Tác giả Chủ đề: Giữ Thơm Quê Mẹ  (Đã xem 10116 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #135 vào: 23/12/2017, 23:11:24 »
THỬ TÌM VÀO MỘT BẢN DÂN NHẠC THIẾU NHI MIỀN NAM

                                        Bắc kim thang cà lang bí rợ
                                    Cột qua kèo là kèo qua cột
                                    Chú bán dầu qua cầu mà té
                                    Chú bán ếch ở lại làm chi
                                    Con le le đánh trống thổi kèn
                                    Con bìm bịp thổi tò tí le tò le
.

ĐÂY LÀ một bản dân nhạc thiếu nhi mà tôi đã có dịp nghe và hát theo từ lúc nhỏ ở một vùng quê miền Nam.
            Bài hát mới nghe thật ngớ ngẩn như lối hát bắt quờ, vô nghĩa. Âm thanh tiết tấu đơn giản mộc mạc gần với giọng nói địa phương hơn là giọng hát.
            Nhưng nếu chúng ta được nghe các em hát giữa trò chơi “bắc kim thang” thì nhận xét ban đầu sẽ trái hẳn lại ngay, bởi sẽ không còn một hòa hợp nào tuyệt diệu hơn, tự nhiên hơn giữa ngôn ngữ và lời ca, giữa lời ca và dáng điệu, giữa dáng điệu và cảnh sắc thiên nhiên ở đây.
            Bấy giờ thôn trang Việt Nam còn thanh bình. Trong những đêm trăng mùa gặt mới, mọi người quây quần bên nhau làm việc. Từng đôi trâu ung dung đạp lúa trên những khoảng sân lộ thiên sau nhà hoặc giữa đồng. Những chiếc mỏ xảy trên cánh tay anh nông dân lực lưỡng không ngừng xốc rơm đun thành từng đống cao như chiếc núi con. Tiếng chày trăng vẳng theo câu hát giọng hò cô thôn nữ bàng bạc khắp nơi. Lũ trẻ không sao ngủ được trong những đêm đẹp trời như vậy. Chúng tụ tập nhau lại múa hát đùa chơi, góp thêm vào cái sinh hoạt sầm uất khỏe mạnh của đồng quê chất tươi mát của tuổi trẻ yêu đời.
            Tiếng hát quay tròn quyện ánh trăng.
            Nhịp chân sáo quay theo.
            Đó là một chiếc bánh xe quay tít đang bật tung tiếng gió.
            Không. Chỉ là một lũ trẻ độ 5, 7 em xuýt xoát tuổi nhau, tay trong tay kết một vòng tròn. Co một chân về sau, chụm vào giữa, móc kết thành một chiếc xích vững chắc. Chân ai cùng hướng về một chiều. Tất cả nhảy cò cò và hát.
            Theo với tộc độ càng lúc càng nhanh của bước chân tiếng hát cũng dồn dập lên. Hát rập, nhảy đều, chúng nương nhau cùng quay, lắng tiếng vui của nhau cùng cười và, nghe tiếng thở của nhau để cùng mệt nhoài thích thú.
            Cứ thế bài hát được lặp đi lặp lại nhiều lần. Cứ thế, tất cả cùng quay tròn cho đến khi đuối sức, tự động buông nhau ra, ngã sõng soài xuống nền đất rạ…
            Trò chơi chỉ có vậy nhưng lại được truyền tụng rất lâu và đến nay, mặc dù trải qua thời gian, vẫn giữ nguyên tính chất ban đầu. Đặc biệt hơn nữa bài hát nầy chỉ phát triển ở vùng quê miền Nam thôi.

ĐỂ CÓ THỂ đi sâu hơn vào nội dung chúng ta thử lần lược tìm hiểu về lời ca, bố cục, âm thanh tiết điệu và những điểm đặc biệt của bài hát.

1) Ngôn ngữ trẻ thơ.– Nếu ngôn ngữ người lớn là kết quả của một quá trình suy tư và kinh nghiệm sống, thì trái lại, ngôn ngữ trẻ em là thứ ngôn ngữ trực tiếp, tự nhiên như một thứ tiếng đàn, hễ chạm vào dây là bật thành nốt nhạc. Đó là ngôn ngữ của trực giác, đơn giản mà gần gũi rất nhiều với hoàn cảnh xung quanh, với sinh hoạt thôn xóm ruộng đồng. Tâm lý trẻ – qua ngôn ngữ – đặt nặng trên sự liên tưởng nhiều hơn là suy luận. Và liên tưởng đã hẳn là liên tưởng đến những gì thân thiết nhất với cái nhìn trong cuộc sống của chúng.
            Cái nhìn của trẻ qua cái nhìn của sự vật, khác với cái nhìn của người lớn: nhìn qua sự kiện.
            Kim khí thì chắc hơn cây gỗ, trẻ em nào cũng dễ nhận biết điều đó. Bắc kim thang là bắc một cái thang liền lĩ và chắc như loài kim.
            Liền nhau như “chim liền cánh, như cây liền cành”, như sự vấn vít của nhành lá, của dây khoai lang, của dây bí rợ.
            Cột, kèo là nòng cốt của cái nhà. Cột là vật chống đỡ mái nhà, là điểm tựa cốt yếu cho kèo cho rui, mè… Cột chắc chắn, thẳng mạnh, chịu đựng. Đó cũng chính là hình ảnh thân hình trẻ em trong toàn bộ căn nhà “bắc kim thang” giữa trăng sao đồng ruộng. Kèo là những thang gỗ nằm ngang, mang tính chất nhịp cầu, nối liền thân cột này qua thân cột khác, mái trước qua mái sau. Kèo không cứng cỏi hiên ngang như cột nhưng tiềm tàng sức chịu đựng dẻo dai. Uyển chuyển như những chiếc chân bé bỏng của các em đang móc chuyền vào nhau để tất cả giữ được thăng bằng trên chân kia. Những cái chân móc dính liền nhau ở đây cũng là hình ảnh của những nấc thang trong toàn bộ chiếc kim thang.
            “Chú bán dầu qua cầu mà té”, “chú” đây không thể hiểu là thứ tiếng gọi thông thường để chỉ một ngôi vị ra đời sau người cha, hoặc là tiếng thân mật của người lớn gọi một chàng trẻ tuổi. Chú bán dầu ở đây càng không thể là một anh nông dân địa phương. Nông dân thì cày cuốc ruộng vườn chứ không bao giờ lại đi gánh dầu, nhất là gánh dầu bán dạo. Vậy, chú bán dầu mà trẻ em nhắc đến chỉ có thể là một “chú ba tầu” đi bán dầu lẻ.
            Mà đã ở thôn quê thì phương tiện giao thông không mấy thuận lợi.
            Để vượt một con sông ngắn, một con kinh con lạch cạn, đương nhiên là chỉ có thể quá giang trên những chiếc thuyền tam bản, hoặc băng qua những chiếc cầu khỉ cheo leo với mài miếng ván, vài thanh tre mỏng manh ghép lại. Quang gánh kềnh càng “cầu tre lắc lẻo gập gềnh khó đi” nên sẩy chân, chú ba rơi tòm xuống nước.
            Hoặc may mắn hơn, chú được té úp sấp trên lòng cầu, trong khi quang gánh đều trút cả xuống nước. Qua cầu “mà té” quả là một chuyện rất đáng buồn cười vì chú quá vụng về.
            “Chú bán ếch ở lại làm chi” – chú hẳn là chú ba Tầu rồi. Nhưng “bán ếch” thì chưa hẳn là ếch thật.
            Ếch vốn là thổ ngơi của đồng ruộng. Muốn có ếch nhậu rượu hoặc xào lăng chỉ việc làm siêng bó vài bó đuốc, tối tối lội ra đồng là tha hồ đầy giỏ.
            Vậy “ếch” ở đây chỉ có thể hiểu là “chụp ếch”, “chụp ếch” là thứ tiếng dùng để chỉ một cách khôi hài những kẻ vừa “đưa tay với thử giời cao thấp. Soạt cẳng đo xem đất vắn dài” kiểu Hồ Xuân Hương mà thôi. Và kẻ không ai khác hơn là chú bán dầu. Chú bán dầu mà quăng cả quang gánh xuống sông để lo chụp ếch sao? Ếch chụp không được, vốn liếng đi đời nhà ma, chút tiếc của nên cứ xuýt xoa nhìn mãi xuống sông. Tay chí phủi lia phủi lịa mà cũng không bớt tiếc. Chân chú muốn đi mà không đành. Chú ở lại làm chi? Chắc chắn không phải chú đứng ỳ ra đó để đón nhận những lời chế diễu của lũ trẻ nít đang đùa chơi quanh đây.

BỜ SÔNG bờ lạch cây cối mọc sầm uất, giang sơn của loài le le vịt nước, bìm bịp v.v… Giờ giấc nầy có lẽ chim chóc đang thanh bình tắm mát, xỉa lông hoặc bươi chải thức ăn… Bỗng, giữa cảnh tịch mịch chú ba tầu rơi ùm xuống nước làm xáo động cả mặt sông. Chim chóc hốt hoảng. Hốt hoảng thì kêu thét lên, như chú ba đã từng la thét. Nhưng tiếng la của chú thì đầy sợ hãi, xen lẫn niềm tiếc của, nên nó đục và buồn. Tiếng kêu của chim thì nhiều ngạc nhiên hơn nên cũng bay bổng hơn. Và khi sự ngạc nhiên kia đã được sự rơi bõm trong nước của chú ba giải thích thì sự ngạc nhiên lại biến thành thích thú. Và khi thích thú thì người ta ca hát huýt sáo, hoặc đánh trống thổi kèn. Le le là loài vật đâu biết làm như vậy. Ta chỉ việc thi vị hóa, nhân cách hóa là xong “con le le đánh trống thổi kèn”…
            Nếu “chú bán dầu” trong lúc “chụp ếch” đã làm cho lũ le le nổi hứng mà “đánh trống thổi kèn” thì chính tiếng kèn tiếng trống kia lại làm giật mình (hay vui lây?) mấy chị bìm bịp trong những bụi ô rô, bụi bần, bụi mắm gần đấy. Đó là một phản ứng dây chuyền rất tự nhiên. Tự nhiên như chính niềm vui trong lòng lũ trẻ đã trải khắp cảnh vật xung quanh, mặc áo mới cho cả loài le le bìm bịp.
            Qua sáu câu ngắn gọn, giản dị, tự nhiên ta có thể ghi nhận được trình độ vận dụng từ ngữ rất tài tình của trẻ em.
            Cảm nghĩ của các em, qua sự vật, đã được diễn tả một cách khá đầy đủ hay ngược lại, trẻ em đã biết chọn sự vật rất chính xác để diễn đạt những cảm nghĩ trừu tượng thoát hiện rất thần tình…

BÀI CA cũng được bố cục thật gọn ghẽ:
            – Hai câu đầu: Vừa giới thiệu vừa tả không những cách thức chơi mà nói cả ý nghĩa sau cùng của trò chơi; sự liên hệ của mỗi cá nhân trong cộng đồng, ý nghĩa của sự đoàn kết, sự hỗ tương nhau để tự tồn. Đây cũng là những nét lớn, phát họa gần: chủ thể động là trẻ em.
            – Hai câu giữa: Cái nhìn được dẫn ra xa hơn ngoài ngoại cảnh: chú bán dầu, chiếc cầu khỉ trên sông lạch. Qua hình ảnh ngoại cảnh đã ngầm giới thiệu một ít cảnh trí và sinh hoạt thôn quê: sự có mặt của ngoại kiều; phương tiện giao thông lạc hậu đơn sơ nhưng rất nên thơ.
            – Hai câu cuối: Đây là cảnh sát chân trời rộng, ngát hơn. Đó là một bức tranh thủy mạc với những nét chấm phá hợp lý: con le le, con bìm bịp trong những lùm cây ven sông, lạch. Hai câu này cũng là phần kết của bài. Tính chất gieo cảm tưởng, gieo ấn tượng, gây cảm xúc thật rõ rệt: đánh trống, thổi kèn tò tí le tò le. Gieo ấn tượng cho người nghe bằng ngôn ngữ đã là giỏi. Ở đây, gieo ấn tượng bằng âm thanh. Không là âm thanh của người nhưng là của chim. Cũng không hẳn của chim nhưng là âm thanh của chim-rất-người. Không phải là tiếng nói bằng mồm nhưng là tiếng kêu, tiếng trống của người được nghe từ tiếng kêu của chim. Tất cả lại chỉ xảy ra trong liên tưởng được thành hình bởi những khối óc tinh nghịch, đầy khôi hài, nhưng cũng đầy thân mật.

MẶC DẦU đây là một bài hát cho trẻ em và chính do các em sáng tạo nên, lời lẽ không vì thế mà thiếu văn vẻ. Nếu cách dùng chữ của các em đã đạt mức chính xác cần thiết, bố cục đã rất chặt chẽ và gọn gàng thì về phương diện từ văn, ta vẫn tìm thấy rất nhiều ưu điểm. Ưu điểm nổi bật nhất ở đây là tính chất tùy bút. Nếu tùy bút được định nghĩa một cách giản đơn là phóng bút theo giòng cảm hứng tự nhiên thì toàn bản văn “bắc kim thang” đã có đủ tính chất đó. Ta có cảm tưởng các em nghĩ sao là nói y như vậy – các em đâu đã học văn phạm và những cách dùng mỹ từ pháp, những cách vận dụng khả năng ngôn ngữ – nhưng chính vì thế mà lời nói của các em rất trung thành với ý nghĩ trẻ con của các em.
            Đang chơi đùa, hoặc đang làm việc bỗng thấy chú bán dầu đi qua cầu trợt té, hình ảnh buồn cười đó chợt hiện lên trong trí óc của các em thì các em cũng nói ngay hát ngay ra thành lời:
            “Chú bán dầu qua cầu mà té”. Chú té, nhưng các em không muốn hiểu một cách giản dị là trợt ngã, các em không cần biết chú có bị đau đớn hay không, nhưng bản chất tinh nghịch chợt dậy, các em muốn hiểu là chú bán dầu đang chụp ếch. Vậy là nói ra liền.
            “Chú bán ếch ở lại làm chi”. Chú té làm chim giật mình kêu thét lên, các em không muốn nói là chim hoảng sợ vì chính các em đâu có hoảng sợ, trái lại các em đang rất vui (ác hay không đâu cần). Các em được chứng kiến rõ ràng mọi cử động của chú bán dầu từ lúc chú bước lên cầu đến khi chú té, các em thấy điều đó buồn cười, cười được là vui, vui thì hát ca đánh trống thổi kèn:

                      “Con le le đánh trống thổi kèn
                        Con bìm bịp thổi tò tí le tò le
”.

TÍNH CÁCH tươi trẻ hồn nhiên của các em không những thể hiện qua lời văn, tứ văn mà hàm súc, qua âm thanh bài hát.

2) Âm thanh.– Ngôn ngữ Việt Nam vốn đơn âm và giàu bằng trắc (năm dấu giọng – huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã). Trong ngôn ngữ Việt đã có sẵn âm điệu phong phú, dường như trong tiếng nói đã có sẵn một sơ đồ về bằng trắc bổng trầm của âm nhạc. Và nếu giọng ngâm thơ là một gạch nối giữa giọng đọc và hát thì âm thanh bài hát chính là một tổng hợp kỳ diệu giữa ngôn ngữ bình thường và cảm hứng tự nhiên của con người. Do đó, âm thanh bản dân ca nói trên rất gần gũi và rất trung thành với lối phát âm bình thường. Hình như trong ngôn ngữ ta đã có sẵn âm điệu cung bực để khi tâm hồn ta vừa dào dạt thì lập tức biến thành một bài ca tuyệt vời.
            Từ những đặc điểm kể trên của ngôn ngữ Việt thể hiện trung thực qua âm thanh bài dân ca, ta có thể đi đến kết luận đơn giản này về loại nhạc dân:
            – Âm nhạc phải phát xuất (bắt nguồn) từ giọng nói.
            – Tính cách địa phương phải phản ảnh qua ngôn ngữ địa phương đó. Điển hình là thể hiện qua lời ca.
            – Căn bản âm nhạc dân tộc phải phản ảnh trung thành ngôn ngữ của dân tộc.
            Nếu ngâm nga là đọc một cách giàu cảm hứng và hát, là ngâm nga một cách có tiết điệu nhịp nhàng, âm thanh phong phú hơn: thì yếu tố căn bản của dân nhạc là phải đi sát với giọng ngâm thơ. Và đã hẳn mỗi một miền đất nước đều có một giọng ngâm thơ khác nhau.
            Trong câu hát: “Nước non ngàn dặm ra đi” chẳng hạn, mà ta thường được nghe khắp ba miền đã kết hợp được cả ba yếu tố nói trên. Hát là tăng thêm độ tình cảm của thơ một cách có tiết tấu âm bực. Nếu một bài hát không thể hiện được ngôn ngữ địa phương thì không thể được xem là dân ca của địa phương đó. Cũng vậy, suy rộng ra một bài hát Việt Nam, mà không phản ảnh được tiếng nói của người Việt, thì không thể được gọi là một bài hát Việt Nam: phi địa phương tính, bất thành dân tộc tính, bất thành âm nhạc tính độc đáo của dân tộc.

NÓI NHƯ một nhạc sĩ Tây phương: “Không phải kiến thức âm nhạc tạo ra nhạc, nhưng quá trình ngôn ngữ đã tạo ra nhạc”. Hay nói rõ hơn: “Ngày nay người ta đem sáng tác vào buồng, xưa, người ta sáng tác giữa thiên nhiên, giữa cộng đồng. Nhạc là do đời sống cấu tạo nên”.

3) Tiết điệu. – Cũng như ca dao, đồng dao, câu hò giọng hát được hình thành từ giữa lòng quang cảnh thôn trang. Thiên nhiên ở đây rộng mở như tâm hồn người nông dân giữa cảnh trăng thanh gió mát giữa cảnh hoạt động tưng bừng của ngày mùa, giữa niềm phấn khởi của ấm no hạnh phúc, nên người sống ở đây vốn lạc quan, tươi trẻ và yêu đời. Trẻ em vô tư và hồn nhiên, nên giọng hát cũng hàm chứa tính chất nhanh vui như điệu nhảy, điệu múa, như chính sự hoạt động hàng ngày của các em, như nhịp lao động của những người thân yêu của các em.
            Đó là tiết điệu đã được lưu truyền lâu đời nhất và trung thành nhất của dân tộc. Và mãi mãi sẽ còn được gìn giữ do những người nông dân chất phác thực thà trung hậu kia của chúng ta. Tiết điệu dân ca, nếu đã ẩn tàng niềm lạc quan của dân tộc, thể hiện lao động tính của người nông dân cần cù nhẫn nại nó cũng mang giữ tính cách rập bước băng rừng vượt suối trên con đường Nam tiến của tiền nhân chúng ta, xưa kia từng:

                        “Dắt dìu nhau về đến Cà Mau…”

            Nhưng ngoài những nhận xét tổng quát ở trên, ta còn ghi nhận được những điểm rất đặc biệt về tiết điệu ở bài dân nhạc này. Ta đã biết các em hát bài đó trong lúc nhảy quay tròn. Tiết điệu bài hát đã mang trọn tính chất vui tươi nhí nhảnh, nhịp nhàng đó. Bài hát còn có sức lôi cuốn mãnh liệt của con trốt, bởi khi đã cất lời ca là phải ca mãi, ca mãi như đã nhảy mãi, vì sức ly tâm, sức say sưa của bước chân của niềm phấn khởi tưng bừng thôi thúc từ nội tâm từ ngoại cảnh. Khi các em hát đến cuối bài thì lập tức phải trở lại câu đầu ngay. Ta ghi nhận thêm: hình ảnh bài hát giống như một vòng tròn (vòng tròn của bước chân trẻ em). Ta cũng có thể hình dung tiết tấu của bài hát như một con rắn quay đầu ngậm lại chính cái đuôi của mình. Và vì là chính cái đuôi của mình nên lúc chán lại tự ý nhả nó ra – cũng như các em, khi mệt chán thì buông nhau ra nằm lăn trên đất mà thở vậy, khỏe thì tiếp tục đùa chơi, mệt chán thì ngừng, không gì tự nhiên hơn được. Chúng ta có thể thí nghiệm để tìm hiểu sức lôi cuốn kia của bài hát bằng cách mời năm bảy bạn vừa nhảy vừa hát như các em. Chúng ta sẽ chiêm nghiệm được sức lôi cuốn vô hình, sinh lực huyền bí của vòng tròn mầu nhiệm kia của âm thanh và tiết điệu dân ca Việt Nam mà điển hình là bản bắc kim thang đã dẫn ở trên.

4) Ngũ âm Việt.– Nói đến ngũ âm nhiều người thường nhớ đến năm âm: cung, thương, dốc, chủy, vũ của Trung Hoa. Thật ra Việt Nam cũng có ngũ âm riêng biệt. Vì mỗi dân tộc đều có dân tộc tính, địa phương tính riêng biệt. Nếu âm nhạc Tây phương căn cứ trên bát độ: Do ré mi fa sol la si do thì hẳn họ cũng có lý do riêng để sắp đặt như thế cho thích hợp với các sắc giọng phía mặt trời lặn của họ.
            Ngôn ngữ Việt có năm dấu giọng: (huyền, nặng, không, không và sắc) để diễn tả những thanh trầm bổng của lời nói hằng ngày. Mà âm nhạc là phản ảnh của ngôn ngữ địa phương, nên dân ca là phải bắt nguồn từ năm dấu giọng kia mà đi. Trong bài “bắc kim thang” cũng vậy, khởi từ giọng nói miền Nam, năm dấu giọng đã được diễn đạt qua năm âm điệu: Hò xự xang xê cống (Tương ứng với Do ré fa sol la của Tây phương). Như vậy, chúng ta không thể nói thang âm Việt Nam không đủ âm giai (tức là thiếu yếu tố cấu tạo nhạc). Mà trái lại, qua bài dân nhạc thiếu nhi kể trên, ta đã có một minh chứng hùng hồn rằng bài dân ca này vẫn được thâu gồm trong thang âm ngũ thanh (Tương ứng với Game Fa dìese của Tây phương).

NHƯ VẬY dân ca Việt Nam không cần phải vay mượn yếu tố nhạc nào của Tây phương về âm thanh tiết điệu mà căn cứ hoàn toàn vào âm giai ngũ âm Việt, vào ngôn ngữ, cảm hứng thuần túy của người Việt, giữa khung cảnh thiên nhiên Việt, đã đủ sức phản ảnh trọn vẹn tâm tình người Việt, trải qua lịch sử cuộc sống và hướng vọng của mình. Đó là đức tính lạc quan, tin tưởng, yêu đời. Yêu đời nên cũng yêu người, yêu người nên chuộng hòa bình, yêu hòa bình nên dễ thân thiện, và muốn thân thiện, dĩ nhiên là phải thù ghét chiến tranh. Bởi vì đã lăn tròn theo đà chém giết thì làm sao ca hát được giữa người với người và giữa lòng cảnh sắc của thiên nhiên.


MINH LƯƠNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 11
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #136 vào: 30/12/2017, 11:51:36 »
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 12  [tháng 6 năm 1966 |  104 trang] giá 20$

MỤC LỤC
Thái Luân |  Hội nghị về Việt Nam \ Đối thoại đêm 1953 (thơ) |  2-4
Minh Trí |  Khúc hát của những người khởi hành (thơ) |  5-6
Phong Sơn |  Niềm tin chưa mất (thơ) |  7-8
Trụ Vũ |  Tình khúc Việt Nam (thơ) |  9-12
Phi Chiến |  Tất cả trái tim chúng tôi đều hướng về họ |  13-16
Chinh Ba |  Đóa sen vàng |  17-27
Thiếu Sơn |  Giá trị và uy quyền của những người cầm bút (tiểu luận) |  28-31
Kiêm Minh |  Ảo ảnh trên cánh đồng |  32-34
Lưu Nghi |  Chuyện bên đường |  35-43
Sơn Nam |  Đình ông Nguyễn, Chùa ông Đồng |  44-49
Phong Sơn |  Việc giải phẩu con người qua các lương y: Khổng, Lão, Mặc, Vương Dương Minh và Phật Thích Ca (tiểu luận) |  50-54
Chinh Văn |  Râu trên cằm |  55-59
Hồ Hữu Tường |  Quỉ ám |  60-64
Yên Hi Ba |  Vỡ tổ |  65-68
Đông Tùng |  Tìm hiểu “Đệ Tam Tuyệt” trong thời Tam Quốc (tiểu luận) |  69-80
Trần Nhật Nguyệt |  Trong đêm tối |  81-82
Tư Hồng |  Trên đường vào Ba Thục |  83-86
Chín |  Công quả |  87-88
Vương Pển Liêm |  Giáo dục cộng đồng và xã hội giáo dục (tiểu luận) |  89-94
Võ Bằng |  Buổi học đầu xuân |  95-100
T.V. |  Hộp thư tòa soạn |  101
Quảng cáo |  102-104


TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #137 vào: 30/12/2017, 11:58:14 »


            Hội nghị về Việt Nam

            mày có nghe gì không?
            các con ơi các con
            có bao giờ hay biết
            những kẻ đã đấm bàn
            gọi tên nước Việt Nam
            không một giây tội nghiệp

            mẹ làm gì nên tội
            con làm gì nên tội
            mà lời qua tiếng lại
            mà ta bị mắng chửi
            mà con bị cộc cằn.

            người ta đứng nhìn ngang
            người ta đứng nhìn dọc
            cái gì là Việt Nam
            chúng tôi không cần biết
            những gương mặt hầm hầm
            những danh từ hậm hực
            những bàn tay gân guốc
            những mắt mở trợn trừng…

            Việt Nam ơi Việt Nam
            cuộc đời mày khốn kiếp
            cuộc đời mày bán buôn
            sao mày không nói được
            sao mày không phẩn uất?
            con đâu con có biết
            những kẻ đang đập bàn
            gọi tên nước Việt Nam
            không một lần thương xót.

            thế nào là dân chủ?
            thế nào là quê hương?
            thế nào là nô lệ?
            thế nào là hùng cường?
            sao ngươi không bày tỏ
            sao ngươi không giận giữ
            Việt Nam ơi Việt Nam!
            sao người ta chỉ chỏ
            sao người ta có quyền
            người ta dùng khói thuốc
            người ta ngồi lặng yên
            người ta nói thông suốt
            người ta hả miệng nhìn…

            người ta thì nhân danh
            nhân danh quyền trừng phạt
            còn ta thì nhân danh
            nhân danh quyền cúi mặt!
            các con ơi các con
            không bao giờ hay biết
            những kẻ đã đấm bàn
            gọi tên nước Việt Nam
            không một lần thương tiếc

            chúng ta hạnh phúc gì
            mà bận lòng thiên hạ
            chúng ta đã cướp gì
            mà người ta xỉ vả
            chúng ta đã nói gì
            mà người ta phẩn nộ
            chúng ta đã xin gì
            mà người ta chỉ chỏ.

            Việt Nam ơi Việt Nam
            sao ngươi buồn bã thế?


                                              THÁI LUÂN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 12

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #138 vào: 30/12/2017, 14:15:11 »


            Khúc hát của những người khởi hành

            1
            khởi từ vùng kiêu hãnh xưa dòng sông chảy băng qua rừng núi
            khởi từ niềm vui dòng sông chảy êm vào bình nguyên
            phải như bàn tay nắm chặt bàn tay
            phải như những ngôi nhà dựng lên
            những hàng tre những con đường phải gặp nhau
            xin gặp nhau như hơi thở
            hãy là đôi vai người cha
            hãy là đôi cánh tay người anh
            hãy là mái tóc đen nhiều người chị
            hãy là người mẹ lặng yên
            xin lặng yên như hơi thở

            2
            khởi từ màu hạ khô những mầm non đâm chồi
            khởi từ màu da vàng chúng mình cùng nhau hiện diện
            xin hiền lành như tiếng chuông
            xin bình yên như bóng mát
            hãy là loài ong bay hoài bốn mùa
            hãy là đàn kiến đi suốt ngày đêm
            hãy là lượn sóng vỗ ầm trên đá
            chút hãnh diện chân tay
            sự cần cù nước mắt
            sự khiêm tốn loài chim

            3
            khởi từ câu ca dao lớp phù sa bồi lên cánh đồng
            khởi từ những dấu chân lịch sử chảy xuống thành tổ tiên
            khởi từ nhịp đập quả tim chúng mình mỉm cười thành bà con
            hãy là đầu tiên những giọt mồ hôi
            hãy là đầu tiên những cái nhìn
            bài ca ngợi tình yêu
            bài ca ngợi niềm tin
            hãy là đợt sóng cuộc hành trình
            xin làm ấm thời gian
            như hơi thở.

            4
            khởi từ phương đông mặt trời mọc lên
            khởi từ phương đông cây bồ đề mọc lên
            hy vọng vô vàn cho chiếc lá xanh
            như ánh sáng
            khởi hành từ mặt trăng tháng tư!


                                              MINH TRÍ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 12

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #139 vào: 31/12/2017, 10:48:20 »


            Niềm tin chưa mất

            Niềm tin chưa bao giờ mất
            bởi vì tôi vẫn còn
            anh chưa chết
            bởi vì nguồn sống cuộc đời
            không bao giờ ngưng kết
            bởi vì lịch sử loài người
            được nói rằng bất diệt
            bởi vì những nhiệt tình đấu tranh
            không bao giờ chấm hết
            bởi vì danh từ “tự do”
            không ai là không biết
            bởi vì những tâm hồn đi lên
            không phải là ngõ cùng lối kiệt…
            bởi vì không khí và vầng dương
            thực rất là cần thiết
            và trước những hình ảnh cuộc đời
            anh không câm mà tôi chả điếc
            bởi vì những quá khứ đau buồn
            vứt đi đừng luyến tiếc
            bởi vì những tư tưởng ca ngợi quyền người
            chúng ta đều thấu triệt…

            Niềm tin chưa bao giờ mất
            bởi vì tôi vẫn còn
            anh chưa chết
            bởi vì máu vẫn chảy trong tim
            bừng ý tình tha thiết:
            mặc dầu người ta nói thương nhau
            mà vẫn còn chém giết
            mặc dầu người ta cười vui tươi
            trên những xác người đã chết
            mặc dầu người ta ca ngợi công bằng
            mà không công bằng chi hết
            mặc dầu thành phố thật huy hoàng
            mà xóm anh buồn thảm thiết
            thì niềm tin cũng không bao giờ mất
            bởi vì nói đến tương lai
            ta phải dựng xây mải miết
            nếu nói rằng không thành công
            là vì không cả quyết
            nếu nói rằng thế cô
            là vì không đoàn kết
            và nếu nói đến lợi danh
            mong rằng anh chả thiết
            và buộc anh ca ngợi bất công
            không bao giờ anh viết

            Niềm tin không bao giờ mất
            bởi vì đã có những tình thương
            tạo nên bằng chân thật
            bởi vì kiếp sống con người
            không thể dày vò bằng quyền lực
            bởi vì lý tưởng là ngọn đèn
            không bao giờ lịm tắt
            bởi vì giữa đồng bào chúng ta
            tình thương phải muôn bền chặt

            Niềm tin không bao giờ mất
            bởi vì nói đến sử xanh
            ta có hơn 4000 năm oanh liệt
            và nói đến chuyện chống xâm lăng
            không ai kiêu hùng hơn giống nòi Lạc Việt


                                              PHONG SƠN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 12

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #140 vào: 06/01/2018, 14:42:45 »


            Tình khúc Việt Nam

                  1
            Hoa cần chi ai hay
            khi tỏa hương huyền diệu;
            nhưng khi tôi làm thơ
            thì tôi cần Em hiểu
            Tại sao Em làm đẹp?
            – chính để cho mắt chàng
            Tại sao tôi làm thơ?
            – chính vì nàng diễm tuyệt
            Tại sao chim nó hát?
            – vì cho bạn nó nghe
            Tôi hát khúc ca vì
            Biết rằng Em lắng đợi

                  2
            Xưa có bà mẹ già
            ba con đi quân đội
            Gió chiến tranh đã thổi
            cây cải xanh lên trời
            để rau răm ở lại
            chịu ngặm ngùi bao năm
            Mẹ sống trong cô độc
            giữa một khu rừng già
            Dưới mái tranh hiền hòa
            phủ một giàn thiên lý
            (bóng sẽ êm như mơ
            nếu có đoàn trẻ thơ)
            Bên láng giềng mẹ có
            một em gái chưa chồng

            Mái tranh buồn trông mong
            nên tóc vàng rạ rữa:
            – cha đi không về nữa
            Hai nhà đứng xoay lưng
            Mẹ đốn củi trong rừng
            em làm công dưới xóm
            cùng đi từ sáng sớm
            cùng về lúc sáng bưng
            Họ không hề thấy nhau –
            hai người cô độc ấy!
             ○
            Hai nhà đứng xoay lưng
            Có hai khung cửa sổ
            tháng năm không hề mở –
            mạng nhện giăng bịt bùng

            Ở bên khung cửa này
            có một lồng chim sáo;
            ở bên khung cửa nọ
            có một chậu kè xanh

            Không có người để thương
            nên mẹ trồng trong chậu
            một cây kè xanh xanh
            để mà yêu mà dấu;
            nên em nuôi con sáo
            để mà mến mà thương

            Cây kè cứ xanh lên
            cho phòng mẹ bớt tối;
            chim sáo cứ hót mãi
            cho lòng em nói năng
             ○
            Nhưng bỗng tới mùa đông
            sáo nghe lạnh trong lòng
            không còn ca hát nữa;
            và bên kia cửa sổ
            cây kè cũng héo đi

            – “Thôi chết! chim đau rồi!”
            Em thốt lời đau đớn
            Vội vàng nhai gạo mớm
            vì e sáo thiếu ăn

            Mẹ già không nói năng
            chỉ âm thầm nhỏ lệ
            (vì thẹn thuồng không thể
            kể to tiếng người hay
            nỗi buồn bà sâu dày
            chỉ vì cây nhỏ bé)

            Vội vàng đi ra bể
            vục một gáo nước trong
            tưới cho cây mùa đông
            vì e cây thiếu nước
             ○
            Nhưng cây đâu có khát,
            chim đâu có đói lòng:
            kè và sáo mùa đông
            chỉ buồn vì bóng tối

            Nên mỗi ngày chim mỗi
            khép cánh và ngưng lời;
            nên mỗi ngày cây mỗi
            úa héo nét xanh tươi

            Mỗi ngày lòng mẹ mỗi
            úa theo lá mùa đông;
            mỗi ngày tiếng ca trong
            của lòng em nín lại

            Đông làm thêm giá băng
            hai tâm hồn đã lạnh
             ○
            Thế rồi bỗng một hôm
            chim sắp trút linh hồn
            nằm ngã mình nghẻo cổ
            Em đứng bên cửa sổ
            ngây ngất vì xót xa
            liền tung cánh cửa ra

            Cánh cửa năm tháng đóng
            mạng nhện giăng bịt bùng
            nên khi cửa vừa tung
            mạng nhện vừa rơi xuống

            Mạng nhện liền rơi xuống
            và mặt trời rạng đông
            liền tuôn ánh sáng hồng
            vào căn phòng tăm tối
            và cười cười nói nói
            và nhảy múa vuốt ve
            trên tóc em vàng hoe
            trên má em hồng nhuận
            trên mắt em xanh đậm

            Và, đang nằm lặng thinh
            con chim bỗng trở mình
             ○
            Thế rồi chim sống lại
            cất tiếng hát trời trong
            cất tiếng hát vừng hồng
            cất tiếng mừng sự sống
            cất tiếng ca hy vọng –
            giai điệu quá tưng bừng
            thấm men say tận cùng
            trái tim người thiếu nữ
            khiến hồn em hớn hở
            liền đua nở muôn hoa

            Chính giữa khi bên này
            cánh cửa vừa tung mở
            thì bên kia cánh cửa
            cũng mở tung vội vàng:

            Trong khi nàng mở cửa,
            mẹ cũng mở cửa ra
            vì ngây ngất xót xa
            tưởng chừng như tắt thở
            thương cho kè héo úa

            Nhưng khi cửa vừa tung
            thì ánh sáng tưng bừng
            của mặt trời ào tới;
            và cây kè tắm gội
            ánh sáng, vội hồi sinh
             ○
            Sáo ngửng cổ nhìn sang
            và thấy kè bên đó;
            kè vươn cành lá ngó
            và thấy sáo bên kia

            Sáo nhìn thấy màu xanh
            nơi kè, liền tưởng nhớ
            tới mùa xanh của trời
            của đồng hoa nội cỏ
            của quê hương thời cũ
            nơi đó sáo đã ca
            cho lá và cho hoa
            tắm gội nguồn giai điệu

            Trong phút giây huyền diệu
            giọng sáo cất cao thêm

            Giọng sáo cất cao thêm
            mang theo một tiếng hát
            bao nhiêu ảnh nhiêu hình
            của quê hương kè xanh –
            nơi, giữa trời cao rộng
            mặt trời soi lồng lộng
            kè đã cố xanh tươi
            để tắm gội chim trời
            bằng màu xanh của nó

            Màu xanh của cây kè
            tiếng hát của con sáo
            đã gợi trong lòng nhau
            bao vui buồn huyên náo

            Họ buồn vì nhớ tiếc
            thời hoa bướm đã qua;
            họ vui vì tìm ra
            điều chi như Lẽ Sống

            Và chim sáo cảm động
            tỏ đôi lời thiết tha:
            – “Anh sẽ sống để ca
            cho em vui mà sống”
            Và cây kè cảm động
            – “Em sẽ sống vì anh
            em sẽ dâng màu xanh
            cho anh nhìn mà sống”

            Rồi sáo hát cao thêm
            cho hồn kè reo hát;
            rồi kè xanh bát ngát
            cho hồn sáo tươi lên
             ○
            Nghe tiếng sáo bên kia
            mẹ già ra cửa sổ;
            thấy kè xanh bên đó
            em gái đứng nhìn qua

            Rồi mắt họ gặp nhau –
            hai con người đau khổ;
            rồi môi họ cùng cười –
            không hiểu vì sao nữa

            Rồi trong tiếng sáo vui
            trong lá xanh phất phới
            bà mẹ và cô gái
            cùng lắng nghe trong mình
            nẩy sinh một mối tình
            chi mà huyền diệu quá!
            mối tình chi rất lạ:
            nó làm ấm trong tim
            nó làm lưng thẳng lên
            nó làm hoa gạo nở
            nó làm anh vũ múa
            nó làm trời thêm xanh
            nó làm suối long lanh
            nó làm tơ óng ánh
            nó làm sao lóng lánh
            nó làm thịt thành tim
            nó làm xương thành người
            thân người thành to lớn
            đời người thành vô lượng
            nó làm dậy triều xanh
            nó làm rạng hòa bình
            nó làm em thỏ thẻ
            tiếng thiêng liêng là:
                                    – MẸ
            nó làm mẹ reo dòn
            tiếng mầu nhiệm là:
                                    – CON!

            … Từ đó hai cửa sổ
            không đóng lại bao giờ
            hai con người bơ vơ
            đã kết tình con mẹ
            hai căn nhà quạnh quẽ
            đã trổ ngõ tìm nhau
            hai mái tóc ưu sầu
            đã cài hoa ánh sáng
            trong tiếng ca tỏ rạng
            mà sáo hiến cho kè
            trong màu xanh diệu kỳ
            mà kè dâng cho sáo

                  3
            Hoa cần chi ai hay
            khi tỏa hương huyền diệu;
            nhưng khi tôi làm thơ
            thì tôi cần Em hiểu
            tại sao Em làm đẹp?
            – chính để cho mắt chàng
            Tại sao tôi làm thơ?
            – chính vì nàng diễm tuyệt
            Tại sao chim nó hát?
            – vì cho bạn nó nghe
            Tôi hát khúc ca vì
            biết rằng Em lắng đợi


                                              TRỤ VŨ


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 12

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #141 vào: 06/01/2018, 22:44:50 »
VIỆC GIẢI PHẨU CON NGƯỜI QUA CÁC LƯƠNG Y: KHỔNG, LÃO, MẶC, VƯƠNG DƯƠNG MINH VÀ PHẬT THÍCH CA

THỜI ĐẠI nhiễu nhương, nhân tâm ly tán, nhân nghĩa tàn rụi, phong hóa suy đồi… tất cả sự kiện này dưới con mắt mỗi một triết gia, mang một sắc thái khác nhau, sắc thái đó là quan điểm nhân sinh mà kẻ sĩ mỗi thời “bắt mạch” thời đại họ sống để cho những “toa thuốc” chữa chạy cho cuộc đời.
            Nhìn chung diễn biến học thuật Á Đông, đặc biệt là nền học thuật, triết lý Ấn Độ và Trung Hoa xưa, ta thấy con người chưa có đầy đủ sinh khí được đặt lên trên giường bệnh để các “lương y” ra tay điều trị. Có người cho rằng căn bệnh ở nơi cá nhân con người, có người lại cho căn bệnh phát xuất từ xã hội, quốc gia, tập thể đã chi phối những cá nhân người!

LÃO TỬ nhìn xã hội chính trị lúc bấy giờ bằng con mắt hết sức bi quan. Ông chán ghét đến ghê tởm những thứ mà người ta trang trọng gọi là công lý, nhân đạo, luân lý, công bằng, bác ái… mà trên thực tế thì đầy dẫy những trò giả dối, điêu ngoa, lường gạt chém giết nhau như cơm bữa. Ông khinh ghét, căm hờn đến tột độ nhưng không có một ý niệm gì về sự điều chỉnh xã hội. Ông phủ nhận và chối bỏ tất cả, kể cả ông Trời mà hầu hết mọi người đều tôn trọng, cho là đấng tạo hóa công bằng, nhân đức và vô tư. Lão Tử nói “Thiên địa bất nhân, dĩ vạn vật vi sô cẩu” (trời đất bất nhân, lấy muôn vật làm con chó bằng cỏ). Ông không còn tôn tưởng một thứ gì trên thế gian này nữa. Đối với những điều mà các nhà nho thường mở miệng ra là “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín…” thì Lão Tử nổi xung lên mà hét: “Này, này! Làm loạn thiên hạ chính là những cái quỷ quái, giả dối ấy cả. Đem mà quăng sạch các thứ đó đi!”
            Cụ Khổng cũng sinh đồng thời với cụ Lão nhưng nhìn thế sự đảo điên bằng con mắt của người thầy thuốc có thiện chí tìm cho ra căn bệnh. Ông không bi quan đến trốn chạy trước cuộc sống như cụ Lão. Ông công nhận những sự giả dối, điêu ngoa, lừa gạt, những cảnh chém giết bất nhân… nhưng ông cố tìm cho ra nguyên nhân của mọi sự việc. Ông đã điều chỉnh cuộc đời, điều chỉnh xã hội chính trị lúc bấy giờ bằng thuyết “chính danh”. KHỔNG TỬ đã chú trọng đến cái nghĩa bản lai của mọi danh từ và mong muốn rằng mọi người phải hiểu rõ và đặt đúng vị thế và thực hiện đúng ý nghĩa nó trong mọi trường hợp.
            Cho đến Mặc Tử thì triết gia xã hội hiện thực này lại phủ nhận luôn quan điểm của hai cụ trên và cho rằng cả LÃO và KHỔNG đều không thực tế, đều ngã về một phái cực đoan, một bên phủ nhận cái Danh và một bên quá chú trọng cái Danh mà không thực dụng. Họ Mặc không chịu đề cao cái Danh trống rỗng, chỉ nói hão huyền ở của miệng, đầu lưỡi mà điều quan trọng là phải ứng dụng cái danh đó. Nhìn cảnh lê dân đồ thán trong họa đao binh liên tiếp, ông đã xướng lên thuyết Hòa Bình Kiêm Ái, ông lại thân hành đi nước này nước khác, bày tỏ những điều phải trái, giảng hòa những mối tranh chấp. Suốt đời, ông không thèm công danh phú quý, không chịu ra làm quan một nước chư hầu nào chứng tỏ rằng tư tưởng ông cốt ở điều thực dụng, không vụ hư danh. MẶC TỬ đã nêu cao tinh thần vị tha và phá đổ những tư tưởng vị kỷ trong câu nói “đừng lo cho riêng con mình dốt mà lo chung cho con thiên hạ dốt”. Đáng tiếc thay, tham vọng của con người quá cao, tiếng gọi Hòa Bình, Kiêm Ái của Mặc Tử đối với thời đại loạn ly lúc bấy giờ chỉ là tiếng kêu giữa sa mạc!
            Một người thứ ba của nền học thuật Trung Quốc, cũng tha thiết với nhân sinh và tiến thêm một bước có tính cách “khoa học thực nghiệm” hơn, đó là VƯƠNG DƯƠNG MINH. Ông ra đời vào năm Hiến Tôn nhà Minh, ngang với triều vua Lê Thánh Tôn nước ta. Cái đặc điểm của học thuyết Vương Dương Minh là tìm cho đến căn nguyên cái đạo học của Thánh Hiền để đem bộc bạch, phân tách ra để thực hành, chứng nghiệm một cách rõ ràng cụ thể để mọi người theo và mọi người đều hiểu. Ông chủ xướng thuyết “tri hành hợp nhất” mà biết bao danh nho đời trước đều cho rằng “Tri và hành” là hai cái khác nhau. Theo Vương Dương Minh thì “Tri” là biết “Hành” là làm đều do “Tâm” mà ra. Vì “Tâm” vốn đã có cái bản thể “minh giác” (sáng láng hiểu biết) để tự biết mọi sự hay, dở, nên, hư, lợi, hại… Bởi cái “minh giác” ấy mà người ta biết ăn, biết mặc, biết hành động, biết vinh nhục, sướng khổ, biết phấn đấu để bảo tồn sự sống ở đời, biết đau lòng trước những cảnh tang thương. Tóm lại, mọi sự “biết” (tri) cũng đều do “tâm”, do sự “minh giác” mà ra. Nhưng “tâm” có được sáng hay không là do tư dục của mỗi người. Người bị những vật dục, tham vọng quá nhiều thì “tâm” bị mây mờ che khuất, không còn cái minh giác để nhận định và hành động có ích cho nhân quần được.
            Phần “Hành” (làm) thiết thực và quan hệ nhưng cũng đã có sẵn trong “Tâm” rồi. Vương Dương Minh cho rằng một ý nghĩ phát động ngấm ngầm trong Tâm, ấy là “hành” rồi. Chỗ cốt yếu là ta phải biết kích thích hay hạn chế cái “hành” ấy ngay trong Tâm khi cái “tri” đã cho ta biết điều đó, việc đó tốt hay xấu, hay hay dở, thiện hay ác. Xác nhận ý tưởng này. Vương Dương Minh nói “tri chi chân thiết đốc thực xứ tức thị hành, hành chi minh giác tinh sát xứ tức thị tri” (cái chỗ ngay thật rõ ràng của sự biết tức là làm, cái chỗ thông suốt kỹ lưỡng của sự làm tức là biết). Ở đây chúng ta thấy nổi bật lên vai trò của chữ “Tâm”, tức sự “minh giác”.

NHÌN CHUNG, ta thấy từ Khổng, Lão, Mặc, đến Vương Dương Minh, vấn đề CON NGƯỜI sống giữa xã hội, quốc gia đã được đặt ra và được giải quyết nhiều cách. Cho đến Vương Dương Minh thì con người đã tự tìm thấy mình, tìm cách “tự lực” để tự kiểm soát cái “Tâm”, một sự minh giác để tự hoàn thiện bản thân để góp công cải tạo xã hội.
            Sự tự lực trong thuyết “tri hành hợp nhất” và cái “tâm” của Vương Dương Minh đã bắt chúng ta phải xếp Ông gần với một đấng hiền triết chói lọi của nền văn hóa Á Đông: Đức PHẬT THÍCH CA.
            Đối với cuộc đời, đối với quốc gia xã hội, con người đang sống ngụp lặn trong đó và có nhiều bổn phận phải làm, nhiều quyền lợi được hưởng. Phật giáo công nhận đời là bể khổ trầm luân nhưng không trốn chạy, than van hoặc cầu xin một sức mạnh thiêng liêng nào giúp mình thoát ra bể khổ đó. Có thể nói tất cả giáo lý của đức Phật đại từ bi đều hướng về trung tâm điểm là sự “tự lực”, sức cố gắng của chính mình, của riêng từng cá nhân. Theo Kinh của SUTTARIPATA có câu: “Con ạ, chính con phải tự ráng sức” và Kinh DHAMMAPADA cũng có câu: “Chính con, con phải tự gắng sức, ta chỉ vạch đường mà thôi”. Hoặc một câu khác, rõ ràng hơn “Hỡi các người, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi!” Giáo lý đức Phật đã đề cao tuyệt đối giá trị nhân bản. Con người phải công nhận thân phận của mình, không tin tưởng và ỷ lại vào một ơn huệ thiêng liêng, một thánh sủng (grâce divine) nào cả. Con người cũng không chịu thua cái gọi là “định mệnh” mà trái lại phải phấn đấu trường kỳ để “làm cuộc đời” của mình.
            Ý thức tự làm lấy cuộc đời mình cũng như sự vạch lấy con đường giải thoát cho tha nhân trong giáo lý đức Phật bắt nguồn từ sự nhận chân những đau khổ của cuộc đời: thực trạng sinh, lão, bệnh, tử và những cảnh khổ của sinh linh ngay ở bên ngoài bốn cánh cửa hoàng cung (chuyện “tứ môn xuất du” của Thái tử Tất Đạt Đa).
            Cuộc đời như thế, con người như thế. Vậy phải làm gì. Đức Phật không muốn môn đệ của Ngài thắc mắc, suy luận lôi thôi về những gì siêu hình diệu vợi, lý thuyết khó khăn, không có giá trị thực tiễn. Đức Phật không muốn Phật giáo đồ của mình suy tôn mình là Thần, Thánh, là một chủ thể cao cả thiêng liêng để trông chờ ban ơn, ban phước. Ngài nói “Ta cũng chỉ là người như các con. Chính ta, ta đã phải tự giải thoát”, và Ngài cũng xác nhận rằng mọi người đều có thể là Phật nếu biết theo con đường tu tập đã vạch: “Ta là Phật đã thành, các con là Phật sẽ thành”. Thật là giản dị, khiêm tốn và thực tiễn.
            Con đường tự giải thoát là gì? Là nhìn thẳng vào cái “Tâm” của mình. Giáo lý nguyên thủy của Phật giáo cũng nằm gọn trong “Tứ thánh đế”, bốn lời dạy, bốn chân lý, vi diệu, cao cả nhưng rất cụ thể, rất gần với chúng ta:
            Thứ nhất: đời là khổ
            Thứ hai: nguồn gốc của khổ
            Thứ ba: sự diệt khổ
            Thứ tư: con đường dẫn đến sự diệt khổ.
            Và cố nhiên khi nắm vững bốn chân lý đó, con người phải tự “võ trang” cho mình một thứ khí giới gì để chiến đấu diệt khổ. Khí giới đó lạ thay lại là tình thương yêu và sự sáng suốt. “Từ bi và trí tuệ”. Sáng suốt để nhìn vào cái “Tâm” để “minh giác” diệt Dục, diệt Khổ, diệt Tham, Sân, Si… Đối với xã hội nhân quần, từ bi mang ý nghĩa tôn trọng sự sống, một sự sống đầy đủ của con người, của mọi sinh vật trên quả đất…

BÂY GIỜ, thời đại văn minh, con người nhờ những tiến bộ khoa học, đã tiến rất xa trong việc phục vụ cho những tiện nghi của đời sống, làm cho đời sống thêm lạc thú nhưng đồng thời cũng làm phá sản, khánh tận những đức hạnh, những thuần phong, mỹ tục, những “nhân phẩm” và những “dân tộc tính” cần thiết cho người dân mỗi nước. Con người đang biến thành dã thú man rợ. Tham vọng về lợi lộc, uy quyền quá cao làm mờ mắt chúng sinh để chúng sinh lăn xả vào cảnh đao binh giết chóc. Tham vọng đã làm đỏ ngầu những đôi mắt hiếu chiến, chỉ biết nhìn lên một ảo ảnh vàng son là sự tóm thâu, chinh phục hoàn cầu, dù sự chinh phục đó đã được minh chứng nhiều lần bằng sự điêu tàn đổ nát của mọi cảnh vật của mọi sinh linh như một Thành Cát Tư Hãn, một Tần Thỉ Hoàng, một Nã Phá Luân, một Hitler…
            Ở những bối cảnh bi thảm đó, nhất là trong vòng chật hẹp của đất nước Việt Nam dưới những chính thể của bạo chúa, bạo quyền, con người Việt Nam nói chung và Phật giáo đồ nói riêng, bị hoạn nạn đau đớn nhưng cũng vì hoạn nạn đau đớn đó mà tinh thần Bi, Trí, Dũng chổi dậy, chói sáng và tỏ ánh hào quang cùng khắp. Hình ảnh những đoàn tăng ni Phật tử chắp tay cầu nguyện, thẳng tiến vào rừng gươm biển súng dưới thời Nhu, Diệm đã chứng minh tiềm lực vạn năng của Phật giáo, một tôn giáo thực nghiệm nhất của con người.
            Ma vương, quỷ sứ, dã thú phải chồn chân, lui bước trước đôi mắt lim dim, trước nụ cười hiền hòa của đức Phật…

TÓM LẠI, qua bao nhiêu trào lưu tư tưởng, qua nhiều lương y tinh thần chữa trị, con người vẫn chưa tìm thấy sinh khí, chưa tìm thấy hạnh phúc. Nhưng hy vọng rằng, với vị bác sĩ đầy tình thương yêu rộng lớn, đầy phương pháp thực nghiệm để chữa trị như đức Phật Thích Ca, chắc chắn rằng bệnh nhân sẽ tìm thấy sinh khí của mình đã mất, cố gắng theo phương thuốc Bi, Trí, Dũng đó để điều trị thì trong một ngày gần đây, thế giới sẽ bình phục toàn diện trong niềm hoan ca rộng lớn của tình thương.


Phật đản 2510
PHONG SƠN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 12

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #142 vào: 13/01/2018, 22:30:49 »
QUỈ  ÁM

CHA MẸ tôi là nông dân ở miền Tây. Khi sanh tôi ra, thì xóm bên cạnh của xóm nhà tôi hãy còn là một cái sóc của người Miên, với những nhà cao cẳng, với một ngôi chùa kiến trúc theo lối Khờ me, chung quanh trồng lâm vồ và bồ đề um tùm. Mỗi lần sãi cả có việc ra tỉnh, thì ông ngồi giữa một cái ghe bầu, nhập thiền, lim dim, và lúc lắc theo nhịp chèo của sáu ông sãi con chèo nhẹ nhẹ để đừng động giấc thiền của thầy. Lũ trẻ nhỏ chúng tôi, năm tuổi có, ba tuổi có, mỗi lượt thấy ghe của các ông sãi Miên qua như vậy cảm thấy các ông chèo chậm quá, dọc theo mé, theo hướng của ghe hầu, để giục cho các ông sãi chèo mạnh mái hơn. Chúng tôi hò khoan:

                        Hạ bồ đề, thượng lâm vồ,
                        hò khoan!
                        Thượng lâm vồ, hạ bồ đề,
                        hố khoan!


            Các ông sãi Miên chẳng chịu chèo mạnh và nhanh theo nhịp hò khoan, hố khoan của chúng tôi, nhe răng cười để tỏ cảm tình với chúng tôi, nhưng lại ngó ông sãi cả ngồi lim dim ở giữa ghe. Tôi tuy còn nhỏ, song sớm hiểu rằng họ không chèo nhanh, vì sợ động giấc thiền của ông sãi cả.
            Gần nhà tôi là nhà của chủ đất, làm chức Hội đồng, giàu có rất lớn. Sau nhà cậu Hội đồng, có một cái sân rộng minh mông, chỗ phơi thóc, chỗ làm việc cho mấy chục nhân công khi có việc, hay làm cái sân chơi cho lũ nhỏ chúng tôi có một cái trò nghịch ngợm nào đó. Nên nhắc rằng thuở ấy dưới mười tuổi, thì con gái chừa vá, còn lũ con trai của chúng tôi đầu cạo trơn tru, bóng láng cho nó mát mẻ. Một hôm sau một hồi hò khoan, hố khoan mà chiếc ghe hầu của các vị sãi Miên chẳng chịu đi nhanh, chúng tôi rủ nhau ra sân sau nhà cậu Hội đồng mà nghịch. Chúng tôi lén lấy chăn tắm mà quấn mình, giống các ông sãi, lấy lá chuối trải trên đất tượng trưng cho chiếc ghe hầu. Tôi giành làm sãi cả, ngồi nơi giữa. Sáu anh lực lưỡng đứng bày trước sau như là mấy người chèo. Thay vì nhập thiền, ngồi lim dim, chính tôi lại giành hò khoan, hố khoan để lấy nhịp mà chỉ huy:

                        Hạ bồ đề, thượng lâm vồ,
                        hò khoan!
                        Thượng lâm vồ, hạ bồ đề,
                        hố khoan!


            Do theo lịnh hò khoan, hố khoan của tôi mà sáu anh chèo. Ban đầu, tôi còn nói chậm rãi. Song tôi thấy chiếc ghe lá chuối của chúng tôi nằm lỳ trên mặt đất chẳng nhúc nhích cục cựa mà tiến được một tấc, một phân nào, tôi lại nói nhanh lên, càng phút càng nhặt. Nói nhặt quá không được, tiếng nầy chồng lên tiếng kia, nghe không ra tiếng nào cả, tôi bèn bỏ phứt bồ đề và lâm vồ đi, mà chỉ ra lịnh:

                        Hạ, thượng… hò khoan!
                        Thượng, hạ… hố khoan!


            Chiếc ghe lá chuối vẫn không tiến tới. Tôi hăng tiết, bỏ luôn cả thượng và hạ chỉ còn hò khoan, càng phút càng nhặt… Anh em chèo nghe theo lịnh chèo tháo mồ hôi hột, mà ghe vẫn nằm ì. Công chúng (thật ra là đám con gái đầu chừa vá, và con trai đầu nhẵn nhụi) cũng hưởng ứng mà hò khoan, hố khoan, làm náo động một góc. Chẳng lâm vồ, bồ đề, chẳng thượng, hạ, loạn xà bì như thế kia, mà ghe cũng vẫn không tiến chút nào.
            Chẳng những ghe không tiến, mà mợ sáu Hội đồng ngủ trưa ở nhà trên bị mất giấc, ra sau coi có gì mà ỏm tỏi đến thế. Mấy anh chị khác, cũng là con tá điền, sợ tội đổ trút cho tôi, vì biết tôi là cháu, dầu có bị đòn, thì cũng ít ít thôi. Mà dầu không đổ tội, thì rõ như ban ngày, tôi làm sãi cả, ngồi xếp bằng, lắc lư mà ra lịnh hò khoan, hố khoan kìa. “Công chúng” mỗi đứa bị một nhịp roi nhè nhẹ nơi mông. Sáu anh sãi chèo mỗi anh lãnh một roi thẳng thắng. Còn tôi là chủ mưu, thì tôi lãnh năm roi và cái chức là “sãi mầm”. Còn cậu Hội đồng đưa ra trường hợp giảm khinh, nói rằng sở dĩ mà tôi bày trò chế nhạo sãi Miên, chẳng kỉnh tăng bởi vì tôi bị “quỉ ám”.
            Tôi học được danh từ “quỉ ám” lúc tôi năm tuổi gì đó, sau khi lãnh năm roi lên mông, lãnh chức “sãi mầm”, vì đã chẳng lâm vồ, bồ đề, chẳng thượng hạ, loạn xà bì, mà chiếc ghe lá chuối chẳng tiến tới một ly.

VIỆC ĐÃ xảy ra hơn năm mươi năm về trước. Nay xét lại tôi không rõ lúc ấy, tôi đã bị quỉ ám, hay đã bị một cái gì khác “ám”. Có lúc, đọc một tiểu thuyết trứ danh của một văn hào Nga, nhan đề Những kẻ bị ám, tôi đã một lần nghĩ lại khoảng đời đã qua của mình.
            Lúc tôi năm tuổi, ở cả vùng tôi, trẻ con sống trong cái nếp “người ta vác giạ đi vay thóc, chớ không ai vác giạ đi vay chữ”, mà tôi đã bị “ám” chèo chẹo đòi đi học để thoát cái thân phận nông dân… Tôi đã thoát được thân nông dân… Nhưng không biết đó là cái phúc hay cái họa. Nhiều lúc thất bại trong cuộc đời, khổ sở quá, tôi đã nghĩ, nếu không bị “ám”, mà hóa thành một thằng trí thức lỡ mùa, lại an phận làm một nông dân nghêu ngao giữa đám lúa vàng, dưới vòm trời xanh gió phe phẩy thổi đưa hương lúa chín bát ngát, thì có lẽ được cái phước của kẻ an bần lạc đạo…
            Lúc tôi mười hai tuổi, có người rủ tôi lên núi tu luyện, cầu thuật trường sanh, tập cho tâm nhập đạo. Tôi lại bị “ám”, thích tranh đua cho hơn đám con nhà giàu cùng làng, mà lách sang nẻo khác. Nếu không bị “ám” biết đâu ngày nay, tôi đã là một đạo sĩ mà ai cũng yêu, chớ chẳng phải lãnh cái thân phận của một nhà văn chánh trị mà quá nhiều kẻ ghét.
            Mà sở dĩ có nhiều người ghét như vậy, vì thật tình, không chối cãi được, tôi đã bị “quỉ ám”. Quỉ ở đây, đó là Chủ Nghĩa. Tôi đã bị nó ám trong chín năm, không khác nào Cao Hoài Đức đã bị Dư Hồng giắt bùa lên mái tóc. Tôi đã hăng say, hơn hăng say nữa, tôi đã mê tranh đấu. Trong cuộc tranh đấu, tôi đã chọn hình thức mà những vết thương tuy không thấy mà đau đớn không sao lành được: đó là vết thương lòng. Kẻ bại trận không bao giờ dung tha ai đã đưa ra lập luận bẻ gãy lý thuyết của mình. Chín năm bị ám, coi được sự mê mải, nhưng mà tôi lại mang cái họa to, là sau chín năm là nhà bút chiến, tôi đã làm cái giọng của Nễ Hoành, sau mấy chục năm làm con mọt sách, tôi lại tập cái hào nhoáng của Dương Tu. Một Nễ Hoành, một Dương Tu, cũng thừa làm cho người ghét rồi, huống chi kiêm cả hai, bảo người ta thương sao được?
            Nhưng mà những cái ấy chỉ là phó hiện tượng (épiphénomène) của một sự “bị ám” vĩ đại. Năm 1924, tôi được đọc bài diễn thuyết của Nguyễn An Ninh về Cao Vọng thanh niên ngày nay. Nhưng lập luận của Nguyễn An Ninh có lẽ không có màu sắc của thời thượng. Nhưng điều cốt yếu là nó gây được trong lòng của thanh niên một hứng thú, một say mê, một ấm áp lần lần được hâm nóng lên phựt cháy thành ngọn lửa thiêng, ngọn lửa mà quay vào nội tâm mà nhìn, ta đọc làu làu hai chữ cao vọng.
            Có lẽ lúc bốn năm tuổi, mình quấn cái khăn tắm mà hô lịnh hò khoan, hố khoan, tôi đã bị quỉ nó ám. Song từ khi đọc xong Cao vọng thanh niên ngày nay tôi đã bị “cao vọng ám”. Chắc chắn là như vậy. Làm con nhà nghèo, nếu không bị cao vọng ám, làm sao dám vượt trùng dương, sang Âu châu để ngốn những tư tưởng đã làm cho Tây phương mạnh, và bởi mình thiếu, nên mình yếu? Làm một sanh viên chỉ thông minh vừa vừa nếu không bị cao vọng ám, làm sao dám ngốn chương trình toán học của Đại học dạy trong năm năm mà ngốn trong một năm, để có thể làm một thứ, nói đúng hơn là nuôi mộng làm một thứ Ricci và Lévi Civita, sáng chế một thứ toán vi phân tuyệt đối, khả dĩ giúp cho một học thuyết như của Einstein xuất hiện?
            Rồi, lúc hai mươi tuổi vào Chủ Nghĩa, phần lớn là do cao vọng nó ám. Năm 1930, ảo mộng của quốc tế chủ nghĩa rất mãnh liệt. Ai cũng tin rằng cái thế giới đại đồng có cơ thành hình được. Nếu chủ nghĩa quốc tế là sự thật thì sự “thoát thân phận” mở rộng cho những ai nuôi cao vọng. Sẽ chẳng còn việc “con vua thì đặng làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”. Con nhà nông sẽ thoát thân phận nhà nông của mình. Trên nấc thang xã hội, ai muốn trèo lên cao bao nhiêu thì tùy mình. Trên bàn cờ quốc tế, dầu làm người Rhadé ở Việt Nam, hay làm cà răng căng ta, ở Phi châu, một thanh niên lập đủ chín cái lập đau (lập tâm, lập chí, lập đức, lập tài, lập ngôn, lập danh, lập công, lập thế, lập quyền…) tất có thể lập thân mà làm kẻ lãnh đạo thế giới…
            Tôi vào Chủ Nghĩa chánh yếu là do cao vọng nó ám. Mà tôi thoát ra khỏi Chủ Nghĩa, chánh yếu cũng là nhờ cao vọng nó ám. Năm 1939, khi tôi thấy rằng, ngay trong hàng ngũ Quốc Tế Chủ Nghĩa chỉ là một danh từ trống rỗng, khi tôi thấy rằng ở đó nguyên tắc “con vua thì đặng làm vua, con sãi ở chùa thì quét lá đa”, nguyên tắc ấy áp dụng khít khao hơn nữa, thì tôi thấy rằng tôi ở trong Chủ Nghĩa là một sự tôi phi lý. Mà thấy được vậy ấy là nhờ có cao vọng nó ám.
            Nhờ cao vọng ám, mà tôi thấy tôi là người tự do, ngay khi ở trong cảnh nô lệ nhất, tù túng nhất, bi đát nhất. Bị tù trong tù, tâm hồn tôi trầm tư mà vượt bao nhiêu ngăn cách của phòng, của lao, của nước biển mênh mông mà tung khắp phương trời. Nhờ cao vọng ám mà tôi hăng say, tôi sung sướng làm việc như một trai hai mươi tuổi, đều đều viết vài chục trang mỗi ngày, hoạt động ở nơi nào chen vào hoạt động được. Nhờ cao vọng ám, mà tôi không bao giờ có giọng chán nản, ê chề, hết muốn làm, gởi thân xác và tâm hồn vào hộp đêm và phòng trà…

BỊ CAO VỌNG ám có chỗ hay mà cũng có chỗ dở của nó. Là ta xây một cái “tháp ngà” mà sống trong đó, chẳng hiểu đời càng ngày càng trụy lạc, người càng ngày càng bê tha. Như vậy là tách rời với đại chúng. Các bạn phê bình:
            – Anh muốn làm thứ “văn chương đáng giá”, mà tách rời đại chúng như vậy thì công dụng ở văn chương ấy ở chỗ nào?
            Tôi cũng nhận như vậy. Tôi cũng cảm nhận rằng muốn cảm hóa độc giả đang say mê ma túy, thì cung hiến độc giả cũng thứ văn chương ma túy, mà nhiễu vào đó những giọt “sáng giá” càng ngày càng nhiều hơn. Nghe đồn tiểu thuyết Chu Tử ăn khách, tôi học đòi viết thứ tiểu thuyết “hiện sinh” để pha “sáng giá” vào, làm những bìa hấp dẫn và khêu gợi, với nhan đề một chữ 1, Tình. 2, Tiền. 3, Tài. 4, Trá. 5, Thắng. 6, Thảm. 7, Thù. 8, Tội. 9, Tù. 10, Tử. Một chữ mà chữ nào cũng khởi đầu bằng chữ T, chữ đang làm tê tái thế hệ tuổi trẻ.
            Nhưng khốn nỗi, có sống mới có viết. Chẳng biết phòng trà, hộp đêm, canh bạc, mùi thuốc phiện, ma túy của cô cô, chẳng trác táng, chẳng tếu, chẳng trụy lạc, chẳng say sưa chất men của rượu, của các gái, của trận cười, làm sao cho sôi động, cho mê li, cho hấp dẫn, cho rùng rợn, cho thác loạn được?
            Có người rỉ tai:
            – Anh cho “quỉ” nó ám đi! Anh van vái cho một Méphistophélès hiện đến mà cho anh “sống” đầy đủ đi! Khốn nỗi trọn đời sống như một nhà nho, cốt để “giữ thơm quê mẹ”, bây giờ vì muốn ăn khách mà sanh sứa dầu với cái dụng tâm nhiễu ít giọt “sáng giá” vào cái văn chương “hiện sinh” nọ, phỏng có ai là tri kỷ, nghĩ rằng làm như vậy, vẫn là hành cái hạnh “giữ thơm quê mẹ” chăng? Hay thật sự đã sanh sứa rồi?
            Nhân đọc tập tiếng nói của một số nhà văn trẻ đứng trước hiện tình của đất nước, tôi cảm thấy một nhà văn già cần góp “tiếng nói” của mình về vấn đề: nhà văn và thời đại.


HỒ HỮU TƯỜNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 12

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #143 vào: 20/01/2018, 23:23:05 »
TÌM HIỂU “ĐỆ TAM TUYỆT” TRONG THỜI TAM QUỐC

A.– KHÁI LUẬN
            Xưa nay những người đọc Tam Quốc Chí cũng như các nhà phê bình sách này, mỗi khi nói tới Tào Tháo là người ta nói: Đa nghi như Tào Tháo, tàn nhẫn như Tào Tháo, gian hùng quỷ quyệt như Tào Tháo. Có kẻ cực đoan hơn lại còn cho rằng Tào Tháo là một nhân vật “di xú vạn niên” (để xấu muôn đời).
            Họ Tào có phải là một người xấu xa như vậy không? Tại sao người ta lại cứ chê bai mạt sát họ Tào đến như vậy?
            Nay ta thử đặt lại vấn đề, để tìm hiểu giá trị đích thực của con người đã từng được xem là “đệ tam tuyệt” của thời Tam Quốc.

TRƯỚC KHI thảo luận tới nội dung, điểm quan trọng nhất mà chúng ta phải nêu lên như một điều kiện tiên quyết là vấn đề sử quan.
            Tất cả các tác giả Tam Quốc Chí từ Trần Thừa Tô tới Phạm Quần, Bùi Tùng Chu, Đào Tôn Cương, Lã Quan Trung cho cả đại phê bình gia Kim Thánh Thán đều đứng trên lập trường sử quan phong kiến mà ghi chép lại sự việc cũng như nhận xét vấn đề.
            Ví dụ: Trong bài “Nguyên tắc nhận định về truyện tam quốc” của Mao Tôn Cương là Thánh Thán đã khẳng định rằng:
            – Nhà Thục Hán tức Lưu Bị là chính thống.
            – Nhà Ngụy, nhà Ngô đều là tiếm quốc.
            Khẳng định dứt khoát như vậy, rõ ràng là sử quan phong kiến đã bóp méo sự kiện lịch sử một cách vụng về. Vì khi ba anh em Lưu Bị tự cho mình là con cháu của Lưu Cảnh Thăng giòng dõi nhà Hậu Hán, thì đó cũng chỉ là một thủ đoạn bám víu lấy di tích cũ để hợp pháp hóa cuộc khởi nghĩa của mình, cũng chỉ là một đòn chính trị vì: lúc Tào Tháo đang sống, mặc dầu là nắm mọi quyền binh trong triều, nhưng Hán Hiến Đế vẫn giữ ngôi thứ Thiên Tử nhà Hán, cho nên lúc Tào Tháo đang sống, thì không thể bảo Ngụy là tiếm quốc được. (Còn việc sau khi Tào chết rồi, mà con là Tào Phi soán đoạt ngôi vua, thì đó lại là một việc khác.)

VÀ NẾU chịu khó đào sâu thêm chút nữa, thì ta sẽ thấy rằng lịch sử loài người từ khi quốc giới được phân định, thì việc giành quyền cướp nước vẫn cứ nối đuôi nhau tiếp diễn qua hai hình thức:
            – Dùng biện pháp quân sự đánh đổ chủ cũ để mình lên thay thế. Ví dụ trường hợp vua Thành Thang nhà Ân Thương đánh vua Kiệt nhà Hạ để cướp nước nhà Hạ, vua Võ Vương đánh đổ Trụ Vương để cướp nước nhà Ân, Hạng Võ, Lưu Bang đánh đổ nhà Đinh Tần v.v…
            – Dùng biện pháp chánh trị lật đổ chánh quyền cũ để cướp chánh quyền về tay mình. Trường hợp này những tay đại thần thường hay dùng danh từ phong kiến gọi là “soán đoạt”. Ví dụ trường hợp Vương Mãn soán Hán, Lưu Bị soán Tần, Lý Thái Tổ (Việt Nam) soán Tiền Lê, Trần Thủ Độ (Việt Nam) soán Lý, Hồ Quý Ly soán Trần, Mạc Đặng Dung soán Lê v.v…
            Luân lý phong kiến rất đề cao chữ “Trung” lên án người hoán dịch, nhưng lịch sử phong kiến lại cũng là những khúc ngoắt hoán dịch, kế tiếp nhau qua hai hình thức nói trên cho nên câu “Được làm vua, thua làm giặc” vẫn là câu ngạn ngữ bất hủ.
            Khi đã thấu hiểu như vậy rồi, thì dù Tào Tháo có thực sự soán đoạt ngôi nhà Hán đi chăng nữa vẫn không có gì lên án chỉ trích đối với lịch sử phong kiến.

B.– BỐI CẢNH LỊCH SỬ
            Muốn tìm hiểu Tào Tháo, trước hết phải tìm hiểu bối cảnh nào đã sanh ra anh ta.
            Truy cứu lịch sử Trung Hoa, chế độ phong kiến tỉnh điền đời nhà Chu tới Tần Thủy Hoàng đã hoàn toàn thay vì chế độ trung ương tập quyền, chế độ kinh tế nông nghiệp hòa đồng với nền kinh tế thương mãi và thủ công. Nhưng Tần Thủy Hoàng là người cứng rắn đã gây chuốc lấy phản động lực nhiều bởi những kẻ mưu duy trì ý thức hệ cũ của Nho giáo.
            Khi Lưu Bang Hán Cao Tổ lên ngôi hoàng đế, mặc dầu không chạy lộn lại chế độ phong kiến tỉnh điền của nhà Chu, nhưng nhận thấy Nho giáo là một công cụ rất lợi cho chế độ phong kiến, cho nên 400 năm trị vì các vua đời Hán (cả Đông và Tây Hán) đều đề cao Nho giáo. Đổng Trọng Thư là một đại nho đời Hán, đã có công hệ thống hóa Nho giáo bằng những “tam cương” (quân, sư, phụ), “ngũ thường” (nhân, lễ, nghĩa, trí, tín), “ngũ luân” (quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu). Trải gần 400 năm giòng họ Lưu ngự trị Trung Quốc tới triều đại Hán Hiến Đế tức là lúc Tào Tháo nhẩy vào chính trường là lúc Nho giáo cực thịnh, tín đồ đạo nho đã giữ hết chủ quyền trong triều ngoài dã. Tào Tháo cũng là một người xuất thân trong đám nho này.

C. – DẬT SỬ HỌ TÀO LÚC THIẾU THỜI
            Ông người Tiều Quân nước Bái, họ Tào tên Tháo, tự là Mạnh Đức. Nguyên bố ông là người họ Hà Hầu: Hà Hầu Trung. “Hầu Trung làm con nuôi quan Trung Thường Thị Đào Đằng, nên lấy họ của cha nuôi mới đổi tên là Tào Trung”. Tào Trung sinh hạ Tháo, đặc biệt danh là A Lan, còn có một biệt danh là Cát Lợi.
            Lúc còn thiếu thời, ngoài việc học hành, còn thích săn bắn, luyện tập võ nghệ, nổi tiếng văn võ toàn tài thời niên thiếu.
            Lúc Tháo còn hàn vi, có một đạo sĩ tên là Kiều Huyền đã tỉ tê chuyện trò với Tháo:
            – Trong cuộc thiên hạ đại loạn này, nếu không có một nhân tài xuất loại bạt tụy như ông thì không sao khuông phù nổi, ông nên cố gắng lên.
            Một ẩn sĩ ở Nam Dương, tên là Hà Ngung có dịp gặp họ Tào, rồi nói riêng với nhiều người:
            – Họ Lưu Hán đã tới lúc mạt vận, họ Tào là một nhân vật đủ khả năng bình định thiên hạ.
            Lại một lần họ Tào được gặp Hứa Thiệu ở vùng Nhữ Nam, một kẻ ẩn sĩ biết thời cơ, nhân sự. Họ Tào hỏi:
            – Ngài thấy tôi là người thế nào? Tương lai có làm được trò trống gì không?
            Hứa Thiệu cười mỉm không đáp, họ Tào gạn hỏi mãi. Hứa Thiệu mới “nói nhỏ”:
            – Thời trị thì anh là bầy tôi giỏi, thời loạn thì anh là kẻ gian hùng.
            Các sử gia Trung Quốc, kể cả mấy tác giả phê bình Tam Quốc Chí, ghi chép tới sự việc trên đều nhất trí nhận định rằng: ý thức soán đoạt của Tào Tháo, nhà “tri nhân” Hứa Thiệu đã biết sẵn từ lúc họ Tào còn là hàn vi.
            Nhận định như thế hoàn toàn đứng trên lập trường và sử quan phong kiến, công nhận sự trung quân là tuyệt luân. Sự thực thì nhà tiên tri Hứa Thiệu không phải nói như vậy là có ý mạt sát họ Tào là soán đoạt, mà chỉ có nghĩa thời đã loạn lạc rồi thì anh là người đủ khả năng lật lại thế cờ mặc dù là người đương thời đã gắn cho anh hai chữ gian hùng.

THẬT VẬY, nếu như vận hội nhà Tiền Lê chưa tới lúc đốn mạt với nhân vật Lê Ngọa Triều ngu xuẩn vô đạo, thì Lý Công Uẩn vẫn là một vị trung thần khuông phù nhà Tiền Lê. Nếu như Lý Triều chưa đến lúc mạt diệp chỉ có thể sụp đổ, thì Trần Thủ Độ cũng là một vị tôi trung của Tiền Lý. Cũng như nếu Trần triều chưa tới lúc quá suy vi, thì Hồ Quý Ly là một vị trung thần của nhà Trần.
            Cho nên Lý Công Uẩn xây dựng nhà Lý, Trần Thủ Độ lập xã tắc nhà Trần, Hồ Quý Ly kiến tạo xã tắc nhà Hồ, đó chỉ là những nhân vật đủ khả năng lật lại thế cờ để bình định thiên hạ, trong một giai đoạn lịch sử nhất định.
            Cho nên nếu như Tào Tháo làm đại thần với Hán Hiến Đế mà có lật lại thế cờ, nghĩa là lật đổ nhà Hán để bình định thiên hạ, thì có gì là lạ lùng quái gở mà mấy sử gia phong kiến cứ rập lời mạt sát ông ta?
            Nhưng tại sao họ Tào khi đã nắm hết quyền hành quân dân chính, trong triều ngoài dã rồi mà ông vẫn cứ duy trì ngôi báu nhà Hán?
            Trường hợp này xưa nay đã có nhiều ý kiến giải thích khác nhau.
            Hà Tăng Hữu tiên sinh trong bộ “Trung Quốc Chính Trị Tư Tưởng Sử” thì cho rằng:
            “… Mặc dù là một người dám nghĩ dám làm như Tào Tháo, nhưng ông ta vẫn chưa đủ can đảm để bất chấp tất cả ý thức hệ phong kiến, khi chữ trung quân đang được đề cao, nghĩa là ông ta còn bị lệ thuộc vào thanh nghị lịch sử sẽ cho là một người tôi soán đoạt…”
            Nhưng theo Quách Mạt Nhược trong cuốn “Trung Quốc Nhân Vật Sử khảo” thì lại cho rằng:
            “Tào Tháo là một người gan dạ, dám làm tất cả những gì để đi tới thành công kể cả việc thẳng tay lật đổ ngai vàng nhà Lưu Hán đã đến lúc cực kỳ suy vi. Nhưng việc đó đời ông chưa dám làm, chỉ vì chính trị giai đoạn. Uy thế nhà Lưu Hán chưa tới lúc sụp đổ hoàn toàn, nếu bây giờ công việc đó, tức là điều kiện cho hai đối thủ là Lưu Bị, Tôn Quyền tuyên truyền để lôi kéo quần chúng theo họ, rất bất lợi cho ông. Nói một cách cụ thể là lịch sử chưa tới giai đoạn chín muồi, nên ông còn gác lại để cho con là Tào Phi…”

D.– TÌM HIỂU CON NGƯỜI TÀO THÁO
            Trước khi tìm hiểu con người Tào Tháo, điều trước tiên là chúng ta phải xét lại giá trị của cái sử quan thiên lệch biểu hiện nơi những lời lẽ chê bai nguyền rủa Tào Tháo (cũng như ca ngợi các nhân vật “chính thống”) mà các sử gia phong kiến đã viết cho chúng ta đọc, mà hiện nay có thể còn ghi đậm nét trong đầu óc chúng ta.
            Như đã nói ở trên, tất cả các tác giả Tam Quốc Chí phê bình gia cũng như tác giả các vở tuồng chèo cổ, đều đã bị ý thức hệ phong kiến lung lạc, khi họ công nhận sai lạc rằng: Chỉ có Lưu Bị mới là chính thống, còn Ngụy (Tào Tháo), Ngô (Tôn Quyền), đều là tiếm quốc cả. Từ chỗ nhận thức sai lầm đó, dẫn tới sự sai lầm khi ghi chép sự việc cũng như phê bình, nhất là khi vận dụng quyền uy tư pháp trong việc viết và phê bình Tam Quốc Chí.
            Nói rõ hơn, khi ghi chép về Lưu Bị và Khổng Minh những tác giả trên cố gắng vận dụng những từ ngữ rất hay rất đẹp, trong khi chép về Tào Tháo người ta lại cố kiếm những chữ những lời lẽ xấu xa để bôi lọ Tào Tháo.
            Có người cãi lại chúng tôi rằng: Người viết lịch sử là kẻ dùng văn tự để ghi chép sự việc, tốt hay xấu là do sự việc tự nói lên, người viết đâu có chịu trách nhiệm?
            Nói vậy còn có gì sai lầm hơn. Chúng ta thử lấy một thí dụ: Hai chị em bà Trưng khởi nghĩa đánh Tàu cứu nước, có phải là chính nghĩa không? Ấy thế mà sử gia Tàu Viết:
            “Rợ phương Nam Trưng Trắc làm phản loạn; vua sai Đại tướng Mã Viện dẹp yên” (Nam man Trưng Trắc bạn, đế sử Mã Viện bình chi).
            Thử hỏi mấy ông viết sử người Tàu, ai là phản loàn? Rõ ràng là sử quan của quân cướp nước!
            Để tả hình dung một Nguyễn Thái Học, ông Nhượng Tống viết:
            “Mặt rộng trán vồ, đôi mắt sáng quắt đầy cương nghị, biểu dương cho tinh thần anh dũng bất khuất cố hữu truyền thống của giòng giống nòi Lạc Việt”.
            Còn Marty trong cuốn “Biện Pháp Chính Trị Đông Dương” thì lại viết:
            “… Nét mặt lầm lỳ, trán gồ nhiều vết nhăn tiêu biểu một mẫu người cứng đầu và phạm thượng…
            Ở đây ta chẳng cần nói là ai đúng ai sai mà chỉ cần nên biết rằng lập trường sử quan của người cầm bút viết sử nó chi phối rất nhiều vào các tác phẩm.
            Thực phá được vấn đề rồi thì sẽ không quá tin vào những từ ngữ như là đa nghi xảo trá, quỷ quyệt, gian hùng mà các tác giả Tam Quốc Chí đã gắn cho họ Tào. Đồng thời cũng không quá tin những danh từ quá tốt đẹp như là văn võ toàn tài, tận thiện tận mỹ, tuyệt luân v.v… mà người ta đã dành cho Khổng Minh, Lưu Bị và Quan Công.
            Và sau đây đến lượt chúng ta tìm hiểu con người họ Tào, những ưu khuyết điểm của ông.

1.– ƯU ĐIỂM
            Còn nhớ vào khoảng năm 1926, hồi chúng tôi còn hoạt động chính trị ở hải ngoại (Tàu), một nhà tiền bối cách mạng Việt Nam có nói:
            “Chúng ta hoạt động cách mạng chống Pháp, chỉ học lấy một bộ Tam Quốc Chí cũng đã đủ rồi, và trong Tam Quốc cũng chỉ cần học kỹ hai nhân vật là Khổng Minh và Tào Tháo”.
            Lại trong bài đại luận nhan đề “Độc Tam Chí Pháp” của Mao Tôn Cương và Thánh Thán, hai ông cho rằng: Tam Quốc Chí là một trong bảy bộ sách hay nhứt ở Trung Hoa. Đã chứng minh cho sự nhận định của mình, hai ông nêu lên rằng: vì Tam Quốc Chí có ba nhân vật là “tam kỳ”, cũng gọi là “tam tuyệt” là:
            Khổng Minh
            Quan Vân Trường
            Tào Tháo
            Nêu lên như vậy rồi, hai tác giả đều dẫn chứng bằng việc làm cụ thể của ba nhận vật.
            Nhưng tiếc rằng có lẽ đã vì sử quan phong kiến nên đã đem hai tác giả nhận thức sai lầm về Quan Vân Trường. Thiệt ra Quan Vân Trường chỉ là một nhân vật tầm thường về tài cũng như về đức, nhứt là tác phong xử thế, không có gì đáng gọi là kỳ và tuyệt cả. (Vấn đề này chúng tôi đã trình bày trong bài “Quan Vân Trường có xứng đáng là một vị thần đứng đầu võ miếu hay không?”) Chúng tôi chỉ đồng ý với hai ông khi cho Khổng Minh và Tào Tháo là hai nhân vật kỳ và tuyệt.

VỀ TÀO THÁO hai ông viết:
             “Tìm trong sử sách, thấy gian thần, quyền tướng cũng đầy như chông gai. Nhưng túc trí đa mưu để thu lấy nhân tài mà che mắt thiên hạ, thì không ai bằng Tào Tháo”.
            Câu nhận xét trên đây của hai họ Mao, Kim vừa cũng là đúng mà vừa cũng là sai, đúng ở chỗ hai ông nhận xét họ Tào là một người túc trí đa mưu, sai ở chỗ là hai ông lại nói “để thu lấy nhân tài mà che mắt thiên hạ”. Thu dụng được nhân tài, phải là người tri nhân. Tào Tháo quả có khả năng ấy. Nhưng bảo rằng thu dụng nhân tài để che mắt thiên hạ là nghĩa lý gì, vì việc thu dụng nhân tài có liên quan gì tới vấn đề che mắt thiên hạ đâu. Nhận xét như vậy là phản “luận lý”.
            Và hai ông nhận xét tiếp:
            “Nghe lời Tuân Húc, khởi binh cần vương mà tự ví như Chu Văn Vương, thì “có vẻ” như Trung. Đánh phá Viên Thuật về tội tiếm đế hiệu, mà ngỏ lời chỉ muốn Tào Hầu thì nghe “có vẻ thuận”.”
            Theo ý kiến hai ông không thể tự ví được với Chu Văn Vương, và họ Tào là người bất trung bất thuận, cho nên hai ông mới dùng hai tiếng “có vẻ” để lên trên (có vẻ trung, có vẻ thuận). Nhưng thực ra Chu Văn Vương là gì, nếu không phải là thần tử nhà Ân Thương, bắt đầu từ đất Mân đất Cảo tiến tới lập lên tiểu quốc “Chu”; sau khi thế lực mạnh rồi, mới dùng vũ lực quật ngã thiên tử nhà Ân để cướp giành thiên hạ, cũng như bao nhiêu vua chúa phong kiến khác đã quật ngã nhau trong lịch sử. Như vậy có gì mà họ Tào không thể so sánh được?
            Biết nghe lời Tuân Húc, khởi nghĩa cần vương, tiêu trừ giặc Hoàng Cân và thanh toán Đổng Trác. Biết gán cho Viên Thuật về tội tiếm đế hiệu, cũng như khi sự thành rồi chỉ xin làm một Tào Hầu, đều là những việc làm của một người biết làm chính trị, biết nghe lời, biết lợi dụng thời cơ, biết tranh thủ chính nghĩa về cho mình, đó là những việc làm đáng khen của họ Tào.
            Hai ông lại viết:
            “Không giết Trần Lâm vì yêu cái tài, thì tựa như có đức “Khoan”…”
            Tào Tháo không nỡ đang tay giết Trần Lâm là một nhân tài, vì tri nhân nên biết Trần Lâm là một nhân tài, vì có lòng khoan hồng cho nên mới tha thứ cho kẻ có tài đức ấy, đó là một thực trạng cụ thể, tại sao họ Mao và họ Kim lại dùng hai tiếng “tựa như” vào đó. Đã gọi là “tựa như” tức là không có thực chất rồi. Phải chăng đây là vì thành kiến đối với họ Tào, nên cố tình bẻ bai, xuyên tạc?
            Khi đề cập tới vấn đề họ Tào đối xử với Quan Vân Trường, họ Mao họ Kim viết:
            “Tào Tháo không đuổi bắt Quan Công, để cho ông được toại ý nguyện, thì ra vẻ người biết trọng nghĩa…”
            Để cho vấn đề được sáng tỏ, chúng ta hãy ôn lại sự việc này:
            Khi Quan Vân Trường bại trận, bị vây ở Thổ Sơn, vấn đề mà họ Tào đặt ra lúc này là không bao giờ giết Quan Công, mà phải tìm đủ mọi cách để mua chuộc. Bèn sai Trương Liêu đóng vai thuyết khách, Quan Công đưa ra ba điều kiện:
            1) Đầu hàng nhà Hán, chứ không phải đầu hàng Tào Tháo.
            2) Khi nghe Lưu Bị ở đâu thì sẽ có quyền bỏ đi theo ngay.
            3) Hai bà chị phải được cấp dưỡng bổng lộc và chỉ một mình ông có quyền săn sóc hầu hạ.
            Ba điều kiện ấy được họ Tào chấp thuận hết, vì ông tin ở sự đối xử tài tình, khéo léo của ông sẽ mua chuộc được Quan Công. Và sau đó, ông đã thực hiện bằng những biện pháp, nào là biếu xích thố mã, nào là lên ngựa tặng một nén vàng, xuống ngựa đưa một nén bạc, ba ngày thiết một một tiệc nhỏ, năm ngày thiết một tiệc lớn, nào dùng cách cho chị em ở chung đụng để đẩy Quan Công xuống bể sâu tình ái; trong khi đó họ Tào cũng không quên đề cao cảnh giác, đặt 5 cửa quan 5 vị tướng canh chừng để đón bắt Quan Công trở lại nếu ông này bỏ trốn đi.
            Không ngờ kế hoạch của họ Tào bị Quan Công phá vỡ hoàn toàn, nghĩa là mua chuộc không được, cạm bẫy tình ái không sa, dò được tin Lưu Bị lập tức bỏ chạy theo, phá vỡ cả 5 vọng gác (ngũ quan) chém đầu 6 người tướng gác cửa quan (phá ngũ quan trảm lục tướng).
            Khi họ Tào được tin cấp báo như vậy, biết rằng toàn bộ kế hoạch của mình đã bị đối thủ phá vỡ hết. Cho nên việc cho người cỡi ngựa chạy theo đem giấy thông hành và tiền lộ phí, chỉ là một thủ đoạn vớt vát lại một phần nào về danh dự, để tỏ cho Quan Công cũng như thiên hạ biết mình là một người tín nghĩa giữ trọn lời hứa. Những việc làm của họ Tào như vậy vẫn không vô ích, vì sau đó Quan Công đã nghĩ lại ơn cũ mà tha chết cho ông ở Hoa Dung Tiểu lộ.
            Nói tóm lại, đây là một việc làm hoàn toàn có tính chất chính trị, chứ không có tính chất luân lý, như ý kiến họ Mao và họ Kim, khi dùng tiếng trọng nghĩa để nhận xét họ Tào.

QUA VÀI ĐIỂM vừa thán phục, nhưng cũng vừa chê bai họ Tào, đến đoạn hai ông Mao, Kim cũng phải khen ngợi họ Tào như sau:
            “Vương Đôn không dùng nổi Quách Phác mà họ Tào dùng được kẻ sĩ này là họ Tào đã hơn”.
            “Hoàn Ôn không biết nổi Vương Mạnh mà họ Tào lại biết hơn, như vậy họ Tào là tri nhân”.
            “Lý Lâm Phủ tuy chế ngự được An Lộc Sơn, nhưng vẫn chưa bằng công họ Tào đánh rợ Ô Hoàn ở ngoài Viễn Ải”.
            “Hàn Tháo Trụ hủy biếm Tần Cối sau khi Cối đã chết, thiệt là thua xa họ Tào dám lập kế thanh toán Đổng Trác lúc sinh tiền”.
            “Nắm hết quyền bính quốc gia, nhưng vẫn giữ vua Hán trên ngôi thiên tử, để việc cải cách lại cho con là Tào Phi, như vậy là họ Tào đã hơn hẳn bọn Vương Mãng và Lưu Dụ”.
            Chúng tôi rất lấy làm lạ rằng, tại sao hai ông đã biết công nhận và thán phục họ Tào, như vậy mà cuối cùng lại cứ gán ép cho họ Tào là một kẻ gian hùng. Có lẽ cũng không ngoài lý do quá lệ thuộc vào sử quan phong kiến.

a) Họ Tào quả là một chính trị gia lỗi lạc
            Nói tới vấn đề chính trị, các nho gia thời xưa, cũng như mãi tới bây giờ người ta thường chia ra hai đường lối:
            1. Vương đạo
            2. Bá đạo
            Vương đạo là gì?
            Theo nguyên nghĩa, vương tức là đạo của tam vương, là Vũ Vương nhà Hạ, Thang Vương nhà Ân, Văn Vương nhà Chu. Theo quan niệm của Nho giáo, thì đường lối chính trị của những ông vua này là đường lối chính, lấy nhân nghĩa đạo đức làm căn bản trị nước yên dân, không dùng quyền mưu kế thuật.
            Bá đạo là gì?
            Bá đạo là đường lối chính trị của những ông vua làm bá chủ chư hầu, như các ông Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Sở Trang Vương, Tàn Mục Công v.v… vào những triều đại xuân thu và chiến quốc. Đường lối chính trị lúc bấy giờ, người ta đã áp dụng rất nhiều về quyền mưu kế thuật.
            Xuất phát từ điểm căn bản khác nhau giữa vương và bá đạo như vậy, những người Nho giáo kết luận:
            Vương đạo là tốt hơn hết, vì chỉ đi theo con đường chính đường thẳng, còn bá đạo thì lại hay dùng mưu kế, hay thủ đoạn chính trị, cho nên bá đạo là xấu hơn vương đạo.
            Nhận định như vậy là các nho gia đã đem lịch sử tiến hóa nhân loại quay trở lại.
            Thiệt ra thời đại tam vương lúc bấy giờ loài người đang còn cổ lậu, vương đạo chỉ là những hình thức trị nước còn thô sơ cổ lậu.
            Tới thời xuân thu chiến quốc loài người đã tiến bộ lên nhiều, cho nên đường lối chính trị của ngũ bá không thể thực hiện như tam vương được. Đó là trạng thái tiến bộ chứ không phải giật lùi.
            Vì nhận định sai lầm như trên, cho nên người ta đã gán cho bá đạo một ý nghĩa rất xấu xa.

TỪ ĐÓ mà khi bàn tới việc đấu tranh chính trị và quân sự của họ Tào người ta đều gán cho tất cả là bá đạo, là mưu gian quỷ kế. Chứ thực ra họ Tào là một chính trị gia rất lỗi lạc của thời đại, thời đại cam go, nhiều đối thủ lợi hại trong 97 năm tam quốc.

b) Họ Tào là một người tri nhân
            Trong cuộc sống con người, nhất là con người chính trị, vấn đề “tri nhân” (biết người) là tối quan trọng và cần thiết hơn hết. Lưu Bang Hán Cao Tổ nhờ tri nhân mà dùng được Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà, Trần Bình, để đem đại sự tới thành công. Lưu Huyền Đức nhờ tri nhân mới dùng được Khổng Minh, Bàng Thống, Triệu Tử Long, Hoàng Trung để kháng hành với Ngô, Ngụy.
            Nhưng tri nhân đâu phải là một việc dễ: Kinh Thượng Thư nói: “Kẻ tri nhân là người minh triết” (Tri nhân viết minh triết). Lại nói: “Biết người là kẻ khôn ngoan tuyệt đời, nhưng ông thánh cũng phải nhận là khó” (Tri nhân tác triết, duy thánh kỳ nan).
            Vậy họ Tào có phải là một người tri nhân không? Xin thưa: Họ Tào quả là một người tri nhân. Vì có tri nhân, mới biết được Quan Vân Trường là người tốt, cho nên mới dụ hàng rồi cố công mua chuộc cho bằng được. Vì có tri nhân mới biết được Từ Thứ là một mưu sĩ, nên đã dùng trăm phương, ngàn kế, dùng bà mẹ họ Từ làm con tin để kêu gọi họ Từ về giúp việc cho mình, cuối cùng tuy việc không thành như ý muốn của ông, nhưng ít ra cũng là cho đối phương. Lưu Bị bớt đi một tay mưu sĩ lỗi lạc. Vì có tri nhân, cho nên lúc Lưu Bị đại bại, ba anh em chạy tan tác, phải về ở nhờ với ông, trong bữa tiệc ông hỏi họ Lưu:
            – Theo ngài trong thiên hạ này ai là người anh hùng nhất?
            Lưu Bị đề xuất ra nhiều nhân vật, đều bị ông cho là không phải, cuối cùng ông chỉ vào lưu Bị rồi lại chỉ vào mình mà nói:
            – Anh hùng trong thiên hạ này chỉ có hai người, ấy là ngài và Tháo tôi.
            Mặc dù là một tay chính trị đại bợm kiêm lý cả công tác gián điệp là Lưu Huyền Đức khi đang ăn giả vờ làm rơi đũa để đánh lạc hướng họ Tào nhưng không đánh lừa nổi đâu.
            Như vậy có phải là họ Tào đã biết rằng: Họ Lưu không phải là một tay vừa, sẽ kháng hành giành thiên hạ với mình. Biết như vậy mà vẫn không tìm cách giết hại họ Lưu một cách hèn nhát, cũng như khi biết Quan Vân Trường nhứt định không chịu bỏ Lưu Bị theo mình mà cũng không tìm kế sát hại, điều ấy chứng tỏ rằng họ Tào quả là một người có phong độ quân tử, và các tác giả Tam Quốc cho ông là hẹp hòi tàn nhẫn thì quả là không đúng.

c) Họ Tào biết áp dụng chính trị giai đoạn
            Hiện nay người ta đang hiểu “chính trị giai đoạn” với một ý nghĩa sâu xa. Nhưng xét cho cùng, nhứt là đối chiếu trong lịch sử chính trị cổ kim đông tây, những nhà chính trị lỗi lạc không ai là không áp dụng chính trị giai đoạn.
            Ví dụ phe đồng minh, giữa hai giai đoạn hung hãn của Phát-xít Hitler, đã tạm thời liên hiệp với Nga Sô để đánh Đức, sau đó lại trở lại lập trường chống cộng.
            Cũng chỉ để gây áp lực với phe đồng minh, cho nên Staline đã có giai đoạn ký hòa ước với Hitler. Và cũng vì không biết áp dụng chính trị giai đoạn cho nên Hiltler trong lúc đánh với Anh Mỹ đã vội xé hiệp ước với Nga Sô rồi tấn công luôn Nga Sô cho nên đế quốc của nhà độc tài mới lâm cảnh sụp đổ tan tành.
            Người biết áp dụng chính trị giai đoạn là người biết tùy cơ ứng biến, áp dụng cộng tác đúng với hoàn cảnh trong thời gian. Vì chính sách và đường lối trong giai đoạn này không phải là chính sách và đường lối của một giai đoạn khác, dĩ vãng cũng như tương lai.
            Vì biết áp dụng đúng giai đoạn, mà Trương Tử Phòng khuyên Lưu Bang hãy vâng lệnh Hạng Võ cúi đầu vào Ba Thục, trong giai đoạn Sở Bá Vương đang mạnh, Lưu Bang đang yếu.
            Vì biết áp dụng giai đoạn mà Khổng Minh mới dặn Quan Vân Trường, Đông hòa Tôn Quyền, Bắc cự Tào Tháo. Và cũng vì không biết áp dụng chính trị giai đoạn mà Quan Vân Trường trong khi phía Bắc đang phải đương đầu với Tào Tháo, mà phía Đông lại khai chiến với Đông Ngô (làm trái kế hoạch Khổng Minh đã dặn) mới thất bại mà chết.
            Vì biết áp dụng chính trị giai đoạn, mà Khổng Minh tạm dùng Ngụy Diên, một kẻ mà họ Khổng biết thế nào rồi cũng phản bội cho nên đã dự bị được kế trừ khử trước.
            Nói tóm lại chính trị giai đoạn, là một việc tối cần thiết cho nên các chính trị và quân sự gia, trong đó có Tào Tháo đã triệt để áp dụng.

d) Họ Tào là một nhà thơ
            Xưa nay mỗi khi viết về Tào Tháo, người ta thường chỉ nêu lên hai điểm:
            1. Chính nghiệp (Sự nghiệp chính trị).
            2. Quân nghiệp (Sự nghiệp quân sự).
            Ít người bàn tới văn nghiệp (Sự nghiệp văn chương) của ông ta.
            Đây không phải là một bài tìm hiểu về văn chương của họ Tào. Chúng tôi nêu lên tiết mục “họ Tào là một nhà thơ” chỉ để chứng minh rằng tất cả những nhận xét xưa nay cho rằng họ Tào là một kẻ vũ phu, thô bạo, láo xược là những tính chất hoàn toàn trái ngược với một văn nghệ sĩ là không đúng.
            Văn học sử Trung Hoa ghi nhận: thời đại Kiến An tức là niên hiệu Hán Hiến Đế (196-220) là một thời đại hỗn loạn tới cực độ, nhân dân chịu muôn phần cay đắng với bọn hôn quân cùng bè lũ tham quan ô lại. Sống trong tình trạng điêu linh ấy, văn nhân không còn đủ phương tiện để tạo tác văn chương. Tuy nhiên cũng không phải vì vậy mà thời đại Kiến An không có những tác giả và tác phẩm đáng kể. Đứng đầu văn trào ấy, theo văn học sử Trung Hoa thì chính là ba cha con Tào Tháo (Tào Phi, Tào Thực).
            Sau đây là hai kiệt tác của Tào Tháo, và cũng là hai kiệt tác trong văn học sử Trung Hoa.

                              Đoản Ca Hành
                        Đối tửu đương ca
                        Nhân sinh kỷ hà
                        Thí như tiêu lộ
                        Khứ nhật khổ đa.


            Tạm dịch:
                        Một mình rót chén ngâm nga
                        Đời người hỏi được bao la tháng ngày
                        Khác gì mấy giọt sương mai
                        Hỏi ai, ai biết đắng cay nỗi lòng.


                              Bài Khổ Hàn Hành
                        Bắc thượng thái hành sơn
                        Nan tai hà nguy nguy
                        Dương trường ban khúc chuyết
                        Xa luân vị chi tồi
                        Thụ mộc hà tiêu sắt
                        Bắc phong thanh chính bi
                        Hùng bi đối ngạ tôn
                        Hổ báo hiệp lộ đề
                        Khê cốc thiểu nhân dân
                        Tuyết lạc hà phi phi
                        Diêu canh trường thán tức
                        Viện hành đa sơ hoài
                        Ngã tâm hà phận uất
                        Ta dục nhất Đông quy
                        Thủy thâm kiều lương tuyệt
                        Trường lộ chính bồi hồi
                        Mê hoặc thất cổ lộ
                        Mạc mô, vô túc lâu
                        Hành nhật dị viên
                        Nhân mạ đồng thời cơ
                        Đảm nang thành thủ tân
                        Phủ băng trì tác mê
                        Bi bi đông sơn thi
                        Du du linh nga ai.


            Tạm dịch:
                        Phía bắc Thái hành sơn
                        Vòi vọi lên gian nan
                        Đường ruột dê uốn khúc
                        Làm bánh xe vỡ tan
                        Cây cối sao hiu hắt
                        Gió bắc rít trên ngàn
                        Gấu ngồi xổm ngó khách
                        Hổ bên đường gầm vang
                        Tuyết rơi sao phơi phới
                        Hang hốc ít nhân dân
                        Đi xa dạ bùi ngùi
                        Lòng ta sao buồn bực
                        Về Đông mong tới ngày
                        Nước sâu cầu lại gãy
                        Giữa đường đã bồi hồi
                        Mê hoặc quên đường cũ
                        Tối mịt trọ nhà ai
                        Đi ngoài bao tháng ngày
                        Đói cả ngựa lẫn người
                        Quảy giỏ đi kiếm củi
                        Lấy giá để thổi cơm
                        Dằng dặc một nỗi buồn.

            Theo Bác sĩ Hồ Thích trong “Trung Quốc Văn Học Sử Khảo”, họ Tào không những là một nhà thơ tả chân mà còn là một nhà thơ lãng mạn. Một nhà thơ có tâm hồn như thế, không thể đồng thời là một người cục xúc như trong Tam Quốc Chí.

2.– NHỮNG KHUYẾT ĐIỂM CỦA HỌ TÀO
a) Từ cảnh giác tới đa nghi
            Họ Tào thường bị người ta chê bai là một người đa nghi, điều đó không phải không đúng. Nhưng nếu đào sâu vào vấn đề thì ta sẽ thấy rằng: trong một thời đại hết sức phức tạp, phải đương đầu với bao nhiêu đối thủ cao tay lỗi lạc như Khổng Minh, Chu Du, Mã Siêu và còn nhiều kẻ khác, nếu muốn khỏi sa vào cạm bẫy đối phương, tất nhiên họ Tào – cũng như mọi chính trị gia khác trong trường hợp đó phải triệt để đề cao cảnh giác.
            Mà cảnh giác tính với đa nghi tính thì lại là một cảnh giác tính áp dụng không đúng mức, nó biến thành đa nghi. Điểm khác không phải ở bản chất, mà chỉ ở trình độ: nếu đối thủ biết lợi dụng, khai thác đa nghi tính của mình, thì lại càng nguy hiểm lắm.
            Cho nên đối với họ Tào ta không nên chê trách ông ta là đa nghi, không đa nghi sao được, mà chỉ nên cười ông ta là đã sử dụng cảnh giác tính không đúng lúc, đúng đối tượng, cho nên đời chính trị quân sự của ông ta xẩy ra bao nhiêu điều sai lầm tai hại.
            Ví dụ: Vì áp dụng cảnh giác tính không đúng mức mà họ Tào đã giết oan cả nhà Lã Bá Xa, người có hảo ý đối với mình. Vì cảnh giác tính áp dụng không đúng chỗ mà ông đã đã bị Chu Du khai thác, để rồi ông đã giết mất Thái Mạo và Trương Doãn, hai thủy sư Đô đốc, dẫn tới trận thủy chiến đại bại tại Xích Bích.

b) Vì quá nóng nảy nên đã dẫn tới những hành động tàn nhẫn
            Ta không nên quá nghiêm khắc lên án họ Tào về những hành động giết Phục Hoàng Hậu, Đổng Thừa, Y sĩ Cát Bình và bao nhiêu người khác, khi bọn này bày mưu thiết kế thanh toán ông song rủi là cơ mưu bại lộ. Vì đó âu chỉ là một lẽ tất nhiên của trường tranh đấu: kiến ăn cá thì cá ăn kiến. Đó là quy luật đấu tranh. Và khi những đối thủ của họ Tào – cũng như tất cả những người khác – dấn bước vào vòng tranh đấu, là họ đã mặc nhiên chấp nhận quy luật nọ rồi.
            Vậy, trong trường hợp này, chỉ đáng trách là họ Tào đã thiếu phần nào lượng khoan dung, chứ không thể lên án hành động của ông là phản đạo lý chẳng hạn.

E.– KẾT LUẬN
            Qua những sự việc như đã trình bày trên, ta thấy rằng: Tào Tháo là một người túc trí đa mưu, lại có những nét đặc biệt hơn những nhân vật khác; nếu có một vài khuyết điểm, thì cũng chỉ là một điều đương nhiên của luật tương đối: nhân vô thập toàn.
            Và cũng chính vì “vô thập toàn” như thế, cho nên, trước mắt chúng ta, họ Tào mới hiện ra như một nhân vật “người” hơn cả trong lòng Tam Tuyệt, bởi vì nhị Tuyệt kia – Khổng Minh và Quan Công – thì, do sự tô son thếp vàng quá mức của những sử gia phong kiến, đã mất đi khá nhiều chất người rồi.


ĐÔNG TÙNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 12

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #144 vào: 27/01/2018, 23:19:11 »
TRONG ĐÊM TỐI

CÓ MỘT truyện ngắn nước ngoài chỉ đọc một lần và đọc đã lâu nhưng tôi nhớ mãi nội dung.
            Chuyện xảy ra trên một chuyến xe lửa chạy trong cảnh tối đen vì không có điện. Hành khách vì thế lên tiếng phàn nàn, tỏ thái độ bực bội. Thái độ bực bội của hành khách được bày tỏ một cách bình thường cho đến khi xuất hiện vai trò một người mù thì bắt đầu bùng lên sôi nổi dữ đội.
            Người hành khách mù khi nghe những lũ chung quanh nói “chuyến tàu tối đen, không có đèn điện” thì lên tiếng hỏi: “Thật vậy sao? Không có ánh sáng à? Tối câm sao?”
            Người hành khách mù lên tiếng hỏi như thế bằng tất cả nỗi giận, và tiếp đó la lên rằng: “Thật là người ta coi thường dân chúng, dân chúng đóng thuế đều mà! Điện không có quyền tắt như thế này”.
            Kể từ phút này, chuyến tàu chạy trong sự phẫn nộ lớn lao của hành khách, sự phẫn nộ tưởng như có thể làm cho chuyến tàu bay ra khỏi đường sắt.

TẤT CẢ dân chúng trong vùng khi hay biết về chuyến tàu nổi loạn này đều xúc động và thấy rõ sự lên tiếng của người hành khách mù thật cao quý, lớn lao.
            Ánh sáng người hành khách mù đâu cần dùng nhưng người hành khách mù quá rõ là mọi người cần ánh sáng. Đây mới thật là một trường hợp vì quyền lợi chung mà đòi hỏi, vì lẽ phải mà kêu đòi.
            Mọi người đều biết rằng dù đèn điện có sáng choang trên chuyến tàu thì người hành khách mù vẫn chỉ thấy toàn một mầu đen, nhưng chẳng phải vì thế mà ông ta không phản kháng trước sự tối tăm.
            Bởi vì ông ta đã hiểu rằng cảnh tối tăm là không thể chấp nhận. Hơn ai cả ông đã hiểu cảnh tối tăm rùng rợn như thế nào, và ông không muốn những người chung quanh phải chịu cảnh tối tăm.
            Dân chúng đóng thuế đều, và như vậy, nếu xe lửa tối om, nếu đường sá chẳng ra gì, nếu trường học thiếu ghế thiếu bàn, nếu công viên đầy rác rưởi… thì dân chúng có quyền nói lớn lên là mình bị thiệt thòi, mình bị mất cắp.
            Trở lại với người hành khách mù trên chuyến xe lửa phẫn nộ.
            Thật vô cùng xúc động sự đòi hỏi ánh sáng của người hành khách mù. Đó là một sự đòi hỏi rất đẹp đẽ, rất lớn lao. Đó là một sự đòi hỏi một sự đấu tranh cho quyền lợi chung, cho tập thể xã hội.
            Nếu là một người ích kỷ, chỉ biết lo nghĩ cho thân mình thì người hành khách mù này sẽ chẳng mảy may băn khoăn khi biết là chuyến tàu hoàn toàn tối đen. Nếu là một người ích kỷ chỉ biết lo nghĩ cho riêng thân mình, người hành khách mù sẽ chẳng nói lên một lời nào trong trường hợp này, và có lẽ ông ta sẽ nghĩ: “Như thế càng hay, đèn có hay không thì cũng vậy thôi. Có, thì ta cũng vẫn chẳng thấy gì”.
            Nếu ông ta ích kỷ nặng nề hơn nữa, có thể là ông ta sẽ lên tiếng, không phải để phẫn nộ về chuyện “người ta xem thường dân chúng” mà là lên tiếng để phàn nàn về sự náo động mà những kẻ chung quanh đã gây nên khi đòi hỏi ánh sáng.

TÔI NGHĨ là lịch sử loài người, hay nói hẹp hơn, lịch sử một dân tộc sẽ chẳng có gì lớn lao nếu như mọi người đều sống vị kỷ, chỉ có biết đòi hỏi những điều cho riêng rẽ cá nhân mình.
            Thật là một điều đầy phấn khởi là: những người như người hành khách mù đòi hỏi ánh sáng trên chuyến xe lửa tối đen không phải là hiếm có trong đời sống chúng ta.
            Ánh sáng, người hành khách mù không cần dùng, nhưng sự cần dùng ánh sáng của những người chung quanh là cấp thiết và sự phẫn nộ của những lũ chung quanh trước những cảnh tối đen là hữu lý, do đó sự đòi hỏi ánh sáng là sự đòi hỏi của lẽ phải, rất nhân sinh, và người hành khách mà đi tiếp sức tham gia vào sự đòi hỏi sẽ mang một tình yêu lớn đối với đời sống của mọi người.
            Một con người xứng đáng mang danh nghĩa con người không thể quay mặt lại và thờ ơ lãnh đạm đối với những đòi hỏi của lẽ phải, những đòi hỏi rất nhân sinh mà chung quanh cho. Vang lên.
            Tôi nghĩ rằng người hành khách mù trên chiến xe lửa phẫn nộ khi tiếp sức tham gia vào sự đòi hỏi ánh sáng đã đưa mình ra khỏi sự cô độc để hòa mình vào trong đám đông tưng bừng ấm áp. Và như thế không có gì dễ chịu, sung sướng hơn.

CÂU CHUYỆN chuyến tàu phẫn nộ còn mang một ý nghĩa lớn khác nữa.
            Người hành khách mù đã giận dữ mạnh mẽ hơn ai hết trước cảnh tối tăm là vì ông là người chịu đau khổ bởi cảnh tối tăm hơn ai hết.
            Chịu đau khổ vì cảnh tối tăm thường trực, ông đã cho bùng lên một cách dữ dội ngọn lửa phẫn nộ thường vẫn cháy âm thầm trong tấm lòng khao khát ánh sáng.
            Điều đó cắt nghĩa một cách rất sâu sắc tinh thần cách mạng của những dân tộc bị áp bức đến tận cùng, điều đó cắt nghĩa sự giác ngộ quyền lợi của những người mà đời sống vật chất và tinh thần bị xem thường và chà đạp đến một mức kinh khủng không thể nào chịu đựng được hơn nữa.
            Chuyến tàu phẫn nộ và người hành khách mù lớn tiếng phản kháng bóng tối, tôi nghĩ trước hết ấy là hình ảnh đất nước và con người Việt Nam chúng ta.
            Chuyến tàu phẫn nộ đã chạy trong sự náo động, sự phản kháng của tất cả hành khách đòi hỏi ánh sáng – nghĩa là đòi hỏi mọi quyền lợi, mọi giá trị, nhất là nhân phẩm – làm cho đêm đen phải lùi.


TRẦN NHẬT NGUYỆT


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 12

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #145 vào: 03/02/2018, 19:24:32 »
TRÊN ĐƯỜNG VÀO BA THỤC

TRÊN CON ĐƯỜNG vào Ba Thục từ Kim Lăng nối liền Phổ Tứ là một con đường núi, với một độ dài chừng 150 cây số. Hai bên đường không một cây lớn, chỉ toàn cây nhỏ lơ thơ, có đoạn lại là núi trọi, rải rác một vài tùm cây múa, móc hay cỏ may hoang dại. Đứng giữa đường mà kêu to lên một tiếng, thì trong chốc lát người kêu to chỉ có thể nhận được tiếng dội vì âm thanh bị ngăn chặn lại giữa các ngọn đồi. Nếu người ta còn ở trên đồi hay còn đi trên đoạn đường phẳng thì chỉ cảm thấy một sự rùng mình ghê rợn vì tiếng kêu của họ tan trong hơi gió, chạy dài rồi mất tăm vào khoảng không gian mênh mông bát ngát… nhất là những buổi hoàng hôn mặt trời vừa khuất sau các ngọn đồi, hay những hôm trời mưa phùn, gió lạnh. Cảm giác này đã được nhiều người có dịp đi qua đoạn đường này ghi lại bằng câu “Chỉ có trời đất và mình”.
            Vì nếu ai có cảm thấy đơn độc, một thứ đơn độc rùng rợn vì nguy hiểm mà nhìn quanh đó đây để mong tìm thấy một bóng người… cứu viện, nếu có khi tai biến xẩy ra, thì quả là vô vọng, vì trên đầu họ, xung quanh họ, chỉ có bức màn xanh khổng lồ bao phủ lên một vùng đồi núi.

MỘT ĐẠI THƯƠNG GIA ở Thị trấn Kim Lăng tên là Trần Kiều Phong, đã làm giầu được bằng sự mạo hiểm dám chở hàng hóa từ Kim Lăng tới bán tại Phổ Tứ bằng xe song mã. Người bạn có xe mà ông thường mướn tên là Trầm Thường Phúc, đã làm nghề vận tải với chủ thương Kiều Phong trong bao nhiêu năm cả khứ lẫn hồi. Nghĩa là cất hàng từ Kim Lăng chở tới bán tại Phổ Tứ rồi lại cất hàng từ Phổ Tứ chở vế bán tại Kim Lăng.
            Bao năm qua, với sự mạo hiểm của chủ thợ Kiều Phong và Thường Phúc đã đem thương gia Kiều Phong từ một lái buôn xách tầm thường lên tới địa vị một đại thương gia ở thị trấn Kim Lăng. Riêng Thường Phúc chỉ là một gia đình lao động bần hàn, anh và vợ con chỉ sống bằng mồ hôi nước mắt của anh và hai con ngựa, lắm khi anh vẫn tự đặt ra những câu hỏi để rồi không sao trả lời được.
            Tại sao anh và Kiều Phong cả hai đứa chịu xông pha nguy hiểm, nếu có bị kẻ cướp chặn đường, thì Kiều Phong chết đã đành mà anh cũng có thoát được đâu? Thế thì tại sao hậu quả Kiều Phong như thế, mà anh lại như kia? Chớ chi anh có một số vốn thì anh có kém gì Kiều Phong.
            Từ ý niệm uất ức bất bình đối với chủ dẫn Thường Phúc tới một ác ý là nhè vào một chuyến hàng quý giá nào đó, Thường Phúc sẽ giết chủ giữa đường để sanh đoạt cả một xe hàng.

THÌ NAY cơ hội đã đến. Lần ấy từ Kim Lăng đi, Kiều Phong nhờ chở cả một chuyến hàng đầy gấm vóc, tơ lụa.
            Khi xe song mã vừa tới đoạn đường hẻo lánh nói trên, thì Thường Phúc nhảy xuống xe rút dao găm ra. Nhà đại thương Trần Kiều Phong rất đỗi ngạc nhiên về thái độ của người xa phu tin cậy:
            – Anh làm gì vậy? Anh Thường Phúc?
            Thường Phúc đôi mắt lầm lầm, nhìn vào chủ hằn học nói:
            – Bao năm tôi chở thuê hàng cho ông, sự xông pha, mạo hiểm như nhau nếu có bị kẻ cướp giết thì đều chết cả tại sao bây giờ thì ông như thế, mà tôi lại như vầy? Phải chăng là số tiền vốn đầu tiên, đã làm công cụ cho ông bóc lột tôi, mới nên nông nỗi.
            Tôi nói để ông biết, giờ phút này tôi sẽ giết ông, để cướp lại chuyến hàng quý giá này, trong đó có cả nước mắt và mồ hôi tôi nữa, bao năm qua đã bị ông bóc lột. Dứt lời, Thường Phúc giơ dao lên, thi hành thủ đoạn giết người.
            Lanh trí Kiều Phong nói:
            – Thì anh giết tôi cũng được, không sao, vợ con tôi cũng đã có nhiều tài sản để nuôi sống được rồi. Nhưng có một điều là bây giờ tôi khát nước lắm, anh hãy chịu khó xuống dưới chân núi tìm có con khe nào múc hộ cho tôi một bát nước để uống, để dù có chết đi cũng khỏi làm con ma chết khát, tội nghiệp.
            Kiều Phong dụng ý làm giây dưa cái chết ra như vậy, họa may gặp được một bọn người nào qua đường cứu thoát chăng, mặc dù Kiều Phong thừa biết, hy vọng của mình rất mong manh.
            Riêng Thường Phúc, anh cũng tin chắc rằng trên con đường này, chưa dễ gì gặp được người qua lại. Hơn thế, anh đang tay giết Kiều Phong, chỉ vì lương tâm đồng tiền làm đen tối, chứ đứng trước cái chết thảm bại của người chủ cũ, anh không khỏi mủi lòng thương hại. Nghĩ vậy, cho nên sau khi lấy dây thừng trói chặt Kiều Phong vào càng xe, anh xách gầu chạy xuống.

KHI THƯỜNG PHÚC vừa khuất dạng thì một vị Hòa thượng chống “pháp trượng” đi tới. Kiều Phong trông thấy hết sức mừng rồi la lên kêu cứu. Vị hòa thượng thủng thỉnh tới gần.
            Sau khi nghe Kiều Phong trình bày hết câu chuyện đầu đuôi, hòa thượng bằng một giọng trầm trầm:
            – Mô phật! Nhưng không thể cứu được anh! Vì anh đã phạm tội giết người.
            Phong cãi lại:
            – Tôi có giết người bao giờ đâu! Tôi chỉ là một người buôn bán làm ăn lương thiện.
            – Mô phật! Không phải kiếp này anh đã giết người, mà anh đã giết từ kiếp trước và con người sắp giết bây giờ lại cũng là con người mà kiếp trước anh đã giết họ nơi này. Nếu không tin anh trông lấy đây.
            Nói xong, vị hòa thượng thọc cây “pháp trượng” xuống đất sâu, nạy bắn lên một con dao găm đã cũ những vẫn còn rỉ máu, rồi nói:
            – Mô phật! Cây dao mà kiếp trước anh đã giết người là đây!
            Vừa lúc đó thì Thường Phúc cũng từ dưới khe bưng nước lên, anh rất đỗi ngạc nhiên ngơ ngác.
            Sau khi nghe rõ câu chuyện đầu đuôi, anh liền cởi trói cho Kiều Phong. Cả hai người cùng cúi đầu lạy:
            – Nam mô a di đà Phật. Lạy đức Hòa thượng, vậy ngài có thể tìm cho cả hai chúng tôi một con đường thoát chăng?
            Vị hòa thượng hiền từ đáp:
            – Được chứ!
            Đoạn, sau khi cho cả hai tội nhân, một dĩ vãng một hiện tại hiểu những nét đại cương về Phật pháp, Ngài kết luận:
            – Mặc dù có nguyên lý “luân hồi” và “nhân quả” nhưng trong phép nhà Phật cũng còn có con đường “ác báo mà thiện giải” được.
            Cả hai kẻ có tội hấp tấp hỏi:
            – Vậy ngài có thể cứu độ được hai chúng tôi chăng?
            – Được lắm. Chủ trương của nhà Phật là tôn trọng công bình, thương yêu nhau mà sống, không bao giờ cạnh tranh nhau để sống; cộng đồng để sinh tồn, chớ không cạnh tranh để sinh tồn.
            Nghĩ một phút, Ngài lại tiếp:
            – Hai anh, bao nhiêu năm sống bên nhau, kẻ có công đồng người có của nếu là một xã hội công bình, thì sự hưởng thụ phải được ngang nhau.
            Ngài hòa thượng nói tới đó, thì Kiều Phong đưa tay lên xin nói:
            – Vậy bây giờ con xin về nhà đưa gia tài chia cân lại cho anh Thường Phúc được chăng?
            Thường Phúc vội vàng cướp lời:
            – Chia hay không tùy ý anh còn tôi, tôi không thể nhúng tay vào tội ác, để rồi mang cái nghiệp chướng như anh đã làm ở kiếp trước.
            Thế rồi một cuộc suy nhượng giữa hai người đã diễn ra trước mặt hòa thượng. Cuối cùng ngài mới nói:
            – Ý nguyện của anh Kiều Phong rất đúng nếu hai anh trở về nhà thực hiện được như thế, thì cái nghiệp chướng của cả hai người đã được “ác báo mà thiện giải” rồi.
            Trong khi cả hai người cúi đầu lạy tạ đức hòa thượng thì một trận cuồng phong từ phía trời tây thổi tới, lôi cuốn cả vị hòa thượng lên cao rồi biến mất trên không gian. Cả hai người chỉ biết phục đầu bái tạ.

SAI KHI bán hết chuyến hàng ấy trở về nhà, việc làm đầu tiên của Trần Kiều Phong là bỏ tiền ra xây dựng một ngôi chùa, gọi là “Thiện Giải Tự”, và đem gia tài sản nghiệp chia cân lại cho vợ con gia đình Trầm Thường Phúc để sinh sống. Rồi cả hai cùng thế phát đi tu, quyết chí vượt ra ngoài “guồng máy” ác nghiệt của cuộc đời.


TƯ HỒNG


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 12

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #146 vào: 10/02/2018, 10:06:46 »
CÔNG QUẢ

CHƯA BAO GIỜ tôi thấy nét mặt Ân sáng sủa như chiều nay. Trong bữa cơm sau khi đã đào hố ủ phân cho một nhà nông dân trong xóm về, cậu con trai mười chín tuổi ấy ngồi thỏ thẻ với tôi như là một cô em gái: “Cô bác thắc mắc nhiều chuyện lắm chị, nếu không trả lời cho xong thì họ chẳng chịu cho mình làm chi cả”. Tôi hỏi: “Họ thắc mắc sao em?” Ân duỗi chân trên thảm cỏ xanh rì, mình em cúi từ từ ra trước rồi nghiêng nhè nhẹ về phía sau đong đưa, đều đặn. Em vừa nhai cơm trong chiếc đĩa có đủ phần thức ăn của mỗi trại sinh vừa thuật rất tự nhiên:
            – Bác đó hỏi em vậy chớ làm việc như em thì lương bao nhiêu một tháng? Em thưa là chúng em làm công không chẳng có tiền. Giải thích thế nào các bác cũng không hiểu được vì sao lại có người bỏ công đi làm việc cho thiên hạ mà chẳng có lương. Em mới hỏi bác như thế này: “Thưa bác, bác có nghe nói về những người đến chùa công quả chưa?” Bác gục gặc đầu tỏ vẻ hiểu biết: “Biết rồi, sao nữa cháu”. Ân ngước lên nghiêng nghiêng gương mặt mười chín tuổi rắn rỏi nhưng dịu dàng của em, nói với tôi mà nói như với bác Ba: “Em trả lời là, thì tụi con cũng đi công quả đó thưa bác. Ngày xưa ai cúng Phật thì vào chùa quét tước dọn dẹp nấu nướng cho các sư. Ngày nay chúng con nghĩ rằng trong khi đất nước mình điêu đứng, thì Phật không ngồi trong chùa nữa. Đức Phật đến những nơi nào tối tăm khổ cực nhất. Hôm nay chúng con đến đây học tập quét tước dọn dẹp, bàn bạc và làm giúp bác ít công việc để sau này có thể về những nơi xa xuôi cơ cực hơn để làm công quả cho đồng bào. Mỗi nhà cô bác chúng con xem như một ngôi chùa và con muốn thương Phật thì con phải thương cô bác của con cực khổ nơi làng mạc xa xôi trước đã”.

ÁNH NẮNG chiều nghiêng nghiêng trên tóc, trên áo em. Chưa bao giờ tôi thấy ánh mắt Ân ngời sáng và trong trẻo như vậy. Có cái gì không bé nhỏ trong câu nói của cậu con trai ấy. Đi về làm việc với cô bác trong làng hai năm nay chưa lần nào tôi biết nghĩ như Ân nghĩ. “Mỗi nhà người dân nghèo khổ là một ngôi chùa mà mình cần đến công quả và hãy thương đồng bào cơ hàn như là thương đức Phật”. Ý nghĩ thật tầm thường nhưng nó làm tôi rung động vì tôi đã ghép câu nói ấy vào cùng với hình ảnh các em, trai cũng như gái, lăn xả xuống bùn, vét ao xây một hồ nuôi cá theo phương pháp khoa học mà em đã học được ở trường, hình ảnh những người tăng ni hy sinh đi đào hố ủ phân chuồng cho đồng bào trong xóm, vừa trồng vừa chỉ cho dân làng cách trồng cây ăn trái, dạy dỗ cho con em họ học hành.
            Hôm qua tôi về làng làm mô bó rơm ủ nấm theo phương pháp mới. Trời trưa nắng chang chang. Thấy chúng tôi dang nắng suốt mấy tiếng đồng hồ bác Tư gọi vào nhà cho nước uống và hỏi: “Cháu làm như vậy thì được bao nhiêu lương?” Tôi lễ phép thưa: “Thưa bác vì chúng con chưa ra trường nên mỗi ngày chúng con được trường cho năm đồng uống nước. Cơm thì trường cũng lo tiền ăn. Những thứ tiền cơm nước này do cô bác khắp nơi về tặng cho trường. Bởi vì cô bác biết rằng chúng con đang đi làm công quả nơi nhà đồng bào miền quê cơ cực”.

BÁC TƯ bâng khuâng nói với chúng tôi mà như tự nói cho chính mình: “Cha! (tiếng này bác nói thật nhỏ như tiếng than) Hôm trước chú Trí về có mấy ngày rồi nay chú bị đổi đi làng khác mà tôi còn nhớ và nhắc chú nhiều. Rồi đây mấy cháu ở lại lâu làm việc như vầy lỡ khi đi làng khác thì tui nhớ tui biết để đâu cho hết!”


CHÍN


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 12

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #147 vào: 10/02/2018, 23:13:23 »

TỔNG MỤC LỤC TẠP CHÍ GIỮ THƠM QUÊ MẸ
⟡ ⟡ ⟡
TẠP CHÍ VĂN NGHỆ – LÁ BỐI XUẤT BẢN
(tháng 7/1965 đến 6/1966)
000

GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  VỚI CÁC TÁC GIẢ


00.  G.T.Q.M.
Giới thiệu sách báo mới |  60/số 1; 76/số 2; 98/số 3; 98/số 5; 102/số 6; 196/số 7-8; 103/số 9; 100/số 10
Hộp thư tòa soạn |  59/số 2; 99-100/số 3; 100/số 4; 99-100/số 5; 102/số 9; 99/số 10; 106/số 11; 101/số 12
Quảng cáo |  102-106/số 2; 101-104/số 3; 101-104/số 4; 101-104/số 5; 103-105/số 6; 197-198/số 7-8; 104/số 9; 101-104/số 10; 107-108/số 11; 102-104/số 12



01.  Nguyên Ân
Asoka, một chính trị gia vĩ đại hay là nền hòa bình chính thực cho con người (tiểu luận) |  63-73/số 3



02.  Chinh Ba
Bài thơ trên xương cụt |  10-19/số 4
Pho tượng Linh Mai (kịch) |  129-140/số 7-8
|  31-40/số 9
Tóc |  71-74/số 10
Đóa sen vàng |  17-27/số 12



03.  Yên Hi Ba
Cháy đỏ đêm dài |  46-59/số 11
Vỡ tổ |  65-68/số 12


04.  Võ Bằng
Buổi học đầu xuân |  95-100/số 12


05.  Đynh Trầm Ca
Phiên gác (thơ) |  7/số 11


06.  Chín
Đồng sự |  61-65/số 1
Anh Tư Lo |  72-76/số 2
Ấp Thảo Điền |  27-33/số 3
Miếng đất bỏ hoang |  62-66/số 4
Xóm đáy |  75-79/số 5
Mười Tý |  57-62/số 6
Biến kế chấp |  152-156/số 7-8
Viết liễn |  87-90/số 9
Công quả |  87-88/số 12


07.  Phi Chiến
Lương tâm của nhân loại và lương tâm của con người (tiểu luận) |  33-36/số 11
Tất cả trái tim chúng tôi đều hướng về họ |  13-16/số 12


08.  Đinh Cường
Ghi từ Pleiku (thơ) |  6/số 7-8


09.  An Di
Đến hôm nay bắt đầu (thơ) |  58-59/số 1


10.  Nguyễn Du
Mười lăm năm ấy (thơ) |  2-3/số 3


11.  Minh Dũng
Nỗi lòng âu cơ (thơ) |  2/số 9
Bài viết cho mình (thơ) |  6/số 11
Năm 1954 (thơ) |  6/số 11
Truyện hai anh em sinh đôi |  85-86/số 11


12.  Nguyên Dũng
Trả về |  19-24/số 11


13.  Phạm Duy
Tiếng hát thật to (nhạc) |  54-57/số 1
Tâm ca số 1 (nhạc) |  50-51/số 2
Tâm ca số 3 (nhạc) |  59-62/số 3
Tâm ca số 4 (nhạc) |  42-43/số 4
Tâm ca số 5 (nhạc) |  57-59/số 5
Tâm ca số 6 (nhạc) |  48-49/số 6
Đường chiều lá rụng (nhạc) |  106-108/số 7-8


14.  Tản Đà
Vịnh bức dư đồ rách (thơ) |  2/số 10


15.  Dạ Giao Đằng
Chuyện thời chiến tranh Pháp-Việt (thơ) |  9-12/số 10
Diên Hồng (thơ) |  4/số 11


16.  Lan Đình
Đen duyên |  66-70/số 7-8


17.  Định Giang
Chiến tranh, nỗi bi thảm của quê hương (thơ) |  6/số 2
Những tuổi đời đi qua (thơ) |  5-6/số 3
Vùng trời quê hương chàng (thơ) |  5/số 4


18.  Bùi Giáng
Ruộng đồng cỏ mọc (thơ) |  6/số 1
Dưới trời (thơ) |  7/số 1
Rằng từ ngẫu nhĩ (tiểu luận) |  26-30/số 1
Rằng từ ngẫu nhĩ (Kiều ghé phương Tây) (tiểu luận) |  60-70/số 2


19.  Lạc Hà
Ngựa (thơ) |  12/số 7-8


20.  Nguyễn Thị Hà
Bóng (thơ) |  2/số 5


21.  Uyên Hà
Bong bóng bay (thơ) |  11/số 7-8


22.  Đoàn Minh Hải
Con sông Thu Bồn (thơ) |  8/số 9


23.  Nhất Hạnh
Chỗ đứng (thơ) |  2/số 1
Về với em bé thơ ngây (thơ) |  3/số 1
Sơ ý |  23-25/số 1
Bến Tre |  21-26/số 2
Nẻo về của ý (truyện dài) |  89-101/số 2; 84-98/số 3; 90-99/số 4; 88-97/số 5; 93-101/số 6; 184-195/số 7-8; 91-101/số 9; 95-105/số 11
Quán tưởng (thơ) |  8-9/số 3
Vòng tay nhận thức (thơ) |  7-8/số 4
Nói với tuổi hai mươi (tiểu luận) |  56-61/số 4; 51-56/số 5; 26-34/số 6; 43-54/số 7-8; 56-60/số 9; 51-57/số 10; 69-73/số 11
Duy thị nhất tâm (thơ) |  11/số 5
Thông điệp (thơ) |  2/số 6
Dựng tượng tuổi thơ (thơ) |  3/số 6
Đêm cầu nguyện (thơ) |  3-4/số 7-8


24.  Thái Tú Hạp
Nụ chào bao dung (thơ) |  6/số 5
Lời buồn treo cao (thơ) |  14/số 7-8


25.  Lê Gia Trung Hậu
Tôi vẫn tin rằng (thơ) |  14/số 11


26.  Anh Hoa
Mưa cao nguyên (thơ) |  71/số 2


27.  Luân Hoán
Ca dao tình yêu (thơ) |  4/số 5


28.  Phạm Hồ
Ở giá |  83-89/số 4


29.  Đặng Thiên Gia Hộ
Khởi động (thơ) |  5/số 6


30.  Tư Hồng
Đính chính một vài sai lầm trong lịch sử Nhật Bản… |  46-50/số 9
Trên đường vào Ba Thục |  83-86/số 12


31.  Võ Hồng
Khoảng mát |  9-16/số 1
Mẹ gà con vịt |  12-21/số 5
Trạm hành |  35-40/số 6
Chim lồng |  55-61/số 7-8


32.  Martin Heidegger/M. T. & Nguyễn Vạn Hồng dịch
Hoelderlin và yếu tính của thi ca (tiểu luận) |  22-31/số 5


33.  Tuấn Huy
Cúi đầu |  35-42/số 2
Trong vùng yên lặng |  25-33/số 7-8


34.  Phương Hương
Những giọt âm thanh |  27-28/số 4


35.  Tam Ích
Thơ văn ngày lại ngày (tiểu luận) |  66-70/số 1; 74-78/số 3; 29-33/số 4
Trong văn nghệ có vấn đề “giải quyết” và vấn đề “hướng lên” (tiểu luận) |  27-34/số 2
Văn chương kịch tiền phong và chúng ta (tiểu luận) |  44-50/số 3


36.  Nguyễn Mạnh Song Ka
Kẻ chờ đợi nhẫn nại (thơ) |  10/số 11
Lời xin với trời (thơ) |  11/số 11


37.  Lâm Trần Khách
Sau mươi trừ một |  84-92/số 6


38.  Hoài Khanh
Về nguồn (thơ) |  8/số 1
Cho lòng thở than |  85-91/số 1
Tinh thể hồng (thơ) |  7/số 2
Hermann Hesse/Hoài Khanh dịch |  Thi sĩ |  52-59/số  2
Cây pháo bông của trẻ (thơ) |  10/số 3
Nhụy (thơ) |  11/số 3
Trí nhớ hoang vu và khói |  34-43/số 3
Tiếng quê hương (thơ) |  9/số 4
Hiện (thơ) |  9/số 4
Mưa và đất (thơ) |  9/số 5
Trời mưa nghe nhạc J. Strauss (thơ) |  10/số 5
Thành phố đi rồi |  80-87/số 5
Cõi mộng (thơ) |  12/số 6
Thắp một ngọn đèn |  77-83/số 6
Nhìn qua thi ca Phi châu |  113-121/số 7-8


39.  Trần Tuấn Kiệt
Còi hoang (thơ) |  3/số 4
Cát biển (thơ) |  5/số 5
Mộng sầu (thơ) |  5/số 5
Thế giới con (thơ) |  6-7/số 6


40.  An Châu Lan
Hình ảnh (thơ) |  2/số 4
Mùa xuân học trò |  71-74/số 7-8


41.  Duy Lê
Tiếng hát trên đường vũ bão |  21-27/số 10


42.  Nguyễn Hiến Lê
Bút pháp và cá tính của nhà văn (tiểu luận) |  16-19/số 7-8


43.  Hạnh Linh N.V.P
Chuyện một loài chim (thơ) |  6-7/số 9


44.  Viên Linh
Hình nhân (thơ) |  15/số 7-8


45.  Vương Pển Liêm
Khái niệm về đường lối giáo dục cộng đồng (tiểu luận) |  67-72/số 4
Lược sử đường lối giáo dục cộng đồng (tiểu luận) |  69-74/số 5
Thanh niên với giáo dục cộng đồng (tiểu luận) |  63-69/số 6
Vấn đề đào tạo giáo chức nông thôn (tiểu luận) |  174-183/số 7-8
Giáo dục quần chúng tại Việt Nam (tiểu luận) |  79-86/số 9
Đường lối giáo dục cộng đồng ở thành thị và nông thôn (tiểu luận) |  81-87/số 10
Tìm hiểu về nguyên tắc giáo dục cộng đồng (tiểu luận) |  87-94/số 11
Giáo dục cộng đồng và xã hội giáo dục (tiểu luận) |  89-94/số 12


46.  Nguyễn Thụy Long
Tù con so |  83-88/số 2
Những ngày còn không |  70-76/số 6


47.  Bình Nguyên Lộc
Kinh tà bang |  99-104/số 1


48.  Thái Luân
Anh hùng (thơ) |  7-8/số 10
Hội nghị về Việt Nam (thơ) |  2-4/số 12
Đối thoại đêm 1953 (thơ) |  2-4/số 12


49.  Chính Luận
Hoa Từ Chung (thơ) |  13/số 7-8


50.  Trần Dzạ Lữ
Tuyên ngôn (thơ) |  5/số 11


51.  Huy Lực
Huyền trang (thơ) |  8/số 5
Trùng dương (thơ) |  8/số 5


52.  Minh Lương
Thử tìm vào một bản dân nhạc thiếu nhi miền Nam (tiểu luận) |  74-80/số 11


53.  Vũ Đình Lưu
Con người và thiên nhiên (tiểu luận) |  41-47/số 6
R. Barthes/Vũ Đình Lưu dịch |  Văn sĩ và người dùng văn (tiểu luận) |  157-164/số 7-8


54.  Dương Nghiễm Mậu
Khí hậu pháo xiết |  71-84/số 1
Mỗi người |  34-41/số 4
Kẻ nuôi máu |  13-19/số 6
Thư viết từ một xóm quê |  96-105/số 7-8


55.  Kiêm Minh
Đường sông, nét bút |  13-16/số 10
Giòng sông đen |  43-45/số 11
Ảo ảnh trên cánh đồng |  32-34/số 12


56.  Tôn Nữ Hoài My
Gót lạnh (thơ) |  9/số 6


57.  Sơn Nam
Cấm bắt rùa |  31-37/số 1
Một bức chân dung |  8-14/số 2
Ngó lên Sở Thượng |  51-58/số 3
Hào hoa phong nhã |  44-48/số 4
Viếng mũi Cà Mau |  37-41/số 5
Màu sắc Hậu Giang |  20-24/số 7-8
Ngày hội tháng giêng ở Saigon |  17-22/số 9
Tìm cây kiểng đẹp |  75-80/số 10
Câu chuyện săn vàng |  25-32/số 11
Đình ông Nguyễn, Chùa ông Đồng |  44-49/số 12


58.  Lưu Nghi
Được như chúng nó |  12-16/số 9
Con sâu |  81-84/số 11
Chuyện bên đường |  35-43/số 12


59.  Trần Nhật Nguyệt
Sao biển |  68-70/số 10
Trong đêm tối |  81-82/số 12


60.  William Faulkner/Dương Thanh Nhung dịch
Tóc |  141-151/số 7-8


61.  Nguyễn Nho Nhượn
Tiếng động mùa xuân (thơ) |  12-13/số 11


62.  Nguyễn Phước
Hoa vông đỏ |  79-83/số 3


63.  Hữu Phương
Thành phố này (thơ) |  10/số 6


64.  Trần Đông Phương
Cô bé tia sáng mặt trời |  58-67/số 10


65.  Alberto Moravia/Nguyễn Kim Phượng dịch
Cửa hàng bán hạnh phúc |  109-112/số 7-8


66.  Hằng Hà Sa
Huy hoàng trường cửu |  20-25/số 6
Giao thừa bệnh viện |  165-173/số 7-8
Nhọt bao tử |  43-46/số 10


67.  Vương Hồng Sển
Con ngựa già của thầy Đường Tam Tạng |  75-80/số 7-8


68.  Nguyễn Đức Sơn
Ngồi đợi ngoài hành lang |  92-98/số 1
Xin dừng lại nơi đây |  77-82/số 2


69.  Lê Kim Sơn
Gió Thạch Vưu |  88-90/số 10


70.  Chí sĩ Võ Liêm Sơn
Ngắm non hồng (thơ) |  2-3/số 11


71.  Phong Sơn
Khu vực Tây |  37-42/số 11
Rắc rối |  60-64/số 11
Niềm tin chưa mất (thơ) |  7-8/số 12
Việc giải phẩu con người qua các lương y: Khổng, Lão, Mặc, Vương Dương Minh và Phật Thích Ca (tiểu luận) |  50-54/số 12


72.  Thiếu Sơn
Nhà văn phải làm gì để giữ thơm quê mẹ? (tiểu luận) |  17-20/số 10
Văn hào Georges Duhamel, con người lương thiện (tiểu luận) |  15-18/số 11
Giá trị và uy quyền của những người cầm bút (tiểu luận) |  28-31/số 12


73.  Ngô Thị Sương
Ngoại ô (thơ) |  5/số 9


74.  Hà Nguyên Thạch
Bọt nước (thơ) |  6/số 4
Phù ảo (thơ) |  4/số 6
Nỗi buồn trên cao (thơ) |  14/số 7-8


75.  Rumer Golden/Dương Thanh dịch
Vật sở hữu |  73-82/số 4


76.  Ruth Jhabvala/Quế Thanh dịch
Cuộc khảo sát |  60-68/số 5
Như chim như cá |  81-95/số 7-8


77.  Xuân Thao
Đất mẹ (thơ) |  8/số 6


78.  Văn Lệ Thiên
Lý do |  23-27/số 9


79.  Phạm Công Thiện
Bất nhị (thơ) |  4/số 1
Vài suy tưởng triết học (tiểu luận) |  38-53/số 1
Ánh sáng Phật giáo Thiền tông chiếu rọi vào ba câu thơ của Hoelderlin (tiểu luận) |  43-49/số 2
Ba ý tưởng siêu hình học (tiểu luận) |  126-128/số 7-8


80.  Erskine Kaldwell/bản dịch của Thịnh
Khi em nghĩ đến tôi |  61-78/số 9


81.  Nguyễn Phan Thịnh
Thanh cao như một ánh trời (thơ)|  4/số 5
Bài ca chim (thơ) |  11/số 7-8


82.  Alexander Solzhenitsyn/Bình Thuận dịch
Thở |  50-56/số 6


83.  Thơ xưa
Vịnh hoa cúc (thơ) |  2/số 10


84.  Hoàng Thị Thủy Tiên
Nhìn lên (thơ) |  7/số 5


85.  Thành Tôn
Cuộc tôi (thơ) |  5/số 1
Vào lòng đất (thơ) |  2/số 2
Thư cho mẹ (thơ) |  4/số 3
Ranh giới cô đơn (thơ) |  3/số 5
Chứng tích (thơ) |  11/số 6
Mùa xuân nói xuống (thơ) |  10/số 7-8


86.  Kim Tuấn
Tháp cổ (thơ) |  60/số 1
Những điều ghi được trong giấc ngủ (thơ) |  5/số 2
Lời ru thứ nhất (thơ) |  4/số 4
Trở về (thơ) |  4/số 4
Nhìn lại mùa xuân (thơ) |  5/số 7-8


87.  Thùy Dương Tử
Ô Lý (thơ) |  20/số 2


88.  Hồ Hữu Tường
Ngày trở về của đứa con hoang |  17-22/số 1
Từ Quảng Ninh, ngang Tagore, đến… |  15-20/số 2
Cao vọng thanh niên |  20-26/số 3
Cảm đề |  20-26/số 4
Quả trứng mầu |  32-36/số 5
Mong chồng |  122-125/số 7-8
Ngôn vô từ |  41-45/số 9
Cóc cần |  28-32/số 10
Quỉ ám |  60-64/số 12


89.  Minh Trí
Khúc hát của những người khởi hành (thơ) |  5-6/số 12


90.  Hải Triều
| Đất sống | 62-65/số 7-8


91.  Đông Tùng
Quan Vân Trường có xứng đáng là một vị thần đứng đầu võ miếu Việt Nam không? (tiểu luận) |  33-42/số 10
Tìm hiểu “Đệ Tam Tuyệt” trong thời Tam Quốc (tiểu luận) |  69-80/số 12


92.  Tuệ Uyển
Đối diện |  49-55/số 4


93.  Chinh Văn
Lời chim bão tố (thơ) |  7-9/số 7-8
Tiếng đêm (thơ) |  9-11/số 9
Buổi sớm |  47-50/số 10
Cây chuối |  65-68/số 11
Râu trên cằm |  55-59/số 12


94.  Thi Vũ
We two form a multitude (thơ) |  3-4/số 2
Đường nét (thơ) |  7/số 3
Tất cả (thơ) |  7/số 3
Người nuôi mọt |  91-93/số 10


95.  Trụ Vũ
Chiếc chuông đồng làng An Thượng |  12-19/số 3
Trung thu đợi người |  42-50/số 5
Giấc mơ (thơ) |  3/số 9
Đàn kiến khuya (thơ) |  4/số 9
Mùa xuân bắt cá |  51-55/số 9
Tiếng mẹ (thơ) |  3-6/số 10
Chiếc kẹo “sơ-vinh-gum” |  94-98/số 10
Còn gì để lại cho em (thơ) |  8-9/số 11
Tình khúc Việt Nam (thơ) |  9-12/số 12


96.  Cao Trúc Vũ
Xứ dừa xanh |  34-42/số 7-8


97.  Dương Xuân
Tháp phù ngọc |  28-30/số 9


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1-12

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #148 vào: 12/02/2018, 23:09:08 »
GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  THƯ MỤC THƠ

01.  Chỗ đứng |  Nhất Hạnh |  2/số 1
02.  Về với em bé thơ ngây |  Nhất Hạnh |  3/số 1
03.  Bất nhị |  Phạm Công Thiện |  4/số 1
04.  Cuộc tôi |  Thành Tôn |  5/số 1
05.  Ruộng đồng cỏ mọc |  Bùi Giáng |  6/số 1
06.  Dưới trời |  Bùi Giáng |  7/số 1
07.  Về nguồn |  Hoài Khanh |  8/số 1
08.  Đến hôm nay bắt đầu |  An Di |  58-59/số 1
09.  Tháp cổ |  Kim Tuấn |  60/số 1
10.  Vào lòng đất |  Thành Tôn |  2/số 2
11.  We two form a multitude |  Thi Vũ |  3-4/số 2
12.  Những điều ghi được trong giấc ngủ |  Kim Tuấn |  5/số 2
13.  Chiến tranh, nỗi bi thảm của quê hương |  Định Giang |  6/số 2
14.  Tinh thể hồng |  Hoài Khanh |  7/số 2
15.  Ô Lý |  Thùy Dương Tử |  20/số 2
16.  Mưa cao nguyên |  Anh Hoa |  71/số 2
17.  Mười lăm năm ấy |  Nguyễn Du |  2-3/số 3
18.  Thư cho mẹ |  Thành Tôn |  4/số 3
19.  Những tuổi đời đi qua |  Định Giang |  5-6/số 3
20.  Đường nét |  Thi Vũ |  7/số 3
21.  Tất cả |  Thi Vũ |  7/số 3
22.  Quán tưởng |  Nhất Hạnh |  8-9/số 3
23.  Cây pháo bông của trẻ |  Hoài Khanh |  10/số 3
24.  Nhụy |  Hoài Khanh |  11/số 3
25.  Hình ảnh |  An Châu Lan |  2/số 4
26.  Còi hoang |  Trần Tuấn Kiệt |  3/số 4
27.  Lời ru thứ nhất |  Kim Tuấn |  4/số 4
28.  Trở về |  Kim Tuấn |  4/số 4
29.  Vùng trời quê hương chàng |  Định Giang |  5/số 4
30.  Bọt nước |  Hà Nguyên Thạch |  6/số 4
31.  Vòng tay nhận thức |  Nhất Hạnh |  7-8/số 4
32.  Tiếng quê hương |  Hoài Khanh |  9/số 4
33.  Hiện |  Hoài Khanh |  9/số 4
34.  Bóng |  Nguyễn Thị Hà |  2/số 5
35.  Ranh giới cô đơn |  Thành Tôn |  3/số 5
36.  Ca dao tình yêu |  Luân Hoán |  4/số 5
37.  Thanh cao như một ánh trời |  Nguyễn Phan Thịnh |  4/số 5
38.  Cát biển |  Trần Tuấn Kiệt |  5/số 5
39.  Mộng sầu |  Trần Tuấn Kiệt |  5/số 5
40.  Nụ chào bao dung |  Thái Tú Hạp |  6/số 5
41.  Nhìn lên |  Hoàng Thị Thủy Tiên |  7/số 5
42.  Huyền trang |  Huy Lực |  8/số 5
43.  Trùng dương |  Huy Lực |  8/số 5
44.  Mưa và đất |  Hoài Khanh |  9/số 5
45.  Trời mưa nghe nhạc J. Strauss |  Hoài Khanh |  10/số 5
46.  Duy thị nhất tâm |  Nhất Hạnh |  11/số 5
47.  Thông điệp |  Nhất Hạnh |  2/số 6
48.  Dựng tượng tuổi thơ |  Nhất Hạnh |  3/số 6
49.  Phù ảo |  Hà Nguyên Thạch |  4/số 6
50.  Khởi động |  Đặng Thiên Gia Hộ |  5/số 6
51.  Thế giới con |  Trần Tuấn Kiệt |  6-7/số 6
52.  Đất mẹ |  Xuân Thao |  8/số 6
53.  Gót lạnh |  Tôn Nữ Hoài My |  9/số 6
54.  Thành phố này |  Hữu Phương |  10/số 6
55.  Chứng tích |  Thành Tôn |  11/số 6
56.  Cõi mộng |  Hoài Khanh |  12/số 6
57.  Đêm cầu nguyện |  Nhất Hạnh |  3-4/số 7-8
58.  Nhìn lại mùa xuân |  Kim Tuấn |  5/số 7-8
59.  Ghi từ Pleiku |  Đinh Cường |  6/số 7-8
60.  Lời chim bão tố |  Chinh Văn |  7-9/số 7-8
61.  Mùa xuân nói xuống |  Thành Tôn |  10/số 7-8
62.  Bong bóng bay |  Uyên Hà |  11/số 7-8
63.  Bài ca chim |  Nguyễn Phan Thịnh |  11/số 7-8
64.  Ngựa |  Lạc Hà |  12/số 7-8
65.  Hoa Từ Chung |  Chính Luận |  13/số 7-8
66.  Nỗi buồn trên cao |  Hà Nguyên Thạch |  14/số 7-8
67.  Lời buồn treo cao |  Thái Tú Hạp |  14/số 7-8
68.  Hình nhân |  Viên Linh |  15/số 7-8
69.  Nỗi lòng âu cơ |  Minh Dũng |  2/số 9
70.  Giấc mơ |  Trụ Vũ |  3/số 9
71.  Đàn kiến khuya |  Trụ Vũ |  4/số 9
72.  Ngoại ô |  Ngô Thị Sương |  5/số 9
73.  Chuyện một loài chim |  Hạnh Linh N.V.P |  6-7/số 9
74.  Con sông Thu Bồn |  Đoàn Minh Hải |  8/số 9
75.  Tiếng đêm |  Chinh Văn |  9-11/số 9
76.  Vịnh hoa cúc |  Thơ xưa |  2/số 10
77.  Vịnh bức dư đồ rách |  Tản Đà |  2/số 10
78.  Tiếng mẹ |  Trụ Vũ |  3-6/số 10
79.  Anh hùng |  Thái Luân |  7-8/số 10
80.  Chuyện thời chiến tranh Pháp-Việt |  Dạ Giao Đằng |  9-12/số 10
81.  Ngắm non hồng |  Chí sĩ Võ Liêm Sơn |  2-3/số 11
82.  Diên Hồng |  Dạ Giao Đằng |  4/số 11
83.  Tuyên ngôn |  Trần Dzạ Lữ |  5/số 11
84.  Bài viết cho mình |  Minh Dũng |  6/số 11
85.  Năm 1954 |  Minh Dũng |  6/số 11
86.  Phiên gác |  Đynh Trầm Ca |  7/số 11
87.  Còn gì để lại cho em |  Trụ Vũ |  8-9/số 11
88.  Kẻ chờ đợi nhẫn nại |  Nguyễn Mạnh Song Ka |  10/số 11
89.  Lời xin với trời |  Nguyễn Mạnh Song Ka |  11/số 11
90.  Tiếng động mùa xuân |  Nguyễn Nho Nhượn |  12-13/số 11
91.  Tôi vẫn tin rằng |  Lê Gia Trung Hậu |  14/số 11
92.  Hội nghị về Việt Nam |  Thái Luân |  2-3/số 12
93.  Đối thoại đêm 1953 |  Thái Luân |  4/số 12
94.  Khúc hát của những người khởi hành |  Minh Trí |  5-6/số 12
95.  Niềm tin chưa mất |  Phong Sơn |  7-8/số 12
96.  Tình khúc Việt Nam |  Trụ Vũ |  9-12/số 12


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  THƯ MỤC NHẠC

01.  Tiếng hát thật to |  Phạm Duy |  54-57/số 1
02.  Tâm ca số 1 |  Phạm Duy |  50-51/số 2
03.  Tâm ca số 3 |  Phạm Duy |  59-62/số 3
04.  Tâm ca số 4 |  Phạm Duy |  42-43/số 4
05.  Tâm ca số 5 |  Phạm Duy |  57-59/số 5
06.  Tâm ca số 6 |  Phạm Duy |  48-49/số 6
07.  Đường chiều lá rụng |  Phạm Duy |  106-108/số 7-8


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  THƯ MỤC VĂN

01.  Khoảng mát |  Võ Hồng |  9-16/số 1
02.  Ngày trở về của đứa con hoang |  Hồ Hữu Tường |  17-22/số 1
03.  Sơ ý |  Nhất Hạnh |  23-25/số 1
04.  Cấm bắt rùa |  Sơn Nam |  31-37/số 1
05.  Đồng sự |  Chín |  61-65/số 1
06.  Khí hậu pháo xiết |  Dương Nghiễm Mậu |  71-84/số 1
07.  Cho lòng thở than |  Hoài Khanh |  85-91/số 1
08.  Ngồi đợi ngoài hành lang |  Nguyễn Đức Sơn |  92-98/số 1
09.  Kinh tà bang |  Bình Nguyên Lộc |  99-104/số 1
10.  Một bức chân dung |  Sơn Nam |  8-14/số 2
11.  Từ Quảng Ninh, ngang Tagore, đến… |  Hồ Hữu Tường |  15-20/số 2
12.  Bến Tre |  Nhất Hạnh |  21-26/số 2
13.  Cúi đầu |  Tuấn Huy |  35-42/số 2
14.  Thi sĩ |  Hermann Hesse/Hoài Khanh dịch |  52-59/số 2
15.  Anh Tư Lo |  Chín |  72-76/số 2
16.  Xin dừng lại nơi đây |  Nguyễn Đức Sơn |  77-82/số 2
17.  Tù con so |  Nguyễn Thụy Long |  83-88/số 2
18.  Nẻo về của ý (truyện dài) |  Nhất Hạnh |  89-101/số 2; 84-98/số 3; 90-99/số 4; 88-97/số 5; 93-101/số 6; 184-195/số 7-8; 91-101/số 9; 95-105/số 11
19.  Chiếc chuông đồng làng An Thượng |  Trụ Vũ |  12-19/số 3
20.  Cao vọng thanh niên |  Hồ Hữu Tường |  20-26/số 3
21.  Ấp Thảo Điền |  Chín |  27-33/số 3
22.  Trí nhớ hoang vu và khói |  Hoài Khanh |  34-43/số 3
23.  Ngó lên Sở Thượng |  Sơn Nam |  51-58/số 3
24.  Hoa vông đỏ |  Nguyễn Phước |  79-83/số 3
25.  Bài thơ trên xương cụt |  Chinh Ba |  10-19/số 4
26.  Cảm đề |  Hồ Hữu Tường |  20-26/số 4
27.  Những giọt âm thanh |  Phương Hương |  27-28/số 4
28.  Mỗi người |  Dương Nghiễm Mậu |  34-41/số 4
29.  Hào hoa phong nhã |  Sơn Nam |  44-48/số 4
30.  Đối diện |  Tuệ Uyển |  49-55/số 4
31.  Miếng đất bỏ hoang |  Chín |  62-66/số 4
32.  Vật sở hữu |  Rumer Golden/Dương Thanh dịch |  73-82/số 4
33.  Ở giá |  Phạm Hồ |  83-89/số 4
34.  Mẹ gà con vịt |  Võ Hồng |  12-21/số 5
35.  Quả trứng mầu |  Hồ Hữu Tường |  32-36/số 5
36.  Viếng mũi Cà Mau |  Sơn Nam |  37-41/số 5
37.  Trung thu đợi người |  Trụ Vũ |  42-50/số 5
38.  Cuộc khảo sát |  Ruth Jhabvala/Quế Thanh dịch |  60-68/số 5
39.  Xóm đáy |  Chín |  75-79/số 5
40.  Thành phố đi rồi |  Hoài Khanh |  80-87/số 5
41.  Kẻ nuôi máu |  Dương Nghiễm Mậu |  13-19/số 6
42.  Huy hoàng trường cửu |  Hằng Hà Sa |  20-25/số 6
43.  Trạm hành |  Võ Hồng |  35-40/số 6
44.  Thở |  Alexander Solzhenitsyn/Bình Thuận dịch |  50-56/số 6
45.  Mười Tý |  Chín |  57-62/số 6
46.  Những ngày còn không |  Nguyễn Thụy Long |  70-76/số 6
47.  Thắp một ngọn đèn |  Hoài Khanh |  77-83/số 6
48.  Sau mươi trừ một |  Lâm Trần Khách |  84-92/số 6
49.  Màu sắc Hậu Giang |  Sơn Nam |  20-24/số 7-8
50.  Trong vùng yên lặng |  Tuấn Huy |  25-33/số 7-8
51.  Xứ dừa xanh |  Cao Trúc Vũ |  34-42/số 7-8
52.  Chim lồng |  Võ Hồng |  55-61/số 7-8
53.  Đất sống |  Hải Triều |  62-65/số 7-8
54.  Đen duyên |  Lan Đình |  66-70/số 7-8
55.  Mùa xuân học trò |  An Châu Lan |  71-74/số 7-8
56.  Con ngựa già của thầy Đường Tam Tạng |  Vương Hồng Sển |  75-80/số 7-8
57.  Như chim như cá |  Ruth Jhabvala/Quế Thanh dịch |  81-95/số 7-8
58.  Thư viết từ một xóm quê |  Dương Nghiễm Mậu |  96-105/số 7-8
59.  Cửa hàng bán hạnh phúc |  Alberto Moravia/Nguyễn Kim Phượng dịch |  109-112/số 7-8
60.  Mong chồng |  Hồ Hữu Tường |  122-125/số 7-8
61.  Pho tượng Linh Mai (kịch) |  Chinh Ba |  129-140/số 7-8
62.  Tóc |  William Faulkner/Dương Thanh Nhung dịch |  141-151/số 7-8
63.  Biến kế chấp |  Chín |  152-156/số 7-8
64.  Giao thừa bệnh viện |  Hằng Hà Sa |  165-173/số 7-8
65.  Được như chúng nó |  Lưu Nghi |  12-16/số 9
66.  Ngày hội tháng giêng ở Saigon |  Sơn Nam |  17-22/số 9
67.  Lý do |  Văn Lệ Thiên |  23-27/số 9
68.  Tháp phù ngọc |  Dương Xuân |  28-30/số 9
69.  |  Chinh Ba |  31-40/số 9
70.  Ngôn vô từ |  Hồ Hữu Tường |  41-45/số 9
71.  Mùa xuân bắt cá |  Trụ Vũ |  51-55/số 9
72.  Khi em nghĩ đến tôi |  Erskine Kaldwell/bản dịch của Thịnh |  61-78/số 9
73.  Viết liễn |  Chín |  87-90/số 9
74.  Đường sông, nét bút |  Kiêm Minh |  13-16/số 10
75.  Tiếng hát trên đường vũ bão |  Duy Lê |  21-27/số 10
76.  Cóc cần |  Hồ Hữu Tường |  28-32/số 10
77.  Nhọt bao tử |  Hằng Hà Sa |  43-46/số 10
78.  Buổi sớm |  Chinh Văn |  47-50/số 10
79.  Cô bé tia sáng mặt trời |  Trần Đông Phương |  58-67/số 10
80.  Sao biển |  Trần Nhật Nguyệt |  68-70/số 10
81.  Tóc |  Chinh Ba |  71-74/số 10
82.  Tìm cây kiểng đẹp |  Sơn Nam |  75-80/số 10
83.  Gió Thạch Vưu |  Lê Kim Sơn |  88-90/số 10
84.  Người nuôi mọt |  Thi Vũ |  91-93/số 10
85.  Chiếc kẹo “sơ-vinh-gum” |  Trụ Vũ |  94-98/số 10
86.  Trả về |  Nguyên Dũng |  19-24/số 11
87.  Câu chuyện săn vàng |  Sơn Nam |  25-32/số 11
88.  Khu vực Tây |  Phong Sơn |  37-42/số 11
89.  Giòng sông đen |  Kiêm Minh |  43-45/số 11
90.  Cháy đỏ đêm dài |  Yên Hi Ba |  46-59/số 11
91.  Rắc rối |  Phong Sơn |  60-64/số 11
92.  Cây chuối |  Chinh Văn |  65-68/số 11
93.  Con sâu |  Lưu Nghi |  81-84/số 11
94.  Truyện hai anh em sinh đôi |  Minh Dũng |  85-86/số 11
95.  Tất cả trái tim chúng tôi đều hướng về họ |  Phi Chiến |  13-16/số 12
96.  Đóa sen vàng |  Chinh Ba |  17-27/số 12
97.  Ảo ảnh trên cánh đồng |  Kiêm Minh |  32-34/số 12
98.  Chuyện bên đường |  Lưu Nghi |  35-43/số 12
99.  Đình ông Nguyễn, Chùa ông Đồng |  Sơn Nam |  44-49/số 12
100.  Râu trên cằm |  Chinh Văn |  55-59/số 12
101.  Quỉ ám |  Hồ Hữu Tường |  60-64/số 12
102.  Vỡ tổ |  Yên Hi Ba |  65-68/số 12
103.  Trong đêm tối |  Trần Nhật Nguyệt |  81-82/số 12
104.  Trên đường vào Ba Thục |  Tư Hồng |  83-86/số 12
105.  Công quả |  Chín |  87-88/số 12
106.  Buổi học đầu xuân |  Võ Bằng |  95-100/số 12


GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  THƯ MỤC TIỂU LUẬN

01.  Rằng từ ngẫu nhĩ |  Bùi Giáng |  26-30/số 1
02.  Vài suy tưởng triết học |  Phạm Công Thiện |  38-53/số 1
03.  Thơ văn ngày lại ngày |  Tam Ích |  66-70/số 1; 74-78/số 3; 29-33/số 4;
04.  Trong văn nghệ có vấn đề “giải quyết” và vấn đề “hướng lên” |  Tam Ích |  27-34/số 2
05.  Ánh sáng Phật giáo Thiền tông chiếu rọi vào ba câu thơ của Hoelderlin |  Phạm Công Thiện |  43-49/số 2
06.  Rằng từ ngẫu nhĩ (Kiều ghé phương Tây) |  Bùi Giáng |  60-70/số 2
07.  Văn chương kịch tiền phong và chúng ta |  Tam Ích |  44-50/số 3
08.  Asoka, một chính trị gia vĩ đại hay là nền hòa bình chính thực cho con người |  Nguyên Ân |  63-73/số 3
09.  Nói với tuổi hai mươi |  Nhất Hạnh |  56-61/số 4; 51-56/số 5; 26-34/số 6; 43-54/số 7-8; 56-60/số 9; 51-57/số 10; 69-73/số 11
10.  Khái niệm về đường lối giáo dục cộng đồng |  Vương Pển Liêm |  67-72/số 4; 69-74/số 5; 63-69/số 6; 174-183/số 7-8; 79-86/số 9; 81-87/số 10; 87-94/số 11; 89-94/số 12
11.  Hoelderlin và yếu tính của thi ca |  Martin Heidegger/M. T. & Nguyễn Vạn Hồng dịch |  22-31/số 5
12.  Con người và thiên nhiên |  Vũ Đình Lưu |  41-47/số 6
13.  Bút pháp và cá tính của nhà văn |  Nguyễn Hiến Lê |  16-19/số 7-8
14.  Nhìn qua thi ca Phi châu |  Hoài Khanh |  113-121/số 7-8
15.  Ba ý tưởng siêu hình học |  Phạm Công Thiện |  126-128/số 7-8
16.  Văn sĩ và người dùng văn |  R. Barthes/Vũ Đình Lưu dịch |  157-164/số 7-8
17.  Đính chính một vài sai lầm trong lịch sử Nhật Bản… |  Tư Hồng |  46-50/số 9
18.  Nhà văn phải làm gì để giữ thơm quê mẹ? |  Thiếu Sơn |  17-20/số 10
19.  Quan Vân Trường có xứng đáng là một vị thần đứng đầu võ miếu Việt Nam không? |  Đông Tùng |  33-42/số 10
20.  Văn hào Georges Duhamel, con người lương thiện |  Thiếu Sơn |  15-18/số 11
21.  Lương tâm của nhân loại và lương tâm của con người |  Phi Chiến |  33-36/số 11
22.  Thử tìm vào một bản dân nhạc thiếu nhi miền Nam |  Minh Lương |  74-80/số 11
23.  Giá trị và uy quyền của những người cầm bút |  Thiếu Sơn |  28-31/số 12
24.  Việc giải phẩu con người qua các lương y: Khổng, Lão, Mặc, Vương Dương Minh và Phật Thích Ca |  Phong Sơn |  50-54/số 12
25.  Tìm hiểu “Đệ Tam Tuyệt” trong thời Tam Quốc |  Đông Tùng |  69-80/số 12



GIỮ THƠM QUÊ MẸ |  SỐ 1-12


₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪

Cung chúc tân xuân  ₪  Xuân Mậu Tuất     Cung chúc tân xuân  ₪  Xuân Mậu Tuất     Cung chúc tân xuân  ₪  Xuân Mậu Tuất

₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2018 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪



Trọn bộ Tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ: https://issuu.com/vuxuanhoan/docs/gi____th__m_qu___m____s____01_n__m_



 

Ngủ rồi nduytai

Re: Giữ Thơm Quê Mẹ
« Trả lời #149 vào: 14/02/2018, 22:49:47 »


GIỮ THƠM QUÊ MẸ
(1965-1966)

GIỮ THƠM QUÊ ME là một tập san văn nghệ ra hàng tháng do Lá Bối xuất bản. Số 1 phát hành tháng 7 năm 1965. Số cuối cùng 12 phát hành tháng 6 năm 1966. Từ số 1 đến số 8 nhà thơ Hoài Khanh coi sóc. Từ số 9 đến số cuối cùng (số 12), nhà thơ Trụ Vũ thay thế nhà thơ Hoài Khanh.
            Ra đời vào lúc cuộc chiến leo thang, với những trận đánh qui mô diện địa, lúc mà nỗi bất an ve vuốt mọi người mọi lứa tuổi, lúc mà xã hội bị rung bật gốc vì sự có mặt của quân đội đồng minh, Giữ Thơm Quê Mẹ đã được đón nhận với tất cả thiện cảm của một số người, độc giả lẫn văn hữu. Bởi nó đã ít ra cũng đáp ứng phần nào niềm khao khát và ước mơ của người dân là mong chiến tranh được sớm chấm dứt…
            Khác với các tạp chí khác, ở số đầu thường có Thư Tòa soạn viết về chủ trương, đường hướng của tạp chí, nhưng ở đây, Giữ Thơm Quê Mẹ thì không có thông lệ này. Tuy vậy, người đọc cũng biết ngay nó một tạp chí văn chương nghệ thuật có đường hướng dựa vào tư tưởng Phật giáo, chống chiến tranh một cách tích cực, mà linh hồn tờ báo là Nhất Hạnh.
            Bút danh Nhất Hạnh có mặt thường xuyên trên hầu hết các số báo. Từ thơ đến văn. Từ tâm bút đến luận thuyết hay tiểu luận. Hai tiểu luận dài là Nẻo về của ýNói với tuổi hai mươi được đăng nhiều kỳ.
            Số xuân Bính Ngọ (7&8) là số báo hùng hậu nhất với sự góp mặt của Nguyễn Hiến Lê, Nhất Hạnh, Võ Hồng, Kim Tuấn, Vũ Đình Lưu, An Châu Lan, Ruth Jhabvala, Tuấn Huy, Vương Hồng Sển, Quế Thanh, Chín, Hằng Hà sa, Thành Tôn, Đinh Cường, Sơn Nam, Viên Linh, Cao Trúc Vũ, Hải Triều, Dương Nghiễm Mậu, Hồ Hữu Tường, Phạm Duy, Uyên Hà, Lưu Nghi, Thái Tú Hạp, Lạc Hà, Vương Pển Liêm, Phạm Công Thiện, Chinh Văn, Nguyễn Phan Thịnh, Nguyễn Kim Phượng, Định Giang, Hà Nguyên Thạch, Hoài Khanh…
            Những tác giả có bài thường xuyên nhất là Nhất Hạnh rồi đến Chín (truyện ngắn), Thành Tôn (thơ), Hoài Khanh (thơ), Trụ Vũ (thơ), Tam Ích (thời sự văn học), Hồ Hữu Tường (Tạp văn), Võ Hồng (truyện), Chinh Ba (truyện), Dương Nghiễm Mậu (truyện)…
            Riêng về nhạc, có tất cả 7 bài Tâm ca của Phạm Duy được đăng trên Giữ Thơm Quê Mẹ.



Khuynh hướng văn chương trong Giữ Thơm Quê Mẹ: Chống chiến tranh, đề cao tư tưởng Phật giáo
            Khác với tạp chí Văn Nghệ có mặt trước đó hai năm với chủ trương văn chương phải đấu tranh, phải gia nhập, luôn luôn cảnh báo về cái hiểm họa thì ngược lại Giữ Thơm Quê Mẹ đã quay 180 độ cái nhìn về cuộc chiến. Trên Giữ Thơm Quê Mẹ số 12, dưới tiêu đề “Tất cả trái tim chúng tôi đều hướng về họ”, – một bài viết về chính trị duy nhất trên Giữ Thơm Quê Mẹ – tác giả Phi Chiến nói rõ hơn về lập trường của Giữ Thơm Quê Mẹ:

            “…không phải chúng tôi sẵn sàng mở cửa vào miền Nam Việt Nam này, không phải là chúng tôi bỏ cuộc tranh đấu chống lại sự xâm nhập. Nhưng chúng tôi có đường lối của chúng tôi, khác hẳn với đường lối của người Mỹ.
             Đạo Phật đại từ đại bi vẫn có đại hùng đại lực để ngăn chận tất cả những chủ nghĩa ngoại lai không có gốc rễ trong dân tộc. Và đạo Phật sẽ có đủ đức độ đem tình thương phủ lên sắt thép.”


            Quan niệm “đem tình thương phủ lên sắt thép” được tìm thấy trên một số thơ văn đăng trên Giữ Thơm Quê Mẹ. Khi thì bàng bạc, khi thì đậm nét. Không còn “chúng đang đe dọa chúng ta. Chúng muốn gì đây?” như nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã cảnh báo trên Văn Nghệ, mà là con quái vật không hình không dạng là “chiến tranh”. Chưa bao giờ chiến tranh bị kết án, nguyền rủa, oán trách thậm tệ như thế. Làm như chiến tranh là một bạo chúa có thật, không hơn không kém.
            Đợi cho đến khi có bài tâm ca số 7 của Phạm Duy ra đời, thấy ghi trên mục lục của Giữ Thơm Quê Mẹ số 7&8 nhưng trang ruột thì không, thì con quái vật kia mới được mô tả cặn kẽ:

                        Kẻ thù ta đâu có phải là người
                        Giết người đi thì ta ở với ai?
                        Kẻ thù ta tên nó là gian ác
                        Kẻ thù ta tên nó là vô lương
                        Tên nó là hận thù
                        Tên nó là một lũ ma (thế thì)
                        Kẻ thù ta đâu có phải là người
                        Giết người đi thì ta ở với ai?
                        Kẻ thù ta mang áo mầu chủ nghĩa
                        Kẻ thù ta mang lá bài tự do
                        Mang cái vỏ thật to
                        Mang cái rổ danh từ
                        Mang cái mầm chia rẽ chúng ta (thế thì)

                        . . . . . .

            Bài hát như một kinh nhật tụng của một số người trẻ trí thức hay học sinh sinh viên bấy giờ. Mỗi lần hội thảo, biểu tình, hay họp hành, thì các tham dự viên cùng vỗ tay cùng đồng ca: Kẻ thù ta đâu có phải là người/Giết người đi thì ta ở với ai… Những bài tâm ca ấy cộng vào nhạc Trịnh Công Sơn, đã ít nhiều gây những hoang mang ngờ vực, chán chường chiến tranh không ít thì nhiều. Vâng, kẻ thù ta đâu có phải là người… Giết người đi thì ta ở với ai?
            Nhiều người kết tội Nhất Hạnh đã tiếp tay với kẻ thù khi ông làm làm tờ Giữ Thơm Quê Mẹ. Thật sự ông không có một bài văn bài thơ nào hô hào cổ xúy cho việc buông súng hay xé hay đốt lệnh gọi động viên như ở Mỹ. Lúc ông làm tờ Giữ Thơm Quê Mẹ cũng là lúc Đoàn thanh niên phụng sự xã hội ra đời. Ông muốn tuổi trẻ thay vì “đốt tuổi” nên làm những công việc hữu ích cho tha nhân. Nói với tuổi hai mươi đã chứng minh được điều đó. Chỉ có Phạm Duy với mười bài tâm ca do Lá bối xuất bản vào tháng 10-65, mới là “giết người đi thì ta ở với ai”. Và chỉ có những số sau đó, thơ văn phản chiến mới thật sự ló mặt trên Giữ Thơm Quê Mẹ.

Giữ Thơm Quê Mẹ và thơ văn phản chiến
            Thơ.― Giữ Thơm Quê Mẹ số đầu không thấy một bài văn hay bài thơ nào có tính cách chống chiến tranh. Nó không có tuyên ngôn, quan điểm, lập trường đình đám. Nếu có chăng, chỉ có bài thơ Chỗ đứng của Nhất Hạnh ở trang đầu tiên như xác định chỗ đứng của tạp chí:

                        quê hương tôi là đây
                        chỉ có dòng sông, hàng cau, vườn chuối;
                        mặt đất dù mang đầy cát bụi
                        nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm Rằm.


            Đấy, đâu có gì đụng chạm đến phản chiến hay chống chiến tranh hay chống Mỹ cứu nước đâu. Nó chỉ là tập họp bài viết của những tác giả quen thuộc bấy giờ như Nhất Hạnh, Phạm Công Thiện, Thành Tôn, Bùi Giáng, Hoài Khanh, Võ Hồng, Sơn Nam, Phạm Duy, An Di, Kim Tuấn, Chín, Tam Ích, Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Đức Sơn, Bình Nguyên Lộc…
            Mãi đến sau khi 10 bài tâm ca của Phạm Duy được Lá Bối phát hành vào tháng 10-65, thì thơ văn chống chiến tranh kêu gọi xóa bỏ hận thù bắt đầu bừng rộ trên những trang giấy:

                        Thôi xin ngừng tiếng hận thù
                        cho con tôi được tiếng ru đưa đường
                        chỉ cần những tiếng ru thương
                       “công cha như núi Thái Sơn”… ngọt ngào
                        là con thấy được trời cao
                        là con thấy được đường nào con đi.

                         (Trụ Vũ – Tiếng Mẹ. GTQM số 10)

            Hay:
                        cho đêm bừng đóa mặt trời
                        cho thân thể mẹ qua rồi đớn đau
                        cho em tiếng hát ngọt ngào
                        cho vùng suy tưởng chở vào giấc thương
                        cho chim hoa bướm mùa xuân
                        cho lời kinh kệ tan cơn oán thù
                        cho tàn binh lửa đôi bờ
                        cho cành dương nước cam lồ vô biên

                         (Thái Tú Hạp – Lời buồn treo cao. GTQM số 7&8)

            Hay:
                        trong bóng đêm
                        địa cầu quê hương tôi đã mòn mỏi trông chờ
                        giờ mầu nhiệm để vô biên hé mở
                        cho bóng tối tan đi với niềm lo sợ
                        cho hội Long Hoa về
                        để pháp âm tiếp nối bằng lời ca tiếng hát em thơ
                        đêm nay xin mười phương trăng sao chứng minh
                        cho địa cầu quê hương dâng lời cầu nguyện
                        cho Việt Nam khói lửa
                        cho Việt Nam điêu linh
                        cho Việt Nam quằn quại đắm chìm trong máu lệ
                        sớm vùng dậy trong đau thương thế kỷ

                         (Nhất Hạnh – Đêm cầu nguyện. GTQM số 7&8)

            Hay:
                        tiếng khóc mẹ bay lên làm nỗi nhớ
                        theo khói hương rợp nấm cỏ thanh xuân
                        cha nằm xuống tan tành cơn súng nổ
                        trên quê hương cuộc chiến thấm loang dần…

                         (Thành Tôn – Mùa xuân nói xuống. GTQM số 7&8)

            Có tác giả biểu lộ thái độ phản chiến một cách nhẹ nhàng, có người thì hằn học, chua chát, khi thì phẩn nộ. Cả bài thơ Đối thoại đêm 1953 (Thái Luân, GTQM số 12) là một tiếng kêu thống thiết của một nhà thơ trẻ quân nhân về một cuộc chiến nồi da xáo thịt mà chàng không chấp nhận, nhưng chàng không còn cách gì khác là phải tham dự. Phản chiến ở đây là do Chúa do Phật do “nhân chi sơ tính bản thiện” chứ không phải do chàng đâu. Chàng vẫn lên đường ra mặt trận mà. Chàng vẫn cầm súng gác lúc 3 giờ sáng mà:

                        bây giờ ba giờ sáng
                        sương xuống đầy trên vai
                        anh đứng ghìm tay súng
                        nghĩ nhiều về tương lai
                        về cuộc chiến tranh này
                        bỗng dưng buồn muốn khóc
                        còn lâu lắm em ơi!
                        . . .
                        bây giờ 3 giờ sáng
                        đêm đen, vô cùng đen…

                         (Đynh Trầm Ca – Phiên gác. GTQM số 11)

            Văn.― Về lãnh vực Văn, tạp chí Giữ Thơm Quê Mẹ là nơi mà các tác giả như: Nhất Hạnh, Chín, Chinh Ba có đất tốt để gieo trồng những mầm hạt văn chương của mình.
            Một Yên Chi (bút hiệu cũ của Nhất Hạnh) tác giả truyện ngắn Ảo Tượng từng đăng trên tạp chí Văn Nghệ vào năm 1962 nhưng phải đợi đến lúc nó được thay thế bởi bút danh là Nhất Hạnh, người đọc mới nhắc nhở nhiều đến Ảo Tượng.
            Ai cũng biết Nhất Hạnh là người xuất gia mang áo nâu/xám sòng, đầu cạo tóc. Nhưng ở Giữ Thơm Quê Mẹ, ông là mẫu người khủng khiếp lắm. Ông lăn xả vào con đường hành động. Ông viết Nói với tuổi hai mươi để cổ xúy cho đường lối tu hành mới của ông. Đó là thái độ dấn thân tích cực:

            “Hình ảnh của con sông Cửu Long cuồn cuộn chảy là hình ảnh của những cuộc đời sẵn sàng lăn xả vào hành động. Hành động, phải hành động dũng cảm. Phải sẵn sàng đối phó. Phải trào lên, phải dâng cao. Phải xăn cao hai tay áo, đi vào cuộc sống một cách tích cực…”
             (trích từ bút ký Bến Tre, GTQM số 2, trang 21)

            Và ông đã xăn hai tay áo thật. Dư luận có người khen, kẻ chê, người tung hô, kẻ chửi rủa. Đó là chuyện khác, ngoài lãnh vực văn chương. Chúng tôi xin được miễn bàn.
            Tác giả Chín tức Cao Ngọc Phượng là người có bài thường xuyên đều đặn. Chúng là những ghi nhận dưới con mắt của một người du học có bằng cấp cao về nước để tham gia vào những công tác thiện nguyện. Cái nhìn ấy là nỗi đau xót của tác giả trước những người dân quê mộc mạc, nghèo khó, ít học, nhiều mê tín. “Làm sao niềm tin vừa chớm nở trong anh đủ sức khiến anh bớt khổ đau và tuyệt vọng đây?” (Anh Tư Lo – GTQM số 2)
            Nhà văn tôi nghĩ nổi bật nhất trên Giữ Thơm Quê Mẹ là Chinh Ba mà truyện ngắn Bài Thơ trên xương cụt là một trong số những truyện hay nhất tôi được đọc.
            Tôi nhớ trước khi thực hiện Bộ Văn Miền Nam trong thời chiến, tôi gởi điện thư đến một số thân hữu với câu hỏi: “Bạn còn nhớ bài văn nào vẫn còn mang dấu ấn đến bây giờ?” Nhà văn Nguyễn Lệ Uyên thì cho biết: “Thư từ Tuy Hòa của Cảnh Cửu”. Còn nhà văn Nguyên Minh trả lời là truyện: “Bài thơ trên xương cụt của Chinh Ba”(1) được đăng trên Giữ Thơm Quê Mẹ.
            Một bài văn mà bạn tôi vẫn còn giữ khắc trong tâm trí suốt gần nửa thế kỷ, thì không thể là bài văn đọc-xong-rồi-bỏ-được.
            Xin được trích ra đây một đoạn hơi dài để giải thích tại sao lại có “Bài thơ trên xương cụt”:

            “Lão nằm, ngẫm nghĩ, cười sằng sặc một mình rồi trổ miếng đòn bí hiểm đó ra:
            – Em Út nè! Đâu, em trịch cái quần anh xuống một chút thử coi có cái gì, hà hà hà…
            Thật là một câu lỗ mãng và tục tĩu mà chỉ có Ba Lò Heo mới thốt lên được một cách tự nhiên như vậy! Út Lệ im lặng, sự im lặng có nghĩa như một tiếng khóc nấc.
            Lão Ba nói:
            – Em thấy chưa? Ở trên chỗ xương cụt đó! Thằng Bảy Kền làm riêng bài thơ tặng anh. Học thuộc đi rồi hát cho anh nghe. Đừng có lôi thôi gì nữa hết.
            Út Lệ vẫn im lặng. Bây giờ sự im lặng đọng lại thành một giọt nước trong khóe mắt tôi.
            Bên kia vách, hình như men rượu đã ngấm đều vào máu Ba Lò Heo, lão rút con dao phay liếc rổn rảng trên vành lu.
            – Đọc, tao biểu mầy đọc, không đọc thì bay đầu!
            Út Lệ nghẹn ngào, đọc đi đọc lại bài thơ nằm ở chỗ kém sạch sẽ đó.
            Trong đời tôi, tôi đọc thơ cũng khá nhiều, tôi nghe người ta ngâm thơ cũng bộn, nhưng tôi chỉ biết có một bài thơ làm cho người đọc phải vừa đọc vừa khóc vì tủi nhục, ấy là bài thơ trên xương cụt của Ba Lò Heo.
            Hẳn có vị tò mò muốn biết bài thơ ấy hay ho như thế nào! Lúc đầu tôi đã toan ghi nó ra đây, nhưng e làm thế thì vô lễ với độc giả quá, nên lại thôi. Tuy vậy, nếu giấu đi cái phần độc đáo của bài thơ thì cũng tủi cho tác giả đã dùng một thứ kỹ thuật tân kỳ để làm cho những dục vọng của Ba Lò Heo được tẩm quất đều đều qua từng câu từng chữ. Những dục vọng ấy chỉ súc tích trong những hạng người thường ngứa ngáy chỗ xương cụt, mà không muốn tự mình gãi cho mình.
            Nếu nói một cách khôi hài thì Ba Lò Heo đã định nghĩa văn nghệ là sự tẩm quất dục vọng, hoặc là sự làm-đã-ngứa chỗ xương cụt; nên lão đã đặt cơ sở nền văn nghệ trên chiếc xương cụt của lão.
            Nghệ sĩ Út Lệ không đồng ý như vậy, nên qua ngày hôm sau, thừa lúc lão Ba đi vắng, chị bồng đứa con riêng, bỏ nhà ra đi.”

             (trích từ Bài thơ trên xương cụt. GTQM số 4, trang 18)

            Đó là một truyện ngắn duy nhất trên Giữ Thơm Quê Mẹ viết về sự hà khắc, ngu dốt của những kẻ lãnh dạo văn hóa bấy giờ. Nhưng nó vượt thời gian và không gian.
            Một nhà văn có bài đăng nhiều trên Giữ Thơm Quê Mẹ là nhà văn Dương Nghiễm Mậu với những truyện: Khí hậu pháo xiết (số 1) , Mỗi người (số 4), Kẻ nuôi máu (số 6), Thư viết từ một xóm quê (số 7&8). Các truyện này không hề đá động gì đến cuộc chiến hay suy nghĩ về cuộc chiến – đề tài sở trường và quen thuộc của ông.
            Tôi không hiểu tại sao ông lại chọn Giữ Thơm Quê Mẹ để mà gởi trao những đứa con tinh thần của ông, trong khi ông đã từng cảnh báo về hiểm họa trên tạp chí Văn Nghệ trước đó ba năm. Hay là ông đã mất niềm tin?

Kết luận
            Mặc dù chỉ 12 số ngắn ngủi nhưng Giữ Thơm Quê Mẹ đã tạo nên một hiện tượng trong nền văn học miền Nam bấy giờ. Đó là việc lấy tư tưởng Phật giáo để giải quyết chiến tranh, cổ xúy cho một cuộc đấu tranh “mang tình thương để dẹp sắt thép”. Người ta có thể trách cứ Giữ Thơm Quê Mẹ, nhưng xét cho cùng, chính quyền miền Nam vẫn xem chủ trương “lấy tình thương để xóa bỏ hận thù” làm quốc sách mà. Giữ Thơm Quê Mẹ chỉ là những tuyển tập văn chương không hơn không kém. Đọc xong có thể bỏ vào tủ sách gia đình hay vất vào sọt rác. Nhưng có một thứ không thể vất được. Đó là những bài tâm ca của Phạm Duy. Tôi tự hỏi tại sao chính quyền thời ấy kiểm duyệt bôi đen chữ bom trong hai chữ bom lửa (truyện Đóa sen vàng của Chinh Ba), thì tại sao vẫn cho phép 10 bài tâm ca được xuất bản, được hát khắp nơi, được thay vào những bài hát chào cờ hay mặc niệm…: kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai
            Vậy thì nếu trách thì trách ai đây? Giữ Thơm Quê Mẹ hay là nhạc sĩ Phạm Duy hay là vì sự lơ là của đám kiểm duyệt bấy giờ?


TRẦN HOÀI THƯ
(Viết xong ngày 5-12-2017)

___________________________________
(1) Chinh Ba tên thật Phan Tấn Nhựt, nguyên quán Bảo An, Điện Bàn – Quảng Nam, sinh năm 1934.
        Các bút danh khác: Phan Phong Chinh, Trọng Cưu, Thông Mai, Thảo Nguyên, Cước Nguyên, Kiều Mỹ Vân, Hà Thời Đán. Từng cộng tác với các báo: Nhân Loại, Ngày Mới, Bông Lúa, Mã Thượng (chủ biên), Giữ Thơm Quê Mẹ
        Riêng truyện “Bài thơ trên xương cụt” được nhà thơ Hoài Khanh chọn đăng trên tập san Giữ Thơm Quê Mẹ số 4, tháng 10-1965, sau đó nhà xuất bản Lá Bối in chung với nhiều tác giả trong tuyển tập “Ảo Tượng”.
        Đã học:
        Tiểu học: Trường Bảo An
        Trung học: Tam Kỳ, Quảng Ngãi
        Đại học: Sorbone, Pháp.



http://www.phamcaohoang.com/2017/12/241-tran-hoai-thu-giu-thom-que-me.html