Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 10837 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi Dế Mèn

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #15 vào: 03/12/2013, 13:20:13 »
Em cũng có 1 vài số Cần bán của Tạp chí Bách Khoa - 96 số - giá: 8,5tr
Gồm có các số: số 6, 22, 26 – 36, 38, 40, 43, 27, 64, 76, 78, 80, 81, 82, 83, 84, 89, 105, 107, 115, 172, 122, 135, 136, 138, 375, ,146, 148, 166, ,171, 173, 174, 175, 186,  192, 205, ,210, 211, 215, 249, 267, 284, 289, 303, 310, 312, 313- 314, 320, 321, 324, 325, 329, 331, 332, 333, 335, 336, 339, 340, 341, 342, 344, 345, 346, 347, 247-252, 348, 350, 353, 358, 367, 368, 396, 411, 407, 382, 408, 417.

các bác nào có cần suu tập cho đủ bộ thì nhăn tin e nhé
Một số hình ảnh:






 
 

Ngủ rồi truong191

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #16 vào: 03/12/2013, 13:32:34 »
Đủ bộ này là bao nhiêu số và nhiều tiền hok anh.
 

Ngủ rồi nduonghieu

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #17 vào: 05/10/2015, 21:45:33 »
Tạp chí Bách Khoa, số cuối 426

 
Tuổi nhỏ làm việc nhỏ
Tùy theo sức của mình

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #18 vào: 06/10/2015, 02:32:26 »
Tạp chí Bách Khoa và đời sống xã hội Sài Gòn

Bài viết này nghiên cứu đời sống xã hội ở Sài Gòn thông qua góc nhìn của tạp chí Bách Khoa.
Bằng cách lần theo các dấu vết của tờ báo như giá bán, số trang, chủ đề bài viết, nội dung bài viết, số quảng cáo…
Chúng tôi sẽ trình bày những nét cơ bản về đời sống chính trị, đời sống kinh tế và đời sống văn hóa (tập trung vào đời sống báo chí) tại Sài Gòn trong giai đoạn 1954-1975.

1. Giới thiệu về tạp chí Bách Khoa
1.1. Hoàn cảnh ra đời
            Sau khi hiệp định Gèneve 1954 được ký kết, Huỳnh Văn Lang, Đỗ Trọng Chu, Lê Thành Cường – đang học và làm việc ở nước ngoài, về nước theo lời kêu gọi của Ngô Đình Diệm, trong khi đợi bổ nhiệm công việc – đã cùng nhau sáng lập hệ thống trường Bách Khoa Bình dân. Họ áp dụng lối giáo dục thực dụng vừa dạy chữ vừa dạy nghề để nâng cao dân trí. Sau đó, Ngô Đình Diệm bổ nhiệm Huỳnh Văn Lang giữ chức vụ Giám đốc viện Hối đoái. Với vị thế xã hội đó, Huỳnh Văn Lang dễ dàng thực hiện các ý tưởng khác. Một trong những ý tưởng đó là thành lập Ban Nghiên cứu kinh tế và tài chính trực thuộc Hội Văn hóa bình dân. (Hội Văn hóa bình dân đã được thành lập từ trước năm 1954, nhưng không hoạt động. Sau khi về nước, Huỳnh Văn Lang, Đỗ Trọng Chu, Lê Thành Cường gặp Ban chủ nhiệm Hội để bàn về việc thúc đấy hoạt động Hội. Hệ thống trường Bách Khoa Bình dân và tờ Bách Khoa được thành lập và chịu sự quản lý của Hội về mặt hành chính.) Rồi từ những kết quả hoạt động của ban Nghiên cứu, Huỳnh Văn Lang cùng với một số cộng sự muốn ra một tờ báo nhằm đưa các ý kiến, các kết quả nghiên cứu ra công luận. Họ bèn xin nhãn báo Bách Khoa bình dân đình bản từ số 2, cắt bỏ hai chữ “bình dân” để chỉ còn hai chữ Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 184). Để Bách Khoa được xuất bản, Huỳnh Văn Lang đã vận động sự đóng góp từ một số thân hữu và một số chuyên viên ngân hàng dưới quyền của ông. Có 30 vị tham gia đóng góp, mỗi người đóng góp 10.000 đồng. Đó là các ông: Lê Đình Chân, Tăng Văn Chỉ, Đỗ Trọng Chu, Lê Thành Cường, Trần Lưu Dy, Lê Phát Đạt, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Lê Giang, Phạm Ngọc Thuần Giao, Nguyễn Hữu Hạnh, Lê Văn Hoàng, Nguyễn Văn Khải, Phạm Duy Lân, Nguyễn Quang Lệ, Trần Long, Bùi Bá Lư, Lương Chí Sanh, Nguyễn Huy Thanh, Bùi Kiến Thành, Hoàng Khắc Thành, Phạm Ngọc Thảo, Bùi Văn Thịnh, Vũ Ngọc Tiến, Võ Thu Tịnh, Nguyễn Tấn Trung, Phạm Kim Tương, Hoàng Minh Tuynh, Bùi Công Văn. Có một người chỉ đóng góp 5.000 đồng và không được nhắc đến tên. Những người này luôn có tên ở bìa sau của tạp chí trong những năm đầu. Tuy nhiên, họ không tham gia viết lách gì cho Bách Khoa cả (Nguyễn Thụy Hinh. 2008).

1.2. Nội dung bài vở
            Bách Khoa là tạp chí bán nguyệt san, mỗi tháng phát hành hai số. Tổng cộng trong suốt hơn 18 năm tồn tại, từ 15-1-1957 đến 30-4-1975, Bách Khoa đã in được 426 số. Trong thời gian tồn tại, Bách Khoa có hai lần đổi tên. Lần thứ nhất là đổi từ Bách Khoa (1/1957 đến 1/1965) thành Bách Khoa thời đại (2/1965 đến 12/1969). Lần thứ hai là đổi từ Bách Khoa thời đại thành Bách Khoa (1/1970 đến 4/1975).
            Nội dung bài vở của Bách Khoa có thể được chia làm ba phần như sau: Phần biên khảo-nghị luận: gồm các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, giáo dục, triết học, văn hóa, tôn giáo, sử-địa, khoa học, v.v… phần văn nghệ: gồm truyện ngắn, truyện dài, truyện dịch, thơ, đàm thoại, phỏng vấn, tùy bút, hồi ký, bút ký… và phần tin tức: gồm tin chính trị, tin văn nghệ, tin khoa học (bắt đầu từ số 195/1965).

1.3. Lượng phát hành và thành phần độc giả
            Mỗi số Bách Khoa phát hành khoảng từ 4.000 đến 4.500 bản, Bách Khoa có số độc giả dài hạn trên 1.000, trong đó khoảng 100 ở ngoại quốc (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 185). Khi cuộc chiến tranh bắt đầu leo thang, việc vận chuyển về các tỉnh gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là độc giả miền Trung, lượng phát hành bị giảm sút, đặc biệt sau biến cố Tết Mậu Thân 1968, lượng phát hành giảm xuống còn 3.000 bản.
            Về thành phần độc giả, Nguyễn Hiến Lê cho biết độc giả Bách Khoa đa số là hạng đứng tuổi chiếm đa số, còn giới trẻ chê là khô khan, nặng về biên khảo nhẹ về sáng tác (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 189). Nhưng ông Lê không nói rõ độc giả thuộc những thành phần nào. Theo chúng tôi khảo sát, kiểm chứng ở mục liên lạc, phản hồi thư từ bài vở giữa ban biên tập Bách Khoa với độc giả và cộng tác viên cho thấy số độc giả trẻ không phải là ít. Tuy nhiên, Bách Khoa không có nhiều độc giả thuộc giới bình dân, giới tiểu thương, công nhân mà phần lớn là giới trí thức, giới công chức trung lưu và sinh viên.

1.4. Cộng tác viên
            Trong khoảng hơn 18 năm tồn tại, Bách Khoa đã đăng 6.058 bài của hơn 700 tác giả. Làm nên vóc đáng của Bách Khoa có nhiều thế hệ, nhiều tầng lớp xã hội. Xin nêu một số văn nghệ sĩ có tên tuổi trong làng văn nghệ miền Nam góp mặt trên Bách Khoa như sau:
            Thế hệ tiền chiến: Cung Giũ Nguyên, Vi Huyền Đắc, Đông Hồ, Hư Chu, Toan Ánh, Quách Tấn, Tương Phố, Nữ sĩ Mộng Tuyết, Giản chi Nguyễn Hữu Văn, Đông Xuyên, Vương Hồng Sển, Nguyễn Văn Hầu…
            Lớp trí thức, công chức chính quyền: Đoàn Thêm, Nguyễn Hiến Lê, Trần Thúc Linh, Hoàng Minh Tuynh, Đỗ Bằng Đoàn, Hồ Hữu Tường, Trần Văn Khê, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Ngọc Lan, Lê Ngọc Trụ, Vũ Đình Lưu, Lê Văn Siêu, Trương Văn Chình, Kim Định, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Võ Quang Yến, Nguyễn Trọng Văn, Phạm Công Thiện, Đỗ Trọng Huề, Bùi Văn Thịnh, Phạm Ngọc Thảo, Vũ Bảo (Phan Văn Tạo), Đặng Văn Nhâm, Đỗ Tiến Đức, Châu Hải Kỳ, Nguyễn Phương…
            Các nhà văn: Doãn Quốc Sỹ, Mặc Thu, Võ Phiến, Vũ Hạnh, Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chương, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Đức Sơn, Tạ Tỵ, Phan Du, Lê Tất Điều, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Ngu Í, Võ Hồng, Thế Uyên, Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Phạm Duy, Minh Đức Hoài Trinh, Minh Quân, Thanh Lãng, Đinh Hùng, Lê Phương Chi, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nhã Ca…
            Tuy nhiên, Bách Khoa vẫn có một đội ngũ cộng tác cố định: Về biên khảo có Hoàng Minh Tuynh, Huỳnh Văn Lang, Nguyễn Hiến Lê, Đoàn Thêm, Võ Phiến, Vũ Hạnh, Nguyễn Ngu Í, Võ Quang Yến, Trần Văn Khê, Phạm Duy, Lê Phương Chi, Tiểu Dân, Trần Đại, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Phương, Nguyễn Văn Hầu, Cô Liêu (tức Vũ Đình Lưu), Từ Trì, Thế Nhân. Về văn chương có Vũ Hạnh, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Lê Tất Điều, Hoàng Ngọc Tuấn, Trùng Dương, Thế Uyên, Trần Hoài Thư, Đông Hồ, Phan Du. Về tin tức có Võ Phiến, Thu Thủy, Tử Diệp, Nguyễn Ngu Í, Võ Quang Yến, Minh Đức Hoài Trinh. Trong đó Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hữu Ngư (Nguyễn Ngu Í), Võ Phiến, Đoàn Thêm là những cây viết chính với hơn 100 bài cho Bách Khoa trong suốt 18 năm tồn tại.


2. Bách Khoa và đời sống xã hội Sài Gòn
            Ở phần này, chúng tôi sẽ lần theo một số dấu vết của tờ báo như sự tăng giảm về giá bán, lượng quảng cáo trên mỗi số, số trang trên mỗi số cũng như sự tăng giảm các bài viết từng lĩnh vực. Chúng tôi cũng khảo sát từng chủ đề của mỗi bài viết bởi vì nó cho biết mức độ quan tâm của công luận đối với các vấn đề xã hội và ý nghĩa của từng chủ đề trong bối cảnh kinh tế-chính trị-xã hội Sài Gòn. Mục đích của các khảo sát này nhằm để phác họa bức tranh về đời sống xã hội ở Sài Gòn gồm đời sống chính trị, đời sống kinh tế và đời sống văn hóa chủ yếu là đời sống báo chí. Chúng tôi mô tả đời sống xã hội này với cách nhìn từ bên trong ra ngoài, tức là từ Bách Khoa nhìn ra xã hội.

2.1. Bách Khoa và đời sống chính trị Sài Gòn
            Bách Khoa khởi đầu với một số vốn ít ỏi. Vốn ở đây bao gồm tài chính, nhân sự và đội ngũ cộng tác. Với một số vốn đóng góp nhỏ ban đầu, một số bài vở là kết quả sinh hoạt của ban Nghiên cứu kinh tế tài chính và vài nhân sự tòa soạn, những người sáng lập phân công nhau mời thêm các văn nghệ sĩ khác tham gia cộng tác với tờ báo, trước hết là các văn nghệ sĩ tiền chiến. Trong năm đầu tiên 1957, họ đã mời được Á-nam Trần Tuấn Khải, Vi Huyền Đắc, Hư Chu, Nguyễn Hiến Lê, Đông Xuyên, Thiên Giang, Quách Tấn, Hào-nguyên Nguyễn Hóa, Hoàng Thái Linh (Nguyễn Văn Trung), Trần Văn Khê, Đặng Văn Nhâm, Mặc Thu, Bùi Giáng, Minh Đức, Cô Liêu (Vũ Đình Lưu), Phan Lạc Tuyên, Bác sĩ Nguyễn Văn Ba, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Huy Thanh, Võ Thu Tịnh, Vũ Thừa Chi, Thuần Phong, Võ Phiến, Nguyễn Tử Quang, Nguyễn Huy Thanh…
            Trong 24 số đầu năm 1957, các thành viên của Ban sáng lập gồm: Huỳnh Văn Lang, Hoàng Minh Tuynh, Phạm Ngọc Thảo, Nguyễn Ngu Í, Phạm Thị Nhiệm là những cây viết chính cho tờ báo. Trong đó, Huỳnh Văn Lang có 13 bài/24 số, Hoàng Minh Tuynh có 18 bài/24 số, Phạm Ngọc Thảo có 14 bài/24 số, Nguyễn Ngu Í có 12 bài/24 số, Phạm Thị Nhiệm có 5 bài/24 số. Lĩnh vực đảm trách của từng thành viên sáng lập như sau: Huỳnh Văn Lang viết về kinh tế, Hoàng Minh Tuynh viết về Công giáo và chính trị, Phạm Ngọc Thảo viết về quân sự, Phạm Thị Nhiệm và Nguyễn Ngu Í viết về các đề tài xã hội, đặc biệt về phụ nữ.
            Trong bối cảnh sinh hoạt báo chí Sài Gòn, tích chất chính trị là thường được tính đến trong hoạt động của bất kì tờ báo nào. Khi xem xét nội dung các bài viết trong 24 số đầu tiên, chúng tôi thấy rằng các bài viết này có tính chất cổ xúy cho các chính sách kinh tế và văn hóa của chính quyền Ngô Đình Diệm. Mục đích của các chính sách này là nhằm thay đổi thái độ và niềm tin công chúng vào hình ảnh quốc gia miền Nam, một quốc gia có ranh giới, độc lập và tự cường. Biện pháp thực hiện các chính sách này là tổ chức các buổi nói chuyện, tổ chức các buổi lễ kỉ niệm và viết sách báo. Để nâng cao tinh thần quốc gia dân tộc, chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng các hình ảnh của các nhân vật lịch sử như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Hùng Vương, Quang Trung, đặc biệt chính quyền Ngô Đình Diệm rất chú ý khai thác hình ảnh người phụ nữ và họ đã sử dụng hình ảnh Hai Bà Trưng cho các chương trình vận động, tuyên truyền.
            Vì vậy, chúng tôi dễ dàng thấy được tính chất “cổ xúy” qua tên bài viết của các thành viên sáng lập trong 24 số đầu.
            Trong 24 số đầu, Huỳnh Văn Lang viết một loạt bài như sau Thử tìm một giải pháp để xuất cảng (Bách Khoa số 1), Kế hoạch kinh tế (BK số 2), Một ít nhận xét về phong trào hợp tác xã (BK số 3), Tìm hiểu giá trị đồng bạc (BK số 4), Chính sách thuế vụ (BK số 5 và 6), Chính sách tiền tệ (BK số 7), Tìm hiểu cán cân chi phó (BK số 9), Thử tìm một giải pháp để giải quyết vấn đề phân phối hàng hóa (BK số 10), Trở lại kế hoạch năm năm, thử đề nghị một thí nghiệm (BK số 12), Hợp tác xã tiêu thụ (BK số 13), Khủng hoảng tiền tệ? (BK số 14), Một ít nhận xét về chế độ bảo vệ kinh tế (BK số 23). Mục đích của bài viết này là phân tích các cơ sở lý thuyết kinh tế để từ đó đề xuất các biện pháp thích hợp cho hoàn cảnh kinh tế miền Nam, đối tượng mà các bài viết này nhắm đến là các nhà hoạch định kinh tế của chính quyền. Ngoài ra về kinh tế, trên Bách Khoa trong 24 số đầu còn có một số bài viết khác như Một giai đoạn mới trong chính sách kinh tế (BK số 1, 2) của Bùi Văn Thịnh, Vấn đề tài trợ những tiểu xí nghiệp (BK số 3), Quỹ tiết kiệm (BK số 5), Vấn đề bảo hiểm (BK số 9, 10, 11, 12) của Nguyễn Huy Thanh, Thử tìm biện pháp thích ứng để nâng đỡ xuất cảng sản phẩm Việt Nam (BK số 4), Quân bình giá vật (BK số 6) của Tăng văn Chỉ.
            Trong 24 số đầu, Hoàng Minh Tuynh có 18 bài/24 số, có nghĩa là gần như mỗi số đều có bài của Hoàng Minh Tuynh. Các bài viết của ông thường đề cập về Công giáo và chính trị gồm có Giáo hội với đà tiến triển của thế giới hiện nay (BK số 2), Trách nhiệm của người Công giáo đối với hòa bình (dịch) (BK số 3), Trách nhiệm của người Công giáo đối với anh em vô thần (dịch) (BK số 4), Đức ái nhân của Thiên chúa giáo (dịch) (BK số 5, 6), Luận về chế độ dân chủ (BK số 7), Chế độ dân chủ cổ điển (BK số 8), Chế độ dân chủ cổ điển: chủ trương của phái Trọng nông (BK số 12), Chế độ dân chủ cổ điển: nước Anh (BK số 15, 18, 19, 20), Chế độ dân chủ cổ điển: Hiệp chủng quốc Mỹ Châu (BK số 21, 22, 23, 24).
            Phạm Ngọc Thảo viết các bài về quân sự. Trong 24 số đầu, Phạm Ngọc Thảo có 14 bài gồm Thế nào là quân đội mạnh (BK số 1), Đánh giặc mà không giết người (BK số 2), Góp ý kiến về thiên “Mưu Công” của Binh thư Tôn Tử (BK số 3), Một ý kiến về vấn đề lãnh đạo tinh thần một đơn vị quân đội (BK số 4), Vấn đề kinh tế tự túc trong quân đội (BK số 5), Thiên “kế” của Binh thư Tôn Tử (BK số 6), Vấn đề học tập văn hóa trong quân đội (BK số 7), Vấn đề tập trung lực lượng trong quân đội (BK số 9), Vấn đề xử dụng người (BK số 11), Lực lượng quân sự cơ động và lực lượng quân sự địa phương (BK số 13), Quân đội và nhân dân (BK số 14), Chiến tranh không mặt trận (BK số 15), Quân đội đi bình định đem lại bình an hay oán hận (BK số 16). Các bài viết của Phạm Ngọc Thảo được độc giả đánh giá cao. Nguyễn Hiến Lê nhận xét Phạm Ngọc Thảo là “một người thấp nhỏ, rất hoạt động, có tư tưởng tiến bộ, viết một số bài về quân sự, tỏ ra có kinh nghiệm và biết suy nghĩ” (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 185).
            Cho nên có thể nói từ 1957-1959, Bách Khoa hoạt động như là một tờ báo “thân chính quyền”. Cho tới khi mỗi thành viên của Ban sáng lập tách ra, mỗi người theo đuổi các công việc khác và Lê Ngộ Châu xuất hiện thì Bách Khoa mới hoạt động như là một tờ báo “trung lập” và thuần chất văn nghệ hơn. Vì vậy, nhiều nghiên cứu sau này xếp Bách Khoa vào tờ báo văn học hoặc sinh hoạt văn hóa-văn nghệ. Nguyễn Hiến Lê nhận xét:

            “… Đến năm 1959, một phần nhờ Lê Ngộ Châu (đã hồi theo kháng chiến rồi về Hà Nội dạy tư), được Huỳnh Văn Lang giao cho nhiệm vụ tựa như thư ký tòa soạn, mà tờ báo khởi sắc, có một đường lối rõ rệt, đường lối thứ ba, không theo Cộng mà cũng không theo Mỹ…” (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 185).

            Mặc dù các bài viết biên khảo và tin tức chính trị gia tăng trong giai đoạn sau, từ sau 1965, nhưng chủ yếu nhằm cập nhật tình hình chính trị quốc tế còn tình hình chính trị trong nước lại ít được quan tâm. Chính cái tính chất trung lập, dung hòa giữa các khuynh hướng chính trị khác nhau làm cho Bách Khoa có một chỗ đứng khá vững trong sinh hoạt báo chí và chính trị. Võ Phiến viết:

            “Cũng như tờ Văn, Bách Khoa là một tạp chí dung hòa rộng rãi mọi khuynh hướng. Không có chủ trương “văn nghệ cách mạng” cũng không chủ trương “vượt thời gian”, nó đăng bài của các lão thi sĩ tiền bối Đông Hồ, Quách Tấn, Vũ Hoàng Chương, lẫn truyện của Thanh Tâm Tuyền, Trùng Dương… Về mặt chính trị, sức dung hòa của nó khiến có lần Nguyên Sa nói đùa: Bách Khoa là một vùng xôi đậu. Nó đón nhận cả Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Vũ Hạnh, lẫn Võ Phiến, Vũ Bảo…” (Võ Phiến. 2000, tr. 96)

            Phan Du viết:

            “Bất luận là trẻ già, là mới cũ, là duy vật, là Phật giáo hay Công giáo, khuynh hướng chính trị, văn chương thế nào, đều được đón nhận với sự cảm thông và được chung đụng trong cái thể hòa đồng, cởi mở”. (Phan Du. 1972, tr. 79)

2.2. Bách Khoa và đời sống kinh tế Sài Gòn
            Đọc các bài viết về kinh tế trên Bách Khoa, chúng tôi nhận thấy nền kinh tế miền Nam phát triển với nhiều bất ổn: vật giá gia tăng liên tục; nhập khẩu luôn cao hơn xuất khẩu mà thành phần nhập khẩu chủ yếu là hàng hóa tiêu dùng, ngay cả gạo cũng nhập khẩu mặc dù miền Nam là vựa lúa; thiếu nguyên liệu khiến cho sản xuất đình đốn, nạn đầu cơ các nhu yếu phẩm. Các bài viết cũng cho biết sở dĩ nền kinh tế miền Nam phát triển bất thường là do một chính sách viện trợ ồ ạt. Chính sách này, dưới hình thức hàng hóa nhập cảng, đã biến nền kinh tế Việt Nam thành một nền kinh tế tiêu dùng và bị lệ thuộc trầm trọng. Cùng với chính sách viện trợ là những khoản chi tiêu của quân đội Mỹ trong thời kỳ chiến tranh, những khoản ngoại tệ do chính phủ Mỹ đổi cho Chính phủ Sài Gòn để lấy tiền Việt Nam, nhằm chi tiêu cho những cơ quan và đơn vị Mỹ đóng tại bản địa đã tung ra thị trường vài tỷ đôla/năm đã làm lượng tiền tệ tồn tại ngoài thị trường rất lớn.
            Để kiểm chứng cho những lập luận trên, chúng tôi đã khảo sát và so sánh giá bán của Bách Khoa qua thời gian. Chúng tôi cũng xem xét một số yếu tố khác như có bao nhiêu số bán với một giá nhất định, trong thời gian tồn tại Bách Khoa có bao nhiều lần tăng giá bán, mỗi lần tăng bao nhiêu để xem mức độ tăng giá như thế nào. Kết quả như sau:



       Thời gian          Tổng số tháng    Số lượng tạp chí          Giá bán

Từ           Đến

01/1957   06/1960         42 tháng        42 x 2 = 84 số              08 đồng

07/1960   12/1965         66 tháng        66 x 2 = 132 số            10 đồng

01/1966   07/1966         07 tháng        07 x 2 = 14 số              12 đồng

08/1966   12/1966         05 tháng        05 x 2 = 10 số              15 đồng

01/1967   06/1967         06 tháng        06 x 2 = 12 số              20 đồng

07/1967   07/1968         13 tháng        13 x 2 = 26 số              25 đồng

08/1968   10/1969         15 tháng        15 x 2 = 30 số              30 đồng

11/1969   06/1970         08 tháng        08 x 2 = 16 số              40 đồng

07/1970   12/1971         18 tháng        18 x 2 = 36 số              50 đồng

01/1972   07/1972         07 tháng        07 x 2 = 14 số              70 đồng

08/1972   12/1972         05 tháng        05 x 2 = 10 số              80 đồng

01/1973   06/1973         06 tháng        (6 x 2) – 3 = 9 số        100 đồng

07/1973   12/1973         06 tháng        (6 x 2) – 3 = 9 số        120 đồng

01/1974   06/1974         06 tháng        (6 x 2) – 3 = 9 số        150 đồng

07/1974   04/1975         10 tháng        (10 x 2) – 5 = 15 số    200 đồng


            Kết quả khảo sát cho thấy trong những năm đầu 1957-1960, vật giá được bình ổn. Nhưng bắt đầu từ 1960, vật giá bắt đầu gia tăng. So sánh giá bán năm 1970 với giá bán năm 1960, cho thấy rằng vật giá đã gia tăng 500%, đặc biệt từ sau Tết Mậu Thân, từ năm 1968 đến 1970, vật giá đã tăng 200%. So sánh 5 năm cuối tức 1975 với 1970, vật giá gia tăng 400%.
            Nhìn vào biểu đồ, chúng ta thấy rằng trong 18 năm tồn tại, Bách Khoa có 14 lần tăng giá bán, mức tăng giá bán không theo trình tự tiệm tiến, mà có sự nhảy vọt, từ mức tăng thêm 2 đồng, 3 đồng, 5 đồng sau mỗi đợt tăng giá từ 1957-1967, mức tăng đã nhảy vọt lên 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng sau những mỗi đợt tăng giá trong những năm 1968-1975. Trong đó, số tạp chí giữ một giá bán nhất định cũng giảm xuống từ 132 số xuống còn 16 số, thấp nhất là 9 số, đặc biệt từ 1972 đến 1974. Như vậy, giá bán tăng nhanh và liên tục, đặc biệt từ 1968 và số tạp chí giữ được một giá bán chỉ còn 9 số sau mỗi đợt tăng giá.
            Và việc tăng giá bán này không đồng nghĩa với sự tăng bài viết hay số trang giấy, mà ngược lại, số bài viết, số trang trên Bách Khoa giảm đi (xem phần phân tích tiếp theo).

2.3. Bách Khoa và đời sống văn hóa Sài Gòn
            Trong đời sống văn hóa Sài Gòn, chúng tôi tập trung trình bày đời sống báo chí Sài Gòn. Nhìn chung, xét về mặt nội dung, báo chí Sài Gòn nặng về chính trị, xã hội, văn nghệ và giải trí, ít chú trọng tới mảng kinh tế hay chính sách vĩ mô về điều hành kinh tế.
            Trong một xu hướng như thế, chúng tôi đã thống kê và phân loại tất cả các bài viết trên 426 số Bách Khoa (1957-1975) bao gồm 6.508 bài theo từng lĩnh vực khác nhau và chia thời gian hoạt động của Bách Khoa thành hai giai đoạn (1/1957 đến 1/1965) và (2/1965 đến 4/1975) để xem tích chất hoạt động của Bách Khoa và sự thay đổi giữa các lĩnh vực như thế nào qua thời gian. Kết quả như sau:



                LĨNH VỰC                                                        TỔNG SỐ BÀI

                                                     Tổng số            Giai đoạn 1                 Giai đoạn 2
                                                                      (1/1957 đến 1/1965)    (2/1965 đến 4/1975)


Bách Khoa, Bách Khoa thời đại       106                     67                             39

Tin tức                                              365                     47                           318

Văn học                                         2.995                1.665                        1.330

Lịch sử                                             317                   196                            121

Chính trị                                           771                   328                            443

Kinh tế                                              171                   103                              68

Văn hóa                                            573                   332                            241

Giáo dục-y tế                                    342                   138                            204

Dân tộc học, ngôn ngữ học                39                     36                                3

Triết học                                            218                   122                              96

Tôn giáo                                            127                     89                              38

Xã hội                                                168                     77                              91

Khoa học kỹ thuật                             192                    111                              81

Khác                                                  124                     58                              66

Tổng số                                          6.508                3.369                         3.139


            Từ kết quả trên cho thấy tích chất hoạt động của Bách Khoa cũng giống như xu hướng chung của báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ, nghĩa là nghiêng về văn nghệ, chính trị và giải trí. Các tác phẩm văn xuôi và phê bình văn học chiếm đến 2.995 bài, các bài viết về chính trị chiếm 771 bài, các bài viết về văn hóa có 573 bài. Mặc dù được khởi xướng từ một số người công chức kinh tế nhưng trong suốt thời gian tồn tại 18 năm các bài viết về kinh tế chỉ có 171 bài.
            Khi so sánh sự tăng giảm các bài viết trong từng lĩnh vực giữa hai giai đoạn (1/1957 đến 1/1965) và (2/1965 đến 4/1975), chúng tôi nhận thấy bốn lĩnh vực có sự gia tăng bài viết là tin tức, chính trị, giáo dục, xã hội, tăng mạnh nhất là tin tức trong khi các lĩnh vực còn lại đều giảm (xem bảng). Chúng tôi cũng cần nói rõ thêm về việc phân chia thành hai giai đoạn như trên, chúng tôi chọn thời điểm Bách Khoa đổi tên thành Bách Khoa thời đại làm cột mốc phân chia giai đoạn. Việc phân chia này tỏ ra hữu ích khi chúng tôi nhận thấy sự giảm mạnh của tổng số bài viết. Giai đoạn một có tổng số 3.369 bài, giai đoạn hai có tổng số 3.139 bài trong khi số tạp chí phát hành trong giai đoạn hai nhiều hơn giai đoạn thứ nhất 38 số nhưng số bài viết lại giảm đi 230 bài. Cụ thể là trong giai đoạn một từ 1/1957 đến 1/1965, kéo dài 97 tháng, Bách Khoa phát hành được 194 số với 3.369 bài trong khi giai đoạn hai từ 2/1965 đến 4/1975, kéo dài 123 tháng, Bách Khoa phát hành được 232 số mà chỉ có 3.139 bài.
            Điều này, theo chúng tôi, là do những biến chuyển của thời cuộc và tình hình kinh tế-chính trị. Từ sau 1965 với sự leo thang của chiến tranh, sự đổ quân đội Mỹ vào miền Nam đã khiến cho các vấn đề chính trị gia tăng ở báo chí và cũng chính các sự kiện này cũng đẩy các vấn đề xã hội và giáo dục tăng theo. Bên cạnh đó là sự tác động của những yếu tố kinh tế-chính trị đã kéo sinh hoạt báo chí Sài Gòn vào tình trạng ngưng trệ, đặc biệt từ sau 1972. Thứ nhất, sắc luật 007/72 (buộc báo chí phải ký quỹ) đã “đẩy giới cầm bút vào cảnh thất nghiệp tạo ra bao cảnh cơ cực về tinh thần cũng như về vật chất” (Vũ Hạnh. 1973, tr. 83), rồi tình trạng tăng giá và khan hiếm giấy làm cho sinh hoạt báo chí Sài Gòn từ 1973 gần như tê liệt. Ông Phạm Việt Tuyền đã liệt kê sự gia tăng giá giấy trong năm 1973 như sau:
               + Tháng 2/1973: 1.600 đồng/ 1 rame (500 tờ)
               + Tháng 4/1973: 1.670 đồng/ 1 rame
               + Tháng 5/1973: 2.650 đồng/ 1rame
               + Tháng 9/1973: 2.700 đồng/ 1 rame
               + Tháng 11/1973: 3.180 đồng/ 1 rame. (Thế Nhân. 1973, tr. 125)
            Chính vì vậy mà Bách Khoa từ năm 1973, 1974, mỗi năm in hụt mất 6 số chỉ in được 18 số thay vì 24 số. Riêng năm 1975, Bách Khoa chỉ được in 6 số thay vì 8 số nghĩa là hụt đi (tồn tại đến 4/1975). Vì giá giấy cao nên số trang trong mỗi số cũng giảm đi từ 5 đến 10 trang.
            Nguyễn Hiến Lê cho biết thêm:

            “… Từ vụ Tết Mậu Thân (1968), tờ báo mất một số lớn độc giả miền Trung – mà độc giả đó là phân nửa độc giả Bách Khoa – giá giấy và công in lại cao, nên lỗ. Ông Lê Ngộ Châu ráng giảm mọi chi phí – cả tòa soạn chỉ có ông và hai người giúp việc – và duy trì tờ báo tới đầu 1975. Một nhà văn theo kháng chiến, ra Bắc về phải ngạc nhiên về sự làm việc của tòa soạn vì theo ông thì ở Bắc, một tờ định kỳ như vậy phải dùng ba chục nhân viên là ít…” (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 185).

            Xét về tầm ảnh hưởng của Bách Khoa đối với dân chúng, chúng tôi thấy rằng “nhật báo ở Sài Gòn sau năm 1963 có chỗ đặc điểm của nó: báo ra đời nhiều hơn ở các thủ đô lớn trên thế giới (…) có lúc 40 tờ nhật báo Việt ngữ, rồi tuần san, bán nguyệt san nữa…” (Nguyễn Ngu Í. 1966, tr. 60). Vì thế, trong cái rừng báo chí ấy và với số lượng phát hành ít ỏi, tầm ảnh hưởng của Bách Khoa đối với người dân Sài Gòn không lớn. Nguyễn Hiến Lê nhận xét:

            “… Bách Khoa không có ảnh hưởng lớn như Nam Phong, Phong Hóa, Ngày nay trong dân chúng (…) Bách Khoa sinh sau bốn chục năm, vào cái thời mà số người viết đông, số độc giả cũng đông, gồm nhiều khuynh hướng, nên bị nhiều báo định kì chia bới độc giả…” (Nguyễn Hiến Lê. 2006, tr. 189).

            Mặc dù, tầm ảnh hưởng của Bách Khoa không lớn, tuy nhiên trong sinh hoạt báo chí Sài Gòn vào giai đoạn 1954-1975, Bách Khoa là một trong số rất ít tạp chí có mặt lâu dài trên diễn đàn báo chí và văn nghệ Sài Gòn.


3. Một số nhận xét
            Trong sinh hoạt báo chí Sài Gòn 1954-1975, Bách Khoa là một trong số ít tạp chí tồn tại được trong suốt thời gian này. Căn cứ vào tôn chỉ mục đích và các bài viết trong 48 số đầu tiên cho thấy Bách Khoa là một tờ báo “thân chính quyền”. Những người sáng lập bao gồm Huỳnh Văn Lang, Hoàng Minh Tuynh, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Thị Nhiệm là những cây viết chính của Bách Khoa trong những năm đầu. Tùy theo sự quan tâm và chuyên môn của họ mà mỗi người lựa chọn lĩnh vực và chủ đề riêng. Khi xem xét các bài viết của họ, chúng tôi nhận thấy các bài viết này đã “cổ xúy” cho các đường lối, chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong hai năm đầu, Bách Khoa bị độc giả chê là khô khan, nặng về kinh tế và Công giáo. Nhưng tờ báo vẫn hoạt động được vì nhờ ảnh hưởng Huỳnh Văn Lang, lúc bấy giờ là giám đốc viện Hối đoái, cho nên tờ báo nhận được nhiều quảng cáo, đặc biệt là các quảng cáo về ngân hàng. Trung bình mỗi số, Bách Khoa có 15 quảng cáo. Số tiền thu được từ quảng cáo giúp tờ báo có thể đứng vững mà không cần sự trợ giúp của chính quyền và có tiếng nói riêng của mình.
            Bên cạnh đó, Bách Khoa trong thời gian đầu hoạt động mang nhiều sắc thái của báo chí thời kỳ Lục tỉnh tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí. Viết báo nhằm mục đích giáo dục, giảng dạy luân lý, phổ biến các trào lưu tư tưởng. Phần nhiều các người cộng tác cho Bách Khoa thời kỳ đầu là thế hệ tiền chiến như Đông Hồ, Hư Chu, Cung Giũ Nguyên, Toan ánh, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hữu Ngư, Vi Huyền Đắc, Á-nam Trần Tuấn Khải… Họ vẫn quen với cung cách làm báo cũ. Cho nên, Bách Khoa không có ảnh hưởng lớn đến độc giả, số phát hành ban đầu chưa đến 1.000, độc giả chủ yếu là người lớn tuổi.
            Vì những lý do riêng, những người sáng lập lần lượt ra đi, giao công việc trông nom, quản lý, chủ bút lại cho Lê Ngộ Châu. Theo Nguyễn Hiến Lê, từ khi có Lê Ngộ Châu mà tờ báo khởi sắc. Đóng góp của Lê Ngộ Châu đối với Bách Khoa là giữ vững được lập trường “trung lập” và duy trì hoạt động của tờ báo. Một điều đáng chú ý khác là ông Châu đã quy tụ và kết hợp được các văn nghệ sĩ thuộc các khuynh hướng chính trị, tôn giáo khác nhau, có người già lẫn người trẻ, có người cũ lẫn người mới, có nam lẫn nữ. Bách Khoa đón nhận cả Vũ Hạnh lẫn Võ Phiến, Đoàn Thêm, Phan Văn Tạo với Lý Chánh Trung, Thích Nhất Hạnh, Thanh Lãng, Vi Huyền Đắc, Á-nam Trần Tuấn Khải lẫn Trần Hoài Thư, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Trùng Dương.
            Nếu so sánh lượng phát hành của Bách Khoa với các tạp chí cùng loại thì đây là lượng phát hành thấp. Bình Nguyên Lộc, người chủ trương tờ Vui Sống, nói rằng: “Một tờ báo như Vui Sống phải bán được tám ngàn số thì mới đủ sống. Lúc ấy cho nó ra đời, tôi cũng liều. Nhưng cũng nắm một số yếu tố chắc ăn, tôi mới liều. Số ra mắt bán trên tám ngàn, nhưng số sau thì còn năm ngàn mấy. Mấy số sau, số bán có tăng lên, song tăng chậm, đến số 9, chưa tới mức tám ngàn. Tôi đành nghỉ sau số 10” và Bình Nguyên Lộc mất đi số vốn 150.000 đồng khi làm tờ Vui Sống (Nguiễn Ngu Í. 1965, tr. 83). Như vậy, với số lượng phát hành 4.000 đến 4.500 từ 1957-1967 rồi xuống 3.000 (1968-1975), làm thế nào Bách Khoa có thể tồn tại được trong suốt thời gian này? Trong khi Vũ Hạnh cho rằng “Những tờ báo trường thọ trọn năm mà không chết giấc đôi ngày hoặc đôi ba tuần, có thể liệt vào hàng quái kiệt có một phúc phận khác phàm” (Vũ Hạnh. 1965, tr. 22). Trong khi ấy Bách Khoa “không nhận trợ cấp của chính quyền, không ủng hộ chính quyền mà sống được mười tám năm” (Nguyễn Hiến Lê. 2006, tr. 185).
            Có một số giải thích xung quanh sự tồn tại, có mặt lâu dài như thế của Bách Khoa, Nguyễn Văn Lục cho rằng Bách Khoa là chính sự tiếp nối của Nam Phong:

            “(…) những cái gì không có ở Nam Phong thì Bách Khoa có hết, mà có hơn bội phần, có dồi dào và phong phú (…) Bách Khoa là một thứ Bách Khoa toàn thư cho bất cứ ai muốn mưu cầu mở mang kiến thức (…) hơn bất cứ tờ báo nào, nó đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu hiểu biết của một người (…)” (Nguyễn Văn Lục. 2008).

            Nguyễn Thụy Hinh cũng cố gắng giải thích về vấn đề này, tác giả cho rằng thông qua sự lý giải tại sao những tờ như Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ 20 được tài trợ nhưng vẫn chết yểu sẽ gián tiếp trả lời vì sao Bách Khoa tồn tại cho đến 1975. Thứ nhất, tác giả cho rằng nội dung bài viết rời rạc, không có cái mới mà người đọc muốn tìm như tên gọi, như các hô hào của tờ báo. Thứ hai, là những tờ báo này không có một người quản lý, một người nội trợ trông nom đến tiền bạc, độc giả dài hạn, kế toán số sách, nhà in. Trong khi đó, Bách Khoa “âm thầm hơn, kín tiếng hơn, cứ đường ta ta đi. Góp gió từ muôn phương rồi trải ra tứ phía” (Nguyễn Thụy Hinh. 2008) và theo tác giả cho rằng “phải chăng” ở Bách Khoa có những con người như Huỳnh Văn Lang, như Lê Ngộ Châu “làm hết” mọi việc. Thứ ba, Bách Khoa đã quy tụ được nhiều cây viết của nhiều thế hệ kế tiếp nhau.
            Tóm lại, để giải thích cho sự tồn tại lâu dài của Bách Khoa, Nguyễn Văn Lục cho rằng chính nhu cầu muốn hiểu biết của con người. Còn Nguyễn Thụy Hinh dù đưa ra ba yếu tố: bài vở, nhân sự, đội ngũ cộng tác nhưng cuối cùng ông cũng không dám khẳng định điều gì đã làm nên một Bách Khoa như thế.
            Cũng giống như xu hướng chung báo chí Sài Gòn, Bách Khoa nghiêng về văn nghệ, chính trị, xã hội ít chú trọng tới mảng kinh tế hay chính sách vĩ mô về điều hành kinh tế. Trong thời gian tồn tại, Bách Khoa có hai lần đổi tên. Lần thứ nhất là đổi từ Bách Khoa (1/1957 đến 1/1965) thành Bách Khoa thời đại (2/1965 đến 12/1969). Lần thứ hai là đổi từ Bách Khoa thời đại thành Bách Khoa (1/1970 đến 4/1975). Việc đổi tên xuất phát từ bối cảnh chính trị-kinh tế-xã hội. Bách Khoa cũng có hai Ban chủ nhiệm: Huỳnh Văn Lang (1957-1959) và Lê Ngộ Châu (1960-1975). Nói đến Bách Khoa không thể chỉ nhìn thấy tuổi thọ của nó mà Bách Khoa còn quy tụ được nhiều thế hệ văn nghệ sĩ kế tiếp nhau, lưu giữ được một khối lượng lớn bài vở có giá trị tham khảo để tìm hiểu về con người và xã hội miền Nam.
            Về hoạt động báo chí, thông qua các dữ kiện phản ánh trên Bách Khoa đề tài thấy rằng số tờ báo và số lượng phát hành của báo chí Sài Gòn giai đoạn 1954-1975 tăng nhanh so với thời kỳ trước đó, và phần lớn là báo chí tư nhân. Tuy nhiên, thị trường báo chí hoạt động không ổn định, trồi sụt bất thường. Đặc trưng này có thể được giải thích bằng những xáo trộn chính trị, các chính sách kiểm soát báo chí của chính quyền và do tình trạng khan hiếm giấy và tăng giá giấy.
            Tính chất thương mại của báo chí trong giai đoạn 1954-1975 thể hiện đậm nét hơn so với giai đoạn trước. Khi nghiên cứu về báo chí Việt Nam giai đoạn 1865-1930, Huỳnh Văn Tòng cho biết: “Ngay từ khởi thủy, báo chí Việt Nam không là báo thương mãi, mà chỉ là báo chính trị. Vấn đề thương mãi (kinh doanh thương mãi) chỉ là yếu tố thứ yếu, so với yếu tố chánh yếu là nhiệm vụ chính trị” (Huỳnh Văn Tòng. 1973, tr. 245). Song, do bối cảnh chính trị của miền Nam sau 1954, tính chất chính trị và đấu tranh chính trị vẫn bao trùm đời sống báo chí giai đoạn này. Nhưng cái tính chất thương mại vẫn nổi trội hơn vì “cái mục đích chính trị vẫn không tách rời ý nghĩa kinh doanh vì sự tranh đấu chính trị mạnh mẽ của báo còn nhằm mục đích lôi cuốn cho nhiều độc giả” (Vũ Hạnh. 1965, tr. 23).
            Một đặc điểm cần chú ý đối với báo chí Việt Nam nói chung và báo chí Sài Gòn nói riêng là mối quan hệ giữa báo chí và văn học. Sự phát triển của báo chí Việt Nam nói chung kể từ đầu thế kỷ XX đã đóng vai trò hết sức quan trọng vào việc phổ cập chữ quốc ngữ, vào sự ra đời của thể loại văn xuôi, cũng như thúc đẩy nền văn học chữ quốc ngữ (Trần Hữu Quang. 2006, tr. 201). Và sự đóng góp này của báo chí vào văn học đến mức có thể nói lịch sử văn học hiện đại đi đôi với lịch sử báo chí (Huỳnh Văn Tòng. 1973, tr. 119-121). Và mối quan hệ giữa báo chí và văn học lại càng thêm khắn khít trong giai đoạn 1954-1975. Bất cứ tờ nhật báo, tuần báo, bán nguyệt san, nguyệt san nào cũng có bốn năm truyện ngắn, truyện dài. Mối quan hệ được củng cố và gắn bó là do nhu cầu của độc giả và nó đã lôi kéo hầu hết các nhà văn, nhà thơ vào việc viết feuillton cho các báo. Việc viết feuillton này một phần cải thiện nguồn thu nhập cho nhà văn, một phần tạo ra “món ăn” tinh thần cho độc giả.
            Bên cạnh đó, như chúng ta đã biết trong thời kỳ đầu của báo chí Việt Nam, phần lớn các nhà báo là các nhà văn. Nhà báo lúc ấy được hiểu một cách mặc nhiên là nhà văn, “người viết báo (lúc đó) nói thực ra là làm văn chớ không phải làm báo” (Vũ Bằng. 1969, tr. 14). Trong giai đoạn 1954-1975, cái đặc trưng này của báo chí vẫn còn, đội ngũ cộng tác cho báo chí hầu hết là giới văn nghệ sĩ. Tính chất không chuyên ấy được Vũ Hạnh phản ánh “phần đông đều không trải qua một sự đào tạo nào khác là óc thông minh và sự ưa thích của mình, nên phải phát triển chậm chạp trong nghề” (Vũ Hạnh. 1965, tr. 23). Điều này cũng thể hiện rõ trong Bách Khoa, các thế hệ cộng tác cho Bách Khoa phần lớn là các văn nghệ sĩ. Ở Sài Gòn, mãi cho đến năm 1967, lớp báo chí đầu tiên mới được khai giảng tại Viện Đại học Đà Lạt. Sau đó Đại học Vạn Hạnh mới đưa môn báo chí vào chương trình giảng dạy (Trần Đại. 1969, tr. 16).
            Nhìn vào đời sống báo chí giai đoạn 1954-1975, ta thấy chức năng của báo chí giai đoạn 1954-1975 đã khác so với chức năng báo chí thời Pháp thuộc. Những chức năng xã hội quan trọng của báo chí thời kì trước như sau: (i) phổ cập chữ quốc ngữ và thúc đẩy văn học, (ii) phổ biến các tư tưởng tiến bộ về tự do, dân chủ, dân quyền và những tư tưởng cách tân xã hội, (iii) diễn đàn đấu tranh của các lực lượng yêu nước, (iv) thông tin kinh tế (Trần Hữu Quang. 2006, tr. 199). Trong giai đoạn sau, tức 1954-1975, do bối cảnh và những điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội ở miền Nam đã khác so với giai đoạn Pháp thuộc, trong đó phải kể đến sự phát triển trong kỹ thuật in ấn, số người đọc chữ đã tăng, thị trường báo chí mở rộng do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, giao thông thuận tiện, đời sống vật chất đã khấm khá, tự do báo chí đã mở rộng hơn thời Pháp thuộc, chữ quốc ngữ đã phát triển và hoàn thiện. Do đó mà chức năng xã hội của báo chí giai đoạn 1954-1975 đã phát triển một cách sâu xa hơn trước. Trong đó, báo chí có chức năng thúc đẩy cho một “xã hội tiêu thụ”, chứ không chỉ thông tin kinh tế đơn thuần mà phải khơi dậy nhu cầu tiêu dùng của xã hội qua các mục quảng cáo, tư vấn, làm đẹp, xu hướng thời trang… Chức năng phổ biến chữ quốc ngữ và thúc đẩy văn học trong giai đoạn trước giờ đây đã thay đổi. Báo chí và văn học được coi như là một nhu cầu giải trí, một “món ăn” không thể thiếu trong sinh hoạt hằng ngày.


VŨ THỊ THU THANH
Thạc sĩ, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ

___________________________________________
Tài liệu tham khảo:
Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn học 1993, Hà Nội.
Đời viết văn của tôi, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hóa Thông tin 2006, Hà Nội.
Sống và viết, Nguiễn Ngu Í, Ngèi xanh 1965, Sài Gòn.
Bốn mươi năm nói láo, Vũ Bằng, Tủ sách Nam Chi 1969, Sài Gòn.
Lịch sử báo chí Việt Nam, Huỳnh Văn Tòng, Trí Đăng 1973, Sài Gòn.
Xã hội học báo chí, Trần Hữu Quang, NXB Đại Học Quốc Gia 2006, TP. HCM.
Văn học Miền Nam, Võ Phiến. Văn Nghệ 2000, USA.
Một năm văn học, báo chí, Vũ Hạnh, Bách Khoa, số 193-194 năm 1965, Sài Gòn.
Lá thư cuối năm: Người cầm bút, đời sống và sáng tác, Vũ Hạnh, Bách Khoa số 385-386 năm 1973, Sài Gòn.
Hội đồng văn hóa và tình trạng khan hiếm giấy, Thế Nhân, Bách Khoa số 402-403 năm 1973, Sài Gòn.
Nhìn lại một số vấn đề của tờ Bách Khoa, Nguyễn Thụy Hinh, Tân Văn, số 6, tháng 1/2008, California – USA.
Từ Nam Phong đến Bách Khoa, Nguyễn Văn Lục, Tân Văn, số 6, tháng 1/2008, California – USA.


Nguồn: Nam bộ Đất và Người tập IX, NXB Đại Học Quốc Gia 2013

« Sửa lần cuối: 07/11/2017, 17:59:50 gửi bởi nduytai »
 
The following users thanked this post: Waterfall

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #19 vào: 06/10/2015, 03:47:07 »
Hai mươi năm làm việc tích cực

NĂM 1957, tạp chí Bách Khoa ra được hai số thì nhà văn Nguyễn Hữu Ngư (Ngu Í) dắt bà Phạm Ngọc Thảo lại giới thiệu với tôi để nhờ tôi viết giúp tờ Bách Khoa mà chồng bà có chân trong tòa soạn.
            Tôi không hề quen bà Thảo, chỉ do Nguyễn Hữu Ngư mà biết bà là em ruột giáo sư Phạm Thiều hồi đó đã tập kết ra Bắc, còn ông là một nhân viên khá quan trọng trong Kháng chiến miền Nam. Tôi cũng không biết người sáng lập tờ Bách Khoa là ai, tòa soạn gồm những ai, chỉ thấy bà Thảo nhã nhặn, có học thức, mà tạp chí đó bài vở cũng đứng đắn, nên tôi góp với họ bài Quan niệm sáng tác của Edgar Poe, bài The Raven mà tôi đã viết từ trước.
            Bài đó được đăng ngay trong số 4 (tạp chí ra mỗi tháng hai kỳ). Tiếp theo tôi cũng gởi cho họ ba bài nữa cũng về văn học, bài Tiếng Việt ngày nay, Vấn đề dịch văn, Phép dịch thơ, cũng được tòa soạn cho đăng ngay trên các số 5, 6, 7, 8. Từ đó, lâu lâu tôi gởi thêm một bài về Nho giáo, về danh nhân hay về văn học…, toàn là do bà Thảo hay ông Ngư làm trung gian, chứ tôi vẫn chưa lại tòa soạn. Hợp tác với báo nào tôi vẫn giữ tư cách một độc giả góp bài chứ không dự gì vào đường lối, công việc của tòa soạn. Tôi không nhớ là mấy tháng sau, có dịp đi qua số 160 đường Phan Đình Phùng mới ghé tòa soạn Bách Khoa cách nhà tôi khoảng một cây số, gặp ông Hoàng Minh Tuynh và vài anh em nữa. Tôi cũng không nhớ bao lâu sau tôi mới gặp ông Phạm Ngọc Thảo, một người thấp nhỏ, rất hoạt động, có tư tưởng tiến bộ, viết một số bài về quân sự, tỏ ra có kinh nghiệm và biết suy nghĩ. Hai ông Tuynh và Thảo có vẻ mến tôi cả. Từ đó tôi hợp tác đều đều với tạp chí cho tới khi đình bản (5-1975).
            Trong lịch sử báo chí nước nhà, tờ Bách Khoa có một địa vị đặc biệt. Không nhận trợ cấp của chính quyền, không ủng hộ chính quyền mà sống được mười tám năm, từ 1957 đến 1975, bằng tờ Nam Phong; có uy tín, tập hợp được nhiều cây bút giá trị như Nam Phong, trước sau các cộng tác viên được khoảng một trăm.
            Mới đầu chỉ là một nhóm công chức cao cấp nghiên cứu về kinh tế, tài chính, quân sự do Huỳnh Văn Lang thành lập. Họ xin được nhãn báo của tờ Bách Khoa bình dân đã chết từ số 2, cắt hai chữ “bình dân” đi; rồi hùn nhau để tục bản. Họ đa số là những người đã tham gia kháng chiến chống Pháp trở về, không hoạt động cho kháng chiến nữa, mặc dầu là công chức nhưng không ưa Pháp.
            Năm đầu đăng nhiều bài về kinh tế và một số bài về công giáo, nên có tính chất nặng nề, nhưng báo sống nổi nhờ chủ nhiệm Huỳnh Văn Lang làm Giám đốc Viện Hối Đoái, tờ báo thu được nhiều quảng cáo.
            Đến năm 1959, một phần nhờ ông Lê Ngộ Châu (đã hồi theo kháng chiến rồi về Hà Nội dạy tư), được Huỳnh Văn Lang giao cho nhiệm vụ tựa như thư ký tòa soạn, mà tờ báo khởi sắc, có một đường lối rõ rệt, đường lối thứ ba, không theo Cộng mà cũng không theo Mỹ, và tập hợp được một số cây bút có kinh nghiệm làm nòng cốt như Võ Phiến, Vũ Hạnh, Nguyễn Văn Xuân, Phan Du, Võ Hồng, Bình Nguyên Lộc…
            Khi báo có uy tín rồi (từ 1960) ông Châu tập hợp thêm được một số cây viết trẻ, từ đó báo đăng nhiều bài có giá trị cả về biên khảo, lẫn sáng tác; và chính nhờ hợp tác với Bách Khoa mà những cây viết đó nổi tiếng, như: Vũ Hạnh, Võ Phiến, Lê Tất Điều, Cô Liêu, Ngu Í, Phạm Việt Châu, Phan Văn Tạo, Đoàn Thêm (hai người sau là nhân viên cao cấp trong chính quyền Ngô Đình Diệm)…, nhất là các nữ tiểu thuyết gia Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Thụy Vũ, Túy Hồng… Ngu Í chuyên về phỏng vấn, từng trải, có nhiều nhiệt tâm, văn có duyên.
            Võ Phiến còn ký tên là Tràng Thiên, Thu Thủy, viết tiểu thuyết nhưng thành công nhất về tạp bút, ý sâu sắc và lời dí dỏm. Ông có tài phân tích tâm lý, tả cảnh vật rất linh động.
            Phan Văn Tạo, bút hiệu Vũ Bảo, viết về hồi ký và thời sự.
            Phạm Việt Châu chuyên về chính trị quốc tế và nhận định thời cuộc.
            Có tinh thần đồng đội giữa những cây viết chính. Trong mười năm đầu, họ thường họp nhau ở tòa soạn 160 Phan Đình Phùng, hội ý trước về các đề tài, góp ý về nội dung các bài phê bình, đả kích. Tôi không khi nào dự cả, nhưng thỉnh thoảng ông Châu cũng nhờ tôi cho ý kiến về một bài gởi đăng mà đề tài tôi biết rõ hơn ông, như Văn học, Triết học Trung Quốc.
            Tư tưởng chính trị của những cây viết nòng cốt có khi trái ngược nhau. Vũ Hạnh thiên Cộng, sau theo Cộng; Võ Phiến chống Cộng; Đoàn Thêm và Phan Văn Tạo không ưa Cộng cũng không đả, không thích Mỹ nhưng cũng không nói ra; tôi, có lẽ cả Ngu Í và Lê Ngộ Châu, có cảm tình với kháng chiến, nhưng khác hai ông ấy, càng về sau, từ 1965 trở đi, khi Mỹ đổ nửa triệu quân vào miền Nam, tôi càng đả mạnh Mỹ và chính phủ Thiệu, bù nhìn của Mỹ. Mặc dầu vậy, các anh em trong tòa soạn vẫn giữ tình hòa hảo với nhau. Xu hướng trái ngược với nhau như Vũ Hạnh và Võ Phiến mà vẫn trọng tư tưởng của nhau (ít nhất là trong mười năm đầu) và gặp nhau tránh nói về chính trị. Đó là điểm tôi quý nhất.
            Nhờ anh em ai cũng có tinh thần đó nên buổi họp nào ở tòa soạn cũng đông, vui như Phan Du đã tả trong bài Văn đàn tình thoại (Bách Khoa số 361, tr. 62): “Bất luận là trẻ già, là mới cũ, là duy vật duy tâm, là Phật giáo hay Công giáo, khuynh hướng chính trị, văn chương như thế nào, đều được đón nhận với sự cảm thông và được chung đụng trong cái thể hòa đồng, cởi mở”.
            Tờ báo có chủ trương đăng tất cả các sáng kiến cá nhân dù đúng hay sai, miễn là thành thực, có tinh thần xây dựng về bất cứ vấn đề gì: từ chính trị đến kinh tế, văn học, khoa học… mà “không giới hạn ở lập trường chính trị nào, phe nhóm nào”. Dĩ nhiên bị kiểm duyệt gắt, nhất là trong bảy tám năm cuối, nên không một cây viết nào có thể trình bày hết ý mình được; mặc dầu vậy Bách Khoa vẫn được độc giả khen là “dám nói”. Sau ngày 30-4-1975, nhiều học giả miền Bắc nhận là một tờ báo “nghiêm chỉnh”, tuy chống đối cả Cộng sản lẫn Tư bản, nhưng có lập trường đứng đắn, lý luận vững, ngôn ngữ đàng hoàng; họ thích đọc Bách Khoa để hiểu miền Nam và hiện nay các số báo Bách Khoa cũ càng ngày càng có giá trị: một bộ cũ rách, từ đầu đến cuối, thiếu độ mười số, bán được gần 800đ (400.000đ cũ).
            Bách Khoa thịnh nhất trong những năm 1959-63 bán được 4.500-5.000 số; độc giả dài hạn được trên 1.000 mà khoảng 100 ở ngoại quốc, tờ Văn bán chạy hơn, còn các tờ định kỳ khác thì trung bình được 3.000 số.
            Sau cuộc đảo chánh 1963, chủ nhiệm Huỳnh Văn Lang bị bắt giam, rồi tờ báo bị đe dọa đóng cửa, phải đổi giấy phép – Lê Ngộ Châu làm chủ nhiệm thay Huỳnh Văn Lang – đổi tên là Bách Khoa thời đại; từ đó suy giảm về tài chánh (vì mất nhiều quảng cáo) nhưng nội dung và nhóm biên tập vẫn như cũ. Từ vụ Tết Mậu Thân (1968), tờ báo mất một số lớn độc giả miền Trung – mà độc giả đó là phân nửa độc giả Bách Khoa – giá giấy và công in lại cao, nên lỗ. Ông Lê Ngộ Châu ráng giảm mọi chi phí – cả tòa soạn chỉ có ông và hai người giúp việc – và duy trì tờ báo tới đầu 1975. Một nhà văn theo kháng chiến, ra Bắc về phải ngạc nhiên về sự làm việc của tòa soạn vì theo ông thì ở Bắc, một tờ định kỳ như vậy phải dùng ba chục nhân viên là ít.
            Từ trước tới sau, Bách Khoa giữ được trọn tình cảm của hạng độc giả đứng tuổi; còn giới trẻ thì chê là khô khan, nặng về biên khảo mà nhẹ về sáng tác (thơ, tiểu thuyết). Lẽ đó dễ hiểu.
            Tuy nhiên phải nhận rằng Bách Khoa không có ảnh hưởng lớn như Nam Phong, Phong Hóa, Ngày Nay trong dân chúng.
            Nam Phong ra đời ở buổi giao thời, văn hóa cũ bắt đầu chuyển mạnh qua văn hóa mới của phương Tây, số người viết ít mà số người đọc cũng ít, bao nhiêu cây viết có giá trị đều dồn cả vào tờ đó, nên không một tờ nào khác có nhiều bài đáng đọc và có nhiều độc giả như Nam Phong, lại được trợ cấp nên đứng vững được, những tờ khác có ra cũng chỉ được mươi số là chết. Có thể nói Nam Phong một mình một chợ, do đó có ảnh hưởng, uy tín lớn.
            Bách Khoa sinh sau bốn chục năm, vào thời mà số người viết đông, số độc giả cũng đông, gồm nhiều khuynh hướng, nên bị nhiều báo định kỳ (có lẽ đến non chục) chia bớt độc giả và Bách Khoa chỉ nhắm vào độc giả đứng tuổi, số này bao giờ cũng ít, ảnh hưởng do đó kém.
            Lại thêm Bách Khoa không có một chủ trương mới mẻ, mạnh mẽ cải cách cả về tư tưởng lẫn sự trình bày như tờ Phong Hóa, tờ Ngày Nay, trước sau vẫn giữ lập trường ôn hòa, đứng giữa, không theo Cộng, không theo Mỹ, như vậy làm sao gây nổi một phong trào mà ảnh hưởng lớn tới quốc dân được như nhóm Tự Lực?
            Thời đó có một nhóm nhà văn trẻ ở Bắc di cư vào, lập nhóm Sáng Tạo muốn làm một cuộc cải cách, nhưng họ không đủ kiến thức, tài năng, chỉ hô hào chống Cộng – điểm này không có gì mới cả – mà cũng không sâu sắc, vì họ ít đọc sách báo ngoại quốc; và đả đảo lối viết của nhóm Tự lực văn đoàn, mà người cầm đầu Sáng Tạo – Mai Thảo – lại có bút pháp cầu kỳ, “làm duyên làm dáng”, không hợp thời chút nào, chính bọn họ cũng không theo. Rốt cuộc chẳng gây được tiếng vang nào cả.
            …
            Vì tôi cộng tác đều đều với Bách Khoa, từ đầu đến cuối, lại viết nhiều về nhiều vấn đề, nên độc giả có người cho tôi là cây viết cốt cán của tạp chí, tưởng tôi là một nhân viên quan trọng trong tòa soạn nên có bài muốn gởi đăng thì gởi cho tôi nhờ tôi giới thiệu với ông chủ nhiệm Lê Ngộ Châu. Tôi đọc rất kỹ bài họ viết rồi cũng đưa ý kiến với ông Châu, nhưng cũng cho họ biết sự quyết định đăng hay không ở cả ông Châu. Ông Châu làm việc rất siêng, đọc hết mọi bài nhận được, đăng hay không ông đều báo cho tác giả biết. Ông nhận rằng ông đã bỏ lầm một số bài rất khá. Tôi mến ông vì ông có tinh thần trách nhiệm, làm việc đàng hoàng, biết cương quyết giữ vững chủ trương cả khi báo suy, biết xét người, xét văn và có tình với người cộng tác: ai gặp nạn gì thì ông lại nhà thăm, tìm mọi cách giúp đỡ; nhất là sau vụ Mậu Thân, ông rất băn khoăn lo lắng về các anh em bị kẹt trong vòng máu lửa.


NGUYỄN HIẾN LÊ


Đời Viết văn của tôi, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hóa Thông tin 2006, Hà Nội

« Sửa lần cuối: 07/11/2017, 18:18:54 gửi bởi nduytai »
 
The following users thanked this post: Tiêu Diêu

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #20 vào: 06/10/2015, 03:52:53 »
Từ Nam Phong tới Bách Khoa

1.– Con đường từ Nam Phong
            Trong số Nam Phong 154, tháng chín 1930, Phạm Quỳnh có dịch lại một bài viết của chính ông nhan đề: Ce que sera l'Annam dans cinquante ans, đăng trong France-Indochine. Trong những điều mà Phạm Quỳnh mong mỏi cho một nước Việt Nam tương lai là có một nền giáo dục không phải chỉ đào tạo ra một số thầy thông thầy ký. Một lối học chỉ để “đi làm mướn” hoặc đi làm quan tước mà ông vốn không ưa. Ông viết: “Người thanh niên An Nam bây giờ bập bẹ nói chút tiếng Pháp có thật đã văn minh, đã hấp thụ được nhiều Văn hóa hơn các cụ nho ngày xưa chưa?” Và cái lòng mong mỏi của ông cũng như người đi trước ông là Nguyễn Văn Vĩnh (tạp chí Đông Dương chỉ tồn tại có ba năm từ 1913-l916) là làm báo để dạy tiếng mẹ đẻ, viết tiếng mẹ đẻ cho con dân Việt.
            Cái tương lai mà Phạm Quỳnh mong mỏi và tiên đoán về tiếng Việt đã đạt được. Không phải đợi đến 50 năm sau mà chỉ sau 30 chục năm, tiếng Việt đã trở thành thứ ngôn ngữ có chuẩn mực, được giảng dạy từ tiểu học, trung học và cả đại học.
            Sự thành công đó có sự đóng góp rất nhiều của báo chí, trong đó có Nam Phong. Đó cũng là mục tiêu của bài viết này: Hành trình từ báo Nam Phong đến Bách Khoa. Và phải chăng Bách Khoa là điểm hẹn của con đường đi của chữ Việt, từ dạng thô sơ đến hoàn chỉnh?
            Phạm Quỳnh ra làm báo Nam Phong từ 1917-1932 (Báo Nam Phong tiếp nối đến 1934), sau đó nhận chức Thượng thư bộ học ở Huế. Trong vòng 15 năm làm báo, ông đã gây được một phong trào báo chí với một số cây bút như Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Trác, Nhuyễn Đôn Phục, Nhuyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Tiến Lãng, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật và đặc biệt có hai người trẻ tuổi là Đông Hồ và Tương Phố.
            Sau này Đông Hồ và Tương Phố là gạch nối từ Nam Phong đến Bách Khoa. Cả hai đều viết và cộng tác với tờ Bách Khoa.
            Câu chuyện như thể phải được coi là kỳ thú. Chỉ chưa đầy 30 năm sau câu hỏi trông đợi của Phạm Quỳnh trở thành sự thực hiển nhiên. Tiếng Việt đã đi những bước chân của người khổng lồ.
            Cần phải nhắc nhớ nhau rằng, thời của Trương Vĩnh Ký trong Nam, thứ chữ gốc La Tinh này đã có mặt, nhưng không ai chịu học cả. Phải ra lệnh ép người ta mới chịu học. Con đường đi của chữ quốc ngữ cũng nhiều gian nan, đánh dấu bằng những cột mốc lớn như có Gia Định báo, rồi Truyện Kiều, Lục Vân Tiên được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Chưa kể chương trình của Đông Kinh Nghĩa Thục kêu gọi hô hào hai điều: Cắt búi tó củ hành và học chữ quốc ngữ vào những năm 1907.
            Rồi đoạn đường tiếp nối Nam Phong với sự ra đời của Tự Lực Văn Đoàn với Phong Hóa, Ngày Nay 1932-1940. Nếu Phạm Quỳnh xây dựng chữ quốc ngữ với sự “phát hành ra hàng ngàn tiếng mới”, mở đường, xây dụng thì Tự Lực Văn Đoàn làm “phong phú, đơn giản” chữ Quốc ngữ. Chỉ có một điều bất công là Tự Lực Văn Đoàn đã mang Phạm Quỳnh ra chế diễu đủ kiểu. Vì thế sau này đến lượt Tự Lực Văn Đoàn lại trở thành nạn nhân của nhóm Sáng Tạo?
            Sau đó, có một khoảng trống văn học từ 1940-1954. Khoảng trống vì có chiến tranh Việt-Pháp.
            Trong Nam, sau 1955, có một sự bùng nổ văn học. Không có cuộc di cư của một triệu người, thử hỏi có thể nào có một sự bùng nổ văn học như thế không? Chắc là không. Cuộc di cư ấy gắn liền vào định mệnh cũng như tương lai lịch sử chính trị kinh tế, học thuật của miền Nam sau 1955.
            Trong đó có báo chí.
            Bùng nổ thứ nhất là tiếng Việt được giảng dạy từ tiểu học, trung học và sau này cả đại học. Bùng nổ thứ hai là báo chí được hồi thịnh đạt với rất nhiều báo chí ra đời. Báo chí đã có những thay đổi lớn lao khác xa thời của Phạm Quỳnh với các nhóm Sáng Tạo, rồi Bách Khoa.
            Nếu sự nghiệp Nam Phong với Phạm Quỳnh là làm giàu thêm về tiếng Việt, về dịch thuật, về phổ thông, về học thuật, về tư tưởng Tây phương và khảo cứu về văn minh, chính trị nước Pháp. Sự nghiệp ấy có thể được nối tiếp sau này với tờ Bách Khoa vào năm 1957 với đầy đủ các kiến thức đủ loại: Từ văn chương đến nghệ thuật, đến khảo cứu phê bình, đến sử học và triết học Đông Tây…
            Và xin trích dẫn lời nhận định của Vũ Ngọc Phan, trích lại từ Thế Kỷ 21, số 122, về Phạm Quỳnh như sau: “Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang học thức của mình. Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ không thể nào quên được tạp chí Nam Phong vì nếu ai đọc toàn bộ tạp chí này cũng phải nhận là rất đầy đủ, có thể giúp cho người học gia một phần to tát trong việc soạn một bộ Bách khoa toàn thư bằng Quốc văn.”
            Chính trong cái ý trên mà người viết bài này muốn nối kết lại con đường học thuật từ Nam Phong tới Bách Khoa. Phải nhìn nhận rằng con người Phạm Quỳnh đã làm được nhiều điều mà cộng chung tất cả những người cộng tác với ông cũng không thể so sánh bằng. Văn học, chính trị, chữ quốc ngữ thời Phạm Quỳnh giống như một cánh đồng với luống cầy vỡ đất. Phạm Quỳnh là người cầy xới mảnh đất đó lên và vun xới chăm sóc.
            Và kể từ Phạm Quỳnh đến Bách Khoa, số phận văn học đã có những lúc nổi trôi cùng với số phận đất nước để sau cùng có được những điều như ngày hôm nay. Tôi chỉ biết kinh ngạc và cảm phục những nhà văn, nhà báo của thời kỳ Nam Phong cũng như Bách Khoa sau này.
            Họ đã làm được những điều phi thường, đã đóng góp, xây dựng cho công việc này. Mặc dầu, những bài báo của Phạm Quỳnh còn nặng lối văn biền ngẫu, lý luận cũng sắc bén mà cũng ngây ngô về những điều mà bây giờ chỉ là những kiến thức khá sơ đẳng. Nhưng chúng vẫn có giá trị tinh thần của những người đi bước đầu. Khó lắm và cũng gian nan lắm.

2.– Con đường tiếp nối của Bách Khoa
            Mục đích chính của bài viết này là chặng đường Bách Khoa. Những gì Nam Phong chưa làm, Phạm Quỳnh chưa viết, hoặc chưa đủ điều kiện thực hiện, hoặc chưa phải lúc thì Bách Khoa và các tạp chí văn học khác đã làm được.

Về lãnh vực tiểu thuyết, thi ca
            Phạm Quỳnh hầu như không để tâm mấy về lĩnh vực này. Trừ cuốn La Poesie Annamite xuất bản 1931. Từ cái thi ca Việt Nam trong Poésie Annamite này đến thứ thi ca của Nguyên Sa, Quách Thoại, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư. Chắc là khác xa nhau lắm. Đó là khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng. Phần Phạm Quỳnh, ông chỉ viết về những bài du ký như truyện đi dự Đấu xảo ở Paris với Pháp du hành trình nhật ký, Mười ngày ở Huế hay Một tháng tại Nam Kỳ. Sau này, theo sự tiết lộ của gia đình, ông đang viết dang dở một bản văn tìm thấy trên bàn viết sau khi ông bị bắt và được coi như tùy bút với nhan đề: Hoa Đường tùy bút. Thật ra gọi là tùy bút, nhưng đọc nội dung cho thấy đó chỉ là những Meditations, những suy niệm về cuộc đời, về lẽ sống ở đời hay về thế thái nhân tình hơn là thứ Tùy Bút theo nghĩa bây giờ. Thứ tùy bút của một Nguyễn Tuân, của Mai Thảo, của Vũ Bằng và nhất là tùy bút của Võ Phiến.
            Thật ra, muốn làm giàu và phong phú cho tiếng Việt thì không thể không viết và đọc truyện, đọc thi ca, đọc tùy bút. Những công việc này không nhất thiết chỉ Bách Khoa đã làm mà hầu hết các tạp chí trong Nam, sau 1955 chú trọng đến phần Văn học, nghệ thuật dưới nhiều dạng thơ, văn, truyện, tùy bút.
            Họ đã bỏ xa cái thời của Phạm Quỳnh.
            Nhưng thơ văn, truyện, trong Bách Khoa cũng không hẳn là “mặt mạnh” của tờ báo, mặc dầu sau này, có các nhà văn như Phan Văn Tạo và trẻ như Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nhuyễn Mộng Giác, Thế Uyên v.v… Đặc biệt dưới dạng gọi là Tạp bút và tùy bút thì có sự đóng góp của Võ Phiến khá nhiều coi như thành công và xuất sắc của tờ Bách Khoa. Ông có khoảng vài chục tùy bút như: Một ngày để tùy nghi, Cái còn lại, Mùa xuân con én, Nhớ làng, Những đám khói… Và Tạp luận như Vui buồn, Nhìn lại 15 năm Văn Nghệ Miền Nam, Đông Tây.
            Võ Phiến có cái tỉ mỉ chi li từng sợi tóc, tế vi, nhẹ nhàng, không phấn son kiểu Mai Thảo. Nhưng có những nhận xét góc cạnh và sắc bén trong đó.
            Hay như Nguyễn Ngu Í, một trong những người viết nhiều cho Bách Khoa với nhiều bài viết, nhất là viết về những nhà văn, nhà báo. Sau này, ông tập trung tất cả những bài trên Bách Khoa in thành sách mang tựa đề Sống Và Viết. Khá là sinh động và trung thực. Viết có gói ghém một tấm lòng, dễ ưa mà đọc ông.
            Nguyễn Hiến Lê thì đem ngôn ngữ Việt vào khắp chốn: từ giáo dục đến lịch sử đến văn chương, dịch thuật và cao chót cả đến triết học.

Về mặt biên khảo
            Thời kỳ Nam Phong đã có nhiều người cộng tác như quý ông Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Tiến Lãng, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đôn Phục và các nhà văn nhà thơ như Phạm Duy Tốn (thân phụ Phạm Duy), Đông Hồ và Tương Phố.
            Mặc dầu vậy, tên tuổi Phạm Quỳnh vẫn nổi bật trên tất cả những người cộng tác ở trên về mặt dịch thuật và biên khảo. Theo nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, cái vốn liếng ấy, cái vốn liếng học thức hơn người ấy của Phạm Quỳnh chỉ có được với chín năm Phạm Quỳnh làm việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ. Mặc dù đỗ đầu trường Hậu Bổ, năm 1908. Phạm Quỳnh đã không đi theo con đường hoạn lộ. Theo đường đó thì Phạm Quỳnh sẽ rơi vào cái cảnh “sáng vác ô đi, tối vác về”. Hay tệ hơn như ông viết, lối giáo dục của Tây chỉ đào tạo được các thầy thông, thầy phán ti toe mấy chữ tiếng Tây và “đi làm mướn”. Và như lời nhận xét của Đoàn Văn Cầu về Phạm Quỳnh: “Kiến văn quảng bác của tiên sinh được hun đúc phần lớn ở trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ” (Trích Tạ Chí Đại Trường, Thế kỷ 21, số 122, tháng sáu 1999, trang 42). Sau này, 15 năm làm báo, Phạm Quỳnh đã dùng cái sở học chín năm của trường Viễn Đông Bác Cổ giúp Phạm Quỳnh đi sâu vào các lãnh vực triết học, văn học, văn chương kim cổ. Và rất nhiều người đọc thời ấy đã là học trò Phạm Quỳnh theo nghĩa đọc Nam Phong để có cơ hội mở mang thêm kiến thức.
            Dĩ nhiên, nếu so sánh với những hiểu biết bây giờ thì công việc của Phạm Quỳnh chỉ là giới thiệu tổng quát trào lưu tư tưởng Tây Phương như các học thuyết của Rousseau 1712-1778. Montesquieu, 1689-1755. Voltaire 1694-1778. Tôi tự đặt vấn đề là tại sao Phạm Quỳnh lại chọn các nhà tư tưởng như Rousseau, Montesquieu, Voltaire của thế kỷ 18? Có cổ quá không? Phải chăng chỉ vì những tư tưởng chính trị, xã hội của các nhà tư tưởng này thích ứng được cho xã hội, chính trị Việt Nam lúc bấy giờ? Khảo luận về Rousseau hay Montesquieu là tự mình lùi về hai thế kỷ ở đằng sau? Trong khi đó thì sau cách mạng 1789, nước Pháp về mặt tư tưởng đã bỏ xa những nền tảng triết lý, chính trị, giáo dục của Rousseau hay Montesquieu rồi. Ngoài ra, ông còn giới thiệu tư tưởng Đông Phương như Phật giáo, Khổng giáo v.v… Những tư tưởng đó cả ngàn đời vẫn là thế nên chẳng có thể làm gì khác được.
            Nhưng dù thế nào, đối với thời ấy, phải nhìn nhận rằng, cái mặt mạnh, trổi bật của Phạm Quỳnh và Nam Phong, chính là phạm vi biên khảo học thuật. Nó giới thiệu các tư tưởng học thuật ấy đối với đa số bạn đọc còn mù mịt về thế giới Tây Phương. Và coi như là những khám phá mới, những bước khai sáng mở đầu. Nhiều bạn đọc đã hẳn coi tạp chí Nam Phong cũng như Phạm Quỳnh là thày dạy cho cả một thế hệ.
            Đã có một thế hệ Nam Phong. Thế hệ Phạm Quỳnh.
            Cũng theo con đường đó, cái mặt mạnh nhất của Bách Khoa sau này là phần biên khảo. Nhưng là biên khảo về những nhà tư tưởng, triết gia đương thời, thế kỷ 20 mà không phải thế kỷ 18 như trước đây nữa. Cộng thêm là những biên khảo về đủ mọi mặt.
            Có thể mặt trổi bật và mạnh nhất của Bách Khoa là lãnh vực triết học. Thứ triết học đã ảnh hưởng trên phạm vi tư tưởng, văn học một phần lớn thế hệ thanh niên thời ấy.

Ngành triết học
            Việc giới thiệu triết lý hiện sinh hay các thuyết cơ cấu luận, hiện tượng luận, tuy là rất mới mẻ đối với Việt Nam, nhưng cũng đã kể là trễ so với bên Pháp. Vì những triết gia này đã nổi tiếng một thời ngay sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt. Trễ gần hai chục năm. Nhưng có sao? Cũ người, nhưng mới ta là được rồi.
            Lần đầu tiên các danh từ như nôn mửa, phản kháng, tù đầy, hư vô, tự thân, en soi, pour soi, tha nhân, thân phận, hỏa ngục, lưu đày, hữu hạn, vô hạn… tràn ngập văn chương tiểu thuyết, nơi cửa miệng thanh niên thiếu nữ. Hai tác giả đóng góp nhiều hơn cả trên Bách Khoa là Nguyễn Văn Trung và Trần Thái Đỉnh. Nguyễn Văn Trung với 50 bài viết đủ loại và Trần Thái Đỉnh 30 bài. Tất cả những bài viết đó thường liên quan đến những triết gia đại diện hàng đầu như J.P. Sartre, Heidegger và nhà văn như A. Camus. Cao hơn một chút, có những bài biên khảo về thuyết Hiện tượng luận và Cơ cấu luận. Nhưng để hiểu được nội dung những cơ sở lý thuyết này, chắc cần kinh qua ngưỡng cửa đại học.
            Nội dung những bài viết của Nguyễn Văn Trung có tính cách tản mạn triết học như Tự tử, Cần lao, Tình yêu trong tác phẩm kịch của G. Marcel, Trường hợp F. Sagan hay vấn đề luân lý trong tiểu thuyết, Cái nhìn hay đám cưới với cuộc đời, Chủ nghĩa hiện sinh (Trả lời phỏng vấn của Trần Thái Đỉnh).
            Nội dung các bài viết của Trần Thái Đỉnh có tính cách trường ốc, sư phạm. Ông đã viết đều đặn liên tiếp mấy chục bài trên Bách Khoa như Siêu Việt thể của Jaspers từ số 125-126-127. Sartre hay là thuyết Hiện sinh phi lý, số 132. Kierkegaard, ông tổ của triết học hiện sinh chính thức, số 117-118. Tổng kết về phong trào Hiện sinh, số 135-136. Những bài viết của Trần Thái Đỉnh đã giúp ích rất nhiều cho bất cứ ai muốn mon men vào lãnh vực triết học, hiểu được những nét cơ bản về các triết gia hiện sinh. Công của Trần Thái Đỉnh không phải là nhỏ đối với đa số bạn đọc.
            Về triết Đông Phương tương đối còn mới mẻ trong đại học nên phần đông là sự đóng góp phần dịch thuật hoặc chú giải. Có một số tác giả như Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Hiến Lê… Sau này có Kìm Định viết rất nhiều về Triết Đông với một góc độ nhìn từ Triết Việt với các bộ sách khoảng 30 cuốn như: Nhân chủ, Những dị biệt giữa hai nền triết học Đông Tây, Sứ điệp trống Đồng và đặc biệt hai bộ Cửa KhổngChữ Thời.

Về khoa ngôn ngữ
            Chúng ta không thể ngờ rằng khoa ngôn ngữ học đã khởi xướng rất sớm với Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Trước Phạm Quỳnh. Trước Nam Phong của Phạm Quỳnh cũng vài chục năm. Cho đến bây giờ, tôi vẫn tự hỏi bằng cách nào, không học qua bất cứ trường ốc nào? Trương Vĩnh Ký đã trở thành nhà ngôn ngữ học, một nhà bác học của Việt Nam? Ông là người đồng thời với những nhà ngữ học tài danh thế giới như F. de Saussure. Dựa vào sự nghiệp trước tác của ông cho thấy có đến 52 công trình viết của ông về ngôn ngữ, chiếm 43% công trình trước tác của ông.
            Bẵng đi một khoảng cách gần 100 năm, chúng ta không có những người kế tục Trương Vĩnh Ký. Tờ Nam Phong thì không ai đá động gì đến ngôn ngữ học.
            Đó là một lỗ thủng văn học về ngôn ngữ học từ Nam Phong, kéo dài qua nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Kể cũng là điều kỳ lạ.
            Sau này, ở miền Nam, chẳng biết do duyên văn học nào mà có một số không nhỏ các tác giả đi sâu vào lĩnh vực ngữ học. Thoạt đầu có thể là linh mục Lê Văn Lý có bằng tiến sĩ với tác phẩm Le Parler Vietnamien, thập niên 1940-1950, giáo sư Đại học văn khoa Sài Gòn. Các vị khác nối đuôi theo đều cũng tự học như Trương Vĩnh Ký. Đó là các quý ông Nguyễn Bạt Tụy, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Lê Ngọc Trụ và Trần Ngọc Ninh, Giáo sư Nguyễn Đình Hòa, nhà văn Bình Nguyên Lộc. Không viết cho Bách Khoa, nhưng có công trình khảo cứu về ngữ học phải kể thêm linh mục Nguyễn Hưng, nhất là linh mục Nguyễn Huy Lai.
            Đa số họ viết cho Bách Khoa, rồi ra sách với các công trình nghiên cứu như Khảo luận về ngữ pháp, Ngôn ngữ học Việt Nam, Bàn về Thinh tiếng Việt, về chính tả tự vị.
            Mặc dầu là những đề tài chuyên môn, nhưng chịu khó mầy mò thì cũng có thể hiểu được đôi phần. Nhờ những công trình khảo cứu như thế, có thể coi tờ Bách Khoa như một thứ bách khoa tự điển bỏ túi.

Về lãnh vực sử học
            Đây là môn học lâu đời nhất của Việt Nam. Nhiều bộ sách sử được viết ra kể không hết như: Sử Quốc triều chánh biên toát yếu, Hoàng Lê nhất thống chí, Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư, Phủ Biên tạp lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lực tiền biên, Gia Định thông chí, Đại Nam liệt truyện tiền biên|\… Có thể nói tắt một lời, sử học là ngành học lâu đời và phong phú với hằng trăm sách nghiên cứu, hằng trăm tác giả đủ loại. Chưa kể cũng đến hằng trăm sách sử mà tác giả phần lớn là người Pháp.
            Phần sử học viết trong Nam Phong tạp chí cũng không nhiều. Quá ít nữa, gần như không được ghi chép lại. Nhưng tôi cũng tìm thấy được một số tài liệu trong phần phụ lục, viết bằng Hán Văn. Chẳng hạn viết về Ngọc Hân Công Chúa và qua Quang Trung trong Nam Phong số 103, số 111, số 177, năm 1926. Sau này, ông Tạ Quang Phát đã phê dịch và được đăng trong Tập san Sử địa, số đặc biệt về Quang Trung.
            Từ những tài liệu sử viết bằng chữ Hán, trong phần phụ trương của Nam Phong đến các sử liệu viết trên Bách Khoa có một khoảng cách lớn cả về số lượng bài vở lẫn số lượng tác giả.
            Người đầu tiên tôi muốn nhắc tới là Nguyễn Thiệu Lâu, tốt nghiệp sử học ở Pháp, chuyên chú về nhà Tây Sơn. Sau này có những nhà sử học trẻ hơn mà tôi rất quý mến. Đó là trường hợp Tạ Chí Đại Trường. Ông có trình luận án cao học với đề tài: Lịch sử nội chiến ở Việt Nam, từ 1771 đến 1802. Ông viết rất sắc bén, phân tích kỹ lưỡng. Ông viết chẳng những cho Bách Khoa mà còn cho Tập San sử địa cũng như tạp chí Đại Học.
            Đây là người có chân tài.
            Xin được liệt kê một số bài của ông như: Vai trò của Nguyễn Huệ trong chế độ quân chính, Chiến thắng Nguyễn Huệ trước viện binh Trung Hoa, Dân Đại Việt ở cuối thế kỷ 18, Góp thêm về phổ hệ Tây Sơn và chân dung anh em họ.
            Ngoài Tạ Chí Đại Trường không thể quên một tên tuổi có vẻ xa lạ đối với độc giả người Việt. Đó là ông Chen Ching Ho, tên Việt là Trần Kinh Hòa. Tôi không chắc là ông có viết cho Bách Khoa không? Ông viết rất nhiều dựa trên văn bản như: Khảo cứu về danh xưng Giao Chỉ, Làng Minh Hương và phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên, Kẻ chợ, Thành trì Chí của Trịnh Hoài Đức.
            Đối với giới sử học miền Nam, chắc hẳn ông là người được kính nể không ít.
            Tôi cũng nhận ra ở miền Nam, có một xu hướng viết sử trân trọng, cổ súy Quang Trung Nguyễn Huệ trong đó có các tác giả Hoàng Xuân Hãn với La Sơn Phu Tử, Hồ Hữu Tường, Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, Tạ Quang Phát, Đặng Phương Chi, Phạm Văn Sơn… Và sau này, tôi cũng thấy xu hướng viết về Tây Sơn tương tự như vậy ở miền Bắc.
            Thứ đến, tôi có cảm tưởng môn sử học là nơi ra vào của bất cứ ai, không cứ là nhà sử học. Vì thế có thể thấy tên những tác giả như Nguyễn Đăng Thục, Vương Hồng Sển, Hoa Bằng, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Khắc Kham, Lê Ngọc Trụ, Phan Văn Luận, Bửu Cầm, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và ngay cả thi sĩ Quách Tấn, Đông Hồ.
            Nhân tiện đây, chúng tôi xin được một lần nêu danh tính tất cả các tác giả đã một thời đóng góp cho ngành sử học ở Việt Nam, kể từ sau 1955, bất kể là họ đã viết cho Bách Khoa hay không? Có thể tên tuổi họ còn thiếu sót.
            Đó là Tạ Chí Đại Trường, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Thế Anh, Bửu Cầm, Phan Khoang, Lâm Thanh Liêm, Phạm Văn Sơn, Thái Việt Điểu, Phạm Cao Dương, Trần Anh Tuấn, Quách Thanh Tâm, Nguyễn Khắc Ngữ, Đặng Phương Nghi, Nguyễn Huy, Phạm Long Điền, Trần Quốc Giám, Lê Thọ Xuân, Tô Nam, Lê Văn Ngôn, Bửu Kế, Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Phương, Nguyễn Khắc Xuyên, Mai Chưởng Đức, Nguyễn Sao Mai, Chen Ching Ho hay Trần Kinh Hòa, Hồ Hữu Tường, Nghiêm Thẩm, Ưng Trình, Phạm Văn Diêu, Nguyễn Như Lân, Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Như Lân, Thích Thiện Ân, Nguyễn Khắc Kham, Tạ Trọng Hiệp, Nguyễn Trần Huân, Lê Văn Hảo, Lê Hữu Mục, Trần Nhân Thâm, Nhất Thanh, Lê Hương, Hãn Nguyên, Đào Duy Anh, Nguyễn Nhã, Nguyễn Văn Hầu, Trần Gia Phụng, Phù Lang Trương Bá Phát, Nguyễn Bá Thế, Lưu Hải Nam, Trần Trọng Kim, Lãng Hồ, Lê Thanh Cảnh, Lê Thành Khôi, Trương Bá Cần. Và có thể còn nhiều tác giả khác mà chúng tôi đã thiếu sót không ghi chép đủ. Một phần dựa vào Tập san Sử Địa. Cũng do khoảng cách chính trị, chúng tôi thực sự không được biết nhiều đến các người viết sử miền Bắc.
            Sự liệt kê danh sách nhiều người viết sử như thế chứng tỏ rằng thời kỳ Nam Phong tạp chí đã bị bỏ qua rất xa đến không ngờ được.

Về luật pháp
            Đây cũng là ngành khá mới mẻ mà thời kỳ báo Nam Phong hầu như không có một ai có sách vở, tài liệu nghiên cứu. Xin được vắn tắt một vài vị như quý ông Trần Thúc Linh và đặc biệt là quý ông Lê Tài Triển và Nguyễn Toại. Hình như ngoài đời, chức vụ của họ đều là thẩm phán cả.
            Riêng ông Lê Tài Triển là người mà tôi nhớ nhiều nhất với bài viết về vụ án cầu Rạch Hào liên quan đến vụ tai nạn lật xe chết người trên đường Sài Gòn đi Vũng Tàu, liên quan đến con gái của ông triệu phú Nguyễn Đình Quát. Ông còn viết các bài như: Cá nhân đứng trước pháp luật, Nạn nhân với tố quyền của nạn nhân.

3.– Tổng kết bài tham luận từ Nam Phong tới Bách Khoa
            Con đường học thuật chẳng khác gì con đường Nam tiến. Từng bước, từng chặng đường lịch sử mà chúng ta đã đi qua. Nó đánh dấu những thăng trầm, những ngưng đọng cũng như những tiến bộ không ngừng.
            Công khó là của nhiều người.
            Nếu thời kỳ báo Nam Phong, xin mượn lời Thanh Lãng ca tụng Nam Phong tạp chí là một bộ Bách khoa tự điển, kết hợp được tất cả tư tưởng mọi ngành từ khoa học đến văn chương và là tờ văn học có ảnh hưởng lớn nhất từ trước đến nay. Và rồi còn quy tụ được tất cả những nhà văn hóa thời danh của thế kỷ mà người đứng đầu là Phạm Quỳnh.
            Tất cả những mỹ từ ấy chỉ cần chuyển hai chữ Nam Phong thành Bách Khoa thì đều đúng cả. Vì thế, con đường từ Nam Phong đến Bách Khoa là con đường thẳng, một chiều. Cái gì ở Nam Phong có thì Bách Khoa có hết, mà có hơn bội phần, có dồi dào và phong phú. Chỉ có vấn đề danh xưng là khi nói đến Nam Phong, người ta liên hệ trực tiếp ngay tới Phạm Quỳnh. Điều đó trở thành lúng túng và dè dặt hơn trong trường hợp của tờ Bách Khoa. Nhưng dù là một người hay nhiều người thì Bách Khoa vẫn là một thứ Bách khoa toàn thư cho bất cứ ai muốn mưu cầu mở mang kiến thức.
            Bách Khoa là một bộ sách dạy cho bất cứ ai khi rời khỏi ghế nhà trường.
            Nó là sự kéo dài từ trường học ra đến trường đời. Nó là thứ trường học liên tục, cập nhật và bổ túc cho những gì còn chưa đủ của trường học. Cái gì chưa học ở nhà trường thì học ở đây.
            Một người anh của tôi thú nhận rằng, ngoài vốn liếng chuyên môn dành cho một y sĩ mà ông học ở trường Y khoa, hầu như tất cả vốn liếng kiến thức đủ thứ còn lại, ông đều nợ tờ Bách Khoa cả. Một thú nhận khiêm tốn mà không thiếu phần hãnh diện. Điều đó nói lên rằng, tờ Bách Khoa đã thực sự đóng góp cho nhu cầu văn hóa, học thuật cho tất cả tầng lớp thanh niên trí thức miền Nam như một hành trang giúp họ vào đời. Miền Bắc đã không có được điều đó.
            Cho nên sẽ không lấy gì làm lạ về sự tồn tại, có mặt lâu dài như thế của tờ Bách Khoa. Bởi vì hơn bất cứ tờ báo nào, nó đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu hiểu biết của một người.
            Một điều nữa cần hiểu rằng sách vở chuyên ngành, sách vở khảo cứu của chúng ta chưa có đầy đủ, người viết cũng không có. Báo chí như Bách Khoa thay thế vai trò của sách vở, giải quyết tạm thời sự thiếu thốn ấy.
            Vì thế, vai trò báo chí trong sự mở mang học thuật, kiến thức là điều cần thiết, cấp bách không có không được.
            Hiểu được như thế mới thấy vai trò của Nam Phong cũng như Bách Khoa quan trọng như thế nào. Con đường học thuật đi từ Nam Phong đến con đường của Bách Khoa là con đường Nam tiến mà chúng ta nên hãnh diện.


NGUYỄN VĂN LỤC


Tân Văn, số 6, Tháng 1/2008, California – USA

« Sửa lần cuối: 07/11/2017, 19:35:28 gửi bởi nduytai »
 

Ngủ rồi quangtrunggdct

  • *
  • Bài viết: 2
  • Đánh giá: +0/-0
Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #21 vào: 09/11/2016, 23:23:46 »
Xin chào anh! Thấy anh có bộ tạp chí Bách khoa đầy đủ, hiện em đang làm luận án, muốn có một số bài của giáo sư Trần Thái Đỉnh viết về Triết học hiện sinh. Không biết anh có cách gì cho em tham khảo được không? Rất mong được sự giúp đỡ của anh. Mail của em là: quangtrunggdct@gmail.com
Xin cám ơn anh trước!



Bộ tạp chí Bách khoa 426 số. Hình ảnh như sau...

(Image removed from quote.)(Image removed from quote.)(Image removed from quote.)(Image removed from quote.)(Image removed from quote.)(Image removed from quote.)(Image removed from quote.)(Image removed from quote.)
 

Ngủ rồi hoaico

Tạp chí Bách Khoa (1957-1975) được số hóa toàn bộ
« Trả lời #22 vào: 29/10/2017, 07:32:38 »
Tạp chí Bách Khoa được 'số hóa' toàn bộ



https://www.voatiengviet.com/a/tap-chi-bach-khoa-truoc-1975/4084311.html
 
The following users thanked this post: nduytai
hoaico2009@gmail.com |  0946850701 - 01269838689

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #23 vào: 03/11/2017, 22:57:38 »
Toàn bộ tạp chí BÁCH KHOA đã được số hóa để phổ biến cho mọi người

Thời trước 1975 ở miền Nam báo chí tư nhân rất phong phú, nhất là từ sau năm 1963 thì nhật báo và các tạp chí xuất hiện rất nhiều. Nhưng những ai theo dõi tình hình báo chí cả hai thời kỳ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa thì đều thấy tờ báo tồn tại lâu dài nhất của miền Nam Việt Nam chính là tờ bán nguyệt san BÁCH KHOA: số 1 ra đời vào ngày 15 tháng 01 năm 1957, số cuối cùng 426 ra ngày 19 tháng 4 năm 1975.


HÔM NAY chúng tôi xin loan báo một tin vui, là sau nhiều năm cố gắng, một nhóm bạn bè của báo mạng Diễn Đàn Thế Kỷ đã sưu tầm đầy đủ toàn bộ báo Bách Khoa, chỉnh đốn lại để thành một bộ báo số hóa có thể phổ biến cho mọi người.*
            Việc chúng tôi nghĩ nên làm ngay sau khi hoàn tất việc sưu tầm là đến thăm ông Huỳnh Văn Lang, Chủ Nhiệm Sáng Lập tạp chí Bách Khoa để kính tặng ông đĩa DVD chứa đựng toàn bộ 426 số báo đã được điện tử hóa. Chiều ngày 16 tháng 10, 2017 vừa qua anh Trần Huy Bích và tôi đã tới thăm ông Huỳnh Văn Lang tại nhà ông trong thành phố Westminster Nam California, rất mừng thấy ông tuy đã ở tuổi 96, vẫn tương đối mạnh khỏe, nhất là tinh thần còn rất sáng suốt.
            Ông đã rất vui và cảm động nhận đĩa DVD chứa toàn bộ báo Bách Khoa do chúng tôi tặng, và nói: “Với công trình tìm tòi và lưu giữ như thế này, tạp chí Bách Khoa sẽ an toàn tồn tại nhiều trăm năm về sau”. Và chúng tôi đã được vị sáng lập tờ Bách Khoa kể lại không biết bao nhiêu là “chuyện xưa tích cũ”… Mỗi câu chuyện như thế đối với tôi là một mảng lịch sử, qua giọng kể Nam Kỳ hấp dẫn và chân thành của ông. Thú vị nhất là ý tưởng lập hệ thống các trường Bách Khoa Bình Dân, rồi hội Văn Hóa Bình Dân để sau cùng là tạp chí Bách Khoa chào đời.


Ông Huỳnh Văn Lang (bên phải), với DVD Bách Khoa trên tay,
đang trò chuyện với Phạm Phú Minh. (Ảnh: Trần Huy Bích)

            Ông Huỳnh Văn Lang là người sáng lập, là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút của Bách Khoa từ số ra mắt cho đến cuộc đảo chánh 1963 chấm dứt Đệ Nhất Cộng Hòa. Ông nói: “Ngay khi quyết định ra báo, 30 thành viên của hội Nghiên cứu Kinh tế Tài chánh mà tôi đứng đầu mỗi người góp 1000 đồng (trừ một vị chỉ góp 500) để làm vốn. Hồi đó 30.000 đồng là một số tiền lớn, nhưng khi bắt tay làm báo thì tiền in nó ngốn mau lắm, tôi phải xoay xở liên tục cho đến khi tờ báo ổn định…”
            Qua buổi gặp gỡ và trò chuyện với ông Huỳnh Văn Lang, tôi hình dung ra hoạt động của một nhóm trí thức trẻ cách đây 60 năm, đồng lòng xắn tay áo lao vào những công việc cụ thể, trong buổi bình minh của một vận hội mới mẻ cho vùng phía Nam của đất nước.


* * *

            Cho tới nay, Bách Khoa là tờ báo tư nhân sống lâu nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam. Tờ sống lâu thứ nhì là tạp chí Nam Phong của học giả Phạm Quỳnh, ra đời vào tháng Bảy năm 1917, đình bản ở số 210, ngày 10 tháng Mười Hai năm 1934. Trên Nam Phong số cuối này có dòng chữ Năm thứ mười tám, nhưng đó là chỉ mới bước vào năm thứ 18 thôi, trong thực tế Nam Phong thọ 17 năm 5 tháng. Trong khi đó báo Bách Khoa xuất bản từ tháng 1 năm 1957, tính tới tháng 1 năm 1975 là đủ 18 tuổi, tới hết tháng 4-1975 nó được 18 năm 3 tháng. Đó là chưa kể số lượng các số báo, Bách Khoa xuất bản 426 số; Nam Phong tổng cộng 210 số, chỉ bằng một nửa. Dễ hiểu, Nam Phong là nguyệt san (mỗi tháng ra một số), Bách Khoa là bán nguyệt san (mỗi tháng ra hai số).
            Do đời sống lâu dài của nó suốt gần 20 năm cộng với nội dung mà nó mang lại, Bách Khoa có thể coi là cái xương sống tinh thần của miền Nam từ khi đất nước chia cắt 1954 cho đến 1975. Cho đến nay, các bài viết về báo Bách Khoa trong và ngoài Việt Nam đã khá nhiều, từ các hồi ức của những người trực tiếp góp phần xây dựng tờ báo đến những nhà nghiên cứu về sau, chúng tôi chỉ xin tóm tắt một ít điểm chính để giới thiệu một cách tổng quát Bách Khoa với độc giả.
            Bách Khoa do ai sáng lập? Dưới đây là hình bìa trước và bìa sau của số đầu tiên. Ở bìa sau chúng ta thấy danh tính những người tạo ra nó:


 

            Chủ nhiệm sáng lập là Huỳnh Văn Lang, “hợp tác cùng các bạn” gồm ba mươi người liệt kê ngay bên dưới. Tập thể này là những chuyên viên của Hội Kinh tế/Tài chánh thành lập từ 1955, đứng đầu là ông Huỳnh Văn Lang. Họ là những người hầu hết còn trẻ tuổi vào thời điểm đó, một số du học ngoại quốc mới về nước, tham gia chính quyền miền Nam với lý tưởng xây dựng một quốc gia Việt Nam tự do và phú cường. Sinh hoạt của Hội là họp mỗi hai tuần một lần, thảo luận về những vấn đề kinh tế tài chánh Việt Nam đang phải giải quyết. Sau một thời gian hoạt động nhóm chuyên viên này nhận thấy cần phổ biến rộng rãi các nghiên cứu của họ, nên đã quyết định tổ chức một tờ báo như là một “diễn đàn chung của tất cả những người tha thiết đến các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”: tờ BÁCH KHOA ra đời.
            Số đầu tiên ra mắt ngày 15 tháng 01 năm 1957 và những số kế tiếp các bài nòng cốt là của các cây bút “cơ hữu” như Huỳnh Văn Lang, Phạm Ngọc Thảo, Hoàng Minh Tuynh, Nguyễn Ngu Í… Các cây bút có tên tuổi dần dần tham gia ngày một đông: Nguyễn Hiến Lê xuất hiện vào số 4, Mặc Thu, Vi Huyền Đắc số 5, Võ Phiến số 7, Bùi Giáng số 8…
            Trong cuốn Hồi Ký của mình xuất bản sau 1975, học giả Nguyễn Hiến Lê, người bắt đầu viết cho Bách Khoa từ cuối tháng 2 năm 1957 và “dính” luôn với Bách Khoa cho đến số cuối ra ngày 19 tháng 4 năm 1975, đã viết:

             “Trong lịch sử báo chí nước nhà, tờ Bách Khoa có địa vị đặc biệt. Không nhận trợ cấp của chính quyền mà sống được mười tám năm từ 1957 đến 1975, bằng tờ Nam Phong, có uy tín, tập hợp được nhiều cây bút giá trị như Nam Phong, trước sau các cộng tác viên được khoảng một trăm.”

            Nhà văn Võ Phiến, người cũng đã gắn bó với Bách Khoa suốt 18 năm, với các sáng tác truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tạp luận, ngoài ra ngày càng viết nhiều mục với các bút hiệu khác nhau như Tràng Thiên, Thu Thủy. Ông tuy không phải là người làm việc trực tiếp trong tòa soạn Bách Khoa nhưng có thể coi như là người quan trọng tạo nên linh hồn của tờ báo. Ông kể:

             “Thoạt tiên là tờ báo của hai nhân vật trong chính quyền: các ông Huỳnh Văn Lang và Hoàng Minh Tuynh. Về sau các ông này rút lui ra khỏi chính quyền, rồi tờ Bách Khoa cũng dần dần chuyển về ông Lê Ngộ Châu.
            Các ông Huỳnh và Hoàng là những chuyên viên trong giới ngân hàng, rồi ngay ông Lê cũng không phải là một văn gia, ấy vậy mà Bách Khoa phải kể là một trong những tờ báo thành công nhất ở miền Nam trong ngót hai mươi năm. Đó là chỗ lý thú trong tình hình sinh hoạt của thời kỳ văn học này.”
(Văn Học Miền Nam – tổng quan, Võ Phiến, trang 238)

            Đoạn này nhà văn Võ Phiến hình như cố tình viết không rõ về hai sự kiện ông Huỳnh Văn Lang và Hoàng Minh Tuynh “rút lui ra khỏi chính quyền” và việc “tờ Bách Khoa cũng dần dần chuyển về ông Lê Ngộ Châu”. Xem lại quyển Ký Ức Huỳnh Văn Lang (tập 1) do tác giả xuất bản năm 2011, có đoạn viết:

             “Sau 6 tháng hoạt động, 30 thành viên toàn là chuyên môn quyết định, mỗi người bỏ ra 1000 đồng (trừ ra một GS chỉ chịu hùn 500 đồng thôi, vì xem như là bố thí), để phổ biến những nghiên cứu của Hội trên một tạp chí.
            Và Bách Khoa Tạp chí đã ra đời. Số 1 phát hành ngày 15 tháng 1 năm 1957, người viết kiêm chủ nhiệm và chủ bút cho đến năm 1963 phải giao cho anh thư ký tòa soạn Lê Ngộ Châu, vì bị chế độ “người lính cai trị” bắt đi bắt lại ba bốn lần giam giữ sau trước gần ba năm.”
(Ký Ức Huỳnh Văn Lang tập 1, trang 624)

            Sự kiện người Thư ký Toà soạn Lê Ngộ Châu được giao toàn quyền điều hành tiếp tục tờ Bách Khoa trong một biến cố bất ngờ như thế đã cho chúng ta hiểu rằng vị Thư ký Tòa soạn này đã thực sự đóng một vai trò rất tích cực đối với tờ báo từ nhiều năm tháng trước đó. Về tài làm báo cùng kiến thức, tính tình của ông Lê Ngộ Châu, xem lại hồi ức của nhiều nhà văn cộng tác, thấy ai cũng yêu mến và kính phục ông.


Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984)

            Ý kiến của Nguyễn Hiến Lê, người cộng tác với Bách Khoa từ 1957 đến 1975:

             “Ông Châu làm việc rất siêng, đọc hết mọi bài nhận được, đăng hay không ông đều báo cho tác giả biết. (...) Tôi mến ông vì ông có tinh thần trách nhiệm, làm việc đàng hoàng, biết cương quyết giữ vững chủ trương cả khi báo suy, biết xét người, xét văn và có tình với người cộng tác: ai gặp nạn gì ông lại nhà thăm, tìm mọi cách giúp đỡ; nhất là sau vụ Mậu Thân, ông rất băn khoăn lo lắng về các anh em bị kẹt trong vòng máu lửa.” (Trích từ “Đời viết văn của tôi” của Nguyễn Hiến Lê)

            Nhà phê bình văn học Đặng Tiến, trong bài viết tưởng niệm khi nghe tin ông Lê Ngộ Châu qua đời (vào ngày 24 tháng 9 năm 2006), có đoạn đánh giá Lê Châu – như cách gọi của anh em văn nghệ – như sau:

             “Nhờ đức tính kín đáo, hòa nhã, Lê Châu đã tập hợp không những trên mặt báo nhiều khuôn mặt khác biệt, thậm chí trái ngược về hoàn cảnh, tính tình lẫn chính kiến, mà còn quy nạp được nhiều bè bạn đến từ những chân trời khác nhau, trong đời sống cụ thể hằng ngày. Chưa kể những tác giả sinh sống ở ngoài nước thường xuyên gửi bài về cộng tác.
            Lê Châu kiến thức rộng, thường xuyên giao tiếp với quan chức hay các nhà văn hóa danh vọng, nhưng luôn luôn từ tốn, trong cách ứng xử hàng ngày, với những người viết trẻ tuổi. Ông đặc biệt lưu tâm đến những người viết mới, viết từ các tỉnh nhỏ, đặc biệt là từ Miền Trung. Bách Khoa là một tờ báo phổ thông, chủ tâm vào những đề tài chính trị, quốc tế, kinh tế, khoa học, chỉ dành một phần cho văn học nghệ thuật, nhưng về lâu về dài đã có những đóng góp lớn lao cho bộ môn văn nghệ. Về sau, phần văn nghệ này lại là khối tài liệu quý giá.
            Lê Châu còn là gương sáng về đức khiêm tốn trí thức. Hai chữ Bách Khoa bình thường được dịch ra tiếng Pháp là Encyclopédie theo nghĩa từ điển bách khoa, hoặc tư trào Bách Khoa trong văn học Pháp thế kỷ XVIII; nhưng Lê Châu không nhận từ này, cho rằng quá to tát so với tờ báo. Ông dịch Bách Khoa là Variétés, sát nghĩa là “tạp chí” (…)
            Lê Châu là kẻ sĩ theo truyền thống, luôn luôn mực thước, trong nếp trung dung của cửa Khổng sân Trình và theo nếp mực thước, juste mesure của bực trí thức tân học. Trong đời sống, ông là người bảo thủ; trên cương vị chủ báo, ngược lại, ông khuyến khích văn chương trẻ và tư tưởng mới, nhưng chừng mực thôi.”
(Tạp văn: Lê Ngộ Châu, 160 Phan Đình Phùng – Đặng Tiến)


Lê Ngộ Châu (trái) gặp lại Võ Phiến trong chuyến đi Mỹ năm 1994

            Trong cuốn Văn Học Miền Nam tổng quan, nhà văn Võ Phiến đã ghi lại một nhận xét của nhà văn Nguyễn Hiến Lê mà chắc ông cũng đồng ý: “Tuy vậy kể là cây bút chủ yếu của Bách Khoa từ trước đến sau vẫn là hai người: Võ Phiến và Nguyễn Hiến Lê (xem Hồi ký Đời viết văn của tôi của Nguyễn Hiến Lê)”.
            Thế nào là cây bút chủ yếu của một tờ báo? Có cần đó là Chủ bút hay Chủ nhiệm không? Có cần là Thư ký toà soạn không? Không cần, vì những chức vụ ấy có những trách nhiệm khác phải lo, không đương nhiên phải viết lách gì cả ngoài những lá thư nhắc nhở nọ kia về việc điều hành, đường lối. Vậy có phải là người viết thường xuyên trong một thời gian dài cho tờ báo ấy? Có thể đó cũng là một điều kiện, nhưng số lượng các bài viết cũng không đương nhiên khiến cho một tác giả trở nên một cây bút chủ yếu, vì không ai đếm số bài để định giá mức độ ảnh hưởng của một cây bút.
            Theo chúng tôi, một cây bút gọi là chủ yếu của một tờ báo là một người thường xuyên, qua bài vở của mình, đem đến cho độc giả một ích lợi và ảnh hưởng tinh thần nhất định, được đa số độc giả biết giá trị và ham thích đón nhận. Hai vị Nguyễn Hiến Lê và Võ Phiến quả thật là những người như thế, có thể nói những đóng góp dài lâu của họ đã góp phần quan trọng tạo nên linh hồn của tờ báo.
            Thứ nhất, về phương diện bài vở, hai vị là những người đóng góp dài hơi nhất. Như trên đã nói, Nguyễn Hiến Lê gửi bài đầu tiên cho Bách Khoa ở số 4, ra ngày 1 tháng 3 năm 1957; Võ Phiến số 7, ra ngày 15 tháng 4, 1957. Từ thời điểm ban đầu đó, hai vị liên tục tham dự xây dựng nội dung tờ báo cho đến số cuối cùng, ra ngày 19 tháng 4, 1975. Về số lượng bài vở đã đăng trên Bách Khoa trong suốt 18 năm thì chắc chắn hai ông chia nhau ngôi thứ một/hai, có thể Võ Phiến nhiều hơn Nguyễn Hiến Lê, vì không những đóng góp phần sáng tác phong phú gồm truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tạp bút…, ông còn viết các mục khác (Thời sự Văn nghệ, Thời sự Chính trị…) và dịch các tác giả Tây phương, dưới các bút danh Tràng Thiên, Thu Thủy.
            Báo Bách Khoa tại 160 Phan Đình Phùng Sài Gòn càng về các năm sau càng biến thành một địa chỉ thân mật cho mọi người cộng tác, với tình thân như gia đình. Theo lời kể của bà Võ Phiến (vào tháng 10, 2017), năm 1960 khi Võ Phiến từ Qui Nhơn dời vào Sài Gòn để làm việc với bộ Thông Tin, chính Lê Ngộ Châu là người lo đi tìm nhà để thuê cho bạn, yểm trợ ngay các nhu cầu cần thiết cho một gia đình từ tỉnh mới về nơi đô thị. Các văn thi sĩ cộng tác đều coi báo quán là nơi gần gũi, tin cậy; những người đóng góp bài vở từ khắp mọi miền đất nước, khi có dịp về Sài Gòn đều ghé thăm Bách Khoa, như về một loại “nhà tinh thần” của mình.
            Chính trong loại tình thân và tin cậy có tính chất đại gia đình ấy, những người như Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, với uy tín và năng lực của mình, đã biến thành những “cây bút chủ yếu” của tạp chí Bách Khoa. Trước sau họ vẫn chỉ là người “cộng tác” thôi, không bao giờ giữ một chức vụ nào của tổ chức tòa báo. Nhưng họ vẫn là những “cây bút chủ yếu” đúng nghĩa.


Nhà báo Nguiễn Ngu Í

            Trong số những người tham gia vào Bách Khoa sớm nhất, phải kể đến Nguiễn-Ngu-Í (1921-1979, tên thật Nguyễn Hữu Ngư, còn có các bút hiệu Trần Hồng Hừng, Tân-Fong-Hiệb, Ngê-Bá-Lí v.v…) Ông là người đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn với giới viết lách, từ những nhà văn lớp trước như Nhất Linh, Đông Hồ, Lê Văn Trương, Đỗ Đức Thu, Nguyễn Vỹ… đến lớp sau như Bình Nguyên Lộc, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Võ Phiến, Nguyễn Văn Trung… Nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã viết: “Ngu Í chuyên nghề phỏng vấn, từng trải, có nhiều nhiệt tâm, văn có duyên”. Các đề tài phỏng vấn của ông và câu trả lời của giới cầm bút thời ấy vẫn còn giá trị cho người nghiên cứu văn học ngày nay lẫn mai sau.

Tác giả, trong buổi chào mừng Bách Khoa hồi sinh của bạn bè. 15-10-2017
(Ảnh: Tiểu Bích)

            Sau cùng, nên nói đến một vấn đề tế nhị liên quan đến tờ báo Bách Khoa, là tên gọi của nó qua những năm tháng thăng trầm. Chúng ta vẫn gọi chung tờ báo là Bách Khoa từ số đầu đến số cuối, nhưng cũng nên biết rằng để giữ được hai tiếng Bách Khoa vững chắc và thân yêu ấy, nó phải theo thời mà có những biệt danh đi kèm. Đây là những cái mốc cho những biến thiên ấy:

            1) BÁCH KHOA: Số 1 (ngày 15/1/1957) đến số 193-194 (15/1 và 1/2/1965)
            2) BÁCH KHOA THỜI ĐẠI: số 195 (15/2/1965) đến số 312 (1/1/1970)
            3) trở lại tên BÁCH KHOA: số 313-314 (Xuân Canh Tuất) (15/1 và 1/2/1970) đến số 377 (15/9/1972)
            4) ĐẶC SAN BÁCH KHOA: số 378 (1/10/1972) đến số 379 (15/10/1972)
            5) GIAI PHẨM BÁCH KHOA: số 380 (1/11/1972) đến số chót 426 (19/4/1975)

            Tất cả những việc vẽ vời “làm cho khác” tên gọi như thế thì hoặc là vì lý do chính trị (cho khác với tên gọi từ “chế độ cũ”), hoặc để thích ứng với chế độ kiểm duyệt hoặc luật báo chí về sau. Thời gian qua, những cái đó được hiểu chỉ là những thủ thuật né tránh để sống còn, và sống còn luôn luôn với cái tên khai sanh của nó: Bách Khoa. Vậy chúng ta trước sau chỉ nên gọi nó là BÁCH KHOA.


22 tháng Mười, 2017
PHẠM PHÚ MINH

________________________________________________________
* Độc giả nào muốn có đĩa DVD toàn bộ báo Bách Khoa, xin liên lạc với tác giả bài này ở địa chỉ: phamxuandai@yahoo.com


http://phamxuandai.blogspot.com/