nhận bản chất xấu xa nguyên thủy? khi phủ nhận như thế người ta phải nhân danh những giá trị tích cực tạo lập được đời sống tốt đẹp, quân bình và có nền tảng chắc chắn. Khốn thay, người ta không đặt được cho những giá trị ấy một bản thể luận nghĩa là không tìm những nguồn gốc của nó trong các bản năng và khuynh hướng nguyên thủy của con người. Việc làm của họ là tìm cho những khuynh hướng nguyên thủy xấu xa tiêu cực những căn bản bản thể luận thật kiên cố. Như vậy việc làm của họ là phủ nhận những khuynh hướng phá hoại của nền tảng bản thể luận chắc chắn nhân danh những khuynh hướng xây dựng chỉ có căn bản suy luận mơ hồ, hay là không có căn bản suy luận. Con người phải chọn lựa con đường đi trong những điều kiện không có lợi cho sự lựa chọn.

THẢM KỊCH thời đại bắt nguồn ngay từ uyên nguyên của kinh nghiệm sống đại diện bởi những khuynh hướng triết lý thiên lệch như thế.
            Cả một trào lưu văn học Tây phương cực kỳ phong phú và đạt được tính cách phổ biến khắp thế giới đã được khai triển xung quanh những khái niệm sâu sắc về các khuynh hướng cởi mở. Những giá trị đời sống xuất hiện trong khung cảnh hỗn độn ấy qua những thử thách của cuộc đời đã tỏ ra không thể dùng làm kim chỉ nam, vì đã làm cho giòng đời bế tắc và mâu thuẫn…

VỚI KHÔN NGOAN truyền thống của người Đông phương hình như họ lý hội được những đảo lộn sẽ gây vì những hệ thống đạo đức luận như trên đây cho nên những triết lý đặt nền tảng trên những khái niệm tiêu cực không thể phát triển được. Trải qua bao nhiêu thế hệ người ta chỉ có thể chấp nhận được một hệ thống siêu hình tượng trưng cho tinh thần vui sống. Khổng Tử là người khởi xướng một tư trào triết lý đặt nền móng cho một hệ thống đạo đức luận mà người sau chỉ có công khai triển chứ không hề có ý đặt lại các vấn đề.
            Nền móng đạo đức luận của Khổng Tử là một cố gắng nhìn đời dưới khía cạnh vui sống và hành động, mục đích tìm căn cứ siêu hình cho biện chứng pháp cũng không ngoài ý muốn chứng minh các nguyên tắc đạo đức vui sống hợp với thiên nhiên. Thực thể người không thể quan niệm là cái gì khác thực thể thiên nhiên khác thực thể vũ trụ. Nguyên lý hiện hữu vũ trụ cũng là nguyên lý hiện hữu con người.
            “Người là cái đức của trời đất sự giao hợp của âm dương sự tụ hội của quỷ thần cái khí tinh tú của ngũ hành” (Lễ Ký, Lễ vận IX).

ĐÂY CŨNG LÀ căn bản của siêu hình học về người, chân lý cuối cùng của lý luận “nhân chi sơ tính bản thiện” và của khái niệm “minh đức”. Tất cả lâu đài tư tưởng Khổng Mạnh đều đặt trên nền móng hình nhi thượng học này và trở thành chân lý phổ biến kết tinh lại trong 2500 năm.
            Khổng Tử chiêm nghiệm hiện tượng thiên nhiên đã ý thức được 4 nguyên tắc gọi là bốn đức lớn của trời: Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Nói theo ngôn ngữ triết học ngày nay, ta có thể nói: một hiện tượng xuất hiện do một chân lý uyên nguyên, hiện tượng đó là nét vẽ của một toàn thiện, nó diễn biến hướng về một cứu cánh và dù diễn biến vẫn giữ được cái gì là chính cốt, là gốc rễ của nó. Như vậy đức lớn của Trời, hiểu theo từ ngữ của Sartre, có thể là être transphénoménal (bản thể siêu hiện tượng).

UYÊN NGUYÊN của vũ trụ là thái cực. Thái cực có hai thể, thể tĩnh thường trụ và thể động thiên biến vạn hóa. Tâm con người đồng nhất với thể tĩnh của thái cực, do đó, hưởng được cái minh đức, cái trí lự vô cùng sáng suốt, vậy thì tự nó thấu suốt được bản thể của sự vật.
            “Không nghĩ, không làm, im lặng không động, đến lúc cảm thì thông suốt được mọi cớ trong thiên hạ” (Dịch: Hệ từ thượng).
            Khổng Tử đã đặt nền tảng bản thể luận cho vấn đề khả năng hiểu biết (problème de la connaissance), bây giờ chỉ còn phải đặt nền tảng bản thể luận cho đạo đức học. Vấn đề không khó khi người ta đã quan niệm thực thể người với thực thể thiên nhiên là một.
            Đạo trời có 4 đức Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh thì đạo của người có 4 đức tương ứng: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí.
            Hiện tượng người là một phát hiện của những nguyên nhân nguyên thủy (Nguyên) cho nên người có “Nhân”, người được hướng dẫn bởi nguyên tắc toàn thiện (Hanh) cho nên người biết “Lễ”, người có một cứu cánh (Lợi) cho nên người biết “Nghĩa”, người có cái gốc sáng suốt của thái cực cho nên biết “Trí”.

DO THỰC THỂ siêu hình của con người như vậy cho nên Khổng Tử nói: “Người là cái đức của trời đất, sự giao hợp của âm dương, sự tụ hội của quỷ thần cái khí tinh tú của ngũ hành” (Lễ ký, Lễ vận IX).
            Nền văn minh nào cũng khai triển dưới một vài nguyên tắc triết lý chỉ đạo cuộc sống. Triết lý Đông phương gắn liền con người với thiên nhiên như vậy, con người suy diễn những nguyên tắc triết lý đó xuống lãnh vực hình nhi hạ học, lãnh vực bình thường nhật dụng, tạo ra lề thói, phong tục, kỷ cương, học thuật, hiến chế. Họ tạo ra một cuộc sống hòa mình với trời đất với âm dương ngũ hành, họ uốn mình theo nhịp tứ thời bát tiết và tìm thấy thư thái an hòa và cởi bỏ phần nào thắc mắc về kiếp sống.
            Hẳn là chúng ta nhận thấy triết lý vui sống như vậy rất thiếu thốn và không trả lời được nhiều thắc mắc thần bí và không an ủi con người khổ đau: những thống khổ trên đời hầu như muốn cải chính quan niệm triết lý vui sống của Khổng Tử. Chỗ thiếu thốn trong tâm hồn đó họ lấp bằng những quan niệm siêu hình của Phật giáo, Lão giáo.

QUA SỰ trình bày trên đây chúng ta nhận thấy nếu đứng về phương diện lý luận thuần túy thì phương pháp lý luận của Khổng học rất chặt chẽ, đầu đuôi xuôi ngược ăn khớp với nhau. Nguyên lý “khả năng hiểu biết của con người” và nguyên lý “con người vốn thiện” đều có căn bản lý thuyết vững vàng. Chính nhờ căn bản lý thuyết đó mà Mạnh Tử đánh bại hết các học thuyết khác, và những thuyết thảm bại ngủ yên cho tới ngày nay. Mới có một thuyết của Mặc Địch được cơ hội thuận tiện của Mao Trạch Đông cho hồi sinh.
            Sự độc quyền triết lý trên thực tế ấy, tôi có cảm tưởng là không phải một ưu điểm. Nhận định triết học Tây phương ta thấy hệ thống nào cũng là cái lâu đài bỏ dở. Và những kẽ hở của hệ thống lại chính là lối thoát cho tư tưởng về sau khiến cho triết lý của họ luôn luôn đổi mới.
            Thiết tưởng sự nhận xét trên đây có một tầm quan trọng vô cùng mà chúng ta cần phải đặt thành một vấn đề có thể coi như vấn đề then chốt của văn học tư tưởng Á Đông.

CÓ LẼ tính cách chặt chẽ của một hệ thống lý luận là một nét chung cho triết lý Đông phương. Tôi hơi lấy làm lạ rằng các nhà “Đông phương học” hình như cho rằng triết lý Đông phương không thành hệ thống, không có phân tích mà chỉ bài liệt thành một hàng lối riêng khó phân tích khó kiểm soát. Có lẽ họ không quen với lối lý luận của mình chăng? Dầu sao đây cũng là những điểm chúng ta cần phải đặt thành vấn đề.
            Nhìn qua triết lý Phật giáo chúng tôi cũng nhận thấy tính cách chặt chẽ của hệ thống lý luận. Ta biết rằng cái tử địa của các triết thuyết là giải thích sự hiện hữu của thế gian, của sự sinh tử. Triết thuyết nào đến đấy cũng bế tắc vì đều phải tham chiếu một tuyệt đối rất vi ẩn là Thượng Đế, Thái cực v.v… Với hệ thống luân hồi vô thỉ vô chung người ta không cần bận tâm đến tuyệt đối nữa và tránh được bế tắc. Sau đây là sự trình bày của nhà học giả Trần Trọng Kim, sáng sủa hơn cả: “Xét về đường lý thuyết thì cái thuyết Thập Nhị nhân duyên giải quyết được vấn đề thế gian và sự sinh tử một cách hoàn bị hơn cả. Các học thuyết khác, hoặc Đông, hoặc Tây xưa nay phần nhiều đã nghiên cứu về vấn đề vạn hữu ở trong vũ trụ, tuy vẫn có nhiều thuyết rất cao thâm uyên áo, nhưng thuyết nào cũng cho vạn vật có cái bản thể tự tại, dù có nói là vạn vật do cái nhân mà sinh khởi ra nữa, thì cũng chỉ nói là do các thứ nhân gốc ở cái tự thể rất vi ẩn mà thành ra các hiện tượng biểu lộ, chứ không ai nói cái tự thể ấy là nhân duyên. Bởi vậy cái kết thúc sự luận lý của các học thuyết ấy tất nhiên là phải nhận có một cái nhân sinh ra nhiều quả. Vạn vật đã do một nhân mà sinh ra thì phải nói là có một cái nguyên thỉ. Đã có cái nguyên thỉ, tất phải có cái chung thỉ. Vì thế cho nên các nhà tôn giáo và các nhà triết học không có nhà nào không cố hết sức để nói cái nguyên thỉ của vạn vật, mà rút cục vẫn không phân giải được rõ ràng, rồi chỉ thấy cái thuyết của họ đi đến chỗ cùng, không thông được.
             “Bên Phật giáo chủ trương cái thuyết cho nhất thiết chư pháp vốn không có tự thể chỉ vì cái duyên tích tập mà sinh ra các ảnh hưởng. Bởi thế cho nên suy lên đến thiên cổ về trước cũng không thấy vạn vật có thỉ mà xét đến muôn đời về sau cũng không thấy vạn vật có chung. Vạn vật đã không có thỉ có chung cho nên không cần phải miễn cưỡng nói cái nguyên thỉ vạn vật mà cũng không cần nói đến cái chung thỉ của vạn vật. Nhất thiết pháp đã không có tự thể thì nhất thiết sự vật ở trong vũ trụ đều không có cái tính nhất định, kiên cố thực tại, và chỉ là tùy duyên khởi mà động mà sinh” (Phật giáo, Trần Trọng Kim).
            Ta có thể nói Triết luận Phật giáo là một mẫu luận lý hoàn toàn, một hệ thống lọc trong được hết mâu thuẫn và vấp váp để đi đến chỗ cùng thông. Tuy nhiên, đây chúng tôi chỉ đứng về phương diện luận lý học thuần túy, mà nói, xin nhấn mạnh điểm này: chúng tôi chỉ nói hệ thống gói ghém được mọi yếu tố dùng để suy luận chứ không nói gói ghém được mọi hiện tượng vũ trụ, mọi quan niệm nhân sinh quan và vũ trụ quan.



SỐNG DƯỚI SỰ chỉ đạo của những nguồn tư tưởng siêu hình cố gắng đặt cho hiện tượng người sự liên hệ mật thiết với các hiện tượng khác và gán cho con người một cái tâm đồng nhất thể với bản thể toàn diện (đối với Khổng Tử thì cái tâm ấy là thái cực, đối với Phật giáo thì cái tâm ấy là chân như). Vậy là triết lý đã uốn nắn dần trong 2500 năm cho tri thức và tiềm thức con người vào một cái khuôn nhất định. Khuôn khổ sống ấy muốn rằng người ta hòa mình với vũ trụ thiên nhiên đừng quá bận tâm với thắc mắc cuộc sống. Và họ đã luyện được một tâm hồn thư thái an hòa yên ổn mà sống mà chết, bởi vì sinh tử chỉ là sự tuần hoàn của hết thảy các hiện tượng chứ không riêng gì hiện tượng người. Cái “tâm” kia mới là cái thực, cái thường hằng; thì nó vẫn đó có đi đâu mất mà phải phát hoảng!
            Nhưng mà, than ôi khôn ngoan quá cũng không phải là thượng sách.

KINH NGHIỆM cho người ta thấy rằng sự sống linh diệu và uyên áo của dân tộc không thể bộc lộ thần khí trong một bầu không khí rào đón, bưng bít bởi một phong thái suy tư, chiêm nghiệm và rung cảm già nua. Lương tri con người bảo đảm được trật tự trong một kích thước này nhưng lại bóp nghẹt khả năng tạo tác trong một kích thước khác. Văn minh Á Đông suy tàn vì loài người quá tin ở một hệ thống suy tư hoàn bị cho nên bóp nghẹt khả năng tạo tác. Trái lại văn minh Tây phương quá tin ở khả năng tạo tác kỷ xảo, đã đưa giòng đời đến chỗ bế tắc.

ĐÓ LÀ hai phương diện của một vấn đề mà người ta khó lòng thấu triệt qua sự suy luận bằng những công thức trừu tượng, chỉ có một thái độ nhận định qua kinh nghiệm cụ thể của người thấu suốt được cái lý cao thâm của giòng sống mới có khả năng phóng mình vào tương lai mà đặt các câu hỏi phải đặt ra và tìm cách trả lời thỏa đáng. Tùy thuộc cách trả lời đó mà ta biết tương lai nhân loại sẽ đi về đâu.


VŨ ĐÌNH LƯU


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 6

 
The following users thanked this post: hoangnguyen

Ngủ rồi hoangnguyen

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #82 vào: 19/08/2017, 11:54:35 »
Chơn Tâm thường hằng nhưng cái Tâm này Ấn giáo gọi nó là Đại ngã, Phạm thiên, Thiên chúa giáo gọi nó là Chúa cha là Thượng đế sáng tạo, ngay cả Duy thức Pháp tướng tông cho rằng đó là cái Tâm tạo tác - Vạn pháp duy tâm tạo.

Như vậy,  cuối cùng thì Duy Tâm hay Duy vật, Hữu thần luận hay Phiếm thần luận ?

Kết luận là gì? :)
 
The following users thanked this post: nduytai
N'etam mama, n'eso' hamasmi, na me so atta

Đang duyệt nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #83 vào: 20/08/2017, 07:43:07 »


Kết luận:  “Chính phải ở trong Tứ Đại, Ngũ Ấm mà tìm cái chốn an ổn mới được!”


            Có vị tăng hỏi Tổ Triệu Châu:  “Thầy của con có nói “Khi thế giới hoại, Tánh này chẳng hoại”.  Thế nào là cái Tánh này?”
            Tổ Châu nói:  “Tứ Đại, Ngũ Ấm.”
            Vị tăng hỏi:  “Cái ấy còn là hư hoại, thế nào là cái Tánh này?”
            Tổ Châu nói:  “Tứ Đại, Ngũ Ấm.”
            Ngài Pháp Nhãn nói:  “Ấy là một cái?  Ấy là hai cái?  Ấy là hoại?  Ấy là chẳng hoại?  Hãy hiểu làm sao?  Thử quyết đoán xem!”

            Có vị tăng hỏi Tổ Đại Tùy:  “Kiếp Hỏa thiêu hết, Đại Thiên đều hoại.  Chưa rõ cái Ấy hoại hay chẳng hoại?”
            Tổ Tùy đáp:  “Hoại.”
            Vị tăng rằng:  “Như thế thì theo nó đi ư?”
            Tổ Tùy rằng:  “Theo nó đi.”

            Lại có vị tăng hỏi Tổ Long Tế:  “Kiếp Hỏa thiêu hết, Đại Thiên đều hoại.  Chưa rõ cái Ấy hoại hay chẳng hoại?”
            Tổ Tế đáp:  “Chẳng hoại.”
            Vị tăng rằng:  “Vì sao chẳng hoại?”
            Tổ Tế đáp:  “Vì đồng Đại Thiên.”

            Ngài Thiên Đồng tụng rằng:
                       “Hoại, chẳng hoại, theo nó mà đi
                        Cảnh giới Đại Thiên, ở trong câu rõ
                        Không ai khóa buộc, đầu chân lại bị dây leo quấn
                        Hiểu, chẳng hiểu?
                        Chuyện thật rõ ràng, căn dặn kỹ
                        Biết Tâm, đem ra đừng thương lượng
                        Đưa ta phải đi cùng mua bán.”


            Đại Tùy nói hoại, Long Tế nói chẳng hoại.  Ấy là một?  Ấy là hai?  Tổ Tế bảo “Vì đồng Đại Thiên”.  Tổ Tùy bảo “Theo nó đi!”  Y nhiên là cái tông chỉ “Tứ Đại, Ngũ Ấm” của Ngài Triệu Châu.  Khi thế giới hoại, Tánh này chẳng hoại.  Chính phải ở trong Tứ Đại, Ngũ Ấm mà tìm cái chốn an ổn mới được!



KINH  LĂNG  NGHIÊM  TÔNG  THÔNG

 
The following users thanked this post: hoangnguyen