Diễn đàn sách xưa | Bảo tồn văn hóa Việt

ĐẶC SẢN => Thư mục báo chí Việt Nam => Báo, tạp chí văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 => Tác giả chủ đề:: NL vào 24/02/2010, 22:41:10

Tiêu đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: NL vào 24/02/2010, 22:41:10
Tờ tạp chí có thể coi là huyền thoại, rất thành công và có cuộc đời đặc biệt dài của Sài Gòn. Ra số 1 ngày 15/1/1957.

Nguyên văn mục "Bách Khoa" trong "Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam" của Nguyễn Thành:

"BÁCH KHOA. Sài Gòn. Diễn đàn chung của tất cả những người tha thiết đến vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Xuất bản mỗi tháng 2 kỳ. Năm thứ nhất, số 1, ngày 15/1/1957; số cuối cùng, số 42, ngày 20-4-1975.

Chủ nhiệm: Huỳnh Văn Long
Tòa soạn: 160, phố Phan Đình Phùng
In typô. 225x190mm"

Thấy ngay là có mấy lỗi liền: số cuối cùng là bốn trăm bao nhiêu đó, chứ không phải 42, chủ nhiệm là Huỳnh Văn Lang chứ không phải Huỳnh Văn Long hichic.

Đỉnh cao của quyển từ điển này là ngay ở dưới lại có thêm mục "BÁCH KHOA THỜI ĐẠI. Sài Gòn 1964; -" :d
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: NL vào 24/02/2010, 22:42:26
Số 1

(http://i819.photobucket.com/albums/zz112/NLSX/Untitled1-5.jpg)

Tôi chỉ có ảnh mấy cái bìa, bác nào có nhiều hơn thì đưa lên nhé. Chất lượng ảnh cũng hơi tồi hihi.
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: Giấy gói xôi vào 24/02/2010, 22:47:50
Số cuối là 426. Bộ này đưa lên chắc mất cả tháng
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: bichluu vào 18/03/2010, 21:47:33
Hai ngươì điều hành tạp chí Bách Khoa là ông Lê Ngộ Châu mất ở SG năm 2006, còn ông Huỳnh Văn Lang thì hiện cư ngụ tại tiểu bang Conecticut Hoa Kỳ. Đây là một tạp chí tồn tại lâu đời nhất tại miền Nam trước 75.
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: bsn1664 vào 05/10/2011, 18:37:28
một bộ tạp chí rất có giá trị ! bạn nào có hảo ý xin chia sẻ bản số hóa cho mọi người cùng đọc thì tốt quá!
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: Kinh Kha vào 05/10/2011, 19:13:50
Hình như bộ tạp chí này có các bài viết về quân sự của nhà tình báo chiến lược nổi tiếng Phạm Ngọc Thảo thì phải
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: bsn1664 vào 07/10/2011, 17:40:27
Số 1

(http://i819.photobucket.com/albums/zz112/NLSX/Untitled1-5.jpg)

Tôi chỉ có ảnh mấy cái bìa, bác nào có nhiều hơn thì đưa lên nhé. Chất lượng ảnh cũng hơi tồi hihi.

tôi thấy được ảnh bìa của số 1 ở trang vietsciences.fr các bạn coi thử (cám ơn bạn duckhai2691 đã chỉ tôi cách đưa hình ảnh, tài liệu lên diễn đàn). tôi cũng đang kiếm bản số hóa tạp chí này, bạn nào có vui lòng chia sẻ. cám ơn nhiều,

(http://i1176.photobucket.com/albums/x332/bsn1664/bk-biaso1.jpg)
(http://i1176.photobucket.com/albums/x332/bsn1664/bk-biaso2.jpg)
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: Mua về để đấy vào 03/11/2011, 21:54:12
tôi thấy được ảnh bìa của số 1 ở trang vietsciences.fr các bạn coi thử (cám ơn bạn duckhai2691 đã chỉ tôi cách đưa hình ảnh, tài liệu lên diễn đàn). tôi cũng đang kiếm bản số hóa tạp chí này, bạn nào có vui lòng chia sẻ. cám ơn nhiều,

(http://i1176.photobucket.com/albums/x332/bsn1664/bk-biaso1.jpg)
(http://i1176.photobucket.com/albums/x332/bsn1664/bk-biaso2.jpg)


Bộ này số hóa công phu lắm! Trước hết phải có đủ bộ đã rồi làm gì thì làm! Em gom mãi chả đủ để số hóa! Giờ bận chả muốn làm nữa.
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: lephan vào 04/11/2011, 06:48:39
Tạp chí Bách Khoa do ông Huỳnh Văn Lang, tổng giám đốc viện Hối đoái thời chính quyền Ngô Đình Diệm lập ra. Lúc bấy giờ chính quyền rất hạn chế xuất bản báo nên ông Lang phải mua lại machette tờ Bách Khoa Bình dân của hội Văn hóa bình dân. Trước đó, tờ Bách Khoa Bình dân đã ra được 02 số rồi ngưng, ông Huỳnh Văn Lang thương lượng ra báo tiếp và đề nghị cắt bỏ hai chữ “bình dân” nên giấy phép tục bản chỉ lấy tên là Bách Khoa.
Ngày 15 tháng 1 năm 1957, tạp chí Bách Khoa ra mắt số đầu tiên với lời phi lộ: Xây dựng nước nhà về toàn diện là nhiệm chung của mọi người, trong đó có việc góp phần sáng kiến cá nhân, dù trúng, dù sai đều có ích lợi, miễn là tư tưởng ấy xuất phát từ ý muốn tốt và thành thực. Một quốc gia nếu chỉ có nền kinh tế vững chắc chưa đủ. Thêm một trình độ chính trị cao cũng chưa hoàn toàn. Một quốc gia cần phải là tổ hợp tất cả: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa xã hội...xây dựng nước Việt Nam hẳn là xây dựng đủ các ngành, các khoa, các phương tiện.
Bách Khoa là một bán nguyệt san, mỗi tháng phát hành 02 số vào ngày 1 và ngày 15 hàng tháng. Tòa soạn lúc nầy đặt tại số 160 –Phan Đình Phùng – Sài Gòn (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu –TP.HCM). Lực lượng cộng tác cho Bách Khoa, ngay từ số đầu tiên đã có sự tham gia của Phạm Ngọc Thảo, Phan Mai, Hoàng Minh Tuynh, Minh Đức, Phan Lạc Tuyên, bác sĩ Nguyễn Văn Ba....Sau đó, Bách Khoa đã thu hút nhiều trí thức, văn nghệ sĩ cộng tác. Về nội dung, như lời phi lộ số đầu tiên, Bách Khoa đăng tải toàn bộ các bài viết về tôn giáo, triết học, lịch sử, khảo cứu, văn chương học thuật, kinh tế và cả y học...Cho nên, trên Bách Khoa không phải chỉ có thơ văn, mà có cả những khảo luận về văn học, sử học, ngữ học, triết học, tôn giáo, hội họa, âm nhạc...; Bách Khoa có những tìm tòi về nguồn gốc dân tộc, về các vấn đề của văn học cổ  nước nhà, đồng thời có những giới thiệu các trào lưu tư tưởng Âu Tây mới nhất lúc bấy giờ: tiểu thuyết mới, hiện tượng học, cơ cấu luận v.v...
Đặc biệt, Bách Khoa có hàng trăm bài, từ các loạt bài triết học của giáo sư Trần Hương Tử, Linh mục Trần Thái Đinh, đến các bài khảo cứu về sử của giáo sư Nguyễn Thiệu Lâu, Linh mục Nguyễn Phương... Các bài về âm nhạc của giáo sư Trần Văn Khê; về Hát nói của cụ Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề. Một loạt bài rất giá trị về đạo Lão và Y Học Đông Phương của bác sĩ Trần Văn Tích, v.v… và công trình nghiên cứu gây khá nhiều tranh luận thời bấy giờ về “Nguồn gốc Mã Lai trong dân tộc Việt”, người khởi xướng là Bình Nguyên Lộc. Loạt bài “Người Chàm tại Việt Nam ngày nay” của Dohamide và Dorohiêm vào cuối năm 1962...
Năm 1958, Bách Khoa kỷ niệm đệ nhất chu niên, ra bộ mới, cải tiến về hình thức, nhưng nội dung về cơ bản không thay đổi. Cụ Á Nam Trần Tuấn Khải là cộng tác viên thường xuyên của tạp chí đã tổng kết qua bài hát nói “ mừng Bách Khoa đệ nhất chu niên” như sau:
“..Nào văn chương, chính trị nào xã hội nhân quần
Từ vật chất tinh thần cùng đổi mới
Chuông cảnh tỉnh ra công khua gọi
Đã năm trường vang dội khắp gần xa...”
Lúc nầy về hình thức, Bách Khoa chia ra hai phần rõ rệt, được giới thiệu ở bìa 1, gồm phần khảo luận và phần văn nghệ sinh hoạt. Trong suốt thời gian tồn tại, Bách Khoa thường xuyên có sự hiện diện của các cây bút nổi tiếng như Nguyễn Hiến Lê, Giản Chi, Quách Tấn, Bình Nguyên Lộc, Đông Hồ, Phạm Ngọc Thảo,Võ Hồng, Võ Phiến, Vi Huyền Đắc, Nguyễn Thiệu Lâu, Nguyễn Văn Hầu, Vương Hồng Sển, Nguyễn Ngu Í, họa sĩ Nguyễn Gia Trí, nhà thơ Bùi Giáng, Đinh Hùng, Vũ Hoàng Chương, Nhã Ca... Có thể nói, tạp chí nầy qui tụ được đông đảo cây bút thuộc nhiều thế hệ kế tiếp nhau; Có những người mới lần lượt tham gia viết cho Bách Khoa vào giai đoạn sau như: Lê Tất Điều, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Thị Hoàng, Hoàng Ngọc Tuấn, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Y Uyên, Vô Ưu, Nguyễn Mộng Giác v.v...
Bách Khoa là một tạp chí dung hòa rộng rãi mọi khuynh hướng. Từ số 1, ra ngày 15.1.1957 đến số cuối cùng ngày 20.4.1975, Bách Khoa ra được 426 số, là một đóng góp lớn cho lịch sử báo chí Việt Nam.
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: ThichDuThu vào 16/11/2011, 16:56:53
Tạp Chí Bách Khoa số đặc biệt về Nguyễn Du và Truyện Kiều (15/02/1972)

(http://i1121.photobucket.com/albums/l517/phongvu12a1/TapChi/IMG0133A.jpg)
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: ThichDuThu vào 16/11/2011, 17:05:43
Bách Khoa số 342 và 263
(http://i1121.photobucket.com/albums/l517/phongvu12a1/TapChi/IMG0137A.jpg)

(http://i1121.photobucket.com/albums/l517/phongvu12a1/TapChi/IMG0138A.jpg)
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: haiduong vào 06/04/2012, 08:49:55
e cũng mới tìm được 1 số
(http://nk2.upanh.com/b4.s25.d3/dfb34ce68a71cba2da435d440c384654_43051532.img2108.jpg) (http://www.upanh.com/img_2108_upanh/v/brx89few1zi.htm)
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: muavededoc vào 17/12/2012, 20:20:22
Bộ tạp chí Bách khoa 426 số. Hình ảnh như sau...

(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0658_zps03343e76.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0659_zps8e8d4cbd.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0660_zps18c797b3.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0661_zpsab5ee268.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0663_zps723dd76c.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0665_zpsf3633d10.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0666_zps29ab81af.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0667_zps7fff4d78.jpg)
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: goldenfish vào 17/12/2012, 22:02:24

Bộ TẠP CHÍ BÁCH KHOA hoành tráng quá..............xin chúc mừng :h :h :h :h :h :h :h :h
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: MINHLADO vào 04/06/2013, 09:08:48
Cảm ơn bác chưa đủ , mừng bác có được gia tài văn hóa QUÍ HIẾM .
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: Dế Mèn vào 03/12/2013, 13:20:13
Em cũng có 1 vài số Cần bán của Tạp chí Bách Khoa - 96 số - giá: 8,5tr
Gồm có các số: số 6, 22, 26 – 36, 38, 40, 43, 27, 64, 76, 78, 80, 81, 82, 83, 84, 89, 105, 107, 115, 172, 122, 135, 136, 138, 375, ,146, 148, 166, ,171, 173, 174, 175, 186,  192, 205, ,210, 211, 215, 249, 267, 284, 289, 303, 310, 312, 313- 314, 320, 321, 324, 325, 329, 331, 332, 333, 335, 336, 339, 340, 341, 342, 344, 345, 346, 347, 247-252, 348, 350, 353, 358, 367, 368, 396, 411, 407, 382, 408, 417.

các bác nào có cần suu tập cho đủ bộ thì nhăn tin e nhé
Một số hình ảnh:

(http://i1018.photobucket.com/albums/af309/huuduchuequang/tap%20chi%20bach%20khoa%208tr%20ruoi/004_zps4dc4500b.jpg) (http://s1018.photobucket.com/user/huuduchuequang/media/tap%20chi%20bach%20khoa%208tr%20ruoi/004_zps4dc4500b.jpg.html)
(http://i1018.photobucket.com/albums/af309/huuduchuequang/tap%20chi%20bach%20khoa%208tr%20ruoi/001_zpsc111c1a1.jpg) (http://s1018.photobucket.com/user/huuduchuequang/media/tap%20chi%20bach%20khoa%208tr%20ruoi/001_zpsc111c1a1.jpg.html)
(http://i1018.photobucket.com/albums/af309/huuduchuequang/tap%20chi%20bach%20khoa%208tr%20ruoi/005_zpsd1f56c63.jpg) (http://s1018.photobucket.com/user/huuduchuequang/media/tap%20chi%20bach%20khoa%208tr%20ruoi/005_zpsd1f56c63.jpg.html)
(http://i1018.photobucket.com/albums/af309/huuduchuequang/tap%20chi%20bach%20khoa%208tr%20ruoi/002_zps66f47f73.jpg) (http://s1018.photobucket.com/user/huuduchuequang/media/tap%20chi%20bach%20khoa%208tr%20ruoi/002_zps66f47f73.jpg.html)
(http://i1018.photobucket.com/albums/af309/huuduchuequang/tap%20chi%20bach%20khoa%208tr%20ruoi/003_zps48533802.jpg) (http://s1018.photobucket.com/user/huuduchuequang/media/tap%20chi%20bach%20khoa%208tr%20ruoi/003_zps48533802.jpg.html)
 
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: truong191 vào 03/12/2013, 13:32:34
Đủ bộ này là bao nhiêu số và nhiều tiền hok anh.
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduonghieu vào 05/10/2015, 21:45:33
Tạp chí Bách Khoa, số cuối 426

(http://i1308.photobucket.com/albums/s608/nduonghieu/bk_zpsg9gc4zs4.jpg) (http://s1308.photobucket.com/user/nduonghieu/media/bk_zpsg9gc4zs4.jpg.html)
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 06/10/2015, 02:32:26
Tạp chí Bách Khoa và đời sống xã hội Sài Gòn

Bài viết này nghiên cứu đời sống xã hội ở Sài Gòn thông qua góc nhìn của tạp chí Bách Khoa.
Bằng cách lần theo các dấu vết của tờ báo như giá bán, số trang, chủ đề bài viết, nội dung bài viết, số quảng cáo…
Chúng tôi sẽ trình bày những nét cơ bản về đời sống chính trị, đời sống kinh tế và đời sống văn hóa (tập trung vào đời sống báo chí) tại Sài Gòn trong giai đoạn 1954-1975.

1. Giới thiệu về tạp chí Bách Khoa
1.1. Hoàn cảnh ra đời
            Sau khi hiệp định Gèneve 1954 được ký kết, Huỳnh Văn Lang, Đỗ Trọng Chu, Lê Thành Cường – đang học và làm việc ở nước ngoài, về nước theo lời kêu gọi của Ngô Đình Diệm, trong khi đợi bổ nhiệm công việc – đã cùng nhau sáng lập hệ thống trường Bách Khoa Bình dân. Họ áp dụng lối giáo dục thực dụng vừa dạy chữ vừa dạy nghề để nâng cao dân trí. Sau đó, Ngô Đình Diệm bổ nhiệm Huỳnh Văn Lang giữ chức vụ Giám đốc viện Hối đoái. Với vị thế xã hội đó, Huỳnh Văn Lang dễ dàng thực hiện các ý tưởng khác. Một trong những ý tưởng đó là thành lập Ban Nghiên cứu kinh tế và tài chính trực thuộc Hội Văn hóa bình dân. (Hội Văn hóa bình dân đã được thành lập từ trước năm 1954, nhưng không hoạt động. Sau khi về nước, Huỳnh Văn Lang, Đỗ Trọng Chu, Lê Thành Cường gặp Ban chủ nhiệm Hội để bàn về việc thúc đấy hoạt động Hội. Hệ thống trường Bách Khoa Bình dân và tờ Bách Khoa được thành lập và chịu sự quản lý của Hội về mặt hành chính.) Rồi từ những kết quả hoạt động của ban Nghiên cứu, Huỳnh Văn Lang cùng với một số cộng sự muốn ra một tờ báo nhằm đưa các ý kiến, các kết quả nghiên cứu ra công luận. Họ bèn xin nhãn báo Bách Khoa bình dân đình bản từ số 2, cắt bỏ hai chữ “bình dân” để chỉ còn hai chữ Bách Khoa (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 184). Để Bách Khoa được xuất bản, Huỳnh Văn Lang đã vận động sự đóng góp từ một số thân hữu và một số chuyên viên ngân hàng dưới quyền của ông. Có 30 vị tham gia đóng góp, mỗi người đóng góp 10.000 đồng. Đó là các ông: Lê Đình Chân, Tăng Văn Chỉ, Đỗ Trọng Chu, Lê Thành Cường, Trần Lưu Dy, Lê Phát Đạt, Nguyễn Văn Đạt, Nguyễn Lê Giang, Phạm Ngọc Thuần Giao, Nguyễn Hữu Hạnh, Lê Văn Hoàng, Nguyễn Văn Khải, Phạm Duy Lân, Nguyễn Quang Lệ, Trần Long, Bùi Bá Lư, Lương Chí Sanh, Nguyễn Huy Thanh, Bùi Kiến Thành, Hoàng Khắc Thành, Phạm Ngọc Thảo, Bùi Văn Thịnh, Vũ Ngọc Tiến, Võ Thu Tịnh, Nguyễn Tấn Trung, Phạm Kim Tương, Hoàng Minh Tuynh, Bùi Công Văn. Có một người chỉ đóng góp 5.000 đồng và không được nhắc đến tên. Những người này luôn có tên ở bìa sau của tạp chí trong những năm đầu. Tuy nhiên, họ không tham gia viết lách gì cho Bách Khoa cả (Nguyễn Thụy Hinh. 2008).

1.2. Nội dung bài vở
            Bách Khoa là tạp chí bán nguyệt san, mỗi tháng phát hành hai số. Tổng cộng trong suốt hơn 18 năm tồn tại, từ 15-1-1957 đến 30-4-1975, Bách Khoa đã in được 426 số. Trong thời gian tồn tại, Bách Khoa có hai lần đổi tên. Lần thứ nhất là đổi từ Bách Khoa (1/1957 đến 1/1965) thành Bách Khoa thời đại (2/1965 đến 12/1969). Lần thứ hai là đổi từ Bách Khoa thời đại thành Bách Khoa (1/1970 đến 4/1975).
            Nội dung bài vở của Bách Khoa có thể được chia làm ba phần như sau: Phần biên khảo-nghị luận: gồm các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, giáo dục, triết học, văn hóa, tôn giáo, sử-địa, khoa học, v.v… phần văn nghệ: gồm truyện ngắn, truyện dài, truyện dịch, thơ, đàm thoại, phỏng vấn, tùy bút, hồi ký, bút ký… và phần tin tức: gồm tin chính trị, tin văn nghệ, tin khoa học (bắt đầu từ số 195/1965).

1.3. Lượng phát hành và thành phần độc giả
            Mỗi số Bách Khoa phát hành khoảng từ 4.000 đến 4.500 bản, Bách Khoa có số độc giả dài hạn trên 1.000, trong đó khoảng 100 ở ngoại quốc (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 185). Khi cuộc chiến tranh bắt đầu leo thang, việc vận chuyển về các tỉnh gặp nhiều khó khăn, chủ yếu là độc giả miền Trung, lượng phát hành bị giảm sút, đặc biệt sau biến cố Tết Mậu Thân 1968, lượng phát hành giảm xuống còn 3.000 bản.
            Về thành phần độc giả, Nguyễn Hiến Lê cho biết độc giả Bách Khoa đa số là hạng đứng tuổi chiếm đa số, còn giới trẻ chê là khô khan, nặng về biên khảo nhẹ về sáng tác (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 189). Nhưng ông Lê không nói rõ độc giả thuộc những thành phần nào. Theo chúng tôi khảo sát, kiểm chứng ở mục liên lạc, phản hồi thư từ bài vở giữa ban biên tập Bách Khoa với độc giả và cộng tác viên cho thấy số độc giả trẻ không phải là ít. Tuy nhiên, Bách Khoa không có nhiều độc giả thuộc giới bình dân, giới tiểu thương, công nhân mà phần lớn là giới trí thức, giới công chức trung lưu và sinh viên.

1.4. Cộng tác viên
            Trong khoảng hơn 18 năm tồn tại, Bách Khoa đã đăng 6.058 bài của hơn 700 tác giả. Làm nên vóc đáng của Bách Khoa có nhiều thế hệ, nhiều tầng lớp xã hội. Xin nêu một số văn nghệ sĩ có tên tuổi trong làng văn nghệ miền Nam góp mặt trên Bách Khoa như sau:
            Thế hệ tiền chiến: Cung Giũ Nguyên, Vi Huyền Đắc, Đông Hồ, Hư Chu, Toan Ánh, Quách Tấn, Tương Phố, Nữ sĩ Mộng Tuyết, Giản chi Nguyễn Hữu Văn, Đông Xuyên, Vương Hồng Sển, Nguyễn Văn Hầu…
            Lớp trí thức, công chức chính quyền: Đoàn Thêm, Nguyễn Hiến Lê, Trần Thúc Linh, Hoàng Minh Tuynh, Đỗ Bằng Đoàn, Hồ Hữu Tường, Trần Văn Khê, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Ngọc Lan, Lê Ngọc Trụ, Vũ Đình Lưu, Lê Văn Siêu, Trương Văn Chình, Kim Định, Trần Thái Đỉnh, Nguyễn Văn Trung, Võ Quang Yến, Nguyễn Trọng Văn, Phạm Công Thiện, Đỗ Trọng Huề, Bùi Văn Thịnh, Phạm Ngọc Thảo, Vũ Bảo (Phan Văn Tạo), Đặng Văn Nhâm, Đỗ Tiến Đức, Châu Hải Kỳ, Nguyễn Phương…
            Các nhà văn: Doãn Quốc Sỹ, Mặc Thu, Võ Phiến, Vũ Hạnh, Bùi Giáng, Vũ Hoàng Chương, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Nguyễn Mạnh Côn, Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Đức Sơn, Tạ Tỵ, Phan Du, Lê Tất Điều, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Ngu Í, Võ Hồng, Thế Uyên, Nguyễn Thị Hoàng, Túy Hồng, Phạm Duy, Minh Đức Hoài Trinh, Minh Quân, Thanh Lãng, Đinh Hùng, Lê Phương Chi, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nhã Ca…
            Tuy nhiên, Bách Khoa vẫn có một đội ngũ cộng tác cố định: Về biên khảo có Hoàng Minh Tuynh, Huỳnh Văn Lang, Nguyễn Hiến Lê, Đoàn Thêm, Võ Phiến, Vũ Hạnh, Nguyễn Ngu Í, Võ Quang Yến, Trần Văn Khê, Phạm Duy, Lê Phương Chi, Tiểu Dân, Trần Đại, Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Phương, Nguyễn Văn Hầu, Cô Liêu (tức Vũ Đình Lưu), Từ Trì, Thế Nhân. Về văn chương có Vũ Hạnh, Võ Phiến, Nguyễn Mộng Giác, Lê Tất Điều, Hoàng Ngọc Tuấn, Trùng Dương, Thế Uyên, Trần Hoài Thư, Đông Hồ, Phan Du. Về tin tức có Võ Phiến, Thu Thủy, Tử Diệp, Nguyễn Ngu Í, Võ Quang Yến, Minh Đức Hoài Trinh. Trong đó Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hữu Ngư (Nguyễn Ngu Í), Võ Phiến, Đoàn Thêm là những cây viết chính với hơn 100 bài cho Bách Khoa trong suốt 18 năm tồn tại.


2. Bách Khoa và đời sống xã hội Sài Gòn
            Ở phần này, chúng tôi sẽ lần theo một số dấu vết của tờ báo như sự tăng giảm về giá bán, lượng quảng cáo trên mỗi số, số trang trên mỗi số cũng như sự tăng giảm các bài viết từng lĩnh vực. Chúng tôi cũng khảo sát từng chủ đề của mỗi bài viết bởi vì nó cho biết mức độ quan tâm của công luận đối với các vấn đề xã hội và ý nghĩa của từng chủ đề trong bối cảnh kinh tế-chính trị-xã hội Sài Gòn. Mục đích của các khảo sát này nhằm để phác họa bức tranh về đời sống xã hội ở Sài Gòn gồm đời sống chính trị, đời sống kinh tế và đời sống văn hóa chủ yếu là đời sống báo chí. Chúng tôi mô tả đời sống xã hội này với cách nhìn từ bên trong ra ngoài, tức là từ Bách Khoa nhìn ra xã hội.

2.1. Bách Khoa và đời sống chính trị Sài Gòn
            Bách Khoa khởi đầu với một số vốn ít ỏi. Vốn ở đây bao gồm tài chính, nhân sự và đội ngũ cộng tác. Với một số vốn đóng góp nhỏ ban đầu, một số bài vở là kết quả sinh hoạt của ban Nghiên cứu kinh tế tài chính và vài nhân sự tòa soạn, những người sáng lập phân công nhau mời thêm các văn nghệ sĩ khác tham gia cộng tác với tờ báo, trước hết là các văn nghệ sĩ tiền chiến. Trong năm đầu tiên 1957, họ đã mời được Á-nam Trần Tuấn Khải, Vi Huyền Đắc, Hư Chu, Nguyễn Hiến Lê, Đông Xuyên, Thiên Giang, Quách Tấn, Hào-nguyên Nguyễn Hóa, Hoàng Thái Linh (Nguyễn Văn Trung), Trần Văn Khê, Đặng Văn Nhâm, Mặc Thu, Bùi Giáng, Minh Đức, Cô Liêu (Vũ Đình Lưu), Phan Lạc Tuyên, Bác sĩ Nguyễn Văn Ba, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Huy Thanh, Võ Thu Tịnh, Vũ Thừa Chi, Thuần Phong, Võ Phiến, Nguyễn Tử Quang, Nguyễn Huy Thanh…
            Trong 24 số đầu năm 1957, các thành viên của Ban sáng lập gồm: Huỳnh Văn Lang, Hoàng Minh Tuynh, Phạm Ngọc Thảo, Nguyễn Ngu Í, Phạm Thị Nhiệm là những cây viết chính cho tờ báo. Trong đó, Huỳnh Văn Lang có 13 bài/24 số, Hoàng Minh Tuynh có 18 bài/24 số, Phạm Ngọc Thảo có 14 bài/24 số, Nguyễn Ngu Í có 12 bài/24 số, Phạm Thị Nhiệm có 5 bài/24 số. Lĩnh vực đảm trách của từng thành viên sáng lập như sau: Huỳnh Văn Lang viết về kinh tế, Hoàng Minh Tuynh viết về Công giáo và chính trị, Phạm Ngọc Thảo viết về quân sự, Phạm Thị Nhiệm và Nguyễn Ngu Í viết về các đề tài xã hội, đặc biệt về phụ nữ.
            Trong bối cảnh sinh hoạt báo chí Sài Gòn, tích chất chính trị là thường được tính đến trong hoạt động của bất kì tờ báo nào. Khi xem xét nội dung các bài viết trong 24 số đầu tiên, chúng tôi thấy rằng các bài viết này có tính chất cổ xúy cho các chính sách kinh tế và văn hóa của chính quyền Ngô Đình Diệm. Mục đích của các chính sách này là nhằm thay đổi thái độ và niềm tin công chúng vào hình ảnh quốc gia miền Nam, một quốc gia có ranh giới, độc lập và tự cường. Biện pháp thực hiện các chính sách này là tổ chức các buổi nói chuyện, tổ chức các buổi lễ kỉ niệm và viết sách báo. Để nâng cao tinh thần quốc gia dân tộc, chính quyền Ngô Đình Diệm sử dụng các hình ảnh của các nhân vật lịch sử như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Hùng Vương, Quang Trung, đặc biệt chính quyền Ngô Đình Diệm rất chú ý khai thác hình ảnh người phụ nữ và họ đã sử dụng hình ảnh Hai Bà Trưng cho các chương trình vận động, tuyên truyền.
            Vì vậy, chúng tôi dễ dàng thấy được tính chất “cổ xúy” qua tên bài viết của các thành viên sáng lập trong 24 số đầu.
            Trong 24 số đầu, Huỳnh Văn Lang viết một loạt bài như sau Thử tìm một giải pháp để xuất cảng (Bách Khoa số 1), Kế hoạch kinh tế (BK số 2), Một ít nhận xét về phong trào hợp tác xã (BK số 3), Tìm hiểu giá trị đồng bạc (BK số 4), Chính sách thuế vụ (BK số 5 và 6), Chính sách tiền tệ (BK số 7), Tìm hiểu cán cân chi phó (BK số 9), Thử tìm một giải pháp để giải quyết vấn đề phân phối hàng hóa (BK số 10), Trở lại kế hoạch năm năm, thử đề nghị một thí nghiệm (BK số 12), Hợp tác xã tiêu thụ (BK số 13), Khủng hoảng tiền tệ? (BK số 14), Một ít nhận xét về chế độ bảo vệ kinh tế (BK số 23). Mục đích của bài viết này là phân tích các cơ sở lý thuyết kinh tế để từ đó đề xuất các biện pháp thích hợp cho hoàn cảnh kinh tế miền Nam, đối tượng mà các bài viết này nhắm đến là các nhà hoạch định kinh tế của chính quyền. Ngoài ra về kinh tế, trên Bách Khoa trong 24 số đầu còn có một số bài viết khác như Một giai đoạn mới trong chính sách kinh tế (BK số 1, 2) của Bùi Văn Thịnh, Vấn đề tài trợ những tiểu xí nghiệp (BK số 3), Quỹ tiết kiệm (BK số 5), Vấn đề bảo hiểm (BK số 9, 10, 11, 12) của Nguyễn Huy Thanh, Thử tìm biện pháp thích ứng để nâng đỡ xuất cảng sản phẩm Việt Nam (BK số 4), Quân bình giá vật (BK số 6) của Tăng văn Chỉ.
            Trong 24 số đầu, Hoàng Minh Tuynh có 18 bài/24 số, có nghĩa là gần như mỗi số đều có bài của Hoàng Minh Tuynh. Các bài viết của ông thường đề cập về Công giáo và chính trị gồm có Giáo hội với đà tiến triển của thế giới hiện nay (BK số 2), Trách nhiệm của người Công giáo đối với hòa bình (dịch) (BK số 3), Trách nhiệm của người Công giáo đối với anh em vô thần (dịch) (BK số 4), Đức ái nhân của Thiên chúa giáo (dịch) (BK số 5, 6), Luận về chế độ dân chủ (BK số 7), Chế độ dân chủ cổ điển (BK số 8), Chế độ dân chủ cổ điển: chủ trương của phái Trọng nông (BK số 12), Chế độ dân chủ cổ điển: nước Anh (BK số 15, 18, 19, 20), Chế độ dân chủ cổ điển: Hiệp chủng quốc Mỹ Châu (BK số 21, 22, 23, 24).
            Phạm Ngọc Thảo viết các bài về quân sự. Trong 24 số đầu, Phạm Ngọc Thảo có 14 bài gồm Thế nào là quân đội mạnh (BK số 1), Đánh giặc mà không giết người (BK số 2), Góp ý kiến về thiên “Mưu Công” của Binh thư Tôn Tử (BK số 3), Một ý kiến về vấn đề lãnh đạo tinh thần một đơn vị quân đội (BK số 4), Vấn đề kinh tế tự túc trong quân đội (BK số 5), Thiên “kế” của Binh thư Tôn Tử (BK số 6), Vấn đề học tập văn hóa trong quân đội (BK số 7), Vấn đề tập trung lực lượng trong quân đội (BK số 9), Vấn đề xử dụng người (BK số 11), Lực lượng quân sự cơ động và lực lượng quân sự địa phương (BK số 13), Quân đội và nhân dân (BK số 14), Chiến tranh không mặt trận (BK số 15), Quân đội đi bình định đem lại bình an hay oán hận (BK số 16). Các bài viết của Phạm Ngọc Thảo được độc giả đánh giá cao. Nguyễn Hiến Lê nhận xét Phạm Ngọc Thảo là “một người thấp nhỏ, rất hoạt động, có tư tưởng tiến bộ, viết một số bài về quân sự, tỏ ra có kinh nghiệm và biết suy nghĩ” (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 185).
            Cho nên có thể nói từ 1957-1959, Bách Khoa hoạt động như là một tờ báo “thân chính quyền”. Cho tới khi mỗi thành viên của Ban sáng lập tách ra, mỗi người theo đuổi các công việc khác và Lê Ngộ Châu xuất hiện thì Bách Khoa mới hoạt động như là một tờ báo “trung lập” và thuần chất văn nghệ hơn. Vì vậy, nhiều nghiên cứu sau này xếp Bách Khoa vào tờ báo văn học hoặc sinh hoạt văn hóa-văn nghệ. Nguyễn Hiến Lê nhận xét:

            “… Đến năm 1959, một phần nhờ Lê Ngộ Châu (đã hồi theo kháng chiến rồi về Hà Nội dạy tư), được Huỳnh Văn Lang giao cho nhiệm vụ tựa như thư ký tòa soạn, mà tờ báo khởi sắc, có một đường lối rõ rệt, đường lối thứ ba, không theo Cộng mà cũng không theo Mỹ…” (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 185).

            Mặc dù các bài viết biên khảo và tin tức chính trị gia tăng trong giai đoạn sau, từ sau 1965, nhưng chủ yếu nhằm cập nhật tình hình chính trị quốc tế còn tình hình chính trị trong nước lại ít được quan tâm. Chính cái tính chất trung lập, dung hòa giữa các khuynh hướng chính trị khác nhau làm cho Bách Khoa có một chỗ đứng khá vững trong sinh hoạt báo chí và chính trị. Võ Phiến viết:

            “Cũng như tờ Văn, Bách Khoa là một tạp chí dung hòa rộng rãi mọi khuynh hướng. Không có chủ trương “văn nghệ cách mạng” cũng không chủ trương “vượt thời gian”, nó đăng bài của các lão thi sĩ tiền bối Đông Hồ, Quách Tấn, Vũ Hoàng Chương, lẫn truyện của Thanh Tâm Tuyền, Trùng Dương… Về mặt chính trị, sức dung hòa của nó khiến có lần Nguyên Sa nói đùa: Bách Khoa là một vùng xôi đậu. Nó đón nhận cả Nguyễn Văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Vũ Hạnh, lẫn Võ Phiến, Vũ Bảo…” (Võ Phiến. 2000, tr. 96)

            Phan Du viết:

            “Bất luận là trẻ già, là mới cũ, là duy vật, là Phật giáo hay Công giáo, khuynh hướng chính trị, văn chương thế nào, đều được đón nhận với sự cảm thông và được chung đụng trong cái thể hòa đồng, cởi mở”. (Phan Du. 1972, tr. 79)

2.2. Bách Khoa và đời sống kinh tế Sài Gòn
            Đọc các bài viết về kinh tế trên Bách Khoa, chúng tôi nhận thấy nền kinh tế miền Nam phát triển với nhiều bất ổn: vật giá gia tăng liên tục; nhập khẩu luôn cao hơn xuất khẩu mà thành phần nhập khẩu chủ yếu là hàng hóa tiêu dùng, ngay cả gạo cũng nhập khẩu mặc dù miền Nam là vựa lúa; thiếu nguyên liệu khiến cho sản xuất đình đốn, nạn đầu cơ các nhu yếu phẩm. Các bài viết cũng cho biết sở dĩ nền kinh tế miền Nam phát triển bất thường là do một chính sách viện trợ ồ ạt. Chính sách này, dưới hình thức hàng hóa nhập cảng, đã biến nền kinh tế Việt Nam thành một nền kinh tế tiêu dùng và bị lệ thuộc trầm trọng. Cùng với chính sách viện trợ là những khoản chi tiêu của quân đội Mỹ trong thời kỳ chiến tranh, những khoản ngoại tệ do chính phủ Mỹ đổi cho Chính phủ Sài Gòn để lấy tiền Việt Nam, nhằm chi tiêu cho những cơ quan và đơn vị Mỹ đóng tại bản địa đã tung ra thị trường vài tỷ đôla/năm đã làm lượng tiền tệ tồn tại ngoài thị trường rất lớn.
            Để kiểm chứng cho những lập luận trên, chúng tôi đã khảo sát và so sánh giá bán của Bách Khoa qua thời gian. Chúng tôi cũng xem xét một số yếu tố khác như có bao nhiêu số bán với một giá nhất định, trong thời gian tồn tại Bách Khoa có bao nhiều lần tăng giá bán, mỗi lần tăng bao nhiêu để xem mức độ tăng giá như thế nào. Kết quả như sau:



       Thời gian          Tổng số tháng    Số lượng tạp chí          Giá bán

Từ           Đến

01/1957   06/1960         42 tháng        42 x 2 = 84 số              08 đồng

07/1960   12/1965         66 tháng        66 x 2 = 132 số            10 đồng

01/1966   07/1966         07 tháng        07 x 2 = 14 số              12 đồng

08/1966   12/1966         05 tháng        05 x 2 = 10 số              15 đồng

01/1967   06/1967         06 tháng        06 x 2 = 12 số              20 đồng

07/1967   07/1968         13 tháng        13 x 2 = 26 số              25 đồng

08/1968   10/1969         15 tháng        15 x 2 = 30 số              30 đồng

11/1969   06/1970         08 tháng        08 x 2 = 16 số              40 đồng

07/1970   12/1971         18 tháng        18 x 2 = 36 số              50 đồng

01/1972   07/1972         07 tháng        07 x 2 = 14 số              70 đồng

08/1972   12/1972         05 tháng        05 x 2 = 10 số              80 đồng

01/1973   06/1973         06 tháng        (6 x 2) – 3 = 9 số        100 đồng

07/1973   12/1973         06 tháng        (6 x 2) – 3 = 9 số        120 đồng

01/1974   06/1974         06 tháng        (6 x 2) – 3 = 9 số        150 đồng

07/1974   04/1975         10 tháng        (10 x 2) – 5 = 15 số    200 đồng


            Kết quả khảo sát cho thấy trong những năm đầu 1957-1960, vật giá được bình ổn. Nhưng bắt đầu từ 1960, vật giá bắt đầu gia tăng. So sánh giá bán năm 1970 với giá bán năm 1960, cho thấy rằng vật giá đã gia tăng 500%, đặc biệt từ sau Tết Mậu Thân, từ năm 1968 đến 1970, vật giá đã tăng 200%. So sánh 5 năm cuối tức 1975 với 1970, vật giá gia tăng 400%.
            Nhìn vào biểu đồ, chúng ta thấy rằng trong 18 năm tồn tại, Bách Khoa có 14 lần tăng giá bán, mức tăng giá bán không theo trình tự tiệm tiến, mà có sự nhảy vọt, từ mức tăng thêm 2 đồng, 3 đồng, 5 đồng sau mỗi đợt tăng giá từ 1957-1967, mức tăng đã nhảy vọt lên 10 đồng, 20 đồng, 30 đồng sau những mỗi đợt tăng giá trong những năm 1968-1975. Trong đó, số tạp chí giữ một giá bán nhất định cũng giảm xuống từ 132 số xuống còn 16 số, thấp nhất là 9 số, đặc biệt từ 1972 đến 1974. Như vậy, giá bán tăng nhanh và liên tục, đặc biệt từ 1968 và số tạp chí giữ được một giá bán chỉ còn 9 số sau mỗi đợt tăng giá.
            Và việc tăng giá bán này không đồng nghĩa với sự tăng bài viết hay số trang giấy, mà ngược lại, số bài viết, số trang trên Bách Khoa giảm đi (xem phần phân tích tiếp theo).

2.3. Bách Khoa và đời sống văn hóa Sài Gòn
            Trong đời sống văn hóa Sài Gòn, chúng tôi tập trung trình bày đời sống báo chí Sài Gòn. Nhìn chung, xét về mặt nội dung, báo chí Sài Gòn nặng về chính trị, xã hội, văn nghệ và giải trí, ít chú trọng tới mảng kinh tế hay chính sách vĩ mô về điều hành kinh tế.
            Trong một xu hướng như thế, chúng tôi đã thống kê và phân loại tất cả các bài viết trên 426 số Bách Khoa (1957-1975) bao gồm 6.508 bài theo từng lĩnh vực khác nhau và chia thời gian hoạt động của Bách Khoa thành hai giai đoạn (1/1957 đến 1/1965) và (2/1965 đến 4/1975) để xem tích chất hoạt động của Bách Khoa và sự thay đổi giữa các lĩnh vực như thế nào qua thời gian. Kết quả như sau:



                LĨNH VỰC                                                        TỔNG SỐ BÀI

                                                     Tổng số            Giai đoạn 1                 Giai đoạn 2
                                                                      (1/1957 đến 1/1965)    (2/1965 đến 4/1975)


Bách Khoa, Bách Khoa thời đại       106                     67                             39

Tin tức                                              365                     47                           318

Văn học                                         2.995                1.665                        1.330

Lịch sử                                             317                   196                            121

Chính trị                                           771                   328                            443

Kinh tế                                              171                   103                              68

Văn hóa                                            573                   332                            241

Giáo dục-y tế                                    342                   138                            204

Dân tộc học, ngôn ngữ học                39                     36                                3

Triết học                                            218                   122                              96

Tôn giáo                                            127                     89                              38

Xã hội                                                168                     77                              91

Khoa học kỹ thuật                             192                    111                              81

Khác                                                  124                     58                              66

Tổng số                                          6.508                3.369                         3.139


            Từ kết quả trên cho thấy tích chất hoạt động của Bách Khoa cũng giống như xu hướng chung của báo chí Sài Gòn lúc bấy giờ, nghĩa là nghiêng về văn nghệ, chính trị và giải trí. Các tác phẩm văn xuôi và phê bình văn học chiếm đến 2.995 bài, các bài viết về chính trị chiếm 771 bài, các bài viết về văn hóa có 573 bài. Mặc dù được khởi xướng từ một số người công chức kinh tế nhưng trong suốt thời gian tồn tại 18 năm các bài viết về kinh tế chỉ có 171 bài.
            Khi so sánh sự tăng giảm các bài viết trong từng lĩnh vực giữa hai giai đoạn (1/1957 đến 1/1965) và (2/1965 đến 4/1975), chúng tôi nhận thấy bốn lĩnh vực có sự gia tăng bài viết là tin tức, chính trị, giáo dục, xã hội, tăng mạnh nhất là tin tức trong khi các lĩnh vực còn lại đều giảm (xem bảng). Chúng tôi cũng cần nói rõ thêm về việc phân chia thành hai giai đoạn như trên, chúng tôi chọn thời điểm Bách Khoa đổi tên thành Bách Khoa thời đại làm cột mốc phân chia giai đoạn. Việc phân chia này tỏ ra hữu ích khi chúng tôi nhận thấy sự giảm mạnh của tổng số bài viết. Giai đoạn một có tổng số 3.369 bài, giai đoạn hai có tổng số 3.139 bài trong khi số tạp chí phát hành trong giai đoạn hai nhiều hơn giai đoạn thứ nhất 38 số nhưng số bài viết lại giảm đi 230 bài. Cụ thể là trong giai đoạn một từ 1/1957 đến 1/1965, kéo dài 97 tháng, Bách Khoa phát hành được 194 số với 3.369 bài trong khi giai đoạn hai từ 2/1965 đến 4/1975, kéo dài 123 tháng, Bách Khoa phát hành được 232 số mà chỉ có 3.139 bài.
            Điều này, theo chúng tôi, là do những biến chuyển của thời cuộc và tình hình kinh tế-chính trị. Từ sau 1965 với sự leo thang của chiến tranh, sự đổ quân đội Mỹ vào miền Nam đã khiến cho các vấn đề chính trị gia tăng ở báo chí và cũng chính các sự kiện này cũng đẩy các vấn đề xã hội và giáo dục tăng theo. Bên cạnh đó là sự tác động của những yếu tố kinh tế-chính trị đã kéo sinh hoạt báo chí Sài Gòn vào tình trạng ngưng trệ, đặc biệt từ sau 1972. Thứ nhất, sắc luật 007/72 (buộc báo chí phải ký quỹ) đã “đẩy giới cầm bút vào cảnh thất nghiệp tạo ra bao cảnh cơ cực về tinh thần cũng như về vật chất” (Vũ Hạnh. 1973, tr. 83), rồi tình trạng tăng giá và khan hiếm giấy làm cho sinh hoạt báo chí Sài Gòn từ 1973 gần như tê liệt. Ông Phạm Việt Tuyền đã liệt kê sự gia tăng giá giấy trong năm 1973 như sau:
               + Tháng 2/1973: 1.600 đồng/ 1 rame (500 tờ)
               + Tháng 4/1973: 1.670 đồng/ 1 rame
               + Tháng 5/1973: 2.650 đồng/ 1rame
               + Tháng 9/1973: 2.700 đồng/ 1 rame
               + Tháng 11/1973: 3.180 đồng/ 1 rame. (Thế Nhân. 1973, tr. 125)
            Chính vì vậy mà Bách Khoa từ năm 1973, 1974, mỗi năm in hụt mất 6 số chỉ in được 18 số thay vì 24 số. Riêng năm 1975, Bách Khoa chỉ được in 6 số thay vì 8 số nghĩa là hụt đi (tồn tại đến 4/1975). Vì giá giấy cao nên số trang trong mỗi số cũng giảm đi từ 5 đến 10 trang.
            Nguyễn Hiến Lê cho biết thêm:

            “… Từ vụ Tết Mậu Thân (1968), tờ báo mất một số lớn độc giả miền Trung – mà độc giả đó là phân nửa độc giả Bách Khoa – giá giấy và công in lại cao, nên lỗ. Ông Lê Ngộ Châu ráng giảm mọi chi phí – cả tòa soạn chỉ có ông và hai người giúp việc – và duy trì tờ báo tới đầu 1975. Một nhà văn theo kháng chiến, ra Bắc về phải ngạc nhiên về sự làm việc của tòa soạn vì theo ông thì ở Bắc, một tờ định kỳ như vậy phải dùng ba chục nhân viên là ít…” (Nguyễn Hiến Lê. 1993, tr. 185).

            Xét về tầm ảnh hưởng của Bách Khoa đối với dân chúng, chúng tôi thấy rằng “nhật báo ở Sài Gòn sau năm 1963 có chỗ đặc điểm của nó: báo ra đời nhiều hơn ở các thủ đô lớn trên thế giới (…) có lúc 40 tờ nhật báo Việt ngữ, rồi tuần san, bán nguyệt san nữa…” (Nguyễn Ngu Í. 1966, tr. 60). Vì thế, trong cái rừng báo chí ấy và với số lượng phát hành ít ỏi, tầm ảnh hưởng của Bách Khoa đối với người dân Sài Gòn không lớn. Nguyễn Hiến Lê nhận xét:

            “… Bách Khoa không có ảnh hưởng lớn như Nam Phong, Phong Hóa, Ngày nay trong dân chúng (…) Bách Khoa sinh sau bốn chục năm, vào cái thời mà số người viết đông, số độc giả cũng đông, gồm nhiều khuynh hướng, nên bị nhiều báo định kì chia bới độc giả…” (Nguyễn Hiến Lê. 2006, tr. 189).

            Mặc dù, tầm ảnh hưởng của Bách Khoa không lớn, tuy nhiên trong sinh hoạt báo chí Sài Gòn vào giai đoạn 1954-1975, Bách Khoa là một trong số rất ít tạp chí có mặt lâu dài trên diễn đàn báo chí và văn nghệ Sài Gòn.


3. Một số nhận xét
            Trong sinh hoạt báo chí Sài Gòn 1954-1975, Bách Khoa là một trong số ít tạp chí tồn tại được trong suốt thời gian này. Căn cứ vào tôn chỉ mục đích và các bài viết trong 48 số đầu tiên cho thấy Bách Khoa là một tờ báo “thân chính quyền”. Những người sáng lập bao gồm Huỳnh Văn Lang, Hoàng Minh Tuynh, Phạm Ngọc Thảo, Phạm Thị Nhiệm là những cây viết chính của Bách Khoa trong những năm đầu. Tùy theo sự quan tâm và chuyên môn của họ mà mỗi người lựa chọn lĩnh vực và chủ đề riêng. Khi xem xét các bài viết của họ, chúng tôi nhận thấy các bài viết này đã “cổ xúy” cho các đường lối, chính sách của chính quyền Ngô Đình Diệm. Trong hai năm đầu, Bách Khoa bị độc giả chê là khô khan, nặng về kinh tế và Công giáo. Nhưng tờ báo vẫn hoạt động được vì nhờ ảnh hưởng Huỳnh Văn Lang, lúc bấy giờ là giám đốc viện Hối đoái, cho nên tờ báo nhận được nhiều quảng cáo, đặc biệt là các quảng cáo về ngân hàng. Trung bình mỗi số, Bách Khoa có 15 quảng cáo. Số tiền thu được từ quảng cáo giúp tờ báo có thể đứng vững mà không cần sự trợ giúp của chính quyền và có tiếng nói riêng của mình.
            Bên cạnh đó, Bách Khoa trong thời gian đầu hoạt động mang nhiều sắc thái của báo chí thời kỳ Lục tỉnh tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí. Viết báo nhằm mục đích giáo dục, giảng dạy luân lý, phổ biến các trào lưu tư tưởng. Phần nhiều các người cộng tác cho Bách Khoa thời kỳ đầu là thế hệ tiền chiến như Đông Hồ, Hư Chu, Cung Giũ Nguyên, Toan ánh, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hữu Ngư, Vi Huyền Đắc, Á-nam Trần Tuấn Khải… Họ vẫn quen với cung cách làm báo cũ. Cho nên, Bách Khoa không có ảnh hưởng lớn đến độc giả, số phát hành ban đầu chưa đến 1.000, độc giả chủ yếu là người lớn tuổi.
            Vì những lý do riêng, những người sáng lập lần lượt ra đi, giao công việc trông nom, quản lý, chủ bút lại cho Lê Ngộ Châu. Theo Nguyễn Hiến Lê, từ khi có Lê Ngộ Châu mà tờ báo khởi sắc. Đóng góp của Lê Ngộ Châu đối với Bách Khoa là giữ vững được lập trường “trung lập” và duy trì hoạt động của tờ báo. Một điều đáng chú ý khác là ông Châu đã quy tụ và kết hợp được các văn nghệ sĩ thuộc các khuynh hướng chính trị, tôn giáo khác nhau, có người già lẫn người trẻ, có người cũ lẫn người mới, có nam lẫn nữ. Bách Khoa đón nhận cả Vũ Hạnh lẫn Võ Phiến, Đoàn Thêm, Phan Văn Tạo với Lý Chánh Trung, Thích Nhất Hạnh, Thanh Lãng, Vi Huyền Đắc, Á-nam Trần Tuấn Khải lẫn Trần Hoài Thư, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn Thị Hoàng, Nhã Ca, Trùng Dương.
            Nếu so sánh lượng phát hành của Bách Khoa với các tạp chí cùng loại thì đây là lượng phát hành thấp. Bình Nguyên Lộc, người chủ trương tờ Vui Sống, nói rằng: “Một tờ báo như Vui Sống phải bán được tám ngàn số thì mới đủ sống. Lúc ấy cho nó ra đời, tôi cũng liều. Nhưng cũng nắm một số yếu tố chắc ăn, tôi mới liều. Số ra mắt bán trên tám ngàn, nhưng số sau thì còn năm ngàn mấy. Mấy số sau, số bán có tăng lên, song tăng chậm, đến số 9, chưa tới mức tám ngàn. Tôi đành nghỉ sau số 10” và Bình Nguyên Lộc mất đi số vốn 150.000 đồng khi làm tờ Vui Sống (Nguiễn Ngu Í. 1965, tr. 83). Như vậy, với số lượng phát hành 4.000 đến 4.500 từ 1957-1967 rồi xuống 3.000 (1968-1975), làm thế nào Bách Khoa có thể tồn tại được trong suốt thời gian này? Trong khi Vũ Hạnh cho rằng “Những tờ báo trường thọ trọn năm mà không chết giấc đôi ngày hoặc đôi ba tuần, có thể liệt vào hàng quái kiệt có một phúc phận khác phàm” (Vũ Hạnh. 1965, tr. 22). Trong khi ấy Bách Khoa “không nhận trợ cấp của chính quyền, không ủng hộ chính quyền mà sống được mười tám năm” (Nguyễn Hiến Lê. 2006, tr. 185).
            Có một số giải thích xung quanh sự tồn tại, có mặt lâu dài như thế của Bách Khoa, Nguyễn Văn Lục cho rằng Bách Khoa là chính sự tiếp nối của Nam Phong:

            “(…) những cái gì không có ở Nam Phong thì Bách Khoa có hết, mà có hơn bội phần, có dồi dào và phong phú (…) Bách Khoa là một thứ Bách Khoa toàn thư cho bất cứ ai muốn mưu cầu mở mang kiến thức (…) hơn bất cứ tờ báo nào, nó đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu hiểu biết của một người (…)” (Nguyễn Văn Lục. 2008).

            Nguyễn Thụy Hinh cũng cố gắng giải thích về vấn đề này, tác giả cho rằng thông qua sự lý giải tại sao những tờ như Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế Kỷ 20 được tài trợ nhưng vẫn chết yểu sẽ gián tiếp trả lời vì sao Bách Khoa tồn tại cho đến 1975. Thứ nhất, tác giả cho rằng nội dung bài viết rời rạc, không có cái mới mà người đọc muốn tìm như tên gọi, như các hô hào của tờ báo. Thứ hai, là những tờ báo này không có một người quản lý, một người nội trợ trông nom đến tiền bạc, độc giả dài hạn, kế toán số sách, nhà in. Trong khi đó, Bách Khoa “âm thầm hơn, kín tiếng hơn, cứ đường ta ta đi. Góp gió từ muôn phương rồi trải ra tứ phía” (Nguyễn Thụy Hinh. 2008) và theo tác giả cho rằng “phải chăng” ở Bách Khoa có những con người như Huỳnh Văn Lang, như Lê Ngộ Châu “làm hết” mọi việc. Thứ ba, Bách Khoa đã quy tụ được nhiều cây viết của nhiều thế hệ kế tiếp nhau.
            Tóm lại, để giải thích cho sự tồn tại lâu dài của Bách Khoa, Nguyễn Văn Lục cho rằng chính nhu cầu muốn hiểu biết của con người. Còn Nguyễn Thụy Hinh dù đưa ra ba yếu tố: bài vở, nhân sự, đội ngũ cộng tác nhưng cuối cùng ông cũng không dám khẳng định điều gì đã làm nên một Bách Khoa như thế.
            Cũng giống như xu hướng chung báo chí Sài Gòn, Bách Khoa nghiêng về văn nghệ, chính trị, xã hội ít chú trọng tới mảng kinh tế hay chính sách vĩ mô về điều hành kinh tế. Trong thời gian tồn tại, Bách Khoa có hai lần đổi tên. Lần thứ nhất là đổi từ Bách Khoa (1/1957 đến 1/1965) thành Bách Khoa thời đại (2/1965 đến 12/1969). Lần thứ hai là đổi từ Bách Khoa thời đại thành Bách Khoa (1/1970 đến 4/1975). Việc đổi tên xuất phát từ bối cảnh chính trị-kinh tế-xã hội. Bách Khoa cũng có hai Ban chủ nhiệm: Huỳnh Văn Lang (1957-1959) và Lê Ngộ Châu (1960-1975). Nói đến Bách Khoa không thể chỉ nhìn thấy tuổi thọ của nó mà Bách Khoa còn quy tụ được nhiều thế hệ văn nghệ sĩ kế tiếp nhau, lưu giữ được một khối lượng lớn bài vở có giá trị tham khảo để tìm hiểu về con người và xã hội miền Nam.
            Về hoạt động báo chí, thông qua các dữ kiện phản ánh trên Bách Khoa đề tài thấy rằng số tờ báo và số lượng phát hành của báo chí Sài Gòn giai đoạn 1954-1975 tăng nhanh so với thời kỳ trước đó, và phần lớn là báo chí tư nhân. Tuy nhiên, thị trường báo chí hoạt động không ổn định, trồi sụt bất thường. Đặc trưng này có thể được giải thích bằng những xáo trộn chính trị, các chính sách kiểm soát báo chí của chính quyền và do tình trạng khan hiếm giấy và tăng giá giấy.
            Tính chất thương mại của báo chí trong giai đoạn 1954-1975 thể hiện đậm nét hơn so với giai đoạn trước. Khi nghiên cứu về báo chí Việt Nam giai đoạn 1865-1930, Huỳnh Văn Tòng cho biết: “Ngay từ khởi thủy, báo chí Việt Nam không là báo thương mãi, mà chỉ là báo chính trị. Vấn đề thương mãi (kinh doanh thương mãi) chỉ là yếu tố thứ yếu, so với yếu tố chánh yếu là nhiệm vụ chính trị” (Huỳnh Văn Tòng. 1973, tr. 245). Song, do bối cảnh chính trị của miền Nam sau 1954, tính chất chính trị và đấu tranh chính trị vẫn bao trùm đời sống báo chí giai đoạn này. Nhưng cái tính chất thương mại vẫn nổi trội hơn vì “cái mục đích chính trị vẫn không tách rời ý nghĩa kinh doanh vì sự tranh đấu chính trị mạnh mẽ của báo còn nhằm mục đích lôi cuốn cho nhiều độc giả” (Vũ Hạnh. 1965, tr. 23).
            Một đặc điểm cần chú ý đối với báo chí Việt Nam nói chung và báo chí Sài Gòn nói riêng là mối quan hệ giữa báo chí và văn học. Sự phát triển của báo chí Việt Nam nói chung kể từ đầu thế kỷ XX đã đóng vai trò hết sức quan trọng vào việc phổ cập chữ quốc ngữ, vào sự ra đời của thể loại văn xuôi, cũng như thúc đẩy nền văn học chữ quốc ngữ (Trần Hữu Quang. 2006, tr. 201). Và sự đóng góp này của báo chí vào văn học đến mức có thể nói lịch sử văn học hiện đại đi đôi với lịch sử báo chí (Huỳnh Văn Tòng. 1973, tr. 119-121). Và mối quan hệ giữa báo chí và văn học lại càng thêm khắn khít trong giai đoạn 1954-1975. Bất cứ tờ nhật báo, tuần báo, bán nguyệt san, nguyệt san nào cũng có bốn năm truyện ngắn, truyện dài. Mối quan hệ được củng cố và gắn bó là do nhu cầu của độc giả và nó đã lôi kéo hầu hết các nhà văn, nhà thơ vào việc viết feuillton cho các báo. Việc viết feuillton này một phần cải thiện nguồn thu nhập cho nhà văn, một phần tạo ra “món ăn” tinh thần cho độc giả.
            Bên cạnh đó, như chúng ta đã biết trong thời kỳ đầu của báo chí Việt Nam, phần lớn các nhà báo là các nhà văn. Nhà báo lúc ấy được hiểu một cách mặc nhiên là nhà văn, “người viết báo (lúc đó) nói thực ra là làm văn chớ không phải làm báo” (Vũ Bằng. 1969, tr. 14). Trong giai đoạn 1954-1975, cái đặc trưng này của báo chí vẫn còn, đội ngũ cộng tác cho báo chí hầu hết là giới văn nghệ sĩ. Tính chất không chuyên ấy được Vũ Hạnh phản ánh “phần đông đều không trải qua một sự đào tạo nào khác là óc thông minh và sự ưa thích của mình, nên phải phát triển chậm chạp trong nghề” (Vũ Hạnh. 1965, tr. 23). Điều này cũng thể hiện rõ trong Bách Khoa, các thế hệ cộng tác cho Bách Khoa phần lớn là các văn nghệ sĩ. Ở Sài Gòn, mãi cho đến năm 1967, lớp báo chí đầu tiên mới được khai giảng tại Viện Đại học Đà Lạt. Sau đó Đại học Vạn Hạnh mới đưa môn báo chí vào chương trình giảng dạy (Trần Đại. 1969, tr. 16).
            Nhìn vào đời sống báo chí giai đoạn 1954-1975, ta thấy chức năng của báo chí giai đoạn 1954-1975 đã khác so với chức năng báo chí thời Pháp thuộc. Những chức năng xã hội quan trọng của báo chí thời kì trước như sau: (i) phổ cập chữ quốc ngữ và thúc đẩy văn học, (ii) phổ biến các tư tưởng tiến bộ về tự do, dân chủ, dân quyền và những tư tưởng cách tân xã hội, (iii) diễn đàn đấu tranh của các lực lượng yêu nước, (iv) thông tin kinh tế (Trần Hữu Quang. 2006, tr. 199). Trong giai đoạn sau, tức 1954-1975, do bối cảnh và những điều kiện kinh tế-chính trị-xã hội ở miền Nam đã khác so với giai đoạn Pháp thuộc, trong đó phải kể đến sự phát triển trong kỹ thuật in ấn, số người đọc chữ đã tăng, thị trường báo chí mở rộng do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, giao thông thuận tiện, đời sống vật chất đã khấm khá, tự do báo chí đã mở rộng hơn thời Pháp thuộc, chữ quốc ngữ đã phát triển và hoàn thiện. Do đó mà chức năng xã hội của báo chí giai đoạn 1954-1975 đã phát triển một cách sâu xa hơn trước. Trong đó, báo chí có chức năng thúc đẩy cho một “xã hội tiêu thụ”, chứ không chỉ thông tin kinh tế đơn thuần mà phải khơi dậy nhu cầu tiêu dùng của xã hội qua các mục quảng cáo, tư vấn, làm đẹp, xu hướng thời trang… Chức năng phổ biến chữ quốc ngữ và thúc đẩy văn học trong giai đoạn trước giờ đây đã thay đổi. Báo chí và văn học được coi như là một nhu cầu giải trí, một “món ăn” không thể thiếu trong sinh hoạt hằng ngày.


VŨ THỊ THU THANH
Thạc sĩ, Viện Phát triển bền vững vùng Nam Bộ

___________________________________________
Tài liệu tham khảo:
Hồi ký Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn học 1993, Hà Nội.
Đời viết văn của tôi, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hóa Thông tin 2006, Hà Nội.
Sống và viết, Nguiễn Ngu Í, Ngèi xanh 1965, Sài Gòn.
Bốn mươi năm nói láo, Vũ Bằng, Tủ sách Nam Chi 1969, Sài Gòn.
Lịch sử báo chí Việt Nam, Huỳnh Văn Tòng, Trí Đăng 1973, Sài Gòn.
Xã hội học báo chí, Trần Hữu Quang, NXB Đại Học Quốc Gia 2006, TP. HCM.
Văn học Miền Nam, Võ Phiến. Văn Nghệ 2000, USA.
Một năm văn học, báo chí, Vũ Hạnh, Bách Khoa, số 193-194 năm 1965, Sài Gòn.
Lá thư cuối năm: Người cầm bút, đời sống và sáng tác, Vũ Hạnh, Bách Khoa số 385-386 năm 1973, Sài Gòn.
Hội đồng văn hóa và tình trạng khan hiếm giấy, Thế Nhân, Bách Khoa số 402-403 năm 1973, Sài Gòn.
Nhìn lại một số vấn đề của tờ Bách Khoa, Nguyễn Thụy Hinh, Tân Văn, số 6, tháng 1/2008, California – USA.
Từ Nam Phong đến Bách Khoa, Nguyễn Văn Lục, Tân Văn, số 6, tháng 1/2008, California – USA.


Nguồn: Nam bộ Đất và Người tập IX, NXB Đại Học Quốc Gia 2013

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 06/10/2015, 03:47:07
Hai mươi năm làm việc tích cực

NĂM 1957, tạp chí Bách Khoa ra được hai số thì nhà văn Nguyễn Hữu Ngư (Ngu Í) dắt bà Phạm Ngọc Thảo lại giới thiệu với tôi để nhờ tôi viết giúp tờ Bách Khoa mà chồng bà có chân trong tòa soạn.
            Tôi không hề quen bà Thảo, chỉ do Nguyễn Hữu Ngư mà biết bà là em ruột giáo sư Phạm Thiều hồi đó đã tập kết ra Bắc, còn ông là một nhân viên khá quan trọng trong Kháng chiến miền Nam. Tôi cũng không biết người sáng lập tờ Bách Khoa là ai, tòa soạn gồm những ai, chỉ thấy bà Thảo nhã nhặn, có học thức, mà tạp chí đó bài vở cũng đứng đắn, nên tôi góp với họ bài Quan niệm sáng tác của Edgar Poe, bài The Raven mà tôi đã viết từ trước.
            Bài đó được đăng ngay trong số 4 (tạp chí ra mỗi tháng hai kỳ). Tiếp theo tôi cũng gởi cho họ ba bài nữa cũng về văn học, bài Tiếng Việt ngày nay, Vấn đề dịch văn, Phép dịch thơ, cũng được tòa soạn cho đăng ngay trên các số 5, 6, 7, 8. Từ đó, lâu lâu tôi gởi thêm một bài về Nho giáo, về danh nhân hay về văn học…, toàn là do bà Thảo hay ông Ngư làm trung gian, chứ tôi vẫn chưa lại tòa soạn. Hợp tác với báo nào tôi vẫn giữ tư cách một độc giả góp bài chứ không dự gì vào đường lối, công việc của tòa soạn. Tôi không nhớ là mấy tháng sau, có dịp đi qua số 160 đường Phan Đình Phùng mới ghé tòa soạn Bách Khoa cách nhà tôi khoảng một cây số, gặp ông Hoàng Minh Tuynh và vài anh em nữa. Tôi cũng không nhớ bao lâu sau tôi mới gặp ông Phạm Ngọc Thảo, một người thấp nhỏ, rất hoạt động, có tư tưởng tiến bộ, viết một số bài về quân sự, tỏ ra có kinh nghiệm và biết suy nghĩ. Hai ông Tuynh và Thảo có vẻ mến tôi cả. Từ đó tôi hợp tác đều đều với tạp chí cho tới khi đình bản (5-1975).
            Trong lịch sử báo chí nước nhà, tờ Bách Khoa có một địa vị đặc biệt. Không nhận trợ cấp của chính quyền, không ủng hộ chính quyền mà sống được mười tám năm, từ 1957 đến 1975, bằng tờ Nam Phong; có uy tín, tập hợp được nhiều cây bút giá trị như Nam Phong, trước sau các cộng tác viên được khoảng một trăm.
            Mới đầu chỉ là một nhóm công chức cao cấp nghiên cứu về kinh tế, tài chính, quân sự do Huỳnh Văn Lang thành lập. Họ xin được nhãn báo của tờ Bách Khoa bình dân đã chết từ số 2, cắt hai chữ “bình dân” đi; rồi hùn nhau để tục bản. Họ đa số là những người đã tham gia kháng chiến chống Pháp trở về, không hoạt động cho kháng chiến nữa, mặc dầu là công chức nhưng không ưa Pháp.
            Năm đầu đăng nhiều bài về kinh tế và một số bài về công giáo, nên có tính chất nặng nề, nhưng báo sống nổi nhờ chủ nhiệm Huỳnh Văn Lang làm Giám đốc Viện Hối Đoái, tờ báo thu được nhiều quảng cáo.
            Đến năm 1959, một phần nhờ ông Lê Ngộ Châu (đã hồi theo kháng chiến rồi về Hà Nội dạy tư), được Huỳnh Văn Lang giao cho nhiệm vụ tựa như thư ký tòa soạn, mà tờ báo khởi sắc, có một đường lối rõ rệt, đường lối thứ ba, không theo Cộng mà cũng không theo Mỹ, và tập hợp được một số cây bút có kinh nghiệm làm nòng cốt như Võ Phiến, Vũ Hạnh, Nguyễn Văn Xuân, Phan Du, Võ Hồng, Bình Nguyên Lộc…
            Khi báo có uy tín rồi (từ 1960) ông Châu tập hợp thêm được một số cây viết trẻ, từ đó báo đăng nhiều bài có giá trị cả về biên khảo, lẫn sáng tác; và chính nhờ hợp tác với Bách Khoa mà những cây viết đó nổi tiếng, như: Vũ Hạnh, Võ Phiến, Lê Tất Điều, Cô Liêu, Ngu Í, Phạm Việt Châu, Phan Văn Tạo, Đoàn Thêm (hai người sau là nhân viên cao cấp trong chính quyền Ngô Đình Diệm)…, nhất là các nữ tiểu thuyết gia Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Thụy Vũ, Túy Hồng… Ngu Í chuyên về phỏng vấn, từng trải, có nhiều nhiệt tâm, văn có duyên.
            Võ Phiến còn ký tên là Tràng Thiên, Thu Thủy, viết tiểu thuyết nhưng thành công nhất về tạp bút, ý sâu sắc và lời dí dỏm. Ông có tài phân tích tâm lý, tả cảnh vật rất linh động.
            Phan Văn Tạo, bút hiệu Vũ Bảo, viết về hồi ký và thời sự.
            Phạm Việt Châu chuyên về chính trị quốc tế và nhận định thời cuộc.
            Có tinh thần đồng đội giữa những cây viết chính. Trong mười năm đầu, họ thường họp nhau ở tòa soạn 160 Phan Đình Phùng, hội ý trước về các đề tài, góp ý về nội dung các bài phê bình, đả kích. Tôi không khi nào dự cả, nhưng thỉnh thoảng ông Châu cũng nhờ tôi cho ý kiến về một bài gởi đăng mà đề tài tôi biết rõ hơn ông, như Văn học, Triết học Trung Quốc.
            Tư tưởng chính trị của những cây viết nòng cốt có khi trái ngược nhau. Vũ Hạnh thiên Cộng, sau theo Cộng; Võ Phiến chống Cộng; Đoàn Thêm và Phan Văn Tạo không ưa Cộng cũng không đả, không thích Mỹ nhưng cũng không nói ra; tôi, có lẽ cả Ngu Í và Lê Ngộ Châu, có cảm tình với kháng chiến, nhưng khác hai ông ấy, càng về sau, từ 1965 trở đi, khi Mỹ đổ nửa triệu quân vào miền Nam, tôi càng đả mạnh Mỹ và chính phủ Thiệu, bù nhìn của Mỹ. Mặc dầu vậy, các anh em trong tòa soạn vẫn giữ tình hòa hảo với nhau. Xu hướng trái ngược với nhau như Vũ Hạnh và Võ Phiến mà vẫn trọng tư tưởng của nhau (ít nhất là trong mười năm đầu) và gặp nhau tránh nói về chính trị. Đó là điểm tôi quý nhất.
            Nhờ anh em ai cũng có tinh thần đó nên buổi họp nào ở tòa soạn cũng đông, vui như Phan Du đã tả trong bài Văn đàn tình thoại (Bách Khoa số 361, tr. 62): “Bất luận là trẻ già, là mới cũ, là duy vật duy tâm, là Phật giáo hay Công giáo, khuynh hướng chính trị, văn chương như thế nào, đều được đón nhận với sự cảm thông và được chung đụng trong cái thể hòa đồng, cởi mở”.
            Tờ báo có chủ trương đăng tất cả các sáng kiến cá nhân dù đúng hay sai, miễn là thành thực, có tinh thần xây dựng về bất cứ vấn đề gì: từ chính trị đến kinh tế, văn học, khoa học… mà “không giới hạn ở lập trường chính trị nào, phe nhóm nào”. Dĩ nhiên bị kiểm duyệt gắt, nhất là trong bảy tám năm cuối, nên không một cây viết nào có thể trình bày hết ý mình được; mặc dầu vậy Bách Khoa vẫn được độc giả khen là “dám nói”. Sau ngày 30-4-1975, nhiều học giả miền Bắc nhận là một tờ báo “nghiêm chỉnh”, tuy chống đối cả Cộng sản lẫn Tư bản, nhưng có lập trường đứng đắn, lý luận vững, ngôn ngữ đàng hoàng; họ thích đọc Bách Khoa để hiểu miền Nam và hiện nay các số báo Bách Khoa cũ càng ngày càng có giá trị: một bộ cũ rách, từ đầu đến cuối, thiếu độ mười số, bán được gần 800đ (400.000đ cũ).
            Bách Khoa thịnh nhất trong những năm 1959-63 bán được 4.500-5.000 số; độc giả dài hạn được trên 1.000 mà khoảng 100 ở ngoại quốc, tờ Văn bán chạy hơn, còn các tờ định kỳ khác thì trung bình được 3.000 số.
            Sau cuộc đảo chánh 1963, chủ nhiệm Huỳnh Văn Lang bị bắt giam, rồi tờ báo bị đe dọa đóng cửa, phải đổi giấy phép – Lê Ngộ Châu làm chủ nhiệm thay Huỳnh Văn Lang – đổi tên là Bách Khoa thời đại; từ đó suy giảm về tài chánh (vì mất nhiều quảng cáo) nhưng nội dung và nhóm biên tập vẫn như cũ. Từ vụ Tết Mậu Thân (1968), tờ báo mất một số lớn độc giả miền Trung – mà độc giả đó là phân nửa độc giả Bách Khoa – giá giấy và công in lại cao, nên lỗ. Ông Lê Ngộ Châu ráng giảm mọi chi phí – cả tòa soạn chỉ có ông và hai người giúp việc – và duy trì tờ báo tới đầu 1975. Một nhà văn theo kháng chiến, ra Bắc về phải ngạc nhiên về sự làm việc của tòa soạn vì theo ông thì ở Bắc, một tờ định kỳ như vậy phải dùng ba chục nhân viên là ít.
            Từ trước tới sau, Bách Khoa giữ được trọn tình cảm của hạng độc giả đứng tuổi; còn giới trẻ thì chê là khô khan, nặng về biên khảo mà nhẹ về sáng tác (thơ, tiểu thuyết). Lẽ đó dễ hiểu.
            Tuy nhiên phải nhận rằng Bách Khoa không có ảnh hưởng lớn như Nam Phong, Phong Hóa, Ngày Nay trong dân chúng.
            Nam Phong ra đời ở buổi giao thời, văn hóa cũ bắt đầu chuyển mạnh qua văn hóa mới của phương Tây, số người viết ít mà số người đọc cũng ít, bao nhiêu cây viết có giá trị đều dồn cả vào tờ đó, nên không một tờ nào khác có nhiều bài đáng đọc và có nhiều độc giả như Nam Phong, lại được trợ cấp nên đứng vững được, những tờ khác có ra cũng chỉ được mươi số là chết. Có thể nói Nam Phong một mình một chợ, do đó có ảnh hưởng, uy tín lớn.
            Bách Khoa sinh sau bốn chục năm, vào thời mà số người viết đông, số độc giả cũng đông, gồm nhiều khuynh hướng, nên bị nhiều báo định kỳ (có lẽ đến non chục) chia bớt độc giả và Bách Khoa chỉ nhắm vào độc giả đứng tuổi, số này bao giờ cũng ít, ảnh hưởng do đó kém.
            Lại thêm Bách Khoa không có một chủ trương mới mẻ, mạnh mẽ cải cách cả về tư tưởng lẫn sự trình bày như tờ Phong Hóa, tờ Ngày Nay, trước sau vẫn giữ lập trường ôn hòa, đứng giữa, không theo Cộng, không theo Mỹ, như vậy làm sao gây nổi một phong trào mà ảnh hưởng lớn tới quốc dân được như nhóm Tự Lực?
            Thời đó có một nhóm nhà văn trẻ ở Bắc di cư vào, lập nhóm Sáng Tạo muốn làm một cuộc cải cách, nhưng họ không đủ kiến thức, tài năng, chỉ hô hào chống Cộng – điểm này không có gì mới cả – mà cũng không sâu sắc, vì họ ít đọc sách báo ngoại quốc; và đả đảo lối viết của nhóm Tự lực văn đoàn, mà người cầm đầu Sáng Tạo – Mai Thảo – lại có bút pháp cầu kỳ, “làm duyên làm dáng”, không hợp thời chút nào, chính bọn họ cũng không theo. Rốt cuộc chẳng gây được tiếng vang nào cả.
            …
            Vì tôi cộng tác đều đều với Bách Khoa, từ đầu đến cuối, lại viết nhiều về nhiều vấn đề, nên độc giả có người cho tôi là cây viết cốt cán của tạp chí, tưởng tôi là một nhân viên quan trọng trong tòa soạn nên có bài muốn gởi đăng thì gởi cho tôi nhờ tôi giới thiệu với ông chủ nhiệm Lê Ngộ Châu. Tôi đọc rất kỹ bài họ viết rồi cũng đưa ý kiến với ông Châu, nhưng cũng cho họ biết sự quyết định đăng hay không ở cả ông Châu. Ông Châu làm việc rất siêng, đọc hết mọi bài nhận được, đăng hay không ông đều báo cho tác giả biết. Ông nhận rằng ông đã bỏ lầm một số bài rất khá. Tôi mến ông vì ông có tinh thần trách nhiệm, làm việc đàng hoàng, biết cương quyết giữ vững chủ trương cả khi báo suy, biết xét người, xét văn và có tình với người cộng tác: ai gặp nạn gì thì ông lại nhà thăm, tìm mọi cách giúp đỡ; nhất là sau vụ Mậu Thân, ông rất băn khoăn lo lắng về các anh em bị kẹt trong vòng máu lửa.


NGUYỄN HIẾN LÊ


Đời Viết văn của tôi, Nguyễn Hiến Lê, NXB Văn hóa Thông tin 2006, Hà Nội

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 06/10/2015, 03:52:53
Từ Nam Phong tới Bách Khoa

1.– Con đường từ Nam Phong
            Trong số Nam Phong 154, tháng chín 1930, Phạm Quỳnh có dịch lại một bài viết của chính ông nhan đề: Ce que sera l'Annam dans cinquante ans, đăng trong France-Indochine. Trong những điều mà Phạm Quỳnh mong mỏi cho một nước Việt Nam tương lai là có một nền giáo dục không phải chỉ đào tạo ra một số thầy thông thầy ký. Một lối học chỉ để “đi làm mướn” hoặc đi làm quan tước mà ông vốn không ưa. Ông viết: “Người thanh niên An Nam bây giờ bập bẹ nói chút tiếng Pháp có thật đã văn minh, đã hấp thụ được nhiều Văn hóa hơn các cụ nho ngày xưa chưa?” Và cái lòng mong mỏi của ông cũng như người đi trước ông là Nguyễn Văn Vĩnh (tạp chí Đông Dương chỉ tồn tại có ba năm từ 1913-l916) là làm báo để dạy tiếng mẹ đẻ, viết tiếng mẹ đẻ cho con dân Việt.
            Cái tương lai mà Phạm Quỳnh mong mỏi và tiên đoán về tiếng Việt đã đạt được. Không phải đợi đến 50 năm sau mà chỉ sau 30 chục năm, tiếng Việt đã trở thành thứ ngôn ngữ có chuẩn mực, được giảng dạy từ tiểu học, trung học và cả đại học.
            Sự thành công đó có sự đóng góp rất nhiều của báo chí, trong đó có Nam Phong. Đó cũng là mục tiêu của bài viết này: Hành trình từ báo Nam Phong đến Bách Khoa. Và phải chăng Bách Khoa là điểm hẹn của con đường đi của chữ Việt, từ dạng thô sơ đến hoàn chỉnh?
            Phạm Quỳnh ra làm báo Nam Phong từ 1917-1932 (Báo Nam Phong tiếp nối đến 1934), sau đó nhận chức Thượng thư bộ học ở Huế. Trong vòng 15 năm làm báo, ông đã gây được một phong trào báo chí với một số cây bút như Nguyễn Bá Học, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Trác, Nhuyễn Đôn Phục, Nhuyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Tiến Lãng, Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật và đặc biệt có hai người trẻ tuổi là Đông Hồ và Tương Phố.
            Sau này Đông Hồ và Tương Phố là gạch nối từ Nam Phong đến Bách Khoa. Cả hai đều viết và cộng tác với tờ Bách Khoa.
            Câu chuyện như thể phải được coi là kỳ thú. Chỉ chưa đầy 30 năm sau câu hỏi trông đợi của Phạm Quỳnh trở thành sự thực hiển nhiên. Tiếng Việt đã đi những bước chân của người khổng lồ.
            Cần phải nhắc nhớ nhau rằng, thời của Trương Vĩnh Ký trong Nam, thứ chữ gốc La Tinh này đã có mặt, nhưng không ai chịu học cả. Phải ra lệnh ép người ta mới chịu học. Con đường đi của chữ quốc ngữ cũng nhiều gian nan, đánh dấu bằng những cột mốc lớn như có Gia Định báo, rồi Truyện Kiều, Lục Vân Tiên được phiên âm sang chữ quốc ngữ. Chưa kể chương trình của Đông Kinh Nghĩa Thục kêu gọi hô hào hai điều: Cắt búi tó củ hành và học chữ quốc ngữ vào những năm 1907.
            Rồi đoạn đường tiếp nối Nam Phong với sự ra đời của Tự Lực Văn Đoàn với Phong Hóa, Ngày Nay 1932-1940. Nếu Phạm Quỳnh xây dựng chữ quốc ngữ với sự “phát hành ra hàng ngàn tiếng mới”, mở đường, xây dụng thì Tự Lực Văn Đoàn làm “phong phú, đơn giản” chữ Quốc ngữ. Chỉ có một điều bất công là Tự Lực Văn Đoàn đã mang Phạm Quỳnh ra chế diễu đủ kiểu. Vì thế sau này đến lượt Tự Lực Văn Đoàn lại trở thành nạn nhân của nhóm Sáng Tạo?
            Sau đó, có một khoảng trống văn học từ 1940-1954. Khoảng trống vì có chiến tranh Việt-Pháp.
            Trong Nam, sau 1955, có một sự bùng nổ văn học. Không có cuộc di cư của một triệu người, thử hỏi có thể nào có một sự bùng nổ văn học như thế không? Chắc là không. Cuộc di cư ấy gắn liền vào định mệnh cũng như tương lai lịch sử chính trị kinh tế, học thuật của miền Nam sau 1955.
            Trong đó có báo chí.
            Bùng nổ thứ nhất là tiếng Việt được giảng dạy từ tiểu học, trung học và sau này cả đại học. Bùng nổ thứ hai là báo chí được hồi thịnh đạt với rất nhiều báo chí ra đời. Báo chí đã có những thay đổi lớn lao khác xa thời của Phạm Quỳnh với các nhóm Sáng Tạo, rồi Bách Khoa.
            Nếu sự nghiệp Nam Phong với Phạm Quỳnh là làm giàu thêm về tiếng Việt, về dịch thuật, về phổ thông, về học thuật, về tư tưởng Tây phương và khảo cứu về văn minh, chính trị nước Pháp. Sự nghiệp ấy có thể được nối tiếp sau này với tờ Bách Khoa vào năm 1957 với đầy đủ các kiến thức đủ loại: Từ văn chương đến nghệ thuật, đến khảo cứu phê bình, đến sử học và triết học Đông Tây…
            Và xin trích dẫn lời nhận định của Vũ Ngọc Phan, trích lại từ Thế Kỷ 21, số 122, về Phạm Quỳnh như sau: “Một người chỉ biết đọc quốc ngữ mà có khiếu thông minh có thể dùng tạp chí Nam Phong để mở mang học thức của mình. Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ không thể nào quên được tạp chí Nam Phong vì nếu ai đọc toàn bộ tạp chí này cũng phải nhận là rất đầy đủ, có thể giúp cho người học gia một phần to tát trong việc soạn một bộ Bách khoa toàn thư bằng Quốc văn.”
            Chính trong cái ý trên mà người viết bài này muốn nối kết lại con đường học thuật từ Nam Phong tới Bách Khoa. Phải nhìn nhận rằng con người Phạm Quỳnh đã làm được nhiều điều mà cộng chung tất cả những người cộng tác với ông cũng không thể so sánh bằng. Văn học, chính trị, chữ quốc ngữ thời Phạm Quỳnh giống như một cánh đồng với luống cầy vỡ đất. Phạm Quỳnh là người cầy xới mảnh đất đó lên và vun xới chăm sóc.
            Và kể từ Phạm Quỳnh đến Bách Khoa, số phận văn học đã có những lúc nổi trôi cùng với số phận đất nước để sau cùng có được những điều như ngày hôm nay. Tôi chỉ biết kinh ngạc và cảm phục những nhà văn, nhà báo của thời kỳ Nam Phong cũng như Bách Khoa sau này.
            Họ đã làm được những điều phi thường, đã đóng góp, xây dựng cho công việc này. Mặc dầu, những bài báo của Phạm Quỳnh còn nặng lối văn biền ngẫu, lý luận cũng sắc bén mà cũng ngây ngô về những điều mà bây giờ chỉ là những kiến thức khá sơ đẳng. Nhưng chúng vẫn có giá trị tinh thần của những người đi bước đầu. Khó lắm và cũng gian nan lắm.

2.– Con đường tiếp nối của Bách Khoa
            Mục đích chính của bài viết này là chặng đường Bách Khoa. Những gì Nam Phong chưa làm, Phạm Quỳnh chưa viết, hoặc chưa đủ điều kiện thực hiện, hoặc chưa phải lúc thì Bách Khoa và các tạp chí văn học khác đã làm được.

Về lãnh vực tiểu thuyết, thi ca
            Phạm Quỳnh hầu như không để tâm mấy về lĩnh vực này. Trừ cuốn La Poesie Annamite xuất bản 1931. Từ cái thi ca Việt Nam trong Poésie Annamite này đến thứ thi ca của Nguyên Sa, Quách Thoại, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư. Chắc là khác xa nhau lắm. Đó là khoảng cách từ trái đất đến mặt trăng. Phần Phạm Quỳnh, ông chỉ viết về những bài du ký như truyện đi dự Đấu xảo ở Paris với Pháp du hành trình nhật ký, Mười ngày ở Huế hay Một tháng tại Nam Kỳ. Sau này, theo sự tiết lộ của gia đình, ông đang viết dang dở một bản văn tìm thấy trên bàn viết sau khi ông bị bắt và được coi như tùy bút với nhan đề: Hoa Đường tùy bút. Thật ra gọi là tùy bút, nhưng đọc nội dung cho thấy đó chỉ là những Meditations, những suy niệm về cuộc đời, về lẽ sống ở đời hay về thế thái nhân tình hơn là thứ Tùy Bút theo nghĩa bây giờ. Thứ tùy bút của một Nguyễn Tuân, của Mai Thảo, của Vũ Bằng và nhất là tùy bút của Võ Phiến.
            Thật ra, muốn làm giàu và phong phú cho tiếng Việt thì không thể không viết và đọc truyện, đọc thi ca, đọc tùy bút. Những công việc này không nhất thiết chỉ Bách Khoa đã làm mà hầu hết các tạp chí trong Nam, sau 1955 chú trọng đến phần Văn học, nghệ thuật dưới nhiều dạng thơ, văn, truyện, tùy bút.
            Họ đã bỏ xa cái thời của Phạm Quỳnh.
            Nhưng thơ văn, truyện, trong Bách Khoa cũng không hẳn là “mặt mạnh” của tờ báo, mặc dầu sau này, có các nhà văn như Phan Văn Tạo và trẻ như Túy Hồng, Nguyễn Thị Hoàng, Nhuyễn Mộng Giác, Thế Uyên v.v… Đặc biệt dưới dạng gọi là Tạp bút và tùy bút thì có sự đóng góp của Võ Phiến khá nhiều coi như thành công và xuất sắc của tờ Bách Khoa. Ông có khoảng vài chục tùy bút như: Một ngày để tùy nghi, Cái còn lại, Mùa xuân con én, Nhớ làng, Những đám khói… Và Tạp luận như Vui buồn, Nhìn lại 15 năm Văn Nghệ Miền Nam, Đông Tây.
            Võ Phiến có cái tỉ mỉ chi li từng sợi tóc, tế vi, nhẹ nhàng, không phấn son kiểu Mai Thảo. Nhưng có những nhận xét góc cạnh và sắc bén trong đó.
            Hay như Nguyễn Ngu Í, một trong những người viết nhiều cho Bách Khoa với nhiều bài viết, nhất là viết về những nhà văn, nhà báo. Sau này, ông tập trung tất cả những bài trên Bách Khoa in thành sách mang tựa đề Sống Và Viết. Khá là sinh động và trung thực. Viết có gói ghém một tấm lòng, dễ ưa mà đọc ông.
            Nguyễn Hiến Lê thì đem ngôn ngữ Việt vào khắp chốn: từ giáo dục đến lịch sử đến văn chương, dịch thuật và cao chót cả đến triết học.

Về mặt biên khảo
            Thời kỳ Nam Phong đã có nhiều người cộng tác như quý ông Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Trọng Thuật, Nguyễn Mạnh Bổng, Nguyễn Tiến Lãng, Nguyễn Bá Trác, Nguyễn Đôn Phục và các nhà văn nhà thơ như Phạm Duy Tốn (thân phụ Phạm Duy), Đông Hồ và Tương Phố.
            Mặc dầu vậy, tên tuổi Phạm Quỳnh vẫn nổi bật trên tất cả những người cộng tác ở trên về mặt dịch thuật và biên khảo. Theo nhà sử học Tạ Chí Đại Trường, cái vốn liếng ấy, cái vốn liếng học thức hơn người ấy của Phạm Quỳnh chỉ có được với chín năm Phạm Quỳnh làm việc ở trường Viễn Đông Bác Cổ. Mặc dù đỗ đầu trường Hậu Bổ, năm 1908. Phạm Quỳnh đã không đi theo con đường hoạn lộ. Theo đường đó thì Phạm Quỳnh sẽ rơi vào cái cảnh “sáng vác ô đi, tối vác về”. Hay tệ hơn như ông viết, lối giáo dục của Tây chỉ đào tạo được các thầy thông, thầy phán ti toe mấy chữ tiếng Tây và “đi làm mướn”. Và như lời nhận xét của Đoàn Văn Cầu về Phạm Quỳnh: “Kiến văn quảng bác của tiên sinh được hun đúc phần lớn ở trường Pháp Quốc Viễn Đông Bác Cổ” (Trích Tạ Chí Đại Trường, Thế kỷ 21, số 122, tháng sáu 1999, trang 42). Sau này, 15 năm làm báo, Phạm Quỳnh đã dùng cái sở học chín năm của trường Viễn Đông Bác Cổ giúp Phạm Quỳnh đi sâu vào các lãnh vực triết học, văn học, văn chương kim cổ. Và rất nhiều người đọc thời ấy đã là học trò Phạm Quỳnh theo nghĩa đọc Nam Phong để có cơ hội mở mang thêm kiến thức.
            Dĩ nhiên, nếu so sánh với những hiểu biết bây giờ thì công việc của Phạm Quỳnh chỉ là giới thiệu tổng quát trào lưu tư tưởng Tây Phương như các học thuyết của Rousseau 1712-1778. Montesquieu, 1689-1755. Voltaire 1694-1778. Tôi tự đặt vấn đề là tại sao Phạm Quỳnh lại chọn các nhà tư tưởng như Rousseau, Montesquieu, Voltaire của thế kỷ 18? Có cổ quá không? Phải chăng chỉ vì những tư tưởng chính trị, xã hội của các nhà tư tưởng này thích ứng được cho xã hội, chính trị Việt Nam lúc bấy giờ? Khảo luận về Rousseau hay Montesquieu là tự mình lùi về hai thế kỷ ở đằng sau? Trong khi đó thì sau cách mạng 1789, nước Pháp về mặt tư tưởng đã bỏ xa những nền tảng triết lý, chính trị, giáo dục của Rousseau hay Montesquieu rồi. Ngoài ra, ông còn giới thiệu tư tưởng Đông Phương như Phật giáo, Khổng giáo v.v… Những tư tưởng đó cả ngàn đời vẫn là thế nên chẳng có thể làm gì khác được.
            Nhưng dù thế nào, đối với thời ấy, phải nhìn nhận rằng, cái mặt mạnh, trổi bật của Phạm Quỳnh và Nam Phong, chính là phạm vi biên khảo học thuật. Nó giới thiệu các tư tưởng học thuật ấy đối với đa số bạn đọc còn mù mịt về thế giới Tây Phương. Và coi như là những khám phá mới, những bước khai sáng mở đầu. Nhiều bạn đọc đã hẳn coi tạp chí Nam Phong cũng như Phạm Quỳnh là thày dạy cho cả một thế hệ.
            Đã có một thế hệ Nam Phong. Thế hệ Phạm Quỳnh.
            Cũng theo con đường đó, cái mặt mạnh nhất của Bách Khoa sau này là phần biên khảo. Nhưng là biên khảo về những nhà tư tưởng, triết gia đương thời, thế kỷ 20 mà không phải thế kỷ 18 như trước đây nữa. Cộng thêm là những biên khảo về đủ mọi mặt.
            Có thể mặt trổi bật và mạnh nhất của Bách Khoa là lãnh vực triết học. Thứ triết học đã ảnh hưởng trên phạm vi tư tưởng, văn học một phần lớn thế hệ thanh niên thời ấy.

Ngành triết học
            Việc giới thiệu triết lý hiện sinh hay các thuyết cơ cấu luận, hiện tượng luận, tuy là rất mới mẻ đối với Việt Nam, nhưng cũng đã kể là trễ so với bên Pháp. Vì những triết gia này đã nổi tiếng một thời ngay sau khi thế chiến thứ hai chấm dứt. Trễ gần hai chục năm. Nhưng có sao? Cũ người, nhưng mới ta là được rồi.
            Lần đầu tiên các danh từ như nôn mửa, phản kháng, tù đầy, hư vô, tự thân, en soi, pour soi, tha nhân, thân phận, hỏa ngục, lưu đày, hữu hạn, vô hạn… tràn ngập văn chương tiểu thuyết, nơi cửa miệng thanh niên thiếu nữ. Hai tác giả đóng góp nhiều hơn cả trên Bách Khoa là Nguyễn Văn Trung và Trần Thái Đỉnh. Nguyễn Văn Trung với 50 bài viết đủ loại và Trần Thái Đỉnh 30 bài. Tất cả những bài viết đó thường liên quan đến những triết gia đại diện hàng đầu như J.P. Sartre, Heidegger và nhà văn như A. Camus. Cao hơn một chút, có những bài biên khảo về thuyết Hiện tượng luận và Cơ cấu luận. Nhưng để hiểu được nội dung những cơ sở lý thuyết này, chắc cần kinh qua ngưỡng cửa đại học.
            Nội dung những bài viết của Nguyễn Văn Trung có tính cách tản mạn triết học như Tự tử, Cần lao, Tình yêu trong tác phẩm kịch của G. Marcel, Trường hợp F. Sagan hay vấn đề luân lý trong tiểu thuyết, Cái nhìn hay đám cưới với cuộc đời, Chủ nghĩa hiện sinh (Trả lời phỏng vấn của Trần Thái Đỉnh).
            Nội dung các bài viết của Trần Thái Đỉnh có tính cách trường ốc, sư phạm. Ông đã viết đều đặn liên tiếp mấy chục bài trên Bách Khoa như Siêu Việt thể của Jaspers từ số 125-126-127. Sartre hay là thuyết Hiện sinh phi lý, số 132. Kierkegaard, ông tổ của triết học hiện sinh chính thức, số 117-118. Tổng kết về phong trào Hiện sinh, số 135-136. Những bài viết của Trần Thái Đỉnh đã giúp ích rất nhiều cho bất cứ ai muốn mon men vào lãnh vực triết học, hiểu được những nét cơ bản về các triết gia hiện sinh. Công của Trần Thái Đỉnh không phải là nhỏ đối với đa số bạn đọc.
            Về triết Đông Phương tương đối còn mới mẻ trong đại học nên phần đông là sự đóng góp phần dịch thuật hoặc chú giải. Có một số tác giả như Thu Giang Nguyễn Duy Cần, Nguyễn Đăng Thục, Nguyễn Hiến Lê… Sau này có Kìm Định viết rất nhiều về Triết Đông với một góc độ nhìn từ Triết Việt với các bộ sách khoảng 30 cuốn như: Nhân chủ, Những dị biệt giữa hai nền triết học Đông Tây, Sứ điệp trống Đồng và đặc biệt hai bộ Cửa KhổngChữ Thời.

Về khoa ngôn ngữ
            Chúng ta không thể ngờ rằng khoa ngôn ngữ học đã khởi xướng rất sớm với Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Trước Phạm Quỳnh. Trước Nam Phong của Phạm Quỳnh cũng vài chục năm. Cho đến bây giờ, tôi vẫn tự hỏi bằng cách nào, không học qua bất cứ trường ốc nào? Trương Vĩnh Ký đã trở thành nhà ngôn ngữ học, một nhà bác học của Việt Nam? Ông là người đồng thời với những nhà ngữ học tài danh thế giới như F. de Saussure. Dựa vào sự nghiệp trước tác của ông cho thấy có đến 52 công trình viết của ông về ngôn ngữ, chiếm 43% công trình trước tác của ông.
            Bẵng đi một khoảng cách gần 100 năm, chúng ta không có những người kế tục Trương Vĩnh Ký. Tờ Nam Phong thì không ai đá động gì đến ngôn ngữ học.
            Đó là một lỗ thủng văn học về ngôn ngữ học từ Nam Phong, kéo dài qua nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Kể cũng là điều kỳ lạ.
            Sau này, ở miền Nam, chẳng biết do duyên văn học nào mà có một số không nhỏ các tác giả đi sâu vào lĩnh vực ngữ học. Thoạt đầu có thể là linh mục Lê Văn Lý có bằng tiến sĩ với tác phẩm Le Parler Vietnamien, thập niên 1940-1950, giáo sư Đại học văn khoa Sài Gòn. Các vị khác nối đuôi theo đều cũng tự học như Trương Vĩnh Ký. Đó là các quý ông Nguyễn Bạt Tụy, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê, Lê Ngọc Trụ và Trần Ngọc Ninh, Giáo sư Nguyễn Đình Hòa, nhà văn Bình Nguyên Lộc. Không viết cho Bách Khoa, nhưng có công trình khảo cứu về ngữ học phải kể thêm linh mục Nguyễn Hưng, nhất là linh mục Nguyễn Huy Lai.
            Đa số họ viết cho Bách Khoa, rồi ra sách với các công trình nghiên cứu như Khảo luận về ngữ pháp, Ngôn ngữ học Việt Nam, Bàn về Thinh tiếng Việt, về chính tả tự vị.
            Mặc dầu là những đề tài chuyên môn, nhưng chịu khó mầy mò thì cũng có thể hiểu được đôi phần. Nhờ những công trình khảo cứu như thế, có thể coi tờ Bách Khoa như một thứ bách khoa tự điển bỏ túi.

Về lãnh vực sử học
            Đây là môn học lâu đời nhất của Việt Nam. Nhiều bộ sách sử được viết ra kể không hết như: Sử Quốc triều chánh biên toát yếu, Hoàng Lê nhất thống chí, Đại Nam nhất thống chí, Đại Việt sử ký toàn thư, Phủ Biên tạp lục, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Đại Nam thực lực tiền biên, Gia Định thông chí, Đại Nam liệt truyện tiền biên|\… Có thể nói tắt một lời, sử học là ngành học lâu đời và phong phú với hằng trăm sách nghiên cứu, hằng trăm tác giả đủ loại. Chưa kể cũng đến hằng trăm sách sử mà tác giả phần lớn là người Pháp.
            Phần sử học viết trong Nam Phong tạp chí cũng không nhiều. Quá ít nữa, gần như không được ghi chép lại. Nhưng tôi cũng tìm thấy được một số tài liệu trong phần phụ lục, viết bằng Hán Văn. Chẳng hạn viết về Ngọc Hân Công Chúa và qua Quang Trung trong Nam Phong số 103, số 111, số 177, năm 1926. Sau này, ông Tạ Quang Phát đã phê dịch và được đăng trong Tập san Sử địa, số đặc biệt về Quang Trung.
            Từ những tài liệu sử viết bằng chữ Hán, trong phần phụ trương của Nam Phong đến các sử liệu viết trên Bách Khoa có một khoảng cách lớn cả về số lượng bài vở lẫn số lượng tác giả.
            Người đầu tiên tôi muốn nhắc tới là Nguyễn Thiệu Lâu, tốt nghiệp sử học ở Pháp, chuyên chú về nhà Tây Sơn. Sau này có những nhà sử học trẻ hơn mà tôi rất quý mến. Đó là trường hợp Tạ Chí Đại Trường. Ông có trình luận án cao học với đề tài: Lịch sử nội chiến ở Việt Nam, từ 1771 đến 1802. Ông viết rất sắc bén, phân tích kỹ lưỡng. Ông viết chẳng những cho Bách Khoa mà còn cho Tập San sử địa cũng như tạp chí Đại Học.
            Đây là người có chân tài.
            Xin được liệt kê một số bài của ông như: Vai trò của Nguyễn Huệ trong chế độ quân chính, Chiến thắng Nguyễn Huệ trước viện binh Trung Hoa, Dân Đại Việt ở cuối thế kỷ 18, Góp thêm về phổ hệ Tây Sơn và chân dung anh em họ.
            Ngoài Tạ Chí Đại Trường không thể quên một tên tuổi có vẻ xa lạ đối với độc giả người Việt. Đó là ông Chen Ching Ho, tên Việt là Trần Kinh Hòa. Tôi không chắc là ông có viết cho Bách Khoa không? Ông viết rất nhiều dựa trên văn bản như: Khảo cứu về danh xưng Giao Chỉ, Làng Minh Hương và phố Thanh Hà thuộc tỉnh Thừa Thiên, Kẻ chợ, Thành trì Chí của Trịnh Hoài Đức.
            Đối với giới sử học miền Nam, chắc hẳn ông là người được kính nể không ít.
            Tôi cũng nhận ra ở miền Nam, có một xu hướng viết sử trân trọng, cổ súy Quang Trung Nguyễn Huệ trong đó có các tác giả Hoàng Xuân Hãn với La Sơn Phu Tử, Hồ Hữu Tường, Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, Tạ Quang Phát, Đặng Phương Chi, Phạm Văn Sơn… Và sau này, tôi cũng thấy xu hướng viết về Tây Sơn tương tự như vậy ở miền Bắc.
            Thứ đến, tôi có cảm tưởng môn sử học là nơi ra vào của bất cứ ai, không cứ là nhà sử học. Vì thế có thể thấy tên những tác giả như Nguyễn Đăng Thục, Vương Hồng Sển, Hoa Bằng, Nguyễn Hiến Lê, Nguyễn Khắc Kham, Lê Ngọc Trụ, Phan Văn Luận, Bửu Cầm, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và ngay cả thi sĩ Quách Tấn, Đông Hồ.
            Nhân tiện đây, chúng tôi xin được một lần nêu danh tính tất cả các tác giả đã một thời đóng góp cho ngành sử học ở Việt Nam, kể từ sau 1955, bất kể là họ đã viết cho Bách Khoa hay không? Có thể tên tuổi họ còn thiếu sót.
            Đó là Tạ Chí Đại Trường, Hoàng Xuân Hãn, Nguyễn Thế Anh, Bửu Cầm, Phan Khoang, Lâm Thanh Liêm, Phạm Văn Sơn, Thái Việt Điểu, Phạm Cao Dương, Trần Anh Tuấn, Quách Thanh Tâm, Nguyễn Khắc Ngữ, Đặng Phương Nghi, Nguyễn Huy, Phạm Long Điền, Trần Quốc Giám, Lê Thọ Xuân, Tô Nam, Lê Văn Ngôn, Bửu Kế, Nguyễn Văn Dương, Nguyễn Phương, Nguyễn Khắc Xuyên, Mai Chưởng Đức, Nguyễn Sao Mai, Chen Ching Ho hay Trần Kinh Hòa, Hồ Hữu Tường, Nghiêm Thẩm, Ưng Trình, Phạm Văn Diêu, Nguyễn Như Lân, Tiên Đàm Nguyễn Tường Phượng, Nguyễn Như Lân, Thích Thiện Ân, Nguyễn Khắc Kham, Tạ Trọng Hiệp, Nguyễn Trần Huân, Lê Văn Hảo, Lê Hữu Mục, Trần Nhân Thâm, Nhất Thanh, Lê Hương, Hãn Nguyên, Đào Duy Anh, Nguyễn Nhã, Nguyễn Văn Hầu, Trần Gia Phụng, Phù Lang Trương Bá Phát, Nguyễn Bá Thế, Lưu Hải Nam, Trần Trọng Kim, Lãng Hồ, Lê Thanh Cảnh, Lê Thành Khôi, Trương Bá Cần. Và có thể còn nhiều tác giả khác mà chúng tôi đã thiếu sót không ghi chép đủ. Một phần dựa vào Tập san Sử Địa. Cũng do khoảng cách chính trị, chúng tôi thực sự không được biết nhiều đến các người viết sử miền Bắc.
            Sự liệt kê danh sách nhiều người viết sử như thế chứng tỏ rằng thời kỳ Nam Phong tạp chí đã bị bỏ qua rất xa đến không ngờ được.

Về luật pháp
            Đây cũng là ngành khá mới mẻ mà thời kỳ báo Nam Phong hầu như không có một ai có sách vở, tài liệu nghiên cứu. Xin được vắn tắt một vài vị như quý ông Trần Thúc Linh và đặc biệt là quý ông Lê Tài Triển và Nguyễn Toại. Hình như ngoài đời, chức vụ của họ đều là thẩm phán cả.
            Riêng ông Lê Tài Triển là người mà tôi nhớ nhiều nhất với bài viết về vụ án cầu Rạch Hào liên quan đến vụ tai nạn lật xe chết người trên đường Sài Gòn đi Vũng Tàu, liên quan đến con gái của ông triệu phú Nguyễn Đình Quát. Ông còn viết các bài như: Cá nhân đứng trước pháp luật, Nạn nhân với tố quyền của nạn nhân.

3.– Tổng kết bài tham luận từ Nam Phong tới Bách Khoa
            Con đường học thuật chẳng khác gì con đường Nam tiến. Từng bước, từng chặng đường lịch sử mà chúng ta đã đi qua. Nó đánh dấu những thăng trầm, những ngưng đọng cũng như những tiến bộ không ngừng.
            Công khó là của nhiều người.
            Nếu thời kỳ báo Nam Phong, xin mượn lời Thanh Lãng ca tụng Nam Phong tạp chí là một bộ Bách khoa tự điển, kết hợp được tất cả tư tưởng mọi ngành từ khoa học đến văn chương và là tờ văn học có ảnh hưởng lớn nhất từ trước đến nay. Và rồi còn quy tụ được tất cả những nhà văn hóa thời danh của thế kỷ mà người đứng đầu là Phạm Quỳnh.
            Tất cả những mỹ từ ấy chỉ cần chuyển hai chữ Nam Phong thành Bách Khoa thì đều đúng cả. Vì thế, con đường từ Nam Phong đến Bách Khoa là con đường thẳng, một chiều. Cái gì ở Nam Phong có thì Bách Khoa có hết, mà có hơn bội phần, có dồi dào và phong phú. Chỉ có vấn đề danh xưng là khi nói đến Nam Phong, người ta liên hệ trực tiếp ngay tới Phạm Quỳnh. Điều đó trở thành lúng túng và dè dặt hơn trong trường hợp của tờ Bách Khoa. Nhưng dù là một người hay nhiều người thì Bách Khoa vẫn là một thứ Bách khoa toàn thư cho bất cứ ai muốn mưu cầu mở mang kiến thức.
            Bách Khoa là một bộ sách dạy cho bất cứ ai khi rời khỏi ghế nhà trường.
            Nó là sự kéo dài từ trường học ra đến trường đời. Nó là thứ trường học liên tục, cập nhật và bổ túc cho những gì còn chưa đủ của trường học. Cái gì chưa học ở nhà trường thì học ở đây.
            Một người anh của tôi thú nhận rằng, ngoài vốn liếng chuyên môn dành cho một y sĩ mà ông học ở trường Y khoa, hầu như tất cả vốn liếng kiến thức đủ thứ còn lại, ông đều nợ tờ Bách Khoa cả. Một thú nhận khiêm tốn mà không thiếu phần hãnh diện. Điều đó nói lên rằng, tờ Bách Khoa đã thực sự đóng góp cho nhu cầu văn hóa, học thuật cho tất cả tầng lớp thanh niên trí thức miền Nam như một hành trang giúp họ vào đời. Miền Bắc đã không có được điều đó.
            Cho nên sẽ không lấy gì làm lạ về sự tồn tại, có mặt lâu dài như thế của tờ Bách Khoa. Bởi vì hơn bất cứ tờ báo nào, nó đáp ứng đầy đủ cho nhu cầu hiểu biết của một người.
            Một điều nữa cần hiểu rằng sách vở chuyên ngành, sách vở khảo cứu của chúng ta chưa có đầy đủ, người viết cũng không có. Báo chí như Bách Khoa thay thế vai trò của sách vở, giải quyết tạm thời sự thiếu thốn ấy.
            Vì thế, vai trò báo chí trong sự mở mang học thuật, kiến thức là điều cần thiết, cấp bách không có không được.
            Hiểu được như thế mới thấy vai trò của Nam Phong cũng như Bách Khoa quan trọng như thế nào. Con đường học thuật đi từ Nam Phong đến con đường của Bách Khoa là con đường Nam tiến mà chúng ta nên hãnh diện.


NGUYỄN VĂN LỤC


Tân Văn, số 6, Tháng 1/2008, California – USA

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: quangtrunggdct vào 09/11/2016, 23:23:46
Xin chào anh! Thấy anh có bộ tạp chí Bách khoa đầy đủ, hiện em đang làm luận án, muốn có một số bài của giáo sư Trần Thái Đỉnh viết về Triết học hiện sinh. Không biết anh có cách gì cho em tham khảo được không? Rất mong được sự giúp đỡ của anh. Mail của em là: quangtrunggdct@gmail.com
Xin cám ơn anh trước!



Bộ tạp chí Bách khoa 426 số. Hình ảnh như sau...

(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0658_zps03343e76.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0659_zps8e8d4cbd.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0660_zps18c797b3.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0661_zpsab5ee268.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0663_zps723dd76c.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0665_zpsf3633d10.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0666_zps29ab81af.jpg)(http://i855.photobucket.com/albums/ab119/muavededoc/anh/IMG_0667_zps7fff4d78.jpg)
Tiêu đề: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975) được số hóa toàn bộ
Gửi bởi: hoaico vào 29/10/2017, 07:32:38
Tạp chí Bách Khoa được 'số hóa' toàn bộ

(https://gdb.voanews.com/52DB37FE-ECB4-4373-B50E-8B5E05F8E34E_cx0_cy26_cw0_w1597_n_r1_s.jpg)

https://www.voatiengviet.com/a/tap-chi-bach-khoa-truoc-1975/4084311.html
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 03/11/2017, 22:57:38
Toàn bộ tạp chí BÁCH KHOA đã được số hóa để phổ biến cho mọi người

Thời trước 1975 ở miền Nam báo chí tư nhân rất phong phú, nhất là từ sau năm 1963 thì nhật báo và các tạp chí xuất hiện rất nhiều. Nhưng những ai theo dõi tình hình báo chí cả hai thời kỳ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa thì đều thấy tờ báo tồn tại lâu dài nhất của miền Nam Việt Nam chính là tờ bán nguyệt san BÁCH KHOA: số 1 ra đời vào ngày 15 tháng 01 năm 1957, số cuối cùng 426 ra ngày 19 tháng 4 năm 1975.

(https://1.bp.blogspot.com/-_o0dDxZnqR4/We63bINkAWI/AAAAAAAAEuw/PTlnZirJGYsd8AW3CwSdwi-NkmoXRcE-wCLcBGAs/s400/1.jpg)

HÔM NAY chúng tôi xin loan báo một tin vui, là sau nhiều năm cố gắng, một nhóm bạn bè của báo mạng Diễn Đàn Thế Kỷ đã sưu tầm đầy đủ toàn bộ báo Bách Khoa, chỉnh đốn lại để thành một bộ báo số hóa có thể phổ biến cho mọi người.*
            Việc chúng tôi nghĩ nên làm ngay sau khi hoàn tất việc sưu tầm là đến thăm ông Huỳnh Văn Lang, Chủ Nhiệm Sáng Lập tạp chí Bách Khoa để kính tặng ông đĩa DVD chứa đựng toàn bộ 426 số báo đã được điện tử hóa. Chiều ngày 16 tháng 10, 2017 vừa qua anh Trần Huy Bích và tôi đã tới thăm ông Huỳnh Văn Lang tại nhà ông trong thành phố Westminster Nam California, rất mừng thấy ông tuy đã ở tuổi 96, vẫn tương đối mạnh khỏe, nhất là tinh thần còn rất sáng suốt.
            Ông đã rất vui và cảm động nhận đĩa DVD chứa toàn bộ báo Bách Khoa do chúng tôi tặng, và nói: “Với công trình tìm tòi và lưu giữ như thế này, tạp chí Bách Khoa sẽ an toàn tồn tại nhiều trăm năm về sau”. Và chúng tôi đã được vị sáng lập tờ Bách Khoa kể lại không biết bao nhiêu là “chuyện xưa tích cũ”… Mỗi câu chuyện như thế đối với tôi là một mảng lịch sử, qua giọng kể Nam Kỳ hấp dẫn và chân thành của ông. Thú vị nhất là ý tưởng lập hệ thống các trường Bách Khoa Bình Dân, rồi hội Văn Hóa Bình Dân để sau cùng là tạp chí Bách Khoa chào đời.


(https://2.bp.blogspot.com/-oD6IFCHwB7A/We63e0dU6kI/AAAAAAAAEu0/Le2gEe7cOmwGuII-Aj9GQoCzfSnlrzVAQCLcBGAs/s640/2.jpg)
Ông Huỳnh Văn Lang (bên phải), với DVD Bách Khoa trên tay,
đang trò chuyện với Phạm Phú Minh. (Ảnh: Trần Huy Bích)

            Ông Huỳnh Văn Lang là người sáng lập, là Chủ nhiệm kiêm Chủ bút của Bách Khoa từ số ra mắt cho đến cuộc đảo chánh 1963 chấm dứt Đệ Nhất Cộng Hòa. Ông nói: “Ngay khi quyết định ra báo, 30 thành viên của hội Nghiên cứu Kinh tế Tài chánh mà tôi đứng đầu mỗi người góp 1000 đồng (trừ một vị chỉ góp 500) để làm vốn. Hồi đó 30.000 đồng là một số tiền lớn, nhưng khi bắt tay làm báo thì tiền in nó ngốn mau lắm, tôi phải xoay xở liên tục cho đến khi tờ báo ổn định…”
            Qua buổi gặp gỡ và trò chuyện với ông Huỳnh Văn Lang, tôi hình dung ra hoạt động của một nhóm trí thức trẻ cách đây 60 năm, đồng lòng xắn tay áo lao vào những công việc cụ thể, trong buổi bình minh của một vận hội mới mẻ cho vùng phía Nam của đất nước.


* * *

            Cho tới nay, Bách Khoa là tờ báo tư nhân sống lâu nhất trong lịch sử báo chí Việt Nam. Tờ sống lâu thứ nhì là tạp chí Nam Phong của học giả Phạm Quỳnh, ra đời vào tháng Bảy năm 1917, đình bản ở số 210, ngày 10 tháng Mười Hai năm 1934. Trên Nam Phong số cuối này có dòng chữ Năm thứ mười tám, nhưng đó là chỉ mới bước vào năm thứ 18 thôi, trong thực tế Nam Phong thọ 17 năm 5 tháng. Trong khi đó báo Bách Khoa xuất bản từ tháng 1 năm 1957, tính tới tháng 1 năm 1975 là đủ 18 tuổi, tới hết tháng 4-1975 nó được 18 năm 3 tháng. Đó là chưa kể số lượng các số báo, Bách Khoa xuất bản 426 số; Nam Phong tổng cộng 210 số, chỉ bằng một nửa. Dễ hiểu, Nam Phong là nguyệt san (mỗi tháng ra một số), Bách Khoa là bán nguyệt san (mỗi tháng ra hai số).
            Do đời sống lâu dài của nó suốt gần 20 năm cộng với nội dung mà nó mang lại, Bách Khoa có thể coi là cái xương sống tinh thần của miền Nam từ khi đất nước chia cắt 1954 cho đến 1975. Cho đến nay, các bài viết về báo Bách Khoa trong và ngoài Việt Nam đã khá nhiều, từ các hồi ức của những người trực tiếp góp phần xây dựng tờ báo đến những nhà nghiên cứu về sau, chúng tôi chỉ xin tóm tắt một ít điểm chính để giới thiệu một cách tổng quát Bách Khoa với độc giả.
            Bách Khoa do ai sáng lập? Dưới đây là hình bìa trước và bìa sau của số đầu tiên. Ở bìa sau chúng ta thấy danh tính những người tạo ra nó:


(https://2.bp.blogspot.com/-1irvcJwMAFY/We-OlsxG6fI/AAAAAAAAEvo/Li0_vzAdshcn-QZvjczyzwHZTJaZiY3BQCLcBGAs/s400/bk.jpg)  (https://4.bp.blogspot.com/-d7uMWPAPmgY/We634DINbyI/AAAAAAAAEu4/ye1xcxnQs48vqi2oiy3WEsluOaknx9CCACLcBGAs/s400/3.jpg)

            Chủ nhiệm sáng lập là Huỳnh Văn Lang, “hợp tác cùng các bạn” gồm ba mươi người liệt kê ngay bên dưới. Tập thể này là những chuyên viên của Hội Kinh tế/Tài chánh thành lập từ 1955, đứng đầu là ông Huỳnh Văn Lang. Họ là những người hầu hết còn trẻ tuổi vào thời điểm đó, một số du học ngoại quốc mới về nước, tham gia chính quyền miền Nam với lý tưởng xây dựng một quốc gia Việt Nam tự do và phú cường. Sinh hoạt của Hội là họp mỗi hai tuần một lần, thảo luận về những vấn đề kinh tế tài chánh Việt Nam đang phải giải quyết. Sau một thời gian hoạt động nhóm chuyên viên này nhận thấy cần phổ biến rộng rãi các nghiên cứu của họ, nên đã quyết định tổ chức một tờ báo như là một “diễn đàn chung của tất cả những người tha thiết đến các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội”: tờ BÁCH KHOA ra đời.
            Số đầu tiên ra mắt ngày 15 tháng 01 năm 1957 và những số kế tiếp các bài nòng cốt là của các cây bút “cơ hữu” như Huỳnh Văn Lang, Phạm Ngọc Thảo, Hoàng Minh Tuynh, Nguyễn Ngu Í… Các cây bút có tên tuổi dần dần tham gia ngày một đông: Nguyễn Hiến Lê xuất hiện vào số 4, Mặc Thu, Vi Huyền Đắc số 5, Võ Phiến số 7, Bùi Giáng số 8…
            Trong cuốn Hồi Ký của mình xuất bản sau 1975, học giả Nguyễn Hiến Lê, người bắt đầu viết cho Bách Khoa từ cuối tháng 2 năm 1957 và “dính” luôn với Bách Khoa cho đến số cuối ra ngày 19 tháng 4 năm 1975, đã viết:

             “Trong lịch sử báo chí nước nhà, tờ Bách Khoa có địa vị đặc biệt. Không nhận trợ cấp của chính quyền mà sống được mười tám năm từ 1957 đến 1975, bằng tờ Nam Phong, có uy tín, tập hợp được nhiều cây bút giá trị như Nam Phong, trước sau các cộng tác viên được khoảng một trăm.”

            Nhà văn Võ Phiến, người cũng đã gắn bó với Bách Khoa suốt 18 năm, với các sáng tác truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tạp luận, ngoài ra ngày càng viết nhiều mục với các bút hiệu khác nhau như Tràng Thiên, Thu Thủy. Ông tuy không phải là người làm việc trực tiếp trong tòa soạn Bách Khoa nhưng có thể coi như là người quan trọng tạo nên linh hồn của tờ báo. Ông kể:

             “Thoạt tiên là tờ báo của hai nhân vật trong chính quyền: các ông Huỳnh Văn Lang và Hoàng Minh Tuynh. Về sau các ông này rút lui ra khỏi chính quyền, rồi tờ Bách Khoa cũng dần dần chuyển về ông Lê Ngộ Châu.
            Các ông Huỳnh và Hoàng là những chuyên viên trong giới ngân hàng, rồi ngay ông Lê cũng không phải là một văn gia, ấy vậy mà Bách Khoa phải kể là một trong những tờ báo thành công nhất ở miền Nam trong ngót hai mươi năm. Đó là chỗ lý thú trong tình hình sinh hoạt của thời kỳ văn học này.”
(Văn Học Miền Nam – tổng quan, Võ Phiến, trang 238)

            Đoạn này nhà văn Võ Phiến hình như cố tình viết không rõ về hai sự kiện ông Huỳnh Văn Lang và Hoàng Minh Tuynh “rút lui ra khỏi chính quyền” và việc “tờ Bách Khoa cũng dần dần chuyển về ông Lê Ngộ Châu”. Xem lại quyển Ký Ức Huỳnh Văn Lang (tập 1) do tác giả xuất bản năm 2011, có đoạn viết:

             “Sau 6 tháng hoạt động, 30 thành viên toàn là chuyên môn quyết định, mỗi người bỏ ra 1000 đồng (trừ ra một GS chỉ chịu hùn 500 đồng thôi, vì xem như là bố thí), để phổ biến những nghiên cứu của Hội trên một tạp chí.
            Và Bách Khoa Tạp chí đã ra đời. Số 1 phát hành ngày 15 tháng 1 năm 1957, người viết kiêm chủ nhiệm và chủ bút cho đến năm 1963 phải giao cho anh thư ký tòa soạn Lê Ngộ Châu, vì bị chế độ “người lính cai trị” bắt đi bắt lại ba bốn lần giam giữ sau trước gần ba năm.”
(Ký Ức Huỳnh Văn Lang tập 1, trang 624)

            Sự kiện người Thư ký Toà soạn Lê Ngộ Châu được giao toàn quyền điều hành tiếp tục tờ Bách Khoa trong một biến cố bất ngờ như thế đã cho chúng ta hiểu rằng vị Thư ký Tòa soạn này đã thực sự đóng một vai trò rất tích cực đối với tờ báo từ nhiều năm tháng trước đó. Về tài làm báo cùng kiến thức, tính tình của ông Lê Ngộ Châu, xem lại hồi ức của nhiều nhà văn cộng tác, thấy ai cũng yêu mến và kính phục ông.


(https://2.bp.blogspot.com/-dXTU7g025qQ/We638fzuJ3I/AAAAAAAAEu8/C4kYVDAYKPMc78qQDLwVztFcXUIh59bBgCLcBGAs/s1600/4.jpg)
Học giả Nguyễn Hiến Lê (1912-1984)

            Ý kiến của Nguyễn Hiến Lê, người cộng tác với Bách Khoa từ 1957 đến 1975:

             “Ông Châu làm việc rất siêng, đọc hết mọi bài nhận được, đăng hay không ông đều báo cho tác giả biết. (...) Tôi mến ông vì ông có tinh thần trách nhiệm, làm việc đàng hoàng, biết cương quyết giữ vững chủ trương cả khi báo suy, biết xét người, xét văn và có tình với người cộng tác: ai gặp nạn gì ông lại nhà thăm, tìm mọi cách giúp đỡ; nhất là sau vụ Mậu Thân, ông rất băn khoăn lo lắng về các anh em bị kẹt trong vòng máu lửa.” (Trích từ “Đời viết văn của tôi” của Nguyễn Hiến Lê)

            Nhà phê bình văn học Đặng Tiến, trong bài viết tưởng niệm khi nghe tin ông Lê Ngộ Châu qua đời (vào ngày 24 tháng 9 năm 2006), có đoạn đánh giá Lê Châu – như cách gọi của anh em văn nghệ – như sau:

             “Nhờ đức tính kín đáo, hòa nhã, Lê Châu đã tập hợp không những trên mặt báo nhiều khuôn mặt khác biệt, thậm chí trái ngược về hoàn cảnh, tính tình lẫn chính kiến, mà còn quy nạp được nhiều bè bạn đến từ những chân trời khác nhau, trong đời sống cụ thể hằng ngày. Chưa kể những tác giả sinh sống ở ngoài nước thường xuyên gửi bài về cộng tác.
            Lê Châu kiến thức rộng, thường xuyên giao tiếp với quan chức hay các nhà văn hóa danh vọng, nhưng luôn luôn từ tốn, trong cách ứng xử hàng ngày, với những người viết trẻ tuổi. Ông đặc biệt lưu tâm đến những người viết mới, viết từ các tỉnh nhỏ, đặc biệt là từ Miền Trung. Bách Khoa là một tờ báo phổ thông, chủ tâm vào những đề tài chính trị, quốc tế, kinh tế, khoa học, chỉ dành một phần cho văn học nghệ thuật, nhưng về lâu về dài đã có những đóng góp lớn lao cho bộ môn văn nghệ. Về sau, phần văn nghệ này lại là khối tài liệu quý giá.
            Lê Châu còn là gương sáng về đức khiêm tốn trí thức. Hai chữ Bách Khoa bình thường được dịch ra tiếng Pháp là Encyclopédie theo nghĩa từ điển bách khoa, hoặc tư trào Bách Khoa trong văn học Pháp thế kỷ XVIII; nhưng Lê Châu không nhận từ này, cho rằng quá to tát so với tờ báo. Ông dịch Bách Khoa là Variétés, sát nghĩa là “tạp chí” (…)
            Lê Châu là kẻ sĩ theo truyền thống, luôn luôn mực thước, trong nếp trung dung của cửa Khổng sân Trình và theo nếp mực thước, juste mesure của bực trí thức tân học. Trong đời sống, ông là người bảo thủ; trên cương vị chủ báo, ngược lại, ông khuyến khích văn chương trẻ và tư tưởng mới, nhưng chừng mực thôi.”
(Tạp văn: Lê Ngộ Châu, 160 Phan Đình Phùng – Đặng Tiến)


(https://4.bp.blogspot.com/-5OgZVNJe3fo/We64A6d4bzI/AAAAAAAAEvA/cOFAeCRO8S4_gNTgmkRXHDoF774xABQawCLcBGAs/s400/5.jpg)
Lê Ngộ Châu (trái) gặp lại Võ Phiến trong chuyến đi Mỹ năm 1994

            Trong cuốn Văn Học Miền Nam tổng quan, nhà văn Võ Phiến đã ghi lại một nhận xét của nhà văn Nguyễn Hiến Lê mà chắc ông cũng đồng ý: “Tuy vậy kể là cây bút chủ yếu của Bách Khoa từ trước đến sau vẫn là hai người: Võ Phiến và Nguyễn Hiến Lê (xem Hồi ký Đời viết văn của tôi của Nguyễn Hiến Lê)”.
            Thế nào là cây bút chủ yếu của một tờ báo? Có cần đó là Chủ bút hay Chủ nhiệm không? Có cần là Thư ký toà soạn không? Không cần, vì những chức vụ ấy có những trách nhiệm khác phải lo, không đương nhiên phải viết lách gì cả ngoài những lá thư nhắc nhở nọ kia về việc điều hành, đường lối. Vậy có phải là người viết thường xuyên trong một thời gian dài cho tờ báo ấy? Có thể đó cũng là một điều kiện, nhưng số lượng các bài viết cũng không đương nhiên khiến cho một tác giả trở nên một cây bút chủ yếu, vì không ai đếm số bài để định giá mức độ ảnh hưởng của một cây bút.
            Theo chúng tôi, một cây bút gọi là chủ yếu của một tờ báo là một người thường xuyên, qua bài vở của mình, đem đến cho độc giả một ích lợi và ảnh hưởng tinh thần nhất định, được đa số độc giả biết giá trị và ham thích đón nhận. Hai vị Nguyễn Hiến Lê và Võ Phiến quả thật là những người như thế, có thể nói những đóng góp dài lâu của họ đã góp phần quan trọng tạo nên linh hồn của tờ báo.
            Thứ nhất, về phương diện bài vở, hai vị là những người đóng góp dài hơi nhất. Như trên đã nói, Nguyễn Hiến Lê gửi bài đầu tiên cho Bách Khoa ở số 4, ra ngày 1 tháng 3 năm 1957; Võ Phiến số 7, ra ngày 15 tháng 4, 1957. Từ thời điểm ban đầu đó, hai vị liên tục tham dự xây dựng nội dung tờ báo cho đến số cuối cùng, ra ngày 19 tháng 4, 1975. Về số lượng bài vở đã đăng trên Bách Khoa trong suốt 18 năm thì chắc chắn hai ông chia nhau ngôi thứ một/hai, có thể Võ Phiến nhiều hơn Nguyễn Hiến Lê, vì không những đóng góp phần sáng tác phong phú gồm truyện ngắn, truyện dài, tùy bút, tạp bút…, ông còn viết các mục khác (Thời sự Văn nghệ, Thời sự Chính trị…) và dịch các tác giả Tây phương, dưới các bút danh Tràng Thiên, Thu Thủy.
            Báo Bách Khoa tại 160 Phan Đình Phùng Sài Gòn càng về các năm sau càng biến thành một địa chỉ thân mật cho mọi người cộng tác, với tình thân như gia đình. Theo lời kể của bà Võ Phiến (vào tháng 10, 2017), năm 1960 khi Võ Phiến từ Qui Nhơn dời vào Sài Gòn để làm việc với bộ Thông Tin, chính Lê Ngộ Châu là người lo đi tìm nhà để thuê cho bạn, yểm trợ ngay các nhu cầu cần thiết cho một gia đình từ tỉnh mới về nơi đô thị. Các văn thi sĩ cộng tác đều coi báo quán là nơi gần gũi, tin cậy; những người đóng góp bài vở từ khắp mọi miền đất nước, khi có dịp về Sài Gòn đều ghé thăm Bách Khoa, như về một loại “nhà tinh thần” của mình.
            Chính trong loại tình thân và tin cậy có tính chất đại gia đình ấy, những người như Nguyễn Hiến Lê, Võ Phiến, với uy tín và năng lực của mình, đã biến thành những “cây bút chủ yếu” của tạp chí Bách Khoa. Trước sau họ vẫn chỉ là người “cộng tác” thôi, không bao giờ giữ một chức vụ nào của tổ chức tòa báo. Nhưng họ vẫn là những “cây bút chủ yếu” đúng nghĩa.


(https://1.bp.blogspot.com/-_eG_0b61YjE/We64FPxpzDI/AAAAAAAAEvE/5i2DUl0q7GUKKLVJUHw0HPGe0HCUrM7ogCLcBGAs/s1600/6.jpg)
Nhà báo Nguiễn Ngu Í

            Trong số những người tham gia vào Bách Khoa sớm nhất, phải kể đến Nguiễn-Ngu-Í (1921-1979, tên thật Nguyễn Hữu Ngư, còn có các bút hiệu Trần Hồng Hừng, Tân-Fong-Hiệb, Ngê-Bá-Lí v.v…) Ông là người đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn với giới viết lách, từ những nhà văn lớp trước như Nhất Linh, Đông Hồ, Lê Văn Trương, Đỗ Đức Thu, Nguyễn Vỹ… đến lớp sau như Bình Nguyên Lộc, Doãn Quốc Sỹ, Mai Thảo, Võ Phiến, Nguyễn Văn Trung… Nhà văn Nguyễn Hiến Lê đã viết: “Ngu Í chuyên nghề phỏng vấn, từng trải, có nhiều nhiệt tâm, văn có duyên”. Các đề tài phỏng vấn của ông và câu trả lời của giới cầm bút thời ấy vẫn còn giá trị cho người nghiên cứu văn học ngày nay lẫn mai sau.

(https://4.bp.blogspot.com/-RmRXAw8g4rY/We64SCy42QI/AAAAAAAAEvI/apg2UiKJhAAZVhRWSbCNIs641C7V-ROYwCLcBGAs/s640/7.jpg)
Tác giả, trong buổi chào mừng Bách Khoa hồi sinh của bạn bè. 15-10-2017
(Ảnh: Tiểu Bích)

            Sau cùng, nên nói đến một vấn đề tế nhị liên quan đến tờ báo Bách Khoa, là tên gọi của nó qua những năm tháng thăng trầm. Chúng ta vẫn gọi chung tờ báo là Bách Khoa từ số đầu đến số cuối, nhưng cũng nên biết rằng để giữ được hai tiếng Bách Khoa vững chắc và thân yêu ấy, nó phải theo thời mà có những biệt danh đi kèm. Đây là những cái mốc cho những biến thiên ấy:

            1) BÁCH KHOA: Số 1 (ngày 15/1/1957) đến số 193-194 (15/1 và 1/2/1965)
            2) BÁCH KHOA THỜI ĐẠI: số 195 (15/2/1965) đến số 312 (1/1/1970)
            3) trở lại tên BÁCH KHOA: số 313-314 (Xuân Canh Tuất) (15/1 và 1/2/1970) đến số 377 (15/9/1972)
            4) ĐẶC SAN BÁCH KHOA: số 378 (1/10/1972) đến số 379 (15/10/1972)
            5) GIAI PHẨM BÁCH KHOA: số 380 (1/11/1972) đến số chót 426 (19/4/1975)

            Tất cả những việc vẽ vời “làm cho khác” tên gọi như thế thì hoặc là vì lý do chính trị (cho khác với tên gọi từ “chế độ cũ”), hoặc để thích ứng với chế độ kiểm duyệt hoặc luật báo chí về sau. Thời gian qua, những cái đó được hiểu chỉ là những thủ thuật né tránh để sống còn, và sống còn luôn luôn với cái tên khai sanh của nó: Bách Khoa. Vậy chúng ta trước sau chỉ nên gọi nó là BÁCH KHOA.


22 tháng Mười, 2017
PHẠM PHÚ MINH

________________________________________________________
* Độc giả nào muốn có đĩa DVD toàn bộ báo Bách Khoa, xin liên lạc với tác giả bài này ở địa chỉ: phamxuandai@yahoo.com


http://phamxuandai.blogspot.com/
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 08/12/2017, 17:10:13

BÁN NGUYỆT SAN BÁCH KHOA
____ ₪₪₪ ____
báchkhoa
Thay lời phi lộ

XÂY DỰNG nước nhà về toàn diện là nhiệm vụ chung của mọi người, trong đó việc góp phần sáng kiến cá nhân, dù trúng, dù sai, đều có ích lợi, miễn là tư tưởng ấy xuất phát từ một ý muốn tốt và thành thực.
         Một quốc gia nếu chỉ có nền kinh tế vững chắc chưa đủ. Thêm một trình độ chánh trị cao, cũng chưa hoàn toàn. Một quốc gia cần phải là tổ hợp tất cả: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, xã hội… Xây dựng nước Việt Nam hẳn là xây dựng đủ các ngành, các khoa, các phương diện.
         Với quan niệm như thế, tạp chí BÁCH-KHOA ra đời.
         BÁCH-KHOA không có tham vọng vạch sẵn một đường lối, một chủ trương hoàn hảo, nhưng có mục đích đóng góp một chút công, một chút lòng thành cùng toàn thể trong công cuộc chấn hưng đất nước. BÁCH-KHOA hy vọng sẽ được sự giúp đỡ của mọi người về mọi ngành.
         Không cần phải học cao, vì kinh nghiệm của người thợ cũng ích lợi như lý thuyết của một nhà bác học. Không cần phải viết văn hoa mỹ vì những nhận xét mộc mạc và chính xác của người dân cày vẫn có giá trị cao quý của nó.
         Không cần phải cùng một tôn giáo, vì đạo đức của Đức Phật cũng đáng tôn kính như lòng bác ái của Chúa Ki Tô.
         Không cần phải cùng một quan điểm chính trị vì phải cho đá cụng với sắt mới có thể lựa đá tốt và sắt bền.
         Không cần phải cùng một tổ chức chặt chẽ mới có thể thành bạn đồng đường trong lúc đi tìm kiếm.
         Bất chấp đến dĩ vãng nếu hiện thời cùng đi một con đường.
         Chủ yếu là thiện chí, lòng thành thật xây dựng và một ý niệm khiêm tốn để thấy sự khuyết điểm mà quyết tâm sửa chữa để tiến tới…
         Chủ yếu là cùng một lòng “Nhân”, lòng thương người với đầy đủ ý nghĩa của nó. Thương người mà không phân biệt giàu hay nghèo, biết tìm chân giá trị của con người và đặt lại con người theo đúng địa vị của nó. Lấy con người làm cứu cánh. Không vì một lý lẽ ngụy biện nào mà làm mất phẩm giá con người. Không hy sinh một cách quá đáng cho một tập thể hẹp hòi, cho một tương lai xa xôi không bảo đảm, cho một tự do phóng túng của “Cọp trong chuồng dê” cho những cái lợi vụn vặt thiển cận đến quên cả ý nghĩa cuối cùng của con người.
         BÁCH-KHOA cũng sẽ không bị ràng buộc trong khuôn khổ một lý thuyết sẵn có nào. Mỗi người có thiện chí sẽ đóng góp một nhận xét, hoặc cố gắng, nêu lên một giải pháp cụ thể. Tuy hiện nay chưa có ngay một kế hoạch đầy đủ, nhưng rồi đây mỗi người gỡ bớt một cây chông, đem thêm một viên đá tất sẽ xây đắp được con đường tương lai cho Việt Nam trong hệ thống đường tươi sáng của nhân loại.
         Khởi đầu với một số ít ỏi, BÁCH-KHOA hy vọng sẽ gặp gỡ nhiều bạn trên đất Việt, cùng một chí hướng, cùng băn khoăn vì hiện tại cùng tin tưởng ở tương lai, và cùng quyết tâm hành động.


BÁCH-KHOA



₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 1957 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 1957 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 1957 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 1957 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 1957 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪

Kỷ niệm 60 năm Tạp chí  Bách Khoa  ₪  1957-2017     KỶ NIỆM 60 NĂM TẠP CHÍ  BÁCH KHOA  ₪  1957-2017     Kỷ niệm 60 năm Tạp chí  Bách Khoa  ₪  1957-2017


₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪ ₪₪₪ ₪₪₪ 2017 ₪₪₪



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 08/12/2017, 17:29:46
BÁCH KHOA |  SỐ 1  [15 tháng Giêng  1957 |  76 trang]  giá: 8$

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Thay lời phi lộ |  1-2
Huỳnh Văn Lang |  Một chánh sách xuất cảng |  3-8
Phan Mai |  “Người” trong tác phẩm Saint-Exupéry |  9-15
Bách-Khoa |  Từ hiếu sắc đến bất minh |  15
Phạm Ngọc Thảo |  Thế nào là quân đội mạnh |  16-19
Huê Châu |  Địa vị của nhạc Jazz trong nghệ thuật hiện đại |  20-26
Trần Khang |  Trí thức và chính trị |  26
Hoàng Minh Tuynh |  Nên để trẻ được tự do hay nên nghiêm khắc với trẻ |  27-29
Minh Đức |  Sau giấc ngủ mười năm (truyện ngắn) |  30-35
Bách-Khoa |  Khi kẻ trộm vào nhà thi sĩ |  35
Minh Phong |  Một tia hy vọng mới: Đẻ không đau |  36-39
Bách-Khoa |  Răng cắn lưỡi |  39
Thu Trùng |  Cô ấy không ghen |  40-43
Bùi Văn Thịnh | Một giai đoạn mới trong chính sách kinh tế |  44-50
Phạm Hoàn Mĩ |  Vài ý kiến về học sử |  51-52
Phan Lạc Tuyên |  Viễn xứ (thơ) |  53-54
Nguyễn Văn Ba |  Đông y dịch lý |  55-58
Văn Quỳ |  Vài nét về: Văn chương nước Mỹ |  59-62
Yã Hạc & Trinh Nguiên |  Chú khổng lồ lích kỷ |  63-66
Bốn Phương |  Sai một ly đi một dặm \ Lửa Budapest \ Mực là tiền |  67
Quảng cáo |  68-76


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204212448-9339a5e520d96ed03adb60c94e13b063/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 08/12/2017, 18:16:52

“Người” trong tác phẩm Saint-Exupéry
000
“Chân lý không phải của riêng ai,
và không ai được độc quyền thiện chí đi tìm chân lý”

– Saint-Exupéry

TỪ XƯA NAY, nói cho cùng, tư tưởng nhân loại và văn nghệ chỉ xoay quanh vấn đề con người, vì không có vấn đề nào can hệ và say mê hơn vấn đề người là vấn đề cho chính người.
         Nếu hiểu con người như một cái tôi bất khả xâm phạm “tôi chỉ biết tôi” và xã hội phục vụ tôi luân lý sẽ là bảo vệ cho cái tôi đó như một đồ cổ quý để trong tủ kính.
         Nếu hiểu người như một vật thiết yếu sống ở đời và với người khác, luân lý sẽ là xây cuộc đời mình bằng cách tạo cho thế gian một bộ mặt người và xây cuộc đời cho người khác.
         Thực ra, ai cũng hiểu thái độ cá nhân, lẽ lẩn tránh vào cái tâm hồn chật hẹp, khép kín của mình sai lầm và buồn lắm. Chỉ lo, nghĩ đến mình tức là tự làm nghèo đi. Vì nhân vị chỉ giàu có, phong phú nhờ tiếp xúc, Thông Cảm và Hành Động.
         Ta chỉ “CÓ” thực cái ta cho người khác. Nhân vị chân chính không phải bệnh vực cái tôi ích kỷ, nhưng là Quên Mình, Tự hiến. Thực hiện nhân vị và các giá trị nhân vị bằng cách thực hiện nhân vị người khác. Vận chuyển của nhân vị là Phóng ngoại, hướng về người khác, băn khoăn lo lắng số phận người khác.
         Nhân vị của người mẹ, người bạn, người yêu là băn khoăn đến cuộc đời con cái, bạn, người yêu và tự hiến cho họ.
         Trong cuốn “TIN VUI” (Phúc Âm) có câu này “Ai bỏ đời sẽ được đời ai bám vào đời sẽ mất”.
         Saint-Exupéry là một người trong nhóm văn nghệ sĩ Âu châu đi theo hướng nhân vị là lo lắng đến thân phận con người, và trong tình trạng hiện đại, là bảo vệ nhân vị con người khỏi cảnh đè nén của nền văn minh kỹ thuật.

Tương giao và đoàn thể
         Sống không phải là sống một mình, sống là sống với…, sống bên…, sống trong… Người cần tương giao để thành người. Từ lúc vào đời, đến khi ra khỏi đời, người sống thiết yếu với người khác. Lịch sử mỗi cuộc đời đọ bằng bằng lịch sử chung của đoàn thể. Ta không thể nghĩ đến người mà không nghĩ ngay đến người ấy sống ở đời và với người khác. Cùng sống nghĩa là chung hành động, chung vui buồn, chung số phận và số mệnh. Do đó chúng ta liên đới nhau, không thể vui sướng đầy đủ nếu vui sướng đó không chia sẻ; và cũng không thể tự cứu rỗi.

Hành động và Yêu đương
         Nhưng tương giao là hành động. Người cần tương giao để thành người, cần hoạt động để tương giao. Lao động trí óc, lao động chân tay chỉ khác nhau về cơ quan, không về bản tính, vì bản tính người là cần lao. Nhưng cần lao là Đoàn thể. Làm là làm chung… làm với…
         Một tác phẩm, một công trình không bao giờ do sáng tác của một người nhưng là kết quả cố gắng của nhiều người sống cần lao – sống sáng tác – sống trao đổi nhân loại tiến bộ không ngừng. Sức cần lao thể hiện trong nghề nghiệp. Mỗi người là một thiên chức. Mỗi người nhận được một công tác, một địa vị trong đoàn thể loài người không ai thay thế được. Cao cả không tùy ở địa vị lớn lao, nhưng ở sự trọn nhiệm vụ, đáp lại đầy đủ thiên chức của mình. Đặc điểm của cần lao, Nghề nghiệp là Đoàn Tụ con người. Việc càng lắm gian lao nguy hiểm càng thắt chặt dây đoàn kết. Cần lao nghề nghiệp là chỗ hẹn hò kết dây thân ái, là dịp để muốn chung, hy vọng chung, cảm xúc chung, vượt gian lao, chịu đựng chung… Và do đó, một tình yêu nẩy nở, không phải cái tình trong ấm cúng hai cái nhìn nhau tình tứ, hai cõi lòng khép chặt với thế giới bên ngoài, sống chết mặc bay. Nhưng là tình bạn đòi tranh đấu của hai ý chí cùng hướng về một đỉnh cao, góp sức xây đắp một cái gì…
          “Kết chặt với nhau vì một đỉnh cao, chúng tôi mới thấy yêu không phải nhìn nhau, nhưng là cùng nhìn về một hướng. Chỉ có tình bạn những người cộng tác với nhau trong lý tưởng cùng tiến lên một đỉnh cao trên đó họ lại gặp nhau” (Terre des Hommes).
         Phi công Pellerin vừa bay ở Chi-lê về sau một cuộc hành trình nguy hiểm. Trước khi xuống khỏi máy bay, chàng chăm chú nhìn anh em bạn tụ họp chờ mình ở sân bay: “Chàng có cảm giác như những người này là của chàng, và chàng muốn đếm, cân nhắc từng người” (Terre des Hommes).
         Nhưng đến một ngày… những bạn đường chiến đấu ra đi không về… Ra đi mang theo cả giọng nói quen thuộc, tiếng hát âm ấm, và nụ cười reo vui: “không gì thay được người bạn đã mất, chả bao giờ người ta tạo ra bạn cũ. Còn gì quý hơn những kỷ niệm sống chung với nhau ngày xưa, những phút nguy hiểm cùng nhau chịu đựng, cả những lần gắt gỏng rồi tha thứ cho nhau. Những tình cảm say sưa đó không bao giờ xây lại được. Nếu làm việc chỉ để nuôi cái xác sống, ta tự xây lấy cái nhà tù cho mình. Nguyên vì đồng tiền, không đáng cho ta sống khó nhọc vất vả. Nếu ta lui lại dĩ vãng, tìm những giây phút đã làm tôi sung sướng chắc chắn tôi gặp lại hình ảnh thân yêu các bạn hữu mà không gì mua được” (Terre des Hommes).
         Cái đêm bay dưới ánh sáng muôn vì sao, cái nhìn âu yếm, nụ cười, lời chào thân ái, gây ấm cõi lòng, tiền bạc mua sao được…

Tinh thần trách nhiệm
         Cần lao nghề nghiệp đoàn tụ chúng ta sinh ra tình bạn. Tình bạn ràng buộc chúng ta thành một tâm hồn lớn rộng trong đó mỗi người có trách nhiệm cả đoàn.
         “Guillemet thấy mình có trách nhiệm gói thơ kia vì tất cả anh bạn hy vọng ở chàng. Chàng cầm trong tay sung sướng hay lo âu các bạn chàng. Trách nhiệm cái gì đang xây dựng đàng kia những người sống mà chàng bổn phận góp phần vào… Trách nhiệm một tỷ số phận loài người tùy theo sức cần lao của mình. Vì người chỉ là người khi có tinh thần trách nhiệm. Là biết xấu hổ trước cảnh lầm than có lẽ không tại mình gây nên, và biết hiên ngang trước một cuộc thắng lợi anh em bạn giật được” (Terre des Hommes).
         Mỗi người trách nhiệm tất cả: “Nếu chúng ta là Mùa SINH NHẬT thế giới nhân loại có lẽ đã được cứu rỗi… Mỗi người mang tội cả loài người” (Pilote de Guerre).
         Tinh thần trách nhiệm vì chúng ta là một huyền thể: mỗi cử chỉ lời nói chúng ta đều rung động toàn thân. Khi trong chúng ta tình yêu sụt xuống, toàn thân sẽ nghèo đi và mỗi cố gắng dù cho bé nhỏ đều làm cho toàn thân lớn lên phong phú thêm. Ngày nay phải kể là tội những thái độ lãnh đạm, những câu nói thiếu lòng tin, những lối chữa mình: tôi quên, tôi không biết…
         Trong đoàn thể loài người, luôn luôn và những tiếng gọi yêu đương chúng ta chưa đáp lại hay chưa nghe thấy vì thiếu cây thu thanh tình yêu. Nhưng chính bởi vì tình yêu không còn thấy ở lòng ta, nên nhiều Tâm hồn quanh ta chết rét…

Tiến bộ kỹ thuật và văn minh cần lao
         Người ta nói nhiều về máy móc như con thú dữ nguy hiểm. Thực ra các cố gắng con người qua bao thế hệ đều nhằm mục đích kỹ thuật tiến bộ. “Chúng ta bỡ ngỡ trước văn minh kỹ thuật như đứa trẻ lần đầu thấy máy bay. Chúng ta là dân mọi còn bị quáng mắt vì trò chơi quá mới” (Terre des Hommes).
         Nhưng rồi đây, máy móc phức tạp sẽ trở nên giản dị như cái cày người nông phu. Máy móc không phải mục đích và tàu bay chỉ là khí cụ như cái cày, tinh xảo hơn thôi.
          “Máy bay giúp chúng ta khám phá ra bộ mặt thực trái đất. Nhưng đường đi đã đánh nhầm ta hằng bao thế kỷ. Ta như một nữ hoàng muốn đi thăm dân xem họ có được thái bình dưới quyền mình chăng. Nhưng bọn cận thần tham nhũng, để che mắt nữ hoàng, đã sai chăng màn giải đường và thuê người hát nhảy: vì thế ngoài khung cảnh huy hoàng ra, là bà không thấy gì nữa và không biết rằng những làng mạc kia có đoàn người chết đói đang nguyền rủa mình” (Terre des Hommes).
         Tiến bộ kỹ thuật phải giúp đỡ loài người hiểu nhau hơn, xây dựng văn minh cần lao, tôn trọng sức làm việc, quyền hưởng thụ kết quả làm việc của mọi người. Con người cao cả ở chỗ tác tạo: vì văn minh là gì nếu không phải một Ý Tưởng thể hiện Tác Phẩm bằng Cần lao. Saint-Exupéry yêu hình ảnh đống đá im lìm kia chẳng nghĩa lý gì nhưng nếu xếp thứ tự lại có thể thành lâu đài thành đường. Chỉ cần khối óc và cánh tay người cho nó một hình thức là nó mặc được ý nghĩa một giá trị đời đời.
         Nhưng cần lao là khó nhọc vất vả. Nhìn Fabieu chống gió đỡ sóng, ta thấy như toàn con người chàng biến vào cuộc tranh đấu quyết liệt đó: là kiên nhẫn bền chí tin tưởng ở chiến thắng cuối cùng. Saint Exupéry và Préyot đi bốn ngày trong sa mạc khát bỏng cổ nhưng không sờn lòng. Guillement trong rừng núi Andes bị liệt máy phải cuốc bộ năm sáu đêm liền, 40° dưới 0°, không lương thực, bạn đường có lúc tuyệt vọng muốn nằm xuống cho tuyết lấp phủ đi. Nhưng “Nhà tôi, nếu nàng tin tôi còn sống, tin tôi vẫn bước. Các bạn tôi tin tôi vẫn đi: tất cả tin tưởng ở tôi; và tôi là thằng khốn nạn nếu tôi không đi nữa” (Terre des Hommes).

Văn minh tôn trọng nhân vị
         Một văn minh chân chính trước hết phải thỏa mãn nhu cầu kinh tế con người. Nhưng tiền bạc không phải đích cuối cùng cũng như phi cơ là phương tiện. “Chúng ta không liều mạng sống vì tàu bay cũng như nông phu không cày cho cái cày” (Terre des Hommes). Kỹ thuật tiến bộ vật chất để giúp người thân ái với người phát triển những giá trị thiêng liêng tiềm năng trong con người. Dĩ nhiên xã hội cần Trật tự, Lễ nghi, Lề luật, nhưng đó là hình thức, cái cốt yếu nội dung phải là lòng thân ái, tình nhân loại. Tổ quốc không phải chỉ là một đám người sống trong một hoàn cảnh địa lý hạn định, nhưng còn là một tình cảm thiêng liêng như cái linh hồn chung. Vì còn gì vô lý hơn nếu ta chết cho những giá trị kém hơn giá trị con người. “Tổ quốc tôi không phải ở đàn cừu, đàn dê, sông núi, nhưng ở cái gì cai quản và ràng buộc chúng tôi. Người ta không chết cho đàn cừu, đàn dê, sông núi, nhưng chết để cứu vãn bảo vệ sợi dây vô hình ràng buộc những biến đổi chúng thành những bộ mặt quen thuộc yêu đương” (Citadelle).
         Do đó, hiểu khác đi, sẽ đưa đến những thái độ sai lầm, chú trọng hình thức sao nhãng nội dung, hy sinh đời sống thiết thực để bảo vệ chân lý trừu tượng vì thiếu sự sống bên trong, thành chân lý rỗng, sự thực vu vơ.
         Một văn minh chân chính phải xây trên tôn trọng nhân phẩm, không phải là vun trồng cá nhân, vì “Cá nhân là con đường, chỉ nhân vị mượn con đường đó đáng kể” (Pilore de Guerre) và xây trên tôn trọng nhân phẩm người khác, một nhân vị như tôi.
         Trong tương giao, lấy tình mà thông cảm truyền cảm. Lý luận sách khơi đời sống thành lý luận suông. Thiếu mất yêu đương, tình nhân loại, nỗi băn khoăn vì cuộc đời người khác, vũ trụ loài người chỉ còn là những vật chết.
         Nhưng trái lại, khắp mặt đất chỗ nào cũng có dấu vết sự sống và con người. Bay trên không đồng bằng Pasagoni giữa đêm tối, Fabien vẫn thông cảm với đời sống dưới đất: “những ánh đèn lấp lánh như tiếng gọi, dấu hiệu tha thiết như muốn được đáp lại, từ các mái nhà nhỏ chiếu ra, trong đó là cả một cuốn sử đời viết bằng nước mắt, nhớ nhung, lo sợ, yêu đương” (Vol de Nuit).
         Cái thành phố kia đẹp đẽ và linh động biết bao vì sự chứa sống bên trong. Cho hay sa mạc không tại cảnh vật, nhưng tại lòng người. Những người ta gặp ngoài đường vì không quen thuộc và không có mối tình ràng buộc ta với họ lòng họ với ta chỉ là những sa mạc hoang vu ghê sợ.
         TRẬT TỰ làm gì? Nếu là một TRẬT TỰ ép uổng. “Cuộc đời tạo ra TRẬT TỰ, TRẬT TỰ không tạo ra cuộc đời” (Lettre à un Otage). Trật tự vì trật tự là một thứ độc tài dày đạp sinh lực sáng tác, vẻ đẹp muôn ngàn bông hoa khác nhau.
         Bảo vệ chân lý? Nhưng có cần phải hủy diệt đời sống, tình yêu? “Chân lý là gì không thể chứng minh được. Nếu trong vườn này và không phải vườn kia cam sống nhiều quả, vườn này là chân lý của cam. Tôn giáo, văn hóa, hình thức sinh hoạt nào giúp con người cứu rỗi, tôn giáo văn hóa đó chứa đựng chân lý con người.
         Còn LUẬN LÝ?  Hãy tự tháo vát lấy mà hiểu đời sống. Nơi con người, chân lý là cái gì làm cho người thành người. Muốn hiểu con người, muốn kính phục cái linh thiêng ngự trong linh hồn bé mọn này không phải lấy chân lý nọ đối lập chân lý kia. “Phải, các anh có lý hết. Luận lý chứng minh được tất. Cả cái anh muốn biết mọi tội lỗi thế gian trên lưng người gù cũng có lý… Ta có thể chia loài người ra hai khối tả hữu, gù không gù, dân chủ phát-xít, và chẳng ai đả đảo được. Nhưng có một điều là chân lý bao giờ cũng đơn giản, chứ không rối loạn” (Terre des Hommes).
          “Chân lý không phải của riêng ai, và không ai được độc quyền thiện chí đi tìm chân lý”. Tôi có thể đứng trên lập trường của tôi đả đảo lập trường người khác, tôi có thể chỉ trích lập luận đối phương, nhưng tôi phải tôn trọng nhân phẩm người đó lý tưởng họ tôn thờ. Sao lại tách người ta ra khỏi lý tưởng của họ – dù chủ quan tôi cho là sai – miễn là họ cũng khó nhọc thành thực đi tìm chân lý như tôi.
          “Tôn trọng con người! Nếu ngọn lửa đỏ đều cháy sáng trong các tâm hồn, loài người sẽ xây được Xã hội kinh tế, văn hóa trên cơ sở đó… Một nền văn minh trước hết phải được đặt trên cái cốt yếu đó, nó phải là một nguyện vọng say sưa, đi tìm hơi Lửa, rồi con người từ nhầm lẫn này đến nhầm lẫn kia sẽ tìm thấy đường đưa tới Lửa” (Lettre à un Otage).
         Tôn trọng người khác: Nhìn người khác như một nhân vị không phải cái nhìn soi mói, như muốn cướp bản ngã người khác, và coi như đối tượng – nhưng cái nhìn mời gọi nhìn yêu đương… Nơi nào Yêu đương ngự trị nơi đó có sự sống lớn mạnh, phong phú nhộn nhịp. Cái nhìn gây ấm, nụ cười reo vui và nguồn vui hay lây… Nếu không đời sống đoàn thể sẽ nhạt như món ăn nguội, lạnh như tuyết đông… Trong một hiệu buôn, người mua giao tiền cho người bán, người bán chuyển hàng cho người mua như hai cái máy vô tri… Nhưng nếu có nụ cười, vài lời chào hỏi thành thực, gian hàng sẽ đổi khác đi; một cái gì khó tả qua truyền thông giữa hai tâm hồn; họ tương giao bằng tình người, tình nhân loại. Bây giờ cảnh vật cũng đổi: bàn ghế trở nên sống động, gói hàng như chứa một nỗi niềm, và con đường dãy phố cũng thành quen thuộc.
         Saint Exupéry kể lại tối hôm ấy bị giam trong nhà tù Tây Ban Nha hồi nội chiến: thời gian qua đi bên anh lính gác thật nặng – như cái yên lặng nghĩa địa – cái bực tức buổi chiều hè gặp cơn giông… Nhưng rồi có một nụ cười lời hỏi thăm thân ái: “Anh có rét lắm không”, điếu thuốc lá cám ơn… căn phòng bỗng ấm lên. Thực ra chẳng có gì thay đổi: cây đèn lờ mờ trên bức tượng lạnh toát, mùi cứt chuột vẫn thế. Nhưng hình như chúng đổi bản tính vì “Nụ cười đã cứu tôi… tôi bước vào nụ cười những người lính ấy như bước vào một xứ lạ như ngày xưa đã bước vào nụ cười những kẻ đã cứu chúng tôi ở Sahara. Tất cả săn sóc người ốm, đón tiếp đầy đủ, sự tha thứ chỉ giá trị có nụ cười tô điểm” (Lettre à un Otage).
         Không tôi cần lý luận để sống, nhưng cần yêu đương cứu rỗi. Tôi cần tình bạn, khát tình nhân loại. “Tôi muốn có một người bạn, trên tất cả chia rẽ lý thuyết, tôn trọng trong tôi người HÀNH HƯƠNG thứ lửa đỏ. Tôi muốn vào nhà anh mà không bó buộc mặc quân phục đọc cả bản kinh Coran. Bên anh, tôi không tìm chứng minh bênh vực gì, tôi cần Bình an. Qua lời nói cử chỉ vụng về của tôi, chỉ xin anh nhìn tôi như “một người”, tôn trọng trong tôi “vị đại sứ những niềm tin, phong tục yêu đương riêng” của tôi. Không phải Lề luật, Lý luận của tôi sẽ làm cho anh hiểu tôi là ai. Nhưng chúng ta cần nụ cười Tình yêu, Lý tưởng để sống để đi: cứu rỗi” (Lettre à un Otage).
         Kẻ cuốc đất, muốn hiểu ý nghĩa việc mình làm. Cảnh cuốc đất kẻ tù đày nhục nhã khác cảnh cuốc đất người chơi vườn. Tù đày không phải tại cuốc đất, nhưng tại cuốc đất không nghĩa lý gì, vì không ràng buộc kẻ cuốc đất vào đoàn thể các người tự do cần lao.
         Và chúng ta muốn thoát khỏi Tù Đày (Terre des Hommes).
         Vì thế, một văn minh khinh con người, dày đạp nhân loại, là một văn minh phóng thể. Chỗ nào ích kỷ, tham lam ngự trị, tình thân ái tương trợ bị xua đi thật xa,  ở đó có tiếng than khóc những linh hồn bị hắt hủi, tiếng phản kháng âm thầm những sức sống bị chà đạp.
          “Trên một toa xe lửa chở gia đình thợ mỏ Ba Lan thất nghiệp ở Pháp về, tôi ngồi trước đôi vợ chồng mặt tiêu điều bẩn thỉu, xấu xí quá. Tôi nghĩ đến cái ngày hai người bắt đầu quen biết nhau. Chắc chàng đã mỉm cười với nàng và sau giờ làm việc đem tặng nàng bó hoa… Và nàng e lệ đáp lại lòng chàng bằng nụ cười yêu đương… Bây giờ hai người chỉ còn là hai cái máy cuốc. Con vật lúc già còn có duyên. Tại sao con người lại hư hỏng đến thế? Và đứa trẻ ngồi trong lòng mẹ nó chao ôi mặt nó xinh quá: Nó là kết quả của nụ cười tình yêu. Đây là nghệ sĩ đầy hứa hẹn, một Mozart tương lai… Nó chả khác gì những hoàng tử nếu được săn sóc âu yếm… khi trong vườn một nụ cười hồng vừa nở, cả bọn người xúm lại vun xới che đậy chăm tưới. Nhưng không có thợ làm vườn cho loài người. Và Mozart vừa sinh ra đã bị bóp chết” (Terre des Hommes).
         Vâng quanh ta có bao nhiêu nụ hồng đời héo hon đi vì thiếu sương mai khí mát?
         Một văn minh chân chính phải xây trên tôn trọng con người trong đó mọi Thiên chức có thể tìm thấy đất tốt để nẩy mầm lớn mạnh.

Ý nghĩa cái chết
         Sống cần lao sáng tác, yêu đương sống đoàn tụ hạnh phúc đến khi hai tay buông xuôi ra đi một cách bình an như quả chín muồi tới ngày rụng. Sống đầy đủ chết êm đềm như bà mẹ già trối cho con cháu vườn rau sào ruộng để chúng có lợi sau này.
          “Cuộc đời lớn lên rồi tàn đi như quả đậu chín tách nhả hạt và hồi chuông cầu hồn hôm ấy không phải tiếng ai oán thất vọng, nhưng chứa chan vui sướng loan báo một hiện tượng mầu nhiệm TRUYỀN SINH” (Terre des Hommes).
         Cái chết đẹp và anh hùng, không phải đã lập được nhiều chiến công chấn động thế giới, nhưng chỉ là một đời đã sống đầy đủ. Sao cánh đồng cỏ mùa xuân đẹp quá? Không phải vì có nhiều hoa rực rỡ lên cao, nhưng vì những hoa bé nhỏ không muốn gì hơn là được góp phần vô danh trong VẺ ĐẸP chung cả cánh đồng.


PHAN MAI


BÁCH KHOA |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 08/12/2017, 22:19:15


                           Viễn xứ

            Giòng Cửu Long xao xuyến đêm trăng
            Vang tiếng “Khèn” êm êm dịu dàng
            Mấy mái chùa công lên huyền bí
            Hơi sương mờ nhạt ánh vàng son…
                        Trăng Cửu Long
Hơi thở nhịp nhàng trên ngực Em tròn căng
Lưu luyến mùa Xuân sắp vỡ tan
Những “Phou Sao” đẹp như vũ trụ
                        Tóc mun gài hoa
                        Cánh lan trắng ngà
Mắt em Niết bàn đẹp mộng tình duyên
Thuyền mùa Xuân ngả nghiêng sóng u huyền
            Đôi tay Em rắn Naga
            Hai linh hồn ta nở hoa
            Trên giòng Cửu Long mênh mang
            Trong tiếng “Khèn” vang nhịp nhàng
            Đêm nay rừng núi lên nhịp múa
            Huyền ảo như cánh chim
            Màu sắc trôi trong tiếng đàn
            Búp tay rừng rực hoa đêm
            Nhạc lên đôi mắt
            Tình lên tay Em
            Rực rỡ màu hoa rừng núi
            Xa như kiếp sống Vị lai
Ai than thở bên bờ suối đêm nay
Cho cuộc tình duyên dang dở mê say
Đường về “Bản” cũ còn vương mãi
Hương tình duyên môi Em hồng tươi
Tình thương yêu nở hoa rừng núi
Tuổi xanh xanh mỗi chuyện đời
Vàng son điện ngọc tàn phai
Gấm hoa cũng nhạt chuyện đời phù du
Em dâng nơi đây tình Em mới nở
Hoa đời – Hương núi – Trăng thề
            Mái chùa sương ngọc lê thê
            Say cho trọn kiếp tình Tam thế
            Sớm đợi mùa Xuân đã chợt về
                        Nhịp ca rừng núi
                        Tiếng “Khèn” đang say
            Trăng tình – Hương sắc – Gió mây
            Viễn xứ đêm tròn trăng mộng
            Dâng về mắt Em thơ ngây…

                                          Đêm trăng Vạn Tượng


                                    PHAN LẠC TUYÊN


BÁCH KHOA |  SỐ 1

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 11/12/2017, 18:45:17
BÁCH KHOA |  SỐ 2  [31 tháng Giêng  1957 |  72 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Kế hoạch kinh tế |  1-4
Hoàng Thái Linh |  Luận về cái nhìn |  5-9
Bách-Khoa |  Quyền sở hữu \ Vỏ quýt dày, móng tay nhọn |  9
Trần Khang |  Vết xe đổ |  10
Hoàng Minh Tuynh |  Giáo hội với đà tiến triển của thế giới hiện nay |  11-15
Bách-Khoa |  Nói nhiều làm ít |  15
Phạm Ngọc Thảo |  Tết nội hóa, Tết độc lập |  16
Phạm Ngọc Thảo |  Đánh giặc mà không giết người |  17-21
Bách-Khoa |  Mạng người và cái yếm |  21
Bách-Khoa |  Không yêu nhau mới loạn |  22
Minh Phong |  Về vấn đề: Đẻ không đau |  23-27
Dương Minh Thới |  Cung chúc Tân niên Đinh Dậu |  28
Nguyễn Mừng (dịch) |  Tín ngưỡng của Albert Einstein |  29-31
Bách-Khoa |  Tội lỗi kẻ cầm quyền |  31
Hoàng Minh Tuynh |  Thằng nhỏ khổ quá! |  32
Bùi Văn Thịnh |  Một giai đoạn mới trong chính sách kinh tế |  33-36
Hoàng Thị Châu |  Phương diện xã hội trong vấn đề du lịch |  37-41
Quảng cáo |  42
Đỗ Trọng Chu (dịch) |  Trung Cộng tấn công Hoa kiều ở Đông Nam Á \ John C. Cadwell |  43-48
Trần Long Hưng & Nguyễn Hữu Ngư |  Sử gia Tàu đối với Bà Triệu |  49-51
Quảng cáo |  52
Trọng Văn |  Thực chất của Văn nghệ Học sinh |  53-54
C. NG. Nguồn Trinh |  Trái tim đâu? (truyện ngắn) |  55-57
Nguyễn Trung Nhất |  Hãy trả tự do cho trẻ em |  58-61
Minh Tiến |  Tứ đức mới của phụ nữ Việt Nam |  62-64
Quảng cáo |  65-72


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204212510-31a691575d39c7dbec37afa5be3293aa/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 11/12/2017, 19:08:00


Tết nội hóa, Tết độc lập

XUÂN VỀ năm nay, giữa nhiều nỗi khó khăn. Nông dân bán lúa không được theo ý muốn. Quanh năm khổ cực với thửa ruộng: hết phát cỏ đến gieo mạ, hết đắp bờ đến tát nước, hết trông mưa đến trông nắng, hết đuổi chim đến gặt lúa. Nay lúa đã đầy bồ thì lại thiếu người mua.
         Nông dân là số đông trong nhân dân nước Việt. Nông dân còn băn khoăn thì dân Việt không thể nào tươi cười.
         Nông dân không mua vải thì ngành dệt và hàng vải không thể lời. Nông dân không mua bánh và kẹo thì tiệm bánh và lò đường sẽ bán ế.
         Đó là sự thật. Ta không ngần ngại gì mà giấu nó. Trái lại, cần hiểu biết sự thật, tìm trong sự thật nguồn gốc và nguyên nhân để ngày mai xây dựng một sự thật khác tốt đẹp hơn, vui tươi hơn. Đó là thái độ mọi người Việt Nam tha thiết với Nước Nhà và tin tưởng ở Dân Tộc.



         Xuân về năm nay trong khó khăn dạy ta một bài học. Muốn giành lại nước Việt Nam từ tay ngoại quốc, phải đổ máu và khổ cực; muốn kiến thiết nước Việt Nam độc lập phải chịu đựng và làm việc.
         Một người, một nhóm người, dù tài ba đến đâu đi nữa cũng chẳng khi nào cứu được một xứ sở khỏi ách nô lệ. Muốn kiến thiết một nền kinh tế độc lập cho nước Việt Nam, một nhóm công kỹ nghệ gia biệt lập chẳng làm được gì nên.
         Xây dựng được công kỹ nghệ nước Việt Nam là nhờ anh, nhờ chị, nhờ tôi, nhờ bà con lối xóm, nhờ kẻ giàu và người nghèo, nhờ thường dân và công chức các cấp từ trên đến dưới.
         Sản xuất và tiêu thụ hàng nội hóa phải nhìn xa hơn những quyền lợi ích kỷ của cá nhân: ăn đường mỡ gà Việt Nam phải thưởng thức trong màu vàng và vị chua của nó, niềm sung sướng giúp nuôi sống biết bao gia đình người dân Việt; sản xuất đường Việt Nam có khi khổ cực và không lời bằng nhập cảng hàng ngoại quốc, nhưng cần thấu triệt vinh dự góp sức xây dựng nền tảng của kỹ nghệ Việt Nam ngày mai.



         Xuân cách đây non một ngàn năm đã thấy vị anh hùng đất Hoa Lư vượt biết bao khó khăn để xây dựng một nước Độc Lập.
         Xuân năm nay sẽ thấy dân Việt Nam kiện toàn nền độc lập mới thu hồi và sẽ ghi một bước tiến của nước Việt trong khó khăn và vinh dự.
         Có Xuân cực khổ thì sẽ có Xuân tưng bừng. Màng gì những Xuân ăn chịu, ăn xin. Thà Xuân thiếu thốn để xây dựng những Xuân độc lập cho xứ sở ngày mai.


PHẠM NGỌC THẢO


BÁCH KHOA |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 11/12/2017, 22:24:40


Tín ngưỡng của Albert Einstein*
000
Sau đây là lời tự thuật của nhà bác học Albert Einstein
tỏ bày rõ quan niệm của ông về Đời Sống và Tôn Giáo,
đã đăng trong cuốn THE FAITH OF SCIENTISTS.

SỰ NGHIÊN CỨU khoa học có thể làm giảm các điều mê tín bằng cách khiến con người suy xét và khảo sát sự vật theo quan niệm nhân quả. Các sự nghiên cứu khoa học cao đẳng đều dựa trên lòng tin tưởng mạnh mẽ gần như một đức tin rằng vũ trụ biến hóa một cách hợp lý và dễ hiểu.
         Tôi thầm tin và cảm thấy một cách sâu xa rằng có một trí giác cao cả đã tự biểu lộ ra trong thế giới thực nghiệm; và đó chính là quan niệm của tôi về Thượng Đế.
         Tìm hiểu ý nghĩa của sự sống nhân loại, và đi rộng ra sự sống của thể chất hữu cơ, đó là một vấn đề bao hàm tôn giáo. Đừng tưởng rằng đó là một vấn đề vô nghĩa, vì kẻ nào khinh thường ý nghĩa đời sống của mình và của tạo vật chung quanh mình, không những là đáng thương hại mà còn không đáng sống nữa.
         Vậy mà người ta ở đời, ai chẳng có một vài lý tưởng làm định hướng cho hành động và óc phán đoán của mình? Theo nghĩa này tôi không cho rằng phong lưu và hạnh phúc là mục đích cuối cùng và chỉ những kẻ có một căn bản luân lý thấp kém mới lấy những điều đó làm lý tưởng. Những lý tưởng đã soi sáng tôi trên đường đời và giúp tôi thêm can đảm để đương đầu với cuộc sống là: Chân, Thiện, Mỹ.
         Nếu ta không cảm thấy mối tình thân ái giữa những người cùng chí hướng, cùng đeo đuổi cái vô cùng tận trong nghệ thuật cũng như trong khoa học, đời sẽ đáng chán ngán biết bao? Đáng khinh thay của cải, danh vọng và phong lưu là những mục đích của thường nhân!
         Nói ra thì có vẻ mâu thuẫn, nhưng mặc dù tôi ít giao thiệp trực tiếp với cá nhân hay đoàn thể khác, tôi vẫn say sưa với ý niệm công lý xã hội và trách nhiệm xã hội.
         Nền dân chủ là lý tưởng chánh trị của tôi, theo đó cá nhân là của mỗi người sẽ được tôn trọng và không ai có thể tôn thờ như thần thánh… Vũ lực bao giờ cũng hấp dẫn những kẻ thiếu đạo đức và tôi tin rằng những kẻ hèn mạt bao giờ cũng nối gót các nhà độc tài sáng suốt, vì vậy tôi hết sức phản đối những chế độ như ta hiện thấy ở nước Nga ngày nay.
         Theo ý tôi không phải cái quốc gia chính trị là thực thể quý báu nhất trong đời sống hàng ngày của nhân loại, mà chính là cá nhân với óc sáng tạo, với cảm tình và nhân cách của nó, chỉ có cá nhân mới sáng tạo cái cao quý và cái tuyệt tác mà thôi.
         Cái điều đẹp đẽ nhất mà chúng ta có thể thưởng thức được là sự huyền bí; sự huyền bí chính là cái cảm giác căn bản nguyên khởi của chân khoa học và chân mỹ thuật; ai mà không có ý thức về sự huyền bí và không thể cảm thấy sự linh diệu nữa thì cũng như kẻ đã chết, như ngọn nến đã tắt đi.
         Được ý thức sự hiện hữu của một thực thể mà chúng ta không thể nào hiểu biết thấu đáo, nhận biết được cái lý trí sâu xa nhất, cái đẹp tráng lệ nhất, mà hình như chúng ta chỉ có thể lĩnh hội được một cách hết sức sơ lược, đó chính là nền móng của một thái độ tôn giáo chân chính. Theo nghĩa ấy, và chỉ theo nghĩa ấy, tôi là một giáo đồ thâm tín. Tôi còn dám mong mỏi gì hơn là cảm thấy sự huyền bí của tính cách vĩnh viễn của sự sống, biết một cách thô thiển cách tổ chức tuyệt diệu của thực thể, và luôn ấp ủ một lòng mong mỏi được hiểu một phần, dù hết sức nhỏ mọn, cái Nguyên lý mà tôi hằng thấy biểu lộ trong thiên nhiên.
         Trong thánh đường khoa học có nhiều gian khác nhau và những kẻ ở trong ấy và mục đích của họ cũng khác nhau xa. Có kẻ đeo đuổi khoa học vì lòng tự cao tự đại về óc thông minh hơn người của mình, dùng khoa học để thỏa mãn lòng ham danh vọng của mình; có kẻ lại dâng sản phẩm trí tuệ của mình lên bàn thờ khoa học cho những mục đích hoàn toàn vụ lợi. Hai hạng này đông đến nỗi nếu một Thiên Thần của Thượng Đế đuổi họ ra khỏi thánh đường thì đền sẽ trở nên vắng vẻ trông thấy. Tuy vậy ta cũng sẽ thấy lác đác năm bảy người thuộc cả quá khứ lẫn hiện tại còn lưu lại trong đền. Phần đông có dáng điệu kỳ dị, ít giao thiệp, sống lẻ loi, và mặc dù có những đặc tính chung nói trên, vẫn ít giống nhau hơn những kẻ bị sa thải.
         Mục đích của họ đến đấy làm gì?
         Chính vì họ đã mong mỏi, tuy một cách âm thầm, thoát ly khỏi đời sống cá nhân để đi vào thế giới khách quan của cảm giác và tư tưởng; lòng ham muốn này ví như lòng ham muốn của một kẻ ở chốn thành thị khao khát thoát ly cảnh tượng ồn ào đông đảo quanh mình, để đi tìm những nơi non cao vắng vẻ cho mắt mình có thể tự do bao quát cả không gian êm ả và tinh túy hoặc tìm tòi một cách trìu mến những hình dáng dịu dàng hình như đã được xây đắp để tồn tại vĩnh viễn vậy.
         Ngoài mục đích tiêu cực này, còn có mục đích cá nhân nữa. Con người gắng tạo tác một hình ảnh đơn giản và dễ hiểu của vũ trụ hợp với mình nhất, đoạn rồi thay thế một phần nào cái vũ trụ quan của mình cho thế giới thực nghiệm bên ngoài và cố gắng chế ngự thế giới ấy.
         Con người sẽ lấy cái vũ trụ này và cách cấu tạo của nó làm nòng cốt của đời sống xúc cảm của mình để tìm sự thanh bình và yên tâm hoàn toàn, những điều mà họ không thể tìm thấy trong đời sống cá nhân chật hẹp và điên đảo.
         Trọng trách tối cao của nhà vật lý học là tìm ra những định luật bao quát và đơn giản có thể làm khởi điểm cho một vũ trụ quan xây dựng hoàn toàn bằng phép diễn dịch.
         Những kẻ làm việc đó phải có một tâm trạng giống như tâm trạng tín đồ tôn giáo hay của kẻ yêu đương; cố gắng hằng ngày của họ không phát xuất ra tự một chương trình vạch sẵn mà tự ở tâm hồn mà ra.
         Ai có tâm huyết phải có trách nhiệm hết sức cố gắng làm cho giáo lý vị nhân này trở nên một động lực sống trong hoàn cảnh nhỏ bé của mình. Những kẻ nào thực tâm noi theo lý tưởng đó mà không bị người đồng thời chà đạp thì những kẻ đó và xã hội trong đó họ sống, có thể được xem như là may mắn lắm vậy.


NGUYỄN MỪNG dịch

___________________________________________________
* Bản dịch này đã đăng trong báo Lành Mạnh xuất bản tại Huế.


BÁCH KHOA |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 11/12/2017, 22:59:13


Tứ đức mới của phụ nữ Việt Nam

NỀN LUÂN LÝcũng như phong tục, tập quán là sản phẩm của chế độ xã hội. Thế nên nó không phải là bất đi bất dịch mà nó thay đổi theo thời gian và không gian.
         Luân lý dưới thời phong kiến cho rằng tam-tòng tứ-đức là khuôn vàng thước ngọc với người Phụ nữ Việt Nam. Ngày nay nhiều bạn Nam giới cũng như Nữ giới thường đặt câu hỏi: “tam-tòng tứ-đức nên giữ hay nên bỏ?” Câu hỏi ấy cũng được đa số trả lời là “Tam-tòng thì nên bỏ vì nó làm mất cả phẩm giá và tự do của người phụ nữ, nhưng tứ-đức thì không nên bỏ”.
         Người phụ nữ cần có tứ-đức là: công, dung, ngôn, hạnh. Điều đó rất đúng. Nhưng theo ý chúng tôi, sống mỗi ngày một thay đổi, người ta mỗi ngày một tiến bộ; vậy nên công, dung, ngôn, hạnh, tuy căn bản vẫn như xưa, nhưng nội dung của mỗi chữ có phần nào biến chuyển.
         CÔNG: Xưa kia, công là lo công việc trong nhà như may vá, thêu thùa, nấu nướng, tô điểm cho gia đình thêm vui. Ngày nay ngoài việc gia đình, công còn có nghĩa là mỗi người phụ nữ phải có một nghề lương thiện để tự nuôi mình và nuôi gia đình mình. Lúc bình thường, chị em góp sức với chồng làm cho quỹ gia đình dồi dào hơn, mức sống được nâng cao hơn. Khi gặp hoàn cảnh khó khăn, chị em không tới nỗi bối rối. Có một nghề, chị em thấy đỡ chật vật lúc chồng đau không đi làm được, bớt chơ vơ khi không may chồng chết để lại con thơ. Chị em lại có thể đảm đương tất cả trong gia đình, cho chồng rảnh rang lo việc nước khi quốc gia hữu sự. Thật ra, chị em công nhân, nông dân, lao động, đa số có nghề nghiệp và tự tay các chị em đã giúp chồng nuôi sống gia đình. Nhưng còn biết bao nhiêu chị em khác đang sống ỷ lại vào chồng. Đó là một trở ngại lớn trong việc giải phóng phụ nữ.
         Công không phải chỉ có một nghề nuôi sống mà thôi; chị em còn phải rèn luyện cho mình nghề mỗi ngày một thêm tinh xảo. Ngoài ra, Công còn có nghĩa là lo công việc xã hội và việc quốc gia. Lo cho mình, ta cũng nghĩ đến những kẻ mồ côi nghèo khó. Bản thân chịu đau đớn lúc sanh đẻ, ta phải nhớ đến chị em nghèo sanh trong cảnh thiếu hụt, ốm đau. Đó là chưa nói đến trong tương lai, việc kiến thiết nước nhà phải cần rất nhiều bàn tay phụ nữ trong các ngành kỹ nghệ, thương mại v.v…
         DUNG: Dung là sắc đẹp, cái đẹp xưa kia yểu điệu thướt tha, như liễu yếu đào tơ không còn hợp thời nữa. Nhưng cái đẹp sống sượng lõa lồ, có tánh cách ngoại lai, phản bội cái phong thái kín đáo, dịu dàng của người phụ nữ phương đông, cũng cần phải bài trừ. Chúng ta phải cổ động bỏ lối ăn mặc khêu gợi để giữ phẩm cách cao quý của người đàn bà biết trọng mình, trọng người. Người phụ nữ Việt Nam ngày nay không là món đồ chơi của người đàn ông, cũng không phải phục tùng đàn ông vô điều kiện, thì quan niệm đẹp của ta cũng có phần đổi khác. Chị em ta nên thích một cái đẹp khỏe mạnh, trong sạch kín đáo, nó làm cho người trông “càng ngắm càng trọng, càng nhìn càng ưa”, mà tuyệt nhiên không dám có một tư tưởng xấu xa. Cái đẹp lại cần phải tự nhiên, đơn giản. Không phải trang điểm quá lố, ăn mặc lòe loẹt mới là đẹp. Son phấn dùng vừa phải, phơn phớt làm nét mặt chị em thắm tươi, dịu dàng dễ coi. Áo quần không cần kiểu cách, màu sắc tươi đẹp không sặc sỡ, chỉ tăng thêm vẻ khả ái của người Phụ nữ Việt Nam.
         NGÔN: Ngôn là lời nói. Ngoài việc trình thưa, vâng, dạ trong gia đình như xưa, chị em ta phải biết trình thưa vâng dạ ngoài xã hội nữa.
         Ngôn của chị em ta ngày nay là ăn nói đúng đắn, đoan trang, không rụt rè e lệ. Thấy đúng dám khen, thấy sai dám phê bình, nhưng phải lựa lời, tùy theo trường hợp và hoàn cảnh nhắm mục đích phê bình xây dựng hơn là dùng lời lẽ chua cay, nói móc để đả phá hoặc mạt sát người ta. Ôn tồn, êm ái phát biểu thẳng thắn được cảm tưởng của mình đối với một người hay một việc làm, chị em ta sẽ xóa bỏ được câu mà từ xưa tới giờ người ta thường gán cho phụ nữ là: “Phụ nữ trước mặt hay nể nang, nhưng sau lưng hay nói lén” hoặc “phụ nữ hay ngồi lê đôi mách”. Chị em ta cũng nên mạnh dạn nói, nhưng nói vừa đủ, việc đáng nói hãy nói để khỏi rơi vào tình trạng ba hoa (nhiều lời mà không ích lợi), để làm sao chôn được câu nói của cổ nhân đã bất công gán cho phụ nữ là “phụ nhân tràng thiệt” (đàn bà lưỡi dài). Ngôn lại còn có nghĩa nữa là chị em dám nói ý nghĩ của mình nơi công cộng hay trên báo chí, sách vở để làm cho tiếng nói đúng đắn của người phụ nữ được vang trong xã hội, đừng để cho một số “phụ nữ râu”, mang danh phụ nữ phát biểu ý kiến dùm chị em, và tiếc thay! Nhiều khi tư tưởng phản lại quyền lợi chị em.
         HẠNH: Hạnh là tánh nết đoan trang, hành vi giữ theo đạo đức. Hạnh ngày nay là nết na phải thế nào để cho nhân dân thương mến, quần chúng nể vì và kính phục. Ăn không ngồi rồi, vui với vài ba con tổ tôm, tứ sắc, đâu phải là thói hay nết tốt của người Phụ nữ Việt Nam mới. Có biết bao thú vui cao thượng nâng cao đức hạnh cũng như kiến văn của chị em, nếu chị em vui lòng thưởng thức. Chị em phụ nữ ngày xưa thường làm bạn với cầm, kỳ, thi, họa. Ngày nay, há chị em ta chẳng nên vui cùng sách vở đúng đắn, ưa thích văn chương lành mạnh hay âm nhạc, tuồng hát, màn ảnh có tánh cách xây dựng hay sao? Còn điều này chúng ta cần chú trọng là làm cho người vừa cảm mến, vừa kính phục mới là đáng quý. Còn như bộ điệu không đoan trang để quyến rũ người thì dù bề ngoài có được đối đãi tử tế một phần nào mà bề trong “lòng khinh rẻ đã dành một bên”. Hơn nữa, dù người biết, dù người không, ta vẫn luôn luôn giữ gìn tư cách, không tà ý, không những chuyện đồi phong bài tục, khiến lương tâm có thể trách mình. Cái câu: “ông ăn chả, bà ăn nem” phải được vùi sâu chôn chặt để không ai còn nhắc nhở tới nó nữa.
         Trên đây là một quan niệm về tứ-đức mới của người Phụ nữ Việt Nam trong một nước Việt Nam độc lập, dân chủ mà Hiến pháp đã nhìn nhận quyền “Nam-Nữ bình đẳng”.
         Thời đại ngày một văn minh, đời sống mới ngày một đổi mới. Những cái hay xưa ta vẫn giữ, song ta phải hiểu rõ như thế nào cho hợp thời, hợp cảnh thì cái hay mới có một tia giá trị thực tế, mới phụng sự được nhân dân, mới xứng đáng là hay hoàn toàn vậy.


MINH TIẾN


BÁCH KHOA |  SỐ 2

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 15/12/2017, 17:19:27
BÁCH KHOA |  SỐ 3  [15 tháng Hai  1957 |  74 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Một ít nhận xét về phong trào Hợp tác xã |  1-4
Bách-Khoa |  Một cách xét người của Khổng Tử |  4
Hoàng Minh Tuynh (dịch) |  Trách nhiệm người Công giáo đối với Hòa bình \ Hồng y Saliège|  5-8
Hoàng Minh Tuynh |  Bạn Đào Văn Tập không còn nữa! |  8
Phạm Ngọc Thảo |  Góp ý kiến về Thiên “Mưu Công” của Binh Thư Tôn Tử |  9-13
Bách-Khoa |  Mạnh Tử định nghĩa “đại trượng phu” |  13
Minh Phong |  Kỹ thuật “Đông Miên” áp dụng vào trường hợp Bà Ellen Moore |  14-17
Bách-Khoa |  Thiên cao thính đê |  17
Nguiễn Ngu Í |  Nỗi lầm than của dân Trung Hoa đời nhà Đường qua vài bài thơ của Đỗ Phủ |  18-19
Thiềm Mai |  Khai bút, một lối chơi Xuân của nhà Nho |  20-22
Bách-Khoa |  Cũng là “Tự ti mặc cảm” |  22
L. G. |  Hạnh phúc lao động là ở chế độ dân chủ xã hội |  23-26
Bách-Khoa |  Một chút “thuật” chính trị của Mạnh Tử |  26
Phương Nhân |  Một gương kiên trinh và kiên trung: Nữ thi sĩ Sương Nguyệt Anh |  27-33
Phạm Duy Lân |  Bao giờ trời lại sáng? |  34-40
Thoại Nguyên |  Cái đẹp của chị em làm nghề “Vuốt ve đầu trẻ” |  41-44
Bách-Khoa |  Hai cách làm việc \ Trước sau một lòng |  44
Nguyễn Văn Ba |  Chân vệ sinh |  45-47
Bách-Khoa |  Cảnh vườn lớn và cảnh vườn nhỏ |  47
Nguyễn Huy Thanh |  Vấn đề tài trợ những tiểu xí nghiệp |  48-52
Yã-Hạc Nguyễn Văn Trung (dịch) |  Tìm hiểu nhau để tạo hạnh phúc \ André Maurois |  53-54
X. V. |  Tối tăm (truyện) |  55-59
Bách-Khoa |  Nghiêm khắc chật hẹp và dễ dãi xuề xòa |  59
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  60-62
Bách-Khoa |  Dụng nhân và xử sự theo Mạnh Tử |  62
Quảng cáo |  63-74


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204212546-cff3c7ebae0bc640134afb97cc51e930/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 15/12/2017, 17:49:05


Góp ý kiến về Thiên “Mưu Công” của Binh Thư Tôn Tử

BỘ TÔN TỬ BINH PHÁP tuy viết cách đây hơn 2.500 năm, nhưng tới nay vẫn còn ảnh hưởng to lớn đến những nhà quân sự ở Đông phương cũng như Tây phương.
         Tại sao vậy?
         Nghiên cứu lại tiểu sử của Tôn Tử ta thấy gia đình người nguồn gốc ở nước Tề, lúc bấy giờ là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế, và quân sự của một nước tự xưng là Trung-Tâm Thế-Giới, tức là Trung Quốc. Ông cha của Tôn Tử là những nhà quân sự rành nghề nhưng cũng thấu hiểu về chánh trị, kinh tế và văn hóa. Ngay ông thân của Tôn Tử lại thường giao thiệp và đàm luận với nhà triết lý trứ danh của Đông phương: Đức Khổng Tử. Trong hoàn cảnh xã hội và gia đình thuận tiện, Tôn Tử đã thấm nhuần một sự hiểu biết đầy đủ và sâu sắc về văn hóa, chính trị, kinh tế và nhứt là quân sự. Chính vì thế nên Binh Pháp của người không phải là một mánh khóe quân sự để giải quyết một trận tác chiến, mà đến thời kỳ nguyên tử lực vẫn còn giá trị đối với các nhà quân sự trên khắp thế giới. Cũng chính vì thế mà Tư Tưởng trong Tôn Tử Binh Pháp chẳng những có thể làm sáng tỏ vấn đề quân sự mà còn có thể áp dụng trong nhiều phạm vi khác nữa, như Triết học, Khoa học, Y học v.v…



         Vậy ta thử nghiên cứu một trong mười ba thiên của Tôn Tử Binh Pháp, thiên nói về MƯU CÔNG
         MƯU CÔNG có nghĩa là mưu kế công kích, hay nói một cách khác, kế hoạch công kích thành lũy, hay nói dễ hiểu hơn nữa là cách đánh đồn, cách hãm thành.
         Trong phần đầu, Tôn Tử trình bày tư tưởng căn bản của phép Mưu công. Tôn Tử nói:

               “Phàm cách dùng binh…
               Lành Nước là hạng trên, vỡ Nước là hạng kém,
               Lành quân là hạng trên, vỡ quân là hạng kém,
               Ấy cho nên trăm trận đánh trăm trận được không phải là tướng giỏi trong những người giỏi. Không đánh mà làm khuất phục được quân địch, ấy là tướng giỏi trong những người giỏi.
               Cách đánh thành là bất đắc dĩ.
               Cho nên không nhụt binh mà được toàn lợi, ấy là cái phép mưu công đó”.

         Như vậy ta thấy Tôn Tử cho rằng công kích thành kiên cố là sự bất đắc dĩ vì sẽ đem đến kết quả là vỡ Nước và vỡ quân.
         Những quân nhân đã từng công đồn hãm thành, chắc chắn đồng ý với Tôn Tử. Dù tấn công có đông lực lượng và hỏa lực mạnh, sự đột nhập một vị trí kiên cố thường đem lại một sự tổn thất nặng nề. Một người lính trong phòng tuyến cố thủ có thể kiềm chế hiệu quả hàng chục người tấn công vào.
         Lấy kinh nghiệm đã qua, ta thường thấy những đơn vị chuyên về công-kiên-chiến thường bị tiêu hao khá nhiều về cán bộ và lính giỏi. Vì những động tác vượt hàng rào dây thép gai, qua bãi chông, leo tường, phá lỗ châu mai là những động tác đòi hỏi chẳng những một sự tập luyện thuần phục tại thao trường mà còn phải có một sự thử thách dưới làn đạn. Khi công thành, những tuyến xung phong thứ nhất, thứ nhì thường cần phải gồm đại đa số là lính cũ có nhiều kinh nghiệm. Cán bộ chỉ huy cũng phải được tăng cường ít nhất gấp đôi so sánh với một trận tác chiến ngoài trời. Như vậy đã công đồn thì dù thắng dù bại, phe công kích nếu có bị thiệt hại về quân số, thường thường phần lớn là quân số tinh nhuệ.
         Đào tạo một lính giỏi có kinh nghiệm tại chiến trường là một việc khó. Đào tạo một sĩ quan biết cầm quân tại mặt trận là một việc khó hơn nữa. Những quân nhân ấy là vốn rất quí và chính họ định đoạt giá trị của một quân đội hơn là nhưng khẩu súng tốt.
         Vì thế nên đối với Tôn Tử “đánh thành là bất đắc dĩ” vì nó sẽ làm vỡ quân.
         Đến ngày nay tư tưởng đó vẫn còn đúng. Tuy súng ống phá thành có tối tân hơn, nhưng kỹ thuật xây đồn, đắp lũy cũng tiến song song, cho nên, những trận công-kiên-chiến đối với nhà quân sự vẫn là một sự bất đắc dĩ và chỉ nên thực hiện khi nào vị trí đó có một giá trị tương xứng với sự hy sinh về quân lực của kẻ tấn công.
         Nhưng trong trường hợp cần phải công thành thì Tôn Tử chủ trương ra sao?
         Tôn Tử chủ trương nhất là dùng mưu, thứ là dùng giao, chót hết mới đến việc đánh thành.
         Dùng mưu tức là không phải lấy sức mạnh đấu với sức mạnh. Nói đến dùng mưu là nói đến nghiên cứu tất cả ưu và nhược điểm của thành về phương diện vật chất cũng như tinh thần. Phải xem chỗ nào hỏa lực kém, phiên gác nào hơ hỏng, hay thói quen của binh sĩ trong đồn, tánh tình của các chỉ huy để rồi tùy đó mà định kế hoạch.
         Dùng giao tức là sự giao thiệp, cổ động tuyên truyền những việc mà đời nay người ta thường gọi là địch vận tức là vận động địch thù.
         Sau hết mới là dùng đến sức mạnh: sức mạnh về võ khí và sức mạnh về người.
         Lẽ tức nhiên cũng có thể phối hợp các phương thức trên.



         Đi sâu vào chiến thuật, Tôn Tử nêu lên mấy nguyên tắc xử dụng lực lượng:

               “Nếu quân ta gấp mười quân địch thì ta vây họ.
               Nếu quân ta gấp năm quân địch thì ta đánh họ (ý nghĩa là công hãm thành).
               Nếu quân ta gấp đôi quân địch thì ta chia sức họ.
               Nếu quân ta bằng sức quân địch thì ta phải chiến đấu với họ.
               Nếu quân ta ít hơn quân địch thì ta phải giữ thế thủ.
               Nếu quân ta kém sức quân địch thì ta phải tránh họ”.

         Trong mấy nguyên tắc trên, một điều rõ ràng là nếu tương quan lực lượng giữa kẻ tấn công và kẻ bị công kích không hơn ít nhứt gấp năm lần thì trận công thành không trọn vẹn. Dưới tỷ lệ gấp năm, thì hoặc tìm cách chia lực lượng địch để có thể đánh, hoặc tạo điều kiện cho họ ra ngoài để có thể chiến đấu hoặc tránh hẳn việc công thành.
         Khi bàn đến tương quan lực lượng, điều cần chú ý không phải vấn đề đem quân số so sánh với quân số của kẻ trong và kẻ ngoài thành.
         Tương quan lực lượng phải tính về tất cả các phương diện: quân lực và hỏa lực. Trong phép toán này cần phải nghĩ đến trình độ kỹ thuật, kinh nghiệm chiến đấu, tinh thần dũng cảm v.v…
         Nếu một bên có năm tân binh và một bên có một anh lính cũ, giàu kinh nghiệm chiến trường, cũng không thể coi là bên này mạnh gấp năm bên kia.
         Nếu một bên có năm trung liên nhưng không có chỗ đặt để bắn và bên kia có một trung liên nhưng xạ giới rộng rãi, cũng không thể coi hỏa lực bên này gấp năm hỏa lực bên kia.
         Chính việc so đo tương quan lực lượng sai lầm mới đem kết quả tai hại cho kẻ chủ công. Kinh nghiệm cho biết khi tổ chức một công đồn mà quên giữ đúng mức tương quan lực lượng nói trên thì trận đó trở nên hết sức phiêu lưu mạo hiểm.



         Trong phần chót của thiên Mưu Công, Tôn Tử vạch lên những yêu cầu căn bản của một tướng quân.
         Tuy mới đọc qua không thấy sự liên hệ mật thiết giữa những yêu cầu này với chiến thuật công thành, song có lẽ Tôn Tử muốn nhấn mạnh đây là điều yêu cầu đặc biệt cần thiết cho một tướng quân lúc chỉ huy công thành.
         Tôn Tử nói:

               1°/ “Không biết quân mình có thể tiến mà sai quân mình cứ tiến.
               – Không biết quân mình có thể lui mà lại sai quân mình cứ lui,
               – Như thế là làm khổ cho quân lính.
               2°/ Không rõ việc nhà binh mà lại tham dự việc nhà binh, khiến cho quân-tâm ngờ vực.
               3°/ Không rõ quyền hành nhà binh mà lại tham dự đảm nhận quyền hành nhà binh thì quân lính sanh nghi; lính đã nghi thì các nước Chư Hầu sẽ khởi loạn, như thế chỉ làm loạn quân-tâm và khiến ta thất bại thôi”.

         Để nói rõ thêm, Tôn Tử vạch năm điều để bảo đảm thắng lợi:

               1°/ “Biết có thể hoặc không có thể chiến đấu thì thắng.
               2°/ Biết cách điều động số quân nhiều hoặc ít thì thắng.
               3°/ Trên dưới một lòng cùng một nguyện vọng thì thắng.
               4°/ Lấy sự mưu tính đối đãi với kẻ không mưu tính thì thắng.
               5°/ Tướng giỏi mà không bị vua kiềm chế thì thắng”.

         Điều yêu cầu thứ nhứt là:
         Tướng phải hiểu quân mình và quân địch.
         Biết khả năng của quân sĩ của ta và của địch để định đoạt sự tiến thoái. Biết được tấm lòng và nguyện vọng của binh lính để có thể tiến hành công tác động viên tinh thần họ. Trong khi binh sĩ còn giữ kỷ niệm chua cay của những thất bại nặng nề vừa qua, mà tướng lại bảo ca hát: “Ta sẽ lấy phòng tuyến của địch làm chỗ phơi quần áo cho quân ta”, coi việc tấn công địch như là một cuộc du lịch thì ắt là không thể thắng được. Đặc biệt trong lúc công hãm thành, Tướng không nắm được tình hình quân mình và quân địch thì không thể thắng, trái lại, còn bị thiệt hại nặng nề. Lúc nào phải ra lịnh cho pháo ngưng bắn để cho quân lính xung phong, lúc nào phải cố tiến lên một mức nữa là thắng lợi mà dừng lại để bàn thêm là thất bại, lúc nào thúc lịnh cứ tiến mà không biết xoay mặt trận là giết quân lính mình vô hiệu quả? Muốn nắm đúng các thời cơ đó, người Tướng quân chỉ huy công thành, hơn lúc nào hết phải hiểu thấu đáo quân mình và quân địch.

         Điều yêu cầu thứ nhì là:
         Tướng phải hiểu rõ về chuyên môn quân sự, đặc biệt về chiến thuật công kiên.
         Đây muốn nói người Tướng phải luôn trau dồi về trình độ quân sự mình.
         Mỗi lần thắng được một thành, phải học ráo riết kinh nghiệm của những chỗ yếu, chỗ mạnh của thành đó và theo dõi sự biến đổi của các thành khác. Vì những nhược điểm của một cứ điểm ngày nay có thể trở nên những điểm mạnh của nó ngày mai. Những ức đoán sai lầm trong việc công thành phải trả một giá rất đắt.
         Tôi biết có những người chỉ huy có thể lấy sự gan dạ và nhanh chóng để định đoạt sự thắng lợi trong một trận tác chiến ngoài trời, nhưng tôi chưa từng gặp một người chỉ huy quân sự nào giỏi về công-kiên-chiến mà không phải là người chịu khó học tập về quân sự.
         Đối với một trận ngoài trời, nếu có điều động dư một trăm người cũng có thể tìm cách xử dụng họ hay ít nữa, cũng có chỗ ẩn tránh cho họ. Trong một trận công đồn, điều động dư mười người vào nội địa chẳng những không bảo vệ được họ mà tạo ra nhiều sự rối loạn, có thể sanh ra thất bại.
         Chính vì thế Tôn Tử có câu:
         “Biết cách điều động số quân ít hay nhiều là thắng lợi”.
         Công đồn không phải đông chừng nào là mạnh chừng nấy. Nếu cần hai người để phá một hàng rào thì dùng hai người. Không thể dùng một và cũng không thể ba hay bốn. Ít quá làm không xong việc, nhiều quá thì chỗ hẹp cản trở nhau làm địch chú ý, bị địch bắn chết hay bị thương cũng gây trở ngại cho sự tiến thoái chung.

         Điều Yêu cầu thứ ba là:
         Tướng phải hiểu rõ quyền hành nhà binh.
         Đây có lẽ muốn nói là: chỉ định tướng để giao quyền hành, cấp trên phải lựa chọn cho kỹ, nhưng đã lựa chọn rồi thì phải để cho họ đủ quyền hành chỉ huy. Việc quân sự không giống những việc xã hội hay văn hóa, người Tướng phải quyết định dứt khoát và mau chóng và nhận lấy trách nhiệm của quyết định mình đối với cấp trên. Tướng mà bị kiềm chế quá đáng là tướng vô dụng.
         Về điểm này của Binh Thư Tôn Tử, một nhà quân sự họ Hà đời xưa phê phán như sau: “Sự dùng binh, một bước trăm biến, thấy nên thì tiến, biết khó thì lui, thế mà phải đợi ở mệnh vua à? Có khác gì đi bẩm quan trên rồi mới cứu hỏa, chưa kịp trở về thì đám cháy đã thành tro nguội…
         Cho nên kiềm chế viên tướng giỏi mà đòi phải dẹp tan được đám giặc mạnh thì so với sự trói con chó săn mà bắt nó phải vồ được con thỏ, phỏng có khác gì”.
         Đặc biệt trong lúc công thành chẳng những người chỉ huy chung phải được rộng quyền mà ngay đến các cấp chỉ huy dưới cũng phải được trọn quyền quyết định trong phạm vi mình, căn cứ theo kế hoạch chung.
         Một đồn, một thành ít nhất là có ba mặt, một vị chỉ huy không thể ra lệnh kịp thời cho cả ba mặt trong những hành động chi tiết. Hơn nữa sự đối phó của địch có thể biến đổi trăm ngàn cách khác nhau, vì thế phải làm sao cho mỗi quân nhân thấm nhuần được kế hoạch chung rồi phát triển tự động tính căn cứ theo biến chuyển cụ thể của từng nơi.
         Kết thúc đoạn này, Tôn Tử lại thêm một câu mà những vị chỉ huy quân sự nổi tiếng lúc giải phóng đất nước họ, trở nên rất xoàng lúc đi xâm chiếm thuộc địa, chắc thấm thía lắm:
         “Một đại tướng đi phò Chu thì Nước Chu cường, phò Nước Khích thì Nước Khích suy”.
         Đó có lẽ Tôn Tử muốn nói đến vấn đề chánh nghĩa.
         Quân sự dùng để bênh vực chánh nghĩa mới có thể là quân sự thắng lợi và quân sự giỏi. Trái lại, tướng giỏi đi phục vụ cho kẻ quấy không thể giành được thắng lợi cuối cùng, và rốt cuộc sẽ bị đánh bại.



         Nghiên cứu qua một thiên của Binh Thư Tôn Tử, có lẽ nhà quân sự cũng tìm được một dịp để suy nghĩ thêm về chuyên môn của mình, nhà chính trị có thể thêm vững tâm vì thấy từ ngàn xưa lực lượng quân sự xây dựng trên một căn bản phi nghĩa chỉ có một giá trị hình thức.

PHẠM NGỌC THẢO


BÁCH KHOA |  SỐ 3

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 15/12/2017, 22:28:36


Khai bút, một lối chơi Xuân của nhà Nho

THONG THẢ nhưng mà liên tiếp, nặng nề nhưng không hì hục, trái đất lần xây. Sau 365 ngày – còn dư mấy phút mấy giây, xin tặng làm quà Xuân cho các nhà thiên văn – Sau 365 ngày, bánh xe tuần hoàn trở lại bến xưa để rồi làm lại công việc nàng Pénélope.* Lá phô xanh, hoa khoe thắm, trời mây non nước thi nhau tô điểm cho đượm vẻ trẻ trung. Qua ngày khai hạ, nông phu vác cày mổ lát đất đầu tiên, thương gia mở cửa rước mối hàng đầu tiên, năm mới ai ai cũng chúc mừng, mong mỏi, trù tính với một ý định: năm nay sẽ hơn năm ngoái. Thế mới biết: “nhất niên chi kế thỉ ư xuân” (việc lo toan một năm bắt đầu nơi mùa Xuân).
         Cào văn cuốc chữ, buôn trí, bán lời, cụ đồ cũng là một nông phu, một thương gia. Cụ tin nơi sự hên xui của đầu năm, cho nên đối với cây viết lông, tài nào cụ không thận trọng? Trước hết, dở lịch tàu, cụ chọn một ngày tốt, nguyên đán hay là trực khai. Ngày đó cụ sửa lại vành khăn chữ nhân trên trán, vuốt cho thẳng hai ống tay của áo lương đen. Cụ sắp văn phòng tứ bửu lên yên viết đặt trên chiếc chiếu kế, trước đỉnh trầm nghi ngút hay là bình bông thoảng hương. Rồi trầm mặc, chân xếp bằng, mắt lim dim, cụ như xuất trần để hái mấy vần thơ khai bút! Một khi cụ đã tỉnh lại thì Nàng Thơ cũng nhẹ nhàng, lanh lẹ về với linh hồn. Bây giờ nơi môi đỏ đã in dấu mực đen tỏ rằng cụ đã mấp mềm cây viết; lập tức, trên giấy hoa tiên hay hồng đơn rồng múa phụng bay, thao thao bất tuyệt.
         Thi hay chữ tốt! Cái kết quả của một năm mà biết đâu không phải vận mạng của một đời người, ngấm ngầm nằm trong đó.
         Bài khai bút có thể là thi ca, hay là câu đối. Cần nhất là nó phải làm mau và, tiến lên một bậc, nó phải là tấm gương tâm lý. Với những câu tả cảnh, tác giả vẫn không quên hiện tại, nhịp cầu vắt ngang trên hai bờ quá khứ và tương lai; nhưng người chú ý nhất về hoài bão xưa và nguyện vọng mới.
         Kẻ hoài nghi thì viết:

                  “Băm bốn năm qua trót dại rồi!
                  Từ nay ta thử học khôn chơi.
                  Đem cây viết cũ trau giồi lại,
                  Tô vẽ lăng nhăng một góc trời.”


         Kẻ ngạo đời thời nói:

                  “Đất khách mừng Xuân bằng nước… mắt.
                  Nhà nghèo chơi Tết có buồng… gan.”


         Bạn muốn nghe khẩu khí của một thi sĩ sao? Thì đây:

                  “Chiều ba mươi chôn chặt cây nêu, tiết trung trực đâm sâu vào địa phủ.
                  Sáng mồng một nổ đùng cái pháo, tiếng anh hùng bốc thẳng thiên cung!”


         Cũng vì khai bút là một tục lệ của con nhà có học nên từ nhỏ họ đã bắt buộc phải vâng theo. Ban đầu cha anh còn đọc cho những thành cú mà chép, như: “dương xuân cảnh sắc, đại khối văn chương” hay là: “thiên tăng tuế nguyệt, nhơn tăng thọ, xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường”. Rồi họ chỉ sơ về cấu từ mà để mình tự tìm lấy chữ, làm lấy câu. Lần lần con chim kia đủ cánh đủ lông mà cũng học đòi bay nhảy. Thành ra cái thú các cụ đầu bạc lại là cái nạn cho mấy cậu tóc mới bỏ trái đào.
         Tôi còn nhớ hồi mới mười một mười hai tuổi, tôi phải thi tài khai bút với năm sáu anh em trong họ. Với cái tuổi ấy, tôi còn ham đánh đáo, thả diều, thế mà phải làm thi, phải làm bằng chữ Hán, phải làm trong giây lát, trời ơi…!
         Miệng tôi gặm đầu cán bút mãi, tay tôi măn tà áo mãi, mặt tôi sượng đi, tai tôi ù lên, mắt tôi hoa rồi tuôn trào nước mắt. Mắc cở! mắc cở! Lêu lêu mắc cở! Ừ, vì muốn đề phòng cái mắc cở ghê gớm ấy, qua năm sau tôi làm một công việc vĩ đại: tôi thầm dự bị… bài thi khai bút… hai tháng trước để đến ngày mà đắc ý lòe đời!
         “Thi mộ tập nấy” lệ khai bút bây giờ chỉ còn gìn giữ nơi con cháu các đại gia hay là danh gia thôi. Mới đây tôi được thấy nguyên một tập khai bút của nhà một người bạn thân. Nó là hộ tịch bộ (registre de l’élat civil) của một gia đình, và cũng là một văn họa phẩm hay hay có giá trị, nhưng không phải để kỷ niệm Nguyễn Du đâu… Ta hãy hình dung một tập vở xa hoa, giấy tốt, bìa cứng, trong đó mỗi ngày, gái, trai, trẻ, tùy tuổi, tùy tài, ghi mối hoài cảm mình trong năm mới để mà đánh dấu thời gian.
         Cô dâu là một họa sĩ thì vài nét thủy mạc đơn sơ, cô khai mạc bằng hình chim oanh nhảy nhót trên nhành mai đơm đầy bông trắng. Vừa 11 tuổi, cháu út học ở lớp nhì, đã khéo gởi tấm lòng trong trẻo ngây thơ vào ít câu lục bát:

                  Xuân về vui sướng biết bao!
                  Trầm thơm, pháo nổ, bông đào lá xanh.
                  Hơn người, mình hẹn với mình,
                  Nhà yên nước thịnh, thái bình âu ca.


         Còn nói chi những cậu trai trẻ học ở lớp thành chung hay là tú tài.
         Cậu thì:

                  Chúm chím hoa mai hé nụ cười,
                  Vườn hồng, đươm đượm một màu tươi.
                  Chúa xuân về với bao hy vọng,
                  Mượn gió tung ra khắp đất trời.


         Cậu thì:

                  Xuân nữ còn đang nhoẻn nụ cười,
                  Đón chào ta hãy cứ vui chơi.
                  Lãng quên khói lửa trời Âu Á,
                  Trau chuốt vần thơ dạ thắm tươi.


         Thứ nhất là bút tích và giai phẩm của một cô gái hay ngâm. Dưới đây là bài thi khai bút ẩn màu man mác não nùng mà cô thảo hồi năm 1934.

                  Tin xuân vừa báo tới,
                  Cất bút bỏ tình hoài.
                  Thương bấy non sông cũ,
                  Buồn thay hoa cỏ ai.
                  Nổi chìm e phận gái,
                  Cay đắng sợ mùi đời.
                  Vui gượng cùng năm mới,
                  Anh em nô nức cười.


         Trông người lại ngắm đến ta. Nếu tôi nói rằng không khai bút bao giờ thì tôi tự lừa gạt tôi và là khiêm tốn giả. Còn nhớ xuân Tân tị (1941) bài thi đầu tiên của tôi như vầy:

                  Bên sông Bến Nghé bỗng xuân sang,
                  Khắp một trời nam tắm nắng vàng.
                  Bông giấy vươn mình khoe áo tía,
                  Cao su rung nhánh cởi đồ tang.
                  Ngọn đèn bất dạ soi kim cổ,
                  Tiếng pháo liên thanh dậy xóm làng.
                  Thời tiết này vừa thời thế ấy,
                  Dầu băm tám tuổi cũng xênh xang.


         Một điều tôi có thể cam đoan được là bài ấy, tôi ứng khẩu lập thành, chớ không soạn trước như hồi nhỏ nữa đâu. Sự tấn bộ ấy là chứng nghiệm rõ ràng về công dụng của quốc văn vậy.

                             Ngày xuân nhắn bạn
                  Nắng vàng lấp lánh trên cành biếc,
                  Gió nhẹ thung thăng dưới đóa hồng.
                  Xuân đã về đây tươi thắm lạ!
                  Gấm hoa thêu dệt khắp non sông.

                  Lư đồng nghi ngút tung hương xạ,
                  Chén ngọc rung rinh dợn rượu nồng.
                  Vui Tết trẻ em đương hớn hở,
                  Bên tường cho pháo nổ lung tung.

                  Thấy cảnh tưng bừng lại nhớ ai,
                  Nhắn cùng mây nước một đôi lời:
                  Tinh thần mới mẻ cùng năm tháng,
                  Phước lộc mênh mang tựa đất trời.

                  Rồi khi chợt tỉnh mộng thần tiên,
                  Chị có ghi chăng mấy chữ tên?
                  Lơ lửng bạch vân: đời mị định;
                  Bẽ bàng minh nguyệt: giấc cô miên.


THIỀM MAI

____________________________________________________________
* Pénélope là vợ Ulysse, một anh hùng thời cổ Hy Lạp. Trong suốt 20 năm trời Ulysse vắng nhà, nhiều người tới yêu cầu kết duyên cùng bà. Song bà khéo léo từ chối bằng cách hứa sẽ nhận lời bao giờ thêu xong bức lụa. Nhưng ban ngày thêu ban đêm bà lại tháo ra. Sau này câu: “Công việc nàng Pénélope” là chỉ một công việc không biết bao giờ xong được.


BÁCH KHOA |  SỐ 3

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: hoaico vào 16/12/2017, 08:33:56
(https://scontent.fsgn6-1.fna.fbcdn.net/v/t1.0-9/25395733_306906959828007_7228687035210996513_n.jpg?oh=4b379d9c97c8f95961a1896d869e1f7a&oe=5AD14B72)

TẠP CHÍ BÁCH KHOA

https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tap-chi/bach-khoa

NGUỒN namkyluctinh
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 22/12/2017, 18:16:49
BÁCH KHOA |  SỐ 4  [1 tháng Ba  1957 |  76 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Tìm hiểu giá trị đồng bạc |  1-8
Hoàng Minh Tuynh (dịch) |  Trách nhiệm người Công giáo đối với anh em Vô thần \ Cha Riquet S.J. |  9-10
Phạm Ngọc Thảo |  Một ý kiến về vấn đề lãnh đạo tinh thần một đơn vị quân đội |  11-15
Bách-Khoa |  Làm bậc Thiên tử mà không để lòng vào ngôi Thiên tử |  15
Nguyễn Hiến Lê |  Edgar Poe đã sáng tác bài thơ bất hủ The Raven (Con Quạ) ra sao? |  16-23
Bách-Khoa |  Hai cách thức tỉnh người mê |  23
Tăng Văn Chỉ |  Thử tìm biện pháp thích ứng để nâng đỡ xuất cảng sản phẩm Việt Nam |  24-28
Bách-Khoa |  Có ai hiếu đức bằng hiếu sắc? |  28
Nguyễn Diệm Sơn |  Gõ đầu trẻ |  29-31
Bách-Khoa |  Vấn đề Bình cũ rượu mới |  32
Bách-Khoa |  “Để sở học một bên và làm theo ta đã!” |  32
An Châu |  Xuân ý (thơ) |  33
Hoàng Công Liên |  Trở về |  34-35
Bình Nguyên Lộc |  Hồn ma cũ (truyện) |  36-40
Bách-Khoa |  Ngựa xay lúa |  40
Yã Hạc & Trinh Nguiên (dịch) |  Hoàng tử sung sướng (truyện) |  41-44
Bách-Khoa |  Gương xưa |  44
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia (truyện dài) \ Từ Vu |  45-52
Bách-Khoa |  Được lòng dân thì không lo sợ gì |  52
Bách-Khoa đọc thay các bạn:
   |  Truyện Ông Nguyễn Hoãn, Bồi tụng Quốc sư đời nhà Lê và nàng Đặng Thị Huệ, ái phi của Chúa Tĩnh Đô |  53-55
   |  Tờ chiếu đầu tiên viết bằng quốc văn(?) |  55-56
   |  Nhiều ông già bà cả của nhà ta đã hiểu thuyết “Tri hành hợp nhất” của Vương Dương Minh mà không ngờ |  56-59
   |  Một đoạn trong lá thư khuyến giới của Thi Sách gởi cho Tô Định |  59
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  60-64
Quảng cáo  |  65-76


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204212625-2c434e45f02847515839b02c155c1abd/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 22/12/2017, 18:56:00


Edgar Poe đã sáng tác bài thơ bất hủ The Raven (Con Quạ) ra sao?

EDGAR POE sanh tại Mỹ ở đầu thế kỷ trước, được sắp vào hàng thi bá của thế giới và đã ảnh hưởng lớn đến các thi sĩ Pháp Mallarmé, Baudelaire… Ông nổi danh nhất về bài thơ Con Quạ (The Raven) mà những bạn nào thông tiếng Anh tất đã đọc qua.
         Trong bài Triết lý về sáng tác, ông kể cách ông cấu tạo bài thơ bất hủ đó ra sao.
         Hết thảy chúng ta đều phải có đầu đề rồi mới viết. Chẳng hạn nhìn thiên hạ nô nức đi sắm Tết, ta nẩy ra ý tả một mùa xuân thanh bình; hoặc nhân xa nhà nhớ quê, ta mới làm thơ diễn tình quyến luyến cố hương. Có đầu đề rồi, ta kiếm thêm ý, sắp đặt lựa chọn, tìm tiếng, đặt câu, thành một bài văn hoặc thơ dài, ngắn tùy cảm tình, ý tưởng của ta nhiều, hay ít. Đó là phương pháp sáng tác tự nhiên và thông thường.
         Edgar Poe thì ngược hẳn lại. Khi bắt đầu sáng tác bài Con Quạ ông chưa có một đầu đề nào cả, chỉ có ý muốn viết một bài thơ đẹp thôi, chưa hề nghĩ tới con quạ.
         Trước hết ông tự nhủ: Bài thơ không nên dài quá, nếu dài quá, đọc một kỳ không hết thì cảm tưởng của độc giả bị đứt đoạn, ngưng lại, mất tính cách nhất trí; mà cũng không được ngắn quá thì cảm xúc mới triền miên, hơi của thơ mới đủ để đưa tâm hồn độc giả lên cao. Và ông định rằng viết độ một trăm câu là vừa. Thực ra, bài Con Quạ dài 108 câu.
         Rồi ông xét tới điểm thứ nhì là cảm xúc định gây đó, nên cho nó ra sao? Ông tự đáp: Cảm xúc đó phải là sự thích thú. Ông theo quy tắc này: bản chất của thơ phải là đẹp. Dù muốn dùng thơ để tả một tâm trạng hay diễn một chân lý, thì tâm trạng, chân lý đó cũng phải được cái đẹp phủ lên, nếu không, sẽ không thành thơ, không đáng gọi là thơ.
         Mà theo ông, cái đẹp, khi nó tới cực độ thì bao giờ cũng làm người ta rỏ lệ, do đó giọng thơ phải buồn. Và do đó ông định thêm được một điểm nữa là bài thơ ông sắp viết phải áo não, bi thảm.
         Ngoài ra, cũng theo quan niệm ông, bài thơ phải có một điểm làm điệu chính có tính cách nghệ thuật, kích thích. Điểm đó sẽ là điệp khúc. Nhưng điệp khúc chỉ được đơn điệu về âm thanh, chứ không được đơn điệu về ý tưởng, nghĩa là trong mỗi điệp khúc âm thanh không thay đổi mà ý tưởng phải thay đổi, có vậy mới gây được một cảm xúc mới. Điệp khúc lại không được dài quá, để khỏi hóa nhạt nhẽo, làm độc giả chán. Ông cho rằng điệp khúc khéo nhất là điệp khúc nào ngắn nhất, chỉ có một tiếng.
         Đã nhất định phải dùng điệp khúc thì tất nhiên bài thơ phải chia làm nhiều đoạn, cuối mỗi đoạn là một điệp khúc. Để gây một cảm xúc mạnh và bền trong tâm hồn độc giả, tiếng được lập lại trong mỗi điệp khúc để khép mỗi đoạn phải là một tiếng có âm vang lên và dài. Nghĩ như vậy rồi, Edgar Poe xét hết thảy các âm của Anh ngữ và kết cục, lựa mẫu âm O mà ông hợp với phụ âm R, thành âm OR để có đủ hai tính cách vừa vang, vừa ngân. Rồi lại phải tìm một tiếng nào đằng sau có âm OR mà diễn một ý buồn – vì, như ta đã biết, có buồn, ông mới cho là đẹp – và ông nghĩ ngay đến tiếng NEVERMORE, nghĩa là không bao giờ nữa.
         Bạn nhận thấy rằng tới đây, sau khi đã định cái giọng thơ, số câu trong bài cùng cách chia đoạn, lại định tiếng chính trong điệp khúc, mà ông vẫn chưa tìm đầu đề cho bài thơ. Chính chữ nevermore đó sẽ giải quyết cho ông, bắt ông lựa một đầu đề hợp với nó.
         Ông suy nghĩ: Trong một bài thơ, khó tìm được cách sắp đặt nào ổn thỏa để cho một người nói đi nói lại tiếng nevermore đó ở cuối mỗi điệp khúc được, vì muốn vậy thì người đó phải lý luận, giảng giải rồi mới thốt tiếng nevermore và điệp khúc do đó sẽ dài quá. Vậy, phải lựa một loài vật biết nói, hoặc con két, hoặc con quạ. Tất nhiên ông lựa con quạ vì giọng con quạ buồn hơn giọng con két, hợp với bài thơ ông định viết hơn; do đó ông mới đặt cho đầu đề là Con Quạ, và trong mỗi điệp khúc, ông cho con quạ kêu lên tiếng nevermore.
         Và bây giờ ông mới bắt đầu làm công việc mà đáng lẽ ông phải làm trước hết, là tìm ý chính trong bài. Ông bèn lý luận: giọng thơ phải buồn, mà trên đời còn cái buồn nào phổ biến hơn là cái buồn từ biệt: bài thơ lại phải đẹp, mà cái đẹp của thiếu nữ cũng phổ biến hơn cả. Vậy ông sẽ tưởng tượng ra một thiếu nữ lìa trần và cho người yêu của nàng ngồi khóc nàng, hỏi những câu mà con quạ sẽ đáp: không bao giờ nữa. Thế là mỗi đoạn trong bài phải diễn một câu hỏi của chàng và mỗi điệp khúc phải chứa lời đáp của con quạ.
         Tìm được đại ý của toàn bài rồi, ông bèn kiếm ý cho mỗi đoạn, nghĩa là kiếm những câu hỏi để đặt vào miệng một anh chàng khóc tình nhân.
         Có bao nhiêu đoạn thì có bấy nhiêu câu hỏi, mà theo luật tiệm tiến rất sơ đẳng trong nghệ thuật viết văn, ông phải nghĩ ra một câu hỏi nào buồn nhất để đặt ở đoạn cuối, (còn những câu hỏi khác sẽ đặt lên trên) và ông viết ngay đoạn ấy trước hết, định số cước cho mỗi câu thơ trong đoạn, định âm luật và âm tiết cho cả đoạn, đem hết tinh thần ra viết cho cực khéo, sau mới lấy đoạn ấy làm quy mô mà viết tới các đoạn khác. Trong khi viết những đoạn này, nếu ông thấy giọng đoạn nào lâm ly hơn đoạn cuối thì ông phải hạ nó xuống cho nó bớt buồn mà khỏi lấn đoạn cuối.
         Nhưng còn khung cảnh nữa chứ. Nên lựa một khu rừng hay một cánh đồng? Ông cho những khung đó đều rộng quá, không hợp với đầu đề là một tình nhân ngồi khóc người yêu mới chết; vả lại những khung ấy còn chỗ bất tiện là bắt ông phải tả cảnh tạo vật bao la ở chung quanh, như thế độc giả có thể chú ý tới cảnh – ông nghĩ vậy! – mà có phần thiệt cho câu chuyện. Tốt hơn là lựa một căn phòng trang hoàng đẹp đẽ đầy những kỷ niệm của người chết.
         Còn con quạ? Cho nó ở đâu bay tới và đậu ở đâu để có vẻ tự nhiên. Edgar Poe phải tưởng tượng ra một đêm giông tố (như vậy cảnh càng thêm thê lương và tương phản với sự tĩnh mịch trong phòng), con quạ bị bạt gió, tìm chỗ ẩn, bay tới cửa phòng, đập cánh vào cửa đóng, làm cho chàng tưởng chừng như hồn người yêu về gõ cửa, chạy ra mở; quạ liền bay vào, đậu trên một bức tượng bán thân.
         Ông lựa một tên kêu, tên Pallas, để chỉ bức tượng và cho nó làm bằng đá hoa trắng toát để lông quạ được nổi bật lên.
         Sau cùng, ông nghĩ đến phần kết, viết thêm hai đoạn nữa cho độc giả có cảm tưởng rằng con quạ đó chỉ là tiêu biểu cho sự nhớ nhung bi thảm và bất tuyệt. Như vậy toàn bài được mười tám đoạn, mỗi đoạn sáu câu; trong mỗi đoạn, câu cuối là điệp khúc, ngắn nhất, có chữ nevermore (không bao giờ nữa).
         Đó, phương pháp sáng tác của ông như vậy: hình thức quyết định nội dung; mà hình thức thì được nghiên cứu một cách tỉ mỉ từ số câu, số đoạn, đến sự dài ngắn của điệp khúc, âm thanh của các tiếng… ông đều định một cách toán học, y như một kiến trúc sư định kích thước, vẽ bản đồ, tính số vôi, sắt, gỗ cho một ngôi nhà vậy. Tôi sẽ phê bình phương pháp ấy ở một đoạn sau. Bây giờ hãy xin chép lại nguyên văn tiếng Anh và bản dịch của chúng tôi để độc giả thưởng thức một áng thơ mà Âu Mỹ coi là kiệt tác.

                                    THE RAVEN
                  Once upon a midnight dreary, while I pondered weak and weary,
                  Over many a quaint and curious volume of forgotten lore,
                  While I nodded, nearly napping, suddenly there came a tapping,
                  As of some one gently rapping, rapping at my chamber door.
                  “Tis some visitor” I muttered, “tapping at my chamber door –
                  Only this, and nothing more”.

                  Ah, distinctly I remember it was in the bleak December,
                  And each separate dying ember wrought its ghost upon the floor.
                  Eagerly I wished the morrow; – vainly I had sought to borrow
                  From my books surcease of sorrow – sorrow for the lost Lenore –
                  For the rare and radiant maiden whom the angels name Lenore –
                  Nameless here for evermore.

                  And the silken sad uncertain rustling of each purple curtain
                  Thrilled me – filled me with fantastic terrors never felt before;
                  So that now, to still the beating of my heart, I stood repeating
                  “Tis some visitor entreating entrance at my chamber door –
                  Some late visitor entreating entrance at my chamber door; –
                  This it is, and nothing more”.

                  Presently my soul grew stronger; hesitating then no longer,
                  “Sir”, said I, “or Madam, truly your forgiveness I implore;
                  But the fact is I was napping, and so gently you came rapping,
                  And so faintly you came tapping, tapping at my chamber door,
                  That I scarce was sure I heard you” – here I opened wide the door; –
                  Darkness there, and nothing more.

                  Deep into that darkness peering, long I stood there wondering, fearing,
                  Doubting, dreaming dreams no mortal ever dared to dream before;
                  But the silence was unbroken, and the darkness gave no token,
                  And the only word there spoken was the whispered word, “Lenore!”
                  This I whispered, and an echo murmured back the word, “Lenore!”
                  Merely this and nothing more.

                  Back into the chamber turning, all my soul within me burning,
                  Soon again I heard a tapping somewhat louder than before.
                  “Surely”, said I, surely that is something at my window lattice;
                  Let me see then, what thereat is, and this mystery explore –
                  Let my heart be still a moment and this mystery explore; –
                  “Tis the wind and nothing more!”

                  Open here I flung the shutter, when, with many a flirt and flutter,
                  In there stepped a stately raven of the saintly days of yore.
                  Not the least obeisance made he; not a minute stopped or stayed he;
                  But, with mien of lord or lady, perched above my chamber door –
                  Perched upon a bust of Pallas just above my chamber door –
                  Perched, and sat, and nothing more.

                  Then this ebony bird beguiling my sad fancy into smiling,
                  By the grave and stern decorum of the countenance it wore,
                  “Though thy crest be shorn and shaven, thou”, I said, “art sure no craven.
                  Ghastly grim and ancient raven wandering from the nightly shore –
                  Tell me what thy lordly name is on the Night’s Plutonian shore!”
                  Quoth the raven, “Nevermore”.

                  Much I marvelled this ungainly fowl to hear discourse so plainly,
                  Though its answer little meaning – little relevancy bore;
                  For we cannot help agreeing that no living human being
                  Ever yet was blessed with seeing bird above his chamber door –
                  Bird or beast above the sculptured bust above his chamber door,
                  With such name as “Nevermore”.

                  But the raven, sitting lonely on the placid bust, spoke only,
                  That one word, as if his soul in that one word he did outpour.
                  Nothing further then he uttered – not a feather then he fluttered –
                  Till I scarcely more than muttered “Other friends have flown before –
                  On the morrow he will leave me, as my hopes have flown before”.
                  Then the bird said, “Nevermore”.

                  Startled at the stillness broken by reply so aptly spoken,
                  “Doubtless”, said I, what it utters is its only stock and store,
                  Caught from some unhappy master whom unmerciful disaster
                  Followed fast and followed faster till his songs one burden bore –
                  Till the dirges of his hope that melancholy burden bore
                  Of “Never-nevermore”.

                  But the raven still beguiling all my sad soul into smiling,
                  Straight I wheeled a cushioned seat in front of bird and bust and door;
                  Then, upon the velvet sinking, I betook myself to linking
                  Fancy unto fancy, thinking what this ominous bird of yore –
                  What this grim, ungainly, ghastly, gaunt, and ominous bird of yore
                  Meant in croaking “Nevermore”

                  This I sat engaged in guessing, but no syllable expressing
                  To the fowl whose fiery eyes now burned into my bosom’s core;
                  This and more I sat divining, with my head at ease reclining
                  On the cushion’s velvet lining that the lamp-light gloated o’er,
                  But whose velvet violet lining with the lamp-light gloating o’er,
                  She shall press, ah, nevermore!

                  Then, methought, the air grew denser, perfumed from an unseen censer
                  Swung by Seraphim whose foot-falls tinkled on the tufted floor.
                  “Wretch”, I cried, “thy God hath lent thee – by these angels he has sent thee
                  Respite – respite and nepenthe from thy memories of Lenore!
                  Quaff, oh quaff this kind nepenthe, and forget this lost Lenore!”
                  Quoth the raven, “Nevermore”.

                  “Prophet!” said I, “thing of evil! – prophet still, if bird or devil! –
                  Whether tempter sent, or whether tempest tossed thee here ashore,
                  Desolate yet all undaunted, on this desert land enchanted –
                  On this home by horror haunted – tell me truly, I implore –
                  Is there – Is there balm in Gilead? – tell me – tell me, I implore!”
                  Quoth the raven, “Nevermore.”

                  “Prophet!” said I, “thing of evil! – prophet still, if bird or devil!
                  By that Heaven that bends above us – by that God we both adore –
                  Tell this soul with sorrow laden if, within the distant Aidenn,
                  It shall clasp a sainted maiden whom the angels name Lenore –
                  Clasp a rare and radiant maiden, whom the angels name Lenore?”
                  Quoth the raven, “Nevermore”.

                  “Be that word our sign of parting, bird or fiend!” I shrieked upstarting –
                  “Get thee back into the tempest and the Night’s Plutonian shore!
                  Leave no black plume as a token of that lie thy soul hath spoken!
                  Leave my loneliness unbroken! – quit the bust above my door!
                  Take thy beak from out my heart, and take thy form from off my door!
                  Quoth the raven, “Nevermore”

                  And the raven, never flitting, still is sitting, still is sitting
                  On the pallid bust of Pallas just above my chamber door;
                  And his eyes have all the seeming of a demon's that is dreaming,
                  And the lamp-light o’er him streaming throws his shadow on the floor;
                  And my soul from out that shadow that lies floating on the floor
                  Shall be lifted – nevermore!
                                                                        Edgar Allan Poe

         Dịch tiếng Anh ra tiếng Pháp dễ hơn ra tiếng Việt vì dân tộc Anh và dân tộc Pháp có những cách suy nghĩ, phô diễn gần giống nhau, và nhiều khi khác hẳn với lối suy nghĩ phô diễn của ta. Vậy mà Stéphane Mallarmé, một thi sĩ Pháp, coi Edgar Poe như thầy học, cũng chỉ dịch bài đó ra tản văn chứ không dịch thành thơ, đủ biết nó khó dịch ra sao. Tôi không dám làm hơn Mallarmé, chỉ xin dịch ra văn xuôi cho đủ nghĩa thôi. Tất nhiên làm như vậy, cái hồn trong thơ không còn gì, và cái hay của nguyên tác mười phần không diễn được hai, ba. Như chữ quan trọng nhất trong bài là chữ nevermore, đành phải dịch là không bao giờ nữa, còn đâu cái tính cách vang và ngân của âm OR!

                           CON QUẠ
         Một lần, vào một nửa đêm thê thảm, trong khi tôi mệt mỏi, nặng nề cúi đầu trên một cổ thư kỳ cục không còn ai tìm đến, trong khi đầu tôi lảo đảo, gần muốn ngủ gục, thì thình lình có tiếng động như có ai gõ nhè nhẹ, gõ vào cửa phòng tôi. Tôi lẩm bẩm: “Có khách nào gõ cửa phòng mình đây, chỉ có vậy, chứ không có gì nữa”.
         À, bây giờ tôi nhớ lại rõ ràng, đêm đó là một đêm tháng chạp lạnh buốt, và mỗi thanh củi tàn nằm trơ vơ, khẳng kheo trên đất. Tôi nóng lòng chờ trời sáng – cố mượn sách để tạm khuây mà không được – cố khuây nỗi nhớ nàng Lenore mệnh bạc, một thiếu nữ nhan sắc lạ lùng, rực rỡ, mà thiên thần đã đặt cho tên đó, chứ tên dưới trần này thì không khi nào nàng có nữa!
         Và tiếng lụa phất phất buồn buồn, mơ hồ của tấm màn điều làm tôi rờn rợn, lòng đầy những sợ hãi kỳ quái chưa bao giờ cảm thấy; đến nỗi muốn cho tim bớt đập, tôi phải lặp lại một mình: “Có khách nào đứng ở cửa phòng mình, muốn xin vào đây – có khách nào khuya khoắt đứng ở cửa phòng mình, muốn xin vào đây! – có vậy, chứ không có gì nữa”.
         Hốt nhiên, tâm hồn tôi mạnh dạn lên, không do dự nữa. Tôi nói: “Ông hay bà nào đó, tôi thành thật xin lỗi; số là tôi đang thiu thiu ngủ, mà ông hay bà lại gõ nhẹ quá, tiếng đập, đập vào cửa phòng tôi nhẹ quá, nên tôi không chắc rằng có ai gõ thật hay không”. Rồi tôi mở toang cánh cửa; cảnh tối tăm mịt mùng, chứ không có gì nữa.
         Nhìn kỹ trong bóng tối, tôi đứng hồi lâu, sửng sốt, sợ sệt, nghi ngờ, mơ tưởng những mộng mà xưa nay chưa ai dám mơ tưởng; nhưng đêm tối vẫn im lặng, không phát một dấu hiệu gì; và chỉ có mỗi một tiếng thì thầm là tiếng “Lenore!” Tôi thì thầm tên đó và tiếng vang lầm bầm đáp lại “Lenore!” Đơn thuần có vậy, chứ không có gì nữa.
         Tôi trở vào phòng, cả tâm hồn nóng rực, thì lại nghe thấy tiếng gõ có phần lớn hơn trước. Tôi nói “Chắc chắn, chắc chắn có cái gì ở cánh cửa sổ, nào thử ra xem là cái gì, và khám phá bí mật này; phải định tâm một lúc và khám phá bí mật này; chỉ là gió, chứ không có gì nữa”.
         Tôi mở tung cánh cửa sổ, tức thì một con quạ lớn, thứ quạ thần thuở xưa, lượn lượn, đập cánh bay vào. Nó không ngó ngàng gì tôi cả, không ngừng bay hay ngập ngừng lấy một chút, rồi có vẻ ông hoàng bà chúa, nó đậu trên cửa phòng tôi, đậu trên tượng bán thân thần Pallas, ngay trên cửa phòng tôi, đậu yên ở đó và không có gì nữa.
         Rồi cái dáng điệu nghiêm trang khắc khổ của con chim lông đen nhánh như mun đó làm cho tôi đang buồn cũng phải mỉm cười nói: “Này Quạ, mặc dầu đầu mi như bị gọt nhẵn, chắc mi không phải là một con quạ nhút nhát, cổ quái, sầu thảm, phiêu bạt, mi cho ta hay chức hiệu của mi ở cõi âm là gì”. Con quạ đáp: “Không bao giờ nữa”.
         Tôi rất ngạc nhiên nghe con chim xấu xa đó nói rõ ràng như vậy mặc dầu lời đáp ấy ít nghĩa và ít hợp lúc; vì chúng ta phải nhận rằng người đời ai đã được thấy một con chim trên cửa buồng nhà mình, một con chim hay một con vật nào khác ở trên tượng bán thân đục chạm trên cửa phòng mình với danh hiệu là “Không bao giờ nữa”.
         Nhưng con quạ đậu lẻ loi trên bức tượng điềm nhiên đó, chỉ nói mỗi câu đó như nó trút hết tâm hồn nó trong lời ấy. Và nó không nói thêm gì nữa, – lông không cử động – cho đến khi tôi nói chỉ hơn lầm bẩm một chút: “Bạn bè khác đã xa bay rồi, ngày mai hẳn lại bỏ ta, cũng như những hy vọng của ta đã bay đi hết”. Và con chim nói: “Không bao giờ nữa”.
         Nghe câu đáp đúng làm tan cảnh tịch mịch ấy, tôi giật mình nói: “Chắc nó chỉ biết nói có thế, và nó đã học được của một người chủ khốn khổ nào mà tai biến cứ đeo hoài, đeo sát gót, tới nỗi những bài hát của người đó chỉ có mỗi một điệu, tới nỗi lòng hy vọng của người đó cũng chỉ ca lên điệu sầu thảm: “Không bao giờ – không bao giờ nữa”.
         Nhưng con quạ vẫn còn làm cho tâm hồn buồn chán của tôi phải mỉm cười, tôi đẩy ngay một cái ghế có nệm lại trước con chim, tượng bán thân và cái cửa; rồi ngồi trên nệm nhung, tôi mơ tưởng liên miên, nghĩ cái con chim gở từ hồi xưa kia, con chim buồn thảm, xấu xa, ghê gớm, gầy gò và từ thời xưa vẫn báo điềm gở kia, vì ý nghĩa gì mà kêu: “Không bao giờ nữa”.
         Tôi ngồi ngẫm nghĩ như vậy, nhưng không nói thêm một tiếng nào với con chim, mà cặp mắt sáng rực, lúc đó như cháy lên, thấu đáy lòng tôi; tôi ngồi suy đoán điều ấy và điều khác nữa, đầu tôi êm đềm ngã vào tấm nhung bọc nệm ghế rực rỡ dưới ánh đèn, nhưng tấm nhung tím rực rỡ dưới ánh đèn ấy, nàng không còn ôm nữa, than ôi! không bao giờ ôm nữa!
         Lúc đó tôi thấy không khí đặc hơn, thơm tho như có Thiên sứ trên trời hạ xuống, chân chạm sàn phủ vải, tay đưa đi đưa lại một đỉnh hương vô hình. Tôi la: “Khốn nạn! Trời đã cho mi mượn, đã sai Thiên thần mang xuống cho mi chén rượu tiêu sầu để mi quên nàng Lenore. Thì mi uống, uống chén rượu tiêu sầu ngon ngọt đó đi và quên nàng Lenore đã khuất đó đi”. Con quạ nói: “Không bao giờ nữa!”
         Tôi bảo: “Quạ gở kia, con vật gây tai họa kia, quạ gở kia, mi là chim hay quỉ! Dù là Hung thần sai mi hay là giông tố bạt mi tới đây, mi đau khổ và vẫn ngang tàng tới bến mê quạnh hiu này, tới căn nhà mà Thần kinh khủng ám ảnh này, ta năn nỉ mi nói thực cho ta hay, ở cõi Cực lạc có thuốc tiêu sầu không, có không, nói đi, nói đi, ta van mi !” Con quạ đáp: “Không bao giờ nữa”.
         Tôi bảo: “Quạ gở kia, con vật gây tai họa kia, quạ gở kia, mi là chim hay quỉ! Có Trời cao trên đầu chúng ta, có Thượng đế mà mi và ta đều thờ phụng, tâm hồn ta đầy sầu muộn, mi cho ta hay ở cõi Thiên đàng muôn trùng kia, ta còn được âu yếm(1) một thiếu nữ thành tiên mà Thiên thần đã đặt cho cái tên là Lenore, âu yếm(1) một thiếu nữ nhan sắc lạ lùng, rực rỡ mà Thiên thần đã đặt cho cái tên là Lenore nữa không?” Con quạ đáp: “Không bao giờ nữa”.
         Tôi đứng dậy, la lên: “Mi nói vậy thì thôi mi và ta phải xa nhau, mi, loài chim hay bạn! Mi lại trở về trong giông tố và cõi âm đi! Đừng để lại đây một cái lông đen nào để đánh dấu lời dối trá mà hồn mi mới thốt ra đó! Để ta âu sầu một mình! Rời tượng bán thân trên cửa ta đi! Mỏ mi đừng moi tim ta nữa, và hình thù mi ra xa khỏi cửa này đi! Con quạ đáp: “Không bao giờ nữa!”
         Và con quạ vẫn không bay đi, còn đậu đó, còn đậu trên bức tượng lợt lạt của thần Pallas, ngay trên cửa phòng tôi! và mắt nó giống hệt mắt một con quỉ đang mơ màng, và ánh sáng đèn giội lên nó, rọi bóng nó trên đất, và tâm hồn tôi không bao giờ thoát lên khỏi cái bóng nằm chập chờn trên đất ấy, – không bao giờ nữa!



         Tôi nhận thấy khéo thì khéo thật, khéo lắm: trong văn chương Âu, Mỹ tôi chưa từng gặp bài nào có mười tám điệp khúc ngắn, âm vang, ngân mà nghĩa lại thay đổi như vậy, rồi những tiếng láy đi láy lại thay đổi như rapping at my chamber door, tapping at my chamber door trong đoạn thứ nhất, sarrow for the lost Lenore, whom the angels name Lenore trong đoạn thứ nhì… và những vần ở giữa câu, như dreary vần với weary (câu thứ nhất), napping vần với tapping (câu thứ ba)… thực là mới mẻ mà làm cho bài thơ du dương và quyến rũ ta lạ lùng như một bài thần chú vậy.
         Nhưng xúc động thì tôi không xúc động bao nhiêu vì phần giả tạo muốn át cả phần tự nhiên. Nhất là sau khi đọc bài Triết lý sáng tác của Edgar Poe, được ông cho biết rõ cách ông nấu nướng, gia vị ra sao thì bài thơ đối với tôi chỉ còn là một công trình tiểu xảo của trí óc hơn là của tâm tình, mà nhờ thiên tài của tác giả không đến nỗi hóa vô vị.
         Cái triết lý sáng tác đó, không hợp với quan niệm của tôi. Ông bảo thơ thì phải đẹp, điều ấy tôi đồng ý với ông – mà nào riêng gì thơ, văn chẳng vậy sao – song khi ông bảo chỉ có cái gì buồn mới đẹp và cái đẹp luôn luôn làm ta sa lệ, thì tôi chưa dám tin ông. Ông sinh ở tiền bán thế kỷ 19, thời mà văn chương lãng mạn nẩy nở mạnh nhất ở Âu, Mỹ; tâm hồn ông lại kỳ quặc, lúc nào cũng đau đớn, khổ sở, lo lắng, sợ tương lai của mình và những người mình thương sẽ sầu thảm (một lần ông bảo người yêu của ông, là nàng Virginia: Nhất là đừng để cho anh yêu em; cái gì anh yêu cũng héo hắt đi rồi chết sớm), nên mới có quan niệm về cái đẹp như vậy; còn những người tâm trạng bình thường, lại sống ở thời này như chúng ta, tất cho cái đẹp có nhiều hình thức hơn.
         Ông lại chủ trương nội dung không quyết định hình thức mà ngược lại, hình thức quyết định nội dung. Như ta đã thấy, chữ nevermore là chữ quan trọng nhất, ông lựa nó rồi mới tìm nhan đề cho bài cùng những ý phụ trong mỗi đoạn. Théodore de Banville nói: “Vần hóa ra gợi ý”. Ai đã làm thơ tất nhận thấy âm vận, niêm luật bắt ta phải lựa ý có khi thay đổi cả những ý ta đã muốn diễn; và đối với những thiên tài thì sự bó buộc đó thường làm nẩy ra những ý tân kỳ,(2) vậy hình thức ảnh hưởng lớn tới nội dung là lẽ thường trong văn nghệ; song làm thơ mà không định trước mình sẽ nói gì, chỉ lựa một vài âm thanh rồi xây dựng cả bài trên những âm thanh đó, thì còn gì là cái tính cách tự nhiên, chân thành nữa, mà văn nghệ sao thoát khỏi thành một trò du hý, tiểu xảo! Vậy phương pháp của Edgar Poe chỉ có thể dùng để sáng tác những tiểu phẩm khéo mà không hồn – bạn có thấy tình trong bài Con Quạ tầm thường lắm không? – chứ tuyệt nhiên không thể làm quy tắc chung cho nghệ sĩ. Văn thơ phải xây dựng trên tình cảm và tư tưởng, tình cảm chân thành và tư tưởng thanh cao, thì mới có khí, mới uyển chuyển, biến hóa; nếu vun trồng trên khu đất của âm thanh thì dù có đâm được vài chồi tươi và nhỏ, cũng mau “héo hắt đi mà chết sớm”. Lời Edgar Poe nói với Virginia thật đúng: nàng mới nửa chừng xuân – 24 tuổi – đã lìa đời, và loại thơ sáng tác theo kiểu bài Con Quạ của ông không vọt lên cao và xum xuê được.



         Tuy nhiên, bài Triết lý sáng tác không phải là hoàn toàn vô ích, mà trái lại, người cầm bút nào cũng nên đọc nó và suy nghĩ.
         Trước hết, nó có giá trị về phương diện tài liệu. Hầu hết các văn nhân thi sĩ đều không muốn cho người khác trừ một số bạn rất thân, thấy bản nháp tác phẩm của mình, thành thử những kinh nghiệm về kỹ thuật của họ ít được truyền lại hậu thế. Đọc thơ ngụ ngôn của La Fontaine chẳng hạn, tôi muốn biết ông đã suy nghĩ, tìm tòi ra sao mà hạ được hai câu tuyệt diệu này để tả con diệc:
                  Un jour, sur ses longs pieds, allait, je ne sais où,
                  Le héron au long bec emmanché d’un long cou.

                  (Le Héron)
         Đọc Truyện Kiều, tôi tự hỏi Nguyễn Du đã sáng tác cuốn đó trong trường hợp nào, mất bao nhiêu công phu, đã sửa chữa mấy lần mới kiếm được bổn tiếng liền nhau có phụ âm l, trong câu:
                  Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.
         … Nếu các văn hào, thi hào ghi cả lại những dò dẫm về bút pháp của mình, thì bây giờ chúng ta được những bài học quý giá biết bao về nghệ thuật viết văn. Nhưng các nhà đó, một là không muốn tự khoe công lao của mình, hai là thẹn thùng như những thiếu nữ không muốn cho người lạ thấy mình đương trang điểm nhan sắc, nên chỉ để độc giả xem tác phẩm của mình khi đã sửa chữa xong. Vì vậy ta nên cám ơn Edgar Poe đã tỉ mỉ phân tích cách sáng tác, lựa chữ tìm ý, của ông. Có lẽ ông đã không hoàn toàn thành thực, hoặc phân tích nội tâm của ông chưa thật đúng: đọc bài Le grand amour d’Edgar Poe của Jean Barangy (tạp chí Constellation số 98 tháng 6 năm 1956), tôi ngờ rằng nhan đề Con Quạ và khung cảnh căn phòng trong bài thơ, không phải chỉ do chữ nevermore quyết định và có lẽ do một sự ám ảnh vì một việc xảy ra hồi ông mới cưới Virginia. Hồi đó, một đêm tháng năm, hai ông bà đương ở trong phòng, trời hơi nóng nực, ông mở cửa sổ ra thì bỗng nhiên ông hoảng lên, đóng sập ngay cửa lại, mặt tái mét, vì thấy một con quạ lớn đậu ở thành cửa; từ đấy hình ảnh con vật cứ lởn vởn trong óc ông, cả trong giấc ngủ, như một điềm chết chóc, tang tóc. Chín năm sau, ông viết bài Con Quạ, viết xong ít tháng, thì bà vợ chết. Nhưng dù có thực như vậy chăng nữa, thì cũng chỉ có trường hợp sáng tác là sai, còn phương pháp sáng tác vẫn đúng.
         Trong bài Triết lý sáng tác, ta lại có thể rút được vài ý xác đáng:
         – Khi viết ta không nên quên cảm xúc ta định gây trong tâm hồn độc giả. Từ ý tưởng, hình ảnh, âm thanh, đến thể văn, sự dài ngắn của bài, cách bố cục… nhất nhất phải nhắm mục đích là gây được cảm xúc ấy, như vậy bài văn mới không mất tính cách nhất trí.
         – Trong một bài thơ, văn ngắn, có khi sự quan trọng dồn cả vào một vài âm (Edgar Poe gọi là điệu chính) hoặc chữ (người Trung Hoa gọi là nhãn tự), mà ta phải tìm cách này hay cách khác để làm nổi bật lên.
         Nhưng điều mà hôm nay tôi muốn độc giả chú ý tới nhất trong khi đọc bài Triết lý sáng tác, là nhận chân công phu đẽo gọt của những nghệ sĩ bất hủ. Có khi một bài văn hay thơ vài trang giấy mà phải xây dựng tốn công hơn là cất cả một tòa lâu đài: Cũng phải họa cái bản đồ trước, định kích thước cho mỗi phần một cách tinh xác như nhà toán học, rồi lựa nguyên liệu, pha, trộn nhào, nặn, phá đi cất lại năm lần bảy lượt, mới thành một tác phẩm tự nhiên, không lộ một dấu vết gắng sức nào cả. Có khi phải thức trọn đêm, đầu bừng bừng lên, mới sửa được một chữ (Dạ ngâm hiểu bất hưu – Mạnh Giao); lại có khi lao tâm hai năm mới tìm được hai câu (Lưỡng cú tam niên đắc – Giả Đảo).
         Edgar Poe không cho ta biết ông viết bài Con Quạ mất bao lâu, nhưng căn cứ bài Triết lý sáng tác, thì ta thấy hứng không giúp ông được gì cả, hoặc giúp ông rất ít. Hứng chỉ là “nguyên nhân thúc đẩy ta viết, lựa đầu đề, âm tiết và hình ảnh”; nó chỉ là quan trọng có “năm phần trăm, còn chín mươi lãm phần trăm nữa là công phu”.


NGUYỄN HIẾN LÊ

___________________________________________________________
(1) Chính nghĩa là ôm.
(2) Chẳng hạn Victo-Hugo nhìn vòm trời đầy sao thắc mắc tự hỏi:
         …Le ciel que nous voyons fut-il toujours la même?
                Le sera-t-il toujours?
         L’homme a-t-il sur son front des clartés éternelles?

    Vần éternelles đã bí mật gợi cho ông vần sentinelles và do chữ sentinelles, ông đã tạo ra được một hình ảnh lạ lùng, cực cao và đẹp trong hai câu sau:

         Et verrons-nous toujours los mêmes sentinelles
                Monter aux mêmes tours?

         (Trời mà ta nhìn thấy lúc này đây, hồi xưa có luôn luôn như vậy không?
                Sau này có như vậy không?
         Loài người có những ánh sáng vĩnh cửu trên đầu (trán) mình không?
         Và chúng ta có luôn luôn sẽ thấy cũng vẫn những lính canh đó
                Leo lên cũng những cái tháp đó không?)


BÁCH KHOA |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 22/12/2017, 22:50:21


                              Xuân ý

            ĐẤT lành thở, hương thơm mùa mới dậy,
            Cây thanh thanh vừa đơm lá xanh xanh,
            Hoa thơm thơm vương vấn khắp muôn cành,
            Nắng dìu dịu ấm lòng người lữ thứ.

            NÀNG xuân đến, khách thơ còn bỡ ngỡ,
            Bướm ngây tình phấp phới gợi niềm vui,
            Chim ca lừng ướm hỏi giọng xa xôi:
            Xuân về đấy, sao đàn xuân chưa gảy?

            NẦY chim hỡi! cho ta gởi đôi vần ngây dại,
            Theo gió xuân hòa nhịp với non sông,
            Tay run run dâng tặng áng hương lòng,
            Xuân về đấy, ai người cùng thông cảm?

            ĐÂY vườn chữ, mênh mông nghìn vạn dặm,
            Đây men thơ ấp ủ ý xuân lành,
            Dòng mực đen vờn trên giấy trắng tinh,
            Và đọng lại trong vần thơ cởi mở…

            NÀNG thơ bảo: sương mai hoa trời nở,
            Còn văn chương sẽ mở khắp hoa lòng,
            Cánh mai vàng đem Tết đến muôn phương,
            Vần thơ lặng mở xuân đời vạn thuở…


                                                AN CHÂU
                                                Xuân Đinh Dậu (1957)


BÁCH KHOA |  SỐ 4

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 22/12/2017, 23:07:27


Hồn ma cũ
000
Đâu đây đồng vọng cõi xa xưa;
Thổ ngơi thơm phức; hồn ma cũ…
B.N.L.

KHI KỲ ĐẨY XE ĐẠP qua các bờ đất, ra tới ngả ba Cầu Kinh, thì mặt trời mới tô lợt son Tàu lên tấm nền trời dựng sau những ngọn dừa nước ở hướng Đông.
         Từ đó mà ra Sàigòn, vào giờ đường vắng, chỉ mất mười lăm phút là cùng; Kỳ cũng chẳng có công việc gì cần phải làm sớm. Thế mà chàng cũng cứ dậy khuya mà đi như mọi ngày.
         Qua đường Hàng Sanh, qua đường Hàng Bàng, qua đại lộ Hai Bà Trưng, xuống “Một Hình”, rồi đổ ra Chợ Cũ. Kỳ đi thật là lòng vòng, do các nẻo xa nhứt để đi tới đích.
         Chợ Cũ còn dụi mắt, trừ các tiệm cà-phê. Kỳ sung sướng như về quê nhà và vào ngay tiệm nước ở góc hai phố X. Y.
         Chàng ngồi trước chiếc bàn con đặt sát vách, không nhìn ai hết, cốt tránh thấy. Chàng muốn nghe nhiều và ngửi sâu. Đây có những tiếng động, những mùi vị quen thuộc và rất thân yêu mà chàng mến thích.
         Ngoài sau bếp, người thợ xíu-mại bằm thịt bằng hai con dao Tàu, mà hắn hạ lưỡi dao xuống thớt theo một nhịp điệu kỳ lạ, nghe như một khúc nhạc man rợ nhưng vẫn êm tai. Những anh phổ-ky hô món ăn hoặc hô số tiền, mà khách phải trả, không phải bằng văn xuôi, mà bằng lời hát, có ca có kệ đàng hoàng. Khi một người khách đứng lên, hắn hát to cho anh thủ quỹ nghe: “Ạ… a… người đội nón nỉ đen á… à… à… sáu đồng lẻ bảy cắc ạ… a…” Lẽ cố nhiên là hắn hát từng tiếng Tàu, thổ ngữ Quảng Đông, nên câu hát thành dài lê thê, vì những á… a, á… à, nghe rất thú vị. Có mỗi một câu ngắn: “Bạc tẩy tải, tống mùi” mà hắn làm được một bài hát nhỏ, nghê nga đến lúc tách sữa trứng gà bưng ra tới bàn khách, bài hát mới dứt.
         Mùi bánh bao hấp từ các xửng dưới lò bốc lên, mùi cà-phê rịn ra từ những chiếc vợt đầu tiên trong ngày, tất cả những tiếng và hơi tạo thành một không khí, mà Kỳ rất thích.
         Ngày nay, các tiệm cà-phê cắc-chú, phần đông đã đổi mới, không ca hát lăng nhăng nữa, không bằm dao trên thớt theo một nhịp điệu riêng nữa, nên Kỳ chỉ vào tiệm nầy thôi. Chàng đã nghiền không khí ở đây, nghiền cả thời gian nữa; phải ngồi tiệm vào lúc thật sớm như bây giờ mới hưởng đầy đủ không khí một tiệm cà-phê cắc-chú ngày xưa.
         Cho đến cái dơ bẩn trong tiệm nầy, chàng cũng yêu, vì đặc tính ấy là yếu tố gây không khí kia, thiếu nó không xong. Những anh phổ-ky lén cảnh sát, cởi trần ra, chàng thấy là ngồ ngộ, hợp với toàn thổ của tiệm nước bình dân nầy. Ăn mặc đàng hoàng và sạch sẽ, họ sẽ giống những lọ sứ cổ bày trong nhà tranh.
         Kỳ còn nghiền một yếu tố nữa mà không phải lúc nào cũng đòi hỏi được. Đó là những buổi sáng sớm mưa dầm. Bên ngoài mưa gió lạnh mà ngồi được trước một tách cà-phê lên hơi, bên cạnh cái lò chụm trấu, thì thú tuyệt vời. Càng thú hơn, khi nghe một anh phổ-ky đối đáp với khách hàng:
         ― Nị không lạnh sao mà ở trần?
         ― Hà cái lầy pên Tàu lặng lắn (lạnh lắm) qua pên nây lực lắn (nực lắm), khoong pết (không biết) lặng mà…
         Nghe câu nói ấy, không khỏi nghĩ đến một xứ rét run, và mình càng cảm thấy ấm hơn trong tiệm nầy.
         Kỳ ngồi làm thinh, không kêu món ăn. Thế mà anh phổ-ky lại hát lên: “Vách bên trái, cà-phê không, thật đậm, nhớ lược bằng vợt mới, nghe không!” Rồi người thủ quỹ kiêm nhơn viên rót cà-phê nhìn chàng một cái, đoạn thi hành y theo lời phổ-ky dặn dò.
         Đó là yếu tố quan trọng nhứt của không khí tiệm nầy. Đây là một tiệm cà-phê lâu đời và nhứt là một tiệm cà-phê giữ truyền thống cũ. Nên chi họ có những người khách lâu năm, rất lâu năm. Họ thuộc lòng từng ý muốn nhỏ của mỗi người khách: người nầy ba muỗng đường; người kia một muỗng rưỡi thôi. Còn khách thì không thốt ra lời nào cũng có kẻ dưng tới tay món uống vừa ý.
         Kỳ lấy muỗng nhỏ dò đáy ly cà-phê đen như thuốc Bắc; chỉ có độ một muỗng đường cát ở dưới ấy thôi; thật là đúng sở thích của chàng. Chàng gác muỗng lên miệng dĩa, cúi xuống hớp một hớp cà-phê nóng, chấp chấp lưỡi để lắng nghe mùi thơm của nó, đoạn ngước lên, tay giỡn với mấy cái dĩa giò-cháo-quảy và bánh bao.
         Chàng ngồi đây tới chín giờ mới gặp bạn được, thì mặc sức tiêu phí thời gian. Gặp bạn? Ừ, hôm nay Kỳ bị mấy thằng bạn văn ép phải gặp mặt chúng nó tại nhà một đứa. Để làm gì? Để quyết định thái độ về hai chữ phf. Nghĩ tới đây, chàng bật cười. Quanh chàng, không ai thèm chú ý tới cử chỉ đó. Khách hàng thức giấc thật sớm, đều kỳ dị như thế cả. Đó là những anh hàng phở, uống vội vàng để còn phải về lo hàng mình; những anh Ấn Độ gác đêm cho các hãng Tây bận ả-ra, ả-ra với nhau; những anh soát vé ô-tô-buýt vừa uống, vừa xem chừng đồng hồ tay. Người nào cũng sống riêng với nội tâm của mình, vui riêng, cười lẻ, khóc thầm.
         Kỳ bật cười vì thấy vấn đề chữ f không làm chết ai, không bỏ đói ai bao giờ, thế mà bọn nhà văn ấy ăn ngủ không được vì nó.
         Lý lẽ của lũ ấy đưa ra là như thế nầy: phải viết ph thì đúng với giọng đọc của người Việt khi xưa. Nhưng người Việt ngày nay phát âm sai, đọc ph y hệt như f, vậy nên viết chữ f cho đúng và cho gọn. Cần phải họp cho đông đủ thảo luận rồi biểu quyết, rồi thực hành để thiên hạ bắt chước theo.
         Kỳ không thể từ chối gặp bạn. Nhưng chàng đã nhứt quyết chống lại chữ f. Nghĩ tới quyết định nầy, chàng lại bật cười lần nữa. Thật là quan trọng hóa con tép. Tưởng chống lại lý thuyết nào, ai ngờ chống lại… chữ f tí hon.
         Tại sao chàng chống lại chữ f, chàng cũng không hiểu cho rõ lắm. Nhưng trực giác của chàng nói thầm cho chàng biết rằng, viết như thế không ổn.
         Soát lại công việc hôm đó, chàng nghe yên lòng. Chỉ có bấy nhiêu rắc rối đó thôi, rồi an tâm được tới chiều để viết lách.
         Kỳ nâng ly lên uống một ngụm cà-phê còn quá nóng, chưa nốc được một hơi dài. Vả, chàng lại mong cho nó nóng mãi như thế nầy, uống chấm chút mới ngon, và nhứt là mới tiêu nổi. Cà-phê uống ở nhà thật vô vị, uống nơi tiệm khác lại lạt phèo. Ngồi đây mà tận hưởng cà-phê và các thứ khác dính líu chặt chẽ vào cà-phê nầy, hay biết bao!
         Ngày nào cũng thế, chàng ngồi đó như một vị tiên bất tử. Khách hàng hết lớp nầy đến lớp kia ra vào, y như các thế hệ người kế tiếp nhau mà tàn mọc trên dương thế, còn chàng thì ở ngoại càn khôn mà nhìn những kiếp sống phù du nầy.
         Ngộ quá, mỗi giờ khắc, một hạng người khác nhau. Sau chàng là những người làm công các tiệm chung quanh; hết họ, đến những kẻ đi làm; hạng sau cùng là những người không nghề nghiệp, hoặc không thời dụng biểu nhứt định.
         Khi mà không khí ưa thích lần tan cùng một lượt với đèn tắt, ngày lên. Kỳ mới chú ý nhìn người và vật chung quanh. Những gương mặt của thầy thợ quen mỗi ngày, nhìn mãi không thấy gì lạ, mà không có thì không xong. Cây cối quanh làng ta có khi vướng mắt ta lắm. Nhưng nếu có một hỏa hoạn xảy ra trong làng, mọi vật đều bị thiêu hủy thì ta tiếc những gốc cây quen thuộc biết bao nhiêu! Nó là những nét của cảnh trí, những vật ở chân trời cũ, thiếu đi, nghe buồn làm sao.
         Hôm nay một thầy lại đem theo một thằng con nhỏ. Thằng bé độ mười tuổi, tay cắp cặp da, chừng như đi học đâu đó, mà hôm ấy không người nhà đưa nên người cha mới phải bận bịu thế, lúc đi làm.
         Hai cha con ngồi lại bàn. Người cha kêu cà-phê cho mình và sữa cho con, nhưng kêu bằng thổ ngữ Quảng Đông, nên thằng bé không hay biết. Chừng phổ-ky đem món uống lại, nó mới nói:
         ― Ba ơi, con muốn uống cà-phê như ba!
         ― Ê, trẻ con không nên uống cà-phê.
         Người cha vừa nói vừa xé cái bánh tiêu, nhét xíu mại vào để làm nhưn, rồi trao cho con.
         Kỳ, bỗng nhiên giựt mình, ngó dáo dác như nghe ngóng cái gì. Không, không có gì cả! Nhưng chàng không an lòng, có cảm giác là tiếng động gì, hình ảnh gì vừa thoáng hiện rồi và trốn đi và đang lẩn lút đâu đây. Tiếng động ấy, hình ảnh ấy ra sao; chàng không rõ, nhưng cứ tin là nó dễ yêu lắm.
         Liền đó một cuộc săn đuổi ráo riết. Kỳ rượt theo một ấn tượng, một cái gì vô hình, lấp ló đâu đây. Có lúc chàng suýt chụp được nó, nhưng nó lại vuột đi. Những gì xảy ra quanh chàng, bỗng giờ phút nầy, sao mà nghe thấy rất xa xôi như đã nghe thấy đâu từ kiếp tiền thân.
         Thình lình Kỳ ngây người ra; chàng vừa thấy người cha đứa bé rót cà-phê ra dĩa cho mau nguội, rồi nâng dĩa lên mà uống.
         Cảnh nầy, chàng đã thấy rồi… trời ơi… lâu lắm… những hai mươi năm về trước. Đó là lối uống trong dĩa của ông ngoại chàng, một ông cụ nhà quê, thỉnh thoảng dắt cháu ra chợ để hưởng thú thị thành.
         Hình ảnh cuối cùng uống bằng dĩa nầy như bấm vào nút điện, và cả một bộ máy được huy động. Những người của dĩ vãng như hồn ma, lũ lượt kéo qua trước mắt chàng.
         Hồn ma cũ ấy chỉ hiện về trong cảnh náo nhiệt nầy là vì có cuộc trùng phùng cơ hội như hôm nay: thời gian, nơi chốn, màu sắc, hình ảnh, mùi vị, tiếng động; tất cả những thứ ấy khi đủ mặt, họp nhau để huy động ký ức của chàng.
         Bấy giờ Kỳ mới hiểu tại sao chàng lại ưa thích tiệm cà-phê nầy. Hồn ma cũ ngủ yên nơi tiềm thức của chàng. Đó lại là những hồn ma thương mến. Tiệm cà-phê nầy có gần đủ điều kiện để kêu gọi hồn ma. Gần đủ nhưng chưa bao giờ đầy đủ. Nên tiềm thức ngủ quên luôn. Ngủ quên nhưng vẫn giục chàng đến đó, mà chàng không biết tại sao. Chỉ hôm nay mới hiểu rõ.
         Thì ra tiềm thức đã chủ động nhiều việc trong đời người, trong đời chàng những việc ta làm, chàng làm, mà cũng không hiểu vì sao mà làm.
         Kỳ lẩn thẩn tìm xem coi do đâu mà chàng ghét chữ f, một tình cảm chàng đang có, mà không biết nguyên nhân.
         Ngộ! Khi nãy không tìm mà hồn ma hiện đến. Bây giờ đọc thần chú, nó cũng chẳng về. Phương trình còn thiếu rất nhiều yếu tố:
         Ký ức = thời gian + nơi chốn + màu sắc + tiếng động + mùi vị + hình ảnh.
         Chữ f đã dính líu với những hình ảnh nào, chàng thật mù tịt. Nên chi Kỳ thôi không thèm tìm biết nữa. Ngày kia, khi có một cuộc quy tụ yếu tố tự nhiên chàng sẽ nhớ về chữ f ấy.
         Bây giờ, theo dõi những hồn ma yêu dấu thú hơn. Chàng thường theo ông ngoại ra chợ uống cà-phê… Chàng ra tỉnh học… Chàng lên Sàigòn… Ma nhiều lắm! Ôi ! Mến yêu là những con ma tóc còn đường rẽ, áo quần còn hôi mùi ruộng bùn, cùng nhau ngơ ngác giữa đô thành! Ôi! Bùi ngùi là những con ma giáo sư tóc rắc muối tiêu mà bây giờ, hẳn, đã đi đầu thai kiếp khác rồi.
         Ôi ! Bối rối là những con ma… Kỳ nghe tê tái nơi lòng, mắt ứa lệ. Bối rối là những con ma gặp nơi nhà quen, khi ra chơi ngày chúa nhựt, những con ma, nó làm cậu học sinh lưu trú ngơ ngẩn suốt tuần. Ôi! dịu dàng là những con ma áo tím… mà trời ơi!…
         Kỳ nhớ lại, ngày chàng được bức thư tay cuối cùng của người bạn tình đầu tiên ấy, Thiếu niên bao giờ cũng dại về tình. Chàng đã toan tự tử, nghĩ thật buồn cười. Hình như là chàng thuộc lòng bức thư ấy. Đâu nào… à… Anh không phải là người lý tưởng của em, vậy ta dứt nơi đây là hơn. Dầu sao, em cũng đã thành thật yêu anh trong một thời gian, thì anh không thể nói là em thờ ơ hay fụ bạc được…
         Bỗng Kỳ ngước lên, cười khà. Chàng đã bắt được kẻ trốn tránh, khi đọc lại đoạn thư ấy. Chàng nắm lấy chóp nó và la thầm trong bụng:
         ― Nó đây rồi!
         Phải, nó đây; Nó viết ph bằng chữ f. Chàng ghét giận nó, và giận luôn cả chữ f của nó tự bao lâu rồi.
         Kỳ lại cười lớn lên một giây nữa và lẩm bẩm:
         ― Tụi nó mà biết sự thật về chữ f, chắc tụi nó cười mình dữ lắm.


BÌNH NGUYÊN LỘC


BÁCH KHOA |  SỐ 4
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 25/12/2017, 18:18:20
BÁCH KHOA |  SỐ 5  [15 tháng Ba  1957 |  74 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Chánh sách thuế vụ (quan niệm cũ, quan niệm mới) |  1-4
Hoàng Minh Tuynh (dịch) |  Đức ái nhân trong Thiên Chúa giáo \ Cha Riquet S.J. |  5-7
Phạm Ngọc Thảo |  Vấn đề kinh tế tự túc trong quân đội |  8-11
Nguyễn Anh Linh |  Một nhận định trước làn sóng di cư |  12-14
Bách-Khoa |  Vệ sinh, kinh tế, giáo dục |  14
Huỳnh Đức Quang |  Nhiệm vụ cán bộ nghiệp đoàn trong một nước độc lập |  15-19
Bách-Khoa |  Hậu quả một lời nói độc |  19
Minh Phong |  Tiếp tục “Tuần lễ nội hóa” để kiện toàn nền kinh tế độc lập |  20-22
Dương Quỳnh Hoa |  Sơ lược cách chuẩn bị cho sản phụ theo phương pháp “Đẻ không đau” |  23-25
Nguyễn Đức An (dịch) |  Người nối chí Thánh Cam Địa \ J. Quéguiner |  26-33
Nguyễn Huy Thanh |  Một ý kiến: Quỹ tiết kiệm |  34-37
Nguyễn Hiến Lê |  Tiếng Việt ngày nay |  38-43
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 4 |  43
Hồng Hy |  Én biển (thơ) |  44
Mặc Thu |  Đứa con nuôi (truyện) |  45-49
Bách-Khoa |  Nước lớn tới nước nhỏ và nước nhỏ tới nước lớn |  49
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [II] (truyện dài) \ Từ Vu |  50-57
Bách-Khoa |  Cái “ngu” của ông Ninh Võ Tử |  57
Bách-Khoa đọc thay các bạn:
   |  Thống hệ và phương pháp trong Nho giáo |  58-59
   |  Anh hùng vô danh |  59
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  60-64
Bách-Khoa |  Trời muốn vậy |  64
Quảng cáo |  65-74


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204212643-0b25846284dc396c88cddf0b43fefae1/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 25/12/2017, 18:40:37


Đức ái nhân trong Thiên Chúa giáo

TRƯỚC CÁI QUANG CẢNH hãi hùng quái gở của một thế giới hoang tàn, đảo lộn bởi thiên tài phá hoại của những phần tử văn minh nhất; trước những đổ vỡ, những mộ địa, những đàn nô lệ đói khát, cực khổ, đối diện với bao nhiêu mưu chước trụy lạc tinh thần, hủy hoại khí tiết, suy đảo phong tục; trước những nỗi đau thương, cùng những mối hàm oan tràn trề, đầy dẫy trong khoảng các tầng lớp nhân loại như thế, hết mọi người công giáo chúng ta đều cảm thấy có bổn phận phải tự hỏi xem thái độ của mình phải như thế nào? Chúng ta đều hết sức băn khoăn cố tìm lấy một câu giải đáp sao cho thích hợp với thời đại mới và cho xứng đáng với vai trò người công giáo chân chính của mình.
         Nếu chúng ta có tham khảo Phúc Âm hoặc những giáo huấn của Giáo hội từ xưa đến nay, ta có thể kết luận ngày mai, cũng như hôm qua và hôm nay, rằng: chỉ một thái độ độc nhất có thể khiến cho mình giữ vững trong tâm hồn mối khoái lạc và sự tự do của con cái Thiên Chúa, nghĩa là tất cả lập trường của mình, bất luận trong một hoàn cảnh nào, đó là thái độ yêu người. yêu người luôn luôn, yêu người mãi mãi, yêu người mặc dầu là người xấu xa hay tốt lành, yêu người chỉ vì người là con cái của Thiên Chúa mà thôi.
         Tuy nhiên, tình yêu chúng ta nói đây không phải là một thứ tình yêu ngoài môi ngoài miệng, mà là một thứ tình yêu phô diễn ra bằng công việc làm và bằng sự chân thật, như lời Thánh Gioan đã nói.
         Vì chúng ta nhận thấy có nhiều người lấy làm bằng lòng, lấy làm thỏa mãn khi có thể hòa cuộc sinh hoạt thường ngày với một thứ tôn giáo chỉ biết đóng khuôn vào bốn bức tường của Đền Thánh, và tự đày ải trong nguyện gẫm, trong không tưởng, mơ màng một phần thưởng bên kia thế giới, hoàn toàn lãnh đạm với ba phần tư, với chín phần mười cuộc sinh hoạt thực tế nói chung của nhân loại, nghĩa là với mọi ngành hoạt động về dân sự, về xã hội, về du hí, về học đường cũng như về giáo dục. Khiến cho đến nỗi nhiều người cho rằng giáo điều buộc phải yêu người do Công giáo truyền dạy chỉ thu hẹp lại trong có một vài hành vi bố thí, một vài cuộc viếng thăm ở chung quanh mình.
         Đó đâu có phải là tinh thần của Phúc Âm: vì Phúc Âm buộc người ta phải yêu đồng bào ở mọi nơi, mọi lúc, trong hết mọi trường hợp: ở đồng ruộng cũng như ở nhà máy, ở ngoài đường cũng như ở công sở, tóm lại là trong hết mọi cuộc giao tế giữa người với người vậy.
         Và Phúc Âm cũng lên án tất cả các sự bóc lột dưới bất cứ hình thức nào, dù giấu giếm dưới quy điều pháp lý hoặc dưới định luật của kinh tế nữa.
         Phúc Âm lại còn lên án mọi sự bạo hành, mọi sự độc đoán, dù nó ẩn nấp dưới một đảng phái hay một quốc gia chuyên quyền. Đành rằng yêu người thì không hề làm hại người. Nhưng tình yêu ấy còn phải khiến cho người ta tìm dõi cho anh em điều lành, điều tốt; phụng sự anh em, cứu vớt anh em thoát khỏi điều ác, điều hung, như trong Phúc Âm của thánh Mat-thuê: “Mày muốn anh em làm cho mày điều gì thì mày làm cho anh em điều ấy!”…
         Xem vậy đủ rõ, đối với người công giáo, điều kiện cốt thiết để được cứu rỗi, trở nên thánh thiện, cao cả và hưởng các chân khoái lạc, chính là phải biết yêu người. Phàm kẻ nào đã biết yêu người, trước khi nhận ra Thiên Chúa, trước sau thế nào rồi cũng sẽ đạt tới Thiên Chúa, nếu họ thủ tín với tình yêu ấy đến mức có thể xuất phát những cử chỉ anh hùng. Trái lại, tự nhận mình là người thuộc về Thiên Chúa mà trong lòng không có một chút tình yêu ấy thật đã tự dối mình và tôn giáo của họ suy tôn chỉ là một tôn giáo giả mạo mà thôi.
         Tới đây, chúng ta phải thành thật nhận là mình vấp phải những nỗi khó khăn khiến chúng ta phải bối rối. Ngày nay, thử hỏi trong đám giáo dân chúng ta, liệu có mấy người biết sống bằng lý tưởng yêu người ở trong Chúa và yêu Chúa ở trong người? Một bên, chúng ta nhận thấy bao nhiêu người có tôn giáo, mà lại sinh hoạt như người vô tôn giáo. Họ từ bỏ đạo, coi đạo như một chướng ngại vật cho cuộc đời phóng túng, vật chất của mình. Lại có một số người khác, công khai tỏ ra mình là người có đạo, nhưng cũng công khai tỏ mình là người phản đạo bằng những hành động cướp bóc, xâm lấn, dã man như thú vật, cứng lòng như sắt đá. Thêm vào đó, lại còn một số người nữa, đông đảo hơn, sinh hoạt không hề biết tới Chúa Kitô, không hề kỳ vọng vào một lý tưởng nào, coi như không có Thiên Chúa ở trong thế gian vậy.
         Chúng ta còn đau lòng hơn nữa, khi chúng ta nhận thấy chính những kẻ vô thần lại tỏ ra tận tâm, đại lượng, bác ái hơn những kẻ tự nhận là hữu thần, hoặc tự nhận là những người binh vực, bảo vệ cho nền văn minh Thiên Chúa giáo.
         Do đấy, người công giáo chúng ta sinh ra lo ngại, thắc mắc và hoài nghi.
         Đức bác ái, đức ái nhân đáng lẽ phải coi như là điều cốt thiết trong tôn giáo, nhiều giáo dân lại cho là điều phụ thuộc, có hay không không quan trọng lắm. Trong khi các kẻ vô thần, vô tôn giáo phát huy và động viên tất cả các năng lực và sáng kiến để tận tâm giúp vào công việc cải thiện đời sống cho nhân loại. Sức cố gắng của những kẻ vô thần, vô tôn giáo, tỏ ra thật có hiệu năng, sinh ra những hiệu quả thật hiển nhiên vĩ đại, sức cố gắng của các người công giáo bên những sức cố gắng này tỏ ra thật lu mờ, nhu nhược, hẹp hòi và thiếu thốn. Khiến cho ta phải tự hỏi: phải chăng hễ là người công giáo thì hành động nhất định là bất lực, thua sút, kém hiệu năng, kém thực tế hơn kẻ khác. Nhiều nhà thần học, vì chú ý chăm lo đến việc bảo tồn tính chất trác tuyệt của phần siêu nhiên, đã hơi quá vội vàng quyết với chúng ta rằng: “Người công giáo, về mặt thế gian thực tế, phải đành lòng nhận lấy thất bại. Nước của người công giáo không phải ở trần gian nên không cần thực tế. Họ khuyên chúng ta nên giữ thái độ bị động cổ truyền của một vài nước phương Đông mà họ cho là khôn ngoan lắm. Trần gian tội lỗi; không nên kỳ vọng ở trần gian và cũng không nên tìm cách hoán cải trần gian làm gì. Phải cao chạy xa bay để thoát khỏi cái trần gian xấu xa nhơ nhuốc ấy”.
         Chủ trương như vậy có phải là xác đáng không? Chủ trương như vậy sẽ đưa ta đến tình trạng nào, dồn ta tới ngõ bí nào?
         Vì nếu quả vậy, thì ra chúng ta không sao thoát khỏi cái tình trạng tiến thoái lưỡng nan này: hoặc yêu người theo tinh thần công giáo, thì đành chịu bất lực và vô hiệu năng ở thế gian; hoặc yêu người trái hẳn với tinh thần công giáo, nghĩa là loại Thiên Chúa ra khỏi tình yêu ấy, với hy vọng thực hiện một công cuộc vĩ đại là thành lập một thiên đàng trên trái đất.
         Chúng ta đã từng biết có bao nhiêu tâm hồn đầy thiện chí phải băn khoăn đau đớn vì cảm thấy như đứng trước một ngõ hẻm không lối ra, một mâu thuẫn không tài nào vượt nổi – Những tâm hồn ấy không thể thừa nhận một cách dễ dàng đề nghị “lẩn sự đời” của một vài nhà thần học, cũng như không thề suy tôn chủ nghĩa nhân bản vô thần có hiệu năng sinh ra những kết quả chưa chắc đã hay, mà đã phải trả giá bằng những giá quá đắt, giá của bao nhiêu hy sinh nặng nề, hy sinh tính mệnh, hy sinh tự do, hy sinh văn hóa, hy sinh tinh thần, tắt là hy sinh tất cả nhân bản vậy.
         Theo kinh nghiệm chủ nghĩa nhân bản vô thần, trong mọi hình thức, cá nhân hay tập thể, tự do hay chuyên chế, đều đã tỏ rõ một chủ nghĩa thái ác, vô nhân đạo đến cực điểm. Nhưng tình yêu người chân chính không thể là một tình yêu vô hiệu năng, thụ động một cách ngu ngốc, vụng về vì hiểu lầm nghĩa kính tin. Nhưng tình yêu ấy muốn cho chân chính và có hiệu năng thì phải thế nào? Đó là vấn đề ta sẽ thảo luận sau. Song ngay bây giờ, ta có thể quả quyết rằng tình yêu ấy muốn cho thật chân chính và thật có hiệu năng, điều cần thiết là phải làm sao kết hợp nó vào với Đấng đã lập nên phẩm giá con người một cách kỳ tuyệt và đã tái lập nên một cách còn kỳ tuyệt hơn nữa; đấng vừa là nguyên lý vừa là cứu cánh của mọi tình yêu giữa người với người; đấng mà Dante đã gọi là: Il primo amore, nghĩa là Tình yêu nguyên thủy, tình yêu đi trước mọi tình yêu khác, tình yêu sinh ra và nuôi nấng mọi tình yêu khác, cũng nâng đỡ cho đến cùng, như ngọn sóng triều nhấp nhô ngoài khơi đại dương, tỏa ra muôn ngàn màu sắc khác nhau mà tựu trung chỉ có một mặt trời chiếu rọi mà thôi.


Cha RIQUET S. J.
Hoàng Minh Tuynh dịch


BÁCH KHOA |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 25/12/2017, 22:12:01


                        Én biển

            AI có qua chơi xứ Quảng Nam,
            Trông ra biển biếc lẫn trời lam.
            Một hòn đảo nhỏ in màu sẫm:
            Dấu vết ngàn xưa của giống Chàm.

            HÓC đá cheo leo, sóng mịt mù,
            Én kia làm bạn với hoang vu,
            Xa đời, càng thấy yêu đời lắm,
            Ủ kín tình thâm ai thấu cho.

            GIÓ lốc tung reo, sóng thét gào,
            Gởi cùng sóng gió nỗi lao đao:
            Lấy chi làm tổ nuôi con nhỉ?
            Bờ vắng, trăng tà, mây vẫn cao.

            RÁT cổ phun ra từng giọt ngọc;
            Mỗi giây nước miếng một tơ lòng,
            Kết thành chiếc tổ đầy âu yếm,
            Khi lại rơm rơm điểm máu hồng.

            ĐỘC ác! Người đời lấy yến sào,
            Đem về nấu đãi khách phong lưu.
            Tiếng ca danh kỹ vang trong tiệc,
            Như át ngoài khơi tiếng én kêu.

            CÙNG chung kiếp én có thi nhân,
            Đem hết tinh hoa tặng khách trần,
            Trong tiệc những ai cười hỉ hả,
            Riêng ai đau khổ biết bao lần!


                                              HỒNG HY


BÁCH KHOA |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 25/12/2017, 22:33:21


Đứa con nuôi
000
Để tặng những cặp vợ chồng trẻ muộn con.

TRÊN CHUYẾN XE ĐÒ Đalat-Saigon, Khê thực vất vả với thằng bé mà chàng vừa xin được. Thằng bé đến nghịch, tuy chưa được đầy tuổi. Nó nhẩy cẫng trên tay Khê và cứ nhè nắm lấy cái cà-vạt màu của anh mà giựt.
         Thuở nay, chưa từng bế trẻ, Khê phải vận dụng tất cả khéo léo của mình mới khỏi để nó ngã. Anh luôn miệng nói nựng nó một cách rất vụng về, khiến mấy bà hành khách ngồi bên phải quay mặt đi mà cười.
         Mồ hôi vã ra ướt đầm cả lần áo trong của Khê. Đầu tóc anh rối bù, vì nhiều lúc anh phải cúi đầu đưa cả mớ tóc ra cho nó nắm lấy nghịch.
         Tuy vậy Khê không thấy vất vả, trái lại anh thấy vui sướng vô hạn vì đã mãn nguyện: xin được đứa con nuôi có bộ mặt ngộ nghĩnh như anh thường ao ước.
         Xe chạy được một quãng khá xa, Khê mới nhận thấy lúc anh giựt thằng bé trên tay người vợ, rồi nhét vội cho người chồng một món tiền là một cử chỉ thật tàn nhẫn mà trong lúc bình thường anh không thể nào làm nổi. Anh cũng hối tiếc đã không biết nói lấy một lời ôn tồn rằng: tiền này là để giúp thêm bà nhà uống thuốc… Làm vậy có khác gì anh mua đứa trẻ với một giá quá hời. Anh lại xấu hổ cả với dáng đi hấp tấp của anh lúc bế đứa trẻ đi.
         Sau cùng, Khê trút tất cả cho cái tội: chỉ vì anh quá ưng ý đứa trẻ và anh chỉ sợ nếu để chậm trễ, rất có thể người vợ hay người chồng đổi ý.
         Gia đình họ có những bảy đứa trẻ, toàn là trai, lớn bé đều sàn sàn bằng nhau cả. Nhưng nếu không vì người mẹ mang bệnh nằm liệt trên cái cáng thì Khê cũng khó có hy vọng xin được thằng nhỏ này. Xem như họ còn đi xa để kiếm chỗ làm ăn. Khê cho mình may mắn lắm mới gặp được họ giữa đoạn đường họ ghé vào Đalat.
         Một bà hành khách ngồi ghế trên đưa tay xin bế hộ thằng bé, Khê ngạc nhiên không hiểu bà làm cách nào mà chỉ lát sau, thằng bé đã ngủ ngon lành.
         Bây giờ Khê mới có thì giờ xốc lại quần áo, nắn lại cà-vạt, vừa vui vui nghĩ đến Trâm, vợ anh.
         Cuộc đời buồn tẻ của vợ chồng anh hẳn từ nay sẽ chấm dứt. Chắc chắn Trâm sẽ phải thích đứa trẻ cũng như anh.
         Vợ chồng Khê lấy nhau đã bảy năm mà Trâm chưa lần nào có một dấu hiệu gì của sự sinh đẻ.
         Vợ chồng Khê lại sống một cách khá dư dả nên càng thấy thiếu thốn. Một nỗi thiếu thốn mà cả hai không tiện nói ra.
         Họ yêu nhau từ trên ghế nhà trường và khi rời nhà trường là họ cưới nhau. Con đường tình ái của họ không có gai góc mà chỉ đầy hoa bướm. Khê được nhà cấp vốn cho đi buôn và cho ở riêng. Con đường kinh doanh của anh lại cũng trơn tru rất ít trở ngại. Chẳng mấy lúc mà Khê giàu lớn.
         Bỗng có một ngày mà Khê thấy chán công việc mà không tìm thấy sung sướng trong những thành công nữa. Và từ bấy giờ, Khê mới để ý nhận thấy rằng Trâm đã hờ hững với những thành công của anh trước anh khá lâu.
         Khê đã nghĩ: giá vợ chồng mình nghèo cứ nai lưng ra mà làm, được bữa sáng lo bữa tối thì cái chuyện con cái tất đã thành một vấn đề.
         Khê đã băn khoăn nhiều lần về câu chuyện sinh lý. Anh đọc các sách y học để tìm hiểu nguyên nhân của cái sự thiếu thốn ấy là tại anh hay tại Trâm. Nhưng rồi chẳng sách nào làm cho anh thỏa mãn. Có việc giản dị nhất là đến một bác sĩ thì Khê không dám làm. Chẳng phải vì sợ Trâm tủi mà chính anh, anh cũng rất sợ phải nhận lấy một tuyệt vọng. Mối tuyệt vọng có khoa học chứng minh thành một sự thực nghe thấy và trông thấy được.
         ― Để vậy thì còn hy vọng!… Khê tự an ủi hành động rất không hợp lý của anh vậy.
         Trong khi đó, Trâm vẫn giữ đầy đủ bổn phận của người vợ ngoan ngoãn. Cả ngày nàng chỉ lúi húi với công việc nhà. Rất ít khi nàng chịu đi đến đâu, ngay cả việc đi thăm bè bạn thân thiết hoặc họ hàng.
         Mỗi ngày Trâm lại siêng năng làm việc nhà nhiều hơn. Hầu như Trâm sợ những thì giờ nhàn rỗi không có việc gì làm.
         Khê chỉ cho rằng Trâm tằn tiện và tính ưa làm việc là tính giống bà mẹ vợ anh.
         Trước mặt chồng, Trâm vẫn vui vẻ như không có điều gì nghĩ ngợi. Nhưng sau, nhiều lần Trâm cũng để lộ cho Khê thấy được cả những lúc nàng ngồi thừ mặt, buồn bã nhìn ra vườn một cách vu vơ…
         Bấy giờ Khê mới hiểu rằng: vợ chồng anh cần có một đứa con, dù là đứa con nuôi.
         Nhiều lần Khê muốn nói với Trâm điều táo bạo đó mà chưa bao giờ anh tìm thấy dịp thuận tiện để nói. Anh biết nếu nói ra chắc chắn Trâm sẽ buồn tủi và biết đâu nỗi đau khổ của Trâm sẽ lại chẳng trầm trọng hơn.
         Cuộc sống tẻ lạnh ấy cứ âm thầm kéo theo những chuỗi ngày dài dằng dặc trong đó có hai người sống rất gần nhau mà lại như rất xa nhau, vì chẳng ai muốn cho ai biết ý nghĩ riêng của mình.
         Họ tập sống giả dối và tưởng như thế là chỉ riêng mình chịu đựng, mà không biết rằng: mỗi khi lên giường ngủ, trước lúc nhắm mắt, nếu Trâm tưởng đến “một dứa con” thì nửa giường bên kia, tiếng nói cuối cùng trong ý nghĩ của Khê cũng là “một đứa con”.



         Hôm đầu Khê mang đứa bé về, Trâm reo tưởng đến vỡ nhà. Nàng vứt cả món ăn đương làm dở xuống bếp, chạy ra vồ lấy đứa trẻ.
         Khê sung sướng vì thấy Trâm sung sướng.
         Gò má xanh nhạt của Trâm tươi ửng thêm một màu hồng. Rõ ràng như nàng vừa sống lại.
         Trâm ấp đứa bé vào ngực, hôn hít nó như chính nó là con nàng thực. Nàng quên cả nghe. Khê đương kiêu hãnh kể chuyện vì sao mà xin được thằng bé.
         Một lúc sau, Trâm bỗng kêu khẽ lên một tiếng:
         ― Này anh! Lại đây xem, trông mắt nó giống anh không?
         Khê hớn hở quay lại đáp:
         ― Thế à?
         Tuy chưa thấy đôi mắt thằng bé giống mắt mình ở chỗ nào, Khê cũng làm ra dáng vui vui:
         ― Ừ, giống nhỉ!
         Trâm vẫn chú ý nhìn vào mặt đứa trẻ:
         ― Anh ạ, miệng nó cũng giống anh nữa! Lại cả sống mũi cũng giống nữa này! Chẳng sống mũi dọc dừa là gì đây!…
         Khê cười sung sướng:
         ― Ừ, giống thực!
         Tự nhiên Khê cũng thấy đứa trẻ hao hao giống anh vài nét. Lòng yêu đứa trẻ của anh lại tăng thêm.
         Nhưng từ sau ngày ấy, đứa con nuôi lại là cả một khó chịu cho vợ chồng Khê. Trâm không còn vồ vập, tươi cười với đứa trẻ như buổi đầu nữa. Đôi lúc, Khê bắt gặp Trâm ngồi lặng chăm chú nhìn đứa trẻ, nét mặt có chiều suy nghĩ…
         Đầu tiên, Khê hơi ngạc nhiên về sự thay đổi mau chóng của vợ. Cho đến một đêm. Trâm trằn trọc rất khuya chưa ngủ, làm Khê cũng mất ngủ theo.
         Đêm ấy, Trâm đã căn vặn Khê rất nhiều về đứa trẻ. Nàng nghi nó là con riêng của khê.
         Khê đã hết sức biện bạch và kể lể rõ ràng từ chi tiết nhỏ nhặt cho Trâm nghe, về sự tình lúc xin được đứa trẻ. Nhưng nói thế nào Trâm cũng không tin. Trâm lại có những câu hỏi thực bất ngờ, thông minh như một cái bẫy để Khê phải lúng túng nhiều lần, mặc dầu anh rất oan uổng. Có lẽ đấy là đặc khiếu tự nhiên của đàn bà. Đặc khiếu ấy, Khê chưa từng thấy ở Trâm lần nào.
         Khốn nỗi, anh không viện ra nổi một nhân chứng: một người bạn chứng kiến lúc anh xin đứa trẻ chẳng hạn, hay ít nữa thì cũng phải biết rõ chỗ trú ngụ của cha mẹ đứa trẻ…
         Khê hối tiếc đã không hỏi xem họ đi về phương nào và làm nghề gì? Giá biết được vậy thì cũng có hy vọng tìm ra.
         Trâm âm thầm khóc nhiều đêm và có lần đã dùng đến thuốc ngủ để được xa chồng vĩnh viễn. May mà Khê biết được mà cứu kịp.
         Mỗi lần gặp mặt là Khê và Trâm lại có dịp cãi cọ nhau luôn, bất cứ vì một cớ nào.
         Vì vậy họ đã tìm cách lánh mặt nhau, mặc dầu họ ở cùng trong một căn nhà nhỏ, xinh xắn như một tổ chim.
         Trâm dọn cơm sẵn trên bàn để Khê ăn trước còn nàng ăn ở trong buồng.
         Trước mặt Khê, Trâm làm ra rất hờ hững với đứa trẻ, khiến cho Khê hết sức khổ tâm khi thấy thằng bé nằm trỏng trơ trong một cái nôi. Tuy vậy, anh cũng giữ không để lộ vẻ khó chịu ấy ra ngoài cho Trâm thấy. Nhưng khi Khê đã ra ngoài, Trâm vẫn săn sóc đứa trẻ đầy đủ bổn phận của bà mẹ nuôi muốn tắc trách.
         Trâm khóc nhiều những lúc vắng Khê nên sút đi trông thấy. Trông đôi mắt quần thâm của Trâm, nhiều lúc Khê thấy thương Trâm vô hạn. Nhưng anh lại không muốn cho Trâm biết anh có ý nghĩ ấy. Anh thấy bực mình đến độ đau khổ vì tính “ghen hão” của Trâm. Khốn nỗi, cái ghen hão đó lại trở thành “ghen thật” khi chính anh cũng không biết làm sao cho Trâm tin anh được.
         Rồi Khê cũng không buồn tìm cách phân trần cho Trâm hiểu nữa.
         Anh nghĩ: tại sao mình cứ khổ tâm về một tội lỗi mà mình không phạm.
         Trâm đã bắt đầu bê trễ công việc nhà, đi chơi luôn. Việc săn sóc thằng bé, nàng đã giao phó trọn vẹn cho một vú già mới mướn.
         Khê thấy khó chịu về sự vắng mặt luôn của vợ. Nhưng trước mặt Trâm anh lại làm ra vẻ thản nhiên như không lưu ý đến điều đó. Anh muốn cho Trâm hiểu vậy.
         Nhưng ngay lúc Trâm đi khỏi, anh trở lại bực dọc, gắt gỏng và thèm muốn đập phá.
         Hồi này Khê đã bắt đầu tập tọng uống rượu, mà uống lu bù. Anh hay la cà ở các quán rượu đêm. Mỗi khi thấy mình có đủ vẻ của một người rượu chè, trác táng lọc lõi, anh lại thấy tự bằng lòng.
         Cứ thế, mỗi khi khuya về miệng Khê lại sặc sụa hơi rượu.
         Lấy cớ đó, Trâm đã dọn chỗ ngủ riêng.
         Căn nhà tịch mịch, kín đáo nép trong những khóm lá của một khu xóm cũng tịch mịch, càng làm tăng thêm khổ hình của đôi vợ chồng trẻ, mỗi ngày thêm một xa nhau, cách biệt gần như không thể nào hàn gắn nổi.



         Một sớm mai đẹp trời, nắng hửng lên trong vườn từ lâu mà Khê vẫn còn vùi đầu trong chiếc mền đơn ngủ kỹ. Đêm qua, anh say sưa với bạn gần tới sáng. Một đêm hành lạc đầy đủ nhất của một kẻ chán đời…
         Bên kia buồng, Trâm đã thức từ lâu, song vẫn nằm yên nhìn lên trần nhà nghĩ ngợi vẩn vơ.
         Có tiếng u già khẽ gắt ở ngoài thềm:
         ― Hỏi gì thì đợi đấy đã! Cậu mợ tôi còn ngủ!
         Khê chợt giở mình lắng nghe, như đã chờ đợi từ lâu.
         Tiếng một người đàn ông lạ, rụt rè:
         ― Vâng, lúc nào ông dậy u nói giúp là có tôi, bố thằng cháu cho ông dạo nọ ở Đalat…
         Khê tung mền, vùng đứng dậy, rồi vụt chạy ra ngoài, hấp tấp như chưa từng bao giờ anh hấp tấp như thế.
         Trâm cũng đã bật đứng dậy. Đã toan chạy theo ra, nghĩ thế nào Trâm quay lại giường, gục mặt vào gối khóc thút thít.
         Câu chuyện ngoài thềm vẫn lọt vào tai Trâm rành rọt từng tiếng một…
         Dĩ nhiên chiều hôm ấy, trên một đại lộ ở Saigon, có đôi vợ chồng trẻ líu ríu như chim dắt nhau đi sắm áo quần đồ chơi cho trẻ nhỏ.
         Bỗng người vợ giựt tay chồng nói khẽ:
         Chúng mình phải đặt tên cho con chứ!…
         Người chồng mỉm cười, gật đầu âu yếm nhìn vào mắt vợ, khiến người vợ thẹn thùng quay đi…
         Hạnh phúc của họ lại đẹp như không có một bài thơ nào ca tụng nổi…


Xuân Đinh Dậu, Saigon
MẶC THU


BÁCH KHOA |  SỐ 5

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 29/12/2017, 18:47:09
BÁCH KHOA |  SỐ 6  [1 tháng Tư  1957 |  84 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Chánh sách thuế vụ (quan niệm cũ, quan niệm mới) [II] |  1-7
Hoàng Minh Tuynh (dịch) |  Đức ái nhân trong Thiên Chúa giáo [II] \ Cha Riquet S.J. |  8-10
Phạm Ngọc Thảo |  Góp ý kiến về Thiên “Kế” của Binh Thư Tôn Tử |  11-15
Bách-Khoa |  Một “thuật” chính trị |  15
Tăng Văn Chỉ |  Quân bình giá vật, một biện pháp tạm thời và rất cần để chấn hưng kinh tế |  16-18
Bách-Khoa |  Trả lời bạo chúa |  18
Nguyễn Hiến Lê |  Tiếng Việt ngày nay [II] |  19-23
Nguyễn Huy Thanh |  Giòng suối trong bãi sa mạc |  24-25
Nguyễn Văn Ba |  Con người trong vũ trụ |  26-29
Bách-Khoa |  Phê bình |  29
Hào-Nguyên Nguyễn Hóa |  Thử tóm tắt học thuyết luân lý Épicure |  30-34
Phan Văn Trí |  Vấn đề giáo dục về hợp tác xã |  35-37
Dương Quỳnh Hoa |  Sơ lược cách chuẩn bị cho sản phụ theo phương pháp “Đẻ không đau” [II] |  38-39
T. T. K. |  Tráng sĩ hành (thơ) |  40-41
Nguiễn Hữu Ngư |  Một đêm giao thừa, nằm, đợi tiếng gà (thơ) |  41
Quách Tấn |  Đôi câu chuyện về Hàn Mặc Tử |  42-46
Vi Huyền Đắc |  Chiếc xe “lết” của cha tôi |  47-53
Bách-Khoa |  Đường lối chấp chính của Bá Di, Y Doãn và Khổng Tử |  53
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [III] (truyện dài) \ Từ Vu |  55-64
Quảng cáo |  54, 56, 58, 61-62, 65-68
Bình Nguyên Lộc |  Mài dao dạy vợ (kịch) |  69-73
Bách-Khoa đọc thay các bạn:
   |  Được người và mất người |  74
   |  Biết người |  74
   |  Chữ tín với nhà cầm quyền |  77-78
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  79-82
Quảng cáo |  75-76, 80, 83-84


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204212712-96284dfc8cea836f3b87ccf12314cfc2/jpg/page_1_thumb_large.jpg)


Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 29/12/2017, 19:09:34


Thử tóm tắt học thuyết luân lý Épicure

CHÚNG TA vẫn biết Épicure(1) là một vị giáo chủ của chủ nghĩa “khoái lạc”, là triết gia của “khoái lạc tối thượng”. Nhiều người thỉnh thoảng nhắc đến Épicure một cách mỉa mai hay đùa cợt. Thấy kẻ nào sống theo lạc thú, ta bảo họ là đồ đệ Épicure. Thấy ai chỉ dùng ngày sống để phụng sự “cái bụng”, ta bảo họ là đồ đệ Épicure… Ta quen đùa rằng, đồ đệ Épicure là tất cả những hạng đệ tử của Lưu Linh, Đế Thích, những kẻ miệt mài trong những cuộc truy hoan, những kẻ chỉ biết những bít-tết, la-gu, sâm-banh, cô-nhác, tóm lại là tất cả những kẻ hành lạc.
         Ta đùa có, mỉa mai cũng có. Nhưng đùa và mỉa mai như thế, thật ra ta đã vô tình làm sai học thuyết Épicure nhiều vậy.

Đồ đệ Épicure phải Là người như thế nào?
         Ta nên nhớ, chính Épicure thuở sinh thời, đã sống một cuộc đời rất đạm bạc, rất giản dị, rất gần thiên nhiên mà người dù sống khổ hạnh của thời đại nguyên tử này khó mà có được. Giáo chủ của chủ nghĩa khoái lạc lại đã không thờ bao tử, không thờ thú tính. Épicure cùng đồ đệ sống trong một khu vườn, chỉ thỏa mãn vừa vặn những nhu cầu rất cần yếu. Épicure chỉ ăn vừa đủ sống, uống nước lã. Cuối cùng, ông đã chết một cách trong sạch, sau khi đã chịu đựng một cách gan dạ những dày vò của một cơn bệnh tàn khốc.
         Hiền nhân (le sage) của Épicure trước hết phải là người sống đạm bạc và giản dị. Họ không tham “ngon” và không tham “đẹp” để tránh khỏi bị biến thành nô lệ. Họ không xem cái chết dưới bộ mặt của ác quỉ, cũng không xem chết là một sự cứu rỗi. Trước cái chết, hiền nhân của Épicure rất thản nhiên, vì cái chết, đối với họ chỉ là một sự kiện, một hiện tượng rất giản dị, nó hủy diệt ở người ta mọi cảm giác muôn mặt. Cái chết không có uy lực nào có thể làm cho ta hoảng sợ, hơn thế, không có quan hệ gì đến ta cả.
         Đồ đệ Épicure biết rằng sự đau khổ của người, nếu là sự đau khổ cực độ, thì không bao giờ ray dứt lâu ngày, còn nếu là nỗi đau khổ tầm thường, thì ta đều có thể chịu đựng được cả. Bởi thế, họ chịu đựng đau khổ một cách gan dạ. Nếu họ gặp phải những cảnh ngang trái, họ lại khôn khéo sống lại những kỷ niệm vui sướng trong những ngày hạnh phúc.
         Đồ đệ Épicure nuôi dưỡng, chăm chút tình bạn hữu, đem lại cho lòng người những tình cảm êm ái, trìu mến làm cho cuộc đời trở nên êm đẹp. Họ còn là những người đức hạnh, say sưa với đạo đức vì họ hiểu rằng mỗi khi làm một việc thiện, bao giờ người ta cũng cảm thấy hài lòng, khoan khoái. Hạnh phúc và đức hạnh phải đi đôi: một kẻ bất lương, vô hạnh, bị xã hội trừng trị, lương tâm giày vò không thể có hạnh phúc. Họ còn biết hạnh phúc chính là sự an tâm. Đồ đệ Épicure không tự cho phép mình sống bừa bãi, phóng túng. Chính Épicure đã nói trong thư gửi cho Ménécée:
         “Người ta không thể sung sướng nếu không khôn ngoan, can đảm, công bình và chừng mực mà không sung sướng”.
         Đồ đệ của Épicure luôn luôn công bình, vì phạm một bất công, người ta không bao giờ được an tâm, cái an tâm cứu cánh của triết nhân. Kẻ bất công nếu không bị xã hội trừng phạt thì cũng bị lương tâm cắn rứt, nó phiền nhiễu người ta vô cùng. Mà kẻ đương bị phiền nhiễu thì không thể sung sướng, không có khoái lạc. Đồ đệ Épicure muốn được luôn luôn sống trong khoái lạc, tất nhiên phải khôn khéo tránh xa mọi sự phiền não. Họ làm đủ mọi cách để giữ lòng lúc nào cũng thanh bình, như thể lòng những đứa trẻ khi lên giường ngủ.
         Trong những khoái lạc, họ lại cẩn thận chọn những khoái lạc lâu bền và thanh cao nhất.
         Đó là hình ảnh và tư cách đồ đệ của Épicure.

Học thuyết luân lý Épicure như thế nào?
         Học thuyết Épicure là học thuyết của “khoái lạc tối thượng”. Điều ấy không còn ngờ vực. Épicure tuy theo học Xénocrate(2) ở Nhã Điển, nhưng lại chịu ảnh hưởng rất nhiều của triết học Démocrite, một triết gia Hy Lạp, sống trước ông mấy thế kỷ là người đã chủ trương rằng: người ta phải tìm hạnh phúc trong sự chế ngự và điều hòa dục vọng. Bởi thế, nhiều người nói đúng rằng chính trong học thuyết Démocrite, Épicure đã tìm nguồn gốc của chủ nghĩa “khoái lạc”.
         Cũng gần giống Khổng Tử ở Đông phương, Épicure chỉ chú trọng đến cuộc sống nhân sinh. Ông cho rằng có thần thánh đấy, nhưng thần thánh không chăm lo gì đến loài người cả. Tin như thế, nên đối với ông, những nền luân lý cơ sở trên tôn giáo xưa nay, không những không có ích lợi gì cho đời sống nhân sinh, lại còn gieo rắc lòng mê tín,(3) lòng hoài nghi, làm cho linh hồn người ta luôn luôn ngờ vực, rối loạn, không bao giờ được thanh tĩnh. Người khôn ngoan là kẻ hiểu rõ điều ấy để giải thoát khỏi cái vòng mê tín ác hại quấy nhiễu linh hồn. Bởi vậy mà Épicure công kích tất cả những nền luân lý miệt mài tìm nguyên tắc xử thế, hành động trong tôn giáo mà ông vẫn cho là vừa mơ hồ vừa sai lầm. Bảo loài người hãy tìm nguyên tắc hành động trong tôn giáo, theo tư tưởng Épicure, cũng lầm lạc như khi ta giao bệnh nhân cho kẻ lười biếng. Nguyên tắc đầu tiên của học thuyết Épicure là giữ lòng thanh tĩnh. Muốn lòng thanh tĩnh, người ta cần phải dẹp bỏ mọi tư tưởng vô ích, mơ hồ.
         Ngoài ra, Épicure còn công kích tất cả những nền luân lý cơ sở trên lý trí. Những nguyên tắc luân lý thoát thai từ lý trí cũng đều hão huyền, không phù hợp được với thực tế nhân sinh.
         Với Épicure, chỉ có một sự thật duy nhất: ấy là bản chất chúng ta, và những cảm giác của nó mà thôi. Không có gì thực hơn chính chúng ta, cũng không có gì thực hơn những cảm giác mà chúng ta cảm thấy. Cho nên, đối với Épicure, đường đi thích hợp nhất của con người, đường đi thực tế chứ không viễn vông mơ hồ, mà cũng là đường đi duy nhất, đó là đường đi theo bản chất con người, và tuân theo sự hướng dẫn của bản chất. Đi theo bản chất, ta sẽ thấy một sự thật sau này: “Chỉ duy nhất sự khoái lạc là thích hợp với chúng ta”.
         Vì lẽ trên, con người tìm kiếm khoái lạc, đối với bản chất con người là tự nhiên, xuôi thuận như giòng nước chảy xuôi, như chiếc buồm thuận gió. Đường thuận, con người không đi, lại kỳ khu tìm đến những lối quanh, đường dốc, chẳng phải miễn cưỡng, trái tự nhiên sao?
         Épicure đã dõng dạc bảo:
         “Hãy đi tìm khoái lạc”. Nhưng khoái lạc là gì? Theo ông, khoái lạc là cái cảm giác mà chúng ta cảm thấy mỗi khi ta thỏa mãn được một đòi hỏi của nhu cầu của bản chất. Quan niệm như thế thì khoái lạc, theo tư tưởng Épicure là cái gì rất thường, rất xoàng nữa. Ta được một khoái lạc, khi khát, ta được một ly nước để uống, được một khoái lạc, khi đói, ta có một bát cơm… Trong các khoái lạc, phải kể trước hết đến khoái lạc vật chất. Chính Épicure đã đặt đúng giá trị của khoái lạc vật chất mà chúng ta, nhiều người vẫn xem thường. Ta hãy nghĩ xem, đối với kẻ đói còn gì hơn một bát cơm, mà hằng ngày mọi người vẫn ăn?(4)
         Nhưng con người, bên cạnh những khoái lạc vật chất, còn có những khoái lạc bao la hơn: khoái lạc của linh hồn. Bao la hơn, vì trong lúc thể xác chỉ biết được hiện tại, linh hồn lại có thể sống trở lại những kỷ niệm đã qua trong dĩ vãng hoặc đoán trước tương lai.
         Theo Épicure, một cuộc đời sung sướng là một cuộc đời, chứa đầy những khoái lạc. Hay có thể nói: khoái lạc và chỉ có khoái lạc mở đầu và kết thúc một cuộc đời sung sướng. Những kẻ không được hưởng những khoái lạc nào quả quyết là những kẻ khốn khổ nhất trong đời này. Quan hệ đến thế trong cuộc sống nhân sinh, khoái lạc phải là kẻ hướng đạo duy nhất dìu dắt hành động con người.
         Lại cũng vì lẽ, khoái lạc của linh hồn có mắt để nhìn được dĩ vãng và tương lai mà người ta phải chú trọng đến nó, chú trọng đến nó mà không bao giờ lạc hướng rằng: “Kẻ sung sướng là kẻ có tấm lòng thái nhiên vô sự”. Có lòng thái nhiên vô sự phải là kết quả của những sự suy tính khôn ngoan, khéo kéo, của những đức tính giản dị và chừng mực. Ta chớ nên để bất kỳ thứ khoái lạc nào cũng có thể lôi kéo ta dễ dàng như ánh sáng quyến rũ phù du. Tôn thờ và tìm kiếm khoái lạc, ta phải hiểu rằng nhắm mắt đua theo mọi khoái lạc chỉ tổ làm mất cả khoái lạc. Chắc chắn người ta sẽ mất tấm lòng thanh bình là một khoái lạc lâu bền. Nếu không khéo đắn đo, suy tính, đua theo khoái lạc, ta sẽ bị sớm đưa đẩy đến những sự đau đớn về thể xác, đau khổ trong tâm hồn.
         Tự đấy đưa đến một vấn đề. Tôn thờ khoái lạc, nhưng muốn được hưởng khoái lạc lâu bền, thực sự, phải biết cách tìm khoái lạc.

Tìm khoái lạc bằng cách nào?
         Tìm khoái lạc bằng cách nào là vấn đề của phương châm hành động mà Épicure đã đề ra căn cứ trên sự khéo léo và chừng mực ta đã nói trên. Khoái lạc nào đáng tìm đến, khoái lạc khoái lạc nào nên tránh đi?
         Để trả lời, Épicure nêu bốn phương châm có thể tùy trường hợp áp dụng:
         1.– Có những khoái lạc thuần túy: gọi thuần túy vì nó không bao giờ đem đến cho ta sự phiền não dù lớn nhỏ. Những khoái lạc thuộc loại này nên cố mà đạt đến. Ví như ta nên đạt đến cái khoái của an tâm.
         2.– Những điều gì có thể làm phiền ta mà không đem đến một khoái lạc nào thì hãy tránh đi. Kẻ chạy chọt để được một địa vị không phải là một kẻ khôn ngoan.
         3.– Tránh những cuộc giải trí, những khoái lạc có thể gây cho ta nhiều bận tâm phiền muộn, hay có thể làm cho ta không hưởng được một khoái lạc khác khoái lạc hơn. Những người tìm lạc thú trong rượu, thuốc phiện hẳn đều thấy rõ những lạc thú này chỉ làm cho họ thêm bận tâm. Những nỗi chán chường hay hối hận mà những kẻ phóng đãng thường cảm thấy sau những cuộc truy hoan cũng đáng để ta suy nghĩ.
         4.– Cuối cùng hãy nhận lấy những sự bận tâm phiền phức nào giúp cho ta thoát khỏi một phiền phức khác còn phiền phức hơn, hay nhận những phiền phức có thể đem lại một khoái lạc lớn. Đối với Kiều Nguyệt Nga(5) trốn khỏi nhà Bùi Ông để dấn thân vào những ngày vô định là phiền đấy, nhưng nàng đã chọn đường ấy là cốt để tránh sự phiền phức đau khổ lớn hơn là phải kết hôn cùng Bùi Kiệm. Nguyễn Đình chiểu đã không nhận tiền trợ cấp của Chánh phủ bảo hộ Pháp, thích sống thanh bần để được an tâm sung sướng, cũng là một lối xuất xử hợp phương châm luân lý Épicure.
         Qua những phương châm luân lý ấy, ta thấy để được hưởng khoái lạc, đồ đệ Épicure phải “tính toán kỹ càng”, nghĩa là phải khéo léo, khôn ngoan.
         Và để giúp cho hành động, Épicure đã chia những ham muốn của người ta làm ba loại:
         1.– Những ham muốn tự nhiên và cần thiết. Loại ham muốn này là những nhu cầu nhắm thỏa mãn những ham muốn, đòi hỏi tối thiết của cơ thể. Con người đói ăn, khát uống. Ăn uống cho người ta những khoái lạc rất tự nhiên mà tạo hóa đã phú cho, không thể từ bỏ đi được. Loại nhu cầu này vì rằng tự nhiên và cần thiết nên phải được thỏa mãn luôn luôn.
         2.– Những ham muốn tự nhiên và không cần thiết. Loại này khiến người ta không những phải ăn, phải mặc mà còn khiến muốn ăn “ngon”, mặc “đẹp”. Ăn mặc là ham muốn tự nhiên và cần thiết, “ngon và đẹp” không cần thiết. Tuy nhiên, hiền nhân cũng có thể thỉnh thoảng cho phép mình hưởng được, nhưng chỉ thỉnh thoảng thôi. Vì rằng tìm ngon, tìm đẹp rất dễ thành thói quen. Mà khi đã thành thói quen, nó biến chúng ta trở nên nô lệ nó.
         3.– Những ham muốn không tự nhiên mà cũng không cần thiết. Những ham muốn này chỉ do trí tưởng tượng, ý kiến hoang đường của loài người bày đặt ra. Đó là lòng ham muốn của những kẻ “hoặc chết, hoặc làm vua”, của những kẻ tranh giành địa vị thích mang huy chương, ưa nổi danh, ưa cai trị, ưa giàu có. Loại ham muốn này không những không cần mà còn không bao giờ thỏa mãn được vì lẽ “lòng tham không đáy”, ham muốn không chừng. Kẻ khôn ngoan chớ để buông trôi theo loại ham muốn này vì chỉ tổ làm ta phải phiền.
         Tới đây, ta thấy học thuyết Épicure về khoái lạc cũng rõ ràng như một bài toán. Con người càng có nhiều ham muốn, nhiều thói quen thì càng khổ sở. Ta chỉ nên tuân theo tự nhiên mà chớ thúc ép tự nhiên, chớ tưởng tượng hoang đường mà làm cho cuộc sống mất cả lạc thú.

Phê bình học thuyết Épicure
         Con người, tuy là của xã hội, nhưng còn là con người trong vũ trụ. Chỉ chú trọng đến tính chất xã hội của con người như Épicure là một thiếu sót lớn. Cũng như người ta đã tìm cách bỏ siêu hình, nhưng con người vốn là siêu hình. Vì thế, nền triết học nào chỉ nói đến cuộc sống nhân sinh mà thôi, không thể thỏa mãn được con người, không giải đáp được mọi bận tâm của con người. Chớ nên tách rời con người khỏi vũ trụ, vì không ai có thể nói đến con người ngoài vũ trụ mà cho là đúng đắn được.
         Khoái lạc, đối với Épicure dù tối thượng nhưng muốn đạt đến phải tính toán khôn ngoan, như thế tức là người ta chỉ đạt được khoái lạc vì “lý trí”. Bởi không lý trí, dù tôn thờ khoái lạc cũng không tài nào đạt đến. Bởi vậy, có thể nói luân lý Épicure là “luân lý vừa của khoái lạc vừa của lý trí”. Nhưng cuộc đời không phải là bài toán khô khan. Con người lại cũng không phải là một cái máy toán mà kỳ thật rất phức tạp nhưng cũng rất tế nhị, rất can trường nhưng cũng rất mềm yếu, để tóm một tiếng, người là một con “vật linh”. Nói một cách quá giản dị về con người như Épicure, không những không thấu đáo lại có thể làm xáo trộn cuộc sống nhân sinh, và hạ thấp giá trị con người.
         Xem khoái lạc vị kỷ là mục đích cuối cùng của đời sống, khó nói rằng tâm hồn được thanh cao. Chỉ tìm khoái lạc cho mình, người ta dễ trở nên ích kỷ, và chỉ tìm lạc thú trong đời dễ đưa người ta đến hành động sai lầm. Nghĩ tới hưởng thụ hạnh phúc trước khi nghĩ đến bổn phận, nghĩ đến lợi lộc trước khi đến trách nhiệm, không phải là những lời khuyên hay ho của luân lý. Người chỉ biết đến hạnh phúc của mình khó mà nói đến hy sinh. Những tâm hồn vị kỷ không những không giữ nguyên được khả năng, sinh lực của nó mà còn làm cho nó héo mòn. Chỉ có thể phát triển đến cùng cực khả năng của tâm hồn bằng cách nhiệt thành phụng sự một cái gì ngoài nó và cao hơn nó.


Hào-Nguyên NGUYỄN HÓA

________________________________________________
(1) Épicure: triết gia Hy Lạp, có lẽ sinh tại Samos vào năm 341 trước T.C. và chết năm 270 trước T.C. Ông chịu ảnh hưởng học thuyết Démocrite là một triết gia Hy Lạp sống vào khoảng thế kỷ thứ năm trước T.C.
(2) Xénocrate, triết gia Hy Lạp, sinh ở Chalcédoine (406-314 tr. T.C.) đồ đệ của Platon.
(3) Mê tín: ở đây xin hiểu theo nghĩa từ nguyên, tin theo một điều gì một cách cuồng nhiệt, gần như mù quáng.
(4) Để làm tài liệu suy luận, chúng tôi chép lại đây đoạn văn của Thạch Lam nói Sinh, một nhân vật trong “Gió đầu mùa”, cảm thấy đói: “Khi còn đủ ăn, đủ mặc, chàng không hề để ý đến cái đói, không bao giờ nghĩ đến. Bây giờ chàng mới được hiểu biết cái đói như thế nào. Chàng rùng mình khi nghĩ đến trước cái mãnh lưc của sự đói, chàng cảm thấy sự cần dùng của thân thể trấn áp được hết cả lệ luật của tinh thần”.
(5) Nhân vật trong Lục Vân Tiên.


BÁCH KHOA |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 29/12/2017, 19:17:07


                      Tráng sĩ hành

          “GIÓ đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê,
            Tráng sĩ một đi không bao giờ về!”*
            Tay nâng chén rượu giã người cũ,
            Miệng đọc câu ca, chân bước đi.
            Dao tình mài liếc với thanh khi,
            Chí hùng tung bốc đầy sơn khê,
            Nghe tiếng đờn trúc rõ réo rắt,
            Mặc cho kể hết niềm phân ly.

            NIỀM phân ly!
            Đã bước chân đi khôn hẹn kỳ.
            Đời người bất quá vị tri kỷ,
            Sống, chết, nên, chăng, ai sá chi!
            Túi áo xênh xang ba tấc kiếm,
            Bụi hùng dong ruổi đôi bánh xe.
            Ngảnh lại thành Yên đầy uất khí,
            Thấu lòng họa chỉ người tương tri?

            NGƯỜI tương tri,
            Lá gan bầu mật, cùng nhau thề:
            Thề đem tấm thân tới giang hồ,
            Giết con cọp dữ rừng man di.
            Đời nếu chôn lấp hết công lý,
            Anh hùng hào kiệt còn ra gì!
            Phá núi Thái Sơn, lấp Đông Hải;
            Ấy là phận sự đàn nam nhi.

            ĐÀN nam nhi,
            Chuyển đất xoay giời thường có khi.
            Khuyên ai chớ học bạn khăn yếm:
            Xa nhau một bước lệ đầm đìa.
            Liếc mắt khắp trong vũ trụ đó,
            Đâu không là cảnh ta say mê!
            Chếnh choáng hơn men bốc chính khí,
            Ngâm câu khẳng khái mình ta nghe…

          “GIÓ đìu hiu sông Dịch lạnh lùng ghê,
            Tráng sĩ một đi không bao giờ về”.


                                                 T. T. K.
                                                (Phú Lâm)

___________________________________________
* Kinh Kha vì vua nước Yên, sang Tần để hành thích vua Tần. Khi ra đi, vua Yên cùng mọi người tiễn chân đến sông Dịch Thủy. Có người bạn Kinh Kha thổi cây đờn trúc. Kinh Kha liền hát khúc lên đường. Trong khúc hát có hai câu theo nghĩa dịch ra đây, nhân nối thêm vào làm bài Tráng sĩ hành.


BÁCH KHOA |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 29/12/2017, 22:43:54


      Một đêm giao thừa, nằm, đợi tiếng Gà

            Quyết thức đêm nay, đợi tiếng Gà,
            Tiếng gà năm Dậu sưởi tình ta.
            Hai chân trai trẻ nào thua Bạn,
            Một kiếp râu mày há thẹn Cha.
            Chí ấy còn lâu, lâu mới thỏa,
            Lòng đây nay vẫn, vẫn chưa già.
            Vậy nên, sắp sẵn lên Đường Sáng,
            Và nhớ: dừng chân, NHỤC chẳng tha.


                                            NGUIỄN HỮU NGƯ


BÁCH KHOA |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 29/12/2017, 22:55:23


                    Mài dao dạy vợ
Kịch ngắn bằng thơ vui viết theo một tích chèo cổ

Cảnh nhà một gia đình bần nông. Sân khấu bài trí cổ sơ.
Khi đổi động tác không buông màn.


NHÂN VẬT:
Người mẹ chồng: 60 tuổi
Người chồng: 29 tuổi
Người vợ: 28 tuổi

MẸ CHỒNG (Xỉ vào nàng dâu)
     Nầy con kia!
     Mầy làm rả cái nia,
     Mắng, mầy lại xon xỏn,
     Sao không sợ người chê?
     Mầy còn dữ thì về!

NÀNG DÂU
(Mặt quặm, giọng sân si)
     Ai chê thì cứ việc chê,
     Bà ác tôi cự, chớ hề thèm ra.
     Thương chồng phải lụy mụ gia.
     Gẫm tôi với mụ có bà con chi.

MẸ CHỒNG
(Trợn trừng lên, rút chổi toan đánh dâu)
     Tao cho mầy biết tay,
     Nhớ mãi ngày hôm nay,
     Chổi chà trị dâu dữ.
     Nầy, mở mắt xem này…

NÀNG DÂU
(Rút song hồng để tự vệ)
        Chồng dữ thì ta mới lo,
Mẹ chồng mà dữ, mổ bò ăn khao.
        Giỏi đánh thì đánh xem nào,
Chổi chà bổ xuống thì sào quất lên.

CHỒNG
(Sợ hãi, nhảy ra đứng giữa hai người)
     Con lạy mẹ,
     Tôi xin mợ,
     Vừa vừa thôi.
     Xóm giềng quở.

MẸ CHỒNG
(Quăng chổi)
     Đời quỷ, đời yêu, đời tinh, đời ma,
     Mình mới nói một, dâu trả lại ba.

NÀNG DÂU
(Cất song hồng)
     Người gì hủ lậu, ỷ thế mụ gia.
     Hễ mở miệng thì mắng chưởi người ta.

CHỒNG
     Trời ơi, trời hỡi!
     Xui chi nên nỗi!
     Mẹ, vợ găng nhau.
     Đứng giữa biết sao,
     Trên hòa dưới thuận!


(Cả ba đều vô buồng.)
(Người chồng lại trở ra một mình)

CHỒNG
     May cha chả là may,
     Mình nghĩ ra một kế,
     Suy kỹ lại rất hay.
     Thiết kế quỷ hôm nay,
     Cho gia đinh êm ấm!


(Ngồi xuống lấy ra một con dao rồi tay mài miệng hát)

CHỒNG (Hát)
     Tay cầm con dao,
     Làm sao cho sắc,
     Để mà dễ cắt,
     Để mà dễ chặt,
     Mẹ, vợ hục hặc,
     Thiệt ngặt quá chừng.


(Nàng dâu ra, thấy chồng mài dao, nhìn giây lát rồi hỏi)

NÀNG DÂU
     Sao anh chẳng mài dao dâu,
     Đặng cho bén, hầu hái lá,
     Sao anh không mài dao cá,
     Đặng em cạo vảy rô don,
     Anh mài chi chiếc dao con,
     Cho tốn công lại hao sức?


(Chồng vẫn làm thinh tiếp tục mài)

NÀNG DÂU (Hỏi tiếp)
     Hay là anh đâm sợ cực,
     Cho nên quyết định đổi nghề?
     Anh không ngại họ cười chê,
     Muốn thiến heo thiến chó?


(Chồng cứ làm thinh mài không nghỉ tay)

NÀNG DÂU
     Hứ, cái anh này.
     Hóa câm rồi đây.
     Thôi thì mặc kệ;
     Ai thèm hỏi nhây.


(Nàng vô buồng. Giây lát trở ra. Nàng ngạc nhiên
trố mắt nhìn chồng đang cầm con dao mà đâm
vào khoảng không, như đâm một kẻ vô hình nào)

NÀNG DÂU (Hơi sợ hãi)
     Anh nầy hóa điên
     Tay đâm liền liền
     Mà không địch thủ,
     Tại sao làm dữ,
     Nói thật em nghe?

CHỒNG
     Lại đây em cưng,
     Tò mò quá chừng!
     Nói riêng em biết,
     Bép xép xin đừng.
     Em ôi, dao nầy là dao bất nhân,
     Anh dùng đâm mẹ nát thân cho rồi.

NÀNG DÂU
(Kêu rú lên một tiếng: Trời! rồi hả miệng nhìn chồng)

CHỒNG (Mặt buồn dàu dàu)
     Em ôi, công chín tháng nặng mang đau khổ,
     Hai mươi mấy năm ròng dạy dỗ con yêu.
     Tình mẫu thân, anh đây thương biết bao nhiêu,
     Mà, nay anh anh phải đánh liều một chuyến.
     Ấy cũng bởi mẹ anh hay đay, hay nghiến,
     Bà mãi ác tâm cứ sanh chuyện hằng ngày.
     Mắng chưởi luôn và hành hạ vợ anh hoài,
     Chịu sao thấu, anh phải ra tay mới được.

NÀNG DÂU
(Khóc ngất)
        Tai nghe, tay bỗng rụng rời,
Đang tay giết mẹ trời ơi! sao đành!
        Anh ôi, em van lạy anh!
Bất hiếu tội ấy xấu anh muôn đời.
        Nào khi từ mẫu ù… ưa…
Miệng nhai cơm bún, lưỡi lừa cá xương.
        Nào khi anh ốm trên giường,
Chạy thầy thang thuốc trăm phương bao nài.
        Ấm no thuở bé nhờ ai,
Bây giờ lại nỡ xuống tay giết người.

CHỒNG
        Một mình đứng giữa trung ương,
Bên tình bên hiếu biết thương bên nào.
        Anh thương em lắm làm sao?

NÀNG DÂU
     Cũng bởi em ngỗ nghịch,
     Cho nên mẹ gắt gao.
     Xin anh bớt giận nào,
     Từ đây em nhỏ nhẹ,
     Xin anh thương lấy mẹ.
     Em thề nguyền tu thân,
     Mẹ có ác bao phần,
     Cũng phải êm dịu lại.

CHỒNG
        Lời vàng vợ quý vừa phân,
Nghe qua nghĩ lại mười phần vui sao!
        Thôi thôi, anh cất con dao,
Án mẹ treo đó về sau thi hành.


(Vợ vô buồng. Chồng lại ngồi xuống vừa mài dao vừa hát)

CHỒNG (Hát)
     Tay cầm con dao,
     Làm sao cho bén,
     Để mà dễ chém,
     Để mà dễ đâm.


(Người mẹ ra, nhìn con giây lát rồi hỏi)

MẸ CHỒNG (Hỏi)
     Mi mài làm chi,
     Con dao nhỏ ni?

CHỒNG
        Làm trai dạy vợ chẳng xong,
Giết chết con ấy mổ lòng mà ăn.
        Ăn rồi cái xác đem quăng,
Diều tha quạ mổ ruồi lằng nó bu.

MẸ CHỒNG
(Run lập cập)
     Mầy có hóa điên chăng?
     Mà đâm ra nói xằng?
     Vợ mầy có làm nhăng,
     Thì bền lòng dạy nó,
     Nó làm lụng như chó,
     Chớ sung sướng gì đâu?
     Nên nó mới càu nhàu,
     Trả treo lời mẹ mắng.

CHỒNG
     Vợ con nó cứng đầu,
     Dạy đã biết bao lâu,
     Mà nó cứ mắng mẹ,
     Con nghĩ thật phát rầu.

MẸ CHỒNG
     Tao cũng quá gắt gao,
     Xử tệ với con dâu,
     Thiệt tao rất ân hận,
     Tao nhứt quyết ngọt ngào.

     (Nghĩ giây lát lại nói)
        Vợ mầy con gái người ta,
Cưng như trứng mỏng, gả qua nhà mình.
        Dầu cho không nghĩa không tình,
Nỡ nào đem thí sanh linh của người.
        Với tao, chiếu trải trầu mời,
Với mầy, áo rách nó thời vá ngay.
        Phụng thờ chồng, mẹ ai tày,
Suy đi nghĩ lại biết ai hơn giờ.

CHỒNG
        Thôi thôi dao nọ cất hờ,
Vợ con còn dữ, con quơ chém liền.

MẸ CHỒNG
        Tao tin là nó sẽ hiền,
Tao ngọt, tao dịu, nó kiên chớ gì.

NÀNG DÂU
(Ra bưng mâm cơm cung kính mời)
     Thưa má,
     Giờ đã trưa quá,
     Mời má ăn cơm,
     Hôm nay có cá.

MẸ CHỒNG
        Nhìn mâm xúc cảm lòng già,
Thương dâu khó nhọc lụy sa khôn cầm.

CHỒNG
        Tình thân ủ kín âm thầm,
Hôm nay bừng dậy đúng nhằm ngày vui.
        Ngày nầy năm ngoái kết đôi,
Năm nay hòa thuận mừng thôi là mừng!


                                BÌNH NGUYÊN LỘC


BÁCH KHOA |  SỐ 6

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 01/01/2018, 18:44:05
BÁCH KHOA |  SỐ 7  [15 tháng Tư  1957 |  92 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Phụ trương |  i-viii
Huỳnh Văn Lang |  Chánh sách tiền tệ |  1-5
Hoàng Minh Tuynh |  Luận về chế độ dân chủ |  6-8
Phạm Ngọc Thảo |  Vấn đề học tập văn hóa trong quân đội |  9-11
Bách-Khoa |  Câu chuyện trái cam của Lưu Cơ |  11
Mỹ Quý (lược dịch) |  Hai giai đoạn của chủ nghĩa quốc gia \ Maurice Duverger |  12-13
Võ Thu Tịnh |  Tìm hiểu Quốc cơ Pantja Sila của Cộng hòa Nam Dương |  14-25
Bách-Khoa |  Ngu hay khôn |  25
Nguyễn Tử Quang |  Lý thuyết và thực hành |  26-28
Bách-Khoa |  Quan niệm của Mặc Tử về “trung thần” |  28
Minh Phong |  Sơ lược phong trào giải phóng phụ nữ thế giới |  29-32
Bách-Khoa |  Bà già xứ Syracuse và vua Denys L’Ancien |  32
Nguyễn Hiến Lê |  Vấn đề dịch văn |  33-38
Phạm Thị Khánh Trang |  Lá thơ Mỹ quốc |  39-42
Trực Định (dịch) |  Giuda, kẻ bán Chúa \ Giovanni Papini |  43-46
Từ-Quyên Đặng Văn Nhâm |  Vài ý kiến về Giáo dục mỹ thuật tại các cấp Trung, Tiểu học |  47-50
Bách-Khoa |  Thế nào là đại trượng phu |  50
Thuần Phong |  Duyên hội ngộ trong câu hò miền Nam |  51-56
Bách-Khoa |  Cũng là khôi hài |  56
Quách Tấn |  Chút lòng (thơ) |  57
T. D. K. |  Chuyến về quê tôi… (thơ) |  58
Quảng cáo |  59-61
Nguyễn Kim Thanh (trích dịch) |  Anna Frank một cuộc đời và một vở kịch \ Paris-Match số 395 |  62-68
Quảng cáo |  69-76
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [IV] (truyện dài) \ Từ Vu |  77-79
Quảng cáo |  80-84


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204212743-282ec461ddf027202306f556abfe2d0d/jpg/page_1_thumb_large.jpg)


Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 01/01/2018, 18:56:24


Luận về chế độ dân chủ
000
      Khởi sự từ số này, chúng tôi cho ra mắt quí vị độc giả một thiên luận về chế độ dân chủ theo hai khuynh hướng hiện nay đối lập nhau và chia nhau ngự trị trên đàn chính trị thế giới.
      Đó là khuynh hướng cổ điển và khuynh hướng mác-xít. Cố nhiên là sau đó, chúng tôi sẽ có kết luận và phê phán về cả hai khuynh hướng nói trên.
      Để viết thiên luận về chế độ dân chủ chúng tôi đã tham khảo những sách của các ông A. Esmein, J. Barthélémy, J. Laferrière, M. Pelot, G. Burdeau, M. Duverger và nhất là G. Vedel. Tác phẩm của vị giáo sư sau này là căn cứ trọng yếu nhất của chúng tôi trong số các tài liệu chúng tôi đã dùng làm căn cứ, có nhiều đoạn, chúng tôi đã trích nguyên văn. Để tránh sự rườm rà và để khỏi làm rộn mắt người đọc, chúng tôi dụng ý bỏ những lời chua xuất xứ, mong quí vị hiểu và lượng cho.


○ ○ ○

HIỆN NAY có hai điều nhận xét sau đây ta nghiệm thấy rất đúng.
         Điều thứ nhất là trong các nguyên tắc người ta căn cứ để điều hành công việc quản trị quốc gia, nguyên tắc dân chủ, bề ngoài, coi như được mọi người tán đồng. Hầu hết các chế độ chính trị đều cao rao mình theo nguyên tắc dân chủ, trong khi các chế độ đối lập cũng tuyên bố theo nguyên tắc dân chủ không kém. Trên bình diện quốc tế và cứ theo các lời người ta tuyên bố, ta có thể coi như dân chủ là một cái gì chính thống, có tính chất một chính nghĩa, y như ngày xưa cổ nhân coi quân chủ là một cái gì thiêng liêng, bất khả xâm phạm và có thể hy sinh mọi sự, kể từ tính mạng mình, và lấy làm thỏa mãn, vinh hạnh nếu được hy sinh tất cả cho nó. – Cuộc chiến tranh 1939-1945 chính là cuộc tranh đấu của một mặt trận dân chủ chống lại các chế độ phản dân chủ, mệnh danh dưới một tiêu đề chung là chế độ phát-xít (mặc dầu từ chế độ phát-xít chính-cách tới chế độ quốc gia xã hội Đức và chế độ tài-phiệt và quân-phiệt Nhật có nhiều điểm dị đồng quan trọng). – Bởi vậy nguyên tắc dân chủ có thể coi như đã thắng chẳng những về phương diện tư tưởng, mà còn toàn thắng về phương diện thực tế, cụ thể, sau cuộc tranh hùng trong thế giới mới rồi.
         Điều nhận xét thứ hai là cũng một danh từ dân chủ, người ta hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, và có quan niệm về chế độ dân chủ. Chỗ khác nhau ấy không phải chỉ nguyên ở một vài điểm dị đồng không quan trọng trong tư tưởng, hoặc trong một vài chi tiết về định chế. Sự tranh biện rất kịch liệt đối chọi nhau trong những điểm căn bản, và hiện nay đóng vai trò chính trên đàn chính trị quốc tế và nhiều khi trên đàn chính trị quốc nội của nhiều nước nữa.
         Thành ra người ta tuy đồng quan điểm với nhau về thuyết dân chủ mà chống đối nhau về nghĩa dân chủ.
         Muốn giải quyết những khó khăn trên, muốn tìm hiểu vì đâu lại có những mâu thuẫn đó, ta phải dùng những phương pháp nào? Phương pháp hay nhất có lẽ là phải xét, trong thực tế, chế độ dân chủ đã phát sinh, đã thực hiện bấy nay thế nào, và hiện đang thực diễn ra sao? Nhờ cuộc “điều tra” này, ta có thể thấy rõ cuộc xung đột giữa các quan niệm về chế độ dân chủ một thêm sáng tỏ dần.
         Tuy nhiên, trước khi mở cuộc “điều tra”, có bốn điều cần phải được minh xác, nhận định trước:
         Thứ nhất là mục đích của thiên khảo sát này là kiểm điểm lại các quan niệm chính về triết lý hay chính trị nguyên là nguồn gốc phát sinh ra các chế độ tự nhận là dân chủ; đồng thời kiểm điểm lại các định chế do từ các quan niệm ấy biểu hiện nên, hay nói rõ hơn, kiểm điểm lại các cơ cấu người ta đã dựa vào các quan niệm ấy mà thiết lập nên.
         Thứ hai là từ 150 năm trở lại đây, lịch sử dường như tiến theo một khuynh hướng phát triển đặc biệt, theo khuynh hướng ấy thì kẻ bị trị (đối với người thống trị) ngày càng được tham dự trực tiếp vào công việc quản trị quốc gia. Theo một định nghĩa đã được nổi tiếng, thì chế độ dân chủ là chế độ trong đó công việc quản trị quốc gia là của nhân dân, do nhân dân làm lấy và làm cho nhân dân. Mặc dầu quan niệm đó xác đáng hay không, sự tiến triển trên được coi như tiến triển của nhân loại trên đường tự do.
         Thứ ba là trong cuộc trường chinh của kẻ bị trị tiến tới chỗ nắm các quyền bính và tự do, hình như từ đầu thế kỷ XX, đúng hơn là từ cuộc cách mạng Nga năm 1917, các ý niệm dân chủ đã thấy có chỗ khác nhau. – Trước đó thì trong công cuộc thực hiện lý tưởng dân chủ, nhiều nước dường như căn cứ trên một cương yếu tư tưởng, nếu không đồng nhất, thì cũng qui về một mối; các định chế, về chi tiết, có khác nhau nhưng tựu trung đều cùng phát xuất tự một nguồn cảm hứng giống nhau và về đại thể không có gì là khác nhau cả. Trào lưu dân chủ cho tới thế kỷ XX, gồm nhiều chi lưu, và mỗi ngày có thêm nhiều chi lưu mới, nhưng vẫn giữ đồng chất với nhau. Trái lại, khi chế độ Sô-viết xuất hiện, nhất là từ khi chế độ ấy được củng cố và bành trướng khắp hoàn cầu, thì ta bị đặt trước một trào lưu thứ hai mà trào lưu này dường như không có gì dính dáng với trào lưu thứ nhất mà cũng không qui về một mối với trào lưu thứ nhất nữa. Thật ra thì trào lưu thứ hai không phải mới hơn trào lưu thứ nhất, nhưng trong bước đường tiến của nó trong thế kỷ XX, người ta không thấy nó bầy rõ ra ngoài mà như chìm bên dưới vậy.
         Thứ tư là rất khó tìm được một danh từ thật đúng để chỉ hai quan niệm dân chủ đang đối lập nhau. – Hiện nay, người ta vẫn thường dùng hai tiếng “tây” “đông” để phân biệt hai quan niệm ấy, nhưng cái tên gọi theo địa lý chỉ có tính cách hình thức bề ngoài. Nhiều tên gọi khác lại tùy sự phê phán của mỗi bên về giá trị của đối phương theo như mình tưởng, và, bởi vậy thiếu hẳn tính cách khách quan: như “dân chủ hình thức” và “dân chủ thực sự”, dân chủ giả và dân chủ thực. – Nhiều tên gọi khác lại như có ý tóm tắt thật ngắn lại nhưng phương thức gồm nhiều sắc thái phức tạp mà không sao thu được hết ý, như “dân chủ tự do, dân chủ cá nhân” đối với “dân chủ xã hội, dân chủ đại chúng”, trong khi cả hai bên cùng tự khoe mình phụng sự tự do, cá nhân và quảng đại quần chúng cả. Như ta sẽ thấy, xét cho cùng, sự đối lập giữa hai quan niệm dân chủ chỉ có tính cách triết lý: một bên thì cho tự do là một giá trị sẵn có, nó cố hữu với con người và con người có tự do thì mới gọi được là con người; một bên thì cho tự do là giá trị con người có tạo nên thì mới có và tự do chỉ thật sự có khi nào con người dùng cuộc cách mạng xã hội mà tự giải phóng lấy mình. Chỉ nguyên cái luận cứ căn bản đó đã khá phức tạp rồi, và khó thu tóm thành một phương thức cho gồm được hết ý.
         Vậy, nên cách dùng danh từ đúng hơn hết có lẽ là cách căn cứ vào nhận xét sau đây. Hình thức dân chủ thứ nhất đã có sau nó một lịch trình chính trị và pháp lý khá dài, nó đã nghiễm nhiên hóa thành một cương yếu, một hệ thống nguyên tắc, đồng chất với khoa học chính trị và luật hiến pháp khiến cho người ta có thể lẫn lộn khoa học, chính trị hoặc luật hiến pháp với hình thức dân chủ này (như khi gọi cuốn tự điển là cuốn Larousse), cũng như về kinh tế học các giáo điều của học phái tự do trong một thời gian khá lâu đã được coi như là cả một bộ môn khoa học kinh tế vậy. Bởi đó, ta có thể dùng danh từ “cổ điển” gọi hình thức dân chủ thứ nhất.
         Duy đến khi tìm danh từ để gọi hình thức dân chủ thứ hai, ta thấy thật là khó khăn. – Hoặc là dùng tiếng “hiện đại”, tiếng “mới”? Nhưng nếu gọi thế sợ không trúng nghĩa vì hình thức dân chủ thứ hai này có phải “mới” xuất hiện, hoặc xuất hiện “đời nay” đâu. – Cách gọi tên đúng hơn hết, có lẽ là dân chủ không phải cổ điển. – Tuy nhiên gọi thế hơi dài, lại có vẻ tiêu cực và không được đích xác. – Không còn cách nào hơn nữa, vậy xin gọi là dân chủ mác-xít. Cách gọi này vừa gọn, vừa nêu rõ được cái ảnh hưởng quan trọng của tư tưởng Mác và đồ đệ trong việc tạo thành lý thuyết dân chủ đó, vả chăng, hiện trong các nước đang thực hiện và thi hành lý thuyết đó, người chủ trương vẫn tự nhận là áp dụng lý thuyết của chủ nghĩa Mác và chịu ảnh hưởng của lý thuyết đó. Tuy nhiên, có điều nên nhớ là cái ý tưởng về dân chủ này có từ trước Mác và tương hợp với một tín ngưỡng từ lâu vẫn chủ trương rằng có tự do thì mới có bình đẳng được…


HOÀNG MINH TUYNH


BÁCH KHOA |  SỐ 7

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 02/01/2018, 15:41:02


Lý thuyết và thực hành

CHÚNG TA bình tâm đọc lại đoạn nầy của Trang Tử:

         “Vua Hoàn Công đọc sách ở nhà trên. Có người thợ mộc đương đẽo bánh xe ở nhà dưới, nghe tiếng đọc liền bỏ chàng, đục, chạy lên nhà trên hỏi vua rằng:
         ― Muôn tâu lệnh bệ hạ! Cả dám hỏi bệ hạ đọc những câu gì thế?
         Hoàn Công đáp:
         ― Những câu của thánh nhân.
         ― Thánh nhân hiện nay còn sống không?
         ― Đã chết rồi.
         ― Thế thì những câu của bệ hạ đọc chỉ là những tao-phách của cổ nhân đấy thôi.
         ― À, anh thợ cưa! Ta đương đọc sách, sao dám nghị luận? Hễ nói phải thì ta tha, không phải thì ta bắt tội.
         Người thợ mộc nói:
         ― Hạ thần đây cứ lấy việc của hạ thần làm mà xem. Khi đẽo cái bánh xe, để rộng thì mộng cho vào dễ nhưng không chặt; để hẹp thì mộng cho vào khó nhưng không ăn. Còn làm không rộng, không hẹp, vừa vặn đúng mực thì thật tự ý hạ thần liệu mà nẩy ra, tay của hạ thần làm như đã có cái phép nhất định, chứ miệng thần không thể nói ra được. Cái khéo ấy, hạ thần không thể dạy được cho con của hạ thần; cũng như con của hạ thần không thể học được của hạ thần. Bởi thế, thần năm nay đã 70 tuổi mà vẫn giữ nghề đẽo bánh xe.
         Người đời cổ đã chết thì cái hay của người đời cổ không truyền lại được, cũng đã chết cả rồi. Thế thì những câu nhà vua học thật chỉ là những tao-phách của cổ nhân mà thôi
”.

         Ý của Trang Tử cũng như Tuân Tử muốn chống lại cái học của các cụ xưa chỉ biết lấy “cổ” làm cốt. Điều gì của người xưa để lại, đâu phải đều hoàn toàn tuyệt đẹp, tuyệt hay đáng cho người thực hành, tuân theo cả.
         Ý của Trang Tử có phần đúng.
         Nhưng ở đây, chúng ta không như Trang Tử phủ nhận hoàn toàn giá trị của sách vở của cổ nhân, cho là một thứ cặn bã rượu (tao-phách) không dùng nữa.
         Sách vở là ghi lại những tư tưởng, lý luận, việc làm của cổ nhân đã kinh nghiệm trong cuộc sinh hoạt thời ấy. Chẳng những nó có giá trị ở một thời mà còn giá trị, ảnh hưởng đến thời đại sau. Ta đọc sách, học lý luận là để nhận xét cái hay cái dở, cái hợp thời, cái không hợp thời rồi đem ra ứng dụng với việc làm để đúc lại thành một kinh nghiệm hoàn hảo. Chỉ có điều đáng trách là những người quá trọng sách vở, lý luận của người xưa, hoặc của những người đồng thời, mà cho là “khuôn vàng thước ngọc” để bắt chước làm theo, như thế là ta đã sa vào một chủ nghĩa giáo điều (Dogmatisme).
         Giáo điều biến con người thành một cái máy.
         Lý thuyết là gì?
         Lý thuyết là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng, rõ ràng làm thành kết luận, rồi đem chứng minh với hoàn cảnh thực tế. Đó là lý thuyết chân chính.
         Lý thuyết như kim chỉ nam. Nó chỉ phương hướng cho chúng ta trong công việc thực tế. Không lý thuyết thì lúng túng như nhắm mắt đi đêm. Lý thuyết trở thành một lực lượng vật chất khi đã thâm nhập vào quần chúng, biến thành hành động.



          Có những người xem sách, xem nhiều sách. Đó là điều đáng quý nhưng chưa phải là “biết” lý luận. Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dầu có xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết đem ra thực hành thì khác nào cái tủ đựng sách.
         Lý luận dù của những nhà văn hào lão luyện hay của những nhà cách mạng chân chính đi nữa cũng không thể “tung ra khắp bốn biển đều là đúng cả”. Bởi thế, ta không thể coi đó là một mớ giáo điều mà phải coi như một cây kim chỉ nam để hành động.
         Từ chỉ-nam-xa của Châu-công tiến đến cái địa bàn ngày nay; từ ông sấm, ông sét của Đa thần giáo tiến đến cây thâu lôi của Franklin; từ tư tưởng thần bí của “Kinh viện triết học” (philosophie scholastique) tiến đến Duy vật luận cơ giới; và những tác phẩm “Vạn pháp tinh lý” (l’esprit des lois) của Montesquieu, “Xã hội khế ước” (Contrat social) của Jean Jacques Rousseau v.v… để cổ động tuyên truyền cho chế độ tư sản dân quyền đã đánh dấu cả một tiến triển vĩ đại trong tư tưởng giới. Nếu các ông nầy chỉ khư khư theo giáo điều, không dám cải cách hoặc làm một cuộc “cách mạng” tư tưởng của người thì làm sao tiến bộ, phát minh được.
         Lịch trình tiến hóa của nhân loại còn cho chúng ta biết rất nhiều lịch sử như thế nữa.



          Không phải học lý thuyết trên mặt chữ mà ta phải học tập lập trường của phương pháp xem xét vấn đề, giải quyết vấn đề.
         Đọc lịch sử nước nhà, ta phải có một sự nhận thức: Ưu điểm trội nhất của cuộc kháng chiến đời nhà Trần chống quân Nguyên là mưu cao, mẹo giỏi, toàn dân đoàn kết; ưu điểm trội nhất của cuộc kháng chiến đời Hậu Lê chống quân Minh là nhẫn nại, dẻo dai; ưu điểm trội nhất của cuộc kháng chiến đời Nguyễn Quang Trung chống quân Thanh là tấn công nhanh chóng, mãnh liệt.
         Lịch sử mấy ngàn năm nay của dân tộc ta vốn có luật phát triển và đặc điểm dân tộc của nó. Học tập di sản lịch sử của dân tộc, chúng ta phải dùng một phương pháp khoa học mà kết luận tổng quát có tính cách phê bình. Đó là những kinh nghiệm, những của cải quý báu.
         Đọc lịch sử là như thế. Học lý thuyết sách vở của người xưa cũng phải như thế.



          Những nhà triết học Trung Hoa ngày xưa cũng có nhiều ý kiến đối chọi nhau về vấn đề “lý thuyết và thực hành”. Kẻ cho lý thuyết (tri) và việc làm (hành) là hai việc riêng nhau như Trình Y Xuyên, Chu Hy, Từ Ái; người lại cho cả hai chỉ là một (tri hành hợp nhất) như Vương Dương Minh; người lại cho “biết khó làm dễ” (tri nan hành dị) như Tôn Văn v.v…
         Điều nầy, chúng ta không cần phải chú ý lắm.
         Có điều quan trọng rất cần là ta phải xét cái “tri” của con người ấy có đem ra “hành” không? Nếu không “hành” là cái “tri” suông.
         Lý luận phải đem ra thực hành. Thực hành phải nhắm theo lý luận. Rút kinh nghiệm ở thực hành bồi bổ cho lý luận, rồi đem ra thực hành nữa và… cứ cái trình tự ấy thì lý luận mới hoàn hảo, thực hành mới ít lầm lẫn, sai lạc.
         Lý luận cũng như cây tên hay viên đạn. Thực hành cũng như cái đích để bắn. Có tên mà không bắn hay bắn lung tung cũng như không có tên. Học mà không hành cũng như không học.
         Đức Khổng Tử nói: “Ôn cố tri tân” (ôn điều cũ mà biết điều mới). Ôn điều cũ tức là học, biết điều mới tức là sáng tác điều mới. Ngài thường khen thầy Nhan Hồi: “Văn nhất tri thập” (học một biết mười). Học một điều mà biết được mười điều đó là con người có óc sáng tạo, biết đem những điều đã học được (lý thuyết) vào công việc thực tế (thực hành) để làm sáng tỏ cái học thêm.
         Ta học cũng như con tằm ăn lá dâu. Tằm ăn lá dâu nhả tơ, thành một vật hữu dụng. Nếu cái học của ta không trở thành vật hữu dụng cho ta, cho đời thì chẳng khác nào con tằm hư, ăn lá dâu nhả ra lá dâu, không tiêu hóa được. Tằm chết.
         Áp dụng lý thuyết vào thực hành chính là một luật tiến bộ.


NGUYỄN TỬ QUANG


BÁCH KHOA |  SỐ 7

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 02/01/2018, 15:47:46


                         Chút  lòng
                                                Gởi tặng Nguyễn Hữu Lộc
                                                       và Bùi Đặng Hà Phan


            TỪ phen biển mộng khép trăng song,
            Nửa mẫu vườn quê tạm náu lòng.
            Đi đứng luống thương đường lối hẹp,
            Ăn nằm dám phụ nước non chung.
            Mười phương tin tức chim hờ hững,
            Ba kiếp văn chương bút ngại ngùng.
            Bạn tác ví thương tình gặp gỡ,
            Đừng đem mây ráng đọ nghi dung.


                                                Phú Phang 1950
                                                QUÁCH TẤN


                             Họa vận
         TRỜI xanh lồng lộng đọng khung song
         Đây mảnh vườn con, bát ngát lòng…
         Trăng nước mai chiều thơ mộng đẹp
         Đầy vơi nhân thế hận sầu chung
         Mây trôi ngày tháng tình lơ lửng;
         Bướm lạc hồn hoa ý ngại ngùng.
         Chỉ sợ ráng mây ngày gặp gỡ:
         Hương tình đâu nữa ngát hoa dung.


                                                Trung Lương 1952
                                                BÙI ĐẶNG HÀ PHAN


BÁCH KHOA |  SỐ 7

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 02/01/2018, 15:56:25


                   Chuyến về quê tôi…
                                                   Thân tặng các học sinh của tôi
                                                   để kỷ niệm một mùa du ngoạn…


            QUÊ tôi đấy: ngõ buồn phơi cát trắng,
            Nắng chiều lên xóm nhỏ dệt cô liêu…
            Chiến chinh xưa còn ghi vết tiêu điều.
            Lòng mẹ héo bên nong tằm xơ xác…

            QUÊ tôi đấy: lều tranh ngồi rải rác.
            Máu quê hương thanh đạm dưới trăng đêm.
            Vườn quê hương ghi lại phút êm đềm:
            Nồi khoai luộc ngát thơm tình đất nước…

            QUÊ tôi đấy: áo nâu đà bạc thếch
            Màu đấu tranh của bao bác nông phu
            Tháng năm qua, đưa những bước cần cù
            Cho luống đất lại chổi lên mầm sống…

            QUÊ tôi đấy: tóc xanh chờ ấp mộng
            Thanh bình đây, tràn ngập cả hồn trai.
            Đất lành ơi! Trời rộng với sông dài,
            Tình lúa mới, với duyên trăng muôn thuở…

            QUÊ tôi đấy: tiếng hò vang trong gió:
            Hò… ơ…!
                   Ớ có con gái Đồng Nai,
            Hát lên cho thắm lòng ai bên đò…
                   Khoan hò, cất giọng khoan hò,
            Đời thêm tươi đẹp, âu lo xóa mờ…
                   Trăng thanh soi xuống liếp dừa,
            Cầu tre một nhịp: duyên xưa nối liền…


                                                     T. D. K.
                                         (Mùa Phục Sinh 1957)


BÁCH KHOA |  SỐ 7

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 05/01/2018, 18:03:29
BÁCH KHOA |  SỐ 8  [1 tháng Năm  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Nguyễn Quang Lệ |  Tìm hiểu ngân sách |  1-10
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển |  11-16
Nguyễn Hiến Lê |  Phép dịch thơ |  17-24
Phạm Tường Trinh |  Góp ý kiến về việc giáo dục trẻ em ở cấp Tiểu học |  25-30
Hào-Nguyên Nguyễn Hóa |  Thử tóm tắt học thuyết khắc kỷ |  31-36
Bách-Khoa |  Vui buồn với thiên hạ |  36
Trực Định (dịch) |  Thánh Tôma đối với Chúa sống lại \ Giovanni Papini |  37-40
Bách-Khoa |  Gốc tích của một vĩ nhân |  40
Nguyễn Xuân Lan |  Lá thư Mỹ quốc |  41-45
T. T. K. |  Chim bằng lại bay (thơ) |  46-47
Quảng cáo |  48-50
Võ Phiến |  Người tù (truyện) |  51-58
Quảng cáo |  59-61
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [V] (truyện dài) \ Từ Vu |  62-65
Bách-Khoa |  Cha nào con ấy |  65
Quảng cáo |  66-68
Bách-Khoa đọc thay các bạn:
   |  Có phẫn uất mới nảy tuyệt tài |  69
   |  Duyên cớ thịnh suy, được mất từ xưa đến nay |  70-71
Quảng cáo |  72-74
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  75-77
Bách-Khoa |  Tình quân dân |  77
Quảng cáo |  78-80


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204212815-b7d4fc830275dd4528f16e9b93393c85/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 05/01/2018, 18:18:44


Thử tóm tắt học thuyết khắc kỷ

VÀO KHOẢNG cuối thế kỷ thứ tư trước Tây lịch, Zénon,(1) một triết gia Hy Lạp, sinh tại Citium đã đề xướng chủ nghĩa khắc kỷ. Đó là một chủ nghĩa sán lạn trong các chủ nghĩa sán lạn, có một lịch sử trường kỳ.(2) Chủ nghĩa khắc kỷ đã gây ảnh hưởng lớn lao khắp cả châu Âu, nhất là ở La Mã và Hy Lạp, đã hun đúc nên biết bao cá nhân hùng vĩ, đạo đức và hành động gương mẫu lưu truyền trải các thời đại.
         Xưa nay, người ta vẫn không ngớt ca tụng thái độ bình tĩnh của Epictète.(3) Khi bị chủ vặn chân, ông chậm rãi bảo:
           “Này, nó gãy đấy nhé!”
         Đến chừng thấy chân gãy, ông chỉ nói thêm, một giọng bình thản thánh thần:
           “Tôi đã chẳng bảo ông trước rồi sao!”
         Người ta vẫn còn ca tụng Posidonius,(4) nhà khắc kỷ đã nói:
           “Này, đau khổ! Mi đã phí công vô ích để làm cho ta phải rên siết, nhưng có bao giờ ta chịu rên siết đâu!”
         Và câu chuyện của tướng Régulus(5) trải 2.000 năm nay vẫn còn khiến người ta khâm phục.

Chủ nghĩa khắc kỷ như thế nào?
         Chủ nghĩa khắc kỷ quan niệm rằng con người cùng vũ trụ đồng một thể. Hệ thống của khắc kỷ chủ nghĩa cũng giống hệ thống Nho giáo ở Đông phương: “Thiên địa vạn vật nhất thể” (panthéisme). Mỗi cá nhân là cả vũ trụ thâu hẹp lại, và vũ trụ chỉ là hình ảnh của cá nhân phóng đại ra. Con người sống trong một vũ trụ linh động, biến hóa (Nho giáo gọi là “dịch”).(6) Cũng như chính vũ trụ, con người sở dĩ có là bởi một thứ lửa và khí thiêng. Thứ lửa và khí thiêng này ta có thể xem như “Lý Thái cực” ở Nho giáo.(6) Khí thiêng này có trình độ hơn kém khác nhau, nên con người, tuy cũng đồng căn nguyên (tức đồng lý) hay nói theo Nho giáo, đồng phát sinh bởi lý Thái cực, nhưng đều có cá tánh khác nhau. (Nho giáo cho rằng đều có bẩm thụ Thiên lý; bẩm thụ nhiều thì trở nên thánh, thần, bẩm thụ ít thì làm người thường hay làm thú vật). Khắc kỷ chủ nghĩa quan niệm người cùng vũ trụ phải gắn bó với nhau bởi đều cùng bẩm thụ khí thiêng cả. Nếu không cùng vũ trụ gắn bó con người sẽ bị hủy hoại ngay. Nhưng vì phần bẩm thụ khí thiêng không đồng nhau, nên con người lại có một phần độc lập với vũ trụ (Nho giáo cho rằng: Vạn vật do Trời sinh ra, song vật nào cũng có tính cách tự do để hành động cho hợp “thiên lý”).
         Con người, vừa gắn bó với vũ trụ, đồng thời vừa độc lập, nên con người phải tự làm chủ lấy mình và thực hiện định mệnh mình. Theo chủ nghĩa khắc kỷ, tinh thần (hay đúng hơn là lý trí) có một sức mạnh vô biên. Con người có thể tự tìm ở chính cá nhân mình sự sáng suốt và sức lực để thực hiện định mệnh mình.(7) Nhất sinh, con người được phú thác cho chính mình. Thánh nhân hay là điên cuồng, hạnh phúc hay khổ sở là những điều hoàn toàn tùy thuộc ở con người. Ngoài cá nhân, con người không có và không thể có một thế lực nào có thể giúp cho con người cả. Trong tấn kịch đời có thể ví con người và định mệnh của mình với người thủy thủ độc nhất trên một chiếc thuyền. Được đến bờ, đến bến hay bị chìm đắm, người thủy thủ không chờ ở sức ai, ngoài chính mình. Chính đây là một điểm rất quan trọng trong triết học, đã làm nhiều người rất phân vân, và xưa nay nó vẫn là đầu đề của những cuộc tranh luận không dứt. Vấn đề là con người có đủ sức để thực hiện định mệnh mình không, để tự cứu lấy mình không, hay lại phải nhờ ở thế lực nào ngoài mình? Ta thấy nhà khắc kỷ quả quyết rằng “Được!” nhưng tín đồ Thiên Chúa quả quyết rằng “Không!”(8)
         Con người phải biết hướng dẫn hành động của mình vào những lý tưởng hình ảnh nào có thể giữ gìn trọn vẹn cái bản thể “khí thiêng”, cái thiên lý của mình. Đó là đường đi tối thiết vậy. Nhưng khốn thay, con người lại có sờ sờ một cái xác thịt nguy hiểm, khả ố. Cái xác thịt luôn luôn ưa tìm kiếm lạc thú, dễ bị cuồng loạn bởi muôn ngàn cảm giác khiến cho cái “Tâm” luôn luôn bị xáo trộn, khiến sự nhận định và phê phán của lý trí phải lầm lạc và nhất là khiến người ta mơ ước những chuyện điên rồ, những điều xằng bậy xấu xa. Cũng bởi cái xác thịt ấy mà phần Tâm của con người từng giờ, từng phút chỉ chực sa ngã, chực lạc hướng. Thêm vào đó, bao nhiêu là dục vọng đen tối, lỗi lầm, chèn ép, thúc bách làm cho cái tâm phải mất phương hướng về đường “thiên lý”.
         Bởi vậy chủ nghĩa khắc kỷ bảo phải luôn luôn tự chủ lấy mình, điều khiển lấy hành động mình, chớ để phải chìm đắm theo con thú xác thịt, dù chỉ chìm đắm trong một phút. Mỗi khi chúng ta hành động theo dục vọng là một dịp ta để cho con “thú” trong người lồng lộn lên mà giết chết cái con người chân chính đi. Chúng ta phải trừ khử, trấn áp hết thảy mọi dục vọng vì hễ là dục vọng, đều xấu xa tuốt. Có trừ khử, trấn áp được dục vọng, chúng ta mới đặt cái Tâm của ta yên tĩnh, để cái Tâm hòa hợp với “Thiên lý”. Được thế, cái Tâm của ta mới cảm thông được với đồng loại, rồi ta mới có thể hành động hợp với đồng loại, rồi ta mới có thể hành động hợp với đạo đức,(9) nhân sinh, lý trí mới phán đoán sự việc chính xác, đúng đắn được.
         Làm được như thế thì con người tự cải tạo được mình, hay có thể nói thực hiện một sự thay hình đổi dạng, một sự tái tạo. Được tái tạo là bởi người đã xua đuổi được muôn ngàn dục vọng điên cuồng cùng ám ảnh của nó. Chừng ấy, sung sướng thay, con người sẽ không còn nắm chết dí trong bàn tay thao túng của dục vọng nữa. Như thế thì con người muốn thực hiện được sự tái tạo ấy, phải rất mực nghiêm khắc mà không thể dung thứ một thứ dục vọng nào.
         Lại bởi không thể dung thứ một thứ dục vọng nào để cứu rỗi cái “Tâm”, khắc kỷ chủ nghĩa cho rằng không thể lưng chừng được. Không thể nào chúng ta được rỗi Tâm, nếu đối với dục vọng, có lúc chúng ta tỏ ra nghiêm khắc, có lúc chúng ta tỏ ra dễ dãi. Từ đấy, ta thấy người ta hoặc hoàn toàn xấu, nếu phán đoán, hành động sai, hoặc hoàn toàn tốt, nếu phán đoán, hành động đúng. Bởi vậy mà dưới mắt nhà khắc kỷ, ham mê một chiếc áo lót tốt cũng tội lỗi như tội lỗi sát nhân. Và người ta chỉ có hai hạng: hoặc là thánh nhân hoặc là tội ác. Tư duy, hành động của hai hạng người trong đời, hoàn toàn khác nhau. Một bên cao cả siêu việt nếu có thể nói; một bên tối ngu, chìm đắm. Một bên tâm thần luôn luôn sung sướng, yên tĩnh; một bên, triền miên chìm ngập trong đau khổ và ngờ vực.

Đồ đệ khắc kỷ chủ nghĩa phải làm thế nào để tự “tái tạo”?
         Khắc kỷ chủ nghĩa nói ai ai cũng có thể tự “tái tạo” được cả. Duy muốn tự cải tạo mình, “người phàm”, chúng ta phải nhờ đến ý chí và nhất là nhờ đến sự phán đoán minh mẫn, biện biệt sự, vật và điều phải, trái – xin hiểu “phải, trái”, theo quan niệm khắc kỷ(10) tinh vi. Điều này rất quan hệ vì thật ra chính nhờ ở sự biện biệt điều phải, trái, sự phán đoán minh mẫn mà ta giữ lấy ý chí, giúp tiến hành sự cải tạo một cách êm dầm mát mái. Khi phê phán đúng đắn sự, vật, người ta mới có một biểu tượng chính xác, cái biểu tượng duy nhất hoàn toàn hợp khả năng người ta.
         Lại còn có điều quan trọng này: khắc kỷ chủ nghĩa quan niệm rằng ý chí chỉ có thể có hiệu lực trên những gì mà con người hoàn toàn làm chủ được. Theo Epictère, con người chỉ thực sự làm chủ được tư tưởng mình mà thôi. Ông cho rằng không có gì hoàn toàn nằm trong quyền hạn ta, phi tư tưởng ta.(11)
         Con người làm chủ nhân ông tư tưởng mình, trước hết hãy nên dùng tư tưởng để biện biệt cho minh bạch xem sự, vật nào tùy thuộc ở ta, sự, vật nào không tùy thuộc hay không hoàn toàn tùy thuộc ở ta. Đã biện biệt được như thế rồi, ắt ta thấy rằng ta phải chịu và chỉ phải chịu trách nhiệm về những gì tùy thuộc ở ta, còn những gì không tùy thuộc ở ta đều nằm ngoài trách nhiệm ta. Mà hễ những gì trong vòng trách nhiệm của ta thì ở trong vòng quyền hạn ta; những gì nằm ngoài vòng trách nhiệm ta thì ở ngoài quyền hạn ta. Đến đây, ta còn cần phải biết những gì tùy thuộc ở ta? Chủ nghĩa khắc kỷ bảo: ấy là tư tưởng ta, ý kiến ta, xu hướng, ham muốn… của ta. Còn những gì không tùy thuộc ở ta? – Ấy là cái thể xác, cái hạn hưởng dương, với lại những tiền của, danh vọng, địa vị, chức tước, phẩm hàm… Chúng ta có thể nào mong muốn – một cách hợp lý cho cái bộ mặt ta được đẹp đẽ, kiều diễm, được phương phi đĩnh ngộ, nếu ta lỡ có cái bộ mặt xấu xí không? Cũng như chúng ta có thể nào vì thương cha, mẹ, vợ, con rồi mong muốn cho những người thân yêu ấy lột da sống đời mà được không? Bây giờ không mong muốn như thế nữa, chúng ta lại chỉ kiên quyết nghĩ rằng: cái mặt mày ta dầu xấu, dầu đẹp cũng không thuộc quyền hạn ta, ta không cần bận tâm mà nên xem nó hoàn toàn xa lạ với ta. Hỏi nghĩ như thế, có cái gì ngăn trở ta được không? Hay ta lại nghĩ rằng: cha, mẹ, vợ, con ta sống chết, không tùy ở ta thì ta chớ nên mong ước viễn vông làm gì. Nghĩ như thế là quyền ở ta, không có gì ngăn trở ta cả. Epictère đã nói: “Mi khùng, nếu mi muốn rằng vợ, con, bè bạn của mi sống lâu muôn tuổi”.
         Từ ở sự biện biệt những gì tùy thuộc và không tùy thuộc ở ta, đưa đến xuất xử, hành động đúng đắn, theo một biểu tượng chính xác.

Đồ đệ khắc kỷ chủ nghĩa phải xuất xử, hành động như thế nào?
         Ta đã biết, đồ đệ chủ nghĩa khắc kỷ chỉ chú trọng “duy nhất” đến những gì tùy thuộc ở họ. Bởi là tùy thuộc, nó có thể có ảnh hưởng đến họ hoặc tốt, hoặc xấu. Đối với những gì không tùy thuộc họ thì họ có cái thái độ: dửng dưng, xa lạ. Họ xem nó xa lạ bởi nó không có ảnh hưởng gì nơi họ cả. Nhờ thế, họ điều khiển tư tưởng, hành động họ một cách chặt chẽ có thể nói khắc khổ. – Bởi thái độ khôn ngoan “minh mẫn” ấy, nhà khắc kỷ có cái “Tâm” luôn luôn yên tĩnh, sung sướng, không hề bị thúc phọc bởi trăm ngàn ham muốn không đâu, như “người phàm”(12) “khờ khạo”(12) chỉ đi mơ ước hão huyền, muốn bức thúc những gì ngoài quyền hạn mình phải khuất phục mình làm như nó tùy thuộc ở mình. Bởi lẽ ấy mà “người phàm” luôn luôn phải ngờ vực, chìm ngập trong khổ sở triền miên, và cái “Tâm” rất khốn khổ. Như thế, ta thấy nhà khắc kỷ không ham địa vị, không ham tiền của, danh vọng… những thứ lố lăng. Họ sống hạnh phúc với địa vị của họ, bất cứ là địa vị nào, trong một thái độ bề ngoài như tuồng tiêu cực, nhưng thật ra rất tích cực, với một bản lãnh như thụ động nhưng thật ra chủ động. Đối với nhà khắc kỷ, làm vương tướng hay làm kẻ nô lệ, giàu có đến của kho bạc đụn hay nghèo xác không một xu dính túi, đều như nhau. Họ không chịu để cho một thứ gì ngoài quyền hạn của họ phiền nhiễu họ được cả. Họ luôn luôn giữ thế chủ động, dù trong tình thế bị động với Chí, “Tâm”, nói chung của họ. Họ giữ vẻ ung dung, tự tín, thái độ lạnh lùng sắt đá dù ở trong thế quẫn bách. Có thể nói, nhà khắc kỷ, hơn ai hết hoàn toàn làm chủ mình, làm chủ hạnh phúc mình, định đoạt định mệnh mình. (Thái độ của Posdinius Epictère, Régulus ta đã nói trên kia tiêu biểu một cách hùng hồn ý lực mạnh mẽ cùng lối xuất xử hành động của phái khắc kỷ.) Trong bất kỳ nghịch cảnh nào, dù bị sắc dục hay tiền của quyến rũ, dù bị cực hình hay dù bị mạ nhục, nhà khắc kỷ cũng lấy chí chống chọi lại để được sung sướng. Bởi vậy mà theo quan niệm của phái khắc kỷ, chỉ có phàm nhân chúng ta mới chính là những kẻ khổ sở, dù chúng ta là những kẻ đi cho tiền của, đi gia cực hình hay đi mạ nhục họ. Thái độ của họ thật là anh hùng, và đáng khâm phục thay! Nhà khắc kỷ phải tự cứu lấy mình chớ không chờ đợi ở một ai, một thế lực nào ngoài họ cả. Chí lực mạnh mẽ thay!

Phê bình học thuyết khắc kỷ
         Chúng tôi vừa khen vừa thán phục. Thật ra cái ảnh hưởng lớn lao của chủ nghĩa khắc kỷ và tính chất quyến rũ mãnh liệt của nó – ta đã nói ở trên – cho ta thấy giá trị của nó. Quả thật, chủ nghĩa khắc kỷ đã thúc giục con người yếu đuối và đầy dục vọng di tình dưỡng tính để cố sống thanh cao, khắc khổ nhưng sán lạn, cố thực hiện một đời sống thanh cao nhất mà loài người có thể đạt đến. Hình như trong lịch sử, chưa từng có một chủ nghĩa nào đã nâng giá trị của con người lên cao đến như thế. Chính giá trị của chủ nghĩa khắc kỷ là ở như chỗ ấy xem con người mang một sức phi thường, không bờ không bến. Nhưng chính đấy cũng lại là cái khuyết điểm của chủ nghĩa khắc kỷ. Zénon, Epictère… đã nhìn con người chúng ta với ít nhiều ảo giác. Những nhà khắc kỷ đã gán cho con người, một sinh vật tuy “linh” nhưng có bản chất hay mềm yếu, một mãnh lực không giới hạn, trên thực lực của con người. Thật ra, con người không anh hùng đến thế. Chỉ tìm ở Tâm, ở ta để ứng phó với hết thảy mọi biến thiên, mọi ngang trái, mọi phiền trái trong tấn kịch đời thì khó khăn, khắc khổ biết bao. Thực ra, những ai đã thực hiện được sự cải tạo mình đều là nhưng anh hùng cả. Đó là những anh hùng đã diệt bỏ đi được rất nhiều phần trong toàn thể bản chất con người. Cũng trên đường chế ngự dục vọng. Nho giáo đã chế ra Lễ, Nhạc tỏ ra sáng suốt và hiểu thấu đáo hơn về những yếu đuối của bản chất con người. Đã có Lễ, Nhạc giúp người ta trị mình mà Nho giáo còn bị hiểu sai lạc, bị xuyên tạc – thường bởi dục vọng – trong nhiều thời trong lịch sử huống như khắc kỷ chủ nghĩa chỉ truyền bảo phải vận dụng nội sức mạnh của tâm, chí suông thôi mà ứng phó với mọi sự thì chẳng không quá lượng ư, không hão huyền ư? Có khắc khổ như thế thì làm thế nào khắc kỷ chủ nghĩa có thể dìu dắt nhân loại vào lý tưởng luân lý của mình? Ta có thể nói rằng khắc kỷ chủ nghĩa chỉ có hợp sức, xứng lượng với một vài cá nhân đặc biệt, anh hùng mà thôi, chứ không thể là một học thuyết thích hợp với mọi người, với bản chất con người, nói một cách hời hợt, nó không đại chúng.
         Khắc kỷ chủ nghĩa lại còn bảo chúng ta chớ vụ đến những gì không tùy thuộc ở ta, phải xem nó hoàn toàn xa lạ. Ta phải nhận rằng đó là một lời khuyên khôn ngoan. Nhưng ở đời, trong những gì không tùy thuộc ở ta, có những việc mà đạo đức (hay là lòng nhân đạo) buộc ta phải chú tâm, lo lắng đến. Nếu ta không chú tâm đến, ta lại là kẻ bất nhân. Ví như cha, mẹ, vợ con ta, bè bạn ta, đồng loại ta đương trong cảnh khốn đốn khổ sở chết chóc thì ta phải làm sao? Đành rằng họ không tùy thuộc ở ta, không ở trong vòng quyền hạn của ta, nhưng trước cảnh khốn khổ, chết chóc của họ, ta có thể nào giữ mặt lạnh như tiền không? Bằng trơ mặt lạnh cho đúng lý tưởng khắc kỷ thì ta có bất nhân không?
         Trong chữ nhân 仁 là lòng thương người, chẳng có chữ 人 (nhân) là người đó sao? Không có 仁, người còn gọi sao được là người!
         Trong cuộc sống hợp quần của xã hội, cái lạnh lùng sắt đá của chủ nghĩa khắc kỷ truyền dạy không có lý gì để tồn tại cả. Lòng nhân buộc chúng ta phải sát cánh mà sống hòa hợp cùng đồng loại thân yêu. Nếu theo lý tưởng khắc kỷ thì, hỡi ôi! chẳng những chúng ta không cứu giúp, tương trợ nhau trong cảnh khốn cùng mà còn làm cho tiêu diệt mất lòng nhân kia sao? Ta không thể tin được, mà mọi hình thức luân lý đều không cho phép. Phải chăng đó là những khuyết điểm rất lớn của khắc kỷ chủ nghĩa.


Hào-Nguyên NGUYỄN HÓA

_________________________________________
(1) Chớ lầm với Zénon sinh ở Elée, thế kỷ V trước T.L. chủ xướng thuyết vạn vật là ảo ảnh.
(2) Lịch sử trường kỳ này có thể chia làm ba thời đại: 1) Cổ nguyên kể từ Zénon; 2) Trung nguyên kể từ Posidonius, 150 trước cho đến T.L. kỷ nguyên; 3) và thời đại La Mã, kể từ Epictète, thế kỷ I của T.L. kỷ nguyên.
(3) Epictète sinh tại Hiérapolis, nô lệ của Epaphrodite ở La Mã, thế kỷ I của T.L. kỷ nguyên được Néron phóng thích.
(4) Posidonius sinh tại Syrie khoảng 135-50 tr. T.L.
(5) Régulus: Tướng thành La Mã, vào khoảng thế kỷ thứ II tr. T.L. bị quân thành Carthage bắt. Người Carthage sai ông trở về La Mã để bàn cãi về việc trao đổi tù binh. Ông đã cố thuyết phục Nghị viện La Mã chấp thuận đề nghị của Carthage và để giữ đúng lời hứa với người Carthage, ông đã cương quyết chống mọi sự van vỉ bận bịu của vợ con, bè bạn giữ ông lại La Mã, để trở lại Carthage mà chịu cực hình.
(6) Nho giáo và khắc kỷ chủ nghĩa, về phương diện phương pháp trong triết học, đều thuộc hệ thống “thiên địa vạn vật nhất thể”. Bởi vậy, trong khi trình bày sơ lược khắc kỷ chủ nghĩa có điểm nào hai bên giống nhau, hay gần giống nhau, chúng tôi đều chua vào bài. Làm như thế để qua đôi điểm Nho giáo, ta hiểu được đôi điểm của chủ nghĩa khắc kỷ, và cũng là dịp để chúng tôi có thể dùng đôi danh từ ta từng quen trong Nho giáo vào chủ nghĩa khắc kỷ vậy.
(7) Đến đây Nho giáo và khắc kỷ chủ nghĩa bắt đầu xa nhau và xa hẳn: Nho giáo không tin rằng người ta có thể quyết định và thực hiện định mệnh mình. Đối với Nho giáo, thiên lý luôn luôn có quan hệ đến người vì Trời và Người quan hệ với nhau mật thiết lắm theo tư tưởng “Thiên Nhân tương dữ”. Con người phải theo thiên lý mà hành động và phải xem thiên luân là nhân luân, thiên đạo là nhân đạo. Bởi tư tưởng này, Nho giáo thường khuyên ta hãy hỏi Trời, bằng cách gieo quẻ, để hành động, khi gặp điều gì nghi hoặc, khó giải quyết.
(8) Người tín đồ Thiên Chúa tin rằng loài người chúng ta đã sa đọa và hư hỏng. Tội lỗi chồng chất và đau khổ liên miên kể từ những ông Tị-tổ, loài người trở nên rất hư đốn và yếu đuối. Nếu Chúa Trời rời bỏ, con người tức thì sẽ bị chìm đắm ngay. Nếu con người có làm được việc gì, ấy là nhờ Chúa Trời giúp cho cả.
(9) Xin hiểu đạo đức là đường đi đến đức hạnh.
(10) Đối với phái khắc kỷ, cái gì tùy thuộc ở ta là phải, còn cái gì không tùy thuộc hay không hoàn toàn tùy thuộc ở ta, là trái. Ta sẽ thấy quan niệm này dưới đây.
(11) Descartes đã chịu ảnh hưởng tư tưởng này mà nêu danh ngôn: “Ta tư duy, tức là có ta” (Je pense, done je suis).
(12) Xin hiểu nói: người phàm và khờ khạo đây là nói theo quan niệm khắc kỷ.


BÁCH KHOA |  SỐ 8

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 05/01/2018, 22:29:33

                   Chim bằng lại bay

                  CHIM bằng ơi! Chim bằng ơi!
            Mừng nay người lại được thảnh thơi:
            Cất cánh bay cao tít tận giời.
            Khói mây muôn trượng thích ngang dọc,
            Đường lên vun vút há nhường ai!

                 CHIM bằng ơi! Chim bằng ơi!
            Tưởng những khi: Người đương dong duổi đua trí tài!
            Nhẹ cánh nhanh chân đè các loài,
            Những toan vượt biển ra thế giới,
            Cắp cả năm Châu làm đồ chơi.

                 CHIM bằng ơi! Chim bằng ơi!
            Bấy giờ chí khí vượt trần ai,
            Ầm ầm uy thế một không hai,
            Đến đâu: quỉ thần kêu khóc, trời đất sợ,
            Mây tung gió động, sông núi tả tơi.

                 CHIM bằng ơi! Chim bằng ơi!
            Ngờ đâu một cơn giông tố dủi tới nơi!
            Tấm thân cao quý bỗng sa vời,
            Cuộn cánh nằm co trên bãi cát,
            Nấp bóng im hơn chịu đợi thời.

                 CHIM bằng ơi! Chim bằng ơi!
            Sẻ gi cú vọ giống phi loài,
            Thấp hèn đâu biết chí khí ngươi!
            Thấy cơn sa lỡ mắc nguy hiểm,
            Múa mỏ khua chân khúc khích cười.

                 CHIM bằng ơi! Chim bằng ơi!
            Kể chi ghen ghét truyện trên đời,
            Chí ta, ta giữ bao đổi rời.
            Ngày nay thời vận có khi tới,
            Còn tài nào còn tiến khi nào thôi.

                 CHIM bằng ơi! Chim bằng ơi!
            Bấy lâu nuôi chứa dư tức rồi,
            Một vỗ cánh lên, lại mù khơi.
            Sấn mây vùng vẫy tự do thích,
            Ngươi gắng sức lên cho chúng coi.

                 CHIM bằng ơi! Chim bằng ơi!
            Ta mong ngươi, ta chúc cho ngươi.
            Mông mênh cõi đất còn dài,
            Cánh bằng còn vỗ tung giời còn cao.


                                                   T. T. K.
                                                (Phú Lâm)


BÁCH KHOA |  SỐ 8

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 08/01/2018, 18:41:33
BÁCH KHOA |  SỐ 9  [15 tháng Năm  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Tìm hiểu cán cân chi phó |  1-9
Phạm Ngọc Thảo |  Vấn đề tập trung lực lượng trong quân đội |  10-15
Phạm Hoàng Hộ |  Nguồngốc đờisống và khoahọc |  16-23
Phạm Tường Trinh |  Góp ý kiến về việc giáo dục trẻ em ở cấp Tiểu học [II] |  24-28
Nguyễn Huy Thanh |  Vấn đề bảo hiểm |  29-34
Thuần Phong |  Tình giao kết trong câu hò miền Nam |  35-38
Bùi Giáng |  Hồ Xuân Hương |  39-44
Ngu-Í Nguiễn Hữu Ngư |  Một chuyện tù Côn Lôn vượt ngục bốn mươi năm về trước |  45-50
Quảng cáo |  51-54
Minh Đức |  Cái chết của ông Nhân khùng (truyện) |  55-58
Quảng cáo |  59-62
Nguyễn Đức An (dịch) |  Ký ức của một người điên \ Giovanni Papini |  63-69
Bách-Khoa |   Truyện con bò con của con bò lang |  69
Bách-Khoa |   Thị hiếu của người đời |  69
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [VI] (truyện dài) \ Từ Vu | 70-73
Quảng cáo |  74-80


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204212844-78d5d08a96d602dae1c56b645bcb99d7/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 08/01/2018, 19:15:25
Nguồngốc đờisống và khoahọc

(Thể theo ý muốn của tác-giả, ông Phạm-Hoàng-Hộ, Thạc-sĩ Vạn-vật-học
tại Đại-học Khoa-học Việt-Nam, Giám-đốc Hải-Học-Viện Nha-Trang,
những chữ có gạch nối trong bài này, đều in dính lại với nhau.)

NGÀY MẢI LO sinhsống, mà chúngta quên rằng cảnh vật rất thường quanh ta, xét ra, có thể cho ta nhiều câu hỏi, nhiều câu hỏi rất lý thú.
         Bạn trông con chó biết ăn uống, chạy nhảy quanh bạn. Bạn nói con chó sống. Bạn trông một cái cây, cây lớn lên, đơm bông trổ trái. Bạn nói rằng cây sống. Song nếu bạn tự hỏi đờisống là gì? thì rất khó mà trả lời.
         Đờisống rất phứctạp. Nếu bạn chịu khó kiểmtra số các loài sinhvật khác nhau thì bạn sẽ nhìnnhận rằng có hằnghà sasố loài khác nhau, từ con voi rất to đến các con vitrùng rất nhỏ.
         Vì đâu mà có muôn loài như thế? Đó cũng là một câu hỏi mà ta đã tự hỏi từ lâu, nếu ta có tính hiếukỳ.
         Bây giờ nến bạn xem lại sinhvật, bạn sẽ có một câu hỏi khác. Đó là câu hỏi: từ đâu mà có đờisống? Vì đặcđiểm của sinhvật là luônluôn do sinhvật mà ra. Chó do chó mẹ sinh ra; gà do trứng gà nở ra; cây mận do hột mận mọc ra. Thế đờisống do đờisống mà ra. Trừ ra trong thầnthoại, trong đó ta thấy Tềthiên Đạithánh do đá thu khí âmdương mà ra, hiện ta không bao giờ thấy một sinhvật do đá, do đất bỗng nhiên mà sinh ra cả: tóm lại giới vôcơ không thể cho ra sinhvật được. Thế đờisống như là một cái gì tự truyền từ sinhvật nầy đến sinhvật khác.



         Nhưng hiệntại, chúngta không thể nói rằng mọi vật đều có từ muôn thuở.
         Chính quảđất ta cũng có một tuổi. Theo phươngpháp phóngxạchất lợidụng các chất mà nguyêntử không bền nổ vỡ ra, thì quảđất ta không già hơn năm ngàn triệu năm và mảnh đá cổ nhất mà ta biết ở vỏ địa cầu chỉ có hai ngàn triệu tuổi mà thôi.
         Và dù theo thuyết nào về nguồngốc của địacầu, ai cũng nhìnnhận rằng nó do mặt trời mà ra nghĩa là xưa nó là một khối lửa. Các bạn hẳn đã xem lịchsử của nó trong một cuốn phim mà Giáosư BENOIT đã chiếu ở đây có gần một tháng nay.
         Thế nếu quảđất có một tuổi, thì đờisống trên quảđất phải có một nguồngốc. Sau khi vỏ quảđất đã nguội rồi, thì làm sao mà có những mầm để khởi đầu cho sinhvật trên mặt ấy?

I.– CÁC THUYẾT KHÔNG CÒN GIÁTRỊ NỮA
A) Thuyết sinhvật tựsinh
         Câu hỏi ấy đã được các nhà hiềntriết đề cập đến từ lâu.
         Và lúc ấy phươngpháp khoahọc chưa nẩy nở, lýluận của các cổ nhân còn đầy sailầm, vì thiếu quansát và thựcnghiệm.
         Vì thế nên ta không thể khiểntrách người xưa đã theo thuyết sinhvật tựsinh cho rằng sinhvật hỗnnhiên có thể do giòi vôcơ mà ra.
         Ví như ARISTOTE cho rằng các loài côntrùng do các hộtsương bao phủ các lá lúc ban mai mà ra. Theo ông thì con lươn do bùn khô bị nước mưa thắm vào mà ra. Tưtưởng đó cũng như ở dân ta cho rằng cá sặc rằng do trorơm mà ra.
         VAN HELMOND còn cho một phươngpháp để chế ra chuột. Theo ông thì cứ bỏ vào một cái hộp đậy không kín một cái áo bẩn và vài cái bánh sữa thì vài ngày sau chuột sẽ xuất hiện trong hộp ấy!
          (Lẽ tất nhiên là sự thínghiệm của VAN HELMOND nay chúngta có thể làm lại và chắcchắn chúngta sẽ có chuột. Vì chuột ở ngoài vào đấy để làm tổ!
         Hơn nữa, các lời dạy của VAN HELMOND làm cho chúngta biết rõ rằng nhà cửa lúc ấy không được sạch lắm và chuột rất nhiều. Vì nếu nay các bạn để một thùng trong ấy có áo bẩn và bánh sữa ở trong phòng nầy, thì dù bao lâu đi nữa, bạn sẽ không có chuột, chỉ vì chuột vào không được mà thôi!)



         Phải đợi đến thếkỷ thứ 17, ta mới gặp REDI. Lần đầu tiên trong khoahọc, REDI chứngminh rằng sinhvật không tựsinh. Từ xưa đến nay, ai cũng cho rằng hễ thịt thối thì thành giòi. REDI chứngminh rằng giòi do các trứng của các con ruồi đã đẻ trên thịt. Ông lấy một miếng vải the ngăn không cho ruồi đẻ trên thịt thì thịt ấy không bao giờ có giòi, trái lại miếng vải the có giòi vì ruồi đã đậu và đẻ trên ấy.
         Đó là lần đầu tiên mà một thànhkiến đã được lâu đời muôn người nhìnnhận bị sự thựcnghiệm vôtư phátan. Từ đó đến nay biết bao là vídụ khác.
         Nhưng thuyết sinhvật tựsinh chỉ được tốngchung từ các cuộc thínghiệm danhtiếng của Pasteur. Thìgiờ của chúngta rất ít không cho phép chúngta nói thêm nhiều về các thínghiệm nầy. Chỉ nên nhớ rằng các bình nước trong đó có đựng nước bổ của Pasteur hiện nay vẫn còn nguyên vẹn ở Trường Caođẳng Sưphạm Paris; và hiệnnay, trọn khoa mổxẻ đều dựa vào các cuộc thínghiệm ấy.

B) Thuyết vũtrụsinh
         Tính hiếukỳ của chúngta rất mạnh. Một vấnđề to như vấnđề nguồngốc đờisống mà không có nghiệmsố thì người ta bấtmãn.
         Nên khi thuyết sinhvật tựsinh vừa bế tắc thì một thuyết khác được ra đời.
         Xưa loài người ta rất tự hào. Dân Trung Hoa cho nước họ là trungtâm của các nước. Phần đông các nhà hiềntriết xưa cho quảđất ta là trungtâm của vũtrụ.
         Các sự phátminh của khoahọc làm cho loài người khiêmnhượng hơn: quảđất ta chỉ là một hạt bụi thấtlạc giữa vũtrụ vôbiên.
         Và khiêmnhượng quá người ta lại không cho rằng quảđất có diễmphúc chứngkiến sự nảysanh của đờisống.
         Đờisống đã xuất hiện ở đâu kia và được thổi tung cùng vũtrụ do sức ép của ánhsáng. Quảđất ta xưa được một mầm, vũtrụ mầm ấy cấy và từ đó có đờisống. Thuyết ấy được nhà thôngthái ARRHENIUS truyền bá rất đắclực. Và theo các con tính của ông thì các sinhvật có thể nhỏ vào kích thước của vitrùng có thể nhờ ánhsáng chuyên chở đi khắp cùng.
         Nhưng các cuộc thínghiệm chứngtỏ rằng nếu các vũtrụmầm ấy có thật, thì đó chỉ là những xác chết, vì trong khoảng khônggian giữa tinhtú ngoài sự lạnh gắtgao mà sinhvật chịu đựng được (Becquerel), tia sáng tửngoại rất nhiều và sinhvật không thể chịuđựng được các tia ấy.
         Thể thuyết của ARRHENIUS chỉ là một thuyết làm cho ta phục vì khéoléo, song nó không đứng vững nữa, vả lại nó chỉ làm lui câu hỏi mà không trả lời. Chúngta muốn biết nguồngốc đờisống chớ không chỉ muốn biết nguồngốc đờisống trên mặt địacầu mà thôi.

II.– CÁC THUYẾT GIÚP TA GIẢIQUYẾT VẤNĐỀ NGUỒNGỐC ĐỜISỐNG
A) Thuyết tiếnhóa
         Hiện nay, chúngta có thể hiểu nguồngốc đờisống hay nói trúng hơn, chúngta có thể hìnhdung nguồngốc đờisống một cách hợp lẽ hơn.
         Đó là vì nay ta dựa vào một thuyết vô cùng quanhệ ở vạnvậthọc. Đó là thuyết Tiếnhóa.
         Thuyết Tiếnhóa là thuyết cho rằng các loài không bấtdi bấtdịch mà chúng biếnđổi theo thờigian và một loài nầy, một khoảng thờigian sau, thídụ một triệu năm sau, sẽ trở nên loài khác.
         Thuyết ấy được các nhà vạnvậthọc hìnhdung từ cuối thếkỷ 18. Chính BUFFON cũng đã phải nhờ nó để giảithích các sinhvật đặcbiệt của châu Mỹ. Nhưng phải chờ đến năm 1809 mới được côngbố trong một quyển sách khoahọc “Triếtlý độngvật” của LAMARCK và năm 1869 để DARWIN biến nó thành một thuyết vô cùng chắcchắn và từ đó đến nay các nhành của sinhvậthọc không có nhành nào là không đem lại lýlẽ ủnghộ thuyết Tiếnhóa.
         Vídụ như cổsinhhọc. Cổsinhhọc họ biết rằng lúc xưa (thờiđại Cambiên), nghĩa là cách đây hơn 500 triệu năm trên mặt địacầu không có độngvật có xương sống. Và trước thờiđại thứ nhì, cách đây cỡ 200 triệu năm các loài có vú chưa xuấthiện. Và loài người, tiếnbộ nhất, chỉ mới nảy sanh cách đây không hơn một triệu năm.
         Vả giữa các hìnhthức sơsinh và các hìnhthức tiếnbộ, cổsinhhọc cho ta tất cả những hìnhthức trunggian: vídụ như giữa người và khỉ, ta có con vượn người, con người vượn, người Neanderthal.

B) Các sinhvật sơsinh nhất
         Thế nhờ thuyết Tiếnhóa mà nay muốn tìm nguồngốc đờisống ta chỉ cần khảosát kỹ các sinhvật nào giảndị nhất.
         Từ lâu, người ta cho rằng đó là những vitrùng, vì vitrùng là những sinhvật nhỏ nhất, do một tếbào mà thành, không có một nhân rõ rệt, và không có các hiệntượng nào về phái (giaocấu, thọtinh) chi cả.
         Song nay chúngta biết rằng nếu các vitrùng thuộc giới sinhvật đơnsơ và hạđẳng, chúng không phải là hạđẳng nhất.
         Và hiện nay người ta thấy rằng chúng cũng có nhân và ở vài loài dường như có sự sinhsản hữuphái nghĩa là có sự giaocấu (Haldane).

C) Siêukhuẩn và nguồngốc đờisống
         Thật ra các sinhvật sơsinh nhất còn nhỏ hơn vitrùng. Đó là các siêukhuẩn đo Pasteur tìm ra khi ông khảocứu bệnh chó dại.
         Chúng nhỏ đến nỗi nhiều siêukhuẩn bám vào vitrùng mà ăn và vitrùng vì thế bị bệnh! Đó là vitrùng của vitrùng.
         Hãy lấy một vídụ để sosánh. Nếu bạn phóngđại vitrùng ra to bằng một toa xe lửa thì vài siêukhuẩn chỉ to bằng chúngta và siêukhuẩn gây nên bịnh bại truyềnnhiễm chỉ to bằng chiếc giày của ta mà thôi. Với kích thước ấy chúngta phải cao 15 cây số!
         Siêukhuẩn nhỏ đến nỗi vài siêukhuẩn nhỏ hơn nhiều phầntử phứctạp như vài phầntử tạo nên màu đỏ của máu (huyết thanhtố).
         Siêukhuẩn nhỏ như thế, vì nó là một phầntử hóahọc. Phầntử ấy thật ra phứctạp. Đó là một phầntử prôtein nhân, gọi như thế vì prôtein nhân tìm được ở trong nhân của tếbào.
         Phầntử ấy gồm có hai phần:
                  đảnbạch = prôtein
                  acit nhân
         Thế kíchthước của siêukhuẩn làm cho nó đứng trunggian giữa sinhvật và giới vôcơ.



         Hơn thế nữa. Năm 1930, Nhà sinhvậthọc STANLEY côngbố một kếtquả làm chấnđộng dưluận hoàncầu. Ông dùng những phươngpháp hoàntoàn hóahọc ngăn ra được ở cây thuốc lá bị bệnh nám lá, siêukhuẩn đã gây ra bệnh ấy. Siêukhuẩn ấy được kếttủa đi, hòatan lại rất nhiều lần và kếttinh đi!
         Xưa nay sinhchất hễ kếttủa đi là chết mất và sinhvật cấutạo vôcùng hỗntạp không bao giờ kếttinh. Kếttinh là tính của giới vôcơ như muối, đường.
         Thế mà siêukhuẩn của bệnh nám lá cây thuốc lá lại kếttinh! Kếttinh chúng ngừng sống lại đấy và nếu chúngta đem các kếttinh ấy hòatan vào nước, tiêm vào cây, kếttinh ấy trở thành siêukhuẩn!
         Thế siêukhuẩn có lẽ cho ta chìa khóa nguồngốc đờisống. BOIVIN cách đây mười mấy năm có viết rằng: “vấnđề siêukhuẩn đưa ta đến ranhgiới của đờisống”.
         Không bao lâu người ta lại có thể tổnghợp ra siêukhuẩn. Tổnghợp là với các chất đơngiản hơn chế ra một chất phứctạp. Vídụ như ngườita tổng hợp ra pénicilinh, ra nylông v.v… Chế ra siêukhuấn thế là chúngta đã chế ra đờisống rồi vậy!!
         Thật ra, đó không phải là một sự tổnghợp hoàntoàn, đi từ các chất đơn như cacbon của than đá, hytro của nước, ốcxy của khí trời, photpho… Mà đó là một sự tổnghợp tạm, do hai nhà thôngthái Mỹ FRAENKEL CONRAD và WILLIAMS.
         Số là, như chúngta đã nói, siêukhuẩn là một prôtein nhân do một acit nhân hóahợp với một prôtein. Chất prôtein baobọc lấy acit như một cái ống.
         Hai nhà báchọc ấy dùng acit thay đổi pH, cắt hai phần ấy ra. Mỗi phần như thế trở thành một chất hóahọc thường, như đường, như muối, không sống một tí gì cả.
         Song hai nhà báchọc ấy cho thay đổi pH lại như cũ, thì hai phầntử hóahọc không sống ấy tự hợp lại và một vài siêukhuẩn được nảy sanh!!
         Thế mặc dù sự tổnghợp chưa hoàntoàn chớ chúngta đã bước từ chất không sống sang chất sinh sống rồi vậy.
         Nhưng tại sao chúngta lại chưa thể tổnghợp hoàntoàn đờisống?
         Đó là vì nếu trong hai chất trên, chất acit nhân tỏ ra giảndị và gồm có acit photphoric hóahợp với một chất dượng và một basơ hữucơ mà ra, thì chất prôtein tỏ ra rất phứctạp.
         Hiện nay một phần lớn sinhhóahọc chuyên khảocứu chất chìa khóa của đờisống ấy.
         Chất prôtein do acit amin hợp lại làm thành. Các chất acit amin chúngta biết tất cả. Song phầntử prôtein gồm rất nhiều acit amin khác nhau. Nên nội cái biết sự cấutạo của phầntử prôtein cũng là một việc khó, huốnghồ là tổnghợp chúng.
         Sau những sự tìmtòi tỉmỉ, các nhà sinhhóahọc biết được côngthức của một vài prôtein đơngiản. Tỉ như insuline, prôtein trinhtrấp của lalách (Sanger), của ôcytosin, của vagôpressin, của nãothủy (Fromageot, Du Vigneaud). Chất insuline gồmcó 51 phântử acit amin.
         Sự tổnghợp prôtein rất khó. Là vì nếu bạn có mấy acit amin phải làm sao ráp chúng theo một thứtự, theo một kiếntrúc nhấtđịnh, vì chất prôtein do A, B và C làm ra có thể là ABC hoặc ACB hoặc CAB. Đó là các chất đồngchất.
         Tóm lại nếu hiện tại chúngta đã bước qua từ chất không sống sang sinhchất nhưng thật ra ta chưa tổnghợp hoàntoàn được đờisống.
         Mà óc hiếukỳ của chúngta không chịu ngưng ở đây.
         Nhưng muốn đi xa hơn nữa chúngta phải thúnhận rằng chúngta chỉ dựa vào giảthuyết mà thôi.

D) Tựnhiênsinh theo DAUVILLIER và DESGUIN (1941)
         Giữa nhiều giảthuyết chỉ có giảthuyết của hai giáosư DAUVILLER và DESGUIN tỏ ra rất quanhệ và hợp với các hiệntượng khoahọc mà ta biết.
         Ý kiến hay của hai giáosư là cho rằng đờisống lúc mới bắt đầu giảndị hơn bây giờ, sự phứctạp hiệntại là do sự tiếnhóa.
         Theo hai giáosư ấy thì sự nảy sanh của đờisống trên địacầu là một hiệntượng tựnhiên, nó phải có sau khi quảđất nguội. Nghĩa là sự tiếnhóa của đờisống là giaiđoạn chót của sự tiếnhóa của các chất hóahọc, của vỏ trái đất.
         Chúngta hãy theo dõi địacầu ta từ lúc nó mới nguội.
         1°/ Khi nhiệtđộ còn trên 4.000° thì chưa có phản ứng gì cả.
         Dưới 2.000° thì bắt đầu có các cuộc phảnứng cho ra các hytrua cácbua, nitrua v.v…
         Bầu không khí bấygiờ không có ốcxy mà chứa rất nhiều Hydrô như ở mặt trời.
         2°/ Khi nhiệtđộ xuống dưới 1.000° thì hydrô phảnứng với các ocxit kim khí cho ra nước, xong cho ra ocxy mêthan, amônhắc, v.v…
         3°/ Quanhệ hơn cả là sự thànhlập các chất hữucơ.
         Trong sự thànhlập ấy, ánhsáng dự phần quantrọng. Nhất là các tia ánhsáng như tia tửngoại chứa nhiều nănglực gây ra các phảnứng cho ra các chất đường (glucit), mỡ (lipit) và nhất là các chất prôtít.
         Hiện tại trong phòng thínghiệm với ánhsáng tửngoại mà làn sóngđiện rất ngắn người ta có thể tạo ra các chất prôtít mặc dù còn đơngiản.
         Thế nănglực của ánhsáng mặt trời tổnghợp thành rất nhiều chất hữucơ.
         Các chất này làm thành một lớp nhầy nhầy trên mặt bể.
         Các chất ấy là những chất cháy được; có nhiều như thế chúng ở trong một trạngthái bấtổn và lầnlần tựhủy đi bằng cách hóahợp từtừ với ốcxy.
         “Chính sự biếnhóa từtừ của các chất hữucơ với ốcxy tan trong nước là nguyêntắc của đờisống rồi vậy” (DAUVILLIER và DESGUIN).



         Song lầnlần dưỡngkhí của khôngkhí thành ôzôn (03) và không cho tia tửngoại soi thấu xuống mặt bể nữa.
         Thế các chất hữucơ không được tổnghợp nữa và đờisống sơsinh kia bị bếtắc vì từtừ tiêumòn?
         Không! Vì trong khoảng thờigian ấy, đờisống chỉ đi từ giaiđoạn điềuhòa vôtổchức để đi đến giaiđoạn tếbào nghĩa là có tổchức hẳnhoi.
         Và lúc ấy đờisống không lấy nănglực một cách trựctiếp ở tia tửngoại nữa mà bằng cách đốt các chất sắt hoặc acit sulphydric, hoặc méthan như nhiều vitrùng hiện tại.
         Và sau rốt đờisống tìm gặp chất diệplục quíbáu của các cây. Từ đây đờisống không cần lo vấnđề nănglực nữa: diệplục hút ánhsáng mặttrời và tạo ra thức ăn cầnthiết.



         Đó là giả thuyết để cho ta hìnhdung giaiđoạn đầu của đờisống mới xuất hiện.
         Có lẽ với các giai đoạn ấy chúngta chỉ sẽ phải chỉ dựa vào giả thuyết.
         Vì các đất cổ nhất mà ta biết hiện tại là các đất thuộc về thờiđại tiểucam, lúc mà chưa có các dãy núi to như Himalaya, Alpes, Montagnes Rocheuses v.v… còn nằm dưới bể sâu, lúc mà một phần to nước ta còn chìm ở dưới bể, cách đây hơn 1.000 triệu năm, các đất ấy nều chứa vitrùng, rong thanhtảo hạcấp, thì là cũng chứa nhiều sinhvật khác phứctạp như cácốc (giống Volborthella).
         Hơn thế nữa, các đá ấy nếu trồi lên không thì chỉ cần có một vài triệu năm là một dãy núi to cũng mòn mất. Mà chôn sâu dưới bể các lớp địatầng khác biếnthành đá phiến sau rốt thành granit: trong ấy không một vết sinhvật nào còn lại cả.
         Thế cổsinhhọc không có hyvọng giảiquyết nguồngốc đờisống được. Có lẽ một ngày kia, khi mà chúngta rời khỏi quảđất để đi dukhảo các hànhtinh của mấy tháidươnghệ khác, chúngta có diễmphúc gặp một quảđất nơi ấy đờisống mới bắt đầu. Đó chỉ là dịp duynhất để chúngta hiểu nguồngốc đờisống mà thôi.

III.– KẾT LUẬN
         Tómlại, với vấnđề nguồngốc đờisống, nếu chúngta đã tiến được một bước, mặc dù bước ấy rất to, song đường hãy còn rất dài.
         Nhưng như bạn thấy, vấnđề ấy xưa chỉ là một câu hỏi của triếthọc. Nay nó được đưa vào khoahọc và là một câu hỏi của nhà sinhvậthọc. Đó là một thắnglợi lớn cho khoahọc.
         Xem thế, khoa vạnvậthọc không chỉ để khảocứu có bao nhiêu loài cây, loài cỏ, loài thú, loài cầm. Khi bạn thấy một nhà vạnvậthọc mặc quần đùi, áo sơmi, vai mang một bị ngaodu trong cõi thiênnhiên, bạn đừng cho rằng họ thích đi rong và để gặp các sinhvật đẹp, lạ, mới mà thôi. Mà sự quansát và khảocứu các sinhvật ấy đem lại cho ta nhiều sự hiểu biết lý thú và lầnlần đem lại cho ta nhiều câu hỏi sâuxa mà ai có tánh hiếukỳ cũng phải tìm cho ra câu trả lời.
         Chính vì những câu hỏi ấy mà khoa vạnvậthọc là một khoahọc vô cùng hấpdẫn.
         Ước mong rằng đó cũng sẽ là cảmtưởng của các bạn.


PHẠM HOÀNG HỘ
[1929-2017]


BÁCH KHOA |  SỐ 9
Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 08/01/2018, 22:41:16


Hồ Xuân Hương
000
“Thân em thì trắng phận em tròn,
   Bảy nổi ba chìm với nước non…”

THÂN PHẬN của nữ sĩ quả như lời nàng vịnh bánh trôi nước: bảy nổi ba chìm. Nhưng tất cả tấn thảm kịch chưa chỉ chừng đó. Nếu bảy nổi ba chìm giữa nước non mà người chịu để, cho lòng mình cùng với cuộc đời mà đổi thay, méo mó, thì không sao. Cái đau đớn là giữa non nước bảy nổi ba chìm, người lại cố giữ tròn trịa, trắng trong một tấm lòng son nguyên vẹn. Và suốt một đời, sự xung đột cứ tiếp diễn liên miên. Mâu thuẫn giữa lòng người và cuộc sống, tương xung giữa niềm khát vọng tha thiết của tâm hồn và sự khắt khe của định mệnh. Oái oăm làm sao, sự chênh lệch! Người tìm mãi không ra nhịp quân bình. Thoảng hoặc, một đôi lần có tạm tìm được, cũng chỉ để rồi khi mất lại càng chua xót tái tê hơn. Và lời van xin, lời cầu nguyện âm thầm của lòng người thiết tha qua giọng điệu cợt đùa trâng tráo, những lần nào ta lắng lại chu đáo hơn, ta đã kịp nhận ra một âm vang não nuột cũng gần như tiếng “tân thanh đoạn trường” của Tố Như, mà có lẽ dường còn tấm tức oái oăm hơn. Nói mà nghẹn lời, thở than mà ngượng ngập, muốn khóc lóc mà đành phải gượng cười, chưa một lần nào người thật sự để lòng mình trước mắt người đời được dàn bày, phơi trải. Tự thú thật với lòng mình đã ngượng nghịu lắm thay! “Những chưa nói đã thẹn thùng…”
         Mà thật ra, còn một lối nói nào phô bày rõ hơn nỗi lòng tan nát bằng cái cười hí hước che dấu tâm tư? Che mà rất mở.
         Người con gái từ nhỏ sống côi cút với mẹ, ra vào một gian nhà nhỏ bên hồ Lãng Bạc, người con gái quê mẹ ở Hải Dương, quê cha Quỳnh Lưu đất Nghệ, đã ôm ấp những mộng tưởng gì khi nhìn tấm gương kim cổ cau mặt với tan thương, những lúc nắng hanh buổi sớm, mây dồn mái trưa… Nàng đã âm thầm nối lại những giấc mơ nào, riêng? chung? cùng non nước? Những giấc mơ nồng nàn nào để ngày mai cuộc đời sẽ làm cho tan nát? Và người sẽ lựa một giọng điệu nào để lấp liếm nguôi quên, mà riêng mình biết đã trọn vẹn ký thác với cái tâm sự của con người đau thương mà nghìn xưa lời ca dao từng than thở:

                           “Tưởng rằng đá nát thì thôi,
                             Ai ngờ đá nát nung vôi lại nồng.”


         Lên bảy, lên tám, xin mẹ cắp sách tới trường, những hoài vọng thiết tha nào xui giục? Cái thế giới này mới xinh ngộ làm sao. Từ bao năm lớn lên bên tà áo mẹ, có dịp nào được sống với nhịp lòng vui hứng thế này đâu. Một vài chữ Tam Tự Kinh của thầy chỉ bảo qua loa cho cô nữ sinh đỡ chơi nghịch, thầy có ngờ đâu rằng trong tâm hồn nhiều chờ mong thắm mộng ấy, mỗi một chữ sách có một âm vang không thường, đánh thức giậy muôn vàn khát vọng tiềm lắng của cha ông, của những con người Nghệ Tĩnh.
         Các bạn trai đừng quá sỗ sàng tinh nghịch nhé. Người bạn gái hồn nhiên nhí nhảnh ấy, cùng ngồi với các bạn trong gian phòng học kia, mang một tâm hồn muôn thu của non nước, ngày mai sẽ thay thế cho bạn quần thoa nói lên nỗi đời hờn tủi của giới mình trong một giọng điệu nào độc đáo vô song… và muôn người ngang qua sẽ dừng bước lắng nghe, sững sờ, bâng khuâng và lim dim mắt lại…
         Cái giọng nói hồn nhiên vui cười cay đắng của người tự thuở lên mười, nàng đã có… Một chữ “XUÂN” viết trên bụng biến thành một chữ “THUNG”… và nàng cũng không ngần ngại gì mà không vì văn chương đem phơi bụng mình cho bạn đọc. Bạn cứ nhìn kỹ vào bụng Xuân Hương mà xem (bụng theo nghĩa đen). Đã nói chuyện văn chương thì đừng nên e thẹn gì giữa trai và gái. Một câu nói, một thái độ ấy của người cũng đủ tóm tắt cả một bản ngã ngang nhiên của bạn nữ lưu yêu đời dạn dĩ. Rồi suốt đời nàng vẫn giữ vẹn thủy chung với quan niệm tuyệt luân của mình hoài bão với văn chương nghệ thuật: tươi cười vừa như che dấu, vừa phơi trải cả tấm lòng tan nát, đứt lìa của mình, thẳng thắn cho đời nhìn càng rõ thêm ra… Người đời có cười nàng sao trên bước đường đời nàng vấp té nhiều bận thế, và quả tim có vì vậy mà dập nát nhiều không. Thì nàng vẫn lại tươi cười lấp lửng mà đáp:

                           “Giơ tay với thử trời cao thấp
                             Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài.”


         Lời nói để chữa thẹn của tuổi nhỏ quả cũng phát xuất tự tâm can, và nghiễm nhiên trong đó lung linh hình ảnh trọn một kiếp người. Muốn biết trời cao thấp, muốn biết đất ngắn dài, thì thế tất phải chịu xoạc cẳng, giơ tay, chịu lầm than té xuống, té lên chứ lị. Nếu không chịu trầy tay, gãy chân và đứt từng đoạn ruột thì làm sao biết rằng đất có còn để bàn chân đạp, và trời có còn để miệng thở than?
         Ta hãy nhận ra lời nói của nàng. Cô gái đi dự hội xuân nhí nhảnh tươi cười gieo tặng những vần thơ xanh, sau này bao lần sẽ gây cho lòng người rất nhiều tấm tức. Ta đau lòng nhìn cái nụ cười xuân của nàng giữa buổi hội hân hoan. Cái cười trước sau vẫn không thay đổi. Vẫn hồn nhiên bất tận. Vẫn hai làn môi hồng thắm tươi làm khung cho hai hàm răng ngọc. Và nhìn vào ta cứ thấy mới mãi ra. Ta muốn thưa: ― “Xin nàng hãy đừng cười nữa. Chừng ấy cũng đủ để chúng tôi hiểu rồi, và cảm tạ người rồi. Tôi đã đọc được tiếng khóc trong giọng cười, và hiểu đời mình, đời người lúng túng như thế nào trong vòng định mệnh…”
         Cái cười của nàng cũng như cái khóc của Nguyễn Du, vừa đau thương vừa an ủi. Hai thiên tài của đất nước đã chỉ cho ta hai lối thoát ly, tuy xa biệt nhau, mà cùng giống nhau trong tác dụng.
         Với Nguyễn Du, ta ngồi lại bên đường, dưới bóng cây râm mát, bên bờ suối trong, ta chờ bàn tay người mẹ hiền thấm nước rửa rịt vết thương, và chim trên cành vẳng giọng ca chia sớt… Lòng ta dịu lại, vì trong khi ta đau khổ, cả đất trời cảnh vật đã cùng ta lai láng cảm thông. Khi đầm đìa than thở:

                           “Bên trời góc bể bơ vơ,
                             Tấm son gột rửa bao giờ cho phai…”


ta đã dốc hết nguồn cơn cho trời bể, và trong lời thở than tràn trào, uyển chuyển, ta đã gửi trọn nỗi buồn đau cho nhịp điệu, và cuối cùng đã tìm ra an ủi trong nhịp điệu đong đưa… Qua làn nước mắt người đã mỉm một nụ cười với nghệ thuật vô hạn tuyệt vời, mình đã để cho lòng mình bị lời thơ quyến rũ, đi vào trong bát ngát cảm thông. Không có gì an ủi nỗi đau thương con người bằng lời thơ não nuột của Nguyễn Du. Tiếng đoạn trường đã lai láng nối liền những đoạn lòng đứt nát… vì chính lòng thi nhân đứt nát không hề được ai nối lại cho.
         Với Hồ Xuân Hương, ta tìm lối thoát ly cho đau thương bằng một nẻo khác. Vết thương loang máu, ta vẫn không được phép ngồi lại bên đường. Không có người mẹ hiền ngồi bên ve vuốt. Chim trên cành không vẳng giọng cảm thông, mà lại lên điệu ca nhạo báng. Và cảnh vật cùng lên giọng cợt cười:

                           “Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
                             Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn…”


         Người bạn đường đi bên cạnh lại oái oăm giục ta giấn bước. Hãy cứ cười mà đi, mặc cho vết thương loang máu, mặc cho miệng thế cười chênh lệch, mình hãy tự cười mình trước:

                           “Cái tội trăm năm chàng chịu cả,
                             Mảnh tình một khối thiếp xin mang.
                             Quản bao miệng thế lời chênh lệch,
                             Những kẻ không mà có mới ngoan."


         Cái cười mới thật là trắng trợn. Mà cũng thanh thoát làm sao. Nó ngang nhiên hí hước:

                           “Tài tử văn nhân ai đó tá,
                             Thân này đâu đã chịu già tom.”


         Nó cho ta đủ thanh thản để đi vào giữa tủi nhục của cuộc đời mà lòng không nao núng. Người dù có điêu đứng vẫn giữ được thái độ hiên ngang đắc thế. Thật không khác gì thái độ của tác giả Đoạn Trường Tân Thanh mấy:

                           “Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
                             Mà xem con tạo xoay vần đến đâu.”


         Hoặc:

                           “Đã cho lấy chữ hồng nhan
                             Làm cho cho hại cho tàn cho cân…”


         Con Tạo có tàn nhẫn với ta, có xem ta như một đồ chơi bé bỏng, dù sao ta vẫn là một đồ chơi có ý thức mình là một đồ chơi, và chừng đó đủ cho phép người hãnh kiêu mỉm cười cùng nghệ thuật, lên tiếng trách trời già:

                           “Lâm truyền quyến cả phồn hoa lại,
                             Rõ khéo trời già đến dở dom…”


         Thật là khác xa cái cười của Trần Tế Xương. Cái cười hằn học của Trần Tế Xương tố cáo sự thất thế của con người trước cảnh ngộ, không làm chủ được mình, không tự tạo được cho mình một nhịp điều hòa thanh thản. Người không đi trên được thực tế trớ trêu. Và vì thế Trần Tế Xương không cho ta thấy một nhân sinh quan sâu rộng. Không giúp ta hiểu đời một cách sâu sắc hơn.
         Hồ Xuân Hương là một thiên tài trào phúng Việt Nam đã đi vào cõi bất diệt. Cái cười của Hồ Xuân Hương mới thật là vừa hồn nhiên, vừa tươi trẻ, vừa sâu sắc, rộng lượng vô cùng. Nó không có tính cách thời sự, và hẹp hòi soi mói như cái cười Trần Tế Xương. Nàng vẫn cười người rất tàn nhẫn:

                           “Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
                             Vị gì một tí tẻo tèo teo.”


         Nhưng tàn nhẫn mà không sâu độc, không ác ý. Cái mới thật là lạ. Chỉ vì lẽ nàng thương nhiều hơn ghét. Thương cho người và thương cho mình. Cười người mà cũng chính tự cười mình. Cười người “vị gì một tí tẻo tèo teo”, nhưng chính nàng đã há không bao lần từng cười mình đã vì cái thúc bách của “tí tèo teo” mà ôm lòng chịu tủi nhục đó sao?
         Thế rồi khi nhận rõ nguyên nhân của tủi nhục nó phi lý lạ lùng đến thế thì thôi, là tấm lòng của nữ sĩ có phải đã cùng với nghệ thuật mà trao đổi một chuỗi cười hân hoan? Hân hoan và đau khổ quả đã thật xen hòa. Nhưng ta không dám quả quyết rằng hân hoan đã làm nguôi đau khổ? Làn môi của nữ sĩ ta sợ vẫn chưa hết mếu trong nụ cười. Ta tưởng như chưa hẳn hiểu xong tấm lòng cùng những nguyện ước của Xuân Hương. Lòng nữ sĩ nguyện ước những gì? Người có tìm ra an ủi trong nghệ thuật ấp ôm? Ta không biết. Nỗi đau khổ của người ta không thể cảm thông trọn vẹn. Nàng là đàn bà. Lại là nữ sĩ. Kẻ đồng hội đồng thuyền với nàng không phải là chúng ta. Cái dở dang của tình duyên, cái bẽ bàng của thân phận, cái ngang trái của số kiếp, người đàn bà bao giờ cũng là nạn nhân đau đớn hơn đàn ông. Người đàn ông có nhiều lối thoát hơn. Trong vấn đề tình duyên, ân ái, người đàn ông được quyền chủ động. Người đàn bà, trong bản tính, tự thấy không thể ngang nhiên. Huống hồ còn luân lý, còn tứ đức, tam tòng, còn phong thể… Bao nhiêu mối ràng buộc. Làm sao thoát ly, dù tâm hồn một nữ sĩ có muốn cởi bỏ hết. Nỗi khát khao của lòng, nhiều lắm, chỉ dám dãi tỏ trong lời thơ; trước cuộc đời, ta biết rằng nhà thơ sẽ e dè lùi bước.
         Người đàn ông, khi thiết tha yêu, đợi chờ mà không được đền đáp, vẫn dễ dàng tìm một đối tượng khác làm phương tiện thực hiện cái mộng yêu đương của lòng mình. Hở môi không đến nỗi thẹn thùng, mà có phần còn khoái trá hãnh kiêu trong hành động “trả thù” oái oăm là khác. Gã thanh niên bị tình ruồng bỏ, khát vọng vô biên, bèn đi tìm một cô đĩ, hoặc một người đàn bà nào xấu xí, cùng khổ, lem luốc nhất, và đem trao cho kẻ ấy trọn vẹn nỗi đằm thắm thiết tha của tình mình trong trắng. Và hân hoan kiêu hãnh xiết bao. Đem bán rẻ tâm hồn mình đế trả thủ cho bõ ghét. Mà khuynh hướng vị tha trong tình yêu quả được thỏa mãn hoàn toàn. Và kẻ được dùng làm phương tiện sẽ nhìn anh với đôi con mắt lạ lùng, không hiểu vì đâu, nhưng tấm lòng tri ân càng nặng.
         Người đàn bà có thể tìm nẻo thoát theo lối ấy được không? Cái lối thoát bất định, do tình cờ, do ngẫu nhiên của cuộc sống đem lại một phần, nhưng rất nhiều phải do quyền chủ động của kẻ làm đàn ông. Người đàn bà, mà nhất là người đàn bà phương Đông, tự bao đời âm thầm kiên nhẫn trong khuôn phép tứ đức, tam tòng, dù có tài hoa muốn để lòng trào lộng, vẫn không thể nào dám ngang nhiên xử dụng cái quyền kia… Dù chỉ một lần thôi, rồi cam lòng chịu chết.
         Đến đây, ta e ngại. Ta sắp bước vào một khu vực nào đó của một vấn đề nhân sinh quá đoạn trường. Có nên nêu lên không. Mà nêu lên thì không được bỏ dở, phải đi tới cùng. Muốn đi tới cùng phải đau lòng lìa bỏ Khổng Khưu, gột rửa rất nhiều thành kiến, mà theo tư tưởng của Jésus… Và theo một cách tuyệt đối quá. Được không? Không! Được. Ta sẽ nêu lên. Nhưng sẽ không đi tới cùng. Ta còn ở trong địa hạt văn chương. Và ta đương bàn về một nữ sĩ. Dù muốn dù không, nàng cũng không chịu để ta sỗ sàng bàn đến vấn đề riêng liên hệ đến bạn quần thoa. Ta xin nhường lời cho một Hồ Xuân Hương thứ hai của thời đại mới. Nàng phải xuất hiện. Thế kỷ điêu linh của chúng ta đương thiết tha kêu gọi nàng hãy về, và bước mạnh dạn hơn nữ sĩ của thế kỷ trước.
         Vì cái nỗi trầm luân của con người hiện nay sâu thẳm quá chừng. Không giải quyết nổi ta sợ rằng xã hội sẽ mất thăng bằng, vì bốn phần tư loài người đương dở sống, dở chết. Biết bao nhiêu hồng nhan “trơ ra với nước non”, tủi nhục đến nước nào mà cuộc đời chìm nổi của Kiều đối với họ không đoạn trường tí nào, mà là Thiên Đường của Mộng.
         Hồ Xuân Hương còn may mắn quá nhiều. Dù ngang trái mấy lần, nàng cũng đã được bước đi mấy bước. Còn bao nhiêu kẻ khác xấu xí hay không, hồng nhan hay đen đủi, – chưa một lần nào hiểu hương vị của yêu thương. Họ nghĩ thế nào? Lời ai bên tai cứ rền rĩ: “Oh! me disait ce pauvre infirme… ne fut-ce qu’une fois! Pouvoir enlacer de mes bras qui que ce soit pour qui je brule… Il me semble qu’après avoir connu cette joie, je me résignerais plus facilement à n’en plus jamais gouter d’autres; que je me résignerais plus facilement à mourir.” (Ôi! Dù chỉ một lần thôi – Kẻ tật nguyền đáng thương kia nói với tôi như thế – dù chỉ một lần, được siết chặt trong tay mình bất kỳ kẻ nào tôi cháy lòng khao khát… Tôi tưởng rằng khi đã hưởng được niềm vui ấy, tôi sẽ đành lòng không bao giờ đòi hỏi hưởng thụ những niềm vui nào khác, tôi sẽ cam lòng chịu chết giữa hân hoan…) (André Gide), và Somerset Maugham cũng để cho nhân vật thốt trong một phút loạn cuồng ngây ngất: “Bà hãy bắn tôi đi! Bắn ngay! Rồi tôi sẽ tha thứ hết cho bà. Trời ơi! Anh yêu em lắm!”
         Với những tâm hồn đương thiết tha đòi hỏi đến điên cuồng rồ dại ấy, một lời an ủi của Gide có hiệu lực gì không: “Hỡi kẻ đau khổ kia ơi! Niềm vui ấy được hưởng một lần chỉ càng gây thêm rạo rực. Dù ngươi có tâm hồn nghệ sĩ bao nhiêu đi nữa, trong những vấn đề này bao giờ tưởng tượng cũng không đến nỗi rứt ray đau đớn bằng kỷ niệm gia giết đâu nao!”
         Đối với những tâm hồn ấy, họ sẽ nghĩ thế nào khi thấy ở đời có những kẻ oái oăm diên trì thời hạn? Sắp hái cành hoa thắm lại còn chậm rãi làm ra vẻ cân nhắc đắn đo… chần chờ nấn ná… để làm tăng thêm ngào ngạt cho hương lòng, rồi cái tiên vị đủ đê mê, người ngất ngây ngang nhiên khước từ khoái cảm…
         Thì ra đời toàn những bất công, tai ngược. Kẻ thừa thải hưởng thụ một cách quá ư trưởng giả, người lại thiếu quá nhiều, hụt trước hụt sau… Kẻ thiếu thốn quá nhiều có phàn nàn, thì kẻ thừa lại lên lời dạy bảo: “Bạn hãy biết rằng cái ý nghĩa CÓ nằm trong tiếng KHÔNG. Không mà có. Có đến thừa thãi cũng tức là không!" Chao!
         Hồ Xuân Hương còn may mắn nhiều. Dù hai lần nửa đường đứt gánh, nàng cũng đã được mang gánh nửa đoạn đường. Dù có “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”, thì năm khi mười họa cũng còn có lần “nên chăng chớ”…
         Cũng vì lẽ đó nên trong văn chương, nàng còn gửi lại cho ta những vần châu ngọc. Người nghệ sĩ còn hòa giải được với đời, nên thỏa dạ làm thơ. Có những kẻ điêu đứng hơn không còn biết mở miệng “ăn mần răng, nói mần răng bây giờ”. Tiếng đoạn trường không thốt ra khỏi cổ. Tiếng đoạn trường không thể có âm thanh.


BÙI GIÁNG


BÁCH KHOA |  SỐ 9

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 12/01/2018, 18:33:42
BÁCH KHOA |  SỐ 10  [1 tháng Sáu  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Thử tìm một giải pháp để giải quyết vấn đề phân phối hàng hóa |  1-8
Hoàng Minh Tuynh |  Rút-Xô với bộ Dân-ước luận |  9-11
Nguyễn Huy Lịch |  Người trước dư luận |  12-15
Nguyễn Văn Ba |  Vua Thần Nông nếm thuốc |  16-20
Nguyễn Tử Quang |  Cần xây dựng một cảm quan đúng đắn trong khi đọc truyện Tàu |  21-22
Nguyễn Huy Thanh |  Vấn đề bảo hiểm [II] |  23-32
Bách-Khoa |  Hai cách đối xử |  32
Bình Nguyên Lộc |  Tần Thỉ Hoàng, một ông vua nhiều sáng kiến |  33-34
Thuần Phong |  Lễ giá thú trong câu hò miền Nam |  35-40
Bách-Khoa |  Có “dũng” chưa đủ, còn phải có “trí” |  40
Tuyết Nga |  Chung quanh vấn đề nam nữ bình quyền |  41-42
K. C. Thanh Trung |  Quê tôi miền Bình Định (thơ) |  43-44
Quảng cáo |  45-48
Lê Văn |  Anh Mười Méo (truyện ngắn) |  49-57
Quảng cáo |  50, 52, 54, 56
Bách-Khoa |  Từ lý thuyết đến thực hành |  57
Mặc Thu |  Một chuyện Liêu Trai: Lan Tình Sử |  58-63
Bách-Khoa |  Chết trong hơn sống đục |  63
Quảng cáo |  64
Bách-Khoa đọc thay các bạn:
   |  Tinh thần Nho giáo và Tinh thần Tây học khác nhau thế nào? |  65
Quảng cáo |  66-67
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [VII] (truyện dài) \ Từ Vu |  68-70
Quảng cáo |  71
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  72-74
Bách-Khoa |  Chân nghĩa “Tôn quân” |  75
Bách-Khoa |  Một cách giáo hóa của Khổng Tử |  76
Quảng cáo |  77-80


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204212912-b716ecab53a9dcf912ccc14b1d22b5c9/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 12/01/2018, 19:07:58


Vua Thần Nông nếm thuốc

VUA THẦN NÔNG họ Khương, sống vào khoảng 2.000 năm trước Đức Chúa giáng sanh. Vua là bực tài đức chẳng những dạy dân lập chợ búa buôn bán, mà còn dạy cày cấy trồng tỉa, nên dân tôn hiệu là “Thần Nông”. Vua Thần Nông để lại cho ta bộ Thần Nông Bản Thảo, gồm có 3 quyển, tổng cộng được 365 vị thuốc, ấy là bộ sách xưa nhứt và quí nhứt trong nghề Y.
         Trong bộ ấy, 365 dược tánh được giảng giải rất rành mạch, phân minh chắc chắn, đầy đủ, đến nỗi ngày nay khoa học tối tân xem xét thí nghiệm đến những vị nói trong ấy, đều nhiệt liệt tán thành không sửa cải được điều gì, mà cũng không thêm được sự phát minh nào cho đích đáng hơn.
         Ví dụ như Ma-Hoàng: “Khí Vị Khổ Ôn, vô độc, chủ trúng phong thương hàn, đầu thống ôn ngược. Phát biểu xuất hàn, khử tà nhiệt khí, chỉ khái nghịch thượng khí, trừ hàn nhiệt, pha trưng kiện tích tụ, khử tiết căn”. Trong Bản Thảo có nói rõ khử tiết căn, nghĩa là khi dùng Ma-Hoàng thì chỉ dùng cọng, bỏ tiết là mắt và căn là rễ. Khoa học ngày nay phân tích, thấy trong Ma-Hoàng có chất éphédrine, vì đó mà Ma-Hoàng được công hiệu. Nhưng trong cọng thì có éphédrine rất nhiều, còn trong tiết và rễ thì không có éphédrine nào cả.
         Trong Bản Thảo lại dạy cắt Ma Hoàng đúng vào tiết Lập Thu thì mới tốt. Ngày nay người ta thấy rõ Ma Hoàng gặt ở mùa Hạ thì không có éphédrine, mà gặt ở mùa Đông thì chỉ có phần ba éphédrine của mùa Thu mà thôi. Một ví dụ nhỏ như thế cũng đủ chứng chắc giá trị đặc biệt của sự nghiên cứu của Vua Thần Nông. Hay nói một cách khác, Vua Thần Nông cũng là người mà dùng phương pháp gì để rõ vị khí, tính chất, hiệu năng, tác dụng của vị thuốc một cách chắc chắn, mau chóng, mà khoa học máy móc ngày nay cũng phải nhận là quá đúng?
         Tục chỉ truyền rằng Vua Thần Nông một ngày ngộ độc đến 70 lần mà không chết, nhưng chẳng nói cho chúng ta biết Vua Thần Nông nếm thuốc với phương pháp nào. Một người mạnh giỏi như Vua Thần Nông tự nếm thuốc để coi thuốc ấy trị được bịnh gì thì làm sao nếm cho biết được. Ít nữa phải có bịnh nhơn chẩn đoán cho trúng bịnh đã, rồi mới thử thuốc, thử đến 10 lần, 100 lần đúng như nhau rồi mới dám truyền lại cho hậu thế. Nếu không có bịnh nhơn để thử thuốc mà thử lấy một mình, mà mình lại vô bịnh thì làm sao rõ được công hiệu của vị thuốc. Bởi vì lý lẽ ấy mà nhiều người cho câu chuyện Vua Thần Nông là câu chuyện huyền hoặc như trăm nghìn câu chuyện huyền hoặc khác; rồi bỏ lơ mà nói: Bộ Thần Nông Bản Thảo do sự ghi chép kinh nghiệm của nhiều dược học gia ở nhiều đời mà ra, chớ không phải của một người.
         Nếu tục chẳng truyền cho chúng ta biết rằng Vua Thần Nông ngộ độc 70 lần trong một ngày mà không chết thì chúng ta thật chẳng biết làm sao mà lần mò ra được. Nhưng tục đã truyền như vậy thì ta có thể lần phăng ra đầu dây mối nhợ ấy mà đạt đến chỗ ta muốn biết, là với phương pháp gì Vua Thần Nông nếm thuốc mà biết được dược tánh một cách chắc chắn và phân minh như vậy. Vì rằng, một khi nhận rõ phương pháp ấy ta cũng có thể áp dụng nó trong việc khảo cứu dược tánh của ta ngày nay cho được nhanh chóng và tinh vi. Ta thử xem chung quanh ta, có biết bao nhiêu cây cỏ dùng làm thuốc được, ta gọi là “cây nên thuốc” mà ta chẳng biết làm sao thí nghiệm cho rõ chúng nó trị được những bịnh gì. Dầu với máy móc tối tân, ta cũng chẳng đi được một bước xa nào, ta chỉ nhờ những kẻ nghèo nàn hay người rủi ro ăn phải một cách ngẫu nhiên, nhiều lần như vậy, rồi ta mới dám biên vào sách nhưng với một dấu hỏi to, vì không phải tự tay ta đã thí nghiệm. Ta phải chờ thì giờ và ngẫu nhiên, biết mấy mươi năm mới thêm chắc chắn được một vị thuốc mới.
         Nhưng, trước khi bàn đến phương pháp của Vua Thần Nông, tôi xin đem quí ngài một tí qua phía trời Âu.
         Cuối thế kỷ thứ 17, tại quận Saxe ở Đức quốc, Bác sĩ Hahnemann phát ra một phương trị liệu, nói cho đúng bác sĩ chỉ áp dụng phương cổ truyền dạy từ Hippocrate, là tổ thầy thuốc bên Âu châu như Huỳnh Để được coi là Tổ y học của Á châu; phương trị liệu ấy gọi là “Đồng Chủng trị liệu pháp”. Một buổi kia bác sĩ được đọc một tờ kỷ yếu của một Tạp chí Y khoa, thấy nói có nhiều người đang lành mạnh mà không biết vì lẽ gì mà uống ký ninh nhiều quá, bỗng trở nên sốt rét như người bị bịnh sốt rét rừng. Bác sĩ tức thời chạy lấy ký ninh mà uống rất nhiều, và cho vợ con tôi tớ uống nữa. Mọi người đều bị chứng run rét, rồi nóng, rồi đổ mồ hôi. Mỗi ngày cũng có từng cơn y như bị muỗi độc truyền bịnh rét rừng cho. Bác sĩ lấy làm lạ quá, và dùng thuốc ký ninh, lần nầy ít-ít, mà chữa bịnh thì ai nấy đều được mạnh.
         Từ đó, Ông Hahnemann mới thử thêm các thứ thuốc khác, có lúc Ông uống, có lúc cho người tình nguyện uống, công phu hơn ba mươi năm trời mới để lại cho đời một Bản Thảo, mà nếu so sánh với Thần Nông Bản thảo thì như hai anh em ruột. Sự so sánh nầy rất bổ ích cho người tìm hiểu căn nguyên của y lý, nhưng nói ra sẽ dài quá, không thể để trong khuôn khổ bài nầy được. Nhờ sự sáng kiến của Ông Hahnemann, công phu thí nghiệm của Ông và bộ Bản Thảo của Ông (tiếng Pháp: Matière Médicale), mà ngày nay Âu Mỹ mới có một khoa trị liệu mới, rất thần tình, gọi là Đồng Chủng trị liệu pháp, tên Âu Mỹ gọi là Homéopathie.
         Vậy chớ Đồng Chủng trị liệu pháp là gì? Ta cũng nên thừa dịp nầy mà biết sơ qua. Xưa nay, Đông y hay Tây y đều dùng thuốc theo khoa Dị Chủng trị liệu, nghĩa là một bịnh nào chẳng hạn, như bịnh kiết lỵ, vì sự ngẫu nhiên mà người ta biết Émétine hay Kim-ngân-Hoa trị được, nhưng vì sao mà trị được? Trị được là vì Emétine có tính sát trùng amibes, còn Kim-ngân-Hoa có tính hàn, giải được độc của nhiệt lỵ. Dầu ta có trị kiết lỵ bằng những phương khác, hoặc tứ-linh, ngũ-linh, hoặc với hoàng-liên ngô-thù, thì các vị thuốc ấy không thấy có đi một chiều với bịnh, trái lại đi nghịch chiều với bịnh thì mới trị được bịnh. Hàn thì phải ôn, nhiệt thì phải lương, ngộ độc vào thì ta phải cho mửa ra, hư thì phải bổ, thực thì phải tả, đều là phải dùng phương trái ngược với bịnh mới trị được bịnh. Phương ấy gọi là Dị Chủng trị liệu, Âu Mỹ gọi là Allopathie.
         Ông Hahnemann, khi đã uống ký ninh nhiều thì thấy rét run như sốt rét rừng, khi uống lại ít-ít thì chữa lại được chứng sốt rét ấy, bèn nghĩ đến những trường hợp giống như thế. Cà-phê uống nhiều thì không ngủ được, bắt trằn trọc hoài. Mà uống rất ít lại trị được chứng bất mi (không ngủ) vì thần kinh. Nha phiến hút nhiều làm giảm sức não tủy, còn dùng rất ít thì, trái lại, giục sức bộ thần kinh lên. Nhơn-Ngôn uống nhiều giết hại hột máu đỏ trong người, dùng ít lại làm tăng hột máu đỏ. Thuốc hút, hút nhiều thì say, hút một tí thì trái lại chữa được chứng huyền vựng (chóng mặt). Mã-tiền uống nhiều thì các bắp thịt đều chuyển cứng, cho đến bộ tiêu hóa từ cuống họng tới hậu môn đều bị co bóp rất mạnh và đau. Trái lại, biết dùng ít thì mã-tiền trị được lý cấp (bụng bóp đau) và chuyển cân (dọp bẻ). Khi bị ong chích, thì thấy một quầng đỏ và chỗ ấy nhức nhối như ai đâm kim chích vào chỗ đó, thì ta uống một tí nọc ong sẽ hết nhay lập tức…
         Suy nghĩ đến mấy ví dụ ấy, Ông Hahnemann thấy rằng một bên: là một thứ thuốc của người đang mạnh giỏi dùng cho đến sức lượng ngộ độc, như cà-phê kích thích thần kinh cho đế mất ngủ; một bên: là cũng một vị ấy mà biết cách dùng ít đi, thì lại chữa được bịnh mà chính nó đã gây nên bởi uống nhiều, như cà-phê biết cách dùng ít thì chữa được bịnh mất ngủ vì thần kinh kích thích.
         Biết cách dùng ít một vị thuốc để chữa những bịnh, hay chứng mà chính nó gây nên nếu uống nó nhiều, lấy nó mà trị nó, “đạp gai lấy gai mà lể”, ấy là phương pháp của Ông Hahnemann, mà ngày nay đã bành trướng khắp hoàn cầu.
         Quay về phương Đông của chúng ta, chúng ta cũng thấy pháp Đồng Chủng trị liệu đã được áp dụng nhiều lần mà ta chẳng hay. Như bã đậu dùng nhiều thì ỉa đến chết, mà lấy 1 hột bã đậu, đem giã nát với mấy chục ngàn chày trong giấy bạch (giấy bản) với ít hột tiêu sọ rồi lấy một ít bằng hột lúa cho uống, thì trị bịnh thiên-thời ỉa đến gần chết rất hay. Như rắn bách-hoa-xà uống vào nhiều thì làm đến rụng răng, chảy máu mủ ở lợi (nướu), nhưng lấy một chút bột rắn ấy phết với dầu dừa chà ở tám kẽ ngón tay thì lại trị được bịnh ung xỉ rất hay. Như lá giác uống nhiều thì sưng nổi cùng mình, nhứt là sưng vú; nhưng lấy một ít đâm dập bó ở đầu ngón tay cái thì chữa được nhũ-ung rất tài. Vú bên mặt thì bó ngón trái, vú bên trái thì bó ngón mặt vì sự giao thông bắt tréo của các đường kinh lạc; mới vừa bó thì thấy tê rần rần và ngứa ở vú; một chốc lát hết ngứa thì phải rửa chỗ bó lá giác ngay là khỏi. Cũng có khi người mình chữa bịnh yết hầu hay ung-xỉ mà chỉ hít hơi thuốc bôi ở vách cách xa miệng độ 3, 4 tấc tây.
         Xưa kia người mình dùng phương Đồng Chủng trị liệu như thế rất nhiều, mà trong phép ấy vị thuốc dùng phải rất ít, có khi chỉ có một phần triệu của một ly (Ông Hahnemann dùng đến 1 phần 10 triệu của ly), có khi một luồng hơi cũng đủ trị, mà dùng nhiều hơn thì lại không trị được. Người mình, gần đây, không biết vì lý lẽ gì hít hơi thuốc ở vách, hay bó thuốc ở ngón tay trái mà trị được bịnh ở vú bên mặt, bèn chế nhạo rồi khinh bỉ Ông Bà mình là mê tín dị đoan; tức nhiên là những công nghiệp quí báu của tổ tiên đã tiêu diệt gần hết.
         Chắc cũng có được một vài độc giả muốn biết tại sao thuốc ít như thế mà cũng công hiệu được.
         Một vị thuốc uống vào người thì hóa ra hai phần: một phần vật chất chạy khắp trong tạng phủ, một phần đã hóa ra khí thuốc, chạy theo kinh lạc nào nó hợp, như trong Bản Thảo thường nói là vị thuốc nào chạy vào kinh nào, chớ không nói nó chạy vào gan hay phế mà nói chạy vào túc huyệt âm kinh hay thủ thái âm kinh mà thôi. Phần vật chất không quan hệ cho mấy đến sự trị bịnh, mà chính là phần khí-hóa của thuốc mới bổ hay tả được kinh lạc, rồi kinh lạc mạnh lên hay yếu đi sẽ trở lại ảnh hưởng đến ngũ tạng lục phủ mình. Phần khí-hóa mới thật là phần trị bịnh. Theo phép Dị Chủng trị liệu như ta thường dùng, thì thuốc thường không độc cho mấy, nên uống nhiều hơn hay ít hơn một tí cũng không sao; và trong phép trị liệu như thế ta để tự nhiên thuốc biến hóa thế nào là biến hóa thế ấy, không can thiệp đến. Còn theo phép Đồng Chủng trị liệu, như cách dùng bã đậu trị bịnh thiên-thời, thì ta phải giã bã đậu đến mươi ngàn chày, ta phá tan tế bào nó ra, giúp nó mau thành khí-hóa; tế bào càng tan ra nhiều chừng nào thì sức khí-hóa của nó càng to và mạnh chừng nấy, thì sức trị liệu của nó càng to gấp bội phần. Ông Hahnemann lấy một giọt thuốc nặng chừng 1 ly tây, nhiễu giọt ấy trong một cái bình đựng 99 giọt nước lã, Ông đóng nút chặt, cho máy vừa xoay vừa lắc, một phút đến cả ngàn vòng. Kế đó, Ông lấy một giọt trong bình thứ nhứt, nhiễu qua bình thứ nhì có sẵn 99 giọt nước lã và cũng cho quay và lắc nhiều như thế, cho đến 30 lần, 50, 100 lần bình như thế rồi Ông mới lấy ra 5, 3 giọt chế như thế mà dùng thì hiệu nghiệm vô cùng, càng phá tan tế bào nhiều chừng nào càng công hiệu chừng nấy.
         Về thuốc khô, Ông Hahnemann cũng tán ra, đâm ra biết bao nhiêu ngàn chày thì lại thấy thuốc càng hay lên. Cho nên chúng ta chẳng lấy làm lạ rằng thuốc tán uống ít mà công hiệu không kém, có khi nhiều hơn thang thuốc cân lượng gấp 5, 6 lần của thuốc tán.
         Khi thuốc phết ở kẽ tay, thì nhờ máu huyết của thân thể chia phân các tế bào của thuốc, kéo giãn sức thuốc ra, thì khí-hóa của thuốc được mạnh và sung túc, sự công hiệu càng tăng vậy.
         Khi dùng phép Dị Chủng trị liệu, thì ta dùng bất cứ vị thuốc nào, miễn là vị thuốc ấy theo lối trị liệu trái ngược của bịnh: hàn phải ôn, nhiệt phải lương… thì được. Càng bịnh nặng, càng uống nhiều, thì phần vật chất của thuốc cũng nhiều nên sự phá hoại tạng phủ không phải nhỏ.
         Khi dùng phép Đồng Chủng trị liệu, tức là ta phải tìm cho được thứ gai nào đã đạp mà lấy thứ gai ấy để lể. Nói một cách khác, phải tìm được vị thuốc nào mà khi người mạnh dùng nó nhiều mà đến bị bịnh gống in như bịnh của ta đang muốn trị, lấy vị ấy mà kéo giãn khí-hóa-lực của nó để có công hiệu nhiều hơn; đem vị ấy mà dùng ít chừng nào thì hay chừng ấy. Phần vật chất của thuốc rất ít nên sự phá hoại tạng phủ không nhiều.
         Lúc tôi có dịp đi diễn thuyết Đông y tại Châu thành ở Đức, tôi có tìm gặp những người đệ tử cũ Ông Hahnemann để hỏi cách nếm thuốc của họ. Có nhiều bác sĩ tự nếm thuốc lấy mình, có khi cho người tình nguyện uống. Nhưng bao giờ cũng phải chọn người lành mạnh không bịnh tật, và uống cho đến khi thấy ngộ độc mới thôi. Họ cho 5, 10 người uống một vị thuốc, rồi biên chép hết các chứng đã xảy ra, chọn lấy chứng chánh, chứng phụ, ghi ra thành sách. Hễ người lành mạnh mà ngộ độc ra chứng gì, ví dụ ỉa mửa và nhức đầu thì người ta ghi rằng vị thuốc nầy trị được chứng ỉa mửa nhức đầu; vị khác mà ngộ độc làm kinh trợn mắt thì người ta chép rằng vị thuốc ấy trị được chứng làm kinh trợn mắt. Đó là phương ghi chép dược-tính một cách mau chóng, chắc chắn và ai làm cũng được. Phương pháp ấy nhờ những đệ tử sáng suốt và trung thành của Ông Hahnemann mà ngày nay được toàn bác sĩ thế giới công nhận là không sai. Phương ấy được chánh thức dùng ở các nước văn minh và càng ngày càng được bành trướng.
         Nhân ngày lễ Thần Nông, ta cũng nên nhận thấy chỗ giống hệt của hai phương nếm thuốc: phương của Thần Nông và phương của Hahnemann; cả hai phương đều dùng người lành mạnh, cả hai phương đều nếm cho đến sức ngộ độc, cả hai phương đều ghi chép một cách mau chóng và chắc chắn, lưu truyền được hậu thế.
         Nếu ta đem phương ấy mà áp dụng cho những cây thuốc Nam của ta thì chẳng bao lâu ta sẽ được ngoài những mấy ngàn thứ thuốc giống thuốc Tàu đem lại, mà còn được thêm mấy trăm vị thuốc mới, đặc biệt thổ sản Việt Nam, thì nền Y học Việt Nam và kinh tế Việt Nam tấn bộ không phải nhỏ. Phương pháp nếm thuốc phải được duy nhất trong các Ông thầy thử thuốc để có thể so sánh với nhau; và phương pháp ấy phải là phương pháp được lâu năm và nhiều người công nhận, như phương pháp Thần Nông đã được 5.000 năm thử thách, và phương pháp Hahnemann trong 300 năm gần đây được mấy ngàn bác sĩ ở thế giới đeo đuổi một cách say mê và tiến bộ. Ta cũng nên nghĩ đến ta mà suy xét và tìm cách thi hành.


NGUYỄN VĂN BA


BÁCH KHOA |  SỐ 10

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 12/01/2018, 22:48:51


Lễ giá thú trong câu hò miền Nam
000
Lễ giáo
TRONG CÁNH ĐỒNG bát ngát, giữa đám mạ xanh non, trên biển vàng lúa chín, trai với gái cũng tỉ như gió mát với trăng thanh, gió cho trăng thêm thú, trăng cho gió thêm duyên, đưa đẩy dịu dàng, như nồng nàn, như hờ hững, khi gần gũi, khi xa xôi, dầu tự do ở giữa khoảng đất trời, song vẫn chẳng vượt ngoài vòng lễ giáo.
         Câu hò là nguyên do tiếp xúc giữa gái tốt trai lành; câu hò cũng là chuyến đò nên nghĩa, miễn thỏa mãn một điều kiện căn bản là trọng quyền sở định của mẹ cha.
         Cao cả hơn hết là cha mẹ; kinh nghiệm hơn hết cũng là cha mẹ; sáng suốt hơn hết cũng là cha mẹ; thương yêu lo lắng cho con hơn hết cũng là cha mẹ. Người con kim thời thường tự tín, cho mình thấy rõ quyền lợi và tương lai của chủ quan mình một cách minh xác hơn ai; nhưng sự thật luôn luôn chứng tỏ trái lại và xác nhận bao giờ cha mẹ cũng có cặp mắt sáng suốt, có trí óc minh mẫn, thấy xa hiểu rộng và nhận định đúng hơn con.
         Căn cứ vào công ơn sanh dưỡng và những điểm ưu thắng về kinh nghiệm, tình thương quyền sở định của cha mẹ trong việc hôn nhân được thừa nhận, lắm khi một cách vô minh: tự do cá nhân phải nhường hẳn cho thủ tục, cho lễ giáo. Vì vậy, người con hiếu hạnh bao giờ cũng tôn trọng quyền sở định của mẹ cha.

                  Kiếm nơi nước vận cậm sào,
                  Chừng nào cha với mẹ định nơi nào sẽ hay.


         Mẹ cha là đấng sinh thành dưỡng dục, lẽ đương nhiên là có quyền định vợ gả chồng cho con. Nhưng xã hội xây dựng trên căn bản gia tộc vẫn có quyền tham gia ý kiến. Ở trên cha mẹ, còn có ông bà, ngoài ra vẫn còn có cô bác; phải được toàn thể thân tộc tán đồng, phải được những người có quyền góp ý kiến thỏa thuận, cuộc hôn nhân mới được liễu thành:

                  Cũng nhờ cô bác đôi bên,
                  Một người một tiếng mới nên cang thường.


         Thật vậy, nếu gia tộc không thuận ưng, nhất là mẹ cha cản trở, thì dầu cho thuyền quyền quân tử có cảm tưởng xứng lứa vừa đôi, họ cũng không mong gì vượt khỏi vòng lễ giáo, họ phải tuân lệnh mẹ cha, họ phải đành thất vọng:

                  Chữ cận là gần,
                  Chữ viễn là xa,
                  Tôi với mình cách trở, tại mẹ cha không đành.


         Tuy nhiên, cũng lắm khi trong thân tộc có người không tán thành, chẳng hạn như những cô bác yếu thế lực và nhẹ tình nghĩa đối với cha mẹ, thì cha mẹ cũng dám bỏ qua ý kiến chống đối, miễn là ông bà bằng lòng, miễn là được thỏa mãn những điều kiện chính yếu như tiền tài hay danh giá hoặc đức hạnh, đặc biệt là sự thỏa thuận của con:

                  Hai đứa mình đành,
                  Phụ mẫu cũng đành,
                  Phụ mẫu đâu nỡ dứt duyên lành của con.


Mai-dong
         Ý nguyện thành hôn cần phải chuyển đạt đến mẹ cha, đến cả ông bà, cô bác; mà phận làm con, dầu trai dầu gái, ai có quyền lãnh nhiệm vụ gay go chuyển đạt ý nguyện ấy? Phải có một tay trung gian, một người mối lái. Cho nên cô gái tuy lòng đã thuận chiều, mà vẫn còn dè dặt:

                  Nay em còn cha, còn mẹ,
                  Còn cô, còn bác,
                  Nên em không dám tự tung tự tác một mình;
                  Anh có thương, cậy mai đến nói, cha mẹ đành, em sẽ ưng.


         Anh trai vẫn là người biết lễ giáo và đồng ý tuân theo lễ giáo, đợi lịnh mẹ cha, nhưng trước khi “bước tới”, muốn được lời cho cởi tấm lòng:

                  Đợi lịnh song thân em phải vậy,
                  Song em quyết một lời rồi, anh hãy cậy mai-dong.


         Anh trai có vẻ biết điều, song phận làm gái phải giữ gìn danh tiết, dám đâu vội vã hẹn hò, phải tránh câu “tiền dâm hậu thú”:

                  Thông kinh sử ấy phần nam tử,
                  Giữ nết na là phận nữ nhi;
                  Xử sao vẹn chữ xướng tùy?
                  Tiếng ừ thì dễ, em lo về ngày sau.


         Anh trai cố đánh đổ cái lý luận chèo xuôi mát mái, cởi mở mối lo lắng xa xăm của cô, liền hứa hẹn quả quyết:

                  Miễn bậu đành ừ,
                  Qua chẳng từ lao khổ:
                  Dẫu đăng sơn tìm hổ,
                  Dẫu nhập hải tróc long,
                  Trước sau giữ trọn một lòng,
                  Vào lòn ra cúi anh đành lòng theo em.


         Lòng người tiết nghĩa không phải manh chiếu mà dễ cuốn, không phải hòn đá mà hòng lăn; lời nói danh dự ngàn vàng khôn mua, tấm lòng băng tuyết dễ đâu một sớm một chiều mà trao gởi? Vả chăng lời nói tuy không mất tiền mua, song có thể làm tổn đức ở mai hậu, nên cô gái đáp:

                  Em ừ bốc bây chừ,
                  Cha mẹ từ chẳng khứng:
                  Có phải hại anh đau ngồi đau đứng,
                  Báo anh lo ngược lo xuôi,
                  Trước vui, sau lại không vui:
                  Chi bằng anh cậy mối, nói hồi ban sơ.


         Trong thực tế, mai-dong là tay “lợi hại”; thành hay là không thành duyên nợ đều do ông mai, bà mai. Buộc vào, mở ra, khen tốt, chê xấu, làm thế nào mà có khi hoài công mai chước, lỡ mối nhân duyên:

                  Đi ngang cầu sắt
                  Hỏi gắt chung tình:
                  Bướm xa ong tại nhụy, tôi xa mình bởi tại ai?


         Có khi tại già lời nói, người ta đâm ra nghi ngờ:

                  Cây oằn vì bởi trái sai,
                  Xa em vì bởi ông mai lắm lời.


         Có khi vụng nói, mai-dong cũng không thành công trong sứ mạng trung gian:

                  Xấu dao xắc chẳng mỏng gừng,
                  Xấu người mai chước, lỡ chừng đôi ta.
                  Xấu tre uốn chẳng nên cần,
                  Xấu mai nên chẳng được gần với em.


         Lại có khi duyên nợ bất thành vì mai-dong ác ý, thêu dệt những điều bất lợi cho đôi bên:

                  Lộ bất hành bất đáo,
                  Chung bất đả bất minh;
                  Bây giờ anh mới rõ tình:
                  Tại bà mai ở độc, hai đứa mình mới xa.


         Trái lại, nếu ông mai bà mai khéo ăn khéo nói cho thành lứa đôi, thì ngoài ra lễ vật, như đầu heo, trà rượu, người đem đến tạ ơn, hai bên trai gái vẫn ghi lòng công đức tác thành giai ngẫu.

                  Cậy người giá thú trao lời,
                  Đôi ta sum hợp, ơn người tạ ơn.


         Dầu ông mai, bà mai nói xong, cuộc hôn nhân cũng không phải đến đây là thành tựu. Vấn đề còn phức tạp hơn. Người ta còn phải nhờ đến một vai trò khác, cũng hệ trọng không kém vai tuồng mai-dong: ấy là ông thầy bói.
         Vấn đề hôn nhân, ai cũng làm thầy bói được một phần nào, cũng như về chữa bịnh mỗi người đều tưởng mình có thể thay thế ông thầy thuốc: một ít câu thiệu, như “nhứt gái lớn hai, nhì trai hơn một”, “dần, thân, tị, hợi, tứ hành xung”… cũng đủ cho người ta có một vài mẫu mực để chọn lựa theo thành kiến thông thường. Tuy nhiên bao nhiêu cẩn thận ấy cũng chưa đủ an lòng người; cha mẹ cần có bảo đảm chắc chắn hơn về tương lai con cái, nên phải đi cầu nhà chuyên môn, đi xem thầy bói: lời đoán của thầy bói có quyền lực quyết định; thầy nói hai tuổi xung khắc là phải hồi ngay, bằng không, e cho vợ chồng ăn ở chưa rách một đôi chiếu là sẽ gẫy gánh giữa đường:

                  Bói khoa năm bảy ông thầy,
                  Tuổi tôi chẳng đặng sum vầy với anh.


         Người ta dám tin tưởng khoa coi tuổi cũng như một khoa học tinh xảo, cho đến đỗi người ta cụ thể hóa sự xung khắc mà không ngại ngần:

                  Tại phèn kỵ nước, nước trong,
                  Đôi ta kỵ tuổi, chưa xong vợ chồng.


Hàng rào thưa
         Chừng nào lứa đôi coi mòi đã xứng, mai mối bên trong thương thuyết đã xong và tuổi tác cung mạng bói xem đã hạp, chừng đó lễ nghi chánh thức mới có thể bắt đầu.
         Đã là một dân tộc tự hào với trên bốn ngàn năm văn hiến, đã sống trong vòng lễ giáo văn minh, người ta bằng lòng đặt mình vào khuôn phép ngàn xưa, vừa phiền phức, vừa hao tốn:

                  Như anh có muốn cùng em,
                  Anh lo sáu lễ phòng đem đến nhà.


         Đối với nhà giàu, sáu lễ nạp thái, vấn danh, nạp cát, nạp trưng, thỉnh kỳ, thân nghinh. Có lẽ là sáu cơ hội thù tạc để cho hai họ tô bồi tình thân, nếu không phải là dịp khoe khoang tiền của; nhưng đối với nhà nghèo, sáu lễ là không biết bao nhiêu âu lo, khó nhọc:

                  Tôi về thưa với mẹ cha,
                  Chạy lo sáu lễ đem qua cưới nàng.


         Bề nào nghi lễ cũng không thể bỏ qua, phải chạy lo làm sao cho coi được, cho rạng mặt rỡ mày đôi bên, cho nên ông mai hay là bà mai, đã vận động bên trong hoàn thành, còn phải trở lại đàng gái với “mâm trầu cho tốt, hũ rượu cho ngon” để cầu hôn chánh thức:

                  Mâm trầu hũ rượu đàng hoàng,
                  Cậy mai đến nói, phụ mẫu tàng thì xong.


         Theo cha mẹ đàng gái, trầu ấy gọi là trầu héo, rượu ấy cho là rượu lạt, nhưng theo quan niệm thông thường hai lễ vật ấy tượng trưng cho cái hoa con gái, cái vinh diện cho kẻ danh thành, cái danh dự của gia tộc. Lễ vật ấy là tối cần, là quyết định, vì hễ được nhận, là hôn nhân kể như đã thành: một bức rào thưa đã cậm chung quanh cái hoa con gái. Trái lại, bằng không có miếng trầu héo, thiếu chung rượu lạt, thì e việc không thành:

                  Em cũng có mẹ cha,
                  Xin anh đến nhà thưa lại;
                  Riêng tình ân ái,
                  Nhân ngãi chẳng phai,
                  Song hiềm trắc trở duyên hài,
                  Phải cho có mối có mai lễ trầu.


         Cuộc đời mới càng ngày càng phức tạp khó khăn, lễ tục đủ càng ngày càng thất truyền giản dị. Sáu lễ ở đây chỉ còn có ba, mà lễ bỏ trầu cau là lễ giao thiệp chánh thức đầu tiên giữa hai họ, dầu sao cũng phải cử hành; cho nên muốn tính cuộc vuông tròn thì bề nào cũng phải thỏa mãn nghi lễ sơ giao ấy:

                  Anh rằng: anh tưởng anh thương,
                  Xin anh mau khá lo lường sinh nghi.
                  Tốn hao anh chẳng màng chi,
                  Chỉn e lỡ dở uổng thì trầu cau.
                  Một lời đã hứa với nhau,
                  Anh cậy mai đến nói, em nào sai ngôn.


         Ngoài ra trầu cau còn ý nghĩa khác ở khía cạnh của khách liễu yếu đào thơ; nó tượng trưng tấm lòng biết ơn sanh thành dưỡng dục, tiêu biểu chữ hiếu của người con gái tiết trinh:

                  Thương tôi, rượu chén, trầu cơi,
                  Đến cùng phụ mẫu đền nơi sanh thành.


         Dẫu cho giàu hay nghèo, phận làm gái phải để cho cha mẹ định hôn, mới được nhìn nhận làm con hiếu, chớ mấy ai dám tự tung tự tác mặc áo qua đầu.
         Vậy, vì danh dự, vì đạo hiếu, lễ bỏ trầu cau bắt buộc phải cử hành: tiếng là bức rào thưa, nhưng thường là một bức thành kiên cố, một nền móng vững vàng bảo đảm chắc chắn cho cuộc hôn nhân. Trầu cau là một thứ giao ước bất thành văn mà vô cùng giá trị, không dễ phản bội mà không khỏi tổn hại thanh danh.

Hiệp-cẩn giao bôi
         Tuy cũng có khi vì lợi mà xẩy ra cuộc “ép dầu ép mỡ”, song con người đạo nghĩa vẫn nép mình nhường bước cho đại gia đình: thể thống và gia phong quý trọng hơn là tự tung tự tác. Cuộc đời đặc biệt là đời tình ái, được giản dị nhiều, nhờ không có tự do kết hôn, nhờ bạn trai bạn gái không đòi hỏi tự do kết hôn, mặc dầu đôi khi trong đáy tim vàng, sau màn lễ giáo, thấp thoáng hình bóng một khách tao nhân. Cũng nhờ không có tự do kết hôn mà biển tình ít khi sóng xao gió dậy: không có tự do kết hôn nên không có tự do ly dị.
         Mỗi lần kết hôn là mỗi lần phải thỏa mãn nhiều nghi lễ thiêng liêng cả thể. Sau lễ bỏ trầu cau sơ vấn và sau lễ hỏi trang trọng hơn, là đến kỳ lễ cưới.
         Lễ, tức là lạy, – lạy tổ tiên, lạy cha mẹ, lạy họ hàng. Lạy, trước con mắt người “văn minh”, là hình dung tinh thần nô lệ, là đả đảo bản ngã của người, là chà đạp nhân phẩm. Nhưng thông thường, lạy trong tinh thần đạo nghĩa của ta xưa, là thể hiện tấm lòng hiếu thảo, là đáp nghĩa đền ơn, – cái ơn nghĩa sanh thành, lớn nặng như Thái Sơn, sâu rộng như Đông Hải. Lạy là nghi lễ của một văn minh, mặc dầu là văn minh phong kiến. Trong đời người, gần như có một lần trong dịp lễ thành hôn, người ta phải lễ người sống, vì cuộc lễ thành hôn trọng thể quá, thiêng liêng quá: không có nhà Sư chen vào chứng giám, tuy nhiên lễ thành hôn được vinh tôn gần bằng một nghi thức tôn giáo, – lý do cái lạy có lẽ là đây.
         Cho nên sau khi làm lễ từ đường, đôi tân-nhân cúi lạy cha mẹ với tất cả thành kính:

                  Lục bình chưng trước tam sơn,
                  Đôi ta quỳ xuống đền ơn mẫu từ.


         Nhưng không phải lạy suông, vì cái lạy chưa đủ lễ, còn phải dưng trầu, rót rượu, – rượu mới là lễ vậy:

                  Rượu lưu ly chân quỳ tay rót,
                  Cha mẹ uống rồi, dời gót theo anh.


         Rượu chẳng những rót mời cha mẹ, mà rượu còn phải rót làm lễ cô bác bà con hai đàng:

                  Một bộ chén chung lớn sơn đỏ,
                  Một bộ chén chung nhỏ sơn vàng,
                  Rượu song-chưng rót đãi đôi đàng,
                  Đền ơn cha mẹ, con bạn vàng theo anh.


         Sau cuộc lễ hai họ, mới đến lễ hiệp cầu giao bôi, là giờ phút long trọng nhứt là giờ phút, trong phòng loan, tân-nhân mới bắt đầu kết nghĩa tơ tóc, trước đôi ngọn đèn tơ hồng:

                  Đèn loan hiệp-cẩn trong phòng,
                  Trăm năm chí quyết bá tòng vầy dươn.


         Lễ cưới chẳng những là dịp long trọng để cho người sống hai họ tác thành duyên phận cho tân-nhân, mà, hệ trọng hơn, là dịp thiêng liêng để cho nguyệt lão xe tơ kết tóc cho đôi lứa. Trong quan niệm thông thường, nguyệt lão là vị thiêng liêng chủ hôn trong mọi cuộc hôn phối, với danh hiệu là bà Nguyệt lão hay ông Tơ hồng. Cho nên, ngay trong phòng loan ngay trong lúc nhập phòng, người ta vẫn phải lập một bàn thờ Tơ hồng và phải làm lễ Tơ hồng: một đôi dép sáp sơn đỏ, một quả nhỏ dựng nếp, một dĩa mứt, một chung trà, ba chung rượu ba chén chè… là những lễ vật cúng dưng thông thường, tùy theo trường hợp, tùy theo địa phương và tùy theo thời đại:

                  Tay bưng quả nếp vô phòng.
                  Đèn hương đôi ngọn chữ bá tòng cầu hôn.
                  Vái Ông Tơ một dĩa bánh bò bông,
                  Cùng bà Nguyệt lão gắng công xe giùm.
                  Nấu chè van vái Nguyệt bà,
                  Khiến cho chung hiệp một nhà phụng loan.
                  Hai đứa mình đứng lại một bên,
                  Ông Tơ xe quyết mới nên cang thường.
                  Chỉ điều ai khéo vấn vương,
                  Một người một xứ mà thương nhau đời.
                  Chữ tình ai bứt cho rời,
                  Tơ hồng đã định, đổi dời đặng đâu.
                  Đêm nằm dã dượi lầu tây,
                  Tơ hồng xe quyết, đó với đây vợ chồng.
                  Đạo vợ chồng, tôi nói mình nghe:
                  Đôi ta gá ngỡi, ông Tơ xe đã rồi.



         Thành kiến cũ kỹ cho rằng: “Phú quới sanh lễ nghi” và bình dân không trọng nghi lễ. Sự thật chứng minh có ít lắm là hai thứ lễ nghi: một thứ lễ nghi phù hiệu, một thứ lễ nghi thành khẩn. Hạng phú quới chưa ắt chí thành trong lễ nghi, đành rằng hạng bình dân khó lòng mà tự đắc trong nghi lễ.
         Dầu theo tinh thần nào, cuộc hôn nhân chánh thức vẫn cử hành theo nghi lễ cổ truyền, như ca dao còn lưu dấu.
         Trai lành gái tốt biết trọng thể diện của mình và trọng danh giá của gia quyến, ai ai cũng tuân theo lễ nghi và cố gắng làm tròn nghi lễ, đúng theo mỹ tục thuần phong.


THUẦN PHONG


BÁCH KHOA |  SỐ 10

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 13/01/2018, 18:08:52


           Quê tôi miền Bình Định

            BÌNH Định giờ đây giải phóng
            Nắng lên reo ngát hương đời
            Tám hướng bừng lan sức sống
            Ai về… Bình Định quê tôi…

            QUÊ tôi có bãi dâu xanh
            Có lụa tơ vàng An Thái
            Có dừa Tam Quan ngọt lành
            Ven đèo An Khê trồng cải…

            AI đã về qua quê tôi?
            Hẳn biết Phủ Phong thuốc lá
            Khói thơm quyện lẫn mây trời
            Có đũi Hoa Sung đẹp lạ…

            XA xa ruộng mía xanh màu
            Thấp thoáng vài nàng thôn nữ
            Miệt mài, hò vọng đôi câu
            Nhọc nhằn, không hề tư lự…

            SỬ Chàm mờ trong đất đỏ
            Thành xưa năm tháng quạnh hiu
            Nhớ chăng kỳ công vạn cổ?
            Hôm nay lặng lẽ tiêu điều…

            YÊU hơn chàng trai Bình Định
            Sáng ngời đôi mắt hùng anh
            Rám nắng ngoài khơi, ven vịnh…
            Cần cù: thuyền, vó, biển xanh.

            DANH một Quang Trung hoàng đế
            Chiến công quyện lấy trầm nhang
            Tỏa hương muôn mùa thế hệ…
            Quy Nhơn: quốc thổ huy hoàng.

            AN ninh nhờ anh lính chiến
            Tiếp thu tạo lại cuộc đời
            Hòa bình thắm hồn dân tộc
            Ai về… Bình Định quê tôi…


                                    Mùa giải phóng
                                    K. C. THANH TRUNG


BÁCH KHOA |  SỐ 10

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 15/01/2018, 18:55:57
BÁCH KHOA |  SỐ 11  [15 tháng Sáu  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Phan Văn Trí |  Bảy nguyên tắc Hợp tác xã Rochdale |  1-6
Hoàng Minh Tuynh |  Rút-Xô với bộ Dân-ước luận [II] |  7-10
Phạm Ngọc Thảo |  Vấn đề xử dụng người |  11-16
Nguyễn Hiến Lê |  Hai điều nên nhớ khi tìm hiểu Nho giáo: Tính cách truyền thống và chính trị của Nho giáo |  17-20
Thiên Giang |  Ích lợi của Tân giáo dục đối với sự phát triển của trẻ em |  21-24
Trực Định |  Một vài ý định nhân ngày Kiệu Mình Thánh Chúa |  25-27
Bác sĩ T. |  Bịnh Cúm (Grippe, Influenza) |  28-31
Bách-Khoa |  Học trò của nhà hiền triết Aristote |  31
Nguyễn Huy Thanh |  Vấn đề bảo hiểm [III] |  32-36
Cẩm Vân |  Trăng thôn dã (thơ) |  37-38
Quảng cáo |  39-42
Võ Phiến |  Dung (truyện) |  43-64
Bách-Khoa |  Cử chỉ của bậc đàn anh |  64
Quảng cáo |  65-70
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [VIII] (truyện dài) \ Từ Vu |  71-72
Quảng cáo |  73-80


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204213732-0e80d8249951b1e0f4c28139f51a68c8/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 15/01/2018, 19:08:22


Hai điều nên nhớ khi tìm hiểu Nho giáo: Tính cách truyền thống và chính trị của Nho giáo

KHỔNG TỬ có công làm cho Nho giáo thành một hệ thống tư tưởng. Công đó rất lớn, cho nên người đời sau thường gọi Nho giáo là Khổng giáo, rồi lần lần có người tưởng lầm rằng Khổng Tử đã sáng lập ra đạo Nho. Sự thực thì trước Khổng Tử đã có đạo Nho, cũng như trước Thích Ca đã có đạo Bà-La-Môn, trước Giê-Du đã có đạo Do Thái. Đại loại đạo Nho hồi nguyên thủy gồm những điểm chính dưới đây:
         – Vũ trụ mới đầu là một cuộc mờ-mịt chứa một cái “lý” linh diệu gọi là Thái cực, Thái cực biến hóa ra thành âm và dương, rồi âm dương biến hóa mãi ra thành vạn vật.
         – Ở trên cả, có Trời và quỷ thần, dưới quỷ thần là người. Trời như một ông vua, coi mọi việc ở trần gian, cho nên gọi Trời là Đế, là Thượng Đế.
         – Người được bẩm thụ tính của trời cho nên thiên đạo và nhân sự quan hệ mật thiết với nhau: mà việc gì hợp với thiên lý là phải, trái với thiên lý là sái. Thiên lý là lẽ phải, cho nên ý của dân hợp với lẽ phải tức thị là ý của Trời.
         – Người phải thờ phụng Trời và cúng quỷ thần, nhưng chỉ có Thiên Tử – người thay Trời trị dân – mới được tế Trời còn chư hầu thì tế Thần bốn phương và thường dân thì tế Tổ tiên trong nhà.
         – Xã hội là một xã hội phong kiến rất có trật tự, ở trên có nguyên-hậu – sau gọi là Thiên Tử – rồi tới các vua chư hầu, dưới nữa là các đại phu, kẻ sĩ và thường dân. Chính trong giai cấp đại phu và sĩ đó xuất hiện bọn Nho: họ đều giỏi văn chương và lục nghệ (lễ, nhạc, xạ, ngự, thư, số) làm cố vấn cho giai cấp trên, tức Thiên Tử và vua chư hầu. Tư tưởng của họ có tính cách rất thực tế – một phần lớn vì họ là quan liêu – gồm lại thành một học thuyết mà Khổng Tử có công sắp đặt, hợp lý hóa, rồi phát huy trong những lời giáo huấn cùng sách vở của ông.
         Những sách này gồm sáu bộ: Dịch, Thư, Thi, Lễ, Nhạc, Xuân Thu.(1) Thì năm bộ trên đều là công trình sưu tầm và chú thích: kinh Dịch do Văn Vương đời Chu diễn ra khi bị giam ở ngục Dữu Lý, sau Chu Công cắt nghĩa vắn tắt rồi Khổng Tử lấy những sự thiết thực mà giải thích cho thêm rõ ràng; kinh Thư chép những điển, mô, huấn, cáo, thệ, mệnh, tức những tài liệu về chính trị và sử từ đời Nghiêu Thuấn đến đời Đông Chu, không thêm bớt chút gì; kinh Thi là một tập sưu tầm tuyển lựa những bài ca, bài dao từ đời thượng cổ đến đời vua Bình Chương nhà Chu; kinh LễNhạc chép lễ nghi và nhạc của các đời trước. Chỉ riêng kinh Xuân Thu là có thể coi là một Công Trình sáng tác của Khổng Tử, nhưng thực ra phần sáng tác rất ít, vì Kinh đó là một bộ sử biên niên, giá trị ở tư tưởng chỉ ở chỗ nó ngầm chứa một chủ trương về chính trị, tức chủ trương chính danh, định phận, ngụ bao biếm.
         Vậy lời của Khổng Tử: “Ta thuật đạo cổ nhân mà không sáng tác gì mới” trong Luận ngữ (Thuật nhi bất tác) không phải chỉ là một lời nói nhũn; mà Herlee Glessner trong đoạn dưới đây đã định được đúng địa vị của Khổng Tử trong Nho giáo.
          “Khổng Tử chỉ là người cuối cùng và tài giỏi nhất trong số các nhà đó (tức là các nhà Nho đời nhà Chu). Một phần do ông xuất hiện vào cuối thời kỳ thứ nhất của truyền thống Nho giáo và tóm tắt truyền thống đó, cho nên ông thành một đại biểu danh tiếng cho Nho giáo (…) Hầu hết những điểm trong triết lý của Khổng Tử đều do phái Nho gia sinh trước ông để lại”.(2)
         Tóm lại Khổng Tử đã tập kỳ đại thành của người trước. Đó là điều thứ nhất ta nên luôn luôn nhớ khi tìm hiểu Nho giáo. Nếu quên rằng Nho giáo là một truyền thống tín ngưỡng và triết lý của một dân tộc, mà cứ tưởng nó hoàn toàn là tư tưởng của một nhà sáng lập – Khổng Tử – thì ta sẽ không nhận được tại sao nó không có tính cách Tôn giáo mà lại ảnh hưởng rất mạnh, không kém một Tôn giáo, tới hàng chục, hàng trăm triệu người trong mấy ngàn năm như vậy.
         Điều thứ nhì còn quan trọng hơn, mà tôi muốn đặc biệt nhấn mạnh ở đây là tính cách chính trị của Nho giáo.
         Nhiều học giả xét về Nho giáo, coi những tư tưởng chính trị trong đạo ấy là kết quả của những tư tưởng triết lý và đạo đức.(3) Tôi không thể bảo rằng kiến giải đó sai vì chính trị Nho giáo đặt cơ sở trên đạo đức; nhưng tôi nghĩ đạo đức của Nho giáo có mục đích chính trị, và Nho giáo dùng chính trị để gây đạo đức, cho nên phải đặt vấn đề ngược lại, coi phần chính trị là phần quan trọng nhất trong đạo Nho mà những quan niệm về giáo hóa, về học vấn, về cách thao thủ là kết quả của những tư tưởng chính trị, thì mới là thấu cái thâm ý của đạo Nho, mới thấy được chân tướng của nó.
         Thực vậy, đạo Nho là một triết lý chính trị trước hết. Tôi xin dẫn chứng:
         1°) Ở đoạn trên, tôi đã nói những Nho gia đầu tiên xuất hiện trong giai cấp quan lại (nhất là trong giới sử quan), thông văn chương và lục nghệ, cho nên tư tưởng của họ rất thực tế nhắm mục đích an dân tế thế, tức mục đích chính trị.
         2°) Xét ngũ kinh của Khổng Tử thì trừ kinh Thi ra, kinh nào cũng có mục đích chánh là dạy về chính trị; mà ngay trong kinh Thi, ý tưởng chính trị cũng tiềm tàng, có khi lộ liễu. Xét tứ thư thì Đại học là sách dạy cách sửa mình đề “bình thiên hạ”, còn ba cuốn kia (Luận ngữ, Trung dung, Mạnh Từ) bàn về chính trị rất nhiều. Mà chẳng riêng gì Nho giáo, đến Lão giáo… cũng có tính cách chính trị. Đó là một ảnh hưởng của hoàn cảnh: thời Xuân Thu và Chiến quốc là thời loạn, nên triết gia nào cũng muốn cứu loạn, mà cứu loạn thì chính trị là gấp nhất
         3°) Những ông Thánh của Nho giáo không phải là những nhân vật lý tưởng – có khi thần bí – xuất thế hoặc nhẫn nhục hy sinh cho nhân loại, mà đều là những vị xử thế và làm chính trị, tức như vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Văn, vua Vũ, Chu Công, Khổng Tử, Mạnh Tử.
         4°) Quan niệm về Trời và người của Nho giáo cũng rất đặc biệt. Người Trung Hoa cho Trời là ông vua của Vũ Trụ, nên gọi Trời là Đế, là Thượng Đế, như trên tôi đã nói, và cho loài người là dân của Trời. Quan niệm đó hiện rất minh bạch trong câu: “Đức Thượng Đế rất lớn, soi xuống rất rõ ràng xem xét bốn phương để tìm nỗi khốn khổ của dân mà cứu giúp” (Hoàng tử Thượng Đế, lâm hạ hữu hách, giám quan tứ phương, cầu dân chi mạc – Thi kinh). Độc giả nhận thấy câu đó dùng chữ dân là người dân, chứ không dùng chữ nhân là người. Trong Ngũ kinh, ta ít khi gặp chữ nhân mà rất thường gặp chữ dân: “Trời sinh dân”, “Trời yêu dân lắm”… Sách Tả truyện cũng viết:
          “Trời sinh dân mà đặt ra vua để làm lợi cho dân” (Văn Công năm 13). “Trời sinh dân mà đặt ra vua, sai các quan chăn nuôi dân” (Tương Công năm 14).
         Cơ hồ quan niệm: Trời là vua, người là dân, cũng là một quan niệm truyền thống, đặc biệt của dân tộc Trung Hoa.
         5°) Đạo đức, theo Nho giáo, có mục đích chính trị tức như ý trong những câu: “Hiếu là để thờ vua” (Hiếu giả, sở dĩ sự quân giả – Đại học). “Đạo người thì chính trị là lớn” (Nhân đạo chính vi đại – Lễ ký); nhất là trong đoạn đầu Đại học:
          “Đời xưa, muốn làm sáng đức trong thiên hạ thì trước phải tự nước mình; muốn trị nước mình thì trước phải tề nhà mình; muốn tề nhà mình thì trước phải sửa thân mình”.
          (Cổ chi minh minh đức ư thiên hạ giả, tiên trị kỳ quốc; dục trị kỳ quốc giả, tiên tề kỳ gia; dục tề kỳ gia giả, tiên tu kỳ thân.)
         Nghĩa là: tu thân là để tề gia, rồi trị quốc, rồi bình thiên hạ rút cục là để làm chính trị. Vì có quan niệm đó, cho nên các Nho gia đều cầu được làm chính trị: Khổng Tử bôn ba non hai chục năm, chu du các nước, tìm một ông vua biết dùng mình để hành đạo, gần bảy chục tuổi mới thất vọng, về Lỗ soạn sách và dạy học; Còn Mạnh Tử cũng đi khắp Tề, Lương, Tống, Đằng, đem tài hùng biện thuyết phục các vua, không được dùng mới về nhà, cùng với môn đệ trước tác.
         Năm điều vừa kể đủ chứng rằng Nho giáo trước hết là một triết lý chính trị; và muốn phê bình Nho giáo phải đứng về phương diện chính trị mà xét thì mới không lầm, mới hiểu rằng sở dĩ đạo Nho, về một mặt nào đó, không cao siêu bằng đạo Phật hay đạo Lão, đạo Gia-Tô, chính vì nhà Nho muốn làm những chính khách, chứ không muốn làm những nhà tu hành hoặc những triết nhân thuần túy.


NGUYỄN HIẾN LÊ

_________________________________________________________
(1) Sau vì mất mát đi nhiều, kinh Nhạc chỉ còn một thiên phụ vào kinh Lễ, thành thử còn lại năm kinh: Dịch, Thư, Thi, Lễ, Xuân Thu.
(2) Chinese thought, from Confucius to Mao Tso-Tung, – The University of Chicago Press 1953.
(3) Chẳng hạn Trần Trọng Kim trong 140 trang bàn về đạo Khổng, chỉ để ra 15 trang cuối xét tư tưởng chính trị, sau khi đã phân tích tỉ mỉ quan niệm quân tử và tiểu nhân, sự học vấn và cách thao thủ của người quân tử, sự giáo hóa của Khổng giáo (Coi trong Nho giáo – Quyển thượng – của Nhà Tân Việt xuất bản).


BÁCH KHOA |  SỐ 11

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 15/01/2018, 22:25:54


Bịnh Cúm
(Grippe, Influenza)

NĂM 1957 khác hẳn mấy năm trước, chẳng những bởi sức nóng như thiêu của mùa nắng, mà còn bởi sức lan tràn của “Dịch cúm” trong vòng tháng năm vừa qua.
         Đối với anh em nào chưa am hiểu, dịch cúm là một hiện tượng kỳ lạ, và đây có lẽ là lần đầu tiên, nó xuất hiện ở Nam phần một cách đột ngột và mãnh liệt như thế. Nhưng Y giới đã biết nó từ lâu vì nó đã uy hiếp nhơn loại ở khắp cả hoàn cầu trong bao thế kỷ.
         Luôn luôn sốt sắng với nhiệm vụ, Bộ Y tế loan báo những lời giải thích và cách phòng ngừa bịnh ấy, nên đánh tan được kịp luồng dư luận dị đoan về “Bà co, Ông cúm”.

Nguyên nhân
         Bịnh phát ra nào phải do sự oán ghét của “Ông cúm, Bà co” đâu, mà chỉ tại một thứ loại vật vô hình đối với mắt ta; nó còn quá nhỏ hơn thứ loại vi trùng kia nữa! Đó là loại Virus-filtrant (Vi khuẩn, Cực vi bịnh độc hay Siêu trùng), có tài đặc biệt chui ngang qua nổi những bình lọc có tiếng thuở giờ cản ngăn được vi trùng bịnh. Kiếng hiển vi thứ thường chưa đủ năng lực khám phá ra nó. Người ta phải nhờ thứ kiếng hiển vi chế tạo riêng – thứ điện tử – tinh xảo hơn nhiều, mới trông thấy nó. Thứ vi khuẩn nầy có hai loại A và B.



         Bạn đọc tử hỏi Vi khuẩn bịnh cúm ở đâu?
         Nó ở trong nước mũi, nước miếng, nước đàm của bịnh nhơn. Khi họ ho, sặc, nói chuyện… mà không chịu khó bao miệng và mũi cẩn thận với khăn mu-soa, tức nhiên, vi khuẩn ấy tung ra không khí ngoài trời, bay luồng khắp mọi nơi. Hễ ai rủi hít lấy thì mang bịnh. Vì thế, nơi mấy chỗ đông người, thuở giờ được sống bình an, mà nay có một bịnh nhơn nào bước tới, thì trong vòng 1, 2 ngày sau bịnh cúm sẽ phát ra nơi đó. (Trường học, rạp hát, chỗ hội hợp, trên xe đò, trong xưởng, trong hãng v.v…) Ngay trong nhà ở, nếu có người vướng bịnh, thì tất cả nhà cũng có thể bị lây luôn.

Triệu chứng
         Tuy nhỏ mặc dầu, vi khuẩn bịnh cúm có sức tấn công mãnh liệt. Gần gũi tạm một bịnh nhơn, người mạnh có thể rước lấy vi khuẩn bịnh rồi. Từ lúc vi khuẩn xâm nhập vào thân thể, thì độ vài giờ sau cho tới 1, 2 ngày là trễ, bịnh cúm sẽ phát ra.
         Bỗng dưng, người ấy thấy mình mệt mỏi, rêm cả người, tay chơn, khớp xương (xương sống, xương chả vai) đều đau nhức rũ liệt, như mới vừa trải qua một trận đòn dữ dội. Họ kêu chóng mặt và nhức đầu…
         Họ bị nhức ở trước trán, trên chơn mày, hai màng tan; lúc nào cái đầu cũng nặng trĩu, như bị treo đá. Nước mắt, nước mũi, chảy ra không nhiều thì ít. Hai chơn có khi bại xụi, không đi được bước nào. Một, hai ngày sau, cơn nóng tới thình lình, nhiệt độ lên cao 39°-40°. Miệng khô mắt đỏ, trong họng bị ngứa, bị rát, bịnh nhơn ho, ho khô khan, hay có đàm. Họ không ăn uống gì được, miệng hôi, lưỡi dơ, và đóng trắng. Chừng ba bốn ngày, bịnh nhơn mới thấy được mạnh. Mồ hôi tuôn ra, nhiệt độ hạ xuống mau lẹ, hay từ từ. Nhưng bịnh nhơn vẫn còn mệt mỏi và lấy sức lại lâu, không thể làm việc liền được.
         Bịnh phát ra với nhiều trường hợp nặng nhẹ vô chừng, hoặc với nhiều hình thức khác hơn. Có khi bịnh biến chuyển trọn cả 1, 2 tuần lễ, rồi mới chịu dứt hẳn.



         Nhưng dầu sao, Y giới cũng đoán ra chắc bịnh cúm, không sai lầm, nhờ “cấy máu” của bịnh nhơn ở phòng thí nghiệm (Viện Pasteur).


         Như thế, chỉ riêng mình nó, bịnh cúm không có gì quá nguy hiểm. Sở dĩ bịnh nhơn chết là vì tai hại của những biến chứng của nó.
         Biến chứng trong bộ máy hô hấp làm sưng phổi, máu đọng trong phổi, màng phổi có mủ, có nước…
         Biến chứng ở bộ máy tiêu hóa làm ỉa, mửa, như kiết, đau ruột…
         Biến chứng ở bộ máy tuần hoàn làm sưng tim, chảy máu…
         Biến chứng ở bộ thần kinh, làm đau màng óc, tủy xương sống…
         Các cơ quan khác cũng bị tàn phá như lỗ tai, mắt, thận…
         Trong trường hợp biến chứng, có những vi trùng độc hại loại: Streptocoque, Pneumocoque, Bacille de Pfeiffer… hiệp sức với vi khuẩn bịnh cúm để uy hiếp bịnh nhơn. Biến chứng nguy hiểm đáng sợ và thường thấy nhứt đều phát sanh tại phổi.



         Tất cả người đều có thể làm mồi cho bịnh cúm, thứ nhứt, những người trẻ tuổi từ 15 tới 40 tuổi.
         Kể ra những người bị vướng nặng là trẻ em mới sanh, những người già cả, những người đang đau tim, đau thận, đau phổi…

Phương ngừa
         Đã biết cách lây do tại đường hơi thở, tức nhiên người ta áp dụng phương ngừa trên đường ấy bằng cách khử độc: lỗ mũi và họng.
         Đối với người mạnh khỏe:
            – Nhỏ vào lỗ mũi, mỗi ngày 6-7 lần (nhiều lần càng tốt), những thứ thuốc có chất sát trùng mà hiệu thuốc tây thường có bán:
            – Huile goménolée,
            – Sérum physiologique,
            – Tyzine,
            – Argyrophédrine,
            – Rhinamide,…
         Nhỏ 3, 4 nhiễu trong mỗi lỗ mũi, rồi bóp vành lỗ mũi cho thuốc thắm vào toàn cả da non trong lỗ mũi. Nếu thuốc có rơi vào họng thì hãy nhổ ra; rủi lỡ nuốt chút ít thì cũng chẳng hại gì.
            – Súc miệng: mỗi ngày 6, 7 lần với nước nóng. Lúc đang súc miệng, hãy ngước mặt lên trời, để cho thuốc thấm xa vào đóc giọng.
            – Hoặc dùng thuốc nước:
            – Synthol,
            – Eau oxygénée,
            – Liqueur de Labarraque, v.v… 1 muỗng cà-phê một thứ nào cũng được, pha với ½ ly nước nóng.
            – Trong cơ quan làm việc đông người, muốn tiếp xúc với đồng bào, hãy mang vải thưa bịt mũi, và miệng, có tẩm nước thuốc sát trùng.
            – Đừng gần bịnh nhơn, đừng gần những người đang ho, hay than nhức đầu mệt mỏi…
            – Rửa tay, mặt, trước khi ăn.
            – Đừng thức đêm, tránh những chỗ đông người.
            – Đừng làm việc nhiều, nên tránh lạnh.
            – Thuốc chích ngừa: Mấy năm gần đây, Y giới có nghiên cứu thuốc chích ngừa (Virus-Vaccin) chứa cả hai loại A và B, hiện thông dụng bên Mỹ.
         Chích một lần thôi, 1cc. Chích rồi, 1 tuần lễ sau, mới có phép miễn nhiễm, và có hiệu lực chừng 3, 4 tháng.
         Vì lý do thực tế và chuyên môn, thuốc nầy chưa dùng tại xứ mình.
         Đối với bịnh nhơn:
            – Dời họ ở riêng hẳn trong 1 căn phòng hay căn nhà.
            – Cho họ 1 cái chậu đựng nước sát trùng pha (như Eau de Javel, cứ 1 muỗng súp thuốc pha với 1 lít nước), để họ bỏ khăn mu-soa, khăn ăn, ly, chén, quần áo, tất cả đồ của họ dùng vào đó, rồi sẽ nấu giặt.
            – Xịt nước thuốc D.T.T. trong phòng họ.
            – Trong cơ quan nào có bịnh nhơn, tốt hơn đóng cửa tạm hoạt động một thời gian: chợ, trường học, rạp hát, hãng làm việc.
            – Mỗi lần muốn ho, hay sặc, bịnh nhơn hãy lập tức dùng khăn mu-soa bao trùm miệng và lỗ mũi cho kín, để cản vi khuẩn bịnh cúm được phần nào khỏi văng túa đi ra ngoài trời.

Trị bịnh
            – Bịnh nhơn phải nằm ở giường, ăn toàn đồ nước.
            – Khi biết đói bụng, sẽ lần lần ăn cháo, khoai tây tán…
            – Khử độc lỗ mũi và họng như trên đây.
            – Giác hơi trên ngực.
         Tới nay, chưa có thuốc nào đúng đắn gọi là chuyên môn trị diệt bịnh cúm. Chỉ có những thuốc để làm đỡ khổ bịnh nhơn thôi: Aspirine, Antipyrine, Quinine, Caféine… dùng chung với nhau, để hạ bớt chứng nóng.
         Những “thuốc trị cúm” bán ở các tiệm thuốc tây đều có chứa một hay nhiều chất thuốc nầy.
         Trong thuốc Sirop dùng đỡ ho thì có: Aconit, Belladone. Thuốc dưỡng tim như Camphre và sinh tố C dùng được để giúp bịnh nhơn bớt mệt. Quấn cổ với khăn nhúng nước ấm. Khi bớt nóng uống thuốc xổ (xổ dầu, huile de ricin, hay xổ múi, Sulfate de soude)…
         Nếu có biến chứng, thì cách chữa khó khăn hơn nhiều, chỉ có thầy thuốc mới đảm nhận được.



         Tóm lại, bịnh cúm là bịnh do vi khuẩn gây ra; nó ở trong nước mắt, nước mũi, trong đàm, nước miếng của bịnh nhơn. Bịnh lây giữa người và người, lây rất mau lẹ; lây tại đường hơi thở. Có phương ngừa, và cách trị. Chỉ riêng nó, bịnh cúm không có gì đáng sợ; những biến chứng của nó mới thật là nguy hiểm. Tốt hơn, bịnh nhơn hãy cần nhờ thầy thuốc chăm nom sanh mạng của mình, mới có thể tránh những điều tai hại bất ngờ.

BÁC SĨ T.


BÁCH KHOA |  SỐ 11

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 16/01/2018, 10:26:38

                  Trăng thôn dã

      ĐÊM dần xuống êm êm và dìu dịu,
      Không gian mờ pha đục một màu sương;

      A… kia rồi!… nhô bóng cuối khu vườn,
      Nàng trăng đẹp mỉm cười nhìn thôn dã.
      Cây sung sướng rung nhìn muôn chiếc lá
      Như chào mừng ánh sáng của trăng trong;
      Lúa reo lên nghiêng ngả hát quanh đồng,
      Sông nhẹ sóng đón trăng vàng ngự xuống.

      SÁNG huyền ảo giữa trời cao vất vưởng,
      Nhìn chung quanh trăng bỗng nhớ đêm nào,
      Có đoàn người chiến sĩ trải gian lao,
      Mắt sáng quắc băng mình vào đêm tối,
      Trăng là xuống soi nhanh cho đường lối,
      Thương đoàn người vì nước quyết hy sinh,
      Và hôm nay đất Việt nở thanh bình,
      Trăng nghe họ cười lên niềm tin tưởng.
      Khẽ bằng lòng, trăng vui tươi nhìn xuống:
      Trong xóm làng tiếng giã gạo chày ba.
      Người ba miền thân ái sống chan hòa,
      Cầu vĩ tuyến ven sông đang dựng lại.

      TIẾNG hát ngân lên ca hò đối thoại,
      Ca vì trăng mà hát cũng vì trăng;
      Thanh bình ơi! Thôn dã tắm trăng vàng
      Trong sáng lắm, rót vàng qua các luống,
      Đêm tịch mịch, trăng lên cao, trăng xuống
      Thôn yên lành,
                         Văng vẳng tiếng hò mơ:
                Hò… ơ… hơ!
                         “Đồng Nai uốn khúc lặng lờ,
      Trăng thanh bình rọi đôi bờ ruộng xanh”.


                                                    CẨM VÂN


BÁCH KHOA |  SỐ 11

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 19/01/2018, 18:11:14
BÁCH KHOA |  SỐ 12  [1 tháng Bảy  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Trở lại kế hoạch năm năm, thử đề nghị một thí nghiệm |  1-9
Bách-Khoa |  Câu chuyện cái kéo của Chamfleury |  9
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: Chủ trương của phái Trọng Nông |  10-13
Bách-Khoa |  Một bài học về đức khiêm tốn |  13
Phan Lạc Tuyên |  Cuộc khẩn hoang miền Lục tỉnh của binh sĩ Việt Nam thời xưa |  14-18
Bách-Khoa |  Thế nào là một việc cao đẹp? |  18
Huỳnh Văn Nghi |  Giáo hội và chính quyền |  19-22
Cô Thoại Nguyên (dịch) |  “Tân giáo dục” do đâu mà có? \ A. M. M.|  23-31
Bách-Khoa |  Bí quyết để giữ vẻ thanh tân bất diệt |  31
Từ-Quyên Đặng Văn Nhâm |  Đại cương nghệ thuật kiến trúc nhà cửa ở Việt Nam |  32-35
Bách-Khoa |  Truyện ông quan đất Hoa chúc vua Nghiêu |  35
Nguyễn Huy Thanh |  Vấn đề bảo hiểm [IV] |  36-45
Lam Giang |  Từ xa giới tuyến (thơ) |  46-47
Quảng cáo |  48
Bình Nguyên Lộc |  Không chủ đích (kịch) |  49-53
Bách-Khoa |  Rudolph Valentino với hạnh phúc |  53
Quảng cáo |  54-58
Lê Văn |  Con chó Bê-đê (truyện) |  59-64
Bách-Khoa |  Tô Tần với vua Sở |  64
Quảng cáo |  65-70
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [IX] (truyện dài) \ Từ Vu |  71-74
Quảng cáo |  75-80


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204213758-6b860e7f1ce0e6aacb6b7475acbfbb8d/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 19/01/2018, 18:30:12


Cuộc khẩn hoang miền Lục tỉnh của binh sĩ Việt Nam thời xưa

Lời tác giả.– Trong việc mở mang bờ cõi về phía Nam kể từ đời nhà Trần lấy hai châu Ô, châu Rí của Chiêm Thành đến ngày nay có miền Tây phì nhiêu màu mỡ bát ngát ruộng đồng, chúng ta biết chăng về những thế kỷ trước các bậc tiền bối đã chiến đấu với mọi thứ để khai phá vùng hoang vu hiểm độc này.
      Trong công cuộc khẩn hoang đó binh sĩ Việt Nam thời ấy đã đóng một vai trò chống giặc, mở đất một cách vô cùng quan trọng và kết quả tươi đẹp còn đến ngày nay…
      Với bài biên khảo này, chúng tôi muốn mời các bạn nhìn lại những việc làm của người xưa để chúng ta có một quan niệm về công việc khẩn hoang hiện tại.


○ ○ ○

NHÂN DÂN VIỆT NAM vốn là một dân tộc nông nghiệp, quen sinh sống từ xưa ở những triền sông, và các vùng đồng bằng.
         Dần theo thời gian, với những đức tính cổ truyền và hoàn cảnh, dần dần một mặt chống nạn xâm lăng của Trung Hoa ở phương Bắc, một mặt mở bờ cõi xuống miền Nam.
         Trong việc khuyếch trương bờ cõi, có nhiều điều kiện thuận tiện cho cuộc Nam tiến, và trong đó có việc khai khẩn những miền đất hoang vu.
         Trong công cuộc khẩn hoang ấy, những người dân Việt Nam đi mở mang những vùng đất hoang vu, phải đương đầu với nhiều trở ngại, nào chống với thiên nhiên, lụt bão, lam sơn chướng khí, bệnh tật, thú dữ, nào chống với xâm nhập cướp phá của dân tộc thiểu số; hồi đó quân đội đã ghi nhiều công trình lớn lao trong việc khẩn hoang.
         Công cuộc khai khẩn đầu tiên những vùng hoang vu, hoặc miền thượng du phía Bắc, hoặc miền Nam đã có từ đời vua Lý Thánh Tôn (1128-1137) và Lê Thánh Tôn (1460-1497), nhưng mãi tới thời Chúa Nguyễn Ánh (1788) việc khẩn hoang và mở mang những vùng đất trồng trọt mới thực là được phát triển mạnh mẽ, theo những kế hoạch đại qui mô. Đó là việc binh sĩ tham gia công cuộc khẩn hoang những vùng đất mới ở miền Hậu Giang hay nói khác đi, quân sự hóa công tác đại qui mô này.
         Những tài liệu lịch sử của Cận kim thời đại, cho chúng ta biết khá đầy đủ về cơ cấu tổ chức và những phương pháp làm việc đương thời.
         Đất Gia Định thời bấy giờ chia làm 4 Doanh:
            – Phiên Trấn
            – Trấn Biên
            – Trấn Vĩnh
            – Trấn Định

         Nhưng vì tình thế nhiễu loạn, giặc giã nhiều, ruộng đất bỏ hoang nhiều chỗ, dân tình đói khổ, đâu đâu mùa màng hoa lợi cũng bị thiếu hụt. Nguyễn Vương thấy tình cảnh nhân dân như vậy, để chấn chỉnh lại tình trạng xã hội nguy ngập, phái các văn thần và Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Tùng Chu, Hoàng Minh Khánh, cả thảy 12 người làm Điền Tuấn Quan để khuyến khích Quân dân cố làm ruộng, và mở mang khai thác những vùng đất bỏ hoang.
         Hồi Nguyễn Vương coi công việc khẩn hoang những vùng đất Hậu Giang là công cuộc quan trọng, nên ban hành lệnh bắt binh sĩ cùng nhân dân lấy công việc này làm trọng. Binh sĩ thì vừa lập đồn giữ giặc cướp, vừa khai khẩn hoang, để tăng gia sản xuất.
         Những vùng đất khai khẩn đó gọi là Đồn điền (屯田), có những quan Điền Tuấn trông coi việc canh tác khai khẩn. Người ở đồn điền gọi là Điền Tuấn. Chữ đồn điền có từ đây. Binh sĩ hoặc nông dân làm trong đồn (điền) được phát trâu bò và các dụng cụ canh tác nông nghiệp. Nhưng đến mùa phải hoàn lại cho công khố bằng thóc, kho thóc chung của đồn điền gọi là “Đồn điền khố”.
         Đến mùa lúa chín khi gặt hái rồi, người làm ruộng đồng bằng phải nộp 100 Cơ (mỗi Cơ chừng 42 bát), còn ruộng miền núi thì nộp chừng 70 Cơ. Ai nộp đủ tô như là binh lính làm đồn điền thì được miễn một năm không phải đi đánh giặc, nếu là nhân dân thì được miễn một năm tập dịch. Ai thiếu số tô thóc, bắt buộc không được hưởng lệ này.(1)
         Để khuyến khích cho công chộc khẩn hoang và lập đồn điền có kết quả mỹ mãn, Nguyễn Vương định rằng các quan văn võ đều phải mộ người lập thành đội, gọi là Đồn Điền Đội, mỗi năm một người phải nộp 6 hộc thóc. Còn nhân dân, ai mộ được 10 người trở lên, được làm cai trại và miễn sưu dịch.(2)
         Vào khoảng năm 1830, viên quan Tổng Đốc thành Gia Định lúc đó tên là Thượng đã được ủy nhiệm để thành lập những đồn điền, viên Tổng Đốc này chọn thành Saigon là nơi luyện tập và thí nghiệm việc đồn điền.
         Binh sĩ làm đồn điền được chia làm 4 đội, binh sĩ được hưởng quyền ở nhà, cày cấy những khoảnh đất do nhà vua ban cho. Về địa tô mỗi năm phải đóng 2 nén bạc và 10 giạ lúa.
         Để có thể vẫn có một khả năng kỹ thuật tác chiến, hàng năm vào khoảng tháng giêng, tất cả các binh sĩ làm đồn điền được gọi để thao luyện, ôn tập các tác động quân sự. Sau mỗi kỳ luyện tập, binh sĩ để lại khí giới tại kho và được trở về nhà để tiếp tục làm ruộng. Những binh sĩ làm đồn điền được miễn tập dịch, nhưng mỗi khi có giặc giã cần đánh dẹp hoặc có lệnh động binh, đều phải nhập ngũ.
         Những binh sĩ làm trong các đồn điền là tình nguyện, cấp bực và phẩm trật theo như trong ngành hiện dịch, nhưng không ai được quá cấp Đội trưởng (mỗi đội: 50 người) sự thăng trật cho các binh sĩ làm tại đồn điền tính theo cao niên và ít nhất là có hai năm làm tại đồn điền.
         Năm 1842, viên Tổng Đốc tỉnh Gia Định là Thượng chết, tất cả binh sĩ làm đồn điền ở Gia Định đều do viên cai đội Phạm Văn Huy trông coi và biến thành một đạo quân chánh quy. Toán quân này đồn trú tại xã Thanh Sơn, tổng Lợi Trinh, tỉnh Mỹ Tho. Chính do những binh sĩ này đã bắt tay vào việc khai khẩn các vùng đất hoang tại Đồng Tháp Mười hoang vu và thành lập nên chợ Vàm Ngựa và Cai Lậy.
         Mãi tới triều vua Tự Đức thứ 2 (1849) ông Nguyễn Tri Phương, lúc đó làm Kinh lược 6 tỉnh miền Nam, có đi thăm những vùng đất hoang vu chưa được khai khẩn. Ông lấy làm ngạc nhiên về những kết quả tốt đẹp của công việc làm đồn điền tại vùng Thanh Sơn. Thấy vậy, biết rằng nếu tiếp tục công việc với phương pháp ấy sẽ rất có lợi cho việc khẩn hoang những vùng đất hoang vu. Ông nghiên cứu và bắt đầu tổ chức lại cơ cấu khẩn hoan. Từ đó, ruộng đất được phân phát cho các binh sĩ nhập ngũ và bắt buộc phải khẩn hoang. Sau bảy năm binh sĩ làm ruộng phải nộp địa tô. Tất cả những gia đình binh sĩ làm đồn điền đều tụ tập thành từng xóm, mỗi Đội(3) phải thành lập một cái chợ để tiện sự mua bán sinh hoạt.
         Mỗi binh sĩ làm đồn điền được cấp phát riêng một khu ruộng để cày cấy, do sự phân chia từ trước và không được quá 2 mẫu tây. Để cho có sự đồng nhứt và nhanh chóng trong việc gây dựng các cơ sở sinh hoạt, những tân binh nhập ngũ làm đồn điền được họp thành từng đội 50 người. Những đồn điền dần dần khai thác được và do một Quản Cơ hay Phó Quản Cơ trông coi. Tuy nhiên vẫn có sự liên hệ trực tiếp với các cơ quan hành chánh tỉnh.
         Hằng năm, để giám sát và có một ý thức nhận xét công việc phát triển sự khai khẩn, quan Bố Chánh thuộc cơ quan hành chánh tỉnh đi kinh lý các đồn điền. Những công việc thăng thưởng những cấp bực nhỏ, như Đội, Quản đều do quan Tổng Đốc hoặc cơ quan Trung Ương định đoạt.
         Về luật lệ thừa kế những ruộng đất khai khẩn; chỉ có các chức việc trong nghề võ mới được, hoặc binh sĩ không phạm kỷ luật bao giờ.
         Mỗi đồn điền lại xây cất các đồn lũy để canh phòng an ninh phần nhiều xây cất gần các sông rạch để tiện việc kiểm soát các sự thông thương. Tất cả võ khí của đồn điền được tập trung ở đó, những võ khí này phần lớn gồm có giáo mác, súng ống của chức việc hoặc binh sĩ đã trúng tuyển kỳ thi sát hạch về võ nghệ tại Saigon.
         Ngoài việc canh gác, dân binh thay phiên nhau buôn bán. Bảy năm đầu tiên khi bắt đầu khai khẩn, binh sĩ được miễn thuế thân, về sau phải nộp theo như nhân dân. Mỗi khi binh sĩ ở đồn điền đi tham gia những trận giặc, khi thắng, chiến lợi phẩm được chia đều cho mọi người.
         Đồn điền thoạt đầu lập chỉ gồm có chừng 6 Vệ (lối 3.000 người) dần dần lên tới 24 Vệ (lối 10.000 người) có trang bị võ khí và được tập luyện. Số quân các Vệ làm đồn điền chia ra như sau:
            – Gia Định, 7 Vệ
            – Mỹ Tho, 6 Vệ
            – Vĩnh Long, 5 Vệ
            – Biên Hòa, 4 Vệ
            – An Giang, Châu Đốc, 2 Vệ
            Tổng cộng là: 24 Vệ.
         Đời vua Minh mạng thứ 10, tất cả binh sĩ làm đồn điền vùng Cái Răng (Mỹ Thuận Trung) tham dự cuộc đánh dẹp giặc Mên ở vùng Sóc Trăng. Kết quả trận tiễu trừ này mỹ mãn, nên nhà vua lại ban thêm đất cho binh sĩ khai khẩn.
         Sau đó là một cuộc cải tổ đồn điền, được các từng lớp nhân dân hoan nghinh đặc biệt. Sự khai khẩn phát triển rất mau lẹ ở miền Tây nhứt là vùng Ba XuyênLạc Hóa. Các đồn điền trước còn lập ở ven các Vàm (cửa sông), dần dần lan đến hai bên các rạch và xâm nhập dần vào trong các Giồng. Nếu không có sự khai hoang này, có lẽ các vùng như Sóc TrăngTrà Vinh còn bị bỏ hoang.
         Hồi quan Pháp sang xâm lấn miền Lục tỉnh, những dân binh ở các đồn điền đã tham dự tích cực vào cuộc kháng chiến. Tháng giêng năm Tân Dậu (1861) Tướng Charner đem 70 chiếc thuyền và 3.500 đổ bộ đánh chiếm Gia Định và 20 ngày sau đánh đồn Kỳ Hòa (tức Chí Hòa) do vị danh tướng Nguyễn Tri Phương chỉ huy chống giữ. Cuộc chiến đấu của quân đội ta hồi đó tuy rất anh dũng nhưng vì khí giới thua kém nên hai ngày sau đồn Kỳ Hòa thất thủ.
         Trong tài liệu lượm được khi quân Pháp và Y Pha Nho đã hạ được thành, có nói đến trong số 20.000 binh sĩ Việt Nam giữ thành, có hơn 1.000 binh sĩ ở các đồn điền tham gia cuộc chiến đấu.(4)
         Khi cuộc kháng chiến của quân dân Việt Nam ở Lục tỉnh bị tan vỡ, người Pháp đặt ách thống trị rồi bèn tiêu diệt các cơ sở đồn điền nhứt là vùng Gia Định và Mỹ Tho. Năm 1867 viên Toàn quyền người Pháp hồi đó là De La Grandìere có ký một sắc lệnh ngày 20-9-1867 để ra lệnh giải tán tất cả mọi tổ chức đồn điền, vì e ngại ở đó sẽ phát khởi lên những cuộc khởi nghĩa chống lại chế độ thực dân của họ.
         Trong vùng Cần Thơ, những dân ở các đồn điền đã thành lập những chợ búa vùng Đình, Ô Môn, Trà Ôn v.v…
         Ngày nay, ai có qua miền Tây bát ngát đồng ruộng thẳng cánh cò bay, lúa vàng thơm chín; ghe lạch chợ búa tấp nập, có biết chăng cách đây hơn một thế kỷ, những chiến sĩ Việt Nam đã vừa chiến đấu, vừa khai khẩn đất hoang, chống với bao nỗi khó khăn của thiên nhiên. Những chiến sĩ tiền bối vô danh ấy để lại cho hậu thế những mảnh đất đẫm máu và mồ hôi mà chúng ta quyết sẽ giữ gìn và mở mang mãi mãi.


PHAN LẠC TUYÊN

______________________________________________
(1) Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim.
(2) Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim.
(3) Đội – 50 người.
(4) Tài liệu của Georges Durwell.


BÁCH KHOA |  SỐ 12

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 19/01/2018, 21:32:43


Đại cương nghệ thuật kiến trúc nhà cửa ở Việt Nam

(Mến tặng các em học sinh đã làm việc với tôi
trong những giờ mỹ thuật.)

Vât liệu
NHÀ Ở VIỆT NAM có nhiều kiểu khác nhau, tùy theo từng địa phương, và cũng tùy theo địa vị xã hội, khả năng tài chính của chủ nhà.
         Vì điều kiện thổ địa và nhất là vật liệu, nên nhà ở Việt Nam phần nhiều làm bằng tre, hay bằng gỗ. Ngoài ra cũng có số ít nhà gạch.
         Những người nghèo làm nhà tranh, vách đất. Sườn nhà tre, hay bương, mái lợp tranh, hay rạ, vách trét bằng đất bùn nhồi với rơm hay đất sét. Nền nhà thì là đất nện.
         Có một điều nhiều người thắc mắc, nhà nào ở miền Bắc, cũng có đàng trước hay đàng sau ít nhất một cái ao.
         Công việc đào ao nầy có nhiều tiện lợi cho người nông dân miền Bắc. Trước khi làm nhà, người ta đào ao, lấy đất bùn ấy (vùng Trung châu Bắc Việt là vùng đất bùn) đem lên đắp nền nhà, hoặc trộn rơm trét vách. Nền nhà nện kỹ bằng những chiếc vồ gỗ to. Nếu nện kỹ về sau nền đất này sẽ không bị nứt nẻ và láng bóng như nền xi măng.
         Ao ấy sẽ là nơi nuôi bèo cho lợn, thả cá để ăn, để bán, và thả rau muống.
         Những người trung bình làm nhà gỗ phần nhiều là gỗ xoan. Vách dựng phên tre hay gỗ. Mái lợp tranh, lợp lá gồi, lá kè.
         Những người khá giả, giàu có, làm nhà ngói. Sườn nhà dựng bằng gỗ mít, gỗ gụ hay kiền-kiền. Tường nhà xây gạch, nền lát gạch, sân lát gạch.
         Sườn nhà dựng lên theo dàn mái, đặt trên mặt đất, không đổ móng. Cột nhà gỗ thượng kê trên những hòn đá tảng tròn, hoặc vuông, cao từ 1 tấc rưỡi đến 2 tấc. Đôi khi những hòn đá tảng này cũng được thay bằng những viên gạch chồng lên nhau, hoặc là chôn chân cột xuống đất sâu độ chừng 30 đến 50 phân trở lại.
         Nhà tre phần nhiều chôn chân cột sâu trong lòng đất.

Cách thức
         Lối kiến trúc nhà cửa ở Việt Nam không phải chỉ là một công việc cấu tạo đơn sơ cho thành hình một lều, một mái tranh hay một căn nhà gỗ, mà còn là một công trình kiến trúc mỹ thuật rất tế nhị. Dù là một mái tranh song vẫn nằm trong một khung cảnh thanh lịch, dịu dàng, biểu lộ tâm hồn yên tĩnh và thi vị của người dân Việt trường kỳ.
         Nhà người Việt có nhiều gian, nằm thành dãy: dãy nhà trên, nhà dưới hay nhà ngang và nhà bếp, nằm vuông theo mặt sân rộng. Còn mặt tiền ngay trước dãy nhà chính là một cái ao to, nước trong xanh.
         Khi làm nhà, trước hết dựng bốn cột cái gian giữa, và đòn nóc. Sau thêm những cột cái và kèo các gian bên. Rồi đến các hàng cột con và cột hiên. Vì lý do thổ địa và vật liệu, những cột kèo ấy phải chằng chịt nhau thành một sườn nhà thật vững. Rồi trên đó đặt mái nhà. Mái nhà phải làm nặng, vách nhà cũng phải cho vững chắc, phòng khi gió bão.
         Vì khí hậu Việt Nam nóng nực, nên nhà làm thường tiết kiệm tường, vách. Mặt tiền ba gian chính để trống. Nếu nhà gỗ thì làm cửa lùa, cửa xếp, mỗi lần mở thì mở hết. Những nhà giàu thì làm cửa bức bàn cao vào khoảng trên dưới 8 tấc. Hoặc nhà tre thì làm cửa liếp, ban ngày chống cao lên, tối hạ xuống. Có nhà chỉ treo một cái rèm thưa.
         Có một điều đặc biệt là mặt sau của gian chính giữa không khi nào có cửa sổ. Vì gian ấy là nơi đặt bàn thờ tổ tiên, ông bà.
         Bàn thờ kê sát vách. Ở Trung Việt bàn thờ còn đặt trên một cái rầm cao độ 4 tấc. Trước bàn thờ này có kê một bộ sập hay một bộ phản (bộ ván) gỗ.
         Những nhà khá giả còn kê thêm một bộ bàn ghế, trước bộ sập ấy, để làm nơi tiếp khách.
         Hai gian bên có kê những bộ phản gỗ, để làm nơi ngồi nghỉ ngơi, trò chuyện của những người trong gia đình, hay nơi ăn uống trong những ngày cúng giỗ. Những gian này đôi khi cũng có kê những bàn thờ khác nữa.
         Ba gian giữa thường thông luôn nhau. Để ngăn những gian bên ra với những gian chái hai đầu nhà, người ta làm vách gỗ vách đất hay vách phên, tùy theo tình trạng mỗi gia đình.
         Hai căn chái hai bên thường là buồng ngủ hay là vựa lúa, nơi chúa các vật dụng cần thiết, tài sản trong nhà.
         Những nhà khá giả thường làm một mái hiên rộng đằng trước suốt năm gian hai chái, hay suốt ba gian hai chái. Hoặc chỉ làm mái hiên trước những gian chính thôi. Bề rộng của mái hiên có khi đến một thước rưỡi, và thường có một hàng cột hiên.
         Nhà ở miền Bắc, ngoài những hàng cột hiên vững chãi này (có nhà làm cả cột hiên sau), người ta còn phải làm thêm hai hàng cột chống bão đằng trước và đằng sau. Hai hàng cột này chống xuống đất và chống lên sườn nhà thoai thoải như hai chân chữ A (V ngược).
         Nhà ở miền Trung thì không làm thêm những hàng cột này, song mái nhà rất xuôi, thấp hẳn xuống.
         Còn nhà miền Nam thì tuyệt nhiên không có một tính cách chống gió bão. Những hàng cột hiên chỉ làm cho đẹp mắt. Vì khí hậu miền Nam tương đối điều hòa hơn.
         Ở miền Bắc thường nhà nào cũng có làm cổng. Cổng nhà có nhiều kiểu khác nhau. Có khi là một tấm liếp bằng tre đan có thể kéo lên, thả xuống, hay là kéo ngang. Bên trên cổng cũng có mái nhỏ lợp ngói, hay lợp lá.
         Ở Huế có nhiều nhà làm cổng rất đẹp. Tường nhà xây, cổng gỗ, nóc cũng lợp ngói.
         Kiểu nhà có cổng lợp nóc này bị ảnh hưởng của lối kiến trúc nhà cửa Trung Hoa, nhà nào dù lớn nhỏ, giàu nghèo cũng đều có một cái cổng hẹp có nóc. Nhưng đi dần từ Huế trở vào Nam phần, thì cổng nhà không còn nữa. Ở đồng quê Nam phần, nhiều nhà chỉ làm một chà gai vững chãi để đến đêm thì kéo ngang, ngăn ngõ ra vào là đủ.

Những kiểu
         Kiểu nhà xưa hơn hết ở Việt Nam thì có 4 mái. Hai mái chính và hai mái chái ngang. Rồi đến kiểu nhà hai mái bịt đốc, không chái. Căn cứ nơi những nhà nhỏ bằng đất nung đào ở các mộ xưa tại các làng Nghi Vệ tỉnh Bắc Ninh, làng Lạc Y tỉnh Vĩnh Yên, làng Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa, thì hai kiểu nhà trên đã có từ thế kỷ thứ ba, thứ tư ở Bắc Việt.
         Nhà cửa mỗi nơi mỗi khác, miền Bắc khác với miền Trung và miền Nam.
         Tùy theo từng địa phương mà sườn nhà, mái nhà thay đổi đi với những tên khác nhau.
         Ở miền Bắc thì có những kiểu nhà thông dụng theo hình chữ ĐINH (丁), ba gian hay năm gian.
         Ở miền Trung có những kiểu nhà chữ ĐINH, nhà RÔI, nhà RƯƠNG, nhà VUÔNG, hay là nhà Ba căn. Kiểu nhà Ba căn là kiểu biến hình của nhà RƯƠNG.
         Nhà Vuông là một kiểu nhà, ba gian chính thông luôn nhau. Hai gian chái thông luôn nhau bằng một ngăn rộng sau bàn thờ chính của những gian giữa.
         Ở miền Nam cũng có những kiểu nhà BA CĂN, NĂM CĂN, và đặc biệt nhất là kiểu nhà BÁNH ÍCH, bốn mái đều nhau.
         Cách thức và phong tục làm nhà tuy có những điểm khác nhau tùy theo mỗi nơi, mỗi nhà, song không phải vì thế mà mỗi kiểu đều cách biệt nhau hẳn. Chung qui cũng chỉ là những điều đại đồng tiểu dị.


Từ-Quyên ĐẶNG VĂN NHÂM


BÁCH KHOA |  SỐ 12

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 19/01/2018, 23:26:12


               Từ xa giới tuyến

         NẮNG hạ phai rồi lộng gió may
         Vàng rơi từng lá có ai hay?
         Từ xa giới tuyến chưa nguôi nhớ.
         Lo ngại thu nào lạnh tới nay.

         LÁ rụng tường hoa rêu phủ biếc,
         Thấm sương vách đất buồn đơn chiếc!
         Vóc liễu gầy hơn, áo đã chùng,
         Phấn son tàn hết vẻ phù dung!

         NGÀN mây xuống thấp khép hoàng hôn,
         Giày sắt đường vang nhạc thép dồn.
         ― Ai nhớ thùy dương cầu thệ thủy?
         ― Ai chặt thùy dương xây chiến lũy?

         VÀNG rụng canh trường thiếu áo len.
         Xa phương Người Lạ choáng hơi men.
         Liên hoan cho lấp hờn vong quốc…
         ― Người khóc thu tàn, cửa khóa then!

         HOÀI vọng bây chừ nhớ cố đô
         Nẻo đường quen thuộc chữ  □  □
         Vàng rơi tường bắc… Ai lưu lạc?
         Quán khách nằm mơ chuyện hải hồ.

        “THỆ tảo Hung Nô bất cố thân”…
         Dăm chàng văn sĩ thú liên ngâm.
         Thương sao xương trắng công trường mới…
         Chờ thuở trừng thanh, ước nguyện thầm!


                                                    LAM GIANG


BÁCH KHOA |  SỐ 12

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 22/01/2018, 21:39:29
BÁCH KHOA |  SỐ 13  [15 tháng Bảy  1957 |  84 trang]

MỤC LỤC
Bách-Khoa |  Đính chánh Bách-Khoa số 12 |  i
Huỳnh Văn Lang |  Hợp tác xã tiêu thụ |  1-8
Phạm Ngọc Thảo |  Lực lượng quân sự cơ động và lực lượng quân sự địa phương |  9-13
Bách-Khoa |   Trị binh |  13
Hào-Nguyên Nguyễn Hóa |  Thử tóm tắt học thuyết Kant |  14-22
Từ-Quyên Đặng Văn Nhâm |  Đại cương nghệ thuật kiến trúc nhà cửa ở Việt Nam [II] |  23-28
Bách-Khoa |  Chính và chính |  28
Lam Việt |  Một vài ý tưởng về cuốn “Tản văn chọn lọc” của Ba Kim |  29-35
Bách-Khoa |  Cách làm cho dứt nạn trộm cắp |  35
Thuần Phong |  Đạo nghĩa vợ chồng trong câu hò miền Nam |  36-43
Mặc Thu (dịch) |  Họa trúc ca (thơ) \ Bạch Cư Dị |  44-45
Quảng cáo |  46-48
Lê Văn |  Nhân vẽ bản địa đồ tí hon (tùy bút) |  49-53
Quảng cáo |  54-56
Minh Đức |  Dứt khoát (truyện) |  57-64
Bách-Khoa |  Quí người hơn của |  64
Quảng cáo |  65-68
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [X] (truyện dài) \ Từ Vu |  69-73
Quảng cáo |  74-77
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  78-80
Quảng cáo |  81-84


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204213837-120ae96ee17a3fc7bf5a544e30354df9/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 22/01/2018, 22:38:58


Thử tóm tắt học thuyết Kant

HÔM NAY chúng tôi thử đề cập đến học thuyết luân lý của nhà triết học Đức Emmanuel Kant (1724-1804).
         Sánh với các học thuyết đã đề cập trước, học thuyết này có phần phiền phức, rắc rối hơn.
         Học thuyết Kant chiếm một địa vị rất quan trọng trong luân lý, như chính địa vị quan trọng của triết học luân lý trong nền triết học nói chung. Lại có người ví cái địa vị quan trọng ấy như chính cái địa vị tối đại của luân lý mà Kant dành trong toàn thể hệ thống triết học của mình.
         Học thuyết Kant gây ảnh hưởng rất lớn lao và lâu bền trong đời sống luân lý ở xã hội văn minh ngày nay. Có người cho rằng chính cái ý thức tôn trọng danh dự cá nhân, nhân phẩm của người là ý thức phổ biến ngày nay có thể đã bắt nguồn từ tư tưởng Kant. Cho nên không ngờ rằng, ngay cả đến các nhà lập pháp, lập ra những bộ luật văn minh, lấy sự tôn trọng nhân phẩm của con người làm tinh thần căn bản, có lẽ cũng đều chịu ảnh hưởng không gần thì xa học thuyết Kant cả. Ngay đến phái tân học ở nước ta đây, chịu ảnh hưởng văn minh Tây phương, đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của Kant, ít ra cũng trong tư tưởng tôn trọng cá nhân. Xem thế ảnh hưởng tư tưởng Kant trong xã hội tân tiến ngày nay thật lớn lao vậy.

Học thuyết Kant như thế nào?
         Trước khi đi vào học thuyết Kant, ta chớ quên rằng Kant sinh trưởng trong gia đình Tin Lành. Ông đã chịu ảnh hưởng rất sâu xa của mẹ ông, một người đàn bà tuy ít học, nhưng rất ngoan đạo, noi theo đạo đức một cách chặt chẽ, khắc khổ, khiến cho ông sau này lớn lên, tuy suy nghĩ tự do nhưng vẫn tôn trọng đạo đức. Cũng vì ảnh hưởng của mẹ ông mà ông đã sớm tìm nguồn suy luận luân lý trong sâu thẳm của lương tâm, và trong sự gắn bó thiết tha của Thượng Đế. Cũng lại bởi ảnh hưởng ấy mà từ tuổi trẻ, ông đã tỏ ra tôn trọng cái ý chí của nội tâm, cái tính cách khắc khổ của bổn phận. Trong triết học, suốt đời, ông không hề rời khỏi ảnh hưởng ấy. Ngoài ra lòng tin ở bản chất thiện của loài người, lòng quí trọng cá nhân, quí trọng nhân dân, quần chúng, và sự tin tưởng rằng luân lý không phải là vấn đề của khoa học, cũng không phải là vấn đề của lý thuyết, đều là những tư tưởng mà Kant chịu ảnh hưởng của Rousseau cả, tuy Rousseau trái với Kant, chủ xướng một thứ luân lý tình cảm.(1)
         Tuy Kant chịu ảnh hưởng Rousseau như thế, nhưng học thuyết luân lý của Kant là một học thuyết luân lý duy lý.(2)
         Cũng như nhiều nhà triết học khác thuộc phái duy lý, Kant không tin cậy “con tim”. Kant đã triệt để bài xích tình cảm với chủ quan và thất thường. Nếu hành động luân lý mà dựa trên tình cảm có lúc mạnh như thác lũ, có lúc khô như đất hạn, đối với Kant, không có gì còn có thể lầm lạc hơn.
         Chỉ tin ở lý trí,(3) Kant cho rằng người đạo đức là người luôn luôn hành động hợp với lý trí và chỉ lý trí thôi. Kant lại tin rằng lý trí không đủ sức để lập nên một trí thức siêu hình khả dĩ vững chắc: Kant gần như loại bỏ siêu hình. Kant gọi học thuyết của ông là một học thuyết duy lý thực tiễn vì căn cứ trên lý trí thực tiễn. Trong phần tâm lý học, Kant có biện biệt hai thứ lý trí khác nhau, tuy cùng một nguồn gốc:
         Một gọi lý trí lý thuyết, là thứ lý trí chuyên tìm những nền nếp cho tư tưởng khoa học. Một gọi lý trí thực tiễn, chuyên tìm nền nếp hành vi luân lý của người ta. Kant lại chú trọng rất nhiều đến luân lý trong toàn thể hệ thống triết học của ông, nên lẽ tự nhiên, ông chú trọng rất nhiều đến lý trí thực tiễn. Ông rất ít đề cập đến siêu hình. Vì lẽ đó, nhiều người tưởng lầm rằng Kant không tin hay không tin hẳn có thượng Đế.(4) Cũng vì lẽ đó, ta vẫn gọi học thuyết luân lý Kant là học thuyết luân lý thực tiễn.

“Thiện chí” trong học thuyết luân lý Kant
         Luân lý dù ai muốn thế nào, tự nó vẫn là vấn đề của nội ngã. Phán quyết về luân lý không thể có được từ bên ngoài ta. Kant xác nhận rằng chỉ có “Thiện chí”(5) là đáng quí nhất trên đời, chỉ có thiện chí là bản nhiên tốt mà thôi. Xem như của cải, tài nghệ vẫn giúp người ta để xoay xở đấy, nhưng nó cũng chỉ còn tốt khi ta biết dùng nó, nghĩa là ta lấy nó mà xoay xở với thiện chí mà thôi. Nếu ta theo đuổi một mục đích, thôi thúc bởi một tình cảm thì thiện chí không còn độc lập vì nó phải phụ thuộc một tình cảm. Ta nên nhớ rằng thiện chí chỉ tốt khi nó còn độc lập, nghĩa là nó không phải phụ thuộc vào một thứ gì khác. Vì thiện chí độc lập cần thiết trong đời sống luân lý như thế, nên có thể nói, vấn đề luân lý là vấn đề gìn giữ cho thiện chí được độc lập.

Làm thế nào để gìn giữ “thiện chí” độc lập?
         Kant phân biệt hai cách hành động: hành động hợp với bổn phận và hành động vì bổn phận.
         Chúng ta gìn giữ tính mệnh của mình vì một thôi thúc tự nhiên, một bản năng tự vệ; người bác ái thích giúp người khốn khổ để được một nỗi vui; một người sợ bị trừng phạt mà phải làm việc bổn phận; một nhà buôn vì quyền lợi riêng mà phải ăn ở thật thà… đều là những người hành động hợp bổn phận. Tại sao nói thế?
         – Ấy chỉ vì nhà buôn không vì “Bổn phận” mà thật thà; người bác ái không vì “Bổn phận” mà giúp người, còn kẻ vì lòng sợ bị trừng phạt mà làm việc bổn phận thì không hành động vì “Bổn phận”. Thực ra họ chỉ nghe theo một thứ tình cảm riêng mà thôi.
         Bây giờ, có kẻ chẳng bác ái gì, nhưng hễ thấy việc bổn phận là làm tròn, hễ trao lời hứa là giữ đúng, không nghĩ đến làm tròn bổn phận để được khen, giữ lời hứa để được tin. Người ấy hành động vì bổn phận. Hành động như thế, người ấy chỉ biết có lòng tôn trọng “Bổn phận”, tôn trọng luật lệ luân lý. Hành động như thế, người ấy giữ được thiện chí độc lập. Hễ theo đúng thiện chí độc lập mà hành động là hành động phải.

Vô thượng mệnh lệnh
         Thiện chí, như ta nói trên, phản ảnh bổn phận, luật lệ luân lý, là cái kết quả, có thể nói thế, của lý trí thực tiễn ở mỗi chúng ta. Muốn hiểu nó một cách rõ ràng, ta hãy nghĩ đến những lúc chúng ta phải chống lại những sự quyến rũ của tiền của, dục vọng. Trong những lúc ấy, thiện chí(6) hiện ra rất rõ rệt. Nó có sức cưỡng bách trên chúng ta một cách rất quyết liệt, bắt buộc chúng ta phải tôn trọng nó. Ta gọi nó là một vô thượng mệnh lệnh. Nó đòi chúng ta phải tuân theo nó vô điều kiện, không cần biết đến kết quả, lợi lộc gì. Ngoài sự tôn trọng duy nhất “Bổn phận” là hoàn toàn độc lập, độc lập đối với mọi sự suy nghiệm, đối với tất cả những tấm lòng vụ lợi, nói chung, độc lập đối với tất cả mọi thứ tình cảm của ta. Bởi thế nên nói: “Người ta phải tuân theo bổn phận vì bổn phận, không suy luận dài dòng gì cả”. Cái Thiện, đối với Kant thật là giản dị. Bởi cái thiện là sự tuân theo vô thượng mệnh lệnh, hợp với “Bổn phận” (uy nghiêm). Đến đây ta lại nói: Tuân theo vô thượng mệnh lệnh là thiện; trái lại, hành động theo tư tâm, tư ý (hiểu đúng danh từ) theo xúi giục của tình cảm phiền toái đủ mọi thứ là hành động trái. Tại sao thế? – Chỉ vì hành động thế, chúng ta thúc bách vô thượng mệnh lệnh phụ thuộc vào những động cơ tình cảm biến chuyển từng phút từng giây.
         Bởi thế, trong khi hành động, ta phải xa lánh những lời khuyên, nó luôn luôn bất nhất, thay đổi tùy từng người và tùy từng trường hợp. Còn phải tránh những mệnh lệnh uy nghiêm không có nguồn gốc thuần túy luân lý. Ví dụ đừng hành động theo những mệnh lệnh như mệnh lệnh sau này: “Muốn được tin, chớ nói dối!” Không nói dối, theo mệnh lệnh này, không phải vì luân lý mà thật ra vì lòng ham muốn được tin. Như thế ta đã uốn nắn cái thiện chí vào dục vọng; thiện chí không còn độc lập. Ta chỉ nên, và chỉ phải tuân theo, chỉ phải tuân theo “vô thượng mệnh lệnh” mà thôi: “Chớ nói dối!” Câu nói vắn tắt và xẳng xớm ấy có đủ uy quyền, và chính tự nó đủ tốt để ta theo. “Chớ nói dối” là một luật lệ, một mệnh lệnh, tuy suông, nhưng quyền uy tối thượng, do thiện chí độc lập phán bảo. Nói thiện chí độc lập tức là nói thiện chí không phụ thuộc vào tình cảm hay gì nữa cả. Cho nên, nếu hỏi: “Tại sao không nên nói dối?” ta thấy rõ rằng chỉ còn một lối trả lời, một lối trả lời hợp lý duy nhất mà thôi: “Sự nói dối không thể đem lập thành một luật lệ phổ biến được”.

Luân lý hình thức
         Muốn biết một hành động có thể biến thành một luật lệ phổ biến là việc rất dễ dàng. Người ta tự nhiên mà biết, biết trước khi suy luận, trước khi thí nghiệm. Thật ra, trong luân lý, những kinh nghiệm mà người ta thâu thập được, hay những suy luận này nọ đều vô ích. Trước “bổn phận” mọi người đều một mực bình đẳng với nhau, kẻ có thiên tài lỗi lạc, kẻ thông minh xuất chúng, nếu có hơn người ta ở địa hạt khác trong luân lý, trước “bổn phận”, họ cũng không còn hơn ai. Bổn phận ngự trị trên tất cả mọi người với một vẻ uy nghiêm bất dịch. Theo Kant, chủ nghĩa luân lý chân chính phải là một chủ nghĩa luân lý hình thức, nghĩa là phải rõ ràng khách quan.
         Vì ai ai cũng có thiện chí, và vì sự mọi người đều nhất luật bình đẳng trước Bổn Phận, Kant gọi luân lý duy lý của ông là luân lý phổ biến, bình dân.
         Luân lý không thể rút ra từ kinh nghiệm mà ra. Sự quan sát cũng không giúp ích gì được cho hành động, vì sự quan sát có bao giờ cho ta biết đích xác tính chất của hành động. Ta vẫn nhìn hành động, ngoại vật, nói chung, qua lòng vị lợi, qua tình cảm, nghĩa là qua cái kính tam-lăng trước nhãn quan ta. Ví như ta có thể từ hành vi trước mà rút kinh nghiệm, thì bất quá ta cũng chỉ có thể lập được một luật lệ thuộc khoa học mà thôi, chớ không thể làm thành một luật lệ luân lý được.
         Huống chi, muốn có thể dùng được kinh nghiệm một cách hữu hiệu, thì trước hết ta phải nắm chắc được một tiêu chuẩn để làm căn cứ mà nhận định cái gì là đạo đức, cái gì là vô luân, mà nhận định được thế nào là đạo đức, thế nào là vô luân là điều mà chúng ta đi tìm. Rõ là lẩn quẩn. Tin như thế, Kant cho rằng những nền luân lý cóp nhặt đầu này một ít, đầu kia một ít, đem phối hiệp nhau một cách quái gở, để làm thành những nền luân lý quái đản, mệnh danh là thế này thế khác, đều hoàn toàn sai lầm.
         Đối với Kant, hoặc là luân lý hình thức, hoặc không có luân lý.

Phương châm hành động
         Bổn phận uy nghiêm ngự trị trên chúng ta, có tính cách hoàn toàn hình thức. Từ bổn phận và tính cách hình thức của bổn phận, Kant nêu ba phương châm tiếng tăm:
         – Phương châm thứ nhất:
        “Luôn luôn hành động theo một phương châm mà chính ta muốn phương châm ấy có thể biến thành một luật lệ phổ biến được”.
         Phương châm này có thể gọi là phương châm của lý trí. Nó giúp ta qui định được bổn phận của cá nhân đối với chính mình. Ví dụ ta phải công bình, phải thật thà. Ta không thể mượn của ai một vật gì mà đã “rắp tâm không trả”. Nếu hành động rắp tâm “không trả” biến thành một luật lệ phổ biến thì hẳn ta không muốn tí nào! Ta không nói vu cho ai, chỉ vì, “nói vu”, nếu biến thành một luật lệ phổ biến, thì chính ta cũng không thích. Hễ cái gì “ta không muốn, thì người cũng chẳng ưa”. Tại sao lại thế? – Ấy chỉ vì mỗi người chúng ta đều có lý trí, đều có thiện chí mà ta nói ở trên.(7)
         Có những bản thể mà ta có thể xem như phương tiện, vì chính tự nó không có cứu cánh nội tại. Nó vốn thật chỉ là những phương tiện mà thôi, và giá trị của nó, không phải tự ở nó mà có, lại do ở người dùng nó, cấp cho nó, định cho nó. Giá trị của nó, tùy ở người dùng mà lên lên xuống xuống, cho nên hoàn toàn có tính chất phương tiện. Bởi lẽ đó, Kant gọi chung những bản thể ấy là “sự vật”, như: đồ dùng, ngựa, cừu, vàng, bạc v.v…
         Nhưng con người không phải là những “sự vật” như thế, chỉ vì lẽ “Con Người” có cứu cánh nội tại, hay nói một cách khác, con người tự mình có một giá trị tự tại. Người là một “bản thể” vô giá vì quí giá vô ngần, không có gì sánh kịp. Quí giá vô ngần, con người có một giá trị riêng, có nhân phẩm.(8) Người ta thường lấy của cải để trả công cho “Con Người”, nhưng thật ra, cái thiện chí của người ta không thể đánh giá được.(9) Con người là một bản thể có lý trí, có thiện chí, hành động hợp đạo đức; ta không ngờ gì nữa, con người mang trong bản thân một cứu cánh.
         Con người có giá trị vô song, cái giá trị hiển nhiên đến nỗi ngày nay, dưới ánh đèn điện, đâu đâu ta cũng nghe nói: “Nhân phẩm là cái giá trị thiêng liêng, cái quí của con người, không phải giá trị tiền bạc, địa vị, của cải…”
         Từ tư tưởng này, Kant nêu phương châm thứ nhì:
        “Luôn luôn hành động cách nào mà người ta có thể xem nhân loại (hoặc chính bản thân ta, hoặc người khác) không như một phương tiện mà như một cứu cánh”.
         Phương châm này có thể gọi là phương châm của công bình. Những kẻ bắt con người làm nô lệ cho con người đã xem con người như phương tiện. Kẻ nào tự tử, xem mình như một phương tiện; kẻ nào hứa mà không giữ lời, xem người khác như một phương tiện. Đến như kẻ thờ ơ chẳng cứu giúp một người hoạn nạn, kẻ ấy không xem người khác như một phương tiện, nhưng có điều cũng không xem người khác như một cứu cánh.



         Trong xã hội mà đạo đức chưa toàn thắng, luân lý chưa hoàn hảo, ta thấy người ta thường xem nhau như phương tiện, và còn đáng buồn hơn, “lý kẻ mạnh, bao giờ cũng hơn”, đúng như lời nói chua chát của La Fontaine. Nhưng trong xã hội đạo đức, người ta thường xem nhau như cứu cánh. Ai cũng hành động hợp thiện chí (độc lập), tức là đồng thời những hành vi của mọi người đều có thể biến thành những luật lệ phổ biến, mà mọi người vui vẻ tuân theo (bởi nó đều thiện). Vậy thì, trong xã hội đạo đức này, ai cũng vừa là nhà làm luật, mà cũng vừa là người thi hành luật (luân lý). Xã hội cơ sở trên một thứ hợp đồng, xem như một dân ước mà mọi người tự do ký kết: Xã hội an lành, đạo đức phát triển, dựa trên bản “dân ước” cấu tạo trong tinh thần tự do của mỗi người và bình đẳng giữa mọi người.
         Từ đấy, Kant nêu phương châm thứ ba:
        “Luôn luôn hành động thế nào mà ta có thể xem như vừa là người làm ra luật lệ, vừa là người thi hành luật lệ trong một xã hội đạo đức, cấu tạo trong tự do và bình đẳng, trong đó mọi người đều xem nhau như cứu cánh”.
         Phương châm này có thể gọi là phương châm của tự do.
         Đến đây, chúng ta đã tóm tắt lý luận luân lý “bổn phận” của Kant. Tuy nhiên, chúng ta không thể bỏ qua được những định đề dưới đây, để có thể hiểu cả hệ thống tư tưởng Kant. Nếu không tìm hiểu những định đề này, ta có thể nghĩ lầm rằng Kant không tin có Thượng Đế, vì thật ra trong lý luận luân lý bổn phận, Kant không hề nói đến Thượng Đế. Những định đề này không làm thành một hệ thống lý thuyết siêu hình(10) mà chỉ có thể làm như Kant, xem những định đề này như những bí mật trong tôn giáo, những bí mật mà chúng ta chỉ có thể thừa nhận, chứ không có tài nào hiểu nổi. Và chính Kant đã nói: “Khoa học phải im đi, để cho đức tin nói lên”.
         Lời ấy chúng ta cần nhớ để hiểu những quan niệm dưới đây.

Quan niệm “tự do” của Kant
         Không gian và thời gian, đối với Kant, là những hình thái mà cảm quan nhận biết được trước khi phải nghiên cứu thí nghiệm. Cái thế giới mà khoa học thiết lập trong không gian và thời gian, không phải là thế giới thực tại. Nó chỉ là một thế giới hình tượng.(11) Cái thiện chí mà mọi người đều có, “tự do” không thể nào thuộc vào thế giới hình tượng ấy được. Nhưng ta thấy “tự do” của thiện chí có hiển nhiên trong khi hành động luân lý. Vậy ta phải quả quyết rằng “tự do” hằng tồn tại trong một thế giới khác, một thế giới mà sự vật tự nó có sẵn, ta gọi là thế giới đương nhiên tự tại.(12) Chúng ta không thể hiểu thấu được “tự do”, nhưng “tự do” phải có. Và chính lý trí thực tiễn cũng nói cho ta biết rằng “tự do” có thật. “Tự do” vốn hằng tồn tại. Nếu không, hành động của con người làm sao lại có thể tốt đẹp, đạo đức; vì ta biết, mỗi khi hành động mà không tự do (tự do của thiện chí) thì hành động tức thì rơi ngay vào những thúc phọc, những bóp nắn tình cảm… thuộc thế giới hình tượng?

Thượng Đế
         Bằng “lý trí thực tiễn” và bằng “thiện chí tự do”. Kant đã giải thích tất cả. Và cả hệ thống triết học của ông cũng đều cơ sở trên ấy. Nhưng, cuối cùng, trong những định đề, Kant lại đem luân lý của mình đến tính chất siêu hình một cách rất lý thú (nhờ ảnh hưởng của bà mẹ và của gia đình Tin Lành).
         Đối với Kant, lý trí không những chỉ là một khả năng phổ biến (nghĩa là mọi người đều có) mà còn là một khả năng liên kết. Có những điều hay do tình cảm đem lại, như cảm thấy an tâm, sung sướng. Có những điều hay thuộc luân lý như: đức hạnh, tuân theo bổn phận. Ta gọi điều hay do tình cảm đem lại là “cái thiện tự nhiên”, điều hay luân lý, là “cái thiện luân lý”. Lý trí lại muốn rằng cái thiện tự nhiên và cái thiện luân lý phải hòa hợp nhau để làm thành “cái thiện tối cao”. Ta thấy, như chúng tôi đã đề cập trong những số trước, phái Epicure giải quyết vấn đề này bằng cách đem phụ thuộc cái thiện luân lý vào cái thiện tự nhiên, vì đức hạnh, đối với Epicure, là tìm khoái lạc. Những người khắc kỷ lại giải quyết bằng cách đem phụ thuộc cái thiện tự nhiên vào cái thiện luân lý. Nhưng Kant không thế. Kant đem đối lập tình cảm và luân lý: với ông, hành vi thực sự luân lý phải là hành vi độc lập đối với tình cảm. Cũng như tình cảm không thể hòa hợp được với lý trí, đức hạnh và hạnh phúc không thể hòa hợp được với nhau. Trong khi đó, lý trí lại muốn nó phải hòa hợp. Muốn nó hòa hợp được, tất cả phải có một “cái gì” để cho người làm việc thiện được sung sướng, kẻ tội lỗi phải bị khổ sở. “Cái gì” ấy, Kant cho là một thế lực lớn lao… chính Thượng Đế vậy.
         Đến đây, lý trí thực tiễn lại bắt buộc ta phải thừa nhận rằng Thượng Đế hằng tồn tại.

Linh hồn bất diệt
         Thế mà trong thế giới tình cảm, đức hạnh và hạnh phúc không thể hòa hợp đằm thắm được. Bị tình cảm trên níu xuống, thiện chí khó mà vươn lên đạo đức cho được hoàn thiện, trong khi lý trí đòi phải hoàn thiện. Bởi lẽ đó, chúng ta lại phải thừa nhận rằng con người tốt phải có một đời sống khác nữa… đời sống của linh hồn bất diệt. Nếu không có linh hồn bất diệt, tại sao lý trí thực tiễn lại đòi đến một độ không thể nào thực hiện được trong đời này?

Phê bình học thuyết Kant
         Ngoài công truyền bá ý thức tôn trọng nhân phẩm con người mà người văn minh, xã hội tân thời, không thể nào quên được, nhà triết học Đức còn có sự thông hiểu gần như linh diệu để giải thích một vấn đề trọng đại, đã làm rụng nhiều tóc của nhiều nhà triết học, một cách thông suốt lạ lùng. Ấy là vấn đề: có quả thật mọi người đều có lương tâm luân lý không? Nếu quả thật là mọi người đều có, tại sao có kẻ tốt người xấu?(13) Kant cũng đã biện biệt rất rõ rệt tính chất của luật lệ luân-luân-lý khác hẳn với luật lệ thiên nhiên, luật lệ luân lý, vì luật lệ luân lý bao giờ cũng chứa chất tự do: luật lệ luân lý được tuân theo một cách tự do. Và ngay khi tuân theo luật lệ ấy, người ta hoàn toàn được tự do.(14) Những điều trọng yếu này chính là cái giá trị lâu bền của tư tưởng Kant.
         Tuy nhiên, cũng như những nhà triết học duy lý, Kant có cái lầm lẫn là đã lên án “tình cảm”, buộc tội “con tim”. Thật ra những luân lý tình cảm, mà luân lý Cơ Đốc tiêu biểu, đã gây ảnh hưởng rất lớn lao trong cuộc sống xã hội. Luân lý Cơ Đốc đã được xem như một phúc âm gieo rắc trong xã hội loài người những niềm tin yêu nhân ái…, đã cải tạo tâm tình, đạo đức con người với sức mãnh liệt nào ta đều biết. Mạnh Tử có nêu: cái tình trắc ẩn của người ta chính là đầu mối của mọi đức hạnh cũng đáng cho ta suy nghĩ.(15) Theo Kant, lòng trắc ẩn của Mạnh Tử, vì là tình cảm, không còn là thuần túy luân lý nữa ư? Thật ra, biết được bổn phận không phải là điều kiện đầy đủ để thực hiện bổn phận. Trước một việc thiện, người ta thường bị khích động. Chính sự khích động ấy là động cơ của những việc thiện kế theo,(16) vì việc thiện vốn có sức quyến rũ rất mãnh liệt. Lyautey có nói một câu đáng cho ta suy nghĩ:
         “Không có một sự nghiệp nào của con người thật sự vĩ đại mà không cần có một ít tình cảm”. Thật ra tình cảm đóng vai trò rất trọng yếu trong đời sống luân lý, một vai trò không kém cái vai trò của lý trí. Tình cảm làm cho bổn phận luân lý trở nên đáng ưa, bớt vẻ khắc khổ nghiêu khê. Thật ra có nhiều người(17) đã đem tình cảm chống lại vô thượng mệnh lệnh vì vô thượng mệnh lệnh không thể xúi giục ta hành động luân lý được. Không quyết liệt như thái độ những người ấy, ít ra ta cũng phải nói: không thể có một hành vi thực sự luân lý nếu thiếu nhiệt tình. Mê tín ở lý trí để buộc tội tình cảm như Kant là không đứng đắn.
         Ta cũng không thể nào đồng ý với Kant mà xem thường kinh nghiệm luân lý. Có phải chăng những người quen sống đạo đức làm việc thiện một cách dễ dàng, còn những kẻ bất lương vô đạo làm việc thiện nhọc nhằn? Kẻ quen nói thật, một lần nói dối, ngượng mồm. Kẻ quen giả dối tỏ ra thành thật một cách vất vả. Và những kinh nghiệm đạo đức luân lý của lớp người xưa, của xã hội trước, trong thực tế, chẳng phải là những mẫu mực khuôn thước cho chúng ta noi theo hành động ư? Và biết bao nhiêu đồ đệ các tôn giáo, các chủ nghĩa vẫn hằng mô phỏng hành động xuất xử của thánh nhân mình hằng tôn thờ để hành động xuất xử, chẳng phải là một lời đối đáp hùng hồn lại tư tưởng Kant sao?
         Kant đã muốn tách biệt con người, bắt ly khai với cả hoàn cảnh xã hội, với học thuật, với kinh nghiệm, cả với các thế hệ dĩ vãng, vị lai, để con người trơ trọi. Còn hơn thế, Kant bắt con người rời bỏ cả phần tâm lý tình cảm của mình, rồi đem con người ấy đối đầu với vô thượng mệnh lệnh (danh từ mới khô khan làm sao!), đối đầu với bổn phận (xẳng xớm(18) làm sao!) – Nói đến đây, con người bản nhiên luân lý (vì con người vốn có tính thiện) của chúng ta đã thấy rờn rợn trong người. Phải chăng học thuyết luân lý Kant là một học thuyết khổ hạnh xẳng xớm, tuy phổ biến nhưng khó áp dụng trong đại chúng chớ không như ông tưởng! Con người luân lý, đúng theo lý tưởng Kant, quả nhiên là một anh hùng mà ta có thể hình dung (một cách không hoàn thiện) qua hình dung thân mẫu ông.
         Mặc dù còn nhiều khuyết điểm như chúng tôi vừa lạm bàn trong học thuyết luân lý Kant, ta cũng không thể nào quên được cái “nhân phẩm” con người của mỗi chúng ta, đã bị chà đạp từ trước, được Kant khơi dậy để làm cứu cánh cho sự sống xã hội văn minh.
         Tư tưởng và công nghiệp lớn lao thay!


Hào-Nguyên NGUYỄN HÓA

___________________________________________________
(1) Gọi luân lý tình cảm những học thuyết luân lý cơ sở trên tình cảm để lập nguyên tắc. Đối với Rousseau, người hướng đạo vững chắc của hành vi luân lý là lương tâm. Émile đã nói một câu tiếng tăm: “Lương tâm! Lương tâm!… Tiếng nói thiêng liêng…”
(2) Gọi luân lý duy lý tất cả những học thuyết luân lý cơ sở trên lý trí để lập nguyên tắc.
(3) Xin hiểu lý trí theo nội dung trong tâm lý học. Vắn tắt: một khả năng tinh thần, phán đoán, suy xét, mà ai ai cũng đều có, một khả năng phổ biến.
(4) Ta sẽ thấy dưới đây rằng nói như thế là sai lầm.
(5) Chúng tôi dùng chữ Thiện chí để dịch chữ bonne volonté của chữ Pháp, là cốt cho dễ hiểu vì chữ này ta vẫn thường dùng. Tuy nhiên cần nhớ nội dung của nó bao gồm tự chủ, sự quyết tâm thực hiện hành vi, sự tự do nữa.
(6) Luôn luôn nhớ là thiện chí độc lập.
(7) Suy ra, thì tư tưởng này của Kant cũng gần giống tư tưởng tính thiện của mạnh Tử. Chỉ khác có một điều, Mạnh Tử chú trọng nhiều đến lòng NHÂN (仁) mà Kant lại bài xích.
(8) Xin hiểu theo nghĩa từ-nguyên: giá trị con người.
(9) Chính tư tưởng này đề cao giá trị con người, gây ảnh hưởng lớn lao lâu bền trong xã hội văn minh.
(10) Nên nhớ, gần như Kant loại bỏ siêu hình vì ông cho rằng lý trí không đủ sức để lập một trí thức siêu hình vững chắc. Tự đấy ông bài xích luân lý có nguồn gốc siêu hình.
(11) Dịch chữ monde phénoménal.
(12) Dịch chữ monde nouménal.
(13) Nhắc lại, Kant cho rằng người ta đều có lý trí, thiện chí bản nhiên tốt. Nhưng người ta xấu là vì đã không biết giữ gìn thiện chí độc lập và không biết tuân theo vô thượng mệnh lệnh. Cũng điểm này: Rousseau cho rằng người có lương tâm, một khả năng tiên thiện, nhưng hình như đã lúng túng để giải đáp câu trên. (Xin xem ở “Tìm hiểu Triết học luân lý” do Tân Việt xuất bản.)
      Ở Đông phương, Mạnh Tử đã trả lời rõ ràng và đáng tin cậy. Mạnh Tử cho rằng người ta có tánh thiện do trời phú cho. Nếu có thành ra bất thiện là vì người ta không biết giữ lấy cái bản tâm. Đạo đức nhân nghĩa không phải ở ngoài mà đúc nên được, ta vốn có sẵn mà không nghĩ đến thôi. Những kẻ dở là những kẻ không dùng hết cái bản năng của mình ví như cây cối ở núi Ngưu Sơn vốn là rườm rà rất đẹp, nhưng cứ bị rìu búa chặt mãi, cây cũng đến phải cằn cỗi.
(14) – Ta không thể lý luận 2+2=5 được, vì trái luân lý. Ta bị bắt buộc phải thừa nhận 2+2 là 4.
      – Ta không thể đi giữa sa mạc xứ Á Rập mà mặc áo quần miền địa cực mà sống được, vì ta làm trái luật lệ thiên nhiên.
(15) “Người ta ai cũng có lòng thương người… Giá bất thình lình người ta trông thấy đứa trẻ sắp rơi xuống giếng, thì ai cũng có lòng bồn chồn thương xót. Bồn chồn thương xót, không phải là vì trong bụng có ý muốn cầu thân với cha mẹ đứa trẻ ấy, không phải là vì muốn cho người làng xóm, bè bạn khen, không phải là sợ người ta chê cười. Xem như thế thì ai không có lòng trắc ẩn, không phải là người; ai không có lòng tu-ố không phải là người, ai không có lòng thị phi không phải là người. Lòng trắc ẩn là cái mối của nhân”. (Trích trong Nho Giáo của Trần Trọng Kim – Quyển Thượng.)
(16) Đây xin nêu ra một ví dụ tóm tắt: Đứng nhìn một người xả thân cứu một người, ta sẽ bị việc làm của người kia xúc động đến ta, khiến ta nảy sanh cảm tình yêu kính người ấy, bồn chồn muốn bắt chước, muốn làm theo… (Xem rõ trong “Tìm hiểu Triết học luân lý” do Tân Việt xuất bản.)
(17) Faguet chẳng hạn…
(18) Cứng cỏi, không uyển chuyển.


BÁCH KHOA |  SỐ 13

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 23/01/2018, 00:55:19


                     Bài ca vẽ trúc
                                                   Mặc Thu dịch

            Cỏ cây vẽ khó nhất loài trúc,
            Xưa nay vẽ nhiều nhưng không thực.
            Chàng Tiêu vẩy bút giống tài tình,
            Một nét đan thanh một chung đúc.
            Người vẽ thân trúc như sưng phù,
            Đốt trúc chàng Tiêu nét nét sơ.
            Nhành trúc tươi non lá lá động,
            Đâu giống trúc người ngọn xác xơ.
            Không rễ mà sống vì ý sống,
            Không măng mà tươi vì bút thành.
            Xum xuê đôi khóm mươi lăm gióng,
            Lả ngọn đường quê bờ gập ghềnh.
            Gái ngoan còn mãi phấn thơ ngây,
            Bút hoa vờn dậy tình khói mây.
            Bỗng thấy như không là bức họa,
            Bỗng nghe tiếng nhẹ lướt đâu đây.
            Khóm Tây bảy gióng cứng mà khỏe,
            Đều hướng về xa Thiên Lạp từ.
            Tám gióng khóm Đông gầy lạnh lẽo,
            Chạnh nhớ Miếu Tương vùi trong mưa.
            Mênh mang chí lớn ai người biết,
            Cùng ngẩng lên trời cất tiếng than.
            Tiêu lang già rồi thực đáng tiếc,
            Run tay, mờ mắt, đầu gội tuyết.
            Nhủ mình: đâu còn bút thịnh thời,
            Trúc ấy bây giờ khó kiếm được.


                                             BẠCH CƯ DỊ
                                             (Họa trúc ca)


BÁCH KHOA |  SỐ 13

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 26/01/2018, 11:27:26
BÁCH KHOA |  SỐ 14  [1 tháng Tám  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Khủng hoảng tiền tệ? |  1-17
Phạm Ngọc Thảo |  Quân đội và nhân dân |  18-22
Bách-Khoa |  Người cộng sự xứng đáng |  22
Nguyễn Văn Mầu |  Quyền biện luận trước Tòa Án |  23-28
Bách-Khoa |  Quên mình để làm việc nghĩa |  28
Võ Phiến |  Nghĩ về hai thể thơ Việt Nam |  29-34
Bách-Khoa |   Quân tử có ai ghét không? |  34
Từ-Quyên Đặng Văn Nhâm |  Tìm hiểu Kim tự tháp |  35-41
Cô Thoại Nguyên (dịch) |  Mười lăm bà mẹ kể lại cho các bạn họ đã “Đẻ không đau” như thế nào? \ Votre Enfant số tháng 11 năm 1956 |  42-47
Bách-Khoa |  Đức hạnh của Nhan Uyên |  47
Đông Xuyên |  Gánh nước đêm (thơ) |  48-49
Lê Văn |  Nồi chè đen và con chó đói (truyện) |  50-53
Quảng cáo |  54-56
Yã Hạc và Trinh Nguiên (dịch) |  Đứa nhỏ với cuộc đời |  57-60
Quảng cáo |  61-64
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [XI] (truyện dài) \ Từ Vu |  65-68
Quảng cáo |  69-70
Bách-Khoa |  “Nói có sách, mách có chứng” |  71-72
Quảng cáo |  73-80


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204213903-aa170f3cd534ca797abe19d87b2a4079/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 26/01/2018, 11:46:20


Quân đội và nhân dân

TRONG LỊCH SỬ đời thượng cổ, một nhà triết học am hiểu về chánh trị đã thốt ra những lời sau đây: “Tôi không ngại gì hơn những tướng lãnh vừa mới chiến thắng”. Ý muốn nói là những tướng tá từ bãi chiến trường mới về, còn say sưa với tiếng súng và lát gươm hạ sát quân thù đem lại vinh quang cho đất nước, thường coi rẻ các ngành chánh trị, dân sự và tự cho mình xứng đáng chỉ huy và lãnh đạo toàn diện.
         Đời nay, sau thắng lợi oanh liệt, có những quân nhân, trong phạm vi nhỏ hơn, cũng tự cho mình một địa vị quá quan trọng và quên vai trò của nhân dân, rồi chỉ còn thấy công của quân đội tức là của bản thân họ trong việc chiến thắng quân thù.
         Thiết tưởng là quân nhân đã từng dám tung hoàng ngoài trận địa dưới làn tên mũi đạn, không nhiều thì ít, chắc khó tránh được tư tưởng tranh công không chánh đáng giữa quân đội và nhân dân. Việc đó tự nhiên quá.
         Lúc súng nổ rền trời, lúc cờ trận vừa nhuốm máu tươi, rực rỡ đủ màu, anh dũng tiến tới; lúc tiếng kèn thúc xung phong làm phục hồi sức đã đuối và đánh tan ý sợ chết; lúc người chiến binh quyết tâm đem xương thịt mình ra chọi cùng đồng sắt của đạn và trái phá; lúc mà mỗi giây, mỗi phút kết thúc cả cuộc đời của biết bao thanh niên đầy tương lai, lúc ấy có thấy mặt chánh trị gia nào đâu và cũng khó thấy vai trò cụ thể của nhân dân được.
         Vậy muốn đo lường vai trò của quân đội và nhân dân trong việc giải quyết chiến tranh, có lẽ cần bình tĩnh xét lại lịch sử của quân đội.



         Cách đây rất xa, khi người ta sống một cách đơn giản trong các hang đá, quanh ngày chỉ biết đi săn và hái trái cây để sanh sống, hình thức chiến tranh là chiến tranh cá nhân, tức là những vụ đánh lộn tay đôi không tổ chức, không chỉ huy. Sau đó, khi số người đã đông đảo hơn, họ phân chia ra từng nhóm, từng bộ lạc để cùng nhau hợp tác sống trên một vùng. Trong tập thể ấy, có tổ chức, có sự phân công để kiếm ăn và tự vệ. Tuy vậy, lúc bấy giờ cũng chưa xuất hiện hẳn hoi một quân đội. Thường thường thì, trừ đàn bà và kẻ quá già yếu, tất cả đàn ông ai ai cũng phải ra chiến đấu, nếu cần chống với một bộ lạc đối địch hay với một kẻ thù khác, như thú dữ hoặc thiên tai. Không có quân đội chuyên nghiệp. Nhân dân và quân đội là một.
         Kế đó, loài người ngày càng đông và ngày càng giỏi dắn trong phương diện sanh sản. Tiến hơn mức kiếm ăn, họ lại còn biết kiếm lời kiếm lãi. Hình thức bộ lạc đã biến đổi thành hình thức quốc gia. Sự phân công nội bộ càng phức tạp hơn. Trong “Nước”, thấy xuất hiện rõ rệt một bộ phận võ trang chuyên trách về các việc quân sự: đó là quân đội. Quân đội lúc bấy giờ đã tách rời hẳn với nhân dân. Phần lớn binh lính là người khỏe mạnh đã chọn lựa nghề làm lính như người khác chọn nghề làm nón hay nghề làm giày. Có khi, không cần là công dân trong Nước, họ cũng có thể nhập ngũ trong “nghề quân đội”. Đó là trường hợp của một số người Thụy Sĩ xưa kia chuyên môn đi làm lính cho nước ngoài để “đánh giặc mướn”. Nghề làm lính tuy lương khá cao, song không được dư luận kính trọng vì thành phần, phần lớn là người vũ phu, phiêu lưu mạo hiểm; khi chưa xuất trận thì tiền lương bao nhiêu cũng cố xài cho hết: rượu chè, cờ bạc, đĩ điếm, v.v…, để rồi lâm trận nếu không may mà chết đi thì khỏi hối hận đã không xử dụng hết số tiền bán mạng mình. Quân đội đó là quân đội đánh thuê. Nó có bị tiêu diệt thì chủ nó tiếc, nó tiếc như một bầy chó săn hay một vật đắt giá đã mất. Nhân dân có tiếc thì cũng tiếc số tiền đã đóng thuế để mua sắm khí giới và nuôi dưỡng nó thôi. Lòng dân không thấy xúc cảm. Trái lại, có người còn mừng nếu đích thân họ đã chịu sự phá phách của quân đội đó. Quân đội đã tách lìa với nhân dân.
         Đến giai đoạn hiện tại, phần lớn tại các nước, trong nội bộ Quân đội có sự biến chuyển lớn. Lúc thời bình, thanh niên đúng tuổi thay phiên nhau nhập ngũ để học nghề nhà binh. Lúc hữu sự quân đội gồm tất cả những thanh niên có đủ điều kiện sức khỏe. Có khi trong hàng ngũ quân đội lại có cả những người của phái nữ tình nguyện. Việc đi lính không phải là “một nghề” quan niệm theo xưa, dành riêng cho một hạng người, dù ngoại quốc hay công dân bản xứ, phần lớn là cặn bã của xã hội nữa; Việc đi lính lại là nghĩa vụ mà tất cả thanh niên đúng tuổi và đủ điều kiện sức khỏe phải đảm nhận. Bấy giờ, quân đội và nhân dân, tuy phân biệt song liên hệ nhau rất khắng khít, vì gia đình nào cũng có cha hay con, hay cháu, hay thân thuộc trong quân đội. Do đó quân đội chiến thắng là nỗi vui mừng chung của toàn dân. Quân đội bị tiêu diệt là một tang tóc, một mối căm hờn, một nỗi buồn tủi cho toàn dân.
         Xét sơ lịch sử quân đội, ta nhận thấy ban đầu quân đội và nhân dân là một và không có một sự phân biệt. Sau đó, lần lần quân đội đã tách rời khỏi nhân dân và biệt lập đối với nhân dân. Hiện tại, tuy quân đội và nhân dân được phân biệt, song nó là hai bộ phận rất khắng khít, liên hệ nhau rất mật thiết.



         Nếu sự liên hệ giữa nhân dân và quân đội trong lịch sử đã thay đổi sâu sắc như vậy, lẽ tất nhiên địa vị của quân đội cũng như địa vị của nhân dân trong việc giải quyết chiến tranh, cũng đã phải biến chuyển trên căn bản từ xưa đến nay.
         Trong giai đoạn đầu, khi quân đội và nhân dân chỉ là một, tất nhiên một phe muốn thắng phe kia chỉ có cách là tiêu diệt quân đội địch, tức là tiêu diệt nhân dân của phe địch, không cách nào hơn cả. Nói cách khác đi, vai trò của quân đội tức là nhân dân, là một vai trò quyết định trong việc giải quyết chiến tranh, không thể nói đến địa vị riêng biệt của quân đội được.
         Trong giai đoạn kế đó, lúc mà tại nhiều nước đã xuất hiện một “quân đội nhà nghề” có tánh chất “quân đội đánh giặc mướn” và cũng có tánh chất biệt lập đối với nhân dân, địa vị của quân đội đã nổi lên một cách riêng biệt đối với nhân dân trong vấn đề định đoạt một cuộc chiến tranh. Khi hai nước tuyên chiến thì hai quân đội của chúng lãnh trách nhiệm giao chiến với nhau. Nhân dân cứ lo việc sống thường ngày của họ. Đến lúc nào, một trong hai quân đội đã bị tiêu diệt hay đã đầu hàng, thì chiến tranh thường chấm dứt. Dù người thủ lãnh của nước bại trận có muốn đánh nữa cũng không thể tiếp tục vì không còn gì trong tay để chinh chiến, trừ ra bản thân không đáng kể của ông, nếu ông là người dám ra trận. Còn nghĩ đến việc lập lại một đội quân mới để tiếp chiến, không phải là một việc dễ. Nhân dân đâu có sẵn sàng đóng thuế đặc biệt để sắm liền gươm giáo, ngựa, xe cho quân đội mới. Nghĩ đến việc đàn áp, cưỡng bách bắt dân nạp thuế và bắt dân làm lính lại là một việc còn khó hơn nữa, nhứt là mới vừa bại trận, không còn quân trong tay để ruồng bố. Chính vì hoàn cảnh đó nên quân đội tan, là chiến tranh cùng tàn. Lúc bấy giờ địa vị của quân đội trong việc giải quyết chiến tranh là quyết định độc nhứt. Vai trò của nhân dân là một vai trò tiêu cực.
         Trong giai đoạn hiện tại, thử hỏi địa vị quyết định của quân đội và vai trò tiêu cực của nhân dân trong vấn đề giải quyết chiến tranh còn tồn tại nguyên vẹn hay không?
         Mới nghĩ qua, câu hỏi trên có vẻ quá đơn sơ và dễ trả lời. Trên thực tế, biết bao nhiêu danh tướng đã đáp sai và sự sai lầm đó đã chôn biết bao thanh niên ưu tú một cách vô lý nơi đất khách quê xa, giữa sự nguyền rủa của nhân dân địch thù.
         Giải quyết chiến tranh trong giai đoạn hiện tại không còn đơn thuần là tiêu diệt quân đội đối phương nữa. Bằng chứng giản dị và trước mắt tại Nam Việt là từ đầu kháng chiến chống Pháp, những đơn vị tượng trưng cho quân đội của phe kháng chiến đã bị tiêu diệt hay tiêu tan kể như hoàn toàn trước sự tấn công của các đội binh thiết giáp, nhẩy dù, v.v… của phe xâm chiếm; vì thế mà chiến tranh mãi gần chục năm cũng chưa tan. Trong khi đó lịch sử lại lần lượt chôn các danh tướng của phe kia xuống bùn ô danh.
         So sánh với trước, quân đội hiện nay tại các nước nói chung có tấn bộ hơn về kỹ thuật, chiến thuật, võ trang. Có lẽ gần đây, quân đội với sự điên cuồng của loài người, còn có thể tối tân hơn nữa trong phương diện giết người và hủy diệt vạn vật hữu dụng. Song không phải vì thế mà địa vị quân đội trong việc giải quyết chiến tranh lại tăng lên. Trái lại, địa vị đó ngày càng xuống và vai trò của nhân dân càng ngày càng quyết định. Sự lớn mạnh của quân đội đưa nó vào cảnh cần phải phụ thuộc về nhân dân. Nhu cầu của nó về vật chất cũng như về người quá lớn lao, nên nó không thể không nương tựa vào nhân dân. Nếu mai kia, nhân công các xưởng vũ khí ngừng hoạt động, hay nông dân ngừng sản xuất, hay thương gia không buôn bán, làm tê liệt nền thương mại, hay thanh niên mới lớn lên không chịu nhập ngũ, thì quân đội cũng tê liệt tức khắc. Quân đội hiện nay của một nước phụ thuộc về khả năng kinh tế, chánh trị và văn hóa của toàn dân nước đó. Nếu thanh niên không học thêm về văn hóa chẳng hạn thì dù có súng tối tân, thử hỏi tìm đâu ra sĩ quan đủ năng lực để tận dụng khí giới ấy? Chiến tranh hiện nay là chiến tranh dự trữ; dự trữ về nhân lực cũng như dự trữ về vật lực. Mà nguồn gốc của dự trữ đó là nhân dân chứ không phải quân đội.
         Chính vì vai trò của nhân dân trong việc giải quyết chiến tranh càng ngày càng lấn áp địa vị của quân đội, nên mục đích của chiến lược quân sự có khi không phải là tiêu diệt quân đội đối phương, mà là tiêu diệt ý chí chiến tranh của nhân dân. Do đó, xuất hiện ra những “chiến tranh nguội”, “chiến tranh tâm lý”. Vũ khí cũng được sáng chế theo chiều hướng mới. Trong chiến tranh vừa rồi tại Việt Nam chẳng hạn, Bộ chỉ huy lực lượng Pháp tuyên truyền rất nhiều cho loại bom gọi là bom Na-ban (hay bom xăng đặc, hay bom lửa). Nhân dân và cả bộ đội kháng chiến mới nghe cũng muốn mất tinh thần (…và đầu hàng theo Pháp cho rồi: đó là ý muốn của đối phương). Bom rơi tới đâu là cây cối cháy hết, tiêu tan thành tro tới đó. Nếu trúng vào người, người cũng bị cháy luôn. Thật ra, bom đó chỉ có tác dụng về chiến tranh tâm lý. Còn thực tế về mặt quân sự, đối với một quân đội không căn cứ, bom đó có tác dụng rất nhỏ, nếu không nói là vô lý và đáng cười cho kẻ phí tiền, trong khi mà họ phải đi vay của ngoại quốc để duy trì chiến tranh.
         Hiện nay, dân không muốn đánh mà xua quân cứ đánh liều, thì cũng sẽ thất bại mà thôi. Còn nếu nhân dân đồng lòng đánh thì dù kẻ địch có tiêu diệt hết đội quân này, sẽ nở ra đội quân khác, và nếu cần, đội quân khác nữa và đội quân khác nữa.
         Quân đội và nhân dân trong giai đoạn hiện nay là hai bộ phận rất khăng khít nhau. Giải quyết chiến tranh không còn là quyền quyết định độc nhứt của quân đội. Vai trò của nhân dân đã chiếm địa vị then chốt và chính nó bảo đảm sự làm tròn nhiệm vụ của quân đội.



         Nếu người phục vụ trong lực lượng quân sự hiện nay nắm vững nhận thức căn bản trên, thì thái độ của họ đối với nhân dân trong việc tranh công lúc thời chiến có lẽ dễ giải quyết. Một cuộc chiến tranh có thu được thắng lợi hiện nay là nhờ công của toàn dân. Công của người chiến binh làm tròn nhiệm vụ ngoài trận địa lẽ tất nhiên tương đối đáng được khen ngợi hơn người công dân ở hậu phương. Nhưng đó chỉ là vấn đề tương đối. Không nên lầm tưởng chỉ có công của quân đội trong việc giải quyết chiến tranh. Ý nghĩ này sẽ đem lại cho mình nhiều sự buồn tủi không chánh đáng. Tất nhiên, trong xã hội hiện tại, không phải ai có công cũng được thưởng và ai có tội cũng bị phạt. Có khi còn xẩy ra lắm cảnh trái ngược. Có những tay buôn lậu thuốc men lúc thời chiến, lại thung dung được hưởng cảnh giàu sang phú quí khi các chiến binh đã dẹp xong giặc ngoại xâm. Có những công dân đóng góp phần xương máu giải phóng xứ sở phải nếm cảnh éo le khi hòa bình và độc lập đã trở lại. Những việc đó không đáng làm cho người quân nhân quá bận tâm.
         Cốt yếu là người chiến binh cần nhớ căn bản sức mạnh của quân đội chính là nhân dân. Do đó những hành vi làm quân đội xa lìa nhân dân là những hành động làm yếu sức của bản thân quân đội. Thời đại mà lực lượng quân sự thuần túy định đoạt chiến tranh không còn nữa.
         Chiến tranh hiện nay không còn thu hẹp trong hình thức đơn thuần quân sự. Nó còn bao gồm hình thức kinh tế, chánh trị, văn hóa. Địa vị của quân đội tuy có nhường bước cho nhân dân, song nó vẫn còn một tánh chất quan trọng bực nhứt. Trong việc giải quyết chiến tranh, người quân nhân có quyền hãnh diện là lực lượng nòng cốt, nhưng họ không còn quyền coi nhẹ công lao của nhân dân, vì công lao đó là nền tảng của sức mạnh của quân đội.


PHẠM NGỌC THẢO


BÁCH KHOA |  SỐ 14

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 26/01/2018, 23:07:55


               Gánh nước đêm
                                                       
            ĐỈNH đầu một bóng trăng,
            Trên vai một gánh nước,
            Đường khuya xóm Bàn Cờ,
            Một cô cao thấp bước.

            TRONG thùng nước có trăng,
            Cô gánh đi thung thăng,
            Lầu cao trông ấp ánh:
            Một gánh hai chị Hằng!

            TRĂNG lồng cây xóm vắng,
            Nước đỏ… chân người trắng.
            Nhẹ bước trên đường trăng,
            Cô quên mình gánh nặng.

            CÔ bé con nhà ai?
            Nước gánh bao nhiêu rồi?
            Đêm sâu, người đã giấc,
            Thôi gánh trăng về ngơi…


                                    ĐÔNG XUYÊN


BÁCH KHOA |  SỐ 14

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 26/01/2018, 23:51:10


Nồi chè đen và con chó đói

CHỢ RẠCH GIÁ, không ai còn lạ gì Chị Tư bán chè thưng. Người ta lại càng không lạ gì con chó Phèn mà tháng năm chưa tắm một lần đến trổ màu luốc-luốc. Phèn sống bằng đủ thứ thập vật ở khắp vỉa hè góc phố mà bến đặc biệt của nó là tiệm cà-phê Cái Ký.
         Tiệm nầy của người Trung Hoa. Ngoài hình Tôn tiên sinh được treo có phần trang nghiêm, trên trần và hai bên vách có tranh bát tiên, tranh Hoa-Nhựt chiến tranh, tranh Tưởng Thống Chế rút gươm hò hét ba quân, chen vào tranh Lý Bạch lựng lờ trên bến Tầm Dương. Họ cũng chiều lòng các ông Thông tin, các bà quảng cáo mà hoa hòe cửa tiệm bằng hình ảnh thời sự, bích chương, tin tức Tỉnh nhà và những pha biểu diễn mô tô bay hào hứng.
         Tiệm được tiếng là đắt khách và lớn hơn hết ở chợ. Nên chi, Chị Tư cũng mượn nó làm cái “bến trạm”.
         Chị vừa đặt gánh xuống là con Phèn ở đâu không biết cũng lơn-tơn lại nằm kế soong chè. Nó nghỉnh mõm hít cái mùi đậu bùi, đường ngọt, có để dầu chuối thơm ngào ngạt. Chị Tư lấy chưn đuổi nó xê ra hầu tránh sự chê trách của những khách ăn kỹ lưỡng. Tuy vậy, hễ Chị lơ đễnh là Phèn dịch sát lại gần soong chè. Nó cũng tự biết mình không có diễm phúc được ăn đâu. Hơn nữa, đường đậu là món ăn chơi chớ không phải là món ăn no. Nó muốn lại gần soong đây là nhờ mấy cục than trong lò san sẻ chút hơi ấm.
         Chị Tư là vợ của anh xích lô và là mẹ của ba con còn tấm mẳn. Nhà chị ở xóm lò heo. Chồng làm, vợ cũng làm mà nhà dột vẫn gặp cảnh dột nhà. Chị hết đau ốm nghén thì Anh lại đau vì nắng gắt, mưa dầm. Anh Chị vừa sẩn sẩn thì bị pháo kích của loạn quân gây thành hỏa hoạn thiêu cho hết đũa so le, muỗng gẫy, chổi cùn. Chẳng lẽ ngồi không van lạy Trời đất mà có cơm, Anh Chị phải chịu nợ nần, tần tảo chút ba năm mới gây dựng lại được cơ sở cũ để năm rồi chịu sự đổ vỡ dưới cơn bão tố. Cứ mãi xây dựng để tiêu pha, để chịu sự hủy diệt của thiên tai ách nước. Anh Chị lần lượt cho ra đời ba con: niềm an ủi của sự cực khổ lao lung.
         Anh Tư thì quần quật suốt ngày. Gần đây, xe cộ đi về luôn nên Anh hay ngủ ở bến cho dễ kiếm mối. Chợ biển cheo leo nầy có là bao lớn mà đôi khi cả ngày Anh không gặp mặt vợ con lần nào, trừ vào những ngày mưa. Cái nghèo nó cắt xẻ tình nghĩa như vậy đó.
         Chị Tư là người đàn bà đảm đang giỏi giắn. Chị chỉ thảnh thơi lúc còn son giá, chớ từ về với Anh Tư thời thôi bá ban vạn sự. Thậm chí đến việc sinh nở là hệ trọng mà Chị cũng không nghỉ năm ngày mười bữa gì để dưỡng trước khi sanh. Và vừa hốt bếp thì Chị lại lê chân theo công việc. Ngoài phần nội trợ. Chị còn lo mua bán. Ban ngày, Chị bán bánh da lợn. Về đêm, Chị bán chè thưng.
         Chị ngồi tư lự nhìn giọt mưa rơi đến lúc ông khách sang ở bàn trong kêu hai ba tiếng Chị mới nghe. Ông khách đưa lần trước hai ngón tay, lần sau một ngón là Chị biết ý, lui cui dạo trong soong chè múc ra ba chén: hai đặc, một lỏng, lỏng đến cơ hồ chỉ bán nước đường.
         Vợ và con gái của ông khách đang lơ đãng nhìn cái lối trình bày ô hợp của tiệm, ngửi được mùi chè thì quay lại. Thật ra, họ xem tranh như dân đô thành nghe nhạc đài phát thanh vậy. Cũng tên ca sĩ nầy, cũng ban nhạc đó, nhại đi nhại lại cả ngàn lần, không nghe thì khao khát, mà nghe thì chán, một nửa bực dọc, một nửa hững hờ.
         Bà khách đưa tay tiếp một chén chè thì Chị Tư đã để hai chén còn lại đúng chỗ rồi. Ông khách nhìn chị, trổ nụ cười hài lòng rồi mới mở gói bánh ngọt. Kế bên cô gái con chó Mi-Nô thuộc giống Berger ngẩng mỏ hồm-hồm. Cả ba nhìn nhau như cùng mời rồi bốc bánh.
         Chè lên hơi nghi ngút, vừa thơm vừa ấm. Gói bánh ngọt loại nước gồm xôi vị bánh da lợn, bánh bò nướng, mỗi thứ vài miếng, tổ hợp màu sắc trông quyến rũ.
         Nhìn không gian đen đặc bị nê-ông chận lại còn thập thò ngoài cửa, kể ra, đây cũng là tay ăn đêm sành điệu. Bánh Rạch Giá nổi tiếng ngon nhất miền Nam. Mặc dầu đường đậu bây giờ mắc mỏ, bánh làm ngon chẳng bằng xưa chớ cũng chưa nơi nào hơn được. Người Thủ đô vẫn xuống đây đặt bánh để khoe giàu khoe khéo mỗi khi đình đám là thường.
         Bánh hết. Cô gái đẩy lá xuống bàn cho trống chỗ đặng ăn chè. Lá rớt nhẹ nhàng như cử chỉ lén lút phá luật lệ vệ sinh.
         Rấp tâm chờ sẵn cái phút nầy, con Phèn nãy giờ nằm gác mỏ tiu nghỉu, kịp trông thấy, chớp nhoáng nhảy tới. Rủi thay: Mi-Nô, không biết vì tranh ăn hay vì giữ của – dù là của bỏ – đã chận Phèn bằng một cái táp dữ dằn.
         Mi-Nô to con, mập mạp. Phèn đói khát ốm tong teo, Nó trợn trừng mắt quyết chết sống.
         Hai con chó ngừ rền, đánh thức mấy anh “phổ-ky” hầu bàn đang gật gà gật gưỡng lúc ít khách. Mắt các anh chao cháo nhìn nội cuộc đến lúc cô gái quýnh quáng kéo vạt áo dài thế nào mà đánh rơi chén chè bể tan tành, mới như sực tỉnh, xách ghế lại can thiệp. Cái đói và sự tức giận phút chốc đã gây cho Phèn một sinh lực.
         Gỡ được cái thất thế vì vô lý, Phèn vừa cắn lỗ tai Mi-Nô thì cũng vừa thấy cái ghế giáng xuống mạnh như búa bổ. Nó bỏ cơ hội trả thù, rút chạy nhường phần đòn cho Mi-Nô hứng lấy. Nhưng, chiếc ghế ngừng phắt ở nửa lừng như người ta thắng gấp để thử máy chiếc xe “jeep” mới ra hãng.
         Thì ra, người ta chỉ đánh nó chứ không phải là công bình can gián. Mi-Nô được “mợi”, như tăng sức, nhảy theo Phèn nhoặp nữa. Cho hay, chó hùa là thế.
         Cái đói làm cho Phèn mạnh khi nãy, thì giờ cái đói làm cho nó kiệt sức. Nó bị Mi-Nô cắn cổ vung qua vung lại, đẩy lần ra cửa.
         Chị Tư không dè cớ sự nguy ngập làm vậy, vừa vớ được cấp đòn gánh thì Phèn đã bê tắp vào soong chè làm soong ngã ngang, nắp văng ra kêu loảng choảng, chè đổ tràn trên mặt gạch. Than cháy gặp nước kêu sèo sèo, bốc lên một bựng khói có cả tro bay như điểm trang cho chiến trường lưỡng cẩu.
         Sự thể gây ra đột ngột, con Phèn linh cảm được tội lỗi, mất tinh thần chiến đấu vùng mạnh, chạy vuột ra ngoài mưa. Chị Tư chỉ kịp la lên một tiếng “trời” rồi đứng chết điếng. Chị lỏng tay buông đòn gánh, ngó trân con chó, quên phứt soong chè nằm lỏng chỏng, nước chè còn loang chảy ngập ngừng.
         Bây giờ, ông khách mới mở miệng kêu chó. Mi-Nô liếm mình liếm mỏ, nhảy cỡn quanh chủ như khoe khoang công thắng trận.
         Mưa rơi trên lưng con Phèn từng giọt, từng giọt. Nó vẫn đứng yên nhìn vào Chị Tư như van lơn, như khẩn khoản. Cặp mắt nó phản chiếu ánh đèn sáng trong với tất cả thành tâm.
         Qua hành động đột biến, Chị Tư giờ mới bình tĩnh. Nồi chè mà chị bán cho người ta ăn đây là một hột cơm, một giọt máu của Chị, chồng chị, con chị. Nó là một tấm lá đỡ cơn gió thốc. Nó là một đoạn chỉ khiếu vá áo quần. Nó là hơi ấm, là nụ cười của buổi gia đình đoàn tựu.
         Chị Tư không nghe lòng khóc, nhưng nước mắt đã dọng tròng.
         Tan một “trận chiến”, anh hầu bàn sắp lại bàn ghế. Gia đình ông khách vuốt ve con chó. Vụng về để mất phần chè ngon mà còn phải đền chén, cô gái mắc cỡ, nổi cáu chửi Phèn luôn miệng. Cô còn “sụ” Mi-Nô:
         ― Mầy phải cắn chết con quỷ ấy cho tao.
         Mọi người ai lo việc ấy. Theo dõi cử chỉ Chị Tư lặng lẽ vét soong, rửa chén, lau chè trên gạch, có chăng là con Phèn còn đứng trong mưa.
         Anh Tư, dịp đưa khách đến tiệm, biết sơ nội vụ. Như nghèo bị bể nồi cơm, Anh Tư phừng phừng cơn giận. Anh nghiến răng, ngó ngay vào con chó:
         ― Mầy hại tao, tao giết mầy.
         Ngó quanh quất, Anh tìm được cây đòn gánh, giơ cao, định phang vào đầu con chó thì Chị Tư đã dịu dàng:
         ― Thôi mình.
         Anh Tư quay phắt nhìn vợ, mặt còn đầy sát khí. Chị Tư tiếp:
         ― Nó đói quá, đến tiệm kiếm đồ thừa rủi ro lại bị cắn nên mới làm đổ chè mình.
         Anh Tư hạ tức, hỏi xống:
         ― Con chó nào cắn nó?
         Chị Tư chỉ vào con Mi-Nô đang chồm hổm quanh chủ. Anh Tư chắc lưỡi thở dài:
         ― Con kia lớn quá, hèn chi…
         Anh bỏ đòn gánh xuống, nói xuôi:
         ― Thôi về mình… Con Phèn cũng gặp nạn xui xẻo như mình…
         ― Em cũng nghĩ vậy.
         Thế là trong mưa, có hai vợ chồng ý hiệp tâm đầu, quyết xây lại cái gì đã mất, lòng thanh thản khoan dung ngoại cảnh.
         Anh Chị đi rồi, còn Phèn thất thiểu bước chậm vào hẻm, nơi có bóng đen tràn ngập.
         Gió vẫn thở than. Trời ngập lệ buồn.


VII. 1957
LÊ VĂN


BÁCH KHOA |  SỐ 14

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 29/01/2018, 18:46:46
BÁCH KHOA |  SỐ 15  [15 tháng Tám  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: nước Anh |  1-8
Bách-Khoa |  Tình vợ chồng |  8
Phạm Ngọc Thảo |  Chiến tranh không mặt trận |  9-10
Vũ Ký |  Mộng và thực của khoa học |  11-17
Bách-Khoa |  Gương nhẫn nhục |  17
Nguyễn Hiến Lê |  Heinrich Schliemann, một người trong non 40 năm chỉ ước ao được Đào Đất |  18-23
Huỳnh Đức Quang |  Vấn đề hướng nghiệp |  24-28
Bách-Khoa |  Dùng người |  28
Nguyễn Quý Bảo |  Trở lại kế hoạch ngũ niên |  29-30
Nguyễn Đồng |  Héraclite “Tout s’écoule” |  31-34
Võ Phiến |  Mấy nhận xét về Câu thơ tám chữ |  35-37
Yã Hạc & Trinh Nguiên |  Một Đêm (truyện) |  38-46
Nguyễn Phúc |  Hai lần đi (truyện) |  47-58
Bách-Khoa |  Làm sao để được yêu mến, quí trọng? |  58
Quảng cáo |  59-68
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [XII] (truyện dài) \ Từ Vu |  69-74
Quảng cáo |  75-80


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204213929-741e9ff43c37a519581c33b44df95a62/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 29/01/2018, 19:08:48


Heinrich Schliemann, một người trong non 40 năm chỉ ước ao được Đào Đất

CON NGƯỜI đó thực kỳ dị: sinh trưởng ở Đức, định đi lính cho Hòa Lan, rồi nhập tịch Huê Kỳ, làm giàu ở Nga, học ở Pháp, nổi danh ở Hi Lạp, du lịch khắp phương Tây và phương Đông, có lần ghé thăm Sài Gòn, và thông trên một chục thứ tiếng, vừa Sinh ngữ, vừa Cổ ngữ, từ tiếng Anh, tiếng Pháp đến tiếng Hi Lạp, La Tinh, tiếng Ba Lan, Á Rập…
         Kỳ dị hơn nữa là ông nuôi một cái mộng từ hồi tám tuổi, rồi quyết chí làm giàu để có phương tiện thực hiện mộng đó, và khi đã thành tỷ phú, tuổi đã gần năm mươi, mà không chịu hưởng cảnh an nhàn, phú quý như người khác, ông đem tất cả sản nghiệp, sinh lực ra để làm một việc mà nhiều người cho là điên khùng, việc Đào Đất. Ông đào đất không phải là để tìm mỏ đồng, mỏ sắt, mà chỉ để tìm một cổ tích, tức di tích thành Troie, một thành ở bờ biển Tiểu Á.
         Rồi chẳng những ông tìm được di tích thành Troie mà còn tìm được nhiều dấu vết của một nền văn minh cổ, nền văn minh ở miền biển Egée:(1) do đó ông chép lại cho nhân loại được nhiều trang cổ sử và nổi danh là nhà khảo cổ bực nhất ở thế kỷ trước. Những tìm tòi của ông và những người nối gót ông đã giúp cho sử học có tính cách khách quan hơn, khoa học hơn. Về phương diện đó, công của ông với nhân loại không kém công của Fustel de Coulanges, vị sử gia Pháp đồng thời với ông, người đã đặt nền tảng cho khoa sử học hiện thời.
         Đời của ông chia ra làm hai thời kỳ rõ rệt:
         – Thời kỳ dự bị, tức tuổi thơ và những năm buôn bán (từ năm 1822 đến năm 1867).
         – Thời kỳ thực hành, tức thời ông đào được những cổ tích ở Ithaque, Troie, Mycènes và Tirynthe (từ năm 1868 đến năm ông mất: 1890).



         Đọc tiểu sử Heinrich Schliemann tôi thấy rằng: hoàn cảnh có ảnh hưởng lớn đến tâm hồn, hành vi con người, nhưng con người cũng phải có đủ khả năng để tiếp nhận hoàn cảnh, rồi sửa đổi, có khi tạo thêm những hoàn cảnh mới nữa thì mới làm được những việc lớn. Schliemann bẩm sinh đã có tánh yêu thích cái gì bí mật, kỳ dị, cổ kính; nhờ sinh ở một miền nhiều cổ tích, lại nhờ được thân phụ và một người bạn gái khuyến khích, lòng yêu thích đó phát triển mạnh mẽ thành một lòng ham mê nồng nhiệt, nhưng muốn thỏa mãn lòng ham mê đó, cần có hai phương tiện học rộng và có nhiều tiền, nên ông tạo ra những phương tiện nầy bằng cách vừa kinh doanh, vừa tự học. Vậy ông vừa được nhờ hoàn cảnh, vừa gây thêm hoàn cảnh.
         Ông sanh ngày mùng 6 tháng giêng năm 1822 tại Neuboukov, một tỉnh nhỏ ở Đức. Thân phụ ông là Ernst Schliemann, một Mục sư Tin Lành. Năm sau, thân phụ ông đổi qua làm Mục sư ở làng Ankershagen và ông ở đây luôn tám năm với gia đình.
         Làng Ankershagen có rất nhiều cổ tích trong một không khí bí mật, rùng rợn. Người ta đồn ngay trong vườn nhà thờ, hồn của vị Mục sư trước thường hiện lên; và gần đó, trên một cái đầm nhỏ, cứ nửa đêm là hồn một thiếu nữ ôm bình bạc thấp thoáng sau rặng cây. Từ hồi nhỏ ông thường tò mò đi coi một con gò; tương truyền có chôn một đứa nhỏ trong một cái nôi bằng vàng, và một cái tháp tròn mà theo dân làng, thì bên cạnh cũng chôn cất nhiều bảo vật. Cổ tích kích thích óc tưởng tượng của ông nhất là một lâu đài từ thời Trung cổ, tường dày non hai thước, ở trong có những lối đi bí mật và dưới chân có một đường hầm dài có lẽ đến tám cây số. Tương truyền hồi xưa một tên tướng cướp tàn bạo ở trong lâu đài đó, có lần y liệng một người chăn bò vào vạc dầu, sau y bị tấn công, thua, chôn giấu hết của cải rồi tự tử. Dân làng lại còn nói thỉnh thoảng đào được những quan tài rất dày từ thời La Mã. Nghe những chuyện đó, ông tuy còn nhỏ mà đã có ý muốn sau nầy đào những di tích đó lên để xem.
         Thân phụ ông không phải là nhà khảo cổ, nhưng thích cổ sử và thường kể cho ông nghe những truyện Hi Lạp, La Mã. Nhưng trận Troie(2) làm ông say mê và ngay từ hồi tám tuổi, ông đã tin chắc rằng thành Troie vẫn còn di tích, đào lên sẽ thấy, chứ không thể bị tàn phá đến nỗi mất tiêu đi được. Và ông nhất định một ngày kia sẽ trở lại thành Troie để đào kiếm những di tích đó.
         Gặp bạn nào, ông cũng nhắc về thành Troie và những di tích trong làng ông. Ông hăng hái quá, bị chúng chế nhạo. Chỉ có hai em gái, Louise và Minna Meincke, con một chủ điền ở làng bên cạnh là tin ông, bênh vực ông. Nhất là cô em, Minna, cùng tuổi với ông, rất chăm chú nghe ông và cũng tin chắc như ông rằng thành Troie có thực.
         Hai người thường gặp gỡ nhau trong các cuộc hội họp, trong các giờ học khiêu vũ, thường dắt nhau đi coi những cổ tích trong miền, thường ngắm những cánh cò trắng mà mơ mộng tới những xứ xa xăm, bí mật, và cùng hứa với nhau, sau nầy sẽ cưới nhau rồi thực hiện cái mộng tìm di tích thành Troie. Lúc đó họ mới tám tuổi đầu, và non nửa thế kỷ sau, Schliemann mới thực hiện được cái mộng chung hồi niên thiếu ấy, mà lại thực hiện một mình, không được Minna giúp sức!
         Là vì hai người mới thân với nhau, đã phải xa nhau rồi. Nguyên do tại cảnh nhà Schliemann suy sút. Ông chưa đầy chín tuổi thì thân mẫu ông qua đời, để lại bảy người con. Rồi một việc khác xảy ra, làm cho ai nấy đều xa lánh gia đình ông. Song thân của Minna không cho hai người gặp nhau nữa. Ông đau khổ vô cùng. Trong cuốn Tự truyện ông viết: “Ngày nào cũng vậy, tôi ngồi một mình hàng giờ, mặt ướt đẫm nước mắt mà đau xót nhớ lại những giờ sung sướng tôi đã được ở bên cạnh nàng”. Thân phụ ông thấy vậy, cho ông qua học ở một làng khác, nơi một người anh ruột làm mục sư. Ông học hai năm, rất tấn tới về tiếng La Tinh, nhưng cảnh nhà túng bấn, ông phải xin đổi qua học nghề, và năm 1836, mới mười bốn tuổi, ông thôi học, ra làm một chân sai vặt trong tiệm tạp hóa ở Mecklembourg-Strelitz.
         Vài ngày trước khi ông xa nhà để lại nơi đó mưu sinh, tình cờ gặp ông Minna trong nhà một người quen. Sau năm năm cách biệt, hai người nhìn nhau khóc, rồi ôm nhau mà nghẹn ngào không nên tiếng. Song thân của nàng bước tới, hai người lại phải rời nhau. Nhưng từ đó, Schliemann tin chắc rằng dù mình bơ vơ ở nơi xa lạ, thì lúc nào người bạn gái cũng nghĩ tới mình; niềm tin đó làm lòng ông ấm lại, và ông thấy có một nghị lực phi thường, quyết thắng mọi trở ngại, thành công cho kỳ được, để khỏi phụ lòng người yêu. Ông chỉ thầm vái trời cho mình sớm có một địa vị để kịp thời cưới nàng.
         Ông phải làm công năm năm rưỡi trong tiệm tạp hóa đó, làm mọi việc lặt vặt như đong rượu, cân cá, đếm khoai, quét nhà, làm như mọi, từ năm giờ sáng tới mười một giờ khuya, nhưng ông không lấy làm cực khổ, chỉ buồn một nỗi muốn học thêm mà không có thì giờ. Một đêm ông được nghe người thợ xay bột ngâm thơ của Homère, thi hào bất hủ của cổ Hi Lạp. Ông không hiểu một tiếng Hi Lạp mà những vần du dương đó cũng làm ông cảm động vô cùng. Rồi nghĩ đến thân phận mình, ông tủi hổ, khóc: làm tên sai vặt trong cửa tiệm tạp hóa đó thì đến bao giờ mới học được tiếng Hi Lạp, mới có phương tiện để tìm cố tích ở Troie!
         Ít lâu sau, vì khiêng một cái thùng nặng quá, ông khạc ra máu, phải xin thôi việc, rồi xin làm thủy thủ tập sự trong một chiếc tàu nhỏ đi Nam Mỹ.
         Tàu mới rời bến được vài ngày thì chìm trong một cơn bão, ông được người ta vớt lên. Người ta muốn đưa ông về xứ sở, ông quyết liệt từ chối vì ở xứ sở ông không thấy có tương lai gì hết – mà đòi qua Hòa Lan để xin vô quân đội Hòa Lan.
         Nhưng tới Hòa Lan, ông được viên công sứ Đức giúp đỡ, tìm cho một chân chạy giấy trong một hãng buôn. Công việc đó nhẹ nhàng, ông được rảnh rang, quyết học thêm ngoại ngữ.
         Nghị lực của ông đã đáng phục mà phương pháp học sinh ngữ của ông mới mẻ. Ông nhịn ăn, nhịn mặc, sống khổ sở trong một căn gác xép sát mái nhà, mùa đông thì lạnh như cắt mà mùa hè thì nóng như thiêu, ráng để dư được nửa số lương để có tiền học. Ông cắm cổ học tiếng Anh. Ông đã chép cách ông học trong đoạn dưới:
          “…Tôi tự đặt ra một phương pháp là đọc thật nhiều, đọc lớn tiếng mà không dịch; mỗi ngày học một bài, học xong thì viết về những đầu đề liên quan tới đời sống hàng ngày, nhờ một giáo sư sửa những bài viết đó rồi về nhà đọc thuộc lòng. Ký tính của tôi kém vì đã lâu không có dịp luyện nó, như cả trong giờ làm việc, có phút nào rảnh là tôi học. Muốn tập được giọng nói của người Anh, mỗi chủ nhật tôi lại một nhà thờ Anh, nghe hai lần giảng đạo, vừa nghe vừa nhẩm mỗi tiếng của Mục sư. Đi làm công việc cho hãng, dù là trời mưa, tôi cũng đem theo sách để học; đứng nối đuôi ở sở Bưu Điện, tôi cũng cầm một cuốn sách để đọc. Nhờ vậy ký tính của tôi lần lần mạnh lên, và chỉ cần chăm chú đọc ba lần một chương dài hai chục trang tiếng Anh, là tôi đủ nhớ để trả bài cho các thầy học của tôi rồi. Theo cách đó, tôi học thuộc cuốn The Vicar of Wakefield và cuốn Ivanhoe. Làm việc quá như vậy, tôi mắc bệnh khó ngủ, và trong những lúc trằn trọc, tôi nhẩm lại những trang đã đọc ban tối. Tôi thấy công việc nhẩm lại bài ban đêm đó rất có ích, vì ban đêm ta dễ nhớ hơn và dễ tập trung tư tưởng hơn; tôi nhiệt liệt khuyên độc giả dùng cách đó. Nhờ vậy mà trong sáu tháng tôi đã thông tiếng Anh”.
         Trong sáu tháng sau, ông học tiếng Pháp, bằng cách học thuộc lòng Les Aventures de TélémaquePaul et Virginie… Rồi ông học qua tiếng Hòa Lan, tiếng Y Pha Nho, tiếng Ý, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Nga, cứ sáu tháng là nói được, viết được thông thạo một thứ tiếng. Muốn mau nói được, ông học lớn tiếng làm cho những người mướn chung một nhà với ông phải khó chịu, phàn nàn với chủ nhà, và hai lần ông phải đổi chỗ ở. Có lần ông mướn một người Do Thái không biết một tiếng Nga nào cứ tối lại nhà ông nghe ông kể truyện Télémaque bằng tiếng Nga trong hai giờ.
         Nhờ ông biết tiếng Nga mà năm 1846, một hãng nọ nhờ ông làm đại lý ở Saint-Pétersbourg. Ngay từ tháng đầu ông đã thành công. Lúc nầy tự xét mình đã có một tương lai khả quan rồi, xứng đáng làm chồng người yêu của ông rồi, ông bèn cậy người hỏi nàng Minna cho ông.
         Đau đớn thay! Người ta trả lời rằng nàng mới xuất giá mấy tuần trước. Hồi về già, nhớ lại chuyện đó, ông còn than thở:
          “…Tôi thất vọng quá, không còn làm được việc gì nữa rồi hóa đau. Tôi nhớ lại tuổi thơ của chúng tôi, những mộng mà chúng tôi đã ấp ủ, những dự định lớn lao mà chúng tôi tính chung sức nhau thực hành. Bây giờ đây sắp tới lúc có thể thực hành được thì lại vắng nàng, một mình, tôi làm sao nổi?… Tôi đã chiến đấu mười sáu năm để mong cưới nàng được thì trời già độc địa lại trao nàng cho một người khác!
         Mười sáu năm trời! Dài hơn thời gian Kim Trọng đeo đẳng Thúy Kiều. Trong mấy năm sau, ông đau khổ, sức làm việc kém đi, nhưng nhờ nghị lực và thời gian vết thương lần lần lành lại. Tuy nhiên ông vẫn chưa chịu lập gia đình và ngoài bốn mươi tuổi ông mới cưới một người Hi Lạp cũng ham mê tìm tòi những cổ tích như ông.
         Từ năm 1847, công việc làm ăn của ông mỗi ngày một phát đạt. Ông vẫn làm đại lý cho hãng cũ, lại mở thêm một hãng mới chuyên buôn chàm.
         Năm 1849, ông qua Californie (Mỹ) thăm một người anh mà từ lâu ông không được tin tức. Tới nơi mới hay anh ông đã mất. Ông đương ở Californie thì ngày mồng 4 tháng 7 năm 1850, xứ đó thành một tiểu bang của Huê Kỳ, và hết thảy người ở trong xứ đều phải vào quốc tịch Huê Kỳ.
         Sau đó, ông trở về Nga, khuếch trương việc bán chàm ở Moscou và Saint-Péterbourg. Mặc dầu bận việc, ông cũng ráng học thêm hai sinh ngữ nữa: tiếng Thụy Điển và tiếng Ba Lan.
         Năm 1854, một việc may làm ông thành đại phú. Hồi đó chiến tranh Crimée giữa Nga và Thổ đương phát. Tàu bè ngoại quốc không thể vào hải cảng Nga được. Những thùng chàm của ông mua ở Amsterdam phải gởi tới Memel ở Đức rồi do đường bộ mà vô Nga. Ngày 3 tháng 10, ông tới Konigsberg, thấy trên một cổng ô của thành khắc hai câu nầy: Mặt của thần tài thay đổi như Mặt trăng: Nó tăng rồi giảm, luôn biến chuyển.
         Không hiểu làm sao, lần đó, đọc câu ấy, ông có cảm tưởng ông sắp bị một tai nạn. Khi gần tới Memel, nơi ông đã gởi hàng tới, ông hay tin rằng, sau một hỏa hoạn dữ dội, thành phố Memel đã ra tro, và trên một khu mênh mông chỉ còn trơ những bức tường cháy đen và những ống khói. Tới nơi, ông chạy đi kiếm người đại lý của ông, người nầy chỉ đám tro tàn, bảo: “Đó ở dưới đó”. Ông điếng người đi. Thế là hàng triệu bạc kiếm được trong tám năm rưỡi đã tiêu tan hết. Nhưng ông không thất vọng, quyết chí gây lại sự nghiệp. Tối hôm đó, ông sắp đi Saint-Péterbourg thì có người cho ông hay rằng hàng hóa của ông còn nguyên vẹn, vì khi tàu tới, kho của hãng đã chật, người ta phải chất tạm hàng của ông ở một nơi khác, mà nơi nầy không bị cháy. Người đại lý của ông không hay điều đó, tưởng hàng của ông cũng chất trong kho và đã cháy cùng với kho.
         Ông mừng quá, tưởng mình ở trong một giấc mơ. Nhờ hàng khan, ông bán được hời giá, rồi buôn thêm ít mặt hàng khác nữa và chỉ trong một năm, tài sản ông tăng gấp đôi.
         Độc giả chắc còn nhớ, từ hồi nhỏ, ông đã muốn học tiếng Hi Lạp. Trong thời mới buôn bán, ông không dám học nó, sợ mê nó mà bỏ bê công việc làm ăn, mà không làm ăn thì không có tiền để sau nầy tìm di tích thành Troie được. Đầu năm 1856, Ông không thể nén lòng ham học đó nữa, mướn hai giáo sư để dạy ông. Ông vẫn theo phương pháp cũ, học sáu tháng thông tiếng Hi Lạp, rồi học ba tháng tiếng cổ Hi Lạp. Trong hai năm sau, ông chuyên đọc văn chương cổ Hi Lạp, như hai tác phẩm IliadeOdyssée. Ông không phí công học văn phạm, mà chỉ học thuộc lòng những đoạn hay, học tới khi thấm nhuần văn phạm mà không ngờ.
         Năm 1858, ông học lại tiếng La Tinh mà ông đã bỏ dở từ hai mươi lăm năm trước.
         Lúc đó tiền của đã sẵn, lại thông được hai cổ ngữ – tức Hi Lạp và La Tinh – đủ để khảo cổ, ông muốn bỏ luôn nghề buôn. Ông đi du lịch khắp nơi: Thụy Điển, Đan Mạch, Đức, Ý, Ai Cập và Syrie, ông có cơ hội học thêm tiếng Á Rập. Rồi ông trở về Hi Lạp, thăm thành Athènes, định lại Ithaque(3) tìm cổ tích thì có một việc kiện cáo bắt ông phải về Saint-Pétersbourg. Vụ kiện kéo dài tới bốn năm, ông phải luôn luôn có mặt ở Saint-Pétersbourg, đành lại phải tiếp tục buôn bán cho qua ngày. Không ngờ “Con trăng” của ông vẫn chưa tới độ khuyết, công việc kinh doanh “miễn cưỡng” đó phát đạt lạ lùng. Lúc đó gặp hồi nội chiến ở Huê Kỳ, giá bông vải vọt lên vì bông vải ở Nam Huê Kỳ không xuất cảng được, ông được hưởng những số lời vĩ đại, cả chục triệu Đức kim.
         Cuối năm 1863 ông mới bỏ hẳn nghề buôn mà làm theo sở thích của ông là đi tìm di tích thành Troie. Trong cuốn Tự truyện nhan đề là Đời Tôi, ông viết:
          “Tôi trọng tiền thật, nhưng chỉ trọng nó vì nó là một phương tiện giúp tôi đạt được mục đính lớn lao mà tôi đã tự vạch ra cho tôi… Tháng chạp năm 1863, khi tôi đã thắng kiện, và được hoàn đủ số tiền người ta giật của tôi, tôi bắt đầu giải nghệ”.
         Nhưng trước khi thực hành mộng lớn trong đời ông, ông muốn du lịch nhiều nơi nữa. Ông lại Tunis, thăm cảnh hoang tàn ở Carthage, rồi qua Ấn Độ, leo Hi Mã Lạp Sơn, ghé Singapour, Java, Sài Gòn, từ Sài Gòn thẳng lên Trung Hoa, coi những thắng cảnh ở Hồng Kông, Hàng Châu, Bắc Kinh, tới chân dãy Vạn Lý trường thành. Sau ông qua Nhật, rồi qua Mỹ, thăm thác Niagara. Trong thời gian đó ông viết cuốn Trung Hoa và Nhật Bản. Mùa xuân năm 1866, ông sang Ba Lê và ở đó học hai năm về khoa khảo cổ.
         Thời kỳ dự bị trong đời ông tới đây chấm dứt. Năm đó ông đã 46 tuổi, mà mộng khảo cổ của ông từ hồi ông tám tuổi, bây giờ mới bắt đầu thực hành. Tính ra ông đã dự bị trong ba mươi tám năm.
         Ông đã gặp nhiều vận may, nhưng ta phải nhận chính ông đã tự giúp ông rồi Trời mới giúp ông: Ông đã hăng hái học sinh ngữ và nhờ biết nhiều sinh ngữ ông mới thành một thương gia quốc tế mà mau làm giàu. Và trong đời đã có mấy người đeo đuổi một mục đích trong ba mươi tám năm như vậy, đã chuẩn bị kỹ càng như vậy: Để dành tiền, học tiếng cổ Hi Lạp, tiếng La Tinh, rồi 44 tuổi, còn học hai năm về khảo cổ nữa!


NGUYỄN HIẾN LÊ

_________________________________________________
(1) Biển nhỏ ở phía đông Hi Lạp.
(2) Thành Troie bị Hi Lạp tấn công trong mười năm, sau thất thủ. Những trang sử đó được chép trong tập thơ Iliade của Homère.
(3) Một đảo ở phía tây Hi Lạp. Theo truyền thuyết, Ulysse làm vua tại đó trước khi đi tấn công thành Troie.


BÁCH KHOA |  SỐ 15

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 29/01/2018, 22:08:20


Héraclite
“Tout s’écoule”

Đăng bài học thuyết Héraclite, chúng tôi không có ý
tán thành mọi quan điểm của nhà hiền triết cổ Hy Lạp.
Chúng tôi chỉ muốn trình bày một cách khách quan học thuyết
của ông cốt để học giả làm quen với một học thuyết đã
ảnh hưởng không ít tới Biện chứng pháp duy tâm của Hégel
và Biện chứng pháp duy vật của Marx-Engels.
L. T. S.

QUA NHIỀU thế kỷ, xứ Hy Lạp chỉ có những thi gia. Từ thế kỷ X đến VI trước Thiên Chúa kỷ nguyên đã xuất hiện rất nhiều lề lối thi ca: thể anh hùng ca (Hòere: l’Iliade và l’Odysée), thể giáo khoa thi (Hésiode: les Travaux et les Jours), thể thi ca hòa theo thiên cầm, thể bi ca, thể trường đoản cách…
         Tản văn xuất hiện trễ hơn vận văn, bắt đầu từ cuối thế kỷ VI trước Thiên Chúa nhờ những sử gia, diễn giả… cùng những triết gia xứ Ionie, trong đó có nhà hiền triết Héraclite.



         Sinh quán HéracliteEphèse, nơi có rất nhiều di tích cổ thời, với một kỳ quan là đền thờ bà Diane. Đó là một đô thành cổ của tiểu quốc Ionie ở phía tây đất Tiểu Á Tế Á, trên bờ biển Egée, giữa hai vịnh Smyrme và Mendelia. Người Ionie rất thông minh và đã chiếm một địa vị vô cùng rực rỡ trong nền văn minh Hy Lạp xưa.
         Đời sống Héraclite, ngày nay không được rõ, chỉ biết ông sinh vào khoảng năm 576 và mất năm 480 trước Thiên Chúa. Theo Diogène Laerce (thế kỷ III sau Thiên Chúa) ông chết vì bịnh thủy thủng. Điều này không chắc chắn lắm, vì nhà viết sử đất Laerte (Cilicie) chỉ sưu tập tài liệu mà không phán đoán.
         Théophraste (thế kỷ IV sau Thiên Chúa) trong quyển Les Caractères chép rằng Héraclite là một người có linh cảm, tánh thích cô lập và hay suy nghĩ lo lắng. Nhận xét này ta có thể cho là đúng được khi căn cứ vào một ít tản văn còn sót lại của ông. Ông lại là người giàu lòng tự tín. Ông cho rằng phần đông con người chưa ai thấu hiểu chơn lý vô cùng, không có trí thức đứng đắn. Cả đến những bậc văn hào thông thái danh tiếng trước hay đồng thời với ông cũng không được ông tán thành. Homère tác giả những anh hùng ca, Hésiode mà thi phẩm đượm chất tôn giáo và luân lý giáo khoa, Pythagore nhà triết học kiêm toán học, Xénophane triết gia sáng lập trường Elée tác giả Les Natures des choses đều bị ông chỉ trích chê bai.
         Tương truyền ông có viết một quyển luận thuyết về thiên nhiên (De la Nature). Viết xong ông đem quyển sách viết bằng vỏ chỉ thảo dâng cho tên Artémis. Rồi ông rời bỏ thành thị, vào ẩn dật trong vùng rừng núi.
         Tuy hiện giờ, ta không thể biết đích xác về tác phẩm của ông, nhưng ta có thể hiểu được rằng lời văn trong sách rất là khúc mắc, bí hiểm. Chẳng thế mà đời sau đã đặt ông cái biệt danh là tối tăm (obscur). Sự thực, chính ông đã cố tình làm cho khó hiểu. Ông không viết rõ hết tư tưởng, mà lại nửa úp nửa mở như những lời sấm. Không nói hết ý nghĩa, ông chỉ gợi ý ra mà thôi. Ông muốn được như những Nữ thần tiên tri (Sibylle) không cần minh bạch mà cũng được lưu danh hậu thế. Và được lưu danh hậu thế theo ông, đã là vĩ nhân rồi.
         Sách của Héraclite thất lạc nhiều. Hiện chỉ còn một ít tản văn.

Học thuyết Héraclite
         Tư tưởng Héraclite lấy sự đổi dời của vũ trụ cùng tính vô thường của sự vật làm gốc.
         Tất cả đều phải tuân luật biến thiên. Không một vật nào có thể giữ được y nguyên trạng thái cũ. Giây phút trôi qua, và sự vật đi theo thời khắc. Sự vật đi qua, biến đổi, chết. Sự vật quá khứ chết mất đi để chừa chỗ cho sự vật hiện tại, và cái hiện tại ấy cũng mất liền khi ấy để thành ra quá khứ. Vì luật biến đổi, vạn vật luôn luôn thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái trái nghịch hẳn. Trong sự quay cuồng vô tận, còn gì phân biệt giữa ngày và đêm, nhỏ và lớn, vô hình với hữu hình. Cõi không vẫn trở nên sẵn sàng biến vào cõi không.
         Biện chứng cho lẽ chuyển biến. Héraclite nói: “Chúng ta vừa xuống vừa không xuống trong cùng một giòng sông; chúng ta vừa tồn tại vừa không tồn tại” (Nous descendons et ne descendons pas dans le même fleuve; nous sommes et ne sommes pas). Hay đôi khi diễn dịch dưới một hình thức khác: “Ta không thể nào tắm được hai lần trong cùng một giòng sông”. Thoạt nghe ta tưởng chừng vô lý, nhưng sự thực, chính vì lẽ biến thiên vậy. Nói chi người chỉ là một sinh vật bé nhỏ, đến non cao bể thẳm cũng phải mòn cạn. Dĩ nhiên sự biến đổi ấy trải qua muôn triệu năm, qua những thời gian dài dằng dặc.
         Vậy, sự vật yên tịnh trước mắt ta chỉ là một ảo ảnh. Nó luôn luôn bị luật phá hoại và luật sanh thành chi phối. Có rồi không, không rồi có, hiệp rồi tan, tan rồi hiệp, đó là luật chung của muôn loài.
         Héraclite nhận thấy một sự mâu thuẫn rất lớn chung quanh mình. Phải có cái không có, thì mới có được cái và không có cái không, thì cái khó mà có được. Vậy thì trong cái đã hàm nghĩa chữ không, và trong cái không cũng chứa phần vậy. Trong sự vật bao giờ cũng bao hàm cả hai động lực mâu thuẫn hẳn với nhau. Sự mâu thuẫn hay sự tương phản giữa hai động lực là nguyên nhân những biến chuyển vậy.
         Sự biến thiên trong trời đất không phải là một hiện tượng hay một quá trình dễ dàng, không có sự ngăn trở như nước chảy đá mòn, mà là một tương tranh giữa các động lực mâu thuẫn. Như khi ta bắn cung, động lực của cần cung và của sức tay ta găng nhau: vì thế mà mũi tên bay.
         Héraclite nói: xung đột là chúa tể của mọi sự vật, nên có chiến tranh xảy ra là lẽ tự nhiên. Thế gian là một thứ rượu cần xao động luôn mới khỏi hư. Homère ước mong sự bất hòa trong thế gian và trên trời không còn nữa, đó là một điều sai lầm, vì sự vật và vũ trụ chỉ hết xung đột khi mà nó tiêu diệt. Nên những kẻ chết ở chiến trường sẽ được thần thánh cùng nhơn loại tôn trọng.
         Có điều, sự xung đột đó không hỗn loạn, mà gây nên sự điều hòa. Hai cái tương phản hạn chế cho nhau, đấp đổi lấy nhau như tánh dẻo của cần cung hạn định sức tay người kéo dây cung. Sự gặp nhau của hai cái mâu thuẫn là nguyên nhân của mọi sinh vật. Cuộc biến thiên vô cùng vô tận là đặc tính của sự vật; nó mau hay chậm theo một thứ tự thiêng liêng biểu lộ sự hòa hợp tạm thời của hai động lực trong vũ trụ.
         Trong vũ trụ đã không có gì đồng nhất, vậy thì không thể có cái tuyệt đối được. Héraclite chú ý đến lẽ tương đối, và nhận thấy không có sự vật nào là có giá trị bền chắc. Nước biến đổi, với cá là trong sạch, uống được và hữu ích; với người, nó không tinh khiết, không uống được, mà đôi khi lại nguy hiểm nữa. Những ý kiến, luật lệ xã hội, phong tục hay chế độ có thể giúp nhân loại trong một thời nào đó, mà, theo đà tiến hóa của nhân loại, nó có thể khuyết điểm vô ích trong một thời khác.



         Học thuyết Héraclite được coi như là nguồn gốc của biện chứng pháp. Ông nhận thấy rằng chỉ có sự đang thành, sự chuyển biến là lịch trình chân thật. Sự trải qua từ hữu hạn đến vô hạn hay ngược lại, từ vô hạn đến hữu hạn, sự ly hợp của những động lực tương đối, giữa thực tại với hư không là những định luật khái quát nhất về tình trạng bất định, tính chất vô thường của vật giới. Héraclite suy ra nguyên tắc mâu thuẫn bao trùm cả vũ trụ, mà vật chất tồn tại được là nhờ ở sự hợp nhất giữa các thể trạng trái nghịch nhau.(1)
         Nhưng vì đâu mà có vật chất trong vũ trụ? Héraclite cho rằng đó là biến hình của một nguyên tố rất linh diệu: lửa hay là hơi nóng. Thực thể ấy có khắp nơi, là nguồn gốc của tất cả sinh vật mà sinh vật cũng có thể biến thành lửa. Lửa nguội thành hơi, và khi tắt hẳn thì thành chất rắn.
         Như vậy, vũ trụ là một khối lửa đang biến thiên, cháy rồi tắt, tắt rồi cháy, theo nhịp nhất định. Nó không phải thần thánh sáng tạo, mà sức người cũng không làm ra nó được. Nó không thể tồn tại vĩnh viễn được. Nó phải theo luật biến đổi, nhưng nó không hề tiêu diệt. Vì dù rằng vũ trụ có trở nghịch lại thành bể lửa, thì lửa lại biến ra vũ trụ: bao giờ cũng có sự đang thành.
         Chúng ta luôn luôn bất lực trước những biến đổi, không vượt luật biến thiên được. Héraclite khuyên ta nên thuận biến theo trời đất. Ta còn được một điểm rất quí là tư tưởng, nhờ đó ta biết được chân lý mà hành động theo, thế là đã đạt được đạo thánh hiền rồi vậy.



         Những tư tưởng của Héraclite có ảnh hưởng rất lớn, cả đến những người phản đối ông. Socrate cũng công nhận rằng học thuyết Héraclite có nhiều điểm hay, dầu có nhiều chỗ khó hiểu. Nhưng bắt đầu từ đời Aristote trở đi, tư tưởng ông càng ngày càng phai mờ.
         Mãi đến cuối thế kỷ XVIII, mới có người nối chí. Biện chứng pháp duy tâm của Hégel hay duy vật của Marx-Engels đều lấy căn bản ở luật mâu thuẫn và cùng xây dựng trên một vũ trụ quan động.


NGUYỄN ĐỒNG

______________________________________________
(1) Hai thể trái nghịch nhau ấy giống như hai cái tương đối là âmdương trong Kinh Dịch. Dịch là biến đổi, đức Khổng Tử cũng nhìn nhận có sự biến đổi luôn luôn trong Trời Đất: Thệ giả như tư phù. Bất xả trú dạ.


BÁCH KHOA |  SỐ 15

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 06/02/2018, 21:42:57
BÁCH KHOA |  SỐ 16  [1 tháng Chín  1957 |  84 trang]

MỤC LỤC
Thanh Bình |  Xác định nguyên nhân cuộc khủng hoảng |  1-4
Bách-Khoa |   Cái “chí” của nhà tu hành |  4
Vũ Tam Tư |  Một vài nhận xét về số lượng hàng nhập cảng và xuất cảng ở Việt Nam tự do từ 1934 đến 1954 |  5-9
Bách-Khoa |  Tình mẫu tử của Bà mẹ Vương Lăng |  9
Phạm Ngọc Thảo |  Quân đội đi bình định đem lại bình an hay oán hận |  10-14
Vũ Thừa Chi |  Vết nứt rạn đầu tiên của Cộng sản quốc tế: Vụ Ti-Tô |  15-25
Trần Văn Khê |  Nhạc phương Đông, nhạc phương Tây |  26-30
Nguyễn Hiến Lê |  Heinrich Schliemann, một người trong non 40 năm chỉ ước ao được Đào Đất [II] |  31-36
Vũ Ký |  Mộng và thực của khoa học [II] |  37-41
Bách-Khoa |  Nhẫn nhục ít có |  41
Đỗ Trọng Chu |  Sơ lược thành tích hai năm hoạt động của Ban Tiểu học Bình dân Hội Văn hóa Bình dân |   42-44
Quảng cáo |  45-48
Nguyễn Phúc |  Hai lần đi [II] (truyện) |  49-63
Bách-Khoa |  Đính chánh Bách-Khoa số 14 |  63
Quảng cáo |  52, 54, 56, 58, 60, 62, 64
Lê Văn |  Nàng Út (hồi ký) |  65-72
Bách-Khoa |  Bệnh “yên trí” |  72
Quảng cáo |  73-74
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [XIII] (truyện dài) \ Từ Vu |  75-80
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 14 |  79
Bách-Khoa |  Đính chính Mấy lời giới thiệu trong bài thơ “Chút lòng” trong Bách-Khoa số 7 |  80
Quảng cáo |  81-84


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204214009-e91bd2e1cf0e1d0d6d1e1ae524051dbf/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 06/02/2018, 22:09:02


Nhạc phương Đông, nhạc phương Tây
ooo
“Đông là Đông, Tây là Tây,
Đông Tây không bao giờ gặp nhau.”
                              ―  R. Kipling

Đàn Bá-Nha còn đợi khách tri âm
ĐÔNG VÀ TÂY không bao giờ gặp nhau ư? Thời ông R. Kipling còn sanh tiền, câu ấy đã chẳng đúng lựa là ngày nay. Ngày nay phi cơ nối liền châu nầy với châu nọ. Hôm nay mình ở Ba-Lê rét như cắt, mà hôm sau mình đã đến Ấn Độ nóng như thiêu. Mỗi giờ, mỗi phút, những làn sóng điện phát thanh từ trời Âu, chui vào máy thâu thanh ở trời Á, người hát tại Luân Đôn được người ở Hương Cảng lắng tai nghe. Ngày nay, không nước nào còn giữ chánh sách bế môn tỏa cảng. Ngày nay, Đông và Tây đã gặp nhau trên sâu khấu chính trị trên thị trường kinh tế, trên lĩnh vực văn nghệ. Từ buổi gặp gỡ ban đầu trên bãi chiến trường của những trận giặc thuộc địa, đến nay đã hơn một thế kỷ rồi, Đông và Tây có tìm hiểu nhau chưa? Phương Tây đã đem đến phương Đông những tư tưởng cách mạng, một nền văn minh máy móc, kỹ thuật, khoa học. Song những nhà khảo cứu phương Tây cũng có dịp lật những trang sách của phương Đông, ghi lại những tư tưởng, phong tục, truyền thống văn nghệ của người phương Đông từ mấy ngàn năm. Các học giả phương Tây phiên dịch những sách về Nho giáo, Lão giáo, Phật giáo. Nghệ sĩ phương Tây xuýt xoa trước những bức họa, hay những món đồ kiểu, đồ sành từ đời Đường, đời Tống, đời Minh.
         Người trí thức phương Đông có dịp biết qua tư tưởng của J. J. Rousseau, Montesquieu, Karl Marx. Nghệ sĩ phương Đông đã ngạc nhiên vì màu sắc quá rực rỡ, âm thanh quá bổng trầm của họa, nhạc phương Tây.
         Trên các địa hạt chính trị, kinh tế, triết lý, văn chương hay nghệ thuật (trừ âm nhạc ra), càng ngày phương Đông và phương Tây càng hiểu nhau. Nhưng trên địa hạt âm nhạc. Nàng Nhạc như còn e dè, chưa khứng bày tỏ nỗi lòng với người mà Nàng chưa liệt vào hạng tri âm.
         Cũng có ít người phương Tây khảo cứu nhạc phương Đông một cách tường tận, như Cha Amiot, các ông Louis Laloy, Maurice Courant, Curt Sachs, Georges Soulié de Morant, John Levis, Van Aalst đã viết sách rất công phu về nhạc Trung Hoa; các ông Herbert Popley, Capt. C. R. Day, Lady Wilson đã khảo cứu nhạc Ấn Độ; các ông F. T. Piggott và Serge Moreux khảo cứu nhạc Nhật Bản; các ông G. Dumoutier, Gaston Knosp, E. Le Bris khảo về nhạc Việt Nam.
         Một số người phương Đông học nhạc phương Tây, có cấp bằng hay phần thưởng ở các âm nhạc viện Âu Mỹ.
         Nhưng đó là số ít.
         Đa số người phương Tây không hiểu nhạc phương Đông.
         Đa số người phương Đông không hiểu nhạc phương Tây.
         Không hiểu không phải vì chẳng ở trong nghề. Những người sành nhạc, những nhạc sĩ có tên tuổi như H. Berlioz chẳng hạn, cũng không tìm hiểu nổi những lối nhạc khác hơn lối nhạc của các ông đã học; và khi phê bình nhạc nước khác thì các ông quá chủ quan.
         Ông H. Berlioz đã chê nhạc Trung Hoa thậm tệ.(1) Ông đã viết: “Về sự hòa hợp tiếng đàn với tiếng hát, thì nó tệ đến đỗi người nghe phải kết luận rằng người Trung Hoa ấy không biết một mảy may gì về luật hòa âm cả. Điệu hát kỳ dị và khả ố đủ mọi phương diện chấm dứt bằng một chủ âm (tonique) như những điệu hát tầm thường của chúng ta (của Pháp). Từ đầu đến cuối, không thấy đổi giọng hay đổi điệu một lần. Cây đàn nguyệt có nhiều nét về tiết tấu (dessin rythmique) rất nhanh chóng trong khi phụ họa, nhưng rồi vẫn như thế mãi. Dây đàn không cùng giọng với tiếng ca. Độc hại nhất là người thiếu phụ như muốn thêm duyên cho giọng hát kỳ quái của bà, mà chẳng đếm xỉa gì đến tiếng đàn của ông thầy thông thái của bà, cứ một mực lấy móng tay khảy (gảy) mấy sợi dây của một cây đàn khác.(2) Bà ấy chẳng khác gì một đứa trẻ ngồi trong phòng nghe người ta hòa nhạc, không biết đàn, mà vẫn vui tay đập bậy trên những phiếm ngà của cây đàn piano. Tóm lại, đó chỉ là một bài hát do một đám nhạc khí phụ họa một cách hỗn loạn. Về giọng hát của người Trung Hoa ấy, thì lỗ tai tôi chưa từng nghe một cái gì lạ lùng như thế; các ngài cứ tưởng tượng những tiếng ca giọng mũi, khàn khàn trong cổ họng, tiếng rên rỉ, mà nói không quá, tôi có thể ví với tiếng chó ngừ khi nó uốn mình sau một giấc ngủ dài! Để chấm dứt, tôi kết luận rằng người Trung Hoa và người Ấn Độ có thể có một lối nhạc như nhạc của chúng ta. Nhưng họ còn bị chìm đắm trong bóng tối sâu thẳm, trong sự dã man, dốt nát và trẻ con, trong đó người ta nhận thấy một vài bản năng mơ hồ và bất lực. Vả lại người phương Đông gọi là nhạc, những gì mà chúng ta cho là “um sùm bát nhã” (charivari), và đối với họ, cái xấu xa là cái đẹp”.
         Sau khi đi dự cuộc triển lãm thế giới năm 1851 tại Luân Đôn, nhạc sĩ H. Berlioz nghe qua vài bài hát Trung Hoa mà đã vội phê bình cả một nền nhạc Trung Hoa, tất cả các lối nhạc phương Đông một cách quá chủ quan.
         Đến năm 1862, ông lại viết trong một quyển sách khác: “Qua mấy bài hát” (A travers chants)… “dân tộc Trung Hoa có một lối nhạc mà chúng ta cho là khả ố, và không thể nghe được. Họ hát như chó ngáp, như mèo mửa khi mắc xương, nhạc khí của họ giống như những khí cụ để tra khảo”.(3)
         Nhạc sĩ H. Berlioz sẽ không cho rằng người Trung Hoa và người Ấn Độ, về phương diện nhạc, còn chìm trong thế giới dã man, nếu ông được đọc qua sử Trung Hoa, Kinh Thi, Lễ Ký, những sách của Tư Mã Thiên, của ông Hoàng Tải Dục, quyển Bhârataya-nâtya-câstra viết từ thế kỷ thứ nhất về nhạc và khiêu vũ bên Ấn Độ, hay quyển Samgitaratnakara của ông Gârdgadeva viết vào khoảng 1210 và 1247 sau tây lịch, không kể nhiều sách khác. Từ mấy ngàn năm, Trung Hoa và Ấn Độ đã có một nền nhạc, có lý thuyết, có quy củ.
         Nhạc sĩ Debussy xem qua hát bộ Việt Nam một lần, đã ghi lại trong bài: Về sự thẩm mỹ (Du gout) cảm giác của ông.(4) Ông thấy rằng ảnh hưởng của Trung Hoa rất rõ rệt trong nhạc kịch Việt Nam. Ông chỉ nghe “một cây kèn nhỏ như điên như dại để đem lại sự cảm động và một cái trống chầu gây nên sự kinh khủng. Và chỉ thế thôi”.
         Kẻ viết bài nầy vẫn khâm phục tài nghệ các nhạc sĩ H. Berlioz và Debussy, nhưng không khỏi bực mình khi đọc những câu phán đoán quá chủ quan hay nông cạn của những nhạc sĩ có biệt tài như các ông. Nếu hát bộ Việt Nam chỉ có một cây kèn nhỏ thổi như điên như dại, và một cái trống chầu, thì làm sao mấy chục triệu dân Việt Nam có thể thích được lối hát ấy? Nhạc sĩ Debussy chỉ nghe qua một lần làm sao nhận rõ được cái tế nhị của một câu hát-khách dài hơi, của một giọng thán não lòng, làm sao phân biệt được cái điệu khách-phú (lúc tiên hạ san), khách-tử (Na-Tra lóc thịt hay là tướng tử trận), khách tẩu-mã (tướng cưỡi ngựa, hoặc người chạy, người đuổi theo) các loại nói dối: lối dăm (không nhạc, không trống, không kèn), lối tuồng (khi có nhạc đờn bài Hạ), lối bóp (có kèn và trống chiêng phụ họa)!
         Chính những người sành nhạc, những nhạc sĩ chánh tông mà còn vì thành kiến, chê nhạc phương Đông hơn là tìm hiểu, bảo sao những người không biết nhạc có thể hiểu và thích những lối nhạc khác hơn nhạc họ thường nghe.
         Nếu người phương Tây không hiểu nhạc phương Đông, thì trái lại người phương Đông cũng không hiểu nhạc phương Tây.
         Theo lời ông Belviannes(5) thì khi sứ giả Xiêm vào triều kiến vua Louis XIV được nghe ngự nhạc tấu một bài của nhạc sĩ Lulli. Vì có cây đàn “hạc” (harpe)(6) phụ họa, nên các sứ giả Xiêm cho rằng bản nhạc khá, và các ông sẽ thích bản nhạc ấy hơn nếu không có tiếng đàn rối rít, lộn xộn. Một nhạc khúc của Lulli điểm thêm mấy câu phụ họa bằng đàn hạc mà người thính giả phương Đông cho rằng có nhiều thứ đàn quá, thì vào thời nầy khi nghe những gia-hưởng-khúc (symphonie) của nhạc sĩ Beethoven(7) người phương Đông còn nghĩ thế nào nữa?
         Trong một quyển sách về nhạc Ấn Độ,(8) ông Popley có thuật chuyện một nhà quí phái Ấn ở Lahore. Ông ấy thích nhạc và rất sành nhạc Ấn, mà không nghe được nhạc Âu châu. Hỏi ý kiến ông về nhạc Âu châu thì ông ấy trả lời rằng: “Nhạc phương Tây giống như tiếng tru của một con chó sói trong bãi sa mạc”. Người phương Đông cho rằng nhạc phương Tây như tiếng chó sói tru. Thảo nào người phương Tây không bảo rằng nhạc phương Đông giống như tiếng chó ngáp, mèo mửa!
         Nói gì đến những người thính giả ở Viễn Đông, họ không hiểu nhạc Âu châu vì họ sống xa Âu châu cả vạn cây số! Ngay những người Á Rập sống gần Âu châu mà cũng không thể hiểu được nhạc Âu châu. Trong bài “Nhạc Á Rập” ông Mohamme Zerrouki,(9) người Bắc Phi, có viết một đoạn về cảm tưởng của một người Bắc Phi khi nghe một nhạc phẩm phương Tây: “Người thính giả phương Đông ngạc nhiên khi nghe một nhạc phẩm trong ấy nhiều âm thanh xô đẩy nhau, đụng chạm nhau, và âm thanh nầy chồng chất âm thanh nọ. Anh lúng túng không biết phải bám vào một câu nhạc nào để nghe và tìm hiểu coi câu nhạc ấy muốn nói gì. Theo anh thì giàn nhạc phương Tây gồm nhiều nhạc sĩ. Mỗi nhạc sĩ nói một thứ tiếng và tự quyền muốn nói gì thì nói. Nhạc công hình như xây lưng với nhau hơn là nghe nhau để hòa nhạc. Đang lúc nhạc trổi, vài nhạc công ngưng đàn nghỉ mệt, mặc mấy anh kia tha hồ đàn. Bỗng các anh cho hay rằng đến lúc phải cất tiếng, các anh cong lưng rượt theo các bạn cho kịp. Một người bạn nhạc trưởng múa men lung tung mà hình như không ai thèm nghe theo ông ấy. Không trật tự gì cả. Nếu mà mọi người cùng nói một lúc về những chuyện khác nhau thì làm sao mà người nghe có thể hiểu được? Chỉ có những người đang giận dữ hay mất trí mới làm như thế”.
         Người phương Đông quen nghe hòa đàn theo cách các nhạc khí cùng đàn một bài từ đầu đến cuối, nên ngạc nhiên khi thấy trong lúc nhạc trổi có nhiều nhạc công nghỉ không đàn. Họ làm sao hiểu được vai tuồng quan trọng của một nhạc trưởng trong một giàn nhạc.
         Sở dĩ có sự không hiểu nhau như thế vì mỗi nước có một tập tục, một nền văn hóa, một quan niệm về thẩm mỹ riêng biệt.
         Người ta thường bảo rằng: Nhạc là tiếng nói đại đồng. Theo ý chúng tôi thì không đúng hẳn như thế. Đành rằng nhạc diễn tả những xúc cảm của con người, nhưng mỗi dân tộc có một lối nhạc riêng cũng như họ có một tiếng nói riêng. Muốn diễn tả sự vui mừng, người Đức và người Trung Hoa dùng hai lối nhạc khác nhau. Chỉ có những nước gần nhau về mặt địa dư, kinh tế, văn hóa mới có thể hiểu nhau qua các điệu nhạc giữa các nước ở Âu châu; giữa Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam chẳng hạn.
         Tiếng nói của một dân tộc nào, chỉ có dân tộc ấy mới hiểu một cách thâm thúy. Vì thế khi nghe một điệu nhạc lạ tai, bạn đừng vội chê rằng điệu nhạc ấy không hay. Bạn thử đặt điệu nhạc ấy trong hoàn cảnh địa dư, kinh tế xã hội của nó; bạn thử tìm hiểu lối nhạc ấy hơn là vội vàng phán đoán nó một cách chủ quan. Một điệu nhạc hạp với sự đòi hỏi của một dân tộc mới tồn tại. Nếu không hạp với bạn, điệu nhạc ấy có thể hạp với dân tộc đã phát sanh ra nó. Bạn có thể thích hay không thích nó. Nhưng nếu bạn vì không hiểu một lối nhạc, mà chê bai hay bài xích nó, thì bạn quá ư hẹp hòi.
         Đông nhạc và Tây nhạc rất khác nhau về mặt hình thức và kỹ thuật. Nhưng về ý thức nhạc, thì cũng có nhiều chỗ giống nhau. Chúng tôi sẽ cùng các bạn xem qua những chỗ giống nhau và khác nhau giữa hai lối nhạc ấy.
         Để kết luận đoạn nầy, chúng tôi mượn lời của nhà văn hào Ấn Độ Rabinnadrad Tagore:
         “Nhạc Âu châu như thế giới ban ngày: một nguồn hòa âm rộng rãi.
         Nhạc Ấn Độ (nói riêng hay nhạc phương Đông nói chung) chẳng khác thế giới ban đêm: một khúc điệu tinh túy, thấm thúy và dịu dàng.
         Hai lối nhạc ấy đều làm rung động lòng ta, nhưng căn bản của chúng nó khác nhau”.(10)


TRẦN VĂN KHÊ

________________________________________________
(1) Xin xem quyển “Les soiréos de l’orchestre” (Những đêm hòa nhạc) của H. Berlioz, xuất bản lần thứ nhì. Nhà xuất bản Michel Levy. Ba Lê 1854. Trang 278, 279, 284.
(2) Có lẽ bà ấy vừa ca vừa đàn tranh (thập lục).
(3) Xin đọc quyển “A travers chants” của H. Berlioz. Nhà xuất bản Michel Levy. Paris 1862. Trang 253.
(4) Debussy. Trong tập “Socitété Internationale de Musique” (15-12-41). Trang 48.
(5) Xin xem quyển “Sociologie de la musique” của M. Balviannes. Trang 25.
(6) Đàn hình tam giác có nhiều dây. Tiếng đàn tương tợ như tiếng đàn tranh (thập lục).
(7) Nhạc sĩ đức (1770-1827) rất phong phú, sáng tác 9 giao hưởng khúc và rất nhiều nhạc phẩm cho đàn piano. Nhạc sĩ mang bệnh điếc và từ trần trong cảnh nghèo.
(8) Xin xem quyển “The Music of India” (Nhạc Ấn Độ) của Herbert Popley. Nhà xuất bản London Oxford University Press 1927. Trang 128.
(9) Mohammed Zerrouki. “La misique arabe”. Tạp chí Revue Internationale de musique số 12.
(10) Xem trong quyển “The music of India” (Nhạc Ấn Độ) của Herbert Popley. Trang 131-132 có trích đoạn nhà văn hào Tagore bàn về nhạc.


BÁCH KHOA |  SỐ 16

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 07/02/2018, 23:55:41


Heinrich Schliemann, một người trong non 40 năm chỉ ước ao được Đào Đất

Tiếp theo Bách-Khoa số 15

ĐỌC TIỂU SỬ của Mã Viện, tôi thấy có vài nét đẹp. Hồi trẻ Mã tới một miền hoang để khai phá và nuôi súc vật, chẳng bao lâu giàu lớn. Nhưng một hôm Mã nghĩ thân nam nhi mà không làm nên sự nghiệp gì, cứ kéo dài cuộc đời nô lệ cho đồng tiền thì nhục lắm, bèn phân phát hết của cải cho bà con, hàng xóm, rồi đi tìm Hán Quang Võ, quyết chí lập võ công.
         Heinrich Schliemann cũng có chí lớn như Mã. Hồi 46 tuổi, ông đã thành một tỉ phú, và sau ba chục năm phấn đấu, ai không mong được nghỉ ngơi? Nhưng không, ông cho rằng lúc đó mới là lúc ông bắt đầu làm việc, bắt đầu sống. Ông quyết tâm tiêu hết sản nghiệp vào việc Đào Đất để tìm di tích thành Troie. Không ai tin rằng ông thành công, trừ ông và cố nhân của ông là Minna, lúc đó đã cách biệt hẳn ông rồi. Không tìm được, tất nhiên là công lao và tiền của ông sẽ tiêu tan, mà tìm được thì chỉ có danh chứ không có lợi gì. Biết vậy mà ông vẫn tìm, vì khảo cổ là lẽ sống của ông, vì tiếng gọi của những anh hùng ngàn xưa ở Troie văng vẳng bên tai ông hoài.
         Tháng tư năm 1868, ông qua La Mã rồi tới Ithaque. Ithaque là một trong những đảo nhỏ rải rác ở gần bờ biển phía tây Hi Lạp. Theo truyền thuyết, một ông vua hoang đường của Hi Lạp là Ulysse có cung điện tại đó. Ulysse từ biệt bà vợ trẻ là Pénélope để vượt biển, qua Tiểu Á chiếm thành Troie. Chiếm thành rồi, Ulysse trở về xứ, nhưng lạc đường thành thử mười năm mới tới nhà. Bà vợ kiên nhẫn nuôi con và đợi chồng; nhiều nhà quyền quý phao tin chồng bà đã chết, để hỏi bà, bà phải hẹn lần để thêu xong một tấm vải, rồi sẽ nhận lời, nhưng ngày thêu được bao nhiêu, đêm bà tháo bấy nhiêu, thành thử không khi nào xong.
         Truyện đó có vẻ một truyền kỳ. Thi hào Hi Lạp Homère chép lại thành hai tập thơ: tập Iliade tả những chiến công anh dũng của Ulysse ở Troie, và tập Odyssée kể những bước gian truân, mạo hiểm của Ulysse khi thắng Troie, tìm đường về xứ mà lạc lối.
         Hai tập thơ đó là những tác phẩm bất hủ của nhân loại, đã làm vẻ vang cho Hi lạp, đã được dịch ra hết thảy các thứ tiếng ở Châu Âu, giá trị cũng tựa như Kinh Thi, Sở Từ của Trung Hoa, hoặc kinh Vệ Đà của Ấn Độ. Nhưng tác giả, Homère là ai, sống ở thời nào, thì không ai biết chắc.
         Schliemann chẳng những thích Homère mà còn tin rằng hết thảy những điều Homère chép trong hai tập Iliade và Odyssée đều đúng sự thực. Lòng tin của ông không hề bị lay chuyển. Ông biết rằng chưa có chứng cứ gì hết, nhưng ông cũng vẫn tin mãnh liệt, và quyết Đào Đất, tìm di tích để đem chứng minh cho nhân loại.
         Và ông tới đảo Ithaque để đào đất. Dân ở đảo chỉ cho ông núi Actos mà họ cho rằng ở trên ngọn hồi xưa có lâu đài của Ulysse. Ông lại còn thấy một bức tường đổ, chung quanh là núi đá. Trong vài khe đá có một chút đất đủ cho những cây nhỏ mọc lên. Ông đào những khe đá đó. Ông chép lại công việc ông như vầy:
         “Nóng gay gắt, hàn thử biểu của tôi lên tới 52 độ, tôi khát nước ghê gớm mà không có lấy một giọt nước hoặc một giọt rượu. Nhưng nghĩ rằng tôi được dẫm lên nền cũ của lâu đài Ulysse, tôi hăng hái vô cùng, quên cả nóng, cả khát. Khi thì tôi khảo sát ở chung quanh, khi thì mở tập Odyssée ra đọc lại những đoạn cảm động tả những việc đã xảy ra ở nơi đó; khi tôi ngắm cảnh đẹp đẽ bốn bề dưới chân núi…
         Hôm sau, ông mướn bốn người thợ, chỉ cho họ đào. Ông cũng tiếp tay với họ, kiếm được hai chục bình cổ ở một nơi mà hồi xưa có lẽ là nhị tì của một gia đình nào đó. Đào nữa, ông gặp được những thanh gươm, lưỡi dao, nhưng không có một hàng chữ nào khắc trên đá, trên đồng cho ông biết về thời đại của các vật ấy.
         Làm việc từ năm giờ sáng đến giữa trưa ông mới nghỉ, ăn mấy miếng bánh mì, mà cho bữa cơm đó là bữa cơm ngon nhất đời ông, vì ông được ăn trên nền cũ của lâu đài Ulysse.
         Mấy hôm sau, ông tiếp tục đào hoặc đi thăm khắp đảo, nhận được những chỗ đã tả trong Odyssée. Tới đâu dân làng cũng xúm lại, đòi ông ngâm Odyssée cho họ nghe, và họ cảm động tới rớt nước mắt khi thấy một người xứ lạ thuộc kỷ sử của tổ tiên họ, thuộc cả nhưng vần cổ thi của họ, mà hiện nay họ không còn hiểu được nữa.
         Ở Ithaque ông không kiếm được di tích gì quý báu, ông bèn qua thành Troie. Tới nơi, ông sung sướng vô cùng, tưởng đâu như được trở về quê hương kiếp trước nào của ông, rồi ông nhớ lại những mộng hồi nhỏ. Ông sắp bắt tay vào việc đây, mà cố nhân của ông thì ở đâu? Ông xem xét kỹ địa thế làng Pinarlashi mà mọi người đều cho là dựng trên nền cũ của thành Troie. So sánh với những đoạn văn tả trong Iliade thì ông thấy thành Troie hồi xưa phải gần biển hơn kia. Ông tin Homère như tín đồ tin Chúa vậy, một mình chống lại tất cả các nhà bác học đương thời, mà quả quyết rằng Troie không phải ở đó.
         Miền đó hồi ấy hoang vu, khách lỡ đường phải ngủ giữa trời. Chiều hôm đầu, ông xuống sông Scamande ăn bánh nhạt và uống nước sông. Những hôm sau, ông dò xét kỹ tìm được đồi Hissarlick mà ông tin là nền cũ của Troie.
         Ông viết một tập kỷ yếu, ghi những kết quả tìm tòi, gửi về trường Đại học tỉnh quê ông là Mecklembourg và được tặng chức tiến sĩ triết học.
         Tháng mười năm 1871, ông bắt đầu đào đồi Hissarlick, luôn mười một tháng. Lúc đó ông đã cưới bà Sophie, cũng ngưỡng mộ Homère như ông. Hai ông bà cất nhà trên đồi, mướn ba người cai để chỉ huy từ 100 đến 150 phu đào. Ông gặp nhiều nỗi khó khăn, như sự ngăn cản của chủ đất, khí hậu bất hảo, bệnh tật, sự thiếu dụng cụ, nhưng càng gặp khó, ông càng hăng, quyết chứng thực rằng những việc kể trong Iliade có thực và dân tộc Hi Lạp đã viết được những trang sử vẻ vang đó.
         Ông đào ngang, dọc sâu 15 thước, sau cùng, một hôm gặp di tích thành Troie. Ông mừng vô hạn. Mục đích ông đã đạt. Dự tính của ông đã đúng. Tin tưởng của ông đã thành sự thực. Ông hô hào thế giới tới ngắm nền văn minh cổ của Hi Lạp.
         Và chính ông cũng không ngờ được rằng số tiền ông đã tính liệng đi để làm một việc thỏa sở thích lại đem về cho ông những số lời vĩ đại. Ở dưới một chân tường, ông thấy một kho vàng: những bình bằng vàng nặng nửa ký, những bình xách nước bằng bạc, vòng dây chuyền, mũ miện, toàn bằng vàng. Thực là truyện Alibaba trong Một ngàn lẻ một đêm. Kho vàng của vua Priam(1) vào nằm trong những rương của ông. Cả những cái rực rỡ của một thời cổ mà Homère đã tả trong thơ, thì bây giờ ông ngắm được, rờ được, cầm được. Tháng sáu năm 1873, sau năm năm đào đất, ông về Athènes, chở tất cả bảo vật đó và những tài liệu để soạn cuốn Đồ cổ ở Troie. Ông đã tính nghỉ. Nhưng thần Tài nào đã chịu cho ông nghỉ. Như bạn sẽ thấy, đó mới chỉ là bước đầu. Con trăng của ông vẫn chưa đầy.
         Cuối tháng hai năm 1874, xuất bản xong cuốn Đồ cổ ở Troie, ông lại Mycènes, một tỉnh mà Homère đã ca tụng là nhiều vàng. Mycènes có những bức tường đá dày tới nỗi mà cổ nhân cho rằng chỉ có những người khổng lồ mới xây nổi. Đó là cung điện của những triều vua hùng cường, luôn luôn chống với vua thành Troie.
         Ở đây ông gặp nhiều nỗi khó khăn do nhà cầm quyền địa phương, nhưng ông giải quyết được hết. Ông đào hai năm, tìm được những lâu đài, lăng tẩm của vua chúa thời cổ, và những kho vàng còn quý hơn ở Troie cả về lượng lẫn về phẩm, vì nghệ thuật ở Mycènes còn tiến hơn ở Troie. Ông đánh một bức điện tín cho vua Hi Lạp, trong có đoạn:
         “… Tôi đã thấy trong những lăng tẩm những kho vàng mênh mông đầy những đồ cổ bằng vàng. Chỉ những kho vàng đó cũng đã đủ đầy một viện khảo cổ lớn, lạ lùng nhất thế giới, và làm cho hậu thế sẽ tới Hi Lạp để thăm nó. Tôi làm việc vì yêu khoa học, cho nên tôi không muốn giữ những bảo vật đó mà tặng lại hết cho nước Hi Lạp”.
         Ông đã có lần muốn nghỉ, giao công việc cho một viện khoa học nào đó tiếp tục, nhưng không viện nào nhận, ông lại đành phải làm lấy. Trong những năm 1878-1883, ông trở lại đào hai lần nữa ở Troie. Ông dùng 150 phu, nhưng vẫn đích thân chỉ huy mọi việc. Ông đào sâu thêm, thấy cứ hết lớp cổ tích nầy, lại tới một lớp cổ tích khác, thành thử ở một chỗ mà trước sau có sáu thành chồng chất lên nhau. Cứ thành trước bị tàn phá thì người tới sau san phẳng đi rồi dựng ngay một châu thành khác lên. Ông dùng hết tâm lực để vẽ bản đồ những thành đó. Công việc cực kỳ gian nan. Nhà cầm quyền Thổ nghi kỵ ông là gián điệp của Đức, có ý vẽ bản đồ thành lũy Dardanelles, cho lính canh từng cử động của ông, cấm các kiến trúc sư giúp việc ông không được đo, nhắm, ghi chép gì hết. Ông đành phải nhớ rồi về nhà chép lại. Nhờ những tài liệu đó, ông soạn thêm cuốn Troie.
         Trong hai năm sau (1884-1885) ông đào ở Tirynthe,(2) tìm được những lâu đài cổ mà kiến trúc rất đẹp, giúp cho khoa cổ sử có thêm những tài liệu cực quý.
         Hồi đó ông đã 62 tuổi, mà tinh thần vẫn cường tráng. Đúng 4 giờ thiếu mười lăm ông dậy, ra biển lội mười phút, lên bờ uống cà phê xong, rồi cưỡi ngựa về Tirynthe trước khi mặt trời mọc. Trưa nào nắng quá thì ông gối đầu trên đá mà ngủ, lấy nón che mặt. Chiều tối mới về nhà.
         Năm 1886, ông về Athènes nghỉ ngơi, trong một biệt thự đẹp nhất châu thành. Gia sản của ông mênh mông. Những danh nhân khắp thế giới lại thăm ông hoặc thư từ với ông. Nhà trang hoàng bằng toàn những báu vật ông đào được, và trong khung cảnh đó, hai ông bà thường ngâm thơ Homère với nhau sau những giờ xếp đặt lại tài liệu.
         Nhưng một người hoạt động như ông không bao giờ chịu ở nhà lâu. Vẫn say mê những cái bí mật của thời cổ, ông đi đu lịch Ai Cập thêm hai lần nữa, vào cuối năm 1886 và cuối năm 1887. Ông ngược dòng sông Nil, thăm các đền đài, lăng tẩm, vào làng thổ dân, nói tiếng Á Rập với họ, tụng kinh Koran với họ.
         Sau hai lần du lịch đó, ông lại hăng hái muốn tìm những di tích chứng tỏ sự liên quan giữa nền văn minh Troie và nền văn minh Ai Cập. Ông định đào ở tỉnh Quadesh, rồi qua tỉnh Cnossos ở đảo Crète, nhưng việc không thành.
         Đương lúc đó, một việc xảy ra làm ông phải trở lại Troie một lần nữa. Nguyên do như vầy: Một viên đại tá hồi hưu nọ tên là Boetticher, chưa hề đặt chân lại Troie lần nào mà dám viết bài báo trong mấy năm, rồi lại viết sách để chỉ trích Schliemann là đã bịa đặt; đã đưa những tấm hình, những bản đồ giả mạo về Troie, chứ thực ra Troie chẳng có lâu đài cổ gì hết, mà chỉ là một nơi để thiêu những thi hài. Như vậy có động trời không chứ! Thực là không làm sao hiểu tâm lý hạng người đó, nhưng nếu ta để ý nhận xét thì thấy họ nhan nhản ra đấy, thời nào cũng có, nơi nào cũng có, ngay ở chung quanh chúng ta đấy. Lạ lùng nhất là một nhà khảo cổ Pháp tin Boetticher, làm cho dư luận hoang mang. Schliemann bèn mời địch thủ của ông cùng các nhà bác học qua Troie và tháng ba năm 1890, ông lại đào thêm di tích ở Troie, lần nầy với một quy mô rộng lớn hơn, tìm thêm được nhiều nền cũ và nhiều đồ cổ nữa ở vào thời từ 1500 tới 1000 năm trước tây lịch.
         Qua tháng bảy ông đau ở tai, về Athènes nghỉ ngơi, định năm sau trở lại đào nữa. Ông phải mổ hai tai, vừa mổ xong, cậy sức mạnh, ông đi Berlin, Paris thu xếp công việc. Tới Paris, bệnh lại phát, ông không chịu ở lại chữa, qua Naples. Tai ông sưng lên, làm mủ, mủ lan qua óc, ông mê man và chết trong một dưỡng đường ở Naples. Năm đó là năm 1890. Ông 68 tuổi.
         Thi hài ông đưa về Athènes, Vua Hi Lạp và các chính khách Đức, Anh, các nhà bác học khắp thế giới, hoặc lại đưa đám, hoặc tỏ lời thương tiếc một người đã có công lớn với văn minh nhân loại.
         Công lớn đó, chính ông cũng không ngờ được. Cái mộng của ông và nàng Minna hồi tám tuổi chỉ là tìm những di tích thành Troie khi Ulysse qua đó xâm chiếm, những di tích của nền văn minh Hi Lạp cổ. Nhưng ông đã đào được nền móng của sáu châu thành chồng chất lên nhau ở Troie mà ông chưa biết rõ là ở những nơi nào. Non nửa thế kỷ sau, năm 1938, nhà khảo cổ C. W. Blegen đào thêm được ở Troie nền móng ba châu thành nữa, thành thử trước sau, ở ngọn đồi Hissarlick có hết thảy chín châu thành xây cất trong một khoảng là ba mươi lăm thế kỷ, từ thời đá mài tới thời La Mã.
         Không những vậy, năm 1900, một nhà khảo cổ Anh, ông Arthur Evans, đào thấy ở đảo Crète nhiều cổ tích chứng rằng nơi đó là trung tâm một nền văn minh mà ông Schliemann đã tìm được ở Mycènes và Tirynthe, song không biết là nền văn minh nào. Nền văn minh đó là nền văn minh Egée rất rực rỡ, có trước nền văn minh Hi Lạp khoảng ngàn năm, và làm trung gian cho văn minh Ai Cập và văn minh Hi Lạp. Vậy nhờ Schliemann, nhờ đức tin mãnh liệt, lòng kiên nhẫn vô song của ông mà non hai ngàn năm cổ sử đã được chép lại cho hậu thể. Khi hạ quan tài ông xuống huyệt, nhà khảo cổ Đức Dorpfeld, bạn cộng tác của ông, chào ông lần cuối: “Anh đã cần cù làm việc, xin chúc anh yên tĩnh nghỉ ngơi”. Có bao nhiêu người đáng nhận một lời khen như vậy?


NGUYỄN HIẾN LÊ

____________________________________________
(1) Vua cuối cùng của thành Troie, bị Pyrrhus giết khi thành thất thủ.
(2) Một tỉnh thời cổ La Mã.


BÁCH KHOA |  SỐ 16

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 08/02/2018, 21:00:05
BÁCH KHOA |  SỐ 17  [15 tháng Chín  1957 |  86 trang]

MỤC LỤC
Phạm Ngọc Thảo |  Quan niệm quân sự hiện đại |  1-4
Thế Văn |  Giới thiệu sách mới |  5-6
Vũ Ký |  Giữ vững chính nghĩa |  7-9
Vũ Thừa Chi |  Vết nứt rạn đầu tiên của Cộng sản quốc tế: Vụ Ti-Tô [II] |  10-16
Sơn Vũ |  Chiến tranh tâm lý và vấn đề chiến lược đại quy mô |  17-20
Bách-Khoa |  Bảo vật của ông Bias |  20
Nguyễn Ngọc Nê |  Những gạch nối, nối liền những tiếng kép trong văn tự Việt Nam |  21-24
Trần Văn Khê |  Nhạc phương Đông, nhạc phương Tây [II] |  25-29
Minh Anh |  Hoạt động và tự do phát triển nhân tính của trẻ em |  30-33
Bách-Khoa |  Hai họa sĩ |  33
Thuần Phong |  Đất nước trong ca dao |  34-40
Bách-Khoa |  “An nhàn, vô sự” |  40
Từ-Quyên Đặng Văn Nhâm |  Khảo về những huy chương cổ điển Việt Nam: Tiền, Bài, Khánh, Bội |  41-46
Quảng cáo |  47-48
Tân Fong Hiệb |  Hai nhà nho chí sĩ: Ngô Đức Kế và Phan Bội Châu đối với truyện Kiều |  49-52
Bách-Khoa |  Dứt khoát tư tưởng |  52
Quảng cáo |  53
Văn Quang |  Tôi thương miền Trung (thơ) |  54-55
Mặc Thu |  Một truyện Liêu Trai mới: Người luyện kiếm |  56-60
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Nhất gia [XIV] (truyện dài) \ Từ Vu |  61-80
Quảng cáo |  64, 66, 68, 70, 72, 74, 76, 78, 81-86


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204214110-ae423ddbe399ff7aa75fbacf661eb9bb/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 08/02/2018, 21:17:51


Những gạch nối, nối liền những tiếng kép trong văn tự Việt Nam

ÍT LÂY NAY, những giới quan tâm đến nền văn học nước nhà, thường phàn nàn về nỗi nước Việt Nam. đang thiếu một Hàn Lâm Viện để thống nhứt Việt Ngữ. Quả vậy, rất nhiều danh từ cần phải được thống nhứt về cách dùng, thế mà không có một Hàn Lâm Viện, hỏi còn cơ quan nào khác đủ thẩm quyền để làm việc đó.
         Một điều hiện đang làm cho những người cầm bút phải luôn luôn thắc mắc, đó là những gạch nối, nối liền những tiếng kép trong văn tự Việt Nam.
         Trong Việt Ngữ có nhiều tiếng ghép hoặc bằng chữ Hán, hoặc bằng chữ Nôm (tức chữ Việt phổ thông). Phần lớn là hai chữ Hán ghép lại thành một tiếng kép; những chữ Hán này vào trong văn tự Việt Nam đã lâu đời, ngày nay hầu như đã biến thành tiếng Việt.
         Nhiều chữ Hán dùng sai nhưng cứ phải để sai như vậy mới là “đúng”. Chẳng hạn câu “Mãi quốc cầu vinh” chính ra phải là “Mại quốc cầu vinh” vì “mãi” có nghĩa là mua và “mại” mới có nghĩa là bán. Nhưng nếu ta nói “Mại quốc cầu vinh” thì người nghe cho là ta nói sai vậy. Tiếng “mãi dâm” cùng trong một trường hợp như vậy, chính ra phải là “mại dâm” mới đúng.
         Lại hai tiếng “thống kê”, chính ra phải là “thống kế”, nghĩa là thâu góp xếp đặt mọi sự một cách có hệ thống (systématique) vào trong phạm vi đồng nhứt và dùng phương pháp kế toán để so sánh. Nhưng khi ta viết “thống kế” thì phần đông người đọc cho là ta lầm và sẵn lòng sửa lại là “thống kê”.
         Hai tiếng “thị hiếu” mà ta thường hiểu là cái thích của mắt nhìn như trong câu “tờ bích chương này đập vào thị hiếu của người xem”, chính ra chỉ có nghĩa là sự ham mê một thứ gì như rượu chè, hút sách, không dính líu gì đến thị giác cả. Chữ thị ở đây có nghĩa là tham, là ham thích như thị dục = ham muốn, thị tửu = nghiện rượu; chữ hiếu có nghĩa là ham như hiếu học = ham học, hiếu kỳ = ham sự lạ.
         Trong Việt Ngữ, những tiếng kép ghép bằng hai chữ Hán rất nhiều, không sao kể xiết. Những tiếng ghép bằng hai chữ Nôm cũng nhiều không kém. Ta thử mở một cuốn từ điển ra coi, chẳng hạn cuối “Việt-Anh Từ điển” của ông Lê-Văn-Hùng, ta sẽ thấy những gạch nối chi chít khắp trên 800 trang sách!
         Như vậy, nếu ta nhứt mực giữ hết các gạch nối thì trong một trang viết ta sẽ thấy đặc những gạch nối. Mà nào có phải chỉ việc cho gạch nối vào là xong đâu, có rất nhiều tiếng kép làm cho ta phải phân vân mất thì giờ suy nghĩ về gạch nối. Chẳng hạn, ta thường tự hỏi những tiếng “phân vân, thong thả, nhanh nhẹn, lén lút v.v…” có cần phải cho gạch nối hay không; sau khi suy nghĩ hồi lâu, ta lại tự trả lời một cách “ba phải” là “có cũng được, mà không cũng được”!!
         Sự thực có luật nào quy định sự dùng gạch nối một cách rõ rệt đâu. Nay thiết tưởng ta cũng cần xét xem nên để hoặc nên bỏ những gạch nối, hoặc nữa nên dùng những gạch nối trong những trường hợp nào nhứt định.
         Trước hết ta hãy xét xem bỏ gạch nối có hại gì không. Thí dụ ta có một câu sau đây:
         “Ban Tổ-chức chúng tôi hân-hạnh giới-thiệu cùng cử-tọa một thi-sĩ trứ-danh về loại thơ trào-phúng”.
         Giá trị của từng danh từ và của cả câu văn nhứt định không có gì thay đổi sau khi đã bỏ hết những gạch nối. Vậy cớ sao ta lại cứ phải cố giữ những gạch nối?? Phải chăng đây là một thói quen: quen tay và quen mắt…??
         Nếu ta để ý nhìn vào một trang chữ Việt, ta sẽ thấy từ đầu đến cuối đặc những gạch nối. Chữ Việt đã bị tua tủa những dấu đơn dấu kép khác nào như râu tôm, nay lại thêm quá nhiều gạch nối đâm ngang trông lại càng thêm hoa mắt. Tiếng Việt, khi viết đã bị các dấu làm chậm hẳn đi, nay các gạch nối lại làm cho thêm chậm nữa.
         Hiện nay, so với mấy năm trước, nhiều người, không ai bảo ai, đã tự động bỏ dần những gạch nối. Nhưng việc này có tính cách rụt rè vì thiếu sự thống nhứt. Ở các phòng triển lãm, trên các bản đồ, đồ biểu, lược đồ, bích chương, có nơi thì bỏ gạch nối, có nơi vẫn giữ, đó là tùy theo sở thích của từng người. Có điều, theo sự nhận xét chung, ta thấy số người bỏ dần gạch nối càng ngày càng nhiều hơn là số người giữ những gạch nối.
         Ngày nay các trang báo, trang sách cũng thấy bớt nhiều gạch nối hơn những năm trước đây, vì người ta có xu hướng bỏ dần những gạch nối. Nhưng đây là người ta tự động làm theo lương tri nên thiếu sự nhứt trí và do đó thiếu sự mạnh dạn trong việc làm. Cứ như vậy, một ngày gần nhứt định người ta sẽ đi đến chỗ bỏ nhiều hay bỏ hẳn những gạch nối, vì là một việc làm hợp lý.
         Về phương diện ấn loát hay đánh máy những thư từ công văn trong các công, tư sở, việc bỏ những gạch nối có một lợi ích hiển nhiên. Nếu ta để ý nghiên cứu để thực hiện kế hoạch giản dị hóa công tác – ta thấy cứ trung bình một trang (giấy khổ 21x27 phân) đánh máy dòng một, đếm được 43 dòng, mỗi dòng trung bình 50 chữ phải có từ 70 đến 150 gạch nối. Như vậy có nghĩa là những gạch nối chiếm mất từ 3,48 đến 7% trang giấy. Do đó có sự phí sức phí công vô ích; về phương tiện mỹ thuật, tờ giấy đánh máy với nhiều gạch nối đâm ngang còn làm giảm phần mỹ quan trong cách trình bày.
         Về phần ấn loát sự ích lợi còn lớn hơn. Ngoài sự tiết kiệm được thì giờ và nhân công xếp chữ, người ta còn giảm bỏ được số tiền để mua một số lớn những gạch nối cho đủ các “cỡ chữ” dùng trong việc xếp chữ và sự hao mòn dĩ nhiên phải có sau một thời gian.
         Tại các trường học, những gạch nối thật quả là một vấn đề khó khăn cho các ông giáo cũng như cho các học sinh. Rất nhiều tiếng kép chẳng hạn như tiếng “lén lút” theo tác giả này thì để gạch nối, trò nào không cho gạch nối bị đánh lỗi. Ít lâu sau trong một bài khác, cũng vẫn chữ “lén lút” đó, một tác giả khác lại không dùng gạch nối, trò nào viết gạch nối lại bị đánh lỗi. Kết cục: thầy giáo phải bối rối, và học trò thì hoang mang không biết lối nào mà theo. Tình trạng này có thể nói là xẩy ra một cách thường xuyên.
         Sau khi trình bày những lý do trên đây, ta thấy bỏ các gạch nối là một việc hợp lý nên làm. Nay ta cần phải tìm ra một nguyên tắc định rõ những trường hợp nào giữ những gạch nối và những trường hợp nào thì bỏ.
         Hiện nay những gạch nối được dùng trong những trường hợp sau đây:
         1/ để ghép hai chữ, hoặc Hán hoặc Nôm, thành một tiếng kép. Tỷ dụ: “hành-chính”, “hiệu-nghiệm”, “lén-lút”.
         2/ để ghép ba chữ Hán thành một tiếng kép. Tỷ dụ: “phản-lực-cơ”, “công-an-viên”, “quốc-hữu-hóa”, v.v…
         3/ để ghép hai, ba hay nhiều chữ thành một danh từ riêng. Tỷ dụ: Nguyễn-Kỳ-Tài, Huỳnh-thị-Bạch-Tuyết, A-Căn-Đình, v.v…
         Trong trường hợp thứ nhứt, ta nhứt định bỏ gạch nối, nối liền hoặc hai chữ Nôm, hoặc hai chữ Hán, vì như đã thấy trên đây, bỏ gạch nối không hề thay đổi mảy may ý nghĩa của các danh từ hay của câu văn.
         Trong trường hợp thứ nhì, ta có hai giải pháp:
         a/ giữ lại một gạch nối cho dễ đọc. Tỷ dụ “phản-lực cơ”, “công-an viên”, “quốc-hữu hóa”;
         b/ bỏ cả hai gạch nối. Cứ xét kỹ ra, nếu trong tiếng kép “phản lực” ta đã bỏ gạch nối như trong trường hợp thứ nhứt thì không có lý do chính đáng khiến trong trường hợp thứ nhì ta lại giữ gạch nối. Vậy xin đề nghị cũng bỏ nốt cho dược công bằng và hợp lý.
         Trong trường hợp thứ ba, vì các chữ ghép trong một danh từ riêng, đứng riêng biệt từng chữ sẽ vô nghĩa nên phải cần có gạch nối để chỉ rõ rằng hai, ba, bốn chữ vô nghĩa đó, ghép lại như vậy là tên một người, một nước, một thành phố, một dãy núi, một con sông… Tỷ dụ “Nã-Phá-Luân”, “A-Căn-Đình”, “Luân-Đôn”, “Hy-Mã-Lạp-Sơn”, “Cửu-Long-Giang”.
         Trong các danh từ riêng, có nhiều khi những chữ ghép có nghĩa riêng của nó, nếu không có gạch nối thì thật nguy hiểm, vì người đọc rất có thể hiểu lầm. Tỷ dụ: Ô. Bùi-Như-Lạc không có nghĩa gì là ăn bùi như đậu phọng. Ô. Nguyễn-Kỳ-Tài đâu phải một người kỳ tài, và cô Huỳnh-thị-Bạch-Tuyết rất có thể là da đen không có gì là “bạch tuyết” cả.
         Tóm lại, chúng tôi đề nghị bỏ hết các gạch nối trong các tiếng kép trừ những danh từ riêng (nom propre) vẫn giữ nguyên những gạch nối như cũ. Ngoài ra, những gạch nối có nghĩa là từ nơi này đến nơi khác, từ tiếng nước này sang tiếng nước khác v.v… dĩ nhiên sẽ vẫn dùng như cũ. Tỷ dụ: Pháp-Việt từ điển, Sai-Gon-Huế-Sai-Gon.
         Trong những cuộc luận đàm cùng các bạn hữu, chúng tôi đã có nhiều dịp nêu lên vấn đề này và một số anh em đã sốt sắng hưởng ứng. Tuy nhiên, như chúng tôi đã nói trên đây, đó là một việc làm tự động của một nhóm người nên nó có tính cách rụt rè vì thiếu sự nhứt trí. Chúng tôi ước mong bài này sẽ có một tiếng vang khiến các giới quan tâm đến vấn đề sẽ tham gia ý kiến để cùng tiến tới sự nhứt trí trong việc dùng những gạch nối trong văn tự Việt Nam.
         Để quý vị tiện tham chiếu, chúng tôi xin kể ra đây cuốn “Hán-Việt Tân Từ Điển” của ông Hoàng-Thúc-Trâm (nhà sách Vĩnh-Bảo, Saigon, xuất bản), trong đó ông Trâm đã mạnh dạn bỏ hết gạch nối trong tất cả các danh từ kép, bằng hai, ba, bốn chữ Hán, và chỉ giữ những gạch nối trong các danh từ riêng (nom propre) mà thôi.


NGUYỄN NGỌC NÊ


BÁCH KHOA |  SỐ 17

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 09/02/2018, 20:14:16


Hai nhà nho chí sĩ: Ngô Đức Kế và Phan Bội Châu đối với truyện Kiều

NGUYỄN DU từ giã cõi đời ngày mùng 10 tháng 8 năm Canh Thìn, tức năm 1820 dương lịch. Từ giã cõi đời mà mối hận lòng còn canh cánh, nên đời sau còn truyền lại hai câu thơ – mà cũng là những lời nói – sau cùng.

                           Bất tri tam bách dư niên hậu,
                           Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.

                           (Ba trăm năm lẻ về sau nữa,
                           Thiên hạ ai người khóc Tố Như?)

         Ai khóc Tố Như?
         Từ đó đến nay, chưa đầy 150 năm – cái phân nửa của ba trăm năm… chẵn – mà “tâm sự di thần” của Người chẳng còn là một sự bí mật cho ai nữa, và hơn thế nữa, người ta chẳng những khóc Người, mà khóc luôn cả nhân vật chánh của truyện Người sáng tạo lại: nàng Kiều. Người hẳn cũng chẳng ngờ tác phẩm của mình, một tiếng đoạn trường mới, lại có một số phận lạ kỳ, mà chẳng một công trình trước tác nào của thế giới có, từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Người ta không ngớt “nói” đến nó: nào phê, nào sửa, nào vịnh, nào ngâm, nào tập, nào lẩy, nào bói, nào nhại, phân tích nhân vật này, bàn cãi câu thơ nọ; thậm chí đến một chữ, một dấu chấm câu cũng là đầu đề cho mực chảy. Mà nhất là khen với chê!



         Mà nói đến khen, thì ta nhớ ngay đến Phạm Quỳnh tiên sinh, người đã nói câu bất hủ: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn”. Còn nói đến chê, thì ta làm sao quên được nhà chí sĩ Ngô Đức Kế, người đầu tiên thẳng tay kết án Đoạn trường tân thanh: “Văn tuy hay, mà truyện toàn truyện phong tình, thì có vẻ ai dâm sầu oán đạo dục tăng bi,(1) tám chữ ấy không tránh đàng nào cho khỏi (…) trong nhà ngoài đường, trên trời dưới đất, đâu đâu cũng Kiều. Cứ xem hiện trạng ấy, thì nước Việt Nam ngày nay gọi là Kim Vân Kiều Quốc, nòi giống Việt Nam ta mà gọi là đại đại Kim Vân Kiều tộc, cũng đúng đắn lắm, chứ không sai! (…) Ôi! than ôi! Kim Vân Kiều mà cai trị nước Việt Nam, thì xã hội Việt Nam không nói cũng biết rồi!…(2)
         Chắc phần đông các bạn cho rằng nhà chí sĩ họ Ngô Đức, vì đạo Khổng Mạnh, vì tiền đồ nòi Hồng Lạc, mà trọn đời “chẳng đội trời chung” với truyện Thúy Kiều. Nói một cách khác, cụ Nghè Ngô đã đứng về mặt luân lý, đã ở trong hàng ngũ chiến sĩ, mà gắt gao lên “án tử hình” quyển – nói theo cụ – “Trăm năm trong cõi người ta”, và suốt đời, không thèm nói đến “con đĩ Kiều”. Chính chúng tôi từ ấy nhẫn nay, cũng nghĩ như thế.
         Cho đến gần đây, rõ ràng hơn, là chỉ trước giỗ cụ Tiên Điền một tuần, một bạn văn bực đàn anh đã vui vẻ (và sung sướng nữa!) chỉ cho tôi biết cái “bé cái lầm” của mình, mà hẳn là của phần đông các bạn cũng nên, nhất là các bạn trẻ chưa quá nửa đời người. Anh bạn ấy đã đọc cho tôi nghe và đưa cho tôi xem đoạn văn dưới đây của ông Tú Phan Khôi. Đoạn văn này trước đăng trong tuần báo “Phụ nữ tân văn”, năm 1929 – còn hai năm nữa thì đúng 30 năm! – sau đăng lại trong tập “Chương Dân thi thoại”, xuất bản năm 1936.
         Nghĩ rằng lắm bạn đứng tuổi không còn nhớ, và nhiều bạn trẻ tuổi chưa được biết tài liệu có thể cho là đặc biệt và khó tìm này, nên chúng tôi nhân dịp ngày giỗ thứ 137 tác giả “Đoạn trường tân thanh”, chép lại đoạn văn vừa kể cho có thỉ có chung. Chúng tôi tưởng cũng cần ghi lại câu nói có vẻ hóm hỉnh này của anh bạn văn nói trên, trước khi anh đọc cho tôi nghe thi thoại:


                           Ai bảo cụ Ngô Đức Kế không thưởng thức truyện Kiều?

         Cả cuốn truyện Kim Vân Kiều, nhiều người cho rằng cụ Nguyễn Du mượn mà than thở cái thân phận lao đao của cụ. Thật vậy, lời phán đoán ấy chẳng những là đề chừng, mà lại còn có chứng cứ nữa. Có người đã được các cụ ở Nghệ Tĩnh ngày xưa thuật lại rằng lúc cụ Tiên Điền thảo cuốn vận văn tuyệt thế ấy xong, đưa cho mấy ông bạn xem, thì đã có ông hiểu đến cái nghĩa ấy rồi, mà còn hiểu hơn chúng ta bây giờ nữa, như câu:
                           Giờ ra thay bậc đổi ngôi,
                           Dám xin gởi lại một lời cho minh.
         Có ông giải là cụ Tiên Điền dùng câu ấy trách thầm vua gia Long, vì trước kia ngài vẫn nói tôn thờ nhà Lê, mà sau này lại lên ngôi hoàng đế. Lại câu:
                           Phòng khi nước đã đến chân
                           Dao này thì liệu với thân sau này.
         Chữ “sau” đó, nguyên văn cụ Tiên Điền là chữ “phận”. Nhơn trong khi đưa thảo xem, một ông bạn đổi chữ “phận” làm chữ “sau”, nói với cụ Tiên Điền rằng vì chữ “sau” giọng kêu hơn; nhưng kỳ tình vì bấy giờ cụ Nguyễn Du chưa chết, ông bạn kia sửa chữ “sau”, là có ý mong cho cụ về sau nếu có gặp sự bức bách gì thì sẽ chết cho trọn tiết. (Câu chuyện này do ông Ngô Đức Kế nói cho tôi nghe tại Hà Nội.)(3)
                           Phan Khôi



         Hẳn các bạn không còn lạ gì tính cương trực và khảng khái của ông Tú Phan Khôi. Một câu cuối cùng nằm trong hai ngoặc đơn đủ đánh tan mọi nghi ngờ, nếu chúng ta đã có ngờ nghi chút nào về sự có thật của thi thoại này. Vả lại, gần ba mươi năm nay, chưa có một ai lên tiếng đính chánh, phủ nhận hay hoài nghi nó.
         Ta có thể biết – nhân trường hợp đặc biệt của cụ Nghè Ngô – cho rằng các nhà nho đều thưởng thức truyện Kiều, không ít thì nhiều, dù có lúc vì đạo đức, vì chánh trị, vì chủ nghĩa mà nặng lời với tiếng đoạn trường của thi hào họ Nguyễn.



         Mà những ai đang bôn ba vì nghĩa lớn, lấy nước làm nhà, sống cảnh nằm gai nếm mật, thì đối với những “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm sa”, để bên tai, hay giẫm dưới cẳng, là lẽ đương nhiên, nhưng những khi trà dư tửu hậu – như trường hợp cụ Ngô Đức Kế – hay gặp lúc phải nằm co một chỗ – như cảnh cụ Phan Bội Châu sau đây – thì ít người quên “Mua vui cũng được một vài trống canh”, hoặc nhớ Kiều để “Mai sau dù có bao giờ…
         Người chí sĩ gan lỳ, trải qua bao gian lao trong nước, bao khổ nhục quê người là cụ Sào Nam, người đã từng cho mình:

                          “Vẫn là hào kiệt, vẫn phong lưu,
                           Chạy mỏi chân thì hãy ở tù!


thì lúc cầm một ngọn cờ hay khi nâng một ngọn bút, chắc chẳng hề cụ để tâm trí bận rộn vì những lời thơ trác tuyệt của Nguyễn Du. Song sau khi bị bắt đưa về nước, được đồng bào toàn quốc vận động, cụ được ân xá và đưa về Huế sống, thì dư luận phân vân, có khi ngờ vực.
         Làm thế nào để tỏ nỗi lòng?
         Nhà thơ của núi Hồng sông Lam liều đến với người chí sĩ “vùng đá sỏi”.(4) Và khoảng 1926, quốc dân nhận được mấy vần “Đoạn trường tân thanh” do người yêu nước có biệt hiệu Sào Nam tập thành:

                           Ví chăng xét tấm tình si,
                           Thiệt ta mà có ích gì đến ai.
                           Vội chi liễu ép hoa nài,
                           Còn thân thân ắt hẳn đền bồi có khi.
                           Sinh rằng: Từ thuở tương tri,
                           Tấm riêng riêng những nặng vì nước non.
                           Trăm năm tính cuộc vuông tròn,
                           Phải dò cho đến ngọn nguồn lạch sông.
                           Muôn đội ơn lòng!



         Có lẽ ngoài cái yên vui vì chưa đầy nửa cái ba trăm năm, mà thiên hạ có lắm người hiểu mình, thương mình, khóc mình, linh hồn Tố Như còn sung sướng vì hơn một kẻ “nặng vì nước non” đã nhắc, đã nhớ, đã nhờ mình.
         Còn chúng ta, có lẽ chúng ta không còn mỉm cười khi nghe Xuân Việt hỏi:

                           “Đất nào mang nổi Nguyễn Du?


Một đêm nhớ tác giả “Ai khóc Tố Như?”
TÂN FONG HIỆB

___________________________________
(1) Thương sầu oán mở đường tà dục mà tăng mối buồn rầu.
(2) “Chính học cùng tà thuyết”, Hữu Thanh tạp chí, số 21, ngày 1-9-1924.
(3) Chúng tôi cho in đậm cây này.
(4) Thành ngữ để chỉ vùng Nghệ Tĩnh, đá sỏi vốn nhiều, mà người cứng như sỏi đá cũng không ít.


BÁCH KHOA |  SỐ 17

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 09/02/2018, 23:13:07


           Tôi thương miền Trung
                                                 Gởi D.M.

            TÔI ở miền Nam nóng bỏng.
            Quê hương miền Bắc mờ sương,
            Có mây chiều vây bốn ngả,
            Gió tung hun hút bụi đường.

            NHƯNG miền Nam đầy nắng đổ;
            Bắc phương xa cách dặm trường,
            Tôi thương miền Trung nho nhỏ,
            Hiền lành như tóc thùy dương.

            LỐI ra Tuy Hòa bụi đỏ,
            Đường về Quảng Ngãi xa xôi.
            Bình Định hoa thơm vừa nở,
            Huế đỏ tím ngắt khung trời.

                                 ○

            TÔI đến miền Trung bỡ ngỡ,
            Dừa xanh rủ bóng thơ ngây,
            Tiếng hò sao mà thương nhớ,
            Âm vang từ xóm thôn gầy.

            BƠ vơ giữa hoàng hôn đổ,
            Tôi đi trong khói sương buồn.
            Xóm nghèo nên không quán trọ,
            Chùa xa nên vắng tiếng chuông.

            ĐỜI tôi như mây tám ngả,
            Như sao sa lạc lòng đêm.
            Cổng tre nhà ai bỏ ngỏ,
            Muốn vào nhưng ngại chưa quen.

            TÔI men hàng tre tới cổng,
            Nhìn qua bờ dậu, mái hiên,
            Có bà mẹ già đưa võng,
            Bên đèn có một… người em.

            ĐƠN sơ một manh áo mỏng,
            Gió lùa lành lạnh… êm êm.
            Chân run bước qua bực cổng,
            Tôi vào e ngại làm quen:

           “THƯA tôi là người lính chiến,
            Từ lâu yêu tiếng miền Trung.
            Về đây không ai hò hẹn,
            Lòng không mà nhà cũng không.”

            THẾ rồi từ đêm hôm ấy,
            Đèn khuya bóng ngả lung linh.
            Ngồi gần vào nhau cho ấm,
            Chuyện vui như một gia đình…

            NGÀY vui thường đi nhanh lắm.
            Một chiều trước cảnh tiễn đưa,
            Mẹ già cầm tay căn dặn:
            ― “Con ơi mạ vẫn đợi chờ.”

           “NGƯỜI em” mắt buồn như suối,
            Nhìn trời… nắng đóng bờ mi,
            Lặng lẽ thở dài ái ngại:
            ― “Buồn không… anh đi… chiều ni…”

                                  ○

            QUA tháng năm dài cách trở,
            Tôi chưa về được miền Trung.
           “Mạ” tôi chờ tôi đầu ngõ
            Em tôi… chưa đi lấy chồng…

            TÔI hẹn mùa thu nắng đổ,
            Về thăm Quảng Ngãi mây hồng,
            Có bông cúc vàng sắp nở,
            Chiều “ni” thương về miền Trung.


                                          Miền Nam đêm tháng 8-57
                                          VĂN QUANG


BÁCH KHOA |  SỐ 17

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 12/02/2018, 20:36:22
BÁCH KHOA |  SỐ 18  [1 tháng Mười  1957 |  82 trang]

MỤC LỤC
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: nước Anh [II] |  1-5
Phan Văn Trí |  Vai tuồng cán bộ hợp tác xã |  6-10
Vũ Thừa Chi |  Vết nứt rạn đầu tiên của Cộng sản quốc tế: Vụ Ti-Tô [III] |  11-15
Hư Chu |  Tìm hiểu cổ thi: Vấn đề lập ý trong thơ Đường luật |  16-19
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 14 |  19
Trần Văn Khê |  Nhạc phương Đông, nhạc phương Tây [III] |  20-31
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 17 |  31
Bách-Khoa |  Tích truyện “Mãi Cốt” |  31
Phùng Bá Khanh |  Văn tự tượng hình |  32-35
Bách-Khoa |  Nhất ty phù cửu đỉnh |  35
Thuần Phong |  Đất nước trong ca dao [II] |  36-41
Nguiễn Ngu Í |  Trần Hưng Đạo: một Người và một Anh hùng dân tộc |  42-47
Từ-Quyên Đặng Văn Nhâm |  Tìm hiểu kiến trúc Văn Miếu, Đền thờ Đức Khổng Tử ở Việt Nam |  48-51
Bách-Khoa |  Đức hạnh cũng như hương thơm |  51
Phan Lạc Tuyên |  Đường lên Tây Bắc (thơ) |  52
Quảng cáo |  53
Á-Nam Trần Tuấn Khải |  Đường thi dịch giải: Yên ca hành \ Cao Thích |  54-56
Yã Hạc & Trinh Nguiên |  Chim họa mi và bông hường đỏ |  57-62
Quảng cáo |  63-66
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  67-75
Quảng cáo |  68, 70, 72, 76-82


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204214206-0f0a3a35433fe6c93ead48421d0c55df/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 12/02/2018, 21:00:48


Tìm hiểu cổ thi: Vấn đề lập ý trong thơ Đường luật

ĐỌC THƠ CỔ, nếu là người chu chí, tất ai ai cũng nhiều khi phải băn khoăn về cái chuyện thi đề. Thật vậy, trong tất cả những tập cổ thi lục hiện đang được lưu hành, thì cứ chừng mười bài thơ, tôi đã thấy có đến ba, bốn cái thi đề không thích đáng. Đây, xin hãy nghe xem:

                       Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
                       Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
                       Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
                       Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
                       Từng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
                       Ngõ trúc quanh co khách vắng teo,
                       Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
                       Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

                                                         (Yên Đổ)

         Bài đó như vậy mà các nhà thi học lại đặt tên là Thu điếu thì ta nên nghĩ phải hay không? Thu điếu có nghĩa là mùa thu câu cá, thì chữ thu đành rồi, song họ sẽ giải thích thế nào cho ta về chữ điếu, trong khi cái phần quan trọng nhất của bài, là bốn câu thực luận, không hề tả sự câu cá, mà chỉ tả cái quang cảnh ao thu?
         Đây, xin lại kể thêm bài nữa:

                       Chiều trời bảng lảng bóng hoàng hôn,
                       Tiếng ốc xa đưa lẫn trống dồn.
                       Gác mái ngư ông về viễn phố,
                       Gõ sừng mục tử lại cô thôn.
                       Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi,
                       Dặm liễu sương sa khách bước dồn.
                       Kẻ chốn chương đài người lữ thứ,
                       Lấy ai mà giãi nỗi hàn ôn.

                                                (Thanh Quan)

         Bài này thì Nguyễn Văn Ngọc đặt là Cảnh chiều hôm, còn Dương Quảng Hàm thì Trời hôm nhớ nhà. Vậy nó nên là Trời hôm nhớ nhà hay Cảnh chiều hôm? Mà không lẽ nó lại nên có cả hai cái thi đề ấy, trong khi… trong khi nó lại cần phải có một cái tên nào khác để nêu ra đủ hai cái ý quan trọng nhất là giữa đường xangày sắp hết?
         Nào, những ai đồng ý với tôi mà đặt tên hai bài trên, một gọi Trên ao thu và một gọi Đường chiều?
         Những bài thơ cổ của ta sở dĩ đã có cái tình trạng lôi thôi về thi đề như vậy, ấy là do ba lẽ:
         1.– Cổ nhân không thích đặt thi đề: rất nhiều bài thơ chỉ được tác giả có làm mà không có gọi.
         2.– Cổ nhân không coi trọng thi đề: tác giả có thể đẽo gọt một thi cước suốt ba năm, nhưng ít khi chịu tìm đặt một thi đề cho thích hợp. Và do đó, khi thì đặt rất hàm hồ như ngẫu cảm, ngẫu hứng, cảm hứng, cảm hoài, vô đề, hoài cổ… khi thì đặt rất dài dòng như Nghe sáo trên sông tiễn quan thị ngự họ Lục. Tại sông Khúc sau lúc say tặng các người thân
         3.– Cũng vì không coi trọng thi đề, nên nghe đọc thơ của người khác, cổ nhân tất là chẳng mấy khi cần hỏi rõ và cần nhớ kỹ tên bài để khẩu truyền cho hậu thế. Thế rồi vì không biết được hoặc không thấy có, các nhà thi học đời sau đã tự ý mỗi người đặt cho mỗi bài một cái tên gọi; và lẽ tự nhiên rằng, văn chương tự cổ vô bằng cứ, cũng một bài một câu một chữ, đã dễ ai mà hiểu đúng như ai.
         Các nhà thi học đời nay đã có nhiều khi đặt ra những thi đề thất đáng, mà nếu quả như vậy thì tuy bởi họ đã hơi sơ suất, nhưng tôi thấy thật cũng là bởi cái cách lập ý quá phóng phiếm của tiền nhân. Thì ta hãy phân tích một bài này:

                       Năm gian nhà cỏ thấp le te.
                       Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.
                       Lưng giậu phất phơ mầu khói nhạt,
                       Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
                       Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt,
                       Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
                       Rượu tiếng rằng hay hay chẳng mấy.
                       Độ dăm ba chén đã say nhè.

                                                  (Yên Đổ)

         Đọc bài thơ trên, một bài mà nhà thi học Dương Quảng Hàm gọi là Thu ẩm, tôi đã phân vân mãi mà thật vẫn chưa biết nên chính danh lại thế nào cho hợp lý. Đặt là Thu ẩm? nhưng tại sao lại “ẩm” trong khi suốt cả năm câu đầu chỉ tả cái cảnh một đêm thu ở chỗ sân nhà? Còn nếu đặt là đêm thu thì trong ba câu cuối, trong những ba câu cuối, làm gì có ý tả về đêm và “thu”? Xem đến đây, chắc cũng có người nghĩ: đặt là đêm thu thì thiếu uống rượu, đặt là uống rượu thì thiếu đêm thu, vậy há còn phải dài lời chi với cái thi đề thu ẩm, hay chu toàn hơn, thu dạ ẩm? Nghĩ như thế thì cũng đúng, nhưng đúng mà tôi thấy chỉ đúng ở cái sự “thu xếp cho gọn việc”, chứ thật chưa thể đúng ở phương diện lập ý: một bài thơ, nhất là một bài thơ Đường luật, có thể nào chia ra hai phần riêng rẽ, năm câu trên chuyên tả một ý này, mà ba câu dưới chuyên tả một ý kia đâu! Kìa, ta hãy cứ tạm nói ngay trong thể văn xuôi, với cái đầu bài “thu dạ ẩm”, thì một nhà văn nào hay một thí sinh nào dám năm phần bài tả toàn đêm thu và ba phần bài toàn uống rượu?
         Để chứng minh thêm rằng những danh sĩ đời xưa cũng có nhiều khi đã cẩu thả trong việc lập ý, tôi xin nêu ra đây một bài thơ của Thôi Hiệu. Bài này là một bài đề lầu Hoàng hạc, một bài mà thi giới kim cổ đã cho là quán tuyệt cổ kim về loại hoài cổ theo thể thất ngôn bát cú, một bài mà đến ông vua thơ Lý Bạch cũng phải khâm phục cầm bút viết: “Trước mặt có cảnh mà nói không được vì có thơ Thôi Hiệu ở trên đầu”.
         Xin chép lại:

                       Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ
                       Thử địa không dư Hoàng hạc lâu
                       Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
                       Bạch vân thiên tải không du du
                       Tình xuyên lịch lịch Hán-dương thụ
                       Phương thảo thê thê Anh-vũ châu
                       Nhật mộ hương quan hà xứ thị
                       Yên ba giang thượng sử nhân sầu.


         Bản dịch của Tản Đà:

                       Hạc vàng ai cưỡi đi đâu
                       Mà đây Hoàng hạc riêng lầu còn trơ
                       Hạc vàng đi mất từ xưa
                       Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay
                       Hán-dương sông lạnh cây bầy
                       Bãi xa Anh-vũ xanh dầy cỏ non
                       Quê hương khuất bóng hoàng hôn
                       Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.


         Đọc bài thơ trên và cứ xét từng câu từng chữ, thì tôi dám chắc ai cũng phải chịu nó là kiệt tác. Nhưng ta sẽ nghĩ sao nếu xét toàn bài mà cân nhắc cái tình ý của tác giả ở trong hai câu kết đối với sáu câu đầu? Theo tôi thì bài thơ này đã hỏng về phương diện lập ý, hỏng vì trong khi còn cần phải tiếp diễn cái ý hoài cổ:

                       Tích nhân dĩ thừa Hoàng hạc khứ
                       Thử địa không dư Hoàng hạc lâu
                       Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản
                       Bạch vân thiên tải không du du
                       Tình xuyên lịch lịch Hán-dương thụ
                       Phương thảo thê thê Anh-vũ châu


… thì bỗng nhiên tác giả lại bỏ bẵng ngay đi mà quay ra đột ngột:

                       Nhật mộ hương quan hà xứ thị
                       Yên ba giang thượng sử nhân sầu.


         Nói cho hết lẽ thì tôi cũng chịu nhận rằng lúc bấy giờ Thôi Hiệu lên lầu Hoàng hạc, trong lòng ông ta thật đã có phát cảm ra hai mối tình, một là tình hoài cổ và một là tình hoài thổ. Nhưng luận theo cái tâm lý chung của con người thì lẽ hẳn là hai mối tình này không thể nào ngẫu sinh đồng thời, mà tất phải vào hai đợt cảm nghĩ. Chẳng hạn, một lưu lạc khách khi ghé thăm núi Dục Thúy thì có thể vừa hoài cổ vừa hoài thổ, nhưng lẽ bao giờ mà khách lại tự nhiên song hoài ngay trong một lúc để than gọn một câu rằng: “Chao ôi, chốn này trải bao dâu bể mà vẫn còn lưu lại di tích của cụ Trương xưa; trông sương đầu non, ta nhớ quê hương mà buồn nát dạ!”?
         Bởi nghĩ như vậy, nên tôi trộm tưởng bài thơ này thật đã có một khoảng trống rất lớn về thi tứ ở giữa luận và kết; và lẽ tất nhiên là tôi phải lấy làm tiếc cho Thôi Hiệu, đã muốn góp chung hai mối tình đó trong một bài thơ duy nhất, mà lại đem biệt tả một cách quá rành rẽ ở hai phần. Kìa, ta xem như một bài hoài cổ của Thanh Quan:

                       Tạo hóa gây chi cuộc hí trường,
                       Đến nay thấm thoát mấy tinh sương.
                       Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo,
                       Nền cũ lâu đài bóng tịch dương.
                       Đá vẫn bền gan cùng tuế nguyệt,
                       Nước còn cau mặt với tang thương.


…Bài này, ta sẽ phê bình ra sao về cách lập ý, nếu tác giả không đặt:

                       Nghìn năm gương cũ soi kim cổ,
                       Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.


         Mà lại đặt:

                       Trời hôm cố quận nơi nao nhỉ,
                       Cảnh đấy người đây luống đoạn trường.


hoặc:

                       Quê nhà lữ thứ nay đành đã,
                       Ai kẻ hàn ôn chỗ chiếu giường.


HƯ CHU


BÁCH KHOA |  SỐ 18

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 13/02/2018, 21:55:59


Văn tự tượng hình

NGÀY NAY, hầu hết thế giới đều dùng (trừ một số quốc gia theo Hồi giáo có kiểu mẫu tự riêng), hệ thống an-pha-bê, do dân Phéniciens khởi sáng, làm phương tiện ghi chép tư tưởng của loài người. Tuy nhiên, cũng có nhiều chủng tộc, vì lạc hậu, hoặc vì tập quán lâu đời, vẫn phải duy trì phương pháp họa hình (système pictographique) trong văn tự, như từ thủa muôn vạn năm xưa.
         Lối văn tự tượng hình hay họa hình có khi còn rất thô sơ như kiểu viết của dân Indiens ở châu Mỹ và dân Esquimaux ở vùng Bắc Cực.
         Gần đây, người ta tìm thấy nhiều cuốn niên lịch bằng da trâu của dân da đỏ Dakotas thuộc vùng Alaska, Bắc Mỹ. Thổ dân này đã dùng vật nhọn mũi mà vạch, lên da trâu phơi nỏ, tỷ như một hình người có nhiều chấm nhỏ ở toàn thân, để ghi một nạn dịch đậu mùa hay ban đỏ; hay vạch một hình nhân có nhiều tia dài nơi cửa miệng, để “kỷ niệm” một trận dịch ho gà của trẻ nhỏ…
         Lối văn tự họa hình của dân Esquimaux cũng không khác mấy, nhưng họ không dùng da trâu, mà dùng gỗ hay xương cốt súc vật.
         Xét ra, lối văn tự tượng hình đã có ngay từ Thái cổ do các dân tộc Trung Hoa, Á Rập và Ai Cập v.v… phát minh.
         Bằng lối cổ tự (hiéroglyphes), người Ai Cập thủa xưa đã “viết” chữ đại khái như sau:
         Muốn viết chữ “SAO”, họ vẽ một điểm tròn có phụ thêm năm tia nhỏ từ điểm đó tỏa ra các phía. Muốn viết chữ “ĐÊM”, họ vẽ một vòng cong hình bán nguyệt úp sấp, rồi thêm một ngôi sao ở phía dưới. Muốn viết chữ “TÉ”, họ vẽ hình một bức tường nghiêng đổ. Muốn viết chữ “ĐỘI”, họ vẽ một đầu người có cái lọ để trên…
         Người Á Rập xưa cũng dùng phương pháp đó. Nhưng về sau, họ cải biến và đơn giản hóa dần dần, cho tới mức chỉ còn là những dấu hiệu (signes), không ăn nhịp gì với lối tượng hình nguyên thủy.
         Sau khi xét qua những kiểu viết của dân Esquimaux, Indiens ngày nay hay của dân Ai Cập, Á Rập ngày xưa, rồi so sánh với Hán Tự, ta thấy rằng lối chữ tượng hình của người Trung Hoa hoàn hảo hơn nhiều, nhưng rất rườm rà, cầu kỳ và khó nhớ.
         Thoạt kỳ thủy, người Trung Hoa cũng chỉ biết “viết” một cách thô sơ như kiểu Á Rập và Ai Cập nói trên, nghĩa là họ vẽ theo gần đúng hình hài của những vật mà họ muốn ghi chép.
         Tỷ như, họ đã viết chữ “NHÂN” giống với hình người; chữ “MỤC” giống con mắt; chữ “NHĨ” giống cái tai; chữ “KHẨU” giống cái miệng; chữ “HỎA” giống ngọn lửa cháy; chữ “XUYÊN” giống giòng sông chảy; chữ “SƠN” giống dãy núi ba chòm; chữ “MÔ giống con ngựa; chữ “NGƯ” giống con cá; chữ “ĐIỂU” giống con chim.
         Nhưng về sau, người Trung Hoa thấy rằng nếu cứ vẽ nguyên hình các đồ vật và súc vật, thì vừa mất thì giờ, vừa trông rắc rối không đẹp, nên họ đơn giản hóa và hoa mỹ hóa dần dần, khiến cho ngày nay, ta mới có những chữ Hán gọn gàng và đẹp mắt.
         Bằng chứng là hiện thời, mặc dầu đã có quốc ngữ, người Việt vẫn ưa dùng chữ Hán, nhứt là kiểu chữ Triện (Caractères calligraphiques), trong việc trang sức thân thể, cũng như việc trang hoàng phòng khách, bàn thờ, đình, chùa, nghè, miếu… khác nào, vào hồi thế kỷ 17 và 18 trở đi, người Âu châu đã ưa dùng kiểu chữ Gothique do người Đức đặt ra.
         Một đặc điểm của Hán Tự là ngoài lối viết tượng hình, lại còn lối viết hội ý (écriture idéographique).
         Tỷ như, để tả anh thợ săn bắn chết mười con sư tử, người ta liền vẽ một cái nỏ (arbalète) căng dây, hướng vào hình vẽ của mười con sư tử. Nhưng để đỡ tốn công, người đời sau chỉ vẽ mười cái đầu sư tử, có mũi tên dài xuyên thủng ngang qua. Rồi người đời sau nữa lại đơn giản hóa đến mức tối thiểu…
         Đó là cách dùng một phần làm tiêu biểu cho toàn thể hay dùng một vài vật hữu hình rồi xếp đặt lại để gợi ý tới những vật trừu tường, vô hình dung hay không cụ thể.
         Cho nên, người Trung Hoa đã viết hai chữ “MỘC 木” để chỉ cái rừng (Lâm 林), hay ba chữ “MỘC” thành chữ “SÂM 森” để tả cái cảnh cây cối um tùm rậm rạp.
         Đồng thời, Hán Tự, với hai cái dấu chân bước, nếu ở trên gạch ngang là chữ “THƯỢNG 上”, nếu ở dưới gạch ngang là chữ “HẠ 下”; một gạch ngang đặt ở trên chữ “THỔ 土” thành chữ “VƯƠNG 王” với ngụ ý rằng nhà Vua có quyền hành hơn hết mọi người trên trái đất; một gạch ngang đặt trên chữ “ĐẠI 大” thành chữ “THIÊN 天” với hàm ý rằng Trời là lớn nhất trong Vũ Trụ; một dấu chấm điểm trên đầu chữ “VƯƠNG” thành chữ “CHÚA 主”, nếu điểm bên cạnh chữ “VƯƠNG” thành chữ “NGỌC 玉”.
         Về chữ “VIẾT 曰” là nói, theo Hán Tự, thì chữ “TẢ” nghĩa là “VIẾT” (écrier), còn chữ “VIẾT” nghĩa là “NÓI” (dire); như trong câu “KHỔNG TỬ VIẾT”, người ta chỉ việc chấm thêm một điểm ngang vào giữa chữ “KHẨU 口”, để tỏ rằng khi mồm há ra và lưỡi lo le, tức là “NÓI” vậy. Ngoài ra, chữ “TÙ 囚” gồm có chữ “NHÂN 人” (người) trong một cái khung như bốn bức tường đóng kín; chữ “SẦU 愁” gồm có chữ “THU” ở trên chữ “TÂM”, (Thu tâm ai gợi lên sầu?!!) để tả nỗi buồn mỗi độ thu sang với hoa tàn lá úa…
         Nhưng không hiểu tại sao, người Trung Hoa thượng cổ lại khinh thường bạn nữ lưu quá xá?! Bằng chứng là người Trung Hoa đã qui tụ ba chữ “NỮ 女” là con gái, để làm thành một chữ “GIAN 姦” nghĩa là kém đoan trang và bất chính. Âu, một phần cũng là nhờ chữ Hán, mà ta biết thêm cái óc “Trọng nam khinh nữ” của dân tộc Á Đông thủa xưa vậy.
         Ngoài ra, cũng nhờ Hán Tự mà ta có thể tìm hiểu được phần nào về trạng thái xã hội thời Phong kiến phôi thai. Tỷ như chữ “QUẦN” là “BẦY” (troupeau), đem phân tách ra, ta thấy chữ “QUẦN 羣” hợp lại bởi chữ “QUÂN” là ông Vua, là người cầm đầu, và chữ “DƯƠNG” là con dê; như vậy, xã hội cổ Trung Hoa cũng đã sống bằng nghề chăn dê, nghề du mục. Hay cũng chính chữ “QUẦN”, nhưng nghĩa là cái quần (pantalon): chữ “QUẦN 裙” này gồm có “QUÂN 君” là vua, là người cầm đầu và chữ “Y 衣” (theo nghĩa cổ) nghĩa là vật che thân thể, có khi bằng lá cây hay da muông thú… Như vậy, có lẽ, về thời Thái cổ, trong mỗi bộ lạc, chỉ có một mình viên đầu xỏ là được mặc quần, còn bao nhiêu bộ hạ đều phải cởi truồng hay đóng khố. (?)
         Tóm lại, lối văn tự tượng hình và hội ý của người Trung Hoa thật là tinh vi, ý vị và phong phú, khiến cho không thể nào hiểu xiết được.
         Để dẫn chứng, chúng tôi xin giới thiệu bộ “KHANG HI TỰ ĐIỂN” là một, trong những bộ sách có giá trị nhứt của Văn học sử Trung Hoa. Bộ Tự vị này xuất bản cách đây gần 300 năm, dưới Trào vua Khang Hi (Kang-Hai) tức Thanh Thánh Tổ (1662-1722). Cuốn sách này được soạn thảo rất công phu, hàng mấy năm trời, với sự cộng tác của toàn thể văn quan trong Triều và các bậc sĩ phu trứ danh trong nước.
         Ấn hành trên giấy “tàu bạch” vừa tốt, vừa mỏng và bóng, bộ Khang Hi Tự Điển gồm có 12 đại tập ghi tên theo thập nhị CHI (từ Tý, Sửu… đến Tuất, Hợi); mỗi đại tập lại chia làm 3 tiểu tập, tỷ như Tý thì chia ra “TÝ TẬP THƯỢNG”, “TÝ TẬP TRUNG”, “TÝ TẬP HẠ”.
         Bộ Khang Hi Tự Điển này, mà tôi nhận thấy nó chứa tới 45.000 chữ Hán. Ấy là chưa kể những tiếng mới mượn của Âu-Mỹ và những tiếng vì nhu cầu mới được đặt ra trong khoảng gần trăm năm nay, như ta đã thấy trong lối văn “Bạch Thoại” (Pạc Và) hiện thời.
         Chữ HÁN đã nhiều lại khó viết, khó nhớ; vì không có mẫu tự, nên học chữ nào là chỉ biết một chữ ấy thôi. Hơn nữa, nếu sai một ly, sẽ đi một dặm. Tỷ như chữ “ĐIỀN 田”, nếu nét sổ ở giữa thò lên sẽ thành chữ “DO 由”, thụt xuống sẽ thành chữ “GIÁP 甲”, nếu vừa thụt, vừa thò, sẽ thành chữ “THÂN 申”…
         Chính vì thế mà năm 1955, Ông Wei Chueh, Chủ tịch Ban Cải cách Hán tự đã phải phàn nàn với ký giả Anh Cát Lợi Jamcs Cameron như sau:
         “Ở nước tôi, một em học sinh mười tuổi phải học tới 200 chữ; nếu muốn đọc nhựt báo, ít nhứt phải hiểu 7.000 chữ. Các nhà in nước tôi, tối thiểu, phải có 35.000 chữ đúc. Chúng tôi không có an-pha-bê, nên không thể dùng máy chữ được. Về điện tín, chúng tôi phải đếm nét chữ, rồi đổi ra con số (chiffres). Như vậy, việc giáo dục ở nước tôi ngăn trở rất nhiều, và văn hóa bị chậm tiến. Cho nên, chúng tôi nhất quyết phải cải cách Hán Tự, để theo kịp trào lưu tiến hóa của Tây phương”…


PHÙNG BÁ KHANH

____________________________________________
Tài liệu tham khảo:
Le premier alphabet de l’homme của Johannes Lowenstein;
Les hommes fouymis (les Chinois) travatllent của J. Cameron;
La définition du mot “Ecriture” của Paul Augé;
– Phần cổ văn trong bộ Khang Hi Tự Điển.


BÁCH KHOA |  SỐ 18

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 13/02/2018, 22:56:15


                  Đường lên Tây Bắc
                                                 Thân tặng các chiến hữu
                                                 Chiến Dịch Tây Bắc 1952-1953

            NHỚ về chiến dịch ngày nào,
            Đường lên Tây Bắc núi cao biếc trời.
            Sơn La dằng dặc núi điệp trùng;
            Nước bầu cơm ống súng đeo lưng,
            Thân Uyên gió cuốn mù bụi đá,
            Lửa sáng rừng đêm gợi nhớ nhung.
            Tsin-Ho đèo cao người ngựa mỏi,
           “Sạn đạo” xứ Thái mây vời cao.
                     Hun hút Đà Giang,
                     Đoàn quân biên cương,
            Phong thổ mấy mùa lưu động chiến,
            Vắt muỗi đầy rừng rét thấu xương.
            Pa-Ma hoang vu không suối nước,
            Nhựa chuối từng hơi thay nước uống.
                     Rau mương nha phiến,
                     Cơm ướt sương đêm.
            Phiên gác trăng rừng áo vá lưng,
            Súng địch bên sông hoa lửa đỏ,
            Reo hờn hốc núi đạn tua sao,
            Nằm gối súng mưa rừng run rẩy lạnh,
            Vượn hú buồn heo hút giữa rừng lau.
            Biên thùy Trung Hoa lửa sầu dâng cao,
            Viễn xứ đêm trăng lạnh áo bào.
            Thương nhớ đường về quê cũ,
            Từ quy khắc khoải hơi sương,
            Đèo cao mây đi tha hương…


                                          PHAN LẠC TUYÊN


BÁCH KHOA |  SỐ 18

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 14/02/2018, 21:26:37
BÁCH KHOA |  SỐ 19  [15 tháng Mười  1957 |  82 trang]

MỤC LỤC
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: nước Anh [III] |  1-4
Nguyễn Sung |  Tiểu công nghệ gia và các sắc thuế |  5-10
Hoàng Thái Linh |  Tự tử |  11-18
Bách-Khoa |  Quan hệ vua tôi hay quan hệ trên dưới |  18
Hư Chu |  Vấn đề nhất khí trong lối thơ Đường luật |  19-22
Bách-Khoa |  Lòng kẻ kiêu ngạo |  22
Nguiễn Hữu Ngư |  Lê Lợi: hình ảnh của dân tộc Việt |  23-36
Bách-Khoa |  Khẩu khí của một nhân tài |  36
Việt Tử (trích dịch) |  Người quét đường \ J. Rousselot |  37-38
Đông Xuyên |  Vũng nước (thơ) |  39
Thuần Phong |  Đất nước trong ca dao [III] |  40-48
Cô Liêu |  Nhân đọc “Nhập thiên thai” của Vũ Khắc Khoan |  49-53
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 16 |  53
Quảng cáo |  54-55
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 16, 17, 18 |  56-57
Bách-Khoa |  Bao giờ, dù sao, ta cũng chỉ là người |  57
Văn Quang |  Nguyện (truyện) |  58-63
Bách-Khoa |  Tác pháp tự tệ |  63
Quảng cáo |  64
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [II] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  65-77
Quảng cáo |  66, 68, 70, 72, 74, 76, 78-82


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204214303-b2bd60a06c9e5598152adc644b352d68/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 14/02/2018, 22:00:39


Tự  tử

Chỉ có một vấn đề triết lý thực sự quan trọng: việc tự tử.
Suy tính xem đời đáng sống hay không
là trả lời câu hỏi căn bản của triết học.
A. CAMUS (Le mythe de Sisyphe, trang 15)

Ý THỨC là ơn huệ đặc biệt của con người đồng thời cũng là mối lo âu lớn lao nhứt. “Người là con vật biết rằng mình sẽ phải chết” (Bergson).
         Đã đành tôi không thể hỏi tại sao tôi đã sinh ra ở đời này, vì sự sống là một sự kiện tồn tại trước khi có ý thức. Khi tôi ý thức được đời sống, nó đã có đấy rồi. Cho nên tôi không thể muốn hay không muốn sinh ra, vì việc tôi sinh ra đã xẩy ra ngoài ý muốn tôi. Nhưng tôi có thể chấp nhận hay từ chối đời sống đó. Vấn đề này không ai tránh được: mỗi người đều phải suy nghĩ xem cuộc đời mình có ý nghĩa gì không, vì số mệnh của mình trực tiếp liên hệ đến ý nghĩa mình muốn gán cho cuộc sống. Nếu đời không có lẽ sống, ta có được quyền tiêu diệt nó bằng một cử chỉ điên rồ hay sáng suốt không? Luân lý trả lời: “Người là một vật có thể tự sát nhưng không được phép làm”. Vậy tại sao tôi không được phép tự giết.
         Trước khi bàn luận về vấn đề có được phép tự tử hay không, ta xác định thế nào là tự tử. Tự tử là cử chỉ của một người tiêu hủy đời mình. Nhưng định nghĩa như thế còn mơ hồ. Người hoa tiêu khi thua trận hủy tàu mình điều khiển đồng thời chết theo nó để tàu khỏi lọt vào tay quân địch, người can đảm chết cháy khi liều xông vào nhà đương cháy để cứu người bị lửa bao vây trong nhà đó đều là những người tự giết cả, nhưng không thể gọi là tự tử, vì mục đích hành động không phải tự sát mà là để cứu vãn một giá trị luân lý, hay chu toàn một bổn phận. Vậy tự tử là coi việc tự sát làm cứu cánh cử chỉ tự sát. Trong hai trường hợp kia, ta gọi là Hy sinh.
         Luân lý kết án tự tử và ca tụng việc tự sát hy sinh. Nhưng tại sao người đi tự tử bất chấp dư luận kết án. Vì họ nghĩ rằng họ có quyền tiêu diệt đời sống, khi đời sống đó là của họ. Nếu tôi làm chủ đời tôi, tại sao không được hủy bỏ nó khi tôi thấy nó vô dụng, làm cho tôi đau khổ. Như vậy, vấn đề tự tử liên quan đến Tự Do. Sở dĩ tôi được quyền tự sát là vì tôi tự do, có thể quyết định và lựa chọn theo ý muốn. Cấm tôi xử dụng đời tôi, tức là phủ nhận tự do của tôi, nghĩa là đặt tôi ngang hàng với sự vật phải hoàn toàn tuân theo những định luật tất yếu của vũ trụ vật chất. Con vật không thể tự tử vì nó không có tự do.
         Xã hội sẽ cãi lại: anh không dược tự do tuyệt đối xử dụng đời anh, vì đời anh cũng là của chúng tôi. Xã hội kết án tự tử vì nó là một lối thoát nợ đời. Cá nhân từ khi sinh ra đã mắc nợ đời rất nhiều. Xã hội (cha mẹ, nhà trường, tổ quốc v.v…) nuôi nấng giáo dục, đào tạo, là để về sau người được hưởng thụ sẽ trả lại cho xã hội. Đó là luật vay trả, trả vay. Tự tử tức là xóa bỏ khế ước anh đã ký kết với xã hội lúc sinh ra.
         Nhưng lý lẽ đó không thuyết phục được người tự tử. Nếu ý nghĩa cuộc đời tôi chỉ thu hẹp vào một khế ước tại sao bắt tôi trung thành với nó khi một bên (xã hội) đã phản bội nó.
         Montesquieu nói giùm cho người tự tử: tại sao người ta muốn tôi làm việc cho một xã hội mà tôi không còn ưng thuận nữa, tại sao tôi bị bó buộc bằng một quy ước ký kết ngoài ý muốn tôi. Xã hội xây trên nguyên tắc lợi chung, nhưng nếu xã hội trở nên thiệt thòi cho tôi, ai có quyền cấm tôi bỏ xã hội đó (Lettres persannes).
         Sở dĩ tôi phải bỏ xã hội, không phải vì tôi không muốn cộng tác với xã hội. Tôi biết rằng tôi không thể sống ngoài xã hội. Tôi là con người xã hội. Nhưng chính xã hội đã ném tôi ra khỏi Đoàn thể, đẩy tôi vào tình trạng cô đơn tuyệt vọng. Mà không ai có thể sống cô đơn được, vì sống là sống thiết yếu ở đời và với người khác. Do đó, chính xã hội trách nhiệm sự thoát ly của tôi. Những tổ chức, chế độ, điều kiện sinh sống chà đạp, áp bức, cá nhân tôi chỉ còn là một phần tử, một bộ phận vô nghĩa lý trong guồng máy xã hội khổng lồ, vô ngã.
         Paunl Lansberg, triết gia Đức, đã nói: “Bao lâu xã hội còn đẻ ra những lầm than vật chất, tinh thần, cho xã hội quyền kết án những kẻ muốn thoát khỏi sự áp bức của xã hội bằng cái chết là một vụng về, thiếu sáng suốt” (Essai sur L’expérience de la mort).
         Như vậy xã hội không thể kết án tự tử chỉ nhân danh một khế ước, vì không có lý gì bắt người bất mãn với khế ước đó rút lui, khi khế ước đó trở nên thiệt hại. Cho nên, nếu xã hội muốn kết án tự tử, phải đứng trên lập trường luân lý cao hơn lập luận vị lợi của tinh thần khế ước, nghĩa là căn cứ vào một quan niệm siêu hình về con người như sẽ bàn sau đây.
         Lý do thứ hai thường được viện ra để kết án tự tử là sự xúc phạm đến nhân phẩm con người. Đời sống tốt đẹp, nhất là vì chỉ con người ý thức được vẻ tốt đẹp đó. Con người là một giá trị vô song, nếu mất rồi thì không thể lấy lại được. Nhận thức đó bao hàm lòng yêu chuộng kính trọng giá trị nói trên, đồng thời đòi hỏi nỗ lực phát huy cho nó phong phú thêm lên mãi. Tự tử là khinh rẻ giá trị nhân phẩm, hơn nữa còn là giết con người phổ biến, bản tính nhân loại trong mình như Chesrterton nói: “Cái gì là đối tượng của tự tử? Là cái tôi. Nhưng có phải tôi diệt cái tôi không? Không, chính là tiêu diệt nhân loại thế giới”.
         Nhưng vấn đề là xem người sắp tự tử có thể nghĩ như vậy không? Thực sự luận điệu trên chỉ là những lời nói đẹp của người đang sống thanh bình thỏa mãn về cuộc đời. Nói cách khác, người tự tử không có những điều kiện vật chất và tinh thần của người bằng lòng với cuộc sống để nhìn thấy vẻ cao cả của nhân phẩm, nhân vị.
         Thiết thực, trong tâm trạng sắp tự tử, nhân phẩm, nhân vị v.v… chỉ là những danh từ đẹp, trừu tượng và trống rỗng. Tôi không thấy nhân phẩm trong tôi, cũng không thấy đâu cả nhưng người ta vẫn nhân danh nó để cấm đoán tôi. Vậy chỉ có một lối thoát khỏi sự áp bức vô lý đó là tự ra khỏi thân phận làm người.
         Lý do thứ ba kết án tử tự: sự hèn nhát vì không dám đương đầu với những khó khăn của cuộc đời. Nhiệm vụ làm người là phải lướt thắng mọi khó khăn và chinh phục cả cái chết nữa, vì không còn gì quý hơn sự sống. Chết là một điều xấu. Nhưng sống khó khăn lắm, vì đòi hỏi nhiều cố gắng, gian khổ. Tự tử tức là sợ gian khổ, chọn một giải pháp dễ dãi. Đó là thái độ hèn nhát của kẻ chiến bại. Thua trận là điều nhục nhã. Nhưng không gì nhục hơn là đang khi giao chiến tuyên bố đầu hàng trước khi thua. Những người kinh doanh to lớn, những nhà chính trị lẫm liệt một thời phút chốc sa cơ lỡ thế, nhìn ngắm sự nghiệp của mình tan như mây khói, đôi khi còn lo âu trước viễn ảnh nhà tù, trại giam, cực hình chờ đợi. Họ không đủ can đảm xây lại cuộc đời hay chịu đựng những thử thách của ngày mai, thế là họ bỏ cuộc, quyên sinh… Nhưng lý luận đó chứa đầy tính chất trừu tượng của những kẻ đứng ngoài cuộc. Giả thử đặt mình vào hoàn cảnh người trong cuộc, có lẽ họ sẽ không dám lên giọng đạo đức kết án một cách quá dễ dàng như vậy. Đứng ngoài cuộc, bắt người khác anh hùng, ai chả làm được. Cho nên, dù tự tử, khách quan mà nói, có phải là hèn nhát đi nữa, kẻ biết tôn trọng sự đau khổ của một người ngay lành oan uổng hay của kẻ có tội cũng sẽ rất thận trọng trong việc phê bình, vì đặt ta ở vào địa vị họ, biết đâu ta lại chẳng như họ?
         Voltaire lên án những người mô phạm: “Đủ lắm rồi, những lý do người ta đưa ra để chứng minh rằng không được tự do thôi sống khi đau khổ quá độ, khi phải ra khỏi nhà vì không thể ở được nữa”.
         Sở dĩ ta không nên chê trách người đau khổ, là vì ta không bao giờ có kinh nghiệm của người sắp tự tử để có thể đo lường cường độ đau khổ và xác định thế nào là hèn nhát, can đảm. Kinh nghiệm của người sắp chết chỉ là độc nhất của đương sự mà thôi. Trái lại, đôi khi người tự tử lại trách người sống là hèn nhát, cố bám lấy cuộc đời không đáng sống vì sợ chết. Phải can đảm lắm mới làm chủ được sự chết vì trong những trường hợp khác, người ta đều bị thần chết đưa đi. Nếu cuộc đời không đáng sống, tại sao ham sống một cách nhục nhã. Vậy chết vinh chẳng hơn sống nhục sao?



         Như vậy, những lý luận đưa ra trên đều không thuyết phục hoàn toàn lý luận của người sắp tự tử vì chỉ đặt vấn đề trong viễn tượng hạn hẹp nhiệm vụ đối với xã hội, chưa đi vào nguồn gốc việc tự tử. Không nên đứng ở lập trường người ngoài để phán đoán người đương cuộc. Phải đứng ngay trên lập trường của đương sự, nghĩa là coi việc tử tự trước hết liên quan đến cuộc đời của họ. Vì dù sao người sắp tự tử thực sự cô độc trước số mệnh của mình.
         Vậy vấn đề là tìm hiểu ý nghĩa tự tử để chứng minh rằng tự tử thất bại, không giải quyết được những nguyện vọng của người tự tử.
         Lý luận xã hội học chỉ có giá trị khi vượt những bó buộc có tính cách khế ước, và đặt trên một quan niệm xác đáng về con người. Con người đây không phải là một phần tử xã hội, như nguyên tử trong một tổng hợp sinh lý hóa, nhưng là một đơn vị không thể giản lược, một nhân vị có khía cạnh đoàn thể, liên lạc với xã hội trong một tương quan cộng tác nhằm mục đích nhân vị hóa. Trong viễn tượng đó, không phải con người hy sinh cho đoàn thể, theo nghĩa hy sinh là mất cái gì riêng, nhưng là tìm thấy quyền lợi đích thực của mình trong việc bảo vệ, phát huy quyền lợi đoàn thể. Cho nên cứu cánh cuối cùng cuộc đời vẫn là quyền lợi của nhân vị, không phải xã hội trừu tượng. Vậy một lý luận kết án tự tử chính đáng là một lý luận căn cứ vào quyền lợi hỗ tương của nhân vị và cộng đồng, không phải vào quan niệm con người xã hội phản nhân vị kiểu Auguste Comte.
         Những nhận xét trên cho ta thấy chỉ có một phương pháp chính đáng là đối thoại với người sắp tự tử, đặt mình vào địa vị họ, thông cảm tâm trạng của họ để tìm hiểu đúng họ muốn gì, sau đó mới có thể lập luận rằng tự tử không phải là một giải pháp hiệu quả. Nhưng trước hết, có thể đối thoại với người tự tử được không? Trong nhiều trường hợp, người tự tử là vì bất ngờ gặp một tai nạn làm cho người đó đau khổ vô cùng (thất vọng vì tình, thi trượt, phá sản, bệnh tật v.v…) Họ mất tự chủ, không còn sáng suốt để suy nghĩ, đắn đo theo lẽ phải, và trong lúc đau khổ đến cực độ, không chịu được nữa họ buông theo tiếng gọi của tử thần… Đa số các nhà tâm lý học đều công nhận rằng người ta chỉ tự tử được khi điên cuồng nghĩa là mất trí, hoàn toàn nô lệ tình cảm.
         Nhưng cũng có những trường hợp đau khổ xâm chiếm dần dần, không đột nhập một cách phũ phàng, nạn nhân trải qua một thời gian tính toán cân nhắc lâu dài trước khi quyết định tự sát như trường hợp của những người chịu bệnh hai ba mươi năm chẳng hạn… Tự tử khi đó ta gọi là tự tử có ý thức, tự ý (mort volontaire). Nhưng sự thực có lẽ người tự tử dù cố ý, trong lúc thi hành quyết định vẫn phải có tâm trạng điên rồ; sự bình tĩnh tính toán là ở thời gian sửa soạn thôi. Vậy ta thử đối thoại với họ trong lúc họ còn bình tĩnh, đủ can đảm nhận thức lẽ phải.
         Trước hết, phải tìm hiểu tại sao người ta muốn tự tử. Vì đau khổ, thất vọng về đường tình ái, công danh không đạt được, đời sống vật chất lầm than, áp bức tinh thần; có trăm nghìn lý do khác nhau, nhưng tựu trung vẫn ở tại đau khổ không thể chịu được, tuyệt vọng rồi tự tử. Vậy ý nghĩa tự tử là từ chối đời này, nguồn gốc đau khổ, là phủ nhận đời này vẫn được coi như phương tiện tìm hạnh phúc. Nhưng thái độ của người tự tử biểu lộ rõ rệt ý chí muốn sống và nguyện vọng đạt được hạnh phúc. Vì nếu không ước muốn cũng không có chán nản, thất vọng. Thất vọng chỉ thị một ý muốn không được thỏa mãn. Nói cách khác, người chán đời chỉ chán đời vì quá yêu đời, nghĩa là không tránh được sự ham sống trong khi tự tử. Cho nên tự tử không phải là từ chối hạnh phúc nhưng chỉ là từ chối một thứ hạnh phúc để tìm một thứ hạnh phúc khác, vì con người không thể tránh được hướng về hạnh phúc, ngay cả kẻ sắp đi thắt cổ như Pascal đã nói. (Tout le monde veut être heureux, même ceux qui vont se pendre.) Người tự tử thất vọng với cuộc đời này như phương tiện tìm hạnh phúc, để tìm nó trong đời khác hay ít nhất trong cử chỉ tiêu diệt đời này.
         Vậy người tự tử phải công nhận rằng sở dĩ mình muốn chết là vì muốn sống. Như thế then chốt của vấn đề là: tôi không tránh được lòng ham sống, nhưng có thể thực hiện được ý chí muốn sống bằng cách tiêu diệt sự sống không? Hủy sự sống có thể thỏa mãn được lòng ham sống không? Có hai trường hợp. Nếu người tự tử không tin có gì sau khi chết, nghĩa là chỉ có sự sống ở đời này là phương tiện độc nhất để đạt hạnh phúc, ngoài ra là hư vô, tự tử không thỏa mãn được lòng ham sống, trái lại đã bỏ hết mọi dịp may còn có thể có được ở đời này để tìm hạnh phúc.
         Trong trường hợp thứ hai, nếu người tự tử tin có một đời sau, có lẽ sẽ có hạnh phúc, người tự tử có dám chắc tự tử là con đường chân chính đi vào đời sau đó không? Sự tin tưởng đời sau bao hàm lòng tin có Thượng Đế dựng nên ta, vậy tự tử là cướp quyền sống chết mà ta không phải là nguồn gốc, có chính đáng không?
         Như thế cả trong hai trường hợp, tự tử là một cử chỉ vô ích hay có hại. Hơn nữa, nếu đời là khổ ải, tự tử không giải quyết được những đau khổ đó, vì anh chết đi rồi, đau khổ vẫn còn, anh chỉ tiêu diệt được cá nhân anh thôi, không thể tiêu diệt được thân phận con người.
         Vậy nếu không giải quyết được vấn đề, phải tìm cho đời có một ý nghĩa đáng sống. Nhưng ta thấy đời đầy khổ cực, bất công, áp bức, hỗn loạn. Tất cả những sự kiện đó nói lên cái vô lý của cuộc đời, nhất là cái chết vô tội, nỗi đau khổ của trẻ con, hài nhi. Nếu có Thượng Đế, Tình Yêu làm chủ vũ trụ, tại sao có hỗn loạn bất công? Cho nên hoặc là bất công đau khổ bộc lộ sự bất lực của Thượng Đế, và vì thế không còn quyền bính gì ngăn cản được sống chết, hay chứng minh không có Thượng Đế. Trong cả hai trường hợp, con người được tự do xử dụng đời mình, định đoạt một thái độ cho mình trước cái vô lý cuộc đời.
         Đã đành đời là vô lý thật, nhưng không có một liên lạc luận lý giữa cái vô lý cuộc đời với quyền được tự tử. Đó là lập trường của A. Camus.
         Tại sao ta phải chấp nhận cuộc đời hoàn toàn vô thường (contingent) và vô lý, đồng thời từ chối mọi giải pháp tôn giáo? Vì ta chỉ biết được cuộc đời vô lý bằng ý thức. Ý thức đi liền với cái vô lý cuộc đời. Nếu ta tự hủy ý thức, đời không bao giờ còn vô lý nữa. Vật giới tồn tại mà không bao giờ đặt vấn đề ý nghĩa tồn tại. Vậy nếu ta tiêu diệt ý thức, là điều kiện nhận thức, không còn vấn đề nữa.
         Cho nên phải sống, chấp nhận cuộc đời vô lý vì “vấn đề là tìm xem cuộc đời có ý nghĩa gì không, trái lại ở đây cuộc đời càng đáng sống nếu không có ý nghĩa sống” (Le mythe de Sisyphe – trang 18 – A. Camus).
         Sartre cũng kết án tự tử. Theo Sartre con người là sự mâu thuẫn đau khổ giữa ý thức tồn tại và vô thức tồn tại (le pour-soi et l”en-soi). Con người ý thức, nhưng ý thức không bao giờ đạt tới được thực thể của mình là vô thức tồn tại. Phải luôn luôn hướng về nó mà không thể đạt được. Tình trạng bi đát đó xác định thân phận con người. Nhưng mặc dầu bi đát, con người không thể xóa bỏ tình trạng đó, vì tự tử tức là tiêu diệt ý thức tồn tại trở thành vô thức tồn tại, nghĩa là một sự vật.
         Heidegger cũng phản đối tự tử dù Triết học của ông định nghĩa người là con vật để đi cái chết (sein-zum Tode). Con người lo âu, xao xuyến khi ý thức được tình trạng bi đát đó. Nhưng không được phép chấm dứt nhanh chóng thời gian chờ đợi cái chết bằng một thoát ly dễ dãi.
         Đời sống đích thực là ý thức được chân lý đó và tự do chấp nhận. Vậy tự tử xóa bỏ khả năng đó, nghĩa là tiêu diệt luôn cả tự do. Vì thế ta không được tự do lựa chọn giữa sống và chết, nhưng tự do lựa chọn trong khuôn khổ sự sống mà thôi. Ta có thể lựa chọn cái này hay cái kia, nhưng không thể lựa chọn được sự không lựa chọn.
         Thái độ cấm tự tử mặc dầu công nhận đời vô lý và phủ nhận mọi giải pháp tôn giáo của những triết gia trên có vẻ anh hùng, nhưng thực sự biểu lộ một luyến tiếc bi đát: thèm muốn chân lý, một ý nghĩa đích thực cuộc đời. Nói rằng đời vô lý tức là gián tiếp công nhận phải có cái gì khác cái vô lý mới có cái vô lý. Cũng như thái độ tôn giáo, thần thánh chỉ hiểu được khi gián tiếp bao hàm có thần thánh. Cuộc đời vô lý bao hàm có cái lý cuộc đời. Vậy ta có thể đảo lộn câu nói của Camus; “Cuộc đời càng đáng sống khi tìm được lẽ sống”. Nhưng lẽ sống ở đâu?
         Theo Phật giáo, ở trong sự diệt dục, Phật dạy nguồn gốc đau khổ là ở Dục, lòng ham muốn. Muốn khỏi khổ, phải diệt dục nhưng như thế diệt dục vẫn bao hàm dục, ý muốn hạnh phúc, cho nên Phật dạy phải diệt ngay cả lòng ham muốn tránh đau khổ, được hạnh phúc để vào một nơi không muốn gì cả tức là Nát Bàn. Nát Bàn cũng không vui sướng cũng không khổ sầu, không phải tồn tại hay hư vô. Ta không thể xác định là cái gì khi chưa tự giác ngộ và chưa vào. Gọi theo một danh từ công giáo, Nát Bàn là một huyền nhiệm (mystère ineffable). Nhưng sau cùng phải diệt ngay cả ý muốn vào Nát Bàn, vì muốn vào vẫn còn là Dục. Nghĩa là phải thực hiện một thoát ly tuyệt đối (viraga) một chán nản (nirvena) ngay cả con đường đi tới Nát Bàn. Phật dạy rằng cái Dục vào Nát Bàn không phải là cái Dục tồn tại hay hư vô (soif d’existence ou soif d’inexistence). Con đường đến Nát Bàn là một tri thức (jnana): tất cả mọi ước muốn sống hay không muốn sống đều đau khổ. Đó là cái nhìn thật sâu xa của Đức Phật: Lẽ sống ở chỗ diệt dục, nghĩa là diệt cả ý muốn sống hay không muốn sống để giải thoát vào một thế giới không phải tồn tại, hay hư vô, chưa thể hiểu biết được trước khi giác ngộ. Như thế không thể chấp nhận tự tử, vì tự tử vẫn bao hàm ý muốn sống như đã phân tích trên. Cái chán đời của đạo Phật không phải cái chán đời của người sắp tự tử thất vọng vì dục không được thỏa mãn, nhưng là cái chán mọi thứ ước muốn sống, hay hư vô để thoát khỏi vòng luân hồi, đến cái thể thanh bình, viên mãn, trong sáng còn là một huyền nhiệm. Sự giải thoát thực hiện bằng tu trì, bát chính đạo. Vậy tự tử không thể đưa đến giải thoát lên Nát Bàn được, vì không có tu trì, tẩy rửa. Trái lại chết mà chưa tẩy rửa, còn ham sống, thì vẫn còn vướng vào cái nghiệp luân hồi, lại có thể bị đầu thai vào một kiếp sống khác khốn nạn hơn.
         Giải pháp thứ hai là tin rằng đời này tuy có đau khổ nhiều, nhưng cũng có Tình Yêu, Công Chính, Thanh Bình. Nếu chết là hết, tại sao không cố gắng thực hiện thêm sự công chính, Tình Yêu, thanh bình. Cho nên dù sao, đời này vẫn đáng sống vì có lúc buồn khổ thì cũng có lúc vui.
         Nhưng thái độ thực tế của phần đông người đời đó cũng bế tắc khi đặt vấn đề căn bản. Nếu những yêu đương công chính, thanh bình chỉ là những khoảnh khắc chốc lát trong cái biến đổi của thời gian, những giá trị đó có nghĩa lý gì trước cái chết, nghĩa là trước cái hư vô tuyệt đối. Cho nên lòng tin tưởng vào những giá trị nhất thời đó, chỉ là một ảo tượng, ảo huyền. Đức Phật đã nhìn thấy chỗ bế tắc đó, nên mới dạy phải ra khỏi cái biến đổi, thời gian, phải hủy diệt mọi ý chí muốn sống vì chỉ là ảo tưởng để đạt tới Nát Bàn.
         Nhưng đạo Phật chỉ là một giải pháp nhằm giải thoát cuộc đời đau khổ mà không cắt nghĩa tại sao có cuộc đời. Ở khởi điểm, Đạo Phật công nhận đời sống là một sự kiện, rồi thấy đời đau khổ và nguồn gốc đau khổ là dục. Nhưng Phật không nói tại sao tôi sinh ra. Đã đành có thể nói tôi đầu thai kiếp trước trong vòng luân hồi. Nhưng cứ đi lên mãi, thế nào cũng phải hỏi tại sao có những sự sống biến đổi trong luân hồi? Tại sao có tồn tại? Phật không trả lời câu đó vì cho rằng không cần cho sự giải thoát. Người ốm cần được cứu chữa không cần phải biết tại sao sống để mà mắc bệnh.
         Nhưng như thế là chưa đi đến tận nguồn gốc. Nhận thấy đời là bể khổ vì dục, nhưng trước khi đau khổ, dục, phải tồn tại đã. Vậy tại sao có sự tồn tại. Tự nhiên mà có hay do ai tạo nên? Không trả lời được vấn đề đó thì những giải pháp đề nghị ra dù sâu xa cũng mất hết giá trị vì không xây trên một nền tảng vững chắc nào. Vấn đề ý nghĩa sự sống không giải quyết được trong đạo Phật.
         Cho nên chỉ còn hai đường lối: một là cho rằng sự tồn tại là do hư vô, ngẫu nhiên mà có. Trong trường hợp đó, cuộc đời hoàn toàn vô thường vô lý; sống chết đều không có nghĩa lý gì và không có nguyên tắc, quyền lực nào cấm sống hay cấm chết.
         Đường lối thứ hai là công nhận sự tồn tại đã được dựng nên. Trong viễn tượng đó, cuộc đời có ý nghĩa như một sửa soạn đời sau đích thực. Chết là ra khỏi thời gian vào vĩnh viễn. Nhưng chỉ có thể vào vĩnh viễn bằng cách qua thời gian. Như thế, thời gian có ý nghĩa và giá trị vì xây trên vĩnh viễn, nghĩa là tất cả những hành động, vui sướng, sầu khổ ở đời này đều nằm trong chương trình cứu rỗi bằng cách chấp nhận chịu đựng để tẩy rửa, sửa soạn vào vĩnh viễn. Chỉ lòng tin có vĩnh viễn mới cho thời gian, nghĩa là đời này, một ý nghĩa. Lòng tin đó bao hàm lòng tin có một linh hồn bất tử. Vì chỉ có thể vào vĩnh viễn nếu con người, cũng là một vĩnh viễn, không phải là một vật thời gian (être temporel) như Phật dạy. Lòng tin linh hồn bất diệt cấm đoán tự tử. Vì con người có thể giết được xác, mà không giết được linh hồn. Cho nên tự tử không phải là con đường đưa vào vĩnh viễn, vì con đường duy nhất, chính đạo không phải là từ chối thời gian, sự sống, nhưng là chấp nhận, chu toàn nó trong Tin tưởng và Hy vọng.


HOÀNG THÁI LINH


BÁCH KHOA |  SỐ 19

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 15/02/2018, 18:59:59


Người quét đường

TÔI CÓ NGƯỜI BẠN thường nguyện kinh sáng bằng cách này: anh mở cửa sổ nhìn người quét đường.
         Quét đường thì có trăm cách quét đường, cũng như làm bộ trưởng thì có trăm cách làm bộ trưởng. Người quét đường mà bạn tôi ngắm mỗi buổi sáng là một người quét đường lành nghề. Không những vì khi ông quét xong, đường sá vỉa hè đều sạch sẽ, mà đến cả cách quét nữa. Phải xem cách người ấy quét mới được. Cái thoáng mắt kia, cái nhát chổi nọ: những “cú” thật là thần tình!
         Khi trời vừa sáng tỏ, người ấy đã có mặt đấy rồi, không sớm quá, không trễ quá… người ấy đến với ánh dương, cầm chổi trong tay. Và, thánh vụ bắt đầu liền.
         Không kể thời tiết. Mưa gió, giá rét, lá vàng mùa thu, mẩu giấy vụn, chó đánh đổ thùng rác, vật và người… người quét đường nhận tất cả trong thực trạng của chúng. Ông đến đó không phải là để than vãn, mà để phụng sự. Điều cần là con đường phải thật sạch. Và đó là sứ mạng của ông, trên thế gian; ông cho sứ mạng ấy là tốt đẹp. Tôi chẳng biết ông có ý tưởng gì khi cẩn thận nhặt từng chiếc vỏ trái hoặc từng mảnh chai. Có lẽ ông nghĩ tới bà cụ có thể trượt bước gẫy chân, nếu mai ấy ông không đến; hoặc nữa ông nghĩ đến em bé kia, té ngã và có thể bị thương tích!… Và bạn tôi bắt gặp ông ta lâu lâu lại tủm tỉm cười một mình.
         Một người bước ra sập mạnh cửa, rồi lấy một điếu thuốc, châm lửa và vứt bao không ra đường. Người quét đường sẽ cúi nhặt lấy chiếc bao, không than phiền, cũng không phán đoán.
         Người kia không cám ơn mà cũng chẳng bao giờ có ai cám ơn. Đã bao năm, như thế! Người ta cho đó là điều dĩ nhiên, khi có người lượm đồ mình vứt bỏ, và quét dọn khi mình đi qua. Người quét đường cũng vậy, ông ta cũng cho đó là điều dĩ nhiên.
         Và bạn tôi, trước ngày mới hứa hẹn bao khó nhọc, đã đến “múc” can đảm nơi người quét đường. Và anh còn dám quyết nếu Thiên Chúa có đi quét đường, chắc cũng chẳng làm hơn được người kia. Anh nói: người quét đường giống Thiên Chúa, Đấng đã sai Con mình xuống quét các nẻo đường thế gian, “quét sân lúa của Người” như thánh Gioan Tẩy-giả đã nói.
         Và bạn tôi còn tiếp: “Chính Thiên Chúa đã quét cửa nhà tôi mỗi buổi sáng. Với tất cả tấm lòng Người yêu dấu tôi”, – và Người đến để dạy bảo tôi: “Hãy làm việc, làm việc với lòng khiêm cung nhẫn nại, tha thiết ân cần. Chứ không vì tiền bạc. Người quét đường kia có được mấy đồng lương? Phải làm để phụng sự anh em”.
         Và bạn tôi thêm: “Ước gì các người trong phố tôi, mỗi buổi sáng, ra đứng dí mũi nơi cửa sổ để nhìn, để cho mắt và lòng ngập tràn cử chỉ đơn giản nhỏ nhoi của người quét đường. Người hàng thịt, người hàng bánh, để mỗi khi nhào bột trong chậu, thì nghĩ rằng mình đang phục vụ đồng loại, anh em, và phải nhào trộn vào đó tình yêu, chứ không phải chỉ lao lực, với ý nghĩ làm giàu mà thôi. Người nội trợ, người công nhân, cô đánh máy… Tất cả hãy dán đầu nơi cửa sổ mỗi buổi sáng, để rồi cố làm cho bổn phận thường nhật của mình, dù có đôi khi nặng nhọc thật, trở thành ra một động tác làm vì tình huynh đệ”.
         Tiếc thay lát nữa, khi họ đi ra, vì bận công việc, họ sẽ chẳng để ý ngay cả vỉa hè đã quét sạch cho họ bước trên…, hoặc Thiên Chúa, Đấng đã từng qua tay người công nhân khó nghèo, đặt một chút tình yêu dưới chân họ. Họ sẽ rẻ rúng cả người quét đường lẫn công tác của ông. Họ tưởng, cái tưởng của họ mới đáng tội nghiệp làm sao! Họ tưởng họ hơn cái người mà họ cho là hèn kém kia.
         Nhưng bạn tôi nghĩ khác: “Lát nữa, khi đi tới sở, tôi sẽ được chào nhiều hơn người quét đường kia được chào trong suốt cả một đời, vì tôi có địa vị, có địa vị cao hơn… Bất công: tôi là gì trước người quét đường kia?
         “Tôi nói thật với anh: Trên Trời, người quét đường kia sẽ đứng trên tôi.
         “Ông ta không biết rằng tôi thèm thuồng số phận ông, chỉ “trên ấy” thôi, ông mới biết tôi đã thèm số phận ông tới mức nào? Tôi muốn ra khỏi nhà, giật lấy chổi ở tay ông và quét thay ông!
         “Nhưng có lẽ ông sẽ chẳng hiểu, hoặc giả ông sẽ trả lời đơn sơ: xin chớ! mỗi người mỗi việc! Phải, mỗi người mỗi việc. Ông nói thật chí lý! Nhưng công việc ấy phải biến thành công việc làm với tinh thần phục vụ! Không phải là dân công, không phải là do khế ước, không phải vì “cơm gạo”; chỉ bởi muốn phục vụ mà thôi.
         “Không có nghề xấu, không có nghề hèn. Chỉ có nghề cao quí làm với một tâm hồn cao thượng như ông bạn quét đường của tôi”.


J. ROUSSELOT
Việt Tử trích dịch


BÁCH KHOA |  SỐ 19

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 15/02/2018, 21:18:05


                  Vũng nước

            MẤY hôm trời mưa to,
            Nước chẩy xuống chỗ trũng,
            Trong những khu nhà nghèo,
            Nước nhiều đọng thành vũng.

            VŨNG sâu và vũng nông,
            Vũng đục và vũng trong,
            Bao nhiêu vũng nước đọng,
            Bấy nhiêu khuôn gương lồng!

            CHIỀU ngồi bên cửa sổ,
            Vũng nước, tranh mờ tỏ:
            Kìa bóng đầu cây xanh,
            Kìa ánh mặt trời đỏ.

            VŨNG nước đẹp làm sao!
            Muôn trùng soi trời cao!
            Nhưng trời cao đáy nước,
            Có thấu cho dân nghèo?

            DÂN nghèo ở trong ngõ,
            Mùa mưa, cực và khổ,
            Ngày lội nước ăn chân,
            Đêm nằm chung muỗi bọ!!


                                        Bàn Cờ 1957
                                        ĐÔNG XUYÊN
                                        (Trích “Thuyền Thơ”)


BÁCH KHOA |  SỐ 19

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 19/02/2018, 18:46:18
BÁCH KHOA |  SỐ 20  [1 tháng Mười Một  1957 |  84 trang]

MỤC LỤC
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: nước Anh [IV] |  1-5
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 19 |  5
Bách-Khoa |  Thuật trị dân theo Khổng Tử |  5
Cô Liêu |  Dân tộc tính văn nghệ |  6-9
Bách-Khoa |  Gió thổi qua thì cỏ rạp xuống |  9
Phạm Hoàn Mĩ |  Nhân ngày giỗ Phan Sào Nam thứ 17: Người đến hơi thở cuối cùng “còn nặng gánh gian san” |  10-21
Huỳnh Đức Quang |  Tìm hiểu kế hoạch Marschall |  22-29
Nguyễn Văn Ba |  Cụ Hải Thượng Lãn Ông |  30-35
Minh Anh |  Quy luật của một vài lối thơ |  36-45
Triệu Đường (dịch) | Nếu (thơ) \ Ruydard Kipling \ André Maurois chuyển Pháp ngữ |  46-47
Quảng cáo |  48
Nguiễn Ngu Í |  Nhơn xem tranh: Việt Nam năm ngàn năm văn hiến của Lê Văn Siêu |  49-52
Quảng cáo |  53
Tạ Ký |  Bài thơ dễ hiểu (thơ) |  54-55
Nguyễn Phúc |  Thoát (truyện) |  56-62
Á-Nam Trần Tuấn Khải |  Đường thi dịch giải: Tặng Vệ-Bát xử sỹ \ Đỗ Phủ |  63-64
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [III] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  65-75
Quảng cáo |  68, 70, 72, 74, 76-84


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204214350-7aa44bbe082645821c2239236e35534d/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 19/02/2018, 19:05:15


Dân tộc tính văn nghệ

TRONG MỘT BÀI DIỄN THUYẾT đọc tại thủ đô ngày 9-3-1955, giáo sư Nguyễn Đăng Thục quan niệm dân tộc tính là:
         “Hồn nước, cái ý thức truyền thống khi tiềm tàng, khi biểu lộ, từ cá nhân thông cảm với núi sông vũ trụ, một vòng bất đoạn bất phân nối quá khứ với hiện tại và tương lai”.
         Ý thức ấy được cấu tạo bởi một dân tộc đã cộng đồng chung đụng trong một thời gian tương đối lâu dài với những điều kiện thỏa mãn về lãnh thổ, giống nòi, kinh tế, chánh trị, ngôn ngữ và tâm lý chung.
         Văn nghệ là phản ảnh của đời sống một dân tộc, thì văn nghệ dù thoát thai bằng đường lối thơ, họa, nhạc, hay hình thức nào khác, cũng phải diễn tả những mầu sắc riêng biệt của phong tục, tính tình, cảnh vật của dân tộc ấy.
         Như vậy, tìm hiểu xem ý thức về sự sống cộng đồng chung đụng phát hiện ra thế nào trong phong tục, tập quán, ngôn ngữ v.v… của một dân tộc, là tìm những yếu tố để định nghĩa danh từ dân tộc tính trong văn nghệ.
         Chúng ta thử phân tách hai câu thơ rất phổ thông trong dân chúng lúc này:

                           Hỡi cô tát nước bên đàng
                           Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.


         Đề tài là một cảnh tát nước đêm trăng bằng gầu, một cảnh đặc biệt chỉ có thể có ở Việt Nam mà nhà văn, với khiếu rung cảm riêng biệt đã ghi lại bằng một phương pháp diễn ý trừu tượng: thi ca. Cách lấy nước vào ruộng ấy, thông dụng trên lãnh thổ Việt Nam, nên thành một lề lối riêng biệt của dân tộc Việt. Các dân tộc khác có những lề lối khác để lấy nước vào ruộng, chẳng hạn như dân tộc Cận Đông cho bò kéo một thứ guồng làm bằng gỗ. Thi sĩ Việt Nam ngắm vịnh cảnh tát nước, dĩ nhiên, không thể dắt bò và guồng vào thơ của mình. Vì thế khung cảnh ấy, lề lối làm việc đồng áng ấy, đã làm thể hiện dân tộc tính Việt Nam.
         Văn chương là tinh hoa của ngôn ngữ đã trung thành ghi lại nếp sống của dân tộc với tất cả ước vọng thống khổ lẫn hân hoan.
         Đó là phần nội dung của văn chương. Nhưng nếu ta xét văn chương về cạnh khía công cụ để ghi lại ý tưởng, thì chính cái công cụ ấy cũng nhuốm nặng hương vị dân tộc.
         Đây là trường hợp truyện Kiều, một tinh hoa văn nghệ của đất nước. Kiều lấy đề tài ở một câu chuyện xảy ra dưới triều Minh bên Tầu. Cái xã hội đề cập đến là xã hội Trung Quốc, nhân vật là nhân vật Trung Quốc. Nhưng thiên trường hận ấy chỉ có thể là phản ảnh trung thành của xã hội Việt Nam.
         Là vì văn chương truyện Kiều đã cô kết được những gì là tinh hoa của tiếng nói chúng ta. Tính tình, tâm trạng nhân vật trong truyện, cũng chỉ có phong độ Việt Nam. Trong cái vỏ người Tầu, các nhân vật đã rung cảm, vui, buồn, lo âu hay phẫn uất bằng những sợi tơ lòng của người Việt. Cốt truyện chỉ là những cái đinh đóng lên tường dùng làm móc để treo những bức tranh Việt Nam tuyệt mỹ. Dân tộc tính đã được biểu lộ qua tâm trạng nhân vật, qua lời văn.
         Long, ly, quy, phượng, bốn con vật thần bí đã dùng để trang trí nóc đình, nóc chùa, cho đến y phục, dụng cụ thường dùng, đồ thờ cúng của ta. Đó là những con vật biểu hiện quan niệm của dân tộc về tín ngưỡng: nghệ thuật muốn diễn tả một ý nghĩa tượng trưng thần bí, thường biểu hiện theo quan niệm ấy. Mỗi dân tộc có những quan niệm thần bí khác nhau, do đó quan niệm nghệ thuật cũng khác.
         Thử so sánh một cái ấm, cái chén, cái hộp trầu, con dao của ta với những thứ đồng loại của Cao Miên, của Thái Lan, của Nhật Bản, ý nghĩa tượng trưng về thần thoại, về lịch sử, nét vẽ, nét chạm, khắc, hình thù, khác nhau bao nhiêu, đến nỗi không thể ghép một cái tống của Nhật vào bộ khay chén “Xích Bích” của Tầu chẳng hạn, mà không thấy chướng mắt. Một kiến trúc sư Việt Nam không thể thay một cái cột, một cánh cửa ngôi chùa của ta bằng thứ mượn của Cao Miên mà không phạm đến nhịp điệu chung của toàn thể.
         Ở đây, quan niệm về thần bí là một hình thức biểu hiện ý thức về dân tộc tính. Mỗi dân tộc tùy phong thổ và đường lối sinh hoạt, quan niệm vấn đề một khác, do đó có bao nhiêu dân tộc là có từng ấy quan niệm thần bí, dắt đến từng ấy quan niệm mỹ thuật. Tuy nhiên, nhiều dân tộc vẫn mượn kỹ thuật và bắt chước mỹ thuật của nhau, nhưng họ đã biến đổi đi cho hợp với nhu cầu, với khiếu thẩm mỹ của mình, làm cho mỹ thuật biến ra một sắc thái khác. Chính việc làm biến đổi và dung hòa cho hợp với mình, là một hành động bộc lộ linh hồn dân tộc, ta không thể coi việc bắt chước ấy là cách cắt đứt với quá khứ.
         Âm nhạc của mỗi dân tộc nào phảng phất những âm điệu của dân tộc ấy. Những nhịp điệu đơn giản, chất phác, mộc mạc, phát nguồn tự người dân, do những cảm xúc trước trời đất và nhân tình thế sự, phải trải qua bao nhiêu cuộc đào thải biến hóa mới trở thành những tiết điệu được coi là căn cứ cho sự sáng tác nhạc. Sáu câu vọng cổ, một lời than vắn dài, não nùng và điêu luyện của sân khấu cổ nhạc, tuy mới được khai sinh vài chục năm nay, từ khi có bài vọng cổ hoài lang, nhịp 4, bắt đầu bằng câu:

                           Nhời thề xưa sơn hải
                           Nghĩa nặng ai nỡ phôi pha…


         Nhưng đã bắt nguồn từ những câu hát ru em, những điệu hò, hiện nay còn lưu truyền ở Nam Việt và miền Nam Trung Việt.
         Như thế, một sáng tác âm nhạc có mầu sắc dân tộc, là vì đã đúc kết những ý niệm về âm thanh, tiết điệu, phổ biến trong dân chúng, hoặc còn tiềm tàng trong dân chúng.
         Trong cái gia tài của ông cha ta để lại có phần gia tài tinh thần là to tát và can hệ hơn cả. Phong hóa, tập quán, tính tình, đều là di sản của tổ tiên khiến cho thế hệ của chúng ta chỉ là một giai đoạn của dòng sông dân tộc triền miên. Mỗi dân tộc có những lề thói riêng biệt để tưởng niệm tổ tiên, chôn cất người chết, dựng vợ gả chồng. Kỷ cương gia đình xã hội đã làm cho mỗi dân tộc có những phong thái khác nhau, những mối cảm nghĩ khác nhau trước cùng một cảnh ngộ.
         Thử đặt ba thanh niên Pháp, Việt, Lèo, trước cùng một hoàn cảnh: cùng là thanh niên ở nhà quê nghèo, đang lo lắng sính lễ đi cưới vợ.
         Thanh niên Việt sẽ gửi can trường vào hai câu thơ của Nguyễn Bính:

                           Ai làm cả gió đắt cau?
                           Ai làm sương muối cho trầu đổ non?


         Anh ta nghĩ đến nộp treo hoa tai, bánh trưng bánh dầy.
         Nhưng thanh niên Pháp sẽ nghĩ đến rượu nho, tiền nộp cho nhà thờ làm lễ cưới, đến chiếc “Alliance”, đến những cuộc khiêu vũ say sưa dưới ánh trăng.
         Thanh niên Lèo lại lo ông bố vợ tương lai sắm thêm ruộng đất, vì anh sẽ phải nai lưng ra làm hết, không có thì giờ hút thuốc và thổi khèn dưới cửa nhà người vợ tương lai. Anh ta lấy nhân công làm sính lễ.
         Vậy là cùng một hoàn cảnh đã tạo ra những mối lo nghĩ khác nhau.
         Ý thức về sự cộng đồng chung đụng đã bắt rễ sâu xa xuống lãnh vực phong tục, tập quán, tính tình, để tạo ra một đời sống tinh thần chi phối hết thẩy mọi người cùng có một linh hồn tổ quốc, cùng chung một đường lối sống.
         Chúng ta nhận thấy bất cứ trên phương diện nào, như tín ngưỡng, phong tục, tập quán, tâm tình, ngôn ngữ, văn chương, nghệ thuật, một dân tộc có những quan niệm tương đồng về chân, thiện, mỹ, khiến cho người ta chỉ có thể làm, cảm, nghĩ, trong khuôn khổ những cái mốc do sự sống cộng đồng đã đặt ra.
         Nhận định sự vật như trên, chúng ta có thể đề nghị một định nghĩa như sau:
         Dân tộc tính văn nghệ là những ý niệm về tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lề thói, tính tình, ngôn ngữ. Những ý niệm ấy chỉ đạo và hướng dẫn sự sáng tác, làm cho văn nghệ của một dân tộc có những sắc thái riêng biệt, khác hẳn với văn nghệ của dân tộc khác.


CÔ LIÊU


BÁCH KHOA |  SỐ 20

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 20/02/2018, 18:59:31


                           Nếu
                                            Triệu Đường dịch

            NẾU con thấy cơ đồ sụp đổ
            Mà thản nhiên lao khổ đắp xây,
            Hay bạc tiền một phút trắng tay,
            Không than thở cau mày thê thảm;

            NẾU con yêu song không mê đắm,
            Mạnh dũng mà không kém dịu dàng,
            Không oán hờn dầu bị ghét oan,
            Song tranh đấu, sẵn sàng tự vệ;

            BỊ xuyên tạc, con mào sá kể,
            Không dại khờ mắc kế lưu manh,
            Dầu miệng sằng thêu dệt quẹo quanh
            Một lời con chẳng đành dối thế;

            BÌNH dân, nhưng vẫn tròn phong thể,
            Quyền cao mà như kẻ bạch đinh,
            Thương bạn như huynh đệ thâm tình
            Song chẳng nặng riêng mình ai hết,

            NẾU như con trầm ngâm, xét, biết,
            Nhưng hoài nghi, phá diệt, thì không;
            Mơ màng chẳng để mộng xiêu lòng,
            Suy tưởng song thoát vòng lý thuyết;

            Cứng cỏi nhưng không hề nóng tiết,
            Gan dạ thừa song quyết chẳng liều,
            Tử tế nhiều, khôn khéo bao nhiêu,
            Con cũng chẳng làm kiêu, lên mặt…

            DẦU thắng, bại, con không đổi sắc,
            Vẻ hiên ngang, trối mặc cơ cầu;
            Vững cang tràng, tỉnh trí mặc dầu
            Những kẻ khác điên đầu tán loạn;

            THÌ khi ấy Vương, Thần, May, Thắng
            Con khiến sai hẳn dễ như chơi,
            Hơn vinh quang, vua chúa trên đời,
            Vì con sẽ là Người, con ạ.


                                      RUYDARD KIPLING
                                      André Maurois chuyển Pháp ngữ


BÁCH KHOA |  SỐ 20

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 20/02/2018, 23:04:52


               Bài thơ dễ hiểu

         TÔI viết cho anh
         Bài thơ dễ hiểu
         Đây không mắt xanh
         Tóc không là tơ liễu
         Không cầm ca gõ nhịp bến Tầm Dương
         Không mộng xa với những chuyện mười phương
         Không bóng dáng hồ ly, không má thắm
         Không cuộc tình duyên nửa chừng thông cảm.
         Bài thơ tôi
         Nói chuyện yêu đời
         Vì bài thơ đẹp anh ơi
         Chỉ là nói được những lời của anh.
         Anh yêu đất hiền lành
         Yêu con trâu, cái cuốc
         Ban đêm ngắm đàn con lem luốc
         Ban ngày, đồng lúa xanh xanh
         Và lời thơ đẹp của anh:
        “Hôm qua tát nước đầu đình,
         Bỏ quên cái áo với cành hoa sen.”

         DẠO nào gió lên
         Đời anh chuyển hướng
         Bờ tre tan tành
         Máu loang bờ ruộng
         Nhà thân yêu lửa đốt ra tro
         Con anh bữa đói, bữa no
         Vợ anh sớm bến, chiều đò gian nan
         Anh thề chịu cực làm dân
         Còn hơn sung sướng làm quân quên thù
         Thơ tôi không viết
         Những vần âm u
         Tay anh rắn chắc
         Xây dựng một đời Tự do
         Mồ hôi hòa với giòng thơ đẹp
         Mong được ngày mai sống ấm no
         Bài thơ dễ hiểu
         Viết đầu mùa thu
         Gieo không lạc điệu
         Như những vần tâm tư
         Những vần thơ loạn anh ơi
         Làm sao ăn nhịp với lời thơ anh
         Nhạc điệu kinh thành
         Điên cuồng ủy mị
         Áo tôi đứt chỉ
         Vải nhạt màu xanh
         Một bài thơ rất hiền lành
         Đọc lên giữa lúc tan tành núi sông
         Ngày mai, tôi chỉ chờ mong
         Đất, thơ thành vợ thành chồng với nhau.


                                               TẠ KÝ


BÁCH KHOA |  SỐ 20

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 23/02/2018, 19:56:54
BÁCH KHOA |  SỐ 21  [15 tháng Mười Một  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu |  1-4
Bách-Khoa |  Cách làm cho người ta kính trọng mình |  4
P. N. T. |  Một ý kiến để cho binh sĩ thêm gan dạ tại mặt trận |  5-9
Vương Hòa Đức |  Quỹ tiền tệ quốc tế |  10-14
Bách-Khoa |  Thần đồng Lý Bí |  14
Nguyễn Văn Mầu |  Quyết nghị Lập pháp và Quyết nghị Hành chánh |  15-24
Nguiễn Ngu Í |  Hồ Quí Ly, một gương thất bại |  25-30
Bách-Khoa |  Thân bất thất thân |  30
Trần Hà |  Thử xét ảnh hưởng của chiến tranh nha phiến đối với lịch sử Trung Quốc: Một trận giặc, mấy bài học |  31-39
Bách-Khoa |  Đức khiêm nhượng và tính kiêu ngạo |  39
Cô Liêu |  Dân tộc tính văn nghệ [II] |  40-45
Bách-Khoa |  Tam tự ngục |  45
Nguyễn Hiến Lê (dịch) |  Đại tướng Montgomery \ Dale Carnegie |  46-48
Mai Lâm |  Nắng mai (thơ) |  49
Quảng cáo |  50-51
Nguyễn Phúc |  Thoát [II] (truyện) |  52-59
Bách-Khoa |  Một lời nói có thể dựng được nước hay làm mất nước không? |  59
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [IV] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  60-71
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 19 và 20 |  71
Quảng cáo |  62, 64, 66, 68, 70, 72-80


SAIGON |  1957




Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 23/02/2018, 20:34:12


Hồ Quí Ly, một gương thất bại

TỪ ĐÓ ĐẾN NAY, đã năm trăm năm chục năm rồi. Năm trăm năm chục năm về trước, năm 1407, đánh dấu một cuộc thất bại vĩ đại và đau thương nhất trong lịch sử dòng giống Việt.
         Hồ Quí Ly bị quân Tàu bắt được, giải về đất Trung Hoa. Bao tư tưởng mạnh, bao sáng kiến hay, bao thực hành mới lạ đều đi theo người tù binh không con nước, cái nước mà mình quyết làm cho mãnh liệt Trường tồn, cho rực rỡ Vinh quang, nào ngờ đâu lại dìm trong tang tóc và trong máu hòa nước mắt.
         1407-1957.
         Năm thế kỷ rưỡi đã qua.
         Để kỷ niệm gương thất bại ấy – tại sao ta chỉ kỷ niệm những thành công thôi? – chúng ta hãy cùng nhau xét lại người và việc cũ, để may tìm chút gì có ích cho giờ đây và biết chừng đâu, cho cả mai sau.


⎎⎎⎎

Thời thế ấy…
         Thời thế ấy là một thời thế rối reng, hỗn độn.
         Cơ đồ nhà Trần như ngọn đèn trước bão. Không có một Hồ Quí Ly chấm dứt nó, thì rồi cũng có một người nào đó xóa tên trong lịch sử.
         Cái hào khí của ông cha đã mất, cái phong thời thịnh trị cũng chẳng còn. Vua thì bạc nhược, bê tha, tôi thì ươn hèn, xu nịnh, kẻ sĩ thì an phận, lờ đờ. Bên trong lủng củng: quần thần chia bè phái để củng cố địa vị, gièm pha nhau và giết hại lẫn nhau. Bên ngoài thì lôi thôi: Bắc, người Tàu hết dòm lại ngó, hết đòi hỏi vật cần này lại buộc nộp đồ quí kia, cốt tạo cơ hội để rõ nội bộ nước ta mà “chờ gió”; Nam, người Chàm, hết cướp phá, quấy nhiễu ở biên thùy, lại tiến ra Nghệ An, ra Thanh Hóa, ra cả Thăng Long, mà không phải chỉ một lần.
         Triều đình đã như thế thì dân chúng có được nhờ gì. Mùa màng bị phá, bị thất, đói lạnh sờ sờ, mà giặc cỏ lung tung, không dẹp được, mà thuế má sưu dịch cứ nặng thêm lên. Người dân đen còn biết bám vào đâu nữa? Kẻ có lòng giờ biết tin ai?
         Thời thế tạo kẻ hùng.
         Kẻ hùng cần những lúc ấy. Còn anh hùng hay gian hùng thì phải chờ nắp quan tài đậy lại, phải cần một khoảng thời gian khá dài để bình tĩnh mà xét, hiểu. Đó là việc của lịch sử. Còn người lúc bấy giờ như kẻ chới với giữa dòng, mong có tay ai để nắm, còn bàn tay ấy thế nào, ra sao, của ai, thì chưa cần rõ.
         Chính lúc đó, Hồ Quí Ly xuất hiện.


⎎⎎⎎

Con người ấy…
         Con người ấy, dòng dõi gốc nơi nôi của dân tộc Việt,(1) tỉnh Chiết Giang bên Tàu; tằng tổ sang sống ở nước ta từ đời Ngũ Quí, định cự ở Nghệ An, vùng đá sỏi. Ông tổ bốn đời của Quí Ly đến ở Thanh Hóa, nơi phát tích của nhà Lê, nhà Nguyễn sau này.
         Hồ Quí Ly sanh năm 1336, trên đất Việt, là người Việt hoàn toàn (chút máu Tàu trải trên bốn trăm năm pha trộn hẳn chỉ còn một chút xíu không đáng kể, mà người Việt nào chẳng mang trong huyết quản ít nhiều máu Ấn Độ hay Chi-na),(1) chống lại Trung Hoa – từ người cho đến tư tưởng – để rốt cuộc cùng gia quyến lê cuộc đời tàn ở nước Tàu và gởi xương cho đất Hán với cả niềm uất hận tưởng chưa nguôi.
         Khi vua Minh Tông chọn hai người cô của Quí Ly làm vợ, vô tình vua đã gián tiếp “chọn” người để kế tiếp nhà Trần. Vì sau, một người là mẹ vua Nghệ Tông, một người lại là mẹ vua Duệ Tông, và nhờ cái dây máu mủ bên ngoại ấy mà Quí Ly mới được tin dùng và đến gần chiếc ngai vàng để mà…
        “Thoán đoạt”!
         Con cháu nhà Trần, bầy tôi nhà Trần, hầu hết dân chúng lúc đó đều buông hai tiếng khinh thị này. Cho đến khoảng giữa thế kỷ XX, nhà viết sử Trần Trọng Kim(2) cũng không nói gì khác:

         “Lê Quí Ly mưu sự thoán đoạt (…) Từ đấy Quí Ly cứ chuyên làm mọi việc để chực đường thoán đoạt”.

         Nói gì giữa hai chặng này, các sử gia ta, hoặc đã mù quáng theo quan niệm chép sử của người Tàu, hoặc đã sợ sệt trước uy quyền dòng vua họ phụng thờ, mà đẩy nhà Hồ qua hàng ngũ “ngụy triều”, cũng như sử gia triều Nguyễn đối với nhà Tây Sơn. Họ quên mất rằng nhà Tiền Lê, nhà Hậu Lý, nhà Trần – mà họ gọi là những “triều chính thống” – đã được sáng lập bằng những cái gì mờ ám, cong queo, nếu không là tàn bạo!
         Nên chi lời lẽ để bênh vực việc “lên ngôi” của họ Hồ như của Quách Vũ sau đây,(3) ta có thể cho là hi hữu.

        “Hồ Quí Ly có phải là gian hùng chăng? Nếu ta bận lòng với thuyết chính thống, nếu ta nghĩ đến nhà Trần thì tất nhiên Hồ Quí Ly là một kẻ soán nghịch. Và nếu kể ra những dòng vua giựt quyền những dòng vua khác thì nước ta không thiếu gì.
        “Ta không thể nhất định rằng: đoạt ngôi là bậy. Phải nghĩ rằng cao hơn vua còn có nước, phải xét từng người và từng hành vi.
        “Cải cách là điều tối cần cho đất nước, cái ngai vàng là bước đầu chắc chắn, thì chiếm đoạt đi!”


         Tự nhiên là những lời, những lẽ trên đây đã gây liền phản ứng. Dương Minh “Lại xét về Hồ Quí Ly”,(4) và người tráng niên Tây học này lại còn gắt gao hơn cả những cụ đồ xuất thân từ cửa Khổng sân Trình. Ta hãy nghe một đoạn của bản án:

        “Khi hắn giết một lúc 370 người nghĩa sĩ, trong đó có Trần Nguyên Hãng và Trần Khát Chân, để xẻ một đường máu mà bước tới ngai vàng, hắn có biết đâu rằng là đã giết cái tinh hoa anh kiệt của nước, và số phận hắn – và hỡi ơi! số phận quốc gia nữa – đã định đoạt ngay từ hôm đó. Cho nên lo toan xếp đặt mà làm gì! Bao cải cách như xe cát dã tràng mà thôi! Một đứa gian giảo đội tên là Trần Thiêm Bình tố cáo với nhà Minh, một toán quân ngoại quốc tràn vào, mấy dòng chữ khắc vào mảnh ván thả xuống sông mà Trương Phụ kể tội họ Hồ, có bấy nhiêu đủ làm cho một cơ đồ tan nát. Vì lòng người có ai phục đâu kẻ thoán nghịch! Đối với con mắt khách quan của hậu thế, thì Trần Thiêm Bình với Hồ Quí Ly, hai người có hơn gì nhau về phương diện tham lam. Cả hai cùng mưu sự vinh lợi cho mình thôi.
        “Sử ta thiếu gì kẻ tham lam như Thiêm Bình và Quí Ly đã gây cho quốc gia bao nhiêu tai vạ, hoặc là ngoại xâm, hoặc là nội loạn”.


         Cũng buộc tội gắt gao họ Hồ, còn có Chu Thiên, nhưng đứng về một mặt khác:

        “Quí Ly chỉ là nhà cải cách chính trị thôi, một nhà cải cách thiếu lương tâm và không tròn phận sự.
        “Thiếu lương tâm nhà nghề, Quí Ly đã không thi hành liên tiếp chính sách cải cách cần thiết trong khoảng bảy, tám năm đầu (Quang Thái triều Thuận Tông) là lúc Quí Ly thừa quyền thế, rộng thời giờ và là lúc mọi người mong mỏi nhất.
        “Không tròn phận sự, Quí Ly chỉ mải mưu tư lợi, không làm việc cải cách nhanh chóng, để phụ lòng tin cậy và kỳ vọng của vua Nghệ Tông cùng tất cả các bậc thức giả tán thành công cuộc của mình”.
(5)

         Trong đời Dân tộc, có đôi người, có vài việc, mà ta thấy cần – có khi lại thấy có bổn phận – xét đi xét lại ít nhất là… “hơn một lần”.
         Hồ Quí Ly thuộc vào số đôi người đó.
         Sự thất bại của Hồ Quí Ly thuộc vào số vài việc đó.


⎎⎎⎎

         Chắc rằng nay, trên mười năm qua, nhất là sau cuộc giành độc lập gay go mà một kết quả là con sông Bến Hải lặp lại cái hờn tủi và não lòng của “Ôi! sông Gianh…”, những nhà văn, nhà báo nói trên nếu có thể hoặc có dịp phê phán lại người họ Hồ và việc của Quí Ly, hẳn là chúng ta được đọc những lý, những lời, những ý rất có thể chẳng giống trước kia, mà biết chừng đâu, trái nghịch nữa.
         Từ Nguyễn Trãi (năm 1427), thay mặt Bình Định Vương Lê Lợi (mà ta có thể nói rằng thay mặt cho toàn dân lúc bấy giờ) tung khắp nước những lời:

                “Khoảnh nhân Hồ chính chi phiền hà,
                  Trí sử nhân tâm cho oán bạn”.

                  (Gần đây vì họ Hồ phép ngặt, lệnh phiền
                  Đến nỗi khiến dân nước lòng lìa, dạ oán
).(6)

         Đến Lê Văn Hòe (năm 1941) hỏi: “Hồ Quí Ly có công hay có tội?” rồi lần lượt xét các công cuộc kinh tế, chính trị, văn học của họ Hồ, đã trả lời người công thần bậc nhất của Lê Thái Tổ trong việc giải phóng nước non nhà:

        “Rút lại, chính trị nhà Hồ chẳng có gì là phiền hà như lời Nguyễn Trãi đã kết án.
        “Chính sự ấy chỉ là chính sự một ông vua có óc cải cách văn minh mong làm dân giàu nước mạnh”.
(7)

         Có cả một trời xa cách.
         Và tác giả “Quốc sử đính ngoa” lại còn đi xa hơn nữa trong những câu kết luận:

        “Nghĩa là không phải họ Hồ làm mất nước, mà chính là quốc dân thời bấy giờ không biết có nước đã làm mất nước.
        “Kết tội Hồ Quí Ly (một ông vua có cách tổ chức theo lối Âu-Mỹ) thì thật là oan uổng và bất công.
        “Hãy kết tội những kẻ đã cầu viện nhà Minh sang đánh họ Hồ, cùng đám dân ngu tưởng rằng hàng phục quân Minh lúc ấy, là trung quân ái quốc lắm”.
(7)

         Nhưng mười năm sau, năm 1952, chính tác giả những dòng trên lại hỏi: “Vì lẽ gì họ Hồ thua giặc Minh và thua mau như vậy?” sau khi chứng minh rằng nước ta dưới thời Hồ Quí Ly, công cuộc quốc phòng được tổ chức mạnh mẽ và chu đáo hơn bao giờ hết. Và ông tìm ra hai cớ chánh:
         1.– Hồ Quí Ly vô chính trị.
         2.– Họ Hồ, quan niệm lầm về việc dùng binh, hay vụng dùng binh.
         Lý luận và đưa những bằng cớ xong, ông kết luận:

        “Tóm lại, họ Hồ bị thua giặc Minh một cách mau lẹ là vì họ Hồ vô chính trị đối với nhân dân lúc bình thời, và không biết dùng binh sát với tình thế và hoàn cảnh đất nước.
        “Nói cách khác, họ Hồ đã khờ khạo không biết rút những kinh nghiệm kháng địch đời Trần để đem áp dụng đối với giặc Minh.
        “Và chính bởi thế mà họ Hồ thất bại, chớ họ Hồ không thất bại vì đã cướp ngôi nhà Trần, như ý ông Trần Trọng Kim muốn nói trong Việt Nam sử lược”.


⎎⎎⎎

         1941, kịch liệt biện hộ cho Quí Ly.
         1952, kịch liệt kết án họ Hồ.
         Một nước nào đó bên kia dãy Ourala có câu tục ngữ: “Không khi nào có hai mà chẳng có ba”. Sau hiệp định lịch sử Genève, học giả Lê Văn Hòe chọn “không tự do”, ở lại Hà Nội, chúng ta mong có ngày được biết ý kiến – lần thứ ba – của người chủ trương “Quốc học thư xã” đối với họ Hồ. Hẳn là chúng ta sẽ được nghe những luận điệu, những lý lẽ nếu không mới lạ thì cũng khác hai lần trước, nghĩa là có ích cho chúng ta, chẳng ít thì nhiều: thêm một tiếng chuông, tiếng thứ ba, về một người Việt phi thường, đã gởi lại lịch sử một gương thất bại quá đau thương.
         Ta sẽ xét sự thất bại ấy sau. Giờ, ta thử kết luận về người.
         Con người ấy, dù mạt sát, dù buộc tội, hay biện hộ, hay tiếc khen, ai ai cũng gặp nhau ở điểm: đó là một người xuất chúng, lắm tài ba, đa sáng kiến, không chịu mòn mỏi trong khuôn khổ cũ, có tinh thần độc lập, và đặc biệt nhất, là óc độc lập về tư tưởng.(8)
         Con người ấy là một kết tinh của dân tộc: vài trăm năm nay mới có một người.
         Và hơn năm trăm năm cách biệt trong thời gian, ngoảnh lại, ta chẳng khỏi ngậm ngùi cho con người “quá tham lam” ấy.
         Quá tham lam, nhưng chẳng phải vì mải mưu lợi riêng cho mình hay cho dòng họ mình, mải muốn thân đã vinh càng vinh thêm, nhà đã phì càng phì nữa.
         Quá tham lam, nhưng chẳng phải tham lam những cái gì cân được, chất được, đếm được, giấu được, gởi được, rờ mó được, như vàng ròng, bạc nén, ngọc ngà, má phấn, lầu son… để rồi, ngai vàng chiếm được, là họ bo bo ôm lấy nó sợ người khác giựt giành mà chẳng tiếp tục bao cải cách rất cần mà những kẻ thức thời trông đợi.
         Ngàn lần không. Xin đừng gán cho con người ấy những thèm muốn, khát khao sà sà mặt đất ấy.
         Quá tham lam, là quá tham lam một giấc mơ to. Giấc mơ nọ đã to, to quá, và đẹp, đẹp ghê, to đẹp đến đỗi nó làm cho kẻ mơ bị nó ám ảnh, bị nó quyến dũ, bị nó thu hút thành “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm”, rồi thành kẻ có mắt sáng đi trong đêm dày, thành kẻ mù mà chẳng biết, cho đến khi “khối mơ” vĩ đại kia trở lại đè bẹp mình; tấm thân đành nát, mà đau xót biết bao, bao công phu bồi đắp, bao nền móng dựng xây, đều chịu nát tan theo tro bụi. Để… để lưu lại những phiền hà, những gian hùng, những quyền gian, những nghịch tặc, và còn gì nữa? À, còn cái tội làm mất nước, cái tội làm dân khổ nhục trong hai mươi năm Minh thuộc, cái tội đem cái họa đốt chở sách, kho vốn quí báu vô song của giống dòng, đám rễ cứng sâu của dân tộc.
         Giấc mộng chẳng phải là ảo mộng: nòi Việt giơ cao ngọn cờ tươi sáng ấm, báo hiệu một nguồn văn minh mới đẹp ở bờ biển lớn Thái Bình, và… và sự thật phũ phàng: như vậy đó.
         Mà vì đâu nên nỗi? Để công trình hai mươi năm âm mưu, toan tính, sắp đặt, đối phó, diệt thù, rồi bảy năm toàn quyền thi hành sáng kiến tài tình, cải cách táo bạo, phải sụp nhào như lâu đài xây trên cát, và chỉ trong vòng một năm thôi?
         Cớ chánh là: “sai một li, đi một dặm”.
         Cái sai ấy, là họ Hồ quá say sưa với sự thực hành những mộng lớn mộng con của mình – toàn là mộng đẹp cả – mà quên lửng dân đi mất: dân có phục, có tin mình chăng? Dân có hiểu việc làm mình không? Dân có vui lòng làm theo mình muốn chớ? Dân có đủ sức chịu đựng những cái rắc rối, phiền hà, mới lạ, thiệt thòi trong lúc ban đầu chăng?
         Bao câu hỏi thiết thực mà người có óc thực tiễn như họ Hồ lại quên đi mất. Thì nước mất, nhà tan, công toi, tiếng xấu… tên tù binh họ Hồ trên sáu mươi tuổi ấy mới “trả” cái sai một li của mình một cách vô cùng đắt đỏ: sự hống hách mất dạy của kẻ thù tham bạo, ngay trước mặt, và tiếng rên rỉ nghẹn ngào theo đường chim… theo cánh gió bay đến tai người chiến bại. Tưởng và quyết lái con thuyền quốc gia đến một bến Vinh quang huy hoàng chưa từng thấy, mà lại vì một giây sơ sót, vì chẳng thấy sự sợ hãi, rối loạn của đám thủy hành xa bờ và ra khơi lần thứ nhất, thuyền vỡ tan tành, cả những người trên đó chìm trong nháy mắt giữa ba đào, người thuyền trưởng nọ trọn kiếp sống thừa trên đất khách, biết bao giờ mới vơi uất hận cộng cùng hối hận.
         Tim một Lê Chiêu Thống, tim một Napoléon còn trơ, rắn lại. Mà nỗi uất hờn của hai vì vua bị an trí, bị tủi nhục này có nghĩa gì sánh với nỗi uất hờn của một “con người” bị tù đày, với cái đầu bạc bảy mươi mốt tuổi, với tấm lòng già mà hối hận chẳng buông tha.
         Có ai tìm lại giùm ta coi tim Quí Ly đã thành sắt hay đá?
         Có ai đem tài và tình mình để cho dân Việt có một khúc trường hận ca, khúc ca trường hận của người thất bại vĩ đại họ Hồ?


Tân Phong Hiệb, ngày Chiến sĩ trận vong
Năm Đinh Dậu (1957)

NGUIỄN NGU Í

______________________________________
(1) Chúng tôi theo thuyết Aurousseau.
(2) Trong “Việt Nam sử lược”.
(3) Trong bài… “Một người Việt phi thường: Hồ Quí Ly ”, đăng ở tuần báo “Thanh Niên” năm 1944, các số 24, 25, 26, 27.
(4) Tuần báo “Thanh Niên”, năm 1944, số 28.
(5) Trong cuốn “Chính trị Hồ Quí Ly”, 1944.
(6) Trích trong “Bình Ngô đại cáo”, Mạc Bảo Thần dịch.
(7) “Quốc sử đính ngoa”.
(8) Chúng tôi xin nói kỹ trong đoạn “Những việc làm của con người ấy trong thời thế ấy” đăng trong số tới.

BÁCH KHOA |  SỐ 21

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 24/02/2018, 22:47:40


Đại tướng Montgomery

CHÍN TRĂM LẺ HAI chiến tranh(1) đã xảy ra trong hai ngàn rưỡi năm nay; vậy mà đại tướng Anh Bernard Montgomery đã lập được một kỷ lục mới trong nghệ thuật cầm quân trong mười lăm tuần lễ. Ông và Đội quân thứ tám của ông, tức “Đội quân sông Nil”, đã đánh đuổi đại tướng Rommel và Đội quân Phi châu chạy dài khoảng ba ngàn cây số ra khỏi sa mạc Phi châu.
         Trước khi ra quân, đại tướng Montgomery bảo sĩ tốt rằng họ sắp chiến đấu một trận quyết định trong lịch sử, một trận nó sẽ đổi hướng cho đại chiến thứ nhì. Mà đúng vậy. Nếu đại tướng đại bại ở El Alamein, thì quân Đức đã chiếm được Ai Cập, kinh Suez và có lẽ cả những mỏ dầu ở Iran và Iraq. Rồi họ có thể băng qua Ấn Độ, bắt tay quân Nhật và cắt đứt những đường tiếp tế từ Nga và Trung Hoa.(2)
         Vậy mà thiếu chút nữa đại tướng đã không được cơ hội cầm quân ở El Alamein. Nguyên do là trong đại chiến thứ nhất, tại trận Meteron, ông bị thương nặng ở phổi đến nỗi người ta tưởng ông đã chết và đem chôn. Thân mẫu ông kể lại chuyện đó như sau:
         “Bernard ngã gục và người lính chạy giấy của nó bị bắn trúng tim, chết đè lên nó. Nó bất tỉnh, và được chở tới phòng cấp cứu. Bác sĩ bảo: “Người nầy chỉ sống được nửa giờ nữa thôi”. Viên đại tướng bèn cho lệnh đào huyệt. Người ta đem xe cam nhông chở Bernard đi. Trên đường tới huyệt, người cầm lái thấy nó cựa cậy nhè nhẹ, bèn bảo bác sĩ: “Thưa bác sĩ, cái thây nầy chưa chết”.”
         Vâng, nhờ Trời, thây đó còn sống thật, và thây đó sau nầy thành một đại tướng nổi danh nhất của Anh trong đại chiến thứ nhì.
         Bernard Law Montgomery đã xuýt thành một nhà thuyết giáo, chứ không phải là một đại tướng. Thân phụ ông là giáo sĩ H.H. Montgomery, giám mục ở Tasmania và Bernard Montgomery muốn theo gót cha.
         Nhưng năm 1899, ông mười hai tuổi, một hôm đứng trên lề đường Luân Đôn, nhìn đoàn quân diễn ra đi sang Phi châu đánh giặc Boer, nghe tiếng kèn, tiếng trống hùng dũng, thấy đám đông hoan hô, ông nhớ lại những chuyện phiêu lưu mà thân mẫu ông đã kể cho ông nghe hồi nhỏ, cùng cuộc đời anh dũng của ông nội ông, Robert Montgomery, một vị trung tướng nổi danh trong những trận Ấn Độ. Thế là từ đó trong lòng em nhỏ mười hai tuổi ấy, dào dạt ý muốn làm một nhà cầm quân đại tài chứ không kỳ chịu là một nhà thuyết giáo. Em cũng muốn diễn qua thành phố Luân Đôn trong đám cờ bay phất phới và dân chúng hoan hô.
         Thân mẫu ông kể chuyện những danh nhân Anh như Cromvell, Clive, Drake và Nelson để tiêm cho ông tinh thần mạo hiểm.
         Ông được sinh trưởng trong một gia đình đầy những sách bất hủ, và được hấp thụ những tư tưởng cùng lý tưởng thanh cao. Một hôm thân phụ ông gọi bốn người con vào phòng sách và bảo họ rằng họ đủ trí khôn để tự lựa chọn lấy con đường đi trong đời rồi, cụ không phải dắt dẫn nữa, nhưng lựa đường nào thì lựa, họ cũng không quên được mục đích giúp nước.
         Và muốn dự bị để giúp nước, Bernard Montgomery vào trường võ bị Sandhurst. Trong bốn chục năm nay ông là một quân nhân chuyên nghiệp.
         Phần nhiều những thắng lợi của ông trong việc cầm quân là nhờ ông có tài dẫn đạo người. Ông tuyên bố rằng điều kiện quan trọng nhất để thắng trận là lòng người. “Không phải là xe tăng, hoặc chiến xa, chiến hạm mà thắng trận được đâu. Thắng được là nhờ con người ngồi trong những xe, những tàu đó”.
         Ông lại nói “Bất kỳ người nào trong bộ đội cũng phải có chí quyết chiến hiện ra ở tia sáng con mắt”. Ông bảo Đội quân thứ tám của ông rằng họ là những lính thiện chiến nhất trên hoàn cầu, đã đầy danh vọng, chưa hề thua trận nào, và không có sức gì ngăn cản bước tiến của họ được. Ông lại tâm sự với họ, cho họ biết họ sắp phải làm những việc gì. Ông cho họ những mục tiêu rõ rệt để nhắm. Ông nói để họ vững lòng rằng chỉ khi nào ông có đủ khí giới, có đủ không lực để thắng thì ông mới đưa họ ra trận. Ông cho biết hai quy tắc của ông:
         Quy tắc thứ nhất: đừng bao giờ để quân địch ồ ạt tấn công mình đến nỗi mình rối hàng ngũ.
         Quy tắc thứ nhì: không chắc chắn là thắng trận thì đừng bao giờ ra quân. Trong một thông điệp gửi cho quân đội, ông viết: “Nếu tôi không chắc thắng thì không khi nào tôi chiến đấu. Nếu tôi còn phải lo lắng, ngại ngùng, thì tôi chưa đánh vội, mà chờ cho tới khi mọi sự sẵn sàng”.
         Kỷ luật của ông rất nghiêm. Một lần, trong một hội nghị quân sự, ông bảo: “Tôi không muốn các ông hút thuốc hoặc ho. Vậy các ông không hút thuốc ở đây. Ngay bây giờ các ông có thể ho trong hai phút đi, rồi thì ngừng ho trong hai mươi phút cho tới khi tôi lại để các ông ho trong sáu mươi giây nữa”.
         Đối với kẻ địch, ông không có tính ghét cá nhân. Ông thường treo hình Rommel trên đầu giường ông và nói rằng muốn được gặp Rommel trước khi chiến đấu. Tại sao? Tại ông nghĩ nếu được nói chuyện với một người mà mình sắp tấn công, thì dễ đoán được người đó sẽ dùng chiến thuật nào.
         Khi bắt sống được tướng Von Thoma, cánh tay mặt của Rommel, ông mời Von Thoma lại dùng cơm tối với ông. Ông vẽ phác chiến trường lên nắp bàn và chỉ cho Von Thoma thấy tại sao Rommel không thể thắng được.
         Khi ông chỉ huy Đội quân thứ mười hai, trên tường phòng giấy của ông có treo một dấu hiệu ý nghĩa là: “Đã sẵn sàng trăm phần trăm chưa? Khí lực có sung không? Sáng dậy có ca hát vui vẻ không?”
         Sự thật thì đại tướng Montgomery không bao giờ thức dậy mà ca hát vui vẻ, hoặc nói năng một tiếng gì hết. Người ta đánh thức ông và một giờ sau ông mới bước ra khỏi giường. Sáu giờ sáng người ta đánh thức ông, ông uống một ly cà phê rồi nằm thêm một giờ nữa để suy nghĩ, tính toán. Những chi tiết lặt vặt, ông để người khác giải quyết; ông tổ chức công việc hàng ngày để không lúc nào phải vội vàng.
         Ngày mai ra quân, thì hôm nay ông vẫn ung dung. Kế hoạch tấn công đã định trước rồi. Ông bảo có thể thắng trận và phải thắng trận từ trước khi tiếng súng đầu tiên nổ, thắng bằng cách tính kỹ kế hoạch từ trước.
         Khi trận đã bắt đầu khai diễn thì ông nghỉ ngơi. Ông lên giường nghỉ một giờ trước khi pháo binh của ông tấn công Rommel ở El Alamein. Bốn giờ rưỡi sau, hồi một giờ rưỡi khuya, vị phó quan của ông đánh thức ông để phúc trình tình hình mặt trận. Ông nghe, ra lệnh xong rồi tắt đèn, lại ngủ nữa. Sở dĩ ông tự tín ghê gớm như vậy là nhờ ông đã tính toán kỹ lưỡng, nắm được ưu thế trên không, và sĩ tốt của ông thiện chiến mà khí giới thì đầy đủ.
         Đại tướng lấy lời huấn hỗ dưới đây của thân phụ ông làm phương châm: “Con sinh trong một vọng tộc. Vọng tộc không phải chỉ có nghĩa là bề ngoài sang trọng, mà còn có nghĩa là tâm hồn thanh cao, nhã nhặn. Phải ghét những cái gì nhục nhã, ti tiểu và dơ bẩn”.


DALE CARNEGIE
Nguyễn Hiến Lê dịch

______________________________________________
(1) Chẳng biết tác giả căn cứ vào đâu để đưa ra con số nầy (chú thích của dịch giả).
(2) Tác giả lầm chăng. Trung Hoa hồi đó tiếp tế gì được cho ai? chỉ nhận tiếp của nước khác thôi (chú thích của dịch giả).

BÁCH KHOA |  SỐ 21

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 24/02/2018, 22:58:19


                 Nắng mai

            PHẢI tôi là mặt trời?
            Mà cô em nghiêng nón?
            Mới sáu giờ ban mai,
            Nắng mới là nắng sớm!

            GIẤU làm chi nụ cười
            Nở trên làn môi thắm?
            Hãy đón ánh hồng tươi,
            Để cho lòng đầm ấm!

            TÌNH em: hoa chớm nở,
            Tuổi em: xuân đương thì.
            Đường đời sui gặp gỡ.
            Chuyến xa ta cùng đi.

            XE ngừng, em bước xuống,
            Tà áo bay trên hè,
            Ánh nắng vờn trên nón,
            Tôi nhớ nụ cười che…


                                        MAI LÂM


BÁCH KHOA |  SỐ 21

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 02/03/2018, 22:10:07
BÁCH KHOA |  SỐ 22  [1 tháng Mười Hai  1957 |  80 trang]

MỤC LỤC
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu [II] |  1-4
Huỳnh Đức Quang |  Tìm hiểu Hội nghị Á-Phi họp lần thứ nhứt tại Bandung |  5-13
Bách-Khoa |  Đạo quân thần |  13
Nguyễn Văn Ba |  Đông y trên căn bản nhân vị |  14-20
Quang Huấn |  Ấn Độ ngày nay và ông Nerhu |  21-25
Bách-Khoa |  Đức tốt bị điều hại che lấp |  25
Tân Fong Hiệb |  Nguyễn Nhược Pháp, nhà thơ dễ thương |  26-36
Nguyễn Nhược Pháp |  Đi cống (thơ) |  37
Thuần Phong |  Phần đóng góp của văn học bình dân trong văn học bác học: hay là nguồn văn liệu của Trinh Thử và Kim Vân Kiều |  38-42
Trần Hà |  Thử xét ảnh hưởng của chiến tranh nha phiến đối với lịch sử Trung Quốc: Một trận giặc, mấy bài học [II] |  43-47
Lê Văn Siêu & Nguiễn Ngu Í |  Chung quanh tranh Văn hiến Việt Nam |  48-50
Thuần Phong |  Trên sông quạnh vắng (thơ) |  51-52
Phạm Hoàn Mĩ |  Về ngày tháng bức thơ tâm huyết cụ Sào Nam viết cho cụ Tây Hồ |  53-54
Quảng cáo |  55-56
Hư Chu (tỉnh dịch) |  Trung Hoa tình sử: Cổ Áp Nha |  57-61
Quảng cáo |  62-64
Á-Nam Trần Tuấn Khải |  Đường thi dịch giải: Bát nguyện thập ngũ dạ \ Hàn Dũ |  65-66
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [V] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  67-77
Quảng cáo |  70, 72, 74, 76, 78-80


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204215120-bdf85d8cc60dfe40b624dac92e31d3e9/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 02/03/2018, 22:37:25


Đông y trên căn bản nhân vị
000
Y học nhân vị trong văn minh cơ giới và văn minh dịch lý
TRONG KHI bóng tối vừa tan và hương dịu của bình minh hòa cùng gió thoảng, tôi thấy một con diều hâu bay từ đỉnh núi cao, xẹt xuống đồng bằng, một hơi không động cánh. Với một ý chí, một tấm lòng, nó kiếm mồi ngon để chiều lại bay về dưỡng nuôi con dại nằm trong ổ mịt mù cao trên đỉnh non êm lặng.
         Giống như con diều hâu, người đã lăn lóc giữa bịnh tật tử thần để tìm nguyên lý của sự đau khổ, rồi một ngày kia, trở về với nhân loại yêu thương, với một ý chí, một tấm lòng, người ấy nâng đỡ dưỡng nuôi đồng loại bằng một tình thương nồng nàn vô tận. Không tình nồng nàn vô tận ấy, người lương y trong khi hành nghiệp, như một chiếc thuyền không kim chỉ hướng, lay quay trên biển cả mênh mông; hoặc như người cầm lái xe vô trách nhiệm, ông lương y chỉ đưa nhân loại mau xuống hố mà thôi.
         Một thợ lò gốm nhồi đất nặn đồ, có thể nghĩ đến tiền mà không nghĩ đến nhân sinh. Một nhà bác học cặm cụi trong gian phòng làm bom nguyên tử để giết người hay để người khác dùng giết người, có thể không nghĩ đến nhân loại. Một ông lương y, với cái linh của lương tâm, với cái lương tâm, với cái thần kỳ của nhân trí, với tay xương mắt mũi của nhơn thân mình để dò thám nhơn thể, cảm ứng nhơn tình mà thông suốt nhơn bịnh của người, thì không thể không nghĩ đến NHÂN VỊ của người chung quanh mình được.
         Tiền bối ta nói: “Xuất Vi Lương Tướng, Nhập Vi Lương Y”, chẳng phải đợi làm lương y mới biết thương người, trọng nhân phẩm, kính nhân vị mà thôi, lương tướng cũng như lương y, cũng như các chính trị gia, triết học gia, bác học gia, xã hội gia đều phải căn cứ sự hiểu biết việc làm của mình trên Nhân Vị.
         Làm sao mà không cho được. Đã là con người trong vũ trụ thì phải theo luật tự nhiên của vũ trụ. Bởi luật biến dịch không ngừng của tạo hóa, phần tử nào trong vạn vật bao giờ cũng tìm bạn đồng thanh đồng khí để tương ứng tương cầu. Khổng Tử đã nói: “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu…, các tông kỳ loại dã”. Đồng thanh thì ứng với nhau, đồng khí thì cầu với nhau… mọi vật đều theo về loại của mình vậy. Con người không sao ngoài luật ấy được.
         Phàm sinh ra ở trong trời đất, chưa có cái gì đứng một mình không tương cầu lẫn nhau mà tồn tại được. Nhưng muốn ứng cầu hòa hợp được nhau thì phải trừ bỏ gián cách, căn cứ trên nhân vị, lấy tình đồng loại mà thông cảm hòa xướng với nhau. Tử Thị Trung Hàng, khi luận về lời của Khổng Tử trong kinh Dịch, có nói: “Minh hạc tại âm nhi kỳ tử bất hòa, tình chi sở đồng, vô ẩn hiện chi gián dã”. Chim Hạc kêu ở chốn âm u, con nó tất họa lại chỗ đồng tình ấy không có gì ẩn hiện làm gián cách cả. Tình mẫu tử, tình phụ tử là tình đồng loại thân mật nhứt, nên chim cha chim mẹ kêu, tất con nó phải họa lại, vì đã là tình yêu thương đồng loại thì không gì làm trở được.
         Văn minh cơ giới, nảy sanh ra 300 năm nay, có giúp xã hội tạo ra được những nhà lương y trên căn bản nhân vị, hòa đồng với nhân loại hay không? Văn minh cơ giới có cái hay của nó: học biết để khắc phục ngoại cảnh, làm lợi khí cho sự phát triển vật chất thỏa mãn lòng thị dục của con người. Bởi vậy ta thấy những nhà cao cửa rộng chọc trời, máy bay vòng quanh thế giới mấy mươi lần mà không đáp cánh, hỏa tiễn bắn tận cung trăng, bom nguyên tử sát hại một lúc mấy triệu người nếu ta muốn.
         Nhưng, khuyết điểm thứ nhứt của văn minh cơ giới là: chỉ dùng cái trí để biết sự vật mà quên cái tâm để hiểu sự vật. Vì quên cái tâm ấy mà sự hiểu người và vạn vật không có, chỉ có biết những luật của thế giới tự nhiên để lợi dụng cho con người mà thôi. Phải dùng cả trí lẫn tâm, thì mới biết và hiểu; khi biết và hiểu một lượt thì cái TRÍ mới nảy sanh và chỉ có cái trí ấy mới đáng quí, vì chỉ có ái trí ấy mới hiểu biết được cái LÝ của người và của vạn vật. Hiểu biết được cái lý của con người thì khoa học ấy và văn minh ấy mới nằm được trên căn bản Nhân vị. Trong Đại Học, ông Tăng Tử có nói” “Cái nhân tâm chi linh, mạc hữu bất tri, nhi thiên hạ vạn vật mạc bất hữu lý. Duy ư lý bất cùng cớ kỳ tri bất hữu tận dã”. Chỗ linh của nhơn tâm (trí và tâm) không có gì không hiểu biết và thiên hạ vạn vật không gì là không có lý. Cái lý đã không cùng, thì sự hiểu biết cũng vô tận.
         Khuyết điểm thứ nhì của văn minh cơ giới là: đi xa ở ngoại cảnh mà lìa bỏ nội tâm. Con người đối với ngoại cảnh là phải khắc phục, phải chiếm đoạt vũ trụ, chiếm đoạt đất đai, chiếm đoạt kinh tế, chiếm đoạt ngày giờ, chiếm đoạt tự do và hạnh phúc của kẻ khác. Người ta không bước lên xe lửa mà nhảy lên xe lửa; người ta không ngắm cảnh bao la của vạn vật khi xe chạy giữa cánh đồng bát ngát, mà chỉ xem báo chí hoặc mở va ly ra rồi lại đóng vào. Xe đến chỗ sớm hơn mươi phút, là người ta đã mừng rồi, như là được văn minh thêm chút nữa. Nhưng rồi họ đi đâu, họ sẽ làm gì? Chiều hôm ấy, thấy họ ngồi ở tiệm cà phê, để giết thì giờ với chuyện gẫu, vẩn vơ, ngắm cảnh vật giả tạo với một ý chí bông lông. Ở những xứ chỉ có văn minh cơ giới, con người không đi mà chạy, không ngưởng mặt để vui với cảnh thiên nhiên, mà gục đầu nặng chĩu với những tư tưởng chiếm đoạt đấu tranh, chừng đến khi đêm vắng trăng thanh, tự vấn lòng mình coi hạnh phúc nơi nào, thì bỗng dưng thấy lòng mình trống rỗng.
         Ông Descartes là thủy tổ của văn minh cơ giới ngày nay, nói câu rất rõ rệt. Ông nói: Tôi biết được vũ trụ là nhờ tôi biết tôi đang sống, đang có tôi ở đây. Mà tôi làm sao tôi biết được là đang có tôi ở đây? Tôi biết được như thế là nhờ tôi suy nghĩ. Hễ khi nào tôi suy nghĩ, thì sự suy nghĩ ấy tỏ rằng tôi đang sống, đang có tôi ở đây. “Je pense, done je suis” (tôi suy nghĩ, tức là có tôi vậy), là một câu danh tiếng được thế giới công nhận là hay, nhưng hay có phân nửa, vì nó phủ nhận cái tâm mà chỉ dùng cái trí.
         Ông cũng nói: “Je frappe un chien, il crie mais il ne sent pas”. Tôi đánh con chó, nó kêu mà nó không đau. Tôi biết nó kêu vì tôi nghe nó kêu, tôi có thể đo sự kêu nó đến bực nào. Còn nó đau? Tôi không nhận vì tôi không thể thấy, thể đo, thể lường được cái tâm của nó. Câu ấy đem áp dụng cho con người, thì có thể nói: “Tôi chiếm đoạt đất đai của người khác, tôi chiếm đoạt tư tưởng và tự do của người khác, tôi ném bom giết chết muôn triệu người, tôi biết rằng tôi có giết họ, vì tôi đếm được số người, tôi trông thấy họ đang quằn quại, nhưng họ có đau khổ hay không, tôi không cần, vì tôi không nhận cái tâm của họ”. Không nhận cái tâm của người tức là không nhận nhân phẩm, nhân cách, nhân vị của ai hết, và cũng khinh bỉ nhân phẩm, nhân vị của mình; “khi nhân tức khi kỳ tâm, khi kỳ tâm tức thị khi kỳ thiên” là vậy đó.
         Chính trị gia chỉ có văn minh cơ giới thì chà đạp nhân vị, đúc khuôn nhân loại, bắt ai ai cũng phải tư tưởng như nhau, coi con người như một đàn bò nuôi cho lớn, dạy cho tinh để làm việc theo thị dục của mình. Còn một lương y nếu chỉ có hấp thụ văn minh cơ giới, nhìn con người như nhìn cái máy, cần phải thay bộ phận này, lau bộ phận kia. Con người là một sinh vật, biết ăn uống, sinh sản, sống chết theo luật phản ứng hóa học không hơn không kém.
         Văn minh dịch lý Á Đông căn bản trên sự biến chuyển không ngừng của vũ trụ, trên những luật biến dịch và giao dịch của hai mãnh lực âm dương, bao trùm cả không gian và thời gian, CON NGƯỜI và sự vật; văn minh dịch lý ấy đã tạo được những khoa học nhân vị, luân lý nhân vị, nghệ thuật nhân vị, triết lý nhân vị. Nhưng, cách đây 100 năm, văn minh cơ giới Âu châu tràn qua Á Đông như nước thủy triều, như ngọn cuồng phong bạo lực. Mạnh được yếu thua là câu phương ngôn trên đầu lưỡi mọi người căn cứ trên học thuyết phiến diện “Sinh tồn cạnh tranh” của Đạt Nhĩ Văn (Darwin). Chánh trị cơ giới đánh chà đạp lên, khoa học máy móc tiến là khoa học nhân vị lùi; luân lý của kẻ mạnh là luân lý chánh đáng; nghệ thuật không vì nhân sinh nữa mà vì những thị dục vẩn vơ; còn triết lý cao siêu tuyệt đích về TU THÂN XỬ THẾ của những bậc hiền nhân, chính người Á Đông mình, trước sự tấn công mãnh liệt của sức mạnh máy móc, đã phủ nhận và mất hết cả tự tín mà xóa bỏ khỏi cõi lòng những tư tưởng chân lý mà trước kia mình quí nhứt.
         Trong hai trận thế giới chiến tranh, sức mạnh của máy móc tàn phá đến cực điểm, người Á châu và người Âu châu đều bi đát mà nhìn nhận; nhưng, từ khi hai quả bom nguyên tử nổ tại Hiroshima và Nagasaki, người Á châu nhận được chân tướng của văn minh cơ giới là chỉ có tàn phá mà thôi, tàn phá rồi để không biết làm gì nữa. Người Á châu nhìn lại tâm mình, thấy sao tâm mình hay ho, vẫn còn ngọn đèn leo lét làm ấm được cõi lòng. Trái lại, người Âu châu hoảng hốt vì không kiểm soát được mãnh lực máy móc mình đã tung ra: máy móc đến lúc không còn phục vụ con người mà làm chủ lại con người đó. Một số người phản đối sự công dụng ngu xuẩn của máy móc, quay về Á Đông là miếng đất bao la, triền miên tư tưởng cao siêu, của tâm linh và trí diệu. Còn một số người, sau khi hoảng hốt, nhìn lại tâm mình trống rỗng lại càng hoảng hốt, không biết làm thế nào hơn bằng cách dấn thân vào con đường mình đã vạch.
         Một trăm năm nay, văn minh cơ giới thổi rạp cả thế giới, nhưng văn minh dịch lý NHÂN VỊ của Á Đông như cây sậy, cong mà không gãy. Triết lý nhân vị đã được bành trướng trở lại; nghệ thuật nhân vị đã được đề cao; luân lý nhân vị đã được áp dụng; khoa học nhân vị đã được nêu ra và chính trị nhân vị đã được đề xướng. Nhưng, ĐÔNG Y HỌC NHÂN VỊ, nhờ có ích lợi thiết thực hằng ngày cho nhân dân toàn cõi Á Đông, nhờ nó đấu tranh không lùi bước để giữ vững lòng mến chuộng của đồng bào trong một thế kỷ nay, nhờ chủ lực của muôn ngàn cán bộ tận tâm với Đông y ẩn tại chốn thôn quê, nên ngày nay nó trở dậy được, mạnh mẽ kiện toàn.
         Ba mươi sáu nước thế giới ngày nay, nhờ sự cố gắng không ngừng của Đông y sĩ Việt Nam, Trung Hoa và Nhật Bản, hiểu rõ NHÂN VỊ của Đông y mà mến phục, thấm nhuần lý thuyết nhân vị của Đông y mà quyết tâm theo đuổi cho đến cùng khoa học nhân vị của Đông y mà châm cứu là bước đầu.
         Trước một bịnh nhân đau thương đang quằn quại mà học thuyết nhân vị của Đông y chữa khỏi, thì không còn ai phủ nhận được giá trị của nó. Nhưng muốn biết tại sao Đông y căn bản được trên nhân vị, thực hành được trên nhân vị, tồn tại và vinh quang được trên nhân vị, xin hãy xét mấy đoạn sau.

Căn bản của Đông y nhân vị là dịch lý
         Trước đây một muôn năm, dân Việt Nam cùng với dân Hán, Ngụy, Tấn, Tần, Ngô, Sở…, rời bỏ ngọn núi Tây Tạng cao vót và lạnh lẽo mà lần theo hai con sông to lớn Hoàng Hà, Dương Tử, rồi rải rác định cư trên miếng đất mênh mông gọi là Trung Hoa lục địa ngày nay.
         Trong cuộc di dân khổng lồ ấy, trải năm sáu ngàn năm, dân tộc Á Đông ở trong tình cảnh du mục, nghĩa là nay đây mai đó, lấy sự săn bắn chăn nuôi, trồng tỉa tạm thời mà độ nhật. Cảnh màn trời chiếu đất khiến dân tộc Á Đông mật thiết với thiên nhiên, cảm hiểu định luật thiên nhiên, và nhận sự tương quan con người và vũ trụ rất rõ rệt.
         Một chiều hôm ấy, PHỤC HI, thủ lĩnh của nhiều bộ lạc đã đến định cư sớm trên Cao nguyên trung tâm Trung Quốc, đẩy cửa gai bước ra trước lều.
         Đỉnh Cao nguyên mênh mông, trơ trọi, u tịch, vắng lặng: xa xa những đồi gò, nhấp nhô xanh xanh tận mãi chân trời. Ánh Thái dương vừa lặn, bỗng phừng trở lại những tia êm dịu, như thân chào mọi vật cho đến ngày mai.
         Thủ lĩnh có một thân hình đồ sộ, cứng rắn như một pho tượng đẽo với vài nhát búa đơn giản mà hùng hồn: mũi cao, mắt rộng, sáng sủa và thông tuệ. Ngài bước mạnh dạn cứng cáp và dẻo dai như một người còn niên thiếu.
         Ngài bước lên mô đất cao vòi vọi, tầm mắt nhìn được rõ ràng những bãi đồng xanh, phơi phới ở tít mù xa.
         Gió đã êm trên ngọn cỏ, mà vừng trăng bỗng đâu lố dạng, vàng lớn hiên ngang, vừa tao nhã vô cùng.
         Thủ lĩnh ngắm bầu trời, trên ấy đã hiện tỏ các ngôi sao… Những cộng tác viên của Ngài cũng đã đến đông đủ và đêm, theo luật tự nhiên, đã tuần tự thả bóng tối khắp cả mọi nơi. Ngài đã ngoại bát tuần, tóc Ngài đã bạc. Lúc thiếu thời, Ngài là tướng dũng cảm, lao động không biết mệt. Ngài che chở dân Ngài khỏi vạn nỗi khó khăn: đói rét, tật bịnh, giặc giã, mê tín. Nay Ngài hợp những bậc lão thành, đã cùng với Ngài biết bao đêm kiểm điểm học thuật dưới ánh mờ của đom đóm, để tổng quát hết tất cả sự hiểu biết truyền tử lưu tôn tự mấy nghìn đời.
         Ngài nói: “Các Em hãy xem, vũ trụ không phút nào ngừng. Ngày mới hết thì đêm đã nối liền theo. Đêm chưa tận thì ngày bỗng dưng đã thấy. Ngày là căn nguyên của đêm, đêm là nguyên do của ngày: Không gì hoàn tất, mọi vật đang biến chuyển, ràng buộc liên hệ lẫn nhau. Sự sanh đã có mầm sự tử, mà sự tử đã phát động sự sanh. Tử sanh, sanh tử là hai trạng thái biến chuyển không ngừng của một nguồn sống vô tận vô biên tràng vũ trụ.
         “Kìa xem, to lớn thay cái đức của trời, là nguồn sanh vạn vật, nuôi nấng muôn loài, hanh thông mà lại chính bền, người quân tử coi đó mà tự cường không thôi. Cùng tột thay cái đức của đất, muôn vật nhờ đó mà sanh ra. Bao dung, rộng rãi, sáng láng, lớn lao, hanh thông mà lại thuận bền, người quân tử coi đó mà mến yêu muôn loài, hòa đồng với vạn vật. Con người nằm trong lòng trời đất vạn vật, không có lý gì tách riêng biệt được. Trời đất vạn vật không phải là ngoại cảnh mà khắc phục, tâm con người không phải là nội tâm mà bảo thủ. Tâm người tất là tâm trời đất vạn vật, lý của vạn vật tức là lý của ta. Vạn vật đồng nhất thể, nhân loại là một người. Tiếng người nói rung động cả trời đất; vạn vật âu sầu thì lòng người héo hon, mà lòng người càng héo hon khi đồng loại mình khốn đốn. Yêu đồng loại mình là yêu trời đất; kính trời đất tất phải kính người. Hãy nhìn chung quanh các Em: họ như ta, mắt sáng ngời, đượm đầy anh linh của vũ trụ. Đáng kính thay, CON NGƯỜI; đáng trọng thay, CON NGƯỜI cũng như vạn vật đồng đáng kính trọng vậy.
         “Các Em nhận rõ: con người và vũ trụ là một. Trời đất có gì là ta có nấy, liên quan mật thiết vô cùng. Cả thảy đang biến chuyển trên một cái Lý chung. Nhưng cái lý đương nhiên của sự vật, khi hành động phải thuận lý, ứng vật mà làm thì không sai. Con người chẳng nên tạo ra một việc gì, rồi trên sự giả tạo ấy xây cất lầu đài tư tưởng mà bắt người khác làm theo. Con người chẳng nên âm mưu dục vọng, theo thị dục của mình mà làm như thế tất phải sai lầm. Mà hễ sai lầm thì ảnh hưởng đến ta, mọi vật có thể giúp ta sống mà cũng có thể làm cho ta chết, như nước chở thuyền mà cũng cũng lật thuyền được vậy. Thiên địa có một cái Cơ. Con người phải thông hiểu máy huyền vi ấy, thì mới thuận lý ứng vật được. Khi thuận lý ứng vật, thì làm trước trời đất mà trời đất cũng đồng lòng, làm sau trời đất cũng ưng thuận. Muôn triệu người tuy khác nhau, nhưng chừng thuận lý ứng vật, thì đồng qui về một chỗ, đưa dâng cho nhau những bó hoa muôn sắc.
         “Đứng trên núi, các Em nhận thấy lý do nó khác đồng bằng; bây giờ đang đêm tối, các Em cũng xác thực rằng chẳng phải là ban ngày. Vậy thì tối sáng, thấp cao, nặng nhẹ, lạnh nóng, cứng mềm… là những đức tánh của trời và của đất; cho đến thể chất với tinh thần, mọi lý lẽ ở đời đều có hai mãnh lực âm dương đối lập. Dương là những gì sáng sủa, phát động, biến hóa…, và Âm là những gì thâm tối, thu tàng, dưỡng dục… không gì là hoàn toàn Âm, không gì là hoàn toàn Dương. Âm Dương là hai tiếng tiện lợi để bàn luận khi ta nói đến thiên hình vạn trạng của vật thể và khi ta muốn nói đến sự đối lập của sự vật mà thôi. Nhận đối lập của sự vật tức là nhận hai chữ Âm Dương; nhận có Âm Dương tức phải học những luật phối hợp của Âm Dương mà ta gọi là luật Đối Đãi.
         “Thật ra, không có sự vật có đối lập, là tại ta phân tách để dễ nhận xét mà thôi. Sự vật đối lập là sự vật chết; phân tách mà không phối hợp là cắt đứt trời đất, nhân loại, vũ trụ làm hai, gây sự loạn ly khốn khổ cho loài người. Luật vĩnh viễn của trời đất là phối hợp, là xướng hòa, vui vẻ với nhau mà hòa hợp, thuận lý với nhau mà đi đến chỗ trí trung hòa. Sở dĩ có chỗ chưa hòa hợp được, là vì có gián cách, bỏ gián cách đi thì lại có hòa hợp. Các Em nhìn xem, trời đang trong, đất đang lặng, bỗng nhiên gió thổi mây che: Trời đất đâu phải không hòa mà tại có ngọn cuồng phong ở đâu thổi đến, nay nó đã đi thì thiên địa tự nhiên tương cảm lại mà vạn vật xướng hòa hanh thông hạnh phúc với nhau.
         “Các Em hãy đưa cành cây cho ta vẽ vũ trụ bằng một vòng tròn. Ta vẽ Âm Dương biến chuyển ở trong bằng một lằn cong và trong Âm có điểm Dương đối đãi trên 8 luật này mà ta gọi là Bát Quái: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Không có luật đối đãi thì không sanh hóa muôn loài vạn vật được. Luật đối đãi ấy, ta vẽ ra 64 quẻ sau đây, các Em nên coi đó là nền tảng trong không gian và thời gian. Dầu là thiên văn, dầu là địa lý, dầu là triết học, nghệ thuật, chính trị, Y HỌC, muôn việc gì cũng đều biến chuyển như nhau, nhưng ở phương diện khác nhau mà thôi. Các Em phải nhớ câu này: dầu làm việc gì cũng phải lấy con người làm gốc, thương yêu kính trọng lẫn nhau, VÌ CON NGƯỜI LÀ ANH LINH CỦA VẠN VẬT”.


NGUYỄN VĂN BA


BÁCH KHOA |  SỐ 22

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 03/03/2018, 22:54:25


                             Đi cống
Lệ cống thì phải chọn nho sĩ, thầy thuốc, thầy bói, thầy toán số
và thợ thuyền, mỗi hạng ba người, cùng các đồ sản vật như là
         sừng tê, ngà voi, đồi mồi, châu báu và các vật lạ.

                               (Trần Trọng Kim)

               Núi cao, lửa hồng reo chói lọi,
               Đổ vàng cây cối um tùm xanh.
               Khi lòe nắng lóa, khi thâm tối,
               Sườn non con đường mềm uốn quanh.

               Hiu hắt cờ bay tua phơ phất,
               Binh lính hò reo gầm bốn phương.
               Nón đỏ, bao vàng, chưn giậm đất,
               Một toán đạp rừng um dẫn đường.

               Mặc áo bào xanh, ngồi ngựa trắng,
               Sứ nghe nhạc lắc vang bên rừng.
               Hai bên hai lọng vàng che nắng.
               Giời, mây, trông non nước muôn trùng!

               Mười xe bịt đồng, trâu mập kéo,
               Bánh sắt khi kề lên sườn non,
               Đá đổ ầm ầm như sấm réo,
               Gầm nhảy xuống vực sâu kêu dòn.

               Trên xe nào mâm vàng, dát ngọc,
               Châu báu, sừng tê và ngà voi;
               Hai pho tượng vàng đỏ đòng đọc;
               Bào nạm kim cương, đai đồi mồi.

               Binh lính hò quanh hoa giáo mác
               – Võ tướng khua đao to lầm lầm –
               Hễ thấy đường chênh kề miệng thác,
               Bỏ giáo lên xe xoay bánh vần.

               Thầy nho, thầy thuốc bên thầy bói,
               Thợ thêu, thợ chạm cùng thợ nề,
               Mỗi người đeo một cái khăn gói
               Đỏ, buông cương ngựa theo gần xe.

               Lúc ấy, giời xanh không u ám.
               Đầu non không tờ mờ bóng sương,
               Làm sao họ âu sầu thảm đạm?
               Buồn thay! người cố quận tha hương.

               Xe đi mỗi lúc một thêm khó.
               Hang thâu hổ đói rên vang lừng;
               Những con trăn xám văng như gió,
               Quật đuôi đè gẫy bẹp cây rừng.

               Sứ bỗng nhìn quanh buồn ủ rũ.
               Xa xa ngọn cờ vàng phất phơ!
               Vợ con ở chưn trời mây phủ,
               Hẳn đang nhìn bóng nhạn mong chờ…

               Hỡi ai đi thẩn thơ miền núi!
               Nhìn ngọn cây xanh gió thổi ào,
               Tưởng lại cờ xưa vàng chói lọi,
               Nên yêu người cũ hồn trên cao.


                                                10-3-1933
                                  NGUYỄN NHƯỢC PHÁP
                                  (Ngày xưa)


BÁCH KHOA |  SỐ 22

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 03/03/2018, 23:05:18


               Trên sông quạnh vắng
                                     Thân tặng các bạn học Việt ngữ với tôi.

            EM có biết con sông quạnh vắng
            Từ ngàn xa lẳng lặng trôi xuôi,
            Đất lành ngọn nước rẽ đôi,
            Hai bờ ngăn cách, một vời minh mông?

            EM có biết con sông quạnh vắng
            Từ biển xa trầm lặng chảy xuôi,
            Nước xanh giòng biếc một ngòi,
            Hai bờ ngăn cách, mấy vời xa trông?

            EM có biết con sông quạnh vắng
            Là con sông ngăn chận lối đi,
            Suối ngàn, nước biển xanh rì,
            Dạt dào sóng gió, chia ly bến bờ?

            SÔNG quạnh vắng trơ vơ buồn tẻ,
            Nhịp cầu qua không kẻ bắc cho,
            Lòng sâu, sông rộng khôn dò,
            Nhịp cầu không bắc cho bờ thêm xa!

            SÔNG quạnh vắng khôn qua khôn lại,
            Bờ xa xăm khôn tới khôn lui,
            Giòng xanh dào dạt sụt sùi,
            Như thầm đợi khách, như ngùi thương ai.

            TRONG đêm quạnh, sông dài thêm quạnh,
            Dưới trời khuya, hơi lạnh càng khuya,
            Sương chan mặt nước đầm đìa,
            Thuyền ai thấp thoáng đi về nơi nao?

            MÀN sương trắng lợt màu đêm tối,
            Tà áo ai phất phới in sương?
            Không trăng có khách nghê thường,
            Ai đưa tiên nữ canh trường đến đây!

            NÀNG ké né đưa tay sẽ vẫy,
            Thuyền gay chèo trở mái ghé theo,
            Sạp hoa rón rén gói kiều
            Con sào tách bến, mái chèo ra khơi.

            SÔNG quạnh vắng thêm người thôi vắng,
            Sóng lao xao đã lặng thôi xao,
            Canh dài, nước rộng, trời cao,
            Bốn bề trầm mặc vái chào khách tiên.

            TRONG đêm tối con thuyền nhẹ lướt,
            Trên dòng khuya mặt nước nhẹ đưa,
            Người thơ cảnh lại nên thơ,
            Giọng vàng sẽ trổi tiếng hò véo von.

            TRONG đêm tối thuyền con nhẹ mái,
            Trên dòng khuya tay lái nhẹ đưa,
            Cảnh thơ khách lại còn thơ,
            Oanh vàng càng nổi giọng hò thanh tao.

            ĐÊM càng vắng càng cao giọng hát,
            Người như say như khát đời thơ,
            Đời thơ trên một chuyến đò
            Chứa chan như nước, nhấp nhô theo triều.

            ĐÊM thơ mộng thêm chiều thơ mộng
            Sông bao la bớt rộng bao la,
            Đời thơ lần với đêm qua.
            Con thuyền thơ mộng sang ra đến bờ!

            THUYỀN cặp bến người thơ lên bến,
            Chèo về khơi sóng quyện ra khơi,
            Mặt nhìn, tay vẫy, chơn rời,
            Hai lòng thơ luyến, một trời thơ vương.

            THUYỀN thơ mộng giã nàng thơ mộng,
            Nàng mộng thơ lên võng mộng thơ,
            Thuyền về sông vắng bơ vơ,
            Nàng về cõi mới trên bờ vinh quang

                                  ⎎⎎⎎

            TÔI là chú đò ngang sống vắng
            Dưới sương dầm đêm lặng trời mơ,
            Các em cặp sách ngây thơ
            Xuống thuyền thơ mộng sang bờ sắc hương.


                                                   THUẦN PHONG


BÁCH KHOA |  SỐ 22

Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 09/03/2018, 19:00:46
BÁCH KHOA |  SỐ 23  [15 tháng Mười Hai  1957 |  82 trang]

MỤC LỤC
Huỳnh Văn Lang |  Một ít nhận xét về chế độ bảo vệ kinh tế |  1-11
Hoàng Minh Tuynh |  Chế độ dân chủ cổ điển: Hiệp Chúng Quốc Mỹ Châu [III] |  12-15
Bách-Khoa |  Cách làm “nhân” |  15
Phạm Hoàn Mĩ |  Nhà Triệu là một triều Đại Việt? Lữ Gia là một anh hùng Việt? |  16-26
Nguyễn Hiến Lê |  Cái thần trong văn |  27-34
Kim Ý |  Mộng và thực của khoa học |  35-39
Bách-Khoa |  Đính chính Bách-Khoa số 22 |  39
Thuần Phong |  Phần đóng góp của văn học bình dân trong văn học bác học: hay là nguồn văn liệu của Trinh Thử và Kim Vân Kiều [II] |  40-44
Trần Hà |  Thử xét ảnh hưởng của chiến tranh nha phiến đối với lịch sử Trung Quốc: Một trận giặc, mấy bài học [III] |  45-52
Đông Xuyên |  Mưa đêm (thơ) |  53
Hư Chu (tỉnh dịch) |  Trung Hoa tình sử: Lưu Hoài Âm |  54-56
Mặc Thu |  Một truyện Liêu Trai mới: Nồi kê thứ hai |  57-60
Yã-Hạc Nguyễn Văn Trung (dịch) |  Bạch tuyết ca (thơ) \ Sầm Sâm |  61-62
Vi Huyền Đắc (dịch) |  Khói lửa Kinh thành [VI] (truyện dài) \ Lâm Ngữ Đường |  63-73
Quảng cáo |  66, 68, 70, 72, 74-82


SAIGON |  1957
(https://image.isu.pub/171204215209-59b759e748cae36c98234d98b85b5c38/jpg/page_1_thumb_large.jpg)



Tiêu đề: Re: Tạp chí Bách Khoa (1957-1975)
Gửi bởi: nduytai vào 09/03/2018, 20:18:43


Cái thần trong văn

MỘT NHÀ VĂN PHÁP, biệt hiệu là Criticus viết bộ Le Style au microscope gồm ba cuốn để phân tích tỉ mỉ – như nhìn dưới kính hiển vi – những chỗ hay và dở của các danh sĩ Pháp đương thời. Ông dành cuốn đầu cho các nhà văn đã có tên tuổi từ lâu như André Gide, Jules Romains, André Maurois, Paul Valéry…; cuốn giữa cho những nhà mới nổi danh: Albert Camus, Simone de Beauvoir, Roger Peyrefitte…; cuốn cuối cho các nhà soạn kịch: Paul Claudel, Jean Giraudoux, Sacha Guitry… Muốn tỏ rõ thiện chí và công tâm của mình, ông lấy đoạn đầu trong tác phẩm nổi danh nhất của mỗi nhà đó để phê bình, vì ông cho rằng đoạn đó thường được viết kỹ hơn hết.
         Rồi ông xay, giã, mổ xẻ từ cách dùng mỗi chữ, mỗi dấu ngắt câu để tìm ra những hạt cát, hạt bụi và tất nhiên ông lượm được rất nhiều bụi cùng cát. Mười danh sĩ thì ông chê tới bảy, tám; chẳng hạn Paul Claudel bị trách là làm ông thất vọng, Jean Giraudoux làm ông ngáp, còn Camus, thì chỉ là một người viết ký sự hấp tấp, không đáng là một nghệ sĩ…
         Phương pháp ấy có chỗ bổ ích; nhờ ông phân tích tỉ mỉ, ta thấy được công phu của những cây bút thận trọng, ta lại học được cách sửa văn, luyện văn. Nhưng chỉ dùng óc để xét văn như ông, thì tôi e rằng không sao thưởng thức được hết cái hay của văn; vì văn có nhiều khi rất tế nhị, chỉ cảm được, chứ không phân tích được, hoặc nếu cố phân tích ra thì cái đẹp sẽ biến mất hết.
         Ai yêu văn chương mà chẳng nhiều lần nhận rằng có những bài đọc lên thích thú lạ lùng, mà xét kỹ thì thấy trái hẳn với những quy tắc hành văn thông thường. Jean Prévost trong cuốn Baudelaire (Mercure de France) đã cho ta một thí dụ rõ ràng. Ông viết:

         “Giả thử Baudelaire đưa danh tác Recueillement dưới đây cho một nhà phê bình mê tín những quy tắc cổ điển về phép hành văn, như một Désiré Nisard, một Gustave Lanson:

                  Sois sage ô ma Douleur, et tiens-toi plus tranquille.
                  Tu réclamais le Soir; il descend; le voici:
                  Une atmosphère enveloppe la ville,
                  Aux uns portant la paix, aux autres le souci.

                  Pendant que des mortels la multitude vile,
                  Sous le fouet du Plaisir, ce bourreau sans merci,
                  Va cueillir des remords dans la fête servile,
                  Ma Douleur, donne-moi la main; viens par ici,

                  Loin d’eux. Vois se pencher les défuntes Années,
                  Sur les balcons du ciel, en robes surannées;
                  Surgir du fond des eaux le Regret souriant;

                  Le Soleil moribond s’endormir sous une arche,
                  Et, comme un long linceul trainant à l’Orient,
                  Entends, ma chère, entends la douce Nuit qui marche.

                  (Hỡi em Đau khổ của tôi, em hãy ngoan ngoãn và bình tĩnh hơn.
                  Em đòi Buổi chiều; nó đương xuống; nó đây nầy:
                  Một không khí bao phủ châu thành,
                  Đem cho kẻ nầy sự an tĩnh, cho kẻ khác sự lo lắng.

                  Trong khi đám đông hèn hạ là người trần,
                  Dưới ngọn roi của Khoái lạc, tên đao phủ tàn nhẫn đó,
                  Đi hái những hối hận trong đám hội đê tiện,
                  Đau khổ của tôi ôi, em đưa tay tôi dắt; đây, đi lối nầy,

                  Xa họ đi. Nầy, em nhìn những năm đã chết,
                  Bận áo cũ kỹ, nghiêng mình trên bao lơn của trời;
                  Nhìn Ân hận mỉm cười từ đáy nước nhô lên;

                  Nhìn Mặt trời hấp hối, thiêm thiếp dưới một nhịp cầu,
                  Và, em thân mến ơi, em hãy nghe, nghe Đêm êm đềm bước,
                  Như một khăn liệm dài lê thê ở phương Đông.
)

thì nhà phê bình tất sẽ bảo thi sĩ:
         – Trong bài đó có nhiều hình ảnh rất đẹp, nhưng biết bao chỗ vụng về, biết bao chữ dư và ý điệp!
         Lời phê bình đó rất đúng. Trong câu đầu, hai chữ sois sage (em hãy ngoan) hơi mơ hồ. Ngoan là ngoan ra làm sao? Phải chăng là không được cựa quậy, mà phải bình tĩnh hơn? Nếu vậy thì là dư ý.
         Câu thứ nhì: il descend (nó đương xuống) cũng dư nữa vì ở sau có chữ: le voici (nó đây nầy).
         Câu thứ ba rườm: có thứ không khí (atmosphère) nào mà không bao phủ châu thành, dầu là không khí buổi sáng hay buổi chiều?
         Trong câu thứ tư: chữ portant (đem) nghe nặng lắm.
         Câu thứ năm cũng thừa chữ mortels (người trần) vì đám đông hèn hạ thì tất không phải đám tiên thánh rồi. Lại thêm mortels là một tiếng sáo.
         Trong câu thứ sáu: chữ bourreau (đao phủ) ích lợi gì? Đã bảo rằng thần Khoái lạc tàn nhẫn quất người ta thì đọc giả đủ hiểu nó là một đao phủ rồi.
         Cây thứ bảy chứa một hình ảnh vụng: hái hối hận (cueillir des remords) thì phải là hái ở cây chứ sao lại hái trong đám hội đê tiện? Vả lại ý đó cũng hơi yếu.
         Hai chữ ma Douleur (Đau khổ của tôi) ở câu sau là điệp.
         Trong câu thứ chín: bạn thử xét hai chữ Loin d’eux (Xa họ đi) có phải là dư không? Vì câu trên đã nói: “đây, đi lối nầy”, nghĩa là đi xa đám đông hèn hạ đó. Những động từ nguyên thể se pencher (nghiêng mình), surgir (nhô lên) s’endormir (ngủ) đều làm cho giọng thơ nặng nề.
         Hai chữ défuntes Années (những Năm đã chết) bi thảm quá, làm mất vẻ đẹp của những bộ áo cũ kỹ (robes surannées) ở câu thứ mười.
         Câu thứ mười hỏng lớn: surgir du fond des eaux (từ đáy nước nhô lên) năm chữ để diễn một ý trong khi chỉ một chữ émerger cũng đủ.
         Chữ Regret (câu mười một) viết hoa thì cho hối hận là một vị thần, như vậy hơi trừu tượng, nên để chữ thường thì hơn.
         Hình ảnh trong câu mười hai: le soleil moribond s’endormir (mặt trời hấp hối thiêm thiếp) cũng quá bi thảm; mà sao không viết là s’endort cho lời văn nhẹ nhàng hơn?
         Câu mười ba: chữ long (dài) là thừa, vì khăn liệm đã lê thê (trainant) thì tất nhiên phải dài.
         Sau cùng, trong câu cuối, hai chữ ma chère (em thân mến) hơi suồng sã. Mà lập lại làm chi chữ entends (nghe) cho mất nhạc của thơ đi (bốn lần âm en).
         Đó theo ý những nhà phê bình chẻ cái sợi tóc làm tư thì Baudelaire mắc những lời nặng như vậy; mà muốn sửa lại cả bài cũng không khó; ta vẫn có thể giữ đủ ý, đủ hình ảnh mà lời rút đi được một phần ba, nhẹ nhàng hơn nhiều. Jean Prévost đã thử sửa như vầy:

                  Ma Douleur, tiens-toi plus tranquille,
                  Tu voulais le Soir; le voici:
                  L’air obscur verse sur la ville,
                  Plus de paix ou plus de souci.

                  Cependant que la foule vile,
                  Que fouette un plaisir sans merci,
                  S’écoeure à la fête servile,
                  Prends-moi la main; viens par ici,

                  Aux balcons du ciel, mainte année
                  Se penche en robe surannée;
                  Emerge un regret souriant;

                  Le soleil s’endort contre une arche;
                  Un linceul traine à l’Orient;
                  Entends la douce Nuit qui marche.

                  (Hỡi Đau khổ của tôi, em hãy bình tĩnh hơn
                  Em muốn Buổi chiều; nó đây:
                  Không khí tối tăm giội lên châu thành
                  Nhiều an tĩnh hơn hay nhiều lo lắng hơn.

                  Trong khi đám đông hèn hạ
                  Bị một khoái lạc tàn nhẫn quất,
                  Nôn ruột trong đám hội đê tiện,
                  Em nắm lấy tay tôi; đây, đi lối nầy.

                  Trên bao lơn của Trời, những năm qua
                  Nghiêng mình trong bộ áo cũ kỹ;
                  Một ân hận mỉm cười hiện lên;

                  Mặt trời dựa vào một nhịp cầu ngủ;
                  Một khăn liệm lê thê ở phương Đông:
                  Em hãy nghe Đêm êm đềm nhẹ bước.
)

         Quả là gọn gàng mà không vết, nhưng còn đâu cái giọng buồn man mác nó chầm chậm thấm vào tâm hồn ta nữa? Còn đâu cái vẻ khoan thai của mặt trời lặng trên sông? Còn đâu cái dáng lướt thướt của đêm tối? Và còn đâu cái nhạc du dương, trong những câu:
                  Et, comme un long linceul trainant à l’Orient,
         Câu chuyện sửa thơ đó làm tôi nhớ một danh sĩ Việt Nam cũng đã có lần sửa một bài thơ Đường. Danh sĩ đó là cụ Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa và bài thơ Đường đó như sau:

                  Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
                  Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
                  Tá vấn tửu gia hà xứ thị?
                  Mục đồng dao chỉ Hạnh hoa thôn.

                  (Tiết Thanh minh, trời mưa phùn phất phất
                  Người đi trên đường rét muốn đứt hồn.
                  Ướm hỏi nhà bán rượu ở đâu?
                  Em bé mục đồng chỉ ở thôn Hạnh hoa.
)

         Cụ Thủ khoa chê câu đầu dư hai chữ thanh minh vì trời mưa phùn phất phất thì là tiết thanh minh rồi (!)
         Câu thứ nhì hai chữ lộ thượng cũng phải bỏ vì người đi thi là đi trên đường chứ còn đi ở đâu nữa?
         Câu thứ ba đã là một câu hỏi thì để làm chi hai chữ tá vấn?
         Còn câu thứ tư thì ai trả lời mà không được, cứ gì phải là một mục đồng?
         Rồi cụ sửa:

                  Thời tiết vũ phân phân,
                  Hành nhân dục đoạn hồn
                  Tửu gia hà xứ thị?
                  Dao chỉ Hạnh hoa thôn.
(1)

         Bạn có thấy bài thơ đã mất già nửa phần duyên dáng, hóa ra khô khan, không còn gợi tình, gợi cảnh nữa không? Tôi có cảm tưởng như ai đó đã đem một chiếc áo dài thướt tha của phụ nữ cắt cụt lên đến quá đầu gối.
         Vậy, trong văn thơ, nhiều chỗ, khi phân tích ra, người ta cho là lỗi, là vụng, lại chính là những chỗ làm tăng giá trị nghệ thuật lên.
         Chúng ta ai không tấm tắc khen hai câu thơ bất hủ của Alfred de Musset:
                  Les plus désespérés sont les chants les plus beaux,
                  Et j’en connais d’immortels qui sont de purs sanglots.

         Nhưng Paul Valéry lại bảo không hiểu nổi nó, vì làm sao mà một tiếng nức nở lại có thể là một lời ca được? Lời ca là thì có âm điệu, nhịp nhàng, còn tiếng nức nở có nhạc gì đâu?
         Ông còn bắt bẻ câu:
                  J’aime la majesté des souffrances humaines
của Alfred de Vigny là vô nghĩa: vì sự đau khổ làm gì có cái vẻ tôn nghiêm? Thì đúng vậy. Nhưng chúng ta thấy hai chữ majesté (tôn nghiêm) và souffrances (đau khổ) đặt liền nhau thành một hòa hợp rất cao nhã và gợi ý.
         Cái phân tích theo lối của Criticus thì câu:
                  Tạo hóa gây chi cuộc hí trường
của bà Huyện Thanh Quan cũng đáng sổ toẹt. Hí trường là trường chơi đùa, là nơi chơi đùa. Vậy nói cuộc hí trường có khác chi nói cuộc nơi chơi đùa, cuộc trường chơi đùa không, nghe sao được? Nhưng nếu xét kỹ hơn một chút, ta sẽ thấy chỗ dụng ý của nữ sĩ, hạ một chữ cuộc cho câu thơ thêm nghĩa. Cuộc hí trường không phải là cuộc trường chơi đùa mà là những cuộc thay đổi mau chóng y như trên một hí trường. Thử đổi chữ cuộc ra chữ cảnh, câu thơ sẽ non đi một bực.
         Tản Đà trong một bài tả thu, đã hạ được một câu tuyệt hay:
                  Cỏ vàng cây đỏ, bóng tà tà dương.
         Hay ở bốn chữ bóng tà tà dương mà nhạc cực kỳ êm đềm, thanh thoát, gợi cho ta cảnh mặt trời từ từ hạ trên một dòng nước bao la. Nhưng xin bạn thử phân tích tự loại của ba chữ tà tà dương xem có được không. Nếu thi sĩ viết bóng dương tà tà thì phân tích không khó. Còn viết bóng tà tà dương thì một trong hai chữ dương phải dư; nếu không vậy nữa thì chữ dương đã đặt sai chỗ. Lỗi đó rất nặng, phải không bạn? Nhưng chính nó đã làm nổi câu thơ và phải có cái thiên tài mới hạ được chữ dương lơ lửng ở sau hai chữ tà tà đó. Chỉ nghe nhạc trong câu, cũng tưởng tượng được vừng thái dương chầm chậm hạ xuống, như ngập ngừng khi gần tới chân trời.
         Thi nhân phương Đông cũng như phương Tây vẫn có quyền dùng chữ một cách phóng túng như vậy; miễn hình ảnh, âm nhạc gây được nhiều cảm xúc là đáng cho ta khen rồi, chứ cứ lấy những quy tắc của văn phạm hoặc của lý luận mà bắt bẻ thì mắc tật câu nệ mất.
         Trên nửa thế kỷ nay, ai cũng phục bài tả cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh:

                  Bầu trời cảnh bụt,
                  Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay.
                  Kìa non non, nước nước, mây mây,
                  Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải?
                  Thỏ thẻ rừng mai chim cùng trái,
                  Lửng lờ khe yến cá nghe kinh.
                  Thoảng bên tai một tiếng chày kình,
                  Khách tang hải giật mình trong giấc mộng.
                  Nầy suối Giải oan, nầy chùa Cửa võng,
                  Nầy am Phật tích, nầy động Tuyết quynh.
                  Nhác trông lên, ai khéo vẽ hình,
                  Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt.
                  Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt,
                  Gập ghềnh mấy lối uốn thang mây.
                  Chừng giang san còn đợi ai đây?
                  Hay Tạo hóa sẽ ra tay sắp đặt?
                  Lần tràng hạt niệm: Nam mô Phật!
                  Cửa từ bi công đức biết là bao,
                  Càng trông phong cảnh càng yêu.


         Nếu phân tích ra để bắt bẻ, thì ta có thể hỏi bài đó làm thơ theo thể vịnh hay thể tức cảnh. Cứ xét những câu:
                  Kìa non non, nước nước, mây mây,
                  Đệ nhất động, hỏi rằng đây có phải?

Và:
                  Nầy suối Giải oan, nầy chùa Cửa võng,
                  Nầy am Phật tích, nầy động Tuyết quynh.

thì quả là tức cảnh rồi, nhưng bảo là tức cảnh thì cảnh đó, tác giả đã ngắm vào lúc nào? Ngày hay đêm? Ngày ư? Thì sao lại có:
                  Thăm thẳm một hang lồng bóng nguyệt.
Vậy là đêm chăng? Đêm thì sao lại có tiếng chim thỏ thẻ, thấy cá lững lờ và nhìn được màu đá long lanh như gấm dệt?
         Xét theo những luật làm thơ đặt ra từ đời Đường, theo phép tắc làm thơ của các cử tử hồi xưa thì bài đó phải đánh liệt, chứ đừng nói là tạm được nữa. Vậy mà nó vẫn được truyền tụng, vì phần đông những người yêu thơ chỉ đòi hỏi ở thơ mỗi một điều quan trọng nầy là gợi được cái đẹp, mà bài của Chu Mạnh Trinh nhạc đã hòa nhã, ảnh lại rực rỡ, cho nên cái lỗi vừa vịnh mà vừa tức cảnh có thể tha thứ được.
         Trong bộ Luyện văn tôi đã trích bài Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, một bài mà phần đông phái tân học rất thích vì nó chứa nhiều ý mới mẻ, và gây được cái buồn mơ mộng hợp với tâm hồn chúng ta hơn cái buồn “cổ điển” trong các bài vịnh thu của Tương Phố hay Tản Đà. Ngâm bài của Xuân Diệu lên, ai không thấy một mối bâng khuâng vơ vẩn như xâm chiếm cả cõi lòng, nhưng đem đặt nó dưới “kính hiển vi” của Criticus thì biết bao sạn, cát sẽ hiện lên: trước hết ta có thể trách tác giả vừa vịnh mà vừa tức cảnh như Chu Mạnh Trinh; rồi có chỗ cầu kỳ: hơn một loài hoa đã rụng cành; hoặc rườm rà: đã khô gầy lại còn xương mỏng manh