Tác giả Chủ đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)  (Đã xem 40195 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #30 vào: 11/12/2017, 22:24:40 »


Tín ngưỡng của Albert Einstein*
000
Sau đây là lời tự thuật của nhà bác học Albert Einstein
tỏ bày rõ quan niệm của ông về Đời Sống và Tôn Giáo,
đã đăng trong cuốn THE FAITH OF SCIENTISTS.

SỰ NGHIÊN CỨU khoa học có thể làm giảm các điều mê tín bằng cách khiến con người suy xét và khảo sát sự vật theo quan niệm nhân quả. Các sự nghiên cứu khoa học cao đẳng đều dựa trên lòng tin tưởng mạnh mẽ gần như một đức tin rằng vũ trụ biến hóa một cách hợp lý và dễ hiểu.
         Tôi thầm tin và cảm thấy một cách sâu xa rằng có một trí giác cao cả đã tự biểu lộ ra trong thế giới thực nghiệm; và đó chính là quan niệm của tôi về Thượng Đế.
         Tìm hiểu ý nghĩa của sự sống nhân loại, và đi rộng ra sự sống của thể chất hữu cơ, đó là một vấn đề bao hàm tôn giáo. Đừng tưởng rằng đó là một vấn đề vô nghĩa, vì kẻ nào khinh thường ý nghĩa đời sống của mình và của tạo vật chung quanh mình, không những là đáng thương hại mà còn không đáng sống nữa.
         Vậy mà người ta ở đời, ai chẳng có một vài lý tưởng làm định hướng cho hành động và óc phán đoán của mình? Theo nghĩa này tôi không cho rằng phong lưu và hạnh phúc là mục đích cuối cùng và chỉ những kẻ có một căn bản luân lý thấp kém mới lấy những điều đó làm lý tưởng. Những lý tưởng đã soi sáng tôi trên đường đời và giúp tôi thêm can đảm để đương đầu với cuộc sống là: Chân, Thiện, Mỹ.
         Nếu ta không cảm thấy mối tình thân ái giữa những người cùng chí hướng, cùng đeo đuổi cái vô cùng tận trong nghệ thuật cũng như trong khoa học, đời sẽ đáng chán ngán biết bao? Đáng khinh thay của cải, danh vọng và phong lưu là những mục đích của thường nhân!
         Nói ra thì có vẻ mâu thuẫn, nhưng mặc dù tôi ít giao thiệp trực tiếp với cá nhân hay đoàn thể khác, tôi vẫn say sưa với ý niệm công lý xã hội và trách nhiệm xã hội.
         Nền dân chủ là lý tưởng chánh trị của tôi, theo đó cá nhân là của mỗi người sẽ được tôn trọng và không ai có thể tôn thờ như thần thánh… Vũ lực bao giờ cũng hấp dẫn những kẻ thiếu đạo đức và tôi tin rằng những kẻ hèn mạt bao giờ cũng nối gót các nhà độc tài sáng suốt, vì vậy tôi hết sức phản đối những chế độ như ta hiện thấy ở nước Nga ngày nay.
         Theo ý tôi không phải cái quốc gia chính trị là thực thể quý báu nhất trong đời sống hàng ngày của nhân loại, mà chính là cá nhân với óc sáng tạo, với cảm tình và nhân cách của nó, chỉ có cá nhân mới sáng tạo cái cao quý và cái tuyệt tác mà thôi.
         Cái điều đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể thưởng thức được là sự huyền bí; sự huyền bí chính là cái cảm giác căn bản nguyên khởi của chân khoa học và chân mỹ thuật; ai mà không có ý thức về sự huyền bí và không thể cảm thấy sự linh diệu nữa thì cũng như kẻ đã chết, như ngọn nến đã tắt đi.
         Được ý thức sự hiện hữu của một thực thể mà chúng ta không thể nào hiểu biết thấu đáo, nhận biết được cái lý trí sâu xa nhất, cái đẹp tráng lệ nhất, mà hình như chúng ta chỉ có thể lĩnh hội được một cách hết sức sơ lược, đó chính là nền móng của một thái độ tôn giáo chân chính. Theo nghĩa ấy, và chỉ theo nghĩa ấy, tôi là một giáo đồ thâm tín. Tôi còn dám mong mỏi gì hơn là cảm thấy sự huyền bí của tính cách vĩnh viễn của sự sống, biết một cách thô thiển cách tổ chức tuyệt diệu của thực thể, và luôn ấp ủ một lòng mong mỏi được hiểu một phần, dù hết sức nhỏ mọn, cái Nguyên lý mà tôi hằng thấy biểu lộ trong thiên nhiên.
         Trong thánh đường khoa học có nhiều gian khác nhau và những kẻ ở trong ấy và mục đích của họ cũng khác nhau xa. Có kẻ đeo đuổi khoa học vì lòng tự cao tự đại về óc thông minh hơn người của mình, dùng khoa học để thỏa mãn lòng ham danh vọng của mình; có kẻ lại dâng sản phẩm trí tuệ của mình lên bàn thờ khoa học cho những mục đích hoàn toàn vụ lợi. Hai hạng này đông đến nỗi nếu một Thiên Thần của Thượng Đế đuổi họ ra khỏi thánh đường thì đền sẽ trở nên vắng vẻ trông thấy. Tuy vậy ta cũng sẽ thấy lác đác năm bảy người thuộc cả quá khứ lẫn hiện tại còn lưu lại trong đền. Phần đông có dáng điệu kỳ dị, ít giao thiệp, sống lẻ loi, và mặc dù có những đặc tính chung nói trên, vẫn ít giống nhau hơn những kẻ bị sa thải.
         Mục đích của họ đến đấy làm gì?
         Chính vì họ đã mong mỏi, tuy một cách âm thầm, thoát ly khỏi đời sống cá nhân để đi vào thế giới khách quan của cảm giác và tư tưởng; lòng ham muốn này ví như lòng ham muốn của một kẻ ở chốn thành thị khao khát thoát ly cảnh tượng ồn ào đông đảo quanh mình, để đi tìm những nơi non cao vắng vẻ cho mắt mình có thể tự do bao quát cả không gian êm ả và tinh túy hoặc tìm tòi một cách trìu mến những hình dáng dịu dàng hình như đã được xây đắp để tồn tại vĩnh viễn vậy.
         Ngoài mục đích tiêu cực này, còn có mục đích cá nhân nữa. Con người gắng tạo tác một hình ảnh đơn giản và dễ hiểu của vũ trụ hợp với mình nhất, đoạn rồi thay thế một phần nào cái vũ trụ quan của mình cho thế giới thực nghiệm bên ngoài và cố gắng chế ngự thế giới ấy.
         Con người sẽ lấy cái vũ trụ này và cách cấu tạo của nó làm nòng cốt của đời sống xúc cảm của mình để tìm sự thanh bình và yên tâm hoàn toàn, những điều mà họ không thể tìm thấy trong đời sống cá nhân chật hẹp và điên đảo.
         Trọng trách tối cao của nhà vật lý học là tìm ra những định luật bao quát và đơn giản có thể làm khởi điểm cho một vũ trụ quan xây dựng hoàn toàn bằng phép diễn dịch.
         Những kẻ làm việc đó phải có một tâm trạng giống như tâm trạng tín đồ tôn giáo hay của kẻ yêu đương; cố gắng hằng ngày của họ không phát xuất ra tự một chương trình vạch sẵn mà tự ở tâm hồn mà ra.
         Ai có tâm huyết phải có trách nhiệm hết sức cố gắng làm cho giáo lý vị nhân này trở nên một động lực sống trong hoàn cảnh nhỏ bé của mình. Những kẻ nào thực tâm noi theo lý tưởng đó mà không bị người đồng thời chà đạp thì những kẻ đó và xã hội trong đó họ sống, có thể được xem như là may mắn lắm vậy.


NGUYỄN MỪNG dịch

___________________________________________________
* Bản dịch này đã đăng trong báo Lành Mạnh xuất bản tại Huế.


BÁCH KHOA |  SỐ 2

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #31 vào: 11/12/2017, 22:59:13 »


Tứ đức mới của phụ nữ Việt Nam

NỀN LUÂN LÝcũng như phong tục, tập quán là sản phẩm của chế độ xã hội. Thế nên nó không phải là bất đi bất dịch mà nó thay đổi theo thời gian và không gian.
         Luân lý dưới thời phong kiến cho rằng tam-tòng tứ-đức là khuôn vàng thước ngọc với người Phụ nữ Việt Nam. Ngày nay nhiều bạn Nam giới cũng như Nữ giới thường đặt câu hỏi: “tam-tòng tứ-đức nên giữ hay nên bỏ?” Câu hỏi ấy cũng được đa số trả lời là “Tam-tòng thì nên bỏ vì nó làm mất cả phẩm giá và tự do của người phụ nữ, nhưng tứ-đức thì không nên bỏ”.
         Người phụ nữ cần có tứ-đức là: công, dung, ngôn, hạnh. Điều đó rất đúng. Nhưng theo ý chúng tôi, sống mỗi ngày một thay đổi, người ta mỗi ngày một tiến bộ; vậy nên công, dung, ngôn, hạnh, tuy căn bản vẫn như xưa, nhưng nội dung của mỗi chữ có phần nào biến chuyển.
         CÔNG: Xưa kia, công là lo công việc trong nhà như may vá, thêu thùa, nấu nướng, tô điểm cho gia đình thêm vui. Ngày nay ngoài việc gia đình, công còn có nghĩa là mỗi người phụ nữ phải có một nghề lương thiện để tự nuôi mình và nuôi gia đình mình. Lúc bình thường, chị em góp sức với chồng làm cho quỹ gia đình dồi dào hơn, mức sống được nâng cao hơn. Khi gặp hoàn cảnh khó khăn, chị em không tới nỗi bối rối. Có một nghề, chị em thấy đỡ chật vật lúc chồng đau không đi làm được, bớt chơ vơ khi không may chồng chết để lại con thơ. Chị em lại có thể đảm đương tất cả trong gia đình, cho chồng rảnh rang lo việc nước khi quốc gia hữu sự. Thật ra, chị em công nhân, nông dân, lao động, đa số có nghề nghiệp và tự tay các chị em đã giúp chồng nuôi sống gia đình. Nhưng còn biết bao nhiêu chị em khác đang sống ỷ lại vào chồng. Đó là một trở ngại lớn trong việc giải phóng phụ nữ.
         Công không phải chỉ có một nghề nuôi sống mà thôi; chị em còn phải rèn luyện cho mình nghề mỗi ngày một thêm tinh xảo. Ngoài ra, Công còn có nghĩa là lo công việc xã hội và việc quốc gia. Lo cho mình, ta cũng nghĩ đến những kẻ mồ côi nghèo khó. Bản thân chịu đau đớn lúc sanh đẻ, ta phải nhớ đến chị em nghèo sanh trong cảnh thiếu hụt, ốm đau. Đó là chưa nói đến trong tương lai, việc kiến thiết nước nhà phải cần rất nhiều bàn tay phụ nữ trong các ngành kỹ nghệ, thương mại v.v…
         DUNG: Dung là sắc đẹp, cái đẹp xưa kia yểu điệu thướt tha, như liễu yếu đào tơ không còn hợp thời nữa. Nhưng cái đẹp sống sượng lõa lồ, có tánh cách ngoại lai, phản bội cái phong thái kín đáo, dịu dàng của người phụ nữ phương đông, cũng cần phải bài trừ. Chúng ta phải cổ động bỏ lối ăn mặc khêu gợi để giữ phẩm cách cao quý của người đàn bà biết trọng mình, trọng người. Người phụ nữ Việt Nam ngày nay không là món đồ chơi của người đàn ông, cũng không phải phục tùng đàn ông vô điều kiện, thì quan niệm đẹp của ta cũng có phần đổi khác. Chị em ta nên thích một cái đẹp khỏe mạnh, trong sạch kín đáo, nó làm cho người trông “càng ngắm càng trọng, càng nhìn càng ưa”, mà tuyệt nhiên không dám có một tư tưởng xấu xa. Cái đẹp lại cần phải tự nhiên, đơn giản. Không phải trang điểm quá lố, ăn mặc lòe loẹt mới là đẹp. Son phấn dùng vừa phải, phơn phớt làm nét mặt chị em thắm tươi, dịu dàng dễ coi. Áo quần không cần kiểu cách, màu sắc tươi đẹp không sặc sỡ, chỉ tăng thêm vẻ khả ái của người Phụ nữ Việt Nam.
         NGÔN: Ngôn là lời nói. Ngoài việc trình thưa, vâng, dạ trong gia đình như xưa, chị em ta phải biết trình thưa vâng dạ ngoài xã hội nữa.
         Ngôn của chị em ta ngày nay là ăn nói đúng đắn, đoan trang, không rụt rè e lệ. Thấy đúng dám khen, thấy sai dám phê bình, nhưng phải lựa lời, tùy theo trường hợp và hoàn cảnh nhắm mục đích phê bình xây dựng hơn là dùng lời lẽ chua cay, nói móc để đả phá hoặc mạt sát người ta. Ôn tồn, êm ái phát biểu thẳng thắn được cảm tưởng của mình đối với một người hay một việc làm, chị em ta sẽ xóa bỏ được câu mà từ xưa tới giờ người ta thường gán cho phụ nữ là: “Phụ nữ trước mặt hay nể nang, nhưng sau lưng hay nói lén” hoặc “phụ nữ hay ngồi lê đôi mách”. Chị em ta cũng nên mạnh dạn nói, nhưng nói vừa đủ, việc đáng nói hãy nói để khỏi rơi vào tình trạng ba hoa (nhiều lời mà không ích lợi), để làm sao chôn được câu nói của cổ nhân đã bất công gán cho phụ nữ là “phụ nhân tràng thiệt” (đàn bà lưỡi dài). Ngôn lại còn có nghĩa nữa là chị em dám nói ý nghĩ của mình nơi công cộng hay trên báo chí, sách vở để làm cho tiếng nói đúng đắn của người phụ nữ được vang trong xã hội, đừng để cho một số “phụ nữ râu”, mang danh phụ nữ phát biểu ý kiến dùm chị em, và tiếc thay! Nhiều khi tư tưởng phản lại quyền lợi chị em.
         HẠNH: Hạnh là tánh nết đoan trang, hành vi giữ theo đạo đức. Hạnh ngày nay là nết na phải thế nào để cho nhân dân thương mến, quần chúng nể vì và kính phục. Ăn không ngồi rồi, vui với vài ba con tổ tôm, tứ sắc, đâu phải là thói hay nết tốt của người Phụ nữ Việt Nam mới. Có biết bao thú vui cao thượng nâng cao đức hạnh cũng như kiến văn của chị em, nếu chị em vui lòng thưởng thức. Chị em phụ nữ ngày xưa thường làm bạn với cầm, kỳ, thi, họa. Ngày nay, há chị em ta chẳng nên vui cùng sách vở đúng đắn, ưa thích văn chương lành mạnh hay âm nhạc, tuồng hát, màn ảnh có tánh cách xây dựng hay sao? Còn điều này chúng ta cần chú trọng là làm cho người vừa cảm mến, vừa kính phục mới là đáng quý. Còn như bộ điệu không đoan trang để quyến rũ người thì dù bề ngoài có được đối đãi tử tế một phần nào mà bề trong “lòng khinh rẻ đã dành một bên”. Hơn nữa, dù người biết, dù người không, ta vẫn luôn luôn giữ gìn tư cách, không tà ý, không những chuyện đồi phong bài tục, khiến lương tâm có thể trách mình. Cái câu: “ông ăn chả, bà ăn nem” phải được vùi sâu chôn chặt để không ai còn nhắc nhở tới nó nữa.
         Trên đây là một quan niệm về tứ-đức mới của người Phụ nữ Việt Nam trong một nước Việt Nam độc lập, dân chủ mà Hiến pháp đã nhìn nhận quyền “Nam-Nữ bình đẳng”.
         Thời đại ngày một văn minh, đời sống mới ngày một đổi mới. Những cái hay xưa ta vẫn giữ, song ta phải hiểu rõ như thế nào cho hợp thời, hợp cảnh thì cái hay mới có một tia giá trị thực tế, mới phụng sự được nhân dân, mới xứng đáng là hay hoàn toàn vậy.


MINH TIẾN


BÁCH KHOA |  SỐ 2

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #32 vào: 15/12/2017, 17:19:27 »
BÁCH KHOA |  SỐ 3  [15 tháng Hai  1957 |  74 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Một ít nhận xét về phong trào Hợp tác xã |  1-4
Bách-Khoa |  Một cách xét người của Khổng Tử |  4
Hoàng Minh Tuynh (dịch) |  Trách nhiệm người Công giáo đối với Hòa bình \ Hồng y Saliège|  5-8
Hoàng Minh Tuynh |  Bạn Đào Văn Tập không còn nữa! |  8
Phạm Ngọc Thảo |  Góp ý kiến về Thiên “Mưu Công” của Binh Thư Tôn Tử |  9-13
Bách-Khoa |  Mạnh Tử định nghĩa “đại trượng phu” |  13
Minh Phong |  Kỹ thuật “Đông Miên” áp dụng vào trường hợp Bà Ellen Moore |  14-17
Bách-Khoa |  Thiên cao thính đê |  17
Nguiễn Ngu Í |  Nỗi lầm than của dân Trung Hoa đời nhà Đường qua vài bài thơ của Đỗ Phủ |  18-19
Thiềm Mai |  Khai bút, một lối chơi Xuân của nhà Nho |  20-22
Bách-Khoa |  Cũng là “Tự ti mặc cảm” |  22
L. G. |  Hạnh phúc lao động là ở chế độ dân chủ xã hội |  23-26
Bách-Khoa |  Một chút “thuật” chính trị của Mạnh Tử |  26
Phương Nhân |  Một gương kiên trinh và kiên trung: Nữ thi sĩ Sương Nguyệt Anh |  27-33
Phạm Duy Lân |  Bao giờ trời lại sáng? |  34-40
Thoại Nguyên |  Cái đẹp của chị em làm nghề “Vuốt ve đầu trẻ” |  41-44
Bách-Khoa |  Hai cách làm việc \ Trước sau một lòng |  44
Nguyễn Văn Ba |  Chân vệ sinh |  45-47
Bách-Khoa |  Cảnh vườn lớn và cảnh vườn nhỏ |  47
Nguyễn Huy Thanh |  Vấn đề tài trợ những tiểu xí nghiệp |  48-52
Yã-Hạc Nguyễn Văn Trung (dịch) |  Tìm hiểu nhau để tạo hạnh phúc \ André Maurois |  53-54
X. V. |  Tối tăm (truyện) |  55-59
Bách-Khoa |  Nghiêm khắc chật hẹp và dễ dãi xuề xòa |  59
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  60-62
Bách-Khoa |  Dụng nhân và xử sự theo Mạnh Tử |  62
Quảng cáo |  63-74


SAIGON |  1957




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #33 vào: 15/12/2017, 17:49:05 »


Góp ý kiến về Thiên “Mưu Công” của Binh Thư Tôn Tử

BỘ TÔN TỬ BINH PHÁP tuy viết cách đây hơn 2.500 năm, nhưng tới nay vẫn còn ảnh hưởng to lớn đến những nhà quân sự ở Đông phương cũng như Tây phương.
         Tại sao vậy?
         Nghiên cứu lại tiểu sử của Tôn Tử ta thấy gia đình người nguồn gốc ở nước Tề, lúc bấy giờ là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế, và quân sự của một nước tự xưng là Trung-Tâm Thế-Giới, tức là Trung Quốc. Ông cha của Tôn Tử là những nhà quân sự rành nghề nhưng cũng thấu hiểu về chánh trị, kinh tế và văn hóa. Ngay ông thân của Tôn Tử lại thường giao thiệp và đàm luận với nhà triết lý trứ danh của Đông phương: Đức Khổng Tử. Trong hoàn cảnh xã hội và gia đình thuận tiện, Tôn Tử đã thấm nhuần một sự hiểu biết đầy đủ và sâu sắc về văn hóa, chính trị, kinh tế và nhứt là quân sự. Chính vì thế nên Binh Pháp của người không phải là một mánh khóe quân sự để giải quyết một trận tác chiến, mà đến thời kỳ nguyên tử lực vẫn còn giá trị đối với các nhà quân sự trên khắp thế giới. Cũng chính vì thế mà Tư Tưởng trong Tôn Tử Binh Pháp chẳng những có thể làm sáng tỏ vấn đề quân sự mà còn có thể áp dụng trong nhiều phạm vi khác nữa, như Triết học, Khoa học, Y học v.v…



         Vậy ta thử nghiên cứu một trong mười ba thiên của Tôn Tử Binh Pháp, thiên nói về MƯU CÔNG
         MƯU CÔNG có nghĩa là mưu kế công kích, hay nói một cách khác, kế hoạch công kích thành lũy, hay nói dễ hiểu hơn nữa là cách đánh đồn, cách hãm thành.
         Trong phần đầu, Tôn Tử trình bày tư tưởng căn bản của phép Mưu công. Tôn Tử nói:

               “Phàm cách dùng binh…
               Lành Nước là hạng trên, vỡ Nước là hạng kém,
               Lành quân là hạng trên, vỡ quân là hạng kém,
               Ấy cho nên trăm trận đánh trăm trận được không phải là tướng giỏi trong những người giỏi. Không đánh mà làm khuất phục được quân địch, ấy là tướng giỏi trong những người giỏi.
               Cách đánh thành là bất đắc dĩ.
               Cho nên không nhụt binh mà được toàn lợi, ấy là cái phép mưu công đó”.

         Như vậy ta thấy Tôn Tử cho rằng công kích thành kiên cố là sự bất đắc dĩ vì sẽ đem đến kết quả là vỡ Nước và vỡ quân.
         Những quân nhân đã từng công đồn hãm thành, chắc chắn đồng ý với Tôn Tử. Dù tấn công có đông lực lượng và hỏa lực mạnh, sự đột nhập một vị trí kiên cố thường đem lại một sự tổn thất nặng nề. Một người lính trong phòng tuyến cố thủ có thể kiềm chế hiệu quả hàng chục người tấn công vào.
         Lấy kinh nghiệm đã qua, ta thường thấy những đơn vị chuyên về công-kiên-chiến thường bị tiêu hao khá nhiều về cán bộ và lính giỏi. Vì những động tác vượt hàng rào dây thép gai, qua bãi chông, leo tường, phá lỗ châu mai là những động tác đòi hỏi chẳng những một sự tập luyện thuần phục tại thao trường mà còn phải có một sự thử thách dưới làn đạn. Khi công thành, những tuyến xung phong thứ nhất, thứ nhì thường cần phải gồm đại đa số là lính cũ có nhiều kinh nghiệm. Cán bộ chỉ huy cũng phải được tăng cường ít nhất gấp đôi so sánh với một trận tác chiến ngoài trời. Như vậy đã công đồn thì dù thắng dù bại, phe công kích nếu có bị thiệt hại về quân số, thường thường phần lớn là quân số tinh nhuệ.
         Đào tạo một lính giỏi có kinh nghiệm tại chiến trường là một việc khó. Đào tạo một sĩ quan biết cầm quân tại mặt trận là một việc khó hơn nữa. Những quân nhân ấy là vốn rất quí và chính họ định đoạt giá trị của một quân đội hơn là nhưng khẩu súng tốt.
         Vì thế nên đối với Tôn Tử “đánh thành là bất đắc dĩ” vì nó sẽ làm vỡ quân.
         Đến ngày nay tư tưởng đó vẫn còn đúng. Tuy súng ống phá thành có tối tân hơn, nhưng kỹ thuật xây đồn, đắp lũy cũng tiến song song, cho nên, những trận công-kiên-chiến đối với nhà quân sự vẫn là một sự bất đắc dĩ và chỉ nên thực hiện khi nào vị trí đó có một giá trị tương xứng với sự hy sinh về quân lực của kẻ tấn công.
         Nhưng trong trường hợp cần phải công thành thì Tôn Tử chủ trương ra sao?
         Tôn Tử chủ trương nhất là dùng mưu, thứ là dùng giao, chót hết mới đến việc đánh thành.
         Dùng mưu tức là không phải lấy sức mạnh đấu với sức mạnh. Nói đến dùng mưu là nói đến nghiên cứu tất cả ưu và nhược điểm của thành về phương diện vật chất cũng như tinh thần. Phải xem chỗ nào hỏa lực kém, phiên gác nào hơ hỏng, hay thói quen của binh sĩ trong đồn, tánh tình của các chỉ huy để rồi tùy đó mà định kế hoạch.
         Dùng giao tức là sự giao thiệp, cổ động tuyên truyền những việc mà đời nay người ta thường gọi là địch vận tức là vận động địch thù.
         Sau hết mới là dùng đến sức mạnh: sức mạnh về võ khí và sức mạnh về người.
         Lẽ tức nhiên cũng có thể phối hợp các phương thức trên.



         Đi sâu vào chiến thuật, Tôn Tử nêu lên mấy nguyên tắc xử dụng lực lượng:

               “Nếu quân ta gấp mười quân địch thì ta vây họ.
               Nếu quân ta gấp năm quân địch thì ta đánh họ (ý nghĩa là công hãm thành).
               Nếu quân ta gấp đôi quân địch thì ta chia sức họ.
               Nếu quân ta bằng sức quân địch thì ta phải chiến đấu với họ.
               Nếu quân ta ít hơn quân địch thì ta phải giữ thế thủ.
               Nếu quân ta kém sức quân địch thì ta phải tránh họ”.

         Trong mấy nguyên tắc trên, một điều rõ ràng là nếu tương quan lực lượng giữa kẻ tấn công và kẻ bị công kích không hơn ít nhứt gấp năm lần thì trận công thành không trọn vẹn. Dưới tỷ lệ gấp năm, thì hoặc tìm cách chia lực lượng địch để có thể đánh, hoặc tạo điều kiện cho họ ra ngoài để có thể chiến đấu hoặc tránh hẳn việc công thành.
         Khi bàn đến tương quan lực lượng, điều cần chú ý không phải vấn đề đem quân số so sánh với quân số của kẻ trong và kẻ ngoài thành.
         Tương quan lực lượng phải tính về tất cả các phương diện: quân lực và hỏa lực. Trong phép toán này cần phải nghĩ đến trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm chiến đấu, tinh thần dũng cảm v.v…
         Nếu một bên có năm tân binh và một bên có một anh lính cũ, giàu kinh nghiệm chiến trường, cũng không thể coi là bên này mạnh gấp năm bên kia.
         Nếu một bên có năm trung liên nhưng không có chỗ đặt để bắn và bên kia có một trung liên nhưng xạ giới rộng rãi, cũng không thể coi hỏa lực bên này gấp năm hỏa lực bên kia.
         Chính việc so đo tương quan lực lượng sai lầm mới đem kết quả tai hại cho kẻ chủ công. Kinh nghiệm cho biết khi tổ chức một công đồn mà quên giữ đúng mức tương quan lực lượng nói trên thì trận đó trở nên hết sức phiêu lưu mạo hiểm.



         Trong phần chót của thiên Mưu Công, Tôn Tử vạch lên những yêu cầu căn bản của một tướng quân.
         Tuy mới đọc qua không thấy sự liên hệ mật thiết giữa những yêu cầu này với chiến thuật công thành, song có lẽ Tôn Tử muốn nhấn mạnh đây là điều yêu cầu đặc biệt cần thiết cho một tướng quân lúc chỉ huy công thành.
         Tôn Tử nói:

               1°/ “Không biết quân mình có thể tiến mà sai quân mình cứ tiến.
               – Không biết quân mình có thể lui mà lại sai quân mình cứ lui,
               – Như thế là làm khổ cho quân lính.
               2°/ Không rõ việc nhà binh mà lại tham dự việc nhà binh, khiến cho quân-tâm ngờ vực.
               3°/ Không rõ quyền hành nhà binh mà lại tham dự đảm nhận quyền hành nhà binh thì quân lính sanh nghi; lính đã nghi thì các nước Chư Hầu sẽ khởi loạn, như thế chỉ làm loạn quân-tâm và khiến ta thất bại thôi”.

         Để nói rõ thêm, Tôn Tử vạch năm điều để bảo đảm thắng lợi:

               1°/ “Biết có thể hoặc không có thể chiến đấu thì thắng.
               2°/ Biết cách điều động số quân nhiều hoặc ít thì thắng.
               3°/ Trên dưới một lòng cùng một nguyện vọng thì thắng.
               4°/ Lấy sự mưu tính đối đãi với kẻ không mưu tính thì thắng.
               5°/ Tướng giỏi mà không bị vua kiềm chế thì thắng”.

         Điều yêu cầu thứ nhứt là:
         Tướng phải hiểu quân mình và quân địch.
         Biết khả năng của quân sĩ của ta và của địch để định đoạt sự tiến thoái. Biết được tấm lòng và nguyện vọng của binh lính để có thể tiến hành công tác động viên tinh thần họ. Trong khi binh sĩ còn giữ kỷ niệm chua cay của những thất bại nặng nề vừa qua, mà tướng lại bảo ca hát: “Ta sẽ lấy phòng tuyến của địch làm chỗ phơi quần áo cho quân ta”, coi việc tấn công địch như là một cuộc du lịch thì ắt là không thể thắng được. Đặc biệt trong lúc công hãm thành, Tướng không nắm được tình hình quân mình và quân địch thì không thể thắng, trái lại, còn bị thiệt hại nặng nề. Lúc nào phải ra lịnh cho pháo ngưng bắn để cho quân lính xung phong, lúc nào phải cố tiến lên một mức nữa là thắng lợi mà dừng lại để bàn thêm là thất bại, lúc nào thúc lịnh cứ tiến mà không biết xoay mặt trận là giết quân lính mình vô hiệu quả? Muốn nắm đúng các thời cơ đó, người Tướng quân chỉ huy công thành, hơn lúc nào hết phải hiểu thấu đáo quân mình và quân địch.

         Điều yêu cầu thứ nhì là:
         Tướng phải hiểu rõ về chuyên môn quân sự, đặc biệt về chiến thuật công kiên.
         Đây muốn nói người Tướng phải luôn trau dồi về trình độ quân sự mình.
         Mỗi lần thắng được một thành, phải học ráo riết kinh nghiệm của những chỗ yếu, chỗ mạnh của thành đó và theo dõi sự biến đổi của các thành khác. Vì những nhược điểm của một cứ điểm ngày nay có thể trở nên những điểm mạnh của nó ngày mai. Những ức đoán sai lầm trong việc công thành phải trả một giá rất đắt.
         Tôi biết có những người chỉ huy có thể lấy sự gan dạ và nhanh chóng để định đoạt sự thắng lợi trong một trận tác chiến ngoài trời, nhưng tôi chưa từng gặp một người chỉ huy quân sự nào giỏi về công-kiên-chiến mà không phải là người chịu khó học tập về quân sự.
         Đối với một trận ngoài trời, nếu có điều động dư một trăm người cũng có thể tìm cách xử dụng họ hay ít nữa, cũng có chỗ ẩn tránh cho họ. Trong một trận công đồn, điều động dư mười người vào nội địa chẳng những không bảo vệ được họ mà tạo ra nhiều sự rối loạn, có thể sanh ra thất bại.
         Chính vì thế Tôn Tử có câu:
         “Biết cách điều động số quân ít hay nhiều là thắng lợi”.
         Công đồn không phải đông chừng nào là mạnh chừng nấy. Nếu cần hai người để phá một hàng rào thì dùng hai người. Không thể dùng một và cũng không thể ba hay bốn. Ít quá làm không xong việc, nhiều quá thì chỗ hẹp cản trở nhau làm địch chú ý, bị địch bắn chết hay bị thương cũng gây trở ngại cho sự tiến thoái chung.

         Điều Yêu cầu thứ ba là:
         Tướng phải hiểu rõ quyền hành nhà binh.
         Đây có lẽ muốn nói là: chỉ định tướng để giao quyền hành, cấp trên phải lựa chọn cho kỹ, nhưng đã lựa chọn rồi thì phải để cho họ đủ quyền hành chỉ huy. Việc quân sự không giống những việc xã hội hay văn hóa, người Tướng phải quyết định dứt khoát và mau chóng và nhận lấy trách nhiệm của quyết định mình đối với cấp trên. Tướng mà bị kiềm chế quá đáng là tướng vô dụng.
         Về điểm này của Binh Thư Tôn Tử, một nhà quân sự họ Hà đời xưa phê phán như sau: “Sự dùng binh, một bước trăm biến, thấy nên thì tiến, biết khó thì lui, thế mà phải đợi ở mệnh vua à? Có khác gì đi bẩm quan trên rồi mới cứu hỏa, chưa kịp trở về thì đám cháy đã thành tro nguội…
         Cho nên kiềm chế viên tướng giỏi mà đòi phải dẹp tan được đám giặc mạnh thì so với sự trói con chó săn mà bắt nó phải vồ được con thỏ, phỏng có khác gì”.
         Đặc biệt trong lúc công thành chẳng những người chỉ huy chung phải được rộng quyền mà ngay đến các cấp chỉ huy dưới cũng phải được trọn quyền quyết định trong phạm vi mình, căn cứ theo kế hoạch chung.
         Một đồn, một thành ít nhất là có ba mặt, một vị chỉ huy không thể ra lệnh kịp thời cho cả ba mặt trong những hành động chi tiết. Hơn nữa sự đối phó của địch có thể biến đổi trăm ngàn cách khác nhau, vì thế phải làm sao cho mỗi quân nhân thấm nhuần được kế hoạch chung rồi phát triển tự động tính căn cứ theo biến chuyển cụ thể của từng nơi.
         Kết thúc đoạn này, Tôn Tử lại thêm một câu mà những vị chỉ huy quân sự nổi tiếng lúc giải phóng đất nước họ, trở nên rất xoàng lúc đi xâm chiếm thuộc địa, chắc thấm thía lắm:
         “Một đại tướng đi phò Chu thì Nước Chu cường, phò Nước Khích thì Nước Khích suy”.
         Đó có lẽ Tôn Tử muốn nói đến vấn đề chánh nghĩa.
         Quân sự dùng để bênh vực chánh nghĩa mới có thể là quân sự thắng lợi và quân sự giỏi. Trái lại, tướng giỏi đi phục vụ cho kẻ quấy không thể giành được thắng lợi cuối cùng, và rốt cuộc sẽ bị đánh bại.



         Nghiên cứu qua một thiên của Binh Thư Tôn Tử, có lẽ nhà quân sự cũng tìm được một dịp để suy nghĩ thêm về chuyên môn của mình, nhà chính trị có thể thêm vững tâm vì thấy từ ngàn xưa lực lượng quân sự xây dựng trên một căn bản phi nghĩa chỉ có một giá trị hình thức.

PHẠM NGỌC THẢO


BÁCH KHOA |  SỐ 3

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #34 vào: 15/12/2017, 22:28:36 »


Khai bút, một lối chơi Xuân của nhà Nho

THONG THẢ nhưng mà liên tiếp, nặng nề nhưng không hì hục, trái đất lần xây. Sau 365 ngày – còn dư mấy phút mấy giây, xin tặng làm quà Xuân cho các nhà thiên văn – Sau 365 ngày, bánh xe tuần hoàn trở lại bến xưa để rồi làm lại công việc nàng Pénélope.* Lá phô xanh, hoa khoe thắm, trời mây non nước thi nhau tô điểm cho đượm vẻ trẻ trung. Qua ngày khai hạ, nông phu vác cày mổ lát đất đầu tiên, thương gia mở cửa rước mối hàng đầu tiên, năm mới ai ai cũng chúc mừng, mong mỏi, trù tính với một ý định: năm nay sẽ hơn năm ngoái. Thế mới biết: “nhất niên chi kế thỉ ư xuân” (việc lo toan một năm bắt đầu nơi mùa Xuân).
         Cào văn cuốc chữ, buôn trí, bán lời, cụ đồ cũng là một nông phu, một thương gia. Cụ tin nơi sự hên xui của đầu năm, cho nên đối với cây viết lông, tài nào cụ không thận trọng? Trước hết, dở lịch tàu, cụ chọn một ngày tốt, nguyên đán hay là trực khai. Ngày đó cụ sửa lại vành khăn chữ nhân trên trán, vuốt cho thẳng hai ống tay của áo lương đen. Cụ sắp văn phòng tứ bửu lên yên viết đặt trên chiếc chiếu kế, trước đỉnh trầm nghi ngút hay là bình bông thoảng hương. Rồi trầm mặc, chân xếp bằng, mắt lim dim, cụ như xuất trần để hái mấy vần thơ khai bút! Một khi cụ đã tỉnh lại thì Nàng Thơ cũng nhẹ nhàng, lanh lẹ về với linh hồn. Bây giờ nơi môi đỏ đã in dấu mực đen tỏ rằng cụ đã mấp mềm cây viết; lập tức, trên giấy hoa tiên hay hồng đơn rồng múa phụng bay, thao thao bất tuyệt.
         Thi hay chữ tốt! Cái kết quả của một năm mà biết đâu không phải vận mạng của một đời người, ngấm ngầm nằm trong đó.
         Bài khai bút có thể là thi ca, hay là câu đối. Cần nhất là nó phải làm mau và, tiến lên một bậc, nó phải là tấm gương tâm lý. Với những câu tả cảnh, tác giả vẫn không quên hiện tại, nhịp cầu vắt ngang trên hai bờ quá khứ và tương lai; nhưng người chú ý nhất về hoài bão xưa và nguyện vọng mới.
         Kẻ hoài nghi thì viết:

                  “Băm bốn năm qua trót dại rồi!
                  Từ nay ta thử học khôn chơi.
                  Đem cây viết cũ trau giồi lại,
                  Tô vẽ lăng nhăng một góc trời.”


         Kẻ ngạo đời thời nói:

                  “Đất khách mừng Xuân bằng nước… mắt.
                  Nhà nghèo chơi Tết có buồng… gan.”


         Bạn muốn nghe khẩu khí của một thi sĩ sao? Thì đây:

                  “Chiều ba mươi chôn chặt cây nêu, tiết trung trực đâm sâu vào địa phủ.
                  Sáng mồng một nổ đùng cái pháo, tiếng anh hùng bốc thẳng thiên cung!”


         Cũng vì khai bút là một tục lệ của con nhà có học nên từ nhỏ họ đã bắt buộc phải vâng theo. Ban đầu cha anh còn đọc cho những thành cú mà chép, như: “dương xuân cảnh sắc, đại khối văn chương” hay là: “thiên tăng tuế nguyệt, nhơn tăng thọ, xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường”. Rồi họ chỉ sơ về cấu từ mà để mình tự tìm lấy chữ, làm lấy câu. Lần lần con chim kia đủ cánh đủ lông mà cũng học đòi bay nhảy. Thành ra cái thú các cụ đầu bạc lại là cái nạn cho mấy cậu tóc mới bỏ trái đào.
         Tôi còn nhớ hồi mới mười một mười hai tuổi, tôi phải thi tài khai bút với năm sáu anh em trong họ. Với cái tuổi ấy, tôi còn ham đánh đáo, thả diều, thế mà phải làm thi, phải làm bằng chữ Hán, phải làm trong giây lát, trời ơi…!
         Miệng tôi gặm đầu cán bút mãi, tay tôi măn tà áo mãi, mặt tôi sượng đi, tai tôi ù lên, mắt tôi hoa rồi tuôn trào nước mắt. Mắc cở! mắc cở! Lêu lêu mắc cở! Ừ, vì muốn đề phòng cái mắc cở ghê gớm ấy, qua năm sau tôi làm một công việc vĩ đại: tôi thầm dự bị… bài thi khai bút… hai tháng trước để đến ngày mà đắc ý lòe đời!
         “Thi mộ tập nấy” lệ khai bút bây giờ chỉ còn gìn giữ nơi con cháu các đại gia hay là danh gia thôi. Mới đây tôi được thấy nguyên một tập khai bút của nhà một người bạn thân. Nó là hộ tịch bộ (registre de l’élat civil) của một gia đình, và cũng là một văn họa phẩm hay hay có giá trị, nhưng không phải để kỷ niệm Nguyễn Du đâu… Ta hãy hình dung một tập vở xa hoa, giấy tốt, bìa cứng, trong đó mỗi ngày, gái, trai, trẻ, tùy tuổi, tùy tài, ghi mối hoài cảm mình trong năm mới để mà đánh dấu thời gian.
         Cô dâu là một họa sĩ thì vài nét thủy mạc đơn sơ, cô khai mạc bằng hình chim oanh nhảy nhót trên nhành mai đơm đầy bông trắng. Vừa 11 tuổi, cháu út học ở lớp nhì, đã khéo gởi tấm lòng trong trẻo ngây thơ vào ít câu lục bát:

                  Xuân về vui sướng biết bao!
                  Trầm thơm, pháo nổ, bông đào lá xanh.
                  Hơn người, mình hẹn với mình,
                  Nhà yên nước thịnh, thái bình âu ca.


         Còn nói chi những cậu trai trẻ học ở lớp thành chung hay là tú tài.
         Cậu thì:

                  Chúm chím hoa mai hé nụ cười,
                  Vườn hồng, đươm đượm một màu tươi.
                  Chúa xuân về với bao hy vọng,
                  Mượn gió tung ra khắp đất trời.


         Cậu thì:

                  Xuân nữ còn đang nhoẻn nụ cười,
                  Đón chào ta hãy cứ vui chơi.
                  Lãng quên khói lửa trời Âu Á,
                  Trau chuốt vần thơ dạ thắm tươi.


         Thứ nhất là bút tích và giai phẩm của một cô gái hay ngâm. Dưới đây là bài thi khai bút ẩn màu man mác não nùng mà cô thảo hồi năm 1934.

                  Tin xuân vừa báo tới,
                  Cất bút bỏ tình hoài.
                  Thương bấy non sông cũ,
                  Buồn thay hoa cỏ ai.
                  Nổi chìm e phận gái,
                  Cay đắng sợ mùi đời.
                  Vui gượng cùng năm mới,
                  Anh em nô nức cười.


         Trông người lại ngắm đến ta. Nếu tôi nói rằng không khai bút bao giờ thì tôi tự lừa gạt tôi và là khiêm tốn giả. Còn nhớ xuân Tân tị (1941) bài thi đầu tiên của tôi như vầy:

                  Bên sông Bến Nghé bỗng xuân sang,
                  Khắp một trời nam tắm nắng vàng.
                  Bông giấy vươn mình khoe áo tía,
                  Cao su rung nhánh cởi đồ tang.
                  Ngọn đèn bất dạ soi kim cổ,
                  Tiếng pháo liên thanh dậy xóm làng.
                  Thời tiết này vừa thời thế ấy,
                  Dầu băm tám tuổi cũng xênh xang.


         Một điều tôi có thể cam đoan được là bài ấy, tôi ứng khẩu lập thành, chớ không soạn trước như hồi nhỏ nữa đâu. Sự tấn bộ ấy là chứng nghiệm rõ ràng về công dụng của quốc văn vậy.

                             Ngày xuân nhắn bạn
                  Nắng vàng lấp lánh trên cành biếc,
                  Gió nhẹ thung thăng dưới đóa hồng.
                  Xuân đã về đây tươi thắm lạ!
                  Gấm hoa thêu dệt khắp non sông.

                  Lư đồng nghi ngút tung hương xạ,
                  Chén ngọc rung rinh dợn rượu nồng.
                  Vui Tết trẻ em đương hớn hở,
                  Bên tường cho pháo nổ lung tung.

                  Thấy cảnh tưng bừng lại nhớ ai,
                  Nhắn cùng mây nước một đôi lời:
                  Tinh thần mới mẻ cùng năm tháng,
                  Phước lộc mênh mang tựa đất trời.

                  Rồi khi chợt tỉnh mộng thần tiên,
                  Chị có ghi chăng mấy chữ tên?
                  Lơ lửng bạch vân: đời mị định;
                  Bẽ bàng minh nguyệt: giấc cô miên.


THIỀM MAI

____________________________________________________________
* Pénélope là vợ Ulysse, một anh hùng thời cổ Hy Lạp. Trong suốt 20 năm trời Ulysse vắng nhà, nhiều người tới yêu cầu kết duyên cùng bà. Song bà khéo léo từ chối bằng cách hứa sẽ nhận lời bao giờ thêu xong bức lụa. Nhưng ban ngày thêu ban đêm bà lại tháo ra. Sau này câu: “Công việc nàng Pénélope” là chỉ một công việc không biết bao giờ xong được.


BÁCH KHOA |  SỐ 3

 

Ngủ rồi hoaico

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #35 vào: 16/12/2017, 08:33:56 »


TẠP CHÍ BÁCH KHOA

https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tap-chi/bach-khoa

NGUỒN namkyluctinh
 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #36 vào: 22/12/2017, 18:16:49 »
BÁCH KHOA |  SỐ 4  [1 tháng Ba  1957 |  76 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Tìm hiểu giá trị đồng bạc |  1-8
Hoàng Minh Tuynh (dịch) |  Trách nhiệm người Công giáo đối với anh em Vô thần \ Cha Riquet S.J. |  9-10
Phạm Ngọc Thảo |  Một ý kiến về vấn đề lãnh đạo tinh thần một đơn vị quân đội |  11-15
Bách-Khoa |  Làm bậc Thiên tử mà không để lòng vào ngôi Thiên tử |  15
Nguyễn Hiến Lê |  Edgar Poe đã sáng tác bài thơ bất hủ The Raven (Con Quạ) ra sao? |  16-23
Bách-Khoa |  Hai cách thức tỉnh người mê |  23
Tăng Văn Chỉ |  Thử tìm biện pháp thích ứng để nâng đỡ xuất cảng sản phẩm Việt Nam |  24-28
Bách-Khoa |  Có ai hiếu đức bằng hiếu sắc? |  28
Nguyễn Diệm Sơn |  Gõ đầu trẻ |  29-31
Bách-Khoa |  Vấn đề Bình cũ rượu mới |  32
Bách-Khoa |  “Để sở học một bên và làm theo ta đã!” |  32
An Châu |  Xuân ý (thơ) |  33
Hoàng Công Liên |  Trở về |  34-35
Bình Nguyên Lộc |  Hồn ma cũ (truyện) |  36-40
Bách-Khoa |  Ngựa xay lúa |  40
Yã Hạc & Trinh Nguiên (dịch) |  Hoàng tử sung sướng (truyện) |  41-44
Bách-Khoa |  Gương xưa |  44
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia (truyện dài) \ Từ Vu |  45-52
Bách-Khoa |  Được lòng dân thì không lo sợ gì |  52
Bách-Khoa đọc thay các bạn:
   |  Truyện Ông Nguyễn Hoãn, Bồi tụng Quốc sư đời nhà Lê và nàng Đặng Thị Huệ, ái phi của Chúa Tĩnh Đô |  53-55
   |  Tờ chiếu đầu tiên viết bằng quốc văn(?) |  55-56
   |  Nhiều ông già bà cả của nhà ta đã hiểu thuyết “Tri hành hợp nhất” của Vương Dương Minh mà không ngờ |  56-59
   |  Một đoạn trong lá thư khuyến giới của Thi Sách gởi cho Tô Định |  59
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  60-64
Quảng cáo  |  65-76


SAIGON |  1957




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #37 vào: 22/12/2017, 18:56:00 »


Edgar Poe đã sáng tác bài thơ bất hủ The Raven (Con Quạ) ra sao?

EDGAR POE sanh tại Mỹ ở đầu thế kỷ trước, được sắp vào hàng thi bá của thế giới và đã ảnh hưởng lớn đến các thi sĩ Pháp Mallarmé, Baudelaire… Ông nổi danh nhất về bài thơ Con Quạ (The Raven) mà những bạn nào thông tiếng Anh tất đã đọc qua.
         Trong bài Triết lý về sáng tác, ông kể cách ông cấu tạo bài thơ bất hủ đó ra sao.
         Hết thảy chúng ta đều phải có đầu đề rồi mới viết. Chẳng hạn nhìn thiên hạ nô nức đi sắm Tết, ta nẩy ra ý tả một mùa xuân thanh bình; hoặc nhân xa nhà nhớ quê, ta mới làm thơ diễn tình quyến luyến cố hương. Có đầu đề rồi, ta kiếm thêm ý, sắp đặt lựa chọn, tìm tiếng, đặt câu, thành một bài văn hoặc thơ dài, ngắn tùy cảm tình, ý tưởng của ta nhiều, hay ít. Đó là phương pháp sáng tác tự nhiên và thông thường.
         Edgar Poe thì ngược hẳn lại. Khi bắt đầu sáng tác bài Con Quạ ông chưa có một đầu đề nào cả, chỉ có ý muốn viết một bài thơ đẹp thôi, chưa hề nghĩ tới con quạ.
         Trước hết ông tự nhủ: Bài thơ không nên dài quá, nếu dài quá, đọc một kỳ không hết thì cảm tưởng của độc giả bị đứt đoạn, ngưng lại, mất tính cách nhất trí; mà cũng không được ngắn quá thì cảm xúc mới triền miên, hơi của thơ mới đủ để đưa tâm hồn độc giả lên cao. Và ông định rằng viết độ một trăm câu là vừa. Thực ra, bài Con Quạ dài 108 câu.
         Rồi ông xét tới điểm thứ nhì là cảm xúc định gây đó, nên cho nó ra sao? Ông tự đáp: Cảm xúc đó phải là sự thích thú. Ông theo quy tắc này: bản chất của thơ phải là đẹp. Dù muốn dùng thơ để tả một tâm trạng hay diễn một chân lý, thì tâm trạng, chân lý đó cũng phải được cái đẹp phủ lên, nếu không, sẽ không thành thơ, không đáng gọi là thơ.
         Mà theo ông, cái đẹp, khi nó tới cực độ thì bao giờ cũng làm người ta rỏ lệ, do đó giọng thơ phải buồn. Và do đó ông định thêm được một điểm nữa là bài thơ ông sắp viết phải áo não, bi thảm.
         Ngoài ra, cũng theo quan niệm ông, bài thơ phải có một điểm làm điệu chính có tính cách nghệ thuật, kích thích. Điểm đó sẽ là điệp khúc. Nhưng điệp khúc chỉ được đơn điệu về âm thanh, chứ không được đơn điệu về ý tưởng, nghĩa là trong mỗi điệp khúc âm thanh không thay đổi mà ý tưởng phải thay đổi, có vậy mới gây được một cảm xúc mới. Điệp khúc lại không được dài quá, để khỏi hóa nhạt nhẽo, làm độc giả chán. Ông cho rằng điệp khúc khéo nhất là điệp khúc nào ngắn nhất, chỉ có một tiếng.
         Đã nhất định phải dùng điệp khúc thì tất nhiên bài thơ phải chia làm nhiều đoạn, cuối mỗi đoạn là một điệp khúc. Để gây một cảm xúc mạnh và bền trong tâm hồn độc giả, tiếng được lập lại trong mỗi điệp khúc để khép mỗi đoạn phải là một tiếng có âm vang lên và dài. Nghĩ như vậy rồi, Edgar Poe xét hết thảy các âm của Anh ngữ và kết cục, lựa mẫu âm O mà ông hợp với phụ âm R, thành âm OR để có đủ hai tính cách vừa vang, vừa ngân. Rồi lại phải tìm một tiếng nào đằng sau có âm OR mà diễn một ý buồn – vì, như ta đã biết, có buồn, ông mới cho là đẹp – và ông nghĩ ngay đến tiếng NEVERMORE, nghĩa là không bao giờ nữa.
         Bạn nhận thấy rằng tới đây, sau khi đã định cái giọng thơ, số câu trong bài cùng cách chia đoạn, lại định tiếng chính trong điệp khúc, mà ông vẫn chưa tìm đầu đề cho bài thơ. Chính chữ nevermore đó sẽ giải quyết cho ông, bắt ông lựa một đầu đề hợp với nó.
         Ông suy nghĩ: Trong một bài thơ, khó tìm được cách sắp đặt nào ổn thỏa để cho một người nói đi nói lại tiếng nevermore đó ở cuối mỗi điệp khúc được, vì muốn vậy thì người đó phải lý luận, giảng giải rồi mới thốt tiếng nevermore và điệp khúc do đó sẽ dài quá. Vậy, phải lựa một loài vật biết nói, hoặc con két, hoặc con quạ. Tất nhiên ông lựa con quạ vì giọng con quạ buồn hơn giọng con két, hợp với bài thơ ông định viết hơn; do đó ông mới đặt cho đầu đề là Con Quạ, và trong mỗi điệp khúc, ông cho con quạ kêu lên tiếng nevermore.
         Và bây giờ ông mới bắt đầu làm công việc mà đáng lẽ ông phải làm trước hết, là tìm ý chính trong bài. Ông bèn lý luận: giọng thơ phải buồn, mà trên đời còn cái buồn nào phổ biến hơn là cái buồn từ biệt: bài thơ lại phải đẹp, mà cái đẹp của thiếu nữ cũng phổ biến hơn cả. Vậy ông sẽ tưởng tượng ra một thiếu nữ lìa trần và cho người yêu của nàng ngồi khóc nàng, hỏi những câu mà con quạ sẽ đáp: không bao giờ nữa. Thế là mỗi đoạn trong bài phải diễn một câu hỏi của chàng và mỗi điệp khúc phải chứa lời đáp của con quạ.
         Tìm được đại ý của toàn bài rồi, ông bèn kiếm ý cho mỗi đoạn, nghĩa là kiếm những câu hỏi để đặt vào miệng một anh chàng khóc tình nhân.
         Có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu câu hỏi, mà theo luật tiệm tiến rất sơ đẳng trong nghệ thuật viết văn, ông phải nghĩ ra một câu hỏi nào buồn nhất để đặt ở đoạn cuối, (còn những câu hỏi khác sẽ đặt lên trên) và ông viết ngay đoạn ấy trước hết, định số cước cho mỗi câu thơ trong đoạn, định âm luật và âm tiết cho cả đoạn, đem hết tinh thần ra viết cho cực khéo, sau mới lấy đoạn ấy làm quy mô mà viết tới các đoạn khác. Trong khi viết những đoạn này, nếu ông thấy giọng đoạn nào lâm ly hơn đoạn cuối thì ông phải hạ nó xuống cho nó bớt buồn mà khỏi lấn đoạn cuối.
         Nhưng còn khung cảnh nữa chứ. Nên lựa một khu rừng hay một cánh đồng? Ông cho những khung đó đều rộng quá, không hợp với đầu đề là một tình nhân ngồi khóc người yêu mới chết; vả lại những khung ấy còn chỗ bất tiện là bắt ông phải tả cảnh tạo vật bao la ở chung quanh, như thế độc giả có thể chú ý tới cảnh – ông nghĩ vậy! – mà có phần thiệt cho câu chuyện. Tốt hơn là lựa một căn phòng trang hoàng đẹp đẽ đầy những kỷ niệm của người chết.
         Còn con quạ? Cho nó ở đâu bay tới và đậu ở đâu để có vẻ tự nhiên. Edgar Poe phải tưởng tượng ra một đêm giông tố (như vậy cảnh càng thêm thê lương và tương phản với sự tĩnh mịch trong phòng), con quạ bị bạt gió, tìm chỗ ẩn, bay tới cửa phòng, đập cánh vào cửa đóng, làm cho chàng tưởng chừng như hồn người yêu về gõ cửa, chạy ra mở; quạ liền bay vào, đậu trên một bức tượng bán thân.
         Ông lựa một tên kêu, tên Pallas, để chỉ bức tượng và cho nó làm bằng đá hoa trắng toát để lông quạ được nổi bật lên.
         Sau cùng, ông nghĩ đến phần kết, viết thêm hai đoạn nữa cho độc giả có cảm tưởng rằng con quạ đó chỉ là tiêu biểu cho sự nhớ nhung bi thảm và bất tuyệt. Như vậy toàn bài được mười tám đoạn, mỗi đoạn sáu câu; trong mỗi đoạn, câu cuối là điệp khúc, ngắn nhất, có chữ nevermore (không bao giờ nữa).
         Đó, phương pháp sáng tác của ông như vậy: hình thức quyết định nội dung; mà hình thức thì được nghiên cứu một cách tỉ mỉ từ số câu, số đoạn, đến sự dài ngắn của điệp khúc, âm thanh của các tiếng… ông đều định một cách toán học, y như một kiến trúc sư định kích thước, vẽ bản đồ, tính số vôi, sắt, gỗ cho một ngôi nhà vậy. Tôi sẽ phê bình phương pháp ấy ở một đoạn sau. Bây giờ hãy xin chép lại nguyên văn tiếng Anh và bản dịch của chúng tôi để độc giả thưởng thức một áng thơ mà Âu Mỹ coi là kiệt tác.

                                    THE RAVEN
                  Once upon a midnight dreary, while I pondered weak and weary,
                  Over many a quaint and curious volume of forgotten lore,
                  While I nodded, nearly napping, suddenly there came a tapping,
                  As of some one gently rapping, rapping at my chamber door.
                  “Tis some visitor” I muttered, “tapping at my chamber door –
                  Only this, and nothing more”.

                  Ah, distinctly I remember it was in the bleak December,
                  And each separate dying ember wrought its ghost upon the floor.
                  Eagerly I wished the morrow; – vainly I had sought to borrow
                  From my books surcease of sorrow – sorrow for the lost Lenore –
                  For the rare and radiant maiden whom the angels name Lenore –
                  Nameless here for evermore.

                  And the silken sad uncertain rustling of each purple curtain
                  Thrilled me – filled me with fantastic terrors never felt before;
                  So that now, to still the beating of my heart, I stood repeating
                  “Tis some visitor entreating entrance at my chamber door –
                  Some late visitor entreating entrance at my chamber door; –
                  This it is, and nothing more”.

                  Presently my soul grew stronger; hesitating then no longer,
                  “Sir”, said I, “or Madam, truly your forgiveness I implore;
                  But the fact is I was napping, and so gently you came rapping,
                  And so faintly you came tapping, tapping at my chamber door,
                  That I scarce was sure I heard you” – here I opened wide the door; –
                  Darkness there, and nothing more.

                  Deep into that darkness peering, long I stood there wondering, fearing,
                  Doubting, dreaming dreams no mortal ever dared to dream before;
                  But the silence was unbroken, and the darkness gave no token,
                  And the only word there spoken was the whispered word, “Lenore!”
                  This I whispered, and an echo murmured back the word, “Lenore!”
                  Merely this and nothing more.

                  Back into the chamber turning, all my soul within me burning,
                  Soon again I heard a tapping somewhat louder than before.
                  “Surely”, said I, surely that is something at my window lattice;
                  Let me see then, what thereat is, and this mystery explore –
                  Let my heart be still a moment and this mystery explore; –
                  “Tis the wind and nothing more!”

                  Open here I flung the shutter, when, with many a flirt and flutter,
                  In there stepped a stately raven of the saintly days of yore.
                  Not the least obeisance made he; not a minute stopped or stayed he;
                  But, with mien of lord or lady, perched above my chamber door –
                  Perched upon a bust of Pallas just above my chamber door –
                  Perched, and sat, and nothing more.

                  Then this ebony bird beguiling my sad fancy into smiling,
                  By the grave and stern decorum of the countenance it wore,
                  “Though thy crest be shorn and shaven, thou”, I said, “art sure no craven.
                  Ghastly grim and ancient raven wandering from the nightly shore –
                  Tell me what thy lordly name is on the Night’s Plutonian shore!”
                  Quoth the raven, “Nevermore”.

                  Much I marvelled this ungainly fowl to hear discourse so plainly,
                  Though its answer little meaning – little relevancy bore;
                  For we cannot help agreeing that no living human being
                  Ever yet was blessed with seeing bird above his chamber door –
                  Bird or beast above the sculptured bust above his chamber door,
                  With such name as “Nevermore”.

                  But the raven, sitting lonely on the placid bust, spoke only,
                  That one word, as if his soul in that one word he did outpour.
                  Nothing further then he uttered – not a feather then he fluttered –
                  Till I scarcely more than muttered “Other friends have flown before –
                  On the morrow he will leave me, as my hopes have flown before”.
                  Then the bird said, “Nevermore”.

                  Startled at the stillness broken by reply so aptly spoken,
                  “Doubtless”, said I, what it utters is its only stock and store,
                  Caught from some unhappy master whom unmerciful disaster
                  Followed fast and followed faster till his songs one burden bore –
                  Till the dirges of his hope that melancholy burden bore
                  Of “Never-nevermore”.

                  But the raven still beguiling all my sad soul into smiling,
                  Straight I wheeled a cushioned seat in front of bird and bust and door;
                  Then, upon the velvet sinking, I betook myself to linking
                  Fancy unto fancy, thinking what this ominous bird of yore –
                  What this grim, ungainly, ghastly, gaunt, and ominous bird of yore
                  Meant in croaking “Nevermore”

                  This I sat engaged in guessing, but no syllable expressing
                  To the fowl whose fiery eyes now burned into my bosom’s core;
                  This and more I sat divining, with my head at ease reclining
                  On the cushion’s velvet lining that the lamp-light gloated o’er,
                  But whose velvet violet lining with the lamp-light gloating o’er,
                  She shall press, ah, nevermore!

                  Then, methought, the air grew denser, perfumed from an unseen censer
                  Swung by Seraphim whose foot-falls tinkled on the tufted floor.
                  “Wretch”, I cried, “thy God hath lent thee – by these angels he has sent thee
                  Respite – respite and nepenthe from thy memories of Lenore!
                  Quaff, oh quaff this kind nepenthe, and forget this lost Lenore!”
                  Quoth the raven, “Nevermore”.

                  “Prophet!” said I, “thing of evil! – prophet still, if bird or devil! –
                  Whether tempter sent, or whether tempest tossed thee here ashore,
                  Desolate yet all undaunted, on this desert land enchanted –
                  On this home by horror haunted – tell me truly, I implore –
                  Is there – Is there balm in Gilead? – tell me – tell me, I implore!”
                  Quoth the raven, “Nevermore.”

                  “Prophet!” said I, “thing of evil! – prophet still, if bird or devil!
                  By that Heaven that bends above us – by that God we both adore –
                  Tell this soul with sorrow laden if, within the distant Aidenn,
                  It shall clasp a sainted maiden whom the angels name Lenore –
                  Clasp a rare and radiant maiden, whom the angels name Lenore?”
                  Quoth the raven, “Nevermore”.

                  “Be that word our sign of parting, bird or fiend!” I shrieked upstarting –
                  “Get thee back into the tempest and the Night’s Plutonian shore!
                  Leave no black plume as a token of that lie thy soul hath spoken!
                  Leave my loneliness unbroken! – quit the bust above my door!
                  Take thy beak from out my heart, and take thy form from off my door!
                  Quoth the raven, “Nevermore”

                  And the raven, never flitting, still is sitting, still is sitting
                  On the pallid bust of Pallas just above my chamber door;
                  And his eyes have all the seeming of a demon's that is dreaming,
                  And the lamp-light o’er him streaming throws his shadow on the floor;
                  And my soul from out that shadow that lies floating on the floor
                  Shall be lifted – nevermore!
                                                                        Edgar Allan Poe

         Dịch tiếng Anh ra tiếng Pháp dễ hơn ra tiếng Việt vì dân tộc Anh và dân tộc Pháp có những cách suy nghĩ, phô diễn gần giống nhau, và nhiều khi khác hẳn với lối suy nghĩ phô diễn của ta. Vậy mà Stéphane Mallarmé, một thi sĩ Pháp, coi Edgar Poe như thầy học, cũng chỉ dịch bài đó ra tản văn chứ không dịch thành thơ, đủ biết nó khó dịch ra sao. Tôi không dám làm hơn Mallarmé, chỉ xin dịch ra văn xuôi cho đủ nghĩa thôi. Tất nhiên làm như vậy, cái hồn trong thơ không còn gì, và cái hay của nguyên tác mười phần không diễn được hai, ba. Như chữ quan trọng nhất trong bài là chữ nevermore, đành phải dịch là không bao giờ nữa, còn đâu cái tính cách vang và ngân của âm OR!

                           CON QUẠ
         Một lần, vào một nửa đêm thê thảm, trong khi tôi mệt mỏi, nặng nề cúi đầu trên một cổ thư kỳ cục không còn ai tìm đến, trong khi đầu tôi lảo đảo, gần muốn ngủ gục, thì thình lình có tiếng động như có ai gõ nhè nhẹ, gõ vào cửa phòng tôi. Tôi lẩm bẩm: “Có khách nào gõ cửa phòng mình đây, chỉ có vậy, chứ không có gì nữa”.
         À, bây giờ tôi nhớ lại rõ ràng, đêm đó là một đêm tháng chạp lạnh buốt, và mỗi thanh củi tàn nằm trơ vơ, khẳng kheo trên đất. Tôi nóng lòng chờ trời sáng – cố mượn sách để tạm khuây mà không được – cố khuây nỗi nhớ nàng Lenore mệnh bạc, một thiếu nữ nhan sắc lạ lùng, rực rỡ, mà thiên thần đã đặt cho tên đó, chứ tên dưới trần này thì không khi nào nàng có nữa!
         Và tiếng lụa phất phất buồn buồn, mơ hồ của tấm màn điều làm tôi rờn rợn, lòng đầy những sợ hãi kỳ quái chưa bao giờ cảm thấy; đến nỗi muốn cho tim bớt đập, tôi phải lặp lại một mình: “Có khách nào đứng ở cửa phòng mình, muốn xin vào đây – có khách nào khuya khoắt đứng ở cửa phòng mình, muốn xin vào đây! – có vậy, chứ không có gì nữa”.
         Hốt nhiên, tâm hồn tôi mạnh dạn lên, không do dự nữa. Tôi nói: “Ông hay bà nào đó, tôi thành thật xin lỗi; số là tôi đang thiu thiu ngủ, mà ông hay bà lại gõ nhẹ quá, tiếng đập, đập vào cửa phòng tôi nhẹ quá, nên tôi không chắc rằng có ai gõ thật hay không”. Rồi tôi mở toang cánh cửa; cảnh tối tăm mịt mùng, chứ không có gì nữa.
         Nhìn kỹ trong bóng tối, tôi đứng hồi lâu, sửng sốt, sợ sệt, nghi ngờ, mơ tưởng những mộng mà xưa nay chưa ai dám mơ tưởng; nhưng đêm tối vẫn im lặng, không phát một dấu hiệu gì; và chỉ có mỗi một tiếng thì thầm là tiếng “Lenore!” Tôi thì thầm tên đó và tiếng vang lầm bầm đáp lại “Lenore!” Đơn thuần có vậy, chứ không có gì nữa.
         Tôi trở vào phòng, cả tâm hồn nóng rực, thì lại nghe thấy tiếng gõ có phần lớn hơn trước. Tôi nói “Chắc chắn, chắc chắn có cái gì ở cánh cửa sổ, nào thử ra xem là cái gì, và khám phá bí mật này; phải định tâm một lúc và khám phá bí mật này; chỉ là gió, chứ không có gì nữa”.
         Tôi mở tung cánh cửa sổ, tức thì một con quạ lớn, thứ quạ thần thuở xưa, lượn lượn, đập cánh bay vào. Nó không ngó ngàng gì tôi cả, không ngừng bay hay ngập ngừng lấy một chút, rồi có vẻ ông hoàng bà chúa, nó đậu trên cửa phòng tôi, đậu trên tượng bán thân thần Pallas, ngay trên cửa phòng tôi, đậu yên ở đó và không có gì nữa.
         Rồi cái dáng điệu nghiêm trang khắc khổ của con chim lông đen nhánh như mun đó làm cho tôi đang buồn cũng phải mỉm cười nói: “Này Quạ, mặc dầu đầu mi như bị gọt nhẵn, chắc mi không phải là một con quạ nhút nhát, cổ quái, sầu thảm, phiêu bạt, mi cho ta hay chức hiệu của mi ở cõi âm là gì”. Con quạ đáp: “Không bao giờ nữa”.
         Tôi rất ngạc nhiên nghe con chim xấu xa đó nói rõ ràng như vậy mặc dầu lời đáp ấy ít nghĩa và ít hợp lúc; vì chúng ta phải nhận rằng người đời ai đã được thấy một con chim trên cửa buồng nhà mình, một con chim hay một con vật nào khác ở trên tượng bán thân đục chạm trên cửa phòng mình với danh hiệu là “Không bao giờ nữa”.
         Nhưng con quạ đậu lẻ loi trên bức tượng điềm nhiên đó, chỉ nói mỗi câu đó như nó trút hết tâm hồn nó trong lời ấy. Và nó không nói thêm gì nữa, – lông không cử động – cho đến khi tôi nói chỉ hơn lầm bẩm một chút: “Bạn bè khác đã xa bay rồi, ngày mai hẳn lại bỏ ta, cũng như những hy vọng của ta đã bay đi hết”. Và con chim nói: “Không bao giờ nữa”.
         Nghe câu đáp đúng làm tan cảnh tịch mịch ấy, tôi giật mình nói: “Chắc nó chỉ biết nói có thế, và nó đã học được của một người chủ khốn khổ nào mà tai biến cứ đeo hoài, đeo sát gót, tới nỗi những bài hát của người đó chỉ có mỗi một điệu, tới nỗi lòng hy vọng của người đó cũng chỉ ca lên điệu sầu thảm: “Không bao giờ – không bao giờ nữa”.
         Nhưng con quạ vẫn còn làm cho tâm hồn buồn chán của tôi phải mỉm cười, tôi đẩy ngay một cái ghế có nệm lại trước con chim, tượng bán thân và cái cửa; rồi ngồi trên nệm nhung, tôi mơ tưởng liên miên, nghĩ cái con chim gở từ hồi xưa kia, con chim buồn thảm, xấu xa, ghê gớm, gầy gò và từ thời xưa vẫn báo điềm gở kia, vì ý nghĩa gì mà kêu: “Không bao giờ nữa”.
         Tôi ngồi ngẫm nghĩ như vậy, nhưng không nói thêm một tiếng nào với con chim, mà cặp mắt sáng rực, lúc đó như cháy lên, thấu đáy lòng tôi; tôi ngồi suy đoán điều ấy và điều khác nữa, đầu tôi êm đềm ngã vào tấm nhung bọc nệm ghế rực rỡ dưới ánh đèn, nhưng tấm nhung tím rực rỡ dưới ánh đèn ấy, nàng không còn ôm nữa, than ôi! không bao giờ ôm nữa!
         Lúc đó tôi thấy không khí đặc hơn, thơm tho như có Thiên sứ trên trời hạ xuống, chân chạm sàn phủ vải, tay đưa đi đưa lại một đỉnh hương vô hình. Tôi la: “Khốn nạn! Trời đã cho mi mượn, đã sai Thiên thần mang xuống cho mi chén rượu tiêu sầu để mi quên nàng Lenore. Thì mi uống, uống chén rượu tiêu sầu ngon ngọt đó đi và quên nàng Lenore đã khuất đó đi”. Con quạ nói: “Không bao giờ nữa!”
         Tôi bảo: “Quạ gở kia, con vật gây tai họa kia, quạ gở kia, mi là chim hay quỉ! Dù là Hung thần sai mi hay là giông tố bạt mi tới đây, mi đau khổ và vẫn ngang tàng tới bến mê quạnh hiu này, tới căn nhà mà Thần kinh khủng ám ảnh này, ta năn nỉ mi nói thực cho ta hay, ở cõi Cực lạc có thuốc tiêu sầu không, có không, nói đi, nói đi, ta van mi !” Con quạ đáp: “Không bao giờ nữa”.
         Tôi bảo: “Quạ gở kia, con vật gây tai họa kia, quạ gở kia, mi là chim hay quỉ! Có Trời cao trên đầu chúng ta, có Thượng đế mà mi và ta đều thờ phụng, tâm hồn ta đầy sầu muộn, mi cho ta hay ở cõi Thiên đàng muôn trùng kia, ta còn được âu yếm(1) một thiếu nữ thành tiên mà Thiên thần đã đặt cho cái tên là Lenore, âu yếm(1) một thiếu nữ nhan sắc lạ lùng, rực rỡ mà Thiên thần đã đặt cho cái tên là Lenore nữa không?” Con quạ đáp: “Không bao giờ nữa”.
         Tôi đứng dậy, la lên: “Mi nói vậy thì thôi mi và ta phải xa nhau, mi, loài chim hay bạn! Mi lại trở về trong giông tố và cõi âm đi! Đừng để lại đây một cái lông đen nào để đánh dấu lời dối trá mà hồn mi mới thốt ra đó! Để ta âu sầu một mình! Rời tượng bán thân trên cửa ta đi! Mỏ mi đừng moi tim ta nữa, và hình thù mi ra xa khỏi cửa này đi! Con quạ đáp: “Không bao giờ nữa!”
         Và con quạ vẫn không bay đi, còn đậu đó, còn đậu trên bức tượng lợt lạt của thần Pallas, ngay trên cửa phòng tôi! và mắt nó giống hệt mắt một con quỉ đang mơ màng, và ánh sáng đèn giội lên nó, rọi bóng nó trên đất, và tâm hồn tôi không bao giờ thoát lên khỏi cái bóng nằm chập chờn trên đất ấy, – không bao giờ nữa!



         Tôi nhận thấy khéo thì khéo thật, khéo lắm: trong văn chương Âu, Mỹ tôi chưa từng gặp bài nào có mười tám điệp khúc ngắn, âm vang, ngân mà nghĩa lại thay đổi như vậy, rồi những tiếng láy đi láy lại thay đổi như rapping at my chamber door, tapping at my chamber door trong đoạn thứ nhất, sarrow for the lost Lenore, whom the angels name Lenore trong đoạn thứ nhì… và những vần ở giữa câu, như dreary vần với weary (câu thứ nhất), napping vần với tapping (câu thứ ba)… thực là mới mẻ mà làm cho bài thơ du dương và quyến rũ ta lạ lùng như một bài thần chú vậy.
         Nhưng xúc động thì tôi không xúc động bao nhiêu vì phần giả tạo muốn át cả phần tự nhiên. Nhất là sau khi đọc bài Triết lý sáng tác của Edgar Poe, được ông cho biết rõ cách ông nấu nướng, gia vị ra sao thì bài thơ đối với tôi chỉ còn là một công trình tiểu xảo của trí óc hơn là của tâm tình, mà nhờ thiên tài của tác giả không đến nỗi hóa vô vị.
         Cái triết lý sáng tác đó, không hợp với quan niệm của tôi. Ông bảo thơ thì phải đẹp, điều ấy tôi đồng ý với ông – mà nào riêng gì thơ, văn chẳng vậy sao – song khi ông bảo chỉ có cái gì buồn mới đẹp và cái đẹp luôn luôn làm ta sa lệ, thì tôi chưa dám tin ông. Ông sinh ở tiền bán thế kỷ 19, thời mà văn chương lãng mạn nẩy nở mạnh nhất ở Âu, Mỹ; tâm hồn ông lại kỳ quặc, lúc nào cũng đau đớn, khổ sở, lo lắng, sợ tương lai của mình và những người mình thương sẽ sầu thảm (một lần ông bảo người yêu của ông, là nàng Virginia: Nhất là đừng để cho anh yêu em; cái gì anh yêu cũng héo hắt đi rồi chết sớm), nên mới có quan niệm về cái đẹp như vậy; còn những người tâm trạng bình thường, lại sống ở thời này như chúng ta, tất cho cái đẹp có nhiều hình thức hơn.
         Ông lại chủ trương nội dung không quyết định hình thức mà ngược lại, hình thức quyết định nội dung. Như ta đã thấy, chữ nevermore là chữ quan trọng nhất, ông lựa nó rồi mới tìm nhan đề cho bài cùng những ý phụ trong mỗi đoạn. Théodore de Banville nói: “Vần hóa ra gợi ý”. Ai đã làm thơ tất nhận thấy âm vận, niêm luật bắt ta phải lựa ý có khi thay đổi cả những ý ta đã muốn diễn; và đối với những thiên tài thì sự bó buộc đó thường làm nẩy ra những ý tân kỳ,(2) vậy hình thức ảnh hưởng lớn tới nội dung là lẽ thường trong văn nghệ; song làm thơ mà không định trước mình sẽ nói gì, chỉ lựa một vài âm thanh rồi xây dựng cả bài trên những âm thanh đó, thì còn gì là cái tính cách tự nhiên, chân thành nữa, mà văn nghệ sao thoát khỏi thành một trò du hý, tiểu xảo! Vậy phương pháp của Edgar Poe chỉ có thể dùng để sáng tác những tiểu phẩm khéo mà không hồn – bạn có thấy tình trong bài Con Quạ tầm thường lắm không? – chứ tuyệt nhiên không thể làm quy tắc chung cho nghệ sĩ. Văn thơ phải xây dựng trên tình cảm và tư tưởng, tình cảm chân thành và tư tưởng thanh cao, thì mới có khí, mới uyển chuyển, biến hóa; nếu vun trồng trên khu đất của âm thanh thì dù có đâm được vài chồi tươi và nhỏ, cũng mau “héo hắt đi mà chết sớm”. Lời Edgar Poe nói với Virginia thật đúng: nàng mới nửa chừng xuân – 24 tuổi – đã lìa đời, và loại thơ sáng tác theo kiểu bài Con Quạ của ông không vọt lên cao và xum xuê được.



         Tuy nhiên, bài Triết lý sáng tác không phải là hoàn toàn vô ích, mà trái lại, người cầm bút nào cũng nên đọc nó và suy nghĩ.
         Trước hết, nó có giá trị về phương diện tài liệu. Hầu hết các văn nhân thi sĩ đều không muốn cho người khác trừ một số bạn rất thân, thấy bản nháp tác phẩm của mình, thành thử những kinh nghiệm về kỹ thuật của họ ít được truyền lại hậu thế. Đọc thơ ngụ ngôn của La Fontaine chẳng hạn, tôi muốn biết ông đã suy nghĩ, tìm tòi ra sao mà hạ được hai câu tuyệt diệu này để tả con diệc:
                  Un jour, sur ses longs pieds, allait, je ne sais où,
                  Le héron au long bec emmanché d’un long cou.

                  (Le Héron)
         Đọc Truyện Kiều, tôi tự hỏi Nguyễn Du đã sáng tác cuốn đó trong trường hợp nào, mất bao nhiêu công phu, đã sửa chữa mấy lần mới kiếm được bổn tiếng liền nhau có phụ âm l, trong câu:
                  Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.
         … Nếu các văn hào, thi hào ghi cả lại những dò dẫm về bút pháp của mình, thì bây giờ chúng ta được những bài học quý giá biết bao về nghệ thuật viết văn. Nhưng các nhà đó, một là không muốn tự khoe công lao của mình, hai là thẹn thùng như những thiếu nữ không muốn cho người lạ thấy mình đương trang điểm nhan sắc, nên chỉ để độc giả xem tác phẩm của mình khi đã sửa chữa xong. Vì vậy ta nên cám ơn Edgar Poe đã tỉ mỉ phân tích cách sáng tác, lựa chữ tìm ý, của ông. Có lẽ ông đã không hoàn toàn thành thực, hoặc phân tích nội tâm của ông chưa thật đúng: đọc bài Le grand amour d’Edgar Poe của Jean Barangy (tạp chí Constellation số 98 tháng 6 năm 1956), tôi ngờ rằng nhan đề Con Quạ và khung cảnh căn phòng trong bài thơ, không phải chỉ do chữ nevermore quyết định và có lẽ do một sự ám ảnh vì một việc xảy ra hồi ông mới cưới Virginia. Hồi đó, một đêm tháng năm, hai ông bà đương ở trong phòng, trời hơi nóng nực, ông mở cửa sổ ra thì bỗng nhiên ông hoảng lên, đóng sập ngay cửa lại, mặt tái mét, vì thấy một con quạ lớn đậu ở thành cửa; từ đấy hình ảnh con vật cứ lởn vởn trong óc ông, cả trong giấc ngủ, như một điềm chết chóc, tang tóc. Chín năm sau, ông viết bài Con Quạ, viết xong ít tháng, thì bà vợ chết. Nhưng dù có thực như vậy chăng nữa, thì cũng chỉ có trường hợp sáng tác là sai, còn phương pháp sáng tác vẫn đúng.
         Trong bài Triết lý sáng tác, ta lại có thể rút được vài ý xác đáng:
         – Khi viết ta không nên quên cảm xúc ta định gây trong tâm hồn độc giả. Từ ý tưởng, hình ảnh, âm thanh, đến thể văn, sự dài ngắn của bài, cách bố cục… nhất nhất phải nhắm mục đích là gây được cảm xúc ấy, như vậy bài văn mới không mất tính cách nhất trí.
         – Trong một bài thơ, văn ngắn, có khi sự quan trọng dồn cả vào một vài âm (Edgar Poe gọi là điệu chính) hoặc chữ (người Trung Hoa gọi là nhãn tự), mà ta phải tìm cách này hay cách khác để làm nổi bật lên.
         Nhưng điều mà hôm nay tôi muốn độc giả chú ý tới nhất trong khi đọc bài Triết lý sáng tác, là nhận chân công phu đẽo gọt của những nghệ sĩ bất hủ. Có khi một bài văn hay thơ vài trang giấy mà phải xây dựng tốn công hơn là cất cả một tòa lâu đài: Cũng phải họa cái bản đồ trước, định kích thước cho mỗi phần một cách tinh xác như nhà toán học, rồi lựa nguyên liệu, pha, trộn nhào, nặn, phá đi cất lại năm lần bảy lượt, mới thành một tác phẩm tự nhiên, không lộ một dấu vết gắng sức nào cả. Có khi phải thức trọn đêm, đầu bừng bừng lên, mới sửa được một chữ (Dạ ngâm hiểu bất hưu – Mạnh Giao); lại có khi lao tâm hai năm mới tìm được hai câu (Lưỡng cú tam niên đắc – Giả Đảo).
         Edgar Poe không cho ta biết ông viết bài Con Quạ mất bao lâu, nhưng căn cứ bài Triết lý sáng tác, thì ta thấy hứng không giúp ông được gì cả, hoặc giúp ông rất ít. Hứng chỉ là “nguyên nhân thúc đẩy ta viết, lựa đầu đề, âm tiết và hình ảnh”; nó chỉ là quan trọng có “năm phần trăm, còn chín mươi lãm phần trăm nữa là công phu”.


NGUYỄN HIẾN LÊ

___________________________________________________________
(1) Chính nghĩa là ôm.
(2) Chẳng hạn Victo-Hugo nhìn vòm trời đầy sao thắc mắc tự hỏi:
         …Le ciel que nous voyons fut-il toujours la même?
                Le sera-t-il toujours?
         L’homme a-t-il sur son front des clartés éternelles?

    Vần éternelles đã bí mật gợi cho ông vần sentinelles và do chữ sentinelles, ông đã tạo ra được một hình ảnh lạ lùng, cực cao và đẹp trong hai câu sau:

         Et verrons-nous toujours los mêmes sentinelles
                Monter aux mêmes tours?

         (Trời mà ta nhìn thấy lúc này đây, hồi xưa có luôn luôn như vậy không?
                Sau này có như vậy không?
         Loài người có những ánh sáng vĩnh cửu trên đầu (trán) mình không?
         Và chúng ta có luôn luôn sẽ thấy cũng vẫn những lính canh đó
                Leo lên cũng những cái tháp đó không?)


BÁCH KHOA |  SỐ 4

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #38 vào: 22/12/2017, 22:50:21 »


                              Xuân ý

            ĐẤT lành thở, hương thơm mùa mới dậy,
            Cây thanh thanh vừa đơm lá xanh xanh,
            Hoa thơm thơm vương vấn khắp muôn cành,
            Nắng dìu dịu ấm lòng người lữ thứ.

            NÀNG xuân đến, khách thơ còn bỡ ngỡ,
            Bướm ngây tình phấp phới gợi niềm vui,
            Chim ca lừng ướm hỏi giọng xa xôi:
            Xuân về đấy, sao đàn xuân chưa gảy?

            NẦY chim hỡi! cho ta gởi đôi vần ngây dại,
            Theo gió xuân hòa nhịp với non sông,
            Tay run run dâng tặng áng hương lòng,
            Xuân về đấy, ai người cùng thông cảm?

            ĐÂY vườn chữ, mênh mông nghìn vạn dặm,
            Đây men thơ ấp ủ ý xuân lành,
            Dòng mực đen vờn trên giấy trắng tinh,
            Và đọng lại trong vần thơ cởi mở…

            NÀNG thơ bảo: sương mai hoa trời nở,
            Còn văn chương sẽ mở khắp hoa lòng,
            Cánh mai vàng đem Tết đến muôn phương,
            Vần thơ lặng mở xuân đời vạn thuở…


                                                AN CHÂU
                                                Xuân Đinh Dậu (1957)



BÁCH KHOA |  SỐ 4

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #39 vào: 22/12/2017, 23:07:27 »


Hồn ma cũ
000
Đâu đây đồng vọng cõi xa xưa;
Thổ ngơi thơm phức; hồn ma cũ…
B.N.L.

KHI KỲ ĐẨY XE ĐẠP qua các bờ đất, ra tới ngả ba Cầu Kinh, thì mặt trời mới tô lợt son Tàu lên tấm nền trời dựng sau những ngọn dừa nước ở hướng Đông.
         Từ đó mà ra Sàigòn, vào giờ đường vắng, chỉ mất mười lăm phút là cùng; Kỳ cũng chẳng có công việc gì cần phải làm sớm. Thế mà chàng cũng cứ dậy khuya mà đi như mọi ngày.
         Qua đường Hàng Sanh, qua đường Hàng Bàng, qua đại lộ Hai Bà Trưng, xuống “Một Hình”, rồi đổ ra Chợ Cũ. Kỳ đi thật là lòng vòng, do các nẻo xa nhứt để đi tới đích.
         Chợ Cũ còn dụi mắt, trừ các tiệm cà-phê. Kỳ sung sướng như về quê nhà và vào ngay tiệm nước ở góc hai phố X. Y.
         Chàng ngồi trước chiếc bàn con đặt sát vách, không nhìn ai hết, cốt tránh thấy. Chàng muốn nghe nhiều và ngửi sâu. Đây có những tiếng động, những mùi vị quen thuộc và rất thân yêu mà chàng mến thích.
         Ngoài sau bếp, người thợ xíu-mại bằm thịt bằng hai con dao Tàu, mà hắn hạ lưỡi dao xuống thớt theo một nhịp điệu kỳ lạ, nghe như một khúc nhạc man rợ nhưng vẫn êm tai. Những anh phổ-ky hô món ăn hoặc hô số tiền, mà khách phải trả, không phải bằng văn xuôi, mà bằng lời hát, có ca có kệ đàng hoàng. Khi một người khách đứng lên, hắn hát to cho anh thủ quỹ nghe: “Ạ… a… người đội nón nỉ đen á… à… à… sáu đồng lẻ bảy cắc ạ… a…” Lẽ cố nhiên là hắn hát từng tiếng Tàu, thổ ngữ Quảng Đông, nên câu hát thành dài lê thê, vì những á… a, á… à, nghe rất thú vị. Có mỗi một câu ngắn: “Bạc tẩy tải, tống mùi” mà hắn làm được một bài hát nhỏ, nghê nga đến lúc tách sữa trứng gà bưng ra tới bàn khách, bài hát mới dứt.
         Mùi bánh bao hấp từ các xửng dưới lò bốc lên, mùi cà-phê rịn ra từ những chiếc vợt đầu tiên trong ngày, tất cả những tiếng và hơi tạo thành một không khí, mà Kỳ rất thích.
         Ngày nay, các tiệm cà-phê cắc-chú, phần đông đã đổi mới, không ca hát lăng nhăng nữa, không bằm dao trên thớt theo một nhịp điệu riêng nữa, nên Kỳ chỉ vào tiệm nầy thôi. Chàng đã nghiền không khí ở đây, nghiền cả thời gian nữa; phải ngồi tiệm vào lúc thật sớm như bây giờ mới hưởng đầy đủ không khí một tiệm cà-phê cắc-chú ngày xưa.
         Cho đến cái dơ bẩn trong tiệm nầy, chàng cũng yêu, vì đặc tính ấy là yếu tố gây không khí kia, thiếu nó không xong. Những anh phổ-ky lén cảnh sát, cởi trần ra, chàng thấy là ngồ ngộ, hợp với toàn thổ của tiệm nước bình dân nầy. Ăn mặc đàng hoàng và sạch sẽ, họ sẽ giống những lọ sứ cổ bày trong nhà tranh.
         Kỳ còn nghiền một yếu tố nữa mà không phải lúc nào cũng đòi hỏi được. Đó là những buổi sáng sớm mưa dầm. Bên ngoài mưa gió lạnh mà ngồi được trước một tách cà-phê lên hơi, bên cạnh cái lò chụm trấu, thì thú tuyệt vời. Càng thú hơn, khi nghe một anh phổ-ky đối đáp với khách hàng:
         ― Nị không lạnh sao mà ở trần?
         ― Hà cái lầy pên Tàu lặng lắn (lạnh lắm) qua pên nây lực lắn (nực lắm), khoong pết (không biết) lặng mà…
         Nghe câu nói ấy, không khỏi nghĩ đến một xứ rét run, và mình càng cảm thấy ấm hơn trong tiệm nầy.
         Kỳ ngồi làm thinh, không kêu món ăn. Thế mà anh phổ-ky lại hát lên: “Vách bên trái, cà-phê không, thật đậm, nhớ lược bằng vợt mới, nghe không!” Rồi người thủ quỹ kiêm nhơn viên rót cà-phê nhìn chàng một cái, đoạn thi hành y theo lời phổ-ky dặn dò.
         Đó là yếu tố quan trọng nhứt của không khí tiệm nầy. Đây là một tiệm cà-phê lâu đời và nhứt là một tiệm cà-phê giữ truyền thống cũ. Nên chi họ có những người khách lâu năm, rất lâu năm. Họ thuộc lòng từng ý muốn nhỏ của mỗi người khách: người nầy ba muỗng đường; người kia một muỗng rưỡi thôi. Còn khách thì không thốt ra lời nào cũng có kẻ dưng tới tay món uống vừa ý.
         Kỳ lấy muỗng nhỏ dò đáy ly cà-phê đen như thuốc Bắc; chỉ có độ một muỗng đường cát ở dưới ấy thôi; thật là đúng sở thích của chàng. Chàng gác muỗng lên miệng dĩa, cúi xuống hớp một hớp cà-phê nóng, chấp chấp lưỡi để lắng nghe mùi thơm của nó, đoạn ngước lên, tay giỡn với mấy cái dĩa giò-cháo-quảy và bánh bao.
         Chàng ngồi đây tới chín giờ mới gặp bạn được, thì mặc sức tiêu phí thời gian. Gặp bạn? Ừ, hôm nay Kỳ bị mấy thằng bạn văn ép phải gặp mặt chúng nó tại nhà một đứa. Để làm gì? Để quyết định thái độ về hai chữ phf. Nghĩ tới đây, chàng bật cười. Quanh chàng, không ai thèm chú ý tới cử chỉ đó. Khách hàng thức giấc thật sớm, đều kỳ dị như thế cả. Đó là những anh hàng phở, uống vội vàng để còn phải về lo hàng mình; những anh Ấn Độ gác đêm cho các hãng Tây bận ả-ra, ả-ra với nhau; những anh soát vé ô-tô-buýt vừa uống, vừa xem chừng đồng hồ tay. Người nào cũng sống riêng với nội tâm của mình, vui riêng, cười lẻ, khóc thầm.
         Kỳ bật cười vì thấy vấn đề chữ f không làm chết ai, không bỏ đói ai bao giờ, thế mà bọn nhà văn ấy ăn ngủ không được vì nó.
         Lý lẽ của lũ ấy đưa ra là như thế nầy: phải viết ph thì đúng với giọng đọc của người Việt khi xưa. Nhưng người Việt ngày nay phát âm sai, đọc ph y hệt như f, vậy nên viết chữ f cho đúng và cho gọn. Cần phải họp cho đông đủ thảo luận rồi biểu quyết, rồi thực hành để thiên hạ bắt chước theo.
         Kỳ không thể từ chối gặp bạn. Nhưng chàng đã nhứt quyết chống lại chữ f. Nghĩ tới quyết định nầy, chàng lại bật cười lần nữa. Thật là quan trọng hóa con tép. Tưởng chống lại lý thuyết nào, ai ngờ chống lại… chữ f tí hon.
         Tại sao chàng chống lại chữ f, chàng cũng không hiểu cho rõ lắm. Nhưng trực giác của chàng nói thầm cho chàng biết rằng, viết như thế không ổn.
         Soát lại công việc hôm đó, chàng nghe yên lòng. Chỉ có bấy nhiêu rắc rối đó thôi, rồi an tâm được tới chiều để viết lách.
         Kỳ nâng ly lên uống một ngụm cà-phê còn quá nóng, chưa nốc được một hơi dài. Vả, chàng lại mong cho nó nóng mãi như thế nầy, uống chấm chút mới ngon, và nhứt là mới tiêu nổi. Cà-phê uống ở nhà thật vô vị, uống nơi tiệm khác lại lạt phèo. Ngồi đây mà tận hưởng cà-phê và các thứ khác dính líu chặt chẽ vào cà-phê nầy, hay biết bao!
         Ngày nào cũng thế, chàng ngồi đó như một vị tiên bất tử. Khách hàng hết lớp nầy đến lớp kia ra vào, y như các thế hệ người kế tiếp nhau mà tàn mọc trên dương thế, còn chàng thì ở ngoại càn khôn mà nhìn những kiếp sống phù du nầy.
         Ngộ quá, mỗi giờ khắc, một hạng người khác nhau. Sau chàng là những người làm công các tiệm chung quanh; hết họ, đến những kẻ đi làm; hạng sau cùng là những người không nghề nghiệp, hoặc không thời dụng biểu nhứt định.
         Khi mà không khí ưa thích lần tan cùng một lượt với đèn tắt, ngày lên. Kỳ mới chú ý nhìn người và vật chung quanh. Những gương mặt của thầy thợ quen mỗi ngày, nhìn mãi không thấy gì lạ, mà không có thì không xong. Cây cối quanh làng ta có khi vướng mắt ta lắm. Nhưng nếu có một hỏa hoạn xảy ra trong làng, mọi vật đều bị thiêu hủy thì ta tiếc những gốc cây quen thuộc biết bao nhiêu! Nó là những nét của cảnh trí, những vật ở chân trời cũ, thiếu đi, nghe buồn làm sao.
         Hôm nay một thầy lại đem theo một thằng con nhỏ. Thằng bé độ mười tuổi, tay cắp cặp da, chừng như đi học đâu đó, mà hôm ấy không người nhà đưa nên người cha mới phải bận bịu thế, lúc đi làm.
         Hai cha con ngồi lại bàn. Người cha kêu cà-phê cho mình và sữa cho con, nhưng kêu bằng thổ ngữ Quảng Đông, nên thằng bé không hay biết. Chừng phổ-ky đem món uống lại, nó mới nói:
         ― Ba ơi, con muốn uống cà-phê như ba!
         ― Ê, trẻ con không nên uống cà-phê.
         Người cha vừa nói vừa xé cái bánh tiêu, nhét xíu mại vào để làm nhưn, rồi trao cho con.
         Kỳ, bỗng nhiên giựt mình, ngó dáo dác như nghe ngóng cái gì. Không, không có gì cả! Nhưng chàng không an lòng, có cảm giác là tiếng động gì, hình ảnh gì vừa thoáng hiện rồi và trốn đi và đang lẩn lút đâu đây. Tiếng động ấy, hình ảnh ấy ra sao; chàng không rõ, nhưng cứ tin là nó dễ yêu lắm.
         Liền đó một cuộc săn đuổi ráo riết. Kỳ rượt theo một ấn tượng, một cái gì vô hình, lấp ló đâu đây. Có lúc chàng suýt chụp được nó, nhưng nó lại vuột đi. Những gì xảy ra quanh chàng, bỗng giờ phút nầy, sao mà nghe thấy rất xa xôi như đã nghe thấy đâu từ kiếp tiền thân.
         Thình lình Kỳ ngây người ra; chàng vừa thấy người cha đứa bé rót cà-phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa lên mà uống.
         Cảnh nầy, chàng đã thấy rồi… trời ơi… lâu lắm… những hai mươi năm về trước. Đó là lối uống trong dĩa của ông ngoại chàng, một ông cụ nhà quê, thỉnh thoảng dắt cháu ra chợ để hưởng thú thị thành.
         Hình ảnh cuối cùng uống bằng dĩa nầy như bấm vào nút điện, và cả một bộ máy được huy động. Những người của dĩ vãng như hồn ma, lũ lượt kéo qua trước mắt chàng.
         Hồn ma cũ ấy chỉ hiện về trong cảnh náo nhiệt nầy là vì có cuộc trùng phùng cơ hội như hôm nay: thời gian, nơi chốn, màu sắc, hình ảnh, mùi vị, tiếng động; tất cả những thứ ấy khi đủ mặt, họp nhau để huy động ký ức của chàng.
         Bấy giờ Kỳ mới hiểu tại sao chàng lại ưa thích tiệm cà-phê nầy. Hồn ma cũ ngủ yên nơi tiềm thức của chàng. Đó lại là những hồn ma thương mến. Tiệm cà-phê nầy có gần đủ điều kiện để kêu gọi hồn ma. Gần đủ nhưng chưa bao giờ đầy đủ. Nên tiềm thức ngủ quên luôn. Ngủ quên nhưng vẫn giục chàng đến đó, mà chàng không biết tại sao. Chỉ hôm nay mới hiểu rõ.
         Thì ra tiềm thức đã chủ động nhiều việc trong đời người, trong đời chàng những việc ta làm, chàng làm, mà cũng không hiểu vì sao mà làm.
         Kỳ lẩn thẩn tìm xem coi do đâu mà chàng ghét chữ f, một tình cảm chàng đang có, mà không biết nguyên nhân.
         Ngộ! Khi nãy không tìm mà hồn ma hiện đến. Bây giờ đọc thần chú, nó cũng chẳng về. Phương trình còn thiếu rất nhiều yếu tố:
         Ký ức = thời gian + nơi chốn + màu sắc + tiếng động + mùi vị + hình ảnh.
         Chữ f đã dính líu với những hình ảnh nào, chàng thật mù tịt. Nên chi Kỳ thôi không thèm tìm biết nữa. Ngày kia, khi có một cuộc quy tụ yếu tố tự nhiên chàng sẽ nhớ về chữ f ấy.
         Bây giờ, theo dõi những hồn ma yêu dấu thú hơn. Chàng thường theo ông ngoại ra chợ uống cà-phê… Chàng ra tỉnh học… Chàng lên Sàigòn… Ma nhiều lắm! Ôi ! Mến yêu là những con ma tóc còn đường rẽ, áo quần còn hôi mùi ruộng bùn, cùng nhau ngơ ngác giữa đô thành! Ôi! Bùi ngùi là những con ma giáo sư tóc rắc muối tiêu mà bây giờ, hẳn, đã đi đầu thai kiếp khác rồi.
         Ôi ! Bối rối là những con ma… Kỳ nghe tê tái nơi lòng, mắt ứa lệ. Bối rối là những con ma gặp nơi nhà quen, khi ra chơi ngày chúa nhựt, những con ma, nó làm cậu học sinh lưu trú ngơ ngẩn suốt tuần. Ôi! dịu dàng là những con ma áo tím… mà trời ơi!…
         Kỳ nhớ lại, ngày chàng được bức thư tay cuối cùng của người bạn tình đầu tiên ấy, Thiếu niên bao giờ cũng dại về tình. Chàng đã toan tự tử, nghĩ thật buồn cười. Hình như là chàng thuộc lòng bức thư ấy. Đâu nào… à… Anh không phải là người lý tưởng của em, vậy ta dứt nơi đây là hơn. Dầu sao, em cũng đã thành thật yêu anh trong một thời gian, thì anh không thể nói là em thờ ơ hay fụ bạc được…
         Bỗng Kỳ ngước lên, cười khà. Chàng đã bắt được kẻ trốn tránh, khi đọc lại đoạn thư ấy. Chàng nắm lấy chóp nó và la thầm trong bụng:
         ― Nó đây rồi!
         Phải, nó đây; Nó viết ph bằng chữ f. Chàng ghét giận nó, và giận luôn cả chữ f của nó tự bao lâu rồi.
         Kỳ lại cười lớn lên một giây nữa và lẩm bẩm:
         ― Tụi nó mà biết sự thật về chữ f, chắc tụi nó cười mình dữ lắm.


BÌNH NGUYÊN LỘC


BÁCH KHOA |  SỐ 4
 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #40 vào: 25/12/2017, 18:18:20 »
BÁCH KHOA |  SỐ 5  [15 tháng Ba  1957 |  74 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Chánh sách thuế vụ (quan niệm cũ, quan niệm mới) |  1-4
Hoàng Minh Tuynh (dịch) |  Đức ái nhân trong Thiên Chúa giáo \ Cha Riquet S.J. |  5-7
Phạm Ngọc Thảo |  Vấn đề kinh tế tự túc trong quân đội |  8-11
Nguyễn Anh Linh |  Một nhận định trước làn sóng di cư |  12-14
Bách-Khoa |  Vệ sinh, kinh tế, giáo dục |  14
Huỳnh Đức Quang |  Nhiệm vụ cán bộ nghiệp đoàn trong một nước độc lập |  15-19
Bách-Khoa |  Hậu quả một lời nói độc |  19
Minh Phong |  Tiếp tục “Tuần lễ nội hóa” để kiện toàn nền kinh tế độc lập |  20-22
Dương Quỳnh Hoa |  Sơ lược cách chuẩn bị cho sản phụ theo phương pháp “Đẻ không đau” |  23-25
Nguyễn Đức An (dịch) |  Người nối chí Thánh Cam Địa \ J. Quéguiner |  26-33
Nguyễn Huy Thanh |  Một ý kiến: Quỹ tiết kiệm |  34-37
Nguyễn Hiến Lê |  Tiếng Việt ngày nay |  38-43
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 4 |  43
Hồng Hy |  Én biển (thơ) |  44
Mặc Thu |  Đứa con nuôi (truyện) |  45-49
Bách-Khoa |  Nước lớn tới nước nhỏ và nước nhỏ tới nước lớn |  49
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [II] (truyện dài) \ Từ Vu |  50-57
Bách-Khoa |  Cái “ngu” của ông Ninh Võ Tử |  57
Bách-Khoa đọc thay các bạn:
   |  Thống hệ và phương pháp trong Nho giáo |  58-59
   |  Anh hùng vô danh |  59
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  60-64
Bách-Khoa |  Trời muốn vậy |  64
Quảng cáo |  65-74


SAIGON |  1957




 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #41 vào: 25/12/2017, 18:40:37 »


Đức ái nhân trong Thiên Chúa giáo

TRƯỚC CÁI QUANG CẢNH hãi hùng quái gở của một thế giới hoang tàn, đảo lộn bởi thiên tài phá hoại của những phần tử văn minh nhất; trước những đổ vỡ, những mộ địa, những đàn nô lệ đói khát, cực khổ, đối diện với bao nhiêu mưu chước trụy lạc tinh thần, hủy hoại khí tiết, suy đảo phong tục; trước những nỗi đau thương, cùng những mối hàm oan tràn trề, đầy dẫy trong khoảng các tầng lớp nhân loại như thế, hết mọi người công giáo chúng ta đều cảm thấy có bổn phận phải tự hỏi xem thái độ của mình phải như thế nào? Chúng ta đều hết sức băn khoăn cố tìm lấy một câu giải đáp sao cho thích hợp với thời đại mới và cho xứng đáng với vai trò người công giáo chân chính của mình.
         Nếu chúng ta có tham khảo Phúc Âm hoặc những giáo huấn của Giáo hội từ xưa đến nay, ta có thể kết luận ngày mai, cũng như hôm qua và hôm nay, rằng: chỉ một thái độ độc nhất có thể khiến cho mình giữ vững trong tâm hồn mối khoái lạc và sự tự do của con cái Thiên Chúa, nghĩa là tất cả lập trường của mình, bất luận trong một hoàn cảnh nào, đó là thái độ yêu người. yêu người luôn luôn, yêu người mãi mãi, yêu người mặc dầu là người xấu xa hay tốt lành, yêu người chỉ vì người là con cái của Thiên Chúa mà thôi.
         Tuy nhiên, tình yêu chúng ta nói đây không phải là một thứ tình yêu ngoài môi ngoài miệng, mà là một thứ tình yêu phô diễn ra bằng công việc làm và bằng sự chân thật, như lời Thánh Gioan đã nói.
         Vì chúng ta nhận thấy có nhiều người lấy làm bằng lòng, lấy làm thỏa mãn khi có thể hòa cuộc sinh hoạt thường ngày với một thứ tôn giáo chỉ biết đóng khuôn vào bốn bức tường của Đền Thánh, và tự đày ải trong nguyện gẫm, trong không tưởng, mơ màng một phần thưởng bên kia thế giới, hoàn toàn lãnh đạm với ba phần tư, với chín phần mười cuộc sinh hoạt thực tế nói chung của nhân loại, nghĩa là với mọi ngành hoạt động về dân sự, về xã hội, về du hí, về học đường cũng như về giáo dục. Khiến cho đến nỗi nhiều người cho rằng giáo điều buộc phải yêu người do Công giáo truyền dạy chỉ thu hẹp lại trong có một vài hành vi bố thí, một vài cuộc viếng thăm ở chung quanh mình.
         Đó đâu có phải là tinh thần của Phúc Âm: vì Phúc Âm buộc người ta phải yêu đồng bào ở mọi nơi, mọi lúc, trong hết mọi trường hợp: ở đồng ruộng cũng như ở nhà máy, ở ngoài đường cũng như ở công sở, tóm lại là trong hết mọi cuộc giao tế giữa người với người vậy.
         Và Phúc Âm cũng lên án tất cả các sự bóc lột dưới bất cứ hình thức nào, dù giấu giếm dưới quy điều pháp lý hoặc dưới định luật của kinh tế nữa.
         Phúc Âm lại còn lên án mọi sự bạo hành, mọi sự độc đoán, dù nó ẩn nấp dưới một đảng phái hay một quốc gia chuyên quyền. Đành rằng yêu người thì không hề làm hại người. Nhưng tình yêu ấy còn phải khiến cho người ta tìm dõi cho anh em điều lành, điều tốt; phụng sự anh em, cứu vớt anh em thoát khỏi điều ác, điều hung, như trong Phúc Âm của thánh Mat-thuê: “Mày muốn anh em làm cho mày điều gì thì mày làm cho anh em điều ấy!”…
         Xem vậy đủ rõ, đối với người công giáo, điều kiện cốt thiết để được cứu rỗi, trở nên thánh thiện, cao cả và hưởng các chân khoái lạc, chính là phải biết yêu người. Phàm kẻ nào đã biết yêu người, trước khi nhận ra Thiên Chúa, trước sau thế nào rồi cũng sẽ đạt tới Thiên Chúa, nếu họ thủ tín với tình yêu ấy đến mức có thể xuất phát những cử chỉ anh hùng. Trái lại, tự nhận mình là người thuộc về Thiên Chúa mà trong lòng không có một chút tình yêu ấy thật đã tự dối mình và tôn giáo của họ suy tôn chỉ là một tôn giáo giả mạo mà thôi.
         Tới đây, chúng ta phải thành thật nhận là mình vấp phải những nỗi khó khăn khiến chúng ta phải bối rối. Ngày nay, thử hỏi trong đám giáo dân chúng ta, liệu có mấy người biết sống bằng lý tưởng yêu người ở trong Chúa và yêu Chúa ở trong người? Một bên, chúng ta nhận thấy bao nhiêu người có tôn giáo, mà lại sinh hoạt như người vô tôn giáo. Họ từ bỏ đạo, coi đạo như một chướng ngại vật cho cuộc đời phóng túng, vật chất của mình. Lại có một số người khác, công khai tỏ ra mình là người có đạo, nhưng cũng công khai tỏ mình là người phản đạo bằng những hành động cướp bóc, xâm lấn, dã man như thú vật, cứng lòng như sắt đá. Thêm vào đó, lại còn một số người nữa, đông đảo hơn, sinh hoạt không hề biết tới Chúa Kitô, không hề kỳ vọng vào một lý tưởng nào, coi như không có Thiên Chúa ở trong thế gian vậy.
         Chúng ta còn đau lòng hơn nữa, khi chúng ta nhận thấy chính những kẻ vô thần lại tỏ ra tận tâm, đại lượng, bác ái hơn những kẻ tự nhận là hữu thần, hoặc tự nhận là những người binh vực, bảo vệ cho nền văn minh Thiên Chúa giáo.
         Do đấy, người công giáo chúng ta sinh ra lo ngại, thắc mắc và hoài nghi.
         Đức bác ái, đức ái nhân đáng lẽ phải coi như là điều cốt thiết trong tôn giáo, nhiều giáo dân lại cho là điều phụ thuộc, có hay không không quan trọng lắm. Trong khi các kẻ vô thần, vô tôn giáo phát huy và động viên tất cả các năng lực và sáng kiến để tận tâm giúp vào công việc cải thiện đời sống cho nhân loại. Sức cố gắng của những kẻ vô thần, vô tôn giáo, tỏ ra thật có hiệu năng, sinh ra những hiệu quả thật hiển nhiên vĩ đại, sức cố gắng của các người công giáo bên những sức cố gắng này tỏ ra thật lu mờ, nhu nhược, hẹp hòi và thiếu thốn. Khiến cho ta phải tự hỏi: phải chăng hễ là người công giáo thì hành động nhất định là bất lực, thua sút, kém hiệu năng, kém thực tế hơn kẻ khác. Nhiều nhà thần học, vì chú ý chăm lo đến việc bảo tồn tính chất trác tuyệt của phần siêu nhiên, đã hơi quá vội vàng quyết với chúng ta rằng: “Người công giáo, về mặt thế gian thực tế, phải đành lòng nhận lấy thất bại. Nước của người công giáo không phải ở trần gian nên không cần thực tế. Họ khuyên chúng ta nên giữ thái độ bị động cổ truyền của một vài nước phương Đông mà họ cho là khôn ngoan lắm. Trần gian tội lỗi; không nên kỳ vọng ở trần gian và cũng không nên tìm cách hoán cải trần gian làm gì. Phải cao chạy xa bay để thoát khỏi cái trần gian xấu xa nhơ nhuốc ấy”.
         Chủ trương như vậy có phải là xác đáng không? Chủ trương như vậy sẽ đưa ta đến tình trạng nào, dồn ta tới ngõ bí nào?
         Vì nếu quả vậy, thì ra chúng ta không sao thoát khỏi cái tình trạng tiến thoái lưỡng nan này: hoặc yêu người theo tinh thần công giáo, thì đành chịu bất lực và vô hiệu năng ở thế gian; hoặc yêu người trái hẳn với tinh thần công giáo, nghĩa là loại Thiên Chúa ra khỏi tình yêu ấy, với hy vọng thực hiện một công cuộc vĩ đại là thành lập một thiên đàng trên trái đất.
         Chúng ta đã từng biết có bao nhiêu tâm hồn đầy thiện chí phải băn khoăn đau đớn vì cảm thấy như đứng trước một ngõ hẻm không lối ra, một mâu thuẫn không tài nào vượt nổi – Những tâm hồn ấy không thể thừa nhận một cách dễ dàng đề nghị “lẩn sự đời” của một vài nhà thần học, cũng như không thề suy tôn chủ nghĩa nhân bản vô thần có hiệu năng sinh ra những kết quả chưa chắc đã hay, mà đã phải trả giá bằng những giá quá đắt, giá của bao nhiêu hy sinh nặng nề, hy sinh tính mệnh, hy sinh tự do, hy sinh văn hóa, hy sinh tinh thần, tắt là hy sinh tất cả nhân bản vậy.
         Theo kinh nghiệm chủ nghĩa nhân bản vô thần, trong mọi hình thức, cá nhân hay tập thể, tự do hay chuyên chế, đều đã tỏ rõ một chủ nghĩa thái ác, vô nhân đạo đến cực điểm. Nhưng tình yêu người chân chính không thể là một tình yêu vô hiệu năng, thụ động một cách ngu ngốc, vụng về vì hiểu lầm nghĩa kính tin. Nhưng tình yêu ấy muốn cho chân chính và có hiệu năng thì phải thế nào? Đó là vấn đề ta sẽ thảo luận sau. Song ngay bây giờ, ta có thể quả quyết rằng tình yêu ấy muốn cho thật chân chính và thật có hiệu năng, điều cần thiết là phải làm sao kết hợp nó vào với Đấng đã lập nên phẩm giá con người một cách kỳ tuyệt và đã tái lập nên một cách còn kỳ tuyệt hơn nữa; đấng vừa là nguyên lý vừa là cứu cánh của mọi tình yêu giữa người với người; đấng mà Dante đã gọi là: Il primo amore, nghĩa là Tình yêu nguyên thủy, tình yêu đi trước mọi tình yêu khác, tình yêu sinh ra và nuôi nấng mọi tình yêu khác, cũng nâng đỡ cho đến cùng, như ngọn sóng triều nhấp nhô ngoài khơi đại dương, tỏa ra muôn ngàn màu sắc khác nhau mà tựu trung chỉ có một mặt trời chiếu rọi mà thôi.


Cha RIQUET S. J.
Hoàng Minh Tuynh dịch


BÁCH KHOA |  SỐ 5

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #42 vào: 25/12/2017, 22:12:01 »


                        Én biển

            AI có qua chơi xứ Quảng Nam,
            Trông ra biển biếc lẫn trời lam.
            Một hòn đảo nhỏ in màu sẫm:
            Dấu vết ngàn xưa của giống Chàm.

            HÓC đá cheo leo, sóng mịt mù,
            Én kia làm bạn với hoang vu,
            Xa đời, càng thấy yêu đời lắm,
            Ủ kín tình thâm ai thấu cho.

            GIÓ lốc tung reo, sóng thét gào,
            Gởi cùng sóng gió nỗi lao đao:
            Lấy chi làm tổ nuôi con nhỉ?
            Bờ vắng, trăng tà, mây vẫn cao.

            RÁT cổ phun ra từng giọt ngọc;
            Mỗi giây nước miếng một tơ lòng,
            Kết thành chiếc tổ đầy âu yếm,
            Khi lại rơm rơm điểm máu hồng.

            ĐỘC ác! Người đời lấy yến sào,
            Đem về nấu đãi khách phong lưu.
            Tiếng ca danh kỹ vang trong tiệc,
            Như át ngoài khơi tiếng én kêu.

            CÙNG chung kiếp én có thi nhân,
            Đem hết tinh hoa tặng khách trần,
            Trong tiệc những ai cười hỉ hả,
            Riêng ai đau khổ biết bao lần!


                                              HỒNG HY


BÁCH KHOA |  SỐ 5

 

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #43 vào: 25/12/2017, 22:33:21 »


Đứa con nuôi
000
Để tặng những cặp vợ chồng trẻ muộn con.

TRÊN CHUYẾN XE ĐÒ Đalat-Saigon, Khê thực vất vả với thằng bé mà chàng vừa xin được. Thằng bé đến nghịch, tuy chưa được đầy tuổi. Nó nhẩy cẫng trên tay Khê và cứ nhè nắm lấy cái cà-vạt màu của anh mà giựt.
         Thuở nay, chưa từng bế trẻ, Khê phải vận dụng tất cả khéo léo của mình mới khỏi để nó ngã. Anh luôn miệng nói nựng nó một cách rất vụng về, khiến mấy bà hành khách ngồi bên phải quay mặt đi mà cười.
         Mồ hôi vã ra ướt đầm cả lần áo trong của Khê. Đầu tóc anh rối bù, vì nhiều lúc anh phải cúi đầu đưa cả mớ tóc ra cho nó nắm lấy nghịch.
         Tuy vậy Khê không thấy vất vả, trái lại anh thấy vui sướng vô hạn vì đã mãn nguyện: xin được đứa con nuôi có bộ mặt ngộ nghĩnh như anh thường ao ước.
         Xe chạy được một quãng khá xa, Khê mới nhận thấy lúc anh giựt thằng bé trên tay người vợ, rồi nhét vội cho người chồng một món tiền là một cử chỉ thật tàn nhẫn mà trong lúc bình thường anh không thể nào làm nổi. Anh cũng hối tiếc đã không biết nói lấy một lời ôn tồn rằng: tiền này là để giúp thêm bà nhà uống thuốc… Làm vậy có khác gì anh mua đứa trẻ với một giá quá hời. Anh lại xấu hổ cả với dáng đi hấp tấp của anh lúc bế đứa trẻ đi.
         Sau cùng, Khê trút tất cả cho cái tội: chỉ vì anh quá ưng ý đứa trẻ và anh chỉ sợ nếu để chậm trễ, rất có thể người vợ hay người chồng đổi ý.
         Gia đình họ có những bảy đứa trẻ, toàn là trai, lớn bé đều sàn sàn bằng nhau cả. Nhưng nếu không vì người mẹ mang bệnh nằm liệt trên cái cáng thì Khê cũng khó có hy vọng xin được thằng nhỏ này. Xem như họ còn đi xa để kiếm chỗ làm ăn. Khê cho mình may mắn lắm mới gặp được họ giữa đoạn đường họ ghé vào Đalat.
         Một bà hành khách ngồi ghế trên đưa tay xin bế hộ thằng bé, Khê ngạc nhiên không hiểu bà làm cách nào mà chỉ lát sau, thằng bé đã ngủ ngon lành.
         Bây giờ Khê mới có thì giờ xốc lại quần áo, nắn lại cà-vạt, vừa vui vui nghĩ đến Trâm, vợ anh.
         Cuộc đời buồn tẻ của vợ chồng anh hẳn từ nay sẽ chấm dứt. Chắc chắn Trâm sẽ phải thích đứa trẻ cũng như anh.
         Vợ chồng Khê lấy nhau đã bảy năm mà Trâm chưa lần nào có một dấu hiệu gì của sự sinh đẻ.
         Vợ chồng Khê lại sống một cách khá dư dả nên càng thấy thiếu thốn. Một nỗi thiếu thốn mà cả hai không tiện nói ra.
         Họ yêu nhau từ trên ghế nhà trường và khi rời nhà trường là họ cưới nhau. Con đường tình ái của họ không có gai góc mà chỉ đầy hoa bướm. Khê được nhà cấp vốn cho đi buôn và cho ở riêng. Con đường kinh doanh của anh lại cũng trơn tru rất ít trở ngại. Chẳng mấy lúc mà Khê giàu lớn.
         Bỗng có một ngày mà Khê thấy chán công việc mà không tìm thấy sung sướng trong những thành công nữa. Và từ bấy giờ, Khê mới để ý nhận thấy rằng Trâm đã hờ hững với những thành công của anh trước anh khá lâu.
         Khê đã nghĩ: giá vợ chồng mình nghèo cứ nai lưng ra mà làm, được bữa sáng lo bữa tối thì cái chuyện con cái tất đã thành một vấn đề.
         Khê đã băn khoăn nhiều lần về câu chuyện sinh lý. Anh đọc các sách y học để tìm hiểu nguyên nhân của cái sự thiếu thốn ấy là tại anh hay tại Trâm. Nhưng rồi chẳng sách nào làm cho anh thỏa mãn. Có việc giản dị nhất là đến một bác sĩ thì Khê không dám làm. Chẳng phải vì sợ Trâm tủi mà chính anh, anh cũng rất sợ phải nhận lấy một tuyệt vọng. Mối tuyệt vọng có khoa học chứng minh thành một sự thực nghe thấy và trông thấy được.
         ― Để vậy thì còn hy vọng!… Khê tự an ủi hành động rất không hợp lý của anh vậy.
         Trong khi đó, Trâm vẫn giữ đầy đủ bổn phận của người vợ ngoan ngoãn. Cả ngày nàng chỉ lúi húi với công việc nhà. Rất ít khi nàng chịu đi đến đâu, ngay cả việc đi thăm bè bạn thân thiết hoặc họ hàng.
         Mỗi ngày Trâm lại siêng năng làm việc nhà nhiều hơn. Hầu như Trâm sợ những thì giờ nhàn rỗi không có việc gì làm.
         Khê chỉ cho rằng Trâm tằn tiện và tính ưa làm việc là tính giống bà mẹ vợ anh.
         Trước mặt chồng, Trâm vẫn vui vẻ như không có điều gì nghĩ ngợi. Nhưng sau, nhiều lần Trâm cũng để lộ cho Khê thấy được cả những lúc nàng ngồi thừ mặt, buồn bã nhìn ra vườn một cách vu vơ…
         Bấy giờ Khê mới hiểu rằng: vợ chồng anh cần có một đứa con, dù là đứa con nuôi.
         Nhiều lần Khê muốn nói với Trâm điều táo bạo đó mà chưa bao giờ anh tìm thấy dịp thuận tiện để nói. Anh biết nếu nói ra chắc chắn Trâm sẽ buồn tủi và biết đâu nỗi đau khổ của Trâm sẽ lại chẳng trầm trọng hơn.
         Cuộc sống tẻ lạnh ấy cứ âm thầm kéo theo những chuỗi ngày dài dằng dặc trong đó có hai người sống rất gần nhau mà lại như rất xa nhau, vì chẳng ai muốn cho ai biết ý nghĩ riêng của mình.
         Họ tập sống giả dối và tưởng như thế là chỉ riêng mình chịu đựng, mà không biết rằng: mỗi khi lên giường ngủ, trước lúc nhắm mắt, nếu Trâm tưởng đến “một dứa con” thì nửa giường bên kia, tiếng nói cuối cùng trong ý nghĩ của Khê cũng là “một đứa con”.



         Hôm đầu Khê mang đứa bé về, Trâm reo tưởng đến vỡ nhà. Nàng vứt cả món ăn đương làm dở xuống bếp, chạy ra vồ lấy đứa trẻ.
         Khê sung sướng vì thấy Trâm sung sướng.
         Gò má xanh nhạt của Trâm tươi ửng thêm một màu hồng. Rõ ràng như nàng vừa sống lại.
         Trâm ấp đứa bé vào ngực, hôn hít nó như chính nó là con nàng thực. Nàng quên cả nghe. Khê đương kiêu hãnh kể chuyện vì sao mà xin được thằng bé.
         Một lúc sau, Trâm bỗng kêu khẽ lên một tiếng:
         ― Này anh! Lại đây xem, trông mắt nó giống anh không?
         Khê hớn hở quay lại đáp:
         ― Thế à?
         Tuy chưa thấy đôi mắt thằng bé giống mắt mình ở chỗ nào, Khê cũng làm ra dáng vui vui:
         ― Ừ, giống nhỉ!
         Trâm vẫn chú ý nhìn vào mặt đứa trẻ:
         ― Anh ạ, miệng nó cũng giống anh nữa! Lại cả sống mũi cũng giống nữa này! Chẳng sống mũi dọc dừa là gì đây!…
         Khê cười sung sướng:
         ― Ừ, giống thực!
         Tự nhiên Khê cũng thấy đứa trẻ hao hao giống anh vài nét. Lòng yêu đứa trẻ của anh lại tăng thêm.
         Nhưng từ sau ngày ấy, đứa con nuôi lại là cả một khó chịu cho vợ chồng Khê. Trâm không còn vồ vập, tươi cười với đứa trẻ như buổi đầu nữa. Đôi lúc, Khê bắt gặp Trâm ngồi lặng chăm chú nhìn đứa trẻ, nét mặt có chiều suy nghĩ…
         Đầu tiên, Khê hơi ngạc nhiên về sự thay đổi mau chóng của vợ. Cho đến một đêm. Trâm trằn trọc rất khuya chưa ngủ, làm Khê cũng mất ngủ theo.
         Đêm ấy, Trâm đã căn vặn Khê rất nhiều về đứa trẻ. Nàng nghi nó là con riêng của khê.
         Khê đã hết sức biện bạch và kể lể rõ ràng từ chi tiết nhỏ nhặt cho Trâm nghe, về sự tình lúc xin được đứa trẻ. Nhưng nói thế nào Trâm cũng không tin. Trâm lại có những câu hỏi thực bất ngờ, thông minh như một cái bẫy để Khê phải lúng túng nhiều lần, mặc dầu anh rất oan uổng. Có lẽ đấy là đặc khiếu tự nhiên của đàn bà. Đặc khiếu ấy, Khê chưa từng thấy ở Trâm lần nào.
         Khốn nỗi, anh không viện ra nổi một nhân chứng: một người bạn chứng kiến lúc anh xin đứa trẻ chẳng hạn, hay ít nữa thì cũng phải biết rõ chỗ trú ngụ của cha mẹ đứa trẻ…
         Khê hối tiếc đã không hỏi xem họ đi về phương nào và làm nghề gì? Giá biết được vậy thì cũng có hy vọng tìm ra.
         Trâm âm thầm khóc nhiều đêm và có lần đã dùng đến thuốc ngủ để được xa chồng vĩnh viễn. May mà Khê biết được mà cứu kịp.
         Mỗi lần gặp mặt là Khê và Trâm lại có dịp cãi cọ nhau luôn, bất cứ vì một cớ nào.
         Vì vậy họ đã tìm cách lánh mặt nhau, mặc dầu họ ở cùng trong một căn nhà nhỏ, xinh xắn như một tổ chim.
         Trâm dọn cơm sẵn trên bàn để Khê ăn trước còn nàng ăn ở trong buồng.
         Trước mặt Khê, Trâm làm ra rất hờ hững với đứa trẻ, khiến cho Khê hết sức khổ tâm khi thấy thằng bé nằm trỏng trơ trong một cái nôi. Tuy vậy, anh cũng giữ không để lộ vẻ khó chịu ấy ra ngoài cho Trâm thấy. Nhưng khi Khê đã ra ngoài, Trâm vẫn săn sóc đứa trẻ đầy đủ bổn phận của bà mẹ nuôi muốn tắc trách.
         Trâm khóc nhiều những lúc vắng Khê nên sút đi trông thấy. Trông đôi mắt quần thâm của Trâm, nhiều lúc Khê thấy thương Trâm vô hạn. Nhưng anh lại không muốn cho Trâm biết anh có ý nghĩ ấy. Anh thấy bực mình đến độ đau khổ vì tính “ghen hão” của Trâm. Khốn nỗi, cái ghen hão đó lại trở thành “ghen thật” khi chính anh cũng không biết làm sao cho Trâm tin anh được.
         Rồi Khê cũng không buồn tìm cách phân trần cho Trâm hiểu nữa.
         Anh nghĩ: tại sao mình cứ khổ tâm về một tội lỗi mà mình không phạm.
         Trâm đã bắt đầu bê trễ công việc nhà, đi chơi luôn. Việc săn sóc thằng bé, nàng đã giao phó trọn vẹn cho một vú già mới mướn.
         Khê thấy khó chịu về sự vắng mặt luôn của vợ. Nhưng trước mặt Trâm anh lại làm ra vẻ thản nhiên như không lưu ý đến điều đó. Anh muốn cho Trâm hiểu vậy.
         Nhưng ngay lúc Trâm đi khỏi, anh trở lại bực dọc, gắt gỏng và thèm muốn đập phá.
         Hồi này Khê đã bắt đầu tập tọng uống rượu, mà uống lu bù. Anh hay la cà ở các quán rượu đêm. Mỗi khi thấy mình có đủ vẻ của một người rượu chè, trác táng lọc lõi, anh lại thấy tự bằng lòng.
         Cứ thế, mỗi khi khuya về miệng Khê lại sặc sụa hơi rượu.
         Lấy cớ đó, Trâm đã dọn chỗ ngủ riêng.
         Căn nhà tịch mịch, kín đáo nép trong những khóm lá của một khu xóm cũng tịch mịch, càng làm tăng thêm khổ hình của đôi vợ chồng trẻ, mỗi ngày thêm một xa nhau, cách biệt gần như không thể nào hàn gắn nổi.



         Một sớm mai đẹp trời, nắng hửng lên trong vườn từ lâu mà Khê vẫn còn vùi đầu trong chiếc mền đơn ngủ kỹ. Đêm qua, anh say sưa với bạn gần tới sáng. Một đêm hành lạc đầy đủ nhất của một kẻ chán đời…
         Bên kia buồng, Trâm đã thức từ lâu, song vẫn nằm yên nhìn lên trần nhà nghĩ ngợi vẩn vơ.
         Có tiếng u già khẽ gắt ở ngoài thềm:
         ― Hỏi gì thì đợi đấy đã! Cậu mợ tôi còn ngủ!
         Khê chợt giở mình lắng nghe, như đã chờ đợi từ lâu.
         Tiếng một người đàn ông lạ, rụt rè:
         ― Vâng, lúc nào ông dậy u nói giúp là có tôi, bố thằng cháu cho ông dạo nọ ở Đalat…
         Khê tung mền, vùng đứng dậy, rồi vụt chạy ra ngoài, hấp tấp như chưa từng bao giờ anh hấp tấp như thế.
         Trâm cũng đã bật đứng dậy. Đã toan chạy theo ra, nghĩ thế nào Trâm quay lại giường, gục mặt vào gối khóc thút thít.
         Câu chuyện ngoài thềm vẫn lọt vào tai Trâm rành rọt từng tiếng một…
         Dĩ nhiên chiều hôm ấy, trên một đại lộ ở Saigon, có đôi vợ chồng trẻ líu ríu như chim dắt nhau đi sắm áo quần đồ chơi cho trẻ nhỏ.
         Bỗng người vợ giựt tay chồng nói khẽ:
         Chúng mình phải đặt tên cho con chứ!…
         Người chồng mỉm cười, gật đầu âu yếm nhìn vào mắt vợ, khiến người vợ thẹn thùng quay đi…
         Hạnh phúc của họ lại đẹp như không có một bài thơ nào ca tụng nổi…


Xuân Đinh Dậu, Saigon
MẶC THU


BÁCH KHOA |  SỐ 5

 
The following users thanked this post: tnghia

Ngủ rồi nduytai

Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
« Trả lời #44 vào: 29/12/2017, 18:47:09 »
BÁCH KHOA |  SỐ 6  [1 tháng Tư  1957 |  84 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Chánh sách thuế vụ (quan niệm cũ, quan niệm mới) [II] |  1-7
Hoàng Minh Tuynh (dịch) |  Đức ái nhân trong Thiên Chúa giáo [II] \ Cha Riquet S.J. |  8-10
Phạm Ngọc Thảo |  Góp ý kiến về Thiên “Kế” của Binh Thư Tôn Tử |  11-15
Bách-Khoa |  Một “thuật” chính trị |  15
Tăng Văn Chỉ |  Quân bình giá vật, một biện pháp tạm thời và rất cần để chấn hưng kinh tế |  16-18
Bách-Khoa |  Trả lời bạo chúa |  18
Nguyễn Hiến Lê |  Tiếng Việt ngày nay [II] |  19-23
Nguyễn Huy Thanh |  Giòng suối trong bãi sa mạc |  24-25
Nguyễn Văn Ba |  Con người trong vũ trụ |  26-29
Bách-Khoa |  Phê bình |  29
Hào-Nguyên Nguyễn Hóa |  Thử tóm tắt học thuyết luân lý Épicure |  30-34
Phan Văn Trí |  Vấn đề giáo dục về hợp tác xã |  35-37
Dương Quỳnh Hoa |  Sơ lược cách chuẩn bị cho sản phụ theo phương pháp “Đẻ không đau” [II] |  38-39
T. T. K. |  Tráng sĩ hành (thơ) |  40-41
Nguiễn Hữu Ngư |  Một đêm giao thừa, nằm, đợi tiếng gà (thơ) |  41
Quách Tấn |  Đôi câu chuyện về Hàn Mặc Tử |  42-46
Vi Huyền Đắc |  Chiếc xe “lết” của cha tôi |  47-53
Bách-Khoa |  Đường lối chấp chính của Bá Di, Y Doãn và Khổng Tử |  53
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [III] (truyện dài) \ Từ Vu |  55-64
Quảng cáo |  54, 56, 58, 61-62, 65-68
Bình Nguyên Lộc |  Mài dao dạy vợ (kịch) |  69-73
Bách-Khoa đọc thay các bạn:
   |  Được người và mất người |  74
   |  Biết người |  74
   |  Chữ tín với nhà cầm quyền |  77-78
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  79-82
Quảng cáo |  75-76, 80, 83-84


SAIGON |  1957